intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến chẩn đoán giai đoạn lâm sàng ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ 08/2008-02/2009

Chia sẻ: Tran Hanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
7
lượt xem
1
download

Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến chẩn đoán giai đoạn lâm sàng ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ 08/2008-02/2009

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung cũng là một trong hai loại ung thư phụ khoa thường gặp, nhất là tại miền Nam. Vì vậy, nghiên cứu với mục tiêu nhằm đánh giá ảnh hưởng của kiến thức - thái độ - hành vi và kinh tế xã hội đến giai đoạn lâm sàng của ung thư cổ tử cung lúc chẩn đoán.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến chẩn đoán giai đoạn lâm sàng ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ 08/2008-02/2009

Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013<br /> <br /> KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẨN ĐOÁN GIAI ĐOẠN <br /> LÂM SÀNG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU <br /> THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ 08/2008 – 02/2009 <br /> Lưu Minh Văn* <br /> <br /> TÓM TẮT <br /> Mở đầu: Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung cũng là một trong hai loại ung thư phụ khoa thường gặp, nhất <br /> là tại Miền Nam. <br /> Mục tiêu: Đánh giá ảnh hưởng của kiến thức‐thái độ‐hành vi và kinh tế xã hội đến giai đoạn lâm sàng của <br /> ung thư cổ tử cung lúc chẩn đoán. <br /> Phương  pháp:  nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 402 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư cổ tử cung tại <br /> Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 8/2008 đến tháng 2/2009. <br /> Kết quả: trong 402 bệnh nhân ung thư cổ tử cung được chẩn đoán với các giai đoạn từ IB1, IB2, IIA, IIB, <br /> IIIA, IIIB, IVA, và IVB. Phân tích đơn biến được dùng để khảo sát mối tương quan giữa kiến thức, thái độ, quan <br /> niệm sai lầm, niềm tin, hành vi và các yếu tố kinh tế xã hội với giai đoạn lâm sàng lúc chẩn đoán. Yếu tố kinh tế‐<br /> xã hội tương quan có ý nghĩa thống kê với giai đoạn: Bệnh nhân ung thư cổ tử cung có hoàn cảnh kinh tế khó <br /> khăn thường được chẩn đoán ở những giai đoạn trễ (p =0,695835). Yếu tố  kiến thức tương quan có ý nghĩa <br /> thống kê với giai đoạn: Bệnh nhân ung thư cổ tử cung có ít hiểu biết về bệnh ung thư cổ tử cung thường được <br /> chẩn đoán ở những giai đoạn trễ (p = 0,689833). Yếu tố thái độ tương quan có ý nghĩa thống kê với giai đoạn: <br /> Bệnh nhân ung thư cổ tử cung có thái độ không đúng đối với bệnh ung thư cổ tử cung thường được chẩn đoán ở <br /> những giai đoạn trễ (p = 0,751824). Yếu tố hành vi tương quan có ý nghĩa thống kê với giai đoạn: Bệnh nhân <br /> ung thư cổ tử cung có hành vi không phù hợp về bệnh ung thư cổ tử cung thường được chẩn đoán ở những giai <br /> đoạn trễ (p = 0,876225). Hồi qui đa biến được sử dụng để kiểm soát các yếu tố gây nhiễu nhằm xác định có mối <br /> tương quan giữa yếu tố kinh tế xã hội‐kiến thức‐thái độ‐hành vi với giai đoạn lâm sàng lúc chẩn đoán. <br /> Kết  luận:  Yếu tố kinh tế‐xã hội, kiến thức, thái độ, hành vi là những biến số độc lập ảnh hưởng đến giai <br /> đoạn lâm sàng lúc chẩn đoán của bệnh ung thư cổ tử cung. <br /> Từ khóa: Kiến thức, thái độ, hành vi, ung thư cổ tử cung. <br /> <br /> ABSTRACT <br /> EVALUATING THE INFLUENCES OF KNOWLEDGE – ATTITUDE – BEHAVIOR AND <br /> SOCIOECONOMIC FACTORS IN DIAGNOSIS STAGES OF CERVICAL CANCER <br /> Luu Minh Van* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2013: 48 ‐ 54 <br /> Background: In Vietnam, cervical cancer is also one of the two most common cancer in Vietnamese women, <br /> especially in South of Vietnam.  <br /> Objective:  to  evaluate  the  influences  of  knowledge  –  attitude  –  behavior  and  socioeconomic  factors  in <br /> diagnosis stages of cervical cancer. <br /> Design:  a cross‐section study analysis of 402 patients as having cervical cancer at HO Chi Minh Cancer <br /> Hospital from 8/2008 – 2/2009. <br /> *: Bệnh viện Từ Dũ <br /> Tác giả liên lạc: BS Lưu Minh Văn  <br /> <br /> ĐT: 0909586684    email: bsluuminhvan@gmail.com <br /> <br /> 48 Hội Nghị Việt Pháp Châu Á Thái Bình Dương lần XII Ngày 16‐17 Tháng 5 Năm 2013 <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br />  Results:  Of  the  402  patients  presented  with  FIGO  stage  IB1,  IB2,  IIA,  IIB,  IIIA,  IIIB,  IVA,  and  IVB. <br /> Univariable  analysis  has  been  used  to  identify  the  statistic  relationship  between  knowledge,  attitudes, <br /> misconceptions,  beliefs,  behaviors,  and  socioeconomic  factors  and  diagnosis  stages  of  cervical  cancer.  The <br /> following  socioeconomic  factor  was  significantly  related  to  the  stage:  cervical  cancer  patients  who  have  low <br /> economic status usually get advanced stages (p = 0.695835). The following knowledge was significantly related to <br /> the stage: cervical cancer patients who have low level of knowledge about cervical cancer get advanced stages. (p = <br /> 0.689833). The following attitude was significantly related to the advanced stage: cervical cancer patients who <br /> have  negative  attitudes  to  cervical  cancer  get  advanced  stages.  (p  =  0.751824).  The  following  behavior  was <br /> significantly related to the advanced stage: cervical cancer patients who have wrong behaviors to cervical cancer <br /> get  advanced  stages  (ρ  =  0.876225).  Multivariable  logistic  regression  was  used  to  control  confounders  and  to <br /> reveal  whether  there  is  a  real  correlation  between  socioeconomic  factor  ‐  knowledge  ‐  attitude  –  behavior  and <br /> diagnosis stages. <br /> Conclusions:  Socioeconomic  factor,  Knowledge,  Attitude,  Behavior  are  the  independent  variables <br /> influencing on clinical stage at diagnosis. <br /> Keywords: Knowledge, Attitude, Behavior, cervical cancer <br /> độ, quan niệm sai lầm trong dân gian về ung thư <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ <br /> cổ tử cung với giai đoạn lâm sàng lúc chẩn đoán <br /> Tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí <br /> của bệnh nhân ung thư cổ tử cung. <br /> Minh, mỗi năm có khoảng 3000 ca ung thư cổ tử <br /> 2.  