intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Khảo sát chất lượng nước uống đóng chai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
30
lượt xem
4
download

Khảo sát chất lượng nước uống đóng chai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài "Khảo sát chất lượng nước đóng chai trên địa bàn TP.HCM” giúp chúng ta biết được thực trạng về chất lượng nước đóng chai trên thị trường TP.HCM. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát chất lượng nước uống đóng chai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC UỐNG ĐÓNG CHAI<br /> TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH<br /> Đặng Ngọc Chánh*, Vũ Trọng Thiện*, Trần Thị Nga* và Cs<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Đặt vấn đề: Nước uống đóng chai hiện nay rất đa dạng về sản phẩm với sự tham gia của nhiều công ty từ<br /> lớn đến nhỏ. Tuy nhiên chất lượng nước đóng chai rất khác nhau giữa các công ty và phần lớn sản phẩm nước<br /> đóng chai chỉ được thử nghiệm khi đăng ký chất lượng với Sở Y tế Tp.HCM. Thực hiện đề tài ”khảo sát chất<br /> lượng nước đóng chai trên địa bàn Tp.HCM” giúp chúng ta biết được thực trạng về chất lượng nước đóng chai<br /> trên thị trường Tp.HCM.<br /> Mục tiêu nghiên cứu: Xác định chất lượng nước uống đóng chai về các chỉ tiêu lý hóa, vi sinh và độc chất<br /> tại thị trường Tp.HCM.<br /> Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 150 mẫu nước uống đóng chai được lấy ngẫu nhiên trên thị<br /> trường Tp.HCM để thử nghiệm. Tập trung vào sản phẩm đóng bình 20 lít đây là sản phẩm được sử dụng nhiều<br /> tại các hộ gia đình, nhà máy và trường học… và dễ bị tái nhiễm bẩn do sử dụng lại bình, do quá trình vận<br /> chuyển. Kết quả thử nghiệm chất lượng nước được đánh giá qua tiêu chuẩn chất lượng nước uống đóng chai<br /> TCVN 6096:2004.<br /> Kết quả nghiên cứu: Đánh giá về mặt lý hóa, tỷ lệ mẫu nước đóng chai có nguồn từ nước máy đạt tiêu<br /> chuẩn là 84,2% trong khi mẫu nước đóng chai có nguồn từ nước giếng đạt tiêu chuẩn là 50%. Có 65,7% mẫu<br /> nước đóng chai có nguồn từ nước máy đạt tiêu chuẩn vi sinh và 56,7% mẫu nước đóng chai có nguồn từ nước<br /> giếng đạt tiêu chuẩn vi sinh. 100% mẫu nước đóng chai thử nghiệm không tìm thấy độc chất (As, Hg, Cd,<br /> Benzen). Tổng cộng mẫu nước đóng chai đạt theo tiêu chuẩn TCVN 6096:2004 là 63 mẫu (42%).<br /> Kết luận: Hơn 50% sản phẩm nước uống đóng chai được lấy ngẫu nhiên phân tích trên địa bàn Tp.HCM<br /> có chất lượng không đạt tiêu chuẩn.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> SURVEY ON BOTTLED DRINKING WATER IN HO CHI MINH CITY<br /> Dang Ngoc Chanh, Vu Trong Thien, Nguyen Thi Nga, et al<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 12 - Supplement of No 4 - 2008: 192 - 197<br /> Background: Nowadays, bottled drinking water have been diversified products with participation of big<br /> companies and small companies in the market. However, the quality of bottled drinking water was very different<br /> beween companies and most of productions of bottled water just were tested when registered on the quality to<br /> HCM city Health Department. Implementing the study “Survey on bottled drinking water quality in HCM city”<br /> help us to know the real situation of the quality of bottled drinking water at HCM city market.<br /> Objectives: To evaluate the quality of bottled driking water through physico – chemical, microbiological and<br /> toxic parameters at Ho Chi Minh market.<br /> Method: Descriptive cross – sectional design. 150 bottled driking water samples randomly were taken from<br /> HCM city market for testing water quality. We focused on 20 litre-bottled water products which being commonly<br /> used at households, factories, schools…and easily recontaminated due to reused bottles and transportation. The<br /> results of testing water quality were assessed by bottled drinking water standard TCVN 6096:2004.<br /> *Viện Vệ sinh - Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh<br /> <br /> Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng<br /> <br /> 1<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Results: For physico–chemical parameters, the proportion of bottled water samples, which made from tape<br /> water, met the standard were 84.2% meanwhile bottled water samples, which made from underground water, met<br /> the standard were 50%. There were 65.7% bottled water samples, which made from tape water, met<br /> microbiological standard and 56.7% bottled water samples, which made from underground water, met<br /> microbiological standard. 100% tested bottled water samples didn’t find out toxic substances (As, Hg, Cd,<br /> Benzene…). Total bottled water samples met the standard TCVN 6096:2004 were 63 samples (42%).<br /> Conclusion: Over 50% bottled drinking water products had the quality not to come up the standard.<br /> cho khảo sát chất lượng vì đây là sản phẩm đang<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> sử dụng phổ biến tại hộ gia đình với số lượng<br /> Nước uống đóng chai hiện nay rất đa dạng<br /> lớn, mặt khác đây là lọai sản phẩm có tái sử<br /> với sự có mặt của nhiều doanh nghiệp từ lớn<br /> dụng bao bì (tái sử dụng bình chứa) nên các tác<br /> đến nhỏ. Tuy nhiên chất lượng của những sản<br /> động yếu tố bên ngoài (như xúc rửa, đóng bình,<br /> phẩm này là điều đáng bàn vì đây là quy trình<br /> tiệt trùng…) có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng<br /> sản xuất mà phần lớn bao bì được tái sử dụng<br /> sản phẩm.<br /> bằng các phương pháp rửa thủ công, nên vấn đề<br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> tái nhiễm là có khả năng xảy ra rất lớn(3). Ngoài<br /> ra thực tế cho thấy sau khi cấp giấy phép chứng<br /> Mô thức nghiên cứu<br /> nhận chất lượng sản phẩm và đi vào hoạt động<br /> Ðiều tra cắt ngang các cơ sở sản xuất nước<br /> thì gần như các cơ quan quản lý nhà nước chưa<br /> đóng chai trên địa bàn thành phố được thực hiện<br /> đủ nhân lực và điều kiện để giám sát theo dõi<br /> trong năm 2006.<br /> chất lượng, điều kiện vệ sinh của các cơ sở một<br /> Cỡ mẫu<br /> cách thường xuyên và hiệu quả(5). Thực hiện đề<br /> Theo báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng<br /> tài “Khảo sát chất lượng nước uống đóng chai<br /> thành phố Hồ Chí Minh, trên địa bàn có khoảng<br /> trên địa bàn Tp.HCM” góp phần cung cấp một<br /> 300(4) cơ sở sản xuất nước đóng chai tại 21 huyện<br /> cái nhìn tổng thể về chất lượng nước đóng chai<br /> thị. Khi chọn mẫu đã lọai trừ những sản phẩm<br /> đang lưu hành tại thành phố Hồ Chí Minh và<br /> nổi tiếng như Sapuwa, Dapha, Aquafina,<br /> làm cơ sở cho việc quản lý, giám sát cũng như<br /> Unitech, Joys…và tập trung vào loại sản phẩm<br /> giúp cho người dân có những nhận thức đúng<br /> bình 20lít, 150 mẫu nước đóng bình loại 20 lít<br /> hơn về sản phẩm nước uống mà mình đã và<br /> được chọn ngẫu nhiên đang lưu hành tại các cửa<br /> đang sử dụng.<br /> hàng, chợ… trên địa bàn Tp.HCM, đồng thời<br /> Mục tiêu nghiên cứu<br /> phù hợp với kinh phí xét duyệt của đề tài.<br /> 1) Xác định chất lượng về mặt lý hoá sản<br /> Kỹ thuật xác định<br /> phẩm nước uống đóng chai trên địa bàn thành<br /> Mẫu nước đóng chai sau khi lấy được đưa<br /> phố Hồ Chí Minh.<br /> về phân tích tại labo lý hoá, vi sinh khoa VSMT<br /> 2) Xác định chất lượng về mặt vi sinh sản<br /> và khoa xét nghiệm trung tâm Viện VSYTCC.<br /> phẩm nước uống đóng chai trên địa bàn thành<br /> Tiêu chuẩn đánh giá(1)<br /> phố Hồ Chí Minh.<br /> Mẫu nước uống đóng chai được đánh giá<br /> 3) Xác định chất lượng về mặt độc chất sản<br /> theo tiêu chuẩn TCVN 6096:2004 của Bộ Khoa<br /> phẩm nước uống đóng chai trên địa bàn thành<br /> Học và Công nghệ ban hành tháng 8 năm 2004.<br /> phố Hồ Chí Minh.<br /> Bao gồm: 15 chỉ tiêu lý hóa (pH, màu, đục, mùi<br /> ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> vị, tổng chất rắn hoà tan, SO42-, Fet/c, Mn2+, Cl-,<br /> Đối tượng nghiên cứu<br /> NO3-, NO2-, F-, NH4+, Cr6+, Al3+); vi sinh 5 chỉ tiêu<br /> (Coliform, E.coli, Clostridium khử sunfit,<br /> Ưu tiên chọn loại sản phẩm đóng bình 20 lít<br /> <br /> 2Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Streptococcus feacalis, Pseudomanas aeruginosa); 7<br /> chỉ tiêu độc chất (Cu2+, Pb2+, Zn2+, As3+, Hg2+, Cd2+,<br /> Benzen).<br /> <br /> còn lại nằm rãi rác ở các địa phương khác. Mẫu<br /> có pH không đạt thấp nhất đo được là 5,22 và<br /> mẫu có pH cao nhất là 9,55.<br /> <br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN<br /> <br /> Bảng 1: Kết quả phân tích lý hoá nước đóng chai<br /> <br /> Kết quả phân tích các chỉ tiêu lý hóa<br /> <br /> STT<br /> <br /> Số mẫu nước đóng chai có nguồn từ nước<br /> máy: 76 mẫu chiếm tỷ lệ 50,6%; số mẫu nước<br /> đóng chai có nguồn từ nước giếng: 74 mẫu<br /> chiếm tỷ lệ 49,4%<br /> Các cơ sở sản xuất nước đóng chai có nguồn<br /> từ nước máy, khảo sát cho thấy phần lớn các chỉ<br /> tiêu đều đạt tiêu chuẩn cho phép, riêng chỉ tiêu<br /> pH còn đạt tiêu chuẩn ở mức khá thấp, chỉ có<br /> 65/76 mẫu (75%). Hầu hết các mẫu này có giá trị<br /> pH thấp hơn giới hạn tối thiểu cho phép, thấp<br /> nhất là pH = 5,72 và tập trung chủ yếu ở các<br /> Quận như: Tân Bình có 5 mẫu, Quận 6 có 2 còn<br /> lại là ở nằm rải rác các quận khác.<br /> Nhìn chung kết quả khảo sát chỉ tiêu hoá lý<br /> NUĐC với nước nguồn là nước Giếng cũng gần<br /> giống với kết quả khảo sát nước nguồn là nước<br /> máy. Phần lớn mẫu không đạt là do chỉ tiêu pH,<br /> chỉ có 41/74 mẫu đạt tiêu chuẩn (55,41%) thấp<br /> hơn so với nước máy gần 20%. Các mẫu không<br /> đạt này tập trung chủ yếu ở các nơi như: Quận 9<br /> có 7 mẫu; Tân Bình có 5 mẫu; Quận 12 có 9 mẫu<br /> <br /> %<br /> 120<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> 7<br /> 8<br /> 9<br /> 10<br /> 11<br /> <br /> Tổng kết hai kết quả quả phân tích trên cho<br /> ta thấy số mẫu NUĐC lấy ngẫu nhiên trên thị<br /> trường đạt tiêu chuẩn hoá lý khá thấp, chỉ có<br /> 106/150 mẫu đạt tiêu chuẩn chủ yếu là do pH.<br /> Trung bình cứ 3 mẫu thì có một mẫu không đạt<br /> do pH. Đối với chỉ tiêu nitrit mặc dù chỉ có 4/150<br /> mẫu và Amoniac có 1 mẫu là không đạt nhưng<br /> cũng đáng được quan tâm, vì đây là những chỉ<br /> tiêu nguy hại tiềm ẩn, khi đi vào cơ thể con<br /> người tạo hợp chất nitrosamin là các chất gây<br /> ung thư tiềm tàng(7).<br /> <br /> % mẫu đạt chỉ tiêu hoá lý<br /> 100<br /> <br /> 100<br /> 80<br /> <br /> Tổng số<br /> Mẫu không % mẫu<br /> Mẫu đạt<br /> mẫu<br /> đạt<br /> đạt<br /> pH<br /> 150<br /> 106<br /> 46<br /> 70,67<br /> Màu<br /> 150<br /> 150<br /> 0<br /> 100<br /> Đục<br /> 150<br /> 149<br /> 1<br /> 99,33<br /> Mùi vị<br /> 150<br /> 150<br /> 0<br /> 100<br /> TDS<br /> 150<br /> 150<br /> 0<br /> 100<br /> Cl<br /> 150<br /> 150<br /> 0<br /> 100<br /> NO3150<br /> 150<br /> 0<br /> 100<br /> NO2150<br /> 146<br /> 4<br /> 97,33<br /> +<br /> NH4<br /> 150<br /> 149<br /> 1<br /> 99,33<br /> F<br /> 150<br /> 150<br /> 0<br /> 100<br /> 2SO4<br /> 150<br /> 150<br /> 0<br /> 100<br /> <br /> Chỉ tiêu<br /> <br /> 100 100 100 100<br /> 97.33<br /> <br /> 99.33<br /> <br /> 99.33<br /> <br /> 100 100<br /> <br /> 70.67<br /> <br /> 60<br /> 40<br /> 20<br /> 0<br /> pH<br /> <br /> Màu<br /> <br /> Đục<br /> <br /> Mùi<br /> vị<br /> <br /> TDS<br /> <br /> Cl-<br /> <br /> NO2- NO3-<br /> <br /> NH4+<br /> <br /> F-<br /> <br /> SO4<br /> <br /> 2-<br /> <br /> Hình 3: Đồ thị kết quả xét nghiệm các chỉ tiêu lý hóa NUĐC đạt tiêu chuẩn<br /> <br /> Kết quả phân tích các chỉ tiêu vi sinh<br /> Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng<br /> <br /> Kết quả phân tích cho chúng ta một điều<br /> <br /> 3<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> đáng lo ngại, mẫu nước đóng chai có nguồn từ<br /> nước máy chỉ có 71,05 % mẫu đạt tiêu chuẩn về<br /> coliform tổng số và 82,21% mẫu đạt về tiêu chuẩn<br /> Pseudomonas aeruginosa. Các mẫu không đạt này<br /> nằm rãi rác ở các quận. Cụ thể là trong số 4 mẫu<br /> NUĐC được khảo sát ở Quận 3 thì có tới 2 mẫu<br /> không đạt tiêu chuẩn về vi sinh.<br /> Khi sử dụng nước nguồn là nước giếng để<br /> sản xuất NUĐC ta thấy mẫu đạt chất lượng về vi<br /> sinh thấp hơn so với nguồn nước sử dụng là<br /> nước máy. So sánh hai kết quả cho thấy chỉ tiêu<br /> Coliform tổng số (64,74%) đạt thấp hơn nước đóng<br /> chai có nguồn là nước máy 6,31%, chỉ tiêu E.Coli<br /> (91,89) thấp hơn gần 3%, chỉ tiêu Colstridium khử<br /> sunfit thấp hơn 2,7%.<br /> Bảng 2: Kết quả phân tích vi sinh NUĐC từ nguồn<br /> nước máy và nước giếng<br /> <br /> %<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> <br /> NUĐC từ nước NUĐC từ nước<br /> máy<br /> giếng<br /> Chỉ tiêu<br /> Tổng % mẫu Tổng % mẫu<br /> số mẫu đạt số mẫu đạt<br /> Coliform tổng số<br /> 76<br /> 71,05<br /> 74<br /> 64,74<br /> E.Coli<br /> 76<br /> 94,74<br /> 74<br /> 91,89<br /> Colstridium khử<br /> 76<br /> 100<br /> 74<br /> 97,30<br /> sunfit<br /> Streptococcus<br /> 76<br /> 100<br /> 74<br /> 100<br /> feacalis<br /> Pseudomonas<br /> 76<br /> 82,21<br /> 74<br /> 85,14<br /> aeruginosa<br /> <br /> Kết quả khảo sát về chỉ tiêu vi sinh của nước<br /> uống đóng chai cho ta thấy tỉ lệ mẫu đạt thấp.<br /> Chỉ có 68% mẫu đạt về chỉ tiêu Coliform tổng số;<br /> 84,67% mẫu đạt về Pseudomonas aeruginosa;<br /> 93,33% mẫu đạt về E.Coli và 98,67% mẫu đạt về<br /> Clostridium khử sunfit.<br /> <br /> % mẫu<br /> tiêu tích<br /> chuẩnvi<br /> vi sinh<br /> sinh<br /> Kết<br /> quảđạt<br /> phân<br /> <br /> 150<br /> 100<br /> <br /> STT<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> 93.33<br /> <br /> 100<br /> <br /> 98.67<br /> <br /> 68<br /> <br /> 84.67<br /> <br /> 50<br /> 0<br /> <br /> Coliform<br /> tổng số<br /> <br /> E.coli<br /> <br /> Clostridium<br /> <br /> Streptococcus Pseudomonas<br /> <br /> Hình 6: Đồ thị kết quả xét nghiệm các chỉ tiêu vi sinh NUĐC đạt tiêu chuẩn<br /> Đây là những chỉ tiêu có giới hạn cho phép sử<br /> Kết quả phân tích các chỉ tiêu độc chất<br /> dụng khá thấp, có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe<br /> Độc chất đánh giá chất lượng nước uống<br /> người sử dụng. Tuy nhiên, 100% mẫu NUĐC<br /> đóng chai bao gồm các kim loại nặng và hợp<br /> được khảo sát đều đạt tiêu chuẩn cho phép.<br /> chất hữu cơ carbon thơm điểm hình là benzen(6).<br /> <br /> 4Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> <br /> % mẫu đạt tiêu chuẩn về độc chất<br /> <br /> %<br /> <br /> 120<br /> 100<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100<br /> <br /> 80<br /> 60<br /> 40<br /> 20<br /> 0<br /> <br /> Fe t/c Mn2+ Al3+ Cr6+ Cu2+ Pb2+ Zn2+ As t/c Cd2+ Hg2+<br /> <br /> Bezen<br /> <br /> Hình 3: Đồ thị kết quả xét nghiệm các chỉ tiêu độc chất NĐC đạt tiêu chuẩn<br /> qua bảng khảo sát chúng ta có nhận xét như sau<br /> Tổng hợp kết quả chất lượng nước uống<br /> (hình 4):<br /> đóng chai trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh<br /> <br /> %<br /> 120<br /> 10 0<br /> <br /> 10 0<br /> <br /> 100<br /> 8 4 .2 1<br /> <br /> 80<br /> 6 5.79<br /> 56 .76<br /> <br /> 60<br /> <br /> 53 .9 5<br /> <br /> 50<br /> <br /> 40<br /> <br /> 2 9 .73<br /> <br /> 20<br /> 0<br /> <br /> Lý hóa1<br /> <br /> 2<br /> Vi sinh<br /> <br /> 3<br /> Độc chất<br /> <br /> 4<br /> Đạt TC<br /> <br /> Hình 4: Đồ thị so sánh chất lượng NUĐC từ nguồn nước máy và nước giếng<br /> có 53,95% mẫu đạt tiêu chuẩn (đạt cả 3 yêu cầu<br /> Nước đóng chai được sản xuất từ nguồn<br /> về lý hóa, vi sinh và độc chất) có nguồn gốc từ<br /> nước máy có chất lượng thành phẩm tốt hơn so<br /> nước máy và 29,73% mẫu đạt tiêu chuẩn có<br /> với nước đóng chai sản xuất từ nước giếng cụ<br /> nguồn gốc từ nước giếng.<br /> thể theo hình 4 ta thấy 84,21% mẫu nước đóng<br /> chai phân tích đạt tiêu cuẩn về mặt lý hóa so với<br /> Bảng 3: Kết quả tổng hợp chất lượng nước uống<br /> 50% mẫu đạt có nguồn gốc từ nước giếng. Mẫu<br /> đóng chai trên địa bàn Tp.HCM<br /> đạt về mặt vi sinh của NUĐC từ nước máy là<br /> Mẫu<br /> % mẫu<br /> Tổng số Mẫu % mẫu<br /> STT chỉ tiêu<br /> không không<br /> 65,79% so với 56,76% mẫu đạt có nuồn gốc từ<br /> mẫu đạt đạt<br /> đạt<br /> đạt<br /> nước giếng. 100% mẫu NUĐC khảo sát đều đạt<br /> 1<br /> Hoá lý<br /> 150<br /> 101 67,33<br /> 49<br /> 32,67<br /> về mặt độc chất. Tổng hợp mẫu NUĐC khảo sát<br /> 2<br /> Vi sinh<br /> 150<br /> 92 61,33<br /> 58<br /> 38,67<br /> <br /> Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng<br /> <br /> 5<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản