intTypePromotion=1
ADSENSE

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường type 2 trên bệnh nhân cao tuổi điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết – Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

Chia sẻ: ViAugustus2711 ViAugustus2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

70
lượt xem
8
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mô tả việc sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường type 2 (ĐTĐ2), hiệu quả kiểm soát đường huyết và mức độ phổ biến cũng như hiểu biết về hạ đường huyết quá mức của bệnh nhân (BN) ĐTĐ2 cao tuổi đang điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội Tiết – Bệnh viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường type 2 trên bệnh nhân cao tuổi điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết – Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> <br /> KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ<br /> ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI<br /> ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI PHÒNG KHÁM NỘI TIẾT – BỆNH VIỆN<br /> ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH<br /> Trần Bảo Bình*, Diệp Thị Thanh Bình**, Trần Quang Nam**, Nguyễn Thị Mai Hoàng*<br /> <br /> TÓMTẮT<br /> Mục tiêu: Mô tả việc sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường type 2 (ĐTĐ2), hiệu quả kiểm soát đường<br /> huyết và mức độ phổ biến cũng như hiểu biết về hạ đường huyết quá mức của bệnh nhân (BN) ĐTĐ2 cao<br /> tuổi đang điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội Tiết – Bệnh viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh M.<br /> Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 457 BN ĐTĐ2 từ 60 tuổi<br /> trở lên, đã điều trị ít nhất 6 tháng tại phòng khám Nội Tiết từ tháng 5 - 6/2017. BN được phỏng vấn bằng<br /> bảng câu hỏi thiết kế sẵn nhằm ghi nhận thông tin về bệnh, thuốc điều trị, kiểm soát đường huyết và các tác<br /> dụng không mong muốn xảy ra trong quá trình dùng thuốc.<br /> Kết quả: Thuốc hạ đường huyết được dùng nhiều nhất là metformin (62,6%), ức chế DPP-4 (52,5%)<br /> và sulfonylurea (44,0%). Đa số BN được chỉ định phối hợp thuốc (74,2%). Tỷ lệ BN kiểm soát tốt đường<br /> huyết đói, HbA1C và cả 2 thông số này lần lượt là 66,7%; 47,8% và 36,8%. Tỷ lệ BN biết về hạ đường huyết<br /> quá mức là 45,1%. Có 27,8% BN đã từng bị hạ đường huyết quá mức trong vòng 1 tháng. BN dùng<br /> insulin có tỷ lệ hạ đường huyết quá mức và hiểu biết về tác dụng không mong muốn này cao hơn các BN<br /> khác (p < 0,05).<br /> Kết luận: Hơn 50% BN ĐTĐ2 chưa kiểm soát được bệnh và chưa hiểu về hạ đường huyết quá mức.<br /> BN cao tuổi cần được cung cấp nhiều thông tin hơn về thuốc và tác dụng không mong muốn, đặc biệt là hạ<br /> đường huyết quá mức trong quá trình điều trị ĐTĐ2.<br /> Từ khóa: đái tháo đường type 2, hạ đường huyết quá mức, thuốc trị đái tháo đường, bệnh nhân cao tuổi.<br /> ABSTRACT<br /> INVESTIGATION ON ANTIDIABETIC DRUG USE IN ELDERLY OUTPATIENTS WITH TYPE 2<br /> DIABETES ATTENDING THE ENDOCRINOLOGY CLINIC<br /> OF THE UNIVERSITY MEDICAL CENTER AT HO CHI MINH CITY<br /> Tran Bao Binh, Diep Thi Thanh Binh, Tran Quang Nam, Nguyen Thi Mai Hoang<br /> * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No 2- 2019: 213 – 220<br /> <br /> Objectives: This study aimed to investigate antidiabetic drug use, glycemic control, the prevalence of<br /> hypoglycemia and patients’ knowledge about this undesirable effect in elderly patients with type 2 diabetes<br /> (DT2) at the Endocrinology Clinic of the University Medical Center at Ho Chi Minh City.<br /> Methods: We included 457 outpatients of 60 years old or older attending the Endocrinology Clinic<br /> from May to June 2017 with a diagnosis of DT2 for at least 6 months in this cross-sectional study.<br /> Participants were interviewed using an open questionnaire involving characteristics of diseases,<br /> *<br /> Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh<br /> **<br /> Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh<br /> Tác giả liên lạc: ThS. Nguyễn Thị Mai Hoàng ĐT: 0356599822 Email: ntmaihoang@gmail.com<br /> <br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Dược 213<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019<br /> <br /> medications, glycemic control and undesirable effects occurring during treatment .<br /> Results: The most prescribed medications were metformin (62.6%), DPP-4 inhibitors (52.5%) and<br /> sulfonylureas (44.0%). Most patients were prescribed a combination of drug (74.2%). The rate of patients<br /> with well controlled fasting blood glucose, HbA1c and both were 66.7%, 47.8% and 36.8%, respectively.<br /> There were 45.1% of patients having knowledge about hypoglycemia. The prevalence of patients suffering<br /> hypoglycemia during the previous month was 27.8%. Patients treated with insulin had significantly higher<br /> rate of hypoglycemia and better knowledge of hypoglycemia than other patients (p < 0.05).<br /> Conclusions: More than 50% of type 2 diabetic patients did not control the disease and have poor<br /> knowledge about hypoglycemia. Elderly patients should be provided more information about antidiabetic<br /> medications and their undesirable effects, especially hypoglycemia, during treatment of DT2.<br /> Key words: Type 2 diabetes (DT2), hypoglycemia, antidiabetic, elderly patients<br /> ĐẶTVẤNĐỀ ý tham gia nghiên cứu. BN được giải thích<br /> mục đích của nghiên cứu và được mời trả lời<br /> Đái tháo đường (ĐTĐ) type 2 là một trong đầy đủ bộ câu hỏi được thiết kế sẵn bao gồm<br /> những bệnh mạn tính thường gặp nhất ở các thông tin chung của BN (tuổi, giới tính,<br /> người cao tuổi. Các biến chứng của ĐTĐ đặc chiều cao, cân nặng, tiền sử gia đình, thời gian<br /> biệt thường xảy ra nặng nề hơn trên nhóm mắc bệnh ĐTĐ, các bệnh và biến chứng mắc<br /> bệnh nhân (BN) này(7). Mặt khác, BN ĐTĐ từ kèm), thuốc điều trị ĐTĐ type 2 được chỉ<br /> 60 tuổi trở lên có tỷ lệ nhập viện cấp cứu do định, các xét nghiệm gồm giá trị đường huyết<br /> tình trạng hạ đường huyết cao hơn so với BN<br /> đói, HbA1C tại thời điểm khảo sát, tần suất và<br /> trẻ(3). Tình trạng này có thể ảnh hưởng lớn đến<br /> biểu hiện của hạ đường huyết quá mức dựa<br /> sức khỏe của BN, dẫn đến gia tăng chi phí trên hiểu biết của BN. Những BN từ chối tham<br /> điều trị cũng như gia tăng tỷ lệ tử vong(3). gia nghiên cứu hoặc không hoàn thành toàn<br /> Tuy nhiên, các biến cố có hại liên quan bộ bảng câu hỏi sẽ bị loại khỏi nghiên cứu.<br /> đến thuốc trên đối tượng BN ĐTĐ cao tuổi Trong nghiên cứu này, BN được xem là<br /> lại chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. kiểm soát đường huyết tốt nếu đạt mục tiêu<br /> Vì vậy,chúng tôi tiến hành khảo sát nhằm<br /> được trình bày trong bảng 1.<br /> mô tả tình hình sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ<br /> Bảng 1: Mục tiêu đường huyết đơn giản hóa theo<br /> type 2 trên BN cao tuổi điều trị ngoại trú tại<br /> tiêu chuẩn của ADA 2017(2)<br /> phòng khám Nội tiết – bệnh viện Đại học Y<br /> Đường huyết đói<br /> Dược Thành phố Hồ Chí Minh (BV ĐHYD), Tuổi<br /> (mmol/L)<br /> HbA1C (%)<br /> tỷ lệ BN kiểm soát đường huyết theo 60 - < 80 5,0 – 7,2 ≤ 7,5%<br /> khuyến cáo của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ ≥ 80 5,6 – 10 ≤ 8,5%<br /> (ADA) 2017 và ghi nhận mức độ phổ biến Dựa trên hiểu biết của BN, tình trạng hạ<br /> của hạ đường huyết quá mức cũng như hiểu đường huyết trong quá trình điều trị bằng<br /> biết của BN về nguy cơ này. thuốc cũng được ghi nhận bằng bộ câu hỏi<br /> ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU định tính với các câu hỏi mở sau:<br /> <br /> Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực 1) “Cô/bác đã từng được dặn dò về hạ<br /> hiện trên BN ĐTĐ type 2 cao tuổi điều trị đường huyết chưa? Cô/bác được dặn dò như<br /> ngoại trú tại phòng khám Nội tiết – BV ĐHYD thế nào?” Với câu hỏi này, BN được ghi nhận<br /> từ tháng 5 đến tháng 6/2017. Tiêu chuẩn chọn là có hiểu biết về hạ đường huyết quá mức<br /> mẫu là BN từ 60 tuổi trở lên được chẩn đoán nếu có thể kể được triệu chứng tiêu biểu của<br /> ĐTĐ type 2 đã điều trị ít nhất 6 tháng và đồng hạ đường huyết (run, tim nhanh, vã mồ hôi,<br /> <br /> <br /> <br /> 214 Chuyên Đề Dược<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> hạ thân nhiệt, đói, chóng mặt, nhức đầu)(2), khuyến cáo(11). Tăng huyết áp và rối loạn lipid<br /> hoặc có thể giải thích như thế nào là hạ đường máu là 2 bệnh kèm chiếm tỷ lệ cao nhất trong các<br /> huyết (nồng độ glucose máu < 4 mmol/L)(2). BN khảo sát với tỷ lệ lần lượt là 80,1% và 66,3%.<br /> 2) “Cô/bác đã từng bị hạ đường huyết quá Tình hình sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ type 2<br /> mức hay chưa? Nếu có, triệu chứng của cô/bác trên BN cao tuổi<br /> đã gặp khi bị hạ đường huyết quá mức ra Các thuốc điều trị ĐTĐ type 2 được sử dụng<br /> sao?” Với câu hỏi này, BN được ghi nhận là đã trên BN cao tuổi<br /> từng bị hạ đường huyết quá mức nếu BN kể<br /> Các thuốc điều trị ĐTĐ type 2 được ghi<br /> được những triệu chứng phù hợp với biểu<br /> nhận dựa vào đơn thuốc mới nhất của BN.<br /> hiện của hạ đường huyết (câu 1) mà BN đã<br /> Đa số bệnh nhân trong nghiên cứu được chỉ<br /> từng gặp phải. Trong trường hợp BN không có<br /> định phối hợp thuốc để kiểm soát ĐTĐ, phổ<br /> nhận thức về tình trạng hạ đường huyết, tình<br /> biến nhất là phối hợp 2 thuốc (40,7%), kế<br /> trạng hạ đường huyết quá mức cũng được ghi<br /> đến là phối hợp 3 thuốc (27,6%), đơn trị<br /> nhận nếu BN xác nhận đã từng có các biểu<br /> (25,8%). Chỉ có 5,9% BN được chỉ định hơn 3<br /> hiện hạ đường huyết mà chúng tôi cung cấp.<br /> thuốc để kiểm soát ĐTĐ.<br /> 3) “Cô/bác có bị hạ đường huyết quá mức<br /> Trong số các thuốc được chỉ định,<br /> trong quá trình điều trị hay không? Tình trạng<br /> metformin là thuốc được dùng phổ biến nhất<br /> này có xuất hiện trong vòng 1 tháng vừa qua<br /> (62,6%), kế đến là nhóm ức chế dipeptidyl<br /> hay không?”<br /> peptidase-4 (DPP-4), sulfonylurea và insulin<br /> 4) “Khi bị hạ đường huyết, Cô/bác đã xử với các tỷ lệ lần lượt là 52,5%; 44,0% và 38,7%.<br /> trí như thế nào?” Với câu hỏi này, BN được Trong nhóm ức chế DPP-4, thuốc được sử<br /> xem là có cách xử trí đúng khi trả lời uống dụng nhiều nhất là vildagliptine (20,6%) và<br /> nước đường hay ăn kẹo glucose. sitagliptine (16,4%). Thuốc được chỉ định phổ<br /> 5) “Sau khi áp dụng các biện pháp xử trí biến nhất của nhóm sulfonylurea là gliclazide<br /> trên, Cô/bác có thấy đỡ hơn không?” dạng viên phóng thích có kiểm soát (modified<br /> Dữ liệu được xử lý thống kê mô tả bằng released – MR) với tỷ lệ 30,6%. Hai phối hợp<br /> phần mềm SPSS 22 với độ tin cậy 95%. Phép thuốc được sử dụng nhiều nhất là phối hợp ba<br /> kiểm chi bình phương được sử dụng để so sánh thuốc sulfonylurea + metformin + ức chế DPP-<br /> các tỷ lệ bị hạ đường huyết của từng nhóm BN 4 (14,0%) và phối hợp hai thuốc sulfonylurea +<br /> sử dụng các thuốc khác nhau. Khác biệt được metformin (11,8%).<br /> coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05. Bảng 2: Tỷ lệ các thuốc điều trị ĐTĐ type 2 được<br /> KẾTQUẢ sử dụng<br /> Tỷ lệ %<br /> Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Thuốc Tần số<br /> Đơn trị Phối hợp Tổng<br /> Có 457 BN tham gia vào nghiên cứu này Metformin 286 6,1 56,5 62,6<br /> với tuổi trung bình 69,4 ± 7,5 tuổi và thời gian Ức chế DPP-4 240 7,2 45,3 52,5<br /> Sulfonylurea 201 2,2 41,8 44,0<br /> mắc bệnh trung bình 9,1 ± 7,2 năm. Đa số bệnh<br /> Insulin 177 9,4 29,3 38,7<br /> nhân là nữ (68,7%) và có thừa cân/béo phì Khác :<br /> (54,0%). Tỷ lệ BN có hút thuốc lá hay rượu bia - Repaglinide 21 0,7 3,9 4,6<br /> khá thấp trong nghiên cứu này, lần lượt là - Acarbose 19 0,0 4,2 4,2<br /> 14,4% và 15,8%. Có 74,0% BN có tập thể dục, - Dapagliflozine 32 0,2 6,8 7,0<br /> - Liraglutide 1 0,0 0,2 0,2<br /> trong đó 62,4% BN tập từ 5-7 ngày/tuần và<br /> 52,5% BN tập từ 30 phút/ngày trở lên theo<br /> <br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Dược 215<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019<br /> <br /> Liều và thời điểm sử dụng thuốc đơn thuốc của BN. Kết quả được trình bày<br /> Nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận liều và trong bảng 3.<br /> thời điểm sử dụng thuốc được chỉ định trong<br /> Bảng 3: Liều trung bình và thời điểm sử dụng thuốc<br /> Thời điểm sử dụng thuốc<br /> Thuốc Liều (mg/ngày)* Trước bữa Trong Sau<br /> ăn bữa ăn bữa ăn<br /> Metformin 1120,7 ± 505,6<br /> 9,4% 90,6%<br /> (500,0 - 2500,0)<br /> - Sitagliptine 77,7 ± 25,0 (50,0 – 100,0)<br /> - Vildagliptine 66,7 ± 23,7 (50,0 – 100,0)<br /> Ức chế DPP-4 22,1% 77,9%<br /> - Saxagliptine 4,4 ± 1,1 (2,5 – 5,0)<br /> - Linagliptine 5,1 ± 0,8 (5,0 – 10,0)<br /> - Gliclazide 49,0 ± 23,6 (30,0 - 120,0)<br /> Sulfonylurea - Glimepiride 2,8 ± 1,9 (0,5 – 8,0) 99,0% 1,0%<br /> - Glyburide 10,3 ± 3,7 (5,0 – 15,0)<br /> - Acarbose 89,5 ± 45,9 (50,0 – 200,0) 26,3% 63,2% 10,5%<br /> Khác - Dapagliflozine 10,0 ± 0,0 (10,0 – 10,0) 12,5% 87,5%<br /> - Repaglinide 2,6 ± 1,3 (1,0 – 6,0) 95,2% 4,8%<br /> * Trung bình ± độ lệch chuẩn (giá trị nhỏ nhất – giá trị lớn nhất)<br /> Tình hình kiểm soát đường huyết hạ đường huyết trong vòng 1 tháng vừa qua<br /> Có 410 BN (89,7%) được đo đường huyết (27,8%). Đặc biệt, có 7 BN (1,5%) liên tục gặp<br /> đói tại thời điểm khảo sát với mức đường phải những triệu chứng điển hình của hạ<br /> huyết đói trung bình 9,1 ± 4,5 mmol/L. Chỉ có đường huyết như chóng mặt, vã mồ hôi, bụng<br /> 210 BN (46,0%) được đo HbA1C tại thời điểm đói cồn cào, run rẩy tay chân. Trong đó, có 3<br /> khảo sát với giá trị trung bình 7,9 ± 1,7%. Tỷ lệ BN vừa mới chuyển đến khám tại phòng<br /> BN kiểm soát được đường huyết đói và HbA1C khám, 1 BN đang được điều trị bằng insulin<br /> lần lượt là 66,7% và 47,8%. Chỉ có 36,8% BN và 3 BN đang được điều trị bằng sulfonylurea.<br /> kiểm soát được cả 2 thông số hay nói cách Tỷ lệ BN được điều trị bằng insulin bị hạ<br /> khác là kiểm soát được bệnh ĐTĐ. đường huyết nhiều hơn có ý nghĩa thống kê so<br /> với BN được điều trị bằng sulfonylurea (51,2%<br /> Tình trạng hạ đường huyết<br /> so với 39,4%, p = 0,017) hoặc bằng các thuốc<br /> Nhận thức của BN về hạ đường huyết điều trị ĐTĐ đường uống khác (51,2% so với<br /> Số BN có hiểu biết về hạ đường huyết 18,9%, p = 0,008).<br /> chiếm 45,1% dân số nghiên cứu. Nhóm BN sử Các triệu chứng hạ đường huyết thường gặp<br /> dụng insulin có tỷ lệ hiểu biết về hạ đường<br /> Chúng tôi ghi nhận lại các triệu chứng<br /> huyết quá mức cao nhất (57,6%). Tỷ lệ này cao<br /> hạ đường huyết được mô tả ở nhóm BN đã<br /> hơn có ý nghĩa thống kê so với tỷ lệ ghi nhận<br /> được ở nhóm BN sử dụng sulfonylurea từng bị hạ đường huyết quá mức. Trong đó,<br /> (40,3%; p = 0,002) và BN sử dụng các nhóm phổ biến nhất là các biểu hiện đói bụng<br /> thuốc khác (37,5%; p = 0,002). (36,1%), vã mồ hôi (34,6%), run (26,5%),<br /> Tỷ lệ BN bị hạ đường huyết chóng mặt (26,3%) và mệt mỏi (21,0%). Các<br /> Có 237 BN cho biết đã từng bị hạ đường triệu chứng hạ đường huyết đã ghi nhận<br /> huyết quá mức (51,9%), trong đó 127 BN có bị được trình bày trong hình 1.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 216 Chuyên Đề Dược<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Tri u<br /> ch ng<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 1: Các triệu chứng hạ đường huyết thường gặp<br /> Các biện pháp cải thiện tình trạng hạ đường viện vì hạ đường huyết trong tình trạng hôn<br /> huyết của BN mê là 11,8%.<br /> Ở 237 BN đã từng bị hạ đường huyết quá Sau khi xử trí, có 94,5% BN cho biết đã<br /> mức, khi được hỏi về cách xử trí, BN đã áp cải thiện các triệu chứng và đã cảm thấy<br /> dụng nhiều biện pháp khác nhau. Kết quả khá hơn.<br /> được trình bày trong bảng 5.<br /> BÀNLUẬN<br /> Bảng 4: Các biện pháp cải thiện tình trạng hạ<br /> Tình hình sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ<br /> đường huyết của BN<br /> Biện pháp Tần số Tỷ lệ % Trong nghiên cứu của chúng tôi,<br /> Uống nước đường 75 31,6 metformin là thuốc được sử dụng nhiều nhất<br /> Dùng kẹo/ bánh dành cho người ĐTĐ 58 24,5 (62,6%), kế đến là nhóm thuốc ức chế DPP-4<br /> Uống sữa 23 9,7 (52,5%) và nhóm sulfonylurea (44,0%). Theo<br /> Ăn tinh bột (cơm, cháo, phở, bún,…) 116 48,9<br /> nhiều khuyến cáo trên thế giới, metformin là<br /> Ăn trái cây 16 6,8<br /> Chỉ nghỉ ngơi 11 4,6<br /> lựa chọn đầu tay trong việc điều trị ĐTĐ type<br /> Tự ngưng thuốc 4 1,7 2 ngoại trừ các trường hợp BN có chống chỉ<br /> Báo với bác sĩ 50 21,1 định với thuốc. Kết quả này cũng tương tự với<br /> Nhập viện 28 11,8 nghiên cứu của Lê Văn Chi (metformin là<br /> Trong số những BN cho biết đã từng bị thuốc được sử dụng nhiều nhất với 57,4% BN<br /> hạ đường huyết, chỉ có 31,6% BN có cách xử được chỉ định)(8).<br /> trí đúng khi bị hạ đường huyết là uống nước Nhóm thuốc được chỉ định phổ biến thứ<br /> đường. Có 24,5% BN có thói quen đem kẹo hai trong nghiên cứu này là các thuốc ức chế<br /> hoặc bánh bên mình để phòng ngừa hạ DPP-4. Đây là nhóm thuốc còn khá mới với<br /> đường huyết quá mức. Đặc biệt nghiêm những ưu điểm đã được chứng minh như có<br /> trọng, số BN cho biết đã từng phải nhập khả năng kiểm soát tốt đường huyết sau ăn và<br /> <br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Dược 217<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019<br /> <br /> ít nguy cơ hạ đường huyết quá mức hơn so khuyến cáo là 5 mg/ngày)(5). Nhìn chung, đa số<br /> với sulfonylurea. Ngoài ra, cũng có bằng BN cao tuổi tại phòng khám Nội tiết – BV<br /> chứng cho thấy nhóm thuốc này thể giúp cải ĐHYD được chỉ định thuốc phù hợp. Tuy vậy,<br /> thiện triệu chứng suy giảm trí nhớ và cải thiện cần tăng cường công tác kiểm duyệt đơn thuốc<br /> chuyển hóa xương ở người cao tuổi(9). ngoại trú để đảm bảo tránh được các sai sót<br /> Mặc dù có một số nhược điểm như gây liên quan đến liều và thời điểm dùng thuốc.<br /> tăng cân, tăng nguy cơ hạ đường huyết quá Tình hình kiểm soát đường huyết<br /> mức cũng như bằng chứng an toàn trên tim Tỷ lệ BN hiện đang kiểm soát tốt HbA1C<br /> mạch chưa rõ ràng(9), nhóm sulfonylurea vẫn trong nghiên cứu này cao hơn so với nghiên<br /> là một trong các lựa chọn điều trị ĐTĐ phổ cứu của Lê Văn Chi (47,8% so với 16,7%)(8).<br /> biến tại BV ĐHYD. So với các sulfonyurea Điều này có thể phản ánh hiệu quả điều trị<br /> khác như glyburide hay glimepiride thường khá tốt tại BV ĐHYD. Tuy nhiên, việc chỉ<br /> gây ra tình trạng hạ đường huyết, tăng cân 46,0% BN được đo HbA1C tại thời điểm khảo<br /> nên thường tránh sử dụng ở BN cao tuổi thì sát cũng là một hạn chế khiến chúng tôi chưa<br /> hoạt chất được chỉ định chủ yếu tại phòng thể đánh giá toàn diện về hiệu quả kiểm soát<br /> khám Nội tiết là gliclazide, có ái lực với các thông số này.<br /> thụ thể của sulfonylurea trên tế bào β tụy thấp<br /> Tỷ lệ BN kiểm soát tốt ĐTĐ theo khuyến cáo<br /> hơn, do đó ít gây hạ đường huyết quá mức<br /> hơn(1,9). Hơn nữa, việc chọn lựa dạng bào chế của ADA 2017 vẫn còn khiêm tốn (36,8%). Điều<br /> phóng thích có kiểm soát (MR) cũng giúp này cho thấy kiểm soát tốt đường huyết ở người<br /> giảm thiểu nguy cơ hạ đường huyết và đảm cao tuổi vẫn luôn là một thách thức đối với nhà<br /> bảo an toàn hơn cho đối tượng BN cao tuổi. điều trị do ngoài việc sử dụng thuốc, các biện<br /> Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đa số pháp thay đổi lối sống như tập thể dục, điều<br /> BN được điều trị bằng việc phối hợp thuốc, chỉnh chế độ ăn uống, thói quen dùng rượu bia,<br /> chủ yếu là phối hợp hai thuốc (40,7%) và ba thuốc lá cũng như kiểm soát cân nặng là vô cùng<br /> thuốc (25,8%). Điều này có thể do BN đã cao<br /> cần thiết. Tuy nhiên, rất khó để có thể kiểm soát<br /> tuổi và mắc ĐTĐ lâu năm (trung bình hơn 9<br /> năm) nên cần nhiều thuốc để kiểm soát được tốt các yếu tố này, đặc biệt là với BN cao tuổi.<br /> bệnh. Kết quả này tương tự với nghiên cứu Trong nghiên cứu này, tỷ lệ BN thừa cân, béo<br /> của Mohamed và cộng sự(10) với đa số BN được phì còn khá cao (54,0%). Kết quả cho thấy tỷ lệ<br /> điều trị bằng phối hợp hai thuốc (71,0%). BN có tập thể dục khá khả quan (74,0%). Tuy<br /> Theo kết quả khảo sát, đa số BN trong nhiên, khi xét về thời gian vận động theo khuyến<br /> nghiên cứu này được chỉ định thời điểm dùng cáo dành cho BN ĐTĐ cao tuổi(11) thì tỷ lệ này<br /> thuốc hợp lý là metformin uống sau bữa ăn; khiêm tốn hơn với chỉ 52,5% BN tập thể dục ít<br /> sulfonylurea, repaglinide uống trước bữa ăn<br /> nhất 30 phút/ngày và 62,4% BN tập thể dục ít<br /> và acarbose uống trong hoặc ngay sau bữa ăn.<br /> nhất 5 ngày/tuần.<br /> Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ nhỏ BN được chỉ<br /> định thời điểm dùng thuốc chưa đúng với Trong nghiên cứu này, chúng tôi không<br /> hướng dẫn sử dụng như dùng metformin khảo sát về mức độ tuân thủ dùng thuốc cũng<br /> trước bữa ăn (9,4%), sulfonylurea và như các biện pháp thay đổi lối sống của BN<br /> repaglinide sau bữa ăn (lần lượt là 1,0% và<br /> như chế độ ăn uống, mức độ kiểm soát biến<br /> 4,8%) hoặc dùng acarbose trước bữa ăn<br /> chứng cũng như các bệnh lý kèm theo ở BN<br /> (26,3%). Ngoài ra, có 1 trường hợp chỉ định<br /> quá liều linagliptine (10 mg/ngày so với liều cao tuổi. Điều này cũng góp phần hạn chế việc<br /> <br /> <br /> 218 Chuyên Đề Dược<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> xác định nguyên nhân tỷ lệ BN kiểm soát bệnh và có thể kiểm soát tình trạng hạ đường huyết<br /> chưa cao trong nghiên cứu này. quá mức được tốt hơn.<br /> Tình trạng hạ đường huyết Các biện pháp xử lý tình trạng hạ đường<br /> Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, chỉ huyết của BN<br /> khoảng một nửa số BN cao tuổi (45,1%) có Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, chỉ<br /> có 31,6% BN biết dùng nước đường để giải quyết<br /> hiểu biết về tình trạng hạ đường huyết quá<br /> tình trạng hạ đường huyết quá mức khi gặp<br /> mức thông qua bác sĩ, bạn bè, người thân…<br /> phải. Cần chú ý rằng, mặc dù tỷ lệ BN biết về<br /> hoặc tự tìm hiểu trên internet. Tuy nhiên, cũng tình trạng hạ đường huyết quá mức cao hơn<br /> có nhiều BN có hiểu biết về tình trạng hạ (45,1%) nhưng không phải tất cả các BN trong số<br /> đường huyết do bản thân đã từng bị hạ đường họ đều có những biện pháp đúng để phòng<br /> huyết quá mức trong quá trình điều trị bằng tránh hạ đường huyết quá mức kịp thời.<br /> thuốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy BN được Theo Hiệp hội Đái Tháo Đường Canada,<br /> điều trị bằng insulin có hiểu biết về tình trạng để có thể xác định đúng tình trạng hạ đường<br /> huyết và có những biện pháp xử lý đúng, BN<br /> hạ đường huyết cao hơn có ý nghĩa thống kê<br /> cần phải đo đường huyết mao mạch của mình<br /> so với những BN được điều trị bằng<br /> ngay tại thời điểm nghi ngờ hạ đường huyết<br /> sulfonylurea (56,7% so với 40,3%, p = 0,002) xảy ra. Nếu kết quả đường huyết < 4 mmol/L,<br /> hoặc bằng thuốc điều trị ĐTĐ khác (57,6% so bệnh nhân cần được bổ sung ngay 15 – 20 g<br /> với 37,5%, p = 0,002). Điều này có thể là do hạ glucose dưới dạng kẹo glucose hay nước<br /> đường huyết quá mức là một tác dụng phụ đường. Nếu đường huyết ≥ 4 mmol/L, có thể<br /> nguy hiểm của insulin. Do đó, có thể những uống sữa hay ăn trái cây ngọt(4). Tuy nhiên, tất<br /> cả BN cao tuổi trong nghiên cứu này đều<br /> BN được điều trị bằng thuốc này đã được bác<br /> không có thói quen đo đường huyết mao<br /> sĩ dặn dò kỹ hơn. Ngoài ra, kết quả nghiên<br /> mạch tại nhà. Do đó, BN có nguy cơ không<br /> cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ BN đã từng bị hạ đánh giá được mức độ hạ đường huyết, dẫn<br /> đường huyết quá mức trong nhóm dùng đến không có những biện pháp xử lý phù hợp.<br /> insulin cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các Thực tế, có 4,6% BN không có biện pháp xử lý<br /> nhóm thuốc khác (p < 0,05). Như vậy, các BN nào để cải thiện tình trạng hạ đường huyết khi<br /> dùng insulin có thể có nhiều kinh nghiệm bị gặp phải, cũng như có 1,7% BN đã tự ngưng<br /> dùng thuốc một thời gian. Những cách xử trí<br /> hạ đường huyết hơn và do đó có hiểu biết<br /> này có thể dẫn đến hậu quả hết sức nặng nề,<br /> nhiều hơn so với các nhóm BN còn lại.<br /> khiến BN không thể kiểm soát được tình trạng<br /> Việc sử dụng các thuốc điều trị ĐTĐ, đặc bệnh, có thể ảnh hưởng đến tính mạng cũng<br /> biệt là các thuốc dễ gây hạ đường huyết quá như tạo ra gánh nặng về chi phí điều trị cho<br /> mức như insulin và sulfonylurea, nên được BN. Nghiên cứu cũng ghi nhận 11,8% BN đã<br /> theo dõi cẩn thận trên đối tượng BN cao tuổi. từng phải nhập viện vì bị hạ đường huyết quá<br /> mức trong tình trạng hôn mê, không loại trừ<br /> Do đó, BN cao tuổi cần được cung cấp những<br /> sau khi áp dụng các biện pháp xử trí hạ đường<br /> thông tin chính xác, phù hợp với khả năng huyết không thích hợp.<br /> nhận thức của BN về tác dụng phụ của thuốc,<br /> Một kết quả đáng ngạc nhiên là có đến<br /> đặc biệt là hạ đường huyết quá mức, để giúp 94,5% số BN cho biết đã cải thiện các triệu<br /> BN có những biện pháp phòng tránh hiệu quả chứng sau khi xử trí. Kết quả này có vẻ mâu<br /> <br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Dược 219<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019<br /> <br /> thuẫn với tỷ lệ BN có cách xử trí đúng. Điều huyết quá mức, để có thể kiểm soát ĐTĐ hiệu<br /> này có thể cho thấy khả năng BN đã không quả và an toàn hơn.<br /> phân biệt được chính xác hạ đường huyết quá TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> mức với các tình trạng khác do chỉ dựa trên 1. ADVANCE Collaborative Group (2008). Intensive blood<br /> triệu chứng mà không đo đường huyết cụ thể. glucose control and vascular outcomes in patients with<br /> type 2 diabetes. The New England Journal of Medicine, 358:<br /> Trong khi đó, có nhiều biểu hiện hạ đường pp.2560-2572.<br /> huyết quá mức ghi nhận được ở các BN này 2. American Diabetes Association (2017). Standards of<br /> medical care in diabetes, Older adults. Diabetes Care, 37:<br /> rất khó phân biệt với những rối loạn thông<br /> pp.81-85.<br /> thường của tuổi già như mệt mỏi (21,0%), 3. Budnitz DS et al (2011). Emergency hospitalizations for<br /> chóng mặt (26,3%) ... Cùng với việc sử dụng adverse drug events in older Americans. The New England<br /> Journal of Medicine, 365: pp.2002-2012.<br /> các thuốc dễ gây hạ đường huyết như insulin 4. Comité d’experts des Lignes directrices de pratique<br /> và sulfonylurea, tuổi già và sự suy giảm chức clinique de l’Association canadienne du diabète (2003).<br /> năng thận trên đối tượng BN cao tuổi đều là Lignes directrices de pratique clinique 2003 de<br /> l’Association canadienne du diabète pour la prévention et<br /> những yếu tố nguy cơ cao làm gia tăng tình le traitement du diabète au Canada. Canadian Journal of<br /> trạng hạ đường huyết quá mức(6). Do đó, cần Diabetes, 27 (Suppl. 2): S48.<br /> 5. Inzucchi SE, Bergenstal RM, et al. (2015). Management of<br /> thiết phải nâng cao hiểu biết của BN, giúp BN<br /> hyperglycemia in type 2 diabetes, 2015: a patient-centered<br /> hiểu rõ được mức độ nghiêm trọng của tình approach: update to a position statement of the American<br /> trạng hạ đường huyết quá mức, nâng cao sự Diabetes Association and the European Association for the<br /> Study of Diabetes. Diabetes Care, 38: pp.140-149.<br /> tuân thủ trong điều trị cũng như có những 6. Jaap AJ, et al. (1998). Perceived symptoms of hypoglycemia<br /> biện pháp khắc phục tình trạng hạ đường in elderly type 2 diabetic patients treated with insulin.<br /> huyết đúng và kịp thời, ví dụ như giúp BN có Diabetic medicine: a journal of the British Diabetic Association,<br /> 15(5): pp.398-401.<br /> thói quen đo đường huyết mao mạch thường 7. Kirkman MS, et al. (2012). Diabetes in older adults. Diabetes<br /> xuyên, hay luôn mang theo kẹo glucose bên Care, 35: pp.2650-2664.<br /> 8. Lê Văn Chi, Trần Quang Trung (2011). Tình hình sử dụng<br /> mình để sử dụng khi gặp những triệu chứng<br /> thuốc hạ glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.<br /> của hạ đường huyết, không bỏ bữa sau khi Bộ môn Nội, Trường Đại học Y Dược Huế.<br /> dùng thuốc… http://bomonnoiydhue.edu.vn/?cat_id=138&id=332<br /> 9. Masahiro Fukuda, et al. (2011). Survey of Hypoglycemia in<br /> KẾT LUẬN Elderly People With Type 2 Diabetes Mellitus in Japan,<br /> Journal of Clinical Medicine Research, 7(12): pp.967-978.<br /> Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số BN cao<br /> 10. Mohamed M, Diabcare–Asia 2003 Study Group (2008). An<br /> tuổi được điều trị bằng phối hợp hai thuốc audit on diabetes management in Asian patients treated by<br /> hoặc phối hợp ba thuốc để có thể kiểm soát tốt specialists, the Diabcare – Asia 1998 – 2003 studies. Current<br /> Medical Research and Opinion, 24 (2): pp.507 - 514.<br /> đường huyết. Tỷ lệ BN cao tuổi đã kiểm soát 11. Sheri Colberg (2013). Older Adults. In: Sheri Colberg.<br /> ĐTĐ vẫn còn chưa cao. Có gần 30% bệnh nhân Exercise and Diabetes: A Clinician’s Guide to Prescribing<br /> cho biết đã từng bị hạ đường huyết trong Physical Activity, 1st edition, pp 374 - 384. American<br /> Diabetes Association.<br /> vòng 1 tháng trước. Tuy nhiên, hiểu biết của<br /> BN cao tuổi về tình trạng hạ đường huyết quá<br /> Ngày nhận bài báo: 18/10/2018<br /> mức cũng như cách phòng ngừa, xử trí vẫn<br /> còn hạn chế. Do đó, BN cần được cung cấp Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/11/2018<br /> nhiều thông tin hơn về thuốc và về tác dụng Ngày bài báo được đăng: 15/03/2019<br /> phụ của thuốc, đặc biệt là tình trạng hạ đường<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 220 Chuyên Đề Dược<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2