Khảo sát mối tương quan giữa các yếu tố <br /> cung mới được nhập viện điều trị, trong đó gần <br /> kinh  tế  xã  hội  như:  hoàn  cảnh  kinh  tế,  sự  cách <br /> 50%  bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  ở  những  giai <br /> trở  về  địa  dư  với  giai  đoạn  lâm  sàng  lúc  chẩn <br /> đoạn tiến xa. Có rất nhiều lý do khiến bệnh nhân <br /> đoán của bệnh nhân ung thư cổ tử cung. <br /> đến với thầy thuốc chuyên khoa trễ như: tâm lý <br /> 3.  Khảo sát mối tương quan giữa mạng lưới <br /> hay  e  ngại  của  phụ  nữ,  điều  kiện  kinh  tế  khó <br /> y tế cơ sở như: xử lý ban đầu của nhân viên y tế, <br /> khăn, sự cách trở về giao thông, thiếu hiểu biết <br /> việc  phổ  cập  kiến  thức  về  bệnh  ung  thư  cổ  tử <br /> về  căn  bệnh,  điều  trị  không  đúng  cách,  xem <br /> cung với giai đoạn lâm sàng lúc chẩn đoán của <br /> thường các biểu hiện ban đầu của bệnh… Từ đó <br /> bệnh nhân ung thư cổ tử cung. <br /> bỏ qua thời gian quý báu ban đầu để có thể chẩn <br /> đoán  sớm.  Mặt  khác,  người  dân  chưa  có  thói <br /> ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU <br /> quen  khám  sức  khỏe  định  kỳ  để  tầm  soát  ung <br /> Thiết kế nghiên cứu <br /> thư cổ tử cung.  <br /> Nghiên cứu cắt ngang mô tả. <br /> Việc phát hiện ung thư cổ tử cung ở những <br /> Dân số điều tra nghiên cứu <br /> giai đoạn sớm có ý nghĩa sống còn đối với người <br /> bệnh, tạo điều kiện để việc điều trị được thuận <br /> Dân số đích <br /> lợi và cho kết quả tốt. Từ các lý do trên, chúng <br /> Tất  cả  bệnh  nhân  ung  thư  cổ  tử  cung  đến <br /> tôi  thực  hiện  nghiên  cứu  đề  tài  “Khảo  sát  các <br /> khám và điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Thành <br /> yếu tố ảnh hưởng đến chẩn đoán giai đoạn lâm <br /> phố Hồ Chí Minh. <br /> sàng  ung  thư  cổ  tử  cung”  tại  Bệnh  viện  Ung <br /> Dân số nghiên cứu <br /> Bướu thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 08 năm <br /> Tất  cả  bệnh  nhân  ung  thư  cổ  tử  cung  đến <br /> 2008 đến tháng 02 năm 2009.  <br /> khám và điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Thành <br /> Mục tiêu nghiên cứu <br /> phố  Hồ  Chí  Minh  trong  thời  gian  từ  tháng <br /> 1.  Khảo sát mối tương quan giữa các yếu tố <br /> 08/2008 đến tháng 02/2009. <br /> nhận thức như: kiến thức về bệnh, trình độ văn <br /> hóa, hành vi xử trí ban đầu của bệnh nhân, thái <br /> <br /> Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản – Nhi Sơ Sinh<br /> <br /> 49<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013<br /> nhiều  nhất  là  50‐59,  137/402,  tỷ  lệ  34,07%.  Lứa <br /> tuổi gặp nhiều nhất là 40 đến 59. <br /> <br /> Cỡ mẫu – xác định cỡ mẫu <br /> Z<br /> Công thức:  n =<br /> <br /> 2<br /> <br /> α<br /> <br /> . p.q<br /> <br /> (1− )<br /> 2<br /> 2<br /> <br /> d<br /> <br />  <br /> <br /> 1,96 2 × 0,4 × 0,6<br /> n=<br /> = 369   <br /> 0,05 2<br /> Chúng tôi tính được cỡ mẫu tối thiểu là 369 <br /> trường hợp. <br /> Trên thực tế dự kiến cỡ mẫu thu nhận được <br /> trong  thời  gian  từ  08/2008  đến  02/2009  khoảng <br /> 400 trường hợp. <br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN <br /> Qua phỏng vấn và thăm khám trực tiếp 402 <br /> trường  hợp  ung  thư  cổ  tử  cung  nhập  viện  và <br /> điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu thành  phố  Hồ <br /> Chí  Minh  từ  tháng  8/2008  đến  tháng  2/2009, <br /> chúng tôi ghi nhận như sau:  <br /> <br /> Đặc điểm nhóm nghiên cứu <br /> Giai đoạn lâm sàng <br /> Trong 402 trường hợp UTCTC của loạt khảo <br /> sát,  thường  gặp  nhất  là  giai  đoạn  IIB  28,11% <br /> (113/402), kế đến là giai đoạn IIIB 27,36% (110). <br /> Giai đoạn IB và IIA lần lượt chiếm các tỷ lệ tiếp <br /> theo,  không  ghi  nhận  được  trường  hợp  nào  ở <br /> giai đoạn IA và giai đoạn 0.  <br /> Bảng 1: Giai đoạn lâm sàng <br /> Giai đoạn lâm sàng<br /> IA<br /> IB1<br /> IB2<br /> IIA<br /> IIA STT≥4cm<br /> IIB<br /> IIIA<br /> IIIB<br /> IVA<br /> IVB<br /> TC<br /> <br /> Số ca<br /> 0<br /> 76<br /> 23<br /> 45<br /> 22<br /> 113<br /> 1<br /> 110<br /> 3<br /> 9<br /> 402<br /> <br /> PHAÂN BOÁ THEO TUOÅI<br /> 34,08<br /> <br /> 35<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> 0,00<br /> 18,91<br /> 5,72<br /> 11,19<br /> 5,47<br /> 28,11<br /> 0,25<br /> 27,36<br /> 0,75<br /> 2,24<br /> 100,00<br /> <br /> Đặc điểm kinh tế – xã hội <br /> Sự phân bố theo lứa tuổi: Tuổi nhỏ nhất gặp <br /> trong  loạt  nghiên  cứu  này  là  27  tuổi,  tuổi  lớn <br /> nhất là 90,  tuổi  trung  bình  là  53.  Đỉnh  tuổi  gặp <br /> <br /> 30<br /> Tyû leä phaàn traêm<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> 26,12<br /> <br /> 25<br /> 18,41<br /> <br /> 20<br /> 15<br /> <br /> 11,19<br /> <br /> 8,46<br /> <br /> 10<br /> 5<br /> 0<br /> <br /> 1,24<br /> <br /> 0,25<br /> <br /> 20-29 30-39 40-49 50-59 60-69 70-79 80-89<br /> <br /> 0,25<br /> ≥90<br /> <br /> Löùa tuoåi<br /> <br />  <br /> <br /> Biểu đồ 1: Phân bố theo lứa tuổi <br /> <br /> Địa chỉ cư trú <br /> Số  bệnh  nhân  có  địa  chỉ  tại  thành  phố  Hồ <br /> Chí Minh là 85/402 trường hợp, tỷ lệ 21,14%; còn <br /> lại là bệnh nhân từ các tỉnh khu vực phía Nam <br /> 317/402, tỷ lệ 78,86%.  <br /> Trình độ học vấn <br /> Mù  chữ  chiếm  72/402  trường  hợp,  tỷ  lệ <br /> 17,91%; cấp I chiếm tỷ lệ cao nhất 191/402, tỷ lệ <br /> 47,51%;  cấp  II  90/402,  22,39%;  cấp  III  41/402, <br /> 10,20%;  trình  độ  đại  học  chiếm  tỷ  lệ  khiêm  tốn <br /> 8/402, 1,99%.  <br /> Nghề nghiệp <br /> Chiếm số đông trong nghề nghiệp là nội trợ <br /> 171/402, tỷ lệ 42,54%; kế đến là nông dân 95/402, <br /> 23,63%; buôn bán nhỏ 74/402, 18,41%; công nhân <br /> viên 31/402, 7,71%.  <br /> Hoàn cảnh kinh tế <br /> Số bệnh nhân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn <br /> chiếm  tỷ  lệ  rất  cao  302/402,  75,12%;  còn  lại <br /> 100/402 có kinh tế tạm ổn, tỷ lệ 24,87%. <br /> Qua phân tích tương quan cho thấy có tương <br /> quan thuận rất chặt chẽ giữa hoàn cảnh kinh tế <br /> của bệnh nhân với GĐLS lúc chẩn đoán với p = <br /> 0,685273. Hầu hết bệnh nhân có hoàn cảnh kinh <br /> tế  khó  khăn  đều  được  chẩn  đoán  ở  những  giai <br /> đoạn lâm sàng đã tiến xa. <br /> Bảng 2: Hoàn cảnh KINH tế <br /> Đặc điểm GĐ sớm GĐ muộn Tổng cộng<br /> Hoàn cảnh kinh tế<br /> Số ca<br /> Số ca Số ca<br /> %<br /> Khó khăn<br /> 104<br /> 198<br /> 302 75,12<br /> Không khó khăn<br /> 62<br /> 38<br /> 100 24,87<br /> <br /> 50 Hội Nghị Việt Pháp Châu Á Thái Bình Dương lần XII Ngày 16‐17 Tháng 5 Năm 2013 <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 <br /> Đặc điểm GĐ sớm GĐ muộn Tổng cộng<br /> Hoàn cảnh kinh tế<br /> Số ca<br /> Số ca Số ca<br /> %<br /> Tổng cộng<br /> 166<br /> 236<br /> 402 100,00<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> ‐  Đa số bệnh nhân 395/402 (98,26%) không <br /> cho là UTCTC là do bị thư hoặc ếm bùa gây ra. <br /> <br /> Kiến thức <br /> <br /> ‐  Niềm tin này giúp bệnh nhân tìm đến các <br /> phương pháp điều trị đúng qui cách hơn. <br /> <br /> Hiểu biết về bệnh UTCTC <br /> ‐  37,31%  (  150/402  )  bệnh  nhân  không  biết <br /> về bệnh UTCTC. <br /> <br /> UTCTC là do trời kêu ai nấy dạ? Đa số bệnh <br /> nhân đều cho rằng UTCTC là do trời kêu ai nấy <br /> dạ 342/402 (85,07%). <br /> <br /> ‐  Việc thiếu kiến thức về bệnh lý giải lý do <br /> bệnh nhân thường đến ở những giai đoạn trễ. <br /> <br /> Thuốc  Nam,  Bắc,  Đông  y  chữa  được <br /> UTCTC?  Số  bệnh  nhân  cho  rằng  thuốc  Nam, <br /> thuốc  Bắc  không  thể  chữa  khỏi  UTCTC  là <br /> 312/402 BN, tỷ lệ 77,61%. <br /> <br /> Bệnh  UTCTC  có  lây  không?  Gần  90%  bệnh <br /> nhân  được  hỏi  cho  biết  theo  họ  UTCTC  không <br /> lây nhiễm, bệnh là do tự có và do số mạng. Điều <br /> này  cũng  ảnh  hưởng  rất  lớn  đến  việc  phòng <br /> tránh UTCTC. <br /> Hiểu biết về Paps test: 76,62% (308/402) bệnh <br /> nhân hoàn toàn không biết về Paps test hay phết <br /> tế bào cổ tử cung – âm đạo. <br /> Paps test có chẩn đoán sớm UTCTC? <br /> ‐  Số  bệnh  nhân  không  biết  Pap  test  có  thể <br /> chẩn đoán sớm UTCTC là 78,61% (316/402 ) . <br /> ‐  Điều này lý giải vì sao bệnh nhân thường <br /> đến bệnh viện vào những giai đoạn trễ. <br /> XHÂĐ bất thường là triệu chứng báo động: <br /> Xuất  huyết  âm  đạo  bất  thường  là  một  triệu <br /> chứng  báo  động  của  UTCTC.  Số  bệnh  nhân <br /> không biết triệu chứng nầy là 39,80% ( 160/402). <br /> Chương  trình  tầm  soát  UTCTC  ở  nước  ta: <br /> Qua  khảo  sát  cho  thấy  96%  bệnh  nhân  không <br /> biết gì về chương trình tầm soát UTCTC nói lên <br /> việc  chẩn  đoán  sớm  gặp  nhiều  khó  khăn.  Và <br /> bệnh nhân sẽ đến ở những giai đoạn trễ hơn. <br /> Kiến thức về HPV: Gần 90% bệnh nhân hoàn <br /> toàn chưa nghe nói gì về HPV. <br /> <br /> Thái độ – niềm tin <br /> UTCTC  là  bệnh  nan  y?  94,02%  (378/402) <br /> bệnh nhân không cho UTCTC là bệnh nan y và <br /> tin tưởng là có thể chữa khỏi bệnh. <br /> Niềm tin vào phẫu thuật: Chỉ có 6/402 bệnh <br /> nhân,  tỷ  lệ  1,49%  bệnh  nhân  cho  là  mổ  sẽ  làm <br /> cho bệnh nặng hơn.  <br /> UTCTC là do bị yếm bùa: <br /> <br /> Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản – Nhi Sơ Sinh<br /> <br /> Phát hiện sớm UTCTC có thể chữa khỏi? Đa <br /> số bệnh nhân đều đồng tình là phát hiện sớm có <br /> thể  chữa  khỏi  UTCTC,  chiếm  389  BN,  tỷ  lệ <br /> 96,77%.  <br /> Nên  giấu  mọi  người  khi  bệnh?  Phần  lớn <br /> bệnh nhân đều cho rằng khi có bệnh không nên <br /> giấu mọi người xung quanh, chiếm 359/402 BN <br /> tỷ lệ 89,30%. <br /> Với  dấu  hiệu  đó,  chị  nghĩ  bệnh  gì?  Với  các <br /> dấu  hiệu  lâm  sàng  như  thế,  75,87%  bệnh  nhân <br /> (305/402) cho rằng mình bị rối loạn kinh nguyệt, <br /> 19,15%  BN  (77/402)  nghĩ  là  viêm  nhiễm  sinh <br /> dục;  chỉ  có  1,24%  (5/402)  sợ  rằng  mình  bị <br /> UTCTC. Đây là thái độ quyết định có mối tương <br /> quan  thuận  với  giai  đoạn  lâm  sàng  lúc  chẩn <br /> đoán. <br /> Bảng 3: Nghĩ đến UTCTC? <br /> Đặc điểm GĐ sớm GĐ muộn<br /> Nghĩ đến<br /> Số ca<br /> Số ca<br /> Viêm SD<br /> 42<br /> 36<br /> RLKN<br /> 111<br /> 194<br /> Có kinh<br /> 4<br /> 1<br /> Ung thư<br /> 2<br /> 3<br /> Khác<br /> 7<br /> 3<br /> Tổng cộng<br /> 166<br /> 236<br /> <br /> Tổng cộng<br /> Số ca<br /> %<br /> 77<br /> 19,15<br /> 305<br /> 75,87<br /> 5<br /> 1,24<br /> 5<br /> 1,24<br /> 10<br /> 2,48<br /> 402<br /> 100,00<br /> <br /> Theo  dõi  thông  tin  về  bệnh?  Có  234  BN <br /> (58,21%)  bệnh  nhân  cho  biết  thỉnh  thoảng  có <br /> theo  dõi  thông  tin  về  bệnh  phụ  nữ  thông  qua <br /> báo đài. <br /> <br /> Hành  vi  khi  có  dấu  hiệu  bất  thường  đầu <br /> tiên <br /> Với  dấu  hiệu  đó  chị  có  cho  ai  biết?  100% <br /> <br /> 51<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013<br /> <br /> bệnh  nhân  khi  phát  hiện  mình  có  những  dấu <br /> hiệu bất thường đều cho người thân mình biết. <br /> <br /> làm cho giai đoạn lâm sàng lúc chẩn đoán đa số <br /> là tiến xa. <br /> <br /> Bệnh  nhân  làm  gì  với  dấu  hiệu  đó?  38,30% <br /> bệnh  nhân  đi  khám  bác  sỹ  khi  có  dấu  hiệu  bất <br /> thường  đầu  tiên.  31,59%  không  làm  gì  cho  đến <br /> khi bệnh trở nặng; 22,88% tự mua thuốc điều trị; <br /> 7,21% uống thuốc Nam thuốc Bắc. <br /> <br /> Sự  tương  quan  giữa  thái  độ  của  bệnh  nhân <br /> và  giai  đoạn  lâm  sàng  lúc  chẩn  đoán  là  có  ý <br /> nghĩa  thống  kê,  với  p=0,751824.  Khi  đón  nhận <br /> những dấu hiệu lâm sàng đầu tiên, hầu hết các <br /> bệnh  nhân  đều  cho  là  những  xáo  trộn  không <br /> nghiêm  trọng,  từ  đó  đã  bỏ  qua  thời  điểm  vô <br /> cùng quý giá để được chẩn đoán sớm và điều trị <br /> có hiệu quả. Thậm chí khi biết mình có bệnh, đa <br /> số bệnh nhân lại cho rằng trời kêu ai nấy dạ và <br /> chấp nhận bệnh như một số phận đã an bài. <br /> <br /> Nơi  đến  khám  bệnh  đầu  tiên?  247/402  BN <br /> (61,44%) chọn bệnh viện thành phố là nơi khám <br /> bệnh  đầu  tiên;  30,84%  đến  khám  tại  các  bác  sỹ <br /> tư. <br /> Thời gian phát hiện? Số bệnh nhân đi khám <br /> bệnh  ngay  khi  có  triệu  chứng  bất  thường  đầu <br /> tiên  rất  thấp,  1,99%.  Đa  số  các  trường  hợp  đều <br /> khám bệnh sau 3 tháng kể từ khi có dấu hiệu bất <br /> thường: trên 60% các trường hợp. <br /> Qua phân tích tương quan cho thấy có tương <br /> quan thuận rất chặt chẽ giữa thời gian phát hiện <br /> của bệnh nhân với GĐLS lúc chẩn đoán. Hầu hết <br /> bệnh  nhân  đến  bệnh  viện  trễ  đều  được  chẩn <br /> đoán ở những giai đoạn lâm sàng đã tiến xa. <br /> Khám  phụ  khoa  định  kỳ:  Số  bệnh  nhân <br /> không khám phụ khoa định kỳ rất cao 306/402, <br /> tỷ lệ 76,12%. <br /> Lý  do  không  đi  khám  ngay:  Lý  do  khiến <br /> bệnh  nhân  không  đi  khám  ngay  vì  đa  số  các <br /> trường hợp bệnh nhân đều nghĩ là bình thường <br /> 345/402 BN, 85,61%. <br /> <br /> Phân tích tương quan <br /> Qua phân tích tương quan giữa các yếu tố <br /> khảo sát được với giai đoạn lâm sàng lúc chẩn <br /> đoán ở phần kết quả, chúng tôi nhận thấy như <br /> sau: <br /> Có  sự  tương  quan  thuận  rất  chặt  chẽ  giữa <br /> yếu tố kinh tế‐ xã hội với giai đoạn lâm sàng lúc <br /> chẩn đoán, bệnh nhân có hoàn cảnh kinh tế càng <br /> khó khăn thì bệnh ở giai đoạn càng trễ và có ý <br /> nghĩa thống kê, với p=0,695835.  <br /> Có  sự  tương  quan  thuận  và  chặt  giữa  kiến <br /> thức về bệnh ung thư  cổ  tử  cung với giai  đoạn <br /> lâm sàng lúc chẩn đoán là có ý nghĩa thống kê, <br /> với giá trị của p = 0,689833. Sự thiếu kiến thức về <br /> bệnh  cũng  như  các  biện  pháp  phòng  tránh  đã <br /> <br /> Sự tương quan giữa hành vi của bệnh nhân <br /> với  giai  đoạn  lâm  sàng  lúc  chẩn  đoán  là  tương <br /> quan rất chặt chẽ va rất có ý nghĩa thống kê, với <br /> p=0,876225.  Khi  phát  hiện  các  dấu  hiệu  bất <br /> thường, chính hành vi xem thường triệu chứng <br /> cho  là  bình  thường,  cũng  như  trì  hoãn  đến  các <br /> cơ  sở  y  tế  đã  làm  cho  bệnh  ngày  càng  chuyển <br /> biến nặng hơn cho tới lúc nhập viện. <br /> <br /> Tương quan giữa các yếu tố kinh tế xã hội <br /> –  kiến  thức  –  thái  độ  –  hành  vi  với  giai <br /> đoạn lâm sàng qua phân tích đa biến <br /> Yếu tố<br /> KT-XH<br /> Kiến thức<br /> Thái độ<br /> Hành vi<br /> <br /> Hàm Correl<br /> 0,685935<br /> 0,689833<br /> 0,751824<br /> 0,876225<br /> <br /> Hàm Pearson<br /> 0,685273<br /> 0,689231<br /> 0,751471<br /> 0,876253<br /> <br /> Qua  phân  tích  đa  biến  với  hàm  PEARSON, <br /> một lần nữa đã khẳng định các yếu tố kinh tế – <br /> xã hội, kiến thức, thái độ, hành vi của bệnh nhân <br /> có tương quan thuận chặt chẽ với giai đoạn lâm <br /> sàng lúc chẩn đoán. <br /> <br /> KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ <br /> Qua nghiên cứu 402 trường hợp ung thư cổ <br /> tử  cung  nhập  Bệnh  viện  Ung  Bướu  Thành  phố <br /> Hồ Chí Minh từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 2 <br /> năm  2009,  chúng  tôi  rút  ra  một  số  kết  luận  và <br /> kiến nghị như sau: <br /> <br /> Đặc điểm nhóm nghiên cứu <br /> Đa số bệnh nhân đến với giai đoạn lâm sàng <br /> trễ (58,7%), chủ yếu là giai đoạn IIB (28,11%) và <br /> giai đoạn IIIB (27,36%). <br /> <br /> 52 Hội Nghị Việt Pháp Châu Á Thái Bình Dương lần XII Ngày 16‐17 Tháng 5 Năm 2013 <br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản