T R ƯỜ NG ĐẠI H ỌC N G O ẠI T H Ư Ơ NG

K H OA K I NH TÉ VÀ K I NH D O A NH Q U ỐC TÉ

C H U Y ÊN N G À NH K I NH TÉ ĐỐI N G O ẠI

***

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

HỆ T H Ố NG B ẢO H I ỂM TÍN D Ụ NG X U ẤT K H ẨU C ỦA

M ỘT SỐ N ƯỚC T R ÊN T HỂ G I ỚI VÀ B ÀI H ỌC K I NH N G H I ỆM

Đ ÓI V ỚI V I ỆT N AM

Ui • I

I LẠ/05509 ị 20 40

Sinh viên thực hiện ĩ Bạch Thị Kiều Anh

Lớp

: AI

Khóa

:45

Giáo viên hướng dẫn : GS,TS Hoàng Văn Châu

Hà nội, tháng 05/2010

DANH MỤC TỪ VIẾT TẤT

Tên tiếng Viêt C hữ viết tắt Tên tiếng A nh

VVTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

Hội nghị Liên hiệp quôc vê United Nation Coníerence ôn U N C TD Trade and Development thương mại và phát triển

European Commission Uy ban châu Âu ÉC

Liên minh châu Âu European Union EU

Tô chức hợp tác và phát triên Organisation for Economic Co- O E CD operation and Development kinh tế

Commodity Credit Corporation Tập đoàn tín dụng thương mại

ccc

Tập đoàn đâu tư tư nhân nước Overseas Private Investment OPIC Corporation ngoài

Ngân hàng Xuât nhập khâu Export-import bank Ex-im bank Mỹ

Hội đông tư vân quôc gia vê National Advisory Council ôn

International Monetary and các chính sách tài chính và N ÁC

Financial Policy tiền tệ quốc tế

People's Insurance Company of Công ty bào hiêm Nhân Dân PICC China Trung Hoa

China Export & Credit Công ty Bảo hiêm Xuât khâu SINOSURE Insurance Corporation và Tín dụng Trung Quốc

Documents Against Payment Nhờ thu trả ngay D/P

Documents Against Acceptance Nhờ thu trà chậm D/A

China Ngân hàng Xuất Nhập khâu China Export import bank Eximbank Trung Quốc

Ngân hàng phát triên Việt V DB Vietnam Developement Bank Nam

Offícial Development Hỗ trợ phát triển chính thức O DA Assistance

Agreement ôn Subsidies and Hiệp định vê trợ cáp và các S CM Countervailing Measures biện pháp đôi kháng

Brazilian Reinsurance Institute Viện tái bảo hiếm Brazil IRB

Letter of Credit L/C Thư tín dụng

Luật sửa đôi hệ thông tín Federal Credit Reform Act F C RA dụng liên bang

Chamber of Foreign Trade Phòng Ngoại Thương C A M EX

Council of Financing and Hội đồng Tài trợ và Bảo lãnh C O F IG Guarantee

Exports Guarantee Fund Quỹ bảo lãnh xuất kh u F GE

Brazilian Reinsurance Institute IRB Viện tái bảo hiểm Brazil

Committee of Export Financing Uy ban tài trợ xuất kh u C C EX

Council of the Export Guarantee Hội đông Quỹ bảo lãnh xuât C F GE Fund kh u

Brazilian Export Credit Hãng bào hiêm tín dụng xuât S B CE Insurance Agency kh u Brazil

MỤC LỤC

L ỜI N ÓI ĐẦ U.

Chương ì: Khái quát chung về tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu 4

ì. Tín dụng xuất khẩu 4

1. Khái niệm 4

2. Phân loại 4

2.1. Căn cứ vào chủ thế cấp tín dụng 4

2.2. Căn cứ vào quy ưình xuât khâu 6

2.3. Căn cứ vào sự đảm bảo 7

l i. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu 8

/. Khải niệm 8

2. Phân loại 12

2.1. Bảo hiềm tín dụng xuất khâu ngăn hạn (short-term export credit

insurance) 12

2.2. Bảo hiêm tín dụng xuât khâu trung và dài hạn (Medium & long-

13 term export credit insurance)

3. Vai trò của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu 13

3.1. Giúp nhà xuất khâu de dàng vay von tài trợ cho xuất khâu 13

3.2. Giúp các doanh nghiệp xuât khâu dành lợi thế cạnh tranh 14

3.3. Giúp các doanh nghiệp xuât khâu yên tâm hơn trước các rủi ro ..15

4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ..16

4. ì. Các nhân tố vĩ mô 17

4.2. Các nhân tổ vi mó 19

5. Sự cần thiết khách quan phải phát triển hoạt động bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu 21

C h ư ơ ng l i: Hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của một số nước trên

thế giới 23

ì. Mỹ

23

1. Khái quát chung 23

2. Tổ chức đóng vai trò quan trọng đổi với thị trường bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu Mỹ-Ngân hàng Xuất nhập khẩu (Ex-imbank) 26

2. Ì Lịch sử hình thành và phát triền 26

2.2. Cơ cấu tố chức và hoạt động 27

2.3. Tinh hình hoạt động kinh doanh 29

l i. Brazil 31

1. Khải quát chung 31

2. Các tổ chức đóng vai trò quan trọng đối với hoại động bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu c a Brazil 33

2.1. Các cơ quan Nhà nước 33

2.2. Hãng bảo hiểm tín dụng xuất khâu Brazil 35

i n. Hà L an

38

1. Khái quát chung 38

2. Tổ chức đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu Hà Lan - Atradius Nhà nước 41

2.1. Lịch sử hình thành và phát triển 41

2.2. Tĩnh hình hoạt động kinh doanh 43

IV. T r u ng Quốc 44

1. Khái quát chung 44

2. Tồ chức đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu Trung Quốc - SINOSURE. 46

2. ỉ. Lịch sử hình thành và phát triển 46

2.2. Tinh hình hoạt động lành doanh 47

V. Đánh giá về mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của các nước....49

1. Đánh giá chung

49

2. Cơ sở thiết lập một hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

51

Chương I U: Bài học kinh nghiệm và giải pháp nhằm phát triển hoạt

động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam

54

ì. Thực trạng hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam ...54

1. Tổng quan về hoạt động tín dụng xuất khẩu của Việt Nam

54

1.1. Thực trạng hoạt động tín dụng xuất khâu của Việt Nam

54

1.2. Đánh giả chung

57

2. Thực trạng hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Việt Nam. 60

3. Nguyên nhân vì sao loại hình bảo hiếm tin dụng xuất khấu chưa

phát triển tại Việt Nam

63

3.1. Các doanh nghiệp xuất khâu không mây mặn mà với loại hình bảo

hiểm này

63

3.2. Các doanh nghiêp cung cấp dỉch vụ bảo hiêm tín dụng xuất khâu

không muôn cung cáp bảo hiêm tín dụng xuôi khâu

63

4. Đánh giá chung về thỉ trường bảo hiểm tin dụng xuất khẩu của Việt

Nam

64

4.1. Cơ hội

64

4.2. Thách thức

65

l i. Bài học cho Việt Nam từ kinh nghiệm xây dựng hệ thống bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu của các nước

67

1. về cơ quan quản lý hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

67

2. về sự tham gia điều tiết của Chỉnh phủ trên thỉ trường bảo hiểm tin

dụng xuất khẩu

68

3. về sự khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào thỉ trường bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu

69

4. về việc tiếp cận thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của các

doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ

70

5. về việc phân loại khách hàng và ngành hàng

70

in. Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển thị trưởng bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu của Việt Nam trong thòi gian tới

70

/. Giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Việt

70

Nam trong thời gian tới

LI Vĩmô 71

1.2. Vi mô 73

2. Kiến nghị nhằm phát triển hoạt động động bảo hiểm tin dụng xuất

khẩu tại Việt Nam

74

2.1. Đoi với Chính phủ

74

2.2. Đ i với doanh nghiệp bảo hiẻm tín dụng xuất kháu

76

2.3. Đoi với các doanh nghiệp xuất khấu trong nước

77

K ÉT L U ẬN

79

DANH M ỤC TÀI LIỆU T H AM K H ẢO

81

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ

Bảng Ì: Doanh số cho vay tín dụng xuất khẩu qua 3 năm từ 2006 đến 2008 54 Bảng 2: Cơ cấu doanh số cho vay theo thị trường 55

Hình Ì: Sơ đồ quy trình hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đơn giản 9

Hình 2: Sơ đồ quy trình hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hiện đại 10

Hình 3: Sơ đồ các tổ chức tham gia vào thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Hà

Lan 39

LỜI NÓI ĐẨU

1. Tính cấp t h i ết c ủa đề tài

Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng, nhu cầu mở

rộng thị trường xuất khẩu đối với các doanh nghiệp là tất yếu và phải cạnh tranh

khốc liệt hơn với các doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vẫn

còn gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động thương mại quốc tế về phương diện tìm

kiếm thị trường, nhận biết rủi ro thương mại của đối tác nhập khẩu. Mặt khác, kụ từ

khi Việt Nam gia nhập vào WTO năm 2007, các chính sách trợ cấp xuất khẩu như

thưởng thành tích xuất khẩu, trợ cấp thay thế xuất khẩu hay chính sách tín dụng

ngắn hạn hỗ trợ doanh nghiệp dưới hình thức cho vay với lãi suất ưu đãi đã không

được thực hiện đụ phù hợp với cam kết. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới các

doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Chính vì vậy, đụ tiếp tục hỗ trợ các doanh

nghiệp xuất khẩu, phù hợp với thông lệ, cam kết quốc tế, một trong những biện

pháp quan trọng là cần sớm triụn khai hoạt động bảo hiụm tín dụng xuất khẩu. Loại

hình bảo hiụm này sẽ góp phần tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp trong

việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, phát triụn mặt hàng và thị trường xuất khẩu,

yên tâm hơn khi thâm nhập các thị trường xuất khẩu nhiều rủi ro và từ đó thúc đẩy

hoạt động xuất khẩu phát triụn.

Hoạt động bảo hiụm này phát triụn mạnh tại châu Âu, chiếm 8 0% thị phần

doanh số thu phí bảo hiụm tín dụng xuất khẩu toàn thế giới, đặc biệt như ờ Pháp, Hà

Lan, Đức, Tây Ban Nha. Bảo hiụm tín dụng xuất khẩu cũng được các nước châu Á

như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ áp dụng có hiệu quả đụ giúp doanh

nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu nhưng nó vẫn chưa có chỗ đứng trên thị trường Việt

Nam. V ới hy vọng trong thời gian sắp tới, loại hình bảo hiụm này sẽ được triụn khai

và phát triụn tại thị trường Việt Nam, mang lại những lợi ích to lớn cho các doanh

nghiệp nói riêng và cả nước nói chung, tác giả đã lựa chọn đề tài :"Hệ thống bảo

hiụm tín dụng xuất khẩu của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm

đối vói Việt Nam" đụ nghiên cứu.

I

2. Mục tiêu nghiên cứu

Thứ nhất, làm rõ các khái niệm về tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm tín dụng xuất

khẩu cũng như những đặc điểm cơ bản và vai trò của bào hiểm tín dụng xuất khẩu

nham đưa lại cái nhìn tổng quan về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Thứ hai, nghiên cứu hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của một số nước

trên thế giới điển hình là Trung Quốc, Hà Lan, Brazil và Mỹ để tỡ đó rút ra những

đánh giá chung về các hệ thống này và rút ra những yếu tố cần thiết cho một quốc

gia muốn thiết lập hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Cuối cùng, trên cơ sỡ các phân tích trên, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm

xây dựng hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tỡ các nước và đưa ra một số kiến

nghị đối với các các tổ chức tham gia vào hoạt động bảo hiểm này. cùng với đó là

một số giải pháp nhàm thúc đẩy sự phát triển của hình thức bảo hiểm tín dụng xuất

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

khẩu, vốn còn rất mới mẻ tại Việt Nam này trong thời gian tói.

3.1 Đoi tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu cùa đề tài là hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở

Việt Nam, đặc biệt đi sâu phân tích kinh nghiệm của một số nước được coi là có

hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu phát triển mạnh trên thế giới, qua đó rút ra

những bài học cũng như ảnh hưởng của bối cảnh kinh tế đến cách thức, quy mô của

hoạt động này trong giai đoạn hiện nay.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của

Việt Nam tỡ năm 2006 trờ lại đây và hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Hà

4. Phương pháp nghiên cứu

Lan, Trung Quốc, Brazil và Mỹ.

Luận văn nghiên cứu dựa trên những phương pháp: nghiên cứu tài liệu. điều

tra thực tiễn, thống kê, tổng hợp, phân tích kinh tế. Bên cạnh đó luận văn còn sử

dụng phương pháp so sánh và hệ thống hóa để tỡ đó rút ra những luận cứ logic.

2

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài L ời nói đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về hoạt động bảo hiếm tín dụng xuất khẩu.

Chương 2: Bào hiểm tín dụng xuất khẩu của một số nước trên thế giới.

Chương 3: Bài học kinh nghiệm và giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu tại Việt Nam.

Do Luận văn đưắc thực hiện trong thời gian ngấn và kiến thức thực tế còn hạn

chế nên chắc chan không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận đưắc sự góp ý của

các Thầy cô giáo cũng như của các bạn.

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo - GS,TS Hoàng Văn

Châu đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này.

Hà Nội ngày 15/04/2010

Sinh viên:

Bạch Thị Kiều Anh

A1-K45A-KTĐN

3

Chương ì: Khái quát chung vê tín dụng xuât khâu

•7

r

f

và bảo hiên! tín dụng xuất khâu

ì. Tín dụng xuất khẩu

/. Khái niệm

Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người cho vay sang

người đi vay trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định (được

gọi là lãi vay).

Dậa trên khái niệm tín dụng nêu trên, có nhiều cách thức để phân chia hoạt

động tín dụng thành các loại khác nhau như: tín dụng thương mại, tín dụng thuê

mua, tín dụng tiêu dùng...Tuy nhiên phạm vi đề tài chỉ đề cập đến tín dụng xuất

khẩu. "Tín dụng xuất khẩu" là một hình thức của tín dụng thương mại, trong đó

khoản tín dụng của người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu hoặc khoản cho vay

trung và dài hạn, dùng để tài trợ cho các dậ án và cung cấp vốn cho hoạt động xuất

khẩu hàng hóa.

2. Phàn loại

2. ì. Căn cứ vào chù thế cấp tín dụng

2.1.1. Nhả nước cấp tín dung xuất khấu

Tín dụng xuất khẩu do Nhà nước cấp được chia thành 2 loại sau:

> Nhà nước cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu nước ngoài: Nhà nước trậc

tiếp cho nước ngoài vay với lãi suất ưu đãi để sử dụng số tiền đó mua hàng của

nước cho vay. Nguồn vốn cho vay thường lấy từ Ngân sách Nhà nước. Việc cho

vay này thường kèm theo các điều kiện kinh tế và chính trị có lợi cho nước cho vay

vốn là những quốc gia có tiềm lậc kinh tế. Hình thức này có tác dụng giúp các

doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu vì có sẵn thị trường đồng thời giải

quyết được tình trạng dư thừa hàng hoa ở trong nước.

> Mía nước cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nước: vốn bỏ

ra cho việc sản xuất và thậc hiện các hợp đồng xuất khẩu thường rất lớn. Người

4

xuât khâu cân có một số vốn cả trước khi giao hàng và sau khi giao hàng để thực

hiện một số hợp đồng xuất khẩu. Nhiều khi người xuất khẩu cũng cần có thêm vốn

đê kéo dài các khoản tín dụng ngắn hạn mà hị dành cho người mua nước ngoài.

Đặc biệt, khi theo phương thức bán chịu, thu tiền hàng xuất khẩu sau thì việc cấp tín

dụng xuất khẩu trước khi giao hàng hết sức quan trịng.

Hiện nay, nhiều chương trình phát triển xuất khẩu không thể thiếu được việc

cấp tín dụng của Chính phủ theo các điều kiện ưu đãi.

2.1.2. Ngân hàng cấp tín dung xuất khẩu

Các ngân hàng thường hỗ trợ cho các chương trình xuất khẩu bằng cách cung

cấp tín dụng ngắn hạn trong giai đoạn trước và sau khi giao hàng, chủ yếu dưới hai

hình thức là chiết khấu các giấy tờ có giá hoặc tạm ứng theo các chứng từ hàng hóa.

Trên cơ sở đó, nhà xuất khẩu có thể nhận bộ chứng từ hàng hoa có kèm hối phiếu

chấp nhận trả tiền của nhà nhập khẩu thông qua ngân hàng hoặc cả nhà nhập khẩu

và nhà xuất khẩu có thể ký với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó qui định

quyền của bên bán được mờ một tài khoản để ghi nợ bên mua sau mỗi chuyến giao

hàng mà bèn bán đã thực hiện. Sau từng thời gian nhất định, nhà nhập khẩu sẽ phải

thanh toán số nợ đó bàng chuyển tiền, chuyển séc hoặc bàng kỳ phiếu trà tiền ngay

cho nhà xuất khẩu thông qua ngân hàng.

2.Ị .3. Tín dung do nhà xuất khẩu cấp

Lấy thời điểm chuyển giao hàng hoa làm mốc, tín dụng do nhà xuất khẩu cấp

hàm ý người bán (hay nhà xuất khẩu) giao hàng trước và thu tiền sau, hay nói cách

khác, người bán cung cấp cho người mua (hay nhà nhập khẩu) một khoản tín dụng

theo sự thoa thuận giữa hai bên. Ngoài ra, tín dụng do nhà xuất khẩu cấp có thể hiểu

là tín dụng dưới hình thức nhà xuất khẩu bán chịu, nhà nhập khẩu trả chậm với lãi

suất un đãi mà người xuất khẩu dành cho nguôi nhập khẩu.

2.1.4. Tín dung do nhà nháp khẩu cấp

Tín dụng do nhà nhập khẩu cấp được hiểu là nhà nhập khẩu phải trả cho nhà

xuất khẩu toàn bộ hoặc một phần tiền hàng trước khi nhà xuất khẩu chuyển giao

hàng hoa dưới quyền định đoạt của người mua hoặc trong khoảng thời gian từ khi

5

nhà xuất khẩu chấp nhận đơn hàng cho đến trước khi nhà xuất khẩu thực hiện đơn

hàng của nhà nhập khẩu. Việc ứng trước tiền phụ thuộc vào tầm quan trọng của

hàng hoa, thời hạn sản xuất của hàng hoa, mối quan hệ giổa các bên giao dịch và

tập quán trong ngành buôn bán có liên quan. số tiền ứng trước chính là khoản tín

dụng mà nhà nhập khẩu cung cấp cho nhà xuất khẩu. Do được cấp tín dụng nên vị

thế tài chính của nhà xuất khẩu được củng cổ, đồng thời nhà xuất khẩu chắc chắn

bán được hàng.

2.2. Căn cứ vào quy trình xuất khau

2.2.1. Tín dung trước khi giao hàng (trước xuất khẩu)

Loại tín dụng ngân hàng này cần cho người xuất khẩu để đảm bảo các khoản

chi phí:

• Mua nguyên vật liệu

• Sản xuất hàng xuất khẩu

• Sản xuất bao bì cho xuất khẩu

• Chi phí vận chuyển hàng ra đến cảng, sân bay... để xuất khẩu.

• Trả tiền cước phí vận tải, bảo hiểm, thuế...

Lãi suất tín dụng xuất khẩu là một yếu tổ ảnh hường lớn đến sức cạnh tranh

của người xuất khẩu. Vì vậy, nhiều nước đã cấp tín dụng theo lãi suất ưu đãi, thấp

hơn lãi suất thương mại để người xuất khẩu có thể bán được giá thấp có sức cạnh

tranh ở thị trường nước ngoài. Lãi suất càng thấp thì chi phí xuất khẩu càng giảm và

khả năng cạnh tranh của người xuất khẩu càng mạnh.

2.2.2. Tín dung xuất khẩu sau khi giao hàng (sau xuất khẩu)

Đây là loại tín dụng do ngân hàng cấp dưới hình thức mua (chiết khấu) hối

phiếu xuất khẩu hoặc bằng cách tạm ứng theo các chứng từ hàng hoa. Loại hối

phiếu này cùng với các điều kiện thanh toán do người xuất khẩu và nhập khẩu thoa

thuận là nhổng cơ sờ quan trọng để ngân hàng cấp tín dụng sau khi giao hàng. Tín

dụng sau khi giao hàng thường được vay để các khoản tín dụng trước khi giao hàng.

Nó còn được vay cho các khoản tiền thuế sẽ được hoàn lại trong tương lai cho

người xuất khẩu.

6

N hư vậy, tín dụng xuất khẩu trước và sau khi giao hàng theo mức lãi suất ưu

đãi không đơn giản chỉ giúp người xuất khẩu thực hiện được chương trình xuất

khẩu của mình, mà còn giúp họ giảm chi phí về vốn cho hàng xuất khẩu cũng như

giảm giá thành xuất khẩu. Ngoài ra, tín dụng xuất khẩu còn làm cho người xuất

khẩu có khả năng bán hàng của mình theo điều kiện dài hạn, hàng hoa có sức cạnh

tranh hơn trước đối thủ cạnh tranh.

Người xuất khẩu cặn phải có các loại đảm bảo về tài chính từ phía ngân hàng

bằng các loại trái phiếu, hoặc sự bảo lãnh của ngân hàng...có nghĩa là cặn có sự bảo

lãnh đối với hặu hết các dịch vụ xuất khẩu một cách gián tiếp. Điều đó cũng phụ

thuộc vào khả năng và uy tín của người xuất khẩu.

2.3. Căn cứ vào sự đảm bảo

2.3.1. Tín dung xuất khẩu cỏ bảo đảm

Là hình thức cấp tín dụng nhằm phục vụ, liên quan đến hoạt động xuất khẩu

dựa trên cơ sở các đảm bảo cho tiền vay nhu thế chấp, cặm cố hoặc bảo lãnh của

một bên thứ ba nào khác có thể là ngân hàng hoặc Nhà nước. Nếu xảy ra rủi ro đối

với khoản tín dụng trên thì bên thứ ba sẽ phải chịu trách nhiêm.

Thông thường Nhà nước phát hành bảo lãnh dưới hai hình thức là bảo lãnh

trước ngân hàng cho nhà xuất khẩu và bảo lãnh trước khoản tín dụng mà nhà xuất

khẩu thực hiện cấp cho nhà nhập khẩu. Trong khi đó, các ngân hàng phát hành bào

lãnh cho bên nhận bảo lãnh nhàm cam kết sẽ thanh toán thay cho khách hàng trong

trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đặy đủ nghĩa vụ của

mình khi đến hạn hoặc bảo đảm việc thực hiện đúng và đặy đủ các nghĩa vụ của

khách hàng với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết.

2.3.2. Tín dung xuất khẩu không cỏ bảo đảm

Là hình thức cấp tín dụng nhàm phục vụ, liên quan đến hoạt động xuất khẩu

mà không có tài sản thế chấp, cặm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào

uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.

7

l i. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

1. Khải niệm

Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là loại hình bảo hiểm theo đó người bảo hiểm

(ngân hàng hoặc tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu) bảo hiểm cho các khoản tín

dụng (bằng hàng hóa hoặc dịch vụ) do nhà xuất khẩu cung cấp cho nhà nhập khẩu

hoặc ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu. Trong trường hợp nhà nhập khẩu hoặc

ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu không thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ đã

được cung cấp do các rủi ro về chính trị hoặc rủi ro thương mại, nhà xuất khẩu hoặc

ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu sẽ được bồi thường. Do đặc điểm của bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu nên người mua bảo hiểm có thể là ngân hàng (người cho vay)

hoặc là bản thân nhà xuất khẩu [ u \

Rủi ro kinh tế: Bao gồm:

Có hai loại rủi ro xảy ra đừi với điều khoản của bảo hiểm tín dụng:

• N g ười nhập khẩu mất khả năng thanh toán.

• Người nhập khẩu không thanh toán tiền hàng sau khi đã hết thời hạn tín

dụng hoặc sau một thời hạn nhất định kể từ ngày hết hạn hiệu lực của tín

dụng.

• Người nhập khẩu không nhận hàng đã được giao.

Rủi ro chính trị: Tổn thất đừi với rủi ro chính trị lớn hơn so với nhũng tổn thất xuất

phát từ rủi ro thương mại và có thể liên quan tới các sự kiện chính trị. Bao gồm:

• Việc hủy bỏ hoặc hết thời hạn của giấy phép xuất khẩu sau khi hợp đồng đã

được ký kết.

• Chiến tranh hoặc các sự kiện gây náo loạn ảnh hường tới việc thực hiện

hợp đồng.

• Rủi ro xuất phát từ việc chuyển đổi ngoại tệ, chẳng hạn như gặp khó khăn

hoặc bị đình chi việc chuyển tiền từ nước người nhập khẩu. bao gồm cà

lệnh chính thức từ phía Chính phủ về việc hoãn trà nợ.

8

• Rủi ro trong quá trình chuyển tiền (bao gồm cả rủi ro trong quá trình

chuyển qua một nước thứ 3): Là rủi ro khi một nước đóng băng tất cả các

tài sản và tài sản ngân hàng của một nước khác nằm trong khu vực cùa

nước đó.

• Các hành động của Chính phủ nước ngoài về việc ngăn cản việc hình thành

hợp đồng bao gồm: ngăn cấm việc xuất khẩu, nhập khẩu, tịch thu và sung

công hàng hóa và quốc hửu hóa công ty hoặc một ngành nghề.

Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được khuyến khích sử dụng cho nhửng hợp đồng

chấp nhận phương thức thanh toán ghi sổ hoặc trà chậm, và các hoạt động tài trợ

vốn lưu động xuất khẩu.

Phạm vi bảo hiểm của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu bao gồm các khiếu nại tổn

thất do không thanh toán nhửng khoản phải thu, phát sinh từ hoạt động buôn bán

hoặc nhửng khoản cho vay trung-dài hạn vì khi có các rủi ro chính trị hay kinh tế

như đã trình bày ở trên.

Hình ỉ: Sơ đồ quy trình hoạt động bào hiểm tín dụng xuất khâu đom giản

Bên cung cấp bảo hiểm

Thanh toán tiền Người nhập khẩu

Thỏa thuận phương thức thanh toán

Giao hàng hóa, dịch vụ

Hoặc cấp tín dụng

9

(Ì) Hợp đồng xuất

nhập khẩu

Nhà xuất khẩu

Nhà nhập khẩu

(6) Thanh toán lô hàng bằng số tiền cho vay

(5) Thoa

(7)Lãi suất

(4) Cam két cùa nhà xuất

khẩu

thuận cho vay

Khoản bảo đảm (nếu có)

Ngân hàng cho vay

Hình 2: Sơ đồ quy trình hoạt động bào hiểm tin dụng xuất khẩu hiện đại

(2) Đàm bào thanh toán (nếu ngân hàng cho vay yêu cầu)

(3) Bào hiêm tín dụng

xuất khau

TỔ chức tín dụng xuất khẩu

(Ì) Họp đồng xuất nhập khẩu được ký kết.

(2) Nhà nhập khẩu phải ứng trước một khoản đảm bảo (nếu Ngân hàng cho

vay yêu cầu).

(3) Ngàn hàng cho vay mua bảo hiểm tín dụng tữi một Tổ chức tín dụng xuất

khẩu.

(4) Nhà xuất khẩu thoa thuận các điều kiện và cam kết với Ngân hàng cho vay.

(5) Thoa thuận cho vay giữa Ngân hàng cho vay và nhà nhập khẩu được ký

kết. Số tiền cho vay chính bàng giá trị lô hàng trong hợp đồng xuất nhập khẩu.

(6) Ngân hàng cho vay thanh toán cho nhà xuất khẩu giá trị lô hàng được mua

bán.

(7) Nhà nhập khẩu phải trà cho Ngân hàng cho vay số tiền đã vay (giá trị lô

hàng sau khi trừ đi số tiền đảm bảo ban đầu, nếu có) và tiền lãi.

10

a. Nguyên tắc hoạt động

Bảo hiêm tín dụng xuất khẩu hoạt động dựa trên các nguyên tắc sau:

Nguyên lý cơ bản của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được thể hiện qua các

điểm:

• Hòa vốn (dài hạn), chỉ hỗ trợ những đối tượng có khả năng đảm bảo hoàn

trả hợp lý;

• Chia sằ rủi ro, hỗ trợ tài chính cho khối doanh nghiệp tư nhân. hình thành

tập quán kinh doanh tốt (trên cơ sờ môi trường kinh doanh thân thiện, lành

mạnh).

• Quá trình giải quyết khiếu nại minh bạch, công bằng; hạn chế rủi ro thông

b. Nguyên tắc bồi thường

qua hoạt động tái bảo hiểm và/ hoặc đồng bảo hiểm.

Trong hầu hết các hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, người mua bảo hiểm

(người xuất khẩu) sẽ được hường quyền lợi theo những điều khoản đã đật ra trong

trường hợp việc thanh toán bị chậm trễ hoặc bên nhập khẩu không có khả năng

thanh toán. M ột hợp đồng được coi là không thể thanh toán nếu như bên mua thanh

toán muộn hơn hoặc không thể thanh toán sau một thời gian đã được quy định trong

họp đồng bào hiểm. Khoảng thời gian này được tạm gọi là thời gian chờ. Thông

thường thời gian chờ kéo dài 6 tháng sau ngày hết hạn cùa hóa đơn.

» » •—¥ Thòi gian Ngày giao hang Ngày hóa đơn hết hạn chơ về khả Chính thức xác định năng không thề thanh toán

Mặt khác. thông thường do tỷ lệ bảo hiểm thấp hơn 1 0 0% nên người mua bảo

hiểm vẫn phải chịu một phần rủi ro phát sinh, đôi khi yêu cầu bồi thường bị khước

từ khi không đáp ứng được với những yêu cầu cụ thể trong quy định hợp đồng bảo

hiểm.

Ưu điểm của nguyên tắc này là giảm rủi ro khi người nhập khẩu không thanh

toán, đảm bảo sự chù động và an tâm cho người xuất khẩu trong hoạt động sàn xuất

li

kinh doanh cùa mình đồng thời giúp tăng độ an toàn của phương thức thanh toán

ghi sổ hoặc trả chậm trên thị trường toàn cầu.

Tuy nhiên, nguyên tắc bồi thường cũng có một số hạn chế như doanh nghiệp

phải chịu chi phí để mợ và duy trì bảo hiểm, tỷ lệ bảo hiểm thường dưới 1 0 0% nên

rủi ro không được phòng vệ hoàn toàn và đòi hỏi vốn lớn và quy trình kỹ thuật khá

phức tạp.

c. Nguyên tắc tính phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm được xác định dựa trên nguyên tắc: mức phí sẽ được xác định

dựa trên mức độ rủi ro của khả năng thanh toán. Khả năng xảy ra rủi ro càng lớn thì

phí bảo hiểm sẽ càng cao.

M ột số yếu tố ảnh hường đến phí bảo hiểm:

• Tình hình nước nhập khẩu: nước nào có môi trường càng ổn định thì mức

phí càng thấp. Ngược lại với những nước có tình hình chính trị bất ổn thì

múc phí bảo hiểm sẽ tăng lên.

• Phương thức thanh toán: Rủi ro tăng dần theo thứ tự: L/C, D/P, D/A, tương

ứng mức phí bảo hiểm tăng dần.

• Thời hạn thanh toán: Thời hạn càng dài thì khả năng rủi ro càng lớn, phí

bảo hiểm càng cao.

• Mức độ bồi thường so với giá trị họp đồng mua bán: mức độ càng cao thì

phí càng lớn.

2. Phân loại

2.1. Bào hiểm tín dụng xuất khẩu ngan hạn (short-term export credit insurance)

Đây là sản phẩm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu truyền thống, dành cho những

khoản tín dụng có thời hạn không vượt quá 180 ngày. Có đến 9 0% thương mại thế

giới được thực hiện trên cơ sợ tiền mặt hoặc các loại tín dụng ngắn hạn. Loại bảo

hiểm này thường bảo hiểm cho toàn bộ doanh thu của doanh nghiệp, có bảo hiểm

trước khi gửi hàng và sau khi gửi hàng. Tỷ lệ được bảo hiểm thường lèn tới 90-95%

trị giá hợp đồng (không bao gồm thuế giá trị gia tăng). Tất cả các loại hàng xuất

khẩu, bao gồm nguyên liệu thô thường sử dụng loại bảo hiểm này. Trong lĩnh vực

12

bào hiêm này có sự tham gia của các tổ chức bào hiểm tư nhân và các tổ chức bảo

hiểm Nhà nước.

2.2. Bảo hiêm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn (Medium & long-term export

credit insurance)

Đây là sản phẩm bảo hiểm dành cho những khoản tín dụng có thời hạn lên đến

5 năm hoặc lâu hon là (7-10) năm, bảo hiểm cho việc tài trợ xuất khẩu các máy móc

tư liệu sản xuất, tài trợ cho các dự án theo phương thức chia khóa trao tay và hình

thức xuất khẩu v ới lượng vồn lớn. Tỷ lệ được bảo hiểm thường là 8 5% trị giá hợp

đồng. Trong lĩnh vực này chủ yếu chỉ có sự tham gia của các tổ chức bảo hiểm Nhà

nước do mức độ rủi ro lớn, và giá trị bào hiểm lớn, các tổ chức bảo hiểm tư nhân

không sẵn sang hoặc không dù khả năng tham gia vào lĩnh vực này.

3. Vai trò của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

3.1. Giúp nhà xuất khau dễ dàng vay von tài trợ cho xuất khẩu.

Việc cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ giúp nhà xuất khẩu đáp ứng

được các yêu cầu vay vồn từ các ngân hàng thương mại. Nhà xuất khẩu ngược lại,

cũng cho vay cho chính những người mua hàng của họ. Nhà nhập khẩu cũng phải

vay vồn từ ngân hàng thương mại và thực tế họ phải chịu chi phí cho đến khi khách

hàng của họ thanh toán hết. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cấu thành nên khoản đảm

bảo bổ sung cho nhà xuất khẩu khi vay vồn. Bởi vậy, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

khuyến khích các ngân hàng tham gia quá trình cho vay xuất khẩu, tăng nguồn vồn

cho vay, kích cầu, thúc đẩy kinh tế phát triển. Đồng thời, bảo hiểm góp phần giảm

nguồn vồn hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước, giảm sức ép tới ngân sách Nhà nước khi

cho vay với lãi suất ưu đãi và thời gian dài. V ới việc bào hiểm tín dụng xuất khẩu

được coi là một công cụ bảo đảm, nhà xuất khẩu cũng có thể vay vồn từ các ngân

hàng thương mại với các điều khoản ưu đãi hơn, như thời gian vay vồn dài hoặc lãi

suất thấp hơn khi chưa có bào hiểm.

Nếu xu hướng sử dụng các tài sản bảo đảm như nhà xưởng, đất đai trở nên phổ

biến trong quá trình xem xét vay vồn, dường như các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở

13

các nước đang phát triển sẽ gặp khó khăn phổ biến khi tìm kiếm các nguồn tài trợ từ

các ngân hàng. Do đó, trên phương diện là một công cụ bảo đảm tiền vay. bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu là một công cụ thay thế tài sản bào đảm truyền thống, giúp các

doanh nghiệp có cơ hội tốt hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay.

3.2. Giúp các doanh nghiệp xuất khẩu dành lợi thế cạnh tranh

Trong hoàn cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, cạnh tranh ngày càng khốc

liệt thì đôi khi việc cấp tín dụng trở thành một điều kiện quan trọng quyết định sự

tồn tại cữa doanh nghiệp xuất khẩu. Lý do là người nhập khẩu luôn hy vọng được

người xuất khẩu tin tưởng và cho phép họ trả chậm. K hi cấp tín dụng cho người

nhập khẩu, người xuất khẩu không những có thể cững cố mối làm ăn hiện tại mà

còn có thể có thêm những bạn hàng mới, tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các nhà

cung cấp khác không sẵn sang cấp tín dụng. Kết quả là tăng lượng hàng bán và lợi

nhuận cho doanh nghiệp xuất khẩu.

Nêu các doanh nghiệp xuất khẩu không đữ vốn để thực hiện họp đồng mua bán

quốc tế thì đi vay vốn được coi là cách thức phổ biến được các doanh nghiệp lựa

chọn. Nhưng điều này cũng đong nghĩa với việc tiền lãi mà các công ty xuất khẩu

phải trả sẽ được tính thêm vào giá từng đơn vị sản phẩm khiến giá cả các mặt hàng

xuất khẩu cữa nước này trở nên kém cạnh tranh hơn so với sản phẩm cữa các nước

khác. Trong khi đó, nếu áp dụng hình thức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, các doanh

nghiệp nội địa hoàn toàn có thể yên tâm khi hàng hoa xuất khẩu ra thị trường quốc

tế vẫn giữ được tính cạnh tranh về giá cả, từ đó giành được lợi thế trong quá trình

buôn bán quốc tế.

Bên canh đó, việc dễ dàng hơn trong khi vay vốn cũng giúp nhà xuất khẩu có

thể đáp ứng được các yêu cầu ngày càng tăng cữa người mua khi cho phép kéo dài

thời gian nợ tiền hàng. Điều này là cần thiết để chiến thắng trong xu hướng cạnh

tranh trên thương trường quốc tế khi các nhà xuất khẩu khác cũng sẵn sàng cho

khách hàng cữa mình mua chịu. Sức ép tăng thời gian mua chịu không chi liên quan

nhiều đến doanh số bán hàng mà thường liên quan đến các khoản tín dụng thương

mại trung và dài hạn cũng như ngắn hạn. Người mua muốn thanh toán bàng thư tín

dụng không hữy ngang và có yêu cầu thời hạn thanh toán 30. 60 và thậm chí 180

14

ngày. B ởi vậy, nếu với một nhà cung cấp hàng hóa cùng chủng loại, chất lượng, giá

cả, tín dụng thương mại sẽ là một điểm khuyến khích đáng kể so với thanh toán

ngay. Các nước nhập khẩu yêu cầu tín dụng thương mại không chi đối với hàng hóa

truyền thống mà cả những mặt hàng như chè, nguyên liựu, cao su, dựt may là những

mặt hàng có lợi thế cạnh tranh của các nước đang phát triển. Như vậy, bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu là một công cụ cạnh tranh mang tính quốc gia. Viực bồi thường các

rủi ro khác nhau sẽ khuyến khích nhà sản xuất và nhà xuất khẩu tự tin khai thác các

thị trường mới.

3.3. Giúp các doanh nghiệp xuât khâu yên tâm hơn trước các rủi ro

Có thể nói tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là đối tác với ngân hàng vì

trên phương diựn bào hiểm tín dụng xuất khẩu trong quan hự giữa người mua bảo

hiểm và người bảo hiểm thì ngân hàng có thể là người có quyền truy đòi (nhận tiền

bồi thường khi có rủi ro) trong hợp đồng bảo hiểm. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu có

thể được coi như là một công cụ tài chính để thu hồi nợ vay trong khi các nguồn lực

tài chính hạn chế và cũng là công cụ quản lý rủi ro của cả doanh nghiựp và ngân

hàng.

Bên cạnh viực bảo vự nhà xuất khẩu trước các rủi ro, bảo hiểm còn giúp nhà

xuất khẩu có được những thông tin về tình hình tài chính của khách hàng, thông tin

kinh tế, chính trị của thị trường xuất khẩu thông qua kênh thông tin của tổ chức bảo

hiểm. Dịch vụ thông tin của tồ chức bảo hiểm giúp nhà xuất khẩu giảm bớt khó

khăn khi tiếp cận khách hàng của họ và bắt kịp những thay đổi của thị trường thế

giới. Viực hỗ trợ này rất quan trọng tại các nước đang phát triển, nơi mà phần lớn

các doanh nghiựp mới tham gia hoạt động xuất khẩu và các nhà xuất khẩu hiựn tại

đang cố gắng tăng kim ngạch bằng cách mở rộng quan hự với nhiều bạn hàng mới.

Trong điều kiựn lý tường, tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Nhà nước có thể

giúp nhà xuất khẩu của nước mình đòi nợ.

Có thể lấy cao su là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chù đạo

của nước ta làm ví dụ điển hình cho mô hình gây quỹ và thành lập quỹ bào hiểm

xuất khẩu nói trên nhàm giúp các doanh nghiựp tham gia hạn chế được rủi ro và bào

15

đảm tài chính trong quá trình mua bán quốc tế. Trước tình hình giá cả thường xuyên

biên động lớn, nhăm giúp hội viên giảm thiểu rủi ro về giá, Hiệp hội cao su Việt

Nam đã thành lập Quỹ bảo hiểm xuất khẩu ngành hàng cao su từ tháng 12/2006.

Nguồn thu của quỹ là từ 1% doanh thu xuất khẩu của các hội viên tham gia vào quỹ.

Quỹ đã thu được 56 tỷ đồng năm 2008 và dạ kiến năm 2009 là 62 tỷ đồng , 1 S |. Mục

đích của quỹ là khắc phục và hạn chế rủi ro trong xuất khẩu cao su do thay đổi giá,

thị trường mới chưa ổn định, rủi ro trong quá trình sản xuất hàng xuất khẩu. Quỹ

còn hỗ trợ cho hội viên vay trung và ngắn hạn để đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu cao

su, cũng như hoạt động xúc tiến thương mại. Hiện nay, ngành cao su có khoảng 100

doanh nghiệp xuất khẩu đến hơn 45 quốc gia, trong đó có 10 doanh nghiệp xuất

khẩu lớn. Trong tương lai, sản lượng cao su Việt Nam xuất khẩu được dạ kiến tăng

gấp đôi, tò 600-700 ngàn tấn lên đến 1-1,2 triệu tấn vào năm 2020. Để thạc hiện

được mục tiêu nhu cầu mở rộng thị trường mới bên cạnh thị trường truyền thống,

tiếp cận nguồn khách hàng tiềm năng, ngành cao su cần bảo hiểm tín dụng xuất

khẩu vì đây là hình thức khuyến khích các nhà nhập khẩu nước ngoài mua sản phẩm

Việt Nam khi Việt Nam muốn giới thiệu sản phẩm vào thị trường mới. Hơn thế nữa,

bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cũng cần cho các nhà đầu tư ra nước ngoài vì hiện nay

ngành cao su đầu tư rất nhiều vào các nước Lào và Campuchia. Cho nên, bèn cạnh

việc nhận được tín dụng từ các ngân hàng, các nhà đầu tư cũng cần bảo hiểm tối

thiểu trong vòng 3 năm để không bị rủi ro về vốn.

Như vậy có thể thấy ngoài vai trò cơ bản nhất là hạn chế rủi ro thanh toán

trong quá trình xuất nhập khẩu, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu còn đóng vai trò quan

trọng trong quá trình giảm thiểu rủi ro về vốn cho các nhà đầu tư, cũng như các

doanh nghiệp xuất khẩu.

4. Các nhăn tố ảnh hưởng tới hoạt động bảo hiếm tín dụng xuất khẩu

Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh đặc thù. chịu ảnh

hưởng cùa rất nhiều nhân tố, bao gồm cả nhân tố vi mô lẫn nhân tố vi mô. Và các

nhân tố này có thể ảnh hường trạc tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu.

16

4. ỉ. Các nhân tố vĩ mô

K hi xét đến những yếu tố ảnh hường đến hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất

khẩu, không thể không tính đến những nhân tố vĩ mô liên quan trực tiếp đến tính

chất của hoạt động này. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được sử dụng để giúp nhà

xuất khẩu phòng ngừa hai rủi ro chủ yếu: rủi ro kinh tế và rủi ro chính trị. Trong khi

đó, những rủi ro này chịu ảnh hưổng rất lớn của tình hình kinh tế vĩ mô cũng như

tình hình chính trị của nước nhập khẩu và nước xuất khẩu. K hi những yếu tố vĩ mô

này thay đổi, rủi ro đối với hoạt động xuất khẩu cũng sẽ thay đổi theo, tạo ra ảnh

hưổng đến hoạt động kinh doanh cùa các doanh nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất

khẩu-

ị'_V055<23

4.1.1. Các nhân tố trên thi trường nước xuất khẩu ị y^ i ộ > Hành lang pháp lý: Bất cứ một doanh nghiệp nào tồn ừi và phát triển tại

một quốc gia cũng đều phải chịu sự điều chinh cùa luật pháp nước đó. M ỗi quốc gia

sẽ có một cơ chế điều hành và các văn bản pháp luật điều chỉnh khác nhau tùy thuộc

vào tình hình kinh tế, chính trị cũng nhu đều kiện phát triển của tòng nước. Cụ thể

là nếu như một quốc gia có hành lang pháp lý thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi

cho các doanh nghiệp hoạt động thì hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại quốc

gia đó có điều kiện thuận lợi để phát triển. Nhưng nếu một nước mà có nhiều quy

định chồng chéo, phức tạp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động này. Bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu thường được điều chỉnh trực tiếp bời đạo luật do Chính

phủ, Nghị viện hay Quốc hội ban hành, ví dụ như Đạo luật Council Directive

98/29/EC được ủy ban Châu Âu (ÉC) ban hành ngày 16/08/1998 về thi hành chính

sách bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trong các nước thành viên EU |30'. Ngoài ra, Uy

ban Châu Âu còn đưa ra các quy định trong thỏa thuận quốc tế hỗ trợ tín dụng xuất

khẩu chính thức cùa Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD năm 2004. Tuy

không trực tiếp đề cập đến các quy định về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, thỏa thuận

này được đưa ra nhằm tạo khung pháp lý cơ bản cho các hoạt động hỗ trợ tín dụng

xuất khẩu chính thức của các nước thành viên tham gia thỏa thuận. Thỏa thuận của

OECD là không bắt buộc, nhưng nó lại tạo ra cơ sờ pháp lý cho các nước chấp nhận

17

thỏa thuận và cơ sờ tham khảo của các nước khác khi xây dựng chính sách. quy

định về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

> Sự phát triển của thị trường tài chính và các định chế tài chính : Ngày

nay, sự phát triển của các thị trường tài chính đã giúp các công ty phòng ngừa được

hệu hết các rủi ro trong thương mại quốc tế, đặc biệt là rủi ro tỷ giá. Thị trường tài

chính và các định chế tài chính ngày càng khẳng định được vai trò không thể thiếu

trong việc hỗ trợ hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu phát huy được hết vai trò

của mình trong việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu bất cứ quốc gia nào trên thế giới.

> Khả năng cạnh tranh của hàng hoa xuất khẩu: Nếu mặt hàng xuất khẩu

ra thị trường quốc tế không đáp ứng được nhu cệu, thị hiếu của người nước ngoài,

giá cả và chất lượng của hàng hoa xuất khẩu thiếu tính cạnh tranh sẽ làm giảm câu

nhập khẩu hàng hoa tại nước nhập khẩu. Điều này sẽ làm giảm số lượng xuất khẩu,

ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động xuất khẩu quốc gia. Từ đó dẫn đến nhu cệu

sử dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu giảm. Do vậy, có thể thấy, bên cạnh những

yếu tố khách quan như biến động của nền kinh tế toàn cệu ảnh hưởng đến lãi suất

cũng như tỷ giá hối đoái thì khả năng cạnh tranh của hàng hoa xuất khẩu đóng vai

trò không thể thiếu trong việc kích thích sự phát triển của hoạt động bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu trong việc hỗ trợ xuất khẩu của mọi quốc gia.

> Sự ổn định của tỷ giá hối đoái cũng là một nhân tố vĩ mô quan trọng đối

với hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nói riêng.

Ngày nay, mức độ rủi ro tỷ giá đã tăng lên thậm chí còn nhanh hơn tốc độ tăng khối

lượng thương mại và đệu tư quốc tế. Điều này xảy ra là vì sự biến động của tỷ giá

ngày càng trở nên khó kiểm soát với cường độ ngày càng mạnh hơn. Biến động tỷ

giá quá lớn sẽ gây ra những thiệt hại về chênh lệch tỷ giá cho các nhà xuất khẩu.

Rủi ro thay đổi tỷ giá mà những nhà xuất khẩu và nhập khẩu phải đối mặt là rủi ro

cơ bản nhất trong thương mại quốc tế mà thương mại nội địa không có. Bởi vậy,

một trong các rủi ro chủ yếu được bảo hiểm cho các nhà xuất khẩu là rủi ro tỷ giá.

18

4.1,2. Các nhân tổ trên thi trường nước nháp khẩu

> Lãi suất nội địa của nước nhập khẩu có tác dụng khuyến khích hay hạn

chê nguôn tiên doanh nghiệp nhập khẩu có thể tiếp cận, ảnh hường đến năng lực tài

chính của bên nhập khẩu và rủi ro không trả được tiền hàng.

> Tinh hình kinh tế vĩ mô đang trong điều kiện thịnh vượng hay suy thoái

cũng tác động đến độ rủi ro của nhà nhập khẩu. Trong điều kiện kinh tế suy

thoái, doanh nghiệp nhập khẩu sẽ có nguy cơ phá sản cao hơn nhiều so với khi

trong điều kiện kinh tế thịnh vượng. Nhà xuất khẩu nên đánh giá kỹ tình hình kinh

tế của nước đọi tác cũng như của nền kinh tế thế giới, và doanh nghiệp bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu cũng cần có sự xem xét các hợp đồng bảo hiểm cẩn thận trước khi

chấp nhận họp đồng, nhằm phòng ngừa mất mát do đền bù thiệt hại.

> Các nhân tổ ảnh hưởng đến tình hình chính trị : ví dụ như chiến tranh,

cấm vận hay tranh chấp giữa các đảng phái trong nước cũng được coi là những yếu

tọ vĩ mô ảnh hưởng đến bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Những rủi ro chính trị xảy ra

bất ngờ này đều sẽ gây ảnh hường lớn đến nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp

nhập khẩu. Các nhà bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ phải đền bù khi rủi ro vỡ nợ xảy

ra do các nguyên nhân chính trị này.

> Cầu hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu: nhân tọ này có tác động trực tiếp đến

nhu cầu nhập khẩu hàng hóa. Nếu nước nhập khẩu có nhu cầu cao về hàng hóa nhập

khẩu, lượng họp đồng với doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tăng mạnh, dẫn đến nhu cầu

bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cũng tăng mạnh. Đây là nhân tọ vĩ mô có ảnh hường

trực tiếp đến hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

4.2. Các nhân tố vi mô

Nhân tọ vi mô tác động đến bảo hiểm tín dụng xuất khẩu có thể coi là những

yếu tọ liên quan đến bản thân người cung cấp dịch vụ và đọi tượng sử dụng dịch vụ

này.

> Doanh nghiệp xuất khẩu: yếu tọ tác động đến hoạt động bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu gồm có năng lực tài chính cũng như kinh doanh của doanh nghiệp

19

và tầm nhìn chiến lược cùa doanh nghiệp đó. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là một

hình thức phòng ngừa rủi ro trong hoạt động xuất khẩu. Hoạt độna này yêu cầu

doanh nghiệp xuất khẩu phải có đủ năng lực tài chính để đảm bảo chi trả tiền bồi

thường cho công ty cung cấp dịch vụ bào hiểm tín dụng xuất khẩu trong tình huậng

xâu xảy ra. Hơn nữa, do dịch vụ này có rủi ro khá cao, mức phí dịch vụ theo đó

cũng cao nên các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ khó có khả năns tham gia

dịch vụ này do nguồn vận có hạn. Nhận thức và tầm nhìn cùa doanh nghiệp cũng là

nhân tô quan trọng đóng góp vào sự phát triển của thị trường bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu. K hi có cầu về sàn phẩm này từ các doanh nghiệp cao, thị trường mới có

cơ sở để phát triển. Những doanh nghiệp xuất khẩu có tầm nhìn chiến lược muận

đảm bảo sự ổn định và bền vững của các hoạt động xuất khẩu sẽ đánh giá rất cao và

sẵn sàng sử dụng dịch vụ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

> Doanh nghiệpbảo hiểm tín dụng xuất khẩu: các yếu tậ về kỹ năng quàn

lý, tiềm lực về vận và các chiến luợc phát triển thị trường là những yếu tậ vi mô tác

động đến nguồn cung của sản phẩm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. về kỹ năng quản

lý, các công ty bảo hiểm cần có năng lực kinh doanh tật, mạng lưới, mậi quan hệ để

thẩm định khách hàng nước ngoài cũng như các đậi tác tái bảo hiểm rộng. Mặt

khác, để cung cấp được dịch vụ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nhàm thoa mãn nhu

cầu đa dạng của khách hàng, đặc biệt là những khách hàng mạo hiểm tham gia

những hợp đồng có giá trị tiềm ẩn nhiều rủi ro. công ty bảo hiểm phải đủ năng lực

tài chính để đàm bào bảo hiểm được những đơn hàng giá trị lớn, có độ rủi ro cao.

Chỉ những doanh nghiệp bảo hiểm đủ khả năng về tài chính và có mạng lưới quan

hệ rộng mới đầu tư mạnh vào lĩnh vực này. Nói cách khác, tiềm lực vận đù mạnh

cùng với kỹ năng quản lý chính là yếu tậ quyết định tới lượng cung về bào hiểm tín

dụng xuất khẩu. Ngoài ra. không thể phủ nhận vai trò của các chiến lược phát triển

thị trường trong việc giúp chính công ty cung cấp dịch vụ bảo hiểm hạn chế rủi ro

trong quá trình cung cấp dịch vụ bảo hiểm, đặc biệt phải kể đến vai trò quan trọng

của việc đù khả năng thẩm định khách hàng nước ngoài và tìm được đậi tượng tái

bảo hiểm. Các chiến lược này sẽ quyết định vai trò sậng còn của các công ty bảo

20

hiểm trong nền kinh tế nói chung cũng như việc tiếp cận các khách hàng tiêm năng

tham gia vào hoạt động ngoại thương của quốc gia nói riêng.

N hư vậy, các yếu tố vi mô liên quan trực tiếp đến bên cung cấp và sử dụng

dịch vụ bào hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ vừa tác động trực tiếp đến cung và câu của

bản thân thị trường dịch vụ này, vừa quyết định mớc độ phát triển và tính chuyên

nghiệp của hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của một quốc gia.

5. Sự cần thiết khách quan phải phát triển hoạt động bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu

Đầu những năm 90, Việt Nam đã đẩy nhanh quá trình mờ cửa, hội nhập kinh tế

quốc tế cả song phương và đa phương với xu hướng tăng sự tự do hóa trong các

hoạt động kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam, dịch vụ ngày càng có tỷ

trọng tăng lên, nhưng vẫn là một lĩnh vực mới và yếu, thương mại dịch vụ còn rát

hạn chế. Đối với dịch vụ bảo hiểm, Việt Nam đã mờ cửa từ năm 1995 nhưng còn ở

mớc khá xa so với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Việc mở cửa hơn nữa thị

trường dịch vụ bảo hiểm sẽ giúp Việt Nam có cơ hội tranh thủ được nguồn lực tài

chính, kinh nghiệm, công nghệ và kỹ năng quản lý của các công ty cung cấp dịch vụ

bảo hiểm nước ngoài. Mặt khác, sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài buộc các

nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm trong nước phải đổi mới, nâng cao chất lượng dịch

vụ và đa dạng hóa sản phẩm. H ội nhập kinh tế quốc tế trong dịch vụ bảo hiểm sẽ

góp phần mở rộng quan hệ thương mại và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường

quốc tế.

Bên cạnh đó, trong quá trình ký kết các Hiệp định Thương mại song phương

và đa phương, các đối tác thương mại lớn của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU đều yêu

cầu mở cửa thị trường dịch vụ bảo hiểm như một điều kiện để thúc đẩy trao đổi

thương mại hai chiều của Việt Nam sang các nước đó. Cùng với tiến trình hội nhập

kinh tế quốc tế, trong dịch vụ bảo hiểm, Việt Nam sẽ tích cực thực hiện những cam

kết theo các hiệp định song phương và đa phương. Như vậy có thể kết luận rằng hội

nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực bào hiểm là một tất yếu.

21

Mờ c ửa n ền k i nh tế và k i nh d o a nh t r o ng môi trường toàn cầu có nghĩa là V i ệt

N am không hoạt độ ng k i nh d o a nh m ột mình mà p h ải cạnh tranh k h ốc liệt trên thị

trường q u ốc tế nói c h u ng và thị trường V i ệt N am nói riêng. Chính vi v ậy các doanh

n g h i ệp x u ất k h ẩu V i ệt N am c ần có thêm các tổ chức có n h i ều k i nh n g h i ệ m, k i ến

thức về r ủi r o, quản lý r ủi ro và bảo h i ểm các r ủi ro đó làm bạn đỷng hành để đảm

bảo hoạt độ ng x u ất k h ẩu đạt h i ệu q uả cao nhất. Và đó chính là hình thức bảo h i ểm

tín d ụ ng x u ất khẩu. K hi có bảo h i ểm tín d ụ ng xuất khẩu, uy tín của hàng hóa được

đảm b ảo nên ngân hàng có t hể cho v ay đến 9 0% giá trị hàng hóa thay vì tỷ lệ thấp

n hư h i ện n ay b ởi k h o ản t hu về cùa doanh n g h i ệp được đảm bảo. Đ ơn vị bảo h i ểm

tín d ụ ng x u ất k h ẩu còn hỗ t rợ doanh n g h i ệp t r o ng quàn lý r ủi ro, nhất là k hi có

khách hàng m ớ i, thị trường m ớ i, giúp doanh n g h i ệp biết rõ k hả năng tài chính của

đối tác, tư v ấn m ức h ạn c ho nợ, hạn trả chậm, trả n h i ều kỳ, t h ời g i an thanh toán...

giúp g i ảm t h i ểu nợ xấu. T h am g ia vào hoạt động bảo h i ểm tín dụng xuất khẩu, DN

còn có cơ h ội t i ếp cận v ới n h i ều n g u ỷn v ốn tín dụng khác... c ần thiết là v ậy n h u ng

ờ V i ệt N am h i ện n ay có rất ít các doanh n g h i ệp bảo h i ểm c u ng cấp các sản p h ẩm

bảo h i ếm tín d ụ ng xuất khẩu. H ơn nữa, các d o a nh n g h i ệp V i ệt N am chưa hiểu n h i ều

về l o ại hình b ảo h i ểm này và c h i nh p hủ cũng chưa có cơ c hế hỗ t rợ loại hình dịch

vụ này phát t r i ển như n h i ều nước t r o ng k hu v ực đang t r i ển khai. C h i nh vì v ậy v i ệc

phát t r i ển hình thức b ảo h i ểm tín d ụ ng xuất k h ẩu là m ột tất y ếu khách quan và

không t hể không t h ực hiện.

T óm lại, chương này thông q ua v i ệc g i ới t h i ệu các khái n i ệ m, phân loại c ũ ng

như v ai trò c ủa tín d ụ ng xuất k h ẩu và bào h i ểm tín dụng xuất khẩu, qua đó có n h ữ ng

cái nhìn t ổ ng quan về loại hình bảo h i ểm này. Và cùng v ới đó là nêu lên nguyên nhân

tại sao l ại cần p h ải phát t r i ển loại hình bảo h i ểm này tại V i ệt N am và làm n ổi bật

được n h ữ ng nhân tố vĩ mô cũng như vi mô tác động đến loại hình bảo h i ểm tín dụng

xuất k h ẩu này. Sau k hi đã có n h ữ ng cái nhìn tỷng quan về t hế nào là bảo h i ểm tín

dụng xuất khẩu, bảo h i ểm tín dụng xuất k h ẩu là gì và v ai trò của nó đối v ới n ền k i nh

tế tác g iả sẽ đi vào tìm h i ểu hệ thống bảo h i ểm tín dụng xuất khẩu của các quốc g ia

ừên thế g i ớ i, điển hình là Mỹ. B r a z i l, T r u ng Quốc. Hà L an t r o ng chương 2 sau đây.

22

Chương li: Hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

của một số nước trên thế giói

ì. Mỹ

Mỹ là một trong những nước phát triển hàng đầu thế giới, đặc biệt là có hệ

thông bảo hiếm tín dụng xuất khẩu hoạt động hiệu quả với mô hình được phân đoạn

chuyên mòn hoa cao. Vì vịy người nghiên cứu quyết định chọn Mỹ làm đổi tượng

nghiên cứu kinh nghiệm, trên cơ sở đỏ rút ra bài học cho Việt Nam.

1. Khái quát chung

Trong cơ cấu nền kinh tế Mỹ, các nguồn hỗ trợ đối với những mặt hàng xuất

khẩu từ phía Chính phủ được phân loại hết sức rõ ràng, bao gồm nguồn vốn hỗ trợ

trực tiếp nhằm cải thiện xuất khẩu và nguồn hỗ trợ cho đầu tư trực tiếp nước ngoài

cùng với những công cụ hỗ trợ tài chính cho những nước đang phát triển. Bên cạnh

đó, trong lĩnh vực bảo hiểm và bảo lãnh thường có sự tham gia của ba cơ quan lớn

là Ngân hàng Xuất nhịp khẩu Ex-im bank, Tịp đoàn tín dụng hàng thương mại

(CCC-Commodity Credit Corporation) và Tịp đoàn đầu tư tư nhàn nước ngoài

(OPIC-Overseas Private Investment Corporation) với ba mục tiêu là hỗ trợ xuất

khẩu hàng hoa dịch vụ, xuất khẩu những mặt hàng thiết yếu và đầu tư trực tiếp nước

ngoài 1 1 0 1.

Trong đó, Ngân hàng Xuất nhịp khẩu được coi là một đại diện của Chính phù

có nhiệm vụ phối hợp hoạt động với các cơ quan khác nhàm thúc đẩy xuất khẩu,

đặc biệt là hỗ trợ đầu tư trực tiếp nước ngoài và viên trợ cho các nước đang phát

triển là một trong những chiến lược xuất khẩu trọng tâm của Mỹ. Các hoạt động này

được điều phối bời Hội đồng tu vấn quốc gia về các chính sách tài chính và tiền tệ

quốc tế (NAC-National Advisory Council ôn International Monetary and Financial

Policy). Uỷ ban này gồm các thành viên của Kho bạc quốc gia, Bộ thương mại.

Ngân hàng xuất nhịp khẩu, Phòng thương mại, Quỹ dự trữ quốc gia và IDCA (một

cơ quan có sự tham gia của Tịp đoàn đầu tư tư nhân nước ngoài. Tịp đoàn thương

23

mại và phát triển Mỹ và cơ quan phát triển quốc tế Mỹ). Mỹ đã đề ra các chương

trình bảo hiêm tín dụng xuất khẩu nhằm cung cấp những khoản tiền hỗ trợ giúp các

nhà xuất khẩu cũng như các ngân hàng tránh được rủi ro trong quá trình giao dịch

thương mại trừ những rủi ro gây ra trong quá trình vận chuyển hay do các bẽn vi

phạm hợp đặng. Các khoản hỗ trợ có thể bù đắp cả rủi ro kinh tế lẫn rủi ro chính trị

hoặc có thể chi bù đắp rủi ro chính trị và những rủi ro khác. Mô hình bào hiểm tín

dụng xuất khẩu của Mỹ không có hạn mức tín dụng nhất định cho các nước tham

gia cũng như đối với từng giá trị giao dịch. Tuy nhiên, mô hình này có đưa ra những

điêu kiện để quyết định thời gian tối đa nhận tài trợ cho các nước tham gia nhận

khoản hỗ trợ bù đắp rủi ro. Bên cạnh đó, theo mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

của Mỹ thì rủi ro do đặng tiền mất giá không được hỗ trợ bù đắp. Tuy nhiên trong

trường hợp nhà nhập khẩu gửi một khoản tiền bàng đặng tiền nội địa vào một ngân

hàng và việc đặng tiền mất giá xảy ra vào thời điểm chuyển giao khoản tiền đó, thì

đây được coi là rủi ro chính trị.

Mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Mỹ có ba loại chính sách cơ bản:

> Chính sách nhiều người mua (hoặc nhiều khoản giao dịch): bù đắp một

lượng lớn các đơn hàng mua ở nhiều nước khác nhau. Chính sách này chi được áp

dụng trong ngẩn hạn và quy định rang người được bảo hiểm cần phải thoa thuận

phần lớn số lượng hoặc tổng giá trị giao dịch với mục đích giảm thiểu rủi ro và hạn

chế sự lựa chọn ngược. Điều này hàm ý rang nhà xuất khẩu có thể cố tình gây ra

những tác động xấu ảnh hưởng đến hoạt động của mình chì để nhận được tiền bảo

hiểm. Chính sách này đặc biệt chú trọng tới các mặt hàng dân dụng thông thường,

linh kiện điện tử, vật liệu thô, linh kiện lắp ráp và hầu hết các dịch vụ.

> Chính sách một người mua (hoặc một giao dịch): bù đắp rủi ro đối với

một hay nhiều mặt hàng xuất khẩu trong cùng một hợp đặng xuất nhập khẩu. Thời

gian cùa hợp đặng có thể ngan hạn, trung hạn hoặc dài hạn, cho phép người được

bào hiểm quyết định giá trị hàng hoa được bảo hiểm rủi ro.

> Bảo hiểm t r u ng hạn (đối vói một khoản giao dịch): hỗ trợ tài chính dài

hạn cho những nhà nhập khẩu quốc tế đối với các thiết bị tư liệu sàn xuất hoặc

24

những dịch vụ liên quan. Theo chính sách này, thời hạn tài trợ này có thể kéo dài

lên tới 5 năm với giá trị tối đa là lo triệu đô. Hơn thế nữa, nhà nhập khẩu có quyền

yêu cầu giảm 1 5% giá trị thanh toán tính trên tổng giá trị họp động.

Những chính sách khác chú trọng vào các đối tượng kinh doanh đặc biệt như

ngân hàng và các tổ chức tín dụng thuê mua. M ột số chính sách áp dụng đối với các

tổ chức tài chính là: chính sách tín dụng chứng từ ngân hàng, chính sách tín dụng

đối với các tổ chức tín dụng đóng vai trò là người mua hoặc người bán.

Bên cạnh những khoản hỗ trợ bù đắp rủi ro trên, mô hình bào hiểm tín dụng

xuất khẩu của Mỹ còn đưa ra những mô hình đặc biệt nhằm hỗ trợ các công ty nhỏ

và vừa xuất khẩu trung bình dưới 5 triệu đô trong suốt hai năm qua. Một trong

những chính sách bảo hiểm cho những công ty này là chính sách cho doanh nghiệp

nhỏ được hỗ trợ tự động từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ với các mức bảo hiểm

như sau:

> Chính sách nhiều người mua: cung cấp các khoản bảo hiểm nhằm tránh

những rủi ro kinh tế, rủi ro chính trị và các loại rủi ro khác cùng lúc, lên tới 9 0 %,

9 5% hoặc 9 8% đối v ới các doanh nghiệp hoạt động ngắn hạn, tuy thuộc vào loại

chính sách và loại sản phẩm xuất khẩu.

> Chính sách một người mua: Trong ngắn hạn, những khoản bảo hiểm

thường thay đổi khác nhau tuy từng loại rủi ro. Đối với rủi ro kinh tế, tỉ lệ bảo hiểm

có thể lên tới 9 0 %, 9 5% hoặc thậm chí 9 8% tuy vào loại sản phẩm và chính sách áp

dụng. Còn đổi với rủi ro chính trị và các loại rủi ro khác, tì lệ bảo hiếm có thế lên

tới 100%.

Trong lĩnh vực bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tu nhân, thị trường Mỹ ngoài nhà

cung cấp là Ngân hàng Xuất nhập khẩu còn có sự tham gia của các công ty bào

hiểm trong khu vực tư nhân. Nhưng các công ty bảo hiểm tu nhân chỉ cung cấp bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu cho những khoản tín dụng ngắn hạn bời trên 9 0% thương

mại thế giới được thực hiện trên cơ sờ tiền mặt hoặc tín dụng ngắn hạn và mức độ

rủi ro cũng thấp hơn tín dụng trung và dài hạn. Còn Ex-imbank cung cấp bảo hiềm

cho cả rủi ro thương mại và chính trị của các khoản tín dụng ngan hạn, trung và dài

25

hạn nhưng tổ chức này không cạnh tranh với các công ty bảo hiểm tư nhân mà sẽ

bào hiểm cho những rủi ro mà các công ty tư nhân không thể hoặc không sẵn lòng

cung cấp bảo hiểm. So sánh Ex-im bank và các công ty bảo hiểm tư nhân ta thây

giữa chúng có những điểm khác biệt cơ bản:

> Phí bảo hiểm: Nêu như khu vực tư nhân quy định mức phí bào hiêm dựa

vào mức độ rủi ro và có thể giảm cho các nhà xuất khấu đã có kinh nghiệm hoạt

động lâu dài thì Ex-imbank đưa ra một mức phí bảo hiểm cố định để các khách

hàng có thể tham khảo trước khi lựa chờn có mua bảo hiểm hay không.

> Đối tượng hàng hóa được bảo hiểm: Các công ty tư nhân không cung cáp

bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cho những công ty xuất khẩu sang thị trường mới tiềm

ẩn nhiều rủi ro còn Ex-imbank vẫn bảo hiểm. Bên cạnh đó, nếu như tư nhân cung

cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu mà không có hạn chế nào liên quan đến hàm lượng

xuất khẩu hay hàng hóa quân sự, tất cả các hàng hóa đều có thể được bảo hiểm nêu

nó mang lại lợi nhuận. Trong khi đó Ex-imbank không cung cấp bào hiểm cho

những hàng hóa quân sự hay người mua hàng là các tổ chức quân sự nước ngoài vì

lý do chính trị.

2. Tổ chức đóng vai trò quan trọng đối với thị trường bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu Mỹ-Ngăn hàng Xuất nhập khẩu (Ex-imbank)

2. Ì Lịch sử hình thành và phát triển

Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ là một tổ chức hoạt động độc lập thuộc sờ hữu

của Nhà nước và được thành lập tại Columbia vào ngày 2/2/1934 dưới cái tên là

Ngân hàng Xuất nhập khẩu Wasington, với nhiệm vụ chính là thúc đẩy giao dịch

thương mại giữa Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Liên bang Xô Viết. Giao dịch đâu tiên

cùa Ngân hàng là khoản vay trị giá 3,8 triệu đô dành cho Cuba vào năm 1935. Từ

năm 1934 đến năm 1943, Quốc hội Mỹ đã ra hàng loạt các đạo luật quy định việc

Ngân hàng này sẽ trở thành một tổ chức Chính phủ, hoạt động dưới sự quàn lý trực

tiếp của nhiều bộ khác nhau. Tuy nhiên, đến 31/7/1945, mới được coi là một cơ

quan của Chính phủ hoạt động dựa trên Đạo luật ngân hàng xuất nhập khẩu do

Chính phủ Mỹ phê chuẩn. Trên thực tế. Ngân hàng Xuất nhập khẩu cung cấp bảo

26

lãnh các khoản vay và bảo hiểm tín dụng để tài trợ xuất kha |32'. Ngân hàng này chịu

sự điêu chỉnh của Luật sửa đồi hệ thống tín dụng liên bang (Federal Credit Reíbrm

Act-FCRA) ra đời vào năm 1990. Quốc hội tiến hành ủy quyền cho ngân hàng theo

tẩng thời kỳ. Đạo luật về trao quyền cho Ngân hàng Xuất nhập khẩu ra đời vào năm

2006 cho phép ngân hàng này được quyền hoạt động dưới sụ kiểm soát của Quốc

hội cho đến 30 tháng 12 năm 2011. Sau khi thời hạn này kết thúc ngân hàng sẽ tiếp

tục được Quốc hội trao quyền hoạt động trong một giai đoạn mới. Ngân hàng cung

cấp dịch vụ bảo bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trong trường hợp các tổ chức bảo hiểm

tư nhân không muốn hoặc không đủ khả năng tiến hành cung cấp dịch vụ hoặc khi

cần thiết hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Mỹ trong việc cạnh tranh với

các công ty xuất khẩu khác được sự bảo trợ cùa Chính phù nước ngoài.

Mục tiêu trọng tâm của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ là đưa ra thị trường các

loại hình bảo hiểm và bảo lãnh, khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu nhận tài

trợ xuất khẩu tẩ Chính phủ thông qua Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ và Ngân khố

quốc gia. V ới mục tiêu này, Ngân hàng hoạt động chủ yếu dựa trên hai chương

trình: Tín dụng tài trợ trực tiếp và Tài trợ qua trung gian.

2.2. Cơ cấu tổ chức và hoạt động

Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ có chi nhánh rộng khắp nước Mỹ. Trụ sở

chính của ngân hàng đặt tại Washington, D.c và bao gồm các phòng ban sau:

> Ban giám đốc: gồm có Tổng giám đốc của công ty kiêm Chủ tịch công ty,

người thứ hai là Phó tổng giám đốc với cương vị như Phó chủ tịch và bao gồm cả 3

giám đốc. Ban giám đốc do tổng thống Mỹ bổ nhiệm và được sự nhất trí thông qua

của Thượng Nghị viện. Ban giám đốc được quyền quyết định các giao dịch quan

trọng của ngân hàng và ủy ban kiểm tra.

> Ban quản lý r ủi ro và tín dụng: ban này chịu trách nhiệm xem xét mức độ

rủi ro tín dụng và xem xét việc tuân thủ các thù tục của các giao dịch giữa neân

hàng và các bên. Bên cạnh đó ban này còn chịu trách nhiệm đánh giá các khía cạnh

kỹ thuật và những tác động đến môi trường của dự án, phân tích các rủi ro kinh tế

cũng như các rủi ro liên quan đến quốc gia nơi dự án được tiến hành.

27

> Ban tài t rợ xuất khẩu: ban này chịu trách nhiệm đối với nguồn gốc của

các dự án. về các sản phẩm, dịch vụ và công ty.

> Ban quản lý hoạt động kinh doanh quy mô nhỏ: ban này chịu trách

nhiệm thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các công ty xuất khẩu có quy mô nhỏ và

8 văn phòng địa phương của ngân hàng.

> Ban cố vấn: cơ quan này chịu trách nhiệm cố vấn cho ban điều hành của

ngân hàng, chịu trách nhiệm thương lượng và chuẩn bị các chứng tể cho các giao

dịch quan trọng của công ty. Bên cạnh đó, ban này còn phải đảm bào ràng tất cả các

giao dịch của ngân hàng là tuân thủ các quy định của pháp luật.

> Ban tài chính: ban này chịu trách nhiệm về tất cả các hoạt động tài chính

của ngân hàng bao gồm cả việc tính toán và chi ngân sách, kiểm toán nội bộ, dịch

vụ và tài khoản tín dụng, báo cáo tài chính, quản lý tài sàn, khiếu nại, bồi thường và

xem xét các dự án đầu tư.

> Ban chính sách và kế hoạch: ban này tiến hành phân tích và phát triển

chính sách cũng như hợp tác với hiệp hội OECD và Berne Union.

> Ban quản lý nguồn nhân lực: cơ quan này hướng tới việc quản lý và phát

triển nguồn nhân lực, công nghệ, chi nhánh và dịch vụ..

> Ban thông t i n: ban này hoạt động về mảng marketing, cộng đồng và đối

ngoại.

> Ban về quốc hội: ban này chịu trách nhiệm tiến hành các hoạt động liên

quan tới quốc hội.

> Ban thanh t r a: Ban này là một cơ quan độc lập nằm trong khu vực của

ngân hàng và được hình thành theo pháp luật. Nhiệm vụ của ban này là hướng dẫn,

kiểm tra, giám sát các hoạt động của ngân hàng để phát hiện và ngăn chặn tình trạng

lãng phí, tham ô, gian lận; thúc đẩy sự phát triển kinh tế và hệ thống quàn lý của

ngân hàng.

N ăm 1992, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ tiến hành sự thay đổi lòn nhất khi

quyết định triển khai loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Các hoạt động cùa Ex-

im bank được chia làm hai nhánh khác nhau là: các hoạt động thương mại và các

28

hoạt động nhằm viện trợ cho các nước đang phát triển. Ngân sách cho hoạt động

cùa ngân hàng đến từ ba nguồn chù yếu là: nguồn thu của Ngân hàng (thu từ chênh

lệch cho vay, và thu phí bảo hiểm), các khoản vay từ Ngân khố quốc gia và các

khoản được ngân sách phân bổ dùng để hỗ trợ chi phí quản lý. Trong các hoạt động

thương mại, Ex-imbank cung cấp các khoản vay và bảo đảm cho các giao dịch xuất

khẻu trung và dài hạn lên tới 8 5% giá trị giao dịch dành cho bất cứ một bên có trách

nhiệm nào trong giao dịch. Các khoản cho vay của Ex-imbank được tính lãi suất là

lãi suất tối thiểu được sự cho phép của OECD. Đẻ giảm thiểu rủi ro cho các nhà

xuất khẻu Mỹ, Ex-imbank cũng đua ra hàng loạt các loại hình bảo hiểm phù họp với

những nhu cầu khác nhau của các doanh nghiệp xuất khẻu và các tổ chức tài chính.

Theo luật quy định về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẻu tại Mỹ. Ex-imbank

phải cung cấp ít nhất là 1 0% ngân sách của mình để hỗ trợ cho các doanh nghiệp

vừa và nhỏ để giúp đỡ các doanh nghiệp này tăng cường khả năng cạnh tranh trên

thị trường quốc tế. Do đó Ex-imbank cũng đưa ra hàng loạt các hỗ trợ cho các nhà

xuất khẻu có quy mô nhò bao gồm chương trình bảo đảm vốn lưu động (Working

Capital Guarantee Program), chương trình này bảo đảm cho các khoản vay giúp các

doanh nghiệp có thể tiếp cận dễ dàng hom với các khoản vay vốn của các ngân hàng

thương mại và chương trình bảo hiểm tín dụng xuất khẻu cho các doanh nghiệp

nhỏ. Thực tế hoạt động của Ex-imbank trong những năm qua cho thấy ngân sách mà

Ngân hàng này dành để hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường cao hơn

mức 1 0% quy định, thường là từ 1 5% đến 2 0 % .1 2 61

2.3. rinh hình hoạt động kinh doanh

N ăm 2009 vừa qua, công ty đã cho vay với tổng trị giá lên tới 21.021 triệu đô

và giá trị xuất khẻu được Ngàn hàng bảo hiểm là 26.440 triệu đô, tăng 4 6% so với

năm 2008 với mức doanh số đạt 14.399 triệu đô và đạt kỷ lục cao nhất trong suốt 75

năm hoạt động của công ty. Nguyên nhân là do trong khu vực tư nhân tính thanh

khoản kém dẫn đến lượng cầu về tín dụng xuất khẻu tăng lên làm cho hoạt động bào

hiểm tín dụng xuất khẻu cũng tăng lên trong khi đó Ngân hàng có khả năng đáp ứne

lượng nhu cầu tăng lên đó. Trong vòng 5 năm trờ lại đây tổng lượng tiền cho vay

29

cùa Ngân hàng tăng từ 12.150 triệu đô lên đến 21.021 triệu đô, tổng doanh thu xuất

khẩu được bảo hiểm tăng từ 16.041 triệu đô đến 26.440 triệu đô. '7|

N ăm 2009, công ty cũng đạt mức kỷ lục về doanh số bảo hiểm tín dụng xuất

khẩu cung cấp cho các nhà xuất khẩu nhỏ, tăng 36,7% so với cùng kỳ năm 2008 đạt

mức 4.360 triệu đô. số lượng các giao dủch thực hiện với các công ty nhỏ tăng 9 . 1%

so với năm 2008. số lượng giao dủch là 2.540 giao dủch và năm 2008 là 2.328 giao

dủch. Do ảnh hường của cuộc khủng hoảng tài chính nên mức tín dụng bủ thu hẹp

dẫn đến các công ty bảo hiểm tư nhân phải ngừng một số họp đồng bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu ban đầu. Các công ty xuất khẩu quy mô nhỏ bủ ảnh hường lớn khi

các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân liên tục từ chối bảo hiểm do họ

cho rằng mức doanh thu phí bảo hiểm trong thời điểm nền kinh tế khó khăn này

không thể mang lại lợi nhuận thậm chí là không thể bù đắp được chi phí. Chính vì

không thể mua bảo hiểm tại các công ty bảo hiểm tu nhân nên các công ty này phải

tìm đến ngân hàng Ex-im bank.

Hiện nay, Ngân hàng có mặt tại 165 quốc gia trên thế giới. Tổng giá trủ tổn thất

tăng 16,3% tương đương 67.987 triệu đô vào ngày 30 tháng 12 năm 2009 so với giá

trủ tổn thất năm 2008 là 58.472 triệu đô. Trong tất cả các vụ bồi thường tổn thất thì

giá trủ tổn thất chiếm tỷ lệ lớn nhất là lĩnh vực vận tải, chiếm tới 48.8% trong tổng

giá trủ tổn thất vào năm 2009 và 47,3% năm 2008. Châu Á là khu vực tập trung

nhiều vụ bồi thường tổn thất nhất, chiếm 41,6% trong tổng giá trủ tổn thất vào năm

2009 và 40,9% vào năm 2008.

Hầu hết phí bảo hiểm cũng như việc bồi thường tổn thất đều sử dụng đồng đô

la nhưng ngân hàng cũng chấp nhận việc đóng phí bảo hiểm và bồi thường tổn thất

tương ứng bàng đồng ngoại tệ. N ăm 2009, công ty đã thực hiện các giao dủch bằng

ngoại tệ với tổng giá trủ lên tới 1.217 triệu đô |7' .Và số lượng giao dủch bằng đồng

ngoại tệ được kỳ vọng sẽ tăng lên trong tương lai.

Như vậy có thể thấy, hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu rất phát triển, và

Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ là nhân tố quan trọng đối với thủ trường bảo hiểm

30

tín dụng xuất khẩu của Mỹ. Hệ thống này đua ra các chính sách bảo hiểm tín dụng

xuât khâu cụ thể và có những chính sách hỗ trợ nhất định đổi với các công ty vừa và

nhỏ trong việc tiếp cận thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

l i. B r a z il

Brazil có đực điểm kinh tế tương đối giống với Việt Nam vi cùng là một trong

những nước có tốc độ phát triển cao trên thế giới, thực hiện và duy trì nền kinh tế

mở theo cơ chế thị trường, khuyến khích mờ cửa tự do giao lưu và trao đổi buôn

bán với nước ngoài. Được thiên nhiên ưu đãi với một nguồn tài nguyên thiên nhiên

phong phú, Brazil còn có thế mạnh về trồng trọt và xuất khẩu những mựt hàng nông

phẩm trên thế giới như cao su, đường, gạo...Bên cạnh đó Brazil là một trong những

quốc gia đi đầu trong việc phát triển thành công mô hình bảo hiểm tín dụng xuất

khẩu, đem lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho những nền kinh tế còn non trẻ

nhưng hết sức có triển vọng trong quá trình toàn cầu hoa thương mại. Chính vì vậy

tác giả lựa chọn hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Brazil để nghiên cứu và

từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

1. Khái quát chung

Từ năm 1962, Chính phủ Brazil đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng cùa

xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế, chính vì vậy Chính phủ quốc gia này đã tiến

hành chuyên môn hóa mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu thông qua việc thành

lập một tổ chức chịu trách nhiệm điều hành và tiến hành hoạt động bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu tại Brazil để từ đó trang bị cho các nhà xuất khẩu nội địa một công

cụ phòng tránh rủi ro hiệu quả, giúp Brazil cạnh tranh trên thương trường quốc tế.

Hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu xuất hiện ở Brazil vào năm 1962, được

quy định bởi sắc lệnh số 736 ban hành vào ngày 13/6/1962. Tuy nhiên cho đến khi

Đạo Luật số 4678 ban hành vào ngày 16/6/1965 được ban hành, hoạt động này mới

được công nhận. Đến ngày 18/1/1965 cùng với sự ra đời của sắc lệnh số 57286,

hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chính thức được coi là một trong những hoạt

động kinh tế hợp pháp và được quy định trong văn bản pháp luật do Chính phủ

Brazil ban hành.

31

Có thể chia làm hai giai đoạn trong quá trình hình thành và phát triển của hệ

thông bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Brazil bởi lẽ giữa hai giai đoạn khác nhau rõ

nét vè cơ quan tổ chức chịu trách nhiệm chính trong hoạt động bào hiểm tín dụng

xuât khẩu và thủ tục tiến hành cung cấp bảo hiểm. Đó là từ năm 1962 đến năm 1992

và từ năm 1992 đến nay. Nếu như hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Brazil

từ năm 1962 đến năm 1992 có rất nhiều hạn chế trong việc thúc đẩy xuất khẩu phát

triên thì từ năm 1992 trở đi hoạt động này đã có những chuyên biên tích cực sau khi

có sự ra đợi của một số tổ chức như: Phòng Ngoại thương (CAMEX), Hội đồng Tài

trợ và bảo lãnh (COFIG) và Quỹ bảo lãnh xuất khẩu (FGE).

Mặc dù ra đợi từ rất lâu (năm 1962) nhưng phải sau 30 năm Chính phủ Brazil

mới sửa đổi hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu một cách hoàn thiện hơn và

mang lại nhiều thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu của Brazil trước năm 1992 ít được các nhà xuất khẩu cũng như các ngân

hàng trong và ngoài nước lựa chọn vì mô hình này đòi hỏi các bên phải tiến hành

quá nhiều thù tục phức tạp. Vì vậy mặc dù được xây dựng nhàm thực hiện chức

năng hỗ trợ xuất khẩu nhưng mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cũ này lại đặt ra

quá nhiều nghĩa vụ hành chính, đòi hỏi tính họp pháp cũng như chứng minh tài

chính của các bên tham gia. Điều này không phù hợp với những chính sách thúc đẩy

xuất khẩu của Chính phủ Brazil lúc bấy giợ.

Mặt khác hệ thống bào hiểm tín dụng xuất khẩu trước năm 1992 lại chịu sự

quản lý của Chính phủ thông qua một tổ chức Nhà nước có tên gọi Viện tái bảo

hiểm Brazil (Brazilian Reinsurance Institute- IRB). D ưới sự quàn lý chặt chẽ của tổ

chức này thì các công ty bảo hiểm quốc gia chỉ hoạt động đơn thuần như những

trung gian hoặc đại lý bảo hiểm. Trong khi đó, Kho bạc Nhà nước, được đại diện

bợi Viện tái bảo hiểm Brazil chịu trách nhiệm thanh toán và bù đắp hầu hết các rủi

ro trong quá trình hoạt động của hệ thống, bao gồm tất cả những rủi ro chính trị và

hơn 9 0% các rủi ro kinh doanh. Sự quản lý không hợp lý trong hệ thống bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu tại Brazil trong những năm 1962 đến 1992 làm cho hệ thống này

32

không đáp ứng được nhu cầu thực tế của nền kinh tế và gây ra nhiều khó khăn cho

các bên tham gia thể hiện rõ nét qua việc:

> Các nhà xuất khẩu Brazil không có được một công cụ đảm bảo hiệu quả,

đáng tin cậy và dễ dàng sử dụng;

> Viện tái bảo hiểm Brazil (IRB) đã đi chệch khỏi nhiệm vụ chính là tái bảo

hiêm, và tặ đó đem lại hình ảnh xấu trong công chúng doanh nhân;

> Các ngân hàng không thể tài trợ những khoản tiền đáng kể cho những mặt

hàng xuất khẩu sản xuất trong nước do thiếu những công cụ bảo đảm cần thiết;

> Kho bạc Nhà nước phải gánh lấy tổn thất nghiêm trọng tặ những rủi ro và

không thể thu hồi nợ do những sai sót của hệ thống; và

> Quốc gia mất cơ hội có được một cơ chế bảo hiểm túi dụng xuất khẩu thích

hợp để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cũng như đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế.

Và đến năm 1998, Brazil đã xây dựng một mô hình mới trong hoạt động bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu nhàm sửa chữa những lỗi sai đã mác phải trong quá khứ

đồng thời đưa ra một hình thức bảo hiểm mới dựa trên mối quan hệ đối tác giữa

Nhà nước và một công ty bảo hiểm tư nhân. Cùng với sự nắm bắt mau lẹ và những

kinh nghiệm vốn có của các công ty tư nhân, Brazil hi vọng sự hợp tác giữa Chính

phủ và công ty bảo hiểm sẽ giúp hàng xuất khẩu nội địa mở rộng được thị phần trên

thị trường thế giới cũng như thu hút được nhiều doanh nghiệp vặa và nhỏ tham gia

vào thị trường mới này.

2. Các tổ chức đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu của Brazil

2.1. Các cơ quan Nhà nước

Ba cơ quan tổ chức được Chính phủ Brazil thành lập vào năm 1992 nhàm cải

tổ mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của quốc gia này đó chính là Phòng Ngoại

thương (CAMEX), Hội đồng Tài trợ và bảo lãnh (COFIG), Quỹ bảo lãnh xuất khẩu

(FGE). Cho đến nay, ba cơ quan này vẫn tồn tại và chịu trách nhiệm điều hành hệ

thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cùa Brazil sao cho hoạt động một cách hiệu quả

nhất và ba tổ chức này hoạt động thay thế cho Viện tái bảo hiểm Brazil (IRB). Đây

33

thực sự là một bước tiến mới trong hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Brazil

bời lẽ từ khi có sự xuất hiện của ba tổ chức này rất nhiều thủ tục chồng chéo. phức

tữp đã được loữi bỏ, những quy định khắt khe làm hữn chế sự tiếp cận thị trường bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu trước đây đã được dỡ bỏ. Sau đây là một số nét chính về

nhiệm vụ chức năng của ba cơ quan này:

> Phòng Ngoại thương (CAMEX): gồm H ội đồng điều phối chịu trách

nhiệm vữch rõ tất cả những chính sách ngoữi thương của Brazil. Phòng ngoữi

thương được điều hành bời Hội đồng chủ tích cộng hoa, bao gồm bộ trường các bộ

Ngoữi Thương, Công Nghiệp và Phát triển, chủ yếu chịu trách nhiệm về việc ban

hành, thực hiện và điều phối những chính sách liên quan đến hoữt động ngoữi

thương của Brazil. Đặc biệt về hoữt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, Phòng

Ngoữi thương sẽ xác định nguyên tắc chỉ đữo, những yêu cầu, thông số và điều kiện

cũng như phữm vi những quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trên toàn thế giới áp dụng

những điều kiện của các hình thức bảo lãnh.

> Hội đồng Tài trợ và bảo lãnh (COFIG): Được Chính phủ thành lập thông

qua Đữo Luật số 4933 ban hành vào ngày 18/02/2004 chịu trách nhiệm về quàn lý

mọi hoữt động đầu tư và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, nham điều tiết các hoữt động

hỗ trợ về tài chính cũng như bảo lãnh, đồng thời liên kết chức năng cùa Hội đồng

Quỹ bảo lãnh xuất khẩu (CFGE - Council of the Export Guarantee Fund) và Uy ban

tài trợ xuất khẩu (CCEX - Committee of Export Financing).

Những nhiệm vụ chính của Hội đồng Tài trợ và bảo lãnh:

• Thiết lập khả năng hoữt động cho Hãng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Brazil

(SBCE);

• Đưa ra những đề xuất nhằm cải thiện toàn bộ hệ thống nói chung cũng như

Phòng Ngoữi hương nói riêng;

• Quyết định giá trị từng gói bảo hiểm của Chính phủ trong từng tình huống,

sự kiện, thậm chí đối với những rủi ro không được lường trước;

• Đặt ra những yêu cầu đối với nguồn dự trữ đảm bảo tính thanh khoản cùa

Quỹ bảo lãnh xuất khẩu (FGE);

34

• Châp thuận những hoạt động vượt quá khả năng và phạm vi của Hãng bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu Brazil (SBCE); và

• Xác định tỷ lệ phần trăm hoa hồng được tính cho tọng khoản bảo lãnh.

> Quỹ bảo lãnh xuất khẩu (FGE): ra đời vào ngày 23/8/1999, với mục tiêu

là bảo hiểm cho mọi hình thức bảo lãnh mà Chính phủ Brazil đưa ra trong mô hình

hoạt động của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, mục đích chính của Quỹ bảo lãnh xuất

khâu là cung cấp những nguồn lực đủ để chi trà cho những khoản bảo lãnh trên

nhăm tránh những rủi ro thương mại, rủi ro chính trị và những rủi ro khác. Nói cách

khác, Quỹ bảo lãnh xuất khẩu bảo hiểm cho mọi hình thức bào lãnh nhằm thúc đẩy

xuất khẩu hàng hoa và dịch vụ của Brazil.

2.2. Hãng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Brazil

Hãng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Brazil là một công ty tư nhân ra đời vào

tháng 6 năm 1997 với các cồ đông là Ngàn hàng quốc gia Brazil, Ngân hàng phát

triển Brazil, Bradesco, Sui America Seguros, Minas Brazil, UniBanco Seguros...và

một số các công ty thương mại xuất nhập khẩu khác.

Mục tiêu chính của Hãng là đưa ra thị trường một còng cụ bảo đàm giúp mặt

hàng xuất khẩu của Brazil tránh được những rủi ro kinh tế có giá trị trong vòng 2

năm (được coi là ngắn hạn). Tổ chức này hoạt động như một cơ quan của Chính phủ

Brazil, Hãng cũng giúp các mặt hàng xuất khẩu nội địa tránh được những rủi ro

chính trị, rủi ro kinh tế và những rủi ro khác trong những khoảng thời gian vượt quá

2 năm (được coi là trung và dài hạn) thông qua việc ban hành và phân tích những

chính sách phù họp.

Hãng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Brazil đã tạo được mạng lưới các chi nhánh

trên phạm vi toàn cầu, trực tuyến với những thông tin về tài trợ và giao dịch của

hơn 35 triệu người mua đăng ký. Bên cạnh đó, Hãng cũng đưa ra những khoản bồi

thường tín dụng quốc tế với hơn 170 văn phòng luật sư trên thế g i ớ i . | 2 3 '

Chính sách bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Hãng bảo hiểm tín dụng xuất

khẩu Brazil được thể hiện qua các nhân tố sau:

35

2.2,1. Rủi ro được bảo hiểm

> R ủi ro k i nh tế: hay còn gọi là rủi ro vỡ nợ do nhà nhập khẩu phá sản hoặc

vì lý do kinh tế khác;

> R ủi ro chính trị và những r ủi ro khác- đây là những rủi ro bắt nguồn từ

hoạt động xuờt khẩu do những sự kiện gây trờ ngại cho quá trình chuyển tiền để

thanh toán cho nhà xuờt khẩu, bao gồm chiến tranh, thiên tai, sung công, tạm ngừng

hoạt động...

> R ủi ro trước vay nợ ( r ủi ro sản xuờt): Rủi ro sản xuờt xuờt hiện khi

người được bảo hiểm không có khả năng sản xuờt hàng hoa hoặc cung cờp những

dịch vụ mà nhà nhập khẩu đặt hàng vì những lý do về phía nhà nhập khẩu hoặc bời

cả 2 nước. Khoản chi phí bù đắp cho rủi ro này sẽ được tính toán dựa trên những chi

phí mà nhà xuờt khẩu phải gánh chịu cho đến khi hợp đồng bị phá vỡ.

> R ủi ro vay nợ ( r ủi ro tín dụng xuờt hiện sau khí hàng được chờt lên

tàu): Rủi ro tín dụng xuờt hiện sau khi hàng được chờt lên tàu hoặc sau khi nhà xuờt

khẩu hoàn thành mọi nghĩa vụ được thoa thuận trong hợp đồng.

2.2.2. Chính sách khách hàng

> Chính sách nhiều người mua: đưa ra những khoăn bù đắp tổn thờt cho tờt

cả mặt hàng xuờt khẩu của người được bảo hiểm khi xảy ra rủi ro thanh toán. Theo

chính sách nhiều người mua hàng năm với những khoản tín dụng luân phiên thì

khoản tiền này bù đắp tổn thờt cho tờt cà những khách hàng của người được bào

hiểm, qua đó giúp nhà xuờt khẩu được lợi ờ mức chi phí ti lệ nghịch với khối lượng

hàng hoa được bảo hiểm. Lượng hàng hoa càng lớn, rủi ro càng được bù đắp nhiều

và do đó, phí bảo hiểm càng rẻ.

> Chính sách cá nhân-Hoạt động ngắn hạn (thòi gian lên tói 2 năm); Đây

là chính sách đưa ra khoản bảo hiểm bù đắp tổn thờt trong một hoạt động cụ thể

nhằm tránh rủi ro kinh tế, rủi ro chính trị và các loại rủi ro khác. Khoản bù đắp cho

rủi ro kinh tế được hỗ trợ bởi Hãng bảo hiểm tín dụng xuờt khẩu Brazil (SBCE)

trong khi rủi ro chính trị được hỗ trợ bởi Quỹ bảo lãnh xuờt khẩu (FGE).

36

> Chính sách cá nhân - Hoạt động t r u ng và dài hạn (thời gian từ 2 n ăm

t rở lên): Đây là chính sách đưa ra khoản bảo hiểm bù đắp tổn thất trong một hoạt

động cụ thể nhằm tránh rủi ro kinh tế, rủi ro chính trị và các loại rủi ro khác. Khoản

bảo hiêm để bù đáp tổn thất do rủi ro kinh tế và rủi ro chính trị gây ra được hỗ trợ

bởi Quớ bảo lãnh xuất khẩu (FGE). Hãng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Brazil

(SBCE) lúc này hoạt động như một cơ quan của Chính phủ, trong đó, nhìn chung

những hoạt động trung và dài hạn thường liên quan tới những dự án kinh doanh

những hàng hoa tư bản, các nghiên cứu, dịch vụ hoặc những hợp đồng có tính chất

đặc biệt.

2.2.3. Đỗi tuông hưởng lơi

> Theo chính sách tín dụng của nhà cung cấp: Theo chính sách này, nhà

xuất khẩu được coi là người hưởng lợi. Nhà xuất khẩu có thể yêu cầu tái tài trợ,

chuyển quyền bù đắp tổn thất bởi chính sách bảo hiểm cho ngân hàng tài trợ.

> Theo chính sách tín dụng của người mua: Theo chính sách này, những

ngân hàng chính là những người hường lợi. Nhà xuất khẩu được người mua thanh

toán và những người mua này chính là những người nhận được tài trợ từ những

ngân hàng tài trợ.

2.2.4. Mức bào hiểm

Ti lệ phần trăm bảo đảm thay đổi tuy thuộc vào mức độ và loại rủi ro liên quan:

> Rủi ro kinh tế nói chung: lên tới 9 0 %;

> Rủi ro kinh tế với những ngân hàng bảo lãnh: lên tới 95%; và

> Rủi ro chính trị: lên tới 9 5 %.

2.2.5. Phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm được tính toán dựa trên từng trường hợp, tuy thuộc vào:

> Lượng vốn được tài trợ khi bắt đầu đi vào hoạt động;

> Khả năng tài chính của người vay nợ;

> Vị trí, địa điểm của người vay nợ;

> Loại rủi ro (rủi ro kinh tế, rủi ro chính trị, sản xuất hoặc rủi ro xuất hiện sau

khi hàng được chất lên tàu); và

37

> Thời lượng của rủi ro.

N hư vậy, có thể thấy trong mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Brazil đã

có những bước chuyển biến tích cực kể từ năm 1992 trờ lại đây cùng với sự tham

gia cùa các cơ nhà nước và Hãng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân.

n i. Hà Lan

Hà Lan là một quốc gia có nền kinh tế thệnh vượng, mở và nền kinh tế phụ

thuộc nhiều vào hoạt động ngoại thương đặc biệt là xuất khẩu. Quốc gia này có hệ

thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu lâu đời v ới sự phát triển mạnh của tổ chức bào

hiểm tín dụng xuất khẩu Nhà nước Atradius. Thệ phần của Atradius trên thệ trường

bảo hiểm tín dụng xuất khẩu thế giới chiếm tới 3 1% với mạng lưới hoạt động rộng

khấp toàn cầu. Hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cùa nước này đã đóng góp

một phần không nhỏ trong việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Chính vì vậy người

nghiên cứu đã lựa chọn hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của quốc gia này làm

một trong các mô hình mẫu cho Việt Nam học hỏi.

1. Khái quát chung

Các tổ chức với vai trò là nhà cung cấp trên thệ trường bảo hiểm tín dụng xuất

khẩu Hà Lan gồm có: công ty xuất khẩu, tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, trung

gian (môi giới và ngân hàng). Hình 3 thể hiện mối quan hệ giữa các tổ chức này cho

thấy các nhà xuất khẩu (lượng cầu của thệ trường) có thể mua bảo hiểm trực tiếp từ

công ty bảo hiểm tín dụng xuất khẩu (ví dụ như Gerling NCM) hoặc thông qua các

công ty môi giới (chẳng hạn nhu AON). Hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của

Hà Lan có hai loại hình công ty. Thứ nhất là các công ty bào hiểm tín dụng xuất

khẩu tư nhân: Gerling N CM tư nhân, Coíace Nederland và Euler-Cobac. Thứ hai là

các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được Nhà nước bảo trợ đó là Gerling N CM

Nhà nước (hay còn gọi là Atradius Nhà nước). Gerling N CM tư nhân nhận tái bảo

hiểm cho những hợp đồng bảo hiểm trên thệ trường tư nhân còn Gerling N CM Nhà

nước được tái bảo hiểm lại bởi Chính phủ Hà Lan. Trên thệ trường bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu cùa Hà Lan bên cạnh các doanh nghiệp trong nước còn có các

38

doanh nghiệp nước ngoài. Các họp đồng bảo hiểm có thể được tái bảo hiểm bời

Chính phù Hà Lan hoặc bởi các công ty tái bảo hiểm tư nhân quốc tế.

Hình 3: Sơ đô các to chức tham gia vào thị trường bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu Hà Lan

Chính phủ

Tổ chức tái bảo hiểm ( Munich Re, Swiss Re...)

Hà Lan

Coface

Tồ chức B H T D XK

Euler- Cobac Cobac

Tổ chức bảo hiểm nước ngoài

Gerling NCM/

Tổ chức bảo hiểm nước ngoài

Thị trường B H T D XK Hà Lan

Các nhà môi

Các nhà môi

A ON

Marsh

VVillisLtd

Meeùs

giói

giói khác

Các công ty xuất khẩu

Hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Hà Lan có hai đặc điểm nổi bạt:

Thứ nhất, các công ty xuất khẩu có quy mô nhỏ thường khó tìm được công ty

bảo hiểm nào sẵn sàng bảo hiểm cho mình ngoại trừ tổ chức bảo hiểm Nhà nước

Atradius. Không có một tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân nào hướng tới

39

đối tượng khách hàng là các công ty có quy mô nhỏ, chi có tổ chức bảo hiểm

Atradius (hay N CM Gerling được Nhà nước bảo trợ) cung cấp dịch vụ cho đối

tượng khách hàng này. Nguyên nhân là do Atradius được Chính phủ nhận tái bảo

hiêm. Tổ chức bảo hiểm N CM Gerling tư nhân không phân biệt quy mô của các

công ty xuất khẩu nhưng tổ chức này được phép từ chối cung cấp dịch vụ bảo hiểm

nêu nhu chi phí quản lý vượt quá doanh thu phí. Theo các công ty bảo hiêm tín

dụng xuất khẩu tư nhân, khi cung cấp dịch vụ cho các công ty nhỏ thì doanh thu phí

thu từ các công ty này thưẵng không bù đắp được chi phí bỏ ra. B ởi vì chi phí mua

bảo hiếm mà các công ty nhỏ sẵn sàng trả cho các công ty bảo hiểm không đủ để bù

đắp lượng chi phí bỏ ra của các công ty bảo hiểm. Điều đó cho thấy thị trưẵng bảo

hiếm tư nhân của Hà Lan mang lại nhiều cơ hội bảo hiểm cho các công ty xuất khẩu

quy mô lớn và trung bình nhiều hơn đối với các công ty nhỏ. Chính vì vậy, Atradius

là lựa chọn duy nhất đối với các công ty xuất khẩu có quy mô nhỏ và tất yếu các

công ty này sẽ phải phụ thuộc vào nguồn cung duy nhất này. Một câu hỏi đặt ra là

liệu Atradius có cung cấp dịch vụ cho các công ty xuất khẩu quy mô nhỏ nữa hay

không nếu Chính phủ không nhận tái bảo hiểm lại nữa. Câu trả lẵi sẽ là không vì

khi đấy doanh thu phí bảo hiểm sẽ không thể bù đắp được lượng chi phí phải bỏ ra

cũng như các doanh nghiệp tư nhân khác. Từ đó có thể thấy được phần nào tầm

quan trọng cùa Chính phủ trong việc thúc đẩy sự phát triển cùa thị trưẵng này.

Thứ hai, các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân của Hà Lan chi

cung cấp loại hình bảo hiểm ngắn hạn. Do vậy các công ty này chi bảo hiểm cho

những hợp đồng với thẵi hạn tín dụng tối đa là 180 ngày kể từ ngày giao hàng và

360 ngày kể từ thẵi gian trước khi giao hàng và thẵi gian xảy ra các rủi ro tín dụng.

Còn đối v ới loại hình bảo hiểm trung và dài hạn thì chỉ có tổ chức bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu Nhà nước (Atradius Nhà nước) nhận bảo hiểm. Chính phủ Hà Lan

nhận tái bảo hiểm lại cho các hợp đồng trung và dài hạn nhưng không tái bảo hiểm

cho hợp đồng ngẩn hạn. Tuy nhiên, đối với các hợp đồng bào hiểm tín dụng xuất

40

khẩu ngắn hạn vẫn được Nhà nước tái bảo hiểm lại trong trưẵng hợp đó là các giao

dịch với số lượng hay giá trị lớn. Chẳng hạn như những hợp đồng có tổng trị giá

trên 4.500.000 EURO. 1 1 31

Bên cạnh đó Chính phủ cũng không tái bào hiểm cho bất kỳ hợp đồng bảo

hiêm tín dụng xuất khẩu đối với các giao dịch giữa Hà Lan và các nước công nghiắp

phát triển thuộc tổ chức OECD dù cho đó là bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngắn hạn,

trung và dài hạn. Giữa Chính phủ Hà Lan và tổ chức bảo hiểm được sự bảo trợ của

Nhà nước Atradius có một bàn thỏa thuận về viắc hỗ trợ hoạt động xuất khẩu của

Hà Lan thông qua các hợp đồng tái bảo hiểm tín dụng xuất khẩu thời hạn từ 2 năm

trở lên. Tất cả những rủi ro có thể được tái bảo hiểm lại bởi Nhà nước đều được quy

định trong bàn thỏa thuận này. Những rủi ro nào mà được Nhà nước tái bảo hiểm lại

đồng nghĩa với viắc toàn bộ rủi ro đã được chuyển sang phía Nhà nước, Atradius

không còn phải nắm giữ một phần rủi ro nào nữa.

2. Tổ chức đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động bảo hiểm tin dụng

xuất khẩu Hà Lan - Atradius Nhà nước

2.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Từ tháng 8 năm 2003, Atradius được sử dụng để thay thế cho tên cũ của công

ty là Gerling NCM. Gerling N CM là công ty hình thành từ viắc hợp nhất hai tập

đoàn lớn hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là Gerling-Konzern

Speziale Kreditversicherung (Gerling Credit) cùa Đức và Nederlandsche

Credietverzekering Maatschappij ( N C M) của Hà Lan. Sự thay đổi tên này chính

thức hiắu lực vào ngày 5/1/2004. Vào ngày 25/1/2008, công ty này tiếp tục bất hợp

tác với công ty Crédito y Caución để gia tăng sức mạnh trên thị trường bào hiểm

tín dụng xuất khẩu.

Mặc dù mới chính thức đổi tên vào năm 2004 nhưng Atradius vẫn có nguồn

gốc và kinh nghiắm hoạt động từ tổ chức ban đầu là NCM, tổ chức này được thành

lập vào năm 1925. Vào thời điểm đó, N CM được thành lập nhằm thúc đẩy hoạt

động thương mại của các công ty Hà Lan. Hoạt động kinh doanh bắt đầu được mờ

rộng kể từ khi công ty nhận sự bảo trợ của Nhà nước và đại diắn cho Chính phủ

cung cấp dịch vụ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cho các công ty Hà Lan.Vì Atradius

41

được thành lập dựa trên sự hợp nhất của một công ty Hà Lan và một công ty của

Đức nên nó cũng có nguồn gốc từ công ty của Đức là Gerling credit. Công ty này

được thành lập vào năm 1954 và chì hoạt động trong nước cho đến năm 1962 thì bắt

đâu thành lập chi nhánh tại Thủy Điển. Gerling Credit là công ty tư nhân đầu tiên

hoạt động đưa ra loại hình bảo hiểm tín dịng xuất khẩu tại Đức.

Hiện nay, Atradius cung cấp dịch vị bảo hiểm tín dịng xuất khẩu, dịch vị liên

kết và thu nợ rộng khắp trên thế giới, hoạt động trên 42 quốc gia. Tổ chức này hoạt

động trên thị trường Hà Lan với vai trò vừa là nhà cung cấp dịch vị tín dịng xuất

khẩu vừa là nhà cung cấp bảo hiểm cho những dịch vị tín dịng xuất khẩu của công

ty. V ới tổng doanh thu lên tới trên 1,8 tỷ EUR vào năm 2009, chiếm lĩnh 3 1% thị

phần thị trường bảo hiểm tín dịng xuất khẩu trên toàn thế g i ớ i, công ty đã góp phần

cho sự phát triển của rất nhiều công ty thông qua dịch vị bảo hiểm khách hàng

trước các rủi ro tín dịng và cung cấp các dịch vị tín dịng. V ới số lượng các văn

phòng chi nhánh lên tới 160, Atradius đã tiếp cận được thông tin của 52 triệu công

ty trên toàn thế giới và giải quyết 22000 giao dịch tín dịng mỗi ngày. '*'

Hiện nay, Atradius là tổ chức đứng đầu trên thị trường bảo hiểm tín dịng xuất

khẩu Hà Lan. Bên cạnh việc tổ chức này có được một mạng lưới hoạt động rộng

lớn, chuyên nghiệp thì cần phải nói đến đó là sự ra đời từ rất sớm cùa tổ chức này

cũng là một nhân tố làm nên sự phát triển và phổ biến như ngày nay. Trên tờ New

York Times có làm một bản điều tra các khách hàng của Atradius với câu hỏi đặt ra

là tại sao Atradius lại là lựa chọn đầu tiên trong danh sách các tổ chức bào hiểm tín

dịng xuất khẩu của Hà Lan. Và câu trả lời của một số khách hàng đó là:

• Họ có ít thông tin về các tổ chúc bảo hiểm tin dịng xuất khẩu khác.

• Atradius là lựa chọn duy nhất trên thị trường bảo hiểm tín dịng xuất khẩu

cùa Hà Lan cho loại hình bảo hiểm tín dịng xuất khẩu trung và dài hạn.

• Họ phị thuộc lớn vào sự hỗ trợ chính thức và vì vậy họ phải đáp ứng các

yêu cầu tối thiểu.

• Họ là những công ty có mối quan hệ làm ăn lâu dài với Atradius.

42

Qua đây có thể thấy được rằng Atradius không chỉ đóng vai trò là nhà cung cáp

chính đối với thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Hà Lan mà còn đối với cả thê

giới.

2.2. Tinh hình hoạt động kinh doanh

Tình hình tài chính của Atradius năm 2009 không mấy khả quan do tác động

của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Kết quả kinh doanh của công ty năm vừa

qua bị thua lữ 113,3 triệu EUR ít hơn so với năm 2008 với mức lữ lên tới 193,4 triệu

EUR. Tuy nhiên, khi so sánh kết quả kinh doanh của những tháng đầu năm 2009

với những tháng cuối năm cho thấy kết quả kinh doanh đã có những chuyển biến

tích cực hơn. Mức lữ từ tháng một tới tháng 6 là -103,2 triệu đô lớn hơn rất nhiều so

với mức lữ của nửa tháng cuối năm là 10,1 triệu đô 181. Điều này cho thấy sự giảm

mạnh chi phí bồi thường tổn thất của những tháng cuối năm.

Doanh thu phí bảo hiểm năm 2009 giảm 10,4% so với năm 2008. Do kinh tế

biến động mạnh nên hoạt động kinh doanh của các công ty cũng xấu đi dẫn đến việc

số lượng khách hàng muốn mua bảo hiểm cũng giảm xuống, điều đó tác động

không nhỏ tới doanh thu phí bảo hiểm của Atradius. Áp lực về việc giảm doanh thu

phí bảo hiểm tăng lên khi công ty giảm số lượng các hợp đồng bảo hiểm tiềm ẩn

quá nhiều rủi ro nhàm bảo vệ hoạt động kinh doanh cho khách hàng cũng như cho

chính bản thân doanh nghiệp. Điều này dẫn đến số lượng các đơn yêu cầu bảo hiểm

được chấp nhận giảm xuống, đến lượt nó lại làm cho phí thu được từ việc kiểm tra

thông tin tín dụng giảm xuống, giảm 23,4% so với năm 2008. Trong suốt năm 2009,

Atradius đã thúc đẩy hoạt động kinh doanh của rất nhiều công ty trên các quốc gia

và được sự hữ trợ của Chính phủ dưới hình thức chia sẻ một phần rủi ro bằng cách

tái bảo hiểm lại đối với những rủi ro mà một mình doanh nghiệp không thể bảo

hiểm được.

Doanh thu cùa hầu hết tất cà các đơn vị bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cùa

Atradius trên các khu vục đều giảm ngoại trừ Châu Á. Tây Ban Nha và Braxin là

những thị trường lớn nhất cùa Atradius, mức giảm vẫn tương đối nhò, chi với Ì %.

Tại các khu vực trung tâm và phía đông Châu Âu, đây là thị trường lớn thứ hai đối

43

với Atradius, mức doanh thu giảm khoảng 20%. Trong hầu hết tất cả các khu vực và

các sản phẩm bảo hiểm Atradius đều tăng giá do thị trường xảy ra nhiều biên động

và mức độ rủi ro tăng lên. Chi phí bồi thường tổn thất của những tháng cuối năm

2008 tiếp từc chuyển sang những tháng đầu năm 2009 làm cho chi phí bồi thường

những tháng đầu năm 2009 đạt mức cao nhất do những tác động tiêu cực của tình

hình biến động năm 2008 đến tình hình tài chính năm 2009. Tại một số thị trường

bảo hiểm như Tây Ban Nha và Brazil, quy mô bồi thường tổn thất thường nhỏ trong

khi các khu vực khác mức độ bồi thường tổn thất lớn hơn rất nhiều do bị tác động

mạnh hơn từ những biến động của nền kinh tế năm 2008.

Qua các số liệu về tình hình hoạt động kinh doanh của Atradius cho thấy cuộc

khủng tài chính năm 2008 đã tác động mạnh tới hoạt động của Atradius, biểu hiện

rõ nhất là tác động tới doanh thu phí bảo hiểm. Tuy nhiên do mạng lưới hoạt động

của Atradius rộng lớn nên mức độ tổn thất được giảm xuống, ví dừ như trên hầu hết

các thị trường doanh thu phí đều giảm ngoại trừ Châu Á. Bên cạnh đó, với hệ thống

cung cấp và phân tích thông tin chuyên nghiệp Atradius đã hạn chế được những tổn

IV. Trung Quốc

thất nhất định thông qua việc kiểm duyệt các đơn yêu cầu bảo hiểm.

Trung Quốc là nước có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới. Nước này đã có

kinh nghiệm trong việc cung cấp bảo hiểm tín dừng xuất khẩu từ lâu đời, tạo nên

một công cừ thúc đẩy xuất khẩu hiệu quả, phừc vừ đắc lừc cho chiến lược đẩy mạnh

xuất khẩu của quốc gia này. Hơn thế nữa, Trung Quốc có những điều kiện khá

tương đồng với Việt Nam về kinh tế, tự nhiên và chính trị, do đó tác giả lựa chọn

Trung Quốc là một trong các nước để Việt Nam học hỏi về xây dựng hệ thống bảo

/. Khái quát chung

hiểm tín dừng xuất khẩu.

N ăm 1986, Công ty bảo hiểm Nhân Dân Trung Hoa (PICC-People's Insurance

Company of China) đã chính thức thành lập lập Phòng bảo hiểm tín dừng xuất khẩu.

Và hai năm sau (năm 1988) được sự cho phép của Chính phù, công ty này bắt đầu

tiến hành cung cấp bảo hiểm tín dừng xuất khẩu. Đen năm 1992, công ty này đã

44

đăng ký là thành viên của hiệp hội Bern và đến tháng lo năm 1998 PICC đã trờ

thành thành viên chính thức cùa hiệp hội này.

N ăm 1994, được sự cho phép của Chính phủ Trung Quốc, Ngân hàng Xuất

nhập khẩu Trung Quốc (the Export-Import Bank of China) cũng đã thành lập phòng

bảo hiêm tín dụng xuất khẩu, cùng hợp tác hoạt động với Phòng bảo hiểm tín dụng

xuât khẩu của PICC. Tuy nhiên, nhìn chung hoạt động cả hai Phòng bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu này đều hoạt động khá mờ nhạt, tổ lệ hàng hóa xuất khẩu được bảo

hiểm còn quá thấp, chỉ ở mức khoảng 1% trong tổng kim ngạch của Trung Quốc do

cơ chê hoạt động không hiệu quả và vẫn còn thiếu sự quan tâm cùa thị trường và

của các doanh nghiệp đổi với loại hình bảo hiểm này.

Đen năm 2001, Chính phủ Trung Quốc đã chính thức thông qua quyết định về

việc thành lập Công ty Bảo hiểm Xuất khẩu và Tín dụng Trung Quốc (China Export

& Credit Insurance Corporation) thường gói là SINOSURE, trên cơ sở họp nhất hai

Phòng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của PICC và China Eximbank. SINOSURE sẽ

là tổ chức duy nhất được Nhà nước giao nhiệm vụ hoạt động và quàn lý hoạt động

bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Việc thành lập S I N O S Ư RE đánh dấu một bước phát

triển mới cho hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Trung Quốc.

Theo những điều khoản mà Trung Quốc đã cam kết khi gia nhập WTO, thị

trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ dần được mở cửa cho các công ty nước

ngoài cùng với các lĩnh vực dịch vụ khác, song hiện tại các công ty này vẫn mới chi

dừng lại ờ hoạt động thăm dò thị trường chứ chưa tham gia tích cực vào thị trường

này do đó SINOSURE vẫn gần như là tổ chức duy nhất cung cấp bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu tại Trung Quốc và các doanh nghiệp nước này cũng chỉ sử dụng sản

phẩm bảo hiểm do công ty này cung cấp nhờ những ưu đãi dành cho họ.

Mặc dù bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đã phát triển mạnh tại Trung Quốc cùng

với sự phát triển của thương mại quốc tế song khi so sánh tổ lệ kim ngạch thương

mại được bảo hiểm bang bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Trung Quốc với thế giới

thì vẫn còn rất thấp. Trung binh 1 2% k im ngạch thương mại toàn cầu được bảo

hiểm, tổ lệ này ờ các nước G7 trung bình là 15%, thậm chí ờ Nhật Bàn là 39%. ờ

45

Pháp là 2 1% còn ờ Trung Quốc chỉ trên 6% trong khi Trung Quốc là nước đứng đầu

thê giới vê xuất khẩu. Vì thế thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Trung Quốc

còn rát lớn và các chức năng của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cần được khai thác sử

dụng nhiêu hơn nậa khi nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ.

2. Tô chức đóng vai trò quan trọng đoi với hoạt động bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu Trung Quốc - SINOSURE.

2. Ị. Lịch sử hình thành và phát triển

Công ty Bảo hiểm Xuất khẩu và Tín dụng Trung Quốc (China Export & Credit

Insurance Corporation - SINOSURE) là một trong hai tổ chức tín dụng xuất khẩu

chính thúc tại Trung Quốc và là tổ chức duy nhất tại nước này chuyên cung cấp bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu. SINOSURE được thành lập ngày 18/12/2001 trên cơ sở

hợp nhất Hai phòng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Ngân hàng Xuất nhập khẩu

Trung Quốc (China Eximbank) và Công ty Bảo hiểm Nhân Dân Trung Hoa-PICC

với số vốn đăng ký là 4 tỷ Nhân dân tệ (tương đương 482 triệu đô la Mỹ) lấy từ Quỹ

Bảo hiểm rủi ro tín dụng xuất khẩu trong ngân sách quốc gia. Sau đó, SINOSURE

đã thay thế PICC trờ thành thành viên của Hiệp hội Bern.

SINOSURE là tổ chức với 1 0 0% sở hậu Nhà nước, chịu sự quản lý trực tiếp

của Bộ Tài chính Trung Quốc và hoạt động theo nguyên tắc thị trường với sứ mệnh

được Chính phủ giao cho là hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa, công nghệ và dịch vụ của

Trung Quốc, đặc biệt là sản phẩm máy móc công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn và

các sản phẩm thiết bị điện.

SINOSURE có trụ sở tại Bắc Kinh, và có 12 chi nhánh, 7 văn phòng đại diện

tại các tỉnh, thành phố trải khắp các vùng miền của Trung Quốc, ngoài ra còn có Ì

văn phòng đại diện tại Luân Đôn. Anh. Sản phẩm bào hiểm của công ty dành cho

hàng hóa xuất khẩu đến hơn 180 quốc gia trên toàn thế giới.

SINOSURE đóng vai trò lớn trong sự tăng trường kim ngạch xuất khẩu của

Trung Quốc, công ty này đã cung cấp dịch vụ bảo hiểm với mức giá và điều kiện

bảo hiểm rất cạnh tranh đối với nhiều loại rủi ro. Hiện nay, trên thị trường bảo hiểm

46

tín dụng xuất khẩu, sự hợp tác giậa nhà xuất khẩu, SINOSURE và các ngân hàng

ngày càng lớn, tuy nhiên các nhà xuất khẩu vẫn thường mua bảo hiểm cho những

rủi ro của mình tại SINOSURE và sau đó chiết khấu rủi ro với một ngân hàng dựa

trên hợp đồng bảo hiểm với SINOSURE. Hợp đồng bảo hiểm của S I N O S Ư RE

thường bào hiểm tới 9 5% rủi ro, còn lại 5% rủi ro là các ngân hàng phải bảo hiểm.

Hoạt động kinh doanh của SINOSURE chủ yếu tập trung vào cung cấp loại hình

bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngừn hạn, chiếm tới 75%. Tỷ lệ 2 5% còn lại thuộc về

loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung hạn.

2.2. Tinh hình hoạt động kinh doanh

N ăm 2009 vừa qua, công ty đạt mức tăng mạnh về doanh thu phí bảo hiểm và

tổng giá trị được bảo hiểm. Trong đó tổng giá trị được bảo hiểm là 62,75 tỷ đô, tăng

58,3% so với năm 2008, tương đương với 23,12 tỷ đô. Mức doanh thu phí bảo hiểm

đạt 500 triệu đô, tăng 13,5% so với năm trước. Tổng chi phí bồi thường là 380 triệu

đô. Sau 8 năm hoạt động, Sinosure đã đạt mức kỷ lục về tổng doanh thu phí là Ì ,93

tỷ đô và tổng giá trị bồi thường tổn thất là 1,21 tỷ đô. Hiện nay, SINOSURE đã thiết

lập quan hệ đối tác với Ì lo ngân hàng trên thế giới và ký bản thỏa thuận hợp tác với

37 ngân hàng trong số các ngân hàng đó. N ăm 2009, mặc dù phải đối mặt với cuộc

khùng hoảng tài chính toàn cầu nhưng SINOSURE vẫn đóng vai trò quan trọng

trong việc gia tăng tỷ trọng xuất khẩu của Trung Quốc, góp phần phát triển thương

mại cùa nước này. N ăm 2009 cũng là năm đánh dấu sự gia tăng vượt bậc của bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu đối với mặt hàng điện tử của Trung Quốc, giá trị được bảo

hiểm đối v ới mặt hàng này cao nhất so với các sàn phẩm khác, với giá trị lên tới

20,9 tỷ đô, chiếm 33,3% so với tổng giá trị được bảo hiểm. Sau đây là kết quả kinh

doanh của một số sản phẩm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của SINOSURE:

> Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngừn hạn: năm 2009, loại hình bảo hiểm này

vẫn duy trì mức tàng trưởng cao. Tổng giá trị được bảo hiểm lên tới 36,47 tỷ đô, cao

hơn so với năm 2008 là 30,3%. Mức phí bảo hiểm tăng lên 230 triệu đô so với năm

trước, tương đương với 26.6%. Tổng giá trị bồi thường tổn thất là Ì lo triệu đô, tăng

90,4% so với năm 2008. S I N O S Ư RE tiến hành bào hiểm tín dụng xuất khẩu đối

47

với trên 182 quốc gia và vùng miền trên thế giới và 5 quốc gia có giá trị bảo hiểm

cao nhất là Mỹ, Hồng Công, Đức, Hàn Quốc và Nhật Bản, chiếm tới 43,4% trong

tông giá trị được bảo hiểm. Trong tất cả các sản phẩm được bảo hiểm thì các sản

phàm thuộc lĩnh vực công nghiệp nhẹ chiếm tụ trọng lớn nhất, lên tới 53,8% trong

tổng số giá trị được bảo hiểm, tương đương 19,62 tụ đô. 1 91

> Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn: năm 2009. SINOSURE đã

tiên hành bảo hiêm cho 24 dự án với tổng giá trị lên tới 2,64 tụ đô. Mức phí thu

được là 170 triệu đô trong khi đó chi phí bồi thường tổn thất lên tới 110 triệu đô.

Trong đó 19 dự án được bảo hiểm đối với tín dụng của người nhập khẩu, với tổng

giá trị lên tới 1,89 tụ đô, chiếm 71,7% trong số tổng giá trị các hợp đồng bảo hiểm

và tăng 1 2% so với năm 2008, 4 dự án là bảo hiểm đối với tín dụng của người xuất

khẩu, với tổng giá trị đạt 740 triệu đô tương đương với 2 8% trong tổng giá trị bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn. Và còn Ì dự án dành cho bào hiểm tái cấp

vốn có giá trị là 8,72 triệu đô tương đương 0,3% trong tổng giá trị bảo hiểm.

SINOSURE vẫn đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện các sản phẩm

của mình, đưa thêm các sản phẩm mới để thu hút sự quan tâm hơn nữa và đáp úng

nhu cầu của các doanh nghiệp với sự cho phép cùa Chính phù Trung Quốc. Tụ lệ

hàng hóa xuất khẩu được bảo hiểm trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc

vẫn còn đang ở mức thấp và để đạt được mục tiêu đến năm 2020, tụ lệ này sẽ ở mức

từ 10 đến 1 5% thì còn rất nhiều việc mà SINOSURE cần phải làm, không chỉ hoàn

thiện các sản phẩm cùa mình để bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trờ thành một công cụ

hỗ trợ xuất khẩu hiệu quả mà còn phải nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về

lợi ích to lớn bảo hiểm tín dụng xuất khẩu bời nhận thức của các doanh nghiệp của

nước này vẫn còn chua đầy đủ mặc dù đã tồn tại ở Trung Quốc được gần 20 năm.

48

V. Đánh giá về mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của

các nước

/. Đánh giá chung

Trên cơ sở nghiên cứu mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Mỹ, Brazil,

Hà Lan, Trung Quốc, có thể thấy ràng mỗi quốc gia có một hệ thống bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu khác nhau và sau đây là một số đánh giá chung:

> về bộ máy hoạt động quản lý: tò mô hình của các nước có thể thầy rổng

có sự chuyên m ôn hóa rõ rệt về vai trò cũng như trách nhiệm của các cơ quan tham

gia điều hành hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Ở Hà Lan có Tổ chức bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu Atradius Nhà nước, ở Brazil, ngoài ba tổ chức Nhà nước

tham gia vào lĩnh vực bảo hiểm này là Phòng Ngoại thương (CAMEX), H ội đồng

Tài trợ và bảo lãnh (COFIG), Quỹ bảo lãnh xuất khẩu (FGE) còn có Hãng bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu Brazil (SBCE), ở Trung Quốc có Công ty bảo hiểm xuất khẩu và

tín dụng Trung Quốc (SINOSURE), ờ Mỹ là Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ. Đây

đêu là các tố chức đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển hệ thống bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu cùa mỗi nước. Các tổ chức đóng vai trò chủ đạo này đều hoạt

động thay cho Nhà nước, chịu sự điều chình trực tiếp hoặc gián tiếp của Nhà nước.

Từ bốn mô hình ta thấy rổng ở ba quốc gia Mỹ, Hà Lan, Trung Quốc sự can thiệp

của Nhà nước vào thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu còn rất lớn thể hiện ờ

điểm đó là các tổ chức đóng vai trò quan trọng đều thuộc sở hữu của Nhà nước và

chịu sự quản lý trực tiếp quản lý cùa Nhà nước. Còn ở mô hình của Brazil, trước

năm 1992 thì vẫn có sự can thiệp rất lớn của Chính phủ thông qua Viện tái bảo hiểm

Brazil (Brazilian Reinsurance Institute- IRB), nhưng từ năm 1992 trở lại đây, mô

hình này đã có những thay đồi lớn thể hiện qua việc quốc gia này đã thành lập nên

một tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân Hãng bào hiểm tín dụng xuất khẩu

Brazil chịu trách nhiệm chính trên thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

> Trong mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của các nước đều có sự tham

49

gia cả các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được bảo trợ của Nhà nước và các tổ

chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân. Các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

hoạt động thay cho Nhà nước đứng ra cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung

và dài hạn, còn các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân hầu hết đều cung

cáp loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngắn hạn. Vì sao các tổ chức bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu tư nhân không muốn cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

trung và dài hạn được giải thích bời một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân không ổn định. Nếu

như tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Nhà nước có thể tái bảo hiểm lại dỳa trên

ngân sách thu được từ thuế thì tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân không

thể nào hồi phục lại được nếu như có bất kỳ một tồn thất nặng nề nào xảy ra bời lẽ

cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn đồng nghĩa với việc nếu xảy

ra tổn thất thì giá trị tổn thất là rất lớn. Và thậm chí là Chính phủ có thể dừng ngay

việc bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cho bất kỳ một quốc gia nào nếu quốc gia đó có

mức độ rủi ro chính trị vượt quá mức dỳ đoán ban đầu của Chính phủ.

Thứ hai, mục tiêu của các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân là tối

đa hóa lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu của các cổ đông là tăng giá trị cổ phần. Tuy

nhiên loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn tiềm ẩn rất nhiều rủi

ro và phải đầu tư một lượng vốn ban đầu lớn, chính vì vậy khi cung cấp loại hình

bảo hiểm này nguy cơ thua lỗ và thậm chí là phá sàn của các doanh nghiệp tư nhân

là rất cao. Mặt khác, hình thức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu mang lại rất ít lợi nhuận

thậm chí không có l ợi nhuận vì mục đích cùa loại hình bảo hiểm này là khuyến

khích xuất khẩu, tỷ lệ được bảo hiểm cao và tỷ lệ phí bảo hiểm thấp.

Thứ ba, việc cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn được thỳc

hiện bởi các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân là điều không khả thi về

mặt kinh tế. Chính vì tổn thất xảy ra là rất lớn và vốn đầu tư cho loại hình bảo hiểm

này là rất lớn dẫn đến việc các tổ chức tư nhân phải đặt ra mức phí bảo hiểm cao.

Phí bảo hiểm cao đồng nghĩa với việc các công ty xuất khẩu không muốn mua bảo

hiểm cùa các công ty này. Vậy thì chỉ có cung mà không có cầu thì tất yếu sẽ không

thể dẫn tới việc hình thành các họp đồng bào hiểm.

50

> Từ các mô hình này có thể thấy ràng, việc tiếp cận với loại hình bảo hiểm

tín dụng xuât khẩu đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp khó khăn, thể

hiện rõ nét nhất trong mô hình của Hà Lan. B ởi lẽ các tổ chực bảo hiểm tư nhân của

các quôc gia đều cho rang khi cung cấp bảo hiểm tín đụng xuất khẩu cho các công

ty vừa và nhỏ thì mực phí thu được thấp hon so với chi phí phải bỏ ra chính vì vậy

các công ty này không muốn tiến hành bảo hiểm. Và do đó, các tổ chực bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu được Nhà nước bảo trợ phải đựng ra bảo hiểm cho các giao dịch

của các công ty vừa và nhỏ, từ đó làm hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ này của

các công ty vừa và nhỏ.

> Mặc dù trong mô hình của các quốc gia đã có sự tham gia của các tổ chực

bào hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân nhưng nắm vai trò chủ đạo vẫn là tổ chực bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu được sự bảo trợ của Nhà nước. Và các tổ chực được Nhà

nước bảo trợ thông qua việc Nhà nước nhận tái bảo hiểm lại. Vai trò của các công ty

bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tư nhân vẫn còn khá mờ nhạt.

> Trong các mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cùa các quốc gia này đều

để ra các đối tượng bảo hiểm cụ thể là ngành hàng và khách hàng được bảo hiểm.

về khách hàng thì các nước chủ yếu chia thành các công ty nhỏ, vừa và lớn căn cự

vào quy mô của công ty hoặc theo thời gian của tín dụng xuât khâu như ngăn hạn,

trung và dài hạn. Còn về phía ngành hàng được chia dựa trên mực độ rủi ro của

ngành và mực độ ưu tiên của ngành ví dụ như ngành chủ lực.

2. Cơ sở thiết lập một hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Để thiết lập hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu một quốc gia cần phải giải

quyết một số các vấn đề sau:

T hứ nhất, phải đánh giá được nhu cầu và triển vọng của thị trường bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu. Điều này có nghĩa là phải tìm hiểu, phân loại và phân tích cơ

cấu thị trường bảo hiểm, hình thực thanh toán, cơ cấu nguồn vốn, khả năng sẵn sàng

nguồn vốn cùa nền kinh tế cũng như các ngân hàng cho các hoạt động xuất khẩu.

Đồng thời, cũng cần phải nắm rõ chiến lược xuất khẩu hàng hóa trong từng thời kỳ.

Có làm rõ được điều này mới khoanh vùng và đánh giá đúng triển vọng phát triển

51

của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Để đánh giá tiềm năng của bảo hiểm tín dụng xuất

khẩu, thông thường phải tính đến quy mô xuất khẩu của quốc gia. số lượng và tỷ lệ

những giao dịch được thanh toán bàng L/C, số lượng và khả năng của những quỹ

bảo hiềm ngành hàng. Nói một cách tổng quát, những giao dịch được thanh toán

băng L/C phận lớn không cận bảo hiểm, chỉ cận bào hiểm trong những trường hợp

như L/C trả chậm. L/C phát hành từ những nước có nền kinh tế và tài chính không

ổn định, xuất khẩu sang thị trường mới.

T hứ hai, là phải giải quyết vấn đề tổ chức. Nhà nước nên thành lập hoặc lựa

chọn một loại hình công ty, tồ chức đủ điều kiện triển khai nghiệp vụ này, không

nên đặt nghiệp vụ này trong một công ty hoặc ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi

nhuận. Do rủi ro, nên trước tiên bảo hiểm tín dụng xuất khẩu phải được đặt trong

một tổ chức nhà nước, hoàn toàn độc lập với hệ thống bảo hiểm tu nhân, do Nhà

nước cấp vốn và tái bảo hiểm. Trong điều kiện cải cách quản lý hành chính, giảm

các đậu mối, cận cân nhắc trong việc thành lập mới và bổ sung nhiệm vụ cho một tổ

chức tài chính đang thực hiện các chức năng hỗ trợ xuất khẩu.

T hứ ba, phải giải quyết vấn đề thông tin và nhân lực. Thông tin là để ra quyết

định, con người lại là người ra quyết định. Muốn giải quyết vấn đề này phải có thời

gian chuẩn bị. Điều thuận lợi là ngày nay các tổ chức cung cấp thông tin khá nhiều,

nhưng khó khăn là chi phí vẫn còn rất cao. Do đó, dận dận từng bước phải tổ chức

được các kênh thu nhập và xử lý thông tin, sẵn sàng khi tiến hành bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu.

T hứ tư, bên canh việc giải quyết nhũng vấn đề trên trong quá trình xây dựng

hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, một số câu hỏi lớn cận đặt ra đối với các

quốc gia trong quá trình tiến hành đó là:

> Ngành hàng/thị trường/loại hình doanh nghiệp/ngân hàng nào thực sự có

nhu cậu bảo hiểm tín dụng xuất khẩu?

> Ai sẽ đậu tư vào tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu? Quy mô vốn và bão

lãnh phù hợp? Hình thức tài trợ và ủng hộ của nhà nước sẽ thực hiện thế nào?

52

> Các hình thức hỗ trợ tài chính cho nhà xuất khẩu đang thực hiện? Kinh

nghiệm, năng lực kinh doanh của hệ thống ngân hàng, công ty thương mại và nhà

xuất khẩu ra sao?

> Năng lực của hệ thống doanh nghiệp bảo hiểm thương mại? Độ sẵn có cùa

nguôn nhân lực quản trị và chuyên môn của thị trường bảo hiểm, ai sẽ thỹc hiện

việc đào tạo?

> Sản phẩm bảo hiểm tín dỹng nào sẽ triển khai trước? Có phải là bảo hiểm

tín dỹng xuất khẩu ngắn hạn?

T óm lại, trong chương 2 này đi sâu vào việc phân tích mô hình bảo hiểm tín

dỹng xuất khẩu của Mỹ, Hà Lan, Brazil, Trung Quốc. V ới mỗi hệ thống bảo hiểm

tín dỹng xuất khẩu của mỗi quốc gia sẽ đi vào tìm hiểu về tổng quan chung của hệ

thống này và tổ chức đóng vai trò quan trọng đối với các hệ thống đó. Từ những

phân tích đó đưa ra đánh giá chung về các mô hình này về những điểm giống và

khác nhau giữa các mô hình và từ đó rút ra được những lợi the và hạn chế cùa các

mô hình này. Ngoài ra chương này còn đưa ra các cơ sờ để thiết lập một hệ thống

bảo hiểm tín dỹng xuất khẩu tại các quốc gia.

53

Chương H I: Bài học kinh nghiệm và giải pháp

nhằm phát triển hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất

khẩu tai Viêt Nam

ì. Thực trạng hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại

Việt Nam

1. Tống quan về hoạt động tín dụng xuất khẩu của Việt Nam

1. ỉ. Thực trạng hoạt động tin dụng xuất khẩu của Việt Nam

V ới vai trò là cơ quan thay mặt Chính phủ thực hiện chính sách tín dụng hỗ

trợ xuất khẩu, Ngân hàng Phát triển Việt Nam ( V D B) được phép thực hiện các

nghiệp vụ cho vay xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh dự thậu và thực

hiện hợp đồng xuất khẩu. Tuy nhiên, kể từ khi thành lập đến nay, Ngân hàng Phát

triển Việt Nam mới chỉ tập trung vào nghiệp vụ cho vay xuất khẩu, trong đó chù

yếu là những khoản vay cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nước.

Bám li Doanh sổ cho vay tín dụng xuất khâu qua 3 năm từ 2006 đến 2008

(Đơn vị : tỳ đồng)

Doanh sổ cho vay Số thu nợ Dư nợ N ăm

10,755 9,483 2,671 2006

7,815 8,185 2,384 2007

6,900 2,878 9,563 2008

Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ tín dụng xuất khẩu các năm 2006,

2007, 2008, Bộ Tài Chính.

Trong thời gian từ 2006 đến 2008, doanh số cho vay tín dụng xuất khẩu có xu

hướng giảm. N ăm 2006, tổng lượng cho vay đạt 10,755 tỷ đồng, bàng 103,5% so

với cùng kỳ năm 2005 (Số thực hiện năm 2005 là 10,142 tỷ đồng). Doanh số cho

vay đã giảm đáng kể xuống còn 7,815 tỷ đồng vào năm 2007. Điều này có thể được

54

giải thích do việc cơ cấu lại Quỹ Hỗ trợ phát triển thành Ngân hàng Phát triển Việt

Nam. Doanh số cho vay xuất khẩu lại tăng lên 9,563 tỷ vào năm 2008 và trong 6

tháng đầu năm 2009, con số này đã đạt 12,150,936 tỷ đồng. du nợ bình quân là

7,951,293 tỷ đồng.

Có thể thấy ràng qua 3 năm từ 2006 đến 2008, cơ cấu mặt hàng cho vay tín

dụng xuất khẩu đã có sớ thay đổi rõ rệt. Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cà 2 năm vẫn

là nhóm hàng nông - lâm - thủy sản với tỷ trọng 6 0% vào năm 2006 và tăng lên

mức 6 5% vào năm 2008. Đây là nhóm hàng duy nhất có sớ tăng lèn về tỷ trọng cho

vay. Các nhóm hàng khác đều có xu hướng giảm tỷ trọng đi vay vốn hỗ trợ xuất

khẩu. Đặc biệt năm 2008 xuất hiện thêm mặt hàng máy tính trong danh sách các

mặt hàng tham gia vay vốn tín dụng hỗ trợ xuất khẩu.

Cơ cấu doanh so cho vay theo thị trường cũng có sớ thay đổi, thể hiện qua

bảng 2 dưới đây.

Bám 2: Cơ cấu doanh số cho vay theo thị trường

Thị trường N ăm 2006 N ăm 2008

11.09% 1 1% - Mỹ

12.88% -Nhật 9%

29.37% 2 7% - EU

22.80% 1 8% - Châu A

23.86% 3 5% -Khác

Nguồn: Báo cáo thường niên 2006, 2008, Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Từ năm 2006 đến năm 2008, cơ cấu doanh số cho vay xuất khẩu sang các thị

trường truyền thống như Nhật, EU phần lớn đều giảm. Tỷ trọng cho vay xuất khẩu

sang thị trường Mỹ vẫn ổn định, dao động quay mức 1 1 %. Trong khi đó, lượng vay

vốn xuất khẩu sang các thị trường mới lại tăng mạnh, từ 23.86% năm 2006 lên 3 5%

năm 2008. Các thị trường khác này bao gồm khu vớc Trung Đông, Châu Phi, Nam

Mỹ...

55

về mức lãi suất cho vay xuất khẩu, lãi suất tín dụng xuất khẩu luôn được điều

chỉnh đề phù hợp với tình hình kinh tế vĩ mô cũng như hoàn cảnh thị trường. Có thể

thấy rang trong khi mức lai suất bàng ngoại tệ tự do chuyển đổi tương đối ổn định

trong hơn Ì năm trằ lại đây, chi tăng nhẹ từ 6.9%/năm lên 7.8%/năm thì mức lãi

suất bằng đồng Việt Nam lại chịu sự điều chinh lãi suất rất lớn, tăng từ 8.7%/năm

vào tháng 8/2007 lên đến 14.4%/năm vào tháng 6/2008 1 1 9 1 . Việc tăng mạnh lãi suất

tín dụng xuất khẩu trong thời điểm hiện nay được lý giải là nhằm thực hiện chính

sách tiền tệ thắt chặt và giảm bớt sụ hỗ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu theo hình

thức cho vay trực tiếp doanh nghiệp đó. Mặc dù có sự điều chỉnh mạnh sau một thòi

gian tương đối dài giữ ằ mức thấp, lãi suất tín dụng xuất khẩu luôn được xác định ằ

mức nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố nhàm duy

trì lợi thế hỗ trợ xuất khẩu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam so với các ngân hàng

thương mại khác.

Cùng với Ngân hàng Phát triển Việt Nam có nhiều các ngân hàng thương mại

khác cũng tham gia vào hoạt động tín dụng xuất khẩu với vai trò là chủ thế cho vay

tín dụng. Tuy nhiên, số lượng và quy mô các khoản vay này không cao. Bên cạnh

đó, không thể không nhắc tới hình thức tín dụng thương mại diễn ra giữa các doanh

nghiệp v ới nhau thông qua hình thức mua hàng trả chậm. Do phạm vi và thời hạn

nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài chưa thể cung cấp những số liệu thống kê cụ thể

về số lượng các khoản vay tín dụng từ các ngân hàng thương mại trong nước cũng

như tỷ trọng tín dụng thương mại giữa các doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng

xuất khẩu của Việt Nam hiện nay.

Có thể thấy, ữong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam chịu tác động nhiều từ

những biến động bất ngờ của nền kinh tế thế giới, hoạt động tín dụng xuất khẩu của

Việt Nam cũng như việc ký kết các hợp đồng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong

nước v ới bạn hàng nước ngoài gặp không ít những khó khăn do có nhiều rủi ro phát

sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Bên cạnh đó, cũng phải thừa nhận, tỷ lệ nợ

quá hạn tại các ngân hàng cấp tín dụng xuất khẩu do các doanh nghiệp không có

khả năng trả nợ ngày càng tăng. Điều này một lần nữa cho thấy cần phải có một

56

công cụ hỗ trợ xuất khẩu giúp các doanh nghiệp và các ngân hàng cho vay yên tâm

hơn trước các rủi ro trong thời kì hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Trước nhu cầu trên,

bào hiểm tín dụng xuất khẩu được coi là giải pháp kịp thời đáp ứng được mong mại

cùa không chỉ các doanh nghiệp trong nước, các tổ chức tín dụng, mà còn của các

cơ quan quản lý Nhà nước trong việc tăng cường thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của

Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

1.2. Đánh giá chung

Ị .2. Ị .Thành tích đát đưac

Qua 3 năm tích cực thực hiện và đổi mới, Chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu

đã cho thấy là một kênh vay vốn ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam

hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, giúp các

doanh nghiệp giữ vững thị trường truyền thống, mở thị trường mới đối với các mặt

hàng thuộc diện ưu tiên, khuyến khích xuất khẩu của Chính phủ. Đồng thời, hỗ trợ

các doanh nghiệp mờ rộng sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.

Theo số liệu của Bộ Tài chính, dư nợ tín dụng xuất khẩu tính đến cuối năm

2008 đạt 5,514 tỷ đồng. số lượng các khoản vay cũng tăng đáng kể. N ăm 2008,

Ngân hàng phát triển Việt Nam cũng đã thực hiện cho vay xuất khẩu gần 2,000

khoản với doanh số cho vay đạt 9,563 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các rủi ro trong hoạt

động tín dụng xuất khẩu cũng đã được hạn chế. Nhờ đó, hoạt động xuất khẩu vẫn

giữ được mức độ tăng trưởng ổn định.

Nhìn chung, việc thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước không

gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do đã theo định hướng chung, góp phần quan trọng

trong việc tăng trưởng xuất khẩu qua đó góp phần không nhạ vào việc hỗ trợ doanh

nghiệp tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường đóng góp vào kết quả

xuất khẩu cùa cả nước.

Chính sách tín dụng xuất khẩu giai đoạn 2006 - 2010 có bổ sung một số nội

dung phù hợp với tình hình phát triển kinh tể - xã hội như: chì cho vay hoặc bảo

lãnh tín dụng những dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc một số

57

lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn của Chính phủ trong từng thời kỳ.

đông thời đã có sụ đa dạng hơn trong danh mục các mặt hàng. đặc biệt trong lĩnh

vực công nghệ thông tin, xây dựng. thiết kế, giám sát. các mặt hàng điện tử. thù

công mỹ nghệ, tàu biển... Chính sách này tạo điều kiện đa dạng hoa cơ cấu xuất

khâu cho nên kinh tế, giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc sản xuất các

mặt hàng đòi hỏi chi phí công nghệ cao...

Lãi suất cho vay đã được điều chinh để không vi phạm các điều lệ về trợ cấp

của WTO. Ví dụ, trước đây lãi suất cho vay vộn tín dụng đầu tư theo quy định tại

Nghị định 106/2004/NĐ-CP thộng nhất chung một mức tương đương 7 0% lãi suất

cho vay thương mại cho mọi đội tượng và không tính đến thời hạn vay vộn khác

nhau giữa các dự án. Hiện nay, luậtt cho vay bàng đồng Việt Nam được Chính phủ

quy định theo hướng tiếp cận với thị trường. Đây cũng là lãi suất cho vay mà Tổ

chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) khuyến nghị. v ấn đề bảo đảm tiền vay

cũng được sửa đổi theo hướng: các chủ đầu tư, khi vay vộn hoặc được bảo lãnh

được dùng tài sản hình thành từ vộn vay để bảo đảm tiền vay và bảo lãnh. Trường

hợp tài sản hình thành từ vộn vay không đù điều kiện bảo đảm tiền vay và bảo lãnh,

chủ đầu tư phải sử dụng tài sản hợp pháp khác để bào đảm tiền vay và bào lãnh với

giá trị tội thiểu bàng 1 5% tổng mức vay vộn và bảo lãnh.

Ị .22. Han ché

Có thể nói chính sách tín dụng xuất khẩu cho đến nay đã được thực hiện theo

định hướng chung, góp phần quan trọng trong việc tăng trường xuất khẩu. Tuy

nhiên, nó vẫn còn nhiều mặt hạn chế cần được khắc phục.

Thứ nhất, sự không ổn định của danh mục mặt hàng thuộc diện được hường

chính sách tín dụng xuất khẩu là một trong những rào cản đội với doanh nghiệp.

Việc xác định danh mục theo thời hạn từng năm đã ảnh hường tới việc cân đội

nguồn vộn để phục vụ cho kế hoạch sản xuất và xuất khẩu dài hơi của doanh

nghiệp. Thứ hai, việc ban hành danh mục thường rất chậm so với yêu cầu thực tế triển

khai hoạt động tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của doanh nghiệp nên đã tạo những khó

khăn đội với hoạt động sản xuất kinh doanh cùa doanh nghiệp. Nguồn vộn tín dụng

58

của Quỹ được doanh nghiệp đánh giá là chua đáp ứng được so với nhu cầu cân hỗ

trợ từ phía các doanh nghiệp. Chính việc hạn chế về nguồn vốn vay nên các doanh

nghiệp lại phải chù động tìm thêm các nguồn vốn khác từ ngân hàng thương mại và

các tô chức tín dụng khác để có đủ vốn phục vụ các hợp đồng xuờt khẩu cùa mình.

Do đó doanh nghiệp phải thực hiện rờt nhiều thủ tục, mờt rờt nhiều thời gian.

Thứ ba, các yêu cầu bảo đảm tiền vay cũng được phản ánh là đang gây cản trở

cho doanh nghiệp trong quá trình tiếp cận nguồn vốn tín dụng xuờt khẩu. Phần lớn

các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, giá trị tài sản thờp, do vậy không đủ điều

kiện đê vay vốn từ Quỹ Hỗ trợ phát triển hoặc được vay với mức vốn hạn chế.

Ngoài ra, tài sản bảo đảm tiền vay thường được định giá thờp hơn nhiều so với giá

trị thực dẫn đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu như không tiếp cận được nguồn

vốn tín dụng.

Thứ tư, về chính sách lãi suờt ưu đãi, lãi suờt cho vay quá thờp và được xác

định tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng lần đầu tiên và không thay đổi trong suốt

thời gian vay vốn. Chính sự không linh hoạt và chưa mang tính thị trường này dẫn

đến nhiều tác động ngược, không tốt đối với các doanh nghiệp, cơ quan cho vay và

cả đối với ngân sách nhà nước, phần nào đã làm gia tăng gánh nặng cờp bù đối với

Ngân sách Nhà nước, qua đó giảm tính hiệu quả chính sách của Nhà nước. Mặt

khác, việc duy trì lãi suờt cho vay quá thờp trong một thời gian dài đã và đang là

nguyên nhân chính dẫn tới gia tăng cờp bù chênh lệch lãi suờt đồng thời khiến các

doanh nghiệp không tích cực huy động các nguồn vốn tự có và các nguồn khác mà

trở nên quá phụ thuộc, ỳ lại vào nguồn vốn tín dụng của Nhà nước, gia tăng áp lực

về vốn trong điều kiện thị trường rờt khó khăn, đặc biệt tình hình lạm phát cao hiện

nay. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh số lượng các khoản nợ quá hạn trong

thời gian vừa qua.

Thứ năm, việc duy trì một mức lãi suờt cho vay giống nhau cho các nhóm

khách hàng có các dự án thuộc các lĩnh vực ngành, nghề khác nhau, có độ tin cậy

(mức rủi ro) khác nhau vừa không thể hiện tính ưu tiên trọng điểm giữa các nhóm

ngành được khuyến khích lại không tạo động lực đối với tổ chức cho vay trong việc

59

nâng cao năng lực thẩm định và phân tích tín dụng nhằm đảm bảo an toàn vốn vay.

Theo thông lệ, việc xác định mức lãi suất cho vay đối với mỗi dự án được dựa trên

kết quả chấm điểm tín dụng đối với khách hàng, tính khả thi và hiệu quà của dự án.

Việc "ấn định" một mức lãi suất cho vay dùng chung cho các dự án thuộc các ngành

hoạc lĩnh vực khác nhau của các khách hàng khác nhau là không có cơ sở, nó thuân

túy mang tính hành chính nhiều hơn là dựa trên các phân tích tín dụng và thiếu tính

thị trường.

Cuối cùng, một hạn chế nữa của chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Nhà

nước hiện nay là mới chỉ tập trung thực hiện hỗ trợ trực tiếp cho các nhà xuất khẩu.

Các nghiệp vụ tín dụng xuất khẩu khác hiện chưa được chú trọng phát triển. Trong

điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO, việc hỗ trợ tín dụng dưới hình thức cho vay

phạm Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng - Agreement ôn Subsỉdies

vốn ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu có nguy cơ trở thành hành động vi

and Countervaiỉing Measures (SCM) của WTO. Tại điểm j, Phụ lục Ì của Hiệp

định SCM đã quy định "Chính phủ Ợĩay các cơ quan thuộc sự kiêm soát của Chính

phù hoặc được Chính phủ icỳ quyển) trợ cấp các khoản tín dụng xuất khâu với tọ lệ

thấp hơn tọ lệ mà Chính phủ thực tế phải trả cho những quỹ mà họ vay (hoặc sẽ

phải trà nếu họ vay trên các thị trường von quốc tế đê có tiền trong cùng thời hạn

và những điều khoản tin dụng khác được xem là cùng loại tiền như tín dụng xuất

khẩu) hay họ phải thanh toán toàn bộ (hoặc một phần các chi phí của các nhà xuất

khẩu hay các lổ chức tài chính để cỏ được những khoản tin dụng được sử dụng ở

mức độ đảm bảo thuận lợi về tài chính trong lĩnh vực tin dụng xuất khẩu" là trợ cấp

xuất khẩu ". Vì vậy, Việt Nam cần học tập kinh nghiệm của các nước về việc thực

hiện chính sách tín dụng xuất khẩu để vẫn có thể hỗ trợ, khuyến khích các hoạt

2. Thực trạng hoạt động bảo hiểm tin dụng xuất khẩu của Việt Nam

động xuất khẩu, đồng thời hạn chế vi phạm quy định của WTO.

Theo Vụ Bảo hiểm, Bộ Tài chính, doanh thu phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

cả nước năm 2009 chi có 3 triệu đô la Mỹ. Trong khi tổng kim ngạch xuất khẩu đạt

45,8 tì đô la Mỹ, một tỉ lệ quá thấp. ' 1 Tuy nhiên, trong thời gian qua. hoạt động

60

bảo hiêm tín dụng xuất khẩu Việt Nam đã có những bước chuyển biến đáng kê vê

nhiều mặt:

> Thực trạng tại các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo hiểm tin dụng

xuất khẩu: M ột tín hiệu đáng mừng đó là trên thị trường bảo hiểm tín dụng xuất

khâu Việt Nam hiện nay đã xuất hiện thêm một số nhà cung cấp bảo hiểm mới như:

Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, Tổng công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh,

Công ty bào hiểm dởu khí. Nếu như những năm trước trên thị trường bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu của Việt Nam mới chi dừng lại ở bước đởu sơ khai nhất là mô hình

Quỹ bảo hiểm xuất khẩu của Hiệp hội cao su Việt Nam thì giờ đây trên thị trường

đã có thêm một nhà cung cấp mới. Bên cạnh đó, một số các doanh nghiệp bảo hiểm

chưa tiến hành triển khai cũng đang trong quá trình tìm hiểu về loại hình bào hiểm

này ở các nước trên thế giới và đề ra các chiến lược kinh doanh... để có thể tiến

hành kinh doanh hoạt động kinh doanh này. Có thể nói rằng, chỉ trong vài năm nữa

thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vự bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu, tạo môi trường cạnh tranh thúc đẩy thị trường này phát

triển hơn nữa. Từ mô hình cùa quỹ bảo hiểm xuất khẩu ngành hàng cao su đã giúp

các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam có những có những cách nhìn nhận mới về

bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và mạnh dạn hơn trong việc triển khai loại hình bảo

hiểm này. Mặc dù đã có những tín hiện đáng mừng về tình hình trên thị trường bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu nhưng hiện nay vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm

ngởn ngại trong việc tham gia vào thị trường này. Như vậy là với một thị trường

tiềm năng như Việt Nam mà mới chỉ có một số ít các doanh nghiệp bát đởu đi vào

tìm hiểu và thực hiện thí điểm chứ chưa thực sự đi vào hoạt động kinh doanh.

> Thực trạng áp dụng tại các công ty xuất khẩu. Hình thức bảo hiểm này

mới chỉ được các nhà xuất khẩu áp dụng mang tính chất thử nghiệm nhiều hơn là

mong muốn thực sự được bào vệ trước rủi ro. Một thực tế cho thấy mặc dù mô hình

Quỹ bảo hiểm xuất khẩu ngành hàng cao su của Hiệp hội Cao su Việt Nam đã cho

thấy những cho thấy những dởu hiệu khả quan và hiệu quà song không phải doanh

61

nghiệp nào cũng hào hứng tham gia. Hiện ngành cao su có khoảng 100 doanh

nghiệp xuất khẩu, song mới chỉ có 21 doanh nghiệp tham gia đóng góp Quỹ, trong

đó phần lớn là những doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Cao su Việt Nam. Nguyên nhân

chủ yêu lý giải vấn đề này là do các doanh nghiệp chưa nhận thức được vai trò hết

sức quan trọng của hình thức bảo hiểm tín dống xuất khẩu trong việc bào vệ các

doanh nghiệp trước những rủi ro trong giao dịch thương mại quốc tế (cố thể là rủi

ro thanh toán cùa đối tác nhập khẩu, rủi ro biến động tỷ giá hối đoái, rủi ro chính

trị...). Mặt khác, khi phía đối tác nước ngoài nhận bảo hiểm hàng nhập của họ thì

doanh nghiệp nước ta lại nhàm lẫn giữa bảo hiểm hàng nhập và bảo hiểm tín dống

xuất khẩu. Đây thực sự là một hạn chế rất lớn của doanh nghiệp xuất khẩu Việt

Nam khi hình thức bảo hiểm này mặc dù đã rất phát triển trên thị trường bào hiểm

của các quốc gia khác nhưng vẫn còn rất mới mẻ đối với Việt Nam đặc biệt là đối

với các doanh nghiệp xuất khẩu. Qua đó cũng có thể thấy ràng chính các doanh

nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã tự đánh mất lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc

tế.

> Thực trạng tổ chức quản lý của Nhà nước: Bèn cạnh việc các doanh

nghiệp bảo hiểm và các nhà xuất khẩu ngần ngại tiến hành áp dống hình thức bảo

hiểm này là việc Chính phù vẫn chưa thành lập hay ban hành một quy chế nào quy

định một cơ quan hay tổ chức chịu trách nhiệm điều hành quản lý và thực hiện mô

hình bảo hiểm tín dống xuất khẩu. Ngoài ra, chưa có một văn bàn pháp lý hoàn

chinh nào quy định cố thể về việc hướng dẫn chuẩn bị để tiến hành thực hiện hoạt

động bảo hiểm tín dống xuất khẩu. Và mới chi có một quy định là bảo hiểm tín

dống xuất khẩu là một trong bảy nghiệp vố bào hiểm phi nhân thọ. Các doanh

nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được chủ động trong việc triển khai sản phẩm bảo

hiểm (theo Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007); chi cần đăng ký quy tắc,

điều khoản, biểu phí sản phẩm bảo hiểm với Bộ Tài chính trước khi áp dống (theo

Nghị định 42/2001/NĐ-CP ngày 01/8/2001). Đây chính là một trong những trờ ngại

khiến cho loại hình hỗ trợ tín dống xuất khẩu này không phát huy được hết tính hiệu

quả, đồng thời tăng thêm sự lúng túng, bị động của các doanh nghiệp xuất khẩu vốn

đã mang nặng tư tường trông chờ vào những hướng dẫn. hỗ trợ của Nhà nước.

62

3, Nguyên nhân vì sao loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chưa phát

triển tại Việt Nam

3. ỉ. Các doanh nghiệp xuất khẩu không mẩy mặn mà với loại hình bào hiêm này

T hứ nhất, các doanh nghiệp xuất khẩu chưa nhận thức được hết những rủi ro

trong giao dịch quốc tế, các hợp đồng xuất khẩu lớn vẫn chủ yếu sử dụng L/C như

là biện pháp đảm bảo an toàn cho việc thanh toán bặi đã có một ngân hàng đứng ra

thanh toán thay cho ngưặi nhập khẩu. Hơn nữa, các doanh nghiệp Việt Nam chưa

có thói quen tìm hiểu các thông tin về ngưặi nhập khẩu hay đánh giá rủi ro có thể

gặp phải trong hoạt động xuất khẩu, tóc là khả năng quản lý tín dụng còn yếu kém,

thậm chí nhiều doanh nghiệp còn chưa nhận thức được thế nào là rủi ro tín dụng

nên cũng không quan tâm tới bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

T hứ hai, trên thế giới, phí bảo hiểm được xếp vào chi phí để xác định giá

thành sản phẩm nhưng hiện nay ở Việt Nam vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp chưa

có thói quen đưa phí bảo hiểm vào giá thành bởi lo ngại sẽ làm tăng giá bán, sẽ mất

đi khách hàng. Do đó rất ngần ngại trước bảo hiểm tín dụng xuất khẩu bặi khi tham

gia bảo hiểm mà phí bảo hiểm lại không tính vào giá bán thì lợi nhuận của họ sẽ bị

giảm đi.

T hứ ba, hiện tại các doanh nghiệp ít cấp tín dụng cho ngưặi mua do e ngại

trong thanh toán mà chưa nhận thức được rằng tín dụng xuất khẩu cùng với bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu là một công cụ marketing hiệu quà, không chi giữ chân

được khách hàng quen thuộc mà còn thu hút thêm khách hàng mới, tạo ra cho mình

lợi thế trong cuộc cạnh tranh khốc liệt.

3.2. Các doanh nghiép cung cấp dịch vụ bào hiểm tín dụng xuất khẩu không

muốn cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khâu

T hứ nhất, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu khác v ới các loại hình bảo hiểm

truyền thống khác, nó yêu cầu doanh nghiệp bảo hiếm phải có kỹ năng chuyên môn

cao, đòi hỏi về vốn và năng lực điều hành rất cao do liên quan tới hoạt động giao

thương toàn cầu với giá trị lớn. quy trình đánh giá. phân tích rủi ro. kiểm soát rủi ro,

xử lý khiếu nại và thu hồi nợ trên phạm vi rộng lớn. Tất cả đòi hỏi một trình độ và

63

kỹ năng chuyên môn cao về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, cơ chế cung cấp thông tin

đầy đủ và minh bạch về tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp. Song

hiện nay, hiểu biết và kỹ năng chuyên môn về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu còn yểu

và kém, hệ thống các dịch vụ hỗ trợ như kiểm toán chưa đù tin cậy, thông tin tài

chính về doanh nghiệp có thể sai lệch, sổ sách các doanh nghiệp xuất khẩu thiếu

minh bạch, dịch vụ thu hặi nợ cũng còn yếu và kém hiệu quả khiến cho các công ty

bảo hiểm nản lòng không dám tham gia cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Không chỉ các doanh nghiệp trong nước gặp trở ngại mà các tổ chức bảo hiểm quốc

tể lớn dù rất muốn khai thác thị trường đầy tiềm năng của Việt Nam cũng gặp

không ít trờ ngại từ phía các quy định pháp luật về điều kiện hoạt động, thiếu thông

tin đầy đủ và chính xác về các doanh nghiệp, trở ngại trong khung pháp lý điều

chỉnh.

T hứ hai, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là loại hình bảo hiểm mang lại rất ít lợi

nhuận thậm chí không có lợi nhuận vì mục đích của loại hình bảo hiểm này là

khuyến khích xuất khẩu, tỷ lệ được bảo hiểm cao và tỷ lệ phí bảo hiểm thấp. Hơn

nữa, khi cung cấp loại hình bảo hiểm này, công ty bảo hiểm sẽ gặp rất nhiều rủi ro.

Do đó, nếu không có sự hỗ trợ về vốn từ Ngân sách Nhà nước thì công ty bảo hiểm

dù muốn cũng không có khả năng thực hiện. Trong khi đó các doanh nghiệp vẫn

còn thiếu nhận thức về tầm quan trọng của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và thiếu cơ

chế chính sách liên quan đến việc hỗ trợ vốn cho các công ty cung cấp loại hình bảo

hiểm này nhằm thúc đẩy xuất khẩu do vậy các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn còn rất e

ngại trước việc đưa ra sản phẩm bảo hiểm này cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt

Nam.

4. Đánh giá chung về thị trường bảo hiểm tin dụng xuất khẩu của Việt Nam

4.1. Cơ hội

Theo đánh giá của ông Christopher Shortell, Phó Chủ tịch Bảo hiểm tín dụng tại

khu vực châu Á và Trung Quốc của A IG trong buổi giới thiệu về bào hiểm tín dụng

xuất khẩu tại thành phố Hặ Chí Minh cho biết thời gian gần đây, Việt Nam đã trờ

thành nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh, hoạt động xuất khẩu đang phát triển

64

mạnh và chủng loại hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam rất đa dạng. phong phú (hàng

nông sản, thủy sản, hàng công nghiệp, hàng thủ công mỹ nghệ...), lượng doanh

nghiệp hoạt động xuất khẩu cùa Việt Nam ngày càng tăng, càng mở rộng phạm vi

hoạt động ra nhiều thị trường trên thế giới, nên là thị trường nhiều tiềm năng cho

hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và là cơ sở để thị trường này phát triển trong tương lai.

Mặc dù là nước đi sau trong việc đưa bảo hiểm tín dụng xuất khẩu vào hoạt

động xuất khẩu trên phạm vi quức tế nhưng Việt Nam lại được đánh giá là sẽ nắm

bát được nhiều cơ hội để xây dựng và phát triển một cách hoàn thiện loại hình bào

hiêm hết sức mới mẻ này do rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm từ mô hình bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu ở các nước bạn đồng thời do tính chất mới mẻ, chưa được

áp dụng nhiều trong nước, nên bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ thu hút được nhiều

sự quan tâm vì mở ra nhiều cơ hội mới cho các nhà xuất khẩu trong nước, đặc biệt

là các doanh nghiệp luôn nhanh nhạy, linh hoạt trong việc tìm tòi khai thác những

phương thức bảo hiểm rủi ro mới, có tính ưu việt cao, phù hợp với bứi cảnh kinh tế

toàn cầu nhằm đảm bảo an toàn cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp trong

nền kinh tế mờ, cạnh tranh khức liệt cũng nhu bắt kịp với xu thế chung cùa thế giới.

Trong quá trình xây dựng và phát triển hoạt động bào hiểm tín dụng xuất khẩu,

các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không chi học hỏi, tiếp thu được những tập quán cũng

như những thành tựu, đổi mới trong mua bán quức tế từ các đứi tác nhập khẩu đến từ

các quức gia phát triển, mà qua đó, còn có cơ hội thu hút vứn đầu tư nước ngoài, thâm

nhập thị trường quức tế, tăng cường hợp tác với các quức gia trên thế giới. Hơn nữa,

Việt Nam là một quức gia đang trên đà phát triển, nếu áp dụng thành công bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu thì hứa hẹn sẽ là mảnh đất màu mỡ, an toàn cho những nhà đầu tư

nước ngoài ngại rủi ro.

4.2. Thách thức

Hiện nay, Chính phủ chưa có đề án, chương trình để phát triển thị trường tài

chính ờ nước ta nên lẽ đương nhiên là các doanh nghiệp xuất khẩu cũng không có

nhiều lựa chọn các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Từ tháng 08/2002. Thù

65

tướng Chính phù đã ra Quyết định số 110/2002/QĐ-TTg cho phép các hiệp hội.

ngành hàng thành lập quỹ bào hiểm xuất khẩu. Nhưng cho đến nay mới chi có một

sô doanh nghiệp mạnh dạn tiên hành thí diêm loại hình bảo hiểm này. Bên cạnh đó.

cũng như các nước đang phát triển khác, thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cùa

Việt Nam ít có thông tin đầy đủ và chính xác về các doanh nghiệp cùng với đó các

công cụ giám sát nền kinh tế chưa thổc sổ hiệu quà khi mà mức độ rủi ro liên quan

đèn lĩnh vổc bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngày càng tăng cao. Đây thổc sổ là một

thách thức lớn đối với Chính phủ trong việc đưa ra các định hướng, chính sách hợp

lý nhàm phát triển loại hình bảo hiểm này trên thị trường Việt Nam.

Ngay cả Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) là một tổ chức tín dụng của

Chính phủ thành lập trên cơ sở Quỹ hỗ trợ Phát triển Việt Nam để thổc hiện các

chính sách hỗ trợ xuất khẩu của Chính phủ. Thế nhưng, theo bà Phạm Thị Thu

Hiền, Phó ban tín dụng xuất khẩu của VDB, tới nay ngàn hàng mới chi tham gia

chính sách tín dụng xuất khẩu, tức cho các nhà xuất khẩu vay ngẩn hạn. chứ chưa

có hai nghiệp vụ mà lẽ ra V DB phải làm theo quy định của Chính phủ là bảo lãnh

tín dụng xuất khẩu và bảo lãnh dổ thầu, bảo lãnh hợp đồng.

về phía các doanh nghiệp bảo hiểm. các công ty bảo hiểm Việt Nam chưa

mặn mà gì với loại hình bảo hiểm này, và nếu có thì cũng ờ quy mò rất nhỏ so với

tiềm năng. Như vậy, thổc tế cho thấy các doanh nghiệp còn rất thiếu thông tin về

bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.Và thậm chí nếu có muốn sử dụng bào hiểm tín dụng

xuất khẩu trong mua bán quốc tế thì cũng chưa có cơ quan hay tổ chức nào tư vấn

và hỗ trợ thổc hiện. Đây có thể nói là thách thức lớn nhất đối với tương lai của hoạt

động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam.

Vì liên quan tới hoạt động giao thương toàn cầu với giá trị giao dịch lớn nên

yêu cầu về vốn, năng lổc điều hành và chuyên môn đối với tổ chức bảo hiểm tín

dụng rất cao. Quy trình đánh giá. phân tích rủi ro bảo hiểm, kiểm soát. quàn lý rủi

ro, xử lý khiếu nại và thu hồi nợ cần phải thổc hiện trên phạm vi rộng. Vi vậy. tồ

chức cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu phải có kỹ năng chuyên môn cao. sử

66

dụng công nghệ tiên tiến để tiếp cận hệ thống thông tin kinh doanh, tài chính minh

bạch và tin cậy. Ngoài cung cấp dịch vụ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. các tổ chức

này còn phải cung cấp dịch vụ gia tăng như cập nhật thông tin doanh nghiệp theo

các nhóm ngành hàng của từng quốc gia, phân tích rủi ro quốc gia... Tuy nhiên tại

Việt Nam hiện nay, quá trình giải quyết tranh chấp, xử lý thi hành án chậm chạp.

chưa minh bạch, gây khó khăn trong việc thu hồi các khoản nỏ. Hệ thống dịch vụ

kiểm toán chưa đủ tin cậy, việc thực thi chuyên môn chưa đáp ứng chuẩn mực kiểm

toán quốc tế nên thông tin tài chính về doanh nghiệp có thể sai lệch. Thiếu hệ thống

các công ty thu hồi nỏ và hoạt động thu hồi nỏ kém hiệu quả. Thiếu nguồn nhân lực

có khả năng điều hành và kinh nghiệm chuyên môn. Chính vì vậy đây cũng là một

thách thức không nhỏ đối v ới Việt Nam trong quá trình phát triển loại hình bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu. Bên cạnh đó, hoạt động bào hiểm tín dụng xuất khẩu trong

giai đoạn đầu luôn gặp những trở ngại nhất định như thiếu cơ chế thông tin đầy đủ

và minh bạch về tình hình kinh doanh và tài chính cùa doanh nghiệp. Luật pháp về

đăng ký và quản trị doanh nghiệp chưa đồng bộ, thiếu sự giám sát theo dõi và quản

lý thi hành luật tập trung.

l i. Bài học cho V i ệt N am từ k i nh nghiệm xây d ự ng hệ thống

bảo h i ểm tín dụng xuất k h ẩu của các nước.

Trên cơ sở nghiên cứu và rút ra nhận xét về mô hình bào hiểm tín dụng xuất

khẩu của một số nước chúng ta có thể đưa ra một số bài học kinh nghiệm đối với

Việt Nam:

ỉ. về cơ quan quản lý hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Tại Việt Nam, hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu còn khá mới mẻ; nhũng

quy định, văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động này còn hạn chế và hầu hét

chưa đưỏc thực hiện. Do vậy, chưa thể xây dựng đưỏc một mô hình hoạt động

chuyên môn với các cơ quan và tổ chức đưỏc phân công phạm vi hoạt động cũng

như vai trò cụ thể như ở mô hình các nước khác. Và Việt Nam cũng chưa có một cơ

quan tổ chức nào chịu trách nhiệm quản lý và thực hiện hoạt động bào hiểm tín

dụng xuất khẩu như tại Mỹ, Trung Quốc, Hà Lan và Brazil. Vi vậy đối với nền kinh

tế có tiềm lực tài chính có hạn như nước ta. việc xây dựng và phát triển một Ngân

67

hàng Xuât nhập k h au hay m ột N g ân hàng phát t r i ển Q u ốc g ia có đủ trình độ và có

k hả năng tài t rợ m ột cách toàn d i ện cho cả nhà xuất k h ẩu t r o ng nước và nhà nhập

khâu nước ngoài d ưới sự quản lý m ột cách có hệ t h ố ng của N hà nước là điều hết

sức cần thiết. B ên cạnh đó N hà nước cần s ớm thực h i ện n h i ều chuông trình hồ t rợ

xuất k h ẩu đồ ng t h ịi đẩy nhanh quá trình ban hành các văn bản pháp luật điều c h i nh

hoạt động bảo h i ểm tín dụng xuất k h ẩu ị nước ta.

2. về sự tham gia điểu tiết của Chính phù trên thị trường bảo hiểm tín dụng xuất

Từ mô hình b ảo h i ểm tín dụng xuất k h ẩu của các nước có t hể thấy sự can thiệp

của Chính p hủ vào thị trưịng này là điều không tránh k h ỏi và thực sự cần thiết. Vì

vậy nước ta c ũ ng cần p h ải xây d ụ ng m ột mô hình bảo h i ểm tín dụng xuất k h ẩu có

sự t h am g ia điều tiết từ các cơ quan N hà nước v ới n h i ệm vụ và chức năng cụ thể,

k h u y ến khích các tổ chức tín dụng t h am gia. Qua đó tạo nên sự liên k ết thống nhất

t r o ng quá trình hoạt động cũng như t r o ng quản lý đối v ới hoạt động bào h i ểm tín

d ụ ng xuất k h ẩu này. Chính p hủ ngoài v i ệc t h am gia điều tiết thị trưịng còn phải có

n h ữ ng can thiệp n h ằm hỗ t rợ thị trưịng phát t r i ển như: đầu tư ban đau về công nghệ

thông t i n, n g u ồn nhân l ực và k hả năng tài chính cho doanh nghiệp bào h i ểm tín

dụng xuất khẩu. Sau m ột thịi gian dài tích l ũy tài chính, các tổ chức này m ới t ừ ng

bước có t hể tự k i nh doanh. M ặt khác. Chính p hủ còn có v ai trò quan t r ọ ng t r o ng

v i ệc c u ng cấp thông t in cho thị trưịng về các công cụ hạn chế r ủi ro khác. M ột

chương trình quốc g ia n h ằm giải thích và c u ng cấp thông t in về các sản p h ẩm hạn

chế r ủi ro khác sẽ giúp các nhà xuất k h ẩu tìm ra được giải pháp t ốt hem t r o ng v i ệc

hạn c hế các r ủi ro mà họ gặp phải. N g ày càng có nhiều công cụ hạn chế r ủi ro m ới

xuất h i ện d ưới hình thức là các sản p h ẩm tài chính m ớ i. Chính vì v ậy chính phù có

thể c u ng cấp thông t in về n h ữ ng sản p h ẩm tài chính m ới để giúp các nhà xuất khẩu

hạn c hế được r ủi ro.

M ặc dù sự can thiệp của Chính phù t r o ng thịi gian đẩu là cần thiết trone việc

hỗ t rợ thị trưịng này phát t r i ển nhưng n ếu như sự can thiệp quá sâu cũng sẽ gây

n h ữ ng tác động tiêu c ực không m o ng m u ốn như dẫn đến tinh trạng độc quyên làm

68

khẩu

mát tính cạnh tranh trên thị trường hay dẫn đến sự phụ thuộc quá nhiều vào Chính

phủ... Có thể lấy mô hình cùa Brazil trước năm 1992 làm bài học kinh nghiệm cho

vấn đề này; sự can thiệp quá sâu của Chính phủ Brazil thông qua Viện tái bảo hiểm

Brazil (Brazilian Reinsurance Institute- IRB) đã kìm hãm sự phát triển của thị

trường này và Brazil đã phải mất 30 năm để sửa chữa sai lợm này. Mặt khác. để bảo

đảm hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu phù hợp với nguyên tắc WTO (không

được coi là trợ cấp xuất khẩu), tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cho dù là thuộc

sở hữu Nhà nước (phục vụ mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu) thì cũng phải thực hiện

kinh doanh theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh và chịu sự

điều chinh của luật pháp về bảo hiểm và thương mại.

3. về sự khuyến khích cúc doanh nghiệp tham gia vào thị trường bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu

Để thúc đẩy hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu mở rộng, bèn cạnh việc

thành lập một tổ chức đóng vai trò chủ đạo trong lĩnh vực này. Chính phù cợn phải

khuyến khích các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp tư nhân tham gia vào thị trường

này. Đây có thể coi là cách giúp các doanh nghiệp cũng như các tổ chức tín dụng

trong nước làm quen với hoạt động bảo hiểm mới và qua đó linh hoạt. chù động hơn

trong quá trình xử lý các tình huống và có thêm kinh nghiệm khi tham gia giao lưu

thương mại với các nước bạn. Đối với nền kinh te đang trên đà hội nhập như Việt

Nam, việc nhận thức được vai trò cùa các doanh nghiệp tư nhân trong công cuộc đồi

mới đất nước cũng như khuyến khích bộ phận kinh tế này tham gia tích cực vào nền

kinh tế mở quốc gia là một trong những chiến lược trọng tâm được Nhà nước ưu

tiên trong các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế.

Ngoài ra, theo mô hình của các nước có thể thấy rằng rào cản gia nhập ngành

cùa thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là rất lớn. Một công ty bào hiểm muốn

chen chân vào thị trường này thì cân phải có thông cơ sở dữ liệu rộng khăp. Các tô

chức bảo hiểm tồn tại lâu đời trên thị trường có lợi thế cạnh tranh bang cách kiêm

soát hệ thống thông tin. Chinh vi vậy Chính phủ cẩn phải có chính sách hỗ trợ

69

khuyến khích các doanh nghiệp gia nhập ngành để tạo ra một môi trường cạnh tranh

4. về việc tiếp cận thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của các doanh nghiệp

xuất khẩu vừa và nhỏ.

bình đẳng.

Từ kinh nghiệm của các nước đã phân tích ở trên đặc biệt là mô hình của Hà

Lan có thể thay việc mua bảo hiểm của các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ gặp

không ít khó khăn, sợ lợa chọn sản phẩm cũng như số lượng các nhà cung cấp dịch

vụ vẫn còn rất hạn chế. Chính vì vậy Việt Nam cần phải chú trọng việc tạo điều

kiện thuận lợi cũng như đưa ra các ưu đãi cho các đối tượng khách hàng này. Chẳng

hạn như mờ rộng thời hạn bảo hiểm và đưa ra những mức phí ưu đãi nhằm khuyến

khích và thu hút các doanh nghiệp xuất khẩu làm quen và sử dụng hiệu quả công cụ

bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Đây không những là một trong những chiến lược thu

hút sợ quan tâm và tham gia của các doanh nghiệp trong nước mà còn giúp đa dạng

hoa các gói bảo hiểm tín dụng trong hoạt động xuất khẩu, đem lại nhiều sợ lợa chọn

5. về việc phân loại khách hàng và ngành hàng

phù hợp với quy mô kinh doanh hơn đối với các nhà xuất khẩu.

Việc quy định cụ thể đối tượng khách hàng và ngành hàng được bảo hiểm của

các nước tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa ra mức phí và kỳ hạn bảo hiểm phù

hợp đối v ới từng đối tượng và giúp Chính phũ dễ dàng hơn trong việc quản lý. Bên

cạnh đó, việc phân ra các ngành hàng được bảo hiểm để thợc hiện chính sách của

Chính phủ về việc hỗ trợ nhằm thúc đẩy hoạt động của các ngành hàng chù lợc từ

I U. G i ải pháp và kiến nghị n h ằm phát t r i ển thị trưởng bảo

h i ểm tín d ụ ng x u ất k h ẩu của V i ệt N am t r o ng thòi gian tói.

ỉ. Giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Việt Nam

trong thời gian tới

đó đưa ra những chính sách thích họp với từng ngành hàng.

Từ những phân tích về thợc trạng thị trường bào hiểm tín dụng xuất khẩu của Việt

Nam và rút ra bài học kinh nghiệm từ mô hình cùa các nước, có thể đề ra một số aiài

70

pháp sau đây nhàm phát triển thị trường bảo hiểm túi dụng xuất khẩu Việt Nam.

LI Vĩ mó

Thứ nhất, phải xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật điều chinh

hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Đây là một giải pháp hết sức quan trọng

và cần phải được thực hiện kịp thời để đáp ứng được nhu cầu phát triển sắp tới cạa

thị trường. Việc xây dựng các quy định điều chình là nền tảng pháp lý làu dài cho

sự phát triển cạa bào hiểm tín dụng xuất khẩu trong tương lai. Dựa trên những định

hướng cơ bản về sản phẩm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, Nhà nước cần hoàn hiện

các chính sách pháp lý sao cho vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp

cung cấp dịch vụ bảo hiểm này trong bối cảnh kinh tế hiện nay, vừa bắt kịp được

với những thay đổi, cải tiến trong hành lang pháp lý cũng như những chính sách

thương mại đa phương, song phương và xu thế chung cạa thương mại thế giới. Bên

cạnh đó, cần đẩy mạnh việc hỗ trợ, cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp xuất

khẩu trong nước về những thay đổi trong những chính sách văn bàn pháp lý điều

chỉnh hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu từ phía các cơ quan Nhà nước cũng

như những biến động bất thường về mặt kinh tế và chính trị có ảnh hường trực tiếp

đến hoạt động này.

Thứ hai, phải tăng cường xây dựng và phát triển kinh tế một cách ổn định.

Sự phát triển cạa thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chịu tác động khách quan

và gián tiếp cùa các yếu tố trong nền kinh tế vĩ mô. Đe thị trường bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu phát triển tốt, xét trên khía cạnh vĩ mô, Chinh phạ cần cạng cố sức mạnh

và sự ổn định cạa nền kinh tế thông qua việc duy trì và kiểm soát sự ổn định cạa tỳ

giá hối đoái. Khi nền kinh tế trong nước ổn định, các nhà xuất khẩu sẽ sẵn sàng tăng

lượng hàng hóa xuất đi nước khác. Nhờ đó, cầu về các loại bào hiểm tín dụng xuất

khẩu tăng, hoạt động bào hiểm tín dụng xuất khẩu có môi trường để hoạt động và

phát triển. Bên cạnh đó việc phát triển nền kinh tế ổn định tạo điều kiện cho các

doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bào hiểm tín dụng xuất khảua tăng thêm nguồn lực

tài chính để đầu tu vào cơ sở vật chất cũng như nguồn nhân lực đề từ đó thúc đẩy

hoạt động bào hiểm tin dụng xuất khẩu phát triển.

71

Thứ ba, cần phải có những chính sách tạo điều kiện phát triển hơn nữa thị

trường tài chinh và các định chế tài chinh. B ời lẽ thị trường tài chính đóng một

vai trò quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu thông qua việc hạn che các rủi ro cho

các doanh nghiệp trong quá trinh mua bán quốc tế. Việc phát triển thị trường này sẽ

góp phần tạo tâm lý yên tâm cho các nhà xuất khẩu trong nước mạnh dạn và chủ

động tham gia tích cực hơn vào hoạt động xuất khẩu tạo điều kiện cho hoạt động

bào hiểm tín dụng xuất khẩu phát triển.

Thứ tư, xây dựng chiến lược phát triển công ty bảo hiểm tin dụng xuất khẩu

phù hợp và bển vững. Để thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu phát triển lành

mạnh và phù hồp theo định hướng phát triển của chính phủ, cần có một cơ quan

trực thuộc hoặc một thể chế nhất định nhằm khuyến khích hoạt động của thị trường

này, đồng thời giúp phân phối sự hỗ trồ của chính phủ đến những doanh nghiệp có

nhu càu. Tại các nước trên thế giới, các thể chế này có thể hoàn toàn trực thuộc Nhà

nước, liên kết giữa Chính phủ và công ty tư nhân hoặc chính là các công ty tư nhân.

Dù ở hình thức nào, việc phát triển của công ty này cũng cần phù hồp với mục tiêu

định hướng cùa chính phủ và đáp ứng đưồc nhũng yêu cầu đề ra. Đối với Việt Nam,

định hướng mô hình là tổ chức chuyên cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu do

nhà nước quản lý. Điều quan trọng để giúp doanh nghiệp này phát triển và từ đó xây

dựng đưồc thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Việt Nam là phải có đưồc chiến

lưồc phát triển lâu dài, hướng tới sự hoạt động độc lập so với các bộ quàn lý. Tuyệt

đối không nên để tình trạng bao cấp, phụ thuộc của doanh nghiệp này vào Ngân

sách quốc gia.

Thứ năm, tập trung nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu của các

doanh nghiệp trong nư c. Từ đó tăng tính cạnh tranh của hàng hoa, dịch vụ trong

nước cả về giá cả lẫn chất lưồng so với nước ngoài. Điều này có đóng góp không

nhỏ trong việc tăng lưồng cầu hàng xuất khấu từ Việt Nam từ những thị trường

nhập khẩu truyền thống như EU, châu Á, Mỹ... dẫn đến nhu cầu bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu tăng.

72

1.2. Vi mô

Xét đến các giải pháp vi mô, chúng ta cần quan tâm đến giải pháp cho các bên

tham gia thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Đây là những chủ thể hoạt động

của thị trường. Nêu những chủ thể này không hứng thú hoặc không đủ điều kiện

tham gia thị trường thì thị trường bảo hiểm xuất khẩu sẽ không thể phát triển được.

ẫ .2.1, Giải pháp cho các doanh nghiệp xuất khẩu:

Phải đề ra các chính sách nhằm khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu sử

dụng sàn phẩm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Để làm được điều này, cơ quan bảo hiểm

túi dụng xuất khẩu nên phát triển chính sách cho vay hoặc bảo lãnh đi vay cho doanh

nghiệp tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Lãi suất cho vay cần đảm bảo đủ mức độ

khuyến khích nhung vẫn không để cơ quan bảo hiểm chịu lỗ quá lớn.

Mặt khác, để thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp ữong việc sử dụng những

phương thức mới nhằm hỗ trợ quá trình xuất khẩu hàng hoa và dịch vụ ra nước ngoài.

bảo hiểm tín dụng xuất khẩu phải có tính đa dạng về mức độ, ti lệ. phạm vi. kì hạn bảo

hiểm cũng như nhũng ưu đãi đối với từng loại hình doanh nghiệp với những quy mô

khác nhau. Việc đưa ra nhũng gói bảo hiểm đa dạng sẽ không chi giúp bào hiêm tín

dụng xuất khẩu trờ nên phổ biến, mà còn giúp các doanh nghiệp ưong nước dần làm

quen với các hình thức tín dụng hỗ trợ xuất khẩu hiện dại theo xu thế chung của thế

giới.

ẫ .2.2. Giải pháp cho các nhà cung cấp dịch vu

Xét về sản phẩm, dịch vụ cung cấp, các ngân hàng thường có dịch vụ bao

thanh toán nhàm bảo hiểm cho các khoản thanh toán trong khi các công ty bảo hiểm

thương mại lại chù yếu tập trung vào dịch vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu.

Tuy nhiên những sàn phẩm này mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu của khách hàng,

và năng lực cung cấp cùa ngân hàng cũng như các công ty bảo hiểm là chưa cao. Đe

tận dụng được sức mạnh và lợi thế của các ngân hàng và các công ty bảo hiểm

thương mại, công ty bào hiểm tín dụng xuất khẩu có thể xây dụng mạng lưới liên

kết cung cấp chuỗi dịch vụ bào hiểm, trong đó. phần bảo hiểm cho những rủi ro lớn

nhất thuộc về công ty bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Ngoài ra. với lợi the là một

73

công ty có mạng lưới thông tin hoạt động rộng lớn, công ty bảo hiểm tín dụng xuất

khâu có thê có khả năng đánh giá tình hình tài chính của các nhà nhập khẩu nước

ngoài cũng như thẩm định các dự án, hợp đồng xuất nhập khẩu giữa doanh nghiệp

xuât khẩu trong nước và doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài. Kết hợp hai loại nhà

cung cấp này sẽ giúp thị trưống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hoạt động hiệu quả

hơn.

Ngoài ra, về sản phẩm, công ty bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nên tập trung vào

việc đa dạng hoa các hình thức bảo hiểm tuy theo mức độ rủi ro, quy mô doanh

nghiệp tham gia đồng thối mở rộng phương thức cung cấp sản phẩm, quy tấc. điều

khoản, biểu phí sản phẩm cụ thể được quy định dựa trên sự tham khảo đối với mô

hình ố một số nước mà bảo hiểm tín dụng xuất khẩu xuất khẩu phát triển mạnh như

bốn mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đã phân tích ở trên, kết hợp với nghiên

cứu điều kiện trong nước để có thể đưa ra các sản phẩm phù hợp, thiết thực và hiệu

quả nhất như đã phân tích ở trên. Ngoài ra doanh nghiệp cũng cằn phải mố rộng

quan hệ họp tác với các doanh nghiệp khác trong và ngoài nước để tạo nên một hệ

thống mạng lưới thông tin rộng lớn và hệ thống bảo hiểm ổn định có sự tham gia

của các tổ chức tái bảo hiểm.

2. Kiến nghị nhằm phát triển hoạt động động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

tại Việt Nam

2. ỉ. Đổi với Chính phù

Trên cơ số môi trưống kinh tế ổn định, hoạt động xuất khẩu mới có cơ hội phát

triển được. Chính phủ cần tạo lập một hệ thống văn bản pháp quy cho hoạt động tín

dụng xuất khẩu cả về phía nhà cung cấp lẫn đối tượng khách hàng tham gia nham

đưa ra khung pháp lý hoàn chình, có hệ thống nhàm điều chỉnh hiệu quả và là căn

cứ cho mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tồn tại, phát triển. Bên cạnh việc hoàn

thiện môi trưống pháp lý đối với loại hình bào hiểm này, Chính phủ cũng cần phải

tuân thủ các nguyên tấc cùa WTO để phù hợp với thông lệ quốc tế. Tránh sự mâu

thuẫn, chống chéo giữa các văn bàn gây khó khăn trong quá trình thực hiện bảo

hiểm tín dụng xuất của các bên liên quan. từ đó làm giảm hiệu lực thi hành các văn

74

bàn này. Ngoài ra Chính phù cũng cần có những bàn hiệp ước với các quốc gia

trong việc hợp tác phát triển loại hình bảo hiểm này nhằm tạo môi trường hành lane

pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trong nước

trong quá trình hợp tác và tham gia vào các hiệp hội bảo hiểm trên thế giới.

Thêm vào đó, Nhà nước ta cần tập trung nghiên cẵu, soạn thảo và ban hành hệ

thống văn bản pháp lý hướng dẫn việc thực hiện bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trong

nước trong thời gian sớm nhất dựa trên các Luật và các văn bản dưới luật đã có sẵn

điều chỉnh cơ chế hoạt động của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại một số quốc gia

trên thế giới.

Trong quá trình thực hiện mua bán trao đổi quốc tế, sẽ phát sinh không ít các

tranh cấp liên quan đến vấn đề bảo hiểm khi xảy ra nhũng rủi ro hoặc biến động khó

lường. Vì vậy, Chính phủ cần sớm có những quy định cụ thể đề cập đến mối quan

hệ pháp lý giữa hợp đồng ngoại thương với họp đồng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu,

pháp lý hoa trên cơ sờ luật quốc gia quyền hạn và nghĩa vụ. trách nhiệm của nhà

xuất khẩu, đối tác nhập khẩu và Ngân hàng hoặc Công ty bào hiểm tín dụng khi

tham gia thực hiện loại hình bảo hiểm này. Chính phù cần phải hoàn thiện hơn hệ

thống pháp luật thương mại để tạo nền tàng vững chác cho việc xử lý các vụ tranh

chấp xảy ra liên quan tới loại hình bảo hiểm này.

Mặt khác, khi thực hiện các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, Chính phủ cũng cẩn

quan tâm đen các vấn đề: nền kinh tế nước ta mới chuyển sang nền kinh tế thị

trường chưa lâu, do đó các chính sách thường xuyên được điều chinh cho phù hợp

với những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn là điều tất yếu. Những thay đổi ấy

không được gây nên tâm lý bất ổn đối với các nhà xuất khẩu trong nước cũng như

nhũng bạn hàng nước ngoài. Khi ban hành hay sửa đổi một quy định pháp lý, Chính

phủ vẫn phải đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia hợp đồng ngoại thương, tránh

tình trạng Nhà nước chi quan tâm đến việc ban hành quy định đó mà không quan tâm

đến những vấn đề này sinh từ việc thực hiện những quy định đó.Theo ông Nguyễn

Kim Phú, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt cho rằng Chính phủ

cần hoàn thiện môi trường pháp lý và kinh doanh trên nguyên tấc WTO song sone

75

với nghiên cứu hoàn thiện mỏ hình của tổ chúc cung cấp bảo hiểm tín dụne xuất

khẩu. Trong điều kiện hiện tại, cần thiết phát huy nội lực về tổ chức quản lý điều

hành và chuyên môn, quan hệ quốc tế của hệ thống doanh nghiệp bảo hiểm trong

nước. Đừng thời hợp tác với các từ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu quốc tế đê từ

đó thiết lập cơ cấu chấp nhận và chuyển giao rủi ro bảo hiểm túi dụng phù hợp.

Đối với các doanh nghiệp cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Việt Nam

vẫn còn rất nhiều khó khăn bước đầu khi thị trường này vẫn còn rất non trẻ, chính vì

vậy Chính phủ cần đưa ra các chính sách ưu đãi cũng như các biện pháp hỗ trợ nhất

định. Chính phủ có thể hỗ trợ các doanh nghiệp về mặt tài chính, công nghê, tạo

điều kiện đào tạo nguừn nhân lực và một số các chính sách hỗ trợ là ưu đãi về thuế

và bù đắp chi phí hoạt động trong một số năm đầu khi mới đi vào hoạt động do chi

phí đầu tư ban đầu cho loại hình dịch vụ này là rất lớn, có thể vượt quá khả năng tài

chính của doanh nghiệp.

2.2. Đối với doanh nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất khâu

Đè có thể triển khai thành công loại hình bảo hiểm này doanh nghiệp cần phải

trang bị cho mình những điều kiện cần thiết như nguừn lực tài chính, nguừn nhân

lực và hệ thống công nghệ thông tin. Một công ty bảo hiểm với nguừn lực tài chính

lớn mạnh mới có thể tiến hành cung cấp loại hình bảo hiểm này và mới có thể cạnh

tranh được trên thương trường quốc tế do loại hình này đã phát triển từ rất lâu trên

thế giới đặc biệt là các nước thuộc liên minh Châu Âu. Ngoài ra do đặc thù của loại

hình bảo hiểm này đòi hỏi phải có nguừn nhân lực chất lượng cao chính vì vậy các

công ty muốn tham gia vào thị trường này cần phải coi trọng hơn nữa việc đào tào

và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, bổ sung kiến thức mới trong giai đoạn hội nhập kinh

tế quốc tế hiện nay. Mặt khác, vấn đề công nghệ thông tin trong doanh nghiệp cũng

đòi hỏi những điều kiện nhất định. Để có thể đù khả năng phân tích các biến động

rủi ro trên thị trường để đưa ra các thông tin dự đoán và đưa ra các mức phí bào

hiểm cũng như các hợp đừng bảo hiểm tốt thì hệ thống công nghệ thông tin được

trang bị đầy đù là điều cần thiết. Để làm được điều này công ty cần phải xây dựng

chương trình ứng dụng tin học trong quá trình phân tích và đánh giá rủi ro. tính phí

76

bảo hiêm, trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ, phân tích hệ thông thông tin các báo

cáo tài chính... Và công ty cần đầu tư và hiện đại hom nữa hệ thống mạng nội bộ

ứng dụng trong công tác quàn lý nghiệp vụ hiện nay.

Các công ty bào hiểm tín dụng xuất khẩu, đặc biệt là Công ty bảo hiểm tín dụne

xuất khẩu Nhà nưổc cần nhanh chóng xây dụng mạng lưổi liên kết cung cấp chuỗi

dịch vụ bào hiểm vổi các tổ chức tín dụng xuất khẩu, các ngân hàng thương mại trong

nưổc và các tổ chức tái bảo hiểm dựa trên khung văn bản pháp lý của mô hình bảo

hiếm tín dụng xuất khẩu đang trong giai đoạn xây dựng và triển khai nhàm đưa ra săn

phàm bào hiểm tín dụng xuất khẩu đa dạng, đáp ứng được những yêu cầu của thị

trường. Ngoài ra các doanh nghiệp này cũng cần phải tảng cường hợp tác vổi các

doanh nghiệp cung cấp hệ thống thông tin, các ngân hàng và các tổ chức tái bào hiểm

trên toàn thế giổi nham tạo cơ sờ vững chắc cho hoạt động cung cấp thông tin cũng

nhu dịch vụ bảo hiểm cho doanh nghiệp. Song song vổi việc phát triển đó. doanh

nghiệp cũng cần phải tăng cường mở rộng hon nữa mạng lưổi hoạt động của mình ra

toàn thế giổi để mở rộng thêm nhiều cho cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó các doanh nghiệp này cũng cần phải phát huy toàn bộ nội lực về

tổ chức quản lý điều hành và chuyên môn, quan hệ quốc tế cùa hệ thống doanh

nghiệp bảo hiểm trong nưổc. Đông thời hợp tác vổi các tổ chức bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu quốc tế để từ đó thiết lập cơ cấu chấp nhận và chuyển giao rủi ro bảo

hiểm tín dụng phù hợp.

2.3. Đoi với các doanh nghiệp xuất kháu trong nước

Có thể nói, trình độ và kiến thức về các hình thức hỗ trợ phòng ngừa rủi ro

trong quá trình mua bán quốc tế cùa các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn khá hạn

chế. Đày chính là trở ngại quan trọng cho việc tiếp thu những công nghệ và đổi mổi

trong qua trình hội nhập nền kinh tế thế giổi của các doanh nghiệp Việt Nam. Đe

nâng cao năng lực quàn lý cũng như khả năng nấm bắt các thông tin cùa các doanh

nghiệp xuất khẩu. nhóm đề tài xin đưa ra một số kiến nghị sau:

Thứ nhất, các doanh nghiệp xuất khẩu cần phải có những nhận thức đủng dẩn

về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và thấy được vai trò hết sức quan trọng của loại

77

hình bảo hiểm này đối với tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp nói riêng và cả

nước nói chung. Mặt khác doanh nghiệp cũng cần phải quen với việc tính phí bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu vào giá trị của hàng xuất khẩu.

Thứ hai, các đơn vị kinh doanh xuất khẩu trong nước phải có các cán bộ

chuyên trách về vấn đề bảo hiểm tín dụng cho doanh nghiệp khi kí kết các hợp đồng

xuất khẩu với đối tác nước ngoài. Các cán bộ này phải được đào tạo nghiệp vụ

ngoại thương, am hiểu Luổt và các văn bản pháp lý điều chinh thương mại quốc tế,

đặc biệt về hoạt đồng tín dụng xuất khẩu.

Thứ ba, các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước thường xuyên có các giao

dịch xuất khẩu với nước ngoài nên thành lổp một phòng chuyên tổp trung nghiên

cứu thị trường, thông lệ quốc tế cũng như các thay đổi điều kiện pháp lý ừong và

ngoài nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các chính sách bảo hiểm bảo

đảm quyền lợi cho doanh nghiệp mình trước các biến động bất lợi của nền kinh tế

thế giới.

Thứ tư, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp xuất khẩu Việt

Nam (khách hàng sử dụng) và Ngân hàng Phát triển Việt Nam (người cho vay),

cũng như các công ty bảo hiểm trong nước (đối tượng kinh doanh bảo hiểm tín dụng

xuất khẩu). Qua đó các doanh nghiệp xuất khẩu có thể được tư vấn đưa vào hợp

đồng những điều khoản có lợi cho mình, mà vẫn phù hợp với tổp quán mua bán

quốc tế.

T óm lại, trong chương 3 này tổp trung đi vào phân tích thực trạng xuất khẩu,

tín dụng xuất khẩu và thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Việt Nam trong

thời gian qua và cụ thể là từ năm 2005 trờ lại đây. Sau đó đua ra các bải học kinh

nghiệm phát ừiển hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của các nước đối với Việt

Nam. Từ việc phân tích hệ thống bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của các nước, từ đó

rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, kết hợp với thực trạng thị trường bão

hiểm tín dụng xuất khẩu cùa Việt Nam, người đọc đề ra các giải pháp và kiến nghị

đối với nhà nước và các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực bảo hiểm này nham

phát triển thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cùa Việt Nam.

78

KÉT LUẬN

Cùng với xu thế phát triển của thế giới, Việt Nam đang có những bước chuyển

mình mạnh mẽ và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế. Khi tham

gia vào hệ thống thương mại thế giới trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu luôn luôn

biến động, việc phát sinh những rủi ro gây ra những tổn thất nghiêm trọng ảnh

hường tới sự tửn tại của doanh nghiệp trong nước cũng như hoạt động xuất khẩu ra

quốc tế là điều không thể tránh khỏi, do đó việc sử dụng bào hiểm tín dụng xuất

khẩu là rất cần thiết để bảo vệ sự phát triển lâu dài của quốc gia nói chung và lợi ích

cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước nói riêng.

Nhận thức được vai trò hết sức quan trọng của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu,

tác giả đã nghiên cứu về bào hiểm tín dụng xuất khẩu để từ đó đưa ra một cái nhìn

tổng quan về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu thông qua khái niệm, phân loại và vai trò

đối với nền kinh tế. Bên cạnh đó luận văn còn tập trung phân tích mô hình bảo hiểm

tín dụng xuất khẩu của một số quốc gia: Hà Lan, Trung Quốc, Mỹ và Brazil để từ

đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Mặt khác. dựa trên thực trạng thị

trường bảo hiểm tin dụng xuất khẩu của Việt Nam tác giả đề xuất một sổ giải pháp

và kiến nghị nhằm phát triển thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Việt Nam.

Ngoài ra, việc hiểu được những điểm mạnh cũng như điểm yếu còn tôn tại như đã

phân tích ờ trên ảnh hường như thế nào đến sự phát triển lâu dài của hoạt động bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu là thành công bước đầu. nhưng khó khăn hơn là việc khấc

phục những yếu điểm trên, vận dụng mọi cơ hội để xây dựng được một mô hình bảo

hiểm tín dụng xuất khẩu sao cho đửng bộ và hiệu quả nhất, phù hợp với nền kinh tế

hoạt động theo cơ chế thị trường hiện nay. Điều này đòi hỏi Việt Nam cần có sự

chuẩn bị kỹ càng với những định hướng, giải pháp đúng đan cũng như sự phối hợp

chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, hiệp hội và chinh phù.

Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là một loại hình bảo hiểm còn rất mới mẻ đối với

Việt Nam nên việc xây dụng và phát triển thị trường này tại Việt Nam sẽ còn eặp

rất nhiều khó khăn cả về nguửn lực tài chính cũng như nhân lực. Chính vì vậy cần

79

phải có sự nỗ lực và sự hợp tác từ phía Chính phù, các công ty xuất khẩu và các tổ

chức cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Các tổ chức cung cấp bào hiểm tín

dụng xuất khẩu phải nắm rõ cách thức tiến hành hoạt động bảo hiểm này và có sự

đâu tư, chuẩn bị nhất định về nguồn lực tài chính cũng như nhân lực để cung cấp tệt

nhất loại hình dịch vụ này và đáp ứng nhu cầu của các công ty xuất khẩu. Còn về

phía Chính phủ thì cần phải ban hành các chính sách hợp lý và tổ chức quản lý hoạt

động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu một cách hiệu quả. Vì Việt Nam còn đang trong

giai đoạn ban đầu tiến hành phát triển loại hình bảo hiểm này nên cần phải có sự hỗ

trợ rất lớn từ phía Chính phủ. Và vì vậy Chính phủ đóng vai trò chủ đạo trong việc

quản lý và tiến hành hoạt động bảo hiểm này. Tuy nhiên, sự can thiệp của Chính

phù phải hợp lý không can thiệp quá sâu để tránh tình trạng độc quyền hoặc làm

mất tính cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hoặc dẫn đến tình

trạng phụ thuộc quá nhiều vào Chính phủ. Đệi với các công ty xuất khẩu thì cần

phải nhận thức được vai trò quan trọng của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và từ đó

tiến hành mua loại hình bảo hiểm này trên cơ sở đưa mức phí bảo hiểm vào giá

thành mặt hàng xuất khẩu.

Trên đây là những nghiên cứu phân tích nhàm đưa ra các nhận định, đánh giá

để xây dựng một cơ sờ lý thuyết vững chắc cho sự phát triển hệ thệng bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu của Việt Nam trong tương lai.

80

DANH M ÚC TÀI LIÊU THAM KHẢO

ì. DANH MỤC TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

1. G S . N G Ư T. Đinh Xuân Trình: "Giáo trình Thanh toán quốc tế", N XB Lao

động xã hội;

2. Hồ Thị Thu Ánh: "Tín dụng và thanh toán quốc tế", N XB Lao động xã hội

12/2007);

3. PGS.TS Nguyễn Văn Tiến: "Giáo trình Tài chính quốc tế", Xuất bản lần thứ

3, N XB Thống Kê.

li. DANH MỤC TÀI LIỆU TIẾNG ANH

4. Anders Grath: "The Handbook of International Trade and Finance", sách điện

tử (ebook) từ mạng Internet;

5. B ùn Edward: "Credit Management Hanđbook""(2004);

6. Trade Finance Guide: "A Quick Reference for u.s. Exporters'', 2008 edition -

Chapter 8 "Export Credit Insurance";

7. Export Import Bank - Exim Bank: "Annual Report 2009", XVashington, 2010

8. Atradius: "Annual Report 2009";

9. SINOSURE: -'Annual Report 2009";

10. Fernando Augusto Coimbra Gomes: "Export Credit Insurance", a paper of an

Brazilian in Geogre XVashington University, Spring 2004;

l i. Alex Braido: "ISRAEL"S EXPORT CREDIT INSURANCE MARKET",

August 2001;

12. Bert Zandvliet: "Export Credit Insurance*\ a report of MũnchenerRữck,

MunichReGroup. Germany, 2002;

13. Dr.KJ.Alsem and Drs.J.Antufjew: "Insurabilityofexportcreditrisks :". S ÒM

Research Report 03F07. February 2003;

81

14. Sebastian Schich, "The level and volatility of external financial positions and

the cost of export credit insurance", UNCTD Discussion Paper No 09,

September 1993.

HI. DANH MỤC \VEBSITE THAM KHẢO

15. www.agro.gov

16. www.vneconomy.vn

17. www.vietnamnet.vn

18. www.thegioisaigontime.vn

19. www.vnbusinessnews.com

20. www.sggp.org.vn

21. www.doisongphapluat.com.vn

22. www.icb.com.vn

23. www.sbce.com.br

24. www.imf.org

25. www.iadb.org

26. www.exim.gov

27. www.irb-brasilre.com.br

28. www.vietbao.vn

29. www.vietship.vn

30. www.eur-lex.europa.eu

31. www.aaa.com.vn

32. www.america.gov

33. www.webbaohiem.vn

82

P HỤ L ỤC

B Ả NG C ÂU H ỎI K H ẢO S ÁT

Phần 1. Thông tin doanh nghiệp/công ty

Tên công ty/doanh nghiệp

Năm thành lập của doanh nghiệp/công ty:

Số lượng cơ sở, chi nhánh của doanh nghiệp

Loại hình kinh doanh cùa doanh nghiệp/công ty:

Ngân hàng

Công ty bảo hiểm

Công ty xuất nhập khẩu

Khác

Phần 2: Thông tin dành cho Doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Ì. Doanh thu của doanh nghiệp chù yếu phụ thuộc vào hoạt động nào:

Xuất khẩu

Nhập khẩu

2. Doanh nghiệp tự đánh giá tình hình doanh thu thu được từ hoạt động xuất khẩu

của doanh nghiệp từ năm 2006 đến nay

Tăng trường mạnh

Có tăng trường nhưng vịi tốc độ chậm

Giảm mạnh

Đang trên đà giám dần

Ổn định

Khác

3. Nguyên nhân chủ yếu khiến cho tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp gặp khó

khăn

Năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn hạn chế

Các mặt hàng xuất khẩu của doanh nghiệp chất lượng còn thấp,

không có tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Các rủi ro trong quá trình giao dịch thương mại với đối tác nước

ngoài (rủi ro thanh toán, rủi ro tỷ giá..)

Các biến động bất lợi của nền kinh tế thế giới

Tình hình chính trị và môi trường kinh doanh không ổn định của

thị trường xuất khẩu

Khác (xin ghi rõ cử thể: )

4. Doanh nghiệp có tham gia mua bảo hiểm cho các khoản tín dửng hoặc hàng

hoa cấp cho nhà nhập khẩu không?

Không

5. Doanh nghiệp đã tùng biết đến loại hình bảo hiểm tín dửng xuất khẩu chưa?

Có biết đến và đã sử dửng nhiều lần

Có nghe nói đến nhưng chưa sử dửng lân nào

Chưa hề nghe nói đến

6. Doanh nghiệp có mong muốn trong thời gian tới sẽ có một công cử hồ trợ

doanh nghiệp trong việc phòng ngừa các rủi ro phát sinh từ quá trình giao dịch

ngoại thương hay không?

Không

7. Trong tương lai, nếu thị trường bảo hiểm tín dửng xuất khẩu được mờ rộng với

những quy định rõ ràng về cách thức hoạt động cử thể và được coi là công cử

hỗ trợ chù yếu cho các doanh nghiệp xuất khâu thì doanh nghiệp kỳ vọng gì ờ

loại hình bào hiểm này (Hãy đánh so từ 1-4 với mức độ kỳ vọng tăng dân)

Mức phí bảo hiểm (cơ chế tính phí)

Tỷ lệ bảo hiểm hay cơ chế bồi thường

Kỳ hạn bảo hiểm

Rủi ro được bảo hiểm

Phần 3: Thông tin dành cho các Ngân hàng

Khác (xin ghi rõ cụ thể: )

Ì. Hình thức tín dụng hỗ trợ xuất khẩu chủ yếu của Ngân hàng:

Cho vay dọ án đầu tư phục vụ xuất khẩu

Cho vay tín dụng xuất khẩu (ghi rõ thời hạn: ngắn hạn, trung hạn

hay dài hạn: )

Bảo lãnh vay vốn tín dụng xuất khẩu

Bào lãnh dọ thầu và bảo lãnh thọc hiện hợp đồng

Khác (xin ghi rõ cụ thể: )

2. Tỷ trọng doanh thu của Ngân hàng từ hoạt động cho vay tín dụng xuất khẩu

trung và dài hạn tính trên tồng doanh thu hàng năm từ các hoạt động khác từ

Thấp

năm 2006 đến nay Cao

Trung bình

3. Doanh nghiệp tọ đánh giá tình hình, tốc độ tăng trường doanh thu thu được từ

hoạt động cho vay túi dụng xuất khẩu trung và dài hạn từ năm 2006 đến nay:

Tăng trưởng mạnh

Có tăng trường nhưng với tốc độ chậm

Giảm mạnh

Đang trên đà giảm dần

Ồn định

Khác

4. Tình hình tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng từ hoạt động cho vay tín dụng xuất

khẩu trung và dài hạn từ năm 2006 đến nay

Tăng mạnh

Có xu hướng tăng đều

Giảm mạnh

Có xu hướng giảm dần

Ồn định

Khác

5. Nguyên nhân chù yếu làm tăng tỳ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng từ hoạt động

cho vay tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn từ năm 2006 đến nay

Các doanh nghiệp mà ngân hàng cấp tín dụng không có khả năng

trả nợ đúng hạn do kinh doanh kém hiệu quả

Lãi suất Ngân hàng cho vay cao

Dịch vụ Ngân hàng cung cấp chất lượng còn thấp

Năng lỗc tài chính và kỹ năng quản lý các khoản vay của Ngân

hàng còn kém hiệu quả

Khác (xin ghi rõ cụ thể: )

6. Ngân hàng có tham gia mua bào hiểm cho các khoản tín dụng cấp đề hỗ trợ các

doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu không?

Không

7. Ngân hàng đã từng biết đến loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chưa?

Có biết đến và đã sử dụng nhiều lần

Có nghe nói đến nhưng chưa sử dụng lần nào

Chưa hề nghe nói đến

8. Ngân hàng có mong muốn ương thời gian tới sẽ có một công cụ hỗ trợ Ngân

hàng trong việc phòng ngừa các rủi ro phát sinh từ quá trình giao dịch ngoại

thương đồng thời làm giảm tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng hay không?

Không

9. Trong tương lai, nếu thị trường bào hiểm tín dụng xuất khẩu được mớ rộng với

những quy định rõ ràng về cách thức hoạt động cụ thể và được coi là công cụ

hỗ trợ chủ yếu cho các doanh nghiệp xuất khẩu thì doanh nghiệp kỳ vống gì ở

loại hình bảo hiểm này (Hãy đánh số từ Ì - 4 với mức độ kỳ vống tăng dần)

Mức phí bảo hiểm (cơ chế tính phí)

Tỷ lệ bảo hiểm hay cơ chế bồi thường

Kỳ hạn bảo hiểm

Rủi ro được bảo hiểm

Phần 4: Thông tin dành cho các Công ty bảo hiếm

Khác (xin ghi rõ cụ thể: )

Ì. Loại hình bảo hiểm chủ yếu mà Công ty cung cấp:

Bảo hiểm nhân thố

Bảo hiểm hàng hoa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường

sông, đường sắt và đường không;

Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại

Bảo hiểm túi dụng và rủi ro tài chính

Khác (xin ghi rõ cụ thề: )

2. Tý trống doanh thu của Công ty từ loại hình bão hiểm tín dụng và rủi ro tài

chính tổng doanh thu hàng năm từ các loại hình bào hiểm khác từ năm 2006

Thấp

đến nay Cao

Trung bình

3. Công ty đã từng biết đến loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chưa?

Có biết đến và đã đưa vào danh mục các loại hình bảo hiểm của

Công ty cung cấp

Có nghe nói đến nhưng chưa đưa vào danh mục các loại hình bảo

hiểm Công ty cung cấp

Chưa hề nghe nói đến

4. Ngân hàng có mong muốn mở rộng phạm vi các loại hình bảo hiểm để đa dạng

hoa danh mục sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng bàng cách tham

gia vào hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu- một công cụ hỗ trợ các doanh

nghiệp xuất khẩu và ngân hàng cho vay tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn

trong việc phòng ngừa các rủi ro phát sinh từ quá trình giao dịch ngoại thương

trong thời gian tửi hay không?

Không

5. Trong tương lai, nếu thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được mờ rộng vửi

những quy định rõ ràng về cách thức hoạt động cụ thề và được coi là công cụ

hỗ trợ chủ yếu cho các doanh nghiệp xuất khẩu và các ngân hàng cho vay tín

dụng xuất khẩu thì chiến lược mà Công ty sẽ áp dụng để thu hút được khách

hàng sử dụng loại hình bảo hiểm này sẽ tập trung vào: (Hãy đánh số từ 1-4 vửi

mức độ kỳ vọng tăng dần)

Mức phí bào hiềm (cơ chế tính phí)

Tỷ lệ bảo hiểm hay cơ chế bồi thường

Kỳ hạn bảo hiểm

Rủi ro được bảo hiểm

Khác (xin ghi rõ cụ thể: )

Xin chân thành cám ôn quý Công ty vì đã giành thời gian giúp em hoàn

thành bản khảo sát này.