Khái quát về đa nước Mỹ
Chương 2: Môi trường tự nhiên
Những nét đặc trưng nổi bật về địa hình của Hoa Kỳ có xu hướng phát triển theo
hướng Bắc-Nam xuyên qua đất nước (bản đồ 2). Sâu trong nội địa là một vùng đất
trũng rộng lớn và kéo dài, trải từ Vịnh Mexico cho tới biên gii Canada rồi đến tận
Alaska. Các nhà địa lý quan tâm tới sự phát triển của địa mạo sẽ xếp sự nối dài của
vùng đất bằng phẳng và những ngọn đồi nhấp nhô này vào ba khu vực địa vật lý
khác nhau - vùng đồng bằng ven biển Đại Tây Dương và Vịnh, vùng đất trũng nội
địa (một phần tách ra thành Vùng Đồng bằng lớn và những đồng bằng sâu trong
nội địa), và vùng Canadian Shield (Lá chắn Canada).
Các đồng bằng ven biển Đại Tây Dương và Vịnh phát triển dọc theo bờ biển phía
đông của Hoa Kỳ lên phía bắc, ti tận mép phía nam của New England. Bên dưới
vùng đất này là những nền đá trẻ, mềm và dễ bị xói mòn được hình thành vào thời
kỳ địa chất gần đây, do những con sóng nhỏ êm đềm vỗ vào bờ đất. Những đồng
bằng thấp này vươn xa dưới mặt nước biển, tạo nên một thềm lục địa, có chỗ kéo
ra xa bờ biển tới 400 km.
Về phía bắc, vùng đất trũng nội địa, mặc dù dễ nhận thấy là cao hơn các đồng
bằng ven biển, vẫn hầu như không có địa hình gghề. Khu vực này giống như một
cái
đĩa, bị bẻ lên ở phần vành đĩa và được che phủ bởi một loạt tầng đá trầm tích
chồng lên nhau. Những tầng trầm tích này nói chung là khá bằng phẳng; tính đa
dạng về địa hình chủ yếu là kết quả của sự xói mòn mang tính địa phương hay như
ở miền Bắc, là kết quả của những tảng băng vỡ trong Kỷ Băng hà. Cấu trúc địa
chất của Great Plains không khác bao nhiêu so vi cấu trúc của đồng bằng ven
Khái quát về đa nước Mỹ
biển. Những tầng đá trầm tích chiếm ưu thế, mặc dù ở phía bắc chúng bị phá vỡ
bởi một số mái vòm bị xói mòn. Những tầng trầm
tích này, mặc dù gần như nằm ngang, song thực ra chúng dốc thoai thoải về phía
tây và cuối dốc là chân Núi đá (Rocky Mountains), nơi những thành phố của
bang Colorado là Denver và Colorado Springs.
Đường phân chia giữa Great Plains và các đồng bằng nội địa được đánh dấu bằng
một chuỗi núi ngăn cách, cho thấy mép phía đông của lớp trầm tích không chắc
chắn, bị xói mòn tRocky Mountain, phủ lên các đồng bằng này.
Đặc tính của vùng đất trũng nội địa rộng lớn này có một số ảnh hưởng quan trọng
tới lịch sử kinh tế và định cư của Hoa Kỳ. Ngoài tiềm năng nông nghiệp to ln mà
khu vực này đem lại, quá nửa phần đất có thể đi lại được dễ dàng mà không gặp
phải một trở ngại đáng knào về địa lý. Điều này tạo thuận lợi cho cả khu vực này
và miền Tây xa xôi có thể hội nhập với cơ cấu kinh tế của cả nước. Gần như toàn
bộ vùng đất trũng nội địa được thông với dòng chảy của sông Mississippi hoặc
những nhánh của nó. Điều này hỗ trợ cho sự hội nhập khu vực, qua việc cung cấp
một tiêu điểm giao thông và kinh tế cho vùng đất phía tây của dãy Appalachia.
Bắc và Đông Bắc của vùng đất trũng trung tâm là Canadian Shield mà bmặt
được phủ bằng đá cứng và trong, hình thành từ lâu đời. Xa hơn vphía nam trong
vùng đất trũng, lớp đá tương tự lại bị chồng lên những tầng trầm tích được tích trữ
bên dưới biển mà đã từng ngập tràn khu vc giữa của đất nước. Hiện tượng xói
mòn đã phá hỏng bề mặt của Shield (vùng lá chắn), biến nó trở thành vùng đất
trũng giữa một vùng nổi nhỏ ở địa phương.
Hơn bất kỳ khu vực địa vật lý nào khác ở Bắc Mỹ, địa mạo của vùng Shield được
tái thiết và hình thành bởi vô số núi băng lục địa trong hàng triệu năm gần đây.
Những núi băng này phlên phần lớn miền đông Canada của dãy Rocky
Khái quát về đa nước Mỹ
Mountains và Coast Ranges, và chúng tiến về phía nam, tới sát những thung lũng
ngày nay của các sông Missouri và Ohio.
Băng có thể đưa những khối đá nặng nhiều tấn ra khỏi bề mặt và mang chúng đi
xa. Vô vàn những viên đá cuội trải khắp vùng thắng cảnh Shield, kết thúc tại i
mà chúng đã bị những núi băng ném xuống. Băng tan ở những vùng mép của các
núi băng, tạo nên những dòng sông lớn và cắt ngang những con đường mới, rộng
để ra biển.
Hiện tượng đóng băng đã bào mòn phần lớn bề mặt của Shield. Ngày nay, lớp đất
bao phkhu vực này chỉ còn rất mỏng hoặc không tồn tại nữa. Trạng thái tiêu
thoát nước bị phá v nghiêm trọng đã phong tonhiều dòng chảy bằng những
đống đổ v và dẫn một số dòng khác vào hthống hồ chi chít trong vùng, ch
không đổ ra biển. Ví dụ vùng trung tâm và bắc Minnesota, được gọi là “vùng đất
của 10000 hồ”, là một phần của thuỳ phía nam của tấm khiên bằng băng kéo dài
đến tận các bang Minnesota, Michigan và Wisconsin.
Về phía nam, nơi mà băng không còn dày nữa và sức mạnh của nó cũng giảm đi
tương ứng, các núi băng bị đổi hướng hoặc được hướng dòng bởi những độ cao
lớn hơn. Ví dụ, băng bị chặn lại ở trung tâm New York bởi những cao nguyên nm
về phía nam sông Mohawk. Tuy nhiên, vùng châu thcủa các phụ lưu của những
dòng chảy đã thực sự bị đẩy lên ti Mohawk và dần dần làm cho những vùng châu
thổ này rộng hơn và sâu hơn. Ngày nay, Hồ Ngón tay (Finger Lakes) hẹp và sâu
thuộc bang New York đã lấp đầy những châu thổ từng được mở rộng nhờ các núi
băng này và tạo thành một trong những khu thắng cảnh thực sự tươi đẹp của nước
Mỹ.
Dọc theo và vươn ra khỏi mép phía nam của các núi băng, bồi đắp đã thay thế cho
xói mòn, như là kết quả chính của hiện tượng đóng băng. Những vùng rộng lớn
Khái quát về đa nước Mỹ
thuộc khu đất trũng nội địa bị những lớp đất đá, do những núi băng ném xuống,
phủ lên vi những độ sâu thay đổi từ chưa đầy một mét cho tới hơn 100 mét. ở
những nơi mà các núi băng không dịch chuyển trong một thời gian dài thì hình
thành nên những quả đồi cao hơn, được gọi là trầm tích. Về phía đông, Staten
Island, Long Island, Martha’s Vineyard, Nantucket, và Cape Cod là những đồi
trầm tích cuối cùng đánh dấu sự phát triển mạnh nhất của các núi băng về phía
đông. Phong cảnh phía nam của Hồ Lớn (Great Lakes) được bổ sung bằng những
đỉnh trầm tích dài, thấp, hình bán nguyệt và những khối đất đá khác do băng để lại.
Một bộ phận của khu đất trũng nội địa đã tránh được hiện tượng đóng băng. Góc
tây nam của Wisconsin và phần kéo dài 400 km liền đó của châu thổ sông
Mississippi rõ ràng đã được tha bổng nhờ hiệu ứng rào cản lên dòng băng trôi của
vùng đất cao Superior về phía bắc và nh tác động hướng dòng cho khối băng này
của những châu thổ của các hồ Michigan và Superior. Kết quả tạo ra là “vùng sạch
đất sỏi”, một phong cảnh địa phương nhiều góc cạnh hơn, với những kết cấu bằng
đá mong manh giống như những chiếc cầu hay những mái vòm tự nhiên.
Do băng tan, vô số hồ được tạo thành dọc theo rìa các núi băng. Tại phần bắc của
Great Plains, hai hồ lớn là Agassiz và Regina choán một diện tích còn lớn hơn cả
diện tích của Great Lakes ngày nay. Vi hiện tượng băng tan kéo dài, những hồ
này hầu như đã biến mất. Dấu tích vsự tồn tại của chúng ngày nay được nhận
biết qua đáy hồ trước kia, một vùng bằng phẳng bao trùm những phần đất thuộc
bắc Dakota và Minnesota.
Trong thời gian nhiều khu vực bị đóng băng, mực nước biển bị thấp đi đáng kể.
Điều đó đã hthấp đáy của nhiều con sông và do đó làm tăng thêm sức xói mòn
của các dòng chảy này. Hơn nữa, nhiều thung lũng sông này đã tiến xa ra phía
biển ngày nay. Cùng với nhiều con sông khác, các sông Susquehanna và Hudson
đã tạo nên những thung lũng sâu hơn nhiều trong giai đoạn này. Do băng tan và
mực nước biển dâng lên, đại dương đã lấp đầy những thung lũng sau này. Hai khu
Khái quát về đa nước Mỹ
vc cảng tốt nhất của thế giới đã được tạo thành theo cách này: Vịnh New York,
với dòng sôngu Hudson và những rào chắn bảo vtạo ra bởi các đảo Staten
Island và Long Island; Vịnh Chesapeake, vùng châu thngập nước của sông
Susquehanna và một số nhánh lớn trước đây của nó, như các sông Potomac
James.
phía Đông, các đồng bằng ven biển dần dần bị thu hẹp về phía bờ biển, hướng
lên phía bắc dọc theo đại dương, do Cao nguyên Appalachia, cho tới khi vùng đất
trũng hoàn toàn biến mất tại Cape Cod. Từ nơi này trở sang phía đông bắc, cảnh
quan ven biển là một phần của sự bành trướng theo hướng bắc của hệ thống dãy
Appalachia. Những núi thuộc Appalachia - vết tích bị mai một của những rặng núi
đã từng cao hơn nhiều - đã tách vùng ven biển này ra khỏi các khu đất trũng nội
địa dọc theo phần lớn phần phía đông của Hoa Kỳ.
Phần lớn các vùng thuộc khu vực này có lớp đất nông và những sườn dốc, rất k
khăn cho việc canh tác trong bất kỳ hoàn cảnh nào, và hoàn toàn không thích hợp
với những kỹ thuật nông nghiệp hiện đại chú trọng tới phương tiện cơ giới. Đô thị
quy mô lớn hay sự tăng trưởng của công nghiệp bị cản trở bởi những vùng đất
trũng nhỏ của địa phương. Những người định cư sớm đã nhận thấy các núi
Appalachia từ sông Mohawk thuộc New York trở xuống phía nam tới phía bắc
Alabama là những rào cản hữu hiệu đến mức kinh ngạc đối với sự di chuyển về
phía tây, có rất ít khoảng dừng trong sự liên tc của những trái núi.
Vùng tây của Hoa Kỳ là một miền đất của núi non và của những thay đổi lớn và
đột ngột vđộ cao địa chất tự nhiên lại được btrí theo một chuỗi gồm ba tuyến
chạy dọc bắc - nam, với Rocky Mountains ở phía đông bị ngăn cách với các núi và
thung lũng của vùng ven biển Thái Bình Dương bởi một loạt cao nguyên cao, b
chia cắt nghiêm trọng.