intTypePromotion=1

Khảo sát thành phần công thức và thông số điều chế hệ phân tán nano artemisinin bằng phương pháp đồng nhất hóa dưới áp suất cao

Chia sẻ: Hạnh Hoa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
41
lượt xem
1
download

Khảo sát thành phần công thức và thông số điều chế hệ phân tán nano artemisinin bằng phương pháp đồng nhất hóa dưới áp suất cao

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung bài viết với mục tiêu bào chế tiểu phân nano artemisinin đạt kích thước yêu cầu và bền trong thời gian khảo sát. Nghiên cứu tiến hành tiểu phân được bào chế bằng phương pháp tạo nhũ tương với thiết bị ultraTurrax và đồng nhất hóa bằng siêu âm hoặc với áp suất cao (HPH).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát thành phần công thức và thông số điều chế hệ phân tán nano artemisinin bằng phương pháp đồng nhất hóa dưới áp suất cao

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> KHẢO SÁT THÀNH PHẦN CÔNG THỨC<br /> VÀ THÔNG SỐ ĐIỀU CHẾ HỆ PHÂN TÁN NANO ARTEMISININ<br /> BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỒNG NHẤT HÓA DƯỚI ÁP SUẤT CAO<br /> Khưu Mỹ Lệ*, Trương Công Trị*, Nguyễn Minh Cang*, Hoàng Minh Châu*, Nguyễn Minh Đức*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: Bào chế tiểu phân nano artemisinin đạt kích thước yêu cầu và bền trong thời gian khảo sát.<br /> Phương pháp nghiên cứu: Tiểu phân được bào chế bằng phương pháp tạo nhũ tương với thiết bị UltraTurrax và đồng nhất hóa bằng siêu âm hoặc với áp suất cao (HPH). Kích thước và dãy phân bố kích cỡ hạt được<br /> đánh giá bằng phương pháp nhiễu xạ laser và hình ảnh tiểu phân nano được quan sát dưới kính hiển vi điện tử<br /> truyền qua (TEM). Định lượng artemisinin bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo, bước sóng 216 nm.<br /> Kết quả: Xây dựng được công thức và quy trình bào chế tiểu phân nano artemisinin bằng phương pháp tạo<br /> nhũ tương và đồng nhất hóa bằng HPH. Hệ tiểu phân nano điều chế được có kích thước và dãy phân bố kích cỡ<br /> hạt từ 37 nm đến 339 nm, kích thước trung bình của tiểu phân là 99,8 nm, được phân tích bằng thiết bị Horiba<br /> LA-920 và JEM-1400. Định lượng HPLC, lượng hoạt chất trong hệ phân tán chiếm 1,3 % so với tổng lượng<br /> lipid. Hệ tiểu phân bền trong thời gian khảo sát 2 tháng.<br /> Kết luận: Kết quả cho thấy có thể bào chế tiểu phân nanoartemisinin bằng phương pháp tạo nhũ tương với<br /> thiết bị Ultra-Turrax và đồng nhất hóa bằng HPH.<br /> Từ khóa: Artemisinin, tiểu phân nano, HPH<br /> <br /> ABSTRACT<br /> FORMULATION OF ARTEMISININ-LOADED LIPID NANOPARTICLES<br /> <br /> BY HIGH PRESSURE HOMOGENIZATION<br /> Khuu My Le, Truong Cong Tri, Nguyen Minh Cang, Hoang Minh Chau, Nguyen Minh Duc<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - Supplement of No 2 - 2014: 295 - 302<br /> Objectives: The aim of the study was to prepare stable artemisinin lipid nanoparticles.<br /> Methods: Artemisinin lipid nanoparticles were prepared by emulsification with Ultra-Turrax device and<br /> homogenization with ultrasonic or high pressure homogenization (HPH). The particle diameter and size<br /> distribution were measured by means of laser diffraction and transmission electron microscopy (TEM). HPLC<br /> with an ODS column and detection at the wavelength of 216 nm was used to determine the quantity of<br /> artemisinin.<br /> Results: Artemisinin lipid nanoparticles were successfully prepared by emulsification and high pressure<br /> homogenization. The particle size distribution ranged from 37 nm to 339 nm, the average size was 99,8 nm<br /> measured by Horiba LA-920 and JEM-1400. The content of artemisinin in nanodispersions is about 1,3 % of total<br /> lipid. Then anoparticles have been stable for 2 months.<br /> Conclusions: The present results provided evidence that artemisinin-loaded lipid nanoparticles could be<br /> prepared by emulsification and homogenization with Ultra-Turrax and HPH.<br /> ∗<br /> <br /> Khoa Dược, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh<br /> Tác giả liên lạc: GS.TS. Nguyễn Minh Đức<br /> ĐT: 0908988820<br /> <br /> Chuyên Đề Dược Học<br /> <br /> Email: ducng@hcm.vn.vnn<br /> <br /> 295<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014<br /> <br /> Keywords: Artemisinin, lipid nanoparticles, HPH<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNGPHÁP NGHIÊNCỨU<br /> <br /> Theo kết quả thống kê, trên thế giới vẫn còn<br /> hơn một triệu người chết vì sốt rét mỗi năm và<br /> hơn hai tỉ người trong khoảng 100 quốc gia có<br /> nguy cơ mắc bệnh. Đời sống kinh tế khó khăn là<br /> một trong những nguyên nhân khiến bệnh tồn<br /> tại và lây lan. Tại các nước đang phát triển ở<br /> Châu Á và Châu Phi, tỉ lệ tử vong do sốt rét rất<br /> cao. Nguy hiểm hơn là tình trạng đề kháng lan<br /> rộng của ký sinh trùng sốt rét đối với các thuốc<br /> điều trị kinh điển như quinin, cloroquin, ….<br /> <br /> Nguyên vật liệu<br /> <br /> Artemisinin, một sesquiterpen lacton<br /> endoperoxid được tìm thấy trong lá của cây<br /> thanh hao hoa vàng (Artemisia annua L.)(1,2) là<br /> một phát minh rất có ý nghĩa trong điều trị sốt<br /> rét. Artemisinin và dẫn chất đã trở thành hoạt<br /> chất chính trong điều trị bệnh sốt rét do<br /> Plasmodium spp, kể cả chủng kháng cloroquin.<br /> Artemisinin có thời gian cắt sốt và làm sạch ký<br /> sinh trùng trong máu nhanh hơn so với nhiều<br /> hoạt chất cùng nhóm điều trị. Tuy nhiên, đây<br /> là chất rất kém tan nên sinh khả dụng đường<br /> uống thấp, thời gian tác dụng lại ngắn, phải sử<br /> dụng nhiều lần trong ngày nên có nguy cơ bị<br /> đề kháng.<br /> <br /> Artemisinin chuẩn (99 %, kl/kl) và<br /> artemisinin nguyên liệu (Sao Kim Pharma, Việt<br /> Nam), Labrafac® CC (hỗn hợp acid capric và acid<br /> caprylic), Labrafac® PG (propylen glycol<br /> dicaprylocaprat), Compritol®, Precirol® (glycerin<br /> behenat), chất diện hoạt được sản xuất bởi<br /> Gattefosse – Pháp, cung cấp bởi Asia Shine (TP<br /> HCM, Việt Nam) và các dung môi, hóa chất cần<br /> thiết khác đạt tiêu chuẩn nhà sản xuất.<br /> <br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> HPLC artemisinin<br /> Xác định hàm lượng artemisinin bằng<br /> phương pháp HPLC với các điều kiện sắc ký:<br /> Máy HPLC Shimadzu LC - 10AD<br /> Cột: X.Terra LC 18 (250 mm x 4,6 mm, 5 µm)<br /> Pha động: CH3CN - H2O (68 : 32)<br /> Detector: SPD - M10AVP<br /> Bước sóng phát hiện: 216 nm<br /> Nhiệt độ cột: 25 - 30 oC<br /> Tốc độ dòng: 0,62 ml/phút<br /> Thể tích tiêm mẫu: 30 µl<br /> <br /> Hệ tiểu phân nano lipid(6,8,9) có thể làm tăng<br /> tính tan của artemisinin dẫn đến tăng sinh khả<br /> dụng của hoạt chất này. Ngoài ra, khi được chứa<br /> trong các tiểu phân, artemisinin sẽ được bảo vệ<br /> tránh sự phân hủy do tiếp xúc với môi trường<br /> dịch cơ thể. Nhờ vậy, hiệu quả điều trị tăng lên,<br /> hạn chế tình trạng đề kháng thuốc.<br /> <br /> Dung dịch chuẩn<br /> Cân chính xác khoảng 5 mg artemisinin<br /> chuẩn vào bình định mức 1 ml, hòa tan bằng pha<br /> động, siêu âm và bổ sung pha động vừa đủ thể<br /> tích. Lọc qua màng lọc 0,45 µm, dung dịch chuẩn<br /> có nồng độ khoảng 5 mg/ml.<br /> <br /> Nhằm ứng dụng công nghệ nano vào nghiên<br /> cứu sản xuất dược phẩm, chúng tôi tiến hành<br /> khảo sát các tá dược lipid và chất diện hoạt để<br /> thiết lập thành phần công thức cơ bản của tiểu<br /> phân nano artemisinin, bên cạnh đó, lựa chọn<br /> các thông số của phương pháp tạo nhũ tương và<br /> đồng nhất hóa dưới áp suất cao để xây dựng quy<br /> trình bào chế tiểu phân.<br /> <br /> Dung dịch thử<br /> Cân chính xác khoảng 10 g mẫu thử, đun<br /> cách thủy ở 80 oC, hòa tan trong 25 ml methanol.<br /> Siêu âm và lọc, rửa tủa bằng 3 ml MeOH (3 lần),<br /> thu dịch lọc. Cho dịch lọc vào bình lắng, lắc với<br /> 20 ml ether dầu 30 - 60 (2 lần), cô lớp MeOH đến<br /> cắn. Cân chính xác khoảng 5 mg cắn, hòa cắn<br /> bằng pha động trong bình định mức 1 ml, bổ<br /> sung đủ thể tích và định lượng bằng HPLC.<br /> <br /> 296<br /> <br /> Chuyên Đề Dược Học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014<br /> Điều chế tiểu phân nano artemisinin bằng<br /> HPH<br /> Hòa tan chất hoạt động bề mặt vào nước (80<br /> C), khuấy đều pha nước bằng Ultra-Turrax<br /> (IKA, Đức), tốc độ 10.000 vòng/phút, 5 phút. Đun<br /> pha dầu (80 oC). Phối hợp pha dầu vào pha<br /> nước, khuấy đều bằng Ultra-Turrax, tốc độ<br /> 10.000 vòng/phút (10 phút), sau đó tăng lên<br /> 20.000 vòng/phút (5 phút). Tiếp tục siêu âm nhũ<br /> tương 5 phút hoặc đồng nhất hóa dưới áp suất<br /> cao (máy HPH, APV, Đan Mạch). Để nhũ tương<br /> nano nguội dần ở nhiệt độ phòng sẽ thu được hệ<br /> phân tán nano.<br /> o<br /> <br /> Kích thước và phân bố kích cỡ hạt<br /> Kích thước và phân bố kích cỡ được đo bởi<br /> nhiễu xạ tia laser (LA-920 - Horiba, Nhật).<br /> Nguyên tắc của phương pháp là nhiễu xạ và<br /> khuếch tán một chùm ánh sáng dựa theo định<br /> luật xấp xỉ Fraunhofer và lý thuyết Mie. Mẫu<br /> được pha loãng trong môi trường nước ở tỷ lệ<br /> 1/150 và nhiệt độ phân tích là 25 oC. Dựa vào<br /> biểu đồ, xác định kiểu phân bố kích thước, dãy<br /> phân bố kích cỡ, kích thước trung bình của tiểu<br /> phân và giá trị các thông số d50, d90(5,8,11).<br /> TEM<br /> Khảo sát hình thể học của tiểu phân bằng<br /> TEM (JEM 1400 - Jeol, Nhật) để đánh giá tính<br /> chất bề mặt và cấu trúc bên trong tiểu phân(5,8,11).<br /> Pha loãng mẫu bằng nước cất với tỉ lệ phù hợp,<br /> cho mẫu lên lưới đồng. Đặt lưới đồng vào đĩa<br /> petri, dùng máy hút ẩm để làm khô mẫu trong<br /> khoảng 24 giờ. Khảo sát mẫu từ nguồn electron<br /> của đèn tungsten với điện thế 100 kV. Hình ảnh<br /> tiểu phân được phóng đại nhờ các thấu kính từ<br /> và được ghi nhận lại trên màng huỳnh quang,<br /> sau đó camera kết nối với phần mềm điều khiển<br /> của máy tính sẽ nhận tín hiệu và chuyển hình<br /> ảnh về máy tính.<br /> Thế zêta<br /> Thế zêta được xác định khi đo tốc độ di<br /> chuyển của tiểu phân trong vùng điện trường<br /> bằng phép đo gió bởi Doppler laser (Nanosizer<br /> <br /> Chuyên Đề Dược Học<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> ZS90, Malvern), pha loãng mẫu ở tỉ lệ 1/150<br /> trong môi trường NaCl 0,1 N. Cho mẫu vào cốc<br /> đo, tránh sự hình thành bọt khí bên trong cốc đo,<br /> tiến hành đo và phân tích kết quả.<br /> <br /> Định lượng<br /> Xác định hàm lượng ART trong mẫu bằng<br /> HPLC (theo phương pháp nêu trên). Công<br /> thức tính hàm lượng % (kl/kl) ART trong 100 g<br /> công thức như sau:<br /> Sc, St<br /> Cc<br /> HLC<br /> F<br /> m<br /> n<br /> N<br /> <br /> Lần lượt là diện tích đỉnh của dung dịch chuẩn và<br /> dung dịch thử<br /> Nồng độ (mg/ml) dung dịch chuẩn<br /> Độ tinh khiết (%) của chuẩn<br /> Độ pha loãng của mẫu thử<br /> Khối lượng (g) của toàn bộ cắn thu được<br /> Khối lượng (g) của cắn được cân để định lượng<br /> Khối lượng (g) của mẫu thử được cân để chiết<br /> hoạt chất<br /> <br /> Độ ổn định<br /> Khảo sát ở nhiệt độ phòng (30 °C ± 2) và<br /> nhiệt độ mát (4 - 8 °C). Thời điểm đánh giá là 1, 2<br /> tháng sau khi bào chế. Quan sát bằng mắt<br /> thường, hệ tiểu phân không có các hiện tượng<br /> kết bông, lắng cặn, tách lớp trong thời gian khảo<br /> sát. Phân tích dãy phân bố kích cỡ hạt của tiểu<br /> phân nano artemisinin trong thời gian khảo sát<br /> bằng nhiễu xạ laser, thiết bị LA920, Horiba.<br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN<br /> Thành lập công thức<br /> Kết quả khảo sát tính tan(3) của artemisinin<br /> trong một số tá dược và dung môi cho thấy<br /> artemisinin tan một phần trong lipid và tan tốt<br /> trong methanol, ethanol so với nước. Thành<br /> phần công thức bào chế, dựa trên cơ sở của<br /> nghiên cứu trước đây đã công bố(10), được trình<br /> bày trong bảng 1. Mẫu được đồng nhất hóa bằng<br /> siêu âm.<br /> Bảng 1: Thành phần công thức bào chế tiểu phân<br /> nano<br /> Công thức<br /> Hỗn hợp lipid rắn - lỏng<br /> Macrogol glycerid (chất diện hoạt 1)<br /> Phospholipid (chất diện hoạt 2)<br /> Nước cất vđ<br /> <br /> Khối lượng (g)<br /> 10<br /> 1<br /> 0,5<br /> 100<br /> <br /> 297<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014<br /> <br /> Thay đổi tỉ lệ hỗn hợp lipid rắn - lỏng từ (1 :<br /> 9) đến (9 : 1), giữ nguyên thành phần khác. Sơ bộ<br /> đánh giá kích thước hạt bằng kính hiển vi quang<br /> học, tất cả mẫu bào chế có hạt to (lớn hơn 1 µm)<br /> và không đồng đều. Công thức có tỉ lệ hỗn hợp<br /> lipid rắn – lỏng (7 : 3) và tỉ lệ chất diện hoạt như<br /> bảng 1 cho hệ bền sau một tuần khảo sát (CT1).<br /> Đo kích thước hạt bằng nhiễu xạ laser cho thấy<br /> kiểu phân bố nhiều đỉnh, kích thước trung bình<br /> là 1419 nm, khoảng 11 % hạt dưới 500 nm.<br /> Kích thước hạt trung bình quá to so với yêu<br /> cầu, có thể chất nhũ hóa chưa phù hợp. Chất<br /> diện hoạt 1 được thay thế bằng chất diện hoạt 3,<br /> giữ nguyên tỉ lệ chất nhũ hóa trong công thức.<br /> Tiếp tục khảo sát các công thức có tỉ lệ hai chất<br /> diện hoạt thay đổi từ 1 đến 9. Qua kính hiển vi<br /> cơ học xác định được mẫu cho hạt có kích thước<br /> <br /> nhỏ nhất. Lấy mẫu để khảo sát phân bố kích cỡ<br /> hạt bằng nhiễu xạ laser. Kết quả kích thước hạt<br /> trung bình là 1645 nm, hạt phân bố nhiều đỉnh,<br /> hạt dưới 500 nm chiếm khoảng 8 %. Hạt thu<br /> được có kích thước trung bình to và dãy phân bố<br /> cỡ hạt rộng hơn so với các công thức dùng chất<br /> diện hoạt 1 và 2.<br /> <br /> Khảo sát với polysorbat (chất diện hoạt 3)<br /> và chất diện hoạt 4<br /> Khảo sát công thức với cặp chất diện hoạt 3<br /> và 4 hoặc 1 và 4, giữ nguyên tỉ lệ chất diện hoạt<br /> như bảng 1. Hệ phân tán đạt yêu cầu cảm quan,<br /> công thức dùng chất diện hoạt 3 và 4 (CT3) có<br /> kích thước hạt nhỏ nhất với biểu đồ phân bố<br /> kích cỡ như hình 1.<br /> <br /> Hình 1: Biểu đồ phân bố kích cỡ của công thức CT3<br /> Các thông số của dãy phân bố kích cỡ:<br /> Các thông số<br /> Kiểu phân bố<br /> Dãy phân bố<br /> Kích thước hạt trung bình<br /> Hạt dưới 500 nm<br /> Hạt dưới 800 nm<br /> <br /> Kết quả<br /> Nhiều đỉnh<br /> 226 nm – 4472 nm<br /> 439 nm<br /> Khoảng 50 %<br /> Khoảng 75 %<br /> <br /> Các thông số cho thấy CT3 có cải thiện đáng<br /> kể về kích thước hạt trung bình và dãy phân bố<br /> kích cỡ hạt cũng như tỉ lệ hạt có kích thước nhỏ<br /> hơn 500 nm. Kích thước hạt trung bình giảm từ<br /> trên 1000 nm xuống còn 439 nm. Hạt có kích<br /> thước nhỏ chiếm tỉ lệ nhiều hơn các công thức đã<br /> khảo sát trước đó. Điều đó cho thấy các thành<br /> <br /> 298<br /> <br /> phần và tỉ lệ trong công thức đã khá phù hợp.<br /> Tuy nhiên, những kết quả này vẫn cần cải thiện<br /> hơn do kích thước hạt chưa đều, còn phân bố<br /> nhiều đỉnh. Cần thay đổi phương pháp đồng<br /> nhất hóa kích thước hạt.<br /> <br /> Đồng nhất hóa bằng áp suất cao (HPH)<br /> Khảo sát các thông số đồng hóa: Đồng hóa 2<br /> cấp với áp suất và số chu kỳ như bảng 2.<br /> Bảng 2: Áp suất và số chu kỳ đồng hóa<br /> Áp suất<br /> 500 bar<br /> 800 bar<br /> 1000 bar<br /> 1200 bar<br /> <br /> Số chu kỳ<br /> 3, 5, 7, 10, 15, 20<br /> 3, 5, 7, 10, 15, 20<br /> 3, 5, 7, 10,15<br /> 1, 3, 5, 7, 10<br /> <br /> Chuyên Đề Dược Học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014<br /> Kích thước tiểu phân của các mẫu khảo sát ở<br /> 500 bar và 800 bar không đồng đều, hạt to chiếm<br /> tỉ lệ khá cao (16 %). Mẫu đồng hóa ở 1000 bar<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> cho kích thước hạt đồng đều nhất, biểu đồ phân<br /> bố kích cỡ hạt đồng hóa ở 1000 bar và 3 chu kỳ<br /> như hình 2.<br /> <br /> Hình 2: Biểu đồ phân bố kích cỡ hạt CT190 1000b 3c<br /> Các thông số của dãy phân bố kích cỡ như<br /> sau:<br /> Các thông số<br /> Kiểu phân bố<br /> Dãy phân bố<br /> Kích thước hạt trung bình<br /> Hạt dưới 100 nm<br /> Hạt dưới 200 nm<br /> Hạt dưới 400 nm<br /> <br /> Kết quả<br /> Một đỉnh<br /> 37 nm – 339 nm<br /> 104 nm<br /> Khoảng 30 %<br /> Khoảng 92 %<br /> 99,6 %<br /> <br /> Áp suất cao hơn (1200 bar), dãy phân bố có<br /> độ rộng tương tự và kích thước hạt trung bình<br /> khoảng 200 nm. Như vậy, áp suất 1200 bar<br /> không làm cho tiểu phân có kích thước nhỏ hơn<br /> hay đồng đều hơn. Do đó, chọn thông số đồng<br /> nhất hóa là 1000 bar và 3 chu kỳ để đồng nhất<br /> hóa kích thước tiểu phân trong các công thức<br /> chứa artemisinin.<br /> <br /> Nang hóa artemisinin vào tiểu phân<br /> Nang hóa artemisinin ở các hàm lượng khác<br /> nhau (100 mg, 200 mg, 300 mg, 400 mg) vào công<br /> thức. Kết quả khảo sát một số tính chất của các<br /> mẫu bào chế như bảng 3.<br /> Bảng 3: Tính chất của các công thức bào chế<br /> Tính chất<br /> Cảm quan<br /> <br /> CT100 CT200<br /> CT300<br /> CT400<br /> Hệ tiểu phân đồng nhất, không kết bông bề<br /> mặt, không tách lớp, không lắng cặn<br /> <br /> Phân bố kích<br /> cỡ<br /> - Dãy phân bố 39 – 339 39 – 339 39 – 339<br /> (nm)<br /> <br /> Chuyên Đề Dược Học<br /> <br /> 39 – 339<br /> <br /> Tính chất<br /> CT100 CT200<br /> CT300<br /> CT400<br /> - Trung bình 105,8<br /> 97,6<br /> 102,5<br /> 90,6<br /> (nm)<br /> Độ ổn định (sau Hệ tiểu phân vẫn ổn Không tách lớp, không<br /> 1 tháng)<br /> định<br /> lắng cặn, bề mặt có kết<br /> bông (rất ít)<br /> <br /> Khi tăng khối lượng hoạt chất nang hóa<br /> trong hệ phân tán, kích thước và dãy phân bố<br /> kích cỡ hạt dường như không thay đổi (Bảng<br /> 3).Theo dõi độ ổn định, công thức phối hợp 100<br /> mg và 200 mg artemisinin (lần lượt là CT100 và<br /> CT200) có kích thước đạt yêu cầu và bền hơn so<br /> với hai công thức còn lại. Chính vì thế, CT200<br /> được chọn để đánh giá và khảo sát một số tính<br /> chất hóa lý của hệ phân tán nano.<br /> <br /> Đánh giá một số tính chất của tiểu phân<br /> Cảm quan<br /> Hệ tiểu phân đồng nhất, không lắng cặn,<br /> không tách lớp ở nhiệt độ phòng và nhiệt độ mát<br /> và sau khi ly tâm 5000 vòng/phút trong 30 phút.<br /> Kích thước và phân bố kích cỡ<br /> Biểu đồ phân bố kích cỡ của CT200 như hình<br /> 3.<br /> Các thông số<br /> Kiểu phân bố<br /> Dãy phân bố<br /> Kích thước hạt trung bình<br /> Hạt dưới 100 nm<br /> Hạt dưới 200 nm<br /> Hạt dưới 400 nm<br /> <br /> Kết quả<br /> Một đỉnh<br /> 39 nm – 339 nm<br /> 116 nm<br /> Khoảng 16 %<br /> Khoảng 94 %<br /> 99,5 %<br /> <br /> 299<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2