BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN HÀ NỘI- PHÒNG GIAO DỊCH TRẦN ĐĂNG NINH
SV THỰC HIỆN MÃ SV CHUYÊN NGÀNH
: PHẠM PHƢƠNG THANH : A18006 : NGÂN HÀNG
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN HÀ NỘI- PHÒNG GIAO DỊCH TRẦN ĐĂNG NINH
: Phạm Phƣơng Thanh : A18006
GV hƣớng dẫn : ThS. Nguyễn Phƣơng Mai SV thực hiện Mã SV Chuyên ngành : Ngân Hàng
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, em xin bày tỏ biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, cô giáo trường Đại học Thăng Long, đặc biệt em chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn là Thạc Sĩ Nguyễn Phương Mai, cô đã luôn giúp đỡ, trau dồi thêm kiến thức, chỉ ra những thiếu sót và giúp em có những định hướng tốt hơn trong suốt thời gian em thực hiện làm khóa luận. Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các cô chú, anh chị công tác tịa Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh đã nhiệt tình giúp đỡ em trong việc cung cấp các số liệu và thông tin thực tế để chứng minh cho các kết luận trong khóa luận tôt nghiệp của em.
Do giới hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn thiếu sót, em kính mong được sự chỉ dẫn và đóng góp của các thầy cô giáo để khóa luận của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 28 tháng 6 năm 2014 Sinh viên
Phạm Phương Thanh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ............................................................. 1 1.1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động của ngân hàng thƣơng mại ................. 1 1.2. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động cho vay tiêu dùng ................................. 3 1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay tiêu dùng ............................................................. 3 1.2.2. Đặc điểm hoạt động cho vay tiêu dùng ............................................................... 4 1.3. Các loại hình cho vay tiêu dùng ........................................................................... 6 1.3.1. Căn cứ vào mục đích vay ..................................................................................... 6 1.3.2. Căn cứ vào tính chất đảm bảo ............................................................................ 6 1.4. Vai trò của hoạt động CVTD ............................................................................... 7 1.4.1. Đối với khách hàng ............................................................................................. 7 1.4.2. Đối với ngân hàng ............................................................................................... 7 1.4.3. Đối với nền kinh tế .............................................................................................. 7 1.5. Hiệu quả hoạt động CVTD tại ngân hàng thƣơng mại ..................................... 8 1.5.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng ........................... 8 1.6. Các nhân tố ảnh hƣởng tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động CVTD .......... 13 1.6.1. Các nhân tố khách quan ................................................................................... 13 1.6.2. Các nhân tố chủ quan ....................................................................................... 15 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ............................................................................................ 16 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN HÀ NỘI– PHÒNG GIAO DỊCH TRẦN ĐĂNG NINH ............................................................. 17 2.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội– phòng giao dịch Trần Đăng Ninh ............................................................................... 17 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội 17 2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh ............................................................................................................................ 17 2.1.3. Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ các phòng ban thuộc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh. ................................... 18 2.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội– phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011 -2013 ............................................ 19 2.2. Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại SHB- phòng giao dịch Trần Đăng Ninh trong giai đoạn 2011-2013 ....................................................................... 28 2.2.1. Những quy định chung về nghiệp vụ CVTD tại SHB – phòng giao dịch Trần Đăng Ninh. .................................................................................................................... 28
2.2.2. Các hình thức CVTD của SHB ......................................................................... 31 2.2.3. Tình hình doanh số CVTD của SHB- phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013 ............................................................................................................. 33 2.2.4. Tình hình doanh số thu nợ CVTD của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011 – 2013 ......................................................................................... 35 2.2.5. Tình hình dư nợ CVTD của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội – phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013 ................................................................ 37 2.2.6. Cơ cấu dư nợ CVTD của SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh................. 39 2.3. Thực trạng hiệu quả hoạt động CVTD ............................................................. 47 2.3.1. Các chỉ tiêu định tính ........................................................................................ 47 2.3.2. Chỉ tiêu định lượng ............................................................................................ 49 2.4. Đánh giá hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh. ......................................................................................... 57 2.4.1. Những kết quả đạt được .................................................................................... 57 2.4.2. Những tồn tại ..................................................................................................... 58 2.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại ....................................................................... 59 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2……………………………………………………………61 CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN HÀ NỘI- PHÒNG GIAO DỊCH TRẦN ĐĂNG NINH ............................................................................ 62 3.1. Định hƣớng hoạt động của Ngân hàng TMCPSài Gòn Hà Nội trong những năm tới .......................................................................................................................... 62 3.1.1. .Nhu cầu cho vay tiêu dùng trong thời gian tới ............................................... 62 3.1.2. Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh ................................................................................................... 62 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội- Phòng giao dịch Trần Đang Ninh ................................... 63 3.2.1. Tăng cường công tác huy động vốn .................................................................. 63 3.2.2. Đa dạng hóa các loại hình cho vay tiêu dùng .................................................. 64 3.2.3. Xây dựng chính sách khách hàng theo hướng cởi mở hơn đối với khách hàng vay tiêu dùng ....................................................................................................... 65 3.2.4. Xử lí dứt điểm nợ quá hạn, nợ xấu ................................................................... 66 3.2.5. Hiện đại hoá ngân hàng .................................................................................... 67 3.2.6. Đẩy mạnh hoạt động Marketing ngân hàng .................................................... 67 3.3. Kiến nghị .............................................................................................................. 69 3.3.1. Kiến nghị với chính phủ và các cơ quan thẩm quyền có liên quan ................ 69 3.3.2. Kiến nghị với NHNN ......................................................................................... 70
3.3.3. Kiến nghị với SHB ............................................................................................. 71 3.3.4. Kiến nghị với Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh ............................................. 72 KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ............................................................................................ 72
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt
CBTD CVTD CBCNV CBQLĐH DPRR NHNN NHTM NQH TMCP TSĐB RRTD VNĐ USD Tên đầy đủ Cán bộ tín dụng Cho vay tiêu dung Cán bộ công nhân viên Cán bộ quản lý điều hành Dự phòng rủi ro Ngân hàng nhà nước Ngân hàng thương mại Nợ quá hạn Thương mại cổ phần Tài sản đảm bảo Rủi ro tín dụng Việt Nam Đồng United States Dollar
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy hoạt động của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh ..... 18 Sơ đồ 2.2 Qui trình CVTD tại SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh ....................... 29 Biểu đồ 2.1 Dư nợ CVTD phân theo kỳ hạn giai đoạn 2011-2013 ............................... 39 Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013 ............................................................................................................. 23 Bảng 2.2 Tình hình sử dụng vốn của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh trong giai đoạn 2011-2013 ............................................................................................................. 26 Bảng 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013 ...................................................................................................... 27 Bảng 2.4 Tình hình doanh số CVTD của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011– 2013 ........................................................................................................... 33 Bảng 2.5 Tình hình doanh số thu nợ CVTD giai đoạn 2011-2013 ............................... 36 Bảng 2.6 Tình hình dư nợ CVTD của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013 ............................................................................................................. 38 Bảng 2.7 Dư nợ CVTD của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh phân theo hình thức đảm bảo ................................................................................................................. 41 Bảng 2.8 Dư nợ CVTD phân theo mục đích vay .......................................................... 44 Bảng 2.9 Tình hình dư nợ cho vay phân theo phương thức cho vay giai đoạn 2011 - 2013 ............................................................................................................................... 46 Bảng 2.10 Số món vay khách hàng CVTD của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011 - 2013 ........................................................................................... 47 Bảng 2.11 Hệ số chất lượng CVTD giai đoạn 2011-2013 ............................................ 51 Bảng 2.12 Chỉ tiêu vòng quay của CVTD ..................................................................... 52 Bảng 2.13 Tỷ lệ trích lập DPRR CVTD ........................................................................ 53 Bảng 2.14 Hệ số khả năng bù đắp rủi ro ....................................................................... 55 Bảng 2.15Thu nhập từ CVTD ....................................................................................... 56
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, với việc thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi mới kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Trong quá trình hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế trong nước đang có những chuyển biến tích cực phù hợp với xu thế phát triển chung. Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO thì dấu ấn của sự hội nhập càng trở nên rõ nét hơn trong nền kinh tế nước ta.
Trong hoàn cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống người dân ngày càng tăng cao, nhu cầu vay tiêu dùng của người dân cũng ngày một lớn. Những năm trở lại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng (CVTD) đóng một vai trò quan trọng trong dịch vụ ngân hàng, CVTD đóng góp một phần lợi nhuận không nhỏ trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Người tiêu dùng với mức thu nhập ngày càng ổn định và được cải thiện, cùng với trình độ dân trí và mức sống cao, hứa hẹn sẽ thúc đẩy hoạt động CVTD ngày càng phát triển.
Tuy vậy, hoạt động CVTD tại Việt Nam vẫn có những hạn chế nhất định như định mức CVTD tối đa còn thấp, thời hạn CVTD ngắn, chính sách và thủ tục CVTD còn phức tạp và hạn chế, chưa hấp dẫn được lượng đông đảo KH tương xứng với vị thế và tiềm năng của các ngân hàng tại Việt Nam
Nhận thấy nhu cầu vay vốn từ các cá nhân, tổ chức cho tiêu dùng là rất lớn, trong những năm qua, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội–Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh đã có những chiến lược nhằm thu hút đẩy mạnh hoạt động CVTD. Tuy nhiên việc hoàn thiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, bất cập.Vì vậy việc nâng cao hiệu quả CVTD là điều cần thiết để ngân hàng phát triển hoạt động kinh doanh của mình, nâng cao lợi nhuận.
Nhận thấy tính cấp thiết đó, em đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả CVTD tại Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình với mong muốn đóng góp một vài giải pháp đẩy mạnh hiệu quả hoạt động này tại ngân hàng.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về cho vay và hiệu quả hoạt động
cho vay.
Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay tại Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Hà Nội phòng giao dịch Trần Đăng Ninh.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay tại Ngân hàng TMCP Sài
Gòn Hà Nội phòng giao dịch Trần Đăng Ninh.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về lý thuyết, hoạt động, hiệu quả hoạt động CVTD của SHB, đưa ra các giái pháp nhằm giúp hoạt động CVTD của ngân hàng và phòng giao dịch ngày càng phát triển hơn.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nâng cao hiệu quả hoạt động CVTD của
SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh trong giai đoạn 2011-2013.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để phù hợp với nội dung, yêu cầu, mục đích của đề tài đề ra, phương pháp được
thực hiện trong quá trình nghiên cứu gồm:
Phương pháp thống kê, so sánh cùng với phân tích - tổng hợp, trên cơ sở phân
tích số liệu quá khứ từ các thông tin, tài liệu, báo cáo đã được công bố.
Phương pháp điều tra khảo sát để thu thập thông tin từ các phòng ban, có liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
5. Kết cấu khoá luận: Bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động CVTD của Ngân
hàng thương mại (NHTM).
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động CVTD tại Ngân hàng TMCP Sài
Gòn Hà Nội–Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tiêu dùng tại Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Hà Nội-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh.
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU
DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại là: ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật (Nguồn:Nghị định số 59/2009NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM)
Một số hoạt động của NHTM:
Hoạt động huy động vốn: Hoạt động huy động vốn chiếm vị trí quan trọng trong các hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới hình thức nhận tiền gửi. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và của dân cư. Để gia tăng nguồn tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động vốn khác nhau. Bao gồm: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của các ngân hàng khác. Mỗi loại tiền gửi có đặc điểm khác nhau phù hợp với từng đối tượng khác nhau.
Hoạt động ngân quỹ: Là hoạt động đảm bảo khả năng chi trả thanh toán thường xuyên của ngân hàng. Nguồn đảm bảo cho khả năng này là những tài sản có tính lỏng cao.
Hoạt động sử dụng vốn của NHTM:
Hoạt động đầu tƣ: Ngân hàng có thể tham gia vào các hoạt động đầu tư trên thị
trường chứng khoán, góp vốn liên doanh liên kết nhằm sinh lợi và phân tán rủi ro.
Hoạt động tín dụng: Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Hoạt động tín dụng là hoạt động truyền thống và chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, hoạt động này bao gồm: Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Cho vay thường được định lượng theo hai chỉ tiêu là doanh số cho vay và dư nợ cuối kỳ. Hoạt động cho vay đem lại một tỷ lệ sinh lời cao nhất nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các loại hình cho vay bao gồm cho vay thương mại, CVTD và tài trợ cho dự án. Để đảm bảo cho khoản vay của ngân hàng sinh lãi và an toàn thì khi cho vay Ngân hàng cần tuân thủ theo đúng các nguyên tắc tín dụng. Đó là: khách hàng phải sử dụng món vay mục đích, khách hàng phải trả gốc và lãi theo đúng hạn quy định, ngân hàng tài trợ cho khách hàng dựa trên phương án vay có hiệu quả.
1
Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước cho khách hàng một khoản tiền bằng mệnh giá thương phiếu trừ đi lãi suất chiết khấu và hoa hồng phí, đổi lại ngân hàng sẽ được sở hữu một thương phiếu chưa hết hạn ( hoặc một giấy nợ). Khi thương phiếu hết hạn thì ngân hàng sẽ tiến hành đi thu nợ thương phiếu.
Cho thuê: Là hoạt động tín dụng trung và dài hạn, theo đó ngân hàng sẽ bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định. Sau thời gian thuê, khách hàng sẽ phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng, hợp đồng cho thuê thường yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê. Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản thuê nếu muốn.
Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra song ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi. Trong thời gian gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng mua chịu hàng hóa trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác…
Hoạt động dịch vụ khác: Ngoài các hoạt động chủ yếu trên, ngân hàng còn cung cấp một số các loại hình dịch vụ như Dịch vụ mua bán ngoại tệ, Dịch vụ bảo quản vật có giá, cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý… Thông qua các dịch vụ này ngân hàng sẽ có một khoản lợi nhuận nhờ việc thu phí dịch vụ của khách hàng. Ngày nay, bên cạnh các hoạt động truyền thống, những loại hình dịch vụ này đang dần chiếm tỷ trọng lớn, và được chú trọng trong hoạt động của ngân hàng.
Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010:
Cho vay tại NHTM là: Sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (khách hàng), sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất của NHTM. Để ngân hàng tồn tại và phát triển vững chắc, hoạt động cho vay phải an toàn và hiệu quả. Muốn vậy, nó phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định:
Thứ nhất, khách hàng vay vốn phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích
đã thoả thuận. Điều này giúp hạn chế rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Thứ hai, khách hàng phải đảm bảo hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời
hạn đã thoả thuận trong hợp đồng.
Thứ ba, ngân hàng cho vay đối với những dự án khả thi, có hiệu quả và có khả
năng hoàn trả nợ. Nhờ đó, ngân hàng mới có được lợi nhuận từ việc cho vay
2
Phân loại hoạt động cho vay:
Theo mục đích sử dụng vốn vay: Cho vay nhằm mục đích sản xuất kinh doanh,
CVTD…
Theo thời gian : Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn đến 12 tháng, cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn từ trên 12 đến 60 tháng, cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn 60 tháng trở lên.
Theo hình thức bảo đảm: Cho vay có đảm bảo bằng tài sản, cho vay không có
đảm bảo bằng tài sản.
Theo cách thức cho vay: Cho vay trực tiếp, cho vay gián tiếp.
Theo phương thức cho vay: Cho vay thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho
vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp.
Hoạt động cho vay của NHTM có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế. Nó có tác dụng khuyến khích tiêu dùng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo động lực cho sự tăng trưởng kinh tế. Nguồn vốn vay từ các ngân hàng rất quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế, đặc biệt nguồn vốn vay từ ngân hàng thúc đẩy và góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Vậy tiêu dùng và nhu cầu tiêu dùng của người dân có vai trò như thế nào trong nền kinh tế? Vì sao hoạt động CVTD của NHTM lại có tầm quan trọng đặc biệt? Điều này sẽ được trình bày ở phần tiếp theo. 1.2. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động cho vay tiêu dùng 1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay tiêu dùng
Nhắc đến hoạt động chủ yếu của ngân hàng không thể không nói đến hoạt động cho vay. Dựa trên các tiêu thức khác nhau thì người ta có thể phân chia cho vay làm nhiều loại. Nếu dựa vào mục đích sử dụng vốn vay, người ta đưa ra loại hình CVTD. Và trên thực tế có nhiều cách định nghĩa khác nhau về CVTD.
CVTD là việc ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định để sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống khác (Nguồn: Giáo trình NHTM, PGS.TS. Phan Thị Thu Hà, NXB Tài Chính)
Trong giai đoạn đầu, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản CVTD có rủi ro vỡ nợ tương đối cao. Tuy nhiên cuộc sống ngày càng phát triển kéo theo đó nhu cầu của con người cũng ngày càng tăng cao. Nhu cầu CVTD gia tăng mạnh mẽ gắn liền với các hàng tiêu dùng lâu bền như nhà, xe, đồ gỗ sang trọng, nhu cầu du lịch… đối với lực lượng khách hàng rộng lớn. Hơn nữa một số tầng lớp người tiêu dùng có thu nhập khá và ổn định, có khả năng trả nợ cho ngân hàng.
3
Như vậy ngân hàng nên phát triển hoạt động CVTD bởi đây là một hoạt động cho vay rất tiềm năng. Việc nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của hoạt động CVTD kết hợp với điều kiện thực tế của nước ta sẽ thúc đẩy hoạt động này và đem lại hiệu quả thiết thực cho ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. 1.2.2. Đặc điểm hoạt động cho vay tiêu dùng
CVTD là một trong những hình thức cho vay có rủi ro rất cao. Nếu người vay không may bị ốm, chết, hoặc bị mất việc thì ngân hàng sẽ khó thu hồi được nợ. Hơn nữa một số khoản vay lại có thời hạn rất dài như mua nhà thế chấp có ngân hàng cho vay với thời hạn tối đa tới 20 năm… Vì vậy, các khoản vay tiêu dùng thường được thẩm định rất kỹ càng và giám sát chặt chẽ. Nhiều ngân hàng còn lập riêng phòng chuyên trách để theo dõi các khoản vay này để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Dịch vụ CVTD của NHTM có thể là một trong những dịch vụ mang chi phí cao nhất với nhiều rủi ro nhất vì tình hình tài chính của các cá nhân và hộ gia đình không ổn định, có thể thay đổi nhanh chóng tuỳ theo tình trạng công việc hay sức khoẻ của họ. Do đó các khoản CVTD luôn được quản lý một cách chặt chẽ và linh hoạt.
Đối tƣợng cho vay tiêu dùng: Là các cá nhân, hộ gia đình. Nhu cầu vay vốn của những người này phụ thuộc vào tình hình thu nhập, tài chính của họ. Do đó có thể chia ra thành 3 trường hợp phổ biến sau :
Các cá nhân có mức thu nhập thấp dưới 9 triệu đồng/tháng: Nhu cầu tín dụng thường không cao, nó chỉ xuất hiện nhằm thoả mãn nhu cầu gia đình tạo sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu.
Các cá nhân có mức thu nhập trung bình từ 9 triệu đến 15 triệu/tháng: Nhu cầu tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh do ý muốn vay mượn để mua hàng tiêu dùng lớn hơn khoản tiền dự phòng của mình.
Các cá nhân có mức thu nhập cao từ 15 triệu/tháng trở lên: Nhu cầu tín dụng tiêu dùng nảy sinh nhằm tăng thêm khả năng thanh toán hoặc tài trợ chi tiêu khi mà nguồn vốn của họ đã nằm trong tài khoản đầu tư.
Qui mô và số lƣợng các khoản vay tiêu dùng: Các khoản CVTD thường có qui mô tương đối nhỏ so với các khoản cho vay kinh doanh. Cho vay bất động sản có thể có giá trị lớn hơn, nhưng giá trị so sánh vẫn nhỏ hơn các món vay khác tại Ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu do khách hàng chỉ vay tiêu dùng khi đã có một lượng vốn tương đối, chỉ vay ngân hàng để bổ sung số tiền còn thiếu. Tuy nhiên số lượng các khoản CVTD lại rất lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội với nhu cầu tiêu dùng đa dạng. Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu tiêu dùng tăng cao, số lượng các khoản vay tiêu dùng sẽ càng nhiều thêm.
4
Thời hạn vay: Các khoản CVTD thường là ngắn và trung hạn do món vay có
giá trị nhỏ và độ rủi ro cao.
Nguồn trả nợ: Nguồn trả nợ chủ yếu của khoản vay tiêu dùng chính là thu nhập của người đi vay, NH thường xem xét mức thu nhập thường xuyên của KH để ra quyết định cho vay.
Lãi suất CVTD: Các khoản CVTD có lãi suất cao hơn lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác. Nguyên nhân là do quy mô của hợp đồng cho vay nhỏ lại khó quản lý hơn vì vậy chi phí cho vay của ngân hàng cao. Để bù đắp chi phí này, tất nhiên, lãi suất cho vay sẽ cao. Bên cạnh đó, không như hầu hết các khoản cho vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, lãi suất CVTD thường được cố định ở một mức nhất định.
Rủi ro CVTD: Hình thức CVTD chứa đựng độ rủi ro cao hơn so với việc tài
trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Rủi ro được chia thành ba nhóm
Rủi ro từ môi trường tự nhiên và xã hội: Nguồn trả nợ chủ yếu của khoản vay tiêu dùng là từ thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại của người vay, khả năng trả nợ của KH sẽ bị ảnh hưởng khi nền kinh tế gặp khó khăn, hoặc xảy ra những biến động tiêu cực chung như thiên tai, mất mùa, thất nghiệp.
Rủi ro từ phía khách hàng: Thông tin tài chính của cá nhân và hộ gia đình thường khó đầy đủ và rõ ràng như thông tin về doanh nghiệp (thông qua báo cáo tài chính thường niên, hoặc kiểm tra công tác kế toán), dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin không cân xứng. KH có thể không có thiện chí trả nợ cho NH mặc dù có khả năng thanh toán, hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ và trung thực nhằm đạt mục đích vay vốn. Khả năng trả nợ vay tiêu dùng còn phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của KH, đặc biệt khi người vay chết thì NH sẽ rất khó để thu hồi được khoản nợ
Rủi ro từ phía ngân hàng: Đạo đức của cán bộ tín dụng (CBTD) có thể trình độ chuyên môn chưa cao, năng lực và kinh nghiệm không tốt dẫn tới khi thẩm định cho vay họ sẽ không đưa ra được những kết quả thẩm định đúng đắn, có hiệu quả. Cơ sở vật chất, mạng lưới thông tin ngân hàng thiếu thốn, lỏng lẻo hay hoạt động kiểm soát nội bộ không được thực hiện thường xuyên cũng là nguyên nhân dẫn tới rủi ro cao trong cho vay.
Chi phí CVTD: CVTD là một trong những khoản mục có chi phí lớn nhất trong danh mục cho vay của NH. Do số lượng món vay nhiều, KH đông nhưng quy mô nhỏ, NH phải huy động nhiều nhân lực, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, quyết định cho vay, giải ngân, kiểm soát và thu nợ. Công tác quản lý các khoản CVTD với số lượng lớn cũng phát sinh nhiều chi phí.
5
Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng: Hiện nay mức lợi nhuận thu được từ các khoản cho vay tiêu dùng của các NHTM khá cao, chiếm tỉ trọng lớn trong tổng lợi nhuận của NH do số lượng các khoản vay tiêu dùng là rất lớn, mức lãi suất CVTD cao. Vì triển vọng về lợi nhuận cũng như phạm vi KH trong lĩnh vực CVTD là rất lớn nên đối với hầu hết các nước phát triển hiện nay, CVTD đã trở thành một trong những nguồn thu chủ chốt của các NHTM, đóng vai trò chủ đạo trong dịch vụ NH, mang ý nghĩa quan trọng trong quản lý NH. Khai thác lĩnh vực CVTD vẫn tiếp tục hứa hẹn nhiều triển vọng trong tương lai.Tại các nước đang phát triển, CVTD cũng đang dần khẳng định được vai trò của mình, đem lại những lợi nhuận không nhỏ trong hoạt động cho vay của NHTM. 1.3. Các loại hình cho vay tiêu dùng 1.3.1. Căn cứ vào mục đích vay
Căn cứ vào mục đích vay, CVTD được chia thành hai loại:
CVTD cƣ trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây
dựng hoặc/và cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân và hộ gia đình.
CVTD phi cƣ trú: Là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí
mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch… 1.3.2. Căn cứ vào tính chất đảm bảo
Theo tính chất đảm bảo, CVTD có hai loại chính: Cho vay có đảm bảo bằng tài
sản và cho vay không có đảm bảo bằng tài sản.
Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Cho vay có đảm bảo bằng tài sản chủ yếu được thực hiện bởi các hình thức sau:
Cho vay cầm cố: Là hình thức ngân hàng cho khách hàng vay tiền với điều kiện là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát TSĐB cho ngân hàng trong thời gian cam kết.
Cho vay thế chấp: Trong hình thức này người vay phải chuyển các giấy tờ
chừng nhận sở hữu các TSĐB sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời hạn cam kết.
Đối với thế chấp bằng tài sản thì những tài sản mang thế chấp thường là bất động sản như nhà cửa, quyền sử dụng đất hoặc là những động sản mà việc ngân hàng nắm giữ không thuận tiện như: ô tô, xe máy.
Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Là việc ngân hàng cho vay vốn không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc không có bảo lãnh của người thứ ba về tài sản.
6
Trong trường hợp này, ngân hàng cho tổ chức cá nhân vay chủ yếu dựa vào uy tín khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, có khả năng tài chính mạnh ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. Mức vay tối đa không bảo đảm của mỗi loại hình tổ chức tín dụng do Ngân hàng nhà nước (NHNN) quy định trong mỗi thời kỳ. 1.4. Vai trò của hoạt động CVTD
Việc CVTD của Ngân hàng có tác động ảnh hưởng rất lớn đối với bản thân Ngân
hàng, cũng như đối với người tiêu dùng và nền kinh tế. 1.4.1. Đối với khách hàng
CVTD họ giúp khách hàng được hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn, nó cần thiết cho những trường hợp cá nhân có nhu cầu chi tiêu cấp bách, nhu cầu chi tiêu cho giáo dục y tế… Đối với thế hệ trẻ và người thu nhập thấp, CVTD giúp họ có được một cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ, bằng việc mua trả góp những gì cần thiết, tạo động lực to lớn để làm việc, tiết kiệm, nuôi dưỡng con cái. Tuy nhiên, nếu lạm dụng CVTD có thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm và chi tiêu trong tương lai. 1.4.2. Đối với ngân hàng
CVTD giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho ngân hàng, tạo điều kiện đa dạng hóa được các sản phẩm dịch vụ như: thẻ, các dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn, chiết khấu. Ngoài ra, nâng cao hiệu quả CVTD giúp ngân hàng tìm kiếm được lợi nhuận từ các khoản vay, tăng thu nhập và phân tán rủi ro, góp phần quảng bá thương hiệu sản phẩm dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng với các ngân hàng khác.CVTD giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Như đã phân tích, CVTD tuy có chi phí cao nhưng đồng thời cũng tạo ra lợi nhuận lớn hơn trên đồng vốn bỏ ra so với các hình thức cho vay khác. CVTD cũng giúp ngân hàng thu hút khách hàng sử dụng thêm các hình thức dịch vụ khác