intTypePromotion=3

Khảo sát thực trạng văn hóa sức khỏe người bệnh tại Bệnh viện Trưng Vương năm 2016

Chia sẻ: ViHermes2711 ViHermes2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
1
lượt xem
0
download

Khảo sát thực trạng văn hóa sức khỏe người bệnh tại Bệnh viện Trưng Vương năm 2016

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Xác định mức độ văn hóa sức khỏe của người bệnh tại Bệnh viện Trưng Vương năm 2016 theo Thang đo của Hiệp hội Văn hóa Sức khỏe Châu Á - Thái Bình Dương. Xác định các yếu tố liên quan giữa văn hóa sức khỏe với đặc điểm mẫu nghiên cứu, yếu tố kinh tế - xã hội của người bệnh tại Bệnh viện Trưng Vương.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát thực trạng văn hóa sức khỏe người bệnh tại Bệnh viện Trưng Vương năm 2016

  1. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 5 * 2016 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VĂN HÓA SỨC KHỎE NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN TRƯNG VƯƠNG NĂM 2016 Lê Thanh Chiến*, Huỳnh Thị Thanh Trang*, Nguyễn Mạnh Hùng*, Lý Huy Khanh*,Thân Thị Thu Ba*, Phan Thị Mỹ Linh*, Nguyễn Mạnh Tuân* TÓM TẮT Đặt vấn đề: Văn hóa sức khỏe là khả năng nhận thức và những kỹ năng xã hội của mỗi cá nhân đối với việc tiếp cận, hiểu biết, sử dụng những thông tin hiện có để duy trì và tăng cường tình trạng sức khỏe của bản thân. Việc xác định văn hóa sức khỏe của người bệnh tại bệnh viện là cơ sở cho thực hiện các biện pháp can thiệp thích hợp, nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc và điều trị người bệnh. Mục tiêu: Xác định mức độ văn hóa sức khỏe của người bệnh tại Bệnh viện Trưng Vương năm 2016 theo Thang đo của Hiệp hội Văn hóa Sức khỏe Châu Á - Thái Bình Dương. Xác định các yếu tố liên quan giữa văn hóa sức khỏe với đặc điểm mẫu nghiên cứu, yếu tố kinh tế - xã hội của người bệnh tại Bệnh viện Trưng Vương. Đối tượng: Người bệnh đến khám chữa bệnh nội trú và ngoại trú tại Bệnh viện Trưng Vương, năm 2016. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả: Điểm trung bình văn hóa sức khỏe của mẫu nghiên cứu là 25,32 ± 6,73, số trung vị là 25,53 [19,86 - 31,21]. Tỷ lệ có văn hóa sức khỏe là 13,2%. Có mối liên quan giữa có văn hóa sức khỏe và nghề nghiệp, thu nhận thông tin từ truyền hình, Internet và thu nhập. Kết luận: Việc xác định văn hóa sức khỏe của người bệnh tại bệnh viện là cơ sở cho thực hiện các biện pháp can thiệp thích hợp, đặc biệt trên truyền thông, trên từng nhóm đối tượng, nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc và điều trị người bệnh. Từ đó, giúp nâng cao chất lượng bệnh viện và sự hài lòng của người bệnh đối với bệnh viện. Từ khóa: Văn hóa sức khỏe. ABSTRACT SURVEYING PATIENT’S HEALTH LITERACY AT TRUNG VUONG HOSPITAL 2016 Le Thanh Chien, Huynh Thi Thanh Trang, Nguyen Manh Hung, Ly Huy Khanh, Than Thi Thu Ba, Phan Thi My Linh, Nguyen Manh Tuan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 20 - No 5 - 2016: 10 - 17 Background: Health literacy is the cognitive and social skills which determine the motivation and ability of inviduals to gain access understand and use information in ways which promote and maintain good health. The determination of patient’s health literacy in the hospital is the basis for the appropriate interventions in order to enhance the effectiveness of patient’s care and treatment. Objectives: To estimate the level of patient’s health literacy in Trung Vuong hospital in 2016 using The Health Literacy Survey- Asia- Questionaire. To estimate the relation between health literacy and the patient’s characteristics, the factors about social-economic of the patient in Trung Vuong hospital. Method: Cross-sectional study. Inpatients and outpatients consulted at Trung Vuong hospital in 2016. Results: The average health literacy score of the patient was 25.32 (SD 6.73), the median was 25.53 [19.86- 31.21]. In the total sample, only 13.2% participants had adequate health literacy. Adequate health literacy was associated with occupation, getting information from television, internet and the income. * Bệnh viện Trưng Vương Tác giả liên lạc: BS.CKII Huỳnh Thị Thanh Trang ĐT: 0918192469 Email: thanhtrangbvtv@yahoo.com 10
  2. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 5 * 2016 Nghiên cứu Y học Conclusion: The determination of patient’s health literacy in the hospital is the basis for the appropriate interventions, especially through communication channel, in specific patients in order to improve the effectiveness of patient’s care and treatment. Finally, we improve the patient safety, satisfaction, and quality of hospital care. Key words: Health literacy. ĐẶT VẤN ĐỀ các can thiệp thích hợp sẽ giúp nâng cao văn hóa sức khỏe của người bệnh và người dân Văn hóa sức khỏe (năng lực sức khỏe hay trong cộng đồng. hiểu biết về sức khỏe) là một vấn đề về y tế công Ngày nay với sự bùng nổ các phương tiện cộng đáng quan tâm trong thời đại bùng nổ truyền thông và sự đa dạng của các kênh thông tin. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế thông tin sức khoẻ có thể dẫn tới ảnh hưởng giới (WHO), văn hóa sức khỏe là khả năng nhận không tốt và làm nhiễu năng lực của người thức và những kỹ năng xã hội của mỗi cá nhân dân về y tế và sức khoẻ. Đối với người bệnh, đối với việc tiếp cận, hiểu biết, sử dụng những việc người bệnh có văn hóa sức khỏe hạn chế thông tin hiện có để duy trì và tăng cường tình sẽ gây ra nhiều hệ quả sức khỏe xấu nghiêm trạng sức khỏe của bản thân(6). Ở các quốc gia đã trọng. Sự không hiểu thông tin giữa bác sĩ, và đang phát triển, văn hóa sức khỏe được hỗ điều dưỡng và người bệnh cũng thường trợ thông qua các chính sách y tế và các chính xuyên xảy ra nếu người bệnh có văn hóa sức sách xã hội để tăng cường năng lực cá nhân khỏe hạn chế. Việc xác định văn hóa sức khỏe trong việc tự chăm sóc sức khỏe bản thân. Việc của người bệnh giúp cho nhân viên y tế hiểu nâng cao văn hóa sức khỏe giúp gia tăng hiểu rõ hơn người bệnh, biết rõ hơn về những hạn biết của người dân về các vấn đề sức khỏe họ chế của người bệnh từ đó có cách tiếp cận và đang gặp phải, đồng thời gia tăng khả năng những can thiệp thích hợp đối với họ. Từ đó, tham gia tự quản lý sức khỏe của họ, từ đó giúp giúp nâng cao chất lượng bệnh viện và sự hài cải thiện sức khỏe, ngăn ngừa dịch bệnh, nâng lòng của người bệnh đối với bệnh viện. cao sức khỏe cộng đồng(16). Văn hóa sức khỏe thấp có liên quan đến tỷ lệ ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU tử vong cao(2,9,13), sử dụng các dịch vụ y tế thấp, Thiết kế nghiên cứu: tuân thủ điều trị thấp(1). Bên cạnh đó, điều này là Nghiên cứu mô tả cắt ngang một yếu tố nguy cơ tiềm tàng đối với sức khỏe và có liên quan tới các hệ quả sức khỏe xấu(3,4). Đối tượng nghiên cứu Văn hóa sức khỏe thấp còn liên quan đến việc Đối tượng nghiên cứu làm gia tăng chi phí điều trị. Việc cải thiện và Người bệnh đến khám chữa bệnh tại Bệnh nâng cao văn hóa sức khỏe có thể làm giảm từ viện Trưng Vương. 106 tỷ đến 238 tỷ Mỹ kim (USD) hằng năm ở Tiêu chí chọn mẫu Hoa Kỳ, chiếm khoảng 7% đến 17% chi phí Người bệnh từ 18 tuổi trở lên đến khám chăm sóc sức khỏe cá nhân(17). và điều trị nội trú và ngoại trú tại Bệnh viện Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng Trưng Vương trong khoảng thời gian từ văn hóa sức khỏe bị ảnh hưởng bởi tuổi, trình tháng 01/2016-6/2016. độ học vấn, mức thu nhập cũng như nhận thức Người bệnh đồng ý trả lời bộ câu hỏi của người dân về tình trạng xã hội(5,12,13,16). Mặt nghiên cứu. khác, các chương trình và hoạt động về sức khỏe trong cộng đồng, nơi làm việc được cho là Tiêu chí loại trừ có cải thiện văn hóa sức khỏe và các yếu tố liên Người bệnh trạng thái tâm thần không ổn quan đến sức khỏe(12). Điều đó cho thấy rằng, định. 11
  3. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 5 * 2016 Người bệnh không đủ năng lực trả lời câu 1: giá trị thấp nhất của thang điểm 4 (để có giá trị nhỏ hỏi. nhất là 0 ở thang điểm 50). Người bệnh nặng, đang điều trị tại khoa 3: vùng giá trị của số trung bình của chỉ số. Cấp cứu, Hồi sức tích cực chống độc, Phẫu thuật 50: giá trị lớn nhất của thang đo cần chuyển đổi. gây mê hồi sức, phòng điểm các khoa. Sau khi được chuyển đổi sang thang điểm Trả lời không đầy đủ bảng câu hỏi. 50, Văn hóa sức khỏe được chia ra thành 4 mức độ như sau: Thang đo Văn hóa sức khỏe Châu Á Thiếu văn hóa sức khỏe: 0-25 điểm. (Health Literacy Survey Asia Questinaire HLS-Asia-Q) Gặp một vài vấn đề về văn hóa sức khỏe: >25-33 điểm. Bộ câu hỏi sử dụng trong nghiên cứu HLS-Asia là bộ câu hỏi được chuyển ngữ và Đủ văn hóa sức khỏe: >33-42 điểm. phát triển bởi Hiệp hội Văn hóa Sức khỏe Văn hóa sức khỏe cao: >42-50 điểm. Châu Á - Thái Bình Dương từ bộ câu hỏi đánh Để dễ xác định và so sánh, nhóm "thiếu văn giá văn hóa sức khỏe sử dụng ở khối dân số hóa sức khỏe” và “gặp một vài vấn đề về văn Châu Âu (HLS-EU-Q). Bộ câu hỏi được xây hóa sức khỏe” được nhóm lại thành một nhóm dựng dựa trên định nghĩa và mô hình khái chung là nhóm có “văn hóa sức khỏe hạn chế”. niệm về văn hóa sức khỏe theo Sorensen và Nhóm “đủ văn hóa sức khỏe” và “văn hóa sức cộng sự năm 2012(14). khỏe cao” được nhóm lại thành một nhóm Cấu trúc bộ câu hỏi HLS-Asia-Q gồm 47 câu chung là nhóm “có văn hóa sức khỏe”. hỏi đánh giá 4 năng lực trên 3 lĩnh vực, số câu Phương pháp xử lý dữ liệu hỏi trong từng lĩnh vực và theo từng năng lực Nhập dữ liệu được trình bày ở bảng sau: Sử dụng phần mềm Epi Data 3.1. Thang đo Likert gồm 4 lựa chọn được dùng để trả lời các câu hỏi đánh giá về văn Xử lý dữ liệu hóa sức khỏe bao gồm: 1= Rất khó, 2= Khó, 3= Phần mềm Stata 13. Dễ, 4= Rất dễ. KẾT QUẢ Chỉ số chung về văn hóa sức khỏe được Nghiên cứu thực hiện 530 người bệnh điều tính toán dựa trên điểm trung bình của 47 câu trị ngoại trú và nội trú tại Bệnh viện Trưng hỏi hay 47 chỉ số về văn hóa sức khỏe. Để Vương trong thời gian từ tháng 01/2016-06/2016. thuận tiện cho việc so sánh và tính toán, các chỉ số được chuẩn hóa theo số điểm từ 0 đến Đặc tính mẫu nghiên cứu 50 điểm, với 0 là có văn hóa sức khỏe rất thấp Tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới với 63,8% và và 50 là cao nhất. Cách chuyển đổi thực hiện 36,2%. Có 55,3% người bệnh đến khám từ theo công thức sau(10). TPHCM, phần còn lại đến từ các tỉnh lân cận. 50 Nhóm tuổi từ 45 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ 63,5% Chỉ số = (“Điểm trung bình” -1) mẫu nghiên cứu. Trình độ học vấn chủ yếu là từ 3 cấp 3 trở xuống với 74,2%. Có tới 47,8% mẫu Trong đó: nghiên cứu có nghề nghiệp là làm nghề tự do, Chỉ số: chỉ số cụ thể cần chuyển đổi từ thang điểm 4 5,5% làm trong lĩnh vực giáo dục và 2,3% làm sang thang điểm 50. trong ngành y tế. Điểm trung bình: điểm trung bình của chỉ số ở thang điểm 4. 12
  4. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 5 * 2016 Nghiên cứu Y học Văn hóa sức khỏe Bảng 1. Điểm trung bình văn hóa sức khỏe Trung bình ± ĐLC Trung vị [Khoảng tứ phân vị] Tiếp cận sức khỏe 26,21 ± 6,63 26,47 [21,57- 31,37] Phòng bệnh 24,81 ± 7,78 25,00 [17,59- 31,48] Nâng cao sức khỏe 25,19 ± 7,58 25,00 [18,06- 33,33] Văn hóa sức khỏe 25,32 ± 6,73 25,53 [19,86- 31,21] Bảng 2. Mức độ văn hóa sức khỏe Văn hóa sức khỏe Tiếp cận sức khỏe Phòng bệnh Nâng cao sức khỏe Mức độ n (%) n (%) n (%) n (%) Thiếu văn hóa sức khỏe 255 (48,1) 212 (40,0) 285 (53,8) 270 (50,9) Gặp một vài vấn đề về văn hóa sức khỏe 205 (38,7) 221 (41,7) 132 (24,9) 124 (23,4) Đủ văn hóa sức khỏe 67 (12,6) 90 (17,0) 107 (20,2) 131 (24,7) Văn hóa sức khỏe cao 3 (0,6) 7 (1,3) 6 (1,1) 5 (1,0) Có văn hóa sức khỏe 70 (13,2) 97(18,3) 113 (21,3) 136 (25,7) Văn hóa sức khỏe và các yếu tố liên quan Bảng 3. Văn hóa sức khỏe và đặc điểm nhân khẩu học Văn hóa sức khỏe PR Đặc điểm nhân khẩu học p Có (n= 70) n (%) Không (n= 460) n (%) KTC 95% Nam 30 (15,6) 162 (84,4) 0,215 0,76 (0,49- 1,18) Giới tính Nữ 40 (11,8) 298 (88,2) 17-24 6 (13,6) 38 (86,4) 1 25-34 15 (20,3) 59 (79,7) 0,372 1,49 (0,62- 3,55) 35-44 14 (18,7) 61 (81,3) 0,485 1,37 (0,57- 3,31) Nhóm tuổi 45-54 15 (13,5) 96 (86,5) 0,984 0,99 (0,41- 2,39) 55-64 14 (11,4) 109 (88,6) 0,692 0,83 (0,34- 2,04) 65+ 6 (5,8) 97 (94,2) 0,121 0,43 (0,15- 1,25) Tiểu học 3 (3,3) 87 (96,7) 1 Trung học cơ sở 12 (8,8) 124 (91,2) 0,123 2,65 (0,77- 9,13) Trung học phổ thông 23 (13,8) 144 (86,2) 0,018 4,13 (1,27- 13,40) Trình độ học vấn Đại học, cao đẳng 25 (25,5) 73 (74,5) 0,001 7,65 (2,39- 24,51) Thạc sĩ 5 (62,5) 3 (37,5)
  5. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 5 * 2016 Bảng 4. Văn hóa sức khỏe mối liên quan với nguồn thông tin truyền thông Văn hóa sức khỏe PR Đặc điểm mẫu nghiên cứu p Có (n=70) n (%) Không (n=460) n (%) KTC 95% Thường xuyên 20 (26,7) 55 (73,3) 1 Xem chương trình Thỉnh thoảng 37 (16,6) 186 (83,4) 0,051 0,62 (0,39- 1,00) truyền hình y học Hiếm khi 11 (7,9) 128 (92,1)
  6. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 5 * 2016 Nghiên cứu Y học Bảng 7. Mô hình hồi quy đa biến Văn hóa sức khỏe PR hiệu chỉnh (KTC 95%) p Kinh doanh, Tư vấn, Tài chính, Quản lý 2,19 (1,14- 4,22) 0,018 Giáo dục 3,07 (1,41- 6,68) 0,005 Hành chính công 4,28 (1,82- 10,04) 0,001 Nghề nghiệp Y tế 3,69 (1,47- 9,29) 0,006 Công nghệ, Kỹ thuật 1,09 (0,53- 2,23) 0,813 Nông nghiệp 0,72 (0,12- 4,34) 0,719 Khác 1 Thường xuyên 1 Mức độ xem chương trình Thỉnh thoảng 0,76 (0,43- 1,35) 0,348 truyền hình liên quan y học Hiếm khi 0,59 (0,29- 1,22) 0,156 Chưa bao giờ 0,18 (0,04- 0,82) 0,026 Thường xuyên 1 Mức độ tra cứu thông tin Thỉnh thoảng 0,43 (0,24- 0,76) 0,004 y học thông qua Internet Hiếm khi 0,32 (0,13- 0,79) 0,014 Chưa bao giờ 0,32 (0,15- 0,67) 0,002 Dưới hoặc bằng 3 triệu 1 Từ 3 đến 7 triệu 1,44 (1,08- 1,93) 0,013 Thu nhập của đối tượng Từ 7 đến 21 triệu 2,09 (1,17- 3,73) Từ 21 triệu trở lên 3,01 (1,26- 7,22) BÀN LUẬN tiến hành trên người bệnh đến khám tại bệnh viện. Cần có nghiên cứu lớn hơn tại thành phố Văn hóa sức khỏe Hồ Chí Minh trên đối tượng người bệnh và cả Theo Hiệp hội Văn hóa Sức khỏe Châu Á - cộng đồng. Thái Bình Dương (lấy từ bộ câu hỏi đánh giá Ngoài ra việc tự đánh giá năng lực sức khỏe văn hóa sức khỏe sử dụng ở khối dân số Châu còn phụ thuộc vào sự tự tin của đối tượng được Âu (HLS-EU-Q), chúng tôi tính điểm trung phỏng vấn. Do đó, cần thực hiện nghiên cứu bình văn hóa sức khỏe của mẫu nghiên cứu là quy mô lớn hơn, rộng hơn tại thành phố Hồ Chí 25,32 ± 6,73, số trung vị là 25,53 [19,86- 31,21]. Minh trên đối tượng người bệnh và cộng đồng, Điểm trung bình trong nghiên cứu của chúng cũng như đánh giá thêm về thái độ, hành vi. tôi thấp hơn nghiên cứu của Shoou-Yih Lee tiến hành tại Đài Loan năm 2010 có điểm Văn hóa sức khỏe và đặc tính mẫu trung bình là 39,2 ± 14,8(9). nghiên cứu Tỷ lệ có văn hóa sức khỏe của nghiên cứu Nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt có chúng tôi là 13,2%. So sánh với nghiên cứu ý nghĩa thống kê giữa văn hóa sức khỏe với giới Shoou-Yih Lee có tỷ lệ văn hóa sức khỏe là tính, nhóm tuổi. Theo nghiên cứu của Kim Su 69,7%(9), của tác giả Sunil Kripalani tại Singapore Huyn năm 2009, kết quả cho thấy rằng không có năm 2010 là 56%(8), của Phạm Minh Khuê tại Hải sự khác biệt về văn hóa sức khỏe và giới tính, Phòng năm 2014 là 37,3% với số mẫu là 1000 kết quả tương tự trên nghiên cứu của Phạm người dân(11). Điểm trung bình và tỷ lệ có văn Minh Khuê và cộng sự năm 2010(7,11). Cũng hóa sức khỏe của nghiên cứu chúng tôi thấp trong nghiên cứu của Kim Su Hyun năm 2009, hơn có thể là do nghiên cứu của tác giả Shoou- nghiên cứu tìm thấy không có mối liên quan về Yih Lee và nghiên cứu của Phạm Minh Khuê tỷ lệ văn hóa sức khỏe và nơi sinh sống(7). Kết tiến hành trên đối tượng là cộng đồng và số quả ngược lại với nghiên cứu của Phạm Minh mẫu lớn, trong khi mẫu nghiên cứu chúng tôi Khuê, khi kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng có sự khác biệt về văn hóa sức khỏe theo nơi sinh 15
  7. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 5 * 2016 là thành thị, nông thôn và vùng đảo(11). Trong truyền hình về y học có tỷ lệ có văn hóa sức nghiên cứu của chúng tôi, việc không có ý nghĩa khỏe bằng 0,08 lần (KTC 95%: 0,02- 0,33) so với thống kê về tỷ lệ văn hóa sức khỏe theo nơi sinh những người thường xuyên xem chương trình do chủ yếu mẫu nghiên cứu đến từ các tỉnh truyền hình về y học (p= 0,001). Tỷ lệ có văn hóa ngoài thành phố Hồ Chí Minh, và cùng đều là sức khỏe ở những người thường xuyên tra cứu dân số thành thị. Bên cạnh đó, nền giáo dục cơ thông tin y học thông qua Internet là 42,4%, bản và khả năng tiếp cận đến thông tin y học ở chưa bao giờ là 4,4%. Tức là, những người chưa nam giới và nữ giới là như nhau, việc này giải bao giờ tra cứu thông tin về y học thông qua thích cho việc không có sự khác biệt về văn hóa Internet có tỷ lệ có văn hóa sức khỏe bằng 0,10 sức khỏe theo giới tính. lần (KTC 95%: 0,05- 0,20) so với những người Nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt về tỷ lệ thường xuyên tra cứu thông tin về y học thông văn hóa sức khỏe với trình độ học vấn và nghề qua Internet (p< 0,001). nghiệp. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về Số lượng kênh truyền thông sử dụng để tiếp tỷ lệ văn hóa sức khỏe giữa trình độ học vấn cận thông tin y tế cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ “trung học phổ thông”, “đại học, cao đẳng” và văn hóa sức khỏe. Nghiên cứu chỉ ra rằng “thạc sĩ” so với trình độ học vấn “tiểu học”. những người tiếp cận với thông tin y tế từ 4 Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên kênh truyền thông trở lên có tỷ lệ có văn hóa quan giữa văn hóa sức khỏe và thời gian đi học, sức khỏe bằng 3,17 lần (KTC 95%: 1,65- 6,08) so tức là trình độ học vấn càng cao tỷ lệ có văn hóa với những người chỉ tiếp cận với thông tin y tế sức khỏe càng lớn(7,15). bằng 1 kênh truyền thông (p= 0,001). Nghiên cứu tìm thấy có sự khác biệt về tỷ lệ Văn hóa sức khỏe và tần suất khám định có văn hóa sức khỏe ở những người làm trong kỳ lĩnh vực giáo dục và y tế so với những người Nghiên cứu ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa làm nghề tự do, nông nghiệp và những người thống kê về tỷ lệ có văn hóa sức khỏe theo tần đã nghỉ hưu. Kết quả trên tương tự với nghiên suất khám bệnh. Những người có khám sức cứu của Xinying Sun và cộng sự tiến hành năm khỏe định kỳ có tỷ lệ văn hóa sức khỏe cao hơn 2013 trên cộng đồng dân cư 3 thành phố lớn ở so với những người không đi khám sức khỏe Trung Quốc cho thấy ở những người làm trong định kỳ. Ở những người có tần suất khám sức lĩnh vực y tế và giáo dục có điểm số văn hóa sức khỏe định kỳ trên 2 lần/năm có tỷ lệ có văn hóa khỏe trung bình cao hơn so với những ngành sức khỏe bằng 2,17 lần (KTC 95%: 1,13- 4,18) so nghề khác. Sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với những người không bao giờ đi khám định với p< 0,001(15). kỳ với p= 0,02. Việc đối tượng đi khám sức khỏe Văn hóa sức khỏe và mối liên quan với định kỳ giúp cho đối tượng dễ dàng cập nhật nguồn thông tin truyền thông những kiến thức mới nhất về tình hình diễn tiến Nguồn thông tin về văn hóa sức khỏe được bệnh của đối tượng, dễ dàng kiểm soát các nguy phổ biến rộng rãi thông qua nhiều phương tiện cơ của mình để có thể có sức khỏe tốt hơn. Bên truyền thông như truyền hình, sách báo, tạp chí, cạnh đó, việc thường xuyên tiếp xúc với nhân Internet,… giúp cho đối tượng dễ dàng tiếp cận viên y tế, nguồn thông tin về sức khỏe là đáng và có được những thông tin mong muốn. Bên tin cậy, sẽ giúp cho đối tượng có được những cạnh đó, mức độ tìm hiểu thông tin thông qua thông tin đầy đủ và chính xác nhất về bệnh và các kênh truyền thông cũng là một trong những những bệnh hiện đang tiến triển trên xã hội hơn yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ văn hóa sức khỏe. so với những kênh truyền thông khác. Những người chưa bao giờ xem chương trình 16
  8. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 5 * 2016 Nghiên cứu Y học Văn hóa sức khỏe và đặc điểm kinh tế - TÀI LIỆU THAM KHẢO xã hội 1. Berkman ND, Sheridan SL, Donahue KE, Halpern DJ, Crotty K (2011). Low Health Literacy and Health Outcomes: An Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có sự Updated Systematic Review. Ann Intern Med, 155: pp. 97-107. khác biệt về tỷ lệ có văn hóa sức khỏe theo 2. Bostock S, Steptoe A (2012). Association between low functional health literacy and mortality in older adults: thu nhập của đối tượng theo khuynh hướng. longitudinal cohort study. BMJ, 344: pp. e1602. Thu nhập càng cao thì tỷ lệ có văn hóa sức 3. Davis TC, Wolf MS, Bass PF (2006). Low literacy impairs khỏe càng cao (p< 0,001), kết quả tương tự với comprehension of prescription drug warning labels. J Gen Intern Med, 21(8): pp. 847-851. nghiên cứu của Kim Su Hyun (2010) và 4. Davis TC, Wolf MS, Bass PF, et al (2006). Literacy and Xinying Sun (2013)(7,15). Ở những người có thu misunderstanding prescription drug labels. Ann Intern Med, nhập từ 21 triệu trở lên, có tỷ lệ có văn hóa 145: pp. 887-894. 5. Heide van der I, Rademakers J, Schipper M, Droomers M, sức khỏe bằng 8,86 lần (KTC 95%: 4,70- 16,71) Sørensen K, Uiters E (2013). Health literacy of Dutch adults: a so với những người có thu nhập dưới hoặc cross sectional survey. BMC Public Health, 13: pp. 179. 6. Kanj M, Mitic W (2009). Health Literacy and Health bằng 3 triệu, p< 0,001. Việc đối tượng có thu Promotion, Definitions, Concepts and Examples in the Eastern nhập cao cũng giải thích một phần nào đó có Mediterranean Region, Individual Empowerment Conference thể làm tăng khả năng tiếp cận với các kênh Working Document. The 7th Global Conference on Health Promotion thông tin truyền thông, gián tiếp làm nâng 7. Kim SH (2009). Health literacy and functional health status in cao vấn đề về văn hóa sức khỏe. korean older adults. Journal Of Clinical Nursing, 18(16): pp. 2337—2343 Ngoài ra, những người đã được đào tạo 8. Kripalani S, Jacobson TA, Mugalla IC, et al. (2010). Health hoặc làm việc trong lĩnh vực sức khỏe có tỷ lệ có literacy and the quality of physician-patient communication văn hóa sức khỏe bằng 3,86 lần (KTC 95%: 2,44- during hospitalization. J Hosp Med., 5(5): pp. 269-75 9. Lee S-YD, Tsai T-I, Tsai Y-W, Kuo K (2010). Health literacy, 6,09) so với những người không làm trong lĩnh health status, and healthcare utilization of Taiwanese adults: vực chăm sóc sức khỏe, p< 0,001. Điều này hoàn results from a national survey. BMC Public Health, 10: pp. 614. 10. Pelikan JM, Rothlin F, Ganahl K (2012). Comparative Report toàn phù hợp với kết quả trước đó là những on Health Literacy in Eight EU Member States. người làm trong lĩnh vực y tế có tỷ lệ văn hóa 11. Pham MK, Hoang TG, Pham VT, et al (2014). Health Literacy sức khỏe cao hơn so với những người không Survey in Haiphong City, Vietnam. 12. Rooman I, Gordon-El-Bihbety D (2008). A vision for a Health làm trong lĩnh vực y tế. Literacy Canada: Report of the Expert Panel on Health Sau khi kiểm soát các yếu tố trong mô hình Literacy. Ottawa, Canada, Canadian Public Health Association. 13. Rudd RE (2007). Health literacy skills of US adults. Am J Health hồi quy đa biến, văn hóa sức khỏe bị ảnh hưởng Behav, 31: pp. S8-S18. bởi nghề nghiệp, mức độ tiếp cận với các nguồn 14. Sørensen K (2012). Health literacy and public health: A thông tin y tế và thu nhập. systematic review and integration of definitions and models. BMC PublicHealth,12(80). KẾT LUẬN 15. Sun X, Chen J, Shi Y, et al. (2013). Measuring health literacy regarding infectious respiratory diseases: a new skills-based Tỷ lệ bệnh nhân có văn hóa sức khỏe là instrument. Plos One, 8(5): pp. 64153 13,2%. Điểm trung bình văn hóa sức khỏe: 16. United Nations Economic and Social Council (2010). Health literacy and the Millennium Development Goals: United 25,32 ± 6,73 điểm. Nations Economic and Social Council (ECOSOC) regional meeting background paper. J Health Commun, 15(2): pp.211– Văn hóa sức khỏe có liên quan đến nghề 223. nghiệp, mức độ tiếp cận với các nguồn thông tin 17. Vernon JA, Trujillo A, Rosenbaum S, Debuono B (2007). Low truyền thông, số lượng kênh truyền thông và health literacy: Implications for National Health Policy. thu nhập của đối tượng. Sau khi kiểm soát các yếu tố bằng mô hình hồi quy đa biến, văn hóa Ngày nhận bài báo: 08/8/2016 sức khỏe bị ảnh hưởng bởi nghề nghiệp, mức độ Ngày phản biện nhận xét bài báo: 12/8/2016 tiếp cận với các nguồn thông tin truyền thông Ngày bài báo được đăng: 10/10/2016 và thu nhập. 17

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản