intTypePromotion=1

Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi của bà mẹ đối với sốt co giật tại khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 2

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
76
lượt xem
17
download

Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi của bà mẹ đối với sốt co giật tại khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu có mục tiêu xác định tỷ lệ các bà mẹ có con bị sốt cao co giật đơn giản có kiến thức, thái độ và xử trí đúng trước sốt co giật nhập khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 2 và các yếu tố liên quan.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi của bà mẹ đối với sốt co giật tại khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 2

Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012<br /> <br /> KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA BÀ MẸ<br /> ĐỐI VỚI SỐT CO GIẬT TẠI KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2<br /> Đoàn Thị Ngọc Diệp*, Bùi Văn Đỡ**, Nguyễn Vinh Anh***<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Sốt co giật là biểu hiện co giật lành tính và thường gặp nhất tại khoa cấp cứu bệnh viện nhi, nhưng thường<br /> khiến ba mẹ bệnh nhi hoảng sợ, mất bình tĩnh, kết hợp với thiếu kiến thức về bệnh có thể dẫn đến những hành vi<br /> xử trí không thích đáng, thậm chí gây hại cho em bé.<br /> Mục tiêu: Xác định tỷ lệ các bà mẹ có con bị sốt cao co giật đơn giản có kiến thức, thái độ và xử trí đúng<br /> trước sốt co giật nhập Khoa Cấp Cứu Bệnh viện Nhi Đồng 2 và các yếu tố liên quan.<br /> Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích. Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng<br /> vấn trực tiếp 240 bà mẹ có con sốt co giật cơn đơn giản với bảng câu hỏi soạn sẵn, thực hiện tại khoa Cấp cứu<br /> bệnh viện Nhi Đồng 2 trong 10 tháng.<br /> Kết quả: Sáu mươi phần trăm bà mẹ (n=144) biết về sốt co giật trong khi 12% (n=29) chưa từng nghe qua<br /> bệnh lý này. Nguồn thông tin được nhiều bà mẹ tiếp nhận nhất là từ gia đình với 60%, nhân viên y tế chỉ chiếm<br /> 35% (n=74). Các bà mẹ cho là bệnh lý này nguy hiểm trong 93% trường hợp (n=224). Chỉ 15% (n= 30) bà mẹ có<br /> hành vi xử trí đúng. Yếu tố có liên quan đến tỷ lệ kiến thức và hành vi đúng ở bà mẹ chính là việc nhận thông<br /> tin từ nhân viên y tế. Tuy vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi chưa nhận thấy mối liên quan giữa việc có kiến<br /> thức đúng của bà mẹ với có hành vi hay thái độ đúng trước sốt cao co giật.<br /> Kết luận: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng trứơc sốt cao co giật là 30%, có thái độ đúng là 4% và có hành vi<br /> đúng là 15%. Nguồn thông tin nhân viên y tế, chiếm 35%, là nguồn thông tin hiệu quả nhất khi đưa đến tỷ lệ bà<br /> mẹ có kiến thức và hành vi xử trí đúng cao nhất.<br /> Từ khoá: Sốt co giật, kiến thức thái độ hành vi của ba mẹ.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> KNOWLEDGE, ATTITUDE AND PRATICE OF MOTHERS ABOUT FEBRILE CONVULSION<br /> AT CHILDREN’S HOSPITAL No 2<br /> Doan Thi Ngoc Diep, Bui Van Do, Nguyen Vinh Anh<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 – 2012: 38 - 44<br /> Febrile convulsion, type of benign and most seen convulsion in emergency departments of pediatric hospitals,<br /> somehow makes parents panic, together with a lack of adequate information, this may leads to unappropriate<br /> treatments, even harmful for the baby.<br /> Aims: Identify the rate of mothers, on having their childs admitted to Emergency department of Children’s<br /> Hospital No 2 for a simple febrile convulsion, who have right knowledge, attitude and pratice about febrile<br /> convulsion and associated factors.<br /> Patients and Methods: This was a descriptive transversale research that was carried out for ten months, in<br /> the Emergency Department of Children’s Hospital No 2 by interviewing, using a questionnaire, in direct 240<br /> <br /> *Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, ** Bệnh viện Nhi Đồng 2, *** Đại học Y Dược TP.HCM.<br /> Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Vinh Anh,<br /> ĐT: 0907513018,<br /> Email: vinhanh2309@gmail.com<br /> <br /> 38<br /> <br /> Chuyên Đề Sức khỏe Sinh sản và Bà Mẹ - Trẻ em<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> mothers who had their childs admitted for a simple febrile convulsion.<br /> Results: Sixty percent of the mothers (n=144) knew about febrile convulsion whereas 12% (n=29) had never<br /> heard of this disease. The source of information most used was from entourage of the mother in the house with<br /> 60% of cases (n= 144), medical workers only occupied in 35% of cases (n=74). The majority of mothers considered<br /> that this disease was dangerous, with 93% (n=224 ). Only 15% (n= 30) of the mothers had praticed right first aid<br /> for the convulsing baby. Significative factors to the rate of right knowledge and right pratice were the fact that the<br /> mothers have received information from medical workers. However, in this research, a relationship between the<br /> right knowledge of the mothers with her attitude or pratice of febrile convulsion wasn’t been found.<br /> Conclusions: The rate of mothers having a right knowledge of febrile convulsion was 30%. Four percent of<br /> mothers had a right attitude about this disease was 4% and 15% had practiced right first aid for a febrile<br /> convulsion. Medical workers was the source of information the most useful for leading to the highest rate of<br /> mothers having a right knowledge and praticing right first aid.<br /> Key words: Febrile convulsion, parental reactions.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Sốt co giật được định nghĩa là cơn co giật<br /> xảy ra ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi kèm theo sốt<br /> không do nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương<br /> hay các nguyên nhân gây co giật khác(7). Với tần<br /> suất từ 2-5% và tỷ lệ tái phát 30%(3), đây là biểu<br /> hiện co giật lành tính và thường gặp nhất tại<br /> khoa cấp cứu bệnh viện nhi(10). Cơn sốt co giật<br /> đơn giản (chiếm 60%-70% các cơn co giật do<br /> sốt(3)) không tăng nguy cơ tử vong, chậm phát<br /> triển tâm thần vận động, sức học hay phát triển<br /> thành động kinh so với dân số chung(8,9). Tuy<br /> vậy, chứng kiến con mình co giật thường khiến<br /> ba mẹ em bé mất bình tĩnh, kết hợp với thiếu<br /> thông tin y tế thường đưa đến những hành vi xử<br /> trí không thích đáng và thậm chí gây hại(2,6). Đối<br /> với nhân viên y tế, phương thuốc tốt nhất truớc<br /> cơn co giật do sốt của em bé không chỉ đơn<br /> thuần là xử trí cắt cơn và tìm nguyên nhân gây<br /> sốt mà chính là việc truyền đạt thông tin hiệu<br /> quả cho cha mẹ bệnh nhi(7,10). Hiểu biết đầy đủ<br /> và đúng đắn phần nào trấn an ba mẹ bệnh nhi,<br /> giúp họ bình tĩnh và tự tin xử trí khi đối mặt với<br /> các cơn tái phát trong tương lai. Như vậy, một<br /> cái nhìn toàn diện và tổng quát về kiến thức,<br /> thái độ, thực hành của ba mẹ đối với sốt co giật<br /> là rất cần thiết đối với nhân viên y tế để từ đó<br /> xây dựng một kế hoạch tác động hiệu quả và<br /> phổ biến trong cộng đồng, cải thiện nhận thức<br /> của người dân về bệnh lý thường gặp này. Vì<br /> vậy, chúng tôi thực hiện một nghiên cứu trên<br /> <br /> Nhi Khoa<br /> <br /> dân số các bà mẹ có con sốt co giật nhập Khoa<br /> Cấp cứu Bệnh viện Nhi đồng 2 nhằm trả lời câu<br /> hỏi nghiên cứu “Đặc điểm kiến thức, thái độ,<br /> hành vi bà mẹ trước sốt co giật là như thế nào?”.<br /> <br /> PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Thiết kế nghiên cứu<br /> Cắt ngang mô tả. Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ<br /> bệnh nhi.<br /> <br /> Tiêu chí chọn mẫu<br /> Bệnh nhi sốt co giật cơn đơn giản nhập khoa<br /> Cấp Cứu Bệnh viện Nhi đồng 2 từ tháng<br /> 01/9/2010 đến 01/7/2011.<br /> <br /> Tiêu chí loại ra<br /> Bà mẹ bệnh nhi không đồng ý trả lời phỏng<br /> vấn hoặc trong tình trạng không thể trả lời<br /> phỏng vấn (say rượu, khiếm thính).<br /> Cỡ mẫu<br /> N=(Z21-/2 p (1-p))/d2, với p=0,19 (Tỷ lệ bà mẹ<br /> có hành vi đúng trước sốt co giật trong nghiên<br /> cứu của Huỳnh Văn Lộc, bệnh viện Nhi Đồng 1,<br /> 2001(6)), Z1-/2=1,96, d=0,05. Vậy N=236.<br /> <br /> KẾT QUẢ<br /> Trong thời gian từ 09/2010 đến 07/2011,<br /> chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 240 bà mẹ có<br /> con sốt co giật cơn đơn giản nhập vào khoa Cấp<br /> cứu bệnh viện Nhi Đồng 2 thoả các tiêu chí đưa<br /> vào nghiên cứu. Không có trường hợp nào có<br /> tiêu chí loại trừ.<br /> <br /> 39<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012<br /> <br /> Số lần chứng kiến sốt cao co giật trước đây<br /> Xét kinh nghiệm về sốt co giật của bà mẹ<br /> trên tiền căn sốt co giật của bản thân bệnh nhi và<br /> của anh chị em ruột, chúng tôi ghi nhận có 113<br /> (47%) bà mẹ chưa từng có kinh nghiệm về sốt<br /> cao co giật trong khi có 98 (41%) người đã từng<br /> chứng kíên cơn sốt cao co giật 1 đến 2 lần.<br /> Nhóm từng chứng kiến sốt cao co giật từ 3 lần<br /> trở lên chiếm 12%.<br /> <br /> Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về sốt co giật<br /> Có 144 bà mẹ trả lời có biết về sốt co giật và<br /> tất cả đều có thể trình bày được các đặc điểm<br /> của bệnh, chiếm tỷ lệ 60%. Tuy nhiên, có 67<br /> người (28%) thừa nhận rằng từng nghe về bệnh<br /> nhưng không nhớ chi tiết. Phần còn lại có 29 bà<br /> mẹ chưa từng nghe về bệnh lý này, chiếm tỷ lệ<br /> 12%.<br /> <br /> Phân bố nguồn thông tin<br /> Trong 211 bà mẹ trả lời có biết hoặc đã từng<br /> nghe về sốt cao co giật, có bốn nguồn thông tin<br /> được các bà mẹ tham khảo, trong đó mỗi bà mẹ<br /> có thể biết về bệnh từ nhiều nguồn khác nhau.<br /> Thông tin đến từ người sống cùng nhà được<br /> nhiều bà mẹ chọn nhất, 89 người, chiếm tỷ lệ<br /> 42%. Kế tiếp là bạn bè và hàng xóm, có 75<br /> (35.5%) bà mẹ lựa chọn nguồn thông tin này,<br /> xấp xỉ số bà mẹ nhận thông tin về sốt cao co giật<br /> từ nhân viên y tế, 74 người (35%). Thông tin đến<br /> từ các phương tiện đại chúng như sách, báo,<br /> internet, các chương trình nuôi dạy trẻ trên<br /> truyền hình chiếm ít nhất, chỉ 61 người lựa chọn,<br /> chiếm tỷ lệ 29%.<br /> Yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thông tin<br /> Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi<br /> phân nguồn thông tin về sốt co giật theo kinh<br /> nghiệm của bà mẹ đối với bệnh lý này. Tỷ lệ<br /> nhận thông tin từ nhân viên y tế tăng đáng kể<br /> theo số lần chứng kiến sốt co giật của bà mẹ, từ<br /> mức tỷ lệ là chỉ 17.4% trong nhóm chưa từng<br /> chứng kiến được thông tin về bệnh từ nhân viên<br /> y tế cho đến tỷ lệ là 98% bà mẹ có từ 3 lần chứng<br /> kiến trở lên (p

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản