BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC SÖ PHAÏM THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH

TRẦN MẠNH HÙNG

: Vaên hoïc Vieät Nam : 62 22 34 01

Chuyeân ngaønh Maõ soá

LUAÄN AÙN TIEÁN SÓ NGÖÕ VAÊN

NGÖÔØI HÖÔÙNG DAÃN KHOA HOÏC:

PGS.TS. PHUØNG QUYÙ NHAÂM

Thaønh phoá Hoà Chí Minh – 2011

LÔØI CAM ÑOAN CUÛA TAÙC GIAÛ LUAÄN AÙN

Toâi xin cam ñoan ñaây laø coâng trình nghieân cöùu cuûa rieâng toâi. Caùc soá lieäu, keát quaû

ñöôïc trình baøy trong luaän aùn naøy laø trung thöïc vaø chöa töøng ñöôïc ai coâng boá trong baát kyø

coâng trình naøo khaùc.

Taùc giaû luaän aùn

Traàn Maïnh Huøng

DANH MUÏC CAÙC CHÖÕ VIEÁT TAÉT

- Ñoàng baèng soâng Cöûu Long ( ÑBSCL)

- Nhaân vaät (NV)

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước bước sang một giai đoạn

lịch sử mới. Văn học cả nước nói chung, văn học đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói

riêng cũng có sự vận động và phát triển, kịp thời phản ánh đời sống xã hội trước yêu cầu mới

của thời đại.

1.2. Truyện ngắn ĐBSCL gắn liền với nhiều nhà văn được người đọc mến mộ như: Sơn

Nam, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức,…và gần đây là Nguyễn Ngọc Tư. Họ

viết hết mình về vùng đất nơi họ sinh ra, lớn lên và trải nghiệm suốt cả cuộc đời từ nhiều góc

độ, phương diện cảm nhận cũng như cách thể hiện.

Thật sự thì gần đây có nhiều tác giả truyện ngắn viết về ĐBSCL khá thành công và có

nhiều triển vọng sẽ đi xa hơn. Điều đó đã mở ra nhiều hướng đi mới đầy triển vọng cho văn

chương vùng ĐBSCL.

1.3. Văn học cũng đòi hỏi có sự tổng kết ở từng giai đoạn để tạo thế đi lên. Mọi phương

pháp, mọi phong cách sáng tác đều cần được khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm.

So với các thể loại văn học khác, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 phát triển nhanh về số

lượng và có những đóng góp đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật, nhất là việc thể hiện

đời sống, tâm hồn, tính cách của người ĐBSCL trong thời kỳ này.

Thế nhưng đến nay các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một số tác giả như

Sơn Nam, Trang Thế Hy, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng … và chủ yếu là những sáng tác

của họ trước 1975, và gần đây là một số công trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư.

Ngoài ra, cũng có một vài công trình nghiên cứu truyện ngắn ở một số địa phương, như

truyện ngắn An Giang, Đồng Tháp,…mà chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống,

toàn diện về truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.

Sinh ra và lớn lên ở vùng đồng bằng Bắc bộ, nhưng phần lớn cuộc đời tôi lại gắn bó sâu

nặng với ĐBSCL. Vẻ đẹp của ‘‘nắng chói chang vàng tươi lúa hát’’ và ‘‘những con người

mặt đẹp như hoa’’ (Lê Anh Xuân) cùng cái trong trẻo mát lành của một dòng sông quê đỏ

nặng phù sa, rồi tình đất, tình người, hương rừng, hương biển... Ở nơi đây đã tạo nên một

hương vị rất riêng, cũng như làm cho chúng tôi thêm gắn bó sâu nặng với vùng đất này, vừa

gần gũi, thân quen, song cũng vừa độc đáo mới mẻ đến vô chừng.

Với những lẽ trên, chúng tôi đi vào nghiên cứu vấn đề Khảo sát đặc điểm truyện ngắn

đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay.

Vẫn biết rằng muốn đạt được sự thành công ở vấn đề này, chúng tôi sẽ gặp không ít khó

khăn.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tổng hợp, đánh giá dựa trên các nguồn tư liệu

sau:

Các tham luận trong Hội thảo bàn tròn Văn xuôi đồng bằng lần thứ 1 tại thành phố Mỹ

Tho, tỉnh Tiền Giang.

Lời giới thiệu ở các Tập truyện ngắn và Tuyển tập truyện ngắn từ 1975 đến nay của các

nhà văn ở ĐBSCL.

Một số luận văn Cao học thực hiện đề tài về truyện ngắn ĐBSCL trong phạm vi một

tỉnh hoặc một tác giả cụ thể.

Trên các báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), Văn nghệ trẻ, Tạp chí Nghiên cứu văn

học, Tạp chí Nhà văn…

Trên các website như:

- http://www.vannghesongcuulong.org;http://tuoitreonline.vn

- http://www.evan.com.vn, ...

Từ những tư liệu thu thập được, chúng tôi tạm chia thành hai loại ý kiến sau:

- Ý kiến bàn về những đóng góp nổi bật của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.

- Ý kiến bàn về hạn chế của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.

2.1. Ý kiến bàn về những đóng góp của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay

2.1.1. Những đóng góp về nội dung truyện ngắn ĐBSCL

Trong bài Truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1975 đến nay - Thành tựu và

những điều trăn trở, Hoài Phương nhìn nhận:“Truyện ngắn đã có những cách tân và đạt

nhiều thành tựu đáng tự hào về nội dung lẫn hình thức thể hiện”[123]. Còn trong bài Đi tìm

‘‘chân dung’’ truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long, Võ Tấn Cường nhận xét: “Phác thảo

chân dung truyện ngắn ĐBSCL, tôi cảm nhận được tính cách con người, sắc màu văn hóa

của vùng đất này’’[24]. Trong bài Văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long: một khu vực văn xuôi

có nhiều đặc sắc, Chiêm Thành cũng đề cập đến: “tính cách con người Nam bộ trong thời

hiện đại đa diện và rất phức tạp, chứ không phải đơn giản là phóng khoáng, hào hiệp, giàu

tình nghĩa như cái nhìn bất di bất dịch của một số người”[135, tr.53]. Còn ở bài Cá tính và

bản lĩnh văn xuôi Nam bộ, Hồ Tĩnh Tâm đã chỉ ra những đóng góp của truyện ngắn ĐBSCL

từ 1975 đến nay về nội dung phản ánh: ‘‘Dựng nên bức chân dung về tâm linh, tình cảm của

con người Nam bộ trong cuộc sống. Đó là những vấn đề luôn tạo nên niềm trăn trở, thao

thức trong đời sống hôm nay như: nỗi đau sau khi chiến tranh qua đi; thân phận con người

bị rơi vào hoàn cảnh bất hạnh; khát vọng tình yêu và hạnh phúc; tự vấn lương tâm trước

những những gì đã và đang diễn ra trong cuộc sống’’[147].

Với bài Văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long - một chặng đường phát triển, tác giả đánh

giá cao một số tác phẩm có giá trị đích thực đáng được quan tâm với hai mảng đề tài lớn

trong sáng tác văn học sau 1975 là ‘‘chiến tranh cách mạng và quá trình xây dựng, đổi mới

của đất nước’’. Trong đó, vấn đề tự vấn lương tâm diễn ra xuyên suốt ở hai mảng đề tài này

“Thân phận nhân vật trong các tác phẩm thường gởi một phần cuộc đời trong chiến tranh

bom đạn, một phần thao thức vươn tới cuộc sống mới. Trong kháng chiến, văn học hướng

con người vươn tới giành chiến thắng; ngược lại thời bình, văn học rộng đường khai thác

hơn, khắc họa hình tượng con người với nhiều mối quan hệ, con người trong đời thường,

trong nghịch cảnh, bất hạnh, niềm vui và nỗi đau,…”[134, tr.57].

Trong bài Một phong vị truyện ngắn đồng bằng riêng biệt trên trang Web Văn nghệ

sông Cửu Long, Tường Vi nhận xét: “Có truyện ngắn còn đi vào tâm trạng phức tạp của

những con người thành thị, bị dằn vặt giữa những mâu thuẫn tiền tài và khát vọng tình

yêu,... hoặc câu hỏi lớn về căn bệnh quan liêu của các quan chức…Dù dưới góc nhìn nào,

các tác giả cũng mở cho nhân vật một lối thoát, chứa đựng nhân sinh quan: Cuộc sống vốn

sẽ không quá khắc nghiệt với những ai biết vươn lên và phục thiện”[195].

Còn qua bài Truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay - thành tựu và

những điều trăn trở, Hoài Phương cho rằng: ‘‘Truyện có sự vận động và phát triển rất

nhanh, đáp ứng kịp thời sự chuyển đổi của xã hội và con người sau chiến tranh. Chính nhờ

sự chuyển tải nhanh và kịp thời nhiều vấn đề bức xúc, gần gũi với đời sống xã hội, cùng với

giọng văn trầm lắng, nhẹ nhàng, tâm tình như len lỏi vào tận đáy sâu tâm hồn con

người’’[123].

Với bài Nhà văn Nguyễn Thanh - người nặng nợ văn chương, tác giả khái quát nội dung

phản ánh trong sáng tác của ông: “Truyện của ông nhiều chi tiết nhỏ nhít mà sống động lạ

lùng, đọc lên cứ như mình đang ở đó, trong hoàn cảnh đó, nói mấy câu dân dã đó…nếu ngày

xưa ông say mê xây dựng hình tượng người lính thì sau này, nhân vật của ông chủ yếu là

nông dân. Họ hào sảng, tốt bụng, nhân nghĩa nhưng phải trăn trở, day dứt rất nhiều trong

cuộc mưu sinh. Và những người phụ nữ luôn hiện ra với tất cả vẻ đẹp, cái đẹp lấp lánh từ

đau khổ, hy sinh, từ sự vùi dập…”[173, tr.29].

Trong lời giới thiệu tập truyện ngắn Bóng chiều hôm - Nguyễn Thanh, Nguyễn Thị

Thanh Xuân đưa ra nhận xét đối với cảm hứng về con người và cuộc sống ở vùng đất cực

Nam của Tổ quốc: ‘‘Cảm hứng kín đáo xuyên suốt tác phẩm của Nguyễn Thanh là cái

thường ngày của cuộc đời. Bằng một bút pháp trầm tĩnh, chân tình, đôi khi còn có phần chân

phương trong cách viết, Nguyễn Thanh đưa chúng ta đến với những cuộc sống và thế giới

tinh thần của những con người bình thường ở vùng đất cực Nam của Tổ quốc. Bằng những

chi tiết nhỏ tươi nguyên, trang viết của Nguyễn Thanh phản ánh cuộc sinh sôi thầm lặng hay

cuộn chảy ào ạt ở Cà Mau trong dịp xây dựng. Ở đó có những con người làm việc không mệt

mỏi với một ý thức lao động đẹp đẽ không hề nhân danh cho những giá trị lớn lao. Ở đó đầy

ắp tiếng cười con trẻ, tiếng sóng biển, ánh lửa đốt đồng, tiếng vịt gọi bầy, tiếng xuồng lao

trong đêm trên kênh rạch thoảng mùi bùn nồng ấm’’[133].

Bàn về Thế giới truyện ngắn Bích Ngân, Huỳnh Phan Anh nhận định: “Qua từng trang

toát ra hơi thở và nhịp đập của vùng đất thân thương nơi tận cùng của đất nước, tác giả đã

đưa người đọc đến hoặc đến gần hơn, với những mảnh đời và cảnh đời làm nên hồn đất lẫn

hồn người, hiền hoà và mãnh liệt, đã mở ra nhiều cánh cửa nhưng còn đó bao điều bí ẩn.

Ngôn ngữ và phong cách Bích Ngân in rõ những nét đặc trưng Nam bộ… Nhưng điều đáng

nói và cũng hiện rõ trong tài năng của cô là chất giọng Nam bộ vẫn in đậm trên từng trang

viết nhưng không nặng phần câu nệ hay cứng nhắc đến cường điệu trong từng câu, từng chữ

mà vẫn toát ra nét tinh tế và trữ tình riêng mở toang mọi giới hạn…Truyện ngắn Bích Ngân

thường dung dị, với những con người và cuộc sống thật bình thường, gần gũi, dễ tìm tới

nhất, dễ bắt gặp nhất…”[7].

Đánh giá về nhà văn Trang Thế Hy, Chiêm Thành trong bài văn xuôi ĐBSCL có nhiều

đặc sắc đã nhận xét: ‘‘Ông đã ý thức được sức nặng của từng con chữ - sức nặng ấy có được

là nhờ sự chiêm nghiệm về cuộc đời mà trên hết là nhờ nỗi đau đớn trong ý thức trả những

món nợ nước mắt của thế gian”[135].

Nhà văn Nguyên Ngọc cũng có nhận xét khá thú vị về Nguyễn Ngọc Tư, ông ví: “Cô

ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam bộ vậy, tươi tắn lạ

thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, đặc biệt Nam

bộ”[115].

Trong Bài học văn chương từ cánh đồng bất tận, Bùi Việt Thắng đã có những nhận xét

khá sắc sảo về nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư: “Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng biểu tượng văn

chương và ngôn ngữ văn chương, trong đó cánh đồng là một biểu tượng giàu ý nghĩa. Cánh

đồng không phải là cánh đồng mẹ, nơi lưu giữ tâm thức của cộng đồng, nơi truyền tình thân

yêu nước, là bằng chứng về sự cố kết máu thịt giữa con người và đất đai… mà là cánh đồng

chết”[144].

Nguyễn Lâm Điền - Huỳnh Hải Đăng cũng đã khái quát những dấu ấn văn hóa của

vùng đất ĐBSCL được Nguyễn Ngọc Tư thể hiện sinh động trong các truyện ngắn của chị

mà nổi bật nhất là: “Cách nhà văn miêu tả một trong những nét đẹp về đời sống tinh thần

của người ĐBSCL mà những vùng miền khác không có đó là đờn ca tài tử, cải lương”[46].

Nghiên cứu truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay (qua Tuyển tập truyện ngắn đồng

bằng sông Cửu Long 1975-1995 và Tuyển tập 18 Nhà văn đồng bằng sông Cửu Long), Trần

Mạnh Hùng cho rằng: “Cùng với sự đổi mới và phát triển của văn học Việt Nam từ sau 1975,

truyện ngắn ĐBSCL đã thể hiện được tâm hồn và tính cách của người ĐBSCL trong thời kỳ

này” và “Với hương sắc riêng, truyện ngắn ĐBSCL đã lặng lẽ góp phần làm nên vẻ đẹp đa

dạng và phong phú cho nền văn học dân tộc”...‘‘Sự mộc mạc, chân thật, bộc trực mà luôn

thắm đượm tình nghĩa” của con người nơi đây. Người đọc cũng:“nhận ra phần nào đặc

điểm nổi bật của cảnh quan địa lý, lịch sử, văn hoá và tâm hồn tính cách con người của vùng

đất này”[74, tr.702-703].

Giới thiệu về Truyện ngắn Ba tác giả nữ ĐBSCL, Nguyễn Anh Vũ có nhận xét rất chính

xác thể hiện được nét đặc trưng của thiên nhiên vùng sông nước: “Có một điều đặc biệt thú

vị khi đọc truyện ngắn của ba tác giả nữ ĐBSCL, đó là người đọc luôn bắt gặp một không

gian đầy quyến rũ và thơ mộng của vùng sông nước Cửu Long với những bờ kênh, con rạch,

với hình ảnh những miệt vườn, những cù lao xanh hút tầm mắt và những thú vui điền dã

mang đậm đặc trưng của miền đất Nam bộ”[196, tr.11].

Trong bài giới thiệu truyện ngắn trên Website Văn nghệ sông Cửu Long với tựa đề Một

phong vị đồng bằng riêng biệt, Tường Vi viết: “Tập truyện đã gợi lên cho người đọc hình

ảnh sông nước, làng quê với cảm giác nhớ nhung, khắc khoải về một vùng đất, đặc biệt là

trầm buồn trong những ngày mưa lũ,… cho người đọc những câu chuyện thú vị về một vùng

đất hào sảng, nơi có những tay “sát cá”, những buổi “ăn ong”, những vùng nước cá tôm

nhiều vô kể’’[195].

Còn ở bài Thiên nhiên và con người Nam bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Tiền

Văn Triệu nhận định: ‘‘Dòng sông và cánh đồng rộng là không gian phù hợp để những câu

hò, câu ca vọng cổ cất lên mỗi khi gặp nỗi buồn’’

Nguyễn Thanh lại có cái nhìn khái quát hơn về sự trù phú của thiên ĐBSCL: “Vốn là

một vùng châu thổ nhiệt đới, được tạo thành do phù sa Cửu Long bồi tụ…đây là vùng đất

trẻ, đất mới với điều kiện địa lý đặc thù thiên nhiên ưu đãi”[134, tr.59].

Từ những ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy, mỗi công trình nghiên cứu có cách tiếp cận

khác nhau. Hướng tiếp cận chủ yếu của các công trình trên là hướng tiếp cận nhân học và

hướng tiếp cận văn hóa học (đương nhiên không thể thiếu hướng tiếp cận ngữ văn học).

Theo những hướng tiếp cận này, các nhà nghiên cứu trên khai thác tập trung vào đặc trưng

tính cách con người và đặc trưng văn hóa mà các truyện ngắn ĐBSCL đã vẽ nên qua lăng

kính đạo đức - thẩm mỹ và cá tính của mỗi nhà văn. Nhìn chung, các công trình trên đã đề

cập đến những đóng góp nổi bật ở phương diện nội dung của truyện ngắn ĐBSCL sau 1975.

2.1.2. Những đóng góp nổi bật về nghệ thuật

Trong tham luận hội thảo Bàn tròn văn xuôi ĐBSCL, lần I, Hồ Tĩnh Tâm có nhận xét:

“Một số cây bút văn xuôi ĐBSCL đã sử dụng thành thục các giá trị đặc trưng ngôn ngữ Nam

bộ, thậm chí còn nâng cao ngôn ngữ Nam bộ lên tầm cao của ngôn ngữ nghệ thuật”[147].

Ông còn cho rằng truyện ngắn ĐBSCL đã dựng được“chân dung về tâm linh, tình cảm của

người Nam bộ đúng thứ ngôn ngữ rất thuần Nam bộ”[147].

Bàn về nghệ thuật truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay, Võ Tấn Cường cho rằng:

“Truyện ngắn ĐBSCL có diện mạo riêng với những phong cách nghệ thuật mang đậm nét

đặc điểm của văn hoá truyền thống”[24].

Nhận xét về cách viết của một số tác giả truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay, Hoài

Phương nhận định: “Đa số các nhà văn ở ĐBSCL có cách viết uyển chuyển và nhẹ nhàng

hơn, ít tuân thủ theo các kết cấu truyền thống là phải có hậu, thậm chí nhiều truyện không có

phần kết giống như một cánh cửa khép hờ. Đặc biệt, có một số tác giả đi sâu vào thế giới nội

tâm của nhân vật giúp cho người đọc cảm thấy thích thú”[123].

Nhận định về nghệ thuật sử dụng phương ngữ Nam bộ trong truyện ngắn của ba tác giả

nữ ĐBSCL, Nguyễn Anh Vũ viết: ‘‘Ngôn ngữ của vùng đất Nam bộ với những phương ngữ,

thổ ngữ độc đáo hay những đặc trưng trong lời ăn, tiếng nói của người Nam bộ luôn được sử

dụng nhuần nhị, tự nhiên trong mỗi tác phẩm đã tạo nên cho truyện ngắn của ba tác giả nữ

một bản sắc riêng, tạo ấn tượng đối với người đọc’’[196, tr.12].

Nhận xét về nghệ thuật sử dụng phương ngữ Nam bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư, Huỳnh Công Tín viết: “Nhìn từ phương diện nghệ thuật, chị đã sử dụng ngôn từ của

phương ngữ Nam bộ khá thành công trong sáng tác của mình. Điều này góp phần làm nên

một văn phong riêng ở chị. Tất nhiên có thể có người không đồng tình với những nhận định

này vì cho rằng, trong tác phẩm văn chương mà sử dụng quá nhiều từ địa phương thì sẽ gây

trở ngại cho người đọc, hạn chế độc giả. Nhưng, để có được những sáng tác phản ánh sinh

động thực tại, không gì tốt hơn là phải dùng được chất liệu ngôn từ của thực tại cần phản

ánh”[152, tr.4].

Bàn về phong cách diễn đạt của Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận, Đặng Vũ

nhận xét: “Nhà văn có lối viết truyện thật hay, không theo khuôn phép nào, cũng chẳng theo

chủ nghĩa này nọ, không gò bó, trái lại rất tự nhiên, thoải mái,“viết như chơi”[184].

Trần Phỏng Diều bàn về Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư: “Có thể

nói, thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chính là hình tượng người nghệ sỹ,

hình tượng người nông dân và hình tượng con sông đưa mình uẩn khúc, chở nặng tình

người”[31].

Còn ở bài Điểm nhìn và lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Ông Thiềm Thừ của Trần

Kim Trắc, Đỗ Thị Hiền nhận định: Truyện ngắn này “gửi đến chúng ta một thông điệp về

nhân cách con người từ góc nhìn văn hoá”[69].

Trong bài Yếu tố giọng điệu trong truyện ngắn Sơn Nam, Trần Phỏng Diều nhận xét:

“Điều dễ nhận thấy nhất trong giọng điệu truyện ngắn Sơn Nam đó là giọng ngậm ngùi,

giọng tâm tình, hoài niệm, giọng rề rà, chậm rãi. Có thể nói giọng rề rà, chậm rãi là một đặc

trưng trong truyện ngắn của ông...”[30].

Bàn về phong cách Sơn Nam, có ý kiến cho rằng: ‘‘Văn Sơn Nam không ồn ào như gió

chướng, lại không trong veo như nước cất trong phòng thí nghiệm, mà nó là thứ nước chất

lỏng hồng hào có tên phù sa, chỉ cần vốc lên đã thấy mỡ màu cả bàn tay... Những cảnh,

những đời, những tâm sự của ông dù với tính cách hảo hớn, hào hùng nhất, sảng khoái và

chịu chơi nhất bao giờ cũng pha một giọng kể trầm buồn, u hoài, xa vắng’’[58].

Ở bài Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đậm sâu một phong cách Nam Bộ, Trần Vệ Giang

đã viết: “Không phải kiểu Nam bộ quê rặt, địa phương tính, văn chương của Nguyễn Quang

Sáng có cái hơi thở đồng bằng, phù sa dòng sông, cái khoáng đạt, giản đơn của con người

miền sông nước. Và quan trọng hơn hết là, ông thâu tóm vào tác phẩm cái hồn cốt Nam

bộ”[187].

Ngoài các công trình đã đề cập trên đây, trong các trường đại học ở khu vực và thành

phố Hồ Chí Minh sinh viên, học viên cao học ngành ngữ văn đã thực hiện luận văn với đề tài

về truyện ngắn ĐBSCL sau 1975. Trong số đó đáng chú ý là đề tài Thế giới nhân vật trong

truyện ngắn Đồng Tháp giai đoạn 1975 đến 2005 (Luận văn thạc sĩ - Nguyễn Anh Dân). Tác

giả luận văn đã phát hiện sự đa dạng, phong phú của thế giới nhân vật, sự đặc sắc trong nghệ

thuật xây dựng nhân vật của truyện ngắn Đồng Tháp trong cách thể hiện xung đột, sự kiện,

trong lựa chọn chi tiết và sử dụng ngôn ngữ… Đề tài Những đặc điểm nổi bật của truyện

ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Luận văn thạc sĩ - Nguyễn Thị Thu Thuỷ) là một công trình nghiên

cứu công phu và nghiêm túc về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Tác giả luận văn khẳng định:

‘‘Mọi sự ồn ào rồi sẽ qua đi, những giá trị đích thực sẽ ở lại, có thể nói Nguyễn Ngọc Tư là

gương mặt của văn học Việt Nam đương đại, chất nhân văn trong sáng tác của chị là điều

làm đọc giả say mê và thích thú. Phải chăng đó là do tình nhân ái, tính nhân bản là gốc rễ

phẩm chất của một nhà văn tài năng’’...

Nhìn chung, các ý kiến đã chỉ ra được một số đóng góp ở phương diện nghệ thuật như

phong cách, thị hiếu thẩm mỹ, giọng điệu, ngôn ngữ truyện,... đặc biệt nghệ thuật sử dụng

phương ngữ Nam bộ trong tác phẩm. Vốn ngôn từ địa phương dưới bàn tay nhào nặn, sắp đặt

câu chữ khéo léo của nhà văn đã góp phần quan trọng cho thành công về mặt nghệ thuật của

các nhà văn ĐBSCL.

2.2. Bàn về hạn chế của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay

Trong bài Đi tìm‘‘chân dung’’ truyên ngắn ĐBSCL, Võ Tấn Cường nhận xét về sự hạn

chế trong việc xây dựng nhân vật và phong cách diễn đạt: “Đọc hàng trăm truyện ngắn

ĐBSCL, tôi nhận ra sự đóng băng trong việc miêu tả tâm lý, tính cách nhân vật của một số

tác giả... Truyện ngắn ĐBSCL chưa có nhiều tác phẩm tạo dựng được những điển hình nhân

vật có tầm nhìn, có khả năng ý thức về cái tôi của con người trong mối quan hệ với cuộc đời

và vũ trụ. Các nhà văn chưa đào sâu vào miền bí ẩn của tâm linh con người với nhưng xung

đột giữa cái thiện và cái ác, giữa cao thượng và thấp hèn... Các nhà văn ĐBSCL chưa xây

dựng được những nhân vật có tính cách, tầm vóc ngang tầm hoặc cao hơn những người mẫu

trong cuộc sống. Hầu hết các truyện ngắn viết theo lối kể chuyện truyền thống, nhịp điệu và

mạch truyện chậm thiếu độ căng về cấu trúc’’[24, tr.14].

Cũng trong bài Đi tìm ‘‘chân dung’’ truyện ngắn ĐBSCL, khi bàn về ngôn ngữ truyện,

Võ Tấn Cường có những nhận xét khá thẳng thắn: ‘‘Ngôn ngữ kể chuyện trong nhiều truyện

ngắn pha tạp nhiều khẩu ngữ, thiếu sự gọt giũa, chắt lọc....’’[24, tr.14].

Bàn về phong cách diễn đạt của Nguyễn Ngọc Tư, Bùi Việt Thắng nhận xét: “Văn viết

Nguyễn Ngọc Tư gần với văn nói”[146].

Trong bài Bàn tròn văn xuôi ĐBSCL khi nhìn nhận về hạn chế của truyện ngắn, nhà văn

Nguyễn Ngọc Tư đã dẫn ý kiến của Nguyên Tùng: ‘‘Thừa tả thực mà thiếu tưởng tượng.

Truyện ngắn của các tác giả ĐBSCL chúng ta dễ gây cho người đọc cảm giác: ‘‘Đó là câu

chuyện có thật’’. ‘‘Nguyên liệu thô’’ còn đan bện quá nhiều trong tác phẩm hư cấu. Chính

điều này đã làm giảm sự hứng thú cho người đọc...’’[147, tr.41].

Nhìn chung các nghiên cứu về truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 đều có được những tìm

tòi, khám phá đáng quý, đáng trân trọng. Lẽ dĩ nhiên công trình của chúng tôi sẽ được thừa

hưởng nhiều ý kiến quý báu mà các nghiên cứu trước đó đã gợi ra hoặc khẳng định. Trên cơ

sở đó, chúng tôi có điều kiện để đi sâu hơn, phát hiện thêm những điều mới mẻ về truyện

ngắn ĐBSCL sau năm 1975.

3. Mục đích nghiên cứu

Văn chương nói chung, truyện ngắn nói riêng cũng đòi hỏi có sự tổng kết ở từng giai

đoạn. Vì vậy, khi thực hiện đề tài Khảo sát đặc điểm truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long

từ 1975 đến nay, chúng tôi có điều kiện tiếp cận toàn diện vấn đề. Qua đó, luận án làm rõ

quan niệm truyện ngắn về ĐBSCL cũng như nhận diện diện mạo, sự vận động và những đặc

điểm chủ yếu của thể loại này.

4. Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu

Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian từ 1975, vì đây là năm đánh dấu sự chuyển biến

lớn lao của đất nước. Văn học nói chung, văn học ĐBSCL cũng bắt đầu vận động theo qui

luật đời thường.

So với các thể loại khác, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, có bước phát triển nhanh cả

về số lượng và chất lượng. Vì vậy, luận án chọn thể loại truyện ngắn để khảo sát. Cụ thể các

tuyển tập sau:

- Tuyển tập truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 - 1995, Nhà xuất bản

Hội Nhà văn.

- Tuyển tập 18 Nhà văn đồng bằng sông Cửu Long, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau.

- Truyện ngắn Ba tác giả nữ đồng bằng sông Cửu Long, Nhà xuất bản Văn học.

- Truyện ngắn miền Tây, Nhà xuất bản Trẻ Tp. Hồ Chí Minh.

- Truyện ngắn Đồng Tháp, An Giang và truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.

Nghiên cứu văn học phạm vi một vùng lãnh thổ, do vậy, ngoài khảo sát truyện ngắn

của tác giả truyện ngắn ĐBSCL là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, chúng tôi còn chọn khảo

sát truyện ngắn của tác giả là hội viên Hội Văn học - Nghệ thuật ở các địa phương, để có cái

nhìn toàn diện hơn về diện mạo cũng sự vận động của thể loại truyện ngắn ở ĐBSCL từ 1975

đến nay.

Bên cạnh đó, luận án còn mở rộng phạm vi khảo sát một số truyện ngắn ĐBSCL

trước năm 1975 và ở vùng miền khác để có cơ sở đối chiếu, so sánh góp phần làm rõ hơn

những nét riêng của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.

Chọn vấn đề Khảo sát truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay, chúng tôi đã tiếp cận với

một đối tượng khá rộng và chưa ổn định. Vì vậy, luận án chỉ khảo sát những vấn đề chủ yếu

về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.

5. Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi xuất phát từ quan điểm Mác - xít để nhìn nhận và lí giải mối quan hệ giữa

thực tiễn đời sống ở ĐBSCL với cảm hứng sáng tạo nghệ thuật và những vấn đề được các

nhà văn phản ảnh trong tác phẩm; đồng thời, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên

cứu sau:

5.1. Phương pháp hệ thống

Nghiên cứu truyện ngắn ĐBSCL phải đặt trong sự vận động phát triển của truyện ngắn

Việt Nam sau 1975, và bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá của vùng ĐBSCL.

5.2. Phương pháp loại hình

Với phương pháp này, luận án tìm hiểu đặc điểm của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến

nay dựa trên những đặc trưng của thể loại truyện ngắn.

5.3. Phương pháp miêu tả, so sánh

Để làm rõ diện mạo và đặc điểm riêng của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.

5.4. Phương pháp liên ngành

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài có sự liên quan chặt chẽ đến vấn đề và lịch

sử, xã hội, văn hoá và địa lý tự nhiên của vùng đất Nam bộ, vì vậy sự kết hợp phương pháp

nghiên cứu liên ngành giữa các lĩnh vực là sự cần thiết.

6. Những đóng góp của luận án

6.1. Về giá trị khoa học

Đóng góp của luận án là làm rõ quan niệm về truyện ngắn ĐBSCL, cũng như nhận diện

diện mạo, sự vận động và đặc điểm chủ yếu của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.

6.2. Về giá trị thực tiễn

Chúng tôi hi vọng luận án phần nào sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà

nghiên cứu và những ai quan tâm đến truyện ngắn ĐBSCL sau 1975.

Mặt khác, kết quả luận án đạt được có thể là cơ sở cho các nhà biên soạn lựa chọn được

những truyện ngắn ĐBSCL tiêu biểu để đưa vào sách giáo khoa hoặc tài liệu tham khảo phục

vụ cho giảng dạy và nghiên cứu môn văn học ở bậc học phổ thông và đại học.

7. Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án có ba chương:

Chương 1: Nhìn chung về truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay.

Chương 2: Những cảm hứng trong truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến

nay.

Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật của truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long

từ 1975 đến nay.

Chương 1

NHÌN CHUNG VỀ TRUYỆN NGẮN

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ 1975 ĐẾN NAY

1.1.Vài nét về lịch sử, xã hội và văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long

1.1.1. Vài nét về lịch sử, xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long

Nam bộ bao gồm hai vùng đất có nét riêng là Đông Nam bộ và Tây Nam bộ - Đồng

bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Theo Mạc Đường, trong bài viết: Vấn đề dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long

thì ‘‘Khái niệm ‘‘đồng bằng sông Cửu Long’’ được phổ dụng rộng rãi từ sau chiến tranh thế

giới lần thứ hai cho đến nay. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất miền Tây Nam Bộ, là

nơi có sông Tiền, sông Hậu và các chi lưu nhỏ của sông Mêcông chảy ra biển mà nhân dân

ta từ xưa quan niệm là chín rồng (Cửu Long) phun nước để tưới vùng đất đai này’’[162,

tr.54].

ĐBSCL là vùng đất tiếp nối địa hình bán sơn địa với một đồng bằng châu thổ phẳng và thấp. Với diện tích khoảng 39.568 km2, ĐBSCL gồm 13 tỉnh thành: An Giang, Bạc Liêu, Bến

Tre, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Trà

Vinh, và thành phố Cần Thơ, với dân số trên 21 triệu người, nơi đây:

Ruộng đồng mặc sức chim bay

Biển bờ lai láng, cá bầy đua bơi

Nói đến ĐBSCL là nói đến một thực tại lịch sử - lịch sử khai phá vùng đất đất Nam bộ

nói chung và ĐBSCL nói riêng. Trước thế kỷ XVII, vùng đất này ngủ yên trong vẻ hoang sơ

u tịch, với dân số bản địa ít ỏi và thưa thớt. Sang thế kỷ XVII, dưới thời các Chúa Nguyễn cư

dân người Việt ở miệt ngoài di cư vào đây lập nghiệp khai phá. Và thực dân Pháp tiếp nối

tiếp nối quá trình đó trong chính sách khai thác thuộc địa.

ĐBSCL trong suốt tiến trình lịch sử của mình luôn trải qua những biến cố liên quan đến

vận mệnh của cả dân tộc.

Điểm đặc trưng nhất khi nói đến ĐBSCL là người ta dễ dàng liên tưởng đến một vùng

sông nước. Ở đây những dòng sông xẻ ngang, xẻ dọc, những con rạch chằng chịt ôm lấy

những cánh đồng lúa bao la, ôm lấy xóm ấp tạo nên một hình thái giao thông hết sức đa

dạng. ĐBSCL được coi là vương quốc của sông rạch. Chính vì vậy mà người dân miền Tây

có thể ngồi trên ghe đi khắp vùng đồng bằng, qua các thành phố, thị trấn, xóm ấp, miệt

vườn... mà không phải đặt chân lên bờ. Các hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày của

người dân luôn gắn bó với mọi biến động của dòng nước, của con nước. Nếu ngoài Bắc

người dân bám lấy mặt đường để làm ăn buôn bán, ở ĐBSCL người dân bám lấy mặt sông,

mặt kênh mà sinh sống. Có chỗ một dãy dài vài ba cây số, dân làm nhà chen chúc hai bờ

sông, sàn nhà mấp mé mặt nước. Nhà nào cũng hướng ra mặt sông, mở cửa là bước xuống

xuồng. Sông rạch ở đây còn đem phù xa nước ngọt bồi đắp, tưới mát cho những miệt vườn

đầy ắp trái cây, những cánh đồng lúa tươi tốt và cá tôm nhiều vô kể. Dường như con người

nơi đây đã gắn chặt cuộc đời mình với sông nước, nơi nào có sông, rạch là có ghe, xuồng. Có

chiếc ghe để làm ăn sinh sống là là nhu cầu và ước vọng của người dân. Nhiều gia đình đời

này qua đời khác lập nghiệp bằng chiếc ghe, coi nó như ngôi nhà của mình. Nhiều ghe

thuyền tụ lại tạo nên khu dân cư nổi, chợ nổi trên sông.

Người xưa đã nói Thiên - Địa - Nhân hợp nhất, nghĩa là trời, đất, con người luôn có mối

giao kết liên quan đến nhau. Vùng đất, thời tiết nào con người ở đó có phong cách, sắc thái

riêng của vùng đó, nó cũng như trái cây, con vật đặc sản ấy.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, ĐBSCL cùng cả nước hân hoan mừng chiến thắng. Thế

nhưng vết thương chiến tranh chưa lành, người dân các tỉnh biên giới lại phải đối đầu với

chiến tranh biên giới Tây Nam. Bên cạnh đó là muôn vàn khó khăn khác : nền kinh tế nghèo

nàn lạc hậu, nhiều vùng nông thôn bị hoang hoá, công nghiệp không đáng kể, nạn thiếu ăn

xảy ra nghiêm trọng, rồi lũ lụt, dịch bệnh... Nhưng với ý chí quyết tâm và tinh thần không sợ

gian khổ, người dân ĐBSCL từng bước tạo nên những thành tựu rất đáng tự hào trên nhiều

lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hoá xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

từng bước được cải thiện, trình độ dân trí được nâng lên.

Sau ngày giải phóng ĐBSCL các Đài truyền thanh huyện, thị; Báo, Đài phát thanh -

truyền hình tỉnh, thành phố đi vào hoạt động, kịp thời phục vụ đời sống tinh thần cho các

tầng lớp nhân dân trong vùng. Các Hội văn học nghệ thuật, Tạp chí văn nghệ là nơi phát

hiện, đào tạo đội ngũ sáng tác và giới thiệu tác phẩm của họ đến công chúng.

Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, các lĩnh vực văn hoá, xã hội, đời sống có

những biến chuyển khá rõ nét. Phong trào văn nghệ quần chúng được duy trì và chất lượng

hoạt động ngày càng được nâng cao. Các lễ hội truyền thống được khôi phục có chọn lọc,

phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Các loại hình hoạt động văn hoá truyền thống như

đờn ca tài tử, sân khấu cải lương cũng được duy trì và phát triển ở nhiều địa phương.

1.1.2. Vài nét về văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long

Nhà nhiên cứu văn hoá Ngô Đức Thịnh chia đất nước ta thành bảy vùng văn hoá, trong

đó văn hoá Nam bộ là vùng thứ bảy và có đặc điểm là vùng đất mới. Việc phân vùng văn

hoá được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa văn hoá lịch sử và địa lý của một vùng và gọi

tắt là vùng văn hoá. ‘‘Vùng văn hoá là một vùng lãnh thổ, có những tương đồng về hoàn

cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu có mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử có những

tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã trải qua các mối quan hệ giao

lưu, ảnh hưởng văn hoá qua lại mật thiết, nên từ lâu đã hình thành những sắc thái văn hoá

chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, có thể phân biệt với

những vùng văn hoá khác’’[150, tr.64]. Trong mỗi vùng như vậy lại có những tiểu vùng và

có những đặc trưng riêng lẻ.‘‘Vùng văn hoá Nam bộ, xét trên cả phương diện địa lý và lịch

sử, đều là vùng thứ bảy và có ba tiểu vùng Đông Nam bộ, Tây Nam bộ và tiểu vùng Sài Gòn

- Gia định’’[154, tr.17].

Điều kiện địa lý và lịch sử làm cho ĐBSCL có những nét đáng lưu ý về mặt văn hoá.

Đây là nơi cộng cư của nhiều tộc người như Việt, Hoa, Khmer, Chăm trong đó người Việt

đóng vai trò chính. Ngay người Việt cũng là dân ‘‘tứ chiếng’’ gồm nhiều lớp người với nhiều

nguyên nhân từ Bắc và Trung bộ hội nhập về đây. Cho nên, đây là nơi diễn ra quá trình giao

lưu văn hoá giữa các tộc người, là vùng văn hoá với nhiều sắc thái đặc trưng. Những người

Việt đầu tiên đến định cư ở vùng đất mới đều từ miền Bắc và miền Trung. Họ đến và mang

theo vốn văn hóa gốc rễ của mình. Bốn nguồn văn hóa cộng lại thành một nền văn hóa cộng

cư đặc trưng của ĐBSCL trong nền văn hóa Việt Nam. Đó là một nền văn hóa vô cùng

phong phú và lạ lẫm. Nếu người Việt có những làn điệu cải lương hay những câu hò, điệu lý

thì người Khmer lại thể hiện bản sắc của mình trong điệu múa roăm - vuông, hát đối đáp

Aday hay nhịp trống Chay - dăm. Nếu người Chăm có những hoạt động nghệ thuật sôi động

trong những ngày kết thúc tháng Ramada sinh nhật Muhamed hoặc các dịp hôn nhân cưới

hỏi thì người Hoa lại góp vào đời sống văn hóa Nam bộ những câu hát Tiêu, hát Quảng...

Nhưng sức hấp dẫn mãnh liệt nhất của mảnh đất này vẫn là những trang sử đấu tranh

chói lọi thể hiện tinh thần bất khuất và ý chí quật cường của những người nông dân lưu tán

“từ thửa mang gươm đi mở cõi” để chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt trên vùng đất

“muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lền như bánh canh”.

ĐBSCL cũng là vùng đất hội nhập nhiều luồng văn hóa Đông - Tây khác nhau nên cốt

cách con người và nghệ thuật hấp thu được những sắc thái và linh khí của văn hóa các dân

tộc. Quá trình đó đã bồi đắp nên những giá trị nhân văn, hình thành những giá trị văn hoá

mang sắc thái riêng cho vùng đất này.

ĐBSCL còn là khu vực sinh thái và địa lý có sức hấp dẫn mạnh mẽ bởi cảnh quan thiên

nhiên của vùng sông nước. Vì thế đặc điểm nổi bật của văn hoá ĐBSCL là văn hoá sông

nước. Điều này được thể hiện qua tập quán, các lễ hội về nước và đặc biệt là ngôn ngữ giao

tiếp có liên quan đến sông, rạch.

Các tộc người ở ĐBSCL chủ yếu sống bằng nông nghiệp. Trong công cuộc khẩn hoang

để khai phá đất đai và phát triển nghề trồng lúa nước cũng như trong cuộc sống, ảnh hưởng

và giao lưu văn hóa giữa các tộc người diễn ra thường xuyên. Từ công cụ sản xuất, nhà ở đến

cách ăn mặc, nếp sống, lễ nghi...đều có thể tìm thấy sự đan xen giữa các truyền thống văn

hóa. Trong quá trình đó, người Việt cũng tiếp nhận các yếu tố văn hóa Khmer. Chiếc khăn

rằn của người Khmer Nam bộ đã trở nên phổ biến và trở thành một biểu tượng quen thuộc

của người Nam bộ.

Cuộc sống, sinh hoạt của người dân miền Tây đơn giản, gắn với địa hình sông nước.

Văn hoá ăn, mặc, ở, đi lại,...cũng mang đặc thù riêng và phù hợp, hài hòa với môi trường

sinh thái tự nhiên. Vùng cao thì cất nhà trệt, vùng ngập lụt thì cất nhà sàn. Món ăn quen

thuộc của người dân ĐBSCL là canh chua cá đồng nấu với bông điên điển, bông súng, bông

lục bình..., mắm kho, chuột khìa, cá lóc nướng trui, rắn hầm nước dừa, rùa rang muối, cá linh

nhúng giấm,...các món cá khô nổi tiếng như khô lóc, khô sặc rằn trộn với xoài bằm, khô cá

kèo, cá khoai thì chấm nước mắm me... Xuồng, ghe là phương tiện di chuyển phổ biến và

thuận tiện của người dân vùng sông nước. Vì vậy, hình ảnh chiếc xuồng ba lá là một biểu

tượng văn hóa vùng sông nước. Nếu trang phục truyền thống của người miền Bắc là áo tứ

thân thì Nam bộ là áo bà ba. Hình ảnh chiếc áo bà ba đã đi vào âm nhạc, văn chương, trở

thành biểu tượng của văn hóa mặc Nam bộ. Đối với vùng ĐBSCL, chợ nổi không đơn thuần

là nơi buôn bán trao đổi hàng hóa mà đã trở thành nét văn hóa riêng của vùng sông nước.

Bàn tới văn hoá vùng đất này, chúng ta không thể không nói tới tính cách Nam bộ. Sơn

Nam, Trịnh Hoài Đức khi bàn về tính cách người khẩn khoang ở vùng đất phương Nam

hoang sơ và khắc nghiệt, đã dùng cụm từ ‘‘sĩ khí hiên ngang’’ để chỉ những con người ‘‘kiến

nghĩ bất vi vô dõng giả’’, chuộng công bằng lẽ phải’’[104]. Trong cuốn Văn hoá vùng và

phân vùng văn hoá ở Việt Nam có nhận xét về con người Nam bộ ‘‘Họ cởi mở, chan hoà, dễ

kết thân, dễ hoà vào cộng đồng mới lạ, không sĩ diện kiểu kẻ sĩ, không coi trọng môn đăng

hậu đối’’[154, tr.50]. Dương Hoàng Lộc nhìn nhận con người Nam bộ ở tính khoan dung:

‘‘Người Việt đến từ một nền văn hoá nông nghiệp lúa nước lâu đời,... tinh thần tương trợ,

thương yêu, nhân ái và thấm đượm tính khoan dung hết sức nhân bản của 4000 năm văn hoá

dân tộc’’[92, tr.69].

Tính cách Nam bộ là một khía cạnh văn hoá ứng xử và để lại dấu ấn rõ rệt trong mọi

mặt đời sống văn hoá. Ở vùng đất mới, người dân phải trải qua biết bao khó khăn gian khổ

trong cuộc sống. Vì thế, ngay từ buổi đầu gặp gỡ, họ đã biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ

nhau trong cuộc sống. Mối quan hệ giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên trở

nên gắn bó chặt chẽ hơn. Mặt khác, sống trong điều kiện sông nước mênh mông, nhiều kênh

rạch, không bị giới hạn bởi sự ngăn cách từ đó hình thành nếp sống, cách cư xử, nét sinh

hoạt và một phần tính cách con người ĐBSCL. Lưu dân người Việt ở vùng đất này đa số

xuất thân từ những gia cảnh nghèo khó, ít chữ nghĩa. Hơn nữa, khi vào vùng đất mới, họ

cũng ít chịu ảnh hưởng của nho giáo, không rành ngôn ngữ thánh hiền, không quen dùng văn

chương hoa mỹ, thích nói ngắn gọn, nôm na dễ hiểu... Đặc điểm riêng đặc sắc đó của mỗi tộc

người ngày một phát triển và hội nhập vào nhau tạo nên nét đặc trưng không dễ trộn lẫn của

văn hóa vùng Nam bộ, tạo nên tính cách chung của con người Nam bộ trọng nghĩa, khinh tài,

phóng khoáng và hiếu khách... Và vượt lên trên tất cả là từ rất sớm các cộng đồng cư dân

Nam bộ đã có truyền thống đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau, không phân biệt người đến trước,

người đến sau, không kỳ thị dân tộc. Truyền thống quý báu này được hình thành và phát triển

trong nhiều thế kỷ. Càng đi sâu, ta càng thấy thú vị và đầy cảm hứng văn chương. Người

Nam bộ cũng để lại sắc thái rất riêng biệt trong cách diễn xướng dân gian theo kiểu nói nói

như nói vè, nói thơ, nói tuồng... Họ còn được biết đến là những con người yêu thích âm nhạc

và ca hát. Đặc biệt là sân khấu cải lương, hát bội, đờn ca tài tử.

Có thể nói người Nam bộ trong lịch sử là người ‘‘mang gươm đi mở cõi’’, trong kháng

chiến chống giặc ngoại xâm có ‘‘hào khí Đồng Nai’’, trong hiện tại, cung cách làm ăn của

người Nam bộ thoáng hơn, cởi mở và năng động chắc chắn sẽ là con người đóng góp sáng

tạo cho sự nghiệp xây dựng và bảo về đất nước.

Ngoài ra, nói tới sắc thái văn hoá Nam bộ, chúng ta không thể không nói tới ngôn ngữ -

tiếng Nam bộ. Đó là phương ngữ Nam bộ được hình thành trong quá trình người Việt đến

khẩn hoang đồng bằng Nam bộ. Nó thu hút vào mình ngôn ngữ của những con người từ

muôn nơi lưu lạc đến, nhưng đồng thời cũng sản sinh và phản ánh thế giới tự nhiên và con

người nơi vùng đất mới với bao màu sắc mới mẻ và đa dạng.

ĐBSCL là mảnh đất màu mỡ, trù phú phía Nam của Tổ quốc. Hành trang tinh thần của

người Việt về phương Nam có cả truyền thống thượng võ và cả nét hào hoa của lịch sử 4000

năm văn hiến. ĐBSCL là vùng đất trẻ, văn hoá vùng đất này dù đã được hình thành trong

một thời gian dài nhưng vẫn đang ngày được định hình rõ nét hơn.

Tóm lại, từ bối cảnh lịch sử - xã hội - văn hoá, luận án có thêm cơ sở để làm rõ diện

mạo cũng như những đặc điểm nổi bật về cả hai phương diện nội dung và hình thức của

truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.

1.2. Quan niệm về truyện ngắn và truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long

1.2.1. Quan niệm về truyện ngắn

Truyện ngắn là gì? Đó là một câu hỏi rất khó trả lời để có thể làm vừa lòng tất cả mọi

người. Khi xác định nội hàm khái niệm truyện ngắn, các nhà nghiên cứu đã đặt truyện ngắn

trong mối quan hệ với các thể loại tự sự khác. Cách làm phổ biến là so sánh truyện ngắn với

tiểu thuyết. Về cơ bản, truyện ngắn và tiểu thuyết có những đặc điểm giống nhau. Phân tích

600 truyện ngắn và 300 tiểu thuyết, Helmut Bonhein đã đưa ra kết luận: “Không có yếu tố

đơn lẻ nào trong nhiều định nghĩa truyện ngắn mà không thể tìm thấy trong tiểu thuyết”[43,

tr.420]. Đứng trên quan điểm này, Norman Friedman, một nhà lý luận tầm cỡ về thể loại

truyện ngắn cũng nhận định: “Quá trình quy nạp là thu thập một mẫu đúng về những gì

được coi là truyện ngắn để kiểm tra đặc điểm của chúng trong mẫu đó và so sánh những đặc

điểm này với những đặc điểm lấy ra từ mẫu đúng của tiểu thuyết”[43, tr.420]. Và Friedman

cũng cho rằng :“Có thể không có sự khác biệt nào giữa truyện ngắn và tiểu thuyết (từ những

yếu tố bề ngoài về độ ngắn dài); hoặc có thể kết quả tốt hơn, đó là sự khác biệt về cấp độ

chứ không phải về chủng loại”[43, tr.421]. Hay nói khác hơn, ông đã chỉ ra:“Truyện ngắn

chỉ khác tiểu thuyết ở quy mô của hành động và cách thể hiện hành động ở mức độ dài ngắn

(tức là khác biệt về cấp độ) chứ không có sự khác nhau về thể loại (vì cũng là hình thức tự sự

hư cấu bằng văn xuôi)”[43, tr.421]. Như vậy, theo quan niệm của Friedman, nếu so sánh

truyện ngắn với tiểu thuyết ta sẽ thấy một trong những sự khác biệt giữa cốt truyện của

truyện ngắn và cốt truyện của tiểu thuyết không phải là sự khác biệt về tầm cỡ lớn nhỏ của

các hành động mà là trong cái cách trình bày các hành động đó: toàn bộ hay tóm tắt. Một

truyện có thể ngắn không phải vì hành động của nó vốn nhỏ mà chủ yếu quy mô được rút

gọn, tóm tắt, trình bày một cách cô đọng. Trong khi đó quy mô được mở rộng trong tiểu

thuyết miêu tả toàn bộ sự việc đang được trình bày trực tiếp và cụ thể ngay từ khi hành động

bắt đầu diễn ra. Đi theo hướng nghiên cứu này, Ruby.V. Redinger đã đưa ra quan điểm của

mình như sau: “Truyện ngắn là một hình thức văn học, bản chất của nó bao hàm trong

những từ làm thành phần tạo nên tên gọi của nó. Với tư cách là một câu chuyện, nó kể lại

một chuỗi sự kiện hoặc một biến cố liên quan đến con người trong hoạt động thể chất hoặc

tinh thần. Vì thế, giống mọi hình thức văn xuôi hư cấu khác, nó mô tả bằng ngôn từ và thành

công của nó phụ thuộc vào sự tiếp xúc trực tiếp đạt được giữa người đọc và đối tượng miêu

tả. Với tư cách là truyện ngắn, dĩ nhiên, nó không thể thực hiện mối tiếp xúc trực tiếp này

bởi các phương tiện phổ biến đối với tiểu thuyết, như là xây dựng nhân vật chậm rãi, miêu tả

thật chi tiết và lặp lại. Đặc biệt là nó phải miêu tả với độ nhanh nhạy và trọn vẹn giống như

một tấm gương”[17, tr.19]. Dễ nhận thấy trong quan niệm truyện ngắn của Redinger cũng

như Friedman, các nhà lý luận đã lưu ý đến đặc trưng ngắn của thể loại này khi so sánh nó

với tiểu thuyết. Song tiêu chí này thực sự có quan trọng không? Rõ ràng trong định nghĩa

truyện ngắn của Ruby V. Redinger đã cho thấy truyện ngắn không thể lệ thuộc vào tiểu

thuyết về mặt kỹ thuật, nguyên tắc phản ánh… nên việc tìm hiểu truyện ngắn không thể chỉ

dừng lại ở đặc điểm hình thức bên ngoài độ ngắn dài, số lượng từ mà phải xuất phát từ chính

đặc trưng thể loại. Đồng quan điểm với Redinger, các nhà nghiên cứu thực sự xem trọng tiêu

chí này khi đưa ra những quan niệm khác nhau về truyện ngắn.

Nhà văn Nga K.Pauxtopxki đưa ra định nghĩa: “Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ

rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện ra như

một cái gì bình thường và cái gì bình thường hiện ra như một cái không bình thường”[43,

tr.404].

Giáo sư văn học người Pháp D.Grojnowski viết: “Truyện ngắn là một thể loại muôn

hình muôn vẻ biến đổi không cùng. Nó là một vật biến hoá như quả chanh của lọ lem. Biến

hoá về khuôn khổ ba dòng hoặc ba mươi trang. Biến hoá về kiểu loại, tình cảm, trào phúng,

kỳ ảo hướng về biến cố có thật hoặc tưởng tượng hoặc phóng túng. Biến hoá về nội dung

thay đổi vô cùng tận. Muốn có chất liệu để kể, cần một cái gì đó xảy ra, dù đó là một thay

đổi chút xíu về sự cân bằng về các mối quan hệ. Trong thế giới của truyện ngắn, cái gì cũng

thành biến cố. Thậm chí sự thiếu vắng tình tiết diễn biến cũng gây hiệu quả, vì nó làm cho sự

chờ đợi bị hụt hẫng”[6, tr.79].

Nhà lí luận văn học N.A.Gulaiep quan niệm: “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ,

trong đó nó khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn tập trung mô tả một sự kiện nào đó

thường xảy ra trong đời của một nhân vật, hơn nữa thường bộc lộ một nét nào đó của nhân

vật”[110, tr.146].

Như vậy, qua quan niệm về truyện ngắn của một số nhà nghiên cứu nước ngoài, cho

thấy ưu thế lớn nhất của thể loại này là với dung lượng ít nhưng có thể truyền tải được một

nội dung tư tưởng lớn. Mỗi nhà nghiên cứu đều có lý lẽ và cách lý giải khác nhau nhưng các

quan niệm trên cũng có phần giống nhau. Đại đa số đều cho rằng, truyện ngắn là một cách

nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính chất thể loại. Khác với tiểu

thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện

ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phác họa một nét bản chất trong quan

hệ nhân sinh trong đời sống tâm hồn con người.

Các nhà văn và nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng có những ý kiến khác nhau về truyện

ngắn:

Đứng trên quan điểm là nhà văn, Nguyên Ngọc xác nhận: “Truyện ngắn là một bộ

phận của tiểu thuyết nói chung” vì thế “không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào

những khuôn mẫu gò bó. Truyện ngắn vốn nhiều vẻ có chuyện viết về cả một đời người, lại

có chuyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua”[144, tr.27].

Còn nhà văn Nguyễn Kiên cho rằng: “Mỗi truyện ngắn là một trường hợp… Trong

quan hệ giữa con người và đời sống, có những khoảnh khắc nào đó, một mối quan hệ nào đó

được bộc lộ. Truyện ngắn phải nắm bắt được cái trường hợp ấy. Trường hợp ở đây là một

màn kịch chớp nhoáng, có khi là một trạng thái tâm lý, một biến chuyển tình cảm kéo dài

chậm rãi trong nhiều ngày. Nhưng nhìn chung thì vẫn có thể gọi là một trường hợp”[144,

tr.19]. Như vậy, trong cách diễn đạt của nhà văn Nguyễn Kiên, chúng ta thấy cụm từ “một

trường hợp” đã thể hiện rõ tính chất của truyện ngắn: một chỉ khối lượng của tác phẩm,

nghĩa là dung lượng của nó quy định trong số ít; còn “trường hợp” chỉ ý nghĩa điển hình của

sự vật, sự việc, tình huống. Khi quan niệm truyện ngắn là một trường hợp có nghĩa là nhà

văn đã vận dụng toàn bộ kinh nghiệm sống và bản lĩnh nghệ thuật để soi sáng đời sống tại

những thời khắc tiêu biểu và từ đó vạch ra được bản chất quy luật của đối tượng phản ánh.

Vương Trí Nhàn cho rằng: ‘‘Truyện ngắn là một tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ dung lượng

hạn chế, phải nói là nhỏ hơn hẳn so với thể loại khác là truyện vừa và tiểu thuyết’’[110].

Tác giả Từ điển Văn học cũng đưa ra cách nhìn nhận, xác định khái niệm truyện ngắn

và trước tiên cũng khẳng định đây là hình thức tự sự loại nhỏ thường được viết bằng văn

xuôi. Bên cạnh đó, công trình này đi sâu vào những nét đặc trưng làm cho truyện ngắn khác

với các thể loại tự sự khác như sau:“Truyện ngắn tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống:

một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật,

biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề

xã hội”[142, tr.30].

Nếu tiểu thuyết là một hình thức tự sự cỡ lớn, miêu tả cuộc sống trong quá trình phát

triển với một cấu trúc phức tạp với nhiều số phận, tính cách đan xen thì truyện ngắn là một

hình thức tự sự cỡ nhỏ chỉ thể hiện một bước ngoặc, một trường hợp hay một tâm trạng của

nhân vật và tính cách trong truyện ngắn được làm sáng rõ tại một thời điểm quan trọng. Nếu

tiểu thuyết miêu tả quá trình thì truyện ngắn miêu tả kết quả, nếu tiểu thuyết mở ra một diện

rộng thì truyện ngắn tập trung xoáy vào một điểm. Tuy nhiên, nếu hiểu dung lượng theo hiệu

quả, chất lượng nghệ thuật thì truyện ngắn có quyền bình đẳng với tiểu thuyết bởi truyện

ngắn phát hiện nghệ thuật đời sống theo chiều sâu. Chẳng hạn trong văn học hiện đại Việt

Nam, một số tác giả đã tạo nên những truyện ngắn xét về dung lượng không thua kém tiểu

thuyết. Đó là Nam Cao với Chí Phèo, Nguyễn Trung Thành với Rừng xà nu, Nguyễn Huy

Thiệp với Tướng về hưu…Và gần đây là Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Những

tác phẩm này giống như pho chính truyện giới thiệu cuộc đời và số phận của những nhân vật:

Chí Phèo, TNú, tướng Thuấn với nhiều biến cố, những tính cách đầy bất ngờ. Nhưng sở dĩ

những tác phẩm này là truyện ngắn vì nhà văn đã dồn nén chi tiết theo chiều sâu với sự thống

nhất của các sự kiện trong một cách kể ngắn gọn, nghệ thuật.

Có thể nhận xét rằng: Dung lượng ngắn gọn vẫn là đặc điểm và cũng là tiêu chí đầu tiên

của truyện ngắn. Ngắn gọn ở đây được hiểu là sự tỉ mỉ, cô đọng về từ ngữ, loại bỏ những gì

thiếu súc tích như Maugham đã từng nhận xét: “Truyện ngắn cần phải viết sao cho người ta

không thể bổ sung thêm vào đó chút gì cũng không thể rút bớt ra chút gì”[11, tr.82]. Chính

sự ngắn gọn về dung lượng đòi hỏi nhà văn phải luôn luôn sáng tạo trong việc lựa chọn chi

tiết các sự kiện thật sắc sảo và sắp xếp chúng thật khéo léo, chặt chẽ phù hợp với nội dung

của tác phẩm.

Ở một góc độ nào đó thì bản chất quan niệm của các nhà lý luận Việt Nam có phần

giống nhau khi nói về khái niệm truyện ngắn. Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra một quan niệm

khác nhau nhưng những quan niệm này không đối lập mà ở từng quan niệm có một sự thống

nhất về yếu tố dung lượng, về phương diện phản ánh của truyện ngắn. Điều này đem lại cho

khái niệm truyện ngắn mang tính khách quan, phản ánh cơ bản những đặc trưng nội tại của

thể loại này. Cái chính của truyện ngắn là gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình

người.

Truyện ngắn là một khái niệm khó xác định cả về nội dung và hình thức. Chung quanh

khái niệm truyện ngắn đã có rất nhiều ý kiến. Luận án không có ý định đưa ra một khái niệm

hoàn chỉnh, chính xác (và cũng không làm được điều này). Như M.Bakhtin nhận định:

‘‘Người ta cứ đưa ra định nghĩa về thể loại, chỉ ra những dấu hiệu xác định và chắc chắn

của nó, rồi lại phải điều chỉnh’’[13, tr.27].

Có lẽ với truyện ngắn, thể loại năng động chỉ có thể có những tiếng nói tiếp tục, khó

có tiếng nói thống nhất cuối cùng. Tất cả những ý kiến về truyện ngắn mà luận án dẫn ra ở

phần trên chỉ là những tiền đề, là gợi ý để tiếp tục suy nghĩ, tìm hướng tiếp cận gần gũi hơn

nữa với công việc nghiên cứu và giảng dạy truyện ngắn.

1.2.2. Quan niệm về truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSCL nơi trải qua bao biến đổi thăng trầm của lịch sử, cũng là nơi dung nạp nhiều cư

dân khác nhau từ mọi miền đất nước đến lập nghiệp và đang tồn tại nhiều tín ngưỡng dân

gian cùng với một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Sau 1975, ĐBSCL lại càng có sức

hút mãnh liệt đối với các nhà nghiên cứu và văn nghệ sĩ vì đây là một vựa lúa, một biển cả

mênh mông và vườn cây trái bạt ngàn. Chính cuộc sống phong phú và hào hùng như thế đã

tạo nên nguồn cảm xúc vô tận đối với những người cầm bút khắp mọi nơi khi đến với

ĐBSCL, nhất là những nhà văn sinh ra, trưởng thành ở ĐBSCL. Bởi vậy, khái niệm truyện

ngắn ĐBSCL theo chúng tôi có hai cách hiểu sau:

Cách hiểu thứ nhất, hiểu theo nghĩa rộng đó là những truyện ngắn của các nhà văn ở

mọi vùng miền cả nước viết về ĐBSCL.

Cách hiểu thứ hai, hiểu theo nghĩa hẹp đó là những truyện ngắn do các nhà văn sinh ra,

trưởng thành và công tác ở ĐBSCL viết về ĐBSCL, hoặc những nhà văn từ những miền đất

khác đến làm ăn sinh sống ở ĐBSCL. Từ ‘‘tình yêu làm đất lạ hóa quê hương’’(Chế Lan

Viên), các nhà văn đó xem đây là nơi đất lành chim đậu để rồi gắn bó sâu nặng và viết về

vùng đất này.

Cũng có một số nhà văn có quê ở ĐBSCL đã viết nhiều về ĐBSCL nhưng sau đó

chuyển về sống ở thành phố Hồ Chí Minh như: Sơn Nam, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng...

Với những truyện ngắn của các nhà văn này, chúng tôi tạm xếp vào cách hiểu thứ hai.

Thực tế, qua các tuyển tập truyện ngắn ĐBSCL từ trước đến nay, chúng tôi nhận thấy

các truyện được tuyển đều nằm trong cách hiểu thứ hai.

Từ hai cách hiểu trên, chúng tôi quan niệm truyện ngắn ĐBSCL theo cách hiểu thứ hai.

Có thể ở một góc độ nào đó cần phải suy ngẫm, cân nhắc thêm, nhưng với chúng tôi đó là cơ

sở để đi vào nghiên cứu và xác định đặc điểm của truyện ngắn ĐBSCL.

1.3. Đội ngũ tác giả truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long

Theo chúng tôi hiểu đội ngũ tác giả viết truyện ngắn ĐBSCL, là những người đã và

đang sống ở ĐBSCL. Những tác giả ở nơi khác đến, nhưng có quá có trình gắn bó với

ĐBSCL và có tác phẩm viết về vùng đất này cũng được coi là tác giả truyện ngắn ĐBSCL.

Khi bàn về nhà văn ĐBSCL, nhà văn Nguyễn Hồ đã có nhận xét thú vị: ‘‘Theo tôi hiện có

hai loại nhà văn viết về ĐBSCL, đó là nhà văn viết tại chỗ và nhà văn viết ‘‘vọt cần câu’’, cả

hai đều gọi là nhà văn ĐBSCL chứ không nhất thiết phải có hộ khẩu ở ĐBSCL’’.

Từ 1975 đến nay, trải qua quá trình vận động và phát triển, truyện ngắn ĐBSCL đã đạt

được những thành tựu đáng kể, góp phần cùng với các thể loại khác xây dựng nền văn học

mới. Do vậy, việc tìm hiểu đội ngũ tác giả truyện ngắn ĐBSCL là cần thiết, để từ đó có thể

xác định được những đóng góp của họ cho sự phát triển truyện ngắn của vùng đất này.

Dòng chảy liên tục của truyện ngắn ĐBSCL hôm nay, chính là nhờ vào sự tiếp nối của

các thế hệ người cầm bút gắn bó với đất và người nơi đây. Sự phân chia các thế hệ tác giả

viết truyện ngắn ở ĐBSCL từ 1975 đến nay chỉ là tương đối. Theo tôi, có thể hình dung đội

ngũ tác giả viết truyện ngắn ĐBSCL là sự tiếp nối của ba thế hệ.

Thế hệ thứ nhất là các nhà văn đã thành danh trước năm 1975 như Đoàn Giỏi, Anh

Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế Hy, Trần Kim Trắc... Họ đã có những truyện ngắn

trước năm 1975 được độc giả cả nước biết đến như: Đường về gia hương (1948 - Đoàn

Giỏi), Cái lu (1954 - Trần Kim Trắc), Nắng đẹp miền quê ngoại (1964 - Trang Thế Hy), Bức

thư Cà Mau (1965), Chiếc lược ngà (1968 - Anh Đức), Bông cẩm thạch (1969 - Nguyễn

Quang Sáng),… Sau 1975, sáng tác của họ vẫn dồi dào, sung sức, tiếp tục có những đóng

góp cho cho sự nghiệp văn học nước nhà. Như Trang Thế Hy với tập Nợ nước mắt và những

truyện ngắn khác (2001), Trần Kim Trắc với Chim hoạ mi lại hót, Anh Động với Xóm mười

lăm, Trần Thanh Giao với Tuyển tập truyện ngắn (2002), Lê Văn Thảo với Tập truyện ngắn

chọn lọc (2003),…

Họ là niềm tự hào của quê hương Nam bộ nói chung, ĐBSCL nói riêng. Có thể coi họ

là thế hệ nối tiếp những nhà văn quốc ngữ Nam bộ tiên phong ở thời kỳ đầu, là những trụ

cột, khích lệ sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ sáng tác trẻ ở ĐBSCL.

Thế hệ thứ hai bao gồm những cây bút thành danh sau 1975 và tới giai đoạn này vẫn

sung sức như: Phạm Trung Khâu với Tiếng vạc sành (Tập truyện ngắn), Trịnh Bửu Hoài với

Chim xa cành, Đoàn Văn Đạt với Ác mộng đàn bà, Ngô Khắc Tài với Chim hạc bay về và

Bầy chim sổ lồng,… Và những cây bút trưởng thành sau 1975, hiện đang là đội ngũ chủ

lực như: Vũ Hồng với Tiếng chuông trôi trên sông, Kim Ba với Đôi mắt con tàu xanh, Phan

Trung Nghĩa với Khóc hương cau, Mai Bửu Minh với Đôi tay, Người chạy trốn quá khứ,

Trầm Hương với Người hoa kèo nèo tím biếc, Bích Ngân với Bão sợi dây và giọt đắng,

Nguyễn Lập Em với Bến nước kênh Cùng, Kim Quyên với Người dưng xứ khác, Khu rừng

và tiếng chim,…

Thế hệ thứ ba là những cây bút xuất hiện trong thập niên đầy thế kỷ XXI rất trẻ trung và

sung sức như Nguyễn Thị Diệp Mai, Trầm Nguyên Ý Anh,... Riêng Nguyễn Ngọc Tư chỉ

trong thời gian ngắn đã cho ra mắt bạn đọc 6 tập truyện ngắn. Năm 2000, chị được tặng giải

Nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần thứ II tác phẩm Ngọn đèn không tắt...

Tháng 10/2008, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư được trao Giải thưởng Văn học ASEAN.

Bên cạnh đó, thông qua các cuộc thi sáng tác truyện ngắn ở cấp tỉnh, thành và khu vực

đã động viên khích lệ được số đông các tác giả chuyên và không chuyên tham gia, đây là

nguồn bổ sung cho đội ngũ viết truyện ngắn ở ĐBSCL.

Có thể nói, truyện ngắn ĐBSCL bước vào thể kỷ XXI với một đội ngũ tác giả hùng hậu

xuất thân từ mọi miền đất nước, nối tiếp của nhiều thế hệ. Thế hệ trước năm 1975, có người

bước qua tuổi 80, còn phần lớn đã ngoài 60 nhưng vẫn giữ được niềm đam mê văn chương

‘‘còn sống là còn viết’’ (Trang Thế Hy). Còn các cây bút trưởng thành sau 1975, đang ngày

càng chín về vốn sống và tài năng.

Nhà thơ Hữu Thỉnh - Tổng thơ ký Hội Nhà văn Việt Nam có cái nhìn rất lạc quan về

văn học ĐBSCL: ‘‘Chất liệu cho văn học miền Tây Nam bộ khá mạnh. Đội ngũ tác giả cũng

vậy, nhất là ở lĩnh vực truyện ngắn’’[182, tr.5].

Từ thực tế đội ngũ sáng tác truyện ngắn ở ĐBSCL, người đọc có niềm tin, trong tương

lai nơi đây sẽ là mảnh đất màu mỡ của truyện ngắn.

1.4. Sự vận động của truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay

Từ năm 1975, đất nước bước sang một giai đoạn lịch sử mới. Văn học cả nước nói

chung, ĐBSCL nói riêng cũng chuyển mình trong tư thế dò tìm những phương thức thể hiện

tốt nhất để kịp phản ánh đời sống xã hội đa dạng trước yêu cầu mới của thời đại. Truyện

ngắn thu hút sức sáng tạo của các thế hệ cầm bút ở ĐBSCL. Họ là những nhà văn đến từ

nhiều vùng đất khác nhưng lại có quá trình gắn bó lâu dài với cuộc sống, con người nơi đây

qua các thời kỳ khác nhau. ĐBSCL nơi ‘‘đất lành chim đậu’’, nơi giàu chất liệu, tiềm tàng

khả năng trên nhiều phương diện đã trở thành quê hương thứ hai của họ. Nhu cầu tinh thần

và khát vọng giãi bày tình cảm, cảm nhận về những đổi thay trong cuộc sống đã và đang diễn

ra thôi thúc các nhà văn tìm tòi, khám phá vẻ đẹp của thời đại, cũng như chiều sâu tâm lí của

thế giới nội tâm con người. Từ cơ sở đó, trên từng phương diện thể tài và từng góc độ khám

phá khác nhau họ đã cống hiến cho người đọc một khối lượng khá đồ sộ truyện ngắn, trong

đó nhiều truyện ngắn hay.

Năm 1996, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã chọn lọc và giới thiệu với người đọc Tuyển

tập truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long 1975 - 1995. Năm 1999, Nhà xuất bản Trẻ

thành phố Hồ Chí Minh chọn giới thiệu 2 tập Truyện ngắn miền Tây. Đến cuối năm 2003,

Nhà xuất bản Mũi Cà Mau - Ban liên lạc Hội nhà văn Việt Nam tại ĐBSCL lại cho ra mắt

bạn đọc Tuyển tập truyện ngắn 18 nhà văn đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2004, Nhà

xuất bản Văn học chọn lọc, giới thiệu Truyện ngắn Ba tác giả đồng bằng sông Cửu Long

đến độc giả.

Ngoài ra còn nhiều tập truyện ngắn của riêng từng tác giả cũng đã ra mắt bạn đọc, đáng

chú ý là truyện ngắn của nữ nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư ở Cà Mau.

Có thể nói, sự xuất hiện các tuyển tập nói trên thể hiện cách nhìn đúng đắn, thái độ trân

trọng trong việc khẳng định sự đóng góp và đánh dấu một bước phát triển mới của thể loại

này.

Cảm nhận của chúng tôi khi tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay đó là sự

phong phú về đề tài đa dạng về phong cách.

Với đặc trưng thể loại, mỗi truyện ngắn chỉ phản ánh một vài khía cạnh của cuộc sống,

nhưng nếu đặt cạnh nhau với cái nhìn bao quát, người đọc có thể hình dung được những nét

đặc điểm cơ bản của cuộc sống, con người và cảnh sắc của vùng đất này. Hướng khai thác

mối liên hệ giữa cái hôm qua và hôm nay luôn được soi chiếu và lý giải từ nhiều chiều.

Chiến tranh đã qua đi, nhưng với dân tộc Việt Nam, nỗi đau mà kẻ thù gây nên vẫn còn

trong cuộc sống hôm nay. Tái hiện quá khứ để người đọc hướng về hiện tại, đó là một

nguyên tắc viết về chiến tranh. Nhận thức sâu sắc điều đó, các cây bút truyện ngắn ĐBSCL

đã khai thác đề tài chiến tranh trên một bình diện mới, với điểm nhìn mới để người đọc hôm

nay và cả mai sau vừa cảm nhận được cái đẹp, cái cao cả, hào hùng và cả cái mất mát của

dân tộc ta trong cuộc chiến đấu vì tự do, độc lập, vừa giải đáp có ý nghĩa sâu sắc trước nhiều

vấn đề trong đời sống con người ở nhiều thời đại…(Sau chiến tranh - Quang Thắng, Câu

chuyện trên tàu - Trần Ninh Thới, Vết thương thứ mười ba - Trang Thế Hy, Cổ tích chiến

tranh, Những đứa con chiến tranh - Thai Sắc…)

Trong bối cảnh của những năm đầu sau chiến tranh và thời kỳ đổi mới, người viết

truyện ngắn ở ĐBSCL thường đi vào khai thác, lý giải về bình diện đạo đức của cuộc sống

đời thường. Vấn đề thân phận con người trong chiến tranh và cuộc sống hôm nay luôn là

niềm suy ngẫm, trăn trở trên từng trang văn của họ. Trước bao đổi thay của cuộc sống, vấn

đề tình nghĩa được nhiều người viết quan tâm. (Về với mảnh vườn xưa - Anh Đức, Xóm

nghèo - Nguyễn Ngọc Tuyết, Gió đưa cây cải về trời - Nguyễn Ngọc Tư…)

Nhiều vấn đề khác trong cuộc sống đời thường được tiếp tục khai thác, đó là niềm

thông cảm và lòng nhân ái, niềm tin vào cuộc sống tương lai, hãy biết trân trọng niềm hạnh

phúc, dù đó là hạnh phúc rất giản dị,...(Điểm tựa trắng - Lê Đình Trường, Một giờ với tương

lai - Anh Động, Chuyện con người - Nguyễn Huỳnh Hiếu, Điều không tới được - Chu Hồng

Hải, Con gái tôi - Nguyễn Thanh, Cha và chú tôi - Thai Sắc…)

Nhiều cuộc đời, cảnh đời đã được các cây bút truyện ngắn ĐBSCL tái hiện. Đó là

những ‘‘lão nông tri điền’’, những người phụ nữ, những trẻ con, là thương binh, anh bộ đội

phục viên, người nghệ sỹ... và cả những cán bộ kém năng lực, tha hoá,...(Cánh đồng bất tận -

Nguyễn Ngọc Tư, Vết thương thứ mười ba - Trang Thế Hy, Cha và chú tôi - Thai Sắc, Người

dì tên đợi - Nguyễn Quang Sáng…)

Vấn đề thân phận con người được thể hiện từ nhiều phương diện và trong hoàn cảnh

khác nhau nhưng điều dễ nhận ra là niềm cảm thông, trân trọng đối với con người (Nhà

không có đàn ông - Dạ Ngân, Tiếng hót trong lòng - Trịnh Bửu Hoài, Khoảng khắc hoa

quỳnh nở - Ngô Vĩnh Nguyên, Thảo - Đỗ Việt Phương, Người đàn ông mặc áo nâu - Phạm

Thị Ngọc Điệp…), đều được khai thác theo hướng đó.

Cuộc sống mới với những trăn trở, nhất là vấn đề phục hồi, phát triển kinh tế và quản lý

xã hội trong điều kiện đổi mới tư duy kinh tế, chuyển sang cơ chế thị trường. Với đề tài này,

các cây bút truyện ngắn bày tỏ nỗi suy tư về lối sống, cách sống và muốn gửi một thông

điệp: những giá trị tinh thần dần dần bị mãnh lực của đồng tiền đẩy lùi, thậm trí bị quên lãng.

Kinh tế phát triển, nhưng cuộc sống gia đình trở nên nhạt nhẽo, mối quan hệ cha con, vợ

chồng không còn gắn bó như xưa (Những người hiện đại - Lê Thị Thanh Minh, Trò chơi

giữa giờ - Nguyễn Đức Nghĩa, Dưới lớp tro - Mai Văn Tạo, Mùa dưa gang - Kim Quyên,

Chiều Mưa - Nguyễn Kim Châu, Ba về - Lê Đình Bích, Giữa dòng nước lũ - Anh Đào, Kiều

Nương - Ngô Khắc Tài, Không có cái truyện ngắn nào cả - Phạm Trung Khâu, Động cơ làm

cách mạng - Đoàn Văn Đạt, Hắn và tôi - Mai Bửu Minh, Cánh đồng bất tận - Nguyễn Ngọc

Tư...)

Thiên nhiên vùng sông nước thanh bình, trù phú, với những cảnh quan còn giữ được nét

hoang sơ, huyền bí, có phần khắc nghiệt dữ dội, nhưng gắn bó với con người và đời sống văn

hoá đặc trưng sông nước cũng là những đề tài được tác giả truyện ngắn ĐBSCL khai thác.

Tuy nhiên, mảng đề tài về vùng ĐBSCL còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ chưa được người viết

khai thác.

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL, chúng tôi nhận thấy, đa số nhà văn có cách uyển chuyển

và nhẹ nhàng hơn, ít tuân thủ theo kết cấu truyền thống. Đó là lối viết giàu sức lôi cuốn

người đọc bởi ngồn ngộn bao điều mới lạ của Sơn Nam khi ông quan niệm ‘‘muốn hội nhập

văn học cần phải mạo hiểm, phải viết cái gì mới cho người ta đọc chứ lặp lặp đi lặp lại mãi

cái cũ thì ai mà đọc’’; lối viết đầy trăn trở và lịch lãm của Trang Thế Hy; Nguyễn Quang

Sáng vẫn lối viết giàu kịch tính; Anh Đức vẫn trữ tình trong sáng thiết tha trên từng trang

văn; Anh Động với lối viết cẩn trọng nhưng không kém phần hóm hỉnh; Nguyễn Thanh lặng

lẽ giãi bày niềm suy tư; Khai Phong sống trong ký ức về cuộc chiến tranh giữ nước; Ngô

Khắc Tài lăn lóc với đời thường ở từng khu phố nhỏ; Hồ Tĩnh Tâm với lối viết duyên dáng,

nhẹ nhàng bởi nhiều chi tiết xúc động và gợi cảm; Vũ Hồng với giọng văn vừa phóng

khoáng, vừa thâm trầm với những truyện ngắn viết về sự giao hòa và mâu thuẫn trong lối

sống, tâm lý giữa các thế hệ con người vùng Nam bộ; Lê Đình Trường sâu sắc trong việc thể

hiện chiều sâu tâm hồn nhân vật. Lê Đình Bích với lối viết chặt chẽ, khúc triết và thích tìm

về những huyền thoại xa xưa; Thu Trang tinh tế và giàu tính trữ tình trong việc miêu tả

những ngõ ngách tâm hồn của con người; Anh Đào nặng về những tình cảm trắc ẩn nhưng

đầy lòng vị tha; Dạ Ngân thường khai thác những xung đột về tình cảm và đạo đức con

người; Nguyễn Ngọc Tư với lối viết hồn nhiên, đôn hậu, mang đậm không gian Nam bộ. Đặc

biệt, ‘‘Chị đã sử dụng ngôn từ của địa phương Nam bộ khá thành công trong các sáng tác

của mình. Điều này góp phần làm nên một văn phong riêng ở chị’’[152, tr.312].

Có thể nói, nét riêng ở cái nhìn đôn hậu và cách thể hiện chân chất, giản dị mà không

giản đơn, sơ lược, không nhạt nhẽo của mỗi nhà văn ở vùng ĐBSCL đều bộc rõ trong tác

phẩm. Cho dù lối viết, cách phản ánh hiện thực và mức thành công có khác nhau, nhưng điều

dễ nhận thấy là sự nhanh nhạy, ý thức tìm tòi đổi mới và vươn lên trong sáng tạo của các nhà

văn. Điều đó chứng tỏ họ đã bắt kịp mạch vận động và phát triển của văn học từ sau 1975.

‘‘Thực tình mà nói, ĐBSCL ngày càng xuất hiện nhiều tác giả với những những tác phẩm

mang được nhiều dấu ấn văn học. Đặc biệt là sau mỗi cuộc thi truyện ngắn ở khu vực hoặc

địa phương chúng ta lại có nhiều truyện ngắn hay, mang được hơi thở cuộc sống của một

vùng đất’’[123].

Tóm lại, ĐBSCL là vùng đất mới, nơi đây chứa đựng những sắc thái văn hoá riêng -

văn hoá vùng sông nước. Từ sau 1975, cùng với sự phát triển, đổi mới của văn học cả nước,

văn học ĐBSCL ngày càng xuất hiện nhiều tác giả với những tác phẩm mang được nhiều dấu

ấn văn học. Truyện ngắn ĐBSCL đã làm tốt vai trò phản ánh đời sống và thể hiện tư tưởng,

tình cảm của con người nơi đây trong một giai đoạn lịch sử với nhiều biến động của vùng đất

và cả nước đang trở mình vươn dậy. Và với hương sắc riêng, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975,

đã lặng lẽ góp phần làm nên vẻ đẹp đa dạng, phong phú cho nền văn học dân tộc. Như nhận

định của nhà thơ Hữu Thỉnh - Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam tại Hội thảo Văn xuôi

đồng bằng sông Cửu Long, lần thứ nhất tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang: “Đây là một

khu vực văn xuôi đặc sắc, có giá trị bổ sung độc đáo cho nền văn xuôi cả nước, khó có thể

hình dung rõ nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, nếu thiếu vắng văn xuôi đồng bằng sông Cửu

Long”[135, tr.54].

Chương 2

NHỮNG CẢM HỨNG TRONG TRUYỆN NGẮN

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ 1975 ĐẾN NAY

Trước những vấn đề của hiện thực đời sống, nhà văn khi phản ánh vào tác phẩm bao giờ

cũng thông qua đó gởi gắm, thể hiện một thái độ tình cảm, có khi là tán thành, ngợi ca, cũng

có khi là phê phán... Nói một cách khác, đó chính là cảm hứng tư tưởng của tác phẩm. Như

vậy, cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến

hành động. Cảm hứng như là một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học.

Nội dung của cảm hứng tư tưởng trong tác phẩm bao giờ cũng là một tình cảm xã hội

đã được ý thức. Đó có thể là những tình cảm khẳng định như ngợi ca, vui sướng, biết ơn, tin

tưởng, yêu thương, đau xót... Đó có thể là những tình cảm phủ định, phê phán các hiện tượng

tiêu cực, xấu xa.... Các tình cảm đó gợi lên bởi các hiện tượng xã hội được phản ánh trong

tác phẩm tạo thành nội dung cảm hứng của tác phẩm.

ĐBSCL nơi trải qua bao biến đổi thăng trầm của lịch sử, cũng là nơi dung nạp nhiều cư

dân khác nhau từ mọi miền đất nước đến lập nghiệp và đang tồn tại nhiều tín ngưỡng dân

gian cùng với một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Sau năm 1975, ĐBSCL càng có sức

hút mãnh liệt đối với các nhà nghiên cứu và các văn nghệ sĩ vì đây là một vựa lúa, một biển

cả mênh mông và vườn cây trái bạt ngàn... Chính cuộc sống phong phú và hào hùng như thế

đã tạo nên nguồn cảm hứng vô tận đối với những người cầm bút.

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay, chúng tôi thấy cảm hứng chủ đạo trong

truyện là: Cảm hứng ngợi ca thiên nhiên và con người; cảm hứng phê phán những hạn chế,

tiêu cực trong đời sống; cảm hứng nhận thức chiều sâu bản thể con người và cảm hứng về

đời sống văn hóa.

2.1. Cảm hứng ngợi ca thiên nhiên và con người ĐBSCL

2.1.1. Cảm hứng ngợi ca thiên nhiên

Đã từ bao đời nay thiên nhiên luôn là người bạn gần gũi của con người trong cuộc sống,

là đối tượng miêu tả không thể thiếu trong văn học nghệ thuật, là mạch nguồn cảm hứng tạo

nên tác phẩm văn chương. Như tâm sự của nhà văn Nguyễn Quang Sáng: ‘‘Trong đời sống,

cũng như trong tác phẩm của tôi không thể nào thiếu một dòng sông. Ấy là con sông Tiền

chảy qua làng… dù đi xa đến 30 năm, dòng sông của quê hương vẫn chảy trong tâm hồn tôi,

con nước ròng rồi con nước lớn như dòng máu trong cơ thể tôi, chảy đi rồi chảy lại về

tim...’’[67, tr.275].

Người ta bảo châu thổ nào cũng là con đẻ của một con sông lớn. Nếu đồng bằng Bắc bộ

là tặng phẩm của sông Hồng và sông Thái Bình, thì đồng bằng Nam bộ là món quà lớn sông

Cửu Long ban tặng chúng ta từ triệu năm nay và đến bây giờ vẫn tiếp tục cho thêm.

Nếu thiên nhiên ở đồng bằng Bắc bộ là cảnh đồng quê với ao bèo, bè rau rút, những cây

ổi um tùm lả cành xuống mặt ao; những cây bưởi đến mùa xuân hoa thơm ngát cả vườn,

những luỹ tre làng ôm lấy những mái nhà tranh giản dị... Và miền Trung du thiên nhiên là

những dãy đồi liên tiếp như đàn rùa phủ phục nằm chầu, những cây gồi thân cao, thẳng, ngọn

cây phất phơ, chòm lá xoè ra như tán quạt. Đến với ĐBSCL, chúng ta bắt gặp một bức tranh

thiên nhiên quyến rũ và thơ mộng của vùng sông nước với những bờ kinh, con rạch, những

miệt vườn nặng trĩu trái cây, những cù lao xanh, những rừng mắm, rừng đước, rừng tràm hút

tầm mắt, với nét đẹp hoang sơ, huyền bí, khắc nghiệt, nhưng trù phú và luôn gắn bó, nuôi

dưỡng con người.

2.1.1.1. Thiên nhiên hoang sơ, khắc nghiệt, dữ dội

Đất nước ta đang thay đổi từng ngày. Cũng vì thế mà cảnh quan thiên nhiên cũng đã và

đang biến đổi trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá. Nhưng ở ĐBSCL còn giữ lại ở

nhiều nơi và những cảnh chưa hoặc ít bị biến đổi, đặc biệt là khu vực Bán đảo Cà Mau và

Đồng Tháp Mười. Có thể xem đây là một trong những nét đặc trưng riêng của cảnh sắc thiên

nhiên ĐBSCL so với vùng miền khác.

Cả nước biết tiếng rừng U Minh qua bài ca Hương tràm của nhạc sĩ Vũ Hoàng.

U Minh bốn bề là tràm

Chẳng biết tháng nào nở hoa

Mà hương thơm dường như suốt mùa

Ướp mật vào tóc em thở…

Nhưng có đặt chân tới đây, chúng ta mới thấy hết sự hùng vĩ của nó “trước mặt, sau

lưng, bên trái, bên phải đâu đâu cũng là rừng. Rừng bạt ngàn…” (Đất không cưu mang -

Bích Ngân). Rừng đước khoẻ mạnh và huyền bí. Những cây đước thẳng mọc tựa lưng vào

nhau, cành lá như những cánh tay ken không cho sống lẫn một cây khác giống, không cho lọt

vào một vật ngoại lai. Nếu rừng đước chặt chẽ, cứng cỏi thì rừng tràm thoang thoảng hương

thơm, hai bên bờ kênh nở tím hoa mua, gợi nên cảm giác thênh thang hùng vĩ.

Cảm nhận về thiên nhiên ĐBSCL phút ban đầu là nét đẹp hiền hoà, dung dị, song cũng

rất hoang sơ và bí hiểm.

Với truyện ngắn Hổ Mun, Đặng Thư Cưu đã giúp người đọc cảm nhận được bức tranh

thiên nhiên ĐBSCL ở những thời khắc khác nhau. Đó là vẻ đẹp huyền bí của những cánh

rừng già khi chiều xuống: ‘‘Mặt trời đỏ sậm như màu máu, hạ chầm chậm xuống mặt đầm

lầy mù chướng khí. Những tia nắng cuối cùng sáng rực, lấp lánh như nhiều mũi giáo nung

già lửa trong lò, đâm xuyên qua làn sương trắng. Cánh rừng bao bọc chung quanh, bắt đầu

ngả màu đen sẫm’’[183, tr.58].

Và khi màn đêm buông xuống, rừng lại xao động với muôn ngàn âm thanh gợi cảm giác

về một thiên nhiên hoang dã: “Gió đứng, bầy muỗi bay lào xào…. Tiếng cá sấu thở cạnh bờ

sông nghe như tiếng rên trầm…”[183, tr.58]. “Tiếng hú vang lên cuồn cuộn như tiếng bão.

Nó chứa đựng một sức mạnh man dã, rừng rú. Nó trườn qua khu rừng, dội mạnh vào những

gốc cây già, lướt trên chồi xanh, phá vỡ cái tĩnh mịch nặng nề và sau cùng là hòa tan vào

những âm thanh rì rầm bất tận của dòng sông”.“Gió đêm bắt đầu hú ầm ầm, xa xa tiếng hổ

gầm no mồi như uất nghẹn’’. ‘‘Tiếng chim lạ gào lên như âm thanh một tiếng khóc nức nở.

Rồi tiếp theo là một tràng cú rúc kinh hoàng… phía rừng già vang ầm ào như cơn gió thốc

bức xoáy lên”[183, tr.70].

Đúng là đất rừng phương Nam vẫn còn vang động những âm thanh trầm trầm hoang vắng

“rừng chất chứa nghìn trùng bí ẩn, vừa quyến rũ, vừa nghiệt ngã”. Con người tới với rừng

bằng sức lực mỏng manh: “Mảnh đất hoang vu này còn chứa biết bao điều mà ông không

thể hiểu hết. Đời người quá ngắn ngủi trước bí mật của thiên nhiên”[183, tr.64].

Cũng với mạch cảm hứng về thiên nhiên, Bông mai giữa Đồng Tháp Mười của Lê Thanh

Huệ, người đọc lại nhận ra vẻ đẹp nguyên sơ, nhưng tươi sáng, trong trẻo đến ngỡ ngàng của

thiên nhiên ở vùng Đồng Tháp Mười: ‘‘Mặt trời khuất sau đường chân trời, chỉ để lại những

tia hồng hình nan quạt. Đám núi bằng mây bông lô xô ở đằng phía tây lúc chiều còn sáng

trắng lên pha màu ngọc trai ở triền đón nắng, thẫm hơn và đi bóng ở những thung lũng bị

che thì giờ đây tất cả đã bị hoàng hôn nhuộm hồng pha tím. Mấy ngôi sao lẻ loi đang nhấp

nháy. Chúng tôi thu xếp ra về để lại sau lưng một vệt rừng tràm viền đường chân trời. Giữa

mênh mông màu xanh của cỏ năn, sim mua, chen vài cây tràm vừa mới đội tấm thảm hoang

dại để nhô lên còn sót lại một vài cụm tràm chen chúc nhau như nấm mộ lớn của rừng’’

[183, tr.230].

Tóm lại, bằng nghệ thuật lựa chọn hình ảnh đặc trưng sông nước, với tình cảm gắn bó

chân thành với quê hương, các nhà văn ĐBSCL đã giới thiệu đến bạn đọc mọi miền đất nước

vẻ đẹp hoang sơ, huyền bí của những cánh rừng nguyên sinh ở Bán đảo Cà Mau, hay nét đẹp

nguyên sơ tươi sáng ở vùng Đồng Tháp Mười. Đây là nét riêng của cảnh sắc thiên nhiên

sông nước, là tiềm năng của du lịch sinh thái của vùng ĐBSCL.

Lâu nay, trong suy nghĩ của mỗi người, ĐBSCL là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi,

‘‘nơi làm chơi ăn thiệt’’. Nhưng thực tế ở ĐBSCL đang tồn tại một thiên nhiên khắc nghiệt,

dữ dội và có nguy cơ ngày càng gia tăng, tuy không khốc liệt như miền Bắc, miền Trung.

Nhưng trong mặt hạn chế của thiên nhiên, con người lại tìm thấy mặt thuận lợi của nó để tận

dụng, để tồn tại và phát triển. Do vậy, nhận thức đúng về thiên nhiên, để có cách tiếp cận

mới và ứng xử linh hoạt với nó cũng là một phương diện của cảm hứng mà chúng tôi cảm

nhận được ở truyện ngắn ĐBSCL sau 1975.

Về mặt địa lý, ĐBSCL không những tiếp giáp với đất liền, mà ba mặt: đông, tây, nam

đều tiếp giáp với với biển đông. Do vậy, thiên nhiên ở đây tồn tại và phát triển trong trạng

thái tương phản: giữa sông và biển, mùa khô và mùa mưa, gió mùa tây nam và mùa gió

chướng, lũ và hạn. ‘‘Nơi nước mặn; nước phèn; nơi nước ngọt; nơi ngập lụt gần như sình lầy

mãn năm; nơi cao ráo; nơi làm ruộng làm vườn được; nơi hoang vu, cỏ lác, dưng, năn mọc

lưa thưa’’[105].

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, cảm nhận đầu tiên của chúng tôi về sự khắc

nghiệt, dữ dội của thiên nhiên là nước. Không phải ngẫu nhiên mà Sơn Nam lại mượn những

câu thơ tả cảnh nước lũ ở An Giang để mở đầu cho truyện ngắn Một cuộc biển dâu của mình:

Linh đinh bèo nước biết về đâu?

Đậu bến An Giang thấy những rầu,

Bảy Núi mây liền, chim chíp cánh,

Ba đồng nước chảy, cá vênh râu.

Cỏ rau nội quạnh, dân xanh mặt,

Ba dòng nước chảy, cá vênh râu...

(Phan Văn Trị)

Đúng là nước ở miền Tây có một khuôn mặt rất khác - nước nổi và ngập mặn. Một thứ

thiên tai âm thầm mà dữ dội.

Ai đã đến ĐBSCL vào mùa nước nổi đều giữ mãi ấn tượng về cảnh quan ở đây. Nước

sông cuồn cuộn chảy. Các cánh đồng mênh mông nước đục ngàu. Nhà cửa, vườn tược, xóm

làng như cùng nổi theo nước.‘‘Mùa nước nổi lại đến. Đồng ngập lụt mênh mông. Gò mả lạng

ở giữa đồng nước như ốc đảo…Nước cứ dâng lên, dâng dâng cao mãi. Nước liếm mất nơi

cao nhất của cái gò’’ (Xóm mồ côi - Nguyễn Lập Em).

Người nơi khác đến ĐBSCL thường thấy làm thú vị về cảnh quan tươi đẹp do mưa nắng

điều hòa, quanh năm ít có ngày âm u. Bão to rất hiếm. Lũ lớn nhưng hiền. Nhưng khí hậu

hiền hoà không có nghĩa là hoàn toàn không có biến động và những hệ lụy của nó gây ra.

Qua truyện ngắn Đất không cưu mang của Bích Ngân, chúng ta sẽ có một cái nhìn thực

tế hơn về những tác động tiêu cực của thiên nhiên đến môi trường sống ở ĐBSCL. Mưa nắng

hai mùa đã oi bức, ẩm thấp, lại là nơi muỗi mòng sanh sôi nảy nở. Ai đã từng sống ở vùng

sâu ĐBSCL, chắc không thể quên cảnh ‘‘muỗi kêu như sáo’’ ở đây: ‘‘Mưa nhẹ hạt một chút

thì vô số muỗi rừng từ gốc cây kẽ lá và như từ những giọt mưa sinh ra, vây bủa lấy ba người.

Chúng thi nhau bấu chặt vào da thịt, hau háu hút máu”[183, tr.376].

Nếu miền Bắc có bốn mùa rõ rệt, thì vùng ĐBSCL chỉ có hai mùa mưa, nắng. Nét đặc

trưng ấy, cũng được miêu tả rất sinh động trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975. Ở truyện

Tiếng gọi ngàn của Đoàn Giỏi, người đọc cảm nhận được thế nào là mưa, là gió và cái nắng

đến cháy da ở ĐBSCL.“Tháng sáu mùa mưa, gió ẩm ướt thổi thốc liên miên trong những

cánh rừng tràm U Minh thượng qua rồi, kế đó là những ngày nắng nóng cháy da kéo dài của

sáu tháng mùa khô cũng trôi qua’’[183, tr.165-166].

Ở truyện ngắn Lý sang sông của Nguyễn Ngọc Tư, người đọc sẽ cảm nhận cái lạnh ở

ĐBSCL khác với cái lạnh buốt của mùa đông miền Bắc:

‘‘Bấc về, như thể trong đời này chỉ còn gió. Gió lạnh căm căm mà khô nẻ môi người ta.

Da tôi mốc cời. Nước mặm rít da’’[166, tr.73].

Tóm lại, qua truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ

đẹp hoang sơ, còn chất chứa bao điều bí ẩn, mà còn nhận ra ở vùng đất này còn có một thiên

nhiên khắc nghiệt, dữ dội, nhưng trù phú gắn bó với con người.

2.1.1.3.Thiên nhiên trù phú gắn bó với con người

Nhắc đến ĐBSCL, người ta nghĩ ngay đến một vùng sông nước, miệt vườn và sự trù

phú mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất này. Sự thực thì ĐBSCL từ lâu đã nổi tiếng những

vườn cây ăn trái, mà nhà văn Sơn Nam cho là ‘‘tiêu biểu cho hình thức sinh hoạt vật chất và

tinh thần cao nhất ở ĐBSCL’’[125, tr.34].

Mẹ mong gả thiếp về vườn

Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh

Ai đã từng qua Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ dù chỉ một lần, đều có ấn tượng sâu

sắc về trái cây miệt vườn. Dường như đây là đứa con cưng của thiên nhiên nhiệt đới, sản

phẩm của phù sa, nước ngọt, nhiệt độ và ánh sáng. Mùa nào thức ấy, loại quả nào cũng to

cũng nhiều và rẻ hơn nơi khác. “ vườn chôm chôm, mận, ổi, cam xoài trĩu trái dọc đường về

Cái Răng, Ô Môn bên này bến bắc và cồn nối bên kia bến Ninh Kiều. Mùi trái chín, hương

mật cỏ cây, nắng gió…Tất cả như tiết ra một thứ men nồng kì diệu” (Vài ngày ở Cần Thơ -

Mường Mán). “Vườn nhà ngoại không những rộng mà còn có đủ loại trái cây. Ngay trên

khoảng sân này thôi cũng đủ cả chùm ruột, mận, sơ ri, những chùm mận trắng đơm đầy

cành, những trái chùm ruột no tròn, bóng lưỡng…” (Quê ngoại - Thu Trang).

Về miền Tây ghé thăm những cù lao ven sông Tiền, sông Hậu, hay đi sâu về miệt vườn

Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc đâu đâu ta cũng bắt gặp: “Mùi quả chín tươm mật, mùi phấn

hoa lay động bởi cánh dơi quạ và các loại chim đêm” (Tiếng gọi ngàn - Đoàn Giỏi).

Không biết tự bao giờ trong dân gian đã truyền tụng nhau câu ca:

Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm.

Thật vậy, đến với ĐBSCL là chúng ta đến với vựa lúa lớn nhất của cả nước, với những

‘‘cánh đồng lúa vẫn ngút ngàn căng phồng ngực đất’’ (Dòng sông lặng chảy – Hồ Tĩnh

Tâm).

Truyện ngắn ĐBSCL còn giới thiệu đến bạn đọc nhiều loài sinh vật đặc sản của vùng

sông nước. Dưới sông thì có cá sâu “tiếng cá sấu thở cạnh bờ sông nghe như tiếng rên trầm

trầm” (Hổ mun – Đặng Thư Cưu), cá hô “lớn bằng tấm ván ngựa, vảy ánh bạc, hai con mắt

lớn như hai cái chén, nó quẫy một cái làm mặt sông nổi sóng” (Ông cá hô - Lê Văn Thảo).

Và mật ong:“Một dải rừng tràm mịt mùng không nhìn thấy giới hạn. Mùi mật sực nức trong

gió và tiếng ong rộn rã một giai điệu bất tận’’ (Hổ mun - Đặng Thư Cưu). Còn trong rừng thì

“đầy rẫy những con rắn nước, rắn mai gầm, những tổ trích, trứng le le thơm sực mùi cỏ khô

lót trong lau sậy” (Tiếng gọi ngàn - Đoàn Giỏi).

Chính sự phong phú, đa dạng của sản vật, mà ở ĐBSCL đã hình thành những nghề rừng

gắn bó và nuôi sống nhiều thế hệ người dân nơi đây như: nghề ăn ong, đốn củi, hầm than

và đặc biệt là nghề câu sấu: “Ông Trì Gầm chuyên nghề câu sấu đem bán ngoài xóm chài”

(Ông cá hô - Lê Văn Thảo). Đồng thời sản vật cũng là nhân tố chủ yếu để hình thành nên

những bộ phận văn học độc đáo có một không hai như truyện trạng Bác Ba Phi ở Cà Mau.

Thiên nhiên là một môi trường sống cần thiết của mỗi con người, mỗi cộng đồng. Con

người sống trong quan hệ chặt chẽ với tự nhiên – cách thức ứng xử với môi trường tự nhiên

là thành tố quan trọng của mỗi hệ thống văn hoá. Trong ứng xử với môi trường tự nhiên có

thể xảy ra hai khả năng: những gì của tự nhiên có lợi thì con người hết sức tranh thủ tận

dụng, những gì có hại thì phải ra sức đối phó để thích nghi, dung hoà. Xét về mặt định tính

lẫn định lượng, có thể thấy văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên của người ĐBSCL, thì

khả năng tận dụng luôn trội hơn hẳn so với việc đối phó, (chung sống với lũ). ‘‘Nếu

những cư dân ở vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên mà xuống ĐBSCL thì chỉ thấy sông rộng,

nước sâu cũng phát khiếp. Ngược lại cư dân ĐBSCL nếu không có sông rạch, không có nắng

vàng mùa khô, mùa lũ Đồng Tháp Mười, không có nước nổi thì họ không chỉ buồn mà còn

thất vọng’’[100, tr.147].

Người dân ĐBSCL sống chủ yếu bằng nghề nông, mọi sinh hoạt, sản xuất đều gắn liền

với môi trường sông nước. Vì vậy, cuộc sống của họ còn lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Để

tồn tại và phát triển, không còn cách nào khác, người dân nơi đây phải biết tận dụng, thích

nghi, dung hợp với tự nhiên- chung sống với lũ chẳng hạn.

Qua truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng ta hiểu được người dân vùng sông nước đã

tận dụng điều kiện tự nhiên trong sinh hoạt hằng như thế nào? Bằng nghệ thuật lựa những

hình ảnh gắn với vùng sông nước, Dòng sông lặng chảy của Hồ Tĩnh Tâm, bức tranh cuộc

sống sinh hoạt hằng ngày của người dân vùng ĐBSCL hiện ra vừa quen thuộc, lại thiết thực,

nhưng vô cùng sinh động:

“Mùa nắng bốn bề chang nắng. Mùa mưa bốn bề ngát nước. Nước lên thì giăng câu đặt

lờ. Nước cạn thì tát đìa bắt cá, đặt sập bẫy chuột, thổi tu huýt bắt gà nước. Căn nhà quanh

năm sặc mùi cá...”. “Rau thì bẻ ngoài đồng, bẻ bên gò. Bông lục bình, ngó sen, bông điên

điển, tai tượng và cải trời, cải đất tất cả đều là rau”[183, tr.364].

Có thể nói, chính môi trường sông nước buộc con người phải lựa chọn cách thức lao

động, kiếm sống, sinh hoạt cho phù hợp. ‘‘Trong lao động dân Nam bộ là những con người

linh hoạt, thông minh và sáng tạo’’[122, tr.410].

Tóm lại, ứng xử linh hoạt (thiên về tận dụng hơn là đối phó) với thiên nhiên là một nét

tính cách của người ĐBSCL được hình thành trong môi trường sống cụ thể - môi trường

thiên nhiên sông nước.

Qua những trang viết thấm đậm cảm xúc ngợi ca thiên nhiên, người đọc có thể hình

dung được vùng đất giàu tiềm năng, trù phú không chỉ nuôi sống con người mà còn là một

trong những nguồn mạch nuôi dưỡng tâm hồn con người: ‘‘Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở / Khi ta

đi đất đã hoá tâm hồn’’ (Chế Lan Viên).

Ai lớn lên cũng có một quê hương, một góc trời xứ sở để nhớ, để thương, để buồn

vương khóe mắt, để được mong nhớ lúc đi xa và thổn thức lúc trở về. Người ta thường nói

tình cảm là cái gì rất trừu tượng, nhưng nỗi nhớ của NV tôi (Dòng sông lặng chảy - Hồ Tĩnh

Tâm) là cảnh vật, âm thanh thật gần gũi, thân quen: “Tôi nhớ mùa điên điển. Nhớ dòng sông

đêm chảy lóc tóc dưới be xuồng…Cái đêm gió đổi mùa ấy hăng hắc mùi cỏ gà, thơm thơm

mùi cỏ sữa. Hai con chuột đồng đuổi nhau rúc rích”.

Quê ngoại của Thu Trang, lại đưa người đọc về với nhưng kỉ niệm êm đềm của tuổi thơ,

nơi đó là những vườn cây xanh ngát, rộn tiếng ve kêu: “…vườn cây xanh ngát, râm ran tiếng

ve…những buổi đi bắt dế mò cua, những buổi lang thang trên đồng tìm trái cơm nguội, hay

chèo bè ra tận sông cái hái bần chín chấm muối ớt”[183, tr.619].

Tiếng hú trong đêm hội Lăng của Nguyên Tùng, thì thiên nhiên là nơi lưu giữ những

hoài niệm của đứa con sau hơn 30 năm trở về chốn cũ: “bờ sông giờ đã xa hơn. Lòng sông

giờ đã rộng hơn” và ánh trăng giờ đây cũng trở nên lạnh lẽo và giả tạo hơn nhiều’’, “ngoài

sân những ruộng muối đầy trăng…Trăng lồng trong những khung ruộng muối đầy ắp nước

càng làm tăng thêm cái ánh sáng lạnh lẽo và có phần giả tạo”[183, tr.671].

Có thể nói, thiên nhiên chính là chất men say, là nơi hò hẹn, tâm tình của bao chàng trai

cô gái: “Hai người…cứ lặng lẽ lủi sâu vào đám điên điển rậm rịt như rừng. Vào mùa nước

cò trắng, cò vàng đậu kín trên những cây điên điển mềm oặt. Thấy động tiếng người chúng

kêu choang choác, xõa cánh bay lên bay xuống rào rào như có bão”[183, tr.548].

Người dân sông nước Cửu Long hay yêu và hay nhớ nhưng chi tiết nhỏ nhắn, xinh xinh,

hay tư lự, đa sầu đa cảm chỉ vì những kinh mương gần gũi nhất, có khi chỉ là những cây

đồng cỏ nội dễ kiếm nhất.

Thiên nhiên gợi cho ta những kỷ niệm khó phai mờ về một xóm làng, miệt vườn từ đó

bồi đắp cho ta một tình yêu, sự gắn bó với nơi mình sinh ra, lớn lên. Có lẽ trong mỗi con

người thiên nhiên là sợi dây tâm linh ràng buộc với xứ sở cội nguồn bền chặt nhất.

Đã từ lâu cảnh sắc thiên nhiên đánh giá là có một vai trò, vị trí rất quan trọng trong việc

sáng tác văn chương. Thật thú vị khi đọc truyện ngắn ĐBSCL, chúng ta bắt gặp một bức

tranh thiên nhiên còn giữ được nét hoang sơ, huyền bí, cũng có phần khắc nghiệt, dữ dội,

nhưng trù phú và gắn bó với con người.

Đúng là thiên nhiên vùng sông nước với khuôn mặt đầy quyến rũ của nó, thoạt gặp ta

yêu mến ngay, là nguồn cảm hứng vô tận tạo nên những tác phẩm có giá trị, góp phần ca

ngợi quê hương xứ sở.

2.1.2.Cảm hứng về con người trong truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ

1975 đến nay

Văn học hiện đại Việt Nam trước năm 1975 gắn với cuộc chiến đấu giành độc lập dân

tộc, đấu tranh cho thống nhất đất nước. Sự mất còn của dân tộc, lợi ích của cộng đồng là mục

đích cao nhất của mọi cá nhân. Ngòi bút của nhà văn tập trung ca ngợi chiến công của cá

nhân và tập thể trong chiến đấu và sản xuất.Vì vậy, cảm hứng về con người trong văn học

giai đoạn này thường thiên về cảm hứng sử thi.

Sau năm 1975, đặc biệt từ 1986, cũng như những người cầm bút khác trong cả nước,

các cây bút truyện ngắn ĐBSCL đã nhận thức hiện thực không đơn giản, xuôi chiều; và con

người là một sinh thể phong phú, phức tạp, còn nhiều bí ẩn phải khám phá; độc giả là những

người bạn giao lưu, đối thoại một cách bình đẳng.

Từ đó truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 quan tâm nhiều hơn đến số phận cá nhân trong

những quy luật phức tạp, đời thường; nội tâm nhân vật được khai thác thác sâu hơn; bút pháp

hướng nội được phát huy; không gian đời tư được chú ý, thời gian tâm lý ngày càng mở

rộng…

Những chuyển biến về tư tưởng và hiện thực cuộc sống phong phú ở ĐBSCL đem đến

nguồn cảm hứng cho người cầm bút. Trong đó, cảm hứng ngợi ca con người nhân hậu nghĩa

tình, bộc trực bao dung được thể hiện khá rõ trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975.

2.1.2.1.Cảm hứng ngợi ca con người nhân hậu, nghĩa tình

Yếu tố ảnh hưởng đến tính cách con người Nam bộ là môi trường tự nhiên và hoàn cảnh

sinh hoạt. Giữa cái mênh mông của đồng lầy, của rừng ngập mặn, của biển cả và sông nước,

con người cần phải nương tựa vào nhau. Trong hoàn cảnh và môi trường tự nhiên như vậy,

con người Nam bộ lấy tình nghĩa và đạo lý làm chỗ dựa tinh thần cho sự gắn bó, liên kết

giữa người với người.

Văn chương Nam bộ, ở thời kỳ nào cũng thấm đượm những trang viết ngợi ca con

người nhân hậu, nghĩa tình. Truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, đề cao nhân phẩm của con người

lao động nghèo. Họ có thể thiếu thốn tiền bạc, nhưng không nghèo tình, nghèo nghĩa mà giàu

nhân cách, trách nhiệm. Dù có nghèo kiết xác, nhưng họ vẫn chơi hết mình và yêu hết cỡ,

thậm chí sẵn sàng hy sinh bản thân để giúp nhau trong cơn hoạn nạn. Có thể nói nhân hậu,

nghĩa tình là một phẩm chất nổi bật con người Nam bộ.

Quý hơn bạc vàng của Bùi Quí Khiêm là câu chuyện kể về người lính tình nguyện tên

Hải. Vợ Hải chết sau một ca sinh khó. Ai sẽ là người nuôi đứa con của Hải khi anh đang

chiến đấu trên nước bạn Campuchia? Chính lúc ấy thì Thảo, một cô gái trẻ trước kia cùng cơ

quan với Hải đã tự đứng ra nhận lấy trách nhiệm cao cả của người mẹ, mặc cho trong cơ

quan cũng như ngoài xã hội có khá nhiều lời ra tiếng vào. Do đồng lương eo hẹp, Thảo chấp

nhận bán đi gần hết những món tư trang quý giá của mình để có thể nuôi đứa trẻ một cách

chu đáo, dù đứa con ấy không do cô mang nặng đẻ đau. Khi nhận lấy trách nhiệm cao cả của

người mẹ, ngoài tình yêu thương ra ở Thảo còn có tấm lòng nhân hậu cao cả của một con

người: ‘‘Trên cuộc đời này, trong lúc mà còn rất nhiều hiện tượng tiêu cực xảy ra do sự chi

phối của vật chất thì vẫn còn những con người tốt. Họ đã dám dũng cảm đón nhận lấy

những khó khăn, những nỗi khổ đáng lý ra không phải của họ. Tấm lòng của họ không có

một thứ vàng ngọc nào trên đời này quý hơn’’[185, tr.40].

Cũng với mạch cảm hứng ngợi ca, Trái tim Tháp Mười của Trần Hoàng Anh, người đọc

từ chia xẻ, khâm phục sự hy sinh và tấm lòng nhân hậu của Chung ở một hoàn cảnh khác.

Chín Hùng - một cán bộ huyện uỷ - được gia đình ông Hai (cha của Chung) nuôi giấu vào

những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp. Những hôm thức ăn khan hiếm, cả gia

đình ăn cơm với dưa mắm còn cá kho thì đưa xuống hầm bí mật cho Chín Hùng. Khi bọn

lính đến nhà tìm hầm bí mật, ông Hai thà bị bắn chết chứ nhất định không khai gì cả. Hiệp

định Geneve được ký kết. Chín Hùng tập kết ra Bắc. Chín Hùng và Chung thầm yêu nhau

mà không ai dám nói với ai. Hai mươi mốt năm sau Chín Hùng trở về. Chung vẫn chờ nhưng

Chín Hùng đã có vợ. Dù rất đau khổ nhưng Chung không nghĩ đến nỗi đau của mình mà lại

có những suy nghĩ thật nhân hậu: ‘‘Anh trở về nguyên vẹn là cô vui lắm rồi. Anh còn trên thế

gian này vậy là đủ. Anh hạnh phúc, vậy là cô mãn nguyện. Không thể đòi hỏi một sự toàn

vẹn bởi trong chiến tranh, có những mất mát đành phải chấp nhận... Cô phải sống, phải cố

gắng lên, để anh bớt mặc cảm, bớt đi sự lo lắng. Nếu cô gục ngã thì anh sẽ đau khổ, day dứt

suốt quãng đời còn lại. Bây giờ không lẽ là lúc làm khổ nhau thêm?’’[184, tr.382]. Đúng như

nhan đề của truyện, lòng nhân hậu của Chung chính là ‘‘trái tim Tháp Mười’’.

Cũng viết về con người nhân hậu, nghĩa tình tác giả Nguyễn Đắc Hiền lại khai thác từ

người lính (NV Hùng) thời hậu chiến. Truyện ngắn Mai kể về hai chiến sĩ Hùng và Tấn. Họ

là những người cùng xóm, đi tòng quân một lượt và lại ở chung một tiểu đội. Vợ chồng

Hùng đã có một đứa con trai còn vợ Tấn thì đang có mang. Xuân Mậu Thân, Tấn hy sinh.

Hùng đưa thi hài Tấn về quê nhà. Khi nghe tin Tấn mất, vợ Hùng đã rước Liên (vợ Tấn) về

nhà mình chăm sóc vì Liên đã đến ngày sinh nở. Ít lâu sau vợ Hùng chết vì quả pháo rơi

trúng nhà mình. Sau khi chôn cất vợ Hùng, Liên đem Trí - con trai duy nhất của Hùng về

nuôi. Đất nước hoà bình, Hùng trở về. Hùng thấy việc Liên chịu cực, chịu khổ nuôi con mình

suốt bảy năm qua là ơn, là nghĩa vô cùng sâu đậm, không thể cám ơn bằng lời.

Với truyện ngắn Chị Mai, Nguyễn Hồng Chuyên đã thể hiện thành công nhân vật Mai -

một nhân vật tiêu biểu cho lối sống nghĩa tình. Dù chồng lâm bệnh nặng, gia đình lâm vào

cảnh túng thiếu nhưng chị vẫn chăm sóc chồng chu đáo và đồng cảm chia sẻ nỗi đau của

những người xung quanh. Ở chị luôn toả sáng vẻ đẹp dịu dàng, đôn hậu và nghĩa tình. Chị

không thể nào quên được sự giúp đỡ của Tôn đối với chị khi chị lâm vào hoàn cảnh đau

thương mất mát. Tình cảm đó của chị cũng là một trong những biểu hiện của vẻ đẹp đạo lí

của con người Việt Nam: mang ơn ai thì không thể nào quên. Chính vì thế, chị Mai luôn ghi

lòng tạc dạ công ơn của Tôn - một người lính chăm sóc cha nằm viện cùng phòng với chồng

chị đã hết lòng giúp đỡ chị trong hoạn nạn. Chị cố công tìm kiếm bằng được gia đình Tôn để

“tạ ơn cho đúng đạo nghĩa tổ tiên đã dạy”. Hơn thế nữa chị Mai còn xin ba mẹ Tôn xem chị

là đứa con trong gia đình để chị báo hiếu. Ngày Tết, chị dẫn các con của mình đến chúc Tết

cha mẹ Tôn. Khi mẹ Tôn hấp hối chị Mai cũng có mặt như những đứa con trong gia đình.

Tình cảm đó đã làm cho mẹ Tôn hồi tỉnh trong giây lát để trăng trối với những người thân

yêu trong gia đình và chấp thuận niềm mong ước của chị Mai được làm con của mẹ.

Lối sống nghĩa tình ở truyện ngắn này còn được thể hiện ở nhân vật Tôn. Trước tình

huống chồng chị Mai chết, chị Mai vì quá xót thương chồng nên bất tỉnh và có nguy cơ trụy

tim mạch, anh không chần chừ do dự, lập tức đưa chị lên phòng trực để cấp cứu kịp thời.

Mặt khác, Tôn còn tự tay mình làm vệ sinh thi thể cho người đã khuất một cách chu đáo. Với

tình thương đối với người đã khuất, Tôn không tin được sự thật đã xảy ra, anh hi vọng sự hồi

sinh của chồng chị Mai và điều này đã thôi thúc anh đang đêm đến nhà xác kiểm tra lại một

lần nữa để rồi thất vọng vì sự thật đau xót đó đã xảy ra... Có thể nói, dù không quen biết

nhau nhưng trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó Tôn luôn cảm thông và quan tâm giúp đỡ chị

Mai như giúp đỡ chính người thân trong gia đình mình. Đây cũng chính là một nét đẹp trong

lối sống cao cả nghĩa tình của con người Việt Nam.

Truyện ngắn Quê hương đôi ngả của Nguyễn Hồng Chuyên cũng ngợi ca anh bộ đội Cụ

Hồ trong cuộc sống thời bình. Trong chiến tranh, họ không tiếc máu xương của mình để góp

phần bảo vệ Tổ quốc. Khi chiến tranh kết thúc, họ trở về với cuộc sống đời thường như bao

người khác. Các nhân vật trong truyện mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau và dù trong

bất cứ hoàn cảnh nào họ vẫn luôn giữ gìn, phát huy phẩm chất cao đẹp của anh bộ đội Cụ

Hồ, của những người đã cầm súng chiến đấu vì Tổ quốc. Vợ chồng nhân vật Vũ Thứ đều là

thương binh. Họ để lại một phần thân thể của mình trong chiến tranh. Họ chiến đấu vì hạnh

phúc chung của dân tộc, nhưng cuộc sống đời tư của họ lại gặp bao cảnh ngộ éo le: hai lần

người vợ mang thai nhưng họ không có niềm hạnh phúc được nâng niu đứa trẻ trên tay mình;

người chú vợ với cái nhìn ích kỉ, hèn kém đã làm cho họ dù yêu thương nhau, dù là vợ chồng

vẫn phải mỗi người mỗi ngả... Trong hoàn cảnh đó tình nghĩa vợ chồng vẫn luôn son sắt, họ

hiểu và cảm thông sâu sắc cho nhau để cùng hăng hái trong mọi phong trào vận động quần

chúng, họ dành một phần lương hưu và trợ cấp góp phần xây dựng quỹ khuyến học, nhường

tiêu chuẩn xây nhà tình nghĩa cho người khác. Vũ Thứ hiểu rằng biết bao người khác còn

khó khăn hơn anh và như anh. Anh muốn góp chút công sức trong khả năng có được của

mình để xây dựng quê hương. Có thể nói, cuộc sống của vợ chồng Vũ Thứ gặp biết bao khó

khăn nhưng họ vẫn luôn phát huy được phẩm chất tốt đẹp của người lính trở về sau chiến

tranh, họ không chỉ nghĩ về mình mà còn nghĩ về cuộc sống của những người xung quanh

mình. Điều đó đã lí giải vì sao Vũ Thứ dẫu chỉ còn một mắt, một chân vẫn không chút do dự,

chần chừ mà ngay lập tức quay xuồng hướng về phía ba người gặp nạn và tìm cách cứu họ

thoát khỏi dòng nước lũ, cho dù anh phải hi sinh.

Truyện Cải ơi của Nguyễn Ngọc Tư có nhiều chi tiết thấm đượm tình người diễn tả

cuộc hành trình ông Năm Nhỏ lặn lội đi tìm con (con riêng của vợ ông):

‘‘Ông già Năm Nhỏ lặng đi, tự hỏi, bây giờ ông lên tivi, con Cải có nhận ra ông không.

Câu trả lời là có, ông đã dắt con nhỏ đi hái xoài chín trong vườn hoang, đã chặt chối làm bè

dạy cho nó lội, thả trâu, chơi diều, ông đã cõng con nhỏ đi tắt mấy vạt đồng đến khám bệnh

chỗ ông bác sĩ già, mỗi khi nó nhức đầu, sổ mũi. Cây kẹp nhỏ, mớ giây thun khoanh, mấy

cục kẹo dừa vung vinh trong túi áo mỗi khi ông đi chợ về…Tất cả những thứ đó, ông nhớ

mồn một thì nhỏ Cải chắc chưa quên. Ông già muốn lên tivi để nhắn đứa trẻ bỏ nhà rằng, về

đi con, đôi trâu có sá gì’’[171, tr.13].

Có thể nói, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, đã có những trang viết xúc động, trân trọng

ngợi ca những con người có tấm lòng nhân hậu, lối sống nghĩa tình. Dù họ sinh sống, mưu

sinh khắp mọi nẻo đường, trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn nhận ra ở họ, những phẩm chất

cao đẹp ấy.

2.1.2.2.Cảm hứng ngợi ca con người bộc trực, thẳng thắn

Bàn về tính cách người Nam bộ, người ta thường nhắc tới tính bộc trực, ăn nói thẳng

thắn, ít nói văn hoa, rào đón ‘‘vòng vo tam quốc’’, ‘‘có sao nói vậy’’. Xét đến cùng bộc trực,

thẳng thắng là sự kế thừa và phát huy tính cách của con người Việt Nam trong hoàn cảnh xã

hội, tự nhiên ở vùng đất mới Nam bộ.

Truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, đã có những trang viết xúc động về những con người

thẳng thắn, dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải.

Bất mãn vì không còn ruộng để cày cấy, ông Tư Khanh (Người chạy trốn quá khứ - Mai

Bửu Minh), thẳng thắn đấu tranh với chủ trương gom đất làm nông trường của chính quyền

cách mạng, mạnh dạn nói lên tiếng nói của người nông dân: ‘‘Thời nào cũng vậy thôi. Thời

nào mà thằng nông dân lấm lấm chân bùn không bị thiệt thòi (...) Thời trước lo mần ăn được

thì sợ người ta chụp mũ mình làm Cộng Sản. Mần được bao nhiêu chỉ đủ chạy chọt cho yên

thân. Còn thời bây giờ, làm ăn kha khá lên là người ta chú ý, dò xét để buộc tội là bóc

lột’’[180.2, tr.29]. Và khi bị gán cho cái tội bóc lột người khác, ông bức xúc:

‘‘Tui... là thằng bóc lột ? Tui chống lại chính quyền. Ờ... đã vậy thì đem ra xử bắn đi...

Còn một ‘‘trọng tội’’ nữa mà các ông chưa kể nữa là tui đã bóc lột miếng đất hơn một trăm

năm chục công đó, bắt nó phải đẻ ra gần hai ngàn giạ lúa (hơn ba mươi tấn) có cái đút vô

miệng. Trong khi, nó được phép của các ông hai năm qua chơi với cỏ dại và bây giờ cỏ mọc

lút đầu như mấy ngàn công còn lại đó. Tui bóc lột người ta, khiến người ta có công ăn việc

làm và lạ đời họ xếp hàng năn nỉ để được tôi bóc lột thay vì được phép của các ông nằm ăn

ở không, chịu đói và sinh lòng trộm cắp... Một giạ cho một ngày công thì bị cho là bóc lột,

còn ba đứa con tui làm cho các ông tiền lương một tháng không bằng tui trả công cho người

làm thuê một tuần... Lạy trời! Tui không ngờ cái thàng chó má nhu tui lại có nhiều thứ tội

như vậy. Bóc lột người chưa đã còn bóc lột cả Đất’’[180.2, tr.31].

Và một bác Năm (Người xin ra khỏi tập đoàn - Lê Ngọc) đã thẳng thắn đưa đơn xin ra

khỏi tập đoàn với lý do rất giản dị vô tập đoàn mà làm ăn không bằng lúc chưa vô. Bị quy

chụp tội chống chủ trương của Nhà nước, bị mời lên gặp phó chủ tịch xã, bác vẫn thẳng thắn

chỉ ra cái sai của chủ trương và những việc làm tiêu cực của ban quản lý tập đoàn. Trong khi

địa phương chủ trương làm ăn tập thể mà bác Năm dám làm đơn xin ra khỏi tập đoàn, dám

trình bày sự thật về những sai trái của Ban quản lý tập đoàn với lãnh đạo xã, thì đúng là một

người dũng cảm dám đấu tranh với những sai trái trong xã hội.

Tính bộc trực của người dân Nam bộ không chỉ bộc lộ qua mối quan hệ công việc làm

ăn, trong đấu tranh với những vụ việc tiêu cực mà còn được biểu hiện sinh động ở phương

diện tình cảm của con người. Người đọc bắt gặp một anh Sáu Dương (Ông cá hô - Lê Văn

Thảo) yêu cô đào hát, không cần giấu giếm toan tính của mình: ‘‘Tao đã tính trong bụng rồi

tới chừng thấy chắc đào Hồng Điệp thương tao tao mới dám nói. Cũng không trễ đi đâu mà

vội. Chính là đừng để cho thằng khác xen vào (...). Tại tao thương đào Hồng Điệp quá nên

mới theo gánh hát chớ tao biết hát hò gì đâu, nhưng rồi cố gắng tập tành tao cũng hát được,

và khi hát chung với đào Hồng Điệp tao hát hay hơn gấp bội. Chuyện của tao cũng xuôi

chèo mát mái lắm, biết đâu lúc thành đào chánh kép chánh rồi cũng nên vợ nên chồng, nào

ngờ trúng nhầm gánh hát mắc dịch chưa chi đã rã banh’’[183, tr.572]. Còn khi gặp chuyện

bất bình, thì cái anh chàng đa tình, lại rất hào hiệp ấy, quyết không bỏ qua: ‘‘Mình chẳng có

súng đâu bắn lại chúng. Nhưng chẳng lẽ lại cứ để yên như vậy’’ ?[183, tr.583]. Không thể để

yên cho bọn lính ức hiếp đáp người khác, thế là một mình ‘‘ông cá hô’’ dám đánh lại bọn lính

ngang tàng để bảo vệ lẽ phải. Người đọc thú vị cách thể hiện quan niệm về tình yêu của ông

Chín Vũ (Cuối mùa nhan sắc - Nguyễn Ngọc Tư), người bán từng tờ vé số kiếm sống, uống

trà đá để dành tiền mua tặng người yêu chai dầu thơm. Khi có người chọc vui già mà còn

yêu. Ông đã thẳng thắn cự lại ‘‘mắc yêu thì yêu’’. Người Nam bộ là như vậy đó. Trong lĩnh

vực tình cảm cũng rất thẳng thắn, nghĩ sao làm vậy.

Có thể nói, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, đã dành nhiều trang viết xúc động về con

người Nam bộ. Họ là nhưng con người bộc trực và phóng khoáng; nhân hậu và khoan dung.

Đây là phẩm chất truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam và được nối tiếp, phát triển thành

tính cách nổi trội của người Nam bộ và càng tỏa sáng khi gặp hoạn nạn, khó khăn.

2.2.Cảm hứng phê phán cái hạn chế, cái tiêu cực trong đời sống

Như chúng tôi đã đề cập, trước những vấn đề của hiện thực đời sống, nhà văn khi phản

ánh vào tác phẩm bao giờ cũng thông qua đó gửi gắm, thể hiện một thái độ tình cảm có khi

tán thành, ngợi ca cũng có khi là mỉa mai, phê phán, phủ nhận...

Đời sống muôn màu muôn vẻ, biến đổi, phát triển không ngừng. Con người trong đời

sống hằng ngày, trong quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội,…rất phong phú phức tạp. Đó chính

là cội nguồn, là mảnh đất màu mỡ cho tác phẩm văn học hình thành. Qua sáng tạo của nhà

văn, tác phẩm văn học lại trở về với cuộc sống trong sự lung linh, kết đọng của nó. Những

áng văn chương hay từ xưa đến nay đều là kết quả của sự thăng hoa, sự kết tinh những nỗi

niềm say mê của con người trong cuộc sống, những điều nhà văn ôm ấp, nghiền ngẫm thầm

lặng, lâu dài, cho đến khi tìm được cách giãi bày mới thôi.

Vận động trong một giai đoạn lịch sử xã hội với những biến đổi to lớn và phức tạp, lại

là một thể loại năng động, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, thực sự là bức tranh của cuộc sống

hằng ngày với bao niềm suy tư, trăn trở của nhà văn. Có thể thấy, nổi bật trong nội dung phê

phán của truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 là: Phê phán sự ấu trĩ, nóng vội, quan liêu, vô

cảm; phê phán mặt trái của đô thị hóa nông thôn; phê phán tác động tiêu cực của kinh

tế thị trường.

2.2.1.Phê phán sự ấu trĩ, nóng vội, quan liêu, vô cảm

Mười năm sau ngày giải phóng, truyện ngắn viết về đề tài xây dựng quê hương ở

ĐBSCL không nhiều. Vì cuộc sống bị xáo trộn, kinh tế trì trệ, xã hội càng lúc càng bề bộn

thêm lên, mà không có một lời giải thích chính thức. Giới cầm bút có lẽ còn lúng túng khi

tìm cảm hứng về hình ảnh tương lai của một xã hội xã hội chủ nghĩa. Còn những yếu kém

trong quản lý của chính quyền thì họ ngại ngùng không dám viết. Cho nên sau 1986, khi

nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI kêu gọi phải nhìn thẳng vào sự thật, tạo cơ sở tư tưởng

cho xu hướng dân chủ hoá trong văn học thì tiếng nói đấu tranh xây dựng trong truyện ngắn

ĐBSCL sau 1975 mới được cất lên.

Một số chính sách cải tạo xã hội mười năm đầu sau giải phóng đã được nhìn từ góc độ

người dân. Và khuynh hướng phê phán bộc lộ rất rõ trong nhiều lĩnh vực.

Sau 1975, nhà nước có chủ trương yêu cầu nông dân phải đưa ruộng đất của mình vào

hợp tác xã, làm ăn tập thể. Minh họa cho chủ trương ấy, có một số tác phẩm viết về phong

trào hợp tác hoá với khuynh hướng ngợi ca, tô hồng. Nhưng bên cạnh đó cũng có những tác

phẩm mạnh dạn phê phán sự nóng vội trong chủ trương, chính sách cải tạo nông nghiệp. Có

là người từng đi khai hoang ở vùng đất mới thì mới hiểu hết nỗi vất vả, khổ nhọc và nghĩa

nặng tình sâu sâu của người nông dân với mảnh đất của họ. Tư Khanh (Người chạy trốn quá

khứ - Mai Bửu Minh) là một nông dân tốt. Trước 1975, ông đã từng cứu sống cán bộ cách

mạng. Cứu giúp vì đó là việc phải, cần phải làm chứ ông không hề toan tính cái lợi, cái hại

ngày mai. Thế mà hoà bình rồi, ông khổ. Khổ vì chính quyền cách mạng đã tước bỏ cái

quyền làm chủ trên mảnh đất của ông để trả cái quyền đó cho ‘‘tập thể’’. Ông không còn

được sản xuất trên mảnh đất của mình. Máy cày của ông thì ‘‘người ta đã mua với giá rẻ mạt

mà còn hẹn hai năm sau mới trả’’, tới khi nhận tiền thì ‘‘bốn chục ngàn chỉ còn bốn ngàn

tiền mới đổi’’. Con của ông, bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt, ông đã nuôi cho ăn học lớn

khôn, giờ đi làm cách mạng để ‘‘được’’ người ta tố cáo là con của kẻ có nợ máu với cách

mạng.

Truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, còn phê phán sự quan liêu và thiếu trách nhiệm của

những người lãnh đạo địa phương trước những khó khăn, những oan trái của người dân

lương thiện.

Lỡ mùa của Nguyễn Ngọc Tư đã phê phán sự quan liêu và thiếu trách nhiệm của người

lãnh đạo về vấn đề ‘‘quy hoạch treo’’ - một vấn đề có tính thời sự trong xu thế đô thị hoá

nông hiện nay ở nước ta. Hình ảnh ông Ba Già cùng những người nông dân lam lũ, khắc khổ

phải lặn lội từ quê lên phố tìm gặp chủ tịch tỉnh để hỏi vì sao đất Trảng Cò quê mình bị quy

hoạch treo đã nhiều năm trời, trong khi bà con đang rất cần đất để canh tác làm người đọc

không khỏi chạnh lòng và xót xa:

‘‘Ông Ba Già viết cái đơn văn phong chân chất y như ông cho ông cho tám mươi sau hộ

dân trong xóm ký, lặn lội lên tỉnh, nhưng lãnh đạo bận đi họp ở trung ương, chờ không được

ông quay về. Bây giờ trời bắt đầu chuyển sang mưa, lại một mùa mưa nữa Trảng Cò buồn

như bị bỏ rơi, nghe nói nhà nước đã chuyển quy hoạch sang Trảng Sáo rồi, lại thêm thay đổi

nhiều lãnh đạo chủ chốt, xem ra người cũ đã chuyển đi chỗ khác, chắc quên mất tiêu

luôn’’[167, tr.30].

Tương tự như vậy, cũng là sự quan liêu và thiếu trách nhiệm của chính quyền địa

phương đối với người dân, trong truyện Đau gì như thể, Nguyễn Ngọc Tư nói về trường hợp

ông Tư Nhớ bị chính quyền xã bắt giam một cách oan ức vì cho rằng ông đã loạn luôn với

con gái mình. Thế nhưng, sau khi mọi chuyện sáng tỏ rồi, ông Tư Nhớ làm đơn yêu cầu

chính quyền xin lỗi và minh oan cho ông, nhưng chẳng ai đoái hoài tới. Nỗi oan đầy cay

đắng cũng như danh dự của một con người chân chất, nhân hậu bị người ta xúc phạm nghiêm

trọng nhưng cuối cùng cả một hệ thống chính quyền địa phương chẳng một ai thèm quan

tâm: ‘‘Ông ra xã, công an xã cười khà khà, như đang nói về vụ bắt nhầm con cá lóc, hay con

vịt con gà. Biết chú bị oan là tui thả liền, chú còn đòi gì nữa?’’[167, tr.127].

Truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, cũng phê phán lối sống hời hợt, thiếu tình nghĩa đối với

các giá trị lịch sử truyền thống.

Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư, là một câu chuyện xúc động về một con

người (ông Hai Tương năm nào cũng đi kể về chuyện khởi nghĩa) lúc nào cũng canh cánh

bên lòng những kỉ niệm về đồng đội và lớp người đi trước đã ngã xuống vì độc lập tự do cho

quê hương xứ sở. Thế nhưng đằng sau câu chuyện đầy ắp tình nghĩa về bài học đạo lý ‘‘uống

nước nhớ nguồn’’ ấy, là một thái độ phê phán rất kín đáo của nhà văn. Lịch sử về những

người anh hùng ở địa phương đã hi sinh thân mình đổi lấy tự do cho quê hương thế nhưng

chẳng còn mấy ai nhớ ngoài con bé Tươi là cháu ngoại ông. Còn chính quyền địa phương thì

năm nào cũng tổ chức lễ kỉ niệm, nhưng chỉ chú ý tới hình thức còn nội dung thì chiếu lệ cho

xong:

‘‘Năm rồi Tư Lai đi thay, năm nay thư đến trễ ông Tư đi biển ngày họp không về kịp.

Cán bộ xã đút mũi xuồng lại rước. Bà cụ Hai rầu rĩ như mình đã ruồng rẫy, phũ phàng ai

vậy, chép miệng than:

‘‘Thiệt rầu hết sức, nhà tui tưởng còn ai đi kể chuyện khởi nghĩa.

Hổng ấy cho con Tươi đi chịu hôn ?

Nó nhỏ xíu hà, biết không ?

Nó tuổi con gà, hai chục rồi, nó lanh lắm.

Thôi kệ, đi đại đi.

...Đó là câu chuyện của cô, của ông nội cô, của những người xóm rạch. Họ kể chuyện

đó bao nhiêu lần rồi ? Các nhà viết sử nghe bao nhiêu lần rồi’’[166, tr.14].

Tóm lại, tỏ thái độ không đồng tình và phê phán sự ấu trĩ, nóng vội, quan liêu, vô

cảm, là cảm hứng nhằm thể hiện quan niệm và cái nhìn độc đáo của tác giả truyện ngắn

ĐBSCL sau 1975 về con người hướng thiện và sống hết mình vì người khác.

2.2.2.Phê phán mặt trái của đô thị hóa nông thôn

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng tôi nhận thấy, bên cạnh những tình cảm

trân trọng, ngợi ca dành cho những con người với những đức tính, những cách ứng xử cao

đẹp trong cuộc sống; bên cạnh việc tái hiện những bức tranh thiên nhiên thanh bình, êm ả

mang đặc trưng văn hoá ruộng vườn sông nước, các tác giả truyện ngắn ĐBSCL cũng tỏ thái

độ quyết liệt nhưng kín đáo bày tỏ sự không đồng tình của mình trước khá nhiều vấn đề có

thể gọi là tiêu cực của xã hội trong hoàn cảnh đô thị hoá nông thôn.

Nhìn ‘‘bề ngoài’’ truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, là bức tranh tái hiện cuộc sống và sinh

hoạt của người dân nghèo vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, nếu quan sát kỹ hơn chúng ta sẽ thấy,

trong bức tranh sinh hoạt ấy, bắt đầu có sự vận động, biến chuyển theo hướng từ quê ra thành

thị; từ ruộng đồng, sông nước ra những khu đô thị, khu công nghiệp đang trên đà đô thị hoá.

Và đặc biệt hơn là đằng sau những vấn đề hiện thực ấy là tiếng thở dài chua xót của nhà văn

trước những va chạm, những rạn nứt và đổ vỡ những giá trị văn hoá truyền thống của làng

quê nông thôn như một điều tất yếu không cách nào tránh khỏi. Nói khác đi đây cũng chính

là thái độ không đồng tình của nhà văn về những mặt trái của đô thị hoá với nguy cơ tàn phá

cấu trúc văn hoá làng quê nông thôn cả về vật chất lẫn tinh thần.

Trước hết, sự tác động của đô thị hoá đã làm cho cuộc sống của người dân quê ít nhiều

bị xáo trộn. Sự êm ả thanh bình vốn có của không gian làng xã bắt đầu có sự thay đổi. Làng

quê trong truyện ngắn ĐBSCL giờ đây đã xuất hiện thêm những ‘‘dịch vụ’’.

Người đọc bắt gặp cô Bông trong Bến đò xóm Miễu của Nguyễn Ngọc Tư, bị cuộc sống

‘‘nửa chợ, nửa quê’’ làm ‘‘ô uế’’ từ khi còn là cô bé còn đang độ tuổi cắp sách đến trường chỉ

trong một ngày đã ‘‘lột xác’’ thành cô tiếp viên ở quán ‘‘bia ôm’’ ‘‘Đêm sầu’’ bên kia sông:

‘‘Con Bông giờ đã khác. Buổi sáng, Bông bận áo rách qua chợ, buổi chiều Bông về. Trên

mình là chiếc váy ngắn, áo yếm, vai quàng hửng hờ hai cái dây nhỏ xíu có cũng vậy mà

không có cũng vậy, vịn hờ cái áo khỏi tuột xuống... Người xóm qua đò xầm xì Bông đi bán

bia ôm bên sông, quán ‘‘Đêm sầu’’... Bông trở về lúc hai ba giờ sáng, quần áo xốc xếch, tóc

mai dính bết vào khuôn mặt đầm đà son phấn. Đôi mắt dại đi vì say, vì mất ngủ’’[169,

tr.100].

Thực trạng ở nông thôn ĐBSCL có một bộ phận phụ nữ vì cuộc sống nghèo khó đã

chấp nhận đánh đổi thân xác mình để tồn tại. Ai mà không nhói lòng khi đọc những đoạn văn

trong Cánh đồng bất tận: ‘‘Chúng tôi gặp nhiều, rất nhiều người phụ nữ giống như chị. Cứ

mỗi mùa gặt, họ lại dập dìu trên đê, lượn lờ quanh lều của những người thợ gặt, những

người đàn ông giữ lúa và bọn nuôi vịt chạy đồng. Họ cố làm ra vẻ trẻ trung, tươi tắn nhưng

mặt và cổ đã nhão ra, nhìn kỹ phát ứa nước mắt’’[171, tr.160].

Nói đến thái độ phê phán của nhà văn về những mặt trái của tình trạng đô thị hoá nông

thôn, không thể không bàn đến vấn đề con người ở làng quê nông thôn đang đứng trước

nguy cơ đánh mất đi những phẩm chất thật thà chân chất vốn có của mình bởi những tác

động và ảnh hưởng từ những cơ gió độc hại từ thành thị thổi về.

Ở nông thôn - nơi con người sống thật thà mộc mạc chân chất, nơi có những người nông

dân, mà người ta quen gọi là ‘‘hai lúa’’ giờ đây đang nhen nhóm lối sống giả dối đến mức

trở thành thói quen đáng sợ.

Qua cái chết đau lòng của San (NV trong truyện Ngày đùa), Nguyễn Ngọc Tư đã gián

tiếp phản đối cách con người ta sống giả dối, thiếu trung thực dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, không chỉ phê phán những tác động tiêu cực ở phạm vi

rộng lớn, mà ở ngay trong mỗi gia đình.

Không gian gia đình trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, mang màu xám u buồn, sự

thiếu thốn tình cảm, tình thương của những đứa trẻ bởi những hoàn cảnh khác nhau. Trong

đó nổi bật là vấn đề những bậc cha mẹ thiếu sự quan tâm và trách nhiệm đối với những

đứa con do chính mình sinh ra. Điều này lý giải tại sao, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, lại có

khá nhiều nhân vật là những đứa trẻ thơ sống trong nỗi thiếu thốn tình thương của cha mẹ,

hoặc phải sớm lăn lộn mưu sinh, đặc biệt có những đứa trẻ rơi vào những bi kịch rất đáng

thương.

Sói trong Ấu thơ tươi đẹp của Nguyễn Ngọc Tư, đã chịu cảnh đó. Cha mẹ nó mỗi người

có một hạnh phúc riêng, nó cảm thấy bơ vơ giữa cuộc đời. Chính sự thiếu sự quan tâm của

cha mẹ đã hình thành nên tính cách ngang ngược, ăn nói vô lễ của những đứa trẻ: ‘‘kiếm

băng khác phát đi cha, tua đi tua lại câu này nghe chán chết’’[172, tr.61]. Có gì đáng buồn

hơn khi tổ ấm của mình, cũng trở nên xa lạ:‘‘Em sợ khi mở mắt thức dạy đã nhìn thấy mẹ em

mặc cái áo mẹ mua trong lúc vắng em, ra mở cửa. Vào nhà em thấy một đôi giày đàn ông xa

lạ. Và cái đèn ngủ màu đỏ của em mẹ đã thay bằng thứ ánh sáng xanh tái. Có cái tủ mới

trong bếp. Một vài cái đĩa CD mà em yêu thích thì mất. Em lạc giữa nhà mình và mất một

nửa thời gian bên mẹ để làm quen lại’’[172, tr.73].

Và đây là bi kịch đau lòng, nguyên nhân dẫn đến chấn thương tâm hồn của hai chị em

Nương và Điền trong Cánh đồng bất tận:

‘‘Nên mỗi lần cha nhìn đăm đăm và mỉm cười với một người đàn bà, chúng tôi lại thắt

thẻo... Cha đẩy chúng tôi trượt dài vào nỗi thiếu thốn triền miên. Mỗi lần rời khỏi một nơi

nào đó, thật khó để phân biệt chúng tôi bỏ đi hay chạy chốn. Chúng tôi đáng mất cái quyền

được đưa tiễn, được xao xuyến nhìn những cái vẫy tay...’’[171, tr.190- 191].

Có thể nói, nguyên nhân dẫn đến sự rạn nứt về tình cảm làm tổn thương tâm hồn trẻ thơ

đa phần là do sự tan vỡ của gia đình, sự phản bội của các cặp vợ chồng.

Đây là lời cảnh báo về vấn đề gia đình, vấn đề trẻ em trong toàn xã hội. Qua đó nhà nhà

văn gởi một thông điệp: muốn xây dựng môi trường đạo đức xã hội lành mạnh trước hết phải

xây dựng môi trường đạo đức ngay trong từng gia đình.

Những vấn đề có tính thời sự rất nóng bỏng như ‘‘đẻ mướn’’, tình yêu đồng giới đã bắt

đầu len lỏi xuống tận vùng sâu, vùng xa cũng được đề cập, phản ánh rất kịp thời, như Làm

mẹ, Tình thầm của Nguyễn Ngọc Tư… Điều này cho chúng ta thấy hiện đang có sự xâm lấn

khá nhanh của mặt trái đời sống đô thị đối với những giá trị văn hóa làng xã ở nông thôn.

Ngoài ra, truyện ngắn ĐBSCL cũng dự báo về những tác động tiêu cực của quá trình đô

thị hoá đang diễn ra ở mạnh mẽ nông thôn đến môi trường tự nhiên, môi trường sống.

Việt Nam là nước nông nghiệp, cuộc sống của người nông dân luôn gắn bó với đất đai,

ruộng đồng. Cánh đồng là không gian sinh sinh tồn của người nông dân từ bao đời nay.

Nhưng rồi đây những cánh đồng sẽ được thay bằng những khu công nghiệp, những khu đô

thị hào nhoáng, những sân gôn…Thế nhưng, liệu sự hào nhoáng bề ngoài có thật sự mang

đến hạnh phúc cho người dân nông thôn? Có lẽ, trong tương lai cùng với quá trình đô thị

hoá, những cánh đồng bao la sẽ bị thu hẹp dần: ‘‘Những cánh đồng trở thành đô thị;... những

cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn

trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành’’[171, tr.208]. Những cánh đồng chết

do quá trình đô thị hoá mà người nông dân mất dần ruộng đất. Nói một cách khác, cánh đồng

là biểu tượng cho sự băng hoại văn hoá (vật thể và phi vật thể), do sự tha hoá của đời sống

con người.

Có thể nói, sự trăn trở là lời cảnh báo, là khả năng dự cảm của nhà văn về thực trạng

bức thiết những tác động tiêu cực trong xã hội ở thời kỳ công nghiệp hóa.

Quá trình đô thị hoá không chỉ tác động đến đời sống tinh thần của con người mà xâm

hại đến môi trường tự nhiên. Thực tế ai cũng nhận thấy, khi khoa học - kỹ thuật phát triển thì

đời sống của con người ngày một tốt hơn, nhưng trái lại, nó cũng đang ngấm ngầm tách con

người ra khỏi môi trường tự nhiên.

Nhiều truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay (Ông thiềm thừ của Trần Kim Trắc, Trò

chơi giữa giờ của Vũ Đức Nghĩa, Chim hạc bay về và Bầy chim sổ lồng của Ngô Khắc

Tài,…) đã đề cập đến tình trạng môi trường thiên nhiên bị xâm hại.

Qua mỗi trang viết, nhà văn muốn nhắn gửi đến mọi người thông điệp: hãy bảo vệ môi

trường tốt đẹp của tự nhiên, vì khi môi trường đó mất đi thì không thể nào tìm lại được.

Đồng thời thể hiện tình cảm thiết tha của con người gắn bó với thiên nhiên, nỗi ray rứt khi

thiên nhiên bị tàn phá, huỷ diệt:

‘‘Ngày xưa ấy, cứ đưa tay lên trời là túm được chim cò, thò vô hang là nắm gọn lươn,

rắn chuột, tuột xuống nước là tóm lấy cả loài cá, có từng đàn siếu cao lêu nghêu đi từng

đàn, từng đàn trên ruộng, đàn vịt trời hàng trăm ngàn con bay mát cả một góc trời như một

đám mây’’.

Thế mà bây giờ ‘‘những cánh đồng tràm thành than, thành khói, những con rạch, con

sông giờ chỉ chuyên chở đủ thứ con người thải ra và đồng ruộng nực mùi thuốc độc có còn

chỗ nào yên lành để cho vạn vật trú ngụ, sinh sôi...’’ (Đôi tay – Mai Bửu Minh).

Có thể nói, các nhà văn ĐBSCL với cách nhìn và sự cảm nhận riêng đã đề cập đến thực

trạng và hậu quả của sự tàn phá, xâm hại môi trường thiên nhiên; đồng thời nhắn nhủ mọi

người trong cuộc sống hôm nay phải biết sống hoà mình vào thiên nhiên, phải biết yêu

thương những loài vật bé nhỏ. Mặt khác phải có ý thức giữ gìn, chống lại những thế lực đang

tìm cách hủy diệt môi trường tự nhiên tươi đẹp.

2.2.3.Phê phán tác động tiêu cực của kinh tế thị trường

Cảm hứng phê phán càng phát triển mạnh hơn trong xã hội khi mà nền kinh tế thị

trường đã bộc lộ rõ những ‘‘khuyết tật’’ của nó. Những giá trị tinh thần dần bị mãnh lực của

đồng tiền đẩy lùi về phía sau, thậm chí bị quên lãng. Mỗi người như một cá thể phức tạp

trong suy nghĩ và trong hành động. Thế giới tinh thần, đời sống nội tâm, tiềm thức, bản năng

vô cùng phong phú. Nhiều cây bút đã thâm nhập cuộc sống để khám phá thế giới phức tạp

của con người trong xã hội nhiều biến đổi. Đi làm cách mạng cũng lắm kẻ có động cơ không

tốt. Tốt xấu lẫn lộn trong cùng một con người, rất khó nhận ra. Lợi ích vật chất được xem là

tiêu chuẩn hàng đầu cho mọi lựa chọn. Người ta sống giả dối, nịnh nọt để được thăng quan

tiến chức. Tình yêu là hơi thở, là nhịp đập của cuộc sống, hai người đến với nhau xuất phát

từ những rung động thật sự trong tâm hồn, đồng cảm sẻ chia buồn vui, cay đắng và hôn nhân

phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu. Thế nhưng tình yêu, hôn nhân cũng có khi trở thành

sức bật để con người tiến thân. Quang (NV trong Phiên toà không bị cáo - Nguyễn Thị Kỳ),

lợi dụng tình yêu để được thăng tiến công danh, sự nghiệp. Sức mạnh của tình yêu chân

chính đã không chiến thắng được sự tham vọng của Quang. Những cảm xúc yêu đương thật

sự với Yến buổi ban đầu đã bị xóa nhòa, để Quang dễ dàng lao vào vòng xoay cuộc đời,

giành lấy địa vị phó giám đốc công ty kinh doanh. Đồng thời để cân bằng với địa vị, công

danh của Quang thì người vợ phải là Diễm chứ không phải là Yến. Một người vợ có học vị,

có bằng cấp, có lý lịch sạch sẽ để Quang ngày càng củng cố địa vị của mình, chứ không phải

là một cô y tá bình thường và có vết đen trong hồ sơ lý lịch. Quang đã bất chấp qui luật của

một tình yêu chân thành, chỉ cần Quang được thăng tiến, được kính trọng, vị nể và được

nhiều người mến mộ ao ước một mái ấm như gia đình Quang. Trong cuộc sống có biết bao

điều được người ta bao bọc, che đậy nhưng có lẽ sự giả dối thì không thể nào che giấu mãi.

Diễm - nhân vật xưng tôi trong truyện đã nhận ra bộ mặt giả dối của Quang. Ẩn sau nét dịu

dàng, ân cần là một trái tim sắc lạnh và tàn nhẫn. Quang thờ ơ, ghẻ lạnh trước sự tồn tại của

người mà mình từng yêu thương đang vướng vào con đường tù tội và cả đứa con thơ giống

anh như đúc. Quang đã chà đạp lên tình yêu mà trong lòng vẫn ung dung, bình thản. Phần

người của Quang đã không đủ mạnh để thức tỉnh phần con, để Quang có thể ân hận về những

việc làm sai trái, lỗi lầm của mình. Chỉ có tiếng thét của Diễm, mong rằng nó sẽ thức tỉnh

lương tâm Quang “Đó là phiên tòa không có bị cáo vì em và anh - đứa bỏ bạn trong cơn

hoạn nạn, đứa ung dung chà đạp lên tình yêu”[183, tr.288]. Phiên tòa xét xử Yến, người ngồi

ghế bị cáo thật sự sẽ là ai? Tòa án pháp lý xét xử Yến thì Quang cũng sẽ phải gánh chịu hình

phạt nặng nề từ tòa án lương tâm; mà tòa án lương tâm là tòa án tối cao để phán xét tội ác

xuất phát từ tâm hồn, tinh thần của con người.

Có thể nói, mặt trái của kinh tế thị trường đã và đang làm không ít người tự đánh mất

mình. Sau chiến tranh, mỗi người lại trở về với cuộc sống đời thường, trở về với tất cả những

gì họ từng gắn bó. Cuộc đời đang mở ra trước mắt họ với nhiều dự định, ước mơ và khát

vọng, nhưng đồng thời họ phải đối mặt với biết bao gian truân, thử thách mới trong cuộc

sống đời thường nhiều đổi thay, biến động. Lối sống chạy theo đồng tiền và bị đồng tiền chi

phối đã làm băng hoại nhân cách, đạo đức của không ít người trong xã hội. Vì tiền, họ sẵn

sàng thực hiện những hành vi trắng trợn, chà đạp lên đạo lí, dân chủ và công bằng xã hội.

Nhân vật Ly trong truyện ngắn Một lẽ sống của Anh Đào là điển hình cho lối sống thực dụng,

xem nhẹ chuẩn mực đạo đức, nhân cách trong xã hội hiện nay. Cái chết bất ngờ và đau đớn

của Ly, một phần là cái giá phải trả cho cuộc sống vương giả, chạy theo đồng tiền và bất cần

đời của Ly. Cái chết như thức tỉnh con người nhận thức về một lối sống vật chất, xa hoa

không phải được đem lại bằng công sức, bằng lao động mà bằng những mánh khóe, lọc lừa,

lợi dụng. Thế nhưng, ẩn sau đó là vấn đề nhức nhối, day dứt hơn. Đó là mặt tiêu cực của một

số cán bộ bị suy đồi về mặt nhân cách, đạo đức. Cái chết của Ly liên quan đến một người

hiện lên lờ mờ, nhập nhòe dưới vầng trăng đêm cuối tháng. Cái ác, lối sống giả đạo đức

dường như được che đậy, khỏa lấp rất kỹ lưỡng và kín đáo: “Chỉ có tôi là hiểu nó đến đây

chờ một người, nhưng tôi sẽ không bao giờ nói, có ích gì! Mặc dù đau xé lòng, tôi vẫn cắn

môi không khóc, chỉ cố tìm hiểu nó chết lúc nào. Có phải lúc con chim ăn đêm chao mình,

lúc đồng hồ buông một tiếng lỏng, hay lúc bóng thủ trưởng tôi thấp thoáng?”[183, tr.80].

Ở truyện ngắn Thị trấn đồng bằng của Đào Ngọc Chương, sự ra đi của vợ Diễn với

người đàn ông giàu có, có chức quyền một phần là do sự vô tâm, thờ ơ và có cả hèn nhát của

Diễn “Diễn chỉ tồn tại như một người chạy vòng ngoài và được vợ nuôi”[183, tr.51]. Với

Diễn hạnh phúc có thể đến bất ngờ trong niềm vui thì cũng có thể nhanh chóng ra đi trong

niềm đau thương, nuối tiếc. Bên cạnh niềm vui còn có nỗi buồn và con người có thể “Có rất

nhiều điều vui nhưng tránh làm sao được một vài mất mát”[183, tr.52].

Một điều dễ nhận ra là thái độ phê phán của các nhà văn ĐBSCL thường nhẹ nhàng

không gay gắt thường thấy ở các nhà văn miền Bắc. Như Dương Hướng với Bến không

chồng; Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma; Bảo Ninh với Nỗi buồn

chiến tranh; và đặc biệt là Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt tác phẩm như: Tướng về hưu,

Những bài học nông thôn…

Tóm lại, cảm hứng phê phán trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, là những câu hỏi

phản biện mà nhà văn đặt ra cho người đọc, với một thái độ nhẹ nhàng, nhưng sâu sắc. Điều

này phù hợp với cách sống, môi trường sinh hoạt của người ĐBSCL.

2.3.Cảm hứng nhận thức tìm kiếm bản thể của con người

Theo Bùi Hiển: ‘‘Văn học với chức năng của nó là khám phá bản thể con người, lẽ tự

nhiên nó rất khao khát soi tìm vào những miền uẩn, ảo của nội tâm, vào những động cơ thầm

kín đến mức tăm tối của những ứng xử ý thức...’’[71, tr.1].

Những năm kháng chiến, người đọc đã quen với những trang viết mang đậm cảm hứng

sử thi hùng tráng. Ở đó, nhân vật trung tâm là lịch sử rộng lớn của dân tộc. Nó thu hút mọi

đời sống cá nhân, đòi hỏi sự tham gia của từng cá nhân với tư cách thành viên tích cực của

cộng đồng. Vì vậy con người được xây dựng, được hướng tới trong văn học là phần công

dân cộng đồng trong mỗi người. Con người tập thể, con người chính trị và dân tộc, con

người cộng đồng được coi là cống hiến quan trọng của giai đoạn văn học này. Nhà văn thông

qua lịch sử để biểu hiện con người, dùng hình tượng lịch sử để khám phá con người. Điều

này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thực tiễn và tâm lý công chúng.

Sau chiến tranh, đặc biệt từ từ sau đổi mới, những quy luật thời bình chi phối sâu sắc sự

tồn tại và vận động của văn học.

Bằng nhiều cách khám phá và thể hiện độc đáo, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, tiếp tục

thể hiện sự cống hiến hy sinh vì lợi ích cộng đồng ở mỗi con người, đồng thời cũng chú ý

đời sống riêng tư, những biểu hiện của con người trong cuộc sống đời thường.

Đây là một hướng tìm tòi vươn tới sự hài hoà giữa cái chung và cái riêng, tạo tiền đề

cho sự đổi mới cái nhìn cho con người ở bình diện cá nhân.

2.3.1. Con người với tình yêu và hạnh phúc

Sau 1975, đúng hơn là từ cuối năm 80 trở lại đây truyện ngắn ĐBSCL viết về đề tài

chiến tranh có cái nhìn mới về con người và cuộc chiến tranh. Trong chiến tranh có những

mối tình của người lính đến và qua đi nhanh chóng sau những phút giây mãnh liệt ái ân...

Đứa con của tình yêu đó ra đời đó là niềm hạnh phúc hay nỗi bất hạnh, luôn là niềm trăn trở,

băn khoăn trong tình cảm của người đọc. Cách khai thác và thể hiện tình yêu theo hướng đó,

nhà văn đã nêu ra một vấn đề đang đặt ra trong đời sống sau chiến tranh. Đó là: ‘‘Trong chiến

tranh có những đứa trẻ ra đời mà không biết cha mẹ chúng là ai’’, và có khi ‘‘có những

người cha không kịp biết rằng mình có những đứa con như thế ở trên đời, cũng có biết bao

người cha như thế mãi mãi nằm xuống’’ (Những đứa con trong chiến tranh – Thai Sắc).

Ở truyện ngắn Tiếng chuông trôi trên sông của Vũ Hồng, tình yêu hạnh phúc của người

lính lại được nhìn nhận ở một hoàn cảnh khác. Đại tá Kim sống một mình để chờ mỗi năm

được một lần về gặp người vợ yêu quý, nay đã già và cũng chỉ còn một mình. Chiến tranh

khiến họ không thể tái hợp, song cũng không thể mất hẳn nhau. Những ngày đầu tháng năm

hàng năm đối với họ, chẳng biết gọi là hạnh phúc hay bất hạnh. Với những người đàn ông,

những người lính, chiến tranh đã quá đỗi nghiệt ngã. Song, sự tàn phá còn nặng nề bội phần

hơn đối với số phận người phụ nữ. Trong truyện ngắn về chiến tranh hôm nay, vấn đề hạnh

phúc và tình yêu của người phụ nữ được quan tâm và trở thành nỗi ám ảnh, trăn trở hơn bao

giờ hết. Những mất mát của họ bao gồm cả thương vong, cái chết như bất kỳ người đàn ông

nào, nhưng họ còn phải chịu thêm những mất mát mà vốn đối với người phụ nữ, có khi quan

trọng hơn cả việc được sống. Chiến tranh đã đã cướp mất của họ rất nhiều, cả một thời con

gái – cái thời để được yêu và được làm vợ, làm mẹ. Hai Mật (Trên mái nhà người phụ nữ -

Bích Ngân) đã từng ba lần đứng trước cơ hội có một gia đình như bất kỳ người phụ nữ khác,

cái gia đình mà chị khao khát được có để yêu thương, vun vén, nhưng cả ba lần, giông bão

chiến tranh đã cuốn đi bóng cây trên mái nhà của chị. Họ đều ra trận, và đều không trở về.

Đến khi cô có con gái nuôi đến tuổi hò hẹn, chị vẫn còn con gái, nhưng lại đã đến lúc phải cư

như một người mẹ, giống như mẹ già của chị ngày nào.

Trong chiến tranh, vận mệnh của dân tộc, sự tồn vong của quốc gia chi phối từng cá

nhân, từng gia đình. Vì vậy, khi đó văn học ít đề cập đến tình yêu, hạnh phúc cá nhân. Sau

1975, khi cuộc sống trở về hoàn cảnh bình thường thì khát vọng về tình yêu, hạnh phúc là

nhu cầu chính đáng, không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người. Viết về tình yêu

đôi lứa, nhà văn không chú ý nhiều đến những định kiến giai cấp mà thể hiện sự cảm thông,

lòng trắc ẩn khi giãi bày về ‘‘thân phận tình yêu’’. Đi sâu phân tích đời sống tình cảm và

những suy nghĩ, hành động của nhân vật làm cho người đọc xúc động và có cảm giác gần

gũi.

Truyện ĐBSCL sau 1975, có nhiều tác phẩm viết về đề tài tình yêu ở nhiều góc độ khác

nhau. Nhiều truyện đề cập tới tình yêu đôi lứa ở nông thôn, với những ước mơ đơn giản,

bình dị. Có tình yêu đi đến kết cục nhưng phải qua bao nhiêu thăng trầm, sóng gió (Bến đò

xóm Miễu), nhưng có rất nhiều nhiều tình yêu dang dở, xót xa, vì lẽ: nghèo, thiếu học, không

dám mở lời, ngang trái gia đình, hoàn cảnh… Đó là những mối tình đẹp, buồn, mộc mạc,

chân thành và dung dị như chính cuộc đời của người dân vùng đất ĐBSCL.

Gấp trang sách lại người đọc như vẫn thấy hiển hiện khuôn mặt buồn rầu của anh Hết vì

quá nghèo mà phải cố tình biến mình như một kẻ tồi tệ để người yêu bỏ đi lấy chồng rồi từ

đó mang trong lòng một nỗi buồn vô tận (Hiu hiu gió bấc). Một ông già Chín (Cuối mùa

nhan sắc) uống trà đá hàng sáng thay vì uống cà phê để tiền mua tặng Hồng Đào chai dầu

thơm. Hay ngậm ngùi trước hình ảnh Huệ chạy xuồng trên con kênh, ngẩn ngơ ngó lên nhà

kẻ phụ tình chỉ mong nói một câu cuối cùng trước ngày xuất giá (Huệ lấy chồng).... Những

mối tình ở nông thôn vùng sông nước là vậy, còn một số truyện cũng viết về tình yêu, nhưng

là tình yêu mang đậm chất phố phường. Đó là tình yêu trong cuộc sống hiện đại, tình yêu

nơi phồn hoa đô thị, tình yêu của những con người ‘‘no đủ’’. Họ là những con người thành

đạt, sau những ngày mệt mỏi bởi thương trường, tiền tài và danh vọng bỗng bắt gặp ‘‘một

nửa’’ của chính mình, một tình yêu đích thực dẫu rằng một hoặc cả hai người đều đã yên bề

gia thất và đang có một cuộc sống gia đình mà nhiều người thèm muốn. Và để rồi từ đó họ

luôn sống trong mặc cảm tội lỗi sau những lần hò hẹn, gần gũi, luôn bị giằng xé bởi tình cảm

và lý trí. (Nước chảy một bên-Nguyễn Thị Diệp Mai,...)

Trước 1975, do sự chi phối của quy luật chiến tranh, người cầm bút thường viết về

những người phụ nữ với những phẩm chất cao đẹp. Các nhân vật như chị Sứ trong Hòn Đất

của Anh Đức, Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Mì trong Bông cẩm thạch

của Nguyễn Quang Sáng,… đã đi vào đời sống tinh thần của người ĐBSCL với niềm tự hào,

kiêu hãnh. Họ sẵn sàng đối mặt với gian khổ và sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc.

Sau ngày giải phóng, hoà bình được lập lại, người ta mới có điều kiện quan sát kỹ hơn,

soi vào đời tư của từng số phận, để thấy được khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ. ‘‘Nở

rộ trong văn xuôi những năm 80 là những tác phẩm viết về sự mưu cầu hạnh phúc và nỗi

khao khát tình yêu đôi lứa’’[119, tr.15].

Hoàng Thị Văn, Khát vọng hạnh phúc của con người trong truyện ngắn 75 - 95 viết:

‘‘Không biết có phải ngẫu nhiên, khi viết về hạnh phúc, những cây bút nữ dường như chiếm

ưu thế... phải chăng thiên tính nữ giàu cảm xúc, dễ rung động, nhạy cảm với những điều

mong manh xa xôi, rất mơ hồ chỉ thoáng trong thế giới riêng bên trong đầy bí ẩn của tâm

hồn con người’’[189, tr.46].

Cuộc sống mới, bên cạnh bao điều tốt đẹp đến với người phụ nữ thì ở đâu đó vẫn còn

những định kiến hẹp hòi về quan niệm hôn nhân, về hạnh phúc của người phụ nữ.

Dạ Ngân qua truyện ngắn Nhà không có đàn ông đã thể hiện một cách sinh động nỗi

buồn tủi, đắng cay của thân phận người phụ nữ sau chiến tranh. Năm người phụ nữ cùng

chung sống trong một mái nhà. Từ cụ nội chín mươi tuổi giàu phẩm hạnh và thể diện, cai

quản truyền thống cao quý của cả gia đình đến bà cô xấp xỉ lục tuần “son sẻ, sắc nét” luôn

đề ra những tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong việc lựa chọn hôn nhân; để rồi tủi hờn khi nhìn

thấy niềm hạnh phúc của người khác. Bà má và Hai Thảo lại âm thầm chịu đựng cảnh ở góa

để kế thừa để truyền thống phẩm hạnh thủ tiết - của hồi môn quí báu của cả gia đình. Niềm

khát khao hạnh phúc, tình yêu cá nhân là lẽ tự nhiên của con người. Đó là những tình cảm

chân thành xuất phát từ trái tim, đâu thể kìm nén, chế ngự. Nhân vật Út Thơm - người phụ

nữ duy nhất trong gia đình muốn phá vỡ hủ tục truyền thống ấy. Chị luôn bị giằng co đấu

tranh giữa trái tim và lý trí. Trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể giải thích được. Có

lúc trái tim đầy khao khát của chị giành phần thắng và tiếp sức mạnh cho chị đấu tranh để

nắm bắt niềm hạnh phúc cá nhân, nhưng cũng có lúc trái tim chị khô cằn, đắng cay. Những

lời giáo huấn nhiều lý lẽ của những người phụ nữ trong gia đình như kết tội ý nghĩ mà họ

cho là nhỏ bé và tầm thường của chị. Thực chất, họ luôn khao khát điều tầm thường ấy;

nhưng họ đã cố che đậy một cách kín đáo trong vỏ bọc của phẩm hạnh và đạo đức. Họ đã

làm cho chị cảm thấy cay đắng, xấu hổ và “trái tim thì như một hòn than vừa bị hắt nước,

nguội lạnh và dửng dưng với chung quanh, nó không vắt nổi một giọt nước mắt nào như

trước đây, khi những người ruột thịt của chị khóc lóc”[183, tr.404]. Đúng ra những giọt nước

mắt của họ là sự tủi hờn cho sự cô đơn, luôn khát khao niềm hạnh phúc, không phải là những

giọt nước mắt để bảo vệ truyền thống gia đình mà “nội dày công ven giữ, chắt đặt mấy chục

năm nay”[183, tr.404]. Sự thật mà không ai dám nhìn nhận đó là khát vọng tình yêu của

người phụ nữ để rồi họ phải sống trong cảnh cô đơn, buồn bã. Út Thơm vừa mới nhen nhúm

ngọn lửa tình yêu thì lại bị dập tắt ngay. “Họ đã gắp gọn ra khỏi trái tim người phụ nữ trẻ ấy

khát vọng tình yêu, cái mà con người cần hơn mọi thứ, vì từ đó mà có tất cả”[183, tr.407].

Trái tim khao khát yêu thương của Út Thơm dần dần chai sạn, lạnh giá để tiếp nối truyền

thống cao quý của gia đình. Cuộc sống đã thay đổi, nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại những

quan niệm lạc hậu, khắt khe của lễ giáo phong kiến xưa. Đành rằng lễ giáo phong kiến cũng

có những mặt tốt cần được trân trọng, giữ gìn, nhưng một số người đã dựa vào đó để ép buộc

cuộc sống của người khác.

Người phụ nữ khi yêu, họ ý thức được tự chọn lựa người mình yêu, ý thức được hạnh

phúc của mình. Bích trong truyện ngắn Nước chảy một bên của Nguyễn Thị Diệp Mai, đã rũ

bỏ tất cả đi theo tiếng gọi của tình yêu với một suy nghĩ rất chân thật, được sống đúng là

người phụ nữ: ‘‘Lần đầu tiên tao biết thế nào là yêu. Yêu rồi tao mới cảm thấy mình là đàn

bà. Tao muốn sống thực sự là người đàn bà được yêu chứ không phải chỉ là đàn bà của trách

nhiệm’’[196, tr.207].

Trên đời này còn có cái đau của nỗi cô đơn. Dì Đợi, trong truyện ngắn Người dì tên Đợi

của Nguyễn Quang Sáng, đợi chờ cái gì mà khi trời ngả ánh hoàng hôn, dì nhìn ra sông, nhìn

về ‘‘một giề lục bình ? Giề lục bình mồ côi, một mình với con sông lừng lững trôi’’[183,

tr.498]; đợi cái gì mà dì lại cố nài nỉ mua cho được đôi bông cẩm thạch của người khác, đeo

để ‘‘lấy hên’’? Dì Đợi không thể nói ra cái điều mà dì mong đợi. Để rồi chỉ còn có một cách

giải thích: ‘‘Cha mẹ dì đặt cho dì cái tên Đợi. Cho nên khi lớn lên, đêm nào dì cũng

đợi’’[183, tr.498]. Nỗi đợi chờ mà người đàn bà lam lũ trong cái xóm nghèo bên bờ sông

Tiền âm thầm mang theo cho đến gần cuối cuộc đời, và chắc là cho đến ngày nằm xuống,

đâu phải chỉ là trường hợp cá biệt.

Khác với dì Đợi cam chụi cảnh cô đơn cho đến hết cuộc đời, cô giáo Lan (Đêm khó

quên - Mai Bửu Minh) không xuôi tay cam chịu, chấp nhận có một ‘‘đứa con không cha’’.

Dẫu biết rằng, mong ước thực hiện chức năng thiêng liêng làm mẹ của cô giáo Lan chắc

chắn ít được ai đồng tình; nhưng đó là một đòi hỏi chính đáng của người phụ nữ mà xã hội

phải có trách nhiệm giải quyết. Điều trước tiên là người phụ nữ phải ý thức được hạnh phúc

của mình, cho mình ; phải đi tìm hạnh phúc trong đầy rẫy những trở ngại của định kiến xã

hội, rồi phải biết trân trọng giữ gìn nó.

Không phải ngẫu nhiên mà trong khá nhiều truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay, nỗi

niềm cô đơn của người phụ nữ được các cây bút khắc hoạ đậm nét. Người dì tên Đợi

(Nguyễn Quang Sáng), Nhà không có đàn ông (Bích Ngân), Mối tình năm cũ (Nguyễn Ngọc

Tư), Nước mắt chảy một bên (Nguyễn Thị Diệp Mai), Bến nước kênh Cùng (Nguyễn Lập

Em) gợi lên từng bước chân mỏi mòn của những số phận âm thầm suốt đời đi tìm hạnh phúc

ư? Vượt qua những định kiến xã hội ư? Bao giờ cũng có cái giá của nó. Có khi phải phải

đánh đổi cả một thời con gái, có khi phải dấn bước vào con đường tội lỗi, lén lút như một tên

trộm, chấp nhận tiếng đời gièm pha để mong xoa dịu phần nào nỗi khát khao của con người

trần tục.

Có thể nói, số phận của người phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng sáng tác văn chương.

Nhưng rõ ràng, trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, mới có một số truyện ngắn đề cập đến

nỗi thiệt thòi trong lĩnh vực sâu kín, riêng tư và tế nhị của người phụ nữ. Nhưng dẫu sao đó

cũng là bước đi dò đường cho văn học nói chung, và truyện ngắn nói riêng, phát triển đề tài

người phụ nữ theo một hướng mới.

Mọi hoạt động của con người đều vươn tới hạnh phúc. Khát vọng hạnh phúc luôn tồn

tại ở mỗi con người. Hạnh phúc thực sự của con người không có gì là cao xa, khó tìm. Đối

với những con người nghèo khó, chất phác, thì hạnh phúc với họ là được sống ấm áp

trong tình người. Chị Ba - Tà Lẹt (Bóng bay trên đồng - Ngô Khắc Tài), một người đàn bà

nghèo dốt nhưng siêng năng, ăn ở hiền lành. Chòm xóm có đám ma, đám cưới, đầy tháng,

thôi nôi, đám giỗ... chị đều tới giúp. Chỉ là những công việc lặt vặt: xách nước, canh lửa, rửa

chén... nhưng không có chị cũng khó khăn cho chủ nhà, bù lại, chị được cho gạo, cho nước

mắm hoặc quần áo để nuôi bốn đứa con. Cô bé Hảnh (Nhớ khói - Ngô Khắc Tài) quen sống

lam lũ nơi làng quê, khi ra chợ lại trở nên ‘‘đờ đẫn’’. Cô nhớ da diết những món ăn ở quê

nhà. Nhớ cảnh đốt đồng ‘‘bốn bên tứ phía khói bay mờ mịt, lửa reo suốt đêm trên đồng vui

lắm. Theo mấy đường cày người ta bắt chuột, bắt rắn, lượm ốc’’. Nhớ những đứa trẻ thôn

quê ‘‘giăng hai tay chạy trong làn khói trắng mù mịt trên cánh đồng quê ngoại, mùi khói rơm

thơm nồng nàn’’. Với họ hạnh phúc không phải là điều to tát, mà chính là những kỷ niệm về

ruộng đồng, làng quê như thế.

Truyện ngắn Hạnh phúc muộn màng của Ca Giao đã có cách tiếp nhận hạnh phúc ở một

khía cạnh khác. Hạnh phúc - ‘‘một sự đổi đời đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng’’ đối với

những cán bộ về hưu là được sống trong tổ ấm gia đình sau những năm xa cách. Cái cảnh

‘‘ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân’’ mà những người cán bộ thoát ly một thời rất tự hào,

xem đó như một sự hy sinh hạnh phúc đời thường. Tưởng đâu những con người đã nguyện

hiến cả cuộc đời cho Tổ quốc thì không còn nghĩ đến hạnh phúc riêng tư. Nhưng những cán

bộ nghỉ hưu cũng là một con người bình thường, và cái lẽ tự nhiên, hạnh phúc thật ngọt ngào

đã đến với họ ‘‘như để bù đắp cho một đời xa cách, như để níu kéo cái hạnh phúc muộn

màng quí giá’’.

Khi mà cuộc sống thời hiện đại đang bị chi phối bởi những mưu toan thực dụng, giá trị

tinh thần đang bị mai một, tâm hồn con người thiếu vắng những rung động trong sáng... thì

tiếng nói ngợi ca tình yêu, đề cao những ước mơ và khát vọng hạnh phúc của con người vẫn

rất cần cho cuộc sống hôm nay và mai sau.

2.3.2.Con người tự vấn

Trong đời sống con người, điều đáng sợ là sự chai cứng, vô cảm trước mọi hiện tượng

cuộc sống. Tự vấn là cách tốt nhất giúp con người tự hoàn thiện về nhân cách. Những giây

phút đối mặt với thất bại, sai lầm, nghịch cảnh, đắng cay của cuộc đời con luôn suy tư, trăn

trở, nhìn nhận lại bản thân và tự hỏi lòng mình “cuộc hành trình lớn nhất của một đời người

là đi tìm chính bản thân mình, trải nghiệm và thử thách tất cả để tìm ra mình là ai”[27,

tr.11].

Khi tìm hiểu truyện ngắn trước 1975 ở ĐBSCL, chúng tôi nhận thấy do yêu cầu của

cuộc sống và nhu cầu thẩm mĩ của thời đại nên vấn đề trung tâm mà nhà văn hướng đến

khám phá và thể hiện thiên về cái cao cả, cái đẹp của người ĐBSCL trong lửa đạn, trong gian

khổ, mất mát và hi sinh. Bởi thế, vấn đề tự vấn hầu như chưa được đặt ra cũng là một lẽ tất

yếu. Điều này cho thấy, tự vấn là một nét mới về nội dung của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975

đến nay. Nó đánh dấu một bước chuyển của truyện ngắn ĐBSCL trong hoàn cảnh mới, góp

phần làm nên diện mạo chung cho truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Đây cũng chính là nét

riêng dễ nhận ra của truyện ngắn vùng đất này.

Chiến tranh đã qua đi, mọi người hối hả lao vào cuộc sống mới. Nhu cầu đời thường

nảy sinh, trong đó không loại trừ cả tâm lí quay ngoắt lại với một thời ‘‘nếm mật nằm gai’’,

chia bùi xẻ ngọt cho nhau trong những ngày kháng chiến gian khổ. Điều này thực tế đã xảy

ra. Vì những lo toan, ‘‘chụp giựt’’, chạy theo nhu cầu thực dụng hàng ngày có những người

sẵn sàng quên đi những con người đã từng đùm bọc, che chở trong những ngày kháng chiến

gian khổ. Tuy nhiên vẫn còn không ít con người nặng lòng với quá khứ. Và tự vấn về quá

khứ cũng là một ‘‘nhu cầu muốn được tâm sự, được giải bày và được chia sẻ cho người

thân’’[108, tr.144]

Ông Hân trong truyện Về với mảnh vườn xưa của Anh Đức được hưởng những năm

tháng êm đềm còn lại sau chiến tranh, trong sự ấm no, sung túc bên những người ruột thịt

thân yêu. Nhưng ông vẫn cảm thấy cô đơn: “Tới chừng tuổi ấy, anh vẫn là một người đơn

độc, không gia đình, không vợ con”[183, tr.122]. Và chỉ khi về với mảnh vườn xưa nơi khắc

ghi những kỷ niệm ngọt ngào của tình yêu lứa đôi trong những ngày chiến đấu gian khổ, ông

mới vượt qua sự cô đơn: “về với mảnh vườn xưa, nơi mối tình đầu và duy nhất của anh ngỡ

đâu đã tan biến, nào ngờ vẫn đơm hoa kết trái như một sự cứu rỗi nhiệm màu”[183, tr.133].

Lời tự vấn của ông Hân là thông điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc: sống phải thủy

chung và phải có niềm tin vào cuộc sống. Chính điều đó giúp con người sẽ vượt qua mọi khó

khăn thử thách của cuộc đời.

Tự vấn về lỗi lầm trong tình yêu cũng là đề tài được các cây bút truyện ngắn ĐBSCL

khai thác. Trong tình yêu, có khi con người có những quyết định sai lầm để rồi cả cuộc đời

chìm trong niềm xót xa, hối tiếc. Nhân vật xưng tôi (Dòng sông đêm lặng chảy - Hồ Tĩnh

Tâm), đã sống trong hoài niệm về một thời hạnh phúc bên Thanh, rồi lại đuổi bắt theo một

tình yêu nhanh chóng, nông nổi và hời hợt với Thủy. Tình cảm theo kiểu cơn sét ái tình ấy

đến nhanh chóng rồi đến một lúc nào đó cũng sẽ ra đi vội vã. Yêu Thủy, quen Thủy, nhân vật

xưng tôi luôn sống trong tâm trạng mâu thuẫn với chính bản thân mình khi nghĩ về người

mình yêu “cô là cảm xúc mặt trời choáng ngợp của tôi, niềm vui của tôi, tình yêu rạo rực

của tôi. Cô cũng là nỗi đau khổ âm thầm của tôi, nỗi buồn thầm lặng dằn vặt của tôi. Cô vừa

là tất cả vừa không là gì tất cả”[183, tr.554-555]. Cuộc tình tan vỡ không ai là người có lỗi,

chỉ vì hai người chưa thật sự hiểu nhau và tâm hồn hai người không đồng điệu, giao hòa. Cứ

thế, nhân vật xưng tôi lại tiếp tục lao vào cuộc tình khác. Nó cũng choáng ngợp, say đắm

nhưng chóng tàn để rồi, cuối cùng nhân vật xưng tôi quay về chốn xưa - nơi ghi dấu kỉ niệm

bên bờ sông đêm lặng chảy. Sự trở về của nhân vật xưng tôi là một câu hỏi lớn, là nỗi băn

khoăn, trăn trở khi nhân vật tự hỏi chính mình “tôi còn hoài vọng trở về mà làm gì? Mà có

thật tôi trở về hay là chạy trốn? Hay là kiếm chút hy vọng trong hy vọng tồi tệ của

mình”[183, tr.555]. Sự ân hận muộn màng trong lần quay về ấy cũng không đem lại niềm

hạnh phúc cho nhân vật xưng tôi. Nhân vật xưng tôi đã để tình yêu - hạnh phúc vuột khỏi

tầm tay. Niềm hối tiếc muộn màng từ sự thức tỉnh lương tâm khiến cho nhân vật day dứt mãi

về kỉ niệm nơi dòng sông đêm lặng chảy năm nào... nhưng giờ thì đã xa... xa hẳn rồi.

Tự vấn về những lỗi lầm mà con người gây ra trong chiến tranh. Chiến tranh đã qua

đi, để lại niềm tự hào, kiêu hãnh, niềm vui, hạnh phúc và cũng để lại bao nỗi buồn đau. Cuộc

sống đời thường cho dù có nhiều lo toan, bề bộn, phức tạp nhưng những ký ức về chiến tranh

vẫn tồn tại trong đời sống tinh thần của mỗi người. Trong chiến tranh có bao người đã ngã

xuống một cách hiên ngang, anh dũng, những cũng có người vì suy nghĩ nông cạn, thiếu chín

chắn đã phải dằn vặt, ân hận về những lỗi lầm đã qua. Những người còn may mắn sống sót

và trở về sau cuộc chiến tranh đã có những suy nghĩ, dằn vặt khôn nguôi như là sự thức tỉnh

trong.

Ước mơ buồn, Đỗ Tuyết Mai cảm nhận về những ám ảnh khó quên của nhân vật lão Ơn,

một người lính cộng hoà từng gây tội ác đối với cách mạng. Trở về cuộc sống đời thường,

không ai biết về quá khứ tội lỗi của mình, nhưng lão Ơn không sao quên được nỗi ám ảnh tội

ác mình gây ra và luôn phải sống trong tâm trạng bất an: “Lão mơ thấy những gương mặt

trắng bợt bạt đến lôi kéo lão đi, đòi lão phải trả lại mạng sống cho họ,“lão mường tượng

như có ai đó đang cầm dao giơ từ phía sau lưng lão xả tới”[183, tr.312-313].

Còn ở truyện ngắn Trăng lặn của Nguyễn Khai Phong, vấn đề tự vấn lại được thể hiện ở

góc độ khác. Đó là sự hối hận của nhân vật xưng tôi về những giây phút ngờ vực, nghi oan

cho những người đã không sợ hi sinh để che chở mình trong thời điểm hiểm nguy nhất. Sành

và bà mẹ của anh đã hy sinh vì lòng thương người. Tên tuổi của họ, có thể chưa được lịch sử

ghi nhận, nhưng nỗi đau và mất mát đó không thể nào bù đắp được. Tự vấn của nhân vật tôi

chính là là để nhận thức lại một cách đúng đắn và chính xác về con người và cuộc sống trong

hoàn cảnh chiến tranh. Điều đó giúp ta hiểu thêm về cuộc chiến mà phía sau nó còn biết bao

hoàn cảnh, số phận bất hạnh cần sự an ủi, sẻ chia. Như vậy tự vấn về những lỗi lầm trong

quá khứ đã giúp cho tâm hồn con người được thanh thản hơn.

Có thể nói tự vấn về những lỗi lầm trong chiến tranh ở truyện ngắn ĐBSCL là sự tiếp

nối của truyện ngắn Việt Nam sau 1975, mà tiêu biểu là truyện ngắn Cỏ lau của Nguyễn

Minh Châu. Chỉ trong giây lát giận dữ và quyết định sai lầm, nhân vật Lực - vị chỉ huy với

bao phẩm chất cao đẹp đáng ngợi ca và tự hào - đã vô tình khiến đồng đội phải ngã xuống.

Lương tâm tạo cho Lực luôn đối diện với những lỗi lầm của mình. Càng được mọi người

khen, Lực càng bị dày vò, cắn rứt. Sự tự vấn của Lực không thể làm thay đổi số phận của

những người đồng đội, nhưng điều đó, ít ra cũng giúp Lực có được sự thanh thản tâm hồn và

có cách nhìn, cách nghĩ bản lĩnh hơn trong cuộc sống.

Tự vấn trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, được các nhà văn khai thác và khám phá

trên nhiều phương diện của đời sống. Có khi là những dòng hoài niệm, hồi ức trong quá khứ;

có khi đó là những băn khoăn, trăn trở về những vấn đề đang diễn ra trước thời cuộc… Thế

nhưng, cho dù tự vấn ở phương diện nào thì cũng đều hướng người đọc đến những điều tốt

đẹp để góp phần hoàn thiện nhân cách và đạo đức. Đây chính là một trong những đóng góp

đáng ghi nhận của truyện ngắn ĐBSCL sau 1975.

2.3.3.Con người với đời sống tâm linh

Tâm linh là điều thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng

liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Niềm tin thiêng liêng cao cả ấy được đọng lại ở

những biểu tượng, hình ảnh, khái niệm.

Trong các giai đoạn trước, cái chốn sâu kín của tâm hồn con người, cái diễn ra trong

tầng sâu ý thức của con người mà người ta thường gọi là vô thức ấy chưa được chú ý đúng

mực.

Đi vào chiều sâu tâm linh thuần tuý của con người là một hướng tiếp cận mới của văn

học sau 1975. Sự xuất hiện con người tâm linh là biểu hiện sự đổi mới rõ rệt trong quan niệm

nghệ thuật về con người của văn học. Văn học bắt đầu đi vào một thế giới đằng sau thế giới

thực - đó là thế giới tâm linh, tiềm thức, giấc mơ, vô thức.

Việc khám phá phương diện đời sống tâm linh của văn chương hiện nay là phát hiện

một năng lực nhân tính thiêng liêng, phù hợp với cái đẹp, cái thiện, cũng phù hợp với tập

quán sống nặng về tinh thần, tình cảm của nguời Việt. Nó đem lại sự phong phú trong cấu

trúc nhân cách và góp phần xây dựng một quan niệm toàn diện về con người. Đây là một

phương diện có thật không thể phủ nhận trong thực tế, và trong khi nhiều ngành khoa học

khác còn có khuynh hướng phủ nhận hay nghi ngại thì văn học với khả năng khám phá riêng

lại tỏ ra khá thành công.

Sau năm 1975, truyện ngắn nói chung và truyện ngắn ĐBSCL nói riêng đã bắt đầu đề

cập đời sống tâm linh của con người. Khám phá đời sống tâm linh, các cây bút truyện ngắn

đã chạm vào ‘‘mạch ngầm’’ của đời sống chi phối hành động, ứng xử của con người với cộng

đồng, xã hội, tự nhiên và bản thân.

Một trong những nét đặc trưng của văn hoá nông nghiệp là đời sống tâm linh của con

người hướng về tự nhiên, sùng bái tự nhiên.

Như chúng ta biết vùng ĐBSCL buổi ban đầu còn rất hoang sơ, rừng sâu, nước độc,

nhiều thú dữ như cọp, beo, trâu rừng, cá sấu,… người dân nơi đây có ý thức nể sợ:

Đến đây đất mới lạ lùng,

Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kiêng.

Trong cuộc vật lộn chống chọi với thiên nhiên để mưu sinh, người dân nơi đây không

sợ hiểm nguy, gian khổ. Nhưng trong tâm tưởng họ vẫn tin có một thế lực thần linh đang ngự

trị. Và họ bắt đầu tôn thờ những thế lực ấy cho đó là nguồn sức mạnh phù hộ đem đến cho họ

sự bình an trong cuộc sống cũng như trong tâm hồn. Trong truyện ngắn Hổ mun của Đặng

Thư Cưu, ông Trì Gầm và người bạn rừng của ông - là những người từng phiêu bạt, ngang

dọc trên những cánh rừng hẻo lánh, nguy hiểm đầy chết chóc. Nhưng trong tình cảm, ý thức

của họ luôn có niềm tin, tôn thờ “Thần rừng”- một thế lực siêu nhiên mà bất cứ người đi

rừng nào cũng phải nể sợ: “Cuộc sống dềnh ra trước mặt bằng những bí ẩn chập chờn, bằng

một sức mạnh mà con người chỉ cảm qua hơi thở. Rừng lặng im nhưng chất chứa ngồn ngộn

sức sống. Nó sẵn sàng dâng hiến và cũng sẵn sàng tiêu diệt”[183, tr.65]. Chính vì lẽ đó mà

cha con người ăn ong phiêu bạt vào rừng để lấy mật điều trước tiên phải khấn nguyện thần

rừng: “Bác đã nghe nói tới thần rừng là bác đã biết nghề của chúng tôi rồi. Nó như một lời

nguyền truyền kiếp. Phải cúng tế, phải van vái. Nhiều dân ăn ong bỏ qua tập tục này, không

tin tưởng thì suốt mấy tháng liền không kiếm được một giọt mật, rồi ốm đau liên miên, vốn

liếng cạn sạch, thân sơ thất sở. Ghê gớm vậy đó bác”[183, tr.63-64]. “Có gì cúng nấy bác à.

Cái cần là do lòng thành của mình. Khi thì heo quay, thủ vĩ luộc, cũng có khi… cúng cả con

gái mình”[183, tr.63]. Đời sống tâm linh là điều thần bí mà ta không thể hiểu và lý giải được

“Còn nhiều cái chất chứa ngập trong lòng cái khối đen thẫm trước mặt, trong muôn ngàn

âm thanh kỳ quái của rừng đêm…Nhất là thần rừng. Cái bí lực huyễn hoặc đó có thật

không? Có tham dự thật sự vào những đời sống đơn giản của những người thợ rừng hay

không?…Nhiều dấu hỏi hiện ra trong đầu ông ngoằn nghèo như những con rắn hổ đất con

vừa mới nở”[183, tr.64]. Và họ tìm đến niềm tin từ tín ngưỡng “Xin thần rừng cho phép cha

con tôi ăn ong trong khu vực này tròn một con trăng. Tôi hứa sẽ không phá hoại của cải của

rừng. Đêm trăng tròn tới tôi cho con gái tôi một trinh nữ mười tám tuổi đến tạ ơn thần rừng.

Số phận của nó tuỳ quyết định của thần rừng”[183, tr.66]. Thần thánh hóa sức mạnh của tự

nhiên để lý giải những hiện tượng trong đời sống tinh thần của con người “Đêm mai tôi mời

hai ông đến chứng kiến một cuộc trả lễ. Tôi tin rằng chúng tôi sẽ ra đi an toàn. Hoạ

hoằn…đó là số mệnh…Người khách không nói tiếp. Tiếng chim rừng rít lên thảm thiết ở một

góc trời”[183, tr.69].

Sự dằn vặt, nỗi ám ảnh của con người về những lỗi lầm mà mình gây ra cũng được nhà

văn lý giải từ góc nhìn tâm linh. Nỗi ám ảnh của thằng Búa (Ông Thiềm Thừ - Nguyễn Kim

Trắc), khi ‘‘Ông Thiềm Thừ’’ chết, nó “nằm chiêm bao thấy hai đùi ông Thiềm Thừ không có

chân, chỉ lặt lìa một mảnh da khô nhảy lom khom, còn cái đầu cóc tía bay lơ lửng trên không

mắt trợn trừng, hàm răng nhe ra trắng xác nghiến trèo trẹo, trên mưa rơi vần vũ sấm chớp

giăng giăng”[183, tr.630].

NV lão Ơn trong truyện ngắn Ước mơ buồn của Đỗ Tuyết Mai cũng luôn ám ảnh về tội

ác do mình gây ra: “Lão mơ thấy những gương mặt trắng bợt bạt đến lôi kéo lão đi, đòi lão

phải trả lại mạng sống cho họ”[183, tr.312], “lão mường tượng như có ai đó đang cầm dao

giơ từ phía sau lưng lão xả tới”[183, tr.313].

Tâm linh cũng góp phần làm cho con người xích lại gần nhau, xóa bỏ mâu thuẫn trong

cuộc sống đời thường, mà luật pháp không làm được.

Hai anh em ruột (Cha tôi và chú tôi - Thai Sắc) dù có mâu thuẫn cỡ nào, nhưng khi nghĩ

đến ông bà, cha mẹ đã khuất thì mọi thứ mâu thuẫn đã được giải quyết “cái hàng rào giữa

hai nhà đã phá bỏ từ lâu. Bàn thờ bà tôi đã chuyển về chung với ông tôi ở bên nhà chú tôi,

tức nhà thờ tổ”[183, tr.512]. Đời sống tâm linh chính là sợi giây thắt chặt quan hệ những

người thân trong gia đình, dòng tộc lại với nhau.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng một phương diện của đời sống tâm linh của người

Việt. Với truyện Mối tình đầu, của Nguyễn Ngọc Tư, người đọc cũng bắt gặp một không

gian kỷ niệm mang đậm dấu ấn đời sống tâm linh của người Việt. Nhân vật Trọng trong

truyện là một thanh niên còn rất trẻ nhưng đã có ý thức trong việc nâng niu, gìn giữ nếp văn

hoá tâm linh bao đời của gia đình: ‘‘Nhà Trọng có một cái lạ nữa là trên bàn thờ lúc nào

cũng chong đèn, ngày tháng này qua ngày tháng khác, năm này qua năm khác, ngọn đèn

truyền từ đời cố Trọng, nội rồi tới Trọng, không bao giờ được phép tắt. Chiều nào chị em tôi

đi ngang qua cũng thấy Trọng lọ mọ ngồi lau các bóng đèn hột vịt ám khói, châm dầu bằng

cái vẻ thành kính nâng niu’’[169, tr.117]. Đời sống tâm linh còn được thể hiện ở thái độ, tình

cảm của người sống trong việc chọn nơi thờ cúng. ‘‘Ngôi nhà nhỏ bé dù rách nát nhưng dì

còn có một không gian dành cho linh hồn những người thân trở về trú ngụ. Đó là cha mẹ,

anh em, chồng con dì đã ngã xuống. Đối với dì những người ấy không chết đi, linh hồn

những người thân hoà trong cơn gió chướng thổi liên hồi vào ngôi nhà không cửa, lẩn quẩn

đâu đây’’[77, tr.235]. Đời sống tâm linh còn được thể hiện ở thái độ, tình cảm của người

sống đối với người đã khuất. Vĩnh (Khoảnh khắc hoa quỳnh nở - Ngô Vĩnh Nguyên) nhớ về

người vợ đã khuất khi “Anh nhìn vào ánh mắt Huệ trong các bức ảnh. Đôi mắt vẫn như xưa,

hồn nhiên trong sáng như nhìn thấy suốt tim gan của anh, cũng như lần đầu, mười sáu năm

về trước. Anh gỡ khung ảnh Huệ xuống lau bụi. Tấm ảnh cỡ 9.12 đã ngả màu vàng úa, có

chỗ đã tróc thuốc…”[183, tr.429]. Bà Năm trong truyện ngắn Đất không cưu mang của Bích

Ngân, thì người chồng trong ảnh thờ luôn nhắc nhở và làm dấy lên trong bà niềm ăn năn

khôn tả. Đó là những kỷ niệm đẹp nhưng cũng làm cho bà đau lòng:

‘‘Nén nhang đã tàn trên lư hương người chồng sau. Một cây nhang uốn cong lại thành

hình số 9. Số 9, con số của điềm lành. Nhưng lòng bà Năm bất ổn. Luôn luôn bất ổn khi bà

đứng trước bàn thờ của hai người chồng khi ấy, dù cố quên đi, trong bà vẫn cuồn cuộn niềm

hạnh phúc lẫn nỗi bất hạnh xưa…Bà thắp thêm nén nhang cắm kề con số 9. Tay run run bà

chạm phải làm cho nó tan ra, tàn rơi lả tả. Bà đứng bất động, nhìn không chớp mắt vào

những mẩu tàn tro’’[183, tr.367].

Trong những nỗi nhớ, dù hiện tại người thân đã không còn nhưng bàn thờ là nơi để bà

Năm nhớ về quá khứ, ghi nhớ hình ảnh người chồng quá cố:

‘‘Khi thấy mẹ, cứ lặng câm như cái bóng, nó bù đắp lòng hiếu thảo bằng cách thay một

bàn thờ mới bằng gỗ quí, chạm trổ công phu, cầu kỳ. Hoạ lại tấm hình ông Mười từ tấm ảnh

hồi nảo hồi nào. Rồi cúng kiến linh đình, khói nhang nghi ngút. Và trong những ngày giỗ

“Bà muốn nhang khói đừng tan ra, cho bà đừng thấy rõ cái hình lạ lẫm, khăn đóng áo dài,

ngồi bên bàn trà sang trọng ấy. Chồng bà chưa một ngày ung dung, chưa một lần bận áo

dài, chưa một phút có vẻ thoả thuê, no đủ ấy’’[183, tr.397]. Và khi nhìn vào khung ảnh “Tuy

ố vàng lỗ chỗ bà vẫn nhận rõ ánh mắt ông. Ánh mắt đó đã kéo bà lại hàng giờ…”[183,

tr.397].

Với truyện ngắn về con người với đời sống tâm linh, người viết nhận ra cái ánh sáng

được phát đi từ thế giới bên trong của mỗi người, cắt nghĩa được những hiện tượng thuộc về

đời sống tinh thần, động cơ tạo sức mạnh của niềm tin, của hành động mỗi cá nhân một cách

thuyết phục. Bởi lẽ nhờ có tâm linh, thế giới tinh thần của đời sống con người trở nên thiêng

liêng, huyền diệu.

Có thể nói, chưa bao giờ văn học lại đề cập đến con người phong phú, sâu sắc, như

giai đoạn từ sau 1975. Trong truyện ngắn ĐBSCL từng cá thể, từng mảnh đời thầm lặng hay

sôi động đều góp phần là nên thế giới bên trong của con người đa dạng, phức tạp. Mỗi nhà

văn có một quan niệm riêng, và cách thể hiện cũng không giống nhau về con người, nhưng

đều tìm cách đi vào chiều sâu không cùng của tâm hồn con người, để tìm thấy niềm vui, nỗi

buồn, sự đau khổ, niềm khát khao, niềm đam mê. Và con người có dục vọng, có tha hoá

đồng thời cũng biết phản tỉnh, tự nhận thức.

Tuy nhiên, điều làm cho người đọc chưa thỏa mãn là trong bức tranh con người trải dài

trên 35 năm mà truyện ngắn ĐBSCL khắc họa, còn thiếu vắng những con người của thời đại

mới theo đúng nghĩa của nó.

Do vậy, việc tiếp tục tìm kiếm, nhận thức và thể hiện con người của thời đại mới trong

văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng luôn là nhiệm vụ của mỗi nhà văn ĐBSCL.

2.4. Cảm hứng nhận thức về đời sống văn hoá

Trong đời sống dân tộc, văn học vốn đã có một vị trí rất quan trọng và ngược lại trên

bình diện phát triển của một nền văn học, tác động của văn hoá đến văn học là tất yếu. Như

vậy, nhìn nhận mối quan hệ giữa văn học và văn hoá là đi vào vấn đề thể hiện những đặc

trưng, giá trị của văn học trong sự tác động và ảnh hưởng trực tiếp của văn hoá. Văn hoá là

nền tảng tinh thần của xã hội và sáng tạo văn học nghệ thuật là bộ phận quan trọng, nòng cốt

của văn hoá, có khả năng truyền cảm mạnh mẽ và có sức sống lâu bền khi biết đi sâu vào tư

tưởng, đạo đức, đời sống bên trong của con người.

Bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, Đỗ Thị Minh Thúy cho rằng: ‘‘Đặt văn

học trong văn hóa tức là nhấn mạnh sự tác động tổng thể của văn hóa tới văn học, như vậy

các nhân tố xã hội, kinh tế, chính trị…tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung, thông qua văn

hóa mới tác động đến văn học, ở quan hệ đặc biệt này, văn học trở thành một trong những

tiêu điểm của văn hóa, đóng vai trò nhân tố đại diện cho văn hóa’’[159, tr.239].

Trong bài viết Văn hoá như là nguồn mạch sáng tạo và và khám phá văn chương,

Nguyễn Văn Hạnh cho rằng: ‘‘Trong lịch sử vận động và phát triển của văn chương, văn

chương đặt trong mối liên hệ mật thiết, được so sánh đối chiếu khi thì với đạo đức, tín

ngưỡng, tôn giáo, tâm hồn con người, khi thì với xã hội, tự nhiên, cuộc sống’’[62].

Đảng ta luôn coi: ‘‘Văn học nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa…,

là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện

mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh các thế hệ công dân, xây

dựng môi trường đạo đức trong xã hội…’’[47, tr.91].

Có thể nói, phương diện văn hoá trong văn học ngày càng được quan tâm bởi giữa văn

hoá và văn học có mối liên hệ mật thiết. Văn học phản ánh đời sống, thực chất cũng là một

phán đoán về văn hoá. Văn hoá là một phương diện còn lại lâu dài của tác phẩm, của tác giả

và cả giai đoạn văn học. Văn hoá là một phương diện bên trong quy định hành vi, suy nghĩ,

cảm nhận của con người trong từng thời kỳ. Nó bao gồm mọi phương diện văn hoá cụ thể

như thị hiếu, ẩm thực, trang phục, tập quán…Đọc bất cứ tác phẩm văn học nào chúng ta đều

tìm thấy những biểu hiện của văn hoá trong đó. Nhà văn là người khai thác những ấn tượng

riêng, tìm thấy trong những ấn tượng đó yếu tố có giá trị khái quát và biết làm cho những

biểu tượng của mình có được những hình thức riêng. Và chính điều này đã tạo nên nét độc

đáo riêng cho từng tác phẩm văn chương. Văn hóa vùng ĐBSCL đa dạng trong sự thống nhất

và có sắc thái riêng in đậm dấu ấn con người và vùng đất này. Thông qua hình tượng nghệ

thuật, cảm hứng nhận thức về đời sống văn hóa ĐBSCL như nghệ thuật cải lương, đờn ca tài

tử, lễ hội, ẩm thực Nam bộ... đi vào tác phẩm văn chương và đến với độc giả trong và ngoài

nước.

2.4.1. Nghệ thuật cải lương

ĐBSCL nơi sản sinh ra nhiều loại hình văn hoá dân gian mang đậm sắc thái riêng. Miền

Bắc có quan họ Bắc Ninh, Huế nổi tiếng với hò mái nhì mái đẩy thì dân miền Tây Nam bộ

lại mê đờn ca tài tử, sân khấu cải lương.

Nói đến Nam bộ cũng là nói đến cái nôi của bộ môn nghệ thuật cải lương. ‘‘Một đóng

góp lớn của của văn hoá Nam bộ là sân khấu hát cải lương’’[103, tr.156]. Loại hình nghệ

thuật này phù hợp với đặc điểm địa hình sông nước cũng như phong cách sống của người

Nam bộ. Chính vì vậy, từ lâu rồi đờn ca tài tử, cải lương trở thành nhu cầu không thể thiếu

trong đời sống tinh thần của người Nam bộ.

Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy các nhà văn ĐBSCL đã dành nhiều tình cảm cho đờn ca

tài tử và sân khấu cải lương. Và đây cũng là nét độc đáo của truyện ngắn ĐBSCL so với

truyện ngắn vùng miền khác. Đặc biệt, Nguyễn Ngọc Tư trong sáng tác, chị thường nhắc tên

các vở cải lương với những ý đồ nghệ thuật khác nhau: ‘‘Thoại Khanh Châu Tuấn’’ (Cái nhìn

khắc khoải), ‘‘Đêm lạnh chùa hoang’’ (Chuyện của Điệp), ‘‘Nửa đời hương phấn’’; ‘‘Lữ Bố

hí Điêu Thuyền’’; ‘‘Bên cầu dệt lụa’’;…(Cuối mùa nhan sắc), ‘‘Lương Sơn Bá Chúc Anh

Đài’’; ‘‘Tô Ánh Nguyệt (Làm má đâu có dễ). Các nghệ sĩ cải lương tên tuổi như Thanh Sang,

Thanh Nga, Trọng Hữu, Lệ Thuỷ cũng được nhà văn nhắc tới trong truyện Đời như ý.

Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, có nhiều trang viết xúc động diễn tả niềm đam mê cải

lương của người dân Nam bộ. ‘‘Bữa đó cúng đình, có hát cải lương, con đòi má má dẫn đi

coi. Tuồng Thoại Khanh Châu Tuấn đó, ba. Hát chưa xong khúc Thoại Khanh thút thít ngồi

đờn cho công chúa nghe,..’’[170. tr.53].

Người đọc còn bắt gặp trong truyện những người dân Nam bộ mê hát cải lương, mê

vọng cổ đến nỗi không ngần ngại bỏ gia đình để đi theo đoàn hát: ‘‘Nghe nói, hồi đó, nhà

ông giàu khét tiếng xứ Bạc liêu... Ông thương đào Hồng từ cái giây phút đầu tiên... Đào

Hồng chưa uống cạn ly trà, ông đã hỏi thẳng, không cưỡng lòng được,‘‘Vậy chứ cô Hồng có

muốn lấy chồng chưa?’’. Đào Hồng cười,‘‘Tôi đã nguyện với Tổ cả đời theo nghiệp hát’’.

Chín Vũ nghe vậy, thôi không nói gì nữa... Hôm sau khi gánh hát Kim Tiêu trở lại Sài Gòn,

có công tử bỏ nhà, bỏ phú quí đi theo’’[171, tr.89].

Xuất giá tòng phu, sự kiện quan trọng nhất của đời người con gái, vậy mà Huệ (Huệ lấy

chồng), khi thu dọn hành lý vẫn không quên ‘‘lại chỗ đầu nằm, giở gối lên, nâng niu ấp

trong tay tập chép bài ca đã cũ’’[171, tr.37], và băn khoăn khi: ‘‘về bên nhà chồng không biết

có còn rảnh rỗi vừa đưa võng vừa nghêu ngao hát?’’[171, tr.39].

Còn người nghệ sĩ thì trải hết lòng mình với môn nghệ thuật mà mình đam mê: ‘‘Nghệ

sĩ mà, miễn được hát, miễn mà hát có người nghe là sướng rồi...không micro, nghệ sĩ ca

bằng giọng của trời cho, nghiệp đãi. Đào Phỉ tám mươi chín tuổi, đứng không nổi, diễn vai

gì cũng ngồi trên ghế, ngồi trên ghế mà lẫy roi sãy ngựa coi lạ hết biết’’’[171, tr.88-89]. Họ

yêu nghề, khát khao được biểu diễn, đến mức cố nén nỗi đau của bệnh tật, dù ốm sát đất họ

vẫn đòi ra hát: ‘‘Đào Hồng ốm sát chiếu nhưng vẫn đòi ra hát... Đào Hồng hát đến lịm tiếng

đi. Bà ngồi trên sân khấu, gục cái đầu, cái gánh nặng tâm tư này không mang nổi nữa rồi.

Khi ông Chín dìu bà xuống giường, bà đã hôn mê’’[169, tr.45-46].

Thế mới thấy hết được máu diễn, máu hát đã ăn sâu trong máu thịt của người nghệ sĩ

như thế nào? Và cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa nếu người nghệ sĩ không được cống hiến cho

nghệ thuật.

Ai đã từng sống ở nông thôn ĐBSCL, mới cảm nhận hết được cái đam mê coi cải lương

của người dân ở đây ‘‘chiếc ti vi đen trắng xài bình ắc quy làm thót tim bọn trẻ con khi vở

cải lương vẫn còn dài mà khung hình chỉ còn chút xíu vì thiếu điện’’[171, tr.91]. Nghe cải

lương đã thành thói quen của người dân nông thôn ‘‘tối nằm nhà nghe cải lương hoặc đưa

võng cò kẹt, hát: thương thương nhớ nhớ mãi không thôi. Chàng mới ra về chị em tôi nhớ

mãi không thôi’’[171, tr.45]. Điều thú vị là đám cưới ở vùng quê sông nước không thể không

có đờn ca cải lương: ‘‘Đằng trước rạp, nhóm ca cải lương dạo đàn lửng ta lửng tửng rồi ai

đó vô câu vọng cổ ngọt xớt. Không biết vô tình hay cố ý, anh chàng nọ kê micrô gần miện

mà uống rượu nghe đánh cái chóc giòn rồi khà ra tuồng như cay đắng lắm, chua xót lắm,

mắc thèm’’[171, tr.37].

Người Nam bộ không chỉ mê cải lương, mà còn hâm mộ, trân trọng người nghệ sĩ hát

cải lương. Cuối mùa nhan sắc, là câu chuyện xúc động nói người dân tự nguyện bỏ tiền để

xây dựng ngôi nhà ‘‘buổi chiều’’ cho những nghệ sĩ một thời vang bóng có nơi trú ngụ. ‘‘Nhà

buổi chiều nằm ở tận cùng con hẻm Cây Còng. Hẻm cụt. Nhà toàn người già, là chỗ trú ngụ

cho nghệ sĩ cải lương, nghệ sĩ hát bội một thời vang bóng’’[171, tr.86].

Ở truyện Ông cá hô của Lê Văn Thảo, người đọc được hiểu thêm về nghệ thuật cải

lương qua phục trang, cách hóa trang của người nghệ sĩ khi họ xuất hiện trên sân khấu “mặt

xanh, lông mày chổi xể, hai nắp bịt bạc nhờ hai cái nắp muỗng úp chụp lên hai mí mắt’’.

Đặc biệt, lời ca với những ca từ, giai điệu mượt mà, sâu lắng làm rung động lòng người:

‘‘Chàng ơi, phận thiếp đành bạc mệnh, chốn loan phòng gẫy gánh đường tơ, suối lệ ngập

tràn nát cánh hoa rơi. Ôi lang quân ơi, lang quân ơi, thiếp xin đành lỡ hẹn”[183, tr.575].

Đúng là cải lương là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người

dân Nam bộ. Ngày nay, ở ĐBSCL các gánh hát, các câu lạc bộ đờn ca tài tử vẫn ngược xuôi

khắp miền sông nước để phục vụ cho bà con cô bác. Bởi lẽ, đờn ca tài tử, sân khấu cải lương

là văn hóa phi vật thể ăn sâu vào máu thịt và gắn liền với cuộc sống của người dân vùng

sông nước.

Có thể nói, cuộc sống thời hiện đại và hội nhập, các loại hình ca nhạc rất đa dạng,

nhưng đờn ca tài tử, sân khấu cải lương Nam bộ phải được lưu giữ và phát triển như một sắc

thái văn hoá đặc trưng của Nam bộ. Đặc biệt, ở ĐBSCL cái nôi của đờn ca tài tử.

2.4.2. Lễ hội dân gian

Ở ĐBSCL còn có nhiều lễ hội và mỗi lễ hội có một ý nghĩa riêng. Tiếng hú trong đêm

hội Lăng của Nguyên Tùng, đề cập đến hội lăng Ông ở làng biển thật sinh động: “Tiếng

trống chầu từng hồi dài giục giã phía bên Lăng vọng lại. Trống báo hiệu cho mọi người hội

tụ để cúng lễ đầu tiên của ngày hội Lăng”[183, tr.664]. Hội lăng Ông cũng là dịp để ngư dân

cầu mong cho những chuyến đi biển được thuận buồm xuôi gió và cũng là nơi diễn ra cảnh

ăn uống, vui chơi, ca hát sau những ngày làm ăn vất vả trên biển trở về. “Tiếng trống, tiếng

chuông, tiếng đàn hát cúng bái rộn rịp phía trong Lăng…Tiếng cười, tiếng nói, tiếng chân

rậm rịch chung quanh”[183, tr.668]. Đối ngư dân thì lễ hội lăng Ông là một tín ngưỡng

thiêng liêng “Tôi nhớ rằng là ngày giỗ tổ của dân trong làng biển. Những người sinh ra và

lớn lên ở đây dù có tha phương, ngày tết có thể không về nhưng ngày hội Lăng nhất thiết

phải có mặt. Không ai bắt buộc nhưng mặc tự nhiên mỗi người phải biết”[183, tr.669].

Ngoài ra, ĐBSCL còn có lễ hội đua ghe truyền thống mang đậm dấu ấn vùng sông

nước. Ông cá hô của Lê Văn Thảo đã miêu tả sinh động lễ hội đua ghe hàng năm vào những

ngày rằm tháng bảy khi con nước lớn đã tràn bờ ở cù lao nhỏ thuộc tỉnh An Giang. Lễ hội

diễn ra rất sôi nổi thu hút được sự cổ vũ nhiệt tình của người dân: “Từ sáng sớm người đi coi

đã bu nghẹt bên hai bờ sông. Dưới sông các ghe đua sắp thành hàng ngang, các tay bơi

quần áo xanh đỏ ngồi thành đội đều tăm tắp, ghe được phết thành hình rồng rắn, mũi ghe vẽ

hình đầu con cá ngẩng cao lên…”[183, tr.578]. Không khí lễ hội rất sôi nổi người đi coi

không phân biệt đẳng cấp. Có đủ các hạng người giàu hay người nghèo, người có địa vị hay

không có địa vị, tất cả đều chung vui trong ngày lễ đua ghe này. Hội đua ghe không ăn thua,

mà chỉ để cầu mong sự may mắn. Nó thể hiện tính cộng đồng của tổ chức làng xã Việt Nam

truyền thống.

Có thể nói, lễ hội truyền thống được mô tả trong truyện ngắn ĐBSCL không chỉ đơn

thuần là một trò chơi giải trí sau những ngày làm ăn vất vả mà nó đã trở thành một tín

ngưỡng in đậm dấu ấn văn hoá sông nước, nét đẹp trong đời sống tinh thần của người dân

vùng ĐBSCL.

2.4.3. Văn hoá ẩm thực

Nói đến sự đa dạng trong đời sống văn hoá ở vùng ĐBSCL thì chúng ta không thể

không đề cập đến văn hoá ẩm thực của vùng đất này.

Ẩm thực là tiếng dùng chung khái quát nói về việc ăn uống. Văn hoá ẩm thực bao gồm

cách chế biến, bày biện và thưởng thức trong món ăn, thức uống từ đơn giản, đạm bạc đến

cầu kỳ mỹ vị. Song, khi nói đến văn hoá ẩm thực ở một vùng, miền nào đó thì nhất thiết phải

tiếp cận từ điều kiện thiên nhiên thì mới có thể nêu lên được bản sắc văn hoá đặc trưng cụ

thể của vùng, miền ấy.

ĐBSCL đâu đâu cũng đất rộng sông dài, nơi nào cũng kênh rạch chằng chịt lại lắm

lung, hồ, búng, láng.., không nơi nào không nhung nhúc cá, tôm, rắn, rùa, cua ếch...đã vậy

còn có cả rừng già rừng thưa, đầy rẫy chim muông, thú to, thú nhỏ. Người Nam bộ không chỉ

biết kế thừa mà còn khám phá sáng tạo văn hoá ẩm thực làm cho nó ngày càng phong phú,

đa dạng. Từ đó, miếng ăn, cách ăn của người Nam bộ có những cái rất đặc sắc, rất riêng. Tìm

hiểu văn hoá ẩm thực được phản ánh trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, là chúng ta khám

phá những nét riêng đặc trưng của văn hoá ẩm thực vùng sông nước.

Như mọi người đều biết, mỗi vùng miền có những đặc điểm riêng về thổ nhưỡng, địa

lý, khí hậu, do vậy có những đặc sản riêng. ĐBSCL cũng không ngoại lệ. Món quà thực

phẩm mà thiên nhiên trao tặng cho người dân ở đây là các món ăn dân dã như canh chua cơm

mẻ, cá rô mề nấu bông so đũa chấm muối ớt, cá rô kho tộ chấm bồn bồn, mắm đồng kho cá

lóc chấm bông điên điển, cá lóc nướng trui chấm nước mắm dầm ớt hiểm, cá trê vàng nước

chấm mắm gừng... Đúng là ‘‘Cơm trắng, nước trong, cá đồng, rau ruộng’’[125, tr.116], là

những món ăn gắn bó thân thiết với con người vùng sông nước.

Muốn ăn bông súng cá kho

Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm

(Ca dao Nam bộ)

Câu ca dao làm cho ta nhớ tới món canh chua bông súng ăn với cá sặc kho khô rất quen

thuộc trong mâm cơm của người dân quê nghèo khó, lam lũ. Món ăn dân dã nhưng chứa

đựng cả một giá trị lịch sử văn hoá khẩn hoang của cha ông thời trước.

Cá lóc là món ăn rất được ưa chuộng, người sành ăn thường chọn cá lóc bự để luộc vì

nhiều thịt và dai. Cá lóc có thể luộc mẻ, hoặc hèm, gói bánh tráng kèm theo bún và các loại

rau. Món cháo cá chế biến không cầu kỳ nhưng hương vị rất đặc biệt mà ai ăn rồi cũng sẽ

nhớ mãi. Với truyện ngắn Một chữ của Đậu Viết Hương, người đọc cảm nhận hương vị đậm

đà của món cháo cá lóc: ‘‘Tỉnh dậy nó ngửi thấy mùi cháo cá phảng phất. Ôi chao! cái mùi

hành phi nưng nức lỗ mũi. Mùi thịt con cá đồng luộc chín tới, gỡ ra xào lại cho săn, chế vô

chút nước mắm, chưa ăn đã thấy tê tê đầu lưỡi, ngọt thấu tận ruột gan’’[179, tr.140].

Trong bữa ăn của người Việt, sau lúa gạo thì đến rau. Nhiều loài bông dân dã vùng sông

nước được người dân chế biến thành món rau ăn kèm cũng nhắc đến trong truyện.

Truyện ngắn Bông điên điển của Đỗ Phu, đã giới thiệu món rau được chế biến từ bông

điên điển: ‘‘Mùa nước nổi, có dịp về thăm Bác Năm, tôi được mời ở lại thưởng thức món

điên điển chấm cá rô kho. Hương vị của điên điển ngọt ngào kèm theo thịt cá rô kho bằng

nồi đất vàng cháy làm cho bữa cơm thêm đậm đà’’[180.2. tr.100].

Còn ở truyện ngắn Mùa bông điên điển của Phương Nam, người đọc lại được thưởng

thức món dưa làm từ bông điên điển: ‘‘Tâm còn được biết qua món bông điên điển làm dưa,

bóp muối, trụng nước sôi ăn với cá nướng... vị đăng đắng, ngòn ngọt của bông điên điển

khiến Tâm thích thú’’[179, tr.159],

Bông súng là một loại cây tự mọc, người dân ĐBSCL lấy thân cây bông súng làm rau

ăn kèm với lẩu mắm, làm gỏi chua, hoặc nấu canh chua. Ở truyện Khoảnh khắc hoa quỳnh

nở, Ngô Vĩnh Nguyên giới thiệu món ăn dân dã chế biến từ bông súng: ‘‘Những cọng bông

súng tươi giòn, chát chát, ngọt ngọt đậm đà hương vị đồng quê gợi Vĩnh nhớ đến những bữa

cơm thửa còn ấu thơ bên bà ngoại. Cầm cọng bông súng dài, trắng nõn, chấm vào mắm kho

rồi đưa đưa lên miệng, phăng dần cho đến hết’’[183, tr.427].

Có một món ăn mà có lẽ không có người dân Nam bộ nào lại không ưa thích, đó là

‘‘món mắm kho’’. Mắm được làm từ các loài cá đồng. Từ mắm người ta có thể chế biến ra

nhiều món ăn như ‘‘mắm kho rau ghém’’ ăn với ‘‘bông súng’’[183, tr.426], bún mắm nước

lèo...

Về miền Tây nhớ ăn món ốc luộc. ĐBSCL là miền sông nước, đồng ruộng, ao đìa, kinh

mương là môi trường thuận lợi cho những loài trai, ốc sinh sôi nẩy nở. Người dân nơi đây dù

giàu, nghèo đều mê món ‘‘Ốc luộc chấm nước mắm sả ớt’’. Một rổ ốc, vài cọng sả, mấy trái

ớt, có thêm vài lá ổi hay nửa trái khóm hoặc nửa chén mẻ thì càng ngon, càng đúng điệu. Thế

là đã có mấy dĩa ốc luộc thơm phức, khói bay nghi nghút. Chén nước mắm sền sệt sả và ớt.

Có người làm xong nước mắm còn dùng tay chấm, mút lấy mút để vì vị ngon của nó. Đó là

một nét đáng yêu trong văn hoá ẩm thực của người ĐBSCL.

Nếu ốc là đặc sản của nước ngọt, thì nghêu, sò lại là đặc sản của nước mặn. Nghêu, sò

chế biến đơn giản, mau có ăn phù hợp khách du lịch. Hào Vũ trong truyện ngắn Một người bị

bỏ quên đã đặc tả món nghêu luộc ‘‘những con nghêu trắng đục lớn hơn đầu ngón chân cái

chạm vỏ nhau lách cách. Thịt nghêu mằn mặn, ngòn ngọt, cái vị mặn của nó có lẽ bởi nước

biển nguyên chất mằn mặn, giọt nước biển đang đọng trên đầu lưỡi tôi’’[182, tr.380]. Còn

‘‘cháo sò’’, có vị ngọt đậm đà, quyến rũ của thịt con sò, vị mặm của biển, hương thơm của

gạo rang và ngò gai, ăn vào đổ mồ hôi thú vị làm sao.

ĐBSCL kênh rạch chằng chịt, cộng thêm nhiều lùm cây, cỏ lác là nơi trú ẩn lý tưởng

của những loài bò sát như rắn rùa, lươn... Từ những loài bò sát đặc sản, người dân Nam bộ

đã sáng tạo chế biến những món ăn đặc trưng của vùng quê sông nước.

Truyện ngắn Chiều không lời nguyện của Trúc Phương, người đọc được thưởng thức

hương vị ngọt ngào của món khô lươn: ‘‘khô lươn đem nướng lên thơm ngào ngạt’’,‘‘bữa

cơm tối có mắm kho, bông súng ruộng, đĩa khô lươn và một xị rượu nếp uống lịm

lưỡi...’’[180.2, tr.109].

Ngoài ra, ở ĐBSCL còn nhiều món ăn chế biến từ rùa, rắn, tôm, cua... Như cua rang

me, cua gạch son luộc chấm muối tiêu chanh. Tôm hấp nước dừa, rắn hầm sả, rắn hổ hành

nấu cháo đậu xanh, rùa rang muối...

ĐBSCL còn nổi tiếng với món bánh xèo. Vết thương thứ mười ba của Trang Thế Hy, đã

giới thiệu thực đơn và cách làm bánh xèo: ‘‘bột mới xay còn thơm gạo nàng hương. Nòng cốt

của nhưn là những con tép bạc đất chạy nò mập tròn, đỏ ao. Kèm theo thịt ba rọi là những

tai nấm mối búp chẻ đôi. Tuy là đậm thực vật nhưng nó ngon hơn bất cứ loại thịt động vật

nào. Chất độn không phải là giá đậu xanh mà là củ hũ dừa xắt nhuyễn như sợi bún, vừa ngọt

vừa giòn’’[182, tr.135].

Ở truyện ngắn Những mảnh ván thiêng của Bích Ngân, người đọc còn được biết đến

một phong tục của người dân ĐBSCL. Cứ vào dịp gần cuối năm dù nhà giàu hay nghèo cũng

dùng nếp để quết bánh phồng: ‘‘Vào khoảng giữa tháng chạp, cái tháng mà nhà địa chủ cũng

như nhà tá điền, nhà giàu nứt đổ vách cũng như nhà nghèo rớt mùng tơi cũng đều chuẩn bị

nếp để quết bánh phồng... nếp chuối, loại nếp chỉ mới vừa rang vàng trên lửa đã bốc lên mùi

thơm không thể tả nổi, mùi thơm loang lạ ngào ngạt cả xóm dừa’’[109, tr.449].

Nhà văn Sơn Nam sơ kết: ‘‘Người Bắc bộ kén chọn thức ăn, như kén chọn chữ nghĩa,

thưởng thức câu thơ, món ăn nào ra hương vị ấy; Người miền Trung ăn thật ít, nhưng thật

ngon, theo kiểu vua chúa. Người ở Nam bộ không kén cho lắm, thích loại rau rừng’’[104,

tr.49].

Còn theo Phạm Minh Thảo: ‘‘Miếng ngon miền Nam cũng thành thật như người đàn bà

vậy. Ăn một miếng ngon ngay nhưng ngon không phải do vị của chính thức ăn mà là tại sả ớt

làm nổi vị lên, điểm cho khẩu cái một tơ duyên ấm áp. Tôi yêu miếng ngon miền Nam nhiều

vì nó lạ đến nhiều khi không thể tưởng tượng được - và chính những cái lạ đó đã cho tôi thấy

rõ hơn tính chất thực thà, bộc lộ và chất phác của người miền Nam’’[132, tr.103].

Khác với vùng miền khác, ẩm thực ở Nam bộ là những món ăn chân quê, mang hương

vị vùng sông nước. Cách chế biến, thói quen trong ăn uống đã hình thành nét văn hoá ẩm

thực của con người nơi đây.

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay, chúng ta cũng cảm nhận được nét văn

hoá làng quê qua nghề ‘‘nuôi vịt chạy đồng’’ - một nghề rất đặc trưng ở ĐBSCL: ‘‘Mùa gặt

năm nào anh cũng xuôi ghe chở bầy vịt chạy đồng về xóm Rạch Giồng này. Rồi cất cái chòi

lập bằng lá chuối, quây lưới cầm vịt trên khúc đê trồng so đũa. Từ chỗ này, mỗi ngày anh

lang thang lùa vịt đi ăn khắp cả vạt đồng, qua tới vườn Xóm lung. Tới khi người ta bừa đất

chuẩn bị sạ vụ mới, Sáng lại ra đi’’[169, tr.107]. Nghề nuôi vịt chạy đồng tuy vất vả, nhưng

có chút lang bạt:‘‘Ông làm nghề nuôi vịt đẻ chạy đồng. Hôm nay ở đồng rạch Mũi, ngày mai

ở nhà Phấn ngọn, xa nữa lại dạt đến Cái Bát không chừng. Ông đậu ghe, dựng lều, lùa vịt

lên những cánh đồng vừa mới gặt xong, ngó chừng chừng qua những cánh đồng lúa mới vừa

chín tới và suy nghĩ về một vạt đồng khác lúa vừa no đòng đòng.Đời của ông là một cuộc đời

lang bạt. Một cuộc sống trên đồng khơi. Chòi cắm ở đâu cũng được, miễn có chỗ khô ráo

cho ông nằm’’[171, tr.16].

Chợ nổi cũng một nét đẹp trong đời sống văn hoá của vùng ĐBSCL. Trong lời đề từ

cho truyện ngắn Nhớ sông, Nguyễn Ngọc Tư đã tái hiện cảnh sinh hoạt của chợ nổi: ‘‘Tôi

thường đứng trên cầu Gành Hào, nhìn về chợ nổi, ...Mỗi chiếc ghe là một ngôi nhà nhỏ,

ngang hai mét, dài năm bảy mét. ...Những chiều tà chợ nổi đìu hiu bập bềnh. Những người

đàn bà cúi đầu chăm chăm xới nồi cơm doà dạt khói, những người đàn ông xếp bằng trên

mui ghe vấn những điếu thuốc to đùng bằng ngón chân cái, phì phà khói lên trời. Những đứa

trẻ con ngồi tênh hênh trên mui ghe câu cá chốt, cá mè. Những cô gái sau một ngày bán

hàng mệt mỏi soi mình xuống sông, chải tóc’’[171, tr.112].

Đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, tốc độ cuộc sống công nghiệp đang hút

mọi người vào guồng quay của nó. Nhưng về miền Tây chúng ta vẫn bắt gặp người dân ung

dung trên những chiếc xuồng gắn máy bị mất hút đi giữa bạt ngàn màu xanh và mênh mông

sông nước.

Có thể nói trong xu thế đô thị hoá, hội nhập và phát triển, ĐBSCL là nơi lưu giữ văn

hoá nông nghiệp, văn hóa sông nước đậm nét nhất. Và truyện ngắn ĐBSCL đã góp phần

chuyển tải nét văn hoá đặc trưng ấy đến với bạn đọc trong và ngoài nước.

Chương 3

MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

CỦA TRUYỆN NGẮN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

TỪ 1975 ĐẾN NAY

3.1. Nghệ thuật tạo dựng tình huống, kết cấu, không gian, thời gian

3.1.1. Nghệ thuật tạo dựng tình huống

Theo Hegel: ‘‘Tình huống là một tình trạng có tính chất riêng biệt..., góp phần biểu

hiện nội dung là cái phần có được một sự tồn tại bên ngoài bằng sự biểu hiện nghệ thuật’’.

Nhà văn sử dụng tình huống ‘‘như là một cách thức để tạo nên điều kiện bộc lộ tính cách

nhân vật’’[143, tr.413]. Truyện ngắn với dung lượng hạn chế, cho nên không thể nói nhiều,

nói đầy đủ như tiểu thuyết, điều quan trọng với truyện ngắn là phải lựa chọn cho được các

tình huống để bộc lộ nét chủ yếu của tính cách và số phận đời sống con người.

Và thực sự những nhà văn có tài đều là những người có tài tạo ra những tình huống xảy

ra truyện vừa rất cá biệt vừa mang tính phổ biến. Đối với truyện ngắn hiện đại, tình huống

truyện lại càng có vị trí hết sức quan trọng. Mỗi truyện ngắn luôn chứa đựng một tình huống

truyện. Tình huống tiêu biểu ấy có nhiệm vụ gắn kết các nhân vật cùng tham gia các sự kiện.

Thông qua đó các nhân vật bộc lộ tính cách cũng như những quan hệ của mình. Đồng thời

tình huống truyện có vai trò đặc biệt thể hiện tập trung chủ đề của tác phẩm. Tình huống

truyện càng độc đáo, đặc sắc thì sức hấp dẫn của truyện càng mạnh mẽ. Một nét khá mới lạ

trong sáng tác của các nhà văn ĐBSCL đó là xây dựng cốt truyện dựa trên tình huống.

3.1.1.1.Tình huống tâm trạng

Tình huống tâm trạng là tình huống mà ở đó nhân vật rơi vào một tình thế làm nảy sinh

một biến động nào đó trong thế giới tình cảm. Và theo nhà văn Nguyễn Minh Châu: “Có

những nhà văn cố tình đưa nhân vật của mình vào những va chạm bình thường hàng ngày,

những tình thế giao tiếp hàng ngày, ai cũng nhiều lần trải qua và cái tình thế xảy ra lại nằm

trong tâm trạng, tính cách nhân vật”[142, tr.119]. Chính vì thế, tình huống này thường dẫn

tới một kiểu nhân vật là con người tình cảm. Nghĩa là kiểu nhân vật được hiện lên chủ yếu

bằng thế giới nội cảm của nó. Nhà văn tạo dựng nên hình tượng nhân vật chủ yếu bằng hệ

thống chất liệu là cảm giác, cảm xúc với các phức hợp khác nhau của chúng còn các khía

cạnh khác như: ngoại hình, hành động…ít được quan tâm. Và vì thế nó quyết định đến diện

mạo của toàn truyện: truyện ngắn trữ tình.

Tình huống này thường gặp trong các truyện tâm tình, loại truyện không thiên về cốt

truyện nhưng sâu sắc về tâm lý, với những sự kiện đặc biệt của đời sống, nhân vật rơi vào

một tình thế làm nảy sinh những biến động trong thế giới tình cảm. Nhân vật trong tình

huống này là con người tình cảm, được xây dựng bằng hệ thống chất lượng là cảm giác, cảm

xúc.

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng tôi nhận thấy loại tình huống tâm

trạng thường khó nhận biết, có khi chỉ là những sự việc vặt vãnh, nhưng nó buộc người

đọc phải suy ngẫm.

Truyện ngắn Giữa dòng nước lũ của Anh Đào xoay quanh câu chuyện của mẹ con

thằng Nước tình cờ gặp lại người cha, người chồng bội bạc. Từ đó mọi việc cứ diễn ra một

cách tự nhiên theo quy luật logic vốn có của nó. Ba thằng Nước vì sức hút kiếm tiền mà đành

tâm dứt bỏ nghĩa vợ chồng, tình phụ tử. Ông nhẫn tâm phụ bạc người vợ hiền lành, bỏ mặc

đàn con thơ dại chín năm chưa một lần về thăm, mặc vợ nhớ mong, chờ đợi, đàn con thiếu

thốn hơi ấm tình thương của cha. Ba nó bỏ đi, mẹ nó phải vật lộn với cuộc sống để nuôi bầy

con dại. Đáng lí họ phải hận ông ấy lắm, nhưng người vợ vẫn kiên trinh chờ đợi, sẵn lòng tha

thứ cho người chồng bội bạc, mong một ngày gia đình sum họp. Còn thằng Nước lúc nào

cũng yêu thương mẹ, đỡ đần mẹ trong cuộc sống, chăm sóc các em. Khi má không đồng ý

cho nó lấy tiền của ba, nó chạy xuống bến sông để trả lại tiền, nhưng ghe hàng đã nhổ sào đi

từ bao giờ. Biết vậy, nhưng ngày nào nó cũng “chạy xuống bến chợ mong ngóng”. Ước

mong “gặp lại ba lần nữa đầy ắp trong trái tim nhỏ bé của nó”[182, tr.37]. Câu chuyện

thể hiện tư tưởng nhân đạo, sự đồng cảm yêu thương đối với người lao động của tác giả. Dù

trong hoàn cảnh nào, họ luôn hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn, vẫn luôn khao khát yêu

thương, khát khao hạnh phúc.

Ở truyện ngắn Thuốc đắng của Anh Động, tình huống tâm trạng được xây dựng trên

cơ sở sự cả tin, mềm lòng cùng với sự kém hiểu biết của vợ chồng Năm Vâng trước thủ đoạn

nham hiểm của mụ Ma Lanh. Tình huống truyện đơn giản, nhưng đã bộc lộ được khá đầy đủ

nội dung tư tưởng mà tác giả Anh Động muốn chuyển tải đến người đọc về cuộc sống đời

thường của người lính sau chiến tranh, người trí thức trong thời bình. Vì cơm áo, gạo tiền mà

bị người khác lợi dụng, làm những việc trái với lương tâm, dẫn đến đổ vỡ hạnh phúc gia

đình.

Tình huống tâm trạng có khi được xây dựng từ một kỉ niệm nghĩa tình trong những

năm gian khổ giữa những người đồng chí, đồng đội với nhau để rồi dù trong bất cứ hoàn

cảnh nào của đời sống họ vẫn luôn nhớ về nhau (Chim lá rụng - Thai Sắc; Kỉ niệm thoáng

qua - Nguyễn Khai Phong). Cũng có khi tình huống được xuất phát từ khám phá lí giải

bình diện đạo đức trong cuộc sống đời thường, điều đáng quan tâm thì không được quan

tâm mà chỉ quan tâm đến những chuyện tầm phào, chuyện riêng tư của người khác (Có một

mùa mưa - Hồ Tĩnh Tâm).

Tình huống tâm trạng là tình huống khá phổ biến trong các truyện ngắn về chiến tranh

thời kỳ đổi mới. Xu hướng phản ánh hiện thực từ góc độ đời tư cho phép, và đòi hỏi diễn

biến tâm trạng, tình cảm con người trở thành một trong những đối tượng cơ bản để khám

phá, tìm tòi.

Truyện ngắn Đường về của Lê Đình Bích là câu chuyện xoay quanh tâm trạng của

John - một người lính Mĩ trở lại vùng đất mà anh có những kỉ niệm buồn trong cuộc chiến và

anh bất ngờ khi được con người nơi đây tiếp đón một cách thân thiện. Với anh nơi đây là

‘‘một chiến trường quá buồn bã nhưng cũng là một tình trường tươi thắm”[182, tr.16].

Một người bị bỏ quên của Hào Vũ là câu chuyện xoay quanh cuộc đời của nhân vật Hà

qua lời kể của nhân vật “tôi” là phóng viên của một tờ báo tỉnh cũng là bạn cùng đơn vị

chiến đấu với Hà, cũng không ai khác chính anh là người phát hiện ra Hà vẫn còn sống.

Trong khi gia đình, vợ con anh ngoài Bắc đều nghĩ anh đã chết trong một trận chiến đấu ác

liệt xảy ra trên sông và anh được truy phong danh hiệu “dũng sĩ quyết thắng” nhưng giờ đây

“Hà vẫn còn sống, ngay tại đây, với người vợ thứ hai của anh, sống thầm lặng, sống như

một người đã chết, như không cần biết chi tới sự đời”[182, tr.369]. Anh trốn chạy quá khứ,

trốn chạy tất cả mọi người. Chỉ vì anh đã mang ơn chị Ba Bình vợ anh bây giờ, anh lỡ có

tình cảm. Vì anh không bao giờ nghĩ chiến tranh có ngày kết thúc, anh không nỡ làm ai đau

khổ. Anh không dám đối mặt với hiện thực, anh trốn tránh nhiệm vụ của bản thân đối với

cuộc đời mình. Sau khi nói chuyện với nhân vật tôi anh đã có một quyết định “Đi đâu,

không, nó sẽ không đi đâu, không bỏ trốn đâu, nó sẽ trở về với chị, với thằng nhỏ, trở về với

chúng ta. Chị cứ tin tôi”[182, tr.386].

Không ít tình huống tâm trạng được xây dựng từ những kỉ niệm những hồi ức, những

nỗi đau mất mát trong chiến tranh. Có những vết thương, những nỗi đau mà mãi mãi không

bao giờ lành được (Nhạc rừng - Lương Hiệu Vui).

Truyện ngắn Vết thương thứ mười ba của Trang Thế Hy, đề cập đến nỗi đau của con

người sau chiến tranh. Đó là tâm trạng của vợ chồng anh Hữu và chị Châu về nỗi đau tinh

thần do chiến tranh để lại. Hòa bình lập lại, họ trở về với cuộc sống đời thường. Họ cũng có

một gia đình hạnh phúc như bao gia đình. Anh Hữu là người chồng hết mực yêu thương, lo

lắng, chăm sóc cho chị Châu - người đồng chí, người bạn đời của mình. Chị Châu là một phụ

nữ chịu nhiều bất hạnh. Chị mang trong người căn “bệnh buồn” vô phương cứu chữa. Nhất

là mỗi khi nhắc đến chiến tranh, chị vừa buồn vừa giận. Chính chiến tranh là kẻ thù đã cướp

cái quí giá nhất của đời người con gái, nỗi đau mà lâu nay chị âm thầm chịu đựng và muốn

chôn chặt trong lòng. Tuy thương yêu, lo lắng, quan tâm cho nhau, nhưng giữa họ vẫn còn

tồn tại một sợi dây vô hình, làm cho không khí gia đình mỗi khi trò chuyện lại trở nên nặng

nề. Nhưng cuối cùng chị cũng nói ra tất cả và đã ra đi một cách thanh thản.

Ở truyện ngắn Vết thương thứ mười ba, qua tâm trạng NV chị Châu, nhà văn muốn

nhắn gửi với người đọc: chúng ta không chỉ biết tự hào kiêu hãnh về những kì tích trong

chiến tranh, mà cũng cần phải thấu hiểu những nỗi đau chiến tranh như nỗi đau mà nhân vật

chị Châu phải âm thầm chịu đựng mấy chục năm trời cho đến khi qua đời.

Cũng có tình huống tâm trạng được tạo dựng từ những biến cố trong đời sống gia

đình.

Truyện Núi lở của Nguyễn Ngọc Tư từ đầu đến cuối tái hiện sinh động tâm trạng của

một sinh viên điện ảnh tên Vĩnh. Đầu tiên Vĩnh say, mà ta sẽ thường liên tưởng tới một

người say hay nói chuyện viễn vông, càn quấy. Nhưng đây là một người say nói thật. Anh đã

đem những ký ức thầm kín ‘‘buồn khủng khiếp’’ của mình trút hết vào một dự định kịch bản

phim. Vĩnh bị ám ảnh, dằn vặt đến lạnh ngắt cả người, nước mắt chảy đầm đìa vì một ký ức

ghê rợn của tuổi thơ. Đó là cái chết của người ông thương yêu, cái chết diễn ra trước mặt cả

gia đình Vĩnh. Một đứa trẻ không thể ngờ và không hiểu tại sao cha mẹ của mình lại có thể

cứu một khách làng chơi, và còn không quên cứu cả một con nhồng mà lại bỏ người cha ruột

già nua - ông nội của Vĩnh lại. Khi anh trưởng thành, anh mới biết đó là hai bộ não độc ác,

tàn nhẫn, ích kỷ và hám lợi, đã dám đem con mình nhúng vào chốn nhơ và đã dám lăng mạ

sự cao quý của người ông, bất chấp những hủy hoại về mặt tinh thần, tình cảm. Đến cuối

truyện, người đọc mới vỡ lẽ đây không phải là một câu chuyện phim tưởng tượng mà chính

là câu chuyện đời của Vĩnh, để rồi phải bàng hoàng, nghẹn ngào cùng nhân vật. Đây chính là

hiệu ứng của tình huống truyện: ban đầu tác giả bọc cho câu chuyện một lớp áo điện ảnh, để

người đọc phải hoài nghi giá trị của kịch bản ấy ở tính hiện thực. Nhưng qua tâm trạng nhân

vật kể chuyện Vĩnh, sự né tránh đó của tác giả là một sự tố cáo âm thầm nhưng quyết liệt,

đầy đay nghiến, một cuộc ‘‘lật mặt nạ’’ cuộc đời. Tưởng như chuyện bịa, không tưởng vì nó

quá lạnh lùng, nhưng những sự kiện xảy ra trong ấu thời của Vĩnh ấy là sự thật ở đời mới

thật đáng sợ.

Với truyện Về nhà trước cơn mưa của Trang Thế Hy, thì tình huống truyện là tâm

trạng của ba nhân vật là người cha, người đàn ông bán đá cục đến anh Diên. Tâm trạng của

họ xoay quanh một đứa trẻ bị bỏ lại bên vỉa hè. Đều yêu thương nó nhưng họ không có đủ

khả năng thực tế để có thể tránh khỏi hành động ‘‘bỏ chạy’’, để đứa bé lại với vỉa hè lạnh lẽo

và cay nghiệt. Tất cả họ đều bị cắn rứt, dằn vặt lương tâm. Người đàn ông bán đá cục đã phải

có những giờ đồng hồ ngồi trầm tư, vật vã bên đứa bé đáng yêu. Anh Diên cũng phải ray rứt

đến những giờ phút sau cùng trên giường bệnh. Quan niệm đạo đức cao cả ‘‘kiến nghĩa bất

vi vô dõng giả’’ của họ đã không thể thực hiện được trong mọi thời điểm của cuộc đời, do

cái đói nghèo chì kéo. Đặc biệt, nhân vật anh Diên thấy mình đã ‘‘hèn nhát’’ phụ lại phương

châm sống ấy dù chỉ mới một lần anh không thể làm việc nghĩa. Toàn truyện là một bầu tâm

trạng buồn đến nao lòng của những con người đầy trăn trở về tình thương, trách nhiệm đối

với đồng loại của mình.

Có thể nói, cách xây dựng tình huống tâm trạng trong truyện ngắn ĐBSCL rất phong

phú và đa dạng. Điều này cho thấy ý thức tìm tòi và sáng tạo của các cây bút truyện ngắn

ĐBSCL trên từng phương diện. Tuy chưa có những tình huống tâm trạng vào loại đặc sắc,

độc đáo, nhưng sự thành công như đã trình bày trên cũng rất đáng ghi nhận.

3.1.1.2.Tình huống hành động

Tình huống hành động là loại tình huống mà trong đó nhân vật bị đẩy tới một tình thế

thường là éo le chỉ có thể giải quyết bằng hành động. Tình huống này thường hướng tới một

kiểu nhân vật - nhân vật hành động. Tức là loại nhân vật chủ yếu được hiện lên bằng hệ

thống hành vi, hành động của nó, các bình diện khác ít được quan tâm. Do đó, nó quyết định

đến diện mạo của toàn truyện: truyện ngắn giàu kịch tính. Thậm chí mỗi thiên truyện ở dạng

rõ nét nhất có thể coi như một màn kịch, một vở kịch ngắn bao hàm những xung đột đời

sống.

Ở truyện ngắn Gió lẻ, Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng một tình huống trớ trêu, ngang

trái. Nhân vật em có cả một mái ấm gia đình hạnh phúc bên cha mẹ, nhưng bỗng một ngày

chuyện bất ngờ lại xảy ra: ‘‘Có lần em lén lấy dao cạo râu cha để tỉa lông cho con cho Lu

Lu. Không ngờ vì chuyện đó cha mẹ cãi nhau, cha chỉ vào em hỏi mẹ, từng từ khít như mau

rỉ qua kẽ răng: cô lấy thằng nào mà đẻ ra cái thứ này? Mẹ em không trả lời, lẳng lặng vào

phòng, khoá cửa trong. Ba giờ sau cha tìm thấy mẹ em treo mình đung đưa trên xà

nhà’’[172, tr.139]. Chỉ một câu hỏi cay nghiệt của người chồng đã dẫn đến cái chết tức tưởi

của người vợ và làm cho đứa con gái ngây thơ không bao giờ nói được tiếng người nữa. Sau

biến cố ấy, thì bi kịch tiếp tục ập đến và dồn cô bé tội nghiệp đến chân tường: ‘‘Bỗng dưng

thấy mình bị ép chặt xuống tấm vắn mối ăn lấm tấm và một bàn tay lần vào áo em, thì em

giật mình. Em gào lên, nhưng giọng tắt trong bàn tay khẳm mùi rượi, thịt và nước tiểu’’[172,

tr.151].

Ngược lại ở Đất không cưu mang của Bích Ngân, với tiếng kêu hớt hải ‘‘Ba, ba ơi’’ của

đứa con gái Út, mà ông Mười đã từ bỏ ý định tự tử ‘‘Ông mềm nhũn trước tiếng kêu đó. Ông

tuột từ trên cây cao xuống khi nghe tiếng khóc rấm rứt của con Út. Ông bế thốc con Út lên

và xiết chặt nó vào lòng’’[183, tr.379].

Truyện ngắn Không có cái truyện ngắn nào cả của Phạm Trung Khâu là cuộc trò

chuyện giữa nhân vật Thân (và cũng là chính tác giả) và một vị khách thật đặc biệt, chính là

lương tâm của tác giả, là con người thứ hai của tác giả. Thân là một người quá xem trọng vật

chất, anh chăm chút lau từng vết bụi dơ trên máy thu băng, anh cằn nhằn mãi thằng Tín vì nó

vô tình làm dính một vết dơ lên máy (chưa hẳn là do thằng Tín làm). Ngay cả ngày giỗ của

ba mình anh cũng không ở nhà mà đi thành phố để mua thêm hàng. Anh còn dặn vợ làm gòn

gọn vì“tiền anh dành dụm từng đồng dại gì phung phí”[182, tr.166]. Anh còn là một người

sống vì dư luận, sợ dư luận và sống giả dối. Anh đề nghị rước mẹ vợ về ở chung với mình,

chỉ vì sợ người đời chê trách.

Qua những suy nghĩ và hành động của nhân vật Thân, truyện đã gửi đến người đọc

trong cuộc sống hiện nay có một số người chỉ coi trọng cơm áo gạo tiền, vật chất mà quên

mất cái nghĩa, cái tình của người.

Truyện Một chuyến đò của Trầm Nguyên Ý Anh đã đặt nhân vật vào một tình huống oái

oăm độc đáo là ‘‘chọn mẹ để cứu’’. Trước khi có tình huống đỉnh điểm này, nhân vật Thân

đã được thể hiện bằng những hành động chăm chút cho người mẹ nuôi giàu có ngay trước

mặt người mẹ ruột đáng thương - ‘‘gã đã làm đủ mọi cách để mong được có tên trong tờ

giấy chia gia tài của bà Quang’’[196, tr.291]. Chuyến chìm đò, buộc Thân phải chọn cứu

một trong hai bà mẹ. Giữa bà mẹ nuôi giàu có và người mẹ ruột nghèo hèn, thằng con trai đã

chọn cứu bà mẹ nuôi và bỏ mẹ ruột mình chết đuối sau khi đã phũ phàng chối bỏ hành động

cứu con một cách bản năng của người mẹ ruột. Tất cả những hành động ấy, nhất là hành

động sau cùng đã tố cáo bộ mặt giả nhân giả nghĩa của Thân, mà bà mẹ nuôi (bà Quang) chợt

nhận ra. Hành động ‘‘cứu mẹ’’ đầy toan tính đã tố cáo bản chất tàn nhẫn của một con người.

Ở những truyện không có tình huống hành động thì các nhân vật vẫn có những hành

động theo sự vận động và phát triển tính cách. Nhưng việc các cây bút truyện ngắn ĐBSCL

tạo dựng tình huống đã góp phần đẩy nhanh mạch truyện và kịch tính của truyện được lí giải

một cách thấu đáo hơn. Lời nói có thể điêu ngoa, xảo biện nhưng chính hành động là cái xác

thực nhất để bộc lộ hay tố cáo một con người trong phần lớn các trường hợp. Do vậy, dùng

hành động của nhân vật để giải quyết tình huống mâu thuẫn được đặt ra trong truyện là một

cách làm đem lại nhiều sự thuyết phục. Đặc biệt là những hành động có tính chất quyết định

như có liên quan đến sự được - mất, sống - chết.

3.1.1.3. Tình huống nhận thức

Tình huống nhận thức là kiểu tình huống với những sự kiện đặc biệt của đời sống mà ở

đó nhân vật được đẩy tới một tình thế bất thường như đối mặt với một bài học nhận thức, bật

lên một vấn đề về nhân sinh, về nghệ thuật cần phải vỡ lẽ, giác ngộ. Kiểu nhân vật của dạng

tình huống này đương nhiên là nhân vật tư tưởng. Nghĩa là kiểu nhân vật được khai thác chủ

yếu ở đời sống nhận thức lý tính của nó. Chất liệu cớ bản để dệt nên nhân vật là hệ thống

những quan sát, phân tích, suy lý, đúc kết, chiêm nghiệm…mà trường hợp đậm đặc nhất là

mỗi nhân vật giống như một tư tưởng được nhân vật hoá.

Tình huống nhận thức luôn mở ra những vấn đề trước hiện thực đời sống mà nhà văn có

sự nghiền ngẫm và lí giải theo quan niệm của mình với mong muốn đối thoại cùng người

đọc.

Truyện ngắn Ông già đến từ Busan của Vũ Hồng là câu chuyện xoay quanh hai nhân

vật chính là ông già đến từ Busan - vị khách ba lô lẻ và nhân vật tôi - sinh viên sử năm 3 làm

nghề hướng dẫn viên du lịch. Chuyến du lịch về miền sông nước Cửu Long, đi đến Bến Tre

giữa hai người mới gặp nhau lần đầu tiên, theo xuyên suốt miền Tây là cả một câu chuyện ý

nghĩa về cuộc đời, cảm xúc, tâm sự, ước mơ và nỗi lòng… bộc lộ từ vị khách già nọ. Hai

nhân vật chính đi cùng nhau không phải do ngẫu nhiên mà có nguyên nhân, giữa ông và

nhân vật tôi có một điểm giống nhau đó là họ đều có một mụn thịt nhỏ ở cánh mũi phải dù

nhỏ thôi nhưng hình như ý nghĩa với ông, nên thấy thân quen, gần gũi như những người

đồng hương gặp nhau trên vùng đất mới trong cuộc mưu sinh, những người da vàng gặp

nhau nơi xứ người. Đến Bến Tre ông hỏi và tìm đến cây Bạch Mai sống trên ba thế kỷ - Cội

Bạch Mai già, sần sùi theo thời gian như chính ông đang nhìn thấy mình, tìm thấy sự đồng

cảm với mình. Ông hình như cũng thấy điều mình đang tìm kiếm - gốc rễ cội nguồn của

mình ở ngay cây Bạch Mai già cội này. Nó đã sống trên quê hương ông, trải qua bao nắng

mưa, thăng trầm của cuộc sống, nó giống như cột mốc ghi lại bước đi vội vã của thời gian,

tất cả sự đổi thay trên quê hương đều như in hằn lên lớp vỏ làm chúng ngày càng sần sùi

hơn. Như khi người ta đi xa về, bốc một nắm đất trên quê hương cũng thấy lòng đầy cảm

xúc, thấy nắm đất đầy ý nghĩa. Ở Bến Tre được ba ngày, ông chụp hết tấm phim này đến tấm

phim khác, rồi hí hoáy vẽ phác họa những nét đơn điệu của cảnh vật đồng bằng, với ông nó

rất đẹp vì đồng bằng gần gũi với con người hơn, khác xa với thành phố Busan, một nơi nhộn

nhịp, ồn ào mà ông đang sống. Ông nội ông là người nói cho ông biết mình có dòng máu

Việt Nam, trái lại với ông ba ông luôn trối bỏ nguồn cội của mình. Ông tự học tiếng Việt,

đọc sách tiếng Việt, ăn món ăn Việt và nói chuyện với cánh thủy thủ Việt Nam, thích

Nguyễn Tuân. Phải chăng ông đang cố tìm lại dòng máu của mình, để cảm xúc, suy nghĩ,

tiếng nói và bản thân được thuần Việt hơn, được trở về đúng gốc gác của mình. Ngày sinh

nhật, ông đi qua đi lại trước đại sứ quán Việt Nam “tự chúc mừng sinh nhật mình bằng cách

nhìn lá cờ Việt Nam đang bay nơi xứ người, rồi về”[182, tr.118]. Giống như người Việt

Nam, một năm có 3 ngày tết cổ truyền để tưởng nhớ cội nguồn tổ tiên, truyền thống dân tộc

thật thiêng liêng và ý nghĩa. Nhìn lá cờ Việt Nam trong ngày sinh nhật, để thỏa nỗi lòng cố

hương của ông, để thấy trong ngày mình cất tiếng chào đời, dù ở nơi đâu cũng đặt nơi chôn

rau cắt rốn vào lòng, vào máu, vào tim. Lời an ủi của nhân vật tôi làm ông chạnh lòng

“không có đứa trẻ sơ sinh nào biết tự chọn cho mình đất nước”[182, tr.118]. Cũng như

không có đứa trẻ nào chọn được cha mẹ, dòng máu, màu da cho mình. Nhưng đau khổ hơn

với ông “Ở đất Hàn họ cho mình là người Việt, còn ở Việt nhìn tao là Hàn. Tao là kẻ không

có quê hương và điều đó khiến tao đau lòng lúc tuổi già gần đến. Rồi Việt Nam cũng không

đủ thời gian để nhớ ra rằng mình còn có một đứa con phải gởi nắm xương nơi đất khách quê

người. Tao còn một điều ân hận với nguồn cội của mình là đã để đứa con trai út theo đoàn

quân viễn chinh sang đây…”[182, tr.118]. Có lẽ giờ đây, ông thấm thía hơn ai hết niềm ao

ước được tìm lại quê hương, có được nguồn cội, có được nơi để quay về khi tuổi già. Dòng

máu Hàn - Việt trong người vẫn chảy, nhưng dường như chẳng nơi nào nhận ông là con

“đang ngồi nhớ về quê hương ngay chính trên quê hương của dòng máu ông đang mang mà

cái quê hương đó lại chưa nhận được ông về tổ ấm”[182, tr.119]. Ông chợt khóc rưng rức

như một đứa trẻ, một đứa trẻ mồ côi quê hương ngay chính tại nơi mà nó sinh ra. Rồi như

không biết vô tình hay cố ý, nhân vật tôi - người dẫn đường cho ông “chợt thấy chạnh lòng

khi nhớ về quê nhà Ba Tri cách đó không xa mấy”[182, tr.119]. Phải chăng, giữa hai con

người đang có sự đồng cảm, hay khi chứng kiến một người đang đau khổ vì không tìm được

tổ ấm, thì người ta mới giật mình quý trọng tổ ấm mình đang có. Hình như dòng máu Việt và

niềm khao khát nguồn cội cũng đang xuôi chảy trong ông già đến từ Busan như vậy, âm

thầm, lặng lẽ như không bao giờ cạn.

Truyện ngắn Tro bụi trên sông của Ngô Khắc Tài nói về con người tha hương, tác giả

đề cập rõ nét nhất qua nhân vật hia Kim. Hia Kim sống tha hương nhưng luôn nhớ về cội

nguồn của mình. Hia là một người mang nửa dòng máu Trung Hoa, nửa dòng máu Việt

Nam, sống trên đất nước Việt Nam. Lúc nhỏ có một lần hia Kim được về Trung Quốc nhưng

rồi sau đó cuộc sống bận rộn sau này hia Kim không có lần nào về nữa. Thế nhưng trong hia

Kim luôn khao khát trở về cố hương. Lúc già sắp về cõi vĩnh hằng hia Kim như muốn hoài

vọng về cố hương, theo rờ rẫm vách nhà, cây cối trong vườn để hồi tưởng lại cuộc đời mình.

Ông muốn trước khi chết được sờ những vật đã để lại trong ông những kỉ niệm tươi đẹp bên

ông bà, cha mẹ. Và đây cũng là những giây phút thiêng liêng với cội nguồn đã lãng quên.

Trước lúc giã từ cõi đời hia Kim đã dặn dò với Tố Anh là hia mong muốn xác minh được

thiêu và đem thả ra biển Hà Tiên. Có lẽ đây chính là con đường duy nhất mà hia Kim trở về

với cội nguồn.

Truyện còn đặt ra vấn đề về sự khác nhau trong cách suy nghĩ về cuộc sống tâm lý của

hai thế hệ. Họ là lớp người già và họ có một đời sống tâm lý rất riêng, rất phức tạp. Họ

không sống vì tương lai mà sống bằng những hoài niệm của quá khứ, họ có nhu cầu được

giãi bày tâm sự cũng như ôn lại chuyện xưa. Và lớp con cháu chúng ta có khi lấy làm bực

mình vì những chuyện đó không hấp dẫn. Sở dĩ chúng ta có cảm giác đó là vì chúng ta chưa

hiểu hết tâm sự của người già. Họ già nên họ cô đơn lắm, họ cô đơn khi bạn bè cùng trang

lứa ngày một mất dần. Chỉ có bạn bè cùng trang lứa mới hiểu hết tâm sự của nhau thôi. Họ

đành tìm sự cảm thông ở lớp con cháu nhưng con cháu chúng ta lại quay mặt lại với họ. Có

lẽ chúng ta chưa già nên chưa thấu hiểu tâm lý của người già. Họ rất cần sự quan tâm yêu

thương từ con cháu. Truyện được viết bằng cảm xúc chân thực của nhà văn, dữ dội, mạnh

mẽ, song với chất trữ tình êm dịu của nó, làm người đọc xúc động, và đồng cảm với tác giả.

Với truyện Khóc hương cau, Phan Trung Nghĩa đã khắc họa rất đậm nét về cuộc đời

và số phận của những người phụ nữ. Họ nối tiếp nhau, đại diện cho đức tính chịu thương,

chịu khó của người phụ nữ Việt Nam nói chung và người phụ nữ ĐBSCL nói riêng.

Nói về người mẹ, bà là người “khổ từ trong trứng khổ ra”. Từ thời con gái cho đến

khi lấy chồng, có con rồi, ấy mà cái cực vẫn còn đeo bám, ngay đến lúc chết bà cũng không

nhắm mắt vì chưa thực hiện được ước nguyện về thăm lại quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn

dù chỉ một lần. Nơi đó nào xa xôi, chỉ ở Cồn Ấu - Cần Thơ, thế mà má Nghĩa không về

được… 24 năm đã qua, cũng 24 năm người phụ nữ ấy chống chọi, lận đận với cuộc sống đầy

cơ cực. Và dường như bà sinh ra là để lo cho chồng, cho con, xem đó như món nợ tình, nợ

nghĩa mà bà phải trả. Tuy nhiên, có một món nợ mà bà không thể trả được, đó là nợ với quê

hương. Lòng người mẹ thương con, thương chồng, giàu đức hy sinh ấy tuy hoàn cảnh đưa

đẩy, nên bà không về lại quê xưa, nhưng trong lòng bà luôn nung nấu, mong mỏi và canh

cánh day dứt khôn nguôi một nỗi niềm nhớ quê hương. Ký ức về Cồn Ấu, về gia đình, về

hương bưởi, hương cau quê nhà… là những gì còn đọng lại, rất thiêng liêng. Và cái chết bất

ngờ đã chấm dứt cuộc đời cơ cực, vất vả của bà, để rồi những mong ước gần như cháy bỏng

là được trở về quê nhà đã theo bà xuống nấm mồ. Khi Nghĩa lấy vợ, có gia đình thì vợ Nghĩa

cũng là một người phụ nữ đảm đang, chu đáo. Chị đã làm tròn bổn phận của một người vợ,

người mẹ mẫu mực. Với tình thương con và đức hy sinh, theo Nghĩa thì vợ là biên bản thứ

hai của người má mình… Cái cực như “lây lan” mãi ra và khổ nhất vẫn là những người phụ

nữ. Càng cao quý và đáng để ta khâm phục hơn khi chị không hề kêu ca, oán than dù chỉ nửa

lời. Chính vì vậy, làm cho Nghĩa cảm thấy hổ thẹn về trách nhiệm của người chồng khi

không gánh vác nổi những khó khăn, tủi nhục trong những tháng ngày cơ cực của vợ. Lời kể

của Nghĩa về má, về vợ không đơn giản là nói về sự hy sinh, tấm lòng cao đẹp của họ, mà

qua đó tác giả bộc lộ nỗi lòng của chính mình, như muốn trải lòng ra bằng một tấm lòng của

một người con, người chồng… khi không lo được gì cho người thân. Giọt nước mắt của

Nghĩa giờ đây không đơn thuần là nhớ về một người mẹ nữa mà nó đã trở thành nỗi niềm

day dứt khi bản thân chưa được thực hiện được ước nguyện của má mình lúc sinh thời: “đắp

thay má ít cục đất trên mồ mả ông bà ngoại để gội rửa tội lỗi”[182, tr.200].

Ở truyện Xe tăng và ruồi của Đoàn Văn Đạt là tình huống nhận thức về cuộc sống của

loại tù “mồ côi”. Ruồi và Xe Tăng thật ra họ đều có tên, tên đàng hoàng và rất đẹp là đằng

khác, nhưng “Gọi là Ruồi, đơn giản là do nó kiếm ăn bằng nghề đập ruồi. Còn Xe Tăng thì

lòng vòng hơn. Số là toàn quân lao có sáu khu, đánh số từ A đến F. Mỗi khu lập ra đội xe

tăng, nói cho oai, thực ra đó là những cái thùng phuy loại 200 lít, được xỏ ngang bằng cây

sắt “ấp chiến lược” và thằng nào phải ghé vai vô làm công việc khổ sai này được gọi chung

là xe tăng. Xe tăng chỉ chở duy nhất một mặt hàng: rác”[182, tr.41-42]. Vì miếng cơm Ruồi

thà “Cụt chân còn hơn chết đói”. Chính vì lòng ích kỉ khi có ăn Ruồi cắt đứt mọi liên hệ với

bạn, có ăn không mời, ăn dư sẵn sàng liệng bỏ. Khi Ruồi nhận ra thì quá muộn không thể

cứu chữa được nữa. Ruồi chết do bị nhiễm trùng máu cấp tính. Xe Tăng là một người thẳng

thắn, sống vì bạn luôn che chở cho bạn có ăn thì đều chia sẻ cho bạn. Khi Ruồi hành nghề

mới, Xe Tăng thật thà khuyên bạn: “Ruồi a, vết thương bàn chân mầy dạo này nhẹ lắm rồi,

mày cho ruồi bu suốt ngày coi chừng bị cắt cụt chân”[182, tr.45]. Vì những lời khuyên đó

Ruồi cắt đứt tình bạn giữa hai người, có ăn quay lưng lại với bạn nhưng khi Ruồi đến xin lỗi

thì “Xe Tăng ái ngại nhìn nó, nỗi căm giận bạn bè phản trắc bấy lâu như tiêu tan hết. Một

niềm thương cảm chợt dâng lên trong lòng nó”[182, tr.53]. Khi ra tù Xe Tăng đã tìm đến

thăm bạn và cầu xin ông trời “nó van vái phật trời ban cho bạn nó kiếp sau nếu được làm

người thì phải là người đúng nghĩa, đừng cho ruồi nhặng bu vào”[182, tr.56].

Các kiểu tình huống trên cũng đã từng xuất hiện trong truyện ngắn ĐBSCL trước 1975,

nét mới ở đây là tình huống được xây dựng giàu kịch tính hơn. Qua đó, đời sống tâm hồn và

tính cách nhân vật được thể hiện sâu sắc, chân thật và sinh động hơn.

Tóm lại, dù chưa có được nhiều tình huống truyện độc đáo, nhưng thực sự cách tạo

dựng tình huống trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, ở mức độ nhất định đã góp phần khắc

họa tính cách nhân vật.

Nhân vật trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, được xây dựng rất đa dạng, phong phú

đủ mọi tầng lớp và trên mọi lĩnh vực. Mỗi nhân vật đều có có một tính cách riêng vừa mang

dáng dấp của con người thời đại nhưng lại mang đậm tính cách, phẩm chất của con người

ĐBSCL mộc mạc, giản dị, hoà hiệp, trọng nghĩa, lạc quan yêu đời.

Bên cạnh đó, thông qua tình huống truyện nhà văn lí giải những vấn đề mà tác phẩm

đặt ra, từ đó định hướng người đọc có nhận thức, suy nghĩ, hành động đúng đắn. Mặt khác

tình huống truyện góp phần tạo sự gắn kết các nhân vật trong truyện.

3.1.2. Nghệ thuật tạo dựng kết cấu

Trong thực tiễn sáng tác truyện ngắn, các nhà văn chú ý đến hai khâu quan trọng khi

xây dựng kết cấu: mở đầu và kết thúc truyện. Hai yếu tố này có một ý nghĩa hết sức quan

trọng trong chỉnh thể kết cấu truyện ngắn. Nó góp phần làm nổi bật tư tưởng, chủ đề của tác

phẩm.

Kết thúc cũng phải tuân theo quy luật phát triển khách quan cuộc sống nhân vật trong

cái trật tự logic nội tại của tác phẩm. Có kết thúc đánh dấu sự giải quyết trọn vẹn xung đột

được miêu tả trong tác phẩm. Lại có kết thúc tuy đánh dấu sự xoá bỏ của xung đột, xác định

tính cách và số phận nhân vật nhưng mâu thuẫn vẫn có thể tiếp tục căng thẳng hoặc chưa bị

xoá bỏ. Hình thức kết thúc không trọn vẹn này được thể hiện trong rất nhiều tác phẩm truyện

ngắn hôm nay. Mặc dù vậy, cách kết thúc nào trong truyện ngắn cũng nhằm tái hiện nghệ

thuật dòng chảy phức tạp của đời sống và tạo ấn tượng duy nhất trọn vẹn và lâu dài ở người

đọc. Cùng với mở truyện, kết truyện cũng có ý nghĩa then chốt góp phần vào việc lý giải một

cách đúng đắn nội dung, tư tưởng tác phẩm.

Thông thường trong một tác phẩm, cách kết thúc giữ vai trò quan trọng. Bởi lẽ, nó có

khả năng khái quát cảm xúc, tư tưởng của nhà văn. Đó cũng là nơi tập trung sức biểu hiện

của chủ đề tác phẩm. Ở truyện ngắn điều này được thể hiện linh hoạt hơn. Đặc trưng cơ bản

của truyện ngắn là phải ngắn, cô đọng, nên phần kết thúc cũng có nhiều điểm khác với tiểu

thuyết. Maugam, nhà văn Anh - tác giả của nhiều tập truyện ngắn cho rằng: ‘‘Trong thực tế,

các cốt truyện thường khó phân tích rành mạch, không rõ bắt đầu ở đâu, và chấm dứt mọi

chuyện ở đâu’’.

Như vậy, không có nghĩa là người viết truyện ngắn không phải lựa chọn một điểm

dừng. Nếu biết chọn điểm dừng, sức chứa và sức đọng của câu truyện sẽ tốt hơn.

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng tôi thấy kết thúc truyện rất đa dạng: Kết

thúc có hậu; kết thúc đóng và kết thúc mở. Thậm chí nhiều truyện ‘‘ít tuân thủ theo kết cấu

truyền thống,...thậm chí nhiều truyện không có phần kết giống như giống như một cánh của

khép hờ’’[123].

Chúng tôi đặc biệt chú ý tới kiểu kết thúc mở, vì ở đó thấy rõ sự nỗ lực của các tác giả

trong việc cách tân thể loại truyện ngắn.

3.1.2.1. Kết thúc có hậu

Kết thúc có hậu là môtíp kết thúc truyện truyền thống. Kiểu kết thúc này chi phối toàn

bộ sự phát triển của các tình tiết cũng như tính cách nhân vật. Vì vậy, tình tiết truyện dù phức

tạp đến đâu, mâu thuẫn căng thẳng đến đâu, câu chuyện cũng sẽ kết thúc ở chỗ trọn vẹn nhất.

Ở mô hình kết thúc này người viết không có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề của tác phẩm

mà chỉ chấp nhận một cốt truyện đã được giải quyết xong xuôi.

Về với mảnh vườn xưa của Anh Đức có một kết thúc thật mỹ mãn, người cha tìm lại

được giọt máu rơi của mình sau bao nhiêu năm chiến tranh, ly tán rồi hòa bình lập lại. Một

hạnh phúc bất ngờ cho một số phận tưởng như sẽ chịu mãi cảnh cô đơn với tuổi già. Kết thúc

cảm động trong sự sum họp tạo cho người đọc niềm tin và hy vọng ở cuộc đời.

Truyện ngắn Thầy Năm Mọi – Phạm Trường Gia, kết thúc để lại tiếng cười và sự sảng

khoái cho người đọc. Thầy Năm Mọi làm nghề thầy bói lẫn thầy thuốc, “khôn lỏi” và may

mắn. Cuối cùng thầy đã biết rút lui khỏi nghề “làm ăn” bằng bùa ngải đúng lúc, với tài sản

hậu hĩnh: “một bọc vàng, đủ cho ông xây nhà tường, lợp tôn sáng choang”[183, tr.147],“Cái

may không thể lặp lại hai lần vậy mà tao đã được nhiều quá”[183, tr.155] và đúc kết bài học

về cách sống: “Ở đời, cái gì cũng có chừng mực, ham hố thái quá là không tốt. Phải biết đủ

mà dừng…”[183, tr.155]. Thầy Năm Mọi đã có được hạnh phúc do đã nhìn ra một chân lý

quý báu trong cuộc sống con người.

Truyện Bông mai giữa Đồng Tháp Mười – Lê Thanh Huệ, kết thúc với việc đưa ra hai

mẫu người tương phản nhau:

Hoài - một anh cán bộ đoàn ưa “an nhàn, thỏa mãn một cách lười nhác với cương vị

của mình”[183, tr.226].

Mai - một con người trung thực, thích đấu tranh với cái xấu, thích cống hiến. Hai con

người đều cứng rắn sống theo cách của mình.

Cuối cùng vượt qua nhiều thử thách, Hoài đã chọn lí tưởng cống hiến cho quê hương,

chấp nhận gian khổ như Mai. Chính điều đó đã giúp họ tái hợp, trở về bên nhau sau 3 năm xa

cách. Mâu thuẫn tưởng như chỉ có bế tắc, không giải quyết được bởi vì “giang sơn dễ đổi,

bản tính khó dời” nhưng tác giả đã khéo léo sắp đặt tạo nên một kết thúc êm thấm, viên mãn.

Cái nhìn của nhà văn đối với đạo đức con người là cái nhìn bao dung, lạc quan, đầy hy vọng.

Còn trong truyện ngắn Khoảnh khắc hoa quỳnh nở - Ngô Vĩnh Nguyên, người cha nuôi

(Vĩnh) tưởng chừng như sắp bị đe dọa tước mất con bởi tay cha ruột của Huệ (Lê Thước)

nhưng sự thực, Thước chỉ đến để thấy con rồi lặng lẽ đi. Một cái tết êm đềm sắp đến khi “ở

nhà, Phượng đã pha xong bình trà ướp sen thơm lừng, nhấp nhỏm ló đầu qua cửa sổ, nhìn

thấy bông quỳnh đang chớm nở”[183, tr.438]. Hạnh phúc của cuộc sống tất yếu phải ban cho

những người xứng đáng được hưởng nó - những người dám hy sinh và biết yêu thương

người khác.

Cha tôi và chú tôi – Thai Sắc, toàn bộ truyện là một chuỗi bi kịch xảy ra trong một gia

đình. Tuy vậy, sau bao nhiêu nghi ngờ, xung khắc, khinh miệt…những người trong cùng gia

đình cũng đã tha thứ cho nhau, gắn kết lại với nhau. Một kết thúc có hậu mang tính nhân văn

sâu sắc.

Với kiểu kết thúc có hậu, người đọc không có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề của tác

phẩm mà chỉ chấp nhận một cốt truyện đã được giải quyết xong. Truyện ngắn ĐBSCL từ

1975 đến nay, nhất là sau những năm 80 kiểu kết thúc truyền thống có xu hướng giảm dần.

Điều này cũng phù hợp với sự phát triển, đổi mới tư duy nghệ thuật đáp ứng nhu cầu thưởng

thức thẩm mỹ của người đọc.

Tóm lại, ở mỗi truyện kết thúc có hậu theo hướng khác nhau trên cơ sở diễn biến của

nội dung truyện và niềm ước mơ khao khát của nhân vật trong truyện. Nhưng, lối kết thúc có

hậu của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay thường theo hướng gắn với quan niệm dân

gian: gieo gió gặt bão, ở hiền gặp lành, lá rụng về cội, ...

3.1.2.2. Kết thúc đóng

Thông thường, kết thúc đóng đi với những cốt truyện kiểu truyền thống. Nó giúp người

đọc cảm nhận được vấn đề mà nhà văn đặt ra và lí giải trong truyện theo nhận thức riêng của

nhà văn về vấn đề đó.

Nhân vật bà Thung (Có một mùa đông - Hồ Tĩnh Tâm) chết bên bếp lửa như là cái kết

cục tất yếu của một đời đàn bà bất hạnh. Bà khoác tấm chăn của chồng để lại mà chết, kiệt

cùng sức người trước những chờ đợi, xa cách, hy vọng mỏi mòn.

Kết thúc truyện Ngày mưa của Nguyễn Kim Châu cũng là một cái chết. Cái chết không

ai ngờ của một người đàn ông tên Hiệp làm nghề giết thịt chó mướn. Cái chết ấy xuất phát từ

lòng từ tâm. Cứu người mà chết mình. Điều đó khiến người đọc xót xa, cảm phục, nuối

tiếc..., cảnh gà trống nuôi con vẫn tiếp diễn nhưng cuộc sống của gia đình họ trở nên ấm áp

hơn và có ý nghĩa hơn.

Truyện ngắn ĐBSCL có không ít truyện mà cách kết thúc là cái chết của nhân vật trung

tâm. Đó là cái chết của nhân vật Ly trong truyện Một lẽ sống. Truyện ngắn này được tác giả

kết cấu trên cơ sở của thuyết nhân quả, báo ứng. Theo tình cảm và thái độ của tác giả, đây là

một cái chết không đến nỗi tồi tệ lắm - “chết vì con rắn vẫn hơn”[183, tr.80]. Một kết thúc

xấu cho thân phận một con người nhưng lại tốt hơn cho chính danh dự người đó lẫn những

người sẽ liên quan. Tuy nhiên, cách tạo kết thúc như vậy làm cho người đọc có đôi chút hụt

hẫng vì tác giả không mở ra một con đường để nhân vật có điều kiện hối cải, phục thiện -

một quá trình biện chứng phù hợp cho tâm hồn con người.

Còn ở truyện Ông thiềm thừ của Trần Kim Trắc, tình tiết truyện phát triển theo luật

nhân quả. Thằng Búa ác, thì nó phải nhận lấy hậu quả:“Chấm phẩy, chấm phẩy, nó phải đi

lệch như vậy suốt đời…”[183, tr.630]. Một kết thúc không may cho thằng Búa, nhưng là một

kết thúc hợp lí, hợp tình và mang tính giáo dục sâu sắc.

Sầu trên đỉnh Puvan của Nguyễn Ngọc Tư là bức tranh ghép số phận của ba con người:

kẻ ngao du tên Vĩnh, cô gái làng chơi tên Dịu và thằng bé chăn dê tên Củi. Đó là một bức

tranh ảm đạm, chết chóc từ ba mảnh đời ảm đạm, nhưng tràn ngập giá trị nhân văn. Dịu là

một cô gái hiền lành bị sa cơ đến nỗi phải cắn răng bước vào con đường tội lỗi để nuôi con.

Củi thì nghèo rớt ở một miền núi hẻo lánh, khắc nghiệt, không bạn, không dê để chăn. Đặc

biệt, là Vĩnh, Vĩnh không gia đình, họ hàng thân thích, là nạn nhân của chiến tranh. Tiền bạc

anh có thừa, hầu hết mọi thứ đều đạt được, và anh chỉ còn muốn xem hoa sầu trên đỉnh

Puvan. Một kẻ đi tìm cái cao vời, không có hình hài, chỉ có trong tư tưởng, đó là ý nghĩa của

cuộc đời, là lẽ sống. Còn lại hai kẻ chỉ đơn giản đi tìm điều giản dị, dễ hiểu nhất: một cuộc

sống có ăn, có mặc. Ai cũng có nỗi sầu khổ của riêng mình – đây chính là một trong những

triết lý của tác phẩm. Đó mới chính là con người đúng nghĩa. Con người có thể đau cho mình

hoặc đau cho người khác, cho những thứ khác. Nhưng vấn đề là người ta xử lý những khổ

đau của mình bằng cách nào. Vĩnh bị sa lầy trong vũng sầu của chính mình, và khi anh lên

đến đỉnh sầu Puvan để thấy được bông sầu thì cũng là lúc anh chìm xuống tận đáy sầu sâu

thẳm. Anh chết, cái chết lạc loài, vô nghĩa đối với những người xung quanh. Thằng Củi được

một ít tiền đủ để mua ba mươi gói mì tôm và niềm vui vì trời đã chịu mưa. Còn Dịu vẫn tiếp

tục sống vì con. Nhưng dù phản ứng của họ đối với cuộc đời thế nào, cả ba số phận đều thể

hiện tính nhân văn sâu sắc. Con người lúc nào cũng cần cho mình một điểm tựa để sống – đó

có thể là một lý tưởng, ước muốn, một tình thương yêu hay một nơi để quay về. Vĩnh không

thiếu gì cả ngoài một điểm tựa. Còn Dịu và Củi thiếu rất nhiều, nhưng họ có điểm tựa mà

Vĩnh dù ngàn lần khát khao tìm kiếm nhưng không có được. Điểm tựa cuối cùng, cái đích

cuối cùng của Vĩnh chính là ước mơ được thấy những bông sầu trổ hoa: ‘‘Trên đỉnh núi

không có thêm đỉnh núi, và Vĩnh không muốn xuống núi, chẳng có gì chờ đợi anh, ở

đó”[172, tr.60]. Hết điểm tựa thì anh cũng muốn chết. Cách giải quyết số phận nhân vật của

nhà văn làm nên một kết thúc đóng hợp lý, nói lên được những vấn đề sâu sắc của đời sống

con người.

Truyện Quan gác cửa của Vũ Đức Nghĩa là một truyện mượn cảnh đám tang của một

“cụ lớn”, đặc biệt là vở diễn đưa ma để nói lên vấn nạn “có tiền mua tiên cũng được”. Các

tình tiết truyện từ đầu truyện đến thân truyện khiến người đọc luôn đinh ninh rằng anh nông

dân Bình (vai Kim Tướng gác cửa) là một con người yêu chuộng lẽ công bằng, căm ghét

quan liêu, là một người có chính kiến, lập trường vững vàng nên mới tìm mọi cách không

cho cái xác của “cụ lớn” được về cửa Phật. Đến khi vị trợ lý của người chết làm thủ tục “đầu

tiên” (tiền đâu) bằng những tờ vàng mã, ta vẫn cứ ngỡ anh cu Bình là một con người của lẽ

phải, chính trực. Nhưng đến phút chót, khi tiền thật xuất hiện, anh đã để mình bị đốn ngã. Từ

con người đang tỏa sáng ánh hào quang chân lý, anh bỗng như tỉnh mộng để trở về thực tại

“áo cơm ghì sát đất”. Kết thúc đóng này khiến người đọc sau phút hụt hẫng kịp nhận ra đây

mới là “lẽ thường” trong cuộc sống của những người lao động vất vả, thiếu thốn. Kết thúc

hợp lý để lại cho người đọc một sự chua xót lẫn cảm thông về hành động dễ hiểu của anh

nông dân Bình.

Huyền thoại Ípsinkharôn của Lê Đình Bích cũng là một truyện kết thúc đóng khi tình

yêu trong trẻo của chàng sinh viên y khoa và cô gái Chăm xinh đẹp Ípsinkharôn không

thành, cũng như huyền thoại về mối tình giữa hoàng hậu Saliêm và nhà điêu khắc Upanisac

mãi mãi chôn sâu dưới lòng bàn chân của pho tượng đá. Truyện kết thúc để lại trong người

đọc dư âm trong trẻo, thanh khiết của hai mối tình không trọn vẹn. Toàn truyện như một

khúc hát êm ả ca ngợi: tình yêu vẫn đẹp dù không trọn vẹn.

Truyện Đò đã dời bến của Đặng Tấn Đức có kết thúc đóng rất buồn cho cảnh ngộ của

một người đàn bà góa (chị Năm Bé). Chị khao khát tình yêu thương từ một người đàn ông

nhưng trớ trêu thay, trái tim người đàn ông ấy lại “dời bến” sang em gái chị. Họ hạnh phúc

bên nhau, còn lại chị thì lẻ loi với cơn bão lòng thầm lặng. Những cảnh ngộ như thế không

phải ít trong cuộc sống, nó phản ánh một sự thật hiển nhiên trong đời sống con người: Không

phải khi ta trao đi là sẽ được đáp lại. Con người rất nhiều khi phải nếm trải bẽ bàng, thất bại

một cách đau thương.

Kiểu kết thúc đóng thể hiện quan điểm đạo đức, quan niệm nghệ thuật về con người của

nhà văn - quan niệm về sự thưởng - phạt và công lý. Cách giải quyết mâu thuẫn, xung đột rõ

ràng giúp người đọc dễ cảm thụ và nắm rõ ý đồ của tác giả.

Tóm lại, kết thúc đóng không mang tính phán truyền mà hướng đến người đọc với

mong muốn được chia sẻ. Với ý nghĩa đó, những truyện có kiểu kết thúc nói trên thường tạo

được sự thoải mái cho người đọc trong việc tiếp nhận tác phẩm.

3.1.2.3. Kết thúc mở

Không như ở giai đoạn trước, phần lớn kết thúc truyện đều tuân thủ lối kết thúc có hậu

giúp người đọc có một cái nhìn hoàn thiện về cuộc đời nhân vật. Kết thúc tác phẩm đồng

nghĩa với dấu chấm cuối cùng, nó không có sức gợi, không có khả năng gợi mở. Truyện

ngắn đương đại đã khắc phục được hạn chế đó bằng kết thúc mở. Đời sống là một thực thể

chưa và sẽ không bao giờ hoàn thiện. Kết thúc mở sẽ đưa đến cho người đọc một dòng chảy

của cuộc sống chưa hoàn thành, vẫn còn tiếp diễn. Kết thúc mở thường tạo các khoảng trống,

khiến độc giả cũng trở thành người đồng sáng tạo, tự suy nghĩ để giải mã các vấn đề đặt ra.

Khảo sát truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng tôi thấy đa số tác phẩm được viết theo

hình thức kết thúc mở. Kết thúc truyện ngắn Hiu hiu gió bấc, Nguyễn Ngọc Tư viết:

‘‘Thêm một mùa gió bấc nữa, chị Hảo vẫn chưa lấy chồng. Ai lại cũng hỏi, chị chờ ai

vậy cà. Chị bảo chờ người sức dầu nhị thiên đường của chi mà hết đau, chờ người ta đánh

cờ mà trong tâm ‘‘Viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết bàng, chờ người ta thôi buồn

khi đưa con chốt qua sông.

Nhưng mà chờ tới chừng nào lận? Ai mà biết?

Mùa này gió bấc hiu hiu lại về’’[169, tr.81].

Câu chuyện kết thúc bằng câu hỏi, câu trả lời thuộc người đọc. Với truyện Vài ngày ở

Cần Thơ, kết thúc là sự gặp gỡ giữa hai người bạn cũ là “tôi” và Nhiệm biến thành một cuộc

ngoại tình đầy chất bi hài, để rồi để lại “một đời sống khác đang âm thầm phôi dựng trong

nàng”[183, tr.334] - một “biến cố”. Kết thúc gợi cho người đọc những liên tưởng về tương

lai của các nhân vật trong truyện.

Tiếng bước chân của Anh Động tái hiện lại cuộc sống còn rất vất vả, đạm bạc của

những con người đã một thời xả thân vì Tổ quốc như nhân vật “tôi” và nhân vật người cha

nuôi. Riêng ông cụ này cho đến cuối đời vẫn nghèo xơ xác và ước mơ duy nhất chỉ đơn giản

là một chiếc hòm để dành khi chết. Nhưng chiếc hòm vẫn nằm trong sự chờ đợi mỏi mòn

trong thời kỳ bao cấp với một bộ phận người khá thờ ơ. Không biết rằng ông cụ hom hem mà

hai hàm chỉ còn trơ ra lợi này có kịp có được chiếc hòm trước khi xuôi tay nhắm mắt hay

không…

Trong truyện Khoảng trống của Hoàng Dương Thu Anh, “hắn” và vợ “hắn” đã đi đến

hồi kết là thỏa thuận ly dị để hắn đến với một cô tình nhân đầy vụ lợi mà hắn sẽ rước về nhà

làm vợ. Nhưng hắn đã sớm phải hối tiếc. Tương lai của hắn bên cạnh cô vợ mới này sẽ ra

sao, hắn phải giật mình khi nghĩ tới… Ở truyện này, tác giả không cần nói thêm nữa mà

dừng lại ở đây là đã đủ để người đọc thỏa sức tưởng tượng về một tương lai bi thảm có thể

thấy trước của hắn từ những gì tác giả cung cấp trước đó về ả tình nhân của hắn. kết thúc mở

có tác dụng thôi thúc người đọc vào cuộc, cùng suy ngẫm, chiêm nghiệm với nhà văn về số

phận của một kẻ không biết quý trọng những gì mình đang có.

Truyện Thành phố trắng của Kim Quyên tái hiện cuộc gặp gỡ tình cờ tại nghĩa trang

giữa hai con người cùng là người thân thiết của người nằm dưới mộ. Hoàng là em cùng cha

với người đã khuất, Sương là người yêu của người đã khuất. Hai người ở hai miền Nam,

Bắc, tuy có đường dây liên hệ khá mật thiết nhưng đã không có dịp gặp nhau trong mấy

mươi năm. Rồi họ gặp gỡ trong lúc tuổi đã xế chiều nhưng lời bày tỏ vẫn còn chưa dám ngỏ

thành lời… Truyện bỏ lửng ở đấy. Người đọc tiếp tục băn khoăn trăn trở: liệu họ có dám bày

tỏ với nhau hay không? Nhưng truyện cũng hé lộ rằng có nhiều khả năng họ sẽ vượt qua

được vướng mắc trong lòng để đến với nhau: ‘‘chị luôn chống chọi với nỗi cô đơn, chị mãi đi

tìm con người hiện tại đẹp như người trong dĩ vãng của chị. Sương vẫn im lặng trong bóng

đêm bên cạnh Hoàng, lòng chị rối bời giữa niềm vui và nỗi buồn”[180.2, tr154].

Có thể nói, kết thúc mở trong truyện ngắn ĐBSCL rất đa dạng: đó là niềm hạnh phúc

trong tình yêu mà nhân vật Kiều có được (Những người hiện đại - Nguyễn Thị Thanh Minh);

đó là cuộc đời vẫn còn dài hút phía trước, không ai biết được tương lai sẽ hạnh phúc hay bất

hạnh, nhân vật Oành Na còn được gặp lại “cô bé tóc hung không’’? Cậu bé vẫn chờ đợi hạnh

phúc, những con chim hạnh phúc lại thích tự do, bay hót…(Chim hạnh phúc - Ngọc

Phượng); hay là ở Câu chuyện trên tàu của Trần Ninh Thới, dù con gái được sum họp và

hạnh phúc bên người yêu, nhưng ông Nhân đã bị một nỗi ám ảnh về tội vô tình đã gây ra nỗi

đau cho người thương binh và người yêu của anh; còn truyện Xóm nghèo của Nguyễn Ngọc

Tuyết kết thúc là sự lắng đọng ngọt ngào, êm đềm của tình người, tình hàng xóm và tình

“hoài cổ” về những gì đã quen thuộc với người xóm nghèo của nhân vật “tôi” - một cô giáo.

Có khi kết thúc lại là một câu hỏi (Hổ mun – Đặng Thư Cưu): ‘‘Ông ngó ngôi mộ và tự hỏi,

không biết có con hổ mun thật không? Hay tất cả chỉ là một giấc chiêm bao?’’[183, tr.74].

Tóm lại, trên đây là những kiểu kết thúc thường gặp trong truyện ngắn ĐBSCL sau

1975. Nhìn chung, dù dạng này hay dạng khác, kết thúc truyện ngắn ĐBSCL sau 1975

thường không trọn vẹn để người đọc phải suy nghĩ, tự lý giải. Cách kết truyện này có ý nghĩa

nhất định. Bởi nghệ thuật là sự chọn lựa và trình bày các khả năng có thể có của cuộc đời,

con người và diễn biễn xã hội. Phản ánh con người và cuộc sống, một hiện tượng phức tạp,

nhiều chiều, tất yếu sẽ dẫn đến nhiều cách cắt kết nghĩa khác nhau.

3.1.3. Nghệ thuật tạo dựng không gian, thời gian

Sự tồn tại của sự vật hiện tượng không nằm ngoài không gian và thời gian. Con người

tồn tại trong không gian và thể hiện mình qua thời gian.

Khảo sát truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 và đặc biệt từ những năm 80 trở về sau, chúng

tôi nhận thấy ít có những không gian tập thể, thời gian sử thi với không khí hào hùng của

đoàn quân ra trận. Người đọc thường bắt gặp không gian thiên nhiên, không gian sinh hoạt,

không gian đời tư gắn với xóm ấp, sông rạch, ruộng vườn. Còn thời gian là thời gian quá

khứ, cũng như sự đan xen giữa hiện tại và quá khứ cũng được thể hiện rất nhiều trong truyện.

3.1.3.1. Nghệ thuật tạo dựng không gian

Không gian trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật, đồng thời nó còn là

hình thức tồn tại tất yếu của mọi thế giới nghệ thuật. Nếu không có không gian thì mọi tác

phẩm sẽ là hư vô. Không gian nghệ thuật được xác định do tọa độ nhìn của chủ thể lời văn

tạo ra với đủ các chiều cao, thấp, rộng, hẹp, xa, gần.

Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới con người, gắn liền với ý niệm

và giá trị về con người, là nơi mà con người cảm thấy vị trí, số phận của mình gắn bó ở đó.

Thông thường không gian nghệ thuật gắn liền với quan niệm về con người. Không gian nghệ

thuật trong tác phẩm được miêu tả bằng hình thức không gian của đời sống, nhưng khi người

ta tham gia vào không gian nghệ thuật thì khách thể của đời sống đó mang giá trị mới, và chỉ

khi nào nhà văn thổi vào được không gian của mình một ý nghĩa thẩm mỹ nhất định, lúc đó

mới có cái gọi là không gian nghệ thuật.

Như vậy, không gian nghệ thuật là không gian cảm nhận chủ quan của tác giả và người

đọc. Nó hoàn toàn không đồng nhất với không gian hiện thực của cuộc sống. Trong tác phẩm

văn học, không gian là bối cảnh tự nhiên, môi trường hoạt động của nhân vật, là tầm nhìn,

điểm nhìn của tác giả. Nó vừa là không gian tự nhiên vừa là sản phẩm, những ý đồ sáng tạo

của tác giả. Không gian nghệ thuật của tác phẩm luôn mang tính hệ thống tạo nên thành các

kiểu không gian mà chủ yếu là không gian các nhân vật.

Tóm lại, ‘‘Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm

văn học, các ngôn ngữ tượng trưng mà còn cho thấy các quan niệm về thế giới, chiều sâu

cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá

tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hiện tượng nghệ thuật’’[186, tr.161].

Qua tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay, chúng tôi nhận thấy có nhiều hình

thức tạo dựng không gian, nhưng nhìn chung có thể xác định một số kiểu không gian như:

không gian thiên nhiên, không gian sinh hoạt, không gian đời tư gắn với xóm ấp, sông rạch,

ruộng vườn.

Mỗi vùng miền lại có những nét đặc trưng khác nhau. Đến với Tây bắc, chúng ta bước

vào một không gian lạ, không gian có núi cao trời rộng. Một không gian đầy hoa lá rừng, có

tiếng gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên cuội,

những đêm trăng sóng sánh huyền ảo, những cụm màn tang mọc trong thung lũng…Còn đến

miền Tây Nam bộ chúng ta bắt gặp những vườn cây ăn trái, những đồng lúa bát ngát, những

rừng đước, rừng tràm ngút ngàn, những dòng sông rộn ràng ghe thuyền qua lại, những chợ

nổi, những đàn vịt chạy đồng cả trăm con, rồi mùi khói đốt đòng ngai ngái buổi chiều...

Không gian ấy là nhân tố quan trọng góp phần thể hiện được những phương thức sinh hoạt

đặc trưng của con người vùng sông nước.

Chỉ những ai sống và lớn lên ở nơi đây mới yêu và cảm nhận được một cách đầy đủ

nhất về không gian thiên nhiên vùng sông nước với những nét đặc trưng không thể nhầm lẫn

với vùng miền khác được. Đó là những loại cây mà tên gọi nghe quen thuộc, dân dã như:

mắm, đước, tràm, dừa nước,... với những kinh rạch chằng chịt mà những tên gọi rất riêng, rất

Nam bộ đều gắn với với đặc điểm địa hình thổ cư nơi đây như: Kinh Mười Hai, Rạch Mũi,

Rạch Ruộng… Rồi đến cả những tên ấp, tên làng, tên chợ cũng in đậm dấu ấn không gian

Nam bộ như: Xóm Xẻo, Trảng Cò, Mút Cà Tha… Và sông trong Ông cá hô của Lê Văn

Thảo không lầm lẫn với sông ở một nơi nào khác. Ở vùng sông này, cá hô nhiều lắm, ngày

xưa có con ‘‘nổi lên lớn bằng tấm ván ngựa, vẩy ánh bạc, hai mắt lớn bằng hai cái chén, nó

quẫy một cái làm mặt bằng sông nổi lê’’[183, tr.571].

Sông không thể thiếu đối với người dân Nam bộ, nó là một phần máu thịt của họ. Sông

đã nuôi lớn biết bao thế hệ người dân nơi đây, họ sống nương tựa vào sông. Rất gần gũi, rất

quen thuộc. Hình tượng sông là nguồn cảm hứng bất tận cho nhà văn khám phá. Nhiều

truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 viết khá thành công về sông. Có tác giả đã đặt tên cho truyện

ngắn của mình là Nhớ sông, Dòng nhớ. Thế mới thấy hết được cái tình của con người nơi

đây dành cho sông nước: ‘‘Bây giờ hỏi lại, Giang nói không có con kênh, con rạch nào mà

ghe chưa qua, không có đường ngang ngõ tắt nào mà ông Chín không biết. Xuôi dòng,

ngược dòng, con nước kém con nước ròng’’[169, tr.112]. Một câu chuyện hết sức đơn giản,

toàn bộ diễn biến câu chuyện là hồi ức của nhân vật Giang. Một cô gái từ nhỏ đã sống lênh

đênh trên sông cùng gia đình. Đến khi lấy chồng sống trên bờ, sự thiếu vắng sông nước luôn

tràn ngập trong cô, Giang không thể nguôi ngoai được nỗi nhớ sông, nhớ cái tròng trành lắc

lư trên ghe trong giấc ngủ. Cứ cơm nước xong xuôi, giang lại lấy xuồng trèo đi, chèo mãi,

chèo mãi trên sông không định hướng… chỉ cốt là cho đỡ nhớ sông.

Trong mối liên hệ với tự nhiên bao gồm đất đai, sông nước, ruộng vườn, cây cỏ, thời

tiết nắng mưa…, thì dòng sông có lẽ là tình yêu sâu nặng nhất đối với người dân ĐBSCL:

‘‘Ba tôi là người của sông. Không phải ông nhớ vườn xưa mà chống gậy về, ông nhớ sông,

một ngày ba bốn lượt lủi thủi chống gậy ra bến, đôi mắt như đang nhìn da diết, mà không

biết nhìn ai, chỉ thấy mênh mông vậy thôi. Chơ vơ cô độc. Tựa như ông đang ở đây nhưng

tâm hồn ông, trái tim ông, tấm lòng ông chảy tan vào dòng nước từ lâu rồi’’[169, tr.8].

Có thể nói, dòng sông chính là chiều rộng và chiều sâu mang đặc trưng riêng của không

gian miền sông nước.Và qua đó nhà văn cũng thể hiện cái tình, tính cách và cả tâm trạng của

người dân nơi đây.

Khác với nơi thành thị, không gian ở làng quê bao giờ cũng thênh thang, rộng mở:

‘‘Đồng xanh chạy theo hình vòng cung, con kênh mới sang làn nước bạc cắt ngang giống

như dây cung, giương mũi tên màu xanh hướng về chân trời bao la’’ (Đồng xanh - Ngô Khắc

Tài ).

Tồn tại trong không gian chung của toàn tác phẩm còn có không gian riêng của từng

nhân vật. Đó là nơi nhân vật tìm về trong sinh hoạt hàng ngày. Thường là ngôi nhà nhưng

cũng có khi chỉ là một mái che trống trước trống sau (Xóm mồ côi, Lời của dòng sông -

Nguyễn Lập Em). Có khi là căn nhà lá cũ mèm trong Cái nhìn khắc khoải của Nguyễn Ngọc

Tư: ‘‘Ở căn nhà lá cũ mèm nầy, ông có nhiều kỷ niệm. Mỗi khi trở về nó lại chảy thành dòng

dịu ngọt trong ông, nó chảy khẽ giữa những mạch máu. Những khuôn mặt thân thuộc như

vẫn còn đây. Ở giữa bộ ngựa này, những ngày còn sống, ba má ông vẫn thường ngồi xếp

bằng uống trà. Chỗ chiếc giường tre mối mọt ọp ẹp kia, những ngày còn sống, vợ ông ngồi

thêu áo gối’’[171, tr.53]. Giờ đây chỉ còn là kỷ niệm buồn sau cái chết đầy đau đớn của

người vợ mà ông hằng yêu quí nhất đã bị bom giặc bắn chết. Kể từ ngày đó căn nhà trở nên

hoang vắng đến lạnh người. ‘‘Nhà vắng, vườn hoang, lúc chạng vạng buồn hiu hắt. Ông đi

năm ba tháng về một lần, về đúng đồng vạt sau chín’’[169, tr.52]. Sau mỗi chuyến đi xa (vịt

chạy đồng), trở về căn nhà cũ, kỷ niệm lại ùa về trong kí ức làm cho ông ứa nước

mắt:‘‘chuyện buồn mà ba nhớ làm chi cho tới già vậy không biết’’[171, tr.53]. Hay một chiếc

xuồng lênh đên trên trên mặt nước (Ông cá hô - Lê Văn Thảo).

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng tôi nhận thấy không gian đời tư trong

truyện ngắn của các nhà văn nữ (Cải ơi, Cánh đồng bất tận - Nguyễn Ngọc Tư; Người Cóc,

Nước chảy một bên - Nguyễn Thị Diệp Mai; Khoảng cách - Trầm Nguyên Ý Anh; Đất không

cưu mang - Bích Ngân…) thường là sự đổ vỡ, rạn nứt, mang vết thương lòng đau đớn xót xa.

Phải chăng, đó là nơi để nhà văn cho nhân vật của của mình ngụp lặn trong bão lửa,

trong thử thách thậm chí là sự nghiệt ngã. Chỉ khi nào họ vượt qua được môi trường khắc

nghiệt đó thì phẩm chất, nhân cách vàng mười thử lửa càng được toả sáng. Người đọc dễ

nhận thấy là hầu hết không gian đời tư trong truyện là hình ảnh ngôi nhà, chiếc ghe, chiếc

xuồng, hay túp lều nhỏ thường hoang vắng không một chút hơi ấm. Nó là biểu tượng cho sự

đổ vỡ rạn nứt, đớn đau trong tâm hồn con người.

Có thể nói cách tổ chức không gian nghệ thuật như vậy, đã giúp tác giả có điều kiện đi

sâu khám phá, tái hiện đời sống và thế giới nội tâm của con người, nhằm thể hiện được mối

quan hệ sâu sắc giữa con người với đời sống thực tại. Mỗi nhân vật xuất hiện mở ra một

không gian khác nhau của tâm tưởng của ý thức. Trong không gian đời tư của nhân vật người

đọc cảm nhận được ngổn ngang những trăn trở, suy tư của họ.

3.1.3.2. Nghệ thuật tạo dựng thời gian

Thời gian nghệ thuật là một phạm trù của hình thức nghệ thuật thể hiện phương thức

tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật. Mọi hiện tượng đều tồn tại trong thời gian. Thời

gian trong tác phẩm nghệ thuật tồn tại trong thời gian vật chất. Tuy nhiên, nhà văn không thể

hiện đời sống theo kiểu thời gian vật lý, mà thời gian nghệ thuật là sự tập hợp của nhiều thời

gian cá biệt, nó là một nhân tố cấu trúc của truyện. ‘‘Thời gian nghệ thuật được đo bằng

nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức:

Sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia tay, mùa này mùa khác,…tạo nên nhịp điệu trong tác

phẩm’’[186, tr.322]. Trật tự thời gian có thể bị xáo trộn, có khi hiện tại được kể trước, tương

lai kể sau, nhưng cũng có khi tương lai đan xen hồi ức, quá khứ.

Tóm lại, dù quá khứ, tương lai, hiện tại thì thời gian cũng tập hợp nhau lại thành nhịp

độ chung của sự vận động cuộc sống.

Thời gian nghệ thuật như là một biểu tượng biểu hiện một quan niệm nhất định của nhà

văn về cuộc đời. Đồng thời nó còn thể hiện ý thức sáng tạo độc đáo sâu sắc của tác giả. Nói

như vậy có nghĩa là thời gian nghệ thuật vừa là phương tiện của đề tài nhưng đồng thời còn

là nguyên tắc tổ chức tác phẩm. Trần Đình Sử cho rằng: ‘‘Thời gian nghệ thuật là hình tượng

nghệ thuật, sản phẩm sáng tạo của tác giả bằng các phương tiện nghệ thuật nhằm làm cho

người đọc nhận thức cảm nhận được’’[129, tr.62].

Như vậy, thời gian nghệ thuật chính là một hình tượng nghệ thuật, nó được tạo ra để

đưa đến cho người đọc nhận thức về cuộc đời về số phận của con người. Thời gian nghệ

thuật chính là thời gian tâm lí, diễn ra trong tưởng tượng nhưng lại tồn tại khách quan trong

chất liệu ngôn ngữ của tác phẩm văn học. Khi xây dựng một tác phẩm văn học, bao giờ nhà

văn cũng có ý thức xây dựng thời gian như một công cụ phục vụ đắc lực cho ý đồ triển khai

thời gian nghệ thuật của mình.

Nghiên cứu thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn

thế giới nghệ thuật mà nhà văn tổ chức trong tác phẩm. Đó là con đường ngắn nhất để giải

mã một văn bản nghệ thuật.

Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn ĐBSCL sau

1975, bao giờ cũng gắn liền với không gian nghệ thuật. Nó như là một phương tiện để tổ

chức tác phẩm, đồng thời chúng còn là hình tượng để thể hiện sự cảm thụ của cá nhân về đời

sống. Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, được các nhà văn thể hiện

vừa sinh động vừa độc đáo, tiêu biểu hơn cả là thời gian đan xen giữa hiện tại và quá khứ.

Đất nước thống nhất, mọi người hăm hở bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh,

xây dựng cuộc sống mới. Trong niềm vui hoà bình, trong cuộc sống bận rộn đời thường, con

người vẫn dành một phần tâm tưởng để sống với quá khứ, để Về với mảnh vườn xưa, nhớ về

Sau cuộc chiến, và những Ước mơ buồn…

Thời gian trong tác phẩm được các nhà văn thể hiện thông qua các sự kiện, sự việc, chi

tiết xảy ra trong quá khứ thông qua những mảng hồi ức của nhân vật. Dòng nhớ là một tác

phẩm tiêu biểu, vẫn là cốt truyện giản dị, đời thường nhưng dưới cái nhìn tinh tế của nhà văn

trong trong cách thể hiện qua dòng hồi tưởng của nhân vật tôi. Ở Dòng nhớ nỗi đau trong

quá khứ dường như cũng đang tan chảy trong dòng hiện tại. Những năm về trước má tôi

những tưởng rằng xuống tận ghe ở dòng sông kia xem ‘‘tình địch’’ của mình như thế nào,

người làm cho ba tôi không thể nào quên. Nhưng khi đến nơi, chứng kiến cuộc sống của dì,

má tôi mới hiểu hết nỗi đau, nỗi mất mát quá lớn lao mà người đàn bà dưới sông kia phải âm

thầm gánh chịu. Cả hai người phụ nữ (dì và má tôi) đều nén nỗi đau nhức trong lòng để

không bật thành tiếng. Chuyện buồn quá khứ nhưng đang đổ bóng xuống hiện tại, trong căn

nhà nhỏ mà nỗi đau luôn trở thành nỗi ám ảnh lấy má tôi. ‘‘Má tôi cũng không kể với ba cái

đêm gặp ‘‘tình địch’’ ấy, nhưng mãi mãi, mỗi khi cả nhà ăn cơm, tim má lại hiện lên hình ảnh

cái rổ úp chén đan bằng nan tre đã xỉn màu, trên đó có cái dĩa, cái tô và ba cái chén, ba đôi

đũa như thủa người đàn bà trên ghe còn nguyên một gia đình’’[169, tr.57]. Nỗi đau đớn

không chỉ ám ảnh trong suốt cuộc đời má, mà nó còn làm tê nhức đời sống tinh thần của nội

tôi. ‘‘Mà tội nhất là nội tôi, vốn mê cải lương, những bữa, những bữa nào ti vi chiếu mấy

tuồng có bà mẹ chồng ác nghiệt chia rẽ duyên của con dâu là thấy nội tôi rầu. Cho tới lúc

cuối đời, chắc nội tôi vẫn băn khoăn trong lòng câu hỏi: ‘‘Vậy ra, mình giống mấy bà đó

thiệt sao?’’[169, tr.52]. Những tưởng rằng quá khứ làm vơi đi nỗi buồn của má, nhưng thực

ra quá khứ càng làm tăng thêm nỗi đau, sự dằn vặt đến dai dẳng ở cuộc sống hiện tại mà má

đành gánh chịu.

Thời gian quá khứ trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư là những hồi ức của

nhân vật tôi, người kể chuyện đan xen trên nền hiện tại. Cái tài của nhà văn là xây dựng

được kiểu kết cấu thời gian theo lối vòng tròn, đầu cuối tương ứng: hiện tại - quá khứ - hiện

tại, tất cả cứ dằng díu vào nhau. Mở đầu câu truyện là thời gian đang ở điểm hiện tại ba cha

con chăn vịt dừng lại ở một con kinh nhỏ vắt ngang cánh đồng. Nhân vật tôi (người kể

chuyện) và đứa em trai (Điền) đã cứu thoát chị đĩ đưa lên thuyền. Tiếp đến là dòng thời gian

lan sang hồi ức lại cuộc đời đã trải qua của chị đĩ. Mạch truyện lôi kéo người đọc trở về quá

khứ qua dòng hồi ức của nhân vật tôi về người má ngoại tình, bỏ nhà theo người đàn ông bán

vải. Nối tiếp dòng kí ức, trở về với hiện tại người cha đùa cợt tình cảm với người đàn bà nhẹ

dạ, mời họ lên thuyền rồi bỏ họ lại trên bờ, để lại nụ cười chua chát trên môi người cha. Câu

chuyện kéo người đọc trở về với dòng thời gian hiện tại, một thời gian sau chị đĩ đã ngấm

ngầm thương lượng với cán bộ xã để cứu đàn vịt…

Đặc biệt, trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư như Nhớ sông, Cánh đồng bất tận,

Cái nhìn khắc khoải, Lý con sáo sang sông,...thời gian được tính theo mùa hay đặc trưng của

thời tiết, khí hậu: ‘‘Nhưng chưa đầy con trăng đã thấy Giang khăn gói về bến Xã Xiệu’’[169,

tr.159]. ‘‘Ông về đúng vạt đồng sau vừa chín’’[171, tr.52]…‘‘Lúc này mưa nắng thất thường.

Nắng một hơi năm bảy ngày, mưa một hơi năm bảy ngày, bà con nông dân gặt ngay mưa, lúa

phơi không được, rầu muốn chết’’[171, tr.57. ‘‘Thành ra mùa du mục của chúng tôi kéo dài

liên tục từ mùa mưa sang nắng, rồi lại mưa. Nhiều lúc tôi nhớ hơi con - người’’[171, tr.177].

Người dân ĐBSCL nghe gió mà liên tưởng đến mùa cưới: ‘‘Bấc về. Như thể trong đời này

chỉ còn gió. Gió lạnh căm căm mà khô nẻ môi người ta. Da tôi mốc cời... Nước mặn rít gia.

Nghe gió này là mùa cưới đến’’[166, tr.73].

Thời gian trong truyện có khi là thời gian giao thời giữa ngày và đêm, giữa năm cũ và

năm mới. Đó là thời gian thật có ý nghĩa đánh dấu sự thay đổi số phận, cuộc đời của nhân

vật. Với họ, cuộc sống luôn đa sự, con người luôn đa đoan. Cho nên vận động của thời gian

cũng đầy ngổn ngang, phức tạp.

Ngoài ra, qua truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng ta còn nhận thấy các nhà văn còn sử

dụng thời gian ảo.

Nét nổi bật của thời gian ảo là thời gian của những giấc mơ. Mơ là môtíp nghệ thuật

nhằm nêu lên những vấn đề triết lý về cuộc sống con người. Mơ là thời gian đặc biệt, là biểu

tượng của vô thức, của đời sống tâm linh. Mơ là thời gian không xác định, là sự chắp nối,

xâu chuỗi liên tục hay đứt đoạn của những ám ảnh vô thức.

Nhiều truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 sử dụng thời gian giấc mơ nhằm lí giải chiều sâu

nội tâm của nhân vật. Thời gian giấc mơ thường ngắn ngủi, chớp nhoáng nhưng loé sáng, soi

rọi, lí giải nội tâm của nhân vật một cách hiệu quả. Nội dung giấc mơ ứng với từng loại nhân

vật. Giấc mơ của lão Ơn trong Ước mơ buồn - Đỗ Tuyết Mai, luôn ám ảnh về tội ác mà mình

gây ra: ‘‘Hơn một năm trở lại đây, lão thường hay nằm mơ thấy ác mộng. Trong mơ, lão hay

vùng đạp, bức xé như đang quần trở lại một lực mạnh vô hình. Đó là những lúc mơ thấy

những gương mặt trắng bợt bạt đến lôi kéo lão đi, đòi lão phải trả lại mạng sống cho

họ’’[183, tr.312]. Còn ở truyện Ông thiềm thừ của Trần Kim Trắc, thì ‘‘thằng Búa nằm chiêm

bao thấy hai cái đùi ông thiềm thừ không có thân, chỉ lặc lìa một mảng da khô nhảy lom

khom, còn cái đầu cóc tía bay lơ lửng trên không mắt trợn trừng, hàm răng nhe ra trắng xác

nghiền trèo trẹo, trên mưa rơi vần vũ, sấm chấp giăng giăng. Sợ quá nó kêu ré lên, mồ hôi

ướt đẫm’’[183, tr.630]. Đây là những giấc mơ báo oán.

Thời gian trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 không phải là thời gian được sắp xếp

theo trật tự tuyến tính, nó không tuân theo một quy luật logic nào. Ở đây là thời gian kí ức,

của các sự kiện trong quá khứ được dẫn dắt bởi dòng cảm xúc chợt hiện về. Người viết

truyện đã biết xây dựng thời gian trong khoảnh khắc, những khoảng dừng cho chúng ta suy

ngẫm, nó là cầu nối tâm giao giữa tác giả với độc giả. Chính vì thế, sự vận động của nhân vật

trong thời gian này cũng đầy ngổn ngang, phức tạp như chính con người họ vậy.

Có thể nói cách tổ chức thời gian như vậy đã giúp tác giả có điều kiện đi sâu khám phá,

tái hiện đời sống và thế giới nội tâm của con người, nhằm thể hiện được mối quan hệ sâu sắc

giữa con người và đời sống thực tại.

Thông qua các biểu hiện đa dạng của thời gian nghệ thuật, ta thấy nhà văn có khả năng

vô hạn trong việc nới lỏng hay mở rộng cốt truyện. Cốt truyện hoàn toàn có thể mở rộng đến

tối đa, thậm chí truyện ngắn có thể được làm cho dài ra với ngồn ngộn các sự kiện như trong

tiểu thuyết. Nhà văn có thể làm được điều đó bằng cách gia tăng miêu tả dòng ý thức của

nhân vật. Thông qua sự nhớ lại, sự thuật lại, sự ám ảnh, những giấc mơ, những kỷ niệm,

những viễn tưởng, những độc thoại… mà cảnh đời của mỗi nhân vật càng có thêm nhiều chi

tiết, nhiều sự lý giải. Trong một truyện có khi có nhiều đoạn dài là những dòng ý thức của

nhân vật nào đó. Nếu ví cốt truyện như một cái cây thì trong trường hợp này, cái cây có rất

nhiều nhánh nhóc tạo nên một dáng vẻ sum xuê. Việc nới lỏng, mở rộng cốt truyện, gia tăng

miêu tả dòng ý thức của nhân vật là cách làm của không ít nhà văn ĐBSCL sau 1975, đặc

biệt tập trung ở các cây bút trẻ.

Nổi bật nhất là Nguyễn Ngọc Tư. Ở truyện của chị, cốt truyện thường xuyên được nới

lỏng và nhân vật lúc nào cũng ngồn ngộn tâm trạng. Nhà văn ít khi đứng ngoài miêu tả dưới

góc độ của một người quan sát, trần thuật mà thường để cho nhân vật của mình tự bộc lộ tất

cả, tự nói lên tất cả tâm trạng hỉ - nộ - ái - ố bằng những lời độc thoại. Nhân vật hiển hiện

như một con người tự do bộc lộ cảm xúc của mình, không bị tác giả chi phối qua sự trần

thuật gián tiếp (lời kể). Đặc biệt, sự biểu hiện của dòng ý thức này cũng rất đa dạng. Có thể

trong một truyện mỗi nhân vật đều có dòng ý thức của mình, làm thành một thế giới tâm lý

sống động.

Gió lẻ của Nguyễn Ngọc Tư là một truyện ngắn có dung lượng khá lớn so với thể loại.

Cốt truyện chính thực ra khá đơn giản: hai người đàn ông trên xe tải cho một cô gái đi cùng

và cuối cùng, ông Buồn đã có được cô gái. Việc đó khiến cho Dự ghen, muốn giết ông Buồn

để rồi dẫn đến cái chết của cả Dự và cô gái. Nhưng xoay quanh cả ba nhân vật này là những

câu chuyện quá khứ dài như không bao giờ hết. Nhân vật cô gái khi thì được xuất hiện bằng

tiếng tự xưng “em” (có đến 77 đoạn văn), khi thì được tác giả gọi bằng “cô”. Khi được xuất

hiện bằng tiếng tự xưng “em”, mọi sự kiện đều được diễn ra qua dòng ý thức của nhân vật cô

gái. Truyện có 19 khúc (được ngăn cách bằng 3 dấu *) và có sự luân phiên lần lượt giữa khúc

nhà văn miêu tả dòng ý thức của nhân vật cô gái (nhân vật xưng “em’’) và khúc nhà văn

miêu tả với vai trò người trần thuật (cô gái được gọi bằng “cô”) cho đến hết truyện. Qua

dòng ý thức của một nhân vật chịu nhiều bất hạnh, toàn câu chuyện mang hơi hướng lạnh

lẽo, cô độc, ảm đạm của một cơn “gió lẻ”. Có thể thấy rõ rằng, trong truyện Nguyễn Ngọc

Tư, dòng ý thức của nhân vật gần như luôn luôn được thể hiện bất chợt, và thường không

được báo trước bằng những dấu câu quen thuộc mà tiếng Việt vẫn thường làm như dấu hai

chấm, dấu ngoặc kép. Chẳng hạn như đoạn văn sau đây: ‘‘Nhưng nói-giống-người thì em

cũng phải nói những lời dối, gây đau, nói để giày vò nhau… Biết đâu, em sẽ vừa nói vừa nôn

thốc nôn tháo. Biết đâu em sẽ vừa nói vừa khóc” trong truyện Gió lẻ [172, tr.161]. Hay một

đoạn khác trong truyện Huệ lấy chồng của Nguyễn Ngọc Tư: “Điềm dặn, “Bây giờ mầy

khóc cho đã đi, để mai lúc rước dâu thì ráng nhịn, cô dâu mà khóc, son phấn trôi tèm lem,

thấy rầu lắm”. Trời đất, buồn thương ở trong lòng, lúc nào tràn đầy thì phải khóc cho vơi

chứ có phải rót nước ra từ cái ấm, lúc nào muốn rót thì rót, lúc nào không muốn thì thôi.

Con gái lấy chồng, hỏi ai không tủi?” [171, tr.38]. Người đọc được dẫn dắt tự nhiên từ vị trí

người quan sát đến vị trí xâm nhập thẳng vào nội tâm nhân vật, không qua rào đón, giới

thiệu.

Việc nới lỏng cốt truyện, gia tăng miêu tả dòng ý thức của nhân vật của nhiều cây bút

trẻ đã góp phần làm nên một diện mạo khá riêng biệt của truyện ngắn ĐBSCL sau 1975.

Điều đó thể hiện tâm trạng con người có nhiều trăn trở, suy tư trong một cuộc sống mới với

bộn bề những điều mới mẻ, thử thách và cũng nói lên được bản tính đa sầu đa cảm của

những con người miệt vườn sông nước Cửu Long.

Tóm lại, không gian, thời gian trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 là yếu tố để thể hiện

điểm nhìn của tác giả về cuộc đời thông qua hình tượng nhân vật, là hình thức cắt nghĩa con

người, đem đến cho người đọc những khám phá mới. Ngoài ra thời gian, không gian nghệ

thuật trong truyện ngắn còn thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn và góp phần xây dựng hình

tượng nhân vật, bộc lộ chủ đề tư tưởng trong tác phẩm, chuyển chở những vấn đề triết lí của

thời đại.

3.2. Nghệ thuật khắc họa nhân vật

Nhân vật văn học chỉ xuất hiện qua sự trần thuật, miêu tả bằng phương tiện nghệ thuật.

3.2.1. Miêu tả mâu thuẫn, xung đột

Sự xung đột, sự mâu thuẫn được dùng như một nguyên tắc để xây dựng các mối quan

hệ tương tác giữa các hình tượng của tác phẩm nghệ thuật.

Các xung đột thường xuất hiện dưới dạng những va chạm, tức là những đụng độ trực

tiếp, sự chống đối giữa các thế lực hoạt động được mô tả trong tác phẩm: giữa tính cách với

hoàn cảnh, giữa tính cách với nhau, giữa các phương tiện khác nhau của một tính cách,...

Tuy nhiên, xung đột cũng thể hiện trong tác phẩm với cốt truyện ít chặt chẽ hơn và đôi

khi cả ở ngoài cốt truyện, như trong sự tương phản của những kết cấu, sự đối lập giữa các

tình huống, sự đối lập về tư tưởng, về quan niệm của giữa các hình tượng. Các mâu thuẫn,

xung đột bao giờ cũng có tác dụng làm nhân vật bộc lộ cái phần bản chất sâu kín nhất của

nó.

Trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, nhiều tác giả rất chú ý đến việc miêu tả mâu

thuẫn, xung đột để làm nổi bật tính cách của nhân vật.

Nhân vật người vợ (Người Cóc - Nguyễn Thị Diệp Mai), không vượt qua cuộc sống khó

khăn ở vùng đất mới khai hoang, và sự cám giỗ của vật chất đã không ngần ngại giết chồng

mình một cách giã man để theo người đàn ông khác.

Nhân vật cụ Tổ và nhân vật vua Gia Long trong truyện Mộ tổ của Lê Thanh Huệ lại

được thể hiện qua mâu thuẫn với hoàn cảnh xã hội. Cụ Tổ là một con người ngang dọc, khí

khái, yêu tự do, công bằng, bình đẳng nhưng lại sống trong xã hội phong kiến quân chủ

chuyên chế. Cụ dám xem vua ngang hàng mình, đi thẳng lưng, xưng “qua” (tôi) với vua, lại

còn xin ngồi thử vào ngai vàng. Kết quả là dù cụ là ân nhân của vua, xứng đáng để vua nhớ

ơn suốt đời nhưng lại bị chém đầu vì muốn ngồi thử vào ngai vàng trong chốc lát. Con người

ngang dọc như vậy nổi lên như một cái cọc nhọn mọc giữa đất bằng, và lập tức bị những

người trung thành với chế độ chặt bỏ. Còn Gia Long là một ông vua cũng cảm thấy ngột

ngạt, tù túng ngay trên chính ngai vàng của mình với quá nhiều luật lệ, ràng buộc mà đức

vua phải là người làm gương. Đến cả “người anh em từ thuở nếm mật nằm gai” của ông khi

phạm thượng, tức làm sai phép nước - một việc lẽ ra rất nhỏ - ông cũng đành lòng cho xử

trảm. Cả hai con người, kẻ ra lệnh xử tử và kẻ bị xử tử đều có lý lẽ của riêng mình. Mâu

thuẫn không giải tỏa được với hoàn cảnh của hai nhân vật khiến người đọc thông cảm với cả

hai nhân vật dù họ ở hai chiến tuyến. Tác giả muốn gửi gắm lời nhắn nhủ rằng con người nên

thận trọng xem xét, đánh giá ai đó bằng cách đặt chính mình vào địa vị của người đó và theo

chiều đồng đại, chứ không phải đem những tiến bộ của đời sau để chê bai đời trước, phải biết

chấp nhận những hạn chế lịch sử mà nhân loại tất yếu phải trải qua.

Truyện Xóm mồ côi của Nguyễn Lập Em thể hiện xung đột giữa ba gia đình duy nhất

sống trên cái gò mả lạng ở giữa đồng, cũng chỉ tại cái nghèo. Mỗi nhà mỗi cảnh khổ, họ

nương tựa nhau mà sống. Nhưng cái nghèo cứ cắn rứt họ. Giữa họ rồi cũng xảy ra xung đột -

xung đột của những người đàn bà bởi những chuyện nhỏ nhặt rất đàn bà. Vì con gà, bụi hành

mà họ cãi nhau, vì một chút khoe khoang, một chút khen ngợi thật bụng, một chút chia sẻ mà

cũng bị xem ra thói nịnh. Khi thì “cơn giận sôi sục như đang trào ra”[180.1, tr.163], khi

thì“lòng cứ âm ỉ giận hờn”,“nung nấu cái giận từ bao nhiêu chuyện không hình tích

khác”[180.1, tr.164], đến nỗi rốt cuộc người đàn ông trong cuộc cũng phải khẽ lắc đầu “vậy

mà mấy người đàn bà cứ lấy đó mà mè nheo nhau”[180.1, tr.167]. Trong sự đố kỵ, bới móc,

chia phe do cái nghèo đưa đẩy ấy, họ hiện lên là những người nông dân vùng sông nước Cửu

Long chân chất nhất, bình dị nhất, dù có khuyết điểm mà cũng có vẻ đáng yêu. Những cãi

vã, đố kỵ nhỏ nhặt mang đậm màu sắc của người đàn bà nông thôn ấy cũng không làm họ

quên đi tình cảm, trách nhiệm giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn hoạn nạn. Đó chính là vẻ đẹp

tâm hồn luôn có sẵn trong những con người này như hình ảnh chậu lan đất vẫn hé nở dù bị

chìm mấy ngày dưới nước ở cuối truyện.

Truyện Vết chim trời (Nguyễn Ngọc Tư) khai thác mâu thuẫn giữa con người với những

gì mà chiến tranh đã gieo rắc lên số phận của họ. “Cha tôi” và em ruột mình là Út Hơn (cha

Vĩnh) đã bị chiến tranh buộc phải đứng ở hai chiến sự đối lập, để rồi một trong hai bị người

kia giết. Tội ác của chiến tranh được hé hộ chỉ bằng câu nói mớ của người bà trong giấc ngủ

trưa ‘‘Sao bây bắn Út Hơn của má’’[172, tr.7]. Nguyễn Ngọc Tư đã chỉ ra nguyên nhân dẫn

đến những mâu thuẫn, dằn vặt giữa các thành viên trong gia đình chính là hoàn cảnh chiến

tranh, dù cho nó đã lùi xa. Nỗi đau xót tàn phá, gặm nhấm những tâm hồn khi cháu biết

chính bác ruột đã giết phải cha mình, khi đứa con trai biết cha mình là kẻ giết người và người

cha thì luôn bị giày vò, ám ảnh. Tất cả những gì mà các nhân vật phải chịu đựng và chống

chọi đều sẽ không tồn tại nếu không có chiến tranh. Bản chất lương thiện của người cha

được thể hiện qua những hành động cứu chữa lỗi lầm của mình sau chiến tranh, và sự hy

sinh chịu đựng dai dẳng, đầy đau đớn của người mẹ già chỉ được phát hiện sau câu nói bột

phát ấy.

Còn ở truyện Nước mắt chảy một bên của Nguyễn Thị Diệp Mai lại là xung đột tính

cách vợ chồng. Sự khác nhau về tính cách, về quan niệm sống mà người vợ, người mẹ của ba

đứa con nhỏ đã rũ bỏ tất cả đi theo tiếng gọi của tình yêu mới, với một mơ ước duy nhất

được “biết thế nào là yêu. Yêu rồi tao mới cảm thấy mình là đàn bà’’[196, tr.207].

Truyện Tú tài làng Ô Môi là một truyện bảo vệ cho phẩm chất đạo đức của con người

trong cuộc đối sánh với sức mạnh của đồng tiền. Trong truyện, tác giả dường như chia rõ hai

phe: kim tiền và đạo đức. Nhân vật Bi - một doanh nhân đại diện cho những người dùng tiền

lấy lòng người khác, còn nhân vật Bi - một thầy giáo đại diện cho những người dùng tác

phong, sự tận tụy và tấm lòng chân thành ra đối đãi với mọi người. Có lúc tưởng như nhân

vật Bi đã chiến thắng khi được bầu làm người tốt nhất làng, nhưng khi vừa kết thúc truyện

cũng là lúc bộ mặt thật của Bi phải lòi ra. Chân - Thiện - Mỹ bao giờ cũng là mơ ước tối cao

của con người, là những giá trị vĩnh hằng mà con người muốn vươn tới. Chân - Thiện - Mỹ

có thể tạm thời thất thế trong một lúc nào đó để nhường chỗ cho nhiều thứ bóng tối nhưng

sau cùng nó vẫn nằm trên đỉnh cao ánh sáng.

Phía sau một đời người của Nguyễn Huỳnh Hiếu dựng lên mâu thuẫn về tính cách giữa

hai mẫu người trong xã hội mới: một bên gồm những người trung thực, thẳng thắn “chỉ có

một tấm lòng thành thật, và muốn bao giờ sự thật cũng phải được công nhận”[180.1, tr.199],

và một bên là những người tư thù, hẹp hòi, máy móc, giáo điều. Qua cuộc đấu tranh, khi

thầm lặng khi cũng dữ dội, quyết liệt, vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật “tôi” (nữ văn sĩ) và nhân

vật ông Sáu Huỳnh ngày càng tỏa sáng. Họ là những con người dám sống thật, dám đấu

tranh, bênh vực cho lẽ phải và công bằng, biết tự phê bình, dám nhìn thẳng vào sự thật, vào

những hạn chế của những con người đang góp phần vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Phẩm cách của nữ văn sĩ ban đầu đã bị phủ nhận cùng với tác phẩm của cô, nhưng sau đó nó

đã được khẳng định lại giá trị vốn có bằng những lập luận sắc bén của ông Sáu trong cuộc

họp và qua giải thưởng cho tác phẩm. Qua cuộc đấu tranh bênh vực nữ văn sĩ, ông Sáu

Huỳnh cũng đã củng cố lại uy tín của những người lãnh đạo bởi vì bản thân ông là một vị

giám đốc sở. Không chỉ là cuộc đấu tranh giữa hai bên như đã nói trên mà giữa hai ông cháu

cũng có một cuộc đấu tranh về quan điểm. Họ cùng phe với nhau nhưng không đồng nhất

nhau. Nữ văn sĩ đấu tranh nhưng chấp nhận bế tắc, còn ông Sáu đấu tranh đến cùng. Theo

ông, “phải làm tín hiệu cho tương lai”[180.1, tr.206]. Chân dung ông Sáu - một chiến sĩ

cách mạng thực thụ càng về cuối truyện càng được tỏa sáng theo những hành động đấu tranh

khi ông còn trai trẻ và lúc ông chuyển công tác. Mặc dù cuối truyện ông Sáu đã thua cuộc do

“hoàn cảnh lịch sử của thời gian”[180.1, tr.211], nhưng sự thua cuộc bất đắc dĩ ấy càng làm

lộ rõ mặt trái của “hoàn cảnh lịch sử” và chứng minh rằng ông Sáu là con người cao quý,

luôn luôn đáng kính và cần được cảm thông. Ông có thể là người thua cuộc tạm thời nhưng

là người chiến thắng vĩnh viễn.

Bên cạnh việc khai thác những xung đột, các cây bút truyện ngắn ĐBSCL còn khai thác

mâu thuẫn tâm trạng của nhân vật. Ở truyện Trái tim Tháp Mười của Trần Thị Hoàng

Anh, để ca ngợi phẩm chất cao đẹp của nhân vật Chung, tác giả đã khai thác những mâu

thuẫn trong lòng nhân vật Chín Hùng - người đã thầm yêu Chung - trước khi sắp lên đường

tập kết với tâm trạng vui buồn lẫn lộn. Vui vì được đi tập kết và buồn vì phải chia tay người

mình yêu chưa biết khi nào gặp lại. Chỉ vì quá yêu Chung nên Chín Hùng mới có những mâu

thuẫn trong tâm trạng như vậy.

Nội tâm của nhân vật Hồng Châu (Suất hát đêm giao thừa - Trần Quốc Toàn) cũng có

mâu thuẫn gay gắt giữa “đi” hay “không đi”. Về diễn cho bà con xóm Tràm xem là niềm ao

ước, mong đợi bấy lâu nay của anh. Nhưng được đứng vào “bầu trời các minh tinh” lại là

niềm ao ước lớn hơn của Hồng Châu. Cuối cùng cuộc sống ân tình của bà con xóm Tràm

ngày trước cũng như tình cảm bây giờ của họ đã giúp anh thắng được cái mềm yếu, thoả hiệp

ở chính mình.

Những mâu thuẫn cách đối xử với cha của nhân vật Lịch trong truyện Con sóng Đồng

Tháp Mười của Nguyễn Thị Phước. Ở Lịch có mâu thuẫn: rất yêu cha nhưng bề ngoài tỏ ra

lạnh lùng. Cha về thì không nhìn mặt cha nhưng khi cha đi thì hàng ngày mong được thấy

cha (dù chỉ là trên truyền hình). Làm như không thèm để ý đến lời cha nhưng thật ra nhớ rất

rõ những gì cha nói. Những mâu thuẫn đó càng làm nổi bật tình yêu cha của Lịch.

Để khẳng định và ngợi ca tấm lòng nhân hậu của nhân vật Hai Phú (Ông già Tháp Mười

- Phan Thư), tác giả đã khai thác những xung đột giữa ông Hai phú với con gái ông; giữa ông

với chính quyền địa phương và xung đột ngay trong suy nghĩ của ông.

Như vậy, việc miêu tả mâu thuẫn, xung đột là một trong những cách xây dựng nhân vật

mà các nhà văn ĐBSCL sử dụng nhuần nhuyễn và có những sáng tạo riêng để tạo cho nhân

vật có thêm sự sinh động. Thực tế cho thấy, không ít tác giả truyện ngắn ĐBSCL đã thành

công trong cách xây dựng nhân vật bằng cách miêu tả những mâu thuẫn, xung đột.

3.2.2. Miêu tả ngoại hình nhân vật

Miêu tả ngoại hình nhân vật ‘‘là vẽ lên hình dáng diện mạo bên ngoài của nhân vật.

Miêu tả ngoại hình cũng cũng bao gồm cả cả việc miêu tả y phục và dựng lại những nét chủ

yếu của chân dung’’[56, tr.26]. Nếu như văn học cổ thường xây miêu tả ngoại hình nhân vật

với những chi tiết ước lệ tượng trưng thì văn học hiện đại thường đòi hỏi những chi tiết chân

thực và cụ thể sinh động. M.Gorki khuyên các nhà văn phải xây dựng nhân vật của mình

đúng như những con người sống và phải tìm thấy, nêu lên, nhấn mạnh những nét riêng độc

đáo tiêu biểu trong dáng điệu, nét mặt, nụ cười, khóe mắt… của sự thống nhất giữa cái bên

ngoài và cái bên trong của nhân vật.

Để xây dựng tính cách nhân vật, các nhà văn ĐBSCL rất chú ý đến việc miêu tả ngoại

hình. Nói đến ngoại hình người ta thường chú ý đến khuôn mặt của nhân vật. Bởi lẽ, khuôn

mặt là điểm nhận biết đầu tiên khi người ta tiếp xúc với nhau, là nơi bộc lộ trạng thái cảm

xúc của con người.

Qua khuôn mặt ‘‘nhăn nhúm, nám đen’’ người đọc cảm nhận biết được sự vất vả của bà

Hồng (trong Cuối mùa nhan sắc), ‘‘nét mặt âu yếm’’ thể hiện tình cảm yêu thương của người

chị trong Cánh đồng bất tận. Thân hình “héo hắt, lam lũ, lúc nào cũng khô quắt, cả lúc

chồng không đánh, chị cũng gồng lên như gánh một gánh vô hình” (Một chuyện hẹn hò) nói

lên sự chịu đựng lẫn thiếu thốn của người phụ nữ nông dân. Và ‘‘ánh mắt loé sáng giống hệt

ánh mắt của con mèo hoang trong mùa động đực’’, bộc lộ sự thèm khát tình dục của NV Sáu

Lê, (Đất không cưu mang - Bích Ngân)…

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng tôi thấy nhà văn còn miêu tả ngoại hình

không bình thường để nhân vật bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn.

Nhân vật trong truyện ngắn trước năm 1975, thường có ngoại hình phù hợp với tính

cách. Nguyệt và Lãm trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu đẹp từ ngoại hình

đến tính cách, đẹp một cách nên thơ và đáng yêu.

Sau 1975, thế giới nhân vật trong truyện đa dạng hơn, vì vậy ngoại hình nhân vật cũng

được nhà văn tái hiện ở nhiều góc độ khác nhau.

Trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, có nhưng truyện miêu tả những nhân vật với

ngoại hình không đẹp, thậm chí là rất xấu, như NV Lương trong tuyện ngắn cùng tên của

Nguyễn Ngọc Tư “Tướng Lương nhỏ xíu, teo héo. Đầu to, tóc dày, cháy nắng. Một bên mắt

lé xẹ”[169, tr.99]. Nhưng Lương là người tốt bụng hay giúp đỡ người khác. Và cũng có NV

vẻ bề ngoài không bình thường do mang trên mình những thương tật chiến tranh.

Truyện ngắn Bưởi của Thai Sắc nói về nỗi đau của một người con gái sau chiến tranh.

Trước ngày nhập ngũ Bưởi là một cô thôn nữ sinh đẹp: ‘‘ Làn da mịn trắng như đang thoa

loại kem đắt tiền, đôi mắt đen láy, sinh động... Lại thêm mái tóc vừa dài vừa đen’’[184,

tr.512]. Hơn mười năm sau Bưởi trở về với “với bộ mặt dị dạng, da nhăn nhúm và loang lỗ,

một bên mắt tít lại, sống mũi mác mất một góc, miệng méo xệch, nom chẳng còn giống một

gương mặt người bình thường. Và mái tóc dài mượt ngày xưa chỉ còn lơ thơ những sợi vàng

cháy”[184, tr.513].

Sở dĩ Bưởi có ngoại hình như vậy là do trong một trận bom napalm của Mỹ, cô đã lao

vào lửa để cứu một thương binh nặng. Ngoại hình của Bưởi sau chiến tranh không còn đẹp

như xưa, nhưng dưới cái nhìn của mọi người thì Bưởi vẫn đẹp. Cái đẹp ấy chính là lòng yêu

nước, lòng thương người, sẵn sàng hy sinh vì người khác của Bưởi.

Miêu tả dáng vẻ bên ngoài cũng phần nào phản ánh nghề nghiệp nhân vật. Ở truyện

Ngày đùa của Nguyễn Ngọc Tư, chỉ vài nét chấm phá, người đọc liên tưởng NV Phương là

một nghệ sĩ lãng mạn, phong trần: ‘‘Con người Phương hết thảy đều phiêu lãng phong trần.

Tóc dày lấp loáng bạc, hơi dài, mái trước vuốt ngược ra đằng sau. Thành ra đám tóc đó

không bám vào đâu được, nó nằm bồng bềnh. Mắt Phương sâu róm (San tin rằng người nuôi

tóc dài, móng tay dài sẽ yêu một tình yêu lâu dài). Miệng Phương cười khinh bạc. Nón quay

ngược ra đằng sau. Quần áo bụi bặm, móng tay dài…”[169, tr.137-138].

Miêu tả ngoại hình qua trang phục cũng góp phần thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân

vật:‘‘Má tôi thấy lòng mình bình lặng lạ lùng, hồi ngồi dựng cái cảnh gặp mặt nầy, cứ tưởng

là phải làm một cái gì ghê gớm lắm. Có thể vì người đàn bà của ba tôi hiện lên rất hiền, dì

mặc chiếc áo cộc tay màu cau khô ở trong, khoác thêm chiếc áo bà ba ở ngoài, mỏng te,

nhiều vụn vá. Tóc bạc đã nhiều, lơ thơ vài cọng rũ xuống mặt, sương gió làm cho khuôn mặt

dì đen sạm, nhăn nheo’’[171, tr.38]. Người phụ nữ Nam bộ gắn liền với áo bà ba, và chính vẻ

đẹp giản dị, bình thản lạ lùng của nó làm tôn lên vẻ đẹp chân chất, dịu dàng của người phụ

nữ.

Ngoài chiếc áo bà ba, chiếc khăn rằn cũng là vật dụng quen thuộc và thể hiện tính cách

con người Nam bộ:

‘‘Ông ngồi bệt trên bờ mẫu, khăn sọc cũ quấn đầu, nón vải nâu lốm đốm mủ chuối. Ông

ngó lũ vịt, vấn điếu thuốc, châm lửa, phà mấy vòng khói lên trời. Nó lãng tan mỏng như

sương. Và trời rất xa, xanh trong. Ông kêu:

- Cộc, Biểu!

Con Cộc chạy lại, vẫy nước và cọ đầu vào bắp đùi đen bóng của ông’’[171, tr.50].

Tóm lại, ngoại hình là một phương tiện không thể thiếu được khi miêu tả nhân vật.

Truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 có nhiều tác giả đã thành công trong việc miêu tả ngoại hình

để khắc họa tính cách nhân vật.

3.2.3. Miêu tả hành động nhân vật

Có thể nói, nhân vật thường bộc lộ mình nhiều nhất qua việc làm, hành động. Theo

Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học, Stanislavski có chia hai kiểu cốt truyện: 1. Cốt

truyện được xây dựng dựa trên ‘‘hành động bên ngoài’’ của nhân vật; 2. Cốt truyện được dựa

trên ‘‘hành động bên trong’’ của nhân vật [124, tr.40]. Trong mối tương quan đó, hành động

nhân vật chính là chất sống làm nên vận động của các nhân vật đồng thời cũng là chất sống

để để xây dựng nên nội dung của tác phẩm văn học. Thể hiện tính cách nhân vật qua miêu tả

hành động là một thủ pháp cơ bản trong nghệ thuật xây dựng nhân vật. Hành động nhân vật

sẽ làm rõ hơn diện mạo của nhân vật, gắn kết nhân vật vào vận động nội tại chính bản thân

nhân vật đó cũng như nối kết số phận các nhân vật vào toàn bộ tác phẩm. Hành động sẽ thể

hiện tính cách nhân vật, ý đồ nghệ thuật và ý nghĩa nhân sinh mà nhà văn muốn chuyển tải

qua từng nhân vật nói riêng trên phạm vi toàn bộ tác phẩm nói chung. Hành động được xem

như là kết quả cuối cùng của quá trình nhận thức, quá trình tâm lý, quá trình tình cảm. Qua

hành động nhà văn muốn để cho nhân vật của mình nói lên những suy nghĩ, tư tưởng, trạng

thái diễn biến bên trong nhân vật.

Tóm lại, dù ở ngoài cuộc đời hay trong tác phẩm, nếu đã là con người thì phải có hoạt

động. Chính những hoạt động của nhân vật đã thể hiện rõ “con người” của nhân vật.

Trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, các nhà văn đã chú trọng miêu tả hành động bên

ngoài của nhân vật.

Trước hết là hành động thể hiện nghĩa tình nhân hậu. Bình và Hoàng (Có một cơn

bão như thế - Thai Sắc) trước đây là đồng đội, nhưng hiện tại Bình xem Hoàng là kẻ bất tín

nên không giao thiệp mặc dù nhà họ ở cạnh nhau. Vào một đêm khi Hoàng đi vắng thì một

cơn bão khủng khiếp kéo đến, gia đình Hoàng gặp nạn. Bất chấp hiểm nguy, Bình đã có hành

động nhanh, mạnh, dứt khoát lao vào cứu những người thân của Hoàng:

‘‘Bằng một sức mạnh dồn nén chưa từng có, anh đứng thẳng dậy, giật, kéo, quay, móc,

hất tung từng tấm tranh, từng chiếc kèo, cái cột… Anh chồm người xuống nơi người mẹ và

mấy đứa con bị nạn”. Rồi anh: “đã bồng, đã ôm trên tay mình cùng một lúc cả ba mẹ con

người bị nạn, anh đã chạy một cách bình thường như đang chạy giữa trời yên đất lặng...,

trầy trật giữa gió bão khủng khiếp đến hàng giờ đồng hồ để tìm về căn nhà xây mái bằng

vững chãi của mình…’’[184, tr.128].

Hành động đó của Bình xuất phát từ lòng yêu thương đối với con người trong hoạn nạn.

Chính lòng yêu thương đã giúp Bình vượt lên tất cả những ràng buộc trong cuộc sống đời

thường của anh.

Việc làm của ông Tư và thằng Út trong truyện Mùa gác chéo của Tùng Thiện cũng thể

hiện lòng nhân hậu của họ. Mưa càng lớn nước lên càng cao thì công việc “gác chéo” của hai

ông cháu càng cực nhọc: “Tấm lưng đem bóng của ông còm cỏi chìm trong nước và đêm tối.

Mặc cho mưa ướt, ông cứ nhảy ùm xuống nước”[184, tr.1082]. Rồi đến lượt thằng Út “nhảy

ào xuống nước. Nước quá sâu đến nỗi nó phải đeo bám vào be xuồng. Sau gần hai tiếng

đồng hồ tháo dây, xốc nọc, kê hòm…cây gác chéo của hai cái hòm đã cao hơn mặt nước gần

ba tấc. Lúc này ông cháu mới bắt đầu thấy lạnh. Hai hàm răng của thằng Út không làm chủ

được nữa, cứ lập bập tê cứng...”[184, tr.1082]. Sau khi đã xốc nọc gác chéo lại cho cỗ áo

quan cao hơn, “gương mặt ông giãn ra mãn nguyện”. Đôi mắt hai ông cháu lại nhìn đăm

đăm vào khoảng không, tất cả im lặng. Và “trước khi nhấn mạnh cây sào cho chiếc xuồng

lao đi, ông Tư còn quay lại nhìn hai cỗ áo quan lần cuối”. Miêu tả việc làm của hai ông

cháu trong đêm trời mưa với bao sự khó khăn, vất vả, tác giả đã làm nổi bật lên tấm lòng

nhân ái bao la của họ.

Hành động của nhân vật Thảo (Quý hơn bạc vàng - Bùi Quí Khiêm), hay của nhân vật

Nguyện (Trái tim Tháp Mười - Trần Thị Hoàng Anh)... và của nhiều nhân vật khác trong

truyện ngắn ĐBSCL đều thể hiện được vẻ đẹp cao quý, nghĩa tình của người ĐBSCL dù phải

ở trong bất cứ hoàn cảnh nào của đời sống. Dù đói khổ và tính mạng lâm nguy, con người

vẫn không quên suy nghĩ và xả thân vì người khác.

Ngoài ra, nhiều truyện ngắn cũng đề cập đến hành động của tình yêu thương.

Đọc Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta không thể quên được hành động

người cha cởi áo đắp cho con: ‘‘Người cha cởi áo trên người để đắp cho đứa con gái. Ông ta

bò quanh nó, tìm bất cứ cái gì để có thể che cơ thể nó dưới mặt trời’’[171, tr.56].

Còn ở truyện Trái tim Tháp Mười (Trần Thị Hoàng Anh) khi Nguyện bắt được Chín

Hùng (một cán bộ huyện ủy đang nằm hầm bí mật trong nhà mình), anh đã rút súng định bắn

Chín Hùng thì Chung đã ‘‘lao vào giữa hai người, đứng chắn trước mặt Chín Hùng. Đôi tay

cô dang rộng, cặp mắt bồ câu nhìn thẳng vào mặt anh như cháy lên’’. Kèm theo đó là câu

nói với giọng ‘‘rắn như thép’’: ‘‘Anh Hai, nếu anh bắn người này thì em sẽ chết theo’’. Chính

hành động dũng cảm của Chung đã cứu Chín Hùng. Hành động dám đứng chắn trước mũi

súng đã thể hiện rõ tình yêu mà cô dành cho anh.

Bên cạnh đó, hành động thể hiện sự tuyệt vọng, bi kịch của nhân vật cũng được nhiều

truyện ngắn khắc hoạ khá thành công. Hành động như điên dại của người mẹ trong truyện

Mảnh đất của Đinh Thành Nam được xuất phát từ lòng thương con vô bờ bến. Khi được tin

ngôi nhà mình bị chìm xuống sông, chị vội vã về. Khi xe “chưa kịp dừng, chị nhảy xuống rồi

lao đến bờ sông lở, như để tìm con, như định chấm dứt đời mình. Không còn biết gì nữa, chị

vấp phải một khúc gỗ, té đập đầu vào đá”[185, tr.111]. Hành động “nhảy xuống”, “lao đến”

của chị như vô thức. Rồi những hành động vô thức khác lại đến với chị vào đêm hôm sau ở

bệnh viện. Sau những tiếng thét kinh hồn như muốn lung lay cả dãy nhà điều trị của bệnh

viện, “người đàn bà giật tung cửa, lao ra như một mũi tên”. Các y bác sĩ ở phòng trực đuổi

theo, ôm lấy chị kéo trở lại bệnh viện. Nhưng “chị vẫn kêu gào, cố bứt khỏi những cánh tay

để lao đi”. Những hành động “giật tung cửa”, “lao ra” của chị cũng như vô thức. Sáng sớm

khi cổng mở để nhận một ca cấp cứu thì chị cũng “lách cổng đi ra ngoài... Chị thẫn thờ đi

đến mảnh đất củ của mình”. Rồi khi thấy con chó hung dữ xông ra (mặc dù có cánh cửa sắt

to lớn ngăn lại), với bản năng tự vệ “chị vung tay dồn cả cơ thể đấm mạnh về phía trước...”.

Có thể nói suốt cả truyện, có rất nhiều hành động của nhân vật Dung như vô thức.

Nhưng thật ra những hành động vô thức ấy vốn có nguồn gốc sâu xa như trong tiềm thức:

lòng yêu thương con của chị. Chính vì thương con vô hạn nên chị trở nên điên dại khi mất

con và điều ấy đã dẫn đến những hành động như điên dại của chị.

Kết thúc truyện Tiếng độc huyền và cây cột nhà gỗ sao (Thai Sắc), nhân vật ông Tám

Bê đã tự sát: “...ông Tám Bê đột ngột vùng dậy, chân bước những bước dài về phía bàn thờ,

đôi bàn tay thoăn thoát tháo sợi dây độc nhất nơi chiếc đàn bầu, rồi sau đó, ông dùng chính

sợi dây thép mong manh ấy, tự chói đứng mình vào cột cây gỗ sao”[184, tr.112]. Sau đó

“ông Tám Bê xiết chặt hai vòng dây quanh mình bằng cái sức mạnh dồn nén của bảy mươi

năm cày sâu cuốc bẩm, phát ra từ đôi tay gầy gộc, xương xẩu”[184, tr.112].

Những hành động của ông Tám Bê xuất phát từ ý thức quyết bảo vệ nơi yên nghỉ của

các liệt sĩ, không thể để nơi đó biến thành trại chăn nuôi. Nhưng khi thấy mình không thể

làm được việc ấy thì ông tự sát. Hành động tự sát của ông không phải là hèn nhát, là trốn

chạy, mà nó mang dáng dấp của những trang nghĩa sĩ ngày xưa: tuẫn tiết để bảo vệ lẽ phải.

Truyện Tiếng bước chân của Anh Động bày tỏ thái độ phần nhiều mỏi mệt, chán

chường của nhân vật anh nhà báo và cha nuôi anh - ông Hai. Họ cùng là dân cách mạng, một

thời vào sinh ra tử oai hùng, nhưng đến thời bình, họ lại phải những điều bức bối, vướng mắc

do những hạn chế, thiếu sót của thời bao cấp. Những hành động thể hiện sự tuyệt vọng, bi

kịch tập trung chủ yếu ở nhân vật người cha. Bao nhiêu lần ông đi gặp nhiều người để chỉ

xin một cái hòm để dành khi nhắm mắt là bấy nhiêu lần tiếng bước chân ông có một sắc thái

khác hẳn so với lúc hăm hở ra đi: “tiếng dép lốp lại nện không đều nhau từ dưới các bậc

thang lên”[180.1, tr.148], “chiều hôm ấy, tiếng bước chân của ông già bắt từ dưới nện dài

lên một cách uể oải, từng tiếng gõ rời rạc, khoan nhặt đến thua buồn”[180.1, tr.149], rồi một

chiều khác, “tiếng bước chân của ông già kéo đôi dép lốp rồn rột từ dưới thang gác

lên”[180.1, tr.150]. Chỉ qua việc miêu tả tiếng dép, người đọc biết được những chuyến đi

“xin hòm” của ông đã mang về thất bại. Những chuyến đi đã thất bại liên tiếp. Tác giả cũng

tả vẻ mặt, giọng nói của nhân vật khi tuyệt vọng nhưng những tiếng bước chân mới chính là

nỗi ám ảnh đối với người đọc về hình ảnh một con người có công với cách mạng nhưng bị

lãng quên bởi nhiều yếu tố. Con người chán nản, tuyệt vọng trong sự chờ đợi một ân huệ xa

vời mà lẽ ra họ xứng đáng được trao tặng một cách đầy vinh quang.

Vượt qua nỗi phấp phỏng, sự chết chóc, tang thương của chiến tranh, trở về với cuộc

sống hòa bình, tự do, dân chủ, người ta vẫn không tránh khỏi những bi kịch, những tuyệt

vọng. Gánh nặng áo cơm nhiều khi vẫn ghì sát đất, lý tưởng xa vời với một số người, những

giá trị tưởng như vĩnh hằng có nguy cơ mai một… Người ta phải đối mặt với những thử

thách nhiều khi rất lạ lẫm mà trong thời chiến chưa gặp bao giờ - những “bi kịch đời

thường”. Trong hoàn cảnh đó, có nhiều người gió chiều nào ngả theo chiều ấy, ăn cây nào

rào cây ấy, thức thời, thực dụng, nhưng có những người vẫn chọn cách hành xử trung thành

với bản chất, tâm nguyện, lý tưởng vốn có của mình. Cách hành xử đó mang tính truyền

thống, đã tồn tại từ khi họ còn phải sống trong gian khổ của chiến tranh, và bây giờ giữa thời

bình, người ta vẫn không thể nào phụ nó.

Có thể nhận thấy nhân vật trong truyện ngắn ĐBSCL thường đa sầu đa cảm, dễ tổn

thương, kể cả phần lớn các nhân vật nam. Các nhân vật thường lặng lẽ ưu tư với những phiền

muộn, đau khổ. Phải chăng vì bề mặt cuộc sống càng lúc càng xuất hiện thêm nhiều khía -

cạnh bất ngờ, có thể đâm, cứa người ta bất cứ lúc nào, và vì ý thức được điều đó nên con

người ưa sầu ưa cảm? Người Nam bộ nói chung và người ĐBSCL nói riêng ưa nghĩa khí,

bộc trực, thẳng thắn, có gì nói nấy nên khi gặp những điều trái ngang mà vẫn phải chịu đựng

thì sẽ rất khổ sở.

Ở một phương diện khác, nhà văn miêu tả hành động của nhân vật trong truyện cũng

nhằm góp phần thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân vật.

Người mù trong Người đàn bà hát rong (Vân Sinh), kiếm sống bằng cách vừa đàn hát

vừa bán vé số. Những khi anh đàn thì khách qua đường không thấy anh mù bán vé số mà chỉ

thấy một anh mù nghệ sĩ: “Tựa chân lên chiếc đàn độc huyền cũ kỹ, người mù hướng xa xăm

thả hồn theo mặt nước sông dài”[128, tr.98]. Rồi “người mù lần dò vặn trục lên dây đàn, âm

thanh trượt dài... rồi chựng lại rỉ rả, tỉ tê theo từng nhịp khẩy của que tre lên xuống nhẹ

nhàng, lả lướt như như nét phóng bút của một ông đồ. Tay trái đã cụt mất bàn tay buộc anh

phải nhoài người ra phía trước để đầu khuỷu tay- nơi có mấy vết chai - núng vào cây cần

hình cong như lưỡi câu, có con cá rô há miệng ngậm dây đàn. Vì thế toàn thân anh như

trườn lên cung bậc “Chơi hết mình”. Hố mắt sâu thẳm đang chứa đựng nỗi niềm riêng u

uẩn hay đang mê ly tột cùng?”[128, tr.99-100].

Miêu tả việc gảy đàn mà “nhẹ nhàng, lả lướt như nét phóng bút của một ông đồ”, nhà

văn gợi cho người đọc thấy được trong người mù này tồn tại hai con người: con người ăn xin

và con người nghệ sĩ. Con người nghệ sĩ tuy là kẻ đến sau nhưng phần lấn át con người ăn

xin của anh ta.

Không cần diễn đạt nhiều, chỉ qua cử chỉ ‘‘boa’’ tiền, người đọc nhận ra ông Sáu Đèo là

người ít học, bán vé số, nhưng là con người lịch thiệp, biết thưởng thức âm nhạc và trân

trọng người ca.

‘‘Ông Sáu Đèo làm nghề bán vé số, có tối ông gặp Phi ở ngoài quán. Lúc thì cho hay,

sao phơi giày mà để mưa ướt mem vậy. Sao đồ ăn không chịu đậy kỹ, để mèo vô ăn hết cá

chiên rồi, nó còn tha cái đầu qua nhà qua. Nhưng lần nào ông cũng đứng nghe anh hát hết

bản, vỗ tay xong, ông cũng‘‘boa’’, không phải cái kiểu kẹp tờ giấy bạc giữa hai ngón tay rồi

phe phẩy trước nặt mặt anh, ông từ tốn rút trong túi ra tờ giấy bạc hai ngàn, nhét vào túi Phi

rồi cài nắp túi cẩn thận. Trân trọng như trân trọng người nghệ sĩ’’[171, tr.106-107].

Mặt khác, miêu tả hành động cũng thể hiện bản chất của nhân vật. Trong truyện Kẻ

thù của tôi của Tú Uyên, Binh chột là một tên ác ôn. Hắn là một tay đao phủ chuyên xử tử

những người yêu nước bằng một con dao do hắn tự chế. Tác giả đã kể lại một lần hắn ‘‘thi

hành án” giết người như sau:

‘‘Khi nghe đến tên mình cùng phát súng quen thuộc” thì “hắn liền khật khừ tiến mấy

bước” đến trước mặt người sắp bị hắn giết. Rồi hắn “rút con dao chuyên nghiệp của hắn ra,

vẽ vẽ mấy “chữ” gì đó trên bộ ngực của nạn nhân”. Chợt “hắn dừng lại kề mũi dao ấn từ

từ...” khi thấy nạn nhân oằn oại thì hắn cười nham nhở: “Hừ...đau hả...Hà! Ráng chút nữa

đi, chút nữa thôi, chút nữa hết đau liền hà”. Và sau đó “hắn vênh mặt trong tiếng cười ngợi

khen của một vài đồng bọn, tay vẫn lăm lăm con dao thép hai lưỡi có chiếc cán bằng vỏ đạn

đại liên bê bết máu’’[185, tr.172].

Miêu tả hành động giết người bằng cách “ấn mũi dao từ từ vào ngực nạn nhân”, tác giả

đã thể hiện rõ bản chất dã man của một tên ác ôn giết người không gớm tay.

Tóm lại, qua miêu tả hành động, truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay thể hiện sự đa

dạng tính cách nhân vật.

3.2.4. Miêu tả trạng thái cảm xúc của nhân vật

Truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay, các tác giả rất chú ý việc xây dựng các chi tiết

thể hiện đời sống bên trong, các trạng thái cảm xúc, trạng thái tâm hồn của nhân vật.

Đó là tâm trạng nhớ tiếc về những kỉ niệm đẹp của tuổi học trò thơ mộng qua lời kể

của NV tôi trong Chuyện bên rạch Cái Tôm của Bùi Thị Cao Nguyên:

‘‘Bao đứa trẻ ngày xưa giờ thành người lớn và đi tới xứ người lập nghiệp. Ai nghèo, ai

giàu, ai nên danh phận? Tôi không biết, có điều sao tôi nghe trong lòng nhớ tiếc…Những thợ

phơi, thợ xắt ngày xưa rồi cũng chìm sâu vào quên lãng trong ký ức của nhiều người. Thuốc

rê Cao Lãnh giờ chắc cũng chỉ còn trong ký ức của vài người trong số chúng tôi. Rồi đây

cũng sẽ hòa vào dòng người nhộn nhịp nơi thành phố, có ngày nào đó chợt nhớ về quê cũ,

tôi sẽ nhớ lại mùi thuốc lá chưn hăng hăng trong những sáng tinh sương ngoài rẫy

thuốc’’[185, tr.122].

Tình yêu quê hương luôn bắt đầu bằng tình yêu và nỗi nhớ đối với những điều giản dị,

thân thuộc nhất trong cuộc đời mỗi con người. Một trái tim lớn là sự góp nhặt của nhiều

mảnh nhỏ. Phải có một sự gắn bó sâu đậm với quê hương thì nhân vật “tôi” mới có được nỗi

nhớ về con người và đặc sản của quê hương sâu sắc như vậy.

Trạng thái cảm xúc của nhân vật được các nhà văn miêu tả trong sự diễn biến thay đổi

từ nỗi buồn, có khi là sự tuyệt vọng, bế tắc sang niềm vui, niềm hạnh phúc. Đó là trạng thái

cảm xúc của nhân vật Thành (Người ở lại – Trần Thi Hoàng Anh) - một người lính Sài Gòn,

vợ bỏ đi nước ngoài lấy chồng khác, Thành phải sống cô đơn, nghèo khổ và có khi rơi vào sự

tuyệt vọng: “rồi hắn gục xuống bàn, hai tay ôm đầu vò nhàu mấy sợi tóc hắn cứ ngồi như

thế, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay”[184, tr.1099]. Nhưng dần dần với bàn tay và sự cố

gắng của mình, Thành đã tạo dựng cho mình một cuộc sống ổn định. Tâm trạng của Thành

không còn đau buồn nữa mà thay vào đó là niềm vui:“Một niềm vui và sung sướng bỗng tràn

ngập lòng anh. Anh chợt nhận ra rằng mọi người đã thương mến nâng đỡ anh, để anh có

được cuộc sống có ích như ngày hôm nay”[184, tr.1101].

Nhân vật Chín Hùng trong truyện Trái tim Tháp Mười của Trần Thị Hoàng Anh trước

khi lên đường tập kết ra Bắc có những tâm trạng vui buồn lẫn lộn. Anh vui “vì sắp được đặt

chân lên miền Bắc, vùng đất bao hứa hẹn đối với tuổi trẻ của anh, đối với sự nghiệp chiến

đấu giải phóng đất nước. Anh sẽ được học tập, hoạt động vùng vẫy. Bao nhiêu náo nức, hồi

hộp rộn lên trong lòng, anh chỉ mong cho mau tới ngày ra đi”[184, tr.371]. Nhưng đồng thời

anh cũng có tâm trạng buồn: “Nghĩ đến khi phải xa nơi này, xa những người thân yêu, có lúc

anh ngồi lặng đi, buồn bã. Anh nhìn từng bờ chuối, từng cây tràm…”[184, tr.371]. Đây là

tâm trạng rất thực, vì sao Chín Hùng lại có những tâm trạng trái ngược như vậy? Là một

người lính, anh ý thức rõ trách nhiệm đối với đất nước. Vui vì có điều kiện để thực hiện tốt

hơn nhiệm vụ của mình. Nhưng đồng thời anh cũng là một con người bình thường như bao

nhiêu con người khác, luôn nặng lòng với quê hương nên anh cảm thấy buồn. Hai tâm trạng

trái ngược cho thấy Chín Hùng là con người hài hòa cả trách nhiệm đối với đất nước và cả

tình cảm đối với quê hương.

Nhân vật Hai Bọt trong truyện Không cha của Kiều Diễm có người cha ruột đang ở

cùng xóm với mình, nhưng anh đã là người không có cha từ lúc còn là bào thai trong bụng

mẹ. Chính vì vậy anh luôn có tâm trạng buồn bã, trăn trở: ‘‘Anh tủi thân lắm, cỏ cây còn có

cội nguồn huống hồ anh là con người sao không biết nguồn gốc mình từ đâu?.

Mỗi lúc nghĩ đến người cha bạc bẽo, anh càng uất hận hơn.

Có lẽ vì nghèo khổ mà cha anh chẳng đoái hoài tới anh, sự u uất đó anh cố đè nén, nó

luôn đeo đẳng anh, nó làm nghẹn ứ lòng anh.

Nào có phải anh ham bạc tiền của cải, sống như vầy với hai bữa cháo rau cũng đủ, chỉ

có thiếu tình cha con, mà anh lại thèm cái đó hơn cả tiền của. Chỉ có vợ anh mới hiểu, đó là

những điều sâu kín riêng tư của bản thân anh, những uẩn khúc trớ trêu của cuộc đời

anh’’[184, tr.424].

Tâm trạng trên của Hai Bọt đã khắc họa rõ nét niềm khao khát khao tình phụ tử của một

đứa con. Lối suy nghĩ trên của nhân vật rất chân chất, rất đặc trưng cho con người Nam bộ

nói chung và người dân ĐBSCL nói riêng. Không sâu xa, lắt léo, thâm trầm mà rất trơn tru,

giản dị, đầy chất nhân văn.

Ông Út Mót trong truyện Gặp vận đổi đời của Nguyễn Nhân là nông dân nghèo có tám

người con. Cuộc sống gia đình rất cực khổ, vất vả. Thế nhưng khi hai người con gái sau cùng

của ông của ông lấy chồng Đài Loan thì cuộc sống của gia đình ông đã sung túc hẳn lên.Vợ

chồng ông hầu như mãn nguyện về vật chất. Thế nhưng mỗi buổi chiều khi nghe tiếng cúm

núm gọi bầy, ông Út Mót lên sân thượng nhìn từng đàn cò bay về tổ mà “lòng ông xốn xang

như dao cắt từng đoạn ruột”. Rồi ông Út Mót: ‘‘Bồn chồn, băn khoăn, lo lắng, đoán trong

suy nghĩ, không biết bên xứ Đài Loan mà con gái ông đang sống bây gời mưa hay nắng,

nóng hay lạnh? Hai đứa con ông đang làm gì? Sướng, vui, buồn, khổ? Nghĩ đến đây ‘‘lòng

ông chạnh lại, trong cơ thể ông như đang chuyển động, sắp rạn nứt, vì đã rời bỏ một phần

máu thịt. Ông choáng váng tưởng sắp ngã qụy, hai tay cố bám chặt vào thanh sắt lan can

sân thượng, đôi mắt hoa lên, cổ họng nghẹn lại. Ông nhìn lên trời cao rồi nghẹn ngào, khóc

tức tưởi...’’[184, tr.178].

Đọng trong sâu thẳm mỗi con người luôn là tình ruột thịt và tình xứ sở quê hương.

Nhưng những người nghèo lại thường phải xa nhà, bỏ xứ để tìm chốn dung thân. Đây chính

là nỗi đau chung của biết bao con người ở biết bao thế hệ.

Với Đất không cưu mang của Bích Ngân, người đọc lại nhận ra một tâm trạng bất an

của bà Năm khi: ‘‘Bà đứng trước bàn thờ hai người chồng. Khi ấy, dù cố quên đi, trong bà

vẫn cuồn cuộn niềm hạnh phúc lẫn nỗi bất hạnh xưa... Với người chồng trước vẫn mãi là ký

ức dịu ngọt, nồng nàn đã hoà tan trong từng mạch máu và luôn chuyển không ngơi trong cơ

thể bà... Còn với người chồng sau lại là những chuỗi ký ức sắc nhọn thường cứa vào bà buốt

nhói’’[183, tr.367].

Một người đàn bà chung thủy nhưng lại không được sống đến cuối đời với chồng mình,

đó là bất hạnh lớn lao. Sau bao nhiêu dằn vặt để đi đến quyết định đi bước nữa, bà lại phải

trải qua nỗi hụt hẫng vô cùng khi cả người chồng sau cũng ra đi mãi mãi. Truyện đề cao đức

hy sinh của những người phụ nữ trong cuộc sống gia đình. Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ

vùng sông nước được tác giả khắc họa một cách nâng niu, trân trọng.

Với Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật Nương

trước thảm hoạ xảy ra với cô. Nương nằm đó và nghĩ đến nhiều điều, đến những cái mình đã

trải qua, những gì đang diễn ra và sắp xảy ra: ‘‘Dường như đứa con gái đang chết, chỉ có đôi

mắt là rưng rưng, chớp mở không thôi. Câu đầu tiên nó hỏi

- Không biết con bị có con không hả cha?

Nó hơi sợ hãi. Cảm giác một cái gì, nhỏ xíu nhưng lanh lợi như con lăng quăng đang

ngụp lặn trong nó. Đứa con gái thoáng nghĩ, rớt nước mắt, trời ơi, có thể mình sẽ sinh con.

Nhưng nó chấp nhận việc ấy, dù phũ phàng. Đứa bé đó, nhất định nó sẽ đặt tên là Thương,

Nhớ hay Diệu, Xuyến, Hường...Đứa bé đó không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ

vui vẻ và sống đến hết đời. Vì được mẹ dạy, là trẻ con đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người

lớn’’[171, tr.212,213].

Ở đây nhà văn đã miêu tả sự vận động tâm trạng của nhân vật Nương tăng dần, từ tâm

trạng lo âu, sợ hãi ‘‘liệu con có con không hả cha?’’, đến có niềm tin: mình sẽ có con và

chúng sẽ được đi học, biết yêu thương, biết tha thứ. Từ đau đớn, bàng hoàng vì hoàn cảnh

đến cố gắng chấp nhận hoàn cảnh thật không dễ dàng, vết thương sẽ còn âm ỉ mãi. Nhưng

nhân vật biết biến đau thương thành nội lực để sống, từ nỗi khổ của mình mà biết yêu thương

người khác nhiều hơn, không muốn người khác phải khổ đau như những gì mình từng trải.

Có thể nói, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, đã xây dựng được những nhân vật điển hình

như nhân vật ông Hai trong truyện Tiếng bước chân của Anh Động, nhân vật người chồng

trong Khoảng trống của Hoàng Dương Thu Anh, hai người phụ nữ trong truyện Trên mái

nhà người phụ nữ của Dạ Ngân, anh nông dân Bình và nhiều nhân vật trong Quan gác cửa

của Vũ Đức Nghĩa… Họ là những nhân vật điển hình cho những nhóm người không nhỏ

trong xã hội: người thất chí, kẻ bội bạc, tham lam, người nhẹ dạ, người thèm khát yêu

thương,…

Tóm lại, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, đã sử dụng khá thành công một số nghệ thuật

xây dựng nhân vật như: Miêu tả mâu thuẫn, xung đột; ngoại hình; hành động và trạng thái

cảm xúc.

3.3.Nghệ thuật sử dụng phương ngữ Nam bộ

Tìm hiểu ngôn ngôn ngữ văn xuôi nói chung và ngôn ngữ truyện ngắn nói riêng là công

việc phức tạp. Tuy vậy, nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn trong một giai đoạn, ở một vùng

đất có vị trí địa lý đặc trưng - vùng sông nước không thể không đề cập đến ngôn ngữ.

Mỗi loại hình nghệ thuật có một phương tiện diễn đạt đặc thù: Với hội họa là màu sắc,

đường nét; với âm nhạc là âm thanh, tiết tấu; với điêu khắc là hình khối…, còn văn học là

ngôn ngữ. Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học, vì vậy văn học được gọi là

loại hình nghệ thuật ngôn từ. ‘‘Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học’’[186, tr.215]. Tiếp

xúc với tác phẩm văn học trước hết là tiếp xúc với ngôn ngữ. Qua ngôn ngữ, nhà văn biểu

đạt tư tưởng tình cảm của mình cũng như khắc họa bức tranh của đời sống vào tác phẩm.

Sự phát triền của ngôn ngữ phải do những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá… quy

định.

Nam bộ là vùng đất chỉ mới hình thành hơn 300 năm nay. Với điều kiện về vị trí địa lý,

khí hậu và thiên nhiên ở Nam bộ đã góp phần làm nên những khác biệt về ngôn ngữ cũng

như cách phát âm. Nhiều dân tộc sinh sống trên cùng một lãnh thổ nên có sự ảnh hưởng và

giao thoa ngôn ngữ.

Người Nam bộ không quá chú trọng đến hình thức, không câu nệ, khắt khe trong giao

tiếp, nên cách phát âm có phần thoải mái, tự nhiên…

Tóm lại, phương ngữ Nam bộ hiểu một cách đơn giản là tiếng Việt của người Nam bộ,

nhằm phân biệt với tiếng Việt của các vùng miền khác trên các phương diện: Ngữ âm, từ

vựng, ngữ pháp. Phương ngữ Nam bộ là ảnh hưởng của việc phân chia lãnh thổ, cũng như

môi trường sông nước.

Hầu hết lực lượng sáng tác truyện ngắn ở ĐBSCL sinh ra, lớn lên hoặc có thời gian gắn

bó lâu dài với vùng đất này. Do vậy, họ chịu ảnh hưởng bởi vốn sống, văn hóa cũng như lời

ăn tiếng nói của người dân nơi đây.

Vì vậy, ngôn ngữ thể hiện chủ yếu trong truyện ngắn ĐBSCL là phương ngữ Nam bộ.

Đặc trưng phương ngữ Nam bộ thể hiện trong truyện ngắn ĐBSCL trên nhiều bình

diện. Luận án tập trung nghiên cứu nghệ thuật sử dụng phương ngữ Nam bộ qua lớp từ biến

thể ngữ âm ; lớp từ chỉ địa danh ; lớp từ chỉ sự vật, hiện tượng ; lớp từ chỉ tên người và lớp

từ khẩu ngữ.

3.3.1. Nghệ thuật sử dụng lớp từ biến âm

Sử dụng lớp từ biến âm, các tác giả truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 đã thành công trong

việc thể hiện chân dung con người Nam bộ. Họ là những con người bình dị, chân chất,

nhưng tâm hồn đầy ắp tình quê, tình người và luôn có niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống.

Với mỗi vùng miền thì sẽ có những lớp từ biến âm khác nhau, phù hợp với lối giao tiếp

và sinh hoạt ở nơi đó. Lớp từ biến âm đã tạo được nét riêng trong ngôn ngữ của người Nam

bộ. Viết về con người Nam bộ, nhà văn đã khai thác khía cạnh này để thể hiện tính chân thật,

mộc mạc của con người ở vùng đất nay.

Chỉ có người Nam bộ mới nói ‘‘thật’’ thành ‘‘thiệt’’, ‘‘này’’ thành ‘‘nầy’’, ‘‘tôi’’ thành

‘‘tui’’, ‘‘chứ’’ thành ‘‘chớ’’, ‘‘vậy’’ thành ‘‘vầy’’,...

Ví dụ: Đoạn văn trong Cải ơi, Nguyễn Ngọc Tư kể về sự việc ăn trộm trâu: ‘‘Ông Năm

đi trộm trâu chớ đâu. Ông lội bộ trăm cây số trong mưa sụt sùi vô trong xóm, ghé chỗ lò mổ,

dắt đôi trâu đem đi. Ông làm gọn gàng như với đôi trâu ở nhà. Sáng ra ông trở lại, ghé đúng

ngôi nhà có hàng so đũa cặp mé lộ, ông thấy một đám người đang đang tao tác đứng ngồi,

ông hỏi mua trâu hôn, tui kẹt tiền đem bán đây nè. Chủ nhà chạy ra la lên, trời ơi, bắt ổng

lại, ổng ăn trộm trâu của tôi’’[171, tr.15].

Sử dụng biến âm (chớ, tui), làm cho cảnh giả bộ ‘‘trộm trâu’’ để tìm con của ông Năm

như thật hơn, gần với thực tế cuộc sống hơn.

Ở Cánh đồng bất tận, qua biến âm (vầy, thiệt), người đọc cảm nhận được sự thật lòng

của NV chị: ‘‘Chị cười, bị đánh hoài riết cũng quen. Tôi hỏi chị làm gì để bị đánh. Chị cười

‘‘làm đĩ’’. Rồi có lẽ chị áy náy vì quá sỗ sàng với chúng tôi, chị vò đầu Điền ‘‘chắc mấy cưng

không hiểu đâu. ‘‘Ăn trên mồ hôi nước mắt của người ta nên lâu ngày cũng bị đánh đáng

đời, hen mấy cưng?’’.‘‘Mà hên nghen, nhờ vậy mà gặp được mấy cưng, được ở chung vầy,

vui thiệt vui...’’[171, tr.161].

Và chính sự thực lòng ấy, mà cô gái bán thân nuôi miệng còn nhận được một chút cảm

thông của người đọc.

Ở truyện ngắn Huệ lấy chồng, sử dụng biến âm, Nguyễn Ngọc Tư thể hiện được suy

nghĩ rất thật của người con gái bị người yêu phụ bạc: ‘‘Thi đừng có nhìn tui trân trối vậy, tui

cũng phải lấy chồng chớ, phải hôn. Mà anh nhớ đối xử với người ta tốt như đối xử với tui

vậy nghen’’[171, tr.46].

Đây không phải là lời trách hờn, mà là phân trần, nhắc nhở, thể hiện sự bao dung của

người con gái.

Biến âm cũng góp phần thể hiện chính xác tâm lý nhân vật. Chỉ một câu ngắn gọn, tác

giả sử dụng hai biến thể, đã thể hiện sự hồn nhiên, ngây thơ của nhân vật: ‘‘Tại bác tư biểu

ai cũng phải đi khám cho bác sĩ vui, chú không bỏ về thành phố. Con đâu có bịnh tính bắt

con còng kẹp chơi...’’[171, tr.21].

Có thể nói, qua lớp từ biến âm, người đọc sẽ cảm nhận được nhân vật trọng truyện ngắn

ĐBSCL sau 1975 rất gần gũi với cuộc sống đời thường. Từ ngoại hình, ngôn ngữ, cho đến

cách ứng xử đều mang đậm chất Nam bộ. Và yếu tố hư cấu trong tác phẩm dường như mờ

đi.

Ngoài ra, lớp từ biến âm cũng được sử dụng trong ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ

nhân vật đã tạo được phong cách cho từng nhà văn, cũng như chất giọng Nam bộ của các tác

giả truyện ngắn ĐBSCL.

Quan sát đoạn trích trong truyện Thương quá rau răm của Nguyễn Ngọc Tư: ‘‘Mới đầu

thì Văn không biết, nên thấy bà cụ chống gậy lại bảo bác sĩ coi bệnh dùm, Văn hỏi bà bị gì,

bà cười, tui suy nghĩ chưa ra. Thuốc hết, huyện chưa kịp gởi, Văn áy náy, tần ngần đưa mấy

thứ B1, B6 cho con bệnh đau bao tử, uống xong, ông nầy phởn phở đứng dậy, tươi rói bảo,

trời ơi, thuốc chú mầy quá chừng hay’’[171, tr.20-21].

Do sử dụng biến âm (gởi, tui, nầy) mà lời kể chuyện tự nhiên, không cầu kỳ tạo cho

người đọc cảm giác như đang trực tiếp nghe người Nam bộ kể chuyện.

Tóm lại, nghệ thuật sử dụng phương ngữ Nam bộ qua lớp từ biến thể ngữ âm, các nhà

văn ĐBSCL đã thành công trong việc thể hiện chân dung người Nam bộ. Họ là những con

người bình dị, chân chất, những tâm hồn đầy ắp tình quê, tình người.

3.3.2. Nghệ thuật sử dụng lớp từ chỉ địa danh

Sức mạnh của một phương ngữ không chỉ thể hiện ở cách phát âm như thế này hoặc

thế khác mà chủ yếu thể hiện ở bình diện ngữ nghĩa. Lớp từ chỉ địa danh mà các nhà văn sử

dụng trong truyện là những địa danh có thật hoặc lớp từ chỉ địa danh gắn với sông nước cũng

như lối tư duy của người dân ĐBSCL.

Khảo sát truyện Tiếng gọi ngàn - Đoàn Giỏi; Lý lẽ của anh Sáu Bợ - Đinh Quang Nhã;

Một dòng chảy miết, Lương, Cuối mùa nhan sắc -Nguyễn Ngọc Tư,... chúng tôi thấy lớp từ

chỉ địa danh gắn với sông nước xuất hiện khá nhiều: “Sông Cái Lớn”[169, tr.113], “Đập

Sậy”[169, tr.114], “Cái Bần”[183, tr.444], ấp Kèo, Nèo[183, tr.156], “Cầu Gành Hào”[169,

tr.99], “Vịnh Dừa”[169, tr.37], “Cù Lao Mút Cà Tha”[167, tr.17], “Gò Cây Quao”, “Kinh

Nhà Lầu”[169, tr.80], ‘‘kinh Thợ May’’[166, tr.48], ‘‘Rạch Giồng Ông’’ [166, tr.52]…‘‘Lần

này tôi không về thẳng vàm Rạch Cui nơi tôi có miếng thổ cư nhỏ nhắn làm chỗ yên nghỉ

vĩnh viễn cho cha mẹ như thường lệ. Đò ghé bến Cái Giữa, tôi cuốc bộ thêm một chặng

đường nhơ nhớp sình bùn, qua một nhà máy xay xát, thêm một cây cầu khỉ tới nhà chị

tôi’’[182, tr.282]. Ở đoạn trích trên (Miên man miền quê chị - Nguyễn Thanh), qua những địa

danh ‘‘vàm Rạch Cui’’, ‘‘bến Cái Giữa’’, ‘‘cầu khỉ’’ người đọc hình dung ra những địa danh

rất đặc trưng ở vùng nông thôn ĐBSCL.

Đưa các địa danh có thật vào trong tác phẩm góp phần khắc hoạ đậm nét đặc trưng bản

sắc văn hoá của vùng ĐBSCL. Những địa danh quen thuộc như Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần

Thơ, Cà Mau, An Giang, Bạc Liêu, Kiên Giang,…nhắc nhiều trong truyện, tạo cho người

đọc cảm giác quen thuộc, gần gũi. ‘‘Bác gái tôi là người Tiều lai ở Bạc Liêu, mồ côi cha từ

nhỏ’’, ‘‘chị Châu mất lúc tôi đang trôi bình bồng ở vịnh Thái Lan trên một chiếc ghe đi biển

chạy lòn lòn giữa các đảo nhỏ của quần đảo Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang’’ (Vết thương thứ

mười ba - Trang Thế Hy). Nhưng đôi khi địa danh trong truyện chỉ là cảnh sắc đặc trưng

được giới thiệu qua những sản vật, phong tục, lễ hội. Chẳng hạn, khi nói về núi Sập với điệu

múa Sa-dăm, người ta sẽ liên tưởng đến vùng đất An Giang tươi đẹp. Khi nhắc đến ruộng

muối, những đêm trăng của hội Lăng cá ông, người ta nhận ra đó là Thạnh Phú ở tỉnh Bến

Tre. Cũng có khi địa danh trong truyện gắn với đặc trưng địa lý, truyền thống lịch sử.

Như đến rẻo đất tận cùng của Tổ quốc ở phía Nam, chúng ta gặp một cái tên rất đổi Việt

Nam: Xóm Mũi. Tên gọi mang dấu ấn rõ nét của lớp người đi trước mở cõi. Và cũng có địa

danh khi nhắc tới, người ta không thể lẫn lộn với một vùng miền nào khác. Điển hình như

địa danh “Cù lao mút cà tha” (Mối tình năm cũ – Nguyễn Ngọc Tư), gợi nên một hình ảnh

rất Nam bộ, đưa liên tưởng của người đọc đến một nơi xa xôi, hẻo lánh của một vùng sông

nước thuộc tỉnh Cà Mau.

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy cách gọi tên nêu trên thể hiện thói quen và tư duy

của người Nam bộ. Kí hiệu đặt tên các địa danh dựa vào tính chất nổi bật của sự vật, hiện

tượng hoặc giá trị địa lý/lịch sử của vùng đất.

Lớp từ địa danh còn phản ánh cuộc sống, số phận của người vùng sông nước. Dòng nhớ

của Nguyễn Ngọc Tư, có một địa danh chợ “Ba bảy chín”, cái tên nghe ngồ ngộ, chỉ đơn

giản có ba con số. Nhưng tại sao là ba, bảy, chín mà không phải là những con số khác? Rõ

ràng, đây không phải là sự đánh số thông thường, mà nó còn có ý nghĩa biểu niệm sâu xa. Nó

muốn nói đến số phận lênh đênh, vất vả của những người dân du mục, sống ở trên ghe, lấy

ghe làm chốn nương thân.“Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh” là cách nói của người dân sông

nước.

3.3.3. Nghệ thuật sử dụng lớp từ chỉ sự vật, hiện tượng

Các nhà văn ĐBSCL đưa vào tác phẩm của mình khá nhiều lớp từ, ngữ phản ánh địa

hình, cây cối, sông nước như: sông, rạch, xẻo, kinh, mương, chợ nổi, mùa nước nổi, ghe,

xuồng, chòi, bình bát, bông súng, lục bình, mặt rẫy sủi phèn…

Trong lời đề từ cho truyện ngắn Nhớ sông, Nguyễn Ngọc Tư đã tái hiện cảnh sinh hoạt

của chợ nổi: ‘‘Tôi thường đứng trên cầu Gành Hào, nhìn về chợ nổi, ở đó có thể trông thấy

một dãy ghe rập rờn xao động cả mặt sóng, những cái chân vịt gác chỏng lên loang loáng

dưới mặt trời’’[171, tr.112].

Những hiện tượng vùng sông nước cũng được phản ánh trong truyện như: Con nước

kém, nước rong,…‘‘Bây giờ hỏi lại, Giang nói không có con kinh, con rạch nào mà ghe chưa

đi qua,… xuôi dòng, ngược dòng, con nước kém, con nước ròng’’ (Nhớ sông - Nguyễn

Ngọc Tư). Đất phèn cũng là hiện tượng thổ nhưỡng đặc trưng ở ĐBSCL ‘‘mặt đất sủi lên

màu phèn, chỗ đậm, chỗ nhạt như màu máu loang lổ’’ (Đất không cưu mang - Bích Ngân).

Không chỉ lớp từ gọi tên, chỉ hiện tượng, mà lớp từ ngữ biểu thị nội dung thông báo

được sử dụng trong truyện tạo ra nét riêng của phương ngữ Nam bộ. Chẳng hạn, chỉ sự hoạt

động ta có những từ như: thẩy, giang, ló, rinh, xốc (đỡ, nâng), lủi, rành, rầy, thòm thèm, rờ

rẫm, biểu, ngó, ngoắc, bu, chỏi, rị mọ …Những tính từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật

như: bự, mùi, chồm hỗm, lãng nhách, mừng húm, non choẹt, teo héo, ướt rượt, vòng vo, y

chang... Những phó từ chỉ mức độ thường thể hiện cái riêng của người Nam bộ nhiều hơn

như: Một cục, một chập, một hồi, một nước, cái độp, phải dè, hết trọi,… So sánh các lớp từ

trên với lớp từ toàn dân, chúng ta nhận thấy phương ngữ thể hiện rõ ở cách sử dụng riêng và

thói quen của người Nam bộ.

Ví dụ 1: “Chọc cho nó khỏi dám ngó mặt mình mới hả dạ chớ!” (Những người hiện đại

- Nguyễn Thị Thanh Minh)[183, tr.352].

VD2: “Người phụ lái thẩy cái túi xách to cộ của tôi lên trước rồi mới xốc nách tôi nhẹ

nhàng rinh lên bờ” (Quê ngoại – Thu Trang)[183, tr.615].

Ở ví dụ 1, từ “ngó ” xuất phát từ từ toàn dân, có nghĩa là nhìn, trông nhưng người

Nam bộ quen dùng là “ngó”. Tương tự như thế, ở ví dụ 2, khi ném một vật gì đó đến một

đích nhất định, người Nam bộ thường dùng từ “thẩy” và khi mang một vật nặng di chuyển

đến chỗ khác[151, tr.1037], phương ngữ Nam bộ dùng từ “rinh”.

Ngoài những đặc điểm trên, khảo sát ngôn từ trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975,

chúng ta còn thấy xuất hiện một lớp đơn vị gồm nhiều từ kết hợp với nhau thành những tổ

hợp từ, những quán ngữ, được người dân Nam bộ nói thành thói quen như: mút cà tha, khoái

chí tợn, tít thò lò, dơ cảy dơ hày, lẹ mồm lẹ miệng, ngọt gắt củ kiệu…Những quán ngữ này

được sử dụng trong những tình huống muốn nhấn mạnh tính chất, hoạt động của các sự vật

hiện tượng.

Ví dụ: “ - Tức cười thật. Ừ ! sao hồi đó anh không theo Nhiệm nhỉ?

- Rõ ngớ ngẩn, anh mải mê tít thò lò con Lạc, đâu cần biết Nhiệm cứ đẩy

người ta cho chàng Thông vồ hoài à” (Vài ngày ở Cần Thơ – Mường Mán)[183, tr.331].

Hoặc đoạn văn:

- Ối làng xóm ơi, nó giết tui!

- Cho mày chết luôn, ai bảo mày đánh con tao!

Rồi thì những tiếng bịch, đụi, tiếng thỏ hào hển. Hai người đàn bà bấu chặt nhau. Quay

cuồng không ai biết đường nào mà can nữa. Đám con nít xúm đông, xúm đỏ có vẻ khoái chí

tợn…”(Xóm nghèo – Nguyễn Thị Ngọc tuyết)[183, tr.673].

ĐBSCL là nơi sinh sống của nhiều dân tộc ít người. Trong đó người Hoa và Khmer

chiếm đại đa số. Quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc Việt, Hoa, Khmer đã

phát sinh hiện tượng giao thoa ngôn ngữ trong giao tiếp. Hiện tượng giao thoa ngôn ngữ

trong truyện ngắn ĐBSCL thể hiện nhiều ở bình diện từ ngữ. Người dân vùng ĐBSCL đã sử

dụng một số từ ngữ vay mượn từ các dân tộc cùng sống chung trên địa bàn, chủ yếu là dân

tộc Hoa và Khmer. Nhiều từ ngữ xuất hiện lặp đi lặp lại nhiều lần như: thốt nốt, cà ròn, đi

ênh, bò hóc, số dách, miệt, ý (dì), chế (chị),... Giàu rủ:‘‘Chế hai ngủ chung với em một đêm

nghe’’ (Chuyện của Điệp – Nguyễn Ngọc Tư).

Hiện tượng này vừa thể hiện được bản sắc văn hóa Nam bộ; vừa làm giàu, làm sinh

động thêm vốn từ ngữ của dân tộc.

Trong ngôn ngữ giao tiếp của nhân vật, nhà văn thường sử dụng lớp từ chuyển nghĩa.

Các lớp từ này vốn là từ toàn dân theo nghĩa gốc nhưng trong quá trình sử dụng, nó phát sinh

thêm nghĩa mới. Lớp nghĩa mới hay nghĩa bổ sung mang tính lâm thời, do người Nam bộ sử

dụng trong những ngữ cảnh nhất định. Ví dụ: Chơi, ăn, ngon, ngọt, chạy, quậy, độp, êm, phơi

xác…

Quan sát đoạn văn sau, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó:

“Lại có mấy năm chú lưu lạc ra vùng biển làm nghề thẻ mực, suốt ngày ngồi dang

nắng trên chiếc thuyền thúng lòng cứ nơm nớp lo sợ thằng chủ ghe quên rước về coi như

phơi xác luôn trên biển…” (Ông cá hô - Lê Văn Thảo)[183, tr.587].

Hoặc đoạn văn sau đây:

“Chiếc ghe của chú Sáu Dương bỗng vùng lên dữ dội nhô đầu vượt lên trên, càng lúc

càng bỏ xa chiếc ghe đi kế. Tôi bật thét lên: “ Mình ăn rồi chú Sáu ơi! Hoan hô chú Sáu!”

và tôi chạy tốc trước đến khán đài”

‘‘... Một bữa có người khách vui miệng nói

- Ở đây có đào kép đủ cả, ta diễn tuồng coi đi.

Đào Hồng Điệp mím môi có vẻ giận bỏ đi vô trong. Chú sáu Dương cười nói.

- Thôi mệt rồi, giang hồ phí sức rồi, lo mầm ăn thôi’’(Ông cá hô – Lê Văn Thảo)[183,

tr.571].

Ở hai đoạn văn trên từ “phơi xác” và từ “ăn” được dùng theo lối chuyển nghĩa. “Phơi

xác” không hiểu theo nghĩa gốc mà nên hiểu theo nghĩa phái sinh, nghĩa là chết; nghĩa

chuyển của “ăn” là thắng. Tương tự nghĩa chuyển của ‘‘mần ăn’’ là làm việc để sinh nhai.

Lối chuyển nghĩa này vừa giúp cho câu văn giàu hình ảnh, âm thanh, gần gũi dễ hiểu,

vừa thể hiện được sắc thái biểu cảm của người dân Nam bộ. Nhờ lớp từ ngữ này, truyện ngắn

ĐBSCL sau 1975, không chỉ phản ánh được đặc điểm vùng miền, cuộc sống ở miền đất Nam

bộ mà còn đi sâu vào đời sống tinh thần để phản ánh những ngóc ngách tâm tư của người

dân vùng sông nước.

3.3.4. Nghệ thuật sử dụng lớp từ chỉ tên người

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng tôi thấy tên các nhân vật được đặt theo

một ý nghĩa nào đó: Út Thơm trong “Nhà không có đàn ông” của Dạ Ngân; Tư Phèn, Ba

Đặng trong “Chiều nay có trận tennis hay” của Nguyễn Linh; Lão Ơn, Muốn trong “Ước

mơ buồn” của Đỗ Tuyết Mai; Trùm Sò, Xã Ngược, Út Lườn trong “Chiếc ghe lườn” của

Đặng Tấn Đức; Hết trong “Hiu hiu gió bấc”; Giang, Hiện trong “Nhớ sông” của Nguyễn

Ngọc Tư…

Đặt tên Lườn trong “Chiếc ghe lườn” bởi vì cả đời ông luôn gắn với chiếc ghe lườn.

Tên Hết trong “Hiu hiu gió bấc” chỉ đơn giản muốn nói rằng anh ta làm cái gì cũng hết

mình: chịu thương, chịu khó hết mình; hiếu thảo hết mình; yêu hết mình. Anh Tư Nhớ trong

“Chiều vắng” có cái tên gắn liền với tâm tư tình cảm của mình. Đó là cả một đời nhớ vợ,

thương con của Tư Nhớ. Ở truyện ngắn Ước mơ buồn của Đỗ Tuyết Mai, NV Hoàng Ơn đã

đặt tên con của mình: ‘‘Sau khi lãnh trọn loạt miểng nát một bên mặt và hư hết một con mắt

ở trận Cái Đôi Vàm, Hoàng Ơn đâm thù ‘‘Việt Cộng”. Khi vợ anh sinh đứa con đầu lòng anh

đặt cho nó cái tên Nhớ’’[183, tr.315]. Hay Tư Chạy trong Miên man miền quê chị - Nguyễn

Thanh: “Nhổ mạ, vác lúa, lợp nhà... việc gì anh cũng làm tất. Rất nhanh và gọn ghẽ. Và do

thói quen làm nhanh, đi nhanh, nói nhanh nên từ cái tên Tư Tâm do cha mẹ đặt để biến ra

“Tư Chạy!”[182, tr.289].

Đặc biệt, trong truyện ngắn ĐBSCL, dấu ấn sông nước tác động cách đặt tên người,

như: Thuỷ, Giang, Lục Bình...

Ông Nhâm (Ánh mắt - Trầm Nguyên Ý Anh ), đã giả thích cho con mình tại sao đặt tên

là nó là Lục Bình: “Tại con lớn lên ở thành nên không biết bông lục bình nó đẹp tới chừng

nào. Mấy thứ Cúc, Huệ, Hồng gì đó làm sao đẹp bằng nó”; “Con Lục Bình cứ ngẩn người

ra trước màu tím phơn phớt và vẻ đẹp mộc mạc mà không kém phàn quyến rũ của loài hoa

đồng nội này... Từ đó, nó không còn thắc mắc về cái tên Lục Bình quê mùa kia...”[196,

tr.355].

Trong gia đình, người Nam bộ có thói quen đặt tên theo thứ, tạo cảm giác gần gũi,

thân mật và dễ thương: Chín Vũ, Sáu Đèo, Thầy Bảy, Bé Hai, Ông Mười, Sáu Bợ…

‘‘Chợt nhận ra tôi, chị lên tiếng: ‘‘Cậu Út Thắng về đó à! Đi đò hồi nào mà sớm bửng,

hay vậy?’’ (Miên man miền quê chị - Nguyễn Thanh).

Có thể nói, các tác giả truyện ngắn đã sử dụng hiệu quả phương ngữ Nam bộ qua lớp từ

chỉ tên người thể hiện được sự mộc mạc, chân thành, không nặng về quy tắc của người Nam

bộ.

3.3.5. Nghệ thuật sử dụng lớp từ khẩu ngữ

Khẩu ngữ mang sắc thái biểu cảm cao, vừa quen thuộc, vừa bộc lộ được tình cảm của

người nói. Cách xưng hô của người Nam bộ gần với lời ăn, tiếng nói hằng ngày: tui, chế, tụi

bây, thằng chả, mầy, bay,.. thể hiện sự thẳng thắn, bộc trực, nhưng thoải mái trong giao tiếp.

Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn vận dụng khá thành công lớp từ khẩu ngữ vào

ngôn ngữ giao tiếp của nhân vật:

‘‘- Còn tập chép bài ca, mầy đem theo không?

- Ừ, đem theo, chút nữa tao quên rồi’’ (Huệ lấy chồng)[171, tr.39].

‘‘Kệ thằng chả má ơi’’[171, tr.70]. ‘‘Tía đi nghen’’ [171, tr.108], ‘‘Tính nó cũng cứng

đầu, cứng cổ hệt bây’’ (Nhà cổ)[171, tr.82].

‘‘Bây coi kìa”, “Thì bữa nào nội biểu ba lấy ghe chở nội đi, mà phải con lội hay con lội

cõng nội ra ngoài”, “gần thí mồ chớ gì” (Ngọn đèn không tắt)[166, tr.12]...

Nghệ thuật xây dựng nhân vật là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá sự

thành công của tác phẩm. Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng tôi thấy hầu hết các

nhà văn ĐBSCL đã vận dụng khá thành công lớp từ khẩu ngữ để miêu ngoại hình, diễn tả

tâm lí, tâm trạng, thái độ,... của nhân vật, mà tiêu biểu là Nguyễn Ngọc Tư.

Ở truyện Ngọn đèn không tắt, Tươi có nước da ‘‘đen giòn’’, nước da của bất cứ một cô

gái miền biển nào. Nước da đen giòn là sự pha trộn giữa cái nắng và vị mặn của nước, là

biểu trưng cho nét đẹp rất riêng của những cô gái vùng biển. ‘‘Tới buổi họp thì cô gái nhỏ xúi

trẻ măng ngồi cuối bàn đằng này được phát biểu. Cũng tại cô ngồi khuất sau cây phát tài

nên khó thấy cô. Cô có nước da đen giòn của miền biển, đôi mắt mở lớn bẽn lẽn’’[166,

tr.16].

Ở truyện Thương quá rau răm, khẩu ngữ ‘‘ốm dữ dằn’’, người đọc nhận một ông già

ốm đến mức chỉ còn da bọc xương. ‘‘Đêm đó, thằng Thàn ôm ông già Năm ngủ, nó kêu lên,

tía ốm dữ dằn thiệt, xương tía cấn con đau quá chừng. Ông già cười, ờ, chê mai mốt không

có mà ôm nghen con’’ (Cải ơi)[171, tr.14-15].

Có thể nói, sử dụng lớp từ khẩu ngữ để miêu tả ngoại hình, nhà văn sẽ tạo được nhiều

nhân vật gây ấn tượng mạnh cho người đọc.

Bên cạnh đó, lớp từ khẩu ngữ thể hiện trong ngôn ngữ nhân vật còn có tác dụng nêu lên

tâm trạng, thái độ của nhân vật trong những ngữ cảnh nhất định:

‘‘Má à, năm nay má bao nhiêu tuổi?

A, má già rồi.

Má già rồi, ráng thương chồng má đi”[166, tr.58].

Ráng thương thể hiện thái độ của Điệp (Chuyện của Điệp) đối với má vừa gần gũi,

quan tâm, vừa là sự xa cách.

Qua lớp từ khẩu ngữ, tâm lí của nhân vật thể hiện tinh tế, sắc sảo: “Ba tôi ngồi thẫn

thờ. Con vịt trong giỏ để góc nhà thò đầu ra kêu cạc cạc. Lâu lắm mới lên tiếng”[166, tr.36].

Khẩu ngữ ‘‘ngồi thẫn thờ’’ diễn tả tâm trạng của NV ba tôi (Nỗi buồn rất lạ), khi nghe ông

Tư Đờ bị bắt. Và những lời nói của con trai ông đã làm thất vọng về một người bạn trong

chiến trường xưa. Ông không thể tin vào chính mình nữa? Con người anh hùng như thế mà

bây giờ trở thành tội phạm kinh tế sao?

Khẩu ngữ còn được sử dụng để miêu tả tính cách nhân vật. Ở truyện Cánh đồng bất tận,

qua khẩu ngữ ‘‘đon đả’’, đã diễn tả thái độ mạnh dạn, động tác thành thạo trong việc “hạ

gục” đàn ông bằng những câu nói đưa đẩy: “Chị đon đả, chèo kéo hai người đàn ông lạ về

phía mình: mấy anh thương em với, nỡ nào để cả nhà em chết đói...”[171, tr.202].

Ở truyện Thổ Sầu, sự phản kháng của anh Hai (tía tôi) đối với ông trưởng ấp không thể

hiện bằng hành động mà qua nét mặt, cử chỉ ‘‘ngồi im re’’, không ‘‘thưa thốt’’, ‘‘phân bua’’

gì. ‘‘Vì thái độ đó mà tía tôi bị ông trưởng xóm phê bình dữ dội. Chòm tóc thưa của ông chỉ

phơ phất ngang vai tôi, tay chém vào không khí liên tục. Trưởng xóm nói: Xóm mình không

tài nguyên đất cát gì hết, chỉ sống nhờ du lịch, không kéo khách tới thì thôi, sao anh hai lại

đuổi khách đi. Tía tôi ngồi im re, không thưa thốt, không phân bua gì, nhưng ánh mắt lầm lì

khinh khỉnh’’[172, tr.94].

Ngoài ra, khẩu ngữ cũng được vận dụng trong ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ miêu tả

đem lại hiệu quả cao. Chỉ bằng khẩu ngữ “coi giò coi cẳng” (Chuyện của Điệp), người đọc

cảm nhận được câu chuyện thực hơn, như chính mình đang trong hoàn cảnh của nhân vật.

‘‘Hồi mới vào đoàn, dạo diễn kiêm trưởng đoàn coi giò coi cẳng Điệp xong giao cho vai

Nghi Xuân trong tuồng Phạm Công Cúc Hoa, lúc đó kép Linh Long thủ vai Tấn Lực. Sáu

năm rồi, mấy vai diễn của Linh Long bây giờ Điệp toàn kêu bằng cha! Cha! Thấy buồn

lắm’’[166, tr.44].

Việc sử dụng lớp từ khẩu ngữ làm phương tiện miêu tả, làm cho người đọc có cảm giác

như ngữ cảnh trong truyện quen thuộc như ở ngoài đời vậy. Ở truyện ngắn Lý sang sông,

Nguyễn Ngọc Tư miêu tả mùa gió bấc về thật sinh động: ‘‘Bấc về, như thể trong đời này chỉ

còn gió. Gió lạnh căm căm mà khô nẻ môi người ta. Da tôi mốc cời. Tàu chạy lừ lừ dọc theo

dòng sông, những quãng không có nhà, sậy mọc thành. Những bông sậy chín mềm, trắng

phau phau. Đã nhièu bông lìa cành, trùng trình bay. Nước mặm rít da. Nghe gió này là mùa

cưới đến’’[166, tr.73]. Hình ảnh bông sậy ‘‘trắng phau phau’’, là những hình ảnh gần gũi,

quen thuộc ở ĐBSCL.

Hay ở truyện ngắn Cái nhìn khắc khoải cũng chỉ hai từ “cũ mèm”, thì không cần giải

thích gì thêm, người đọc đã hình dung ra căn nhà cũ mức độ như thế nào?: ‘‘Ở căn nhà lá cũ

mèm nầy, ông có nhiều kỉ niệm, mõi khi trở về nó lại chảy thành dòng dịu ngọt trong ông. Nó

chảy khẽ giữa những mạch máu’’[171, tr.53].

Có thể nói, lớp từ khẩu ngữ được sử trong truyện ngắn ĐBSCL, làm cho văn phong

trong tác phẩm trở nên mộc mạc, giản dị, chân thực và gần với cuộc sống và tâm tư, tình

cảm, tư duy của người dân vùng sông nước. Và cũng qua lớp từ khẩu ngữ, nhân vật đã bộc lộ

tính cách, còn nhà văn thể hiện thái độ, tình cảm của của mình về những vấn đề đặt ra trong

tác phẩm.

Tóm lại, tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng ta dễ nhận ra một nét đặc trưng

nổi bật đó là cách sử dụng phương ngữ Nam bộ qua lớp từ biến âm, lớp từ chỉ sự vật, hiện

tượng, lớp từ chỉ địa danh, lớp từ chỉ tên người, lớp từ khẩu ngữ. Nhưng nét đặc trưng nhất

của phương ngữ Nam bộ trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, đó là sự mộc mạc, chân chất,

bộc trực mà luôn thắm đượm nghĩa tình. Cả người viết sinh ra lớn lên ở ĐBSCL và những

người viết từ nhiều miền quê khác nhưng sống gắn bó với vùng đất này đều sử dụng phương

ngữ Nam bộ hợp lý để đem lại hiệu quả nghệ thuật cao cho tác phẩm của mình. Ngôn ngữ kể

chuyện, ngôn ngữ đối thoại được sử dụng đều rất gần gũi với cách nghĩ, cách sống, cách cảm

nhận của con người ĐBSCL.

Từ ngôn ngữ miêu tả trong truyện, người đọc hình dung được vẻ đẹp trữ tình và giàu

tiềm năng của một miền quê chằng chịt kênh rạch, những khu vườn trái cây sum sê, những

cánh đồng lúa mênh mông,...Với khả năng và sức mạnh của ngôn từ được nhà văn sử dụng,

người đọc nhận ra phần nào nét đặc điểm nổi bật về cảnh quan địa lý, lịch sử, văn hoá và tâm

hồn tính cách của con người vùng đất này.

3.4. Giọng điệu

Giọng điệu với tư cách là một trong những yếu tố của hình thức tác phẩm văn học đã

thể hiện được thái độ, tư tưởng, tình cảm và quan niệm thẩm mỹ của nhà văn. Giọng điệu

còn là cách thể hiện lập trường xã hội, phong cách nhà văn và có tác dụng truyền cảm cho

người đọc. ‘‘Trong giọng thể hiện cả nhận thức, thái độ, lối sống và cả nội lực của nhà văn

(vì vậy giọng nhiều khi cũng có nghĩa là‘‘hơi văn’’, ‘‘văn khí’’. Đồng thời giọng cũng là cái

không lẫn được. Chính tính tổng hợp và độc đáo ấy làm cho giọng trở thành nhân tố mang

phong cách rất rõ. Giọng vừa liên kết các yếu tố hình thức khác nhau, làm cho chúng cùng

mang một âm hưởng nào đó, cùng có chung một khuynh hướng nhất định, vừa là chỗ dựa

chính để các yếu tố của tác phẩm qui tụ lại và định hình, thống nhất với nhau theo kiểu nào

đó, trong chính thể giọng ấy mỗi yếu tố hiện rõ hơn, đầy đủ hơn, thậm chí mới mẻ hơn’’[163,

tr.152].

Có nhiều phương cách biểu hiện của giọng điệu, như: về phương diện ngữ âm: trong,

đục, nhanh, chậm,... về phương diện phong cách: phê phán hay ca ngợi, trân trọng hay mỉa

mai...Vì vậy, giọng điệu trong tác phẩm văn học vừa mang tính tổng hợp tiêu biểu, vừa độc

đáo, cụ thể. Nó giúp người đọc nhận ra tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, dụng ý nghệ thuật của

tác giả. Hay khái quát hơn, nó giúp người đọc nhận ra được giá trị của tác phẩm. ‘‘Giọng

điệu trong tác phẩm rộng hơn giọng văn. Nhiều khi ý tưởng, hệ thống hình tượng, tình điệu

thẩm mỹ cũng góp phần tạo nên giọng điệu nghệ thuật của tác phẩm. Giọng điệu là một

trong những yếu tố để nhận ra giá trị của tác phẩm văn học’’[113].

Như vậy, giọng điệu là một phạm trù của thi pháp học, nó thể hiện được lập trường,

quan điểm cũng như tình cảm và tư tưởng của nhà văn. Đồng thời giọng điệu cũng là một

trong những yếu tố nghệ thuật có ý nghĩa nhất định để tạo nên phong cách của nhà văn. Một

nhà văn có tài thường có một phong cách, giọng điệu riêng, tạo nên nét đặc trưng của mình,

không lẫn vào ai được. Thiếu giọng kể mang dấu ấn phong cách, một truyện ngắn dù có cốt

truyện ly kỳ đến đâu cũng theo thời gian mà mờ nhạt.

Văn học vận động và phát triển theo một quy luật riêng, chịu sự chi phối của hiện thực.

Giai đoạn 1945 - 1975, văn học phải trải qua những năm chiến tranh kéo dài và khốc liệt. Vì

vậy, khi sáng tác, nhiều khi cách nhìn, cánh nghĩ của nhà văn bị chi phối bởi ý thức chính trị.

Với cái nhìn ấy, hiện thực được hiện lên trong tác phẩm ở giai đoạn này là hiện thực xuôi

chiều, là cái đã biết và tràn đầy màu hồng. Gam màu sáng là chủ đạo trong bức tranh hiện

thực, dấy lên trong lòng người đọc niềm tin bất diệt. Hoàn cảnh xã hội sau 1975, đã đổi thay,

văn học đang đứng trước yêu cầu mới. Con người trở về với cuộc sống đời thường. Với tất

cả những nhiêu khê bộn bề của cuộc sống, con người cần phải được nhìn nhận một cách

toàn diện hơn. Cảm hứng phê phán hiện thực về con người trở thành cảm hứng chủ đạo của

văn học thời đổi mới. Vì thế, người ta nhận thấy trong văn học có một tiếng nói độc đáo

là nói rất thật những gì đã chất chứa trong lòng con người: có thể là tiếng nói yêu thương, có

thể là tiếng nói giận hờn, có thể là lời ca ngợi cũng có thể là những lời phê phán…

Cơ sở của giọng điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Cho nên, nghiên cứu đặc điểm

nghệ thuật truyện ngắn, chúng ta không thể xét đến giọng điệu - một phạm trù thẩm mĩ làm

nên giá trị của tác phẩm.

Văn xuôi sau 1975 nói chung, truyện ngắn nói riêng được nhắc đến là thời kỳ đầy biến

động và phức tạp với sự đa dạng, phong phú về giọng điệu. Có thể kể ra những giọng điệu

tiêu biểu như giọng hoài nghi, giọng chất vấn, giọng tự thú, giọng lạnh lùng, sắc cạnh, giọng

từng trải, lọc lõi, suy ngẫm sâu xa, giọng dân giã mộc mạc, giọng trữ tình đằm

thắm…Truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay hội tụ các giọng điệu trên. Tuy mỗi người một

vẻ, nhưng các tác giả đều gặp gỡ nhau ở giọng dân giã mộc mạc, trữ tình đằm thắm, hài

hước và suy ngẫm sâu xa.

3.4.1. Giọng điệu dân dã, mộc mạc

Sau năm 1975, do những thay đổi cơ bản của hiện thực cuộc sống, cảm hứng sáng tác,

tư duy nghệ thuật của văn học cũng có nhiều thay đổi. Tiếp cận hiện thực, các nhà văn đi sâu

vào cuộc sống đời tư, đến gần hơn với số phận, với cuộc đời từng con người cụ thể hơn là

những biểu tượng chung chung. Vì vậy, tác phẩm văn chương cũng tìm đến một thứ ngôn

ngữ mang đậm tính hiện thực hơn, giản dị và đầy chất đời thường. Đa số truyện ngắn

ĐBSCL sau 1975, cũng tuân theo quy luật đó. Điều dễ nhận thấy nhất trong giọng điệu

truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, đó là giọng dân giã mộc mạc. Miêu tả cuộc sống và con

người, các nhà văn đã thể hiện một giọng điệu giản dị, mộc mạc, tự nhiên như chính cuộc

sống một nắng hai sương, như chính hương vị ngọt ngào của hạnh phúc, như chính những

khó khăn thử thách của cuộc đời.

các tác giả có xu hướng thể hiện ngôn ngữ giản dị, đời thường. Không miêu tả và phản

ánh bằng những gì cao siêu, các nhà văn chỉ dùng những lời kể bình dị, tự nhiên, thấm thía

như là cuộc sống. Và chính vì thế văn học gần với cuộc sống hơn, cuộc sống trong văn học

dễ được tiếp nhận hơn. Đây là đoạn miêu tả cuộc sống của một gia đình trong Đất không cưu

mang của Bích Ngân:

“…Mưa nhẹ hạt một chút thì vô số muỗi rừng từ gốc cây, kẻ lá và như từng giọt mưa

sinh ra, vây bủa ba người. Chúng thi nhau bấu chặt vào da thịt, hau háu hút máu. Vừa

chống chọi với lũ muỗi say máu, cả ba người vừa tháo lui. Dưới chân trơn trợt, sình lầy. Hai

mẹ con người đàn bà run rẩy, bấu chân vào mặt đất lần đi từng bước nhưng cứ liên tục chùi

đi, vấp ngã. Ông và hai mẹ con bà Năm phải bíu vào những chang đước tua tủa như muôn

ngàn cánh tay gân guốc bám vào mặt đất. Len lỏi trên những chang đước cơ man nào là ba

khía, còng gió, chạy roàn roạt, vênh vang những chiếc càng xanh đỏ trêu tức sự yếu ớt của

con người…”[183, tr.376].

Bằng giọng điệu chân tình mộc mạc, người đọc như thấy hiện ra trước mắt mình hình

ảnh cuộc sống vất vả, thiếu thốn và còn biết bao khó khăn khác đang vây bủa con người. Tác

giả đã đề cập đến những điều bình thường nhất của cuộc sống. Giọng văn của tác giả như

phơi trải ra những gì vốn có của cuộc sống và chính điều đó làm cho người đọc dễ tiếp nhận

hơn.

Giọng điệu dân dã Nam bộ trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, còn được thể hiện qua

cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn. Đọc truyện Đất không cưu mang của Bích Ngân, độc giả

quên rằng nhà văn đang vẽ nên một thế giới hư cấu, mà có cảm tưởng như chính mình đang

nghe được những âm thanh, tận mắt chứng kiến những hình ảnh ấy: “Con cú mèo vỗ cánh

phành phạch, bay đi. Ông lê chân đi tiếp được mấy bước rồi khập khựng, lảo đảo. Nỗi bất

hạnh dồn dập và vắt kiệt sức ông. Ông lại té sấp trên mặt rẫy sủi phèn, loang lổ. Và lần này,

ông không gượng dậy nổi nữa. Ông vĩnh viễn chia lìa nỗi thống khổ và niềm hạnh phúc đớn

đau, đeo đẳng suốt một kiếp người[183, tr.395]. Từ ngữ ngắn gọn, hình ảnh quen thuộc

nhưng đoạn văn có sức khái quát cao: vừa cung cấp một thông tin mang tính hiển ngôn là

cái chết của ông Mười, vừa gợi một hàm ý sâu xa về số phận, niềm mong ước và cả tâm linh

của con người. Ngôn ngữ của tác giả như ngôn ngữ trò chuyện của cuộc sống đời thường.

Chính cái bình thường ấy làm cho người đọc dễ tiếp nhận thông tin mà không phải thông qua

lăng kính của hình tượng nghệ thuật.

Bằng ngôn ngữ bình dị, truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay đã thực sự đưa sinh hoạt

đời thường của người dân vào trong tác phẩm, tạo được mối quan hệ gần gũi giữa văn học

với cuộc sống. Qua đó, người đọc sẽ cảm nhận cuộc sống trong tác phẩm như chính cuộc đời

ở bên ngoài.

Ở ngôn ngữ nhân vật, giọng văn hoàn toàn phù hợp với lôgích nội tại, nhân vật trong

truyện là những người dân quê chân chất, lớn lên từ vùng sông nước nên ngôn ngữ miêu tả

nhân vật cũng được sử dụng chất liệu từ cuộc sống của người dân sông nước. Nhiều truyện

ngắn đưa nguyên những lời nói ngoài đời vào trong tác phẩm, làm cho quá trình tiếp nhận

văn học của người đọc dường như rút ngắn lại. Người đọc bỏ qua giai đoạn tri giác ngôn từ

nghệ thuật, cảm thụ tác phẩm. Với Ông cá hô của Lê Văn Thảo, người đọc như đang được

trò chuyện trực tiếp với con người ngoài đời để từ đó nắm bắt ý tưởng được chuyển tải từ tác

phẩm.

‘‘Chú Sáu Dương đã nhìn lên khán đài và thấy những gì như tôi nhìn thấy chăng?

Chú lóp ngóp lội lên bờ người ướt sủng buồn rầu nói với tôi:

Tao bị trật tay lái, bậy quá! Thôi để năm sau mình hãy tính chuyện ăn thua.

Tôi vội an ủi chú:

Chị Hồng Điệp nhắn muốn gặp chú kìa!

Chú liếc nhìn tôi:

Gặp chi vậy?

Không biết , chị ấy bảo chú đến quán…

Mày đi theo tao chớ?...”[183, tr.381].

Nhân vật không thốt lên những gì cao siêu, không có những chân lí, chỉ là một giọng

điệu bình thường, hồn nhiên như chính lời nói mà ta bắt gặp hàng ngày trong cuộc sống.

Nhân vật nói với nhau bằng phản ứng tự nhiên, bằng suy nghĩ bộc phá của cảm xúc. Cách

nói này đã phản ánh chân thực tình cảm của con người. Nhân vật sử dụng những câu nói cực

ngắn, một thứ ngôn ngữ trần trụi, nói toạc ra không cần mọi sự mĩ hóa ngôn từ. Đây là một

đoạn đối thoại rất sống động khi miêu tả suy nghĩ cũng như cảm xúc của nhân vật (Người

hiện đại - Lê Thị Thanh Minh):

‘‘Bên kia Nguyệt đã tìm được một đề tài mới:

Mặt mày rành rạch, vóc dáng chẳng thua ai…vậy mà đâm đầu đi lấy cái thằng thô lỗ,

cục cằn, đánh vợ như cơm bữa…

Cẩm la lên có vẻ phẫn nộ:

Sao ? Sao ? Đánh nữa hả ? Đánh vợ thì quá tệ, sao không biết đánh lại!

Kim từ sau vụ Sơn lấy vợ mới thấy lên tiếng trở lại:

Ừ, đánh nó thương tích chứ giỡn à! Nhưng bà Vân cũng đáng đời lắm. Mặt mũi

hãm tài, cười y như mếu , đi đứng thì lật đật. Hai đứa con còn thảm thiết hơn. Thằng

lớn giống cha như đúc , mới mười tuổi đã nạt nộ mẹ, đánh em như tra ăn cướp, mà

cũng đáng đời thằng ngọng lắm! Đã ngọng mà ham nói, năm tuổi mà mũi dãi lòng

thòng thật phát gớm”[183, tr.349].

Giọng văn giản dị, nhưng rất thành thật được thể hiện qua những lời đối thoại thường

ngày của NV Chị và Điền (Cánh đồng bất tận – Nguyễn Ngọc Tư):

‘‘Trời đất ơi, sao vậy nè, cưng?

Chị toàn hỏi những câu khó. Chỉ nghe thôi đã đau, nói chi trả lời. Thí dụ như có

lần chị hỏi ‘‘má mấy cưng đâu?’’ ‘‘nhà mấy cưng ở chỗ nào’’. Thằng Điền đổ quạu:

Biết chết liền’’[171, tr.166].

Với giọng kể tự nhiên, đậm chất dân giã làm cho người đọc có cảm giác như đang được

trực tiếp nghe người Nam bộ kể chuyện. ‘‘Con cộc è ạch đi ra, ngỏng cổ lên nhìn ông.

Khuôn mặt ông mờ sau làn khó. Khói mắc dịch, làm cay con mắt muốn chết. Cái võng chị

ngồi sau lưng ông. Chị khom xuống cắn mớ chỉ rối mà buồn. ông rót ly rượu uống mà

buồn’’[171, tr.160].

Như vậy với giọng điệu giản dị mộc mạc, người đọc dễ tiếp nhận nội dung tác phẩm, dễ

hình dung được hiện thực cuộc sống trong tác phẩm. Nhờ vậy, rút ngắn khoảng cách giữa

nhà văn và người đọc, người đọc và tác phẩm, nhân vật trong tác phẩm với con người ngoài

đời. Quá trình tiếp nhận văn học thuận lợi hơn, văn chương và cuộc sống gần gũi nhau hơn.

3.4.2. Giọng điệu trữ tình đằm thắm

Sau 1975, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới văn học đã bước theo một quỹ đạo riêng, văn

học chuyển từ giọng điệu ồn ào, sang trọng, đậm chất sử thi sang giọng điệu lắng đọng, trữ

tình, tha thiết.

Giọng điệu trữ tình đằm thắm được thể hiện khá đậm nét trong truyện ngắn ĐBSCL sau

1975. Với đặc điểm của giọng điệu này cho phép nhà văn thổ lộ tình cảm của mình, trải lòng

mình ra đối với con người và cuộc sống. Tính cách đặc trưng của người Nam bộ là cởi mở,

mến khách, nhân hậu, giàu tình, nặng nghĩa. Vì vậy, chất giọng Nam bộ in đậm trên từng

trang viết, không cứng nhắc đến cường điệu mà toát lên chất trữ tình sâu lắng.

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng tôi nhận thấy truyện ngắn của các tác

giả nữ thường ẩn chứa cái nhìn cảm thông, thấu hiểu, nhân ái đối với những con người nhỏ

bé, những số phận bất hạnh qua lối trần thuật trữ tình tác động sâu xa đến tâm hồn và đánh

thức dậy trong lòng người đọc niềm rung cảm sâu sắc. Có lẽ giọng điệu trữ tình, đằm thắm

mang màu sắc nữ tính xuất phát từ tâm hồn nhạy cảm, trái tim giàu tình yêu thương của các

tác giả nữ. Trang văn của họ nhẹ nhàng, dịu lắng nhưng không kém phần sâu sắc.

Bằng giọng điệu ngọt ngào, sâu lắng truyện ngắn của Trầm Nguyên Ý Anh đã gieo vào

lòng người đọc sự cảm thông, chia sẻ với những con người ‘‘chân đất’’, suốt một đời lam lũ,

khổ cực, thậm chí mất cả mạng sống cho cuộc mưu sinh mà cuộc sống vẫn ngập chìm trong

khốn khổ, bần hàn. Còn truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thì dịu dàng, đằm thắm, nhưng không

ồn ào, lên gân mà đi sâu phân tích tâm lý con người một cách nhẹ nhàng mà sắc sảo, tinh tế.

Viết về những con người bình dị, chân chất trong cuộc sống, truyện ngắn của chị đã đem đến

cho độc giả một cảm giác thư thái, an bình. Mỗi câu văn như một lời thủ thỉ, tâm tình đầy

quyến rũ và tạo cảm giác mỗi truyện như một bài thơ được viết bằng văn xuôi.

Giọng điệu trữ tình trong truyện ngắn ĐBSCL còn thể hiện qua hình thức tự truyện,

hình thức độc thoại. Lời văn như những lời tâm tình, bộc bạch, đưa người đọc vào thế giới

tình cảm của nhân vật một cách rất tự nhiên. Lời tự chuyện của nhân vật Tám Hân (Về với

mảnh vườn xưa-Anh Đức), không chỉ tái hiện cuộc sống gian khổ của người lính trong cuộc

chiến tranh thần kì mà còn giúp người đọc cảm nhận được tình cảm quân dân “Bà con làng

xóm đã cưu mang mấy cậu”, tình yêu chung thủy “tới tối, tôi soạn trong túi đựng hành lí, lấy

ra chiếc khăn mùi xoa Trâm trao cho tôi bữa chia tay, mà tôi cất giữ trên bốn mươi

năm”[183, tr.12].

Giọng điệu trữ tình là chủ âm trong truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay. Nó là một

hình thức biểu hiện thái độ, tình cảm của con người vùng sông nước. Nó khơi sâu vào cảm

xúc, tâm trạng của nhân vật và được thể hiện dưới nhiều sắc thái cụ thể.

Một số truyện ngắn đã đặt nhân vật vào thế giới tình cảm, thể hiện một tâm hồn đồng

cảm với niềm vui, với những tình cảm cao đẹp của con người. Các tác giả đã thể hiện giọng

điệu của tác phẩm qua những từ ngữ bộc lộ nội tâm nhân vật như da diết, rưng rức, chơ vơ,

cô độc, lặng lẽ, chong chong, tuyệt vọng…Ở một số truyện, giọng điệu được thể hiện qua

thái độ, cử chỉ của nhân vật.

Giọng điệu trong truyện ngắn “Câu chuyện trên tàu” đã thể hiện niềm tự hào về cuộc

đời và nhân cách của một người lính qua sự chuyển biến nội tâm. Một anh lính trẻ bị thương

hết hai chân. Một nửa mong muốn trở về quê hương thăm lại người yêu, nhưng một nửa lại

không muốn trở thành gánh nặng cho người khác. Anh dằn vặt đau đớn không phải vì nỗi

đau, sự mất mát của bản thân, lời lẽ của anh không trách móc, anh chỉ cốt lo mình cư xử

không đúng mức với người thân. Bằng một giọng điệu tự nhiên, chân thật, tác giả đã đi sâu

vào nội tâm của nhân vật để khám phá nhân cách của con người được thể hiện qua sự hi sinh

cao đẹp.

Ở truyện Con người của Nguyễn Huỳnh Hiếu; Câu chuyện trên tàu của Trần Ninh

Thới; Một quãng đời và cuộc đời của Phạm Duy Tương, đã khơi sâu vào cảm xúc, bộc lộ nỗi

đau của con người bằng một giọng điệu có khi giận dữ, có khi đau đớn cũng có lúc tưởng

chừng như chao đảo, tuyệt vọng và rồi bình tâm lại: ‘‘Tôi đau khổ…vì một tương lai đen

tố,i…tôi muốn chết quách cho xong,…chúng tôi chai đi, chúng tôi an phận với hoàn

cảnh,…niềm vui đến kèm theo bao nỗi lo,…bây giờ tôi chỉ có một mong ước[183, tr.201];

Anh lính trẻ tỉnh khô và đượm buồn,…anh hết sức đau đớn,... anh đau khổ tột cùng[183, tr.

607]; Cô ta úp mặt vào nón khóc hu hu,... cô ta phóng thẳng vào tôi luồng mắt căm thù, cay

cú, điên dại,... cô ta lặng im không nhúc nhích,… cô ta dang hai tay lao đến vòng lấy cổ

tô’’[183, tr.697].

Qua đoạn văn chúng tôi nhận thấy, để diễn tả sắc thái nỗi đau, nhà văn đã thể hiện nhiều

giọng điệu khác nhau, đan xen vào nhau. Điều này đã thể hiện thái độ thẩm mĩ và năng lực

nghệ thuật của các nhà văn về cách cảm, cách nghĩ, cách nhìn sâu vào nội tâm và đời sống

của con người.

Trong nhiều truyện ngắn, giọng văn trữ tình, đằm thắm đã giúp tác giả phân tích tâm lý

con người một cách nhẹ nhàng mà sắc xảo. Bằng giọng kể trữ tình nhiều cảm xúc, nhiều

cảnh vật, con người hiện lên mang đậm không gian văn hoá Nam bộ. Đọc đoạn văn sau đây

chúng ta sẽ thấy rõ điều đó:

“Ba tôi là người của sông. Không phải ông nhớ vườn xưa mà chống gậy về, ông nhớ

sông, một ngày ba bốn lượt lủi thủi chống gậy ra bến, đôi mắt như đang nhìn da diết, mà

không biết nhìn ai, chỉ thấy mênh mông vậy thôi. Chơ vơ, cô độc. Tựa như ông đang ở đây

mà tâm hồn ông, trái tim ông, tấm lòng ông chảy tan vào dòng nước tự lâu rồi.

Và cũng y như má tôi, ba cũng không sống được mấy ngày vui, vui thật, vui đúng nghĩa.

Hồi tôi còn nhỏ, còn sống chung với bà nội, đêm đêm cả nhà đi ngủ, ba tôi ngồi hút thuốc

trên bộ vạt kê trước nhà, chống rèm lên, ngó ra sông. Kiểu ngồi một chân xếp bằng, chân kia

dựng lên, rồi tì cái tay cầm điếu thuốc lên cái đầu gối, đêm này qua đêm khác, kiểu ngồi

không đổi. Nửa đêm, má tôi đi ém mùng lại, tôi thức giấc, ngó ra chỉ thấy đóm lửa lập lòe,

lúc đỏ rực, lúc lại tắt thiu thiu. Má tôi ngồi trong mùng lặng lẽ nhìn ba, còn ba thì nhìn ra

sông…”[169, tr.124-125].

Qua đoạn trích, quan sát nhân vật người cha, chúng ta nhận thấy giọng điệu người kể

chuyện đã thể hiện điểm nhìn ở nhiều góc độ để nhìn nhận đánh giá con người. Trước hết,

nhìn từ góc độ bên ngoài, trải trên bề mặt hiện thực được phản ánh, nhân vật người cha trong

đoạn trích là một người chồng phản bội, sống với vợ nhưng tâm hồn luôn nhớ nhung, tư

tưởng về một người đàn bà khác. Loại người này thường bị xã hội lên án, phê phán. Tuy

nhiên nhìn từ góc độ hướng nội, giọng điệu người kể chuyện đi sâu vào từng mảng hồi ức,

từng nếp nghĩ, từng chuyển biến tâm tư của nhân vật để cảm thông, chia sẻ. Người đàn ông

trong câu chuyện có một tình yêu thật đẹp, thật sâu đậm với một người đàn bà không phải vợ

mình. Nhưng vì trách nhiệm với vợ con, với gia đình, ông phải từ bỏ tình yêu của mình, bỏ

rơi người đàn bà mà mình yêu thương. Ông phải sống trong tình trạng tình cảm bị ghìm nén,

chịu đựng sự mất mát tinh thần, luôn phải sống khắc khoải, khổ đau. Ông đã đánh đổi cuộc

sống bình yên cho gia đình bằng một nỗi đau của riêng mình. Nhân vật tôi, người con trong

đoạn trích hiểu về cha của mình không chỉ bằng tình thương, lòng hiếu thảo mà còn bằng

niềm thông cảm và sự thấu hiểu. Giọng điệu của nhân vật tôi (người kể chuyện) đã đi sâu

vào những suy tư, trăn trở của nhân vật để người đọc có một cái nhìn thông thoáng hơn về

tình cảm con người, về những mối quan hệ tay ba mà xã hội thường lên án. Qua đó cho thấy,

tâm hồn người nông dân Nam bộ hiền lành, giản dị mà không tầm thường, nông cạn. Đi sâu

vào thế giới tình cảm, chúng ta sẽ bắt gặp nhiều biểu hiện rất tinh tế.

Ở một số truyện ngắn, chất giọng trữ tình qua ngôn ngữ còn được thể hiện ở tình cảm vị

tha, đôn hậu của con người. Hoàn toàn phù hợp với lôgich nội tại về tính cách hiền lành,

chân chất của người dân vùng sông nước. Đây là lời tâm sự về suy nghĩ của một người vợ có

chồng ngoại tình: “Má tôi ngồi bình tâm lại, vậy thì mình nhỏ nhen gì mà giành với người ta

chút này nữa. Năm này qua năm khác, mình được sống chung với ảnh, ban ngày ngoài

ruộng, ban đêm chung giường. Ngó mặt nhau ăn cơm, ngủ cũng đâu mặt lại ngủ …Còn

người ta, nhớ thương đứt ruột cũng đành ngồi đây ngó lên, giữa đường gặp nhau chỉ nhìn

vậy thôi mà không chào hỏi tiếng nào. Đau lắm chớ…”[171, tr.131]. Đây là nội tâm của

người vợ (má tôi) nghĩ về tình địch của mình nhưng giọng văn không phải là những lời lẽ

ghen tuông ích kỉ, mà như một lời trò chuyện chân tình, nhân hậu, vị tha. Người trong cuộc

chắc phải đau lắm, mất mát nhiều lắm trong hoàn cảnh như vậy, nhưng họ đã vượt lên

những tầm thường của cuộc sống để biết thông cảm, chia sẻ với nhau, để dành cho nhau

những nghĩa cử cao đẹp. Câu nói vừa như một lời an ủi đối với chính mình, vừa như nhắc

nhở mọi người. Qua đó thể hiện được một cách tinh tế suy nghĩ, tình cảm cũng như nhân

cách của con người.

Bằng giọng điệu sâu lắng nhà văn gieo vào lòng người tâm trạng và những kỷ niệm của

một người con gái (NV Giang, Nhớ sông - Nguyễn Ngọc Tư), dù đã có chồng, lên đất liền

sinh sống, nhưng lúc nào cũng cồn cào một nỗi nhớ sông, nhớ ghe: ‘‘Mỗi lần qua sông Cái

Lớn, Giang lại nghĩ, chắc tới già, tới chết mình sẽ chẳng bao giờ rời chiếc ghe nhỏ này đâu.

Cũng khúc sông này, năm Giang mười tuổi, má Giang chết. Hôm đó trời mưa nhỏ, nhưng gió

nhiều, gió tạt tay chèo liêu siêu liêu xiêu…Giang khóc điếng, bồng con Thuỷ, lồm cồm bò về

đằng sau lái, Giang còn kịp nhìn thấy tóc má trôi xùm xoà phiêu phiêu trong dòng nước, rồi

mất hút’’[169, tr.154].

Cũng với giọng trữ tình đằm thắm người đọc cảm nhận được tình cảm của ông Hai -

ông già Nam bộ (Thương quá rau răm - Nguyễn Ngọc Tư) làm nghề nuôi vịt chạy đồng lúc

nào cũng giữ mãi hình bóng người vợ một thời đầu ắp, tay gối với mình: ‘‘Ở căn nhà lá cũ

mèm này, ông có nhiều kỷ niệm. Mỗi khi trở về nó trở thành những dòng dịu ngọt trong ông,

nó chặt khẽ giữa những mạch máu. Những ngày thơ ông có ba má, những ngày trẻ ông có

người chăn gối cùng... Mỗi lần đổ bánh xèo, vợ ra hái đọt lụa đứng tần ngần, ‘‘phải ảnh có

nhà để ăn’’…’’[171, tr.18]. Phải là nhà văn có sự quan sát tỉ mỉ, am tường về cuộc sống của

người dân quê miền Tây sông nước mới có thể viết nên những trang văn cảm động đến như

vậy.

Điều dễ nhận ra là cho dù ngôn ngữ kể chuyện, hay ngôn ngữ đối thoại, thì giọng văn

của các tác giả ĐBSCL luôn cởi mở, tâm tình, gắn với không gian thiên nhiên thơ mộng,

trữ tình của vùng sông nước. “Gió đồng nội cứ thổi lồng lộng trong đêm tháng mười, mang

theo hương tràm và mùi hương của các loài thảo mộc. Dưói ánh sao đêm, khuôn mặt Mai

như trắng hơn, bầu bĩnh hơn, và đáng uyê hơn’’ (Bông mai giữa Đồng Tháp Mười – Lê

Thanh Huệ)[183, tr.234].

Cũng với giọng văn trữ tình đằm thắm, Tiếng gọi ngàn của Đoàn Giỏi, người đọc như

lạc trong bức tranh thiên nhiên đầy hoa thơm, mật ngọt: “Gió thổi qua rào, ve vuốt sống

lưng con vá. Gió đưa đến mùi hương của các bụi lùm và những ngọn cây rừng cao, mùi

nhựa chảy từ những vỏ cây nứt, mùi quả chín tươm mật, mùi phấn vàng lay động bởi cánh

giơi quạ và các loài chim đêm, li ti bay vơ vẩn và ngọn gió trữ tình đón lấy mang đi gieo rắc

khắp nơi...”[183, tr.168].

Giọng điệu trữ tình, đằm thắm trong sáng tác của các nhà văn ĐBSCL, đặc biệt là các

tác giả nữ có sự nối tiếp truyền thống từ truyện ngắn Thạch Lam, Thanh Tịnh tạo nên vẻ đẹp

riêng cho truyện ngắn thời kỳ đổi mới. Mỗi truyện ngắn có thiên hướng đi sâu vào vẻ đẹp

của cuộc sống, khám thế giới tâm hồn phong phú, tinh tế của con người ĐBSCL.

Tóm lại, lời độc thoại nội tâm, lối kể chuyện, cách dùng từ, cách biểu hiện các sắc điệu

tình cảm…đã tác động sâu sắc đến việc hình thành giọng điệu trữ tình đằm thắm trong

truyện ngắn ĐBSCL sau 1975. Ý nghĩa này vừa thể hiện được bản sắc của một truyện ngắn ở

khu vực, vừa thể hiện được sự chuyển biến của văn học trong thời kì đổi mới.

3.4.3. Giọng điệu hài hước

Sau năm 1975, văn học gắn bó với đời sống hằng ngày - đời sống ẩn chứa tầng tầng lớp

lớp những dòng chảy phức tạp, những quan hệ đa chiều, ‘‘đầy rẫy những biến động, những

bất ngờ’’(Nguyễn Khải). Với cái nhìn năng động như vậy, hiện thực hiện lên không chỉ là cái

biết trước mà còn là cái chưa biết, cái khó biết, khó đoán biết, một hiện thực ‘‘chưa hoàn

thành’’. Tiếng nói ca ngợi, tự hào của văn học giai đoạn trước nhường chỗ cho giọng điệu

phê phán, cười vào những thói xấu, những cái lố lăng, kệch cỡm, những tha hoá, biến dạng

của nhân tính, những bất ổn trong cơ chế…

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay, chúng tôi nhận thấy giọng điệu hài

hước biểu hiện rất đa dạng. Ngôn ngữ là phương tiện để diễn đạt cảm xúc, cá tính của con

người. Tính cách, cá tính của con người như thế nào thì lời ăn tiếng nói của họ cũng có phần

như thế ấy. Người dân Nam bộ sống tình cảm, cởi mở, phóng khoáng nên cách nói của họ

giàu sắc thái biểu cảm và nhiều chất hài. Ở điểm này, nếu so sánh với phương ngữ Bắc bộ thì

có khác nhau. Chẳng hạn, đọc tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp (miền Bắc), chúng ta cũng bắt

gặp chất hài hước mang tính châm biếm thâm thúy, sâu cay. Với Nguyễn Ngọc Tư (miền

Nam), chất hài được thể hiện nhẹ nhàng hơn, không phải là mỉa mai châm biếm, mà là một

chút tinh nghịch, dí dỏm khi dùng từ. Chẳng hạn, tác giả gọi những cuộc “trăng hoa” của

những người nông dân với các cô gái điếm là “trò chơi giường chiếu”[160, tr.161]. Những

người nông dân suốt đời phải buôn gánh bán bưng được gọi là “người đi chợ lâu năm”[170,

tr.81]. Những người bình dân - khi chống chọi với nghịch cảnh đâu phải chỉ có sức mạnh của

đôi tay, mà còn có cả sức mạnh của lòng tin và nụ cười. Dường như các tác giả muốn dùng

chất trẻ trung, tươi vui để xua tan đi cuộc sống một nắng hai sương của những người lao

động. Cuộc đời vốn nhiều lo toan, phiền toái, tự nhiên thoải mái sẽ giúp con người phần nào

giải thoát những áp lực. Đó là kiểu suy nghĩ đơn giản của những người bình dân Nam bộ.

Tuy nhiên khi đi sâu phân tích giọng điệu hài hước trong truyện ngắn ĐBSCL từ 1975

đến nay, chúng tôi nhận thấy: các nhà văn thường mượn chất hài hước để thể hiện những vấn

đề nghiêm chỉnh trong cuốc sống. Người ta chỉ mỉnh cười khi hạnh phúc, nhưng với Chợ

người, Hàn Vĩnh Nguyễn đã diễn tả cái cười, khi người ta gặp phải những điều chua chát,

người ta cười vào những cái không hay: “Chiếc phong bì căng phồng. Tôi bỏ gọn vào tép,

không buồn bóc ra xem, vì thế nó còn giữ nguyên bí mật cho tới lúc tôi về nhà. Vợ tôi được

vinh dự bóc ra:

- Tròn một trăm tờ chẵn, anh à!

- Tròn còn chẵn - Tôi cười, lòng nghe vui vui. Tôi nghĩ ít nhất ngay lúc này, tôi cũng

tự hào với vợ rằng cái nghề làm thầy giáo dạy khoa học của tôi cũng không đến nỗi nào.

Hai tháng bỏ công đi thực tế khảo sát. Một tháng dành lục lội kiến thức. Rồi mười ba đêm

nắn nót trên bàn viết để được một công trình khoa học ra đời. Người ta trả cho tôi chắc là có

tính thù lao cho những khoản đó…”[183, tr.415]. Những từ được dùng thật độc đáo như:

Tròn còn chẵn, bí mật, tự hào, vinh dự… đã ngầm chứa sự mỉa mai trong ngôn ngữ nhân vật.

Bằng nghệ thuật tương phản, tác giả đã bộc lộ thái độ chua xót của mình trước cái nghèo của

một thầy giáo. Miêu tả về công sức của một thầy giáo dạy khoa học, tác giả mô tả tỉ mỉ, cụ

thể: “bỏ công đi thực tế, lục lọi kiến thức, nắn nót trên bàn viết…”, nhưng nói đến số tiền

mà thầy được trả, tác giả chỉ dùng những từ ngữ ngắn gọn ‘‘tròn còn chẵn’’. Sự chênh lệch

này phải chăng là muốn nhìn nhận lại những cái nhìn lệch lạc của xã hội đối với công sức

của người thầy. Giọng điệu hài hước đã chỉ cho người đọc thấy được tính chất nghiêm chỉnh

của vấn đề được đặt ra trong tác phẩm.

Đôi lúc, đối với những vấn đề cần xem xét lại, cần phê phán để khắc phục, các nhà văn

cũng thể hiện bằng giọng điệu hài hước. Tuy nhiên nếu so sánh với giọng điệu trữ tình thì

giọng điệu hài hước trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, không mang tính chất chủ âm. Nó

chỉ là một chút dí dỏm pha trộn với giọng điệu chua chát để thể hiện những vấn đề trong

cuộc sống.

3.4.4. Giọng điệu suy ngẫm sâu xa

Giọng điệu suy ngẫm, triết lý xuất phát từ quan niệm về sự phức tạp, bộn bề của đời

sống con người. Trong cuộc sống hàng ngày, để nhận chân được các giá trị đời sống buộc

con người phải tìm tòi, suy nghĩ thông qua sự quan sát và chiêm nghiệm của cá nhân. Nếu

văn học giai đoạn trước tính chất triết lý suy tư hướng về những vấn đề lớn lao của vận mệnh

dân tộc, thì văn học giai đoạn này hướng tới phát hiện những vấn đề xô bồ, thô nhám trong

số phận cá nhân con người, trong cuộc sống hàng ngày thông qua những trải nghiệm của

từng cá nhân. Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng tôi nhận thấy giọng điệu suy

ngẫm, triết lý sâu xa thể hiện khi con người nhìn nhận đánh giá về số phận, về cuộc đời.

Cũng có khi trong những xung đột nội tâm nhân vật, trong những bi kịch nhân sinh được

phát biểu thông qua dòng tâm trạng của nhân vật.

Giọng điệu suy ngẫm trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, được biểu hiện ở sự khắc

khoải lo lắng vì cuộc sống khó khăn. Nhân vật tôi trong chuyện con người của Nguyễn

Huỳnh Hiếu, phải trải qua bao khó khăn mới nhận thức được trên đời này ‘‘Hạnh phúc là

điều có thật’’[183, tr.200]. Tác giả đã sử dụng hàng loạt những từ ngữ để diễn tả những trạng

thái tâm lí khác nhau của nhân vật ở những chặng đường khác nhau của cuộc đời như: Đau

khổ - chai lì - an phận - niềm vui - mong ước. Trên con đường trải nghiệm cuộc sống, dù có

khó khăn, nghiệt ngã có lúc dẫn đến nản lòng nhưng với nghị lực, con người đã vượt qua khó

khăn và cuối cùng nhận thức được : ở trên đời này, cái gì hợp lí sẽ tồn tại và hạnh phúc sẽ

không bao giờ ngoảnh mặt với những con người biết phấn đấu, biết vươn lên.

Giọng điệu suy tư thường đặt nhân vật trong những tình huống tâm lí để con người tự ý

thức qua những trải nghiệm mà tự rút ra bài học, nhận ra chân giá trị của cuộc đời. Chẳng

hạn, giọng điệu người cha trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư; giọng điệu của

ông Mười trong Đất không cưu mang của Bích Ngân; giọng điệu của Nhà văn trong Một

trăm của mỗi người của Nguyễn Đình Bổn,…

Câu chuyện trên tàu của Trần Ninh Thới, giọng điệu của ông Nhân được thể hiện qua

những từ ngữ diễn tả sâu sắc chiều sâu của sự suy ngẫm. Khi phát hiện người thương binh bị

mất cả hai chân không phải là người yêu của con gái mình, thoạt đầu ông Nhân thở phào nhẹ

nhõm, nhưng sau đó hình ảnh người lính bị thương luôn ám ảnh ông, khiến ông ray rứt. Bản

chất của một người lính khiến ông Nhân nhận thức được những tính toán thiệt hơn của mình

và tự phê phán bản thân. Cuối cùng ông cảm thấy ân hận vì mình không thể chia sẻ được sự

mất mát của người thương binh. Giọng điệu suy ngẫm qua một số truyện ngắn từ chỗ quan

sát và khám phá trong đời sống thường nhật những lẽ đời, những triết lí nhân sinh đã dần dần

đi sâu tìm kiếm để khám phá tâm tư tình cảm và chân giá trị của con người.

Giọng điệu suy ngẫm sâu xa trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, còn được thể hiện qua

những xung đột trong nội tâm nhân vật, qua những bi kịch nhân sinh được phát biểu thông

qua dòng tâm trạng của nhân vật. Ông Thịnh (Khoảng cách - Trầm Nguyên Ý Anh), ngày

đầu tiên đoàn tụ gia đình sau sau 21 năm đi tập kết trên đất Bắc, đã phải đối mặt với một

thực tế phũ phàng:

‘‘Nhìn thấy Út Trinh đưa con trên võng, thằng bé đã được ba tuổi. Ông Thịnh thắc mắc:

- Thế, bố nó đâu? Ông vẫn quen dùng ngôn ngữ miền Bắc.

- Út Trinh ậm ờ rồi ẵm con lên, bước ra sân. Bà Thịnh lúng túng một lúc rồi mới giải

thích:

- Con nó khờ dại nên lỡ lầm. Bên kia hứa sẽ từ từ nhìn nhận.

- Mặt ông Thịnh tái xanh không còn chút máu. Ông như rời từ trên núi cao xuống vực.

Ngày đầu tiên đoàn tụ, ông đã tiếp nhận một sự thật đau lòng đến thế này ư?’’[196, tr.254].

Đại tá Kim (Tiếng chuông trôi trên sông - Vũ Hồng), sau gần hết cuộc đời trận mạc, giờ

sống trong cảnh cô đơn mới hiểu ra: ‘‘Cuộc đời như một vòng xoay chong chóng, có làm gì

chăng nữa cũng đến ngày chong chóng không đủ sức để quay nữa’’[68, tr.152]. Và ông kịp

nhận ra dù muộn màng, hạnh phúc chính là những phút giây được sống êm đềm bên người ta

yêu thương để được chăm sóc nhau một cách nhẹ nhàng, bình dị nhất. ‘‘Gần một đời đi tìm

hạnh phúc, giờ đây tôi mới thấm thía rằng, hạnh phúc của con người là được sống trong

những giây phút như thế. Tôi tưởng ở đâu xa và mãi mãi đi tìm’’[68, tr.162].

Cũng có khi nhà văn đặt nhân vật trong những tình huống tâm lí để tự suy nghĩ, tự bày

tỏ quan điểm của mình về cuộc đời, về hạnh phúc, tình yêu…Nhân vật tôi (Vài ngày ở Cần

Thơ - Mường Mán) sau cuộc tình vụng trộm đã kịp nhận ra. ‘‘Cuộc gặp gỡ vài ngày không

chỉ là trò chơi vụng trộm cho đỡ buồn như chúng ta tưởng, mà là một cuộc ngoại tình đầy

tính chất bi hài’’[183, tr.336].

Hoàn cảnh sống đã làm thay đổi tính cách con người, nhân vật xưng tôi (Một đoạn đời -

Nguyễn Thanh Sơn) đã tự nhận thức ‘‘chốn chợ búa đã đào tạo tôi thành một thằng đểu cáng

từ lúc nào cũng không hay’’[183, tr.517].

Giọng điệu suy ngẫm sâu xa có khi là sự trải nghiệm của con người về kinh nghiệm

sống. Cuối cuộc đời Thầy Năm Mọi trong truyện ngắn cùng tên của Phạm Thường Gia mới

“ngộ” ra ‘‘ở đời cái gì cũng có chừng mực, ham hố thái quá là không tốt’’[183, tr.155]. Niềm

hạnh phúc của bậc làm cha, làm mẹ, khi thấy con mình trưởng thành, nhưng đối và Năm

(Đất không cưu mang - Bích Ngân) thì: ‘‘Xót xa khi thấy càng trưởng thành, càng xa cái tuổi

ấu thơ thì các con càng ít thuộc về bà. Càng ngày bà càng phải lệ thuộc chúng’’ [183,

tr.396]. Có lẽ nỗi niềm của bà Năm không phổ biến, nhưng cũng hiếm trong xã hội ngày nay.

Tóm lại, giọng điệu suy ngẫm sâu xa trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, thường

hướng vào những vấn đề của cuộc sống đời thường, gắn với cuộc đời, số phận của mỗi con

người. Một mặt nó đáp ứng được nhu cầu phản ánh hiện thực thời kỳ đổi mới, không chỉ

dừng lại ở việc miêu tả sự kiện của đời sống mà hướng tới phân tích, lí giải hiện thực đời

sống. Mặt khác, nó cũng phù hợp với dung lượng của truyện ngắn - hình thức tự sự cỡ nhỏ

nhưng luôn yêu cầu về sức chứa và sự phản ánh.

Giọng điệu trong một số truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, là tiếng nói của người dân nơi

đây, vừa là tiếng nói của một giai đoạn lịch sử cụ thể.

Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, chúng tôi nhận thấy sự chuyển biến về giọng

điệu: từ đơn giọng sang đa giọng. Với tính đa giọng, các tác phẩm trong truyện ngắn đã

phản ánh được cuộc sống phù hợp với quy luật của thời đại và đi sâu vào nhiều ngóc ngách

phản ánh tâm tư của con người và cuộc sống ở ĐBSCL, nhìn nhận vấn đề một cách tổng hòa

hơn ở nhiều bình diện như cuộc sống phức tạp, muôn màu muôn vẻ đang diễn ra hằng ngày:

những khoảng tối - khoảng sáng, những cái bi - những cái hài, cái thiện - cái ác…

Có thể nói, giọng điệu trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, rất đa dạng góp phần tạo

nên phong cách trần thuật độc đáo của các nhà văn ĐBSCL.

Tóm lại, nghiên cứu truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay, chúng tôi nhận thấy một số

phương diện nghệ thuật như: Nghệ thuật tạo dựng tình huống, cốt truyện, không - thời gian

nghệ thuật; nghệ thuật xây dựng nhân vật ; nghệ thuật sử dụng phương ngữ Nam bộ và giọng

điệu đã có những sáng tạo và thành công nhất định. Những sáng tạo đặc sắc về nghệ thuật,

tuy chưa nhiều nhưng cũng đủ để người đọc nhận ra đặc điểm riêng của truyện ngắn ĐBSCL

so với truyện ngắn ở vùng miền khác. Đọc truyện ngắn ĐBSCL, người đọc dễ bị cuốn hút

bởi chất sông nước Nam bộ rặt, không lẫn vào đâu được, văn hóa và con người ĐBSCL cũng

dễ dàng được lưu giữ trong ấn tượng của độc giả.

KẾT LUẬN

Nhìn lại chặng đường 35 năm, có thể khẳng định chưa bao giờ truyện ngắn ĐBSCL lại

phát triển mạnh mẽ đến thế! Cùng với các loại hình nghệ thuật khác, truyện ngắn ĐBSCL

vận động và phát triển rất nhanh, đáp ứng kịp thời sự chuyển đổi của xã hội và con người ở

vùng đất này. Đặc biệt, truyện ngắn đã có những cách tân và thu đạt nhiều thành tựu đáng tự

hào về nội dung lẫn hình thức biểu hiện, nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng. Đây là cả một

quá trình lao động nghệ thuật miệt mài của nhiều thế hệ cầm bút ở ĐBSCL.

Dòng chảy liên tục của truyện ngắn ĐBSCL ngày nay là nhờ vào sự nối tiếp của ba thế

hệ nhà văn. Thế hệ trước 1975; trưởng thành sau 1975 và xuất hiện trong thập niên đầu thế

kỷ XXI. Lớp nhà văn trưởng thành sau 1975, đã và đang thừa hưởng những thành tựu của

thế hệ đàn anh, nhưng không ngừng sáng tạo để cách viết ngày càng mới và hấp dẫn hơn.

Nhiều tác giả truyện ngắn đã tạo cho mình một phong cách riêng, từ cách chọn đề tài, xây

dựng cốt truyện cho tới sáng tạo ngôn từ. Và ngày càng có nhiều tác giả với những tác phẩm

mang được dấu ấn văn học.

Về nội dung phản ánh, bên cạnh cảm hứng ngợi ca thiên nhiên, con người; về đời sống

văn hoá ở ĐBSCL; các tác giả còn đi vào tìm kiếm chiều sâu bản thể con người; đặc biệt,

cảm hứng phê phán bộc lộ ở nhiều lĩnh vực của cuộc sống.

Về nghệ thuật biểu hiện, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, cũng có những đóng góp đáng

kể. Nổi bật nhất là nghệ thuật sử dụng phương ngữ Nam bộ đã đem lại hiệu quả nghệ thuật

cao cho tác phẩm. Ngôn ngữ truyện giàu chất trữ tình, nhưng không kém phần lịch lãm, và

nét đặc trưng nhất đó là sự mộc mạc chân chất, bộc trực mà luôn thắm đượm nghĩa tình.

Các nhà văn đã rất chú trọng thể hiện giọng điệu, cũng như tạo dựng không gian, thời

gian mang đậm dấu ấn con người và vùng đất.

Kết cấu truyện tự do và uyển chuyển hơn. Có những kết thúc truyện gây ấn tượng sâu

sắc nơi người đọc; có kết thúc‘‘bỏ ngỏ’’ để người đọc cùng ‘‘giải mã’’ vấn đề.

Nằm trong tiến trình văn học dân tộc nói chung, thành tựu mà truyện ngắn ĐBSCL sau

1975, đạt được mang vẻ đẹp đặc sắc riêng, góp phần khẳng định bước phát triển mới của

vùng văn chương này; đồng thời mở ra những hướng tìm tòi sáng tạo mới làm phong phú đa

dạng hơn cho thể tài truyện ngắn.

Tuy nhiên, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, còn chưa nhiều những tác phẩm có sức hấp

dẫn lớn, những tác phẩm kết tinh ở bản thân chúng sự đột phá trong tìm tòi nghệ thuật và

những trăn trở day dứt mang tầm triết học về cuộc sống và con người, mà thực tế cuộc sống

thì không thiếu chất liệu cho nhà văn.

Đội ngũ sáng tác ở ĐBSCL chưa nhiều các cây bút chuyên nghiệp, phần lớn là tác giả

không chuyên, viết là nghề tay trái, ít được đào tạo bài bản, và chưa sống được bằng nghề.

Sự thiếu vắng của lý luận phê bình cũng là điều hạn chế của văn học ĐBSCL. Mà thực

tế, thì khu vực này đang rất cần sự có mặt kịp thời của lý luận, phê bình văn học.

Do vậy, việc đào tạo đội ngũ sáng tác cũng như lý luận, phê bình văn học là yêu cầu

bức súc đặt ra cho các nhà quản lý văn hoá hoá, văn nghệ ở ĐBSCL.

Từ năm học 2007 - 2008, chương trình ngữ văn địa phương đã được đưa vào dạy

chính khoá ở bậc trung học. Chúng tôi hy vọng những truyện ngắn hay như Người dì tên đợi

của Nguyễn Quang Sáng, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư… có thể đưa vào giảng

dạy minh họa cho mảng văn học ĐBSCL.

Vì luận án chỉ xác định nghiên cứu những vấn đề chủ yếu về nội dung và nghệ thuật,

để từ đó khẳng định những đóng góp của truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 trong tiến trình của

truyện ngắn Việt Nam. Nên còn nhiều vấn về truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, như thế giới

nhân vật, điểm nhìn trần thuật, … mà chúng tôi chưa có điều kiện đề cập đến trong luận án.

Mong rằng rồi đây sẽ có nhiều công trình nghiên cứu toàn diện và sâu sắc hơn về

truyện ngắn ĐBSCL sau 1975.

Với khả năng có hạn và phạm vi tư liệu khảo sát nghiên cứu còn ở mức độ nhất định,

luận án chắc chắn còn không ít hạn chế.

Chúng tôi mong muốn nhận được sự góp ý trao đổi của quý thầy, cô, các nhà nghiên

cứu để luận án được hoàn thiện hơn./.

NHỮNG BÀI BÁO CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Trần Mạnh Hùng (2005), Những đóng góp nổi bật của truyện ngắn đồng bằng sông Cửu

Long từ sau năm 1975 (qua Tuyển tập truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long 1975 - 1995

và Tuyển tập 18 Nhà văn đồng bằng sông Cửu Long), Việt Nam 1954 - 2005 (21 năm kháng

chiến chống Mĩ cứu nước và 30 năm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc), Kỷ yếu hội thảo khoa học

Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, Nxb Giáo dục, Tp.Hồ Chí Minh, tr.702 - 708.

2. Trần Mạnh Hùng, Hoàng Tiến Chính (2008), Biên soạn chương trình dạy Ngữ văn địa

phương ở trường sư phạm, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nâng cao năng lực giảng dạy, nghiên

cứu khoa học trong trường Đại học và trường Trung học phổ thông, Trường Đại học Cần

Thơ, tr.96 - 100.

3.Trần Mạnh Hùng (2009), Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong một số truyện ngắn đồng

bằng sông Cửu Long sau 1975, Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Sư

phạm Tp. Hồ Chí Minh, Số 17, tr.124 - 129.

4. Trần Mạnh Hùng (2009), Truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long sau 1975 với vấn đề tự

vấn lương tâm, Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí

Minh, Phụ bản, Số 17, tr.81 - 85.

5. Trần Mạnh Hùng (2010), Văn hoá Nam bộ qua truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long sau

1975, Văn nghệ Bạc Liêu, số 2, tr.23 - 27.

6. Trần Mạnh Hùng (2010), Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua truyện ngắn đồng bằng sông

Cửu Long sau 1975, Văn nghệ Bạc Liêu, Số 3, tr.38 - 40.

7. Trần Mạnh Hùng (2010), Truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long sau 1975, viết về chiến

tranh với cái nhìn nhân hậu, Tạp chí thông tin Khoa học – Giáo dục, Trường đại học Bạc

Liêu, Số 4, tr.44-45-48.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Antônov (1956), Viết truyện ngắn, (Bùi Hiển dịch), Văn nghệ, Hà Nội.

2. M. Arnaudốp (1962), Tâm lý học sáng tạo văn học, Hà Nội.

3. Lại Nguyên Ân (1987), Thử tìm hiểu loại hình các mô típ chủ đề trong văn học Việt Nam

hiện đại, Tạp chí văn học, số 6.

4. Lại Nguyên Ân (1992), Thần thoại văn học, văn học huyền thoại, Tạp chí văn học , số 3.

5. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Tạ Duy Anh (2000), Nghệ thuật truyện ngắn và ký, Nxb Thanh niên.

7. Huỳnh Phan Anh (2005), Thế giới truyện ngắn Bích Ngân, http://

www.vannghesongcuulog.org.

8. Vũ Tuấn Anh (1991), Tư duy nghiên cứu văn học những năm gần đây trước yêu cầu đổi

mới, Tạp chí văn học, Số 1.

9. Vũ Tuấn Anh (1995), Đổi mới văn học vì sự phát triển, Tạp chí văn học, Số 4.

10. Vũ Tuấn Anh (1995), Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại, Tạp chí

văn học, Số 9.

11. Tào Văn Ân (1994), Lí luận Văn học, Trường Đại học Cần Thơ.

12. M.Bakhtin (1998), Những vấn đề về thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử, Lại Nguyên

Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

13. M.Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Hội Nhà văn,

Hà Nội.

14. Lê Huy Bắc (1996), Đồng hiện trong văn xuôi, Tạp chí Văn học, Số 6.

15. Lê Huy Bắc (2002), Truyện ngắn hậu hiện đại, Tạp chí Văn học , Số 9.

16. Lê Huy Bắc (2002), Phê bình - Lý luận Văn học Anh Mỹ, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

17. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn lí luận tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

18. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn: nguồn gốc và khái niệm, Tạp chí Văn học, Số 9.

19. Lê Huy Bắc (2006), Cảm nhận về văn hoá và văn học trong hành trình đổi mới, Nxb Văn

hoá dân tộc.

20. Mai Huy Bích (1988), Đề tài gia đình trong văn xuôi những năm gần đây, Văn nghệ, Số

23.

21. Ngô Vĩnh Bình (1999), Nhà văn Nguyễn Minh Châu bàn về truyện ngắn, Văn nghệ quân

đội, Số 4.

22. Lê Khắc Cảnh (2000), Văn hóa Nam bộ trong không gian văn hóa Đông Nam Á, Nxb Đại

học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh.

23. Trần Cương (1995), Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau những năm 80, Tạp chí Văn

học, Số 4.

24. Võ Tấn Cường (2004), Đi tìm ‘‘chân dung’’ truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long,

http:// www.vannghesongcuulog.org.

25. Võ Tấn Cường (2008), Nhận diện văn học đồng bằng sông Cửu Long, Báo Văn nghệ Trẻ,

Số 52, tr. 14, ngày 28.12.

26. Nguyễn Hồng Chuyên (2003), Quê hương đôi ngả, Tập truyện, Nxb Hội Nhà văn, Hà

Nội.

27. Davi Niven, Ph.D (2005), Bí mật của hạnh phúc, Nxb Trẻ.

28. Nguyễn Đức Dân (2000), Hiện tượng đa thanh từ góc nhìn ngôn ngữ học, Tạp Văn học,

Số 3.

29. Nguyễn Anh Dân (2008), Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Đồng Tháp giai đoạn

1975-2005, Luận văn Cao học, Đại học Vinh.

30. Trần Phỏng Diều (2006), Yếu tố giọng điệu trong truyện ngắn Sơn Nam, Văn nghệ Quân

đội, Số 642.

31. Trần Phỏng Diều (2006), Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Văn

nghệ Quân đội, Số 647.

32. Trương Đăng Dung (2003), Tác phẩm văn học như là một cấu trúc ngôn từ động, Tạp chí

Văn học, Số 10.

33. Lê Tiến Dũng (1983), Dẫn luận lý luận văn học, Trường Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí

Minh.

34. Đinh Xuân Dũng (1990), Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học, Quân đội nhân dân,

Hà Nội.

35. Đinh Xuân Dũng (1990), Đổi mới văn xuôi chiến tranh, Văn nghệ, Số 5.

36. Đinh Xuân Dũng (1994), Văn học với đề tài chiến tranh, nhìn từ lịch sử dân tộc, Nhân

dân (10.2).

37. Đinh Xuân Dũng (1995), Văn học Việt Nam về chiến tranh, hai giai đoạn của sự phát

triển, Văn nghệ Quân đội, Số 12.

38. Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hoá tâm linh, Hà Nội.

39. Trần Thanh Đạm (1989), Nghĩ về một xu thế đổi mới trong đời sống văn chương hiện

nay, Văn nghệ, Số 1.

40. Trần Thanh Đạm (1989), Bàn thêm về vấn đề con người trong văn học trong văn học,

Văn nghệ, Số 35.

41. Đặng Anh Đào (1991), Một hiện tượng mới trong hình thức kể chuyện hiện nay, Tạp chí

Văn học, Số 6.

42. Trần Bạch Đằng (1991), Văn học Việt Nam và vấn đề con người trong chiến tranh, Văn

nghệ, Số 7.

43. Phan Cự Đệ (2007), Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp - chân dung, Nxb Giáo dục,

Đà Nẵng.

44. Trần Thanh Địch (1980), Tìm hiểu truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

45. Nguyễn Lâm Điền (2008), Bài giảng Văn học đồng bằng sông Cửu Long sau 1975,

Trường Đại học Cần Thơ.

46. Nguyễn Lâm Điền, Huỳnh Hải Đăng (2009), Chất văn hóa trong truyện ngắn Nguyễn

Ngọc Tư, Kỉ yếu Hội thảo khoa học Hiện trạng đời sống văn học đồng bằng sông Cửu Long,

Trường Đại học Cần Thơ - Viện nghiên cứu và phát triển vùng Nam bộ.

47. Nguyễn Lâm Điền, Trần Văn Minh (2004), Bài giảng văn học Việt Nam 1945 - 1975,

Trường Đại học Cần Thơ.

48. Hà Minh Đức (1996), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

49. Hà Minh Đức (1990), Những chặng đường phát triển của văn xuôi cách mạng, Báo Văn

nghệ, Số 23.

50. Hà Minh Đức (2002), Những thành tựu của văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới,

Tạp chí Văn học, Số 7.

51. Trần Thanh Giao (2004), Vài ý kiến về văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Nhà

văn, Số 10.

52. Nam Hà (1992), Sự thật về chiến tranh và tác phẩm văn học viết về chiến tranh, Văn

nghệ Quân đội, Số 7.

53. Phùng Hữu Hải ( 2006), Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ sau 1975,

Evan.com, (19-8).

54. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

55. Lê Bá Hán (1996), Văn học chúng ta những năm cuối thế kỷ, Văn nghệ, Số 21.

56. Lê Bá Hán, Hà Minh Đức (1997), Cơ sở lý luận văn học, Tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

57. Nam Hà (1992), Viết về đề tài chiến tranh, Báo Văn nghệ, Số 33.

58. Trần Mạnh Hảo (2004), Sơn Nam cây lục bình Nam bộ, Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn, Số

33.

59. Nguyễn Văn Hạnh (1971), Những ý kiến của Lê Nin về mối quan hệ giữa văn học và đời

sống, Tạp chí Văn học, Số 4.

60. Nguyễn Văn Hạnh (1987), Đổi mới tư duy, khẳng định sự thật trong văn học nghệ thuật,

Tạp chí Văn học, Số 2.

61. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1998), Lý luận văn học: vấn đề và suy nghĩ,

Tái bản lần 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

62. Nguyễn Văn Hạnh (2007), Văn hoá như là nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn

chương, Nghiên cứu Văn học, Số 1.

63. Nguyễn Thái Hòa (1989), Có những nghệ thuật barốc trong các truyện ngắn của Nguyễn

Huy Thiệp hay không?, Tạp chí Văn học, Số 2.

64. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề về thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

65. Nguyễn Thái Hòa (2000), Từ điển tu từ - Phong cách - Thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà

Nội.

66. Lê Huy Hòa, Nguyễn Văn Bình (Biên soạn)(1995), Những bậc thầy văn chương thế giới,

tư tưởng và quan niệm, Nxb Văn học, Hà Nội.

67. Hội Nhà văn Việt Nam (1977), Tác phẩm và dư luận văn học 1975 - 1995, Nxb, Hà Nội.

68. Vũ Hồng (2004), Tiếng chuông trôi trên sông, Nxb Kim Đồng.

69. Đỗ Thị Hiền (2005), Điểm nhìn và và lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Ông Thiềm

Thừ của Trần Kim Trắc, Tạp chí Giáo dục, Số 108.

70. Hoàng Ngọc Hiến (2006), Văn học... gần và xa, Nxb Giáo dục.

71. Bùi Hiển (4.1991), Cánh cửa mở ra cõi mông lung, Phụ san Văn nghệ, Hà Nội.

72. Bùi Công Hùng (1982), Về phong cách sáng tạo văn học, Tạp chí Văn học, Số 3.

73. Bùi Công Hùng (1988), Văn học tham gia chống tiêu cực, Tạp chí Văn học, Số 5&6.

74. Trần Mạnh Hùng (2005), Những đóng góp nổi bật của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến

nay, (qua Tuyển tập truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến 1995 và Tuyển tập 18 Nhà văn Đồng

bằng sông Cửu Long), Việt Nam 1954-2005, (21 năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước và 30

năm xây dựng bảo vệ Tổ quốc), Kỷ yếu hội thảo khoa học Trường Đại học SP. Tp.HCM, Nxb

Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh.

75. Thanh Hương (1992), Văn học với nhu cầu, ước mơ, hạnh phúc và đạo lý của con người,

Văn nghệ, Số 32.

76. Trần Thanh Hương (1995), Trao đổi về văn xuôi mấy năm gần đây, Báo Văn nghệ, Số 44.

77.Trầm Hương (2005), Tập truyện ngắn Hoa kèo nèo tím biếc, Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí

Minh.

78. Lê Thị Hường (1994), Quan niệm con người cô đơn trong truyện ngắn hôm nay, Tạp chí

Văn học, Số 2.

79. Lê Thị Hường (1995), Các kiểu kết thúc truyện ngắn hôm nay, Tạp chí Văn học, Số 4.

80. Ma Văn Kháng (1999), Về truyện ngắn, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Số 4.

81. M.B. Khrapchenkô (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Tác

phẩm mới, Hà Nội.

82. M.B. Khrapchenkô (1985), Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người (tập II), Nxb Khoa

học Xã hội, Hà Nội.

83. M.B. Khrapchenkô (2002), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn

học, (Trần Đình Sử tuyển chọn và giới thiệu), Đại học Quốc gia, Hà Nội.

84. Võ Văn Kiệt (1984), Nam bộ tiềm năng và triển vọng, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.

85. Võ Văn Kiệt (2005), Đạo lý cho sự phát triển của đồng bằng sông Cửu Long, (Ban chỉ

đạo Tây Nam bộ và Trung tâm Thông tin Sài Gòn), Nxb Chính trị Quốc gia.

86. Phùng Ngọc Kiếm (1998), Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội.

87. Đình Kính (2007), Truyện ngắn thời đổi mới, Văn nghệ, Số 3.

88. Lê Đình Kỵ (1985), Tìm hiểu văn học, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.

89. Nguyễn Văn Kha (2006), Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975-

2000, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

90. Đặng Văn Khương (2007), Văn hoá và con người Nam bộ trong sáng tác của Phi Vân,

Luận văn Cao học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh.

91. Tôn Phương Lan (2004), Truyện ngắn chiến tranh nhìn từ sự vận động của thể loại, Tạp

chí Văn học, Số 11.

92. Dương Hoàng Lộc (2005), Mấy suy nghĩ về tính khoan dung trong văn hoá Nam bộ, Tạp

chí Khoa học xã hội, Số 3, tr.69.

93. Nguyễn Văn Long (1985), Văn xuôi sau 1975 viết về chiến tranh, Tạp chí Văn nghệ

Quân đội, Số 4.

94. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (Đồng chủ biên) (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 -

Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

95. IU.M.LOTMAN (2004), Cấu trúc văn bản nghệ thuật (Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá

Đĩnh, Nguyễn Thu Thuỷ dịch), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

96. Phong Lê (1990), Nhà văn và hiện thực, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

97. Phong Lê (1994), Văn học và công cuộc đổi mới, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

98. Nguyễn Văn Lưu (1996), Thử nhìn lại văn học Việt Nam sau mười năm đổi mới, Văn

nghệ Quân đội nhân dân, Số 6.

99. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà (2006), Lý luận văn học,

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

100. Trần Đỗ Liêm (2008), Sông nước Cửu Long, Tạp chí Văn học, Số 2.

101. John Lyons (2006), Ngữ nghĩa học dẫn luận (Nguyễn Văn Hiệp dịch), Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

102. Đinh Thành Nam (1991), Cây lá đan mặt trời, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Tháp.

103. Sơn Nam (2004), Đất Gia Định - Bến Nghé xưa - Người Sài Gòn, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí

Minh.

104. Sơn Nam (2004), Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa, Nxb Trẻ Tp. Hồ Chí

Minh.

105. Sơn Nam (2005), Nói về miền Nam - Cá tính miền Nam - Thuần phong mỹ tục Việt

Nam, Biên khảo, Nxb Trẻ.

106. Hoài Nam (6.2009), Lệ thuộc sinh ra lực cản, An ninh, Số 83.

107. Nguyễn Kim Nương (2005), Truyện ngắn An Giang 1975-2005 - những thành tựu chủ

yếu, Văn nghệ An Giang.

108. Dạ Ngân (1986), Điều khác trước, in trong sách : Quãng đời ấm áp, Nxb Phụ nữ.

109. Bích Ngân (2005), Những mảnh ván thiêng in trong Tuyển tập truyện ngắn Bến Tre từ

1945 - 2005, Nxb Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu.

110. Vương Trí Nhàn (2001), Sổ tay truyện ngắn, Nxb Văn học, Tp. Hồ Chí Minh.

111. Phùng Quý Nhâm (1992), Thẩm định văn học, Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh.

112. Phùng Quý Nhâm (1998), Tinh thần phân tích tâm linh, một đặc trưng của chủ nghĩa

hiện thực, Tạp chí Văn học, Số 4.

113. Phùng Quý Nhâm (2003), Văn học và văn hóa từ một góc nhìn, Nxb Văn học, Trung

tâm nghiên cứu Quốc học.

114. Nguyên Ngọc (1990), Cần mạnh bạo bước qua cái xấu, cái ác để hướng tới cái thiện, cái

đẹp, Lao động Chủ nhật, Số 8.

115. Nguyên Ngọc (1991), Văn xuôi sau 1975 - Thử thăm dò đôi nét về qui luật phát triển,

Tạp chí Văn học, Số 4.

116. Nguyên Ngọc (2005), Còn có rất nhiều người cầm bút có tư cách, Chuyên đề tiểu thuyết

đăng ở đâu, http:// www.vnexpress.net, ngày 2/1.

117. Lê Thành Nghị (1989), Những truyện ngắn hay, Tạp chí Văn nghệ quân đội, Số 12.

118. Lã Nguyên (1999), Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn, Tạp chí Văn học,

Số 19.

119. Nguyễn Thị Phước (1999), Chuyến tàu tháng bảy, Nxb Hội Nhà văn.

120. Huỳnh Như Phương (1991), Văn xuôi những năm 1980 và vấn đề dân chủ hoá nền văn

học, Tạp chí Văn học, Số 4.

121. Huỳnh Như Phương (1994), Những tín hiệu mới, Hội nhà văn, Hà Nội.

122. Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh (1992), Văn hoá Người Việt ở

Nam bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

123. Hoài Phương (2004), Truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay - Thành

tựu và những điều trăn trở, Tạp chí Nhà văn, Số 11.

124. G.N Pospelov ( chủ biên) (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học (2 tập), Nxb Giáo dục,

Hà nội.

125. Phan Quang (2001), Bút ký đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Trẻ Tp. Hồ Chí Minh.

126. Spencer John Son, M.D (2004), Qùa tặng diệu kỳ, Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.

127. Thai Sắc (1997), Ăng ti gôn, Nxb Văn học, Hà Nội.

128. Văn Sinh (1997), Cây dầu biết nói, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Tháp.

129. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

130. Trần Hữu Tá (1989), Vấn đề định hướng của văn học trong tình hình hiện nay, Tạp chí

Văn học, Số 5.

131. Trần Hữu Tá (2000), Nhìn lại một chặng đường văn học, Tp. Hồ Chí Minh.

132. Phạm Minh Thảo (2005), Việt Nam trên bàn ăn, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

133. Nguyễn Thanh (2001), Bóng chiều hôm, Nxb Hội Nhà văn.

134. Nguyễn Thanh (2004), Văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long - một chặng đường phát

triển đáng ghi nhận, Tạp chí Nhà văn, Số 10.

135. Chiêm Thành (2004), Văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long: một khu vực văn xuôi có

nhiều đặc sắc, Tạp chí Nhà văn, Số 10.

136. Nguyễn Q. Thắng (2002), Tuyển tập Bình Nguyên Lộc, tập I, II, III, Nxb Văn học.

137. Nguyễn Thị Mai Thảo (2008), Phong cách nghệ thuật Trang Thế Hy, Luận văn Cao

học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh.

138. Bùi Việt Thắng (1991), Văn xuôi gần đây và quan niệm về con người, Tạp chí văn học,

Số 6.

139. Bùi Việt Thắng (1993), Truyện ngắn dự thi - phía trước và hy vọng, Tạp chí Văn nghệ

Quân đội, Số 7.

140. Bùi Việt Thắng (1998), Cái vĩnh hằng và cái thường ngày, Văn nghệ, Số 51.

141. Bùi Việt Thắng (1999), Bình luận truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội.

142. Bùi Việt Thắng (2000), Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb

Đại học Quốc gia, Hà Nội.

143. Bùi Việt Thắng (2000), Bàn về tiểu thuyết, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

144. Bùi Việt Thắng (2001), Truyện ngắn mười năm qua, Văn nghệ Quân đội, Số 8.

145. Bùi Việt Thắng (2004), Truyện ngắn hôm nay, Nghiên cứu Văn học, Số 1.

146. Bùi Việt Thắng, Bài học văn chương từ Cánh đồng bất tận, Nghiên cứu Văn học, Số 7.

147. Hồ Tĩnh Tâm (2004), Cá tính và bản lĩnh văn xuôi Nam bộ, Tạp chí Nhà văn, Số 10.

148. Hồ Bá Thâm (2003), Văn hoá Nam bộ vấn đề phát triển, Nxb Văn hoá - Thông tin.

149. Nguyễn Quang Thân (1992), Sự trói buộc của truyện ngắn, Tạp chí Văn nghệ Quân đội,

Số7.

150. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.

151. Huỳnh Công Tín (2006), Từ điển từ ngữ Nam bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

152. Huỳnh Công Tín (2006), Cảm nhận bản sắc Nam bộ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

153. Đoàn Cầm Thi (2004), Chiến tranh, tình yêu, dục vọng trong văn học Việt Nam đương

đại, evan.com, (29.3).

154. Ngô Đức Thịnh (2004), Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam, Nxb. Trẻ, Tp.

Hồ Chí Minh.

155. Trần Quốc Toàn (2004), Cần mở nhiều lối vào văn học, Tạp chí Nhà văn, Số10.

156. Bích Thu (1995), Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975 qua hệ thống mô

típ chủ đề, Tạp chí Văn học, Số 4.

157. Bích Thu (1996), Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975, Tạp chí Văn học, Số 9.

158. Bích Thu (2006), Nhận dạng nhân vật trong truyện ngắn 1945 - 1975, Nghiên cứu Văn

học, Số 5.

159. Đỗ Thị Minh Thúy (1997), Mối quan hệ giữa Văn hóa và Văn học, Nxb Văn hóa Thông

tin, Hà Nội.

160. Lê Hương Thủy (2006), Truyện ngắn sau 1975 - một số đổi mới về thi pháp, Tạp chí

Nghiên cứu Văn học, Số 11.

161. Nguyễn Thị Thu Thuỷ (2008), Những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư, Luận văn Cao học, Đại học Vinh.

162. Lê Anh Trà (chủ biên), (1984), Mấy đặc điểm văn hoá đồng bằng sông Cửu Long, Nxb

Viện văn hoá.

163. Lê Ngọc Trà (1990), Lý luận và văn học, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

164. Bùi Thanh Truyền (2006), Sự hồi sinh của yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt

Nam, Tạp chí Nghiên cứu học, Số 11.

165. Nguyễn Nghĩa Trọng (2005), Thử nhận diện văn học 30 năm qua, Nxb Hội Nhà văn, Số

4.

166. Nguyễn Ngọc Tư (2000), Ngọn đèn không tắt, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

167. Nguyễn Ngọc Tư (2001), Ông ngoại, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

168. Nguyễn Ngọc Tư (2003), Biển người mênh mông, Tập truyện, Nxb Kim Đồng, Hà Nội.

169. Nguyễn Ngọc Tư (2004), Giao thừa, Tập truyện, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

170. Nguyễn Ngọc Tư (2004), Nước chảy mây trôi, Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh.

171. Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

172. Nguyễn Ngọc Tư(2008), Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh

173. Nguyễn Ngọc Tư (2004), Nhà văn Nguyễn Thanh người nặng nợ với văn chương, Bán

đảo Cà Mau, Số 49.

174. Nguyễn Ngọc Tư (2004), Bàn tròn văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long, Bán đảo Cà

Mau, Số 49.

175. Phan Văn Tường (2007), Bước đầu tìm hiểu văn học ở Long An, Nxb Văn nghệ.

176. Nhiều tác giả (1986), Tác phẩm chọn lọc (1975- 1995), Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.

177. Nhiều tác giả (1986), Lý luận văn học (tập1), Đại học Sư phạm Hà Nội.

178. Nhiều tác giả (1989), Nguyễn Huy Thiệp, tác phẩm và dư luận, Nxb Trẻ.

179. Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn Tiền Giang 1975 - 2005, Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí

Minh.

180.1. Nhiều tác giả (1999), Truyện ngắn miền Tây (Tập 1), Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

180.2. Nhiều tác giả (1999), Truyện ngắn miền Tây (tập 2), Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

181. Nhiều tác giả (1995), 20 năm truyện ngắn An Giang, Văn nghệ An Giang

182. Nhiều tác giả (2003), Tuyển tập truyện ngắn 18 nhà văn đồng bằng sông Cửu Long,

Nxb Mũi Cà Mau.

183. Nhiều tác giả (1996), Tuyển tập truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long 1975- 1995,

Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

184. Nhiều tác giả (2002), Tuyển tập văn học Đồng Tháp thế kỷ XX, Hội Văn học Nghệ thuật

Đồng Tháp.

185. Nhiều tác giả (2006), Tuyển tập văn học Đồng Tháp (1986 -2006), Hội Văn học Nghệ

thuật Đồng Tháp.

186.Nhiều tác giả (2005), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục.

187. Trần Vệ Giang (2004), Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đậm sâu một phong cách Nam bộ,

http:// www.vannghesongcuulog.org.

188. Trần Đăng Xuyền (1993), Một cách nhìn cuộc sống hiện nay, Báo Văn nghệ, Số 15.

189. Hoàng Thị Văn (2001), Khát vọng hạnh phúc của con người trong truyện ngắn 1975 -

1995, Khoa ngữ văn ¼ thế kỷ, Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh.

190. Viện Khoa học Xã hội tại Tp.HCM (1982), Một số vấn đề khoa học xã hội về Đồng

bằng sông Cửu Long, Nxb KHXH, Hà Nội.

191. Viện Văn hoá (1984), Mấy đặc điểm Văn hoá đồng bằng sông Cửu Long, Viện Văn hoá

xuất bản.

192. Trần Quốc Vượng (1999), Một cái nhìn địa văn hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

193. Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân

tộc, Hà Nội.

194. Hồ sĩ Vịnh (1998), Văn hóa Văn học một hướng tiếp cận, Nxb Văn học và Viện văn

hóa, Hà Nội.

195. Tường Vi(2005), Một phong vị truyện ngắn đồng bằng riêng biệt, http://

www.vannghesongcuulog.org.

196. Nguyễn Anh Vũ (2004), Truyện ngắn Ba tác giả nữ đồng bằng sông Cửu Long, Nxb

Văn học.

197. Đặng Vũ (2006), Cổ tích trên cánh đồng bất tận, Tạp chí Nhà văn, Số 12.

PHỤ LỤC

NHỮNG TRUYỆN NGẮN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ 1975 ĐẾN NAY THUỘC ĐỐI TƯỢNG LUẬN ÁN KHẢO SÁT

TÊN TÁC PHẨM

TÁC GIẢ

Dốc chiều hôm Trái tim Đồng Tháp Mười Người ở lại Khoảng trống Khoảng cách Nghiệp đời còn đó

Nước mắt đàn ông Đứa con hoang

Sông Hậu xuôi về

STT 1 2 3 4 5 6 7 Một mảnh đời 8 9 10 Trở về cõi tục 11 Cũng một kiếp người 12 Ba về 13 Huyền thoại Ipsinnkharon 14 Đường về 15 Ngày mưa 16 Chị Mai 17 Quê hương đôi ngả 18 Thị trấn đồng bằng 19 Hổ mun 20 Dấu roi xưa 21 Một lẽ sống 22 Giữa dòng nước lũ 23 Chuyện đời 24 Cái đèn bỏ quên 25 Một giờ với tương lai 26 Thuốc đắng 27 Tiếng bước chân 28 Về với mảnh vườn xưa 29 Chiếc ghe lườn 30 Đò đã dời bến 31 Thầy Năm Mọi 32 Xóm mồ côi 33 34 Bến nước kinh Cùng 35 Hạnh phúc muộn màng 36 Tiếng gọi ngàn 37 Tiếng hót trong lồng 38 Tú tài làng Ô Môi 39 Thời gian 40 Ông già đến từ Busan 41 Tiếng chông trôi trên sông 42 Điều không thể tới được

Trần Phương Anh Trần Thị Hoàng Anh Trần Thị Hoàng Anh Hoàng Dương Thu Anh Trầm Nguyên Ý Anh Trầm Nguyên Ý Anh Trầm Nguyên Ý Anh Trầm Nguyên Ý Anh Trầm Nguyên Ý Anh Trầm Nguyên Ý Anh Trầm Nguyên Ý Anh Lê Đình Bích Lê Đình Bích Lê Đình Bích Nguyễn Kim Châu Nguyễn Hồng Chuyên Nguyễn Hồng Chuyên Đào Ngọc Chương Đặng Thư Cưu Đặng Thư Cưu Anh Đào Anh Đào Anh Đào Phạm Thị Ngọc Điệp Anh Động Anh Động Anh Động Anh Đức Đặng Tấn Đức Đặng Tấn Đức Phạm Trường Gia Nguyễn Lập Em Nguyễn Lập Em Nguyễn Lập Em Ca Giao Đoàn Giỏi Trịnh Bửu Hoài Trịnh Bửu Hoài Lâm Thị Thanh Hà Vũ Hồng Vũ Hồng Chu Hồng Hải

Phía sau một con người

43 Chuyện con người 44 45 Mai 46 Quân cờ người 47 Giấc khuya chín sầu riêng 48 Phù sa trên tóc bạch kim 49 Bông mai giữa Đồng Tháp Mười 50 Mộ tổ 51 Vở nhạc kịch dâng mẹ 52 Một chữ 53 Con mèo hoang và nhà thơ có gia cư 54 Vết thương thứ 13 55 Về nhà trước cơn mưa 56 Cây bằng lăng bông tím 57 Không có cái chuyện nào cả 58 Tình yêu 59 Bé bằng bông 60 Quí hơn vàng bạc 61 Phiên tòa không bị cáo 62 Chiều nay có trận tennis hay 63 Ước mơ buồn 64 Tìm con 65 Chuyến xe cuối 66 Người cóc 67 Nhân tình 68 Nơi cuối đường 69 Nước chảy một bên 70 Vài ngày ở Cần Thơ 71 Những người hiện đại 72 Người chạy trốn quá khứ 73 Đôi tay 74 Hắn và tôi 75 Mảnh đất 76 Mùa bông điên điển 77 Khóc hương cau 78 Đất không cưu mang 79 Những mảnh ván thiêng 80 Giọt đắng 81 Nhà không có đàn ông 82 Trên mái nhà người phụ nữ 83 Trò chơi giữa giờ 84 Quan gác cửa 85 Chợ người 86 Bé và chim 87 Gặp vận đổi đời 88 Lý lẽ của anh Sáu Bợ 89 Trăng lặn

Nguyễn Huỳnh Hiếu Nguyễn Huỳnh Hiếu Nguyễn Đắc Hiền Lương Minh Hinh Lương Minh Hinh Nguyễn Thị Thanh Huệ Lê Thanh Huệ Lê Thanh Huệ Trầm Hương Đỗ Viết Hương Trang Thế Hy Trang Thế Hy Trang Thế Hy Phạm Trung Khâu Phạm Trung Khâu Phạm Trung Khâu Nguyễn Đăng Khoa Bùi Quí Khiêm Nguyễn Thị Kỳ Nguyễn Linh Đỗ Tuyết Mai Nguyễn Thị Diệp Mai Nguyễn Thị Diệp Mai Nguyễn Thị Diệp Mai Nguyễn Thị Diệp Mai Nguyễn Thị Diệp Mai Nguyễn Thị Diệp Mai Mương Mán Lê Thị Thanh Minh Mai Bửu Minh Mai Bửu Minh Mai Bửu Minh Đinh Thành Nam Phương Nam Phan Trung Nghĩa Bích Ngân Bích Ngân Bích Ngân Dạ Ngân Dạ Ngân Vũ Đức Nghĩa Vũ Đức Nghĩa Hàn Vĩnh Nguyên Hàn Vĩnh Nguyên Nguyễn Nhân Đinh Quang Nhã Khai Phong

90 Kỷ niệm thoáng qua 91 Bông điên điển 92 Con sóng Đồng Tháp Mười 93 Thảo 94 Chim hạnh phúc 95 Nàng Hê Rát 96 Mùa dưa gang 97 Thành phố trắng 98 Người dì tên đợi 99 Cha và chú tôi 100 Có một cơn bão như thế 101 Phía sau một ca khúc 102 Chim lá rụng 103 Tiếng độc huyền và cây cột nhà gỗ sao 104 Cổ tích chiến tranh 105 Những đứa con chiến tranh 106 Một đoạn đời 107 Chợ cá 108 Người đàn bà hát rong 109 Cú kêu mùa lũ 110 Kiều Nương 111 Phố không đèn 112 Tro bụi trên sông 113 Chim hạc bay về 114 Bầy chim sổ lồng 115 Dấu mưa xoi 116 Nhớ khói 117 Dưới lớp tro bụi 118 Dòng sông đêm lặng chảy 119 Có một mùa mưa 120 Xóm phố 121 Con gái tôi 122 Cùng đất nước 123 Miên man miền quê chị 124 Ông cá hô 125 Thằng Cung 126 Sau chiến tranh 127 Câu chuyện trên tàu 128 Chuyện nhà tôi 129 Mùa gác chéo 130 Ông già Tháp Mười 131 Quê ngoại 132 Ông thiềm Thừ 133 Sau cuộc chiến 134 Điểm tựa trắng 135 Bia mộ 136 Thập giá gỗ

Khai Phong Đỗ Phu Nguyễn Thị Phước Đỗ Viết Phương Ngọc Phượng Ngọc Phượng Kim Quyên Kim Quyên Nguyễn Quang Sáng Thai Sắc Thai Sắc Thai Sắc Thai Sắc Thai Sắc Thai Sắc Thai Sắc Nguyễn Thanh Sơn Nguyễn Thanh Sơn Vân Sinh Vân Sinh Ngô Khắc Tài Ngô Khắc Tài Ngô Khắc Tài Ngô Khắc Tài Ngô Khắc Tài Ngô Khắc Tài Ngô Khắc Tài Mai văn Tạo Hồ Tĩnh Tâm Hồ Tĩnh Tâm Hồ Tĩnh Tâm Nguyễn Thanh Nguyễn Thanh Nguyễn Thanh Lê Văn Thảo Lê Văn Thảo Quang Thắng Trần Ninh Thới Trần Ninh Thới Tùng Thiện Phan Thư Thu Trang Trần Kim Trắc Nguyễn Trường Lê Đình Trương Lê Đình Trương Lê Đình Trương

137 Tiếng hú trong đêm hội Lăng 138 Phía trước 139 Xóm nghèo 140 Chiếc bình độc cổ 141 Suất hát đêm giao thừa 142 Ngọn đèn không tắt 143 Nỗi buồn rất lạ 144 Chuyện của Điệp 145 Ngổn ngang 146 Lý con sáo sang sông 147 Nhớ sông 148 Cuối mùa nhan sắc 149 Hiu hiu gió bấc 150 Lương 151 Cái nhìn khắc khoải 152 Dòng nhớ 153 Người năm cũ 154 Ngày đùa 155 Bởi yêu thương 156 Làm mẹ 157 Cải ơi 158 Thương quá rau răm 159 Huệ lấy chồng 160 Nhà cổ 161 Mối tình năm cũ 162 Biển người mênh mông 163 Duyên phận sole 164 Một trái tim khô 165 Cánh đồng bất tận 166 Vết chim trời 167 Chuồn chuồn đạp nước 168 Tình thầm 169 Trên đỉnh Puvan 170 Âu thơ tươi đẹp 171 Núi lở 172 Thổ Sầu 173 Một chuyện hò hẹn 174 Gió lẻ 175 Một quãng đời và cả cuộc đời 176 Nhưng mối tình qua chiến tranh 177 Kẻ thù của tôi 178 Thằng lựu Đạn 179 Gặp gỡ 180 Chuyện ghét chuyện thương 181 Nhạc rừng 182 Khách thương hồ 183 Chói chang

Nguyên Tùng Nguyên Tùng Nguyễn Ngọc Tuyết Nguyễn Ngọc Tuyết Trần Quốc Tuấn Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Phạm Duy Tương Phạm Duy Tương Tú Uyên Võ Ngọc Khánh Vân Lương Hiệu Vui Lương Hiệu Vui Lương Hiệu Vui Hào Vũ Hào Vũ

Hào Vũ

184 Một người bị bỏ quyên