intTypePromotion=1
ADSENSE

Khảo sát tình hình mang vi khuẩn gây thương hàn ở người khoẻ mạnh ở phường Phú Cát, thành phố Huế

Chia sẻ: Kinh Kha | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:4

34
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bệnh thương hàn là bệnh nhiễm trùng xảy ra thành dịch tản phát có tính chất địa phương. Bệnh truyền qua đường thức ăn, nước uống bị nhiễm vi khuẩn từ phân. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung nghiên cứu "Khảo sát tình hình mang vi khuẩn gây thương hàn ở người khoẻ mạnh ở phường Phú Cát, thành phố Huế".

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát tình hình mang vi khuẩn gây thương hàn ở người khoẻ mạnh ở phường Phú Cát, thành phố Huế

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 15, 2003<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> KHẢO SÁT TÌNH HÌNH MANG VI KHUẨN GÂY THƯƠNG HÀN <br /> Ở NGƯỜI KHOẺ MẠNH Ở PHƯỜNG PHÚ CÁT, THÀNH PHỐ HUẾ<br />  Lê Văn An, Trần Đình Bình<br /> Ngô Viết Quỳnh Trâm<br /> Trường Đại học Y khoa, Đại học  <br /> Huế<br /> <br /> <br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Bệnh thương hàn là bệnh nhiễm trùng xảy ra thành dịch tản phát có tính chất  <br /> địa phương. Bệnh truyền qua đường thức ăn, nước uống bị nhiễm vi khuẩn từ phân.<br /> Ởíí Thừa Thiên Huế, trong vụ  dịch thương hàn năm 1996 các phường xã  ở <br /> vùng hạ  lưu sông Hương và các vùng ven các con sông chảy quanh thành phố  bị <br /> nhiều nhất, như số trường hợp thương hàn được xác định bằng cấy máu dương tính  <br /> ở Phú Hiệp là 81, ở Phú Cát 72, Vĩ Dạ 65 [3]. Nghiên cứu về tình hình nhiễm các ký  <br /> sinh trùng đường tiêu hóa và amibe ruột ở vùng Phú Cát cũng cho thấy có tỷ lệ nhiễm <br /> khá cao ở khu vực dọc sông Hương gần cầu Gia Hội [7]. Đây là vùng có độ tập trung <br /> dân cao, nhiều hộ sống sát bờ sông làm ngư nghiệp, có kinh tế thấp. <br /> Qua tình hình trên chúng tôi nghĩ rằng liệu có thể  những cá nhân mang vi <br /> khuẩn trong vùng này sẽ là nguồn thải vi khuẩn và nguồn lây nhiễm mạnh cho môi  <br /> trường và người xung quanh. Trả lời thắc mắc trên là mục tiêu của chúng tôi khi tiến  <br /> hành khảo sát  tình hình mang vi khuẩn thương hàn ở người lành của khu vực này.<br /> <br /> II. ĐỐI TƯỢNG VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng:<br /> Khảo sát tình hình vệ sinh nguồn nước và hố xí được tiến hành trên 142 hộ gia <br /> đình, và lấy mẫu nghiệm phân trên 340 người khỏe mạnh tuổi từ  20­60 của các hộ <br /> gia đình này ở phường Phú Cát, Thành phố Huế.<br /> 2. Vật liệu:<br /> ­ Các môi trường dùng phân lập các vi khuẩn Salmonella gây sốt thương hàn từ <br /> phân gồm SS, DCA, và các môi trường định danh của hãng OXOID, Anh.<br /> ­   Kháng   huyết   thanh   Salmonella   typhi,   Salmonella   paratyphi   A,   Salmonella  <br /> paratyphi B. của hãng Sanofi.<br /> <br /> 145<br /> 3. Phương pháp:<br /> ­ Khảo sát tình trạng hố  xí và nguồn nước sử dụng của 142 hộ gia đình thuộc <br /> khu vực này.<br /> ­ Lấy mẫu nghiệm phân của 340 người dân thuộc hộ  gia đình trên. Những  <br /> người này cũng được hỏi về tình hình mắc bệnh thương hàn của họ được nhập viện  <br /> hoặc được bác sĩ chẩn đoán trong khoảng thời gian dưới 1 năm. Những bệnh nhân bị <br /> thương hàn gần đây sẽ được lấy phân 2­3 lần cách nhau 2 ngày.<br /> ­ Phân lập theo thường quy phân lập vi khuẩn  ở  phân của WHO [2], và định  <br /> danh Salmonella gây sốt thương hàn theo các tiêu chí của Viện VSDT Hà Nội [1]. <br /> ­ Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2000.<br /> <br /> III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN<br /> Bảng 1: Tình hình vệ sinh hố xí và nguồn nước sinh hoạt của 142 hộ gia đình<br /> <br /> Số hộ gia đình Tỷ lệ  %<br /> Số hộ có hố xí hợp vệ sinh 26 18,3<br /> Số hộ không có hố xí hoặc hố xí không hợp vệ sinh 116 81,7<br /> Số hộ có máy nước 52 36,6<br /> Số hộ không có máy nước 90 63,4<br /> Qua số  liệu trên các hộ  không có hố  xí hoặc có hố  xí nhưng chỉ  là lều che <br /> bằng bạt ni lông, một số ở gần cầu hố xí làm ra phía  sông. Nhiều gia đình không có <br /> nước máy (63,4 %), một số  gia đình dùng nước lấy từ  hộ  hàng xóm dùng cho ăn  <br /> uống, nước sông là nguồn dùng cho sinh hoạt hàng ngày (vo gạo, rửa rau, thức ăn,  <br /> giặt ...). Những hộ sống dọc theo bờ sông Hương và gần cầu Gia Hội chủ yếu sống  <br /> bằng nghề cá, nhiều hộ sống bằng nghề không ổn định nên có mức sống thấp.<br /> <br /> Bảng 2: Kết quả phân tích các mẫu  phân <br /> Tính chất đại thể  Tế bào bạch cầu Cấy các Salmonella <br /> Số <br /> của phân trong phân gây thương hàn<br /> lượng<br /> Đặc bình  Nhão  Dương <br /> mẫu  Không có Có Âm tính<br /> thường ướt tính<br /> phân<br /> n % n % n % n % n % n %<br /> 340 313 92 27 08 340 100 0 0 340 100 0 0<br /> ­ Khảo sát 340 mẫu phân có 313 mẫu phân đóng khuôn thường, 27 mẫu phân <br /> nhão, không có nhầy máu. Khảo sát tế bào các mẫu phân đặc và nhão không thấy có  <br /> bạch   cầu.   Trong   340   mẫu   phân   này   không   có   trường   hợp   nào   có   các   vi   khuẩn <br /> Salmonella gây thương hàn được xác định. <br /> ­ Qua hỏi về tiền sử  mắc thương hàn trong vòng một năm cho thấy không có  <br /> người nào nhập viện do thương hàn, cũng không có bệnh nhân nào được bác sĩ tư <br /> chẩn đoán và điều trị thương hàn. Một bệnh nhân có sốt trên 1 tuần,  đau nhẹ  vùng  <br /> 146<br /> gan được điều trị tư vào khoảng 3 tháng trước đó, và được chẩn đoán siêu âm là áp  <br /> xe gan. Do vậy không có trường hợp nào được lấy phân lại lần thứ  hai. Theo kinh <br /> điển sau khi bị bệnh thương hàn đã được điều trị kháng sinh thích hợp thì có khoảng <br /> 1­4 % bệnh nhân (trung bình là 3%) sẽ  trở  thành người mang trùng  4], [5 .  Ở  trạng <br /> thái này vi khuẩn định vị trong túi mật. Tình trạng mang vi khuẩn ở túi mật ở phụ nữ <br /> cao hơn nam giới vì phụ  nữ  hay bị  sỏi   mật [6], vi khuẩn được thải ra ngoài theo  <br /> phân, thời gian thải vi khuẩn có thể kéo dài đến 1 năm [4], [5], [6]. Tình trạng mang  <br /> trùng được xác định bằng cách xét nghiệm theo dõi phân ở những bệnh nhân bị bệnh  <br /> thương hàn sau khi khỏi bệnh. <br /> Theo Guerrant [5] ngay cả những người trước đây không có tiền sử  bị  thương  <br /> hàn cũng có thể là người lành mang trùng, những người này có thể là bị bệnh thể nhẹ <br /> không nhận ra là bị  bệnh hoặc bệnh nhân bị  bệnh thương hàn nhưng không được <br /> chẩn đoán. Trong nghiên cứu này việc xét nghiệm Widal tìm kháng thể H và O để xác <br /> định những người mắc nói trên là một việc làm khó thực hiện và rất tốn kém vì phải  <br /> xét nghiệm máu cho tất cả  đối tượng. Cách hỏi tiền sử  bị  bệnh giúp chúng tôi tập  <br /> trung xác định những người đã bị thương hàn trong quá khứ nhằm lấy phân nhiều lần  <br /> vì ở những người mang trùng việc thải vi khuẩn trong phân có thể chỉ từng đợt. <br /> <br /> IV. KẾT LUẬN<br /> Qua nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy:<br /> ­ Điều kiện vệ sinh về tình trạng hố  xí và nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt  <br /> chưa đảm bảo an toàn ở những hộ dân sống dọc bờ sông Hương thuộc phường Phú  <br /> Cát, TP Huế. <br /> ­ Xác định tình trạng mang vi khuẩn thương hàn trên 340 người khoẻ  mạnh  <br /> sống  ở  phường Phú Cát   bằng xét nghiệm phân 1 lượt chúng tôi không phát hiện <br /> trường hợp nào thải vi khuẩn ra trong phân. <br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> <br /> 1. Nguyễn   Phú   Quý,   Phùng   Đắc   Cam.  Vi   khuẩn   thương   hàn,   kỷ   thuật   xét  <br /> nghiệm vi sinh vật y học, Hoàng Thuỷ Long (chủ biên), Nhà xuất bản văn hoá, Hà <br /> Nội (1991) 67­77. <br /> 2. WHO, Basic laboratory procedures in clinical bacteriology, Geneva (1991)<br /> 3. Nguyễn Hứa Phục và cộng sự.  Nhận xét vài nét dịch tễ  và tình hình kháng  <br /> kháng sinh của Sal.typhi phân lập tại BV TW Huế trong vụ dịch năm 1996,  một số  <br /> công trình về độ nhạy của vi khuẩn với kháng sinh, BYT. Viện Thông tin Thư viện <br /> Y học TW, Hà Nội, (1997).<br /> 4. RB Hornich. Salmonella infection,  in textbook of pediatric infectious diseases, <br /> Feign & Cherry (ed), W.B Saunder company (1981) 455­464.<br /> 5. RL Guerrant, Salmonella infections. Harrison’s principles of internal medicine, <br /> Braunwald et al. 11th ed (1987) 592­599.<br /> 147<br /> 6. Miller   SI,   Hohmann   EL,   Pegues   DA.    Salmonella   in   principles   and   practice   of  <br /> infectious diseases G Mendel, Douglas, and Bennett  (eds); 4th, Churchill livingstone, <br /> (1995) 2013­2032.<br /> 7. Tôn Nữ Phương Anh, và các tác giả  khác. Nghiên cứu dịch tễ học nhiễm ký sinh  <br /> trùng đường ruột ở phường Phú Cát thành phố Huế,  tập san Khoa học, Đại học Y  <br /> khoa Huế, số 2 (2000) 85­92.<br /> <br /> TOÚM TẮT<br /> Qua nghiên cứu trên 142 hộ gia đình với 340 mẫu nghiệm phân trên những người khoẻ  <br /> mạnh thuộc những gia đình ấy tại phường Phú Cát, thành phố Huế. Chúng tôi nhận thấy:<br /> ­ Điều kiện vệ  sinh về  tình trạng hố  xí và nguồn nước sử  dụng cho sinh hoạt chưa  <br /> đảm bảo an toàn ở những hộ dân sống dọc bờ sông Hương thuộc phường Phú Cát, TP Huế. <br /> ­ Xác định tình trạng mang vi khuẩn thương hàn trên 340 người khoẻ  mạnh sống  ở  <br /> phường Phú Cát  bằng xét nghiệm phân 1 lượt chúng tôi không phát hiện trường hợp nào  <br /> thải vi khuẩn ra trong phân. <br /> <br /> A SURVEY OF THYROID FEVER­CAUSING BACTERIA HEALTHY <br /> CARRIERS IN PHU CAT WARD OF HUE CITY.<br /> Le Van An, Tran Dinh Binh<br />  Ngo Viet Quynh Tram<br /> College of Medicine, Hue University<br /> <br /> SUMMARY<br /> The study  was carried out on the 142 householders living on the Huong River, in which  <br /> 340 stool samples of the healthy adults were collected and examined for Salmonella typhi,  <br /> Salmonella paratyphi A, and Sampnella paratyphi B. The results show that:<br />          ­   The hygienic status of the latrines and the water source for daily use was poor.<br /> ­ No carriers of typhoid fever­causing Salmonella  species were detected among the  <br /> 340 healthy adults living in Phu Cat Ward in the stool samples examined in one collection.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 148<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2