Khảo sát mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng bệnh zona và một số rối loạn chuyển hóa (glucid, lipid, protid) tại khoa Da liễu - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
10
lượt xem
0
download

Khảo sát mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng bệnh zona và một số rối loạn chuyển hóa (glucid, lipid, protid) tại khoa Da liễu - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả một số đặc điểm lâm sàng bệnh zona và bước đầu khảo sát mối liên quan với một số chỉ số chuyển hoá glucid, lipid, protid. Đối tượng và phương pháp: gồm 38 bệnh nhân zona (cỡ mẫu thuận tiện) nằm điều trị nội trú tại khoa Da liễu - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên từ 10/ 2010 đến 7/2011. Thiết kế nghiên cứu: mô tả tiến cứu trên bệnh nhân về một số đặc điểm lâm sàng và chỉ số về chuyển hoá.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng bệnh zona và một số rối loạn chuyển hóa (glucid, lipid, protid) tại khoa Da liễu - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

Nguyễn Thị Thu Hoài và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 89(01/2): 35 - 40<br /> <br /> KHẢO SÁT MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG BỆNH ZONA<br /> VÀ MỘT SỐ RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ (GLUCID, LIPID, PROTID )<br /> TẠI KHOA DA LIỄU - BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN<br /> Nguyễn Thị Thu Hoài*, Nguyễn Quý Thái<br /> Trường Đại học Y- Dược – ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: mô tả một số đặc điểm lâm sàng bệnh zona và bước đầu khảo sát mối liên quan với một<br /> số chỉ số chuyển hoá glucid, lipid, protid.<br /> Đối tượng và phương pháp: gồm 38 bệnh nhân zona (cỡ mẫu thuận tiện) nằm điều trị nội trú tại<br /> khoa Da liễu - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên từ 10/ 2010 đến 7/2011.<br /> Thiết kế nghiên cứu: mô tả tiến cứu trên bệnh nhân về một số đặc điểm lâm sàng và chỉ số về<br /> chuyển hoá.<br /> Kết quả: Đặc điểm lâm sàng: tỷ lệ bệnh nhân zona có mảng da viêm đỏ là 100%, mụn nước thành<br /> chùm 100%,bọng nước 92,1%. vẩy tiết 21,1%; vị trí tổn thương: liên sườn 42,1%, đầu- mặt- cổ<br /> 23,7%, thắt lưng, sinh dục- đùi 15,8%, ngực cánh tay 10,5%, tai 7,9%; toàn thân: đau 100%, sưng<br /> hạch lân cận 68,4%, sốt 5,3%, mệt mỏi 21,1%. Tỷ lệ bệnh nhân zona có rối loạn bất thường<br /> cholesterol là 46,6%, triglycerid 53,4%, glucose 10,8% albumin 20%. Chưa thấy có sự tương quan<br /> giữa một yếu tố chuyển hoá (cholesterol, triglycerid, glucose) với mức độ bệnh, mức độ đau và<br /> diện tích tổn thương trong bệnh zona (với p>0,05).<br /> Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân zona có rối loạn một số chỉ số chuyển hoá glucid, lipid và protid là khá<br /> cao. Tác giả khuyến nghị: Cần phát hiện triệt để các rối loạn chuyển hoá, góp phần định hướng<br /> nâng cao chất lượng trong chăm sóc và điều trị bệnh zona.<br /> Từ khoá: Zona, chuyển hoá, glucid, lipid, protid.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ*<br /> Bệnh Zona là một bệnh nhiễm trùng da do vi<br /> rút Varicella Zoster gây nên. Trên 90% người<br /> lớn ở Hoa Kỳ có chứng cứ huyết thanh về<br /> việc nhiễm Varicella Zoster virút và đều có<br /> nguy cơ bị Zona. Số mới mắc Zona hàng năm<br /> vào khoảng 1,5- 3 trường hợp/1000 người.<br /> Nguy cơ mắc Zona trong suốt cuộc đời ước<br /> tính là 10- 20% [7].Ở Việt Nam, bệnh Zona<br /> chiếm 41,35% tổng số bệnh da do virút,<br /> chiếm 5,33% trong tổng số các bệnh da điều<br /> trị nội trú tại viện Da liễu quốc gia từ 19941998 [2]. Bệnh Zona có xu hướng ngày càng<br /> tăng lên [5].<br /> Bệnh thường gặp ở những người cao tuổi,<br /> người suy giảm miễn dịch. Thương tổn da lan<br /> toả, nặng ở những bệnh nhân suy giảm miễn<br /> dịch, do dùng corticoid kéo dài, hoá trị liệu<br /> điều trị ung thư, bệnh nhân HIV/ADIS...[2],<br /> [3], [7].<br /> *<br /> <br /> Bệnh Zona đã được nhiều tác giả trong và<br /> ngoài nước nghiên cứu về nhiều khía cạnh<br /> như lâm sàng, căn nguyên gây bệnh, các biến<br /> chứng, các thuốc và chiến lược điều trị. Tuy<br /> nhiên, còn ít tác giả nghiên cứu mối liên<br /> quan giữa bệnh zona với các rối loạn chuyển<br /> hoá. Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi tiên<br /> hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát mối liên<br /> quan giữa đặc điểm lâm sàng bệnh Zona và một<br /> số rối loạn chuyển hoá (glucid, lipid, protid).<br /> Mục tiêu:<br /> 1. Tìm hiểu một số đặc điểm lâm sàng bệnh<br /> Zona tại khoa Da liễu bệnh viện đa khoa<br /> trung ương Thái Nguyên.<br /> 2. Bước đầu khảo sát mối liên quan giữa đặc<br /> điểm lâm sàng bệnh Zona và một số rối loạn<br /> chuyển hoá glucid, lipid, protid<br /> ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Đối tượng nghiên cứu: tất cả bệnh nhân<br /> Zona điều trị nội trú tại khoa Da liễu bệnh<br /> viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên<br /> 35<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Nguyễn Thị Thu Hoài và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 89(01/2): 35 - 40<br /> <br /> - Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu:<br /> Xác định mức độ tổn thương theo quy tắc bàn<br /> tay của Blokine và Glumov: 1 lòng bàn tay<br /> * Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là<br /> của bệnh nhân tương ứng với 1% diện tích cơ<br /> Zona nằm điều trị nội trú tại khoa Da liễu.<br /> thể. Cụ thể như sau:<br /> * Bệnh nhân đồng ý tham gia vào nghiên cứu<br /> - Mức độ tổn thương nhẹ: < 1% diện tích cơ thể<br /> - Địa điểm nghiên cứu: Khoa Da liễu Bệnh<br /> - Mức độ tổn thương vừa: 1- 2% diện tích cơ thể<br /> viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên<br /> - Mức độ tổn thương nặng: > 2% diện tích cơ thể<br /> - Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2010 đến<br /> tháng 7/2011<br /> + Mức độ đau:<br /> Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả<br /> - Thang điểm đau trung bình theo chỉ số<br /> tiến cứu<br /> Likert.<br /> - Mẫu nghiên cứu: chọn mẫu thuận tiện<br /> - Mức độ đau theo nhóm tuổi.<br /> - Kỹ thuật thu thập số liệu: hỏi bệnh, khám<br /> - Dựa vào thang điểm đau Likert so sánh số<br /> lâm sàng, xét nghiệm và ghi các kết quả<br /> thay đổi bằng lời nói và những số hành vi để<br /> nghiên cứu vào phiếu bệnh án (theo mẫu).<br /> đánh giá thang điểm đau và mức độ đau.<br /> - Chỉ tiêu nghiên cứu<br /> Thang điểm đau Likert có 11 điểm, từ 0<br /> (không<br /> đau/ bình yên) đến 10 (đau nhiều nhất/<br /> Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới, đau tiền<br /> kêu la, choáng).<br /> triệu, vị trí, mức độ thương tổn da, thương tổn<br /> cơ bản, mức độ đau, mức độ bệnh, triệu<br /> Chia 3 mức độ đau dựa theo thang điểm đau<br /> chứng kèm theo: sốt, nổi hạch lân cận, mệt<br /> Likert:<br /> mỏi... các chỉ số về xét nghiệm máu: glucose,<br /> Mức độ đau nhẹ ≤ 4 điểm<br /> triglycerid, cholesterol, albumin.<br /> Mức độ đau vừa: 5 – 6 điểm<br /> - Kỹ thuật xét nghiệm<br /> Mức độ đau nặng: ≥ 7 điểm<br /> Các xét nghiệm được tiến hành trên máy xét<br /> + Mức độ bệnh:<br /> nghiệm sinh hoá máu Au 640 tại khoa xét<br /> *Mức độ bệnh nhẹ:<br /> nghiệm Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái<br /> - Mức tổn thương nhẹ(DTTT):2 DTCT<br /> - Chỉ số đau Likert ở mức nặng: ≥ 7.<br /> - Có sưng hạch phụ cận hoặc không<br /> - Có sốt hoặc không, có mệt hoặc không mệt.<br /> - Không có tổn thương thần kinh ngoại vi<br /> - Chất lượng cuộc sống: ảnh hưởng nhiều.<br /> Xếp mức độ bệnh khi có ≥ 3 tiêu chuẩn.<br /> - Kỹ thuật thu thập số liệu<br /> Thu thập số liệu theo mẫu phiếu thống nhất,<br /> thông qua khám lâm sàng, xét nghiệm sinh<br /> hoá máu bằng máy xét nghiệm sinh hoá tại<br /> khoa xét nghiệm bệnh viện Đa khoa Trung<br /> ương Thái Nguyên<br /> Phương pháp xử lý số liệu: theo phương<br /> pháp thống kê y sinh học, trên phần mềm Epi<br /> info version 3.3.2.<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu<br /> STT<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> Đặc điểm của đối<br /> tượng<br /> Giới: Nam<br /> Nữ<br /> Tuổi: < 10<br /> 10- 19<br /> 20- 29<br /> 30-39<br /> 40-49<br /> 50-59<br /> 60-69<br /> ≥ 70<br /> Mức độ đau<br /> Đau nhẹ: ≤ 4 điểm<br /> Đau vừa: 5- 6 điểm<br /> Đau nặng: ≥7 điểm<br /> Mức độ bệnh<br /> Nhẹ<br /> Vừa<br /> Nặng<br /> <br /> Số bệnh<br /> nhân<br /> 19<br /> 19<br /> 1<br /> 1<br /> 5<br /> 2<br /> 1<br /> 8<br /> 9<br /> 11<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> (%)<br /> 50<br /> 50<br /> 2,6<br /> 2,6<br /> 13,2<br /> 5,3<br /> 2,6<br /> 21,7<br /> 23,7<br /> 28,9<br /> <br /> 1<br /> 11<br /> 26<br /> <br /> 2,6<br /> 28,9<br /> 68,5<br /> <br /> 1<br /> 11<br /> 26<br /> <br /> 2,6<br /> 28,9<br /> 68,5<br /> <br /> 89(01/2): 35 - 40<br /> <br /> Mô tả một số đặc điểm lâm sàng<br /> Nhận xét: Bảng 1 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh<br /> theo giới không có sự khác biệt (nam: 50%,<br /> nữ: 50%). Tuổi hay gặp nhất là trên 70 tuổi<br /> (28,9%) và tuổi trên 50 chiếm 74,3%. Mức độ<br /> bệnh nặng chiếm tỷ lệ cao nhất 68,5%.<br /> Bảng 2: Các dấu hiệu toàn thân<br /> STT<br /> 1<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> <br /> Các<br /> Số bệnh<br /> Tỷ lệ (%)<br /> dấu hiệu<br /> nhân (n=38)<br /> Tiền triệu: Có<br /> 32<br /> 84,21<br /> Không<br /> 6<br /> 15,79<br /> Sốt: Không sốt<br /> 36<br /> 94,7<br /> Sốt nhẹ<br /> 2<br /> 5,3<br /> Sốt vừa<br /> 0<br /> 0<br /> Sốt nặng<br /> 0<br /> 0<br /> Mệt mỏi<br /> 8<br /> 21,1<br /> Sưng hạch phụ<br /> 26<br /> 68,4<br /> cận<br /> Đau<br /> 38<br /> 100<br /> <br /> Nhận xét: Dấu hiệu tiền triệu gặp ở 84,21%<br /> bệnh nhân. Sốt chỉ gặp 2/38 bệnh nhân chiếm<br /> 5,3%, không có bệnh nhân sốt nặng. Sưng<br /> hạch phụ cận gặp tỷ lệ là 68,4%. Mệt mỏi<br /> 21,1%. 100% bệnh nhân có đau.<br /> Bảng 3: Hình thái thương tổn Zona<br /> Các loại thương tổn<br /> cơ bản<br /> Mảng da viêm đỏ<br /> Mụn nước thành<br /> chùm<br /> Bọng nước<br /> Mụn nước lưu vong<br /> Vảy tiết<br /> Sẹo phẳng<br /> Sẹo lõm<br /> <br /> Số lượt<br /> <br /> Tỷ lệ (%)<br /> <br /> 38<br /> 38<br /> <br /> 100<br /> 100<br /> <br /> 35<br /> 0<br /> 8<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> 92,1<br /> 0<br /> 21,05<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Nhận xét: Kết quả ở bảng 3 cho thấy trên 92%<br /> bệnh nhân có thương tổn cơ bản là mảng da<br /> viêm đỏ, mụn nước thành chùm, bọng nước.<br /> * Vị trí tổn thương<br /> Nhận xét: Kết quả ở bảng 4 cho thấy Zona<br /> liên sườn gặp nhiều nhất chiếm 42,1%, tiếp<br /> đến là Zona vùng đầu - mặt - cổ 23,7%, thấp<br /> nhất là Zona tai 7,9%.<br /> 37<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Nguyễn Thị Thu Hoài và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Bảng 4: Vị trí tổn thương<br /> STT<br /> <br /> Vị trí tổn thương<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> <br /> Zona liên sườn<br /> Zona đầu - mặt - cổ<br /> Zona thắt lưng, sinh dụcđùi<br /> Zona ngực cánh tay<br /> Zona tai<br /> Tổng<br /> <br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> <br /> Số bệnh Tỷ lệ<br /> nhân (n) (%)<br /> 16<br /> 42,1<br /> 9<br /> 23,7<br /> 6<br /> <br /> 15,8<br /> <br /> 4<br /> 3<br /> 38<br /> <br /> 10,5<br /> 7,9<br /> 100<br /> <br /> Khảo sát mối liên quan giữa đặc điểm lâm<br /> sàng bệnh zona và một số rối loạn chuyển<br /> hoá (glucid, lipid, protid)<br /> Bảng 5: Tỷ lệ bệnh nhân Zona có rối loạn bất<br /> thường ở một số chỉ số chuyển hoá<br /> (glucid, lipid, protid)<br /> Tỷ lệ bệnh nhân Zona<br /> Chỉ số chuyển hoá<br /> cholesterol (n= 30)<br /> triglycerid (n = 30)<br /> glucose (n = 37)<br /> albumin (n = 10)<br /> <br /> Số<br /> Tỷ lệ %<br /> lượng<br /> 14<br /> 16<br /> 4<br /> 2<br /> <br /> 46,6<br /> 53,4<br /> 10,8<br /> 20,0<br /> <br /> Bảng 6: Tương quan giữa nồng độ cholesterol,<br /> triglycerid, glucose trong huyết thanh với một số<br /> đặc điểm bệnh Zona (mức độ bệnh, mức độ đau,<br /> diện tích tổn thương).<br /> Cặp tương quan<br /> Mức độ bệnh<br /> – cholesterol<br /> Mức độ bệnh<br /> – triglycerid<br /> Mức độ bệnh<br /> – glucose<br /> Mức độ đau<br /> - cholesterol<br /> Mức độ đau<br /> – triglycerid<br /> Mức độ đau<br /> – glucose<br /> Mức độ tổn thương<br /> - cholesterol<br /> Mức độ tổn thương<br /> – triglycerid<br /> Mức độ tổn thương<br /> - glucose<br /> <br /> Hệ số<br /> tương quan<br /> (R spearman)<br /> <br /> p<br /> <br /> 0,19<br /> <br /> >0,05<br /> <br /> 0,13<br /> <br /> >0,05<br /> <br /> - 0,2<br /> <br /> >0,05<br /> <br /> 0,05<br /> <br /> >0,05<br /> <br /> 0,13<br /> <br /> >0,05<br /> <br /> -0,19<br /> <br /> >0,05<br /> <br /> 0,09<br /> <br /> >0,05<br /> <br /> -0,26<br /> <br /> >0,05<br /> <br /> -0,2<br /> <br /> >0,05<br /> <br /> 89(01/2): 35 - 40<br /> <br /> Nhận xét: Kết quả ở bảng 5 cho thấy tỷ lệ<br /> bệnh nhân có rối loạn bất thường về chỉ số<br /> cholesterol là 46,6%, triglycerid: 53,4%,<br /> glucose: 10,8% và albumin 20,0%.<br /> Qua kết quả ở bảng 6 thấy chưa có sự tương<br /> quan giữa một số yếu tố chuyển hoá<br /> (cholesterol, triglycerid, glucose) với mức độ<br /> bệnh, mức độ đau, diện tích tổn thương trong<br /> bệnh Zona.<br /> BÀN LUẬN<br /> Đặc điểm lâm sàng<br /> Theo nhiều tác giả tỷ lệ mắc bệnh theo giới là<br /> gần tương đương nhau [2], [6].Trong nghiên<br /> cứu của chúng tôi, tỷ lệ mắc bệnh theo giới là<br /> tương đương (nam: 50%,nữ: 50%). Tuổi mắc<br /> bệnh thường gặp nhất là trên 70 tuổi chiếm<br /> 28,9% và lứa tuổi trên 50 có tỷ lệ mắc bệnh<br /> rất cao 74,3%, lứa tuổi mắc bệnh thấp nhất là<br /> dưới 10 tuổi và lứa tuổi 10- 19 tuổi. Mức độ<br /> bệnh nặng chiếm tỷ lệ cao nhất 68,5%, mức<br /> độ bệnh vừa 28,9%, mức độ bệnh nhẹ chỉ<br /> chiếm 2,6%. Sở dĩ tỷ lệ bệnh nặng và vừa<br /> chiếm tỷ lệ cao vì đây là những bệnh nhân<br /> điều trị nội trú mức độ bệnh vừa và nặng mới<br /> vào viện điều trị.<br /> Trước khi có thương tổn da 2- 3 ngày, tại<br /> vùng da sắp mọc thương tổn xuất hiện các<br /> triệu chứng báo trước như đau rấm dứt, đau<br /> rát [3]. Sau đó 1- 2 ngày xuất hiện mảng da<br /> viêm đỏ, rồi mụn nước, bọng nước rải rác<br /> hoặc cụm lại thành đám như chùm nho. Lúc<br /> đầu mụn nước trong, không căng, sau có thể<br /> đục (mủ), hoặc màu đỏ hồng (máu). Sau 3- 5<br /> ngày mụn nước, bọng nước dập vỡ đóng vẩy<br /> tiết, vẩy tiết khô bong đi để lại sẹo hoặc dát<br /> thay đổi màu sắc da [3]. Trong nghiên cứu<br /> của chúng tôi có 32/38 (84,21%) bệnh nhân<br /> có dấu hiệu báo trước là đau trước khi xuất<br /> hiện thương tổn da 1- 4 ngày. Tỷ lệ bệnh nhân<br /> có thương tổn cơ bản là mảng da viêm đỏ là<br /> 100%, mụn nước thành chùm, bọng nước<br /> chiếm 92,1%. Đây đều là những tổn thương<br /> đặc trưng của zona. Ngoài ra chúng tôi còn<br /> gặp những thương tổn khác như vết trợt, vẩy<br /> tiết…phụ hợp với bệnh cảnh lâm sàng.<br /> <br /> 38<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Nguyễn Thị Thu Hoài và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Vị trí thương tổn thường gặp nhất là zona liên<br /> sườn chiếm 42,1%, tiếp đến là zona vùng<br /> đầu- mặt- cổ 23,7%, các vùng khác có tỷ lệ<br /> thấp hơn. Kết quả này cũng phù hợp với kết<br /> quả nghiên cứu của Arnold [6], Đỗ Văn<br /> Khoát [2], Đặng Văn Em [1].<br /> Bệnh zona có thể ảnh hưởng đến tình trạng<br /> toàn thân của bệnh nhân hoặc không, một số<br /> triệu chứng có thể gặp là sốt, mệt mỏi, sưng<br /> hạch phụ cận… Kết quả ở bảng 2 cho thấy sốt<br /> chỉ chiếm 5,3%, trong đó chỉ có sốt nhẹ,<br /> không có bệnh nhân nào sốt nặng. Mệt mỏi<br /> chiếm 21,1%. Kết quả này cũng tương tự như<br /> kết quả nghiên cứu của Đặng Văn Em (sốt:<br /> 9,62%, mệt mỏi: 19,23%). Về sưng hạch phụ<br /> cận, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao<br /> hơn Đặng Văn Em [1] (68,4% so với<br /> 53,85%).<br /> Khảo sát mối liên quan giữa đặc điểm lâm<br /> sàng bệnh zona và một số rối loạn chuyển<br /> hoá (glucid, lipid, protid)<br /> Tăng mỡ máu, tiểu đường thường được xem<br /> là căn bệnh của những nước phát triển. Tuy<br /> nhiên trong những năm gần đây, ở Việt Nam<br /> số lượng người bị bệnh tăng mỡ máu (tăng<br /> cholesterol máu, hoặc tăng triglycerid máu,<br /> hoặc tăng cả cholesterol và triglycerid máu)<br /> và tiểu đường ngày càng tăng lên, đặc biệt<br /> tăng cao ở những người cao tuổi. Bệnh Zona<br /> là một bệnh cũng thường gặp ở người cao tuổi.<br /> Theo Đặng Văn Em, tỷ lệ bệnh nhân Zona bị<br /> bệnh kèm theo là tiểu đường chiếm 11,54%,<br /> tăng mỡ máu là 9,62% (5/52 BN) [4].<br /> Kết quả ở bảng 5 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân<br /> Zona có rối loạn bất thường chỉ số<br /> cholesterol, triglycerid rất cao, có tới 46,6%<br /> bệnh nhân có rối loạn bất thường về chỉ số<br /> cholesterol và 53,4% có rối loạn bất thường<br /> về chỉ số triglyceride. Dường như ở đây có<br /> mối liên quan giữa bệnh Zona và những rối<br /> loạn về chỉ số cholesterol, triglycerid.<br /> Ở những người có tăng đường huyết sức<br /> chống đỡ của cơ thể đối với nhiễm khuẩn bị<br /> suy giảm [4]. Trong 37 bệnh nhân Zona<br /> nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 4 bệnh nhân<br /> có tăng glucose máu, đều ở lứa tuổi trên 50,<br /> <br /> 89(01/2): 35 - 40<br /> <br /> chiếm 10,8%, nhưng cả 4 bệnh nhân đều ở<br /> mức độ bệnh nặng, mức độ đau nặng, mức độ<br /> tổn thương vừa và nặng. Có thể độ tuổi cao<br /> kết hợp với tăng glucose máu làm miễn dịch<br /> của cơ thể bị suy giảm dẫn đến tăng khả năng<br /> xuất hiện bệnh Zona và khi bị bệnh thì mức<br /> độ bệnh nặng hơn, đau nhiều hơn, diện tích<br /> tổn thương rộng.<br /> Khi có giảm nồng độ protein toàn phần và<br /> albumin trong huyết thanh cũng làm giảm khả<br /> năng miễn dịch của cơ thể, do đó tăng nguy<br /> cơ mắc các bệnh nhiễm trùng và khi mắc<br /> bệnh thì bệnh thường nặng hơn ở những<br /> người có chỉ số albumin bình thường. Kết quả<br /> ở bảng 5 cho thấy trong 10 bệnh nhân Zona<br /> được làm xét nghiệm albumin, có 20% bệnh<br /> nhân có giảm albumin máu, những bệnh nhân<br /> này đều có mức độ bệnh nặng.<br /> Mặc dù kết quả ở bảng 6 cho thấy chưa có sự<br /> tương quan giữa một số yếu tố chuyển hoá<br /> cholesterol, triglycerid, glucose với mức độ<br /> bệnh, mức độ đau, diện tích tổn thương trong<br /> bệnh Zona, nhưng có thể trong nghiên cứu<br /> này do cỡ mẫu còn khiêm tốn và chưa đủ lớn.<br /> Vì vậy theo chúng tôi vấn đề này vẫn nên tiếp<br /> tục cần nghiên cứu thêm.<br /> KẾT LUẬN<br /> Qua nghiên cứu 38 trường hợp bệnh nhân<br /> Zona điều trị nội trú tại khoa Da liễu- Bệnh<br /> viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên từ<br /> 10/ 2010 đến 7/2011 chúng tôi có một số<br /> kết luận sau:<br /> Đặc điểm lâm sàng<br /> Tỷ lệ bệnh nhân Zona có mảng da viêm đỏ là<br /> 100%, mụn nước thành chùm 100% b, bọng<br /> nước 92,1%, vẩy tiết 21,1%.; vị trí tổn<br /> thương: liên sườn 42,1%, đầu- mặt- cổ<br /> 23,7%, thắt lưng, sinh dục-đùi: 15,8%, ngực<br /> cánh tay: 10,5%, tai: 7,9%; toàn thân: đau<br /> 100%, sưng hạch lân cận: 68,4%, sốt: 5,3%,<br /> mệt mỏi: 21,1%.<br /> Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng<br /> bệnh zona với một số rối loạn chuyển hoá<br /> (glucid, lipid, protid)<br /> Bệnh nhân Zona có rối loạn bất thường về chỉ<br /> số cholesterol là 46,6%, triglycerid: 53,4%,<br /> glucose: 10,8%, albumin: 20,0%.<br /> 39<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản