
Khế ước xã hội của Thomas Hobbes
2
Phương pháp luận của Thomas Hobbes
PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Chủ nghĩa kinh nghiệm như một trào lưu (thậm chí có thể gọi là khuynh hướng)
gắn liền với các thành quả của khoa học tự nhiên thực nghiệm, được hình thành tại
Italia và Hà Lan ngay từ thế kỷ XVI, tại Anh thế kỷ XVII. Là trung tâm kinh tế và
văn hóa châu Âu, nước Anh cũng là nơi khai sinh ra chủ nghĩa kinh nghiệm duy
vật Anh, gắn liền với tên tuổi Bacon. Hobbes tiếp tục truyền thống đó, nhưng thực
hiện những điều chỉnh cần thiết dưới tác động của cơ học và xu thế toán học hóa
tư duy.
Trong quan niệm về nguồn gốc của tri thức Hobbes tiếp tục bảo vệ duy cảm luận,
mà quan điểm cốt lõi của nó là “không có cái gì trong trí tuệ, nếu không có trước
hết trong cảm giác”, hoặc “ không có bất kỳ khái niệm nào trong trí tuệ con người,
nếu không được sinh ra trước tiên, toàn bộ hay từng phần, trong các cơ quan cảm

giác” (Sđd, tr. 50). Nhận thức con người về thực chất được bắt đầu từ cảm giác,
bởi lẽ nếu không có các cảm giác sẽ không có biểu tượng, không có ký ức, không
có quan niệm. Suy rộng ra, cảm giác không tách rời khỏi đời sống con người, nó
đem đến cho cuộc sống thường nhật tri thức về sự kiện (cognitio). Song Hobbes
lưu ý rằng các hình ảnh do cảm giác đem đến dưới hình thức các sự kiện vẫn
không đủ cơ sở để giải thích hiện tượng của khoa học. Vì thế cần xác lập khoa học
về tính toán, hay toán học. Đây là điểm khác biệt giữa Hobbes và Bacon.
Trong bảng phân loại khoa học của mình, Bacon đánh giá toán học chỉ như thứ
khoa học bổ trợ cho triết học, chứ không nâng lên vị trí của một khoa học đúng
nghĩa. Ngược lại Hobbes chú trọng đặc biệt đến các nguyên lý duy lý – toán học
của tư duy. Hobbes chỉ đồng ý với Bacon trong thái độ đối với tam đọan luận của
Aristote, là thứ thuyết vô giá trị trong việc xét đoán tính chân thực của tri thức.
Nhờ khai thác được những tư tưởng quý giá từ các công trình toán học của
Euclide, tiếp xúc, nghiên cứu tác phẩm, hoặc trao đổi với các nhà toán học và các
nhà khoa học tự nhiên lớn của thời đại như Galileio, Descartes, Leibniz mà
Hobbes phân tích sâu sắc vai trò của toán học và khoa học tự nhiên lý thuyết trong
nhận thức thế giới. Theo sau Descartes, người đã xem toán học là khoa học phổ
biến, còn phép diễn dịch là phương pháp phổ quát của khoa học tự nhiên lý thuyết,
Hobbes đưa toán học lên vị trí đầu tiên giữa các khoa học khác, gọi hình học và số
học là toán học thuần túy. Ông nhấn mạnh: "nghiên cứu triết học tự nhiên mà
không bắt đầu từ việc nghiên cứu hình học thì thật là vô ích” (Sđd, tr. 124 – 125).

Chẳng phải ngẫu nhiên mà phần thứ nhất của “Về những nguyên lý triết học” có
tên là “Phép tính, hay Lôgíc học”. Đối với các khoa học tự nhiên khác, chẳng hạn
vật lý và thiên văn, Hobbes quy về các khoa học toán học ứng dụng. Cũng như các
nhà triết học duy lý, Hobbes coi toán học là khuôn mẫu của tri thức, bởi lẽ nó thể
hiện ở mức độ cao nhất “ánh sáng tự nhiên” cửa trí tuệ con người và khả năng của
con người khám phá những bí mật của tự nhiên và của chính con người. Chỉ có
toán học mới đem đến tri thức chân thực, tất yếu và phổ biến, thứ tri thức được
hình thành thông qua các xét đoán lôgíc hợp lý và thuyết phục. Hobbes viết:"Từ
kinh nghiệm khó có thể rút ra một kết luận nào mang tính phổ biến” (Sđd, tr. 524).
Như vậy là Hobbes phân biệt tri thức đơn giản về sự kiện với tri thức khoa học,
mà hai tính chất cơ bản của nó là tính chân thực và tính phổ biến. Ngay cả khi con
người thường xuyên quan sát thấy ngày và đêm lần lượt thay thế nhau, thì vẫn
chưa thể rút ra kết luận rằng, chúng thay thế nhau thường xuyên hay thay thế nhau
từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Nói khác đi, kết luận thông qua thường nghiệm
không thể là chân lý vô điều kiện.
Hobbes còn đến gần với Descartes trong cách hiểu về bản chất và vai trò nhận
thức của phương pháp phân tích và tổng hợp. Phương pháp phân tích, theo cả
Descartes và Hobbes, chẳng qua là phương pháp đi đến các nguyên tắc và các yếu
tố cao hơn bằng con đường phân tích đối tượng nhận thức, còn phương pháp tổng
hợp là phương pháp đi từ các nguyên tắc và các yếu tố được rút ra bằng sự phân
tích, đến các sự vật hiện thực và thế giới nói chung. Theo Hobbes, “bất kỳ phương

pháp nào mà nhờ đó chúng ta nghiên cứu nghuyên nhân của các sự vật, đều là
phương pháp liên kết hoặc chia tách, hoặc một phần liên kết, một phần chia tách.
Thông thường phương pháp chia tách được gọi là phương pháp phân tích, còn
phương pháp liên kết - phương pháp tổng hợp" (Sđd, tr. 120). Việc vận dụng
phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp ở Hobbes xuất phát từ định
nghĩa của ông về bản chất của nhận thức triết học – khoa học là làm sáng tỏ “các
nguyên nhân” của thế giới các sự vật, đạt đến chân lý. Tri thức khoa học được biểu
đạt trong các phán đoán; các phán đoán có trở thành các phán đoán chân lý hay
không, đó là vấn đề của nhận thức. Chân lý là thuộc tính không của các sự vật, mà
của phán đoán về sự vật (Sđd, tr. 97). Phương pháp phân tích và phương pháp tổng
giúp con người thực hiện mục đích của nhận thức khoa học. Việc rút ra các
nguyên tắc từ các hiện tượng tri giác cảm tính được thực hiện bằng phương pháp
phân tích, còn vận dụng các nguyên tắc vừa được rút ra ấy vào việc xác định các
hiện tượng cụ thể có thể tiến hành thông qua phương pháp tổng hợp. Hobbes
viết:"Chúng ta sử dụng phương pháp phân tích nhằm thiết lập những tiền đề riêng
lẽ, còn phương pháp tổng hợp nhằm xác định kết quả tổng thể tất cả những gì
được sinh ra bởi một tiền đề tách biệt. Tất cả những điều vừa đề cập ấy cho đến
nay đều thích hợp đối với phương pháp nghiên cứu” (Sđd, t.1, tr. 129).
Hoạt động phân tích của lý trí, đưa đến việc xác lập các nguyên tắc của nhận thức
cũng đồng thời là phương pháp thực nghiệm của việc nghiên cứu tự nhiên. Hobbes
hiểu phương pháp này từ quan điểm máy móc – siêu hình, bởi lẽ ông cho rằng bất

kỳ hiện tượng tự nhiên nào cũng đều được phân tích vô điều kiện ra các yếu tố cấu
thành của nó, và rằng, cái toàn thể và tổng thể các bộ phận của nó đều như nhau.
Trên cơ sở này Hobbes tuyên bố: cái toàn vẹn chỉ có thể được gọi là cái được cấu
thành từ các bộ phận và phân chia ra các bộ phận. Các kết quả có được nhờ vận
dụng phương pháp phân tích, được làm sáng tỏ thông qua những định nghĩa chặt
chẽ, đem đến cho chúng ta khả năng tư duy về cái toàn vẹn với sự hỗ trợ của
phương pháp tổng hợp. Hobbes hình dung phương pháp này như phương pháp
chứng minh, diễn dịch – toán học và tuyệt đối đáng tin cậy, nghĩa là phương pháp
đạt đến tri thức xác thực tuyệt đối. Quan niệm của Hobbes về ưu thế của tri thức
diễn dịch – toán học trước tri thức thực nghiệm, sự đồng thuận của Hobbes với
Descartes trong vấn đề vai trò nhận thức của phân tích và tổng hợp, thiện cảm của
Hobbes đối với các hình thức diễn dịch – duy lý của tư duy cho phép một số nhà
nghiên cứu lịch sử triết học và khoa học nói đến nhị nguyên luận về phương pháp,
một hiện tượng dễ nhận biết đối với người hệ thống hóa chủ nghĩa duy vật Bacon
trong điều kiện cơ học và xu thế toán học hóa tư duy đang thịnh hành. Trên thực
tế, Hobbes xem cả hai phương pháp – phương pháp thực nghiệm – phân tích và
phương pháp diễn dịch – tổng hợp – là ngang nhau, nhưng lĩnh vực ứng dụng khác
nhau. Lĩnh vực ứng dụng của phương pháp thực nghiệm – quy nạp, phân tích
trước hết là lĩnh vực nghiên cứu tự nhiên (vật lý chẳng hạn), còn lĩnh vực ứng
dụng của phương pháp diễn dịch – tổng hợp là toán học, và cả chính trị, đạo đức.

