intTypePromotion=1

Khảo sát khả năng đối kháng sinh học của nấm trichoderma sp. đối với nấm gây bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi

Chia sẻ: Hân Hân | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
60
lượt xem
7
download

Khảo sát khả năng đối kháng sinh học của nấm trichoderma sp. đối với nấm gây bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi đã được phát hiện từ lâu nhưng đến nay vẫn xuất hiện ở nhiều nơi. Rất khó phát hiện bệnh sớm do bệnh phần lớn bắt nguồn từ rễ. Nấm gây bệnh từ đất (Fusarium, Phytophthora, Pythium,…) được xác định là tác nhân gây bệnh phổ biến. Sử dụng các loại thuốc trừ nấm không mang lại hiệu quả như mong muốn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát khả năng đối kháng sinh học của nấm trichoderma sp. đối với nấm gây bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi

KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG SINH HỌC CỦA NẤM Trichoderma sp. ĐỐI<br /> VỚI NẤM GÂY BỆNH VÀNG LÁ THỐI RỄ TRÊN CÂY CÓ MÚI<br /> Phạm Minh Tuấn(1), Nguyễn Thị Bích Tuyền(2), Tô Đình Phúc(2), Lê Thị Ánh Đông(2)<br /> (1)<br /> Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm TpHCM, (2)Công ty cổ phần Công nghệ Sinh học Tiên Phong, Tp.HCM<br /> Ngày gửi bài: 09/5/2016<br /> <br /> Ngày chấp nhận đăng: 15/9/2016<br /> <br /> Tóm tắt<br /> Bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi đã được phát hiện từ lâu nhưng đến nay vẫn xuất hiện ở nhiều nơi. Rất<br /> khó phát hiện bệnh sớm do bệnh phần lớn bắt nguồn từ rễ. Nấm gây bệnh từ đất (Fusarium, Phytophthora,<br /> Pythium,…) được xác định là tác nhân gây bệnh phổ biến. Sử dụng các loại thuốc trừ nấm không mang lại hiệu<br /> quả như mong muốn. Đối kháng sinh học được đánh giá là một trong những giải pháp phòng ngừa hiệu quả.<br /> Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm ra các chủng Trichoderma có khả năng đối kháng cao với các nấm gây<br /> bệnh trong điều kiện in vitro. Từ các mẫu cây bệnh phân lập được ba chủng Fusarium sp. gây bệnh, hai chủng<br /> Trichoderma asperellum. Cả năm chủng Trichoderma (MCB1, MCB2 phân lập được và T01, T24, T29 do công ty<br /> Tiên Phong cung cấp) đều có khả năng đối kháng cao với các chủng Fusarium sp. Các chủng Trichoderma khảo<br /> sát đều có khả năng sinh enzyme cellulase và tăng trưởng nhanh hơn Fusarium. Các chủng phân lập từ mẫu cây<br /> bệnh (MCB1, MCB2) có khả năng đối kháng với Fusarium sp. tốt hơn các chủng do công ty Tiên Phong cung<br /> cấp.<br /> Từ khóa: Trichoderma, Fusarium, bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi, đối kháng sinh học.<br /> INVESTIGATING ANTAGONISTIC ABILITY OF TRICHODERMA SP.ON FUNGI<br /> CAUSING DECLINE DISEASE ON CITRUS<br /> Abstract<br /> Decline disease has been discovered for a long time but infection is more extensively increasing. It is<br /> difficult to detect due to the fact that the disease is originated from roots. Among the causes, soil fungi have been<br /> widely determined. Using fungicides is not effective way to control the disease. In this case, biocontrol with<br /> suitable microbial strains is a potential approach. The aim of this study is to investigate in vitro the possibility of<br /> using Trichoderma sp. to control the causing fungi. Three Fusarium sp. strains and 2 Trichoderma asperellum<br /> strains were isolated from diseased-root samples. Five strains of Trichoderma (isolated strains MCB1, MCB2 and<br /> strains provided by Pioneer Biotech company T 01, T24, T29) showed a reasonably antagonistic ability to Fusarium<br /> sp. All Trichoderma strains could produce cellulase and showed a faster growth compared to Fusarium sp.<br /> Among the five strains tested, strains MCB1 and MCB2 inhibited Fusarium sp. more effectively.<br /> Key Words: Trichoderma, Fusarium, decline disease on Citrus, antagonistic.<br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Vàng lá thối rễ là một loại bệnh xuất hiện khá thường xuyên trên cây có múi (Javed và<br /> cs., 2007). Bệnh có các triệu chứng ban đầu như đầu rễ non bị thối đen, một số lá có gân trở<br /> màu trắng, phiến lá màu vàng cam và dễ rụng, cây sinh trưởng yếu (Javed và cs., 2007). Khi<br /> nặng hơn xuất hiện nhiều cành bị khô héo, trái rụng, tất cả các rễ bị thối đen. Bệnh vàng lá<br /> thối rễ do nhiều tác nhân gây ra, bao gồm các loài nấm Fusarium, Phytophthora, Pythium và<br /> tuyến trùng (Viện cây ăn quả Miền Nam, 2012). Theo Chris (2012), một trong những tác nhân<br /> gây bệnh là loài nấm Fusarium solani. Fusarium gây hại trong điều kiện tương tác với tuyến<br /> trùng và rễ bị ngâm trong nước nhiều ngày. Tuyến trùng tấn công làm rễ tổn thương, đó là<br /> điều kiện thuận lợi cho nấm Fusarium tấn công và gây bệnh làm thiệt hại cho cây có múi. Một<br /> số tài liệu nghiên cứu khác cho thấy mảng rễ bị thối do ngâm nước lâu ngày là cửa ngõ chính<br /> để nấm F. solani xâm nhập (Mohamedy, 2012).<br /> Sử dụng nông dược có bản chất hóa học để phòng trừ bệnh cho cây trồng là giải pháp<br /> thường được áp dụng nhiều hiện nay (Fernandez-Cornejo và cs., 2014). Đối với bệnh vàng lá<br /> 42<br /> <br /> thối rễ, tác nhân gây bệnh chủ yếu là các nấm cư trú trong đất nên muốn tiêu diệt chúng cần<br /> sử dụng một lượng lớn nông dược. Trong nhiều tình huống biện pháp này không những không<br /> mang lại hiệu quả mà còn làm môi trường bị ô nhiễm nặng nề (Zhihui và cs., 2008). Bên cạnh<br /> việc sử dụng hóa chất, một giải pháp khác có thể kiểm soát bệnh thân thiện hơn với môi<br /> trường là sử dụng đối kháng sinh học (Alberto và cs., 2016). Rất nhiều giống, loài vi sinh vật<br /> có khả năng ức chế các tác nhân gây bệnh phổ biến như: Bacillus (Lin và cs., 2014),<br /> Trichoderma (John và cs., 2010, Cornejo và cs., 2014), Pseudomonas (Toua và cs., 2013;<br /> Ardebili và cs., 2011).<br /> Sử dụng chế phẩm sinh học để kiểm soát bệnh trên cây trồng là một phương pháp xuất<br /> hiện sau này nhưng ngày càng phổ biến hơn nhờ những ưu điểm của nó như hiệu quả, kinh tế<br /> và không tác động đến môi trường. Hiệu quả của chế phẩm sinh học phụ thuộc nhiều vào đặc<br /> tính đối kháng của các chủng hiện diện trong sản phẩm đối với các đối tượng gây bệnh. Vì<br /> vậy việc tìm kiếm, tuyển chọn và ứng dụng các chủng vi sinh vật có thể kiểm soát bệnh trên<br /> các đối tượng cây trồng khác nhau đã và đang được thực hiện rộng rãi trên phạm vi toàn thế<br /> giới. Trên cơ sở đó đề tài này được thực hiện nhằm phân lập, tuyển chọn các chủng<br /> Trichoderma sp. có khả năng đối kháng hiệu quả đối với các nấm gây bệnh vàng lá thối rễ<br /> trên cây cam tại Bến Tre, một tỉnh có vùng trồng cây ăn quả lớn ở khu vực Đồng bằng Sông<br /> Cửu Long. Kết quả đề tài này là tiền đề để thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về đối kháng<br /> sinh học cũng như là cơ sở để phát triển các chế phẩm sinh học có khả năng kiểm soát bệnh<br /> vàng lá thối rễ trên cây có múi.<br /> 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> 2.1. Vật liệu<br /> 2.1.1. Giống vi sinh vật<br /> Các chủng nấm gây bệnh: phân lập từ mẫu cây cam nhiễm bệnh.<br /> Các chủng Trichoderma: MCB1, MCB2 phân lập được từ mẫu cây bệnh và T01, T24, T29<br /> do phòng thí nghiệm công ty cổ phần công nghệ sinh học Tiên Phong cung cấp.<br /> 2.1.2. Môi trường<br /> Môi trường nghiên cứu đã được sử dụng: Potatoes dextrose agar_PDA (Padmaja., 2015),<br /> V8 juice agar_V-8-J (Uchida và cs., 1986; Padmaja, 2015), Cornmeal Agar _CMA<br /> (McGinnis, 2008; Padmaja, 2015), Water agar_WA (Harris, 1986), Carot agar_CA,<br /> Carboxymethyl cellulose_ CMC (Hanne và Johnsen, 2014), hạt kê vỏ trấu (Hien và cs, 2009).<br /> Phân lập nấm bệnh<br /> Các mẫu được lấy về từ vườn cam thuộc xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc, Tỉnh<br /> Bến Tre.<br /> Tiến hành khử trùng mẫu: mẫu bệnh sau khi lấy về rửa sạch phần đất bám trên mẫu, cắt<br /> rễ và thân thành từng đoạn nhỏ khoảng 1 – 2 cm. Cắt dọc thân cây thành 2 phần để lộ phần rễ<br /> hoặc thân cây bị bệnh rồi tiến hành khử trùng sơ bộ bằng cách đem ngâm trong cồn 70 trong 1<br /> phút, rửa lại bằng nước cất, thấm khô mẫu. Cho mẫu ngâm trong dung dịch NaClO 1% trong<br /> 1 phút, rửa lại với nước cất vô trùng, thấm khô nước.<br /> Sau khi khử trùng cấy trực tiếp mẫu vào môi trường PDA đối với chủng Fusarium. Khi<br /> phân lập Phytophthora, Pythium sử dụng môi trường PDA bổ sung thêm kháng sinh<br /> 2.2.<br /> <br /> 43<br /> <br /> (penicillin G nồng độ 50–100mol/ml, polymixin B 20–50mol/ml) và kháng nấm<br /> Piramicin/Nystatin nồng độ 10–100 mol/ml. Ủ ở nhiệt độ phòng từ 2–4 ngày, chọn các<br /> khuẩn lạc nghi ngờ là các chủng gây bệnh.<br /> Tiến hành quan sát đại thể, vi thể để xác định sơ bộ giống nấm. Các chủng đã phân lập<br /> được bảo quản trong ống thạch nghiêng môi trường PDA, giữ ở 4 oC trước khi thực hiện các<br /> thí nghiệm tiếp theo.<br /> Sau khi xác định đối tượng nghi ngờ gây bệnh, tiến hành chủng ngược nấm phân lập lên<br /> cây con để xác định tác nhân gây bệnh. Sau đó giữ giống lại cho các thí nghiệm sau.<br /> Phương pháp lây bệnh nhân tạo<br /> Đối với nấm Fusarium sp. ta tiến hành lây bệnh cho cây bằng dịch bào tử bằng phương<br /> pháp lây bệnh vào đất (Hien và cs, 2009).<br /> Sau khi xác định nấm gây bệnh, quá trình nuôi cấy thu nhận bào tử nấm gây bệnh sẽ được<br /> tiến hành trên môi trường PDA trong 7 ngày. Sau 7 ngày nuôi cấy, dịch bào tử nấm sẽ được<br /> thu nhận bằng cách bổ sung 20 ml nước cất vô trùng vào đĩa thạch đã cấy nầm bệnh. Mật độ<br /> bào tử sẽ được xác định bằng cách đếm trên buồng đếm hồng cầu, sau đó pha loãng dịch này<br /> sao cho đạt mật độ 104 bào tử/ml để chuẩn bị cho quá trình thí nghiệm lây bệnh.<br /> Thí nghiệm lây bệnh nhân tạo sẽ được thực hiện với 2 nghiệm thức gồm nghiệm thức đối<br /> chứng và nghiệm thức lây bệnh. Đối tượng thử nghiệm là cây cam 2 tháng tuổi đã được trồng<br /> 2.3.<br /> <br /> trước đó. Trong đó, phần đất của các cây cam đối chứng sẽ được tưới bằng 20 ml nước cất vô<br /> trùng và ở nghiệm thức lây bệnh sẽ được tưới bằng 20 ml dịch bào tử đã được chuẩn bị trước<br /> đó. Tất các các cây cam con sẽ được bọc lại bằng túi polythene và giữ ẩm bằng cách tưới<br /> nước hằng ngày. Quan sát triệu chứng bệnh trên cây sau khi lây bệnh (Nasiru và cs, 2015).<br /> Phân lập Trichoderma<br /> Các mẫu sau khi được thu về từ vườn cam tiến hành khử trùng mẫu tương tự như phân<br /> lập nấm bệnh sau đó cấy trực tiếp vào môi trường PDA. Ủ ở nhiệt độ phòng từ 2 – 4 ngày, sau<br /> đó chọn các khuẩn lạc nghi ngờ là Trichoderma.<br /> 2.4.<br /> <br /> Tiến hành quan sát đại thể, vi thể để xác định sơ bộ, cấy vào ống nghiệm lưu mẫu và bảo<br /> quản như các chủng nấm gây bệnh để thực hiện các thí nghiệm tiếp theo.<br /> Khảo sát đối kháng của nấm Trichoderma sp. trong phòng thí nghiệm<br /> Sau khi phân lập được chủng nấm bệnh và chủng Trichoderma sp. tiến hành cấy đối<br /> kháng bằng phương pháp cấy điểm trên môi trường PDA. Chủng Trichoderma sp. và chủng<br /> Fusarium sp. được cấy trên đĩa đối kháng cách nhau 3 cm như Hình 1.<br /> 2.5.<br /> <br /> Sau khi cấy ủ trong điều kiện bình thường, tiến hành đo bán kính của các chủng từng<br /> ngày nhằm xác định chỉ số đối kháng của chủng Trichoderma với chủng nấm bệnh.<br /> Theo Imtiaj và Le (2008); Sallam và cs. (2009), thì chỉ số đối kháng của nấm được tính<br /> theo công thức sau:<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2