intTypePromotion=3

Khảo sát mức độ biểu hiện năng lực tự học môn hóa học của học sinh trung học phổ thông

Chia sẻ: DanhVi DanhVi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:3

0
15
lượt xem
2
download

Khảo sát mức độ biểu hiện năng lực tự học môn hóa học của học sinh trung học phổ thông

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trung học phổ thông đang là vấn đề đáng quan tâm hiện nay, trong đó có năng lực tự học. Việc khảo sát mức độ biểu hiện năng lực tự học môn Hóa học của học sinh trường trung học phổ thông sẽ giúp cho giáo viên có thể đề xuất những giải pháp khả thi để bồi dưỡng năng lực tự học môn Hóa học, nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát mức độ biểu hiện năng lực tự học môn hóa học của học sinh trung học phổ thông

VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 421 (Kì 1 - 1/2018), tr 36-38<br /> <br /> KHẢO SÁT MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC MÔN HÓA HỌC<br /> CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG<br /> Cao Cự Giác - Trường Đại học Vinh<br /> Nguyễn Thị Phượng Liên - Trường Đại học Sài Gòn<br /> Ngày nhận bài: 25/07/2017; ngày sửa chữa: 31/07/2017; ngày duyệt đăng: 11/08/2017.<br /> Abstract: Renovation of teaching methods towards learner’s competence development, including<br /> self-study ability, has been concerned much in current period today. In this article, authors present<br /> results of a survey of the level of self-study competence in chemistry of high school students. These<br /> results can be seen as the foundation to propose solutions to enhance self-study ability for student<br /> in learning chemistry, thus improve teaching quality at high school.<br /> Keywords: Survey, self-study compentence, chemistry, high school.<br /> 1. Mở đầu<br /> Hiện nay, ngành giáo dục đã và đang có những bước<br /> đổi mới để nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu<br /> cầu của công cuộc phát triển và hội nhập của đất nước<br /> Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát<br /> triển cho học sinh (HS) những năng lực (NL) cốt lõi<br /> sau: - Các NL chung mà tất cả các môn học và hoạt<br /> động giáo dục đều góp phần hình thành, phát triển ở HS<br /> như: tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác; sáng tạo;<br /> - Các NL đặc thù, chủ yếu do một hoặc một vài môn<br /> học/hoạt động giáo dục hình thành, phát triển ở HS như:<br /> ngôn ngữ; tính toán, tìm hiểu tự nhiên và xã hội; công<br /> nghệ; tin học; thẩm mĩ; thể chất.<br /> Bên cạnh mục tiêu chính là hình thành, phát triển các<br /> NL cốt lõi, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể còn<br /> nhằm phát hiện, bồi dưỡng NL chuyên biệt (năng khiếu)<br /> cho HS [1]. Trong đó, năng lực tự học (NLTH) thuộc<br /> nhóm NL chung và theo chúng tôi có thể coi là yếu tố<br /> then chốt, quyết định sự thành bại cho việc hình thành và<br /> phát triển các NL còn lại.<br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> 2.1. Một số vấn đề lí luận<br /> 2.1.1. Tự học (TH)<br /> 2.1.1.1. Khái niệm TH. Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “TH<br /> là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các NL trí tuệ<br /> (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,...) và có khi cả<br /> cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất,<br /> động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như<br /> tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại<br /> khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, say mê khoa học, biến<br /> khó khăn thành thuận lợi,...) để chiếm lĩnh một lĩnh vực<br /> kiến thức nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành<br /> sở hữu của mình” [2; tr 59-60].<br /> Từ quan điểm về TH ở trên, theo chúng tôi: TH là<br /> quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập<br /> <br /> 36<br /> <br /> tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc<br /> sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được<br /> mục đích nhất định.<br /> 2.1.1.2. Vai trò của TH. TH là một giải pháp khoa học<br /> giúp người học giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng<br /> kiến thức lớn với quỹ thời gian hạn chế ở nhà trường. TH<br /> giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người, bởi nó là kết<br /> quả của sự hứng thú, tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn.<br /> Hoạt động TH của HS trung học phổ thông (THPT) còn<br /> có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục,<br /> nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường phổ thông. Đổi<br /> mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa sẽ<br /> phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của<br /> người học trong quá trình lĩnh hội tri thức khoa học. Vì<br /> vậy, TH chính là con đường phát triển phù hợp với quy<br /> luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng<br /> đắn, cần được phát huy ở các trường phổ thông [3].<br /> Hoạt động “TH” lại có ý nghĩa đặc biệt đối với HS<br /> THPT, bởi nếu không có khả năng và phương pháp TH,<br /> tự nghiên cứu thì khi học lên các bậc học cao hơn,..., HS<br /> sẽ khó thích ứng, khó có thể thu được một kết quả học<br /> tập và nghiên cứu tốt. Hơn nữa, nếu không có khả năng<br /> TH, chúng ta sẽ không thực hiện được phương châm<br /> “Học suốt đời” mà Hội đồng quốc tế về giáo dục đã đề<br /> ra vào tháng 4/1996 [2].<br /> 2.1.2. NLTH hóa học<br /> 2.1.2.1. Khái niệm NL có rất nhiều định nghĩa khác nhau<br /> dưới các góc độ Xã hội học, Triết học, Tâm lí học, Giáo<br /> dục học và Kinh tế học.<br /> Theo Từ điển Tiếng Việt, NL là “khả năng, điều<br /> kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt<br /> động nào đó” [4; tr 660-661]. Theo Phạm Minh Hạc:<br /> “NL là một tổ hợp phức tạp những thuộc tính tâm lí của<br /> mỗi người, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất<br /> định, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả”<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 421 (Kì 1 - 1/2018), tr 36-38<br /> <br /> [5; tr 334]. Theo Nguyễn Quang Uẩn: “NL là tổ hợp các<br /> thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu<br /> cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động<br /> đó có kết quả” [6; tr 178].<br /> Như vậy, NL là tổ hợp các thuộc tính tâm lí của cá<br /> nhân, được hình thành và phát triển trong một lĩnh vực<br /> hoạt động cụ thể. Theo chúng tôi, NL được hiểu là khả<br /> năng thực hiện, là phải biết làm (know-how), chứ không<br /> chỉ biết và hiểu (know-what).<br /> 2.1.2.2. NLTH hóa học. Hóa học là môn học thực<br /> nghiệm, song song với quá trình tiếp thu, nghiên cứu cơ<br /> sở lí thuyết, người học còn phải trực tiếp quan sát hoặc<br /> làm các thí nghiệm trực quan nhằm phát hiện, giải thích<br /> hiện tượng, bản chất và tái khẳng định cơ sở khoa học.<br /> NLTH hóa học là một NL chuyên biệt của người học<br /> với môn Hóa học. Có thể hiểu là khả năng nghiên cứu tài<br /> liệu hóa học nhằm tác động vào các yếu tố cơ bản của<br /> hóa học theo các hình thức cơ bản như: - NLTH hóa học<br /> trong giờ lên lớp; - NLTH hóa học ngoài giờ lên lớp.<br /> 2.2. Khảo sát mức độ biểu hiện NLTH môn Hóa học<br /> của HS THPT<br /> 2.2.1. Mục đích điều tra<br /> Tìm hiểu mức độ biểu hiện NLTH môn Hóa học của<br /> HS THPT. Đó là cơ sở để định hướng nghiên cứu và đề<br /> xuất các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS THPT.<br /> 2.2.2. Phương pháp điều tra:<br /> - Gửi trực tiếp cho giáo viên (GV) và HS, thu phiếu<br /> điều tra góp ý.<br /> - Sử dụng công nghệ thông tin: Để thuận lợi trong quá<br /> trình điều tra, xử lí và phân tích dữ liệu, chúng tôi đã sử<br /> dụng công cụ tạo “Biểu mẫu” của Google Drive. Sau khi<br /> thiết kế xong nội dung phiếu điều tra, chúng tôi sẽ gửi<br /> đường link đến GV và HS để xin ý kiến về những nội<br /> dung đã thiết kế, kết quả thu được sẽ xử lí dữ liệu bằng<br /> các hàm có sẵn trong phần mềm Microsoft Excel.<br /> 2.2.3. Tiến trình điều tra<br /> Trong các năm học 2015-2016 và 2016-2017, chúng<br /> tôi tiến hành lấy ý kiến tham khảo của 72 GV giảng dạy<br /> môn Hóa học và 1268 HS ở các trường THPT, bao gồm:<br /> THPT Thống Nhất A (Đồng Nai), THPT Bàu Hàm<br /> (Đồng Nai), THPT Long Khánh (Đồng Nai), THPT Dân<br /> tộc nội trú tỉnh Đồng Nai (Đồng Nai), THPT Tam Phước<br /> (Đồng Nai), THPT Ngô Quyền (Đồng Nai); THPT Trấn<br /> Biên (Đồng Nai), THPT Bình Chánh (TP. Hồ Chí Minh),<br /> THPT Tạ Quang Bửu (TP. Hồ Chí Minh), THPT An Lạc<br /> (TP. Hồ Chí Minh), THPT Sa Đéc (Đồng Tháp), THPT<br /> Phan Bội Châu (Quảng Bình), THPT Đô Lương 1 (Nghệ<br /> An), THPT Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), THPT Anh Sơn 1<br /> (Nghệ An), THPT Thanh Chương 1 (Nghệ An), THPT<br /> <br /> 37<br /> <br /> Chu Văn An (Quảng Ngãi), THPT Hoàng Mai (Nghệ<br /> An). Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi thiết<br /> kế 02 mẫu phiếu điều tra, gồm “Phiếu điều tra HS” và<br /> “Phiếu lấy ý kiến GV” với hệ thống các câu hỏi tự chọn.<br /> 2.2.4. Phân tích kết quả điều tra<br /> 2.2.4.1. Thống kê kết quả điều tra<br /> Câu hỏi<br /> <br /> Câu 1: Các<br /> mức độ của<br /> NLTH môn<br /> Hóa học<br /> của HS ở<br /> trường<br /> THPT<br /> <br /> Câu 2:<br /> Những biểu<br /> hiện của<br /> mức độ<br /> “Thu thập<br /> và chọn lọc<br /> tài liệu”<br /> <br /> Câu 3:<br /> Những biểu<br /> hiện của<br /> mức độ<br /> “Đọc và<br /> hiểu tài<br /> liệu”<br /> Câu 4:<br /> Những biểu<br /> hiện của<br /> mức độ<br /> “Phân tích<br /> các dữ kiện<br /> từ tài liệu”<br /> <br /> Nội dung lựa chọn<br /> Thu thập và chọn lọc tài<br /> liệu<br /> Đọc và hiểu tài liệu<br /> Phân tích các dữ kiện từ<br /> tài liệu<br /> Vận dụng các dữ kiện từ<br /> tài liệu<br /> Mức độ khác<br /> Biết thu thập các tài liệu<br /> liên quan đến kiến thức<br /> hóa học trong sách giáo<br /> khoa, sách bài tập, tài liệu<br /> tham khảo, tạp chí khoa<br /> học,...<br /> Sử dụng công cụ tìm<br /> kiếm tài liệu trực tuyến<br /> trên mạng internet, diễn<br /> đàn,...<br /> Biết trao đổi với GV, bạn<br /> bè,... để hỗ trợ tìm kiếm<br /> tài liệu<br /> Chọn lọc những tài liệu từ<br /> nguồn tin cậy, chính<br /> thống<br /> Biểu hiện khác<br /> Đọc được các nguồn tài<br /> liệu hóa học khác nhau<br /> bằng tiếng Việt<br /> Bước đầu đọc được một<br /> số tài liệu bằng tiếng Anh<br /> Hiểu được nội dung của<br /> các tài liệu<br /> Biểu hiện khác<br /> Tóm tắt được những dữ<br /> kiện cần sử dụng trong tài<br /> liệu vào mục đích học tập,<br /> nghiên cứu<br /> Biết trao đổi dữ liệu thu<br /> thập với thầy cô giáo để<br /> xác nhận tính chính xác<br /> của thông tin<br /> <br /> %<br /> GV<br /> chọn<br /> <br /> % HS<br /> chọn<br /> <br /> 66,7<br /> <br /> 62,5<br /> <br /> 81<br /> <br /> 62,5<br /> <br /> 57,1<br /> <br /> 54,2<br /> <br /> 76,2<br /> <br /> 60,4<br /> <br /> 4,8<br /> <br /> 4,2<br /> <br /> 76,2<br /> <br /> 79,2<br /> <br /> 71,4<br /> <br /> 54,2<br /> <br /> 57,1<br /> <br /> 62,5<br /> <br /> 52,4<br /> <br /> 54,2<br /> <br /> 0<br /> <br /> 4,2<br /> <br /> 71,4<br /> <br /> 52,1<br /> <br /> 28,6<br /> <br /> 14,6<br /> <br /> 66,7<br /> <br /> 75<br /> <br /> 4,8<br /> <br /> 10,4<br /> <br /> 61,9<br /> <br /> 75<br /> <br /> 57,1<br /> <br /> 54,2<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 421 (Kì 1 - 1/2018), tr 36-38<br /> <br /> Câu 5:<br /> Những biểu<br /> hiện của<br /> mức độ<br /> “Vận dụng<br /> các dữ kiện<br /> từ tài liệu”<br /> <br /> Nêu và giải quyết các vấn<br /> đề thông qua dữ liệu thu<br /> được trong quá trình TH<br /> Biểu hiện khác<br /> Tổng hợp được các kiến<br /> thức hóa học trọng tâm<br /> phục vụ cho quá trình học<br /> tập (dưới dạng sơ đồ tư<br /> duy, bảng biểu, biểu đồ,<br /> đồ thị,...)<br /> Giải được các bài tập hóa<br /> học trên cơ sở kiến thức<br /> TH được<br /> Tự đề xuất các vấn đề khó<br /> và tìm cách giải quyết<br /> thông qua nguồn học liệu<br /> TH<br /> Đánh giá được các kết<br /> luận trong tài liệu, đặc<br /> biệt chỉ ra những nội dung<br /> chưa chính xác cần bổ<br /> sung<br /> Tìm hiểu, giải thích, vận<br /> dụng các kiến thức vào<br /> thực tiễn cuộc sống<br /> Biểu hiện khác<br /> <br /> 76,2<br /> <br /> 54,2<br /> <br /> 0<br /> <br /> 10,4<br /> <br /> 71,4<br /> <br /> 54,2<br /> <br /> 81<br /> <br /> 62,5<br /> <br /> 52,4<br /> <br /> 52,1<br /> <br /> hóa học đang quan tâm; - Tóm tắt được những dữ kiện cần<br /> sử dụng trong tài liệu vào mục đích học tập, nghiên cứu;<br /> - Biết trao đổi dữ liệu thu thập với thầy cô giáo để xác nhận<br /> tính chính xác của thông tin; - Nêu và giải quyết các vấn<br /> đề thông qua dữ liệu thu được trong quá trình TH.<br /> Ở mức độ “Vận dụng các dữ kiện từ tài liệu”, đa số<br /> GV và HS đều đồng ý các biểu hiện sau: - Tổng hợp<br /> được kiến thức hóa học trọng tâm, phục vụ quá trình<br /> học tập (dưới dạng sơ đồ tư duy, bảng biểu, biểu đồ, đồ<br /> thị,...); - Giải được các bài tập hóa học dựa trên kiến<br /> thức TH được; - Tự đề xuất các vấn đề khó và tìm cách<br /> giải quyết thông qua nguồn học liệu TH; - Đánh giá<br /> được các kết luận trong tài liệu, chỉ ra những nội dung<br /> chưa chính xác cần bổ sung; - Tìm hiểu, giải thích, vận<br /> dụng các kiến thức vào thực tiễn.<br /> 3. Kết luận<br /> <br /> 52,4<br /> <br /> 52,1<br /> <br /> 52,4<br /> <br /> 54,2<br /> <br /> 0<br /> <br /> 4,2<br /> <br /> 2.2.4.2. Nhận xét kết quả. Với kết quả thu được cho thấy,<br /> đa số GV và HS đều cho rằng NLTH môn Hóa học gồm<br /> 4 mức độ thành phần là: - Thu thập và chọn lọc tài liệu;<br /> - Đọc và hiểu tài liệu; - Phân tích các dữ kiện từ tài liệu;<br /> - Vận dụng các dữ kiện từ tài liệu.<br /> Ở mức độ “Thu thập và chọn lọc tài liệu”, đa số GV<br /> và HS đều thống nhất các biểu hiện sau: - Biết thu thập<br /> các tài liệu liên quan đến kiến thức hóa học trong sách<br /> giáo khoa, sách bài tập, tài liệu tham khảo, tạp chí khoa<br /> học,...; - Sử dụng công cụ tìm kiếm tài liệu trực tuyến trên<br /> mạng internet, diễn đàn,...; - Biết trao đổi với GV, bạn<br /> bè,... để tìm kiếm tài liệu; - Chọn lọc các tài liệu từ nguồn<br /> tin cậy, chính thống.<br /> Ở mức độ “Đọc và hiểu tài liệu”, đa số GV và HS<br /> đều đồng ý các biểu hiện sau: - Đọc được các nguồn tài<br /> liệu hóa học khác nhau bằng tiếng Việt; - Hiểu được nội<br /> dung của các tài liệu.<br /> GV và HS vẫn chưa thống nhất với biểu hiện “Bước<br /> đầu đọc được một số tài liệu bằng tiếng Anh”. Điều này<br /> phản ánh NL sử dụng tiếng Anh học thuật cần phải có<br /> những tác động tích cực.<br /> Ở mức độ “Phân tích các dữ kiện từ tài liệu”, đa số<br /> GV và HS đều đồng ý các biểu hiện sau: - Phân tích dữ<br /> kiện từ các tài liệu để làm sáng tỏ kiến thức hoặc vấn đề<br /> <br /> 38<br /> <br /> Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể<br /> (8/2017), giáo dục ở phổ thông chú trọng việc hình thành<br /> và phát triển cho HS những NL cốt lõi, trong đó có<br /> NLTH. Phát triển NLTH cho HS là một trong những mục<br /> tiêu phát triển NL cho HS ở trường THPT trong giai đoạn<br /> hiện nay. Với những kết quả khảo sát các mức độ biểu<br /> hiện của NLTH môn Hóa học ở trên sẽ giúp GV có thể<br /> đề xuất được giải pháp khả thi trong việc bồi dưỡng<br /> NLTH môn Hóa học cho HS THPT nhằm góp phần nâng<br /> cao chất lượng dạy học.<br /> Tài liệu tham khảo<br /> [1] Bộ GD-ĐT (2017). Chương trình giáo dục phổ<br /> thông tổng thể.<br /> [2] Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) - Nguyễn Kỳ - Vũ<br /> Văn Tảo - Bùi Tường (1998). Quá trình dạy - tự học.<br /> NXB Giáo dục.<br /> [3] Cao Cự Giác (2010). Phương pháp tổ chức cho sinh<br /> viên tự học và tự nghiên cứu đáp ứng theo yêu cầu<br /> đào tạo theo học chế tín chỉ. Kỉ yếu Hội thảo khoa<br /> học “Đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá<br /> trong đào tạo theo học chế tín chỉ”, Trường Đại học<br /> Vinh, tháng 4/2010, tr 41-42.<br /> [4] Viện Ngôn Ngữ (2003). Từ điển Tiếng Việt. NXB<br /> Đà Nẵng.<br /> [5] Phạm Minh Hạc (chủ biên, 1988). Tâm lí học (tập 1).<br /> NXB Giáo dục.<br /> [6] Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên, 2007). Tâm lí học đại<br /> cương. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.<br /> [7] Bộ GD-ĐT (2014). Tài liệu tập huấn dạy học và<br /> kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng<br /> phát triển năng lực học sinh.<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản