BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

GIẢI PHÁP TĂNG LỢI NHUẬN

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VINAFACADE

SINH VIÊN THỰC HIỆN

: ĐẶNG TRÀ MY

MÃ SINH VIÊN

: A16259

CHUYÊN NGÀNH

: TÀI CHÍNH–NGÂN HÀNG

HÀ NỘI – 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

GIẢI PHÁP TĂNG LỢI NHUẬN

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VINAFACADE

Giáo viên hƣớng dẫn

: PGS.Ts Lƣu Thị Hƣơng

Sinh viên thực hiện

: Đặng Trà My

Mã sinh viên

: A16259

Chuyên ngành

: Tài chính – Ngân hàng

HÀ NỘI – 2013

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi Thầy Cô ở trường Đại học Thăng Long

đã truyền đạt hết tâm huyết cho chúng em vốn kiến thức quý báu trong suốt thời gian

học tập tại trường. Và điều đặc biệt trong học kỳ này, em được cô giáo Lưu Thị Hương

hướng dẫn khóa luận. Cô là giáo viên đã có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy cùng

với nhiều đề tài nghiên cứu đã giúp em hiểu sâu hơn về vấn đề khoa học này.

Em xin chân thành cảm ơn PGS.Ts Lưu Thị Hương đã tận tâm hướng dẫn chúng

em qua từng buổi nói chuyện, thảo luận về lĩnh vực tài chính trong nghiên cứu. Nhờ có

những lời hướng dẫn, dạy bảo của cô mà em mới có thể hoàn thành được khóa luận

này. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn cô.

Do thời gian chuẩn bị không nhiều và giới hạn về kiến thức, khả năng phân tích

lý luận của bản thân còn nhiều thiếu xót, em kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của

thầy cô để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn.

Em xin chân thành cảm ơn cô!

Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2013

Sinh viên

Đặng Trà My

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

CHƢƠNG 1. NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN CỦA

DOANH NGHIỆP ......................................................................................................... 1

1.1. Tầm quan trọng của lợi nhuận trong doanh nghiệp ....................................... 1

1.1.1. Khái niệm về lợi nhuận ....................................................................................... 1

1.1.2. Cấu thành lợi nhuận của doanh nghiệp ............................................................ 2

1.1.2.1. Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh ................................. 2

1.1.2.2. Lợi nhuận khác ................................................................................................. 2

1.1.3. Tầm quan trọng của lợi nhuận đối với doanh nghiệp ....................................... 3

1.1.3.1. Lợi nhuận đối với doanh nghiệp ...................................................................... 3

1.1.3.2. Lợi nhuận đối với người lao động .................................................................... 4

1.1.3.3. Lợi nhuận đối với Nhà nước ............................................................................. 4

1.2. Xác định lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận với doanh nghiệp ............................ 5

1.2.1. Xác định lợi nhuận .............................................................................................. 5

1.2.1.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh ................................................. 5

1.2.1.2. Lơi nhuận khác ............................................................................................... 10

1.2.2. Tỷ suất lợi nhuận đối với doanh nghiệp ........................................................... 11

1.2.2.1. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) ....................................................... 11

1.2.2.2. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) .............................................. 11

1.2.2.3. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) ..................................................... 12

1.2.2.4. Tỷ suất lợi nhuận giá thành ............................................................................ 13

1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp .............................. 13

1.3.1. Các nhân tố chủ quan ....................................................................................... 13

1.3.1.1. Quy mô của doanh nghiệp .............................................................................. 13

1.3.1.2. Chiều hướng phát triển ngành nghề của doanh nghiệp ............................... 14

1.3.1.3. Trình độ của cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật ........................... 15

1.3.1.4. Năng lực quản lý của doanh nghiệp .............................................................. 16

1.3.2. Các nhân tố khách quan ................................................................................... 17

1.3.2.1. Quy mô cơ cấu, thu nhập của dân cư và tập quán tiêu dùng ....................... 17

1.3.2.2. Thị trường các yếu tố đầu vào ........................................................................ 17

1.3.2.3. Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ........................................................ 18

1.3.2.4. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ ............................................ 19

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

VINAFACADE ........................................................................................................... 20

2.1. Khái quát chung về công ty cổ phần VinaFacade ......................................... 20

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần VinaFacade .......... 20

2.1.2. Ngành nghề kinh doanh của công ty Cổ phần VinaFacade ........................... 21

2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Cổ phần VinaFacade ................ 23

2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức của công ty được khái quát qua sơ đồ dưới đây: ................. 23

2.1.3.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban ....................................................... 24

2.1.4. Quy trình hoạt động thi công công trình của Công ty Cổ phần VinaFacade. 26

2.1.4.1. Đặc điểm hoạt động thi công của công ty ...................................................... 26

2.1.4.2. Mô tả một quy trình cụ thể: Quy trình thiết kế sản phẩm: ............................ 27

2.2. Thực trạng lợi nhuận của công ty Cổ phần VinaFacade .............................. 29

2.2.1. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần VinaFacade ............. 29

2.2.1.1. Cơ cấu Tài sản – Vốn ...................................................................................... 29

2.2.1.2. Phân tích một số chỉ tiêu tài chính căn bản của Công ty Cổ phần

VinaFacade ................................................................................................................... 34

2.2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ........................................................ 44

2.2.2. Thực trạng lợi nhuận tại công ty Cổ phần VinaFacade .................................. 45

2.2.2.1. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn

2010 – 2012 ................................................................................................................... 45

2.2.2.2. Thực trạng lợi nhuận từ hoạt động tài chính ................................................ 49

2.2.2.3. Thực trạng lợi nhuận từ hoạt động khác ....................................................... 50

2.3. Đánh giá thực trạng lợi nhuận tại công ty Cổ phần VinaFacade ................ 51

2.3.1. Những kết quả đạt được .................................................................................... 51

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân .................................................................................. 52

2.3.2.1. Hạn chế ............................................................................................................ 52

2.3.2.2. Nguyên nhân ................................................................................................... 53

CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP TĂNG LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

VINAFACADE ............................................................................................................ 54

3.1. Định hƣớng phát triển của công ty ................................................................. 54

3.2. Giải pháp tăng lợi nhuận của công ty Cổ phần VinaFacade ........................ 56

3.2.1. Các giải pháp tăng doanh thu ........................................................................... 56

3.2.1.1. Đầu tư nâng cao chất lượng công trình ......................................................... 57

3.2.1.2. Đẩy nhanh tiến độ thi công công trình .......................................................... 58

3.2.1.3. Giải pháp về cơ cấu sản xuất kinh doanh ...................................................... 58

3.2.1.4. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tổ chức khai thác vốn từ các nguồn

khác nhau..................................................................................................................... 59

3.2.1.5. Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tiền ................................................... 60

3.2.2. Các giải pháp giảm chi phí ................................................................................ 60

3.2.2.1. Giải pháp giảm chi phí nguyên vật liệu .......................................................... 60

3.2.2.2. Giải pháp làm giảm chi phí nhân công .......................................................... 61

3.2.2.3. Biện pháp giảm chi phí sản xuất chung ......................................................... 61

3.2.3. Một số giải pháp khác ........................................................................................ 62

3.2.3.1. Phát triển nguồn nhân lực .............................................................................. 62

3.2.3.2. Hoàn thiện bộ máy quản lý công ty ................................................................ 62

3.2.3.3. Mở rộng hình thức liên doanh liên kết .......................................................... 62

3.3. Một số kiến nghị ................................................................................................ 63

3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước .................................................................................... 63

3.3.1.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ........... 63

3.3.1.2. Kiến nghị cho một triển vọng phát triển bền vững của lĩnh vực sản xuất, kinh doanh xây lắp phát triển nhà ở đô thị ................................................................. 64

3.3.2. Kiến nghị với Tổng công ty Viglacera .............................................................. 66

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Bảng cân đối kế toán giai đoạn 2010 – 2012 ....................................... 30

Bảng 2.2: Chỉ tiêu xác định cơ cấu Tài sản – Vốn ............................................... 34

Bảng 2.3: Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán ................................................. 37

Bảng 2.4: Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản .......................................... 40

Bảng 2.5: Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời ...................................................... 41

Bảng 2.6: Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh .................................... 44

Bảng 2.7: Báo cáo kết quả kinh doanh ................................................................. 45

Bảng 2.8: Lợi nhuận từ hoạt động tài chính ......................................................... 49

Bảng 2.9: Lợi nhuận từ hoạt động khác ................................................................ 50

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu Tài sản – Vốn ....................................................................... 29

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ các chỉ tiêu xác định cơ cấu Tài sản – Vốn ........................ 35

Biểu đồ 2.3: Khả năng thanh toán hiện hành ........................................................ 37

Biểu đồ 2.4: Khả năng thanh toán nhanh .............................................................. 38

Biểu đồ 2.5: Khả năng thanh toán tức thời ........................................................... 39

Biểu đồ 2.6: Hiệu suất sử dụng tài sản ................................................................. 40

Biểu đồ 2.7: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu ......................................................... 41

Biểu đồ 2.8: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ...................................................... 42

Biểu đồ 2.9: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ................................................ 43

Biểu đồ 2.10: Lợi nhuận sau thuế của công ty...................................................... 44

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty ................................................................. 23

Sơ đồ 2.2: Quy trình thiết kế, thi công các công trình .......................................... 26

Sơ đồ 2.3: Quy trình thiết kế sản phẩm ................................................................ 28

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

BH Bán hàng

CCDV Cung cấp dịch vụ

CSH Chủ sở hữu

CP Cổ phần

DT Doanh thu

GTGT Giá trị gia tăng

GVHB Giá vốn hàng bán

HĐTC Hoạt động tài chính

HĐQT Hội đồng quản trị

KĐT Khu đô thị

LN Lợi nhuận

SXKD Sản xuất kinh doanh

TC Tài chính

TN Thu nhập

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TTĐB Tiêu thụ đặc biệt

TS Tài sản

TSCĐ Tài sản cố định

TSDH Tài sản dài hạn

TSNH Tài sản ngắn hạn

XK Xuất khẩu

XDCB Xây dựng cơ bản

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để tồn tại và phát triển thì nhất thiết các

doanh nghiệp phải kinh doanh có hiệu quả. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp bỏ

vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi thì mới đem lại lợi nhuận

cho doanh nghiệp. Có lợi nhuận doanh nghiệp mới có thể mở rộng quy mô kinh doanh,

tăng nguồn vốn chủ sở hữu, nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên và khuyến

khích tăng năng suất lao động, đồng thời lợi nhuận sẽ góp phần vào việc tăng Ngân

sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

Chúng ta đang sống trong thời đại của công nghệ thông tin, thế kỷ của toàn cầu

hóa và hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam những cơ

hội và thách thức mới. Các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt với

các doanh nghiệp cùng ngành, đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng tích lũy vốn để

phát triển và mở rộng kinh doanh. Nền kinh tế thế giới biến động phức tạp,vì vậy rất

nhiều công ty bị phá sản do không duy trì được mức lợi nhuận tối thiểu và không có

được những biện pháp thiết thực để xử lý kịp thời. Vì vậy lợi nhuận không những là

vấn đề quan tâm của các công ty mà nó còn ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu.

Công ty Cổ phần VinaFacade cũng không nằm ngoài xu thế đó. Kể từ ngày thành

lập đến nay dưới sự lãnh đạo của Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ công nhân viên,

công ty đã từng bước khắc phục những khó khăn và đạt được những bước tiến nhất

định, trở thành đơn vị hùng mạnh tại khu vực phía Bắc. Bên cạnh những thành tích đạt

được thì công ty còn gặp rất nhiều khó khăn về mặt tài chính, vì vậy, mục tiêu trước

mắt là tăng lợi nhuận công ty.

Xuất phát từ ý nghĩa và vai trò quan trọng của lợi nhuận, thông qua quá trình

thực tập tại Công ty Cổ phầnVinaFacade, em đã quyết định chọn đề tài “Giải pháp

tăng lợi nhuận tại công ty Cổ phần VinaFacade Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp

của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

Phân tích, đánh giá thực trạng lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó đề xuất một số

giải pháp làm tăng lợi nhuận của công ty Cổ phần VinaFacade.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về lợi nhuận của doanh nghiệp.

- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng lợi nhuận của công ty Cổ phần VinaFacade

giai đoạn 2010 – 2012. Từ đó, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để tăng

lợi nhuận của công ty Cổ phần VinaFacade.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của khóa luận là phương pháp phân tích, tổng

hợp, khái quát dựa trên những số liệu mà công ty cung cấp.

5. Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văngồm 3 chương:

Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về lợi nhuận của doanh nghiệp.

Chƣơng 2: Thực trạng lợi nhuận của công ty Cổ phần VinaFacade.

Chƣơng 3: Giải pháp tăng lợi nhuận của công ty Cổ phần VinaFacade.

CHƢƠNG 1. NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN CỦA

DOANH NGHIỆP

1.1. Tầm quan trọng của lợi nhuận trong doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm về lợi nhuận

Dù là loại hình doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường cũng đều phải quy

định cho mình những mục tiêu hoạt động và lấy đó làm đích để hướng tới. Trong đó mục tiêu thiết thực nhất, tổng quát nhất là mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận vì mục tiêu

này đã xem xét đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dưới góc độ thời

gian, rủi ro và nhiều yếu tố khác. Về lý luận cũng như thực tiễn các doanh nghiệp luôn

quan tâm tới nhân tố lợi nhuận và tìm mọi biện pháp để gia tăng lợi nhuận, coi đây là

nhân tố hàng đầu. Vậy lợi nhuận là gì? Tại sao nó lại được các doanh nghiệp quan tâm

đế vậy? Các quan điểm của các nhà kinh tế học dưới đây sẽ giúp chúng ta trả lời phần

nào về câu hỏi trên.

Kế thừa những gì tinh túy nhất của những nhà kinh tế học cổ điển kết hợp với

việc nghiên cứu sâu sắc nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là nhờ có lý luận vô

giá về giá trị thặng dư được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng ra mang hình

thái biến tướng là lợi nhuận.

Theo C.Mác thì “Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị của

hàng hóa, trong đó lao động thặng dư hay lao động không được trả công của công nhân đã được vật hóa thìgội là lợi nhuận”.

Còn theo các nhà kinh tế học hiện đại như P.A Samuelson và W.DNordhaus lại

quan niệm “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra, bằng tổng doanh thu trừ đi tổng

chi phí” hay cụ thể hơn “Lợi nhuận được định nghĩa là khoản chênh lệch giữa doanh

thu và chi phí của một doanh nghiệp”. Theo David Begg, Stanley Fisher và Busch thì

“Lợi nhuận là lượng dôi ra của doanh thu so với chi phí”.

Tóm lại: Lợi nhuận là số thu dôi ra của doanh thu so với chi phí bỏ ra; Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt

động tài chính, hoạt động khác mang lại; Là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp.

Như vậy, để xác định lợi nhuận thu được trong một kỳ nhất định, phải căn cứ vào

hai yếu tố sau:

- Doanh thu phát sinh trong một kỳ nhất định.

- Chi phí phát sinh nhằm đem lại thu nhập trong thời kỳ đó. Nói cách khác, chỉ những chi phí phân bổ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đã thực hiện

1

trong kỳ

Công thức chung để xác định lợi nhuận:

Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí

1.1.2. Cấu thành lợi nhuận của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, với cơ chế hạch toán kinh doanh, phạm vi kinh

doanh của doanh nghiệp được mở rộng, doanh nghiệp có thể đầu tư vào nhiều hoạt

động thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Do vậy lợi nhuận của doanh nghiệp cũng đa dạng theo phương thức đầu tư.

1.1.2.1. Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là hoạt động đầu tư vốn nhằm tìm kiếm

lợi nhuận theo những mục tiêu được xác định sẵn, bao gồm hai hoạt động sau:

- Hoạt động kinh doanh hàng hóa và dịch vụ. Đây là hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp thương mại dịch vụ nhằm đưa hàng hóa từ sản xuất vào tiêu

dung. Hoạt động này thường tạo ra lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp thương mại.

- Hoạt động tài chính: Ngoài các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể tham gia vào hoạt động đầu tư tài chính. Hoạt động đầu tư tài

chính là hoạt động đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp như: góp vốn liên

doanh liên kết kinh tế, mua bán trái phiếu, cổ phiếu, cho thuê tài sản, lãi tiền

gửi và lãi cho vay thuộc nguồn vốn kinh doanh… Các khoản lợi nhuận thu

được từ hoạt động này góp phần làm tăng tổng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tài chính là một hoạt động

chính, ổn định, thường xuyên mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đó hoạt động

tài chính là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.2.2. Lợi nhuận khác

Đó là các khoản lãi thu được từ các hoạt động, nghiệp vụ riêng biệt nằm bên

ngoài hoạt động nêu trên, những khoản lãi này phát sinh không thường xuyên (hay còn gọi là bất thường). Doanh nghiệp không dự kiến trước hoặc có dự kiến trước nhưng ít

có khả năng thực hiện. Lợi nhuận này thường gồm: thu từ các khoản phải trả không xác định được chủ nợ, thu hồi các khoản nợ khó đòi đã được duyệt bỏ, khoản thu bán vật tư, tài sản thừa sau khi đã bù trừ hao hụt, mất mát, lãi thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, tiền phạt, tiền bồi thường….

2

Lợi nhuận khác Chi phí khác = Doanh thu khác -

Việc xem xét kết cấu lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng, cho ta thấy được các hoạt động tạo ra lợi nhuận, từ đó đánh giá kết quả từng hoạt động đề ra quyết định thích

hợp nhằm lựa chọn đúng hướng đầu tư vốn của doanh nghiệp mang lại nhiều hiệu quả

hơn.

Như vậy:

= + Lợi nhuận khác Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận hoạt động SXKD

1.1.3. Tầm quan trọng của lợi nhuận đối với doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường gồm có nhiều cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó hoạt động sản xuất kinh doanh đóng vai trò chính

tạo nên sự phát triển chung cho nền kinh tế đất nước, sự tồn tại và phát triển của các

doanh nghiệp cũng tạo ra nguồn thu cho nhà nước, cho người lao động. Vì vậy lợi

nhuận của doanh nghiệp cũng có vai trò với nhà nước và người lao động.

1.1.3.1. Lợi nhuận đối với doanh nghiệp

- Lợi nhuận vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tùy theo mỗi giai đoạn biến đổi của nền kinh tế thị

trường mà doanh nghiệp đặt ra các mục tiêu, chiến lược khác nhau. Nhưng

cuối cùng các mục tiêu, chiến lược đó cũng chỉ phục vụ cho mục đích tạo ra

lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Nền kinh tế thị trường được vận hành trong khuôn khổ những quy định chung

của pháp luật, tự hạch toán lấy thu bù chi, lỗ chịu lãi hưởng. Vì vậy lợi nhuận còn là

động lực, là điều kiện tồn tại của doanh nghiệp. Nếu không có lợi nhuận, doanh nghiệp

sẽ không có vốn để tổ chức hoạt động kinh doanh của mình nhằm thực hiện việc tối

đa hóa lợi nhuận. Cũng chính vì lợi nhuận mà các doanh nghiệp không ngừng mở rộng

quy mô và tăng cường năng suất, chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp

ứng nhu cầu thị trường, chiếm ưu thế so với các doanh nghiệp cạnh tranh cùng ngành.

- Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, tác động đến mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến nguồn vốn kinh doanh và tình hình tài chính.

3

Khi doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thu lợi nhuận, cho thấy doanh nghiệp bảo toàn được nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, thậm chí là dư giả. Trong điều kiện thị trường cạnh tranh khốc liệt thì vốn có ý nghĩa rất quan trọng, cho phép doanh nghiệp thực hiện các dự án, thực hiện đầu tư nghiên cứu đổi mới và cải thiện công nghệ, máy móc, giúp nâng cao uy tín công ty trong môi trường cạnh tranh. Như vậy lợi

nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp vững chắc.

- Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng để thực hiện tái sản xuất mở rộng quy

mô kinh doanh, bù đắp thiệt hại trong rủi ro kinh doanh.

Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thu được một khoản lợi

nhuận nhất định, một phần lợi nhuận giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất. Nhờ có vốn bổ sung thêm từ lợi nhuận mà doanh nghiệp mới chủ động trong việc đầu

tư phát triển kinh doanh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đầu tư mua sắm máy móc thiết

bị mới, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh, tăng mức vốn lưu động. Từ

đó tăng năng suất lao động, tăng khối lượng sản xuất, nâng cao chất lượng và đa dạng

hóa sản phẩm, phục vụ tối đa nhu cầu của người tiêu dùng và chiếm lĩnh thị phần trên

thị trường. Đối với các doanh nghiệp thương mại nhờ có thêm vốn doanh nghiệp sẽ

mở rộng thêm mạng lưới tiêu thụ, tăng khối lượng luân chuyển, đa dạng chủng loại

hàng hóa kinh doanh, nhờ vậy mà quy mô kinh doanh tăng lên. Doanh nghiệp cólợi

nhuận cao càng khẳng định vị thế của doanh nghiệp trên thương trường.

1.1.3.2. Lợi nhuận đối với người lao động

Đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thì lợi nhuận gắn liền và

ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ, với họ lợi nhuận giúp cải thiện đời sống, tăng

lợi ích kinh tế của họ. Khi người lao động được trả lương thỏa đáng, họ sẽ yên tâm lao động, phát huy được tinh thần lao động sáng tạo, có trách nhiệm và tinh thần hết lòng

vì công việc. Như vậy sẽ tăng được năng suất lao động chung của người lao động

trong công ty, đưa hoạt động của công ty vào ổn định và ngày một tốt hơn.

1.1.3.3. Lợi nhuận đối với Nhà nước

Lợi nhuận góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách cho Nhà nước, nâng cao phúc

lợi xã hội. Các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế đều đóng

góp đáng kể vào nguồn thu Ngân sách cho Nhà nước, thông qua việc thực hiện nghĩa

vụ nộp các khoản thuế vào Ngân sách Nhà nước: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt,…

Lợi nhuận là động lực phát triển nền kinh tế quốc dân. Thông qua việc doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước, Nhà nước thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế quốc dân, thực hiện công bằng xã hội. Hơn nữa, lợi nhuận là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất mở rộng nền kinh tế quốc dân, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, thành lập, cải tạo, mở rộng cơ sở sản

4

xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao dân trí, xây dựng xã hội công bằng văn minh hiện đại.

Lợi nhuận là một trong những thước đo phản ánh tính hiệu quả của các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp. Chính sách vĩ mô của Nhà nước đúng đắn và thông thoáng sẽ tạo điều kiện

thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển tốt hơn, do đó sẽ cho

phép doanh nghiệp nâng cao được lợi nhuận hoạt động của mình. Ngược lại, nếu chính

sách vĩ mô không phù hợp, tác động tiêu cực tới hoạt động của doanh nghiệp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp, ảnh hưởng xấu tới lợi nhuận mà doanh

nghiệp đạt được.

1.2. Xác định lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận với doanh nghiệp

1.2.1. Xác định lợi nhuận

1.2.1.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh

= - Lợi nhuận hoạt động SXKD Doanh thu từ hoạt động SXKD Chi phí của hoạt động SXKD

a. Doanh thu từ hoạt động SXKD

Doanh thu thuần từ

= + Doanh thu từ hoạt động SXKD Doanh thu từ hoạt động tài chính hoạt động bán hàng và cung cấo dịch vụ

* ) Doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng và CCDV:

= - - - -

DT bán bị trả lại DT thuần từ hoạt động bán hàng và CCDV Chiết khấu thương mại Giảm giá hàng bán DT bán hàng và CCDV trong kỳ Thuế TTĐB, thuế XK, thuế GTGT tính theo pp trực tiếp

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền phải thu phát sinh trong kỳ từ việc bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và chi phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có)

Theo chuẩn mực kế toán số 14: Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ phát sinh từ các hoạt động SXKD thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.

Các tiêu chuẩn ghi nhận DT: Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời

thỏa mãn 5 điều kiện sau:

- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở

5

hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.

- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu

hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

- Doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được lợi ích từ giao dịch bán hàng.

- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán có thể thấp hơn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ghi nhận ban

đầu do các nguyên nhân: Doanh nghiệp chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán,

hàng bán bị trả lại (do không đảm bảo về quy cách, phẩm chất hàng hóa ghi trong hợp

đồng) và doanh nghiệp phải nộp thuế TTĐB hoặc thuế XK, thuế GTGT tính theo

phương pháp trực tiếp được tính trên doanh thu bán hàng và CCDV thực tế mà doanh

nghiệp đã thực hiện trong kỳ kế toán.

Theo chuẩn mực kế toán số 14:

- Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá cho khách hàng khi mua với số lượng lớn để đẩy nhanh việc tiêu thụ hàng hóa, thu hồi vốn

nhanh.

- Giảm giá hàng bán: là khoản tiền mà doanh nghiệp chấp nhận giảm giá cho người mua trong trường hợp hàng kém phẩm chất hoặc sai quy cách phẩm

chất theo hợp đồng, bên mua đề nghị giảm giá. Nếu hàng bán bị giảm giá nhiều thì làm cho doanh thu thuần của doanh nghiệp bị giảm và dẫn tới làm

cho tổng lợi nhuận của doanh nghiệp giảm theo.

- Giá trị hàng bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng hóa xác định là đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán do chất lượng hàng kém hoặc sai quy

cách, phẩm chất như đã thỏa thuận trong hợp đồng…

- Thuế gián thu ở khâu tiêu thụ: tùy thuộc vào ngành hàng và lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp chịu thuế gián thu khác nhau. Thuế gián thu ở khâu

+ Thuế xuất khẩu + Thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) + Thuế GTGT đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ đối với các doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

tiêu thụ bao gồm:

*) Doanh thu hoạt động tài chính

6

Doanh thu từ hoạt động tài chính bao gồm:

- Tiền lãi từ việc cho vay vốn, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, trả góp lãi cho

thuê tài chính.

- Các khoản thu phát sinh từ tiền bản quyền, cho các bên khác sử dụng tài sản của công ty như bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại, phần mềm máy tính,...

- Cổ tức lợi nhuận được chia từ hoạt động liên doanh, liên kết hoặc cổ tức đầu

tư cổ phiếu.

- Thu nhập do chuyển nhượng hoặc cho thuê cơ sở hạ tầng.

- Các khoản lãi tỷ giá hối đoái, chênh lệch do bán ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá

ngoại tệ, chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn.

- Các khoản doanh thu từ hoạt động tài chính khác:

- Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia

+ Có khi thu nhập được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó + Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

+ Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia ghi

của doanh nghiệp được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện:

nhận trên cơ sở:

 Tiền lãi được ghi nhận trên cơ sở thời gian và lãi thực tế từng kỳ.

 Tiền bản quyền được ghi nhận trên cơ sở dồn tích phù hợp với hoạt

động.

 Cổ tức và lợi nhuận được chia ghi nhận khi cổ đông có quyền nhân cổ tức hoặc các bên tham gia góp vốn được quyền nhận lợi nhuận từ việc

góp vốn.

b. Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh

= + + + Giá vốn hàng bán Chi phí bán hàng Chi phí quản lý Chi phí tài chính Chi phí hoạt động SXKD

- Giá vốn hàng bán: là mức chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ cấu thành nên

thành phẩm, hàng hóa. Ngoài ra, trong giá vốn hàng bán còn bao gồm tất cả các khoản chênh lệch giữa dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối niên độ kế toán năm nay lớn hơn so với năm trước, các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi đã trừ phần bồi thường do cá nhân gây ra, và chi phí sản xuất chung phân bổ, được ghi

7

nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Trường hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập ở cuối niên độ kế toán năm nay nhỏ hơn năm trước thì số chênh lệch lớn hơn phải được ghi giảm giá vốn hàng bán.

+ Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì trị giá vốn hàng bán là giá thành

sản xuất của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, tiêu thụ trong kỳ bao gồm:

 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

 Chi phí nhân công trực tiếp

 Chi phí quản lý phân xưởng

+ Đối với doanh nghiệp thương mại thì trị giá vốn hàng bán là chi phí mua hàng

hóa để tiêu thụ trong kỳ, bao gồm:

 Giá mua của hàng hóa tiêu thụ trong kỳ

 Chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng như: chi phí vận chuyển, bốc

dỡ, chi phí đóng gói… phân bổ cho hàng hóa tiêu thụ trong kỳ.

- Chi phí bán hàng: là chi phí biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao

động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác phát sinh trong quá trình tiêu

thụ hàng hóa.

+ Chi phí nhân viên bán hàng: bao gồm các khoản tiền lương, tiền công phải

Chi phí bán hàng bao gồm:

trả trực tiếp cho nhân viên bán hàng và các khoản trích theo lương theo tỷ lệ

+ Chi phí vật liệu đóng gói: giá trị của các loại vật liệu, bao bì sử dụng trực

quy định của nhân viên bán hàng.

+ Chi phí công cụ, dụng cụ : giá trị phân bổ các loạicông cụ, dụng cụ sử dụng

tiếp cho quá trình bán hàng.

+ Chi phí vận chuyển, bảo quản hàng hóa: là khoản chi phí bỏ ra để bảo quản,

trong quá trình bán hàng như quầy tủ, máy tính cá nhân,…

vận chuyển hàng hóa từ lúc xuất kho tới lúc khách hàng nhận được hàng

+ Chi phí bảo hành: toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình bảo hành sản

hóa.

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ các giá trị dịch vụ mà doanh nghiệp phải trả để phục vụ quá trình bán hàng như tiền thuê nhà, thuê tài sản, các dịch vụ thông tin quảng cáo, tiền điện nước, chi phí cho việc nghiên cứu thị trường,…

+ Chi phí bằng tiền khác: là toàn bộ các chi phí còn lại có liên quan tới quá

phẩm, hàng hóa theo các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng như chi phí sửa chữa, chí phí thay thế linh kiện bị hư hỏng,..

trình bán hàng không nằm trong các yếu tố chi phí ở trên như chi phí hội

8

nghị khách hàng, hàng mẫu tặng khách, chi phí khuyến mại, công tác phí,…

- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là chi phí biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác phát sinh trong

quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và các chi phí khác liên quan đến toàn bộ

doanh nghiệp, chi phí này tương đối ổn định trong các kỳ kinh doanh của doanh

nghiệp.

+ Chi phí nhân viên quản lý: bao gồm các khoản tiền lương, tiền công phải trả

Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm:

trực tiếp cho nhân viên bán hàng và các khoản trích theo lương tỷ lệ quy

+ Chi phí vật liệu dùng trong quản lý: giá trị các loại vật liệu xuất dùng cho

định của nhân viên quản lý doanh nghiệp.

hoạt động quản lý như vật liệu dùng để sửa chữa thay thế các bộ phận hư

hỏng của tài sản sử dụng cho bộ phận quản lý, nhiên liệu sử dụng cho các

+ Chi phí công cụ, dụng cụ: giá trị phân bổ các loại công cụ, dụng cụ sử dụng

phương tiện vận tải dùng cho quản lý,…

+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: giá trị hao mòn của các tài sản cố định sử

cho quản lý như máy tính cá nhân, tủ đựng hồ sơ,…

dụng trong hoạt động quản lý hoặc các tài sản dùng chung cho toàn doanh

nghiệp như khấu hao thiết bị quản lý, nhà cửa, vật kiến trúc sử dụng cho

+ Các khoản thuế, phí, lệ phí phải nộp: bao gồm các khoản thuế như thuế đất,

quản lý hoặc khấu hao tài sản cố định dùng chung cho toàn bộ doanh nghiệp.

+ Chi phí dự phòng: bao gồm các chi phí dự phòng nợ khó đòi, dự phòng nợ

thuế môn bài, các khoản lệ phí cầi đường, lệ phí giao thong,…

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ giá trị các loại dịch vụ mà

phải trả.

doanh nghiệp phải trả để phục vụ quá trình quản lý như tiền thuê nhà, thuê

+ Chi phí bằng tiền khác: là toàn bộ các chi phí còn lại có lien quan tới quá trình bán hàng không nằm trong các yếu tố chi phí ở trên như chi phí đào

tài sản, tiền điện nước, chi phí thu thập thông tin,…

tạo nhân viên, tiền công tác phí, chi phí tiếp khách,…

Về bản chất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp không làm tăng them giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Nó là những chi phí phục vụ gián tiếp cho sản xuất kinh doanh không được tiến hành một cách thường xuyên lien tục. Hai loại

chi phí này được xem là chi phí thời kỳ, chi phí làm giảm trực tiếp lợi nhuận trong kỳ

của doanh nghiệp.

9

- Chi phí tài chính:

Chi phí tài chính là các khoản chi phí đầu tư tài chính ra bên ngoài doanh nghiệp nhằm sử dụng hợp lý các nguồn vốn, tăng them thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh

doanh của doanh nghiệp. Các khoản chi phí tài chính bao gồm các khoản chi phí hoặc

các khoản lỗ liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính, chi phí cho vay và chi phí đi

vay. Chi phí góp vốn liên doanh, các khoản lỗ do chuyển nhượng chứng khoán ngắn

hạn, chi phí giao dịch chứng khoán… dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, lỗ do bán ngoại tệ, lỗ do chênh lệch tỷ giá hối đoái, chiết khấu thanh toán.

1.2.1.2. Lơi nhuận khác

Lợi nhuận khác = Doanh thu khác - Chi phí khác

a. Doanh thu khác:

Doanh thu khác bao gồm:

- Các khoản thu từ việc thanh lý, nhượng bán tài sản cố định.

- Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng.

- Thu tiền bảo hiểm được bồi thường.

- Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ.

- Các khoản thuế được ngân sách nhà nước hoàn trả.

- Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ.

- Thu nhập quà biếu, quà tặng bằng tiền của các tổ chức, cá nhân khác tặng cho

doanh nghiệp.

- Các khoản thu nhập kinh doanh của năm trước bỏ sót hay kế toán quên không

ghi sổ năm nay mới phát hiện ra.

- Các khoản thu khác.

Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đặc thù như Ngân hàng, Bảo

hiểm thì việc xác định doanh thu áp dụng theo quy định của pháp luật điều chỉnh đối

với lĩnh vực này.

Trong tổng số doanh thu của doanh nghiệp thì phần lớn doanh thu được tạo ra khi

doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Thời điểm xác nhận doah thu đối với hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa hoặc xuất hóa đơn bán hàng, còn

đối với dịch vụ đó là thời điểm dịch vụ hoàn thành hoặc xuất hóa đơn bán hàng.

b. Chi phí khác:

Chi phí khác bao gồm:

- Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ.

10

- Giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý, nhượng bán TSCĐ.

- Chênh lệch lỗ do đánh giá lại vật tư, hàng hóa, TSCĐ góp vốn liên doanh, đầu

tư vào công ty liên kết, đầu tư dài hạn khác.

1.2.2. Tỷ suất lợi nhuận đối với doanh nghiệp

Lợi nhuận có vai trò rất quan trọng với doanh nghiệp nhưng không thể coi lợi

nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trước hết lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, đồng thời các nhân tố này tác động lẫn nhau. Như do điều

kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển hàng hóa, điều kiện thị trường tiêu thụ,

thời điểm tiêu thụ khác nhau cũng làm cho lợi nhuận của các doanh nghiệp khác nhau.

Hơn nữa quy mô của các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm hàng hóa và

dịch vụ khác nhau thì lợi nhuận thu được cũng sẽ khác nhau. Ở những doanh nghiệp

lớn có thể công tác quản lý kém nhưng số lợi nhuận thu được vẫn lớn hơn những

doanh nghiệp có quy mô nhỏ nhưng công tác quản lý lại rất tốt. Do vậy để đánh giá

chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp, phải kết hợp chỉ tiêu lợi nhuận với các chỉ

tiêu khác như: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu,

tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản,…

1.2.2.1. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu được xác định bằng cách: lấy lợi nhuận sau thuế

chia cho doanh thu thuần

Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu =

Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này phản ánh số lợi nhuận sau thuế trong 100 đồng doanh thu hay trong

100 đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ thu được bao nhiêu

đồng lợi nhuận sau thuế.

Sự biến động của tỷ suất này phản ánh sự biến động về hiệu quả hay ảnh hưởng

của các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Có thể sử dụng tỷ số này để so sánh với tỷ số của các năm trước hoặc so sánh với các doanh nghiệp khác. Nếu

một doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước, tức là lợi nhuận của doanh nghiệp tăng với tốc độ lớn hơn doanh thu, điều đó chứng tỏ các chiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm,…do doanh nghiệp thực hiện đạt kết quả tốt. Ngược lại, nếu tỷ suất lợi nhuận của năm sau thấp hơn năm trước thì doanh nghiệp cần phải xem xét lại các chiến lược của mình để nâng cáo tỷ suất này.

1.2.2.2. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu được xác định bằng cách: lấy lợi nhuận

11

sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu.

Lợi nhuận sau thuế ROE =

Vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu này cho biết cứ một trăm đồng vốn mà doanh nghiệp bỏ ra thì họ sẽ thu

được bao nhiêu đồng lợi nhuận, tức là nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở

hữu.

Các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm đến chỉ tiêu này, vì đây là khả năng thu nhập mà họ có thể đạt được nếu họ quyết định đầu tư vốn của mình vào doanh nghiệp. Nếu tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp cao và tăng liên tục qua các năm thì doanh nghiệp

có kỳ vọng thu hút được nhiều nhà đầu tư trên thị trường. Vì nhà đầu tư muốn thấy

rằng vốn của họ bỏ ra được sử dụng có hiệu quả, lợi nhuận kỳ vọng cao, nên được

hưởng nhiều cổ tức hơn, giá trị cổ phần của họ trong doanh nghiệp sẽ tăng lên. Đặc

biệt, đối với những doanh nghiệp tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán thì

giá cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ tăng cao, thu hút được nhiều nhà đầu tư trong nước

cũng như các nhà đầu tư nước ngoài. Ngược lại, nếu ROE của doanh nghiệp thấp và

giảm liên tục qua các năm thì doanh nghiệp khó có thể thu hút vốn đầu tư.

1.2.2.3. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản được xác định bằng cách chia lợi nhuận sau

thuế cho tổng tài sản hoặc bằng cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi vay cho tổng tài

sản.

Lợi nhuận sau thuế ROA =

Tổng tài sản

Hay

Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay ROA =

Tổng tài sản

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản cho biết nếu doanh nghiệp đầu tư một trăm đồng vào tài sản cố định và tài sản lưu động thì doanh nghiệp sẽ thu lại được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư khá

tổng hợp. Nên tùy vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp mà chọn lợi nhuận sau thuế

12

hay lợi nhuận trước thuế và lãi vay chia cho tổng tài sản để phân tích.

1.2.2.4. Tỷ suất lợi nhuận giá thành

Tỷ suất lợi nhuận giá thành được xác định bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế

chia cho giá thành của toàn bộ hàng hóa tiêu thụ

Lợi nhuận trước thuế Tỷ suất lợi nhuận giá thành = Giá thành của hàng hóa tiêu thụ

Chỉ tiêu này phản ánh việc bỏ chi phí vào quá trình sản xuất kinh doanh tiêu thụ

trong kỳ có hiệu quả không. Tỷ suất lợi nhuận giá thành cho biết cứ 100 đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Từ đó các nhà quản lý doanh nghiệp có

thể xem xét được việc quản lý chi phí của doanh nghiệp đã tốt hay chưa để đưa tìm

biện pháp quản lý tốt nhất như hạ giá thành để nâng cao hiệu quả kinh doanh.

1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp

1.3.1. Các nhân tố chủ quan

1.3.1.1. Quy mô của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có nguồn vốn lớn. Với nguồn vốn lớn doanh

nghiệp có thể nâng cao lợi nhuận do doanh nghiệp có thể:

- Đầu tư vào máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại.

Việc đổi mới và cải tiến máy móc công nghệ hiện đại cần phải có nguồn vốn lớn

vì máy móc công nghệ hiện đại mới đưa vào thị trường bao giờ giá cũng đắt, đặc biệt

đối với máy móc công nghệ mới, còn đang trong giai đoạn giới thiệu hoặc tăng trưởng

của chu kỳ sống. Những công nghệ này thường chỉ bán được cho số ít các doanh

nghiệp lớn. Tuy nhiên việc đầu tư này là cần thiết vì trong cơ chế thị trường cạnh tranh

gay gắt như hiện nay thì doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu sản phẩm có

chất lượng cao và ưu việt hơn hẳn với những sản phẩm cùng loại. Muốn được như vậy

thì yếu tố máy móc công nghệ là quan trọng và cần thiết hơn cả. Có được như vậy thì

doanh nghiệp cần có nguồn vốn lớn và dồi dào. Việc đầu tư vào máy móc công nghệ

hiện đại mới trên thị trường, tuy chi phí bỏ ra là lớn nhưng sản phẩm sản xuất ra sẽ

chưa có hoặc gặp ít đối thủ cạnh tranh. Vì vậy doanh nghiệp sẽ nhanh chóng tiêu thụ

hàng hóa với giá cao, nhanh chóng thu hồi vốn.

13

Mặt khác, trong thời đại khoa học phát triển nhanh như hiện nay, máy móc công nghệ thường bị lạc hậu nhanh thì việc đổi mới công nghệ là điều cần thiết để sản phẩm làm ra có thể cạnh tranh trên thị trường. Các doanh nghiệp có quy mô lớn thường có ưu thế hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ trong việc đổi mới máy móc công nghệ, điều này ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngoài ra do các doanh nghiệp lớn có thể thu hồi vốn nhanh hơn các doanh nghiệp nhỏ nên vòng đời máy móc công nghệ thu hẹp, họ có thể đầu tư vào các loại máy móc công nghệ có tính năng ưu

việt hơn còn máy móc công nghệ cũ thì họ có thể chuyển giao cho các doanh nghiệp nhỏ chưa có cơ hội đổi mới và do vậy một lần nữa sản phẩm của họ sản xuất ra lại

chiếm lĩnh thị trường.

- Linh hoạt trong kinh doanh, nắm bắt các cơ hội kịp thời.

Môi trường kinh doanh ngày nay chứa đựng rất nhiều rủi ro, đồng thời nó cũng

đem đến nhiều cơ hội kinh doanh tốt. Khi có những sự cố bất ngờ xảy ra, doanh nghiệp có thể ứng phó kịp thời hay không phụ thuộc vào quy mô vốn của doanh

nghiệp. Với nguồn vốn lớn, doanh nghiệp có thể ưng phó được những sự cố bất ngờ

gây bất lợi cho doanh nghiệp, giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra. Đồng thời khi

có những cơ hội kinh doanh tốt, doanh nghiệp cũng có thể chủ động nguồn vốn để đầu

tư kịp thời. Thông thường với những dự án lớn, có lợi nhuận kỳ vọng cao thì vốn đầu

tư ban đầu cũng lớn, do vậy các doanh nghiệp quy mô nhỏ khó có thể huy động kịp

thời vốn để đầu tư. Mặt khác thì những dự án đó cũng không phù hợp với doanh

nghiệp nhỏ.

- Huy động vốn dễ dàng với chi phí thấp.

Những doanh nghiệp có quy mô lớn thường là những khách hàng lớn và có uy tín

đối với các tổ chức tín dụng. Do đó, các doanh nghiệp này có thể vay vốn của ngân

hàng với lãi suất ưu đãi và có thể không cần đảm bảo vì doanh nghiệp là khách hàng

truyền thống của ngân hàng. Đồng thời doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận nguồn

vốn tín dụng thương mại lớn. Như vậy các doanh nghiệp có thể giảm bớt được một số

chi phí trong quá trình huy động vốn.

- Thu hút được đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý có trình độ cao, đội

ngũ lao động lành nghề vào làm việc.

Vì tâm lý cũng như qua tìm hiểu thì mức lương trong các doanh nghiệp lớn

thường cao và có nhiều chính sách ưu đãi đối với những sáng kiến cải tiến sản phẩm

hay sự sáng tạo trong lao động. Trình độ của cán bộ công nhân viên trong doanh

nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với những cán bộ quản lý, cán bộ lỹ thuật và công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. Vì nếu

cán bộ và nhân viên có trình độ và hiểu biết thì họ sẽ có phương án sản xuất sao cho tiết kiệm tối đa chi phí, tránh những lãng phí không cần thiết nếu như thiếu hiểu biết gây ra. Ngược lại, các doanh nghiệp nhỏ thường không có những thuận lợi như các doanh nghiệp lớn vì họ khó có thể thu hút nguồn lực giỏi như các doanh nghiệp lớn.

1.3.1.2. Chiều hướng phát triển ngành nghề của doanh nghiệp

14

Doanh thu của doanh nghiệp chịu tác động đáng kể từ chiều hướng phát triển ngành nghề của doanh nghiệp trong tương lai. Nếu ngành nghề của doanh nghiệp có

xu hướng phát triển tốt, doanh nghiệp có thể đạt được doanh thu cao và lợi nhuận kỳ vọng cao.

Chiều hướng phát triển ngành nghề kinh doanh trong tương lai sẽ ảnh hưởng tới

khối lượng sản phẩm tiêu thụ, một thành phần quan trọng để tính doanh thu của doanh

nghiệp. Nếu khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng thì doanh thu của doanh nghiệp cũng

tăng theo. Khi ngành nghề của doanh nghiệp có xu hướng phát triển tốt trong tương lai tức là sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế nói

chung và được ưa chuộng, tiêu dùng nhiều, do vậy doanh nghiệp sẽ tiêu thụ được

nhiều sản phẩm.

Ngành nghề kinh doanh có xu hướng phát triển tốt giúp cho doanh nghiệp có thể

thu hút được nhiều nhà đầu tư bỏ vốn vào doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp có thể

đổi mới máy móc công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Ngoài ra doanh nghiệp

có thể vay vốn ngân hàng dễ dàng hơn vì chiều hướng phát triển ngành nghề kinh

doanh là một trong những điều kiện mà ngân hàng xem xét trước khi cho vay.

Tuy nhiên nếu ngành nghề đó có phát triển tốt trong tương lai thì doanh nghiệp

cũng phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh hơn vì ngành nghề nào có xu hướng

phát triển tốt thì thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đó

hơn. Số lượng đối thủ canh tranh gia tăng đòi hỏi doanh nghiệp ngay từ bây giờ phải

đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tạo dựng uy tín tốt với khách hàng để có thể tồn tại và phát triển hơn đối thủ cạnh tranh hiện tại và tương lai.

Nếu ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp có xu hướng suy giảm trong tương

lai thì sản phẩm của doanh nghiệp sẽ không được ưa chuộng, sẽ có ít người mua do đó

lượng sản phẩm tiêu thụ cũng ít đi làm giảm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp

cũng giảm đi. Với việc ngành nghề không phát triển thì doanh nghiệp khó có thể thu

hút được các nhà đầu tư mới và các nhà đầu tư cũ cũng rút vốn khỏi doanh nghiệp,

doanh nghiệp vì thế sẽ gặp khó khăn trong việc đổi mới và chuyển sang ngành nghề

kinh doanh mới. Lúc này sản phẩm của doanh nghiệp sẽ khó tiêu thụ, doanh nghiệp cần áp dụng các chiến lược về sản phẩm và giá cả phù hợp.

1.3.1.3. Trình độ của cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật

Nhân tố con người có vai trò rất quan trọng trong bất cứ một hoạt động nào. Đối với hoạt động của doanh nghiệp cũng vậy, trình độ của cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng không nhỏ tới doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu những người quản lý của doanh nghiệp có trình độ cao họ sẽ vạch ra được những

chiến lược đúng đắn cho doanh nghiệp, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đồng thời họ cũng sẽ đưa ra các quyết định đúng đắn và kịp thời trước các cơ

15

hội kinh doanh có thể làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.

Khi một doanh nghiệp có một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, họ thường có những sáng kiến trong việc đổi mới và cải tiến máy móc công nghệ. Ngoài ra, họ sẽ

khai thác hết công suất của máy móc thiết bị làm tăng năng suất và chất lượng sản

phẩm.

1.3.1.4. Năng lực quản lý của doanh nghiệp

- Năng lực tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh.

Tổ chức sản xuất kinh doanh gồm có tổ chức quá trình cung ứng, sản xuất tiêu

thụ. Cung ứng là chuẩn bị các yếu tố đầu vào cho sản xuất. Doanh nghiệp tổ chức hoạt

động cung ứng tốt tức là xác định được lượng dự trữ phù hợp của từng loại nguyên vật

liệu, số lượng lao động, máy móc thiết bị để quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao nhất.

Lượng dự trữ phải đảm bảo quá trình sản xuất được liên tục, không bị gián đoạn không

bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh mà chỉ phải chịu mức lưu kho hợp lý, tránh tình trạng dự

trữ quá nhiều dẫn đến ứ đọng vốn, tăng hào mòn và chi phí bảo quản.

Khâu sản xuất phải đảm bảo máy móc thiết bị cũng như lao động vận hành đạt

kết quả tốt nhất, khai thác tối đa máy móc thiết bị công nghệ. Tiêu thụ sản phẩm là

khâu quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tạo ra được

lợi nhuận cao hay không phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn này.

Nếu doanh nghiệp tổ chức tốt quá trình sản xuất kinh doanh sẽ giảm được các chi

phí dẫn đến lợi nhuận doanh nghiệp cao. Với việc tổ chức tốt quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ có chiến lược dự trữ hợp lý, quá trình sản xuất diễn ra liên tục,

máy móc thiết bị làm việc với công suất tối đa, sản phẩm làm ra được tiêu thụ nhanh

chóng, từ đó làm giảm chi phí cho doanh nghiệp và tạo được doanh thu nhanh chóng.

Do vậy lợi nhuận của doanh nghiệp tăng nhanh chóng.

- Năng lực quản lý của doanh nghiệp.

Tổ chức quản lý tài chính tốt tức là doah nghiệp giải quyết tốt những vấn đề dài

hạn đó là đầu tư vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loại hình sản xuất kinh doanh

đã lựa chọn, hay huy động vốn từ nguồn nào, quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế nào. Nếu có quyết định đúng đắn về chiến lược dài hạn của doanh nghiệp thì

tương lai doanh nghiệp sẽ phát triển nhanh, kinh doanh thuận lợi và có cơ sở đúng đắn để dự toán vốn đầu tư, tránh được tình trạng thiếu hoặc thừa vốn. Trường hợp dự toán thiếu vốn, doanh nghiệp sẽ bị động trong việc tìm vốn bổ sung và còn có thể phải trả lãi vay lớn nếu doanh nghiệp huy động thừa.Xác định đúng phương thức huy động vốn đầu tư sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí vay mà vẫn phù hợp với dự án

đề ra.

Quản lý hoạt động tài chính hàng ngày gắn liền với việc quản lý các dòng tiền

16

thu chi phát sinh. Nếu quản lý tốt doanh nghiệp sẽ đưa ra các quyết định tối ưu về việc

dự trữ, quản lý thời gian bán chịu cho khách hàng, hay các phương án vay ngắn hạn. Tất cả những điều này đều góp phần mở rộng thị trường cho doanh nghiệp, mở rộng

mối quan hệ kinh doanh, dẫn đến tăng doanh thu, giảm chi phí, giảm rủi ro cho doanh

nghiệp.

- Tổ chức lao động và chiến lược sử dụng lao động.

Khi doanh nghiệp tổ chức đội ngũ lao động khoa học và có chiến lượcthì sẽ khai thác, phát huy được hết khả năng của người lao động. Người lao động mà được hưởng

các chính sách đãi ngộ thích hợp thì họ sẽ cống hiến hết mình cho doanh nghiệp, họ

hăng say làm việc hơn, làm việc tích cực và có tinh thần trách nhiệm cao trong công

việc. Từ đó doanh nghiệp có thể tăng năng suất và tăng lợi nhuận.

1.3.2. Các nhân tố khách quan

1.3.2.1. Quy mô cơ cấu, thu nhập của dân cư và tập quán tiêu dùng

Quy mô dân cư ảnh hưởng tới lượng sản phẩm mà doanh nghiệp có thể tiêu thụ

được, do đó nó ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp. Nếu có hai thị trường

tương đồng nhau về cơ cấu dân cư, tập quán tiêu dùng, thu nhập của người dân và mức

độ ưa thích sản phẩm của doanh nghiệp tại thị trường có đông dân cư hay có quy mô

dân cư lớn hơn doanh nghiệp sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn, đem lại doanh thu

lớn hơn doanh nghiệp còn lại.

Cơ cấu dân cư và tập quán tiêu dùng có ảnh hưởng tới cơ cấu và khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Nếu sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với thị hiếu của người tiêu

dùng hoặc với thành phần dân cư chiếm đa số tại một thị trường nào đó, doanh thu của

doanh nghiệp tại thị trường đó sẽ tăng và ngược lại. Cơ cấu của dân cư còn quyết định

cơ cấu của loại sản phẩm tiêu thụ và do mỗi sản phẩm có giá bán khác nhau nên nó

cũng ảnh hưởng tới doanh thu của doanh nghiệp.

Thu nhập của khách hàng là một yếu tố quan trọng quyết định khả năng mua của

khách hàng. Nếu khách hàng rất ưa thích một hay nhiều sản phẩm của doanh nghiệp

nhưng vì thu nhập của họ quá thấp không đủ để mua sản phẩm của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng không thể tiêu thụ được sản phẩm.Vì vậy, doanh nghiệp cần chú

trọng đến thu nhập của dân cư ở mỗi thị trường để đưa ra chính sách giá và cơ cấu sản phẩm phù hợp với khách hàng ở đó.

1.3.2.2. Thị trường các yếu tố đầu vào

Các yếu tố đầu vào là thành phần cơ bản để tính chi phí của doanh nghiệp, do đó

nó ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.

17

Nếu thị trường các yếu tố đầu vào có sự tham gia của nhiều nhà cung cấp, doanh nghiệp có thể chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào, không bị phụ thuộc vào một nhà cung cấp nào. Đồng thời tại một thị trường có sự canh tranh thì mức giá bán mà

các nhà cung cấp đưa ra sẽ là mức giá của thị trường. Nếu thị trường các yếu tố đầu vào chỉ có một số nhà cung cấp nhất định hoặc chỉ có một nhà cung cấp thì doanh

nghiệp sẽ không chủ động được nguồn hàng, phải phụ thuộc vào nhà cung cấp, do đó

nhà cung cấp có thể sẽ tự ý đẩy giá lên cao làm tăng chi phí của doanh nghiệp, đồng

thời do độc quyền về sản phẩm, nhà cung cấp có thể cung cấp hàng không đúng thời

gian, làm gián đoạn quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó phát sinh thêm nhiều chi phí khác dẫn tới lợi nhuận của doanh nghiệp giảm.

1.3.2.3. Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Bất cứ doanh nghiệp nào trên thị trường cũng đều chịu tác động từ những chính

sách kinh tế của Nhà nước. Đó là các chính sách vè thuế, lãi suất, quy chế quản lý tài

chính hay những ưu đãi, hay sự bảo hộ của Nhà nước ảnh hưởng lớn đến chi phí lợi

nhuận của doanh nghiệp.

Điển hình là chính sách thuế, đây là nhân tố khách quan có quan hệ ngược chiều

với lợi nhuận của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới lợi nhuận thông qua thuế suất. Ngoài

thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu thì thuế nhập khẩu cũng ảnh hưởng không

nhỏ đến giá vốn hàng bán. Thuế nhập khẩu tăng làm giá vốn hàng bán tăng trong khi

giá bán không tăng sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Thuế giá trị gia tăng

không chỉ làm tăng giá thanh toán của hàng hóa dịch vụ mà đôi khi việc khấu trừ thuế,

hoàn thuế chậm cũng ảnh hưởng không tốt tới việc quay vòng vốn phục vụ quá trình sản xuất của công ty.

Tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng khá mạnh đến lợi nhuận thực của doanh nghiệp vì lợi

nhuận thực là hiệu của lợi nhuận danh nghĩa và mức thay đổi giá trị đồng tiền. Đặt biệt

với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, lạm phát dẫn đén sự biến động về tỷ giá hối đoái

nên càng tác động mạnh tới lợi nhuận doanh nghiệp. Vì khi doanh nghiệp xuất khẩu

hay nhập khẩu đều phải thánh toán hàng bằng ngoại tệ. Nếu đồng ngoại tệ tăng, doanh

nghiệp sẽ thu được nhiều hơn khi xuất khẩu, đồng thời cũng sẽ phải trả nhiều hơn khi

nhập khẩu và ngược lại.

Nếu các quy chế ban hành mà phù hợp với tình hình kinh doanh chung của các

doanh nghiệp thì tạo thuận lợi tăng doanh thu cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu quy chế quản lý mà thắt chặt, bó hẹp doanh nghiệp quá thì sẽ làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiêp kém hiệu quả, phát sinh nhiều chi phí, dẫn đên giảm lợi nhuận doanh nghiệp.

Nếu ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp được Nhà nước khuyến khích đầu

tư phát triển, được nhận những ưu đãi như giảm lãi suất vay vốn, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, cung cấp thông tin về thị trường,…thì doanh nghiệp sẽ có môi trường

18

kinh doanh thuận lợi hơn, giảm được nhiều chi phí cho doanh nghiệp.

Như vậy chính sách kinh tế của Nhà nước đúng đắn phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiẹp, làm

giảm các chi phí bất hợp lý và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

1.3.2.4. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ

Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, tạo ra được nhiều máy móc thiét bị

hiện đại hơn, tốn ít nhiên liệu hơn, từ đó tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao với giá thành thấp. Điều này đặc biệt quan trọng trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay

gắt và nhu cầu con người ngày một nhiều hơn. Khoa học công nghệ phát triển thì máy

móc nhanh bị lạc hậu, đòi hỏi doanh nghiệp phải áp dụng phương pháp khấu hao hợp

lý, nhanh chóng đổi mới máy móc công nghệ để sản phẩm tạo ra có sức cạnh tranh

trên thị trường. Bây giờ doanh nghiệp phải dùng các phương pháp tính khấu ha khác

như phương pháp khấu hao nhanh điều chỉnh, khấu hao theo số dư giảm dần… vì nếu

không khấu hao nhanh thì máy móc thiệt bị của doanh nghiệp bị lạc hậu mà không có

nguồn đầu tư đổi mới máy móc thiết bị công nghệ. Do khấu hao được tính vào chi phí

19

nên nó cũng sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

VINAFACADE

2.1. Khái quát chung về công ty cổ phần VinaFacade

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần VinaFacade

- Tên công ty : Công ty Cổ phần VinaFacade

- Điện thoại : 04 3766 8521

- Fax : 04 3766 8520

- Địa chỉ : Tầng 1, tòa nhà 671 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội.

- Mã số thuế : 0102743300

- Theo giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh lần thứ nhất ngày 10/06/2010 thì vốn

điều lệ của Công ty là: 16.000.000.000 VND (Mười sáu tỷ đồng) tương đương

1.000.000 USD (Một triệu Đô la Mỹ).

- Mệnh giá cổ phần: 10.000 đồng/cổ phần.

Công ty cổ phần VinaFacade được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh

doanh công ty cổ phần số: 011032000093 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà nội

cấp ngày 25 tháng 4 năm 2008.

Công ty Cổ phần VinaFacade được thành lập và chi phối bởi Công ty Viglacera,

đây cũng chính là một trong những cổ đông lớn của VinaFacade. Công ty là nơi tập

hợp các chuyên gia lành nghề có kỹ thuật cao về các lĩnh vực tư vấn xây dựng như: lập

dự án khả thi, thiết kế kĩ thuật, qui hoạch, thẩm định thiết kế thi công, tư vấn giám sát,

thi công nội ngoại thất công trình,…

Ngày một lớn mạnh cùng với sự phát triển đi lên của đất nước, từ năm 2003,

công ty chuyển đổi thành công ty cổ phần kiến trúc và đến năm 2008 chính thức trở

thành Công ty Cổ phần VinaFacade. Qua 6 năm hoạt động kinh doanh, với sự biến

động của nền kinh tế, sự khủng hoảng trên thị trường toàn cầu đã tác động không nhỏ

đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với sự nhạy bén, linh

hoạt của tập thể lãnh đạo của công ty, đã nắm bắt thời cơ từ một doanh nghiệp chuyên

sản xuất và tiêu dùng cửa kính khung nhôm, công ty đã chuyển hướng sang ngành lắp

ráp cửa kính cho công trình xây dựng. Trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa công nghệ chế

tạo tiên tiến của các nước phát triển, nguồn lực trong nước và doanh nghiệp của chính

mình; đặc biệt công ty khuyến khích sự sáng tạo và năng động của cán bộ công nhân

viên; liên tục cải tiến kỹ thuật, công nghệ sản xuất lắp ráp, chấp hành tốt kỹ thuật lao

20

động để không ngừng hoàn thiện sản phẩm của mình.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty năm 2011 có nhiều biến động do ảnh

hưởng của các nhân tố khách quan, chủ quan như nền kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng,

tình hình kinh tế trong nước bất ổn, lạm phát tăng cao, do lượng cung về bất động sản

quá nhiều, dẫn đến thị trường bất động sản tạm đóng băng, kéo theo các ngành kinh

doanh liên quan như xây lắp của kính của công ty cũng bị ảnh hưởng.

Trước tình hình đó ban lãnh đạo công ty nỗ lực chủ động tìm hướng kinh doanh

đầu tư đến một số hoạt động kinh doanh khác nhằm đa dạng hóa ngành nghề, tạo công

ăn việc làm cho người lao động như tiến hành xây lắp cửa kính cho khu nhà ở, sản

xuất, thiết kế các mẫu cửa nhôm kính mới,….

Công ty Cổ phần VinaFacade là một trong những doanh nghiệp có bề dày hoạt

động và phát triển trong lĩnh vực thiết kế, thi công nội ngoại thất công trình,…Tiền

thân là phòng kinh doanh các sản phẩm nguyên vật liệu xây dựng nhôm kính, công ty

được thành lập bởi một đội ngũ các chuyên gia giàu kinh nghiệm và các kỹ thuật viên

lành nghề trong lĩnh vực sản xuất thủy tinh.

2.1.2. Ngành nghề kinh doanh của công ty Cổ phần VinaFacade

Công ty cổ phần VinaFacade cung cấp hệ sản phẩm mặt tiền công trình (hay còn

gọi là vách kính) tại Việt Nam nhằm khai thác thị trường bất động sản, cũng là để

chớp cơ hội giới thiệu tới thị trường Việt Nam công nghệ mới nhất về thiết kế và lắp

đặt hệ sản phẩm vách kính.

VinaFacade cung cấp chủ yếu gồm thiết kế, gia công, quản lý dự án và lắp đặt hệ

sản phẩm vách kính cho các công trình theo dự án.

+ Thiết kế và dự toán sơ bộ hỗ trợ các Kiến trúc sư và các Giám sát viên về

- Các dịch vụ được cung cấp bởi VinaFacade gồm:

+ Thiết kế chi tiết, cung cấp bản vẽ thi công, bản vẽ gia công, phiếu vật tư,

khối lượng, tư vấn thiết lập yêu cầu và dự trù định mức cho họ.

+ Dịch vụ kiểm định để khẳng định sản phẩm thoả mãn yêu cầu chất lượng.

+ Gia công, bảo đảm chất lượng, kiểm soát tại phân xưởng, kế hoạch hậu cần.

+ Lắp đặt, kiểm soát và bảo đảm chất lượng tại hiện trường.

+ Các công việc bảo dưỡng và loại bỏ các khuyết tật.

chuẩn bị và tính toán kết cấu.

+ Vách kính kiểu stick.

+ Vách kính kiểu semi-unitized.

21

- Các sản phẩm của công ty như:

+ Vách kính kiểu full-unitized.

+ Vách kính khớp nối trượt bánh xe.

+ Mặt tiền cửa hàng bằng nhôm.

+ Phần bao che panel đặc bằng nhôm.

+ Phần bao che panel hỗn hợp nhôm nhựa.

+ Phần mái che nằng bằng nhôm.

+ Phần mái bằng kính (để lấy sáng).

+ Phần mái hiên trang trí bằng kính.

+ Phần mái vòm, nóc.

+ Phần giàn, lưới mắt cáo, kết cấu rỗng.

+ Cửa chớp.

+ Cửa sổ nhôm.

+ Cửa đi nhôm.

+ Khu nhà ở, biệt thự, chung cư của các cá nhân, hộ gia đình trong khu vực

- Khách hàng của công ty:

+ Các trung tâm mua sắm, khách sạn trong khu vực Hà Nội.

+ Các công trình xây dựng như bảo tàng, văn phòng, trụ sở công ty ở một số

Hà Nội 1.

+ Các công ty khác thu mua nguyên vật liệuhoặc thành phẩm trên toàn quốc.

thành phố lớn của miền Bắc như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh.

- Thị trường chính mà công ty hướng đến là các công trình xây dựng khách sạn,

trung tâm thương mại lớn.

Ngoài ra, công ty còn chuyên cung cấp các dịch vụ xây lắp công trình theo từng

dự án mà công ty đấu thầu được. Đây cũng chính là hoạt động kinh doanh chủ yếu của

công ty trong vài năm gần đây, công ty đang chuẩn bị các kế hoạch, chiến lược phát

triển mạnh mẽ cho dịch vụ này. Bằng những sản phẩm, vật tư do chính nhân viên kỹ

thuật của công ty thiết kế, gia công một cách tỉ mỉ, độc đáo, công ty đem chúng đến

22

những công trình được nhận thầu xây lắp.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Cổ phần VinaFacade

2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức của công ty được khái quát qua sơ đồ dưới đây:

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

PHÕNG HÀNH CHÍNH TỔNG HỢP

PHÕNG KỸ THUẬT

PHÕNG VẬT TƢ THIẾT BỊ

PHÒNG KINH DOANH

XÍ NGHIỆP THI CÔNG

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty

Bộ máy tổ chức quản lý của công ty cổ phần VinaFacade áp dụng theo cơ cấu

quản trị trực tuyến theo chức năng. Theo cơ cấu này, người lãnh đạo doanh nghiệp

được sự giúp sức của tập thể lãnh đạo chuẩn bị các quyết định đối với cấp dưới. Người

lãnh đạo doanh nghiệp chịu trách nhiệm về mọi lĩnh vực hoạt động và toàn quyền

quyết định trong phạm vi doanh nghiệp. Ban lãnh đạo công ty không ra quyết định, chỉ

thị trực tiếp cho cấp dưới mà chỉ truyền xuống trưởng các bộ phận chức năng. Các bộ

phận chức năng có nhiệm vụ nghiên cứu, chuẩn bị quyết định cho lãnh đạo quản lý,

điều hành các đơn vị thành viên; đồng thời theo dõi, giám sát, đôn đốc hoặc hướng dẫn

các đơn vị thành viên trong việc thi hành các mệnh lệnh, quyết định của ban lãnh đạo

công ty.

Bên cạnh mô hình cơ cấu trực tuyến chức năng, để linh hoạt, chủ động trong điều

hành công việc và phát huy được trí tuệ, năng lực của đội ngũ chuyên gia, công ty còn

vận dụng cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp theo dạng tập trung, tập hợp đội ngũ

chuyên gia của nhiều bộ phận chức năng nhằm nghiên cứu, xây dựng dự án, phương

23

án, chiến lược hay chương trình cho từng lĩnh vực cụ thể.

2.1.3.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban

 Hội đồng quản trị

- Hoạt động kinh doanh và các công việc của công ty phải chịu sự quản lý hoặc

chỉ đạo thực hiện của Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị là cơ quan có đầy

đủ quyền hạn để thực hiện tất cả các quyền nhân danh công ty trừ những thẩm

quyền thuộc về Đại hội đồng cổ đông.

- Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát Giám đốc điều hành và các cán bộ

quản lý khác.

- Quyết định kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh và ngân sách hàng năm.

- Đề xuất các loại cổ phiếu có thể phát hành và tổng số cổ phiếu phát hành theo

từng loại; Quyết định giá chào bán trái phiếu, cổ phiếu và các chứng khoán

chuyển đổi.

- Đề xuất mức cổ tức hàng năm và xác định mức cổ tức tạm thời; tổ chức việc

chi trả cổ tức.

 Giám đốc

- Giám đốc là người trực tiếp điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của

công ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội

đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ

được giao.

- Thực hiện các Nghị quyết của HĐQT, kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu

tư của công ty đã được HĐQT thông qua.

- Báo cáo lên HĐQT và chịu trách nhiệm trước HĐQT về kết quả hoạt động

kinh doanh của công ty.

 Phó giám đốc

- Giúp việc cho Giám đốc trong quản lý điều hành các hoạt động của công ty

theo sự phân công của Giám đốc;

- Chủ động và tích cực triển khai, thực hiện nhiệm vụ được phân công và chịu

trách nhiệm trước Giám đốc về hiệu quả các hoạt động.

- Theo ủy quyền bằng văn bản của Giám đốc phù hợp với từng giai đoạn và

24

phân cấp công việc.

 Phòng Kinh doanh

- Tham mưu cho Giám đốc công ty về các vấn đề liên quan đến công tác kinh

doanh có sử dụng nguồn vốn của công ty.

- Xây dựng và thực hiện chiến lược khai thác, thu thập thông tin về khách hàng,

khai thác và phát triển thị trường.

- Tổ chức thực hiện tiếp thị, quảng cáo, bán hàng nhằm đảm bảo thu hồi vốn

nhanh và tối đa hóa lợi nhuận.

- Đàm phán và tư vấn cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

- Soạn thảo hợp đồng dịch vụ trình Ban Giám đốc ký kết với khách hàng.

- Kết hợp với phòng Kỹ thuật khảo sát và lên bản vẽ sơ lược cho khách hàng.

- Chăm sóc khách hàng và giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến dịch vụ đối với khách hàng, đồng thời phối hợp chặt chẽ với phòng Kỹ thuật để giải quyết

tất cả các vấn đề khiếu nại của khách hàng.

 Phòng Kỹ thuật

- Giúp cho giám đốc trong lĩnh vực tổ chức, quản lý thiết kế sản phẩm, sửa chữa lỗi, đồng thời hỗ trợ hoạt động kinh doanh đấu thầu, thực hiện triển khai hợp

đồng.

- Thiết kế các bản vẽ kỹ thuật để thi công công trình, đồng thời kiểm tra, giám sát công trình đảm bảo chất lượng trước khi giao cho khách hàng theo hợp

đồng.

- Tập hợp và báo cáo các ý kiến phản hồi của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ mà công ty cung ứng, qua đó Ban Giám đốc công ty nghiên cứu và xây

dựng các chiến lược cụ thể nhằm cung cấp tới khách hàng những sản phẩm,

dịch vụ hoàn hảo nhất.

 Phòng Vật tư – Thiết bị

- Chuyển cung cấp các loại vật tư, dụng cụ, nhiên liệu cho sản xuất, đảm bảo

cung cấp kịp thời phục vụ sản xuất của công ty đồng thời quản lý các kho

hàng, bến bãi

 Phòng Hành chính tổng hợp

- Theo dõi việc triển khai thực hiện các quy chế nội bộ của công ty, làm đầu

mối tổng hợp các ý kiến giúp lãnh đạo công ty bổ sung, sửa đổi các quy chế

nội bộ phù hợp với yêu cầu thực tế.

- Nghiên cứu, đề xuất, xây dựng mô hình quản lý, phương án tổ chức của công

25

ty phù hợp trong từng thời kỳ.

- Tiếp nhận, quản lý toàn bộ hồ sơ người lao động để cung cấp thông tin, tham mưu cho Giám đốc sử dụng, bố trí lao động, đánh giá, sử dụng lao động và các

chế độ chính sách cho người lao động trong công ty.

- Thực hiện thủ tục đề nghị các cấp có thẩm quyền cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh, Giấy phép hành nghề và các giấy phép hoạt động khác cho công ty và

đơn vị trực thuộc.

 Xí nghiệp thi công

- Thực hiện thi công công trình theo kế hoạch từ phòng Kỹ thuật đã được

HĐQT và Ban Giám đốc phê duyệt.

- Quản lý con người, máy móc thiết bị trong phạm vi xí nghiệp.

- Phối hợp cùng với phòng Kỹ thuật nghiên cứu, nâng cao năng suất, cải tiến

chất lượng thi công.

- Thông tin kịp thời cho phòng Kỹ thuật về tiến độ thi công, các phát sinh về

nguyên phụ liệu để tính lịch xây lắp.

- Tham gia xây dựng Hệ thống Quản lý chất lượng, Hệ thống Quản lý Môi

trường và Trách nhiệm Xã hội tại công ty.

Nhận xét: Mỗi bộ phận đều có những nhiệm vụ riêng của mình nhưng vẫn liên

kết, phối hợp với nhau một cách mềm dẻo, linh hoạt để vạch ra kế hoạch, chiến lược

tốt nhất cho công ty, đem lại doanh thu lợi nhuận cũng như lợi thế kinh doanh cho

doanh nghiệp. Nhờ sự kết hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban mà nhiệm vụ của công

ty thường xuyên được hoàn thành đúng tiến độ.

2.1.4. Quy trình hoạt động thi công công trình của Công ty Cổ phần VinaFacade

2.1.4.1. Đặc điểm hoạt động thi công của công ty

Sơ đồ 2.2: Quy trình thiết kế, thi công các công trình

Nghiên cứu Liên hệ Thi công Thiết kế

thị trường khách hàng công trình bản vẽ

26

(Nguồn: Phòng hành chính tổng hợp)

Bƣớc 1: Nghiên cứu thị trƣờng:

Nhân viên phòng kinh doanh tiến hành nghiên cứu thị trường để hiểu rõ những

thị hiếu của khách hàng cũng như xu hướng chung hiện nay trên thị trường. Công ty có

thể phân đoạn thị trường, phân chia theo từng nhóm khách hàng cụ thể để nghiên cứu,

giúp thu thập được những thông tin chính xác hơn, tạo thuận lợi cho việc thu hút khách

hàng.

Bƣớc 2: Liên hệ khách hàng:

Sau khi nghiên cứu thị trường xong, nhân viên phòng kinh doanhsẽ tiếp tục tiến

hành tìm hiểu các khách hàng mục tiêu và tiếp xúc với các khách hàng nhằm giới thiệu

về sản phẩm của công ty. Sau đó, nhân viên kinh doanh phải giải thích rõ cho khách

hàng về sản phẩm, chất lượng, xu hướng trong tương lai, hay những thông tin khác mà

khách hàng quan tâm về sản phẩm, từ đó thuyết phục khách hàng ký hợp đồng mua

sản phẩm.

Bƣớc 3: Thiết kế bản vẽ:

Khi nắm được thị hiếu của khách hàng hay thị trường, nhân viên phòng kỹ thuật

sẽlên bản vẽ thiết kế các mẫu sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng. Có được các bản

thiết kế, nhân viên phòng kỹ thuật tiếp tục tiến hành lập bản vẽ kỹ thuật chi tiết theo

đúng quy trình thiết kế của công ty.

Bƣớc 4: Thi công công trình:

Trước khi thi công, các kỹ sư của phòng kỹ thuật phải kiểm tra kỹ lưỡng mặt

bằng. Sau đó bàn giao cho xí nghiệp đểthi công lắp đặt các cửa kính, vách nhôm kính,

hệ thống mái che bằng kính,….theo bản vẽ mà khách hàng đã ký trong hợp

đồng.Trong quá trình thi công, công nhân xí nghiệp phải nghiêm chỉnh chấp hành quy

trình quy phạm thi công của ngành và Nhà nước ban hành, tuân thủ theo đúng thiết kế

kỹ thuật thi công và tổng dự toán. Mọi thay đổi phải được các đơn vị có liên quan chấp

hành bằng văn bản trước khi thi công.

2.1.4.2. Mô tả một quy trình cụ thể: Quy trình thiết kế sản phẩm:

Trong thời gian thực tập tại công ty em đã có cơ hội được thực tập ở khâu Thiết

kế sản phẩm của phòng kỹ thuật của công ty. Công việc thực tập chính là thiết kế bản

vẽ theo yêu cầu của khách hàng rồi thi công công trình.

Sau đây là quy trình mà em đã được thực nghiệm tại công ty Cổ phần

27

VinaFacade :

Sơ đồ 2.3: Quy trình thiết kế sản phẩm

Nhận bản Lên bản Chuyển Duyệt

vẽ xuống xí bản vẽ

vẽ kỹ thuật nghiệp

thi công Triển khai bản vẽ thi công

(Nguồn : Phòng hành chính tổng hợp)

Bƣớc 1 : Nhận bản vẽ:

Nhân viên phòng kỹ thuật nghiên cứu và điều tra kỹ lưỡng số liệu, thông tin về

sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng. Các kỹ sư của phòng kỹ thuật dựa vào đó lập

bảng tóm tắt các ý tưởng thiết kế sơ lược, thường là trình bày phác thảo các mục tiêu

thiết kế.

Bƣớc 2: Lên bản vẽ kỹ thuật để tính giá dự thầu:

Nhân viên phòng kỹ thuật phân tích các mục tiêu thiết kế hiện tại và thiết kế bản

vẽ kỹ thuật khái quát. Đồng thời, nhân viên kỹ thuật nghiên cứu, điều tra các giải pháp

thiết kế tương tự trong cùng lĩnh vực. Nhân viên kỹ thuật xác định các yêu cầu của giải

pháp thiết kế cho một sản phẩm (đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm được thiết kế hoặc

dịch vụ). Nhân viên kỹ thuậtgiải quyết các vấn đề về ý đồ và dẫn chứng bằng tài liệu

các giải pháp thiết kế. Sau đó, nhân viên kỹ thuật phối hợp với nhân viên phòngkinh

doanh để tính toán các chi phí và lên giá cho mỗi bản vẽ để tính giá dự thầu.

Bƣớc 3 : Triển khai bản vẽ thi công:

Nhân viên phòng kỹ thuật tiếp tục phát triển, cải tiến tiếp các giải pháp thiết kế;

thử nghiệm tại chỗ giải pháp thiết kế. Để thuận tiện cho việc định hướng sản phẩm

trong tương lai, nhân viên kỹ thuật sẽ lưu trữ lại bản vẽ và xem xét các phản hồi đối

với thiết kế trong tương lai.

Bƣớc 4 : Chủ đầu tƣ phê duyệt bản vẽ thiết kế:

Nhà đầu tư sẽ xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng tính khả thi của bản thiết kế vào công

trình được thi công. Sau đó ra quyết định đầu tư.

Bƣớc 5 : Chuyển bản vẽ xuống xí nghiệp thi công:

Bên xí nghiệp thi công sẽ nhận bản vẽ và lên kế hoạch lắp đặt các mẫu sản phẩm

28

của công ty vào công trình.

2.2. hực trạng lợi nhuận của công ty Cổ phần VinaFacade

2.2.1. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần VinaFacade

2.2.1.1. Cơ cấu Tài sản – Vốn

Nhìn vào cơ cấu Tài sản – Vốn của công ty trong 3 năm gần đây (2010 – 2012) ta

thấy tình hình tài chính của công ty khá khả quan, tài sản và vốn của công ty đều tăng

trưởng qua các năm cả về quy mô lẫn tỷ trọng.

27.37

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu Tài sản – Vốn

Tỷ đồng

30

22.61

25

20

15.13

15

10

5

0

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Qua biểu đồ này cho ta biết công ty đang dần mở rộng quy mô kinh doanh theo

từng năm đều tăng lên. Cụ thể năm 2011 tăng 7,48 tỷ đồng so với năm 2010, năm

2012 tăng 4,76 tỷ đồng so với năm 2011. Trong 3 năm này xảy ra khá nhiều biến động

kinh tế, đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp tới ngành mà công ty Cổ phần VinaFacade kinh

doanh. Thị trường bất động sản bị đóng băng một thời gian, vì vậy ảnh hưởng đến việc

tiêu thụ sản phẩm và các dự án xây lắp của công ty. Nhưng công ty vẫn tăng cơ cấu tài

sản – vốn của mình để thực hiện mục tiêu mở rộng quy mô kinh doanh dù đang ở

trong hoàn cảnh bất lợi như vậy, vì đây là mục tiêu dài hạn mà công ty đặt ra nên khó

khăn thì cũng phải tìm cách khắc phục chứ không bỏ dở kế hoạch.

Nhưng đây mới chỉ là biểu đồ cơ cấu khái quát nhất về tài sản và vốn của công ty

chứ không thể dựa vào đây mà nói công ty đang phát triển tốt hay không được.

Cụ thể chúng ta sẽ đi tìm hiểu về các chỉ tiêu, số liệu được thể hiện trong bảng

29

cân đối kế toán sau:

Bảng 2.1: Bảng cân đối kế toán giai đoạn 2010 – 2012

(Đơn vị: Tỷ đồng)

Tăng trƣởng Tăng trƣởng

2011/2010 2012/2011 Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Tuyệt Tương Tuyệt Tương

đối đối (%) đối đối (%)

I.TSNH 15,01 22,42 26,31 7,41 49,37 3,89 17,35

1.Tiền 2,85 1,67 0,03 (1,18) (41,49) (1,64) (98,2)

2.Các khoản 0 0 0,1 0 0 0,1 100 ĐTTCNH

3.Các khoản phải 9,5 12,19 10,85 2,69 28,31 (1,34) (10,99) thu

4.Hàng tồn kho 2,49 5,17 9,07 2,68 107,63 3,9 75,43

5. TSNH khác 0,17 3,39 6,26 3,22 1894,1 2,87 84,66

II.TSCĐ và 0,12 0,19 1,06 0,07 58,33 0,87 457,89 ĐTDH

1. TSCĐ 0,05 0,15 1,02 0,1 200 0,87 580

2. TSDH khác 0,07 0,04 0,04 (0,03) (42,85) 0 0

TỔNG TS 15,13 22,61 27,37 7,48 49,43 4,76 21,05

I. Nợ phải trả 10,95 17,54 21,65 6,59 60,18 4,11 23,43

1. Nợ ngắn hạn 10,95 17,54 21,65 6,59 60,18 4,11 23,43

2. Nợ dài hạn 0 0 0 0 0 0 0

II. Vốn CSH 4,18 5,07 5,72 21,29 0,65 12,82 0,89

1. Vốn CSH 4,18 5,07 5,72 21,29 0,65 12,82 0,89

0 0 0 0 0 0 0 2. Nguồn kinh phí, quỹ khác

TỔNG NV 15,13 22,61 27,37 7,48 49,43 4,76 21,05

30

(Nguồn: Phòng Hành chính tổng hợp)

Năm 2011, tổng tài sản và nguồn vốn của công ty là 22,61 tỷ đồng tăng 7,48 tỷ đồng so với năm 2010 và đạt mức tăng trưởng 49,44%. Trong đó tài sản lưu động tăng

đáng kể 7,41 tỷ đồng. Tuy vậy, nợ phải trả của công ty cũng tăng 6,59 tỷ đồng, chủ

yếu do công ty sử dụng vốn kinh doanh vào việc trả nợ ngắn hạn. Thực tế cho thấy vốn

chủ sở hữu có tăng nhưng tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong nguồn vốn ngày càng có xu

hướng giảm. Năm 2010 chiếm 27,62%, năm 2011 chiếm 22,43% do ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu bất ổn, tỷ lệ lạm phát tăng cao, hơn nữa nhà nước còn có các

chính sách thắt chặt nên việc xin cấp thêm vốn để mở rộng quy mô sản xuất kinh

doanh rất khó khăn. Vì vậy công ty đã sử dụng phần vốn vay ngắn hạn để nắm bắt kịp

thời các cơ hội, tiến hành mở rộng sản xuất kinh doanh được nhanh nhất.

Năm 2012, tổng tài sản của công ty là 27,37 tỷ đồng, tuy có tăng 4,76 tỷ đồng so

với năm 2011 nhưng mức tăng trưởng vẫn thấp hơn so với năm 2010 và chỉ đạt

21,05%. Trong đó phàn tài sản cố định tăng 0,87 tỷ đồng, chủ yếu do công ty dùng

nguồn vốn vay nội bộ dài hạn để mua sắm thêm máy móc, thiết bị. Tài sản lưu động

tăng chủ yếu do công ty đầu tư tài chính ngắn hạn bằng việc mua chứng khoán với 0,1

tỷ đồng. Đối với nguồn vốn cũng do yêu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh

nên công ty phải vay thêm vốn ngắn hạn ngân hàng và vay dài hạn nội bộ. Việc vay

dài hạn nội bộ là biện pháp tốt nhằm khuyến khích cán bộ công nhân viên làm việc

hiệu quả hơn vì kết quả hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của họ.

Phân tích tình hình Tài sản - Vốn trong 3 năm 2010-2012:

Tài sản: Năm 2011 tổng tài sản là 22,61 tỷ đồng so với năm 2010 tăng 7,48 tỷ đồng,

đạt 49,43% và giảm 4,76 tỷ đồng so với năm 2012 tương ứng với 21,05% do:

 Tài sản lƣu động và đầu tƣ ngắn hạn: Năm 2011 là 22,42 tỷ đồng tăng 7,41 tỷ đồng so với năm 2010 hay tăng 49,37%. Còn năm 2012 là 26,31 tỷ đồng tăng 3,89 tỷ

+ Tiền mặt và các khoản tương đương tiền: Năm 2011 là 1,67 tỷ đồng, so với năm 2010 giảm 41,49% tương ứng 1,18 tỷ đồng. Việc sụt giảm một lượng tiền lớn như

đồng so với năm 2011, tương ứng với 17,35%. Tuy nhiên trong đó:

31

vậy là do trong năm 2011 công ty mở rộng sản xuất kinh doanh. Khả năng thanh toán của công ty vì thế mà suy giảm. Năm 2012 là 0,03 tỷ đồng , giảm cực mạnh so với năm 2011 là 98,2% là do công ty vẫn chưa thể đưa ra các giải pháp để thu hồi và làm tăng trưởng các khoản tiền này, hơn nữa trong năm công ty cũng chịu ảnh hưởng chung từ nền kinh tế bất ổn toàn cầu, tỷ lệ lạm phát tăng cao, giá trị của đồng tiền sụt giảm mạnh, ngành bất động sản gần như đóng băng, khiến cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vô cùng khó khăn. Do vậy, công ty nên giải quyết sớm vấn đề này

+ Đầu tư tài chính ngắn hạn: Năm 2010, doanh nghiệp không hề đầu tư vào tài

bằng cách đưa ra những chính sách phù hợp hơn như chiết khấu thanh toán cho khách hàng với tỷ lệ cao.

chính ngắn hạn, nhưng đến năm 2012, doanh nghiệp bắt đầu có khoản thu và đầu tư

vào khoản tài chính ngắn hạn này với 0,1 tỷ đồng. Sở dĩ có khoản thu này là do công

ty có khoản tiền gửi kỳ hạn 12 tháng. Công ty khá thận trọng trong kinh doanh, luôn tìn những hướng đầu tư an toàn mà vẫn thu được tiền. Nhưng nếu công ty cứ mãi kinh

doanh theo hướng như này thì sẽ không phát triển được, không cạnh tranh được với

+ Các khoản phải thu: Năm 2011 là 12,19 tỷ đồng tăng 2,69 tỷ đồng tương ứng với 28,31% so với năm 2010 nhưng so với năm 2012 bị giảm 1,34 tỷ đồng tương ứng

các công ty ngoài thị trường.

với 10,99%. Điều này chứng tỏ trong năm 2012 các khoản phải thu khách hàng vẫn

chưa được thanh toán đầy đủ do công ty vẫn chưa thực hiện đầy đủ các chính sách

quản lý nợ để có thể thu hồi nợ nhanh chóng. Trong những năm tới công ty nên có

những biện pháp, chính sách thắt chặt để có thể giảm các khoản phải thu, tránh tình

+ Khoản ứng trước cho người bán là 0,36 tỷ đồng tăng 0,19 tỷ đồng so với năm

trạng bị khách hàng chiếm dụng vốn.

2010 là 0,17 tỷ đồng tương ứng với tỉ lệ 10,8%. Do đó các khoản phải thu tăng lên.

Nguyên nhân của việc tăng này là do một số công ty khác mua chịu nguyên vật liệu với số tiền khá lớn là 0,23 tỷ đồng, hay một số công ty muốn nâng cấp, sửa chữa lại

công trình nhưng chưa thanh toán. Năm 2012, số tiền công ty trả trước cho người bán

lại tăng lên 1,04 tỷ đồng, cũng là do thị trường xây lắp, xây dựng gặp khó khăn, công

ty đành quyết định trả trước cho người bán thì mới có tiền thu về được. Tuy vậy các

khoản tiền phải thu tăng lên, đồng nghĩa với việc rủi ro tăng cao, kéo theo khả năng

thanh toán không được đảm bảo, khả năng thu hồi vốn khó hơn do người trả có thể

không trả đúng hạn hoặc không có khả năng trả nợ. Để tránh rủi ro này thì công ty cần

+ Hàng tồn kho: Năm 2011 là 5,17 tỷ đồng tăng 2,68 tỷ đồng tương ứng với 107,63% so với năm 2010 là 2,49 tỷ đồng. Điều này chứng tỏ số lượng nguyên vật liệu

quản lý chỉ tiêu này ở mức thấp nhất có thể.

mà công ty mua năm 2011 cao hơn nhiều so với năm 2010, thể hiện quy mô sản xuất của công ty được mở rộng. Năm 2012 tiếp tục tăng với 9,07 tỷ đồng, tương ứng với 75,43% so với năm 2011. Công ty vẫn tiếp tục mua vào thêm nguyên vật liệu, điều này cho thấy công ty đã xác định được đầu ra nên mới tiếp tục tồn kho. Các khoản dự

32

phòng về hàng tồn kho đều không có do hoạt động kinh doanh của công ty có hiệu quả. Tuy nhiên hàng tồn kho tăng sẽ khiến vòng quay vốn chậm, đồng thời phát sinh chi phí bảo quản, chi phí cơ hội trong việc đầu tư tài chính đối với doanh nghiệp.

+ Tài sản ngắn hạn khác: Năm 2011 là 3,39 tỷ đồng tăng 3,22 tỷ đồng so với năm 2010 là 0,17 tỷ đồng tương ứng với tỉ lệ 1894,1% và giảm 2,87 tỷ đồng so với

năm 2012 là 6,26 tỷ đồng tương ứng với 84,66% tăng trưởng. Nguyên nhân là do trong

năm 2011, năm 2012 công ty tạm ứng cho nhân viên của các phòng ban chủ chốt với

số tiền bằng 90% trong tài sản ngắn hạn khác, còn lại là các khoản cầm cố, ký cước,

ký quỹ ngắn hạn trong khi năm 2010 chỉ tạm ứng một lượng giá trị nhỏ là 0,15 tỷ đồng. Bên cạnh đó các khoản thuế phải nộp nhà nước tăng lên do đó làm cho tài sản

ngắn hạn khác tăng.

 Tài sản cố định và đầu tƣ dài hạn: Năm 2011 là 0,19 tỷ đồng tăng 0,07 tỷ đồng, tương ứng với 58,33% so với năm 2010. Trong năm 2011 công ty đã đầu tư

thêm về tài sản cố định và không có hoạt động đầu tư cho tài sản thuê tài chính. Năm

2012 công ty đầu tư 1,06 tỷ đồng vào tài sản cố định và đầu tư dài hạn, phục vụ cho

mục đích mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động, phát triển hệ

thống kinh doanh. Các tài sản cố định và đầu tư dài hạn được tài trợ bởi những nguồn vốn thường xuyên (nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vay nợ trung dài hạn) là tiêu

chuẩn để đánh giá mức độ bảo đảm nguồn vốn nên đây là lý do công ty cần đầu tư vào

tài sản cố định.

Vốn: Tổng số vốn năm 2011 là 22,61 tỷ đồng, so với năm 2010 tăng 7,48 tỷ đồng

tương đương 49,43% và giảm 4,76 tỷ đồng so với năm 2012 là 27,37 tỷ đồng tương

đương với 21,05% do:

 Nợ ngắn hạn: Năm 2011 là 17,54 tỷ đồng, tăng 6,59 tỷ đồng tương ứng với 60,18% so với năm 2010 là 10,95 tỷ đồng. Sự gia tăng này năm 2011 chủ yếu là do

tăng của khoản vay từ các tổ chức tín dụng với 2,5 tỷ đồng để mua thêm nguyên vật

liệu, tăng quy mô sản xuất. Bên cạnh đó do Công ty TNHH Phát triển KĐT mới Nam

Thăng Long đã trả trước một khoản tiền là 2,62 tỷ đồng cho dịch vụ xây dựng, lắp đặt

công trình. Năm 2012 là 21,65 tỷ đồng tăng 4,11 so với năm 2011 tương đương với

23,43%. Trong năm 2012, công ty vay ngắn hạn ngân hàng khá nhiều, gấp đôi năm 2011, sở dĩ là để mua thêm nguyên vật liệu, gia tăng sản xuất. Còn lại là các khoản vay để nộp thuế, chi phí trả lãi vay cá nhân và các khoản phải trả, phải nộp khác. Việc khách hàng ứng trước tiền hàng, cũng như các khoản vay ngắn hạn làm tăng gánh nặng trả nợ cho doanh nghiệp, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán.

 Nợ dài hạn: Từ lúc thành lập đến năm 2012, doanh nghiệp chưa hề vay các khoản nợ dài hạn để kinh doanh, vì công ty mới thành lập nên công ty chọn chiến lược kinh doanh thận trọng. Ưu điểm của chính sách này là giảm thiểu rủi ro, đảm bảo khả năng thanh toán cho công ty. Nhưng cũng có nhược điểm như công ty sẽ không có cơ hội tăng trưởng ổn định trong thời gian dài, quy mô cũng không được mở rộng, phạm

33

vi kinh doanh chỉ nhỏ hẹp, công ty sẽ trở nên nhỏ bé so với các doanh nghiệp khác

cùng ngành của thị trường trong nước cũng như nước ngoài. Tuy nhiên công ty mới chỉ thành lập nên nhược điểm này chỉ xảy ra nếu công ty kéo dài chính sách này.

 Vốn chủ sở hữu: Năm 2011 là 5,07 tỷ đồng, tăng so với năm 2010 là 0,89 tỷ

đồng tương ứng với 21,29%. Năm 2012 vốn chủ sở hữu tiếp tục tăng lên 5,72 tỷ đồng.

Vốn được bổ sung từ kết quả kinh doanh của công ty năm trước theo quyết định của

các chủ sở hữu phục vụ cho kì kinh doanh sắp tới. Ngoài ra, lợi nhuận sau thuế chưa

phân phối tăng lên với tỉ lệ cao trong năm 2011 là 0,7 tỷ đồng và năm 2012 là 1,36 tỷ

đồng. Nguyên nhân của sự gia tăng này đến từ chính nhu cầu tái đầu tư mở rộng hoạt

động kinh doanh, tăng khả năng tự chủ tài chính và đầu tư trang thiết bị cần thiết cho

mục tiêu phát triển kinh doanh bền vững cũng như đào tạo, đãi ngộ cán bộ công nhân

viên, lực lượng lao động phục vụ lâu dài của Công ty.

2.2.1.2. Phân tích một số chỉ tiêu tài chính căn bản của Công ty Cổ phần VinaFacade

*) Chỉ tiêu xác định cơ cấu tài sản và vốn

Bảng 2.2: Chỉ tiêu xác định cơ cấu Tài sản – Vốn

(Đơn vị tính: %)

Chênh lệch

Chỉ tiêu Năm 2012 Công thức tính Năm 2010 Năm 2011 2011/ 2010 2012/ 2011

1. Tỷ trọng tài Tổng tài sản

sản ngắn hạn ngắn hạn 99,22 99,17 96,13 (0,05) (3,04)

Tổng tài sản

2. Tỷ trọng tài Tổng tài sản

sản dài hạn dài hạn 0,79 0,82 3,87 0,03 3,05

Tổng tài sản

3. Tỷ trọng nợ Tổng nợ 72,38 77,59 79,1 5,21 1,51 Tổng vốn

Tổng vốn chủ sở hữu 27,62 22,40 20,9 (5,22) (1,5)

4. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu Tổng vốn

34

(Nguồn: phòng Hành chính tổng hợp)

Chúng ta có thể thấy rõ hơn qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ các chỉ tiêu xác định cơ cấu Tài sản – Vốn

99.22

99.17

96.13

100

90

79.1

77.59

80

72.8

70

Tỷ trọng TSNH

60

Tỷ trọng TSDH

50

Tỷ trọng nợ

40

Tỷ trọng vốn CSH

27.62

30

22.4

20.9

20

Đơn vị tính (%)

3.87

10

0.79

0.82

0

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Qua bảng và biểu đồ phân tích trên ta thấy:

- Tỷ trọng tài sản ngắn hạn (tài sản lƣu động) có ý nghĩa trong một đồng

Tổng tài sản của công ty có bao nhiêu đồng đồng tài sản ngắn hạn. Năm 2010 là

99,22% thể hiện trong một đồng Tổng tài sản của công ty thì có 0,9922 đồng đồng

tài sản ngắn hạn; năm 2011 thì có 0,9917 đồng tài sản ngắn hạn trong một đồng

Tổng tài sản; còn năm 2012 thì có 0,9613 đồng tài sản ngắn hạn trong một đồng

Tổng tài sản. Như vậy một đồng Tổng tài sản năm 2011 có ít hơn 0,05 đồng đồng

tài sản ngắn hạn so với năm 2010 và nhiều hơn năm 2012 là 3,04 đồng. Nguyên

nhân là do trong cả hai năm 2011, 2012 công ty rút tiền từ ngân hàng về để chi trả

các khoản nợ ngắn han. Tuy nhiên việc giảm này cũng không mấy quan trọng vì

tài sản ngắn hạn chiếm một tỉ trọng tương đối lớn trên tổng tài sản của công ty.

- Tỷ trọng tài sản dài hạn năm 2011 là 0,82% có ý nghĩa trong một đồng

Tổng tài sản thì có 0,0082 đồng tài sản dài hạn; còn năm 2010 thì có 0,0079 đồng tài sản dài hạn trong một đồng Tổng tài sản và năm 2012 thì có 0,0387 đồng tài sản dài hạn trong một đồng Tổng tài sản. Như vậy trong một đồng Tổng tài sản năm 2011 có nhiều hơn 0,0003 đồng tài sản dài hạn so với năm 2010 và ít hơn

3,05 đồng tài sản dài hạn so với năm 2012. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp đang mở rộng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật để nâng cao năng lực sản xuất. Cụ thể do tài sản cố định và đầu tư dài hạn tăng 0,07 tỷ đồng năm 2011, tăng 0,87 năm

35

2012. Tài sản cố định hữu hình tăng 0,1 tỷ đồng năm 2011, tăng 0,88 tỷ đồng năm

2012 do công ty mua sắm một số máy móc thiết bị cho xí nghiệp, và thiết bị quản lý như: máy in, máy photo, phương tiên vận tải,…

- Tỷ trọng nợ phải trả năm 2011 là 77,59% có ý nghĩa là trong một đồng

Tổng vốn thì có 0,7759 đồng nợ, còn năm 2010 thì có 0,7238 đồng nợ trong một

đồng Tổng vốn và năm 2012 có 0,791 đồng nợ trong một đồng Tổng vốn. Như

vậy trong một đồng Tổng vốn năm 2011 có nhiều hơn 0,0521 đồng nợ so với năm 2010 và ít hơn năm 2012 là 0,151 đồng nợ. Năm 2011 khoản nợ phải trả tăng khá

cao do công ty tăng mức huy động vốn từ các tổ chức tín dụng là 1,75 tỷ đồng, tỷ

trọng tương ứng 233%. Hơn nữa số vốn bị chiếm dụng quá nhiều và nhu cầu sản

xuất gia tăng nên công ty phải vay để bổ sung vốn lưu động. Đây là biểu hiện

không tốt. Mặt khác, do vốn đi chiếm dụng cũng tăng khá lớn 12,99 tỷ đồng và tỷ

trọng tăng tương ứng là 129,2%, trong đó chủ yếu do khoản phải trả người bán

tăng vì doanh nghiệp tăng nguyên vật liệu mua vào. Đến năm 2012, tỷ trọng nợ

vẫn tăng nhưng khá thấp, điều này cho thấy công ty đã có những biện pháp để

quản lý nợ, giảm rủi ro cho doanh nghiệp.

- Tỷ trọng vốn chủ sở hữu năm 2011 là 22,40% có ý nghĩa trong một đồng

Tổng vốn của công ty thì có 0,2240 đồng vốn chủ sở hữu; còn năm 2010 thì có

0,2762 đồng vốn chủ sở hữu trong một đồng Tổng vốn và năm 2012 có 0,209

đồng vốn chủ sở hữu trong một đồng Tổng vốn. Như vậy trong một đồng Tổng vốn năm 2011 có ít hơn 0,0522 đồng vốn chủ sở hữu so với năm 2010 và nhiều

hơn năm 2012 là 0,015 đồng vốn chủ sở hữu. Điều này cho thấy công ty thực hiện

những chính sách, biện pháp quản lý nợ không hiệu quả, khả năng tự chủ về tài

chính bị ảnh hưởng. Hơn thế nữa, hàng năm các cổ đông không bỏ vốn thêm mà

vẫn giữ mức vốn chủ sở hữu bỏ ra từ lúc thành lập. Điều này cho thấy công ty

không gây được niềm tin, động lực đầu tư từ phía các nhà đầu tư bằng việc các

nhà đầu tư nhìn thấy tình hình hoạt động kinh doanh không hiệu quả của công ty.

*) Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán thể hiện mức độ thanh toán nợ của công ty. Nếu công ty

thanh toán các khoản nợ nhanh chóng, kịp thời không bị dồn nợ thì chứng tỏ trong ba năm qua hoạt động kinh doanh của công ty đạt được hiệu quả và ngược lại nếu công ty thanh toán chậm các khoản nợ thì hoạt động kinh doanh không hiệu quả. Việc xem xét khả năng thanh toán rất cần thiết, vì trong kinh doanh công ty sẽ phải gặp những tình huống bất ngờ cần phải trả một số khoản tiền: các khoản chi phí trong hoạt động kinh

doanh của công ty, các khoản chi phí phát sinh thêm từ việc tăng giá,….

Để đánh giá khả năng thanh toán của công ty ta xem xét đến: khả năng thanh

36

toán ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời.

Bảng 2.3: Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán

(Đơn vị tính:lần)

Chênh lệch

Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

2011/ 2010 2012/ 2011

1,37 1,27 (0,1) 1,22 (0,05) 1. Khả năng thanh toán hiện hành Tổng tài sản lưu động Tổng nợ ngắn hạn

1,14 0,98 (0,16) 0,79 (0,19) 2. Khả năng thanh toán nhanh (Tổng tài sản ngắn hạn – Kho) Tổng nợ ngắn hạn

0,26 0,095 (0,164) (0,094) 0,001 3. Khả năng thanh toán tức thời (Tiền + Các khoản tương đương tiền) Tổng nợ ngắn hạn

- - Chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành

Qua bảng phân tích trên ta thấy:

Biểu đồ 2.3: Khả năng thanh toán hiện hành

1.22 lần

1.37 lần

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

1.27 lần

-

-

- Khả năng thanh toán hiện hành thể hiện tài sản lưu động thông thường bao gồm

tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu và dự trữ hàng tồn kho; còn nợ

ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các khoản phải trả nhà

37

cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác…Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều

có thời hạn nhất định trong một năm. Tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn là thước đo

khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mỗi một đồng nợ huy

động thì được đảm bảo thanh toán ngắn hạn bằng 1,27 đồng tài sản năm 2011, bằng

1,37 đồng tài sản năm 2010 và bằng 1,22 đồng tài sản năm 2012 . Nhìn vào các con số

này cho ta thấy khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty năm 2011, năm 2012 kém

hơn năm 2010. Tuy nhiên cả hai năm chỉ tiêu này đều lớn hơn 1, chứng tỏ việc dự trữ

tài sản ngắn hạn của công ty dư thừa để trang trải cho các khoản nợ ngắn hạn.

- Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh

Biểu đồ 2.4: Khả năng thanh toán nhanh

0.79

Năm 2010

1.14

Năm 2011

Năm 2012

Đơn vị tính: lần

0.98

Khả năng thanh toán nhanh được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc

tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn. Tỷ số này cho

biết một đồng nợ huy động ngắn hạn được đảm bảo bằng 0,98 đồng TSNH trừ đi Hàng

tồn kho năm 2011, bằng 1,14 đồng TSNH trừ đi Hàng tồn kho năm 2010 và bằng 0,79

đồng TSNH trừ đi Hàng tồn kho năm 2012. Như vậy khả năng thanh toán nhanh năm

2011, năm 2012 kém hơn năm 2010. Xét ở chỉ tiêu này thì khả năng thanh toán nhanh

phụ thuộc vào giá trị Kho. Do nợ ngắn hạn trong năm 2011, năm 2012 tăng lên nên

làm cho khả năng thanh toán nhanh bị giảm sút. Điều đó chứng tỏ hoạt động kinh

doanh của công ty đã bị giảm sút so với năm 2010. Công ty cần có những biện pháp

38

khắc phục những khoản nợ để tránh rủi ro trong những năm tới.

- Chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời

0.001

0.095

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Đơn vị tính: lần

0.26

Biểu đồ 2.5: Khả năng thanh toán tức thời

Khả năng thanh toán tức thời năm 2011 là 0,095 lần có ý nghĩa một đồng nợ

ngắn hạn được đảm bảo bằng 0,095 đồng tiền và các khoản tương đương tiền. Còn

năm 2010, một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 0,26 đồng tiền và các khoản

tương đương tiền. Và năm 2012, một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 0,001

đồng tiền và các khoản tương đương tiền. Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán

tức thời một khoản nợ cần phải trả, vì vậy chỉ tiêu này càng lớn thì càng đảm bảo chắc

chắn cho khả năng thánh toán của doanh nghiệp. Nhưng năm 2011, năm 2012 chỉ tiêu

này giảm đi khá nhiều so với năm 2010, cũng vì nền kinh tế chung năm 2011, 2012

gặp khó khăn nhất là thị trường bất động sản nên ảnh hưởng trực tiếp tới doanh nghiệp

trong việc chi trả các khoản nợ.

Qua các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán trên có thể thấy công ty đang áp

dụng chiến lược sử dụng vốn thận trọng. Mặc dù chiến lược này làm cho kinh doanh

an toàn của công ty có lợi nhuận nhưng tần suất khả năng thanh toán các khoản nợ bị

giảm sút. Nếu cứ sử dụng hình thức thận trọng này để kinh doanh thì công ty sẽ không

phát triển mạnh hơn được, mà chỉ kinh doanh được trong phạm vi nhỏ hẹp. Công ty

cần nghiên cứu, triển khai tới các chiến lược mạo hiểm, nếu thành công công ty sẽ đem

lại khoản lợi nhuận rất lớn. Đòi hỏi công ty cần phải đưa ra giải pháp khắc phục, cải

39

thiện khả năng thanh toán của công ty sao cho tốt hơn.

*) Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản

Bảng 2.4: Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản

(Đơn vị tính: lần)

Chênh lệch

Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

2011/ 2010 2012/ 2011

0,82 (0,4) (0,24) 1,46 1,06 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân

Biểu đồ 2.6: Hiệu suất sử dụng tài sản

Đơn vị tính: lần

1.6

1.46

1.4

1.2

1.06

1

0.82

0.8

0.6

0.4

0.2

0

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2011 hiệu suất sử dụng tổng tài sản của công ty là 1,06 lần, năm 2012 là 0,82 lần trong khi đó năm 2010 cao hơn là 1,46 lần. Nghĩa là trong năm 2011, một

40

đồng tài sản khi tham gia vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra 1,06 đồng doanh thu thuần, giảm 0,4 lần so với năm 2010 và năm 2012 là 0,24 lần tiếp tục giảm so với 2011. Nguyên nhân là do trong năm 2011, năm 2012 công ty tăng các khoản ứng trước cho người bán. Điều này cho thấy trong năm 2011, 2012 hiệu suất sử dụng tài sản của công ty đã bị giảm bớt. Một đồng tài sản tạo ra ít đồng doanh thu hơn. Vì vậy trong tương lai công ty cần phải chú trọng hơn nữa vào hiệu suất sử dụng tài sản để có thể làm tăng hiệu quả sinh lời cho công ty.

*) Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời

Bảng 2.5: Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời

(Đơn vị tính:%)

Chênh lệch

Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011/ 2010 2012/ 2011

Lợi nhuận ròng 0,047 0,036 0,029 (0,011) (0,007) Doanh thu thuần 1. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

Lợi nhuận ròng

Tổng tài sản bình 0,068 0,039 0,024 (0,029) (0,015) 2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản quân

Lợi nhuận ròng

Vốn chủ sở hữu bình 0,248 0,175 0,115 (0,073) (0,06)

quân 3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

Qua bảng phân tích trên ta thấy tất cả các chỉ tiêu sinh lời đều dương nhưng

không có sự tăng trưởng qua các năm, việc này cho thấy hoạt động kinh doanh của

công ty đang ngưng trệ, không phát triển.

 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

Biểu đồ 2.7: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

0.047

0.036

0

0.029

41

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Năm 2011 là 0,036% giảm 0,011% so với năm 2010 là 0,047%, còn năm 2012

giảm 0,007% so với năm 2011. Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá

khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư, có nghĩa là cứ một trăm đồng doanh thu

thuần năm 2010 tạo ra 0,047 đồng lợi nhuận, năm 2011 là 0,036 đồng và năm 2012 chỉ

tạo ra được 0,029 đồng lợi nhuận. Do đó tỷ suất sinh lời năm 2011, năm 2012 giảm đi

so với năm 2010, chứng tỏ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đang kém dần đi.

 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

Biểu đồ 2.8: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

0.068

Đơn vị tính: %

0.07

0.06

0.039

0.05

0.04

0.024

0.03

0.02

0.01

0

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản năm 2011 là 0,039%, trong khi đó năm 2010 là

0,068%, tức là giảm đi 0,029%, còn năm 2012 giảm đi so với năm 2011 là 0,024%.

Điều này cho thấy trong năm 2011 cứ một trăm đồng đầu tư cho tài sản trung bình sẽ

tạo ra 0,039 đồng lợi nhuận, năm 2010 là 0,068 đồng lợi nhuận và năm 2012 là 0,024

đồng lợi nhuận.

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản giảm, nguyên nhân là do lợi nhuận ròng giảm đi.

Quy mô tài sản năm 2011 nhỏ hơn năm 2010, tốc độ tăng của lợi nhuận nhỏ hơn tốc

độ tăng của quy mô. Năm 2012 mức lợi nhuận thu được so với tổng tài sản đầu tư còn

quá ít, không những thế chỉ tiêu này còn bị giảm so với năm trước. Qua chỉ tiêu này

thể hiện tính không hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh

42

doanh của doanh nghiệp.

 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

Biểu đồ 2.9: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

0.115

Năm 2010

Năm 2011

0.248

NĂm 2012

Đơn vị tính: %

0.175

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu năm 2011 là 0,175%, giảm 0,073% so với

năm 2010 là 0,248% và năm 2012 giảm 006% so với năm 2011. Điều này cho thấy

trong năm 2011 cứ một trăm đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra để kinh doanh thu được 0,175

đồng lợi nhuận, năm 2012 thu được 0,115 đồng lợi nhuận, trong khi đó năm 2010 thu

được nhiều hơn là 0,248 đồng. Điều này chứng tỏ công ty đang kinh doanh không ổn

định và có nhiều bất cập trong chiến lược kinh doanh, phát triển. Doanh nghiệp quản

lý và sử dụng vốn không tốt.

Kết luận:

Qua phân tích một số chỉ tiêu tài chính căn bản ta thấy hoạt động sản xuất kinh

doanh không được tốt và ổn định. Lợi nhuận liên tục giảm sút là điều đáng lo ngại,

hơn thế nữa nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước cũng là một gánh nặng cho doanh nghiệp

mới mở như công ty. Về chính sách, phương pháp quản lý của ban lãnh đạo vẫn còn

nhiều hạn chế cần phải khắc phục để đạt mục tiêu lợi nhuận tốt hơn. Công ty đang

trong quá trình mở rộng quy mô thì ban lãnh đạo cần có cái nhìn khái quát, dự đoán

được xu thế kinh doanh trong tương lai để đưa ra các chiến lược kinh doanh sáng suốt

43

đạt mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước.

2.2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Bảng 2.6: Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

(Đơn vị : Tỷ đồng)

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Tổng doanh thu 22,1 24,04 22,51

Doanh thu thuần 22,1 24,04 22,51

LN trước thuế 1,04 1,12 0,8

LN sau thuế 1,04 0,89 0,66

(Nguồn : phòng Hành chính tổng hợp)

Đơn vị tính: tỷ đồng

Biểu đồ 2.10: Lợi nhuận sau thuế của công ty

0.66 1.04

Năm 2010

0.89

Năm 2011

Năm 2012

Qua bảng và biểu đồ trên cho thấy tổng doanh thu của công ty đều bị giảm dần

qua các năm. Vì công ty mới thành lập từ năm 2008 nên ba năm đầu chưa phải nộp

thuế thu nhập doanh nghiệp nên doanh thu năm 2010 mới được 1,04 tỷ đồng. Từ năm

2011 trở đi công ty bắt đầu phải đóng thuế nên doanh thu bị giảm đi so với năm 2010.

Hơn nữa trong năm 2011 công ty phải chịu khủng hoảng từ nền kinh tế toàn cầu, ảnh

hưởng nặng nề nhất chính là ngành bất động sản mà công ty hoạt động kinh doanh vì

vậy doanh thu của công ty mới thấp như vậy. Và hậu quả khó khăn của nó lan sang cả

năm 2012, công ty cũng chưa có chiến lược, giải pháp để giải quyết kịp thời nên doanh

44

thu năm 2012 tụt xuống chỉ còn 0,66 tỷ đồng.

2.2.2. Thực trạng lợi nhuận tại công ty Cổ phần VinaFacade

2.2.2.1. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2010 – 2012

Ta có thể thấy tình hình thực hiện lợi nhuận của công ty qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.7: Báo cáo kết quả kinh doanh

(Đơn vị: triệu đồng)

Chênh lệch

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối(%)

22.104,36 24.042,38 22.506,34 1.938,02 8,77 (1.536,04) (6,36)

0 0 0 0 0 0 0 1. Doanh thu BH và CCDV 2. Các khoản giảm trừ DT

3. DT thuần 22.104,36 24.042,38 22.506,34 1.938,02 8,73 (1.536,04) (6,36)

4. GVHB 18.945,44 20.185,78 18.885,41 1.240,34 6,54 (1.300,37) (6,43)

5. LN gộp 3.158,92 3.856,59 3.620,93 697,67 22,15 (235,66) (6,21)

23,89 9,48 15,04 (14,41) (62,5) 5,56 66,67 6. Doanh thu HĐTC

7. Chi phí TC 13,79 292,83 477,28 297,04 1.971,42 184,45 65,51

13,79 291,73 465,48 277,94 2.053,84 173,75 64,28

463,65 685,72 388,91 222,07 47,83 (296,81) (43,48)

1.665,66 1.765,99 1.927,46 100,33 6,02 161,47 9,65

1.039,71 1.121,52 842,33 81,81 7,69 (279,19) (25) Trong đó: Chi phí lãi vay 8. Chi phí bán hàng 9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 10. Lợi nhuận thuần

0,08 0,27 0 0,19 250 (0,27) (100) 11. TN khác

0,03 0,12 39,78 0,09 300 39,66 33.233 13. Chi phí khác

0,05 0,15 (39,78) 0,1 200 (39,93) 26.767 14. LN khác

1.039,76 1.121.67 802,54 81,91 7,69 (319,13) (28,57)

0 235,42 147,41 235,42 100 (88,01) (39,1)

1.039,76 886,25 655,13 (153,51) (15,38) (231,12) (25) 15. Tổng lợi nhuận kế toán trƣớc thuế 16. Chi phí thuế TNDN 17. Lợi nhuận sau thuế TNDN

45

(Nguồn: phòng Hành chính tổng hợp)

Qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ba năm từ 2010-2012, ta thấy lợi nhuận sau thuế của công ty đều giảm trong ba năm. Tình hình kinh doanh của công ty

sụt giảm như vậy là bởi vì sự suy yếu, khủng hoảng của nền kinh tế chung toàn cầu,

đặc biệt trong năm 2011, kinh tế rất bất ổn, lạm phát tăng cao, tín dụng thu hẹp làm

cho công ty Cổ phần VinaFacade nói riêng và các công ty khác gặp nhiều khó khăn.

Ảnh hưởng nặng nề nhất của việc khủng hoảng kinh tế này là thị trường bất động sản hoàn toàn đóng băng và không có khả năng thu hồi vốn, ảnh hưởng trực tiếp tới tình

hình kinh doanh của công ty Cổ phần VinaFacde trong việc xây lắp các công trình.

 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Tổng doanh thu năm 2010 là 22.104,36 triệu đồng và năm 2011 là 24.042,38 triệu đồng, tăng 1.938,01 triệu đồng so

với năm 2010, tương ứng 8,77%. Sự gia tăng này chứng tỏ công ty đã thực hiện hiệu

quả chiến lược kinh doanh như cung cấp phụ kiện cho Dự án tổ hợp Crown Plaza và

cung cấp dịch vụ lắp đặt khác. Năm 2012, tổng doanh thu là 22.506,35 triệu đồng,

giảm 1.536,04 triệu đồng so với năm 2011, tương đương với giảm 6,36%. Trong năm 2012, công ty vẫn có doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ lắp đặt cho các công

trình theo dự án trúng thầu. Công ty ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch

vụ, thị trường tiêu thụ của công ty ngày càng rộng lớn, điều đó thể hiện khả năng xâm

nhập thị trường nhanh, tạo động lực cho công ty phát triển hơn nữa.

 Các khoản giảm trừ doanh thu: cả ba năm 2010, 2011 và năm 2012 đều không có các khoản giảm trừ. Điều này chứng tỏ rằng các sản phẩm và dịch vụ mà công ty

lắp đặt cho khách hàng đều đảm bảo chất lượng, được khách hàng hài lòng nên không

phát sinh các khoản chí phí sửa chữa, lắp đặt lại.

 Doanh thu thuần: do không có các khoản giảm trừ doanh thu nên tổng doanh thu của công ty ba năm cũng chính là doanh thu thuần. Việc tăng này cho thấy công ty đang kinh doanh có hiệu quả để phục vụ mục đích mở rộng quy mô, nâng cấp, cải

thiện trang thiết bị, máy móc văn phòng cũng như nhà xưởng để quy trình sản xuất

kinh doanh được thực hiện tốt nhất và hiệu quả nhất.

 Giá vốn hàng bán: năm 2011 là 20.185,78 triệu đồng, tăng 1.240,34 triệu đồng so với năm 2010 và năm 2012 mức chi phí giá vốn giảm đi 1.300,37 triệu đồng so với năm 2011. Giá vốn hàng bán của công ty phụ thuộc vào sự gia tăng của các thành phẩm cũng như các dịch vụ cung cấp, lắp đặt phụ kiện của công ty. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thay đổi, đây là yếu tố đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí giá vốn hàng bán. Qua đây công ty cần phải tiến hành rà soát lại tất cả các xí nghiệp để xem

46

xét kỹ lưỡng xí nghiệp nào có tốc độ gia tăng của giá vốn cao và phân tích xem do chi phí nào phát sinh. Để từ đó có biện pháp kiểm soát thích hợp mà chất lượng thành

phẩm vẫn được nâng cao vì giá thành sản phẩm là một trong các nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh của công ty so với các đối thủ khác cùng ngành.

 Doanh thu hoạt động tài chính: năm 2011 là 9.483,33 triệu đồng, giảm 14.404,92 triệu đồng so với năm 2010 là 23,89 đồng, tương ứng giảm với tỷ lệ 60,3%.

Mức giảm này là khá lớn. Ở công ty Cổ phần VinaFacade doanh thu từ các hoạt động tài chính chủ yếu là do việc nhận lãi từ các khoản tiền gửi ngân hàng và lãi của các

khoản cho vay khác. Năm 2011 là một năm kinh tế khó khăn gây ảnh hưởng đến công

ty, vì vậy công ty phải rút các khoản tiền gửi và khoản cho vay về để đảm bảo tính

thanh khoản. Đến năm 2012, công ty thu về gần như gấp đôi khoản doanh thu từ hoạt động tài chính này bằng việc thu lãi khoản tiền gửi và tiền cho vay.

 Chi phí tài chính: năm 2011 là 292,83 triệu đồng và tăng 2,023.8% so với năm 2010 là 13,79 triệu đồng. Chi phí tài chính năm 2011 tăng lên đột biến chủ yếu do chi

phí lãi vay với 291,73 triệu đồng. Năm 2012 khoản chi phí tài chính tăng lên 65,51%

tăng hơn gấp đôi khoản chi phí bỏ ra năm 2011. Công ty tiếp tục phải đi vay ngắn hạn

ngân hàng để trả các khoản nợ từ năm 2011, năm 2011 nền kinh tế chung bất ổn, lãi

suất vay tăng lên đến 18-19%, các doanh nghiệp không kịp ứng phó nên phải đi vay

ngắn hạn. Đây sẽ là một gánh nặng rất lớn cho công ty vì những khoản vay ngắn hạn

phải được thanh toán trong thời gian sớm nhất, ngoài ra còn một số nguyên nhân khác

như tỷ giá ngoại hối không ổn định, lãi suất ngân hàng khá cao trong khi khoản doanh

thu từ lãi tiền gửi ngân hàng và các hoạt động cho vay không đủ bù đắp.

 Chi phí bán hàng: năm 2011 là 685,72 triệu đồng tăng 222,1 triệu đồng so với năm 2010 là 463,65 triệu đồng. Trong khoản chi phí này thì chủ yếu là chi phí nhân

viên: năm 2011 là 529.077.600 đồng và năm 2010 là 383.486.280 đồng, lần lượt chiếm

77,15% và 82,7% trong tổng chi phí bán hàng. Số còn lại là cho các khoản chi phí vật liệu, bao bì; Chi phí dụng cụ, đồ dùng; Chi phí bảo hành; Chi phí dịch vụ mua ngoài;

Chi phí bằng tiền khác. Công ty liên tục phải bỏ ra các khoản chi phí này để giới thiệu,

quảng bá sản phẩm đến khách hàng của mình. Năm 2012 chi phí bán hàng giảm 296,81 triệu đồng so với năm 2011, giảm tương ứng với 40%. Doanh thu năm 2012 ít

hơn 2 tỷ so với năm 2011 và giảm với tỷ lệ 9%, nhưng chi phí phục vụ bán hàng giảm

hơn 40%. Việc này cho thấy công tác quản lý, kiểm soát chi phí bán hàng của công ty tương đối tốt.

 Chi phí quản lý doanh nghiệp: năm 2011 là 1.765,99 triệu đồng và tăng lên 100,34 triệu đồng so với năm 2010 là 1.665,66 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ 6,02%.

Năm 2012 là 1.927,46 triệu đồng, tăng 161,47 triệu đồng so với năm 2011. Nguyên nhân là do năm 2011, 2012 công ty liên tục tuyển dụng thêm nhân viên mới và phát

47

sinh các chi phí kèm theo như: vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng. Bên cạnh

đó công ty đã cử cán bộ công nhân viên tham gia các chương trình đào tạo nhằm nâng cáo chất lượng quản lý và thu thập thông tin. Với việc mở rộng quy mô sản xuất thì

đòi hỏi việc quản lý doanh nghiệp cũng phải tốt hơn nên việc bỏ ra chi phí để đào tạo

nhân viên làm tăng loại chi phí này là điều tất yếu. Tuy nhiên công ty cũng cần xem

xét việc kiểm soát các loại chí phí này, rà soát lại những khoản chi phí nào không hợp

lý hay công ty có thể tiết kiệm được mà cắt giảm cho phù hợp vì tốc độ tăng của chi phí quản lý doanh nghiệp khá lớn, điều này có nguy cơ làm cho lợi nhuận giảm xuống.

 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh: năm 2011 là 1.121,52 triệu đồng và tăng 81,81 triệu đồng so với năm 2010 là 1.039,71 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ 7,87%. Năm 2012 là 842,33 triệu đồng giảm 279,19 triệu đồng giảm tương ứng với

25% so với năm 2011. Công ty đã chi ra khá nhiều các khoản tiền để mở rộng quy

mô, hay thực hiện các dự án lớn mà vẫn giữ được mức lợi nhuận dương. Việc này cho

thấy công ty thực hiện có hiệu quả.

 Lợi nhuận khác: năm 2011 là 0,15 triệu đồng, năm 2010 là 0,05 triệu đồng. Năm 2012 lợi nhuận khác bị âm 39,78 triệu đồng do không có một khoản thu nhập

khác nào mà chỉ phát sinh chi phí khấu hao nguyên vật liệu. Hoạt động khác là những

hoạt động xảy ra không thường xuyên, chủ yếu chỉ phát sinh khi công ty tiến hành

thanh lý nhượng bán tài sản cố định. Vì vậy khoản chi phí khác cũng có liên quan đến

hoạt động này. Mặc dù ít xảy ra, nhưng những hoạt động khác cũng phần nào ảnh

hưởng nhất định đến kết quả kinh doanh. Trong hai năm 2010 và 2011, ta đều thấy

hoạt động khác đều mang lại lợi nhuận cho công ty, chính khoản lợi nhuận này đã ảnh

hưởng tốt đến tổng lợi nhuận, góp phần làm tăng tổng lợi nhuận trước thuế của công

ty.

 Thuế thu nhập của doanh nghiệp: Vì công ty mới thành lập nên năm 2010 không phải đóng thuế TNDN, bắt đầu từ năm 2011 công ty mới phải đóng thuế và năm

2011 phải đóng 235.417.954 đồng, năm 2012 phải đóng 147,41 triệu đồng. Vì doanh

thu năm 2012 ít hơn năm 2011 nên số thuế vì thế mà đóng ít hơn. Đây là nghĩa vụ của công ty trong việc nâng cao thu ngân sách và việc điều tiết của Nhà nước trong xây

dựng, phát triển đất nước.

 Lợi nhuận sau thuế: năm 2011 giảm 153,51 triệu đồng so với năm 2010, tương ứng với tỷ lệ giảm 14,76%, năm 2012 giảm 231,12 triệu đồng, tương ứng với 25%. Sở dĩ có sự suy giảm này là do công ty phải thực hiện nghĩa vụ đóng thuế. Còn xét về mức lợi nhuận thu được của công ty trong thời kỳ kinh tế bất ổn là cũng không phải là

48

quá thất vọng: 886,25 triệu đồng năm 2011 và 655,14 triệu đồng năm 2012. Với lợi nhuận dương này sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện việc đãi ngộ, đào tạo,

mua sắm trang thiết bị chuyên dụng trang bị cho nhân viên thiết kế, xây lắp thi công công trường, để có điều kiện làm viêc tốt nhất đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

2.2.2.2. Thực trạng lợi nhuận từ hoạt động tài chính

Tình hình hoạt động tài chính những năm qua như sau:

Bảng 2.8: Lợi nhuận từ hoạt động tài chính

(Đơn vị: triệu đồng)

Chênh lệch Chỉ tiêu

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Tuyệt đối Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tƣơng đối (%)

23,89 9,48 15,04 (14,41) (62,5) 5,56 66,67

13,79 292,83 477,28 297,04 1.971,42 184,45 65,51

13,79 291,73 465,48 277,94 2.053,84 173,75 64,28

10,1 (283,35) (432,24) (293,45) (2.905,4) (148,89) (52,5) 1. Doanh thu hoạt động tài chính 2. Chi phí tài chính -Trong đó: Chi phí lãi vay Lợi nhuận từ hoạt động tài chính

Từ bảng trên ta thấy hoạt động tài chính của công ty không được hiệu quả.

Chỉ có trong năm 2010 hoạt động tài chínhlãi 10,1 triệu đồng. Doanh thu từ hoạt

động tài chính trong nămnày khá cao 23,89 triệu đồng, trong đó chủ yếu là thu nhập từ

khoản lãi tiền gửi , tiền cho vay.

Năm 2011 hoạt động tài chính bị lỗ khá lớn 283,35 triệu đồng, làm lợi nhuận

giảm mạnh tới mức âm. Nguyên nhân của tình hình này do thu nhập tài chính giảm

62,5% , trong năm cũng xảy ra biến động lớn về kinh tế, lãi suất thay đổi liên tục và bị

giảm. Do lãi tiền gửi, tiền cho vay bị giảm có lúc xuống tới 12% cho 1 tháng trở lên, trong khi đó lãi suất huy động lên đến 18-19% , các doanh nghiệp rất khó khăn trong

việc huy động vốn. Chính vì vậy chi phí tài chính doanh nghiệp tăng lên đột ngột: 291,73 triệu đồng, công ty đang tiến hành chiến lược mở rộng quy mô kinh doanh, kế hoạch đã được định ra từ đầu kỳ nên không thể bỏ giở giữa chừng đành phải chịu lỗ để tiếp tục vận hành hoạt động kinh doanh của mình.

Đến năm 2012, tuy doanh thu hoạt động tài chính tăng 66,67% với 15,04 triệu đồng nhưng lợi nhuận tiếp tục bị lỗ còn nhiều hơn 148,89 triệu đồng so với năm 2011, do phải trả khoản chi phí vay của năm 2011 khá lớn để phục vụ mục đích của công ty.

49

Công ty đang bị phụ thuộc vào vay vôn, vay để bù đắp, trả nợ cho năm trước. Nếu để

tình hình này kéo dài thì công ty sẽ không phát triển bền vững được, mà phải lên các chiến lược kinh doanh để đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh chính của mình,

lấy khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ để sử dụng chứ không dựa vào việc

vay ngân hàng. Tự chủ được tài chính của công ty thì các hoạt động kinh doanh mới

ổn định được, hoạt động tài chính vì thế mới đem lại lợi nhuận cao hơn.

Nhìn chung qua 3 năm, ta thấy hoạt động tài chính không được tốt, trong 3 năm thì có đến 2 năm bị lỗ và khoản lỗ này đang có chiều hướng tăng dần sẽ làm hạn chế

mức độ tăng tổng lợi nhuận. Công ty cần có thêm nhiều biện pháp để quản lý mức

doanh thu này dù không nhiều nhưng cũng không nên để âm. Hoạt động đầu tư tài

chính là các hoạt động đầu tư vốn vào lĩnh vực kinh doanh khác nhằm mục đích mở rộng cơ hội thu lợi nhuận cao và hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Nói cách khác, đây

là hình thức công ty tận dụng mọi tài sản, vốn nhàn rỗi hoặc sử dụng kém hiệu quả và

các cơ hội kinh doanh trên thị trường để tham gia vào quá trình kinh doanh tài chính

này.

2.2.2.3. Thực trạng lợi nhuận từ hoạt động khác

Bảng 2.9: Lợi nhuận từ hoạt động khác

(Đơn vị: triệu đồng)

Chênh lệch Chỉ tiêu

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

0,08 0,27 0 0,19 250 (0,27) (100)

0,03 0,12 39,78 0,09 300 39,66 33.23

0,05 0,15 (39,78) 0,1 200 (39,93) 26.76 1. Thu nhập khác 2. Chi phí khác 3. Lợi nhuận khác

(Nguồn: phòng Hành chính tổng hợp)

Nhìn chung khoản thu nhập không thường xuyên này chiếm không nhiều trong

tổng lợi nhuận của công ty nhưng cũng có sự ảnh hưởng nếu chi phí tăng. Cụ thể là :

Năm 2011, lãi từ hoạt động khác chỉ là 0,15 triệu đồng nhưng tăng với tỷ lệ khá

cao 200% so với năm trước trong phần trăm tăng tổng lợi nhuận. Nguyên nhân do

giảm phát sinh các khoản chi phí khá lớn với 0,12 triệu đồng, chi phí thanh lý tài sản

và chi phí hao hụt nguyên liệu giảm hơn năm trước, nên dù khoản thu nhập không cao

nhưng so với mức giảm chi phí thì năm này hoạt động khá tốt. Khoản thu này giảm

50

chủ yéu do thu nhập từ thanh lý tài sản giảm.

Năm 2012, hoạt động này bị lỗ và giảm rất lớn 39,78 triệu đồng. Trong năm

không có hoạt động thanh lý tài sản hay một khoản thu nhập khác nào mà chi phí hao

hụt nguyên vật liệu thì vẫn phải chi đều hàng năm. Năm 2011, 2012 với kế hoạch mở

rông quy mô kinh doanh nên công ty mua rất nhiều máy móc, thiết bị và nguyên vật

liệu nên chi phí hao mòn vì thế mà tăng lên đáng kể.

Như vậy, ta thấy rằng trong những năm qua hoạt động khác không mấy hiệu quả.

Mặc dù năm 2010, 2011có thu được lãi nhưng vẫn thấp hơn rất nhiều so với tổng lợi

nhuận thu được. Hoạt động này chỉ là hoạt động tạo doanh thu thêm cho doanh nghiệp,

chủ yếu từ việc bán hoặc thanh lý các tài sản cũ, hết khấu hao nên doanh thu thu lại

cũng không nhiều. Nhưng công ty cũng nên tận dụng khoản này để nhận doanh thu khi

công ty muốn thay máy móc, công nghệ mới để cải tiến dây truyền sản xuất, tăng năng

suất lao động, tăng chất lượng sả phẩm.

2.3. Đánh giá thực trạng lợi nhuận tại công ty Cổ phần VinaFacade

2.3.1. Những kết quả đạt được

Qua nghiên cứu số liệu về tình hình thực hiện lợi nhuận tại công ty Cổ phần

VinaFacade giai đoạn 2010 – 2012, cho thấy công ty đã cố gắng vươn lên trong sản

xuất kinh doanh, nắm bắt tình hình thực tế, tận dụng các tiềm năng sẵn có để hạn chế

mức thấp nhất các khó khăn nhằm cải thiện tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đồng thời trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn, công ty đã tiến hành tìm

kiếm những biện pháp phù hợp với điều kiện thực tế của mình để nâng cao hiệu quả

kinh doanh, nhanh chóng tăng lợi nhuận cho công ty. Nhưng trong 3 năm từ 2010 –

2012, lợi nhuận của công ty không cao và còn bị giảm dần, sở dĩ là vì công ty mới

thành lập, trách nhiệm thuế còn nặng nề, hơn thế nữa doanh nghiệp còn phải chịu ảnh

hưởng của nền kinh tế khủng hoảng chung toàn cầu.

Tuy lợi nhuận không cao nhưng doanh thu thuần của doanh nghiệp trong 3 năm

không bị giảm mạnh mà chỉ dao động từ 22 – 24 tỷ đồng. Tình hình nền kinh tế trong

những năm qua có nhiều biến động: giá cả nguyên vật liệu tăng cao và không ổn định,

tình hình tài chính trong nước và trên thế giới khủng hoảng, nhiều công ty bị xiết nợ

dẫn tới phá sản, lãi suất tín dụng tăng cao, tốc độ tăng trưởng giảm,…nhưng nhờ sự nỗ

lực của tập thể cán bộ công nhân viên công ty vẫn trên đà phát triển. Hơn nữa công ty

còn ứng dụng công nghệ dây truyền sản xuất tiên tiên vào sản xuất kinh doanh, các

mối quan hệ với nhà đầu tư, cổ đông khá tốt, đây là thuận lợi cho công ty khi huy động

vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Về hoạt động sản xuất, các sản phẩm của công ty được từng bước đa dạng hóa,

51

chất lượng dần được nâng cao đáp ứng nhu cầu trong nước về các loại nhôm kính xây

dựng. Công ty đã áp dụng quy trình quản lý chất lượng sản phẩm tiên tiến, một số nhà

máy của công ty đã được cấp Chứng chỉ chất lượng sản phẩm ISO 9002.

Công ty đã chủ động linh hoạt cung ứng vốn một cách hợp lý để điều hòa nhịp

điệu sản xuất, cơ cấu chủng loại mặt hàng kinh doanh, tạo nên sự đồng bộ. Ngoài ra,

công ty đã có những cố gắng để từng bước xóa dần khoảng cách giữa các đơn vị thành

niên. Vốn được sử dụng có hiệu quả hơn và được kiểm soát chặt chẽ. Công ty cũng đã chủ trương và tiến hành ký hợp đồng tín dụng hạn mức cho toàn ngành với các Ngân

hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam. Đây là biện

pháp điều hành thuận lợi, tạo điều kiện nhanh gọn thuận lợi trong công tác tiêu thụ

hàng hóa.

Công ty còn thường xuyên phát động thi đua, hàng tháng có thưởng kèm theo

năng suất lao động của từng cá nhân. Cán bộ công nhân viên được tạo điều kiện tham

gia công tác đòan thể như đi thi văn nghệ dành được rất nhiều giải thưởng, ngoài ra,

công ty còn tổ chức tiệc cho nhân viên những ngày lễ, chế độ thăm hỏi nhân viên ốm

đau,…Mọi năm đều tổ chức cho cán bộ công nhân viên đi nghỉ mát, đầu tư các dịch vụ

giải trí cho nhân viên. Chế độ khen thưởng hợp lý tạo động lực cho nhân viên làm việc

hăng say, có tinh thần trách nhiệm với công việc, phát huy khả năng sáng tạo của nhân viên.

Những kết quả mà công ty đạt được trong giai đoạn vừa qua tuy vẫn chưa tương

xứng với tiềm năng và thế mạnh của công ty nhưng đó là sự cố gắng, nỗ lực của các

đơn vị sản xuất, sự quản lý chặt chẽ và có hiệu quả của Ban Giám đốc và các cán bộ

quản lý trong công ty.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.3.2.1. Hạn chế

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công ty Cổ phần VinaFacade vẫn còn tồn tại

nhiều hạn chế đặc biệt là tình hình tài chính của công ty, đòi hỏi cần có giải pháp kịp

thời để cải thiện tình hình tài chính và tăng lợi nhuận cho công ty.

Lợi nhuận của công ty liên tục giảm dần qua 3 năm, kể từ khi công ty phải chịu

gánh nặng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Mặc dù công ty bị tác động bởi sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng chính công ty cũng chưa có các biện pháp hợp lý để đề phòng những biến động xảy ra với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.

Việc quản lý chi phí của công ty chưa tốt, nhiều chi phí phát sinh mà không có

52

chứng từ hợp lệ, rõ ràng. Các chi phí về dịch vụ mua ngoài, tiền nước, tiền điện, fax, internet còn quá cao. Việc tổ chức quá trình mua vào bán ra và quản lý hàng chưa hợp

lý đã làm tăng chi phí không đáng có năm 2011 vừa qua. Các phòng còn lãng phí các chi phí giao nhận vận chuyển, các chi phí khác trong việc thực hiện hợp đồng.

Quy mô vốn chủ sở hữu hàng năm tăng trưởng thấp, tỷ trọng vốn chủ sở hữu

trong tổng nguồn vốn giảm qua các năm. Như vậy mục tiêu tối đa hóa giá trị vốn chủ

sở hữu của công ty vẫn chưa đạt được.

Khâu lưu thông đang đẩy mạnh tiêu thụ để thu bằng được doanh thu nên ít quan tâm phân tích đánh giá đến hiệu quả tài chính. Chưa chú trọng đúng mức đến việc

hoàn thiện củng cố phương thức cơ chế quản lý và kiểm tra thường xuyên hoạt động

của các xí nghiệp, của hàng. Tỷ lệ bán trả chậm còn lớn làm tăng nợ khó đòi. Mặc dù

công ty đã có nghị quyết của Hội đồng quản trị về quản lý và thu hồi công nợ bán

hàng, song các đơn vị thành viên còn chưa chấp hành nghiêm túc. Vì vậy tốc độ tăng

năm sau so với năm trước bình quân từ 2010 – 2012 là 35%. Công nợ tăng, công ty

thiếu vốn phải đi tìm nguồn tài trợ ở bên ngoài với chi phí cao.

Những vấn đề tồn tại nêu trên đặt ra cho công ty Cổ phần VinaFacade nhiệm vụ

hết sức nặng nề. Trong thời gian tới công ty nên có những giải pháp hữu hiệu để kiểm

soát chi phí, làm tăng lợi nhuận giúp công ty phát triển.

2.3.2.2. Nguyên nhân

Kế hoạch sản xuất xây lắp là nội dung cơ bản của hệ thống kế hoạch sản xuất kỹ

thuật tài chính thống nhất của doanh nghiệp xây lắp nói chung và của công ty Cổ phần VinaFacade nói riêng, là mục tiêu hành động của công ty. Mọi diễn biến tốt xấu của

tình hình hoàn thành kế hoạch đều ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các hoạt

động kinh doanh của công ty. Công ty còn gặp phải nhiều hạn chế như vậy chủ yếu là

do những nguyên nhân sau:

Công ty vừa mới thành lập được sáu năm, quy mô còn nhỏ nên điều kiện mua

sắm, tự trang bị tài sản cố định, thiết bị đầu tư xây dựng của công ty còn hạn chế.

Sản phẩm xây lắp không được phép có công trình, hạng mục công trình không

đảm bảo chất lượng theo yêu cầu thiết kế dự án, tuy nhiên trong quá trình thi công công trình, sử dụng công trình vẫn xảy ra những sai xót phải gia cố, sửa chữa lại thậm

chí phải phá đi làm lại. Điều này khiến công ty gặp nhiều khó khăn trong việc hoàn thành kế hoạch sản xuất xây lắp, công trình chậm bàn giao, nghiệm thu, đó là nguyên nhân làm doanh số và lợi nhuận của công ty bị giảm bởi phát sinh chi phí sửa chữa, chi tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế.

Bên cạnh đó, khi công trình được nghiệm thu, bàn giao cho chủ đầu tư thì đơn vị

này lại chậm trễ trong việc thanh toán tiền cho công ty. Mà vốn lưu động của công ty được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn vay ngắn hạn, đến kỳ thanh toán nếu chủ đầu tư

53

không thanh toán kịp thời thì công ty phải chi thêm một khoản tiền cho việc sử dụng

vốn, điều này làm chi phí sản xuất kinh doanh tăng lên, vì vậy lợi nhuận của công ty bị giảm.

Mặt khác, do cùng một lúc công ty nhận thầu thi công nhiều công trình, mà điều

kiện xây dựng mỗi công trình có những đặc điểm khác nhau, lại phân tán trên nhiều

địa điểm khác nhau, quá trình thi công bị ảnh hưởng của thời tiết. Phần lớn công tác

thi công, xây lắp phải làm ngoài trời, địa bàn và phạm vi hoạt động rộng, phân tán, máy móc, thiết bị và công nhân thường xuyên phải di chuyển. Do đó phát sinh thêm

một số chi phí điều động máy móc thiết bị, công nhân đến nơi thi công, chi phí tháo

lắp, chạy thử máy, chi phí xây dựng và tháo dỡ các công trình tạm phục vụ cho việc thi

công xây dựng….Ngoài ra, trường hợp đi thuê máy, thuê nhân công bên ngoài, công ty còn phải thanh toán với bên cho thuê máy, với người lao động một khoản tiền nhất

định. Đây là những vấn đề mà bất kỳ doanh nghiệp xây lắp nào cũng gặp phải trong

quá trình tiến hành thi công xây lắp.

Hơn thế nữa, do đặc thù của ngành xây lắp là thời gian thanh toán lâu nên các

khoản phải thu thường cao. Do đó công ty luôn phải vay vốn ngân hàng với lãi suất

cao vì không muốn bỏ lỡ các cơ hội đầu tư, thiếu vốn hoạt động phải vay ngân hàng là

cấn đề thường xuyên của doanh nghiệp. Đây là điều có thể hiểu được nhưng công ty bị

chiếm dụng vốn là hoàn toàn không nên vì nó làm giảm lợi nhuận của công ty. Đồng

thời việc huy động vốn trên thị trường còn bị bó hẹp. Vốn chủ yếu là do ngân sách cấp, vay dài hạn nội bộ và vay ngắn hạn ngân hàng. Công ty chưa chủ động tìm kiếm

các nguồn vốn khác với chi phí thấp hơn.

CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP TĂNG LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

VINAFACADE

3.1. Định hƣớng phát triển của công ty

Khi nền kinh tế nước ta có xu hướng ngày càng phát triển, thủ đô Hà Nội đang

được đầu tư xây dựng về cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải,…tất cả những yếu tố đó sẽ

tạo ra nhiều cơ hội cho ngành xây dựng, xây lắp nói chung và cho công ty Cổ phần

VinaFacade nói riêng. Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển đặc biệt từ khi thành lập

riêng công ty Cổ phần VinaFacade, công ty đã đạt được một số thành tựu. Bên cạnh đó

cũng đặt ra nhiều thách thức mới cho công ty như: các công trình kỹ thuật yêu cầu kỹ

thuật, mỹ thuật cao hơn, độ phức tạp nhiều hơn,…Vì vậy đòi hỏi ban Giám đốc công

ty cùng tất cả cán bộ công nhân viên phải nỗ lực hết mình trong công việc để giúp

54

công ty vượt qua được những khó khăn và trở thành một công ty lớn mạnh.

Muốn đạt được những thành công để có thẻ tiếp tục phát triển lâu dài, ban Giám

đốc công ty đã đề ra nhiệm vụ và phương hướng chiến lược cụ thể trong thời gian tới,

làm kin chỉ nam cho mọi hoạt động của công ty.

Phải tập trung chủ yếu vào thi công, xây lắp các công trình hạ tầng kỹ thuật, lắp

đặt thiết bị kỹ thuật và xây lắp hệ thống cửa kính cho các tòa nhà cao tầng trong các

khu đô thị mới và chung cư cao cấp. Tăng cường công tác marketing nhằm mở rộng,

phát triển thị trường, tìm kiếm cơ hội trên địa bàn Hà Nội và các địa phương khác.

Cần phải phát triển các dự án kinh doanh nhà theo hình thức chìa khóa trao tay,

cần quan tâm phát triển sản xuất công nghiệp vật liệu xây dựng, đồ trang trí nội thất

bằng thủy tinh và kinh doanh nhôm thép. Tổ chức tốt công tác khai thác tìm kiếm các

nguồn nguyên vật liệu mới thay thế nhằm đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh.

Quyết tâm hoàn thành kế hoạch sản xuất xây lắp trong từng thời kỳ kinh doanh,

hạn chế tối đa việc tồn đọng chi phí sản xuất kinh doanh dở dang trong các công trình

chưa hoàn thành đúng tiến độ thi công. Tập trung chỉ đạo thi công dứt điểm, nhịp

nhàng để có thể hoàn thành bàn giao, nghiệm thu công trình đúng tiến độ đã đề ra.

Luôn quan tâm tới đời sống vật chất tinh thần của cán bộ công nhân viên, có chế

độ thưởng phạt hợp lý để khuyến khích nhân viên nâng cao tính sáng tạo và ý thức

trách nhiệm trong công việc.

Tích cực bám sát công tác thanh quyết toán, thu hồi vốn để tăng vòng quay, đảm

bảo kịp thời nhu cầu cho vốn sản xuất kinh doanh, tránh tình trạng máy móc ngừng

sản xuất do thiếu nguyên vật liệu, thiếu vốn và tránh tình trạng thừa, ứ đọng vốn.

Phương châm sản xuất kinh doanh của công ty là kiên trì, đa dạng hóa sản xuất

kinh doanh, tiếp tục đổi mới thiết bị công nghệ, đồng thời mở rộng các phương pháp

tiếp cận công trình để hoạt động xây lắp đủ sức cạnh tranh, tập trung nguồn lực cho

các công trình nhận thầu, chú trọng đầu tư một cách có lựa chọn để phát triển tốt nhất.

Phát triển và củng cố hoạt động tư vấn đi sâu vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ

tầng. Chú trọng và tìm kiếm thêm nhiều công trình có ngân sách Nhà nước trong tình

hình các công trình đầu tư nước ngoài giảm về số lượng, cố gắng tiết kiệm nguyên vật

liệu, giảm tối đa chi phí và nâng cao chất lượng các công trình. Duy trì và giữ vững

hoạt động thiết kế các mẫu sản phẩm, trong đó tập trung tìm kiếm các nguồn hàng

cung cấp vật tư, nguyên liệu, thiết bị cho khách hàng có nhu cầu phục vụ sản xuất

thường xuyên. Mặt khác, tích cực tham gia đấi thầu cung cấp vật tư cho các công trình.

Đáng kể như công ty được nhận thầu công trình Tòa nhà Keangnam, Khách sạn

55

Crowne,…và một số công trình lớn khác nữa.

3.2. Giải pháp tăng lợi nhuận của công ty Cổ phần VinaFacade

3.2.1. Các giải pháp tăng doanh thu

Doanh thu của công ty Cổ phần VinaFacade gồm 3 nguồn:

- Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh

- Doanh thu từ hoạt động tài chính

- Doanh thu khác

Trong đó doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh luôn chiếm tỷ trọng lớn

trong tổng doanh thu, đóng vai trò quyết định đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Thu

nhập từ hoạt động tài chính và thu nhập khác là rất thấp. Chính vì vậy những giải pháp

để tăng doanh thu của doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào doanh thu từ hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Nếu xét về mặt toán học thì doanh thu tiêu thụ sẽ tăng khi khối lượng sản phẩm

tăng và tăng giá bán hoặt một trong 2 yếu tố, vì:

Doanh thu thuần = Tổng Khối lƣợng SP * Giá bán SP – Các khoản giảm trừ

Các khoản giảm trừ trong giai đoạn 2010 – 2012 của công ty bằng không, nói

chung với doanh nghiệp sản xuất các khoản giảm trừ này hầu như không có và nếu có

thì không đáng kể. Còn nếu tăng giá bán thì lập tức sẽ giảm sức mua đặc biệt đối với

ngành chế tạo và xây lắp thì việc tăng giá là rất khó khăn, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố cung – cầu và do quy định của Nhà nước. Như vậy, cách tốt nhất để tăng doanh thu

là tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Để đạt được điều đó công ty cần thực hiện một

số giải pháp.

Do đặc điểm sản phẩm kinh doanh của công ty là đặc điểm chung của sản phẩm

ngàng xây dựng cơ bản, nên khi công ty tiến hành thi công xây lắp thì cũng đồng thời

tiêu thụ sản phẩm. Thi công xây lắp là một loại hình sản xuất công nghiệp theo đơn đặt

hàng, sản phẩm xây lắp được sản xuất ra theo những yêu cầu về giá trị sử dụng, về chất lượng đã định của người chủ đầu tư công trình. Bởi vậy, tiêu thụ sản phẩm xây

lắp, tức là công ty bàn giao công trình đã hoàn thành cho đơn vị giao thầu và thu tiền về. Việc tiêu thụ sản phẩm xây lắp chịu ảnh hưởng khách quan của chế độ thanh toán theo hạng mục công trình và khối lượng hoàn thành theo giai đoạn quy ước hoặc thanh toán theo đơn vị hạng mục công trình đã hoàn thành. Do đó, doanh thu tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng công trình xây dựng, thời gian và tiến độ hoàn thành

công việc. Vì vậy công ty muốn tăng doanh thu ngoài biện pháp nâng cao chất lượng

56

sản phẩm xây lắp, cần phải có biện pháp chỉ đạo thi công tập trung dứt điểm để hoàn thành kế hoạch sản xuất xây lắp.

3.2.1.1. Đầu tư nâng cao chất lượng công trình

Chất lượng sản phẩm xây lắp là một vấn đề hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt như hiện nay thì

việc nâng cao chất lượng sản phẩm công trình là yếu tố cơ bản nhất giúp công ty đứng

vững và phát triển trên thị trường. Không những giúp duy trì thị trường hoạt động, mở

rộng mối quan hệ bạn bè mà việc nâng cao chất lượng công trình còn nâng cao uy tín, vị thế của công ty trên thị trường.

Mặc dù phương châm chất lượng là vàng nhưng do điều kiện sản xuất còn hạn

chế nên số lượng các công trình chưa thực đúng với khả năng của công ty. Để nâng

cao chất lượng công trình công ty cần thực hiện một số biện pháp sau:

Thứ nhất, chất lượng công trình phụ thuộc vào phần lớn chất lượng nguyên vật

liệu. Điều này đòi hỏi nâng cao công tác quản lý cung cấp nguyên vật liệu hết sức chặt

chẽ, đặc biệt thị trường nguyên vật liệu rất phong phú cả về chủng loại, quy cách, giá

cả chất lượng,… việc lựa chọn thu mua nguyên vật liệu đòi hỏi cán bộ phụ trách có

trình độ, kinh nghiệm, am hiểu thị trường. Bên cạnh đó, do đặc thù của ngành xây lắp

và thi công công trình ngoài trời nên việc bảo quản tốt nguyên liệu rất quan trọng, đặc

biệt là với các nguyên vật liệu dễ hao hụt do tác động của môi trường. Bảo quản tốt

nguyên vật liệu nhằm tránh giảm chất lượng, đảm bảo đúng tiến độ thi công công

trình.

Thứ hai, cần kiểm tra nghiêm ngặt việc thực hiện quy trình công nghệ đảm bảo

đúng tiến độ thi công một cách khoa học, chính xác. Xây lắp công trình kính là ngành

sản xuất vật chất đặc biệt, quá trình thực hiện thi công công trình và hoàn thành sản

phẩm gồm nhiều giai đoạn có liên quan chặt chẽ với nhau, kết quả của giai đoạn trước

có liên quan đến giai đoạn sau, đồng thời nếu xảy ra sai xót nào thìhậu quả rất nghiêm

trọng, gây tổn thất nặng nề. Việc kiểm tra kỹ lưỡng và thường xuyên sẽ giúp người lao

động thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, thực hiện đúng chỉ tiêu chất lượng đã đề ra, kịp

thời phát huy những thiếu xót trong quá trình thi công và có phương pháp sửa chữa hợp lý kịp thời nhằm đảm bảo tốt chất lượng sản phẩm. Công ty cũng tránh lãng phí

nguyên vật liệu, tiết kiệm chi phí sản xuất.

Thứ ba, việc xây dựng và thực hiện nghiêm túc hệ thống định mức kỹ thuật nguyên vật liệu phù hợp với quy định chung của Bộ Xây dựng và Nhà nước. Biện pháp này giúp công ty sử dụng đúng quy cách phẩm chất nguyên vật liệu, tránh tình trạng sử dụng quá nhiều gây lãng phí còn nếu ít quá sẽ gây ảnh hưởng tới chất lượng

công trình và sản phẩm.

Thứ tư, thực hiện giao trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân lao động trong việc

57

đảm bảo chất lượng công trình để mỗi người lao động có ý thức thực hiện tốt công

việc được giao, đồng thời có chế độ khen thưởng kịp thời đối với những hành vi sai trái hay thực hiện tốt công việc được giao.

3.2.1.2. Đẩy nhanh tiến độ thi công công trình

Một trong những đặc thù của công ty là thời gian hoàn thành kéo dài, bị ảnh

hưởng bới yếu tố thời tiết, vốn bị ứ đọng lâu, quy trình sản xuất bao gồm nhiều giai

đoạn phức tạp có mối quan hệ chặc chẽ với nhau. Vì vậy việc rút ngắn thời gian thi công là rất khó khăn. Tuy nhiên đây là biện pháp có ý nghĩa nhằm đẩy mạnh quá trình

tái sản xuất, quay vòng vốn nhanh, rút ngắn thời gian hoàn vốn, giảm chi phí sử dụng

vốn nhờ có khả năng tìm kiếm, lựa chọn cơ hội đầu tư tốt hơn. Rút ngắn thời gian thi

công và chế tạo sản phẩn nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng sản phẩm. Để biện pháp

này nâng cao tính khả thi công ty cần:

- Xây dựng và kiểm tra quy trình sản xuất, phát hiện kịp thời những sai xót

nhằm đưa ra biện pháp hữu hiệu tăng nhanh tiến độ thi công công trình.

- Nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa máy móc thiết bị tiên

tiến hiện đại vào sản xuất.

- Bố trí hợp lý lực lượng lao động, tránh tình trạng lãng phí nguồn nhân lực.

- Đội ngũ cán bộ công nhân đặc biệt là cán bộ quản lý công trường và kỹ thuật viên phải có trình độ tay nghề đáp ứng hoàn thành tốt công việc được giao.

- Có chế độ động viên, khích lệ tinh thần làm việc đối với cá nhân có những sáng tạo trong công việc, hoàn thành tốt công việc được giao. Bên cạnh đó

cũng cần có các mức phạt để xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm nhiệm

vụ đề ra.

Ngoài ra, việc chuẩn bị tốt công tác ký két hợp đồng kinh tế với các đơn vị mua,

xuất giao hàng nhanh chóng sau khi sản phẩm được sản xuất xong, kịp thời lập các

chứng từ thanh toán, thanh toán bằng nhiều hình thức thích hợp, xác định và giữ vững

kỷ luật thanh toán với đơn vị mua, tính toán chính xác khối lượng sản xuất, khối lượng

xây lắp hoàn thành… tất cả những công việc đó đều có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao doanh thu cho công ty.

3.2.1.3. Giải pháp về cơ cấu sản xuất kinh doanh

Cơ cấu sản xuất kinh doanh hợp lý là nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lợi nhuận chung của toàn doanh nghiệp, có vai trò vô cùng quan trọng đối với kết quả hoạt động cuối cùng của doanh nghiệp đó là lợi nhuận. Cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh

nghiệp phải thực hiện đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh. Đa dạng hóa hoạt

58

động sản xuất kinh doanh nhằm tránh những rủi ro có thể xảy ra, tăng doanh thu đồng thời tiết kiệm được chi phí nhờ sản xuất nhiều loại sản phẩm nhôm kính.

Hiện nay công ty đang thực hiện đa dạng hóa các hình thức kinh doanh, ngoài hoạt động chế tạo sản xuất các vật liệu bằng nhôm kính, công ty còn nhận thiết kế các

mẫu sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng.

3.2.1.4. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tổ chức khai thác vốn từ các nguồn khác

nhau

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề cấp bách của nhiều công ty hiện nay. Trên cơ sở công ty được cấp vốn từ ngân sách Nhà nước qua từng năm, công ty sẽ tự

cấp vốn bằng hoạt động kinh doanh hàng ngày càng có hiệu quả hơn, quản lý chặt chẽ

về vốn sẽ giúp công ty hoạt động tốt hơn và không gây ra tình trạng thất thoát, lãng phí

qua các năm. Công ty có thể biết được vốn của mình tăng hay giảm để có biện pháp

thích hợp trong các kỳ hoạt động sau.

Công ty có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bằng cách ưu tiên cấp vốn cho

những mặt hàng kinh doanh đem lại lợi nhuận cao. Tăng vòng quay vốn lưu động cũng

là một giải pháp cần được triển khai. Với số vốn lưu động hạn chế, công ty càng đẩy

mạnh vòng quay vốn lưu động thì càng thu được lợi nhuận cao. Muốn vậy, phải tổ

chức tốt quá trình kinh doanh từ khai thác nguồn hàng, nắm bắt nhu cầu tiêu thụ hàng

hóa nhanh chóng thu hồi vốn ngay…Chuẩn bị cho những kỳ sản xuất kinh doanh tiếp

theo.

Bên cạnh đó để mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu kinh doanh rõ ràng công ty cần một lượng vốn rất lớn với các công trình lớn, thời gian hoàn thành lâu. Nếu chỉ

nhờ vào các khoản vốn bổ sung của Nhà nược và các khoản vay ngắn hạn ngân hàng

thì công ty sẽ chịu sức ép lớn về lãi suất vay, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh

doanh của công ty. Qua nghiên cứu, một số doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp

khai thác vốn hiệu quả như:

- Khai thác nguồn vốn từ liên doanh, liên kết. Đây là biện pháp tăng vốn rất nhanh, công ty có thể liên kết với các đối tác ngoài doanh nghiệp để tạo thành

một tổ chức mang tính hiệp hội vừa bảo vệ lợi ích của mình, vừa tạo điều kiện cho công ty tiếp cận thị trường nước ngoài.

- Đẩy mạnh việc huy động vốn từ đội ngũ công nhân viên trong công ty, công ty nên tổ chức vay vốn của cán bộ công nhân viên với lãi suất cao hơn mức lãi suất tiền gửi và thấp hơn lãi suất tiền vay ngân hàng. Đây là hình thức vay vốn khá sáng tạo, linh hoạt và hiệu quả, hai bên cùng có lợi. Nhờ nguồn vốn này mà công ty tiết kiệm được phi phí sản xuất kinh doanh, giảm lãi suất tiền vay.

59

Tuy nhiên để có được nguồn vốn này công ty phải chứng minh được tính hiệu quả và khả thi của dự án sản xuất kinh doanh.

3.2.1.5. Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tiền

Thực hiện mục tiêu này công ty có thể tiết kiệm các chi phí, tăng lợi nhuận. Nhưng trước hết công ty phải thiết lập một mức tồn quỹ tiền tối ưu lấy đó làm cơ sở

tách ra lượng tiền nhàn rỗi, có thể đem đầu tư ngắn hạn thu lợi nhuận. Ngời ra công ty

có thể cung cấp các khoản tín dụng thương mại cho khách hàng để đẩy mạnh tiêu thụ,

tăng doanh thu. Điều này là vô cùng cần thiết trong khi công ty đang mở rộng hoạt động sản xuất nguyên vật liệu. Chính sách này phải đưa ra mức giá bán đáp ứng bao

hàm lợi nhuận tài chính trong việc cho phép khách hàng trả chậm và mức chiết khấu

hợp lý, khuyến khích khách hàng mua nhiều, hoặc thanh toán ngay cho công ty.

3.2.2. Các giải pháp giảm chi phí

Các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường luôn phải quan tâm đến việc chi phí,

hạ giá thành sản phẩm. Hạ giá thành sản phẩm là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp

thực hiện tốt việc tiêu thụ sản phẩm.

Giảm chi phí luôn là mục tiêu hàng đầu của công ty chế tạo sản xuất và thi công

công trình VinaFacade. Để đạt được mục tiêu này thì trong hồ sơ tham gia đấu thàu

sản phẩm lắp đặt phải thấp hơn đối thủ cạnh tranh thì mới có khả năng thắng thầu.

Giảm chi phí sản xuất cũng là điều kiện cơ bản giúp công ty tăng lợi nhuận. Hơn nữa

cần chú trọng giảm chi phí quản lý doanh nghiệp vì khoản chi phí này hình thành phần

lớn là do lãi suất vay ngân hàng.

3.2.2.1. Giải pháp giảm chi phí nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu đóng vai trò vô cùng quan trọng, quyết định chất lượng sản

phẩm xây lắp, chế tạo vật tư, xây dựng các công trình, dân dụng,… Tuy nhiên chi phí

nguyên vật liệu luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi phí, do đó giảm chi phí nguyên

vật liệu sẽ tác động đến viecj giảm chi phí chung. Điều đó không có nghĩa là càng

giảm nhiều càng tốt vì công ty luôn coi trọng chất lượng sản phẩm do mình sản xuất

ra. Để thực hiện được công ty cần:

- Tìm kiếm các nguyên vật liệu rê, đảm bảo chất lượng phù hợp với công trình, thời gian cung cấp kịp thời. Điều này đòi hỏi tổ vật tư phải có bộ phận chuyên

trách nghiên cứu thị trường, hiểu rõ thị trường nguyên vật liệu, tạo được mối quan hệ tốt với nhà cung cấp.

- Bảo quản tốt nguyên vật liệu bằng cách giao trách nhiệm cụ thể đối với lực lượng lao động trong việc bảo quản nhằm tăng hiệc quả. Ngoài ra, giá cả

nguyên vật liệu trong lắp đặt nhìn chung không có nhiều biến động nên dùng

60

đến đâu mua đến đó tránh tình trạng hư hỏng, hao mòn, nhập nguyên vật liệu theo tiến độ thi công công trình. Trước đó phải có kế hoạch trong việc lựa

chọn nhà đầu tư cũng như ký kết hợp đồng cung cấp nguyên liệu tránh tình trạng phải chờ đợi vật tư, nguyên liệu làm chậm tiến độ thi công công trình.

- Xây dựng kiểm tra chặt chẽ hệ thống định mức nhằm phát hiện kịp thời những nguyên nhân gây tổn thất làm tăng chi phí vật liệu để có biện pháp giải quyết

kịp thời. Xây dựng kế hoạch nguyên vật liệu sát thực tế vì nó phản ánh kế

hoạch dự trữ, ảnh hưởng công tác quản lý nguyên vật liệu. Tại công ty VinaFacade, việc xây dựng định mức được bộ phận kỹ thuật tính toán và xây

dựng. Để có thể xây dựng được đúng định mức tiêu hao cũ, so sánh với 2 năm

trở lại đây và kết hợp tham khảo ý kiến của cán bộ giám sát công trình và công

nhân tay nghề cao, nhiều kinh nghiệm để xây dựng mức tiêu hao phù hợp với tình hình sản xuất, góp phần nâng cao quản lý chi phí cho doanh nghiệp.

3.2.2.2. Giải pháp làm giảm chi phí nhân công

Chi phí nhân công trong công ty bao gồm 2 bộ phận: chi phí lao động của công

ty và lao động thuê ngoài. Với cán bộ công nhân viên trong công ty thì trả lương theo

đúng quy định của Nhà nước phù hợp với trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và cấp

bậc. So với mặt bằng chung thì lương và phụ cấp trả cho cán bộ công nhân viên công

ty không cao do vậy việc giảm chi phí này là rất khó khăn, ảnh hưởng tới tâm lý của

người lao động. Để tiết kiệm chi phí này cần:

- Bố trí lao động phù hợp, đúng người đúng việc.

- Xây dựng chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực, trình độ tay nghề

cao.

- Có chính sách khen thưởng kỷ luật rõ ràng nhằm động viên tinh thần lao động

tăng năng suất lao động.

Đối với lực lượng lao động thuê ngoài, để giảm thiểu được chi phí này công ty

cần áp dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

3.2.2.3. Biện pháp giảm chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng chi phí nhưng thực tế cho thấy trị giá vốn hàng bán tăng chủ yếu là do chi phí sản xuất chung tăng, trong khi

các chi phí khác không có biến động mạnh. Đặc biệt chi phí sử dụng máy tăng nhanh không tương ứng với tốc độ giảm chi phí nhân công và chi phí nguyên vật liệu. Điều này do chính sách khấu hao nhanh tài sản cố định, nhưng điều quan trọng là công suất sử dụng máy móc thiết bị ở công ty chưa cao đòi hỏi cần có biện pháp giảm chi phí sử

dụng máy tăng công suất lao động.

- Xây dựng hoàn thiện và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế tổ chức quản lý

61

máy móc, thiết bị.

- Duy trì thường xuyên công tác kiểm tra, bảo dưỡng và sửa chữa máy móc thiết bị không đạt trình độ hiện đại. Thực hiện thanh lý nhượng bán các thiết bị

không quá cũ không thể sử dụng được hoặc rất ít sử dụng.

- Cho thuê một số máy móc thiết bị ít sử dụng nhằm tăng công suất hoạt động

tăng doanh thu và lợi nhuận cho công ty.

3.2.3. Một số giải pháp khác

3.2.3.1. Phát triển nguồn nhân lực

Lao động là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Nó đóng vai trò

quan trọng, nếu không có lao động thì hoạt động sản xuất sẽ bị ngưng trệ. Việc phân

công bố trí lao động hợp lý sẽ tạo điều kiện tăng năng suất lao động, giảm chi phí nhân

công trực tiếp, tạo điều kiện tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Chính vì vậy việc cần

thường xuyên chăm lo đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng, khuyến khích vật chất đối với đội

ngũ cán bộ công nhân viên của công ty. Tăng cường công tác bồi dưỡng kiến thức

trong nhiều lĩnh vực cho cán bộ quản lý. Đặc biệt là số cán bộ có khả năng sử dụng

thành thạo máy vi tính nhưng còn hạn chế. Trong thời đại công nghệ, việc áp dụng các

phần mềm vào việc quản lý là nhu cầu cấp thiết và là xu hướng chung của toàn cầu,

giúp tăng tính năng quản lý, giảm chi phí.

3.2.3.2. Hoàn thiện bộ máy quản lý công ty

Tổ chức bộ máy công ty đóng vai trò quyết định đối với sự thành công trong kinh doanh của công ty. Đây chính là bộ phận đề ra các quyết định, chỉ đạo và giám sát việc

thực hiện kế hoạch, chiến lược kinh doanh của công ty. Do vậy, việc hoàn thiện bộ

máy quản lý của công ty sẽ là cơ sở cho sự phát triển lâu dài của công ty. Nhìn chung

sự phân bố các phòng ban trong công ty như hiện nay là khá hợp lý, các phòng đều có

sự độc lập tương đối trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh.

Công ty cũng cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tìm kiếm thị trường bằng cách

lập phòng thị trường hoạt động độc lập dưới sự chỉ đạo, quản lý của

Ban giám đốc và chịu trách nhiệm về hoạt động thâm nhập thị trường, tìm kiếm các hợp đồng, quảng bá thương hiệu và tìm ra các thị trương mới để tiêu thụ sản phẩm của

công ty.

3.2.3.3. Mở rộng hình thức liên doanh liên kết

Phương thức này không những tăng cường vốn kinh doanh mà còn tạo điều kiện thị trương hoạt động, tăng cường các mối quan hệ có lợi cho sự tồn tại phát triển và

thịnh vượng của công ty. Thêm vào đó, công ty còn có cơ hội khai thác nguồn nhâ lực,

máy móc thiết bị, nâng cao thu nhập cho người lao động và lợi nhuận công ty. Sử dụng phương pháp này còn giúp công ty tìm hiểu và tiếp thu trình độ khoa học, công nghệ,

62

phương pháp quản lý hiện đại cũng như kỹ năng sản xuất của đối tác kinh doanh. Hiện

tại hình thức liên doanh liên kết của công ty còn nhiều hạn chế, vì vậy công ty nên phát triển hình thức này bằng các chiến lược cụ thể.

3.3. Một số kiến nghị

3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước

3.3.1.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản

Từ khi nước ta chuyển đổi cơ chế quản lý từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt từ sau khi có Luật Đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành thì tốc độ đầu tư tăng lên nhanh chóng và

rõ rệt. Hàng loạt các dự án, các công trình được triển khai thực hiện dưới nhiều hình

thức khác nhau và nguồn vốn khác nhau. Từ đó, kéo theo sự thay đổi nhanh chóng về

kinh tế, xã hội và bộ mặt đất nước. Cùng với quá trình đó để đáp ứng yêu cầu quản lý

đầu tư XDCB trong tình hình mới, Đảng và Nhà nước ta đã tăng cường đổi mới, cải

tiến, sửa đổi, bổ sung về quy chế, điều lệ quản lý đầu tư XDCB nhằm nâng cao hiệu

lực quản lý.

Trong những năm gần đây, việc quản lý đầu tư XDCB đã hình thành một cơ chế

rõ ràng và có hệ thống, tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu kịp thời và cụ thể cho

từng lĩnh vực. Để hoàn thiện cơ chế quản lý XDCB Nhà nước cần xem xét các vấn đề:

Một là, về thủ tục cấp giấy phép xây dựng. Việc cấp giấy phép xây dựng là vấn

đề luôn được quan tâm và ngày càng cao cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Vấn đề cấp giấy phép không phải sự quan tâm riêng gì của nhà nước ta mà vấn đề nà còn

đang được xem xét tại hầu hết các quốc gia. Việc cấp giấy phép phù hợp, tin cậy sẽ là

điều kiện thuận lợi cho việc quản lý XDCB có hiệu quả và tác động trựctiếp đến chất

lượng công trình và yêu cầu khác. Ở nước ta hiện nay cũng cần rà soát lại các tổ chức

xây dựng có trình độ và điều kiện thi công khác nhau để dễ dàng quản lý và bảo đảm

về yêu cầu thi công và chất lượng công trình.

Hai là, về trách nhiệm của chủ đầu tư và vấn đề tổ chức đấu thầu, ký hợp đồng.

Đánh giá về chủ đầu tư là một vấn đề rất khó khăn, trên thế giới ở những nước phát triển, các chủ đầu tư thường thuê kiến trúc sư, kỹ sư và những quản lý xây dựng, sau

đó họ ràng buộc trách nhiệm đối với hau bên này. Khi có vấn đề gì không đúng thì trách nhiệm sẽ thuộc về người thiết kế xây dựng hoặc nhà quản lý xây dựng phải gánh chịu. Trong trường hợp chủ đầu tư tự mua sắm thiết bị hay chi phí khác về XDCB thì trách nhiệm chỉ một phần ở chủ đầu tư. Hiện nay khi nước ta mở ra cơ chế thị trường, các hình thức thi công theo kiểu phương tây đang phát triển. Chúng ta đang chuyển

dần từ việc chỉ định thầu thi công sang đấu thầu, có phần nâng cao hiệu quả quản lý bước đầu. Song việc thực hiện đấu thầu hiện nay cũng cần xem xét chặt chẽ hơn, đặc

63

biệt đối với công trình thuộc vốn ngân sách. Hiện tượng dàn xếp hoặc đấu thầu hình

thức hiện nay vẫn đang xảy ra, có trường hợp chưa tổ chức đấu thầu nhưng người trúng thầu đã biết trước. Đây cũng là một vấn đề cần phải xem xét cả hệ thống ba bên

trong quản lý XDCB, trong đó có trách nhiệm của đơn vị chủ đầu tư. Bên cạnh đó vấn

đề ký hợp đồng cũng rất phức tạp, giá trị hợp đồng thường bất hợp lý, không giải thích

được. Việc dàn xếp của một hệ thống nhiều bên từ khâu lập dự toán, xét duyệt tổng

mức đầu tư, đến khi thiết kế thi công, bổ sung dự toán. Tình trạng này xảy ra khá phổ biến, đặc biệt là các công trình đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách.

Ba là, trách nhiệm của đơn vị thiết kế. Việc quản lý xây dựng liên kết ba bên chủ

yếu với một số nhà thiết kế, kỹ sư hay kiến trúc sư cũng là vấn đề mới. Theo cách này,

người quản lý xây dựng đảm nhiệm một số nhiệm vụ trước đây của người thiết kế và người thiết kế cũng tham gia vào quá trìnhquản lý xây dựng, có như vậy mới đem lại

kết quả trong quản lý. Thực tế hiện nay ở nước ta, quy trình thiết kế, xác định khối

lượng ban đầu có liên quan đến dự toán và chất lượng công trình. Đây là khâu quyết

định chất lượng công trình, song cũng rất phức tạp, đây cũng là một mắt xích trong

quá trình tiêu cực được dàn xếp của hệ thống các bên tham gia quản lý xây dựng.

Trong lĩnh vực này, để hạn chế tiêu cực nên có quy định chặt chẽ về trách nhiệm và

nghĩa vụ của bộ phần thiết kế, đảm bảo chất lượng công trình vừa tiết kiệm vốn đầu tư.

Bốn là, về khâu thanh toán, cấp phát vốn. Thanh toán là một khâu quan trọng,

thanh toán kịp thời mới đảm bảo thời gian thi công đúng tiến độ. Cơ chế thị trường mở cửa xuất hiện nhiều kiểu thanh toán. Thông thường việc thanh toán và cấp phát vốn

đối với công trình đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước phải tuân theo quy định của chế độ

cấp phát, thanh toán. Thực tế thì nảy sinh nhiều hình thức thanh toán không theo quy

định, thậm chí không những chủ đầu tư và đơn vị cấp phát thường thanh toán chậm

hoặc nhiều công trình không có vốn thanh toán. Nhiều trường hợp đơn vị thi công phải

ứng trước hay bỏ ra khoản tiền nào đó cho bên chủ đầu tư mới nhận được công trình.

Chính quá trình canh tranh không lành mạnh này cũng với sự dan xếp hoặc đấu thầu

không công khai đã làm tăng tiêu cực trong lĩnh vực quản lý đầu tư XDCB.

3.3.1.2. Kiến nghị cho một triển vọng phát triển bền vững của lĩnh vực sản xuất, kinh

doanh xây lắp phát triển nhà ở đô thị

Trong hầu hết các việc liên quan đến đất đai, nhà ở, công tác chuẩn bị còn chậm

chễ không kịp thời nhu cầu xây dựng và quản lý đô thị. Vấn đề xây dựng phát triển

nhà từ lâu đẫ hết sức cấp bách, nhưng đến nay vẫn chưa hình thành được chương trình

phát triển nhà ở dài hạn với một cơ quan quản lý thực sự, có đủ quyền lực và bộ máy

để thực hiện chương trình. Bởi vậy, theo em để có thể thúc đẩy sự tăng trưởng và phát

triển trong lĩnh vực nhà ở đô thị cần làm nhiều việc trên phương diện luật pháp, kinh

64

tế, chính sách. Dưới đây là một số kiến nghị và hướng đi góp phần hoàn thiện môi

trường pháp lý, môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lơi cho công ty Cổ phần

VinaFacade phát triển.

Một là, khẳng định vai trò mới của Nhà nước trong lĩnh vực nhà ở đô thị trong

điều kiện kinh tế thị trường đó là: Định hướng can thiệp thông qua những chính sách

tiếp cận chiến lược, dự báo và đề xuất các chương trình đỡ đầu các sự án phát triển nhà

ở quy mô lớn. Nhất quán thực hiện chính sách tiếp cận tạo điều kiện cho cộng đồng

dân cư và tạo điều kiện cho thị trường cùng tham gia góp vốn đầu tư xây dựng các

công trình lớn. Điều hành thông qua các định chế pháp luật và hệ thống các thiết chế

được phân công, phân nhiệm rõ ràng, hoạt động thống nhất và hiệu quả. Nhà nước có

thể can thiệp ở mức vừa phải để vừa kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp vừa không

gây hại đến lợi ích của doanh nghiệp. Một mô hình quản lý mới, năng động là cần phải

được tìm kiếm và hoàn thiện không ngừng.

Hai là, triển khai các quy tắc để xử lý các vướng mắc về quyền sỡ hữu, quyền

hưởng thụ đất và nhà ở. Tạo điều kiện đảm bả quyền an toàn sử dụng đất để người dân

yên tâm đầu tư xây dựng trên đất ở hiện nay. Cần xác lập và chuẩn hóa những quy

trình soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật, có sử dụng các phương pháp và

công cụ hiện đại như điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình, sơ thảo văn bản, sử dụng

các phương tiện thông tin đại chúng, làm thí điểm và thử nghiệm xã hội. Điều này sẽ

giúp các văn bản được soạn thảo và ban hành phù hợp hơn, câp nhật hơn với thực tế.

Ba là, hoàn thiện quỹ phát triển nhà ở đô thị, tìm khả năng và phương thức để các

ngân hàng nhà ở hoạt động. Thử nghiệm loại hình cho vay thế chấp nhà ở, sự đóng

góp tiết kiệm để làm nhà của dân cư cũng cần được thể chế hóa để tăng sự hấp dẫn,

thu hút người dân tham gia. Bên cạnh đó thì công tác nghiên cứu khoa học về nhà ở đo

thị và quản lý phát triển đô thị cũng cần được sự quan tâm khuyến khích của Nhà

nước. Có thể thành lập những trung tâm nghiên cứu nhà ở đô thị, trung tâm này sẽ

đóng vai trò tư vấn cho việc hoạch định, triển khai các chiến lược, chính sách về đô thị

và nhà ở đô thị. Mặt khác, hoạt động nghiên cứu cũng sẽ là một dạng giám sát xã hội

đối với các chính sách nhà ở hiện tại.

Bốn là, Nhà nước nên xem xét việc sửa đổi lại mức thuế suất, cần hoàn thiện

chính sách thuế nhằm khuyến khích, định hướng doanh nghiệp phát triển kinh doanh

và áp dụng các công nghệ mới. Chính sách thuế phải đảm bảo điều tiết thu nhập vừa

đảm bảo điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và vừa khuyến khích cạnh

65

tranh lành mạnh. Khắc phục nạn thất thu và lạm thu thuế không công bằng giữa các

doanh nghiệp trong chính sách thuế bình đẳng. Có thể thực hiện miễn giảm thuế cho

các tổ chức thương nghiệp quốc doanh hoạt động kinh doanh ở vùng sâu vùng xa.

3.3.2. Kiến nghị với Tổng công ty Viglacera

Công ty Cổ phần VinaFacade là thành viên của Tổng công ty Viglacera. Do vậy,

công ty chịu sự quản lý và phải tuân thủ theo những quy định, điều lệ của Tổng công

ty. Đề nghị với Tổng công ty Viglacera làm việc với Chính phủ, Bộ xây dựng để nâng

cao vai trò của lĩnh vực nhà ở đô thị như một thành phần hữu cơ của các kế hoạch phát

triển kinh tế, xã hội. Cần gắn quy hoạch đô thị với quản lý đô thị để giải quyết vấn đề

nhà ở đô thị hiệu quả, lâu bền hơn. Tổng công ty Viglacera nên có đề xuất kiến nghị

với nhà nướccần sớm tiến hành một cuộc kiểm kê nhà ở đô thị, lập cơ sở dữ liệu phục

vụ cho việc quản lý phát triển nhà ở đô thị trong thời gian tới.

Trong việc xây dựng dự án đầu tư kinh doanh, ban lãnh đạo tổng công ty

Viglacera nên để ý đến khía cạnh xã hội như vấn đề nhà ở cho người nghèo và người

có thu nhập thấp. Chủ động thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở cho người nghèo,

tổng công ty Viglacera có thể tranh thủ được sự hỗ trợ về vốn của nhà nước, vừa nhận

được sự ưu đãi về mức lãi suất sử dụng vốn và một số ưu đãi về thuê đất, chi phí cơ sở

hạ tầng. Mặt khác, nhờ thực hiện dự án đầu tư này, sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho

công ty thành viên, giảm bớt được tính thời vụ trong sản xuất thi công, duy trì tính liên

tục của khối lượng công việc và tính ổn định của lực lượng lao động.

Cần đa dạng hóa các hoạt động hợp tác quốc tế, đặc biệt là đối với các quốc gia

trong khu vực Đông Nam Á, những nước có nhiều nét tương đồng với Việt Nam trong

lĩnh vực nhà ở đô thị. Ngoài ra, tổng công ty Viglacera nên tạo điều kiện, ưu đãi về

vốn cho các công ty thành viên như công ty Cổ phần VinaFacade giúp nâgn cao tính

kinh doanh độc lập, chủ động trong công tác huy động vốn. Tổng công ty với khả năng

tài chính của mình có thể đứng ra đấu thầu, chỉ định nhà thầu, giao thêm công việc để

công ty CP VinaFacade có cơ hội khẳng định khả năng của mình, tạo thêm uy tín, vị

66

trí vững chắc trong ngành xây dựng.

KẾT LUẬN

Lợi nhuận giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không thì điều quan

trọng là doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không, lợi nhuận đã trở thành đòn

bẩy kinh tế quan trọng, đồng thời là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hoạt động sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, nó đòi hỏi người quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả và lợi nhuận không ngừng tăng lên.

Trong thời gian thực tập tại công ty Cổ phần VinaFacade em đã được tiếp xúc

với tình hình thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty từ việc tìm hiểu thực

tế kết hợp với phần lý thuyết đã học ở nhà trường. Em nhận thấy bên cạnh những

thành tích đã đạt được, công ty còn gặp không ít khó khăn do nguyên nhân khách quan và chủ quan, đòi hỏi công ty cần quan tâm hơn nữa để khắc phục những tồn tại, phát

huy những thế mạnh vốn có của mình, nâng cao lợi nhuận công ty.

Do trình độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên bài luận văn của em sẽ

không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong thầy cô góp ý kiến cho em để bài luận văn của em được hoàn thiện hơn.

PHỤ LỤC

1. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm

2010 của công ty Cổ phần VinaFacade.

2. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm

2011 của công ty Cổ phần VinaFacade.

3. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm

2012 của công ty Cổ phần VinaFacade.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Tài chính doanh nghiệp – PGS.TS Lưu Thị Hương, NXB Thống kê

2003.

2. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, NXB Chính trị quốc gia năm 2002.

3. Tài chính doanh nghiệp hiện đại – PGS.TS. Trần Thị Ngọc Thơ, nhà xuất bản

Thống kê (2005)

4. Cổng thông tin ngân hàng – http://www.laisuat.vn

5. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật – http://www.moj.gov.vn 6. Thông tin, tin tức mạng – http://vnexpress.net 7. Các tài liệu của công ty Cổ phần VinaFacade. 8. Một số luận văn của các anh chị khóa trước. 9. Các sách báo, tạp chí khác.