LUẬN VĂN:
Khoa học trở thành lc lượng sản
xuất trực tiếp và vận dụng xem xét
ng cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam
Lời mở đầu
Trong công cuộc phát triển kinh tế- hội đất nước, vấn đề đi mới được đặt ra như
một yêu cầu cùng cấp thiết đối với nền kinh tế Việt Nam. ng cuộc đổi mới kinh tế
của chúng ta thực sbắt đầu diễn ra từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI vào m 1986. Trước
đó, nền kinh tế nước ta còn mang nặng tính tự cung, tự cấp mặc đã nhiều nỗ lực
trong xây dựng và phát triển kinh tế, nhà nước đã đầu tư lớn nhưng tốc độ tăng trưởng kinh
tế vẫn chậm, thm chí xu hướng giảm sút và bắt đầu rơi vào tình trạng khủng hoảng.
Đứng trước thực trạng đó, chúng ta chcòn một cách lựa chọn duy nhất là cải cách,
mở cửa nền kinh tế, y dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Sau gần
20m đi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu ban đầu rất quan trọng, góp phần
quyết định vào việc đưa nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng và đạt mức tăng trưởng cao.Đây
sở để tiếp tục đẩy mạnh đổi mới trong thời gian tới Đại hội đại biểu lần thứ IX của
Đảng đã xác định : “ Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001-2010 : Đưa
ớc ta ra khỏi nh trạng kém phát triển nâng cao rệt đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân tạo nền tảng để đến m 2020 nước ta bản trở thành một nước công nghiệp
theo ớng hiện đại ’’.Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng nhà nước,Việt Nam đã có
những thành tựu đáng kể trong công cuộc xây dng phát triển kinh tế với tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá cao. Đặc biệt, từ mt nước phải nhập khẩu lương thực nay chúng ta đã
đứng th hai trên thế giới về xuất khẩu gạo.
Tuy nhiên, với xuất phát điểm thấp do chu ảnh ởng của chiến tranh nền kinh
tế tcung, tcấp đã tồn tại trong thời gian dài nên khoảng cách về kinh tế giữa Vit Nam
các nước trên thế giới còn rất lớn. Xuất phát từ thực tế đó Đảng ta đã xác đnh: “Đẩy
mạnh công nghiệp h , hiện đại hđưa ớc ta trở thành một nước ng nghiệp ưu tiên
phát triển lực lượng sản xut phù hợp theo định ớng hội chnghĩa’’.Đảng Nhà
ớc ta cũng đã nhận thức rõ được tm quan trọng của công cuộc đổi mới kinh tế vai
trò,vị trí của khoa học, công nghệ trong sự nghiệp công nghip hoá, hiện đại hoá đất nước
đã coi khoa học công nghệ một động lực mạnh mẽ của snghiệp đổi mới,ổn định
phát triển kinh tế.Chính vì vậy tôi chọn đề tài: Khoa học trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp và vận dụng xem xét công cuộc đổi mi kinh tế Việt Nam”.
1.Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
1.1 Quan niệm về khoa học:
Trong lịch sphát trển duy của nhân loại rất nhiều các quan niệm khác nhau
về khoa học,mt mặt phụ thuộc vào trình độ pt triển của hội mặt khác phụ thuộc
vào trình độ.Xét về phương diện hội,khoa học là một hiện của đời sống hội có nhiu
mặt,trong đó biẻu hiện sự thống nhất giữa những yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần.Về
phương diện triết học khoa học một hình thái ý thức hội đặc biệt.Đặc biệt bi khoa
học không chphản ánh tồn tại hội,phụ thuộc vào tồn tại hội,những chân của
được thực tiễn hội kiểm kim, khoa học còn kết quả của quá trình sáng to
lôgic,của trực giác thiên tài. Còn bởi vì, khoa học(cùng với ng ngh) là những yếu tố
ngày càng vai trò đặc biệt quan trọng của lực lượng sản xuất, quyết định trình độ phát
triển của lực lượng sản xut i riêng, của phương thức sản xuất của hội nói
chung.Về phương diện nhận thức khoa học giai đoạn cao của nhận thức-giai đoạn nhận
thức luận.
Hình thức biểu hiện chủ yếu của tri thức khoa hc là phạm trù, định luật, quy định.
Nhờ tri thức khoa học, ngày càng làm chủ tự nhiên, làm chủ hội và làm chủ bản
thân mình.
1.2-Lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất biểu hiện quan hệ giữa con nời với giới tự nhiên trong quá
trình sản xuất.Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình đ chinh phục tự nhiên ca
loài người. Đó là kết quả của năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tác động vào
tự nhiên tạo ra của ci vt chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của loài người. Như
vậy, lực lương sản xuất là tất cnhững lực lượng vật chất những tri thức, kinh nghiệm
được sử dụng vào quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho hội. Lực ợng sản
xuất bao gồm:
- Người lao động với những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động biết sử
dụng tư liu sản xuất dể tạo ra của cải vật cht.
- liệu sản xuất do hội tạo ra, trước hết là công cụ lao động.Tư liệu sản
xuất bao gồm : Đối tượng lao động và liệu lao động.Đối tượng lao động bộ
phận của giới tự nhiên được đưa vào trong sản xuất như:đt canh tác, nước. Ngoài ra
còn đối tượng không sẵn trong tự nhiên mà con người sáng tạo ra.Tư liệu lao
động là những vật thể mà con người dùng để tác động vào đối tượng lao động nhằm
tạo ra những liệu sinh hoạt phục vụ cho nhu cầu con người.
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn.
Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất
phát triển. Ngày nay khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của
nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống trở thành “lực lượng sản xuất trực
tiếp’’.Những phát minh khoa học trở thành xuất phát ra đời những ngành sản xuất mới,
nguyên liệu mới, ng lượng mới.Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học và sản xuất đã
làm cho lc lượng sản xuất bước phát triển nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mng khoa
học công ngh hiện đại.Có thể i:khoa họccông nghệ hiện đại đặc trưng cho lực
lượng sản xuất hiện đại.
1.3-Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong nền sản xuất hiện
đại:
1.3.1-Một s các quan điểm khác nhau về vấn đề- Khoa học trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp:
Trong thi đại ngày nay, những bước tiến diệu những thành tựu to lớn của
khoa học và công nghệ tác động sâu sắc đến sự phát triển của hội loài người. Lực lượng
sản xuất năng suất lao động tăng nhanh, cấu kinh tế của các quốc gia kinh tế thế
giới chuyển biển mạnh ảnh hượng đến các quan hệ xã hội và quốc tế. Vai trò then chốt của
khoa học công nghệ trong thời đại mới không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên về luận điểm “
khoa học trở thành lc lượng sản xuất trực tiếp” còn nhiều ý kiến khác nhau:
ý kiến cho rằng : Khoa học yếu tố tinh thần , không phải là lực lượng sản
xuất trực tiếp. Ch sứng dụng của khoa học của con ni mới có thể tác động n lực
lượng sản xuất trực tiếp để làm cho phát triển”. Cũng vẫn theo quan đim này thì:
- Các ngành khoa học tự nhiên những ngành sản xuất trí óc, cũng nghĩa
khoa học thuộc lĩnh vực tinh thần.
- Khoa học muốn tác động được vào liệu sản xuất ( thuộc nh vực sản xuất
trực tiếp) và làm cho giá trị của giảm xuống, phải thông qua sự ứng dụng của
khoa học( tức là thông qua hoạt động của con người).
Một ý kiến khác đồng quan điểm với ý kiến trên cho rằng:Khoa học một hình thái
ý thức hội thuộc nh vực tinh thần không bao giờ có thể trở thành lực ợng sản xuất
trực tiếp vì lực lượng sản xuất chỉ bao gồm các yếu tốvà do đó nó càng không thể trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp”.
Trong các tác phẩm của C.Mác Ăngghen đã được dịch ra tiếng việt, các ông đã
khẳng định rằng tri thức (khoa học) đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Cụ thể trong
Phê phán khoa kinh tế chính trị , bản sơ thảo đầu tiên của bộ bản, C.Mac đã nhấn mạnh
: “sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội đã chuyển hoá đến mức
độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp do đó cũng chỉ số cho thấy những điều kiện
của chính quá trình sống của hội đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của ttuệ
phổ biếnđã được cải tạo đến mức độ nào không những i hình thức tri thức, mà c
như những cơ quan thực hành xã hội trực tiếp , những cơ quan trực tiếp của qtrình sống
hiện thực”.
Như vậy theo quan đim của C.Mac tri thức ( khoa học ) đã làm cho bản cố định ( nhà
máy, máy móc, công cụ, được dùng trong sản xuất) chuyển hoá đến mức cực độ thì trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp.Tri thức khoa học khi được con người ứng dụng, sử dụng
trong sản xuất, được chuyn hoá”, vật chất hoá thành máy móc công cụ sản xuất thì nó trở
thành lực lượng sản xuất.Ngày nay, khi mà qtnh ứng dụng khoa học vào sản xuất diễn
ra một cách nhanh chóng, kịp thời thì ràng khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp.