LUẬN VĂN:
Khoa học là lực lượng sản xuất trực
tiếp và xem xét vấn đề trên trong công
cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam
Mở đầu
Đất nước ta đang trong qtrình y dựng phát triển theo con đường công
nghiệp hoá hiện đại hoá ,đi vào chiều sâu . Xuất phát từ thực tiễn y , việc nghiên
cứu thống nhất ý kiến để đi đến nhận đnh về mối quan hệ giữa khoa học và lực
lượng sản xuất trực tiếp có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng .
Khi nghiên cứu đề tàiKhoa học lực lượng sản xuất trực tiếp xem xét vấn
đề trên trong ng cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam vấn đề đặt ra sự tác
động ,ảnh hưởng của khoa học đối với lực lượng sản xuất trong thời gian qua như
thế nào ? đòi hỏi svận dụng những thành tựu khoa học ng nghệ nthế
nào cho phù hợp đúng đắno công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam .
1: Mi quan hệ giữa khoa học va` lực lượng sản xuất .
1.1. Lực lượng sản xuất là gi`?
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hgiữa con người với tự nhiên
trong quá trình sản xuất. Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con
người trong quá trình sản xuất của cải vật chất. Lực lượng sản xuất bao gồm người
lao động với kỹ năng lao động của h liẹu sản xuất, trước hếtcông cụ lao
động. Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người liệu sản xuất,
trước hết là công cụ lao động, kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất
1.2. khoa hoc
1.2.1 Trong lịch sử phát triển của duy nhân loại rất nhiều quan niệm khác
nhau về khoa học, phụ thuộc vào trình đphát triển của hội và phụ thuộc
vào trình độ nhận thức. Về phương diện triết học, theo quan điểm duy vật biện
chứng, khoa học sản phẩm tinh thần, phản ánh các cấu trúc, thuộc tính và quy
luật vận động của c đối tượng vật chất trong thế giới khách quan.. Khoa học
một hình thái hội đặc biệt. Bởi vì khoa học không chỉ phản ánh stn tại xã
hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội, những chân lý của được thực tiễn xã hội kiểm
nghim, khoa học còn kết quả của quá trình sáng tạo lôgíc, của trực giác
thn tài. Mặt khác khoa học (cùng với công nghệ) những yếu tố ngày càng
vai trò đặc biệt quan trọng của lực lượng sản xuất, quyết định trình đphát triển
của lực lượng sản xuất nói riêng của phương thức sản xuất và cuả hội nói
chung. Về phương diện nhận thức luận, khoa học là giai đoạn cao của nhận thức -
giai đoạn nhận thức luận.
Ngày nay, quan niệm khoa học được phổ biến với những đặc trưng cơ bản sau
đây:
- Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về hi, về con nời
duy của con người. nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại, bản
chất của các s vật, hiện ợng, quá trình, từ đó chỉ ra những quy luật khách
quan của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội vàduy.
- Hệ thống tri thức khoa học được hình thành trong quá trình nhận thức của con
người từ trực quan sinh động, đến duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến
thực tiễn, dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết...Như vậy, tri thức
khoa học không chỉ sự phản ánh thế giới hiện thực mà còn được kiểm
nghim qua thực tiễn.
- Hệ thống tri thức khoa học cònthể được hình thành nhờ trực giác hoặc tn
theo những quy luật của lôgíc học. Do đó, một hthống tri thức được coi là tri
thức khoa học phải đảm bảo tính đúng đắn, tính chân thực.
- Nhờ giáo dục, đào to, hthống tri thức khoa học sức sống mãnh liệt, được
phổ biến rộng rãi và lan truyền rất nhanh chóng. Tốc đ tăng truyền đó tăng lên
rất nhiều lần nhờ vào qtrình toàn cầu hóa và công nghệ thông tin. không
chlà sức mạnh, sbiến đổi mau lẹ, còn biểu hiện sự giàu , thịnh
ợng của mọi quốc gia, dân tộc và nhân.
- Hệ thống tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển u dài, liên tục
của duy nhân loại từ thế hệ y sang thế hệ khác. Ngày nay đang trở
thành tài sản chung của xã hội loài người.
Như vậy qua một sđặc trưng bản trên đây về quan niệm khoa học, ta thấy
nổi lên i cốt lõi của khoa học - đó hệ thống tri thức chân thực về tự nhiên, xã
hội và tư duy.
1.2.2.Sự phát triển của cuộc cách mng khoa học - kỹ thuật
Từ khi loài người xuất hiện cho đến cuối thế kỷ XV, sự phát triển của khoa
học kỹ thuật diễn ra rất chậm chạp tương đối độc lập với nhau. Sự phát triển
của k thuật chyếu được thực hiện trên sở hoàn thiện những kinh nghiệm,
những quyết nghề nghiệp được lưa truyền. Về phía mình, khoa học lại thường
được phát triển không phụ thuộc o những nhu cầu của sản xuất, phục tùng
một cách lôgíc nội tại của riêng mình.
Đến những m đầu thế kXVI ,sự phát triển khoa học diễn ra tương đối
nhanh , thời kỳ châu Âu, kinh tế hội phát triển rất i động. o
i khoảng đến thế kỷ XVIII. Những nhu cầu của thương mại, hằng hải, công
trường thủ công đòi hỏi phải giải quyết hàng lot các vấn đề thực tiễn. Sự pt
triển của lực lượng sản xuất không thể được thực hiện trên cơ scủa các kỹ thuật
. Việc chuyển từ sản xuất thủ công sang sản xuất k đặt ra vấn đề phải
phát triển khoa học để ứng dụng những kết quả của vào phát triển kỹ thuật.
Những tiến bcủa khoa học - k thuật thể chia thành những giai đoạn
lớn, gắn liền với những thay đổi về chất của lực lượng sản xuất. Những giai đoạn
ấy được xem như những giai đoạn của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật. Giai
đoạn thnhất giai đoạn khi nhờ những tiến bộ khoa học - kỹ thuật, người ta
đã tiến hànhkhí hoá nền sản xuất, giải phóng con người khỏi lao động chân tay
nặng nhọc và nâng cao năng suất lao động lên nhiều lần. Giai đoạn này bắt đầu từ
cuối thế kỷ XVIII với sra đời của máy hơi nước được biết đến như cuộc
cách mạng công nghệ lần thứ nhất. Từ giữa thế kỷ XX trở đI, bắt đầu giai đoạn
hiện đại của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, khi nhờ những tiến bộ của
khoa học - kỹ thuật, người ta bắt đầu tiến hành tự động hoá nền sản xuất, làm thay
đổi tận gốc r lực lượng sản xuất của hội tăng năng suất lao động lên mc
chưa thấy. hội phương Tây gọi những thay đổi mang tính ớc ngoặt ấy của
khoa học - kỹ thuật là cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần hai”. Trong khi đó,
tại Hội NghTrung ương tháng Sáu m 1955 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Liên Xô, lần đầu tiên khái niệm ch mạng khoa học - kỹ thuật
được đưa ra dùng để chỉ toàn bộ những hiện tượng những qtrình liên quan
đến sự phát triển chóng của khoa học - kỹ thuật.
Trong mọi nh vực sản xuất xã hội, đều có thể quan sát thấy những luân
phiên đặc sắc của cuộc nhảy vọt và sự phát triển tuần tự trong nhiều lĩnh vực như:
Trong ngành năng lượng - từ s dụng ng ng nước, bắp, g, sang
than điện, dầu lửa, rồi năng lượng nguyên tửtrong thế kỷ XXI sẽnăng lượng
nhit hạch...
Trong lĩnh vực sản xuất - từ hợp tác lao động giản đơn qua giai đoạn công
trường thủ công, rồi tiến lên phương thức sản xuất đại cơ khí với các quy trình sản