intTypePromotion=1
ADSENSE

Khoa học và Công nghệ là động lực, là nền tảng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chia sẻ: Cẩm Tú | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

69
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ (KH&CN) trên thế giới trong những năm gần đây, đặc biệt là sự xuất hiện của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá khó dự báo trước và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người. Nhờ những đóng góp to lớn của KH&CN, của cải và phúc lợi xã hội nhiều nước trên thế giới tăng đột biến, lối sống và phương thức sản xuất biến đổi tích cực đến không ngờ, chất lượng cuộc sống được nâng cao. Dù là quốc gia đã phát triển hay đang phát triển cũng đều sử dụng KH&CN như là vũ khí chiến lược nhằm đảm bảo vị thế của mình trên thế giới và giữ vững an ninh quốc gia. Việt Nam đang bước vào thời kỳ thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Trong điều kiện đó, các rào cản, bảo hộ cho sản xuất, hàng hóa sẽ bắt buộc phải hủy bỏ. Để phát triển sản xuất trong nước, giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế, không có con đường nào khác là tăng cường đầu tư cho KH&CN, phải coi KH&CN là “động lực quan trọng nhất” của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khoa học và Công nghệ là động lực, là nền tảng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

KH&CN LÀ ĐỘNG LỰC, LÀ NỀN TẢNG CỦA SỰ NGHIỆP CNH, HĐH ĐẤT NƯỚC<br /> PGS.TS Phạm Ngọc Linh<br /> Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Môi trường<br /> Ban Tuyên giáo Trung ương<br /> <br /> <br /> Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ (KH&CN) trên thế giới trong những năm gần<br /> đây, đặc biệt là sự xuất hiện của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, có khả năng tạo ra những<br /> thành tựu mang tính đột phá khó dự báo trước và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã<br /> hội loài người. Nhờ những đóng góp to lớn của KH&CN, của cải và phúc lợi xã hội nhiều nước trên<br /> thế giới tăng đột biến, lối sống và phương thức sản xuất biến đổi tích cực đến không ngờ, chất<br /> lượng cuộc sống được nâng cao. Dù là quốc gia đã phát triển hay đang phát triển cũng đều sử dụng<br /> KH&CN như là vũ khí chiến lược nhằm đảm bảo vị thế của mình trên thế giới và giữ vững an ninh quốc<br /> gia. Việt Nam đang bước vào thời kỳ thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO,<br /> tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn<br /> nhiều so với giai đoạn trước. Trong điều kiện đó, các rào cản, bảo hộ cho sản xuất, hàng hóa sẽ bắt<br /> buộc phải hủy bỏ. Để phát triển sản xuất trong nước, giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế, không có<br /> con đường nào khác là tăng cường đầu tư cho KH&CN, phải coi KH&CN là “động lực quan trọng<br /> nhất” của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước.<br /> <br /> Chủ trương, chính sách phát triển và chính sách phát triển KH&CN, và sức cạnh tranh của nền kinh<br /> KH&CN như Nghị quyết Hội nghị Trung tế. Phát triển KH&CN nhằm mục<br /> ương 2 khóa VIII (năm 1996) về tiêu đẩy mạnh CNH, HĐH đất<br /> Việt Nam đang bước vào thời<br /> định hướng chiến lược phát triển nước”. Nghị quyết Đại hội XII của<br /> kỳ thực hiện đầy đủ các cam<br /> KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH Đảng một lần nữa khẳng định:<br /> kết trong  cộng đồng ASEAN và<br /> đất nước; Kết luận Hội nghị Trung “Phát triển mạnh mẽ KH&CN,<br /> WTO, tham gia các hiệp định<br /> ương 6 khóa IX (năm 2002); Nghị làm cho KH&CN thực sự là quốc<br /> thương mại tự do thế hệ mới, hội<br /> quyết Đại hội XI của Đảng (năm sách hàng đầu, là động lực quan<br /> nhập quốc tế với tầm mức sâu<br /> 2011) và gần đây là Nghị quyết trọng nhất để phát triển lực lượng<br /> rộng hơn nhiều so với giai đoạn<br /> số 20-NQ/TW được thông qua sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức,<br /> trước; trong điều kiện đó, các<br /> tại Hội nghị Trung ương 6 khóa nâng cao năng suất, chất lượng,<br /> rào cản, bảo hộ cho sản xuất,<br /> XI về “Phát triển KH&CN phục vụ hiệu quả và sức cạnh tranh của<br /> hàng hóa sẽ bắt buộc phải hủy<br /> sự nghiệp CNH, HĐH trong điều nền kinh tế; bảo vệ môi trường,<br /> bỏ; để phát triển sản xuất trong<br /> kiện kinh tế thị trường định hướng bảo đảm quốc phòng, an ninh”.<br /> nước, giữ vững độc lập tự chủ về<br /> xã hội chủ nghĩa và hội nhập<br /> kinh tế, không có con đường nào Cùng với đó, Quốc hội, Chính<br /> quốc tế”. Cương lĩnh xây dựng đất<br /> khác là tăng cường đầu tư cho phủ, các bộ, ngành và địa phương<br /> nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa<br /> KH&CN, nâng cao trình độ công đã ban hành khá đầy đủ hệ thống<br /> xã hội (bổ sung, phát triển năm<br /> nghệ của sản xuất. các văn bản chính sách, pháp<br /> 2011) cũng đã chỉ rõ: “KH&CN<br /> Nhận thức được tầm quan giữ vai trò then chốt trong việc luật nhằm thực thi chủ trương,<br /> trọng của KH&CN, Đảng ta đã phát triển lực lượng sản xuất hiện đường lối của Đảng về phát triển<br /> dành nhiều điều kiện cho phát đại, bảo vệ tài nguyên và môi KH&CN; tạo hành lang pháp lý<br /> triển KH&CN, đã ban hành các trường, nâng cao năng suất, chất thuận lợi để thực hiện đổi mới<br /> định hướng chiến lược, cơ chế lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển công tác quản lý nhà nước, tập<br /> <br /> <br /> <br /> 15<br /> Soá 1 naêm 2018<br /> trung chủ yếu ở 3 lĩnh vực: Đầu doanh nghiệp KH&CN; 9 cơ sở bài/năm. Số công bố có tác giả<br /> tư và tài chính; chính sách cán ươm tạo công nghệ cao và ươm người Việt Nam trên các tạp chí<br /> bộ; quản lý hoạt động nghiên cứu tạo doanh nghiệp công nghệ khoa học quốc tế trong những<br /> và ứng dụng KH&CN; đồng thời cao đã được xây dựng và đi vào năm qua tăng nhanh, nếu như<br /> xây dựng các cơ chế, chính sách hoạt động, góp phần hỗ trợ việc năm 2015, lần đầu tiên Việt Nam<br /> khuyến khích đầu tư phát triển thành lập và phát triển các doanh đã có số công bố khoa học vượt<br /> KH&CN, đổi mới sáng tạo, phục nghiệp công nghệ cao. ngưỡng 3.000 bài/năm thì năm<br /> vụ các mục tiêu phát triển kinh tế Trong những năm qua, ngân 2016 đã đạt trên 4.000 bài/năm<br /> - xã hội ở địa phương. Nhiều cơ sách nhà nước vẫn là nguồn lực (tăng 24,7%). Toán học, vật lý<br /> chế, chính sách của địa phương chủ đạo, chiếm tới 65-70% tổng và hóa học tiếp tục là những lĩnh<br /> mang tính đột phá. mức đầu tư toàn xã hội cho hoạt vực có thế mạnh của Việt Nam,<br /> động KH&CN và bình quân chiếm chiếm 40% tổng số công bố quốc<br /> KH&CN Việt Nam - những con số tế trong 5 năm qua. Riêng toán<br /> khoảng 1,43% tổng chi ngân sách<br /> Tiềm lực KH&CN quốc gia liên nhà nước hàng năm, chưa tính học, nước ta có số lượng công bố<br /> tục phát triển. Hiện nay, cả nước phần chi cho KH&CN trong quốc quốc tế đứng đầu khu vực Đông<br /> có gần 168 nghìn người tham phòng, an ninh (chưa đạt mức chi Nam Á.<br /> gia vào hoạt động nghiên cứu và tối thiểu 2% như Nghị quyết đã Thị trường KH&CN bước đầu<br /> phát triển (R&D), trong đó có trên nêu); tỷ trọng đầu tư cho KH&CN/ gắn kết hoạt động KH&CN với sản<br /> 131 nghìn cán bộ nghiên cứu, GDP từ ngân sách nhà nước chỉ xuất, kinh doanh. Từ năm 2012<br /> chủ yếu làm việc trong các tổ ở mức xấp xỉ 0,4%. Đầu tư cho đến nay, Bộ KH&CN đã phối hợp<br /> chức KH&CN nhà nước (84,1%), R&D đang theo xu hướng tích với các bộ, ngành và các tỉnh/<br /> khu vực ngoài nhà nước (13,8%), cực, tăng cả giá trị tuyệt đối lẫn thành phố trực thuộc Trung ương<br /> khu vực có vốn đầu tư nước tỷ lệ trên GDP (0,44% năm 2015 tổ chức được 2 kỳ Chợ công nghệ<br /> ngoài (2,1%). Số nhân lực R&D so với 0,37% năm 2013). Đặc và thiết bị (Techmart) quy mô<br /> tập trung nhiều ở khu vực trường biệt, khu vực doanh nghiệp đóng quốc gia và quốc tế, 12 Techmart<br /> đại học với 77.841 người, chiếm vai trò nổi bật trong hoạt động và TechDemo quy mô vùng và<br /> tỷ lệ 47% tổng nhân lực R&D và R&D, chiếm 58% nguồn chi và chuyên ngành, huy động được<br /> các tổ chức R&D (38.628 người, thực hiện trên 63% chi phí. Một 2.892 đơn vị tham gia với 2.893<br /> chiếm 24%). Tính bình quân có điểm đáng ghi nhận là đầu tư từ gian hàng, giới thiệu và chào bán<br /> 6,86 cán bộ nghiên cứu trên một khu vực ngoài nhà nước đã tăng 13.024 công nghệ và thiết bị.<br /> vạn dân, tuy đã tăng trong những lên đến gần 40% tổng chi cho Hiện cả nước có 8 sàn giao dịch<br /> năm qua, song so sánh với một R&D. Mặc dù vậy, bình quân theo công nghệ ở Hà Nội, TP Hồ Chí<br /> số quốc gia trong khu vực và trên cán bộ nghiên cứu quy đổi tương Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Hải<br /> thế giới cho thấy, chúng ta còn đương toàn thời gian (FTE) năm Phòng, Bắc Giang, Thái Bình,<br /> ở mức thấp: Bằng 1/5 của EU, 2015 của Việt Nam là 38.701 USD Nghệ An; 50 vườn ươm công<br /> 1/6 của Hoa Kỳ, 1/4,5 của Liên PPP. So sánh với một số quốc gia nghệ và doanh nghiệp KH&CN.<br /> bang Nga, 1/10 của Hàn Quốc, khác cho thấy, đầu tư cho R&D Tổng giá trị giao dịch công nghệ<br /> bằng 2/3 của Thái Lan, 1/3 của của Việt Nam còn rất thấp, kể cả giai đoạn 2011-2015 đạt hơn<br /> Malaysia, 1/10 của Singapore. tỷ lệ trên GDP lẫn bình quân trên 13.700 tỷ đồng, tăng 3 lần so<br /> Các loại hình khu công nghệ cao cán bộ nghiên cứu. với giai đoạn 5 năm trước. Qua<br /> tiếp tục được quan tâm phát triển, Theo công bố của Tổ chức Sở các kỳ Techmart và TechDemo<br /> tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động hữu trí tuệ thế giới (WIPO), xếp đã có hơn 2.000 hợp đồng, biên<br /> KH&CN. Cả nước có 3 khu công hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn bản được ghi nhớ và ký kết với<br /> nghệ cao quốc gia ở 3 miền; có 13 cầu (GII) của Việt Nam năm 2017 tổng giá trị giao dịch hơn 3.400<br /> khu nông nghiệp ứng dụng công đã vượt 12 bậc so với năm 2016, tỷ đồng. Mạng lưới các trung<br /> nghệ cao tại các địa phương. vươn lên xếp thứ 47/127 quốc tâm ứng dụng và chuyển giao<br /> Tính đến tháng 12/2016, cả nước gia, xếp thứ nhất trong nhóm 27 tiến bộ KH&CN ở 63 tỉnh/thành<br /> có 250 doanh nghiệp được cấp quốc gia có thu nhập trung bình phố từng bước đảm bảo năng<br /> Giấy chứng nhận doanh nghiệp thấp. Số công trình được các lực tiếp nhận, tư vấn, ứng dụng,<br /> KH&CN và có khoảng 2.100 nhà khoa học công bố trên các chuyển giao công nghệ, tham<br /> doanh nghiệp đạt điều kiện là tạp chí trong nước xấp xỉ 19.000 gia thị trường KH&CN. Trong giai<br /> <br /> <br /> <br /> 16 Soá 1 naêm 2018<br /> Phòng xét nghiệm sinh học phân tử (Bệnh viện Quân y 103) - một trong những đơn vị có đóng góp quan trọng trong lĩnh<br /> vực sinh học phân tử trong giai đoạn vừa qua, nổi bật nhất là kết quả nghiên cứu sàng lọc phát hiện sớm ung thư mũi họng.<br /> <br /> đoạn 2010-2016, các Trung tâm Các tiến bộ KH&CN đã đóng góp và tập trung mọi nguồn lực quốc<br /> Ứng dụng và chuyển giao tiến khoảng 30-40% vào tăng trưởng gia đầu tư. Do đó, KH&CN chưa<br /> bộ KH&CN của các địa phương nông nghiệp tùy theo từng lĩnh thực sự là “quốc sách hàng đầu”.<br /> đã ký kết 16.112 hợp đồng tư vực cụ thể. Các kết quả KH&CN KH&CN chưa gắn với các điều<br /> vấn chuyển giao công nghệ với đã được ứng dụng trong tất cả kiện của kinh tế thị trường; cơ chế<br /> tổng giá trị 313 tỷ đồng. Hệ sinh các khâu của quá trình sản xuất quản lý hoạt động KH&CN vẫn<br /> thái khởi nghiệp đổi mới sáng nông nghiệp, từ nghiên cứu, chọn mang nặng tính hành chính; cơ<br /> tạo bắt đầu được hình thành và tạo giống cây trồng, vật nuôi; chế phân bổ ngân sách chưa hợp<br /> phát triển. Đề án “Hỗ trợ hệ sinh kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, lý, còn “cào bằng”, chưa tập trung<br /> thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo canh tác; thức ăn chăn nuôi; đầu tư cho các nhiệm vụ KH&CN<br /> quốc gia đến năm 2025” đã được phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, ưu tiên. Doanh nghiệp chưa trở<br /> Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thuốc thú y; kỹ thuật chế biến và thành trung tâm của ứng dụng<br /> ngày 18/5/2016, giúp nuôi dưỡng bảo quản sau thu hoạch. Trong và chuyển giao công nghệ, chưa<br /> tinh thần khởi nghiệp sáng tạo công nghiệp và dịch vụ, lực lượng phải là nguồn cầu quan trọng<br /> và hình thành lực lượng doanh KH&CN trong nước đã có khả nhất của thị trường KH&CN. Xét<br /> nghiệp mới năng động, sáng tạo, năng thiết kế, chế tạo thành công về cơ cấu chi trong tổng chi ngân<br /> dám dấn thân và phát triển các nhiều công nghệ, thiết bị nội địa sách nhà nước, chi cho hoạt động<br /> sản phẩm, dịch vụ khác biệt dựa đạt tiêu chuẩn quốc tế; có năng KH&CN giai đoạn 2011-2016 còn<br /> trên các thành tựu KH&CN và ý lực hấp thụ và làm chủ công nghệ bất hợp lý, chi R&D chỉ chiếm<br /> tưởng sáng tạo đột phá, mang lại mới, công nghệ cao trong một số bình quân 43%, trong khi chi sự<br /> giá trị gia tăng lớn cho cộng đồng, ngành thiết yếu như điện, điện tử, nghiệp khoa học chiếm bình quân<br /> xã hội. dầu khí, đóng tàu, xây dựng, y tới 57%; và nếu như chi R&D<br /> tế, công nghệ thông tin và truyền trong ngân sách trung ương và<br /> Các nghiên cứu về khoa học<br /> thông. Đặc biệt nhất là những ngân sách địa phương tương đối<br /> xã hội và nhân văn đã cung cấp<br /> thành tựu nổi bật trong y học, cân bằng thì trong chi sự nghiệp<br /> luận cứ khoa học phục vụ hoạch<br /> các công trình nghiên cứu đã khoa học, ngân sách trung ương<br /> định các chủ trương, đường lối<br /> góp phần dự phòng, đẩy lùi nhiều chiếm phần lớn (tới hơn 3/4) tổng<br /> lớn của Đảng và Nhà nước, đề<br /> dịch bệnh nguy hiểm. Nhiều kỹ chi sự nghiệp khoa học. Nhiều<br /> xuất nhiều nội dung, quan điểm<br /> thuật tiên tiến trong chẩn đoán quy hoạch, kế hoạch ngành, địa<br /> và giải pháp mới trong Báo cáo<br /> và điều trị bệnh đã được nghiên phương không dựa trên cơ sở<br /> tổng kết 30 năm đổi mới và Văn<br /> cứu ứng dụng thành công, nhiều nghiên cứu khoa học, nghiêm túc<br /> kiện Đại hội XII của Đảng; bổ<br /> loại bệnh đã được chẩn đoán và và chuyên nghiệp, dẫn đến đầu<br /> sung, hoàn thiện pháp luật; tạo<br /> điều trị với tỷ lệ thành công cao, tư dàn trải, lãng phí và thiếu tính<br /> tiền đề đổi mới tư duy kinh tế;<br /> giá thành rẻ, tiết kiệm cho xã hội khả thi. Các định hướng nhiệm vụ<br /> khẳng định chủ quyền quốc gia<br /> hàng trăm tỷ đồng. nghiên cứu chưa bám sát với yêu<br /> đối với Hoàng Sa, Trường Sa và<br /> cầu của sản xuất và đời sống,<br /> Biển Đông, xây dựng đường lối<br /> KH&CN chưa là “động lực quan trọng thiếu các hướng ưu tiên phù hợp.<br /> và chính sách đối ngoại của Việt<br /> nhất”<br /> Nam. Chúng ta đã có bước phát Trình độ KH&CN quốc gia nhìn<br /> triển trong nghiên cứu cơ bản, Mặc dù đã đạt được những chung còn tụt hậu xa so với thế<br /> tạo tiền đề hình thành một số lĩnh kết quả đáng ghi nhận như vậy, giới, kể cả với một số nước trong<br /> vực KH&CN đa ngành mới như nhưng đánh giá một cách tổng nhóm đầu khu vực Đông Nam Á.<br /> vũ trụ, y sinh, nano, hạt nhân; thể, đến nay KH&CN vẫn chưa Phần lớn các doanh nghiệp vẫn<br /> một số lĩnh vực có thế mạnh như trở thành “động lực quan trọng đang sử dụng công nghệ lạc hậu<br /> toán học, vật lý lý thuyết đạt thứ nhất” để phát triển lực lượng sản so với mức trung bình của thế giới<br /> hạng cao trong khu vực ASEAN. xuất hiện đại, chưa được ưu tiên 2-3 thế hệ. Năng lực hấp thụ công<br /> <br /> <br /> <br /> 17<br /> Soá 1 naêm 2018<br /> nghệ, đổi mới công nghệ, đổi mới vật chất chưa tương xứng với yêu Sự đẩy mạnh cách mạng công<br /> sáng tạo của doanh nghiệp trong cầu “KH&CN là quốc sách hàng nghiệp 4.0 dựa trên số hóa và kết<br /> nước còn nhiều hạn chế. Năng lực đầu”. Thiếu các giải pháp đồng bộ nối có thể mang lại cho Việt Nam<br /> nghiên cứu ứng dụng của các viện và cơ chế hữu hiệu về thanh tra, nhiều cơ hội để đẩy nhanh CNH,<br /> nghiên cứu, trường đại học còn rất kiểm tra, quy trách nhiệm rõ ràng HĐH; đồng thời cũng đưa đến<br /> khiêm tốn. Số đơn sáng chế bảo trong việc tổ chức thực hiện các những thách thức đối với quá trình<br /> hộ quốc tế có nguồn gốc Việt Nam chủ trương của Đảng, pháp luật phát triển. Để sớm đưa nước ta<br /> thấp. Sự sẵn sàng về công nghệ của Nhà nước và các nhiệm vụ trở thành một nước công nghiệp<br /> và chỉ số đổi mới sáng tạo vẫn ở KH&CN; 2) Mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại, từ nay đến<br /> dưới mức trung bình. Đối với các kinh tế theo chiều rộng, cách năm 2020, các cấp, các ngành<br /> doanh nghiệp trong lĩnh vực sản thức vận hành nền kinh tế trong phải tập trung thực hiện thật tốt<br /> xuất công nghiệp, nhóm doanh một thời gian dài chưa tạo áp lực 5 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm<br /> nghiệp có trình độ công nghệ tiên mạnh đối với nhu cầu phát triển sau đây:<br /> tiến chỉ chiếm khoảng dưới 20%, và ứng dụng KH&CN. Tính cạnh Một là, phát huy hiệu quả vai<br /> trong đó chủ yếu là các doanh tranh của nền kinh tế vẫn dựa trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng<br /> nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. chủ yếu vào thâm dụng lao động và chính quyền; tăng cường công<br /> Nhân lực KH&CN tuy có tăng giá rẻ, khai thác tài nguyên thiên tác kiểm tra, giám sát ứng dụng<br /> về số lượng nhưng chất lượng nhiên sẵn có và tăng vốn đầu tư. và phát triển KH&CN. Các cấp<br /> chưa đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH Sự duy trì bao cấp của Nhà nước ủy đảng, chính quyền và toàn thể<br /> đất nước. Thiếu các viện nghiên và tính độc quyền của doanh xã hội phải chuyển mạnh từ nhận<br /> cứu, các trường đại học đẳng cấp nghiệp nhà nước không tạo động thức thành những hành động cụ<br /> quốc tế; thiếu các tập thể khoa lực đủ mạnh để các doanh nghiệp thể, thiết thực; khắc phục tư tưởng<br /> học mạnh, các chuyên gia đầu quan tâm đầu tư cho đổi mới và cục bộ, cát cứ trong chỉ đạo, điều<br /> ngành có khả năng dẫn dắt các phát triển công nghệ; 3) Hệ thống hành; gắn các mục tiêu, nhiệm vụ<br /> hướng nghiên cứu mới hoặc chỉ văn bản pháp luật về KH&CN còn KH&CN với các mục tiêu, nhiệm<br /> đạo triển khai các nhiệm vụ quốc khá cồng kềnh và phức tạp. Chưa vụ phát triển kinh tế - xã hội của<br /> gia ở trình độ quốc tế; 2 viện hàn thực sự đồng bộ giữa các quy định từng ngành và từng cấp; tăng<br /> lâm (Viện Hàn lâm KH&CN Việt của pháp luật hiện hành với các cường hội nhập quốc tế và thông<br /> Nam và Viện Hàn lâm Khoa học văn bản thuộc lĩnh vực KH&CN. tin, truyền thông tạo hiểu biết và<br /> Xã hội Việt Nam) chưa thực sự trở Chưa tách biệt quản lý nhà nước nhận thức đúng về bản chất, đặc<br /> thành hạt nhân, đầu tàu thúc đẩy với hoạt động sự nghiệp, nên trưng, các cơ hội và thách thức<br /> và lan tỏa phát triển KH&CN. Việc một số cơ quan quản lý nhà nước của cách mạng công nghiệp lần<br /> chuyển đổi các tổ chức KH&CN lại trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thứ tư để có cách tiếp cận, giải<br /> sang cơ chế tự chủ còn gặp nhiều KH&CN. Các tổ chức KH&CN sử pháp phù hợp, hiệu quả. Người<br /> rào cản. Chưa huy động được các dụng kinh phí sự nghiệp KH&CN đứng đầu phải chịu trách nhiệm<br /> nguồn lực xã hội và doanh nghiệp chưa hiệu quả, còn chi nhiều cho trong việc phát triển KH&CN<br /> đầu tư cho KH&CN. bộ máy, kinh phí dành cho thực thuộc phạm vi quản lý của mình;<br /> hiện nhiệm vụ, đề tài còn ít và kết quả phát triển KH&CN là căn<br /> Những hạn chế này xuất phát<br /> thiếu. Các doanh nghiệp ít có cơ cứ đánh giá định kỳ về công tác<br /> từ 3 nguyên nhân chủ yếu sau:<br /> hội tiếp cận nguồn vốn ngân sách lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ.<br /> 1) Còn có khoảng cách lớn giữa<br /> nhận thức và hành động của người nhà nước, kể cả qua các hệ thống Hai là, tiếp tục đổi mới đồng<br /> đứng đầu ở nhiều cấp ủy đảng, quỹ KH&CN quốc gia. bộ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt<br /> chính quyền về phát huy vai trò động, nhất là cơ chế quản lý,<br /> Làm gì để KH&CN thực sự là động lực,<br /> của KH&CN, ứng dụng và phát phương thức đầu tư và cơ chế<br /> là nền tảng<br /> triển KH&CN; sự phối hợp giữa tài chính cho hoạt động KH&CN.<br /> các cấp, các ngành và địa phương Việt Nam đang bắt đầu bước Rà soát chức năng, nhiệm vụ và<br /> thiếu chặt chẽ. Trong chỉ đạo, vào một giai đoạn phát triển và hội sắp xếp lại tổ chức, bộ máy hoạt<br /> điều hành hoạt động KH&CN còn nhập mới. Trong giai đoạn 2016- động KH&CN để tránh trùng<br /> tồn tại tính hình thức, “tư tưởng 2020, CNH theo hướng HĐH đã chéo, hành chính hóa các nhiệm<br /> cục bộ, cát cứ”... dẫn đến bố trí được xác định là trọng tâm của vụ KH&CN; tách biệt về quản lý<br /> các nguồn lực về tài chính, cơ sở chiến lược phát triển quốc gia. giữa khu vực hành chính và khu<br /> <br /> <br /> <br /> 18 Soá 1 naêm 2018<br /> vực sự nghiệp trong hệ thống các ngành như công nghiệp hỗ nghệ quốc gia tại Hà Nội, TP Hồ<br /> KH&CN; kiên quyết chuyển sang trợ, công nghiệp hóa dược, công Chí Minh, Đà Nẵng với các trung<br /> thực hiện cơ chế tự chủ và từng nghiệp sinh học, công nghiệp tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN ở<br /> bước chuyển việc bố trí kinh phí môi trường, công nghiệp cơ điện các địa phương. Phát triển mạng<br /> hoạt động thường xuyên cho các tử... Xây dựng chiến lược chuyển lưới các tổ chức dịch vụ trung gian<br /> tổ chức KH&CN công lập sang đổi số, nền quản trị thông minh, môi giới, đánh giá, chuyển giao<br /> phương thức Nhà nước đặt hàng, ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ. <br /> giao nhiệm vụ nghiên cứu và công nghệ số, nông nghiệp thông<br /> kinh phí thực hiện. Đa dạng hóa minh, du lịch thông minh, đô thị Sáu là, đẩy mạnh hợp tác<br /> nguồn vốn đầu tư từ xã hội cho thông minh. quốc tế nhằm nâng cao trình độ<br /> KH&CN; xây dựng cơ chế, chính công nghệ quốc gia. Đa dạng<br /> Bốn là, xây dựng tiềm lực<br /> sách khuyến khích doanh nghiệp hoá đối tác và đẩy mạnh hợp tác<br /> KH&CN gắn kết chặt chẽ với phát<br /> đầu tư cho KH&CN; tranh thủ quốc tế về KH&CN, lựa chọn đối<br /> triển sản xuất và phục vụ đời sống<br /> các nguồn vốn tài trợ, vốn ODA, tác chiến lược, gắn kết giữa hợp<br /> người dân. Nhanh chóng cụ thể<br /> FDI và các nguồn vốn khác. Sử hóa và đưa vào thực thi các chính tác quốc tế về KH&CN với hợp<br /> dụng có hiệu quả nguồn đầu tư sách sử dụng, trọng dụng cán bộ tác quốc tế về kinh tế. Tận dụng<br /> 2% tổng chi ngân sách nhà nước KH&CN, đặc biệt là với 3 nhóm tối đa các kênh chuyển giao công<br /> hàng năm cho KH&CN; ngân đối tượng: Nhà khoa học đầu nghệ hiện đại từ nước ngoài, đặc<br /> sách nhà nước chỉ nên tập trung ngành, nhà khoa học được giao biệt là kênh FDI. Thúc đẩy đổi<br /> đầu tư vào các lĩnh vực trọng điểm chủ trì nhiệm vụ quốc gia đặc biệt mới công nghệ theo hướng ứng<br /> được xác định trong Chiến lược quan trọng, nhà khoa học trẻ tài dụng công nghệ mới, công nghệ<br /> phát triển KH&CN quốc gia; nâng năng. Tăng cường đào tạo, phát hiện đại; chủ động tăng cường<br /> cao hiệu quả giám sát chi đầu tư triển đội ngũ nhân lực KH&CN hợp tác nghiên cứu chung với<br /> phát triển cho KH&CN từ ngân trình độ cao trong nước kết hợp với các đối tác chiến lược, mở rộng<br /> sách nhà nước của địa phương. thu hút, trọng dụng cán bộ thực hợp tác KH&CN tầm quốc gia với<br /> Có chính sách thúc đẩy khu vực tài trong nước và người Việt Nam các nước tiên tiến, chú trọng khai<br /> tư nhân, cá nhân và các doanh ở nước ngoài. Đầu tư đồng bộ, thác, chuyển giao công nghệ từ<br /> nghiệp lớn đầu tư mạo hiểm cho hoàn chỉnh 16 phòng thí nghiệm các địa bàn có công nghệ nguồn.<br /> khởi nghiệp sáng tạo; xây dựng trọng điểm quốc gia để nâng cao<br /> cơ chế hợp tác công - tư theo mô hiệu quả khai thác, sử dụng. Sớm Việt Nam đang đứng trước<br /> hình vốn tương - đáp (matching hình thành hệ thống đánh giá độc bước ngoặt của cải cách và phát<br /> fund) trong đầu tư mạo hiểm trên lập và bộ chỉ số đánh giá hoạt triển. Nếu không thực hiện được<br /> cơ sở khai thác triệt để các thiết động KH&CN. Xây dựng và hoàn những cải cách trên, Việt Nam<br /> chế tài chính hiện có. thiện hạ tầng thông tin, thống kê không thể khai thác được cơ hội,<br /> Ba là, xây dựng và triển khai kinh tế - xã hội; thông tin, thống cũng không thể vượt qua thách<br /> các nhiệm vụ KH&CN theo hướng kê KH&CN tin cậy, cập nhật, phù thức và nguy cơ tụt hậu xa hơn,<br /> phục vụ thiết thực các mục tiêu hợp với chuẩn mực quốc tế. rơi vào bẫy thu nhập trung bình<br /> phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy Năm là, hoàn thiện cơ sở pháp sẽ khó có thể tránh khỏi ?<br /> mạnh xây dựng các quy hoạch lý cho hoạt động của thị trường Tài liệu tham khảo<br /> ngành, lĩnh vực KH&CN; dành KH&CN; thúc đẩy phát triển đồng<br /> nguồn lực tăng cường khả năng bộ các yếu tố và hạ tầng của thị 1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016),<br /> Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ<br /> hấp thụ công nghệ, ứng dụng có trường KH&CN. Có chính sách XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.<br /> chọn lọc các thành tựu KH&CN hỗ trợ để khuyến khích các tổ<br /> tiên tiến của thế giới nhằm phát chức, cá nhân, nhất là doanh 2. Bộ KH&CN (2016), KH&CN Việt Nam<br /> 2016, NXB Khoa học và Kỹ thuật.<br /> triển sản phẩm chủ lực, sản nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát<br /> phẩm cạnh tranh chiến lược của triển, chuyển giao công nghệ,<br /> quốc gia. Trong nông nghiệp, ứng dụng tiến bộ KH&CN vào<br /> ưu tiên cho các hoạt động nông sản xuất, kinh doanh. Phát triển<br /> nghiệp công nghệ cao, nông các tổ chức trung gian, môi giới<br /> nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thị trường KH&CN. Kết nối có<br /> học; trong công nghiệp, ưu tiên hiệu quả các sàn giao dịch công<br /> <br /> <br /> <br /> 19<br /> Soá 1 naêm 2018<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=69

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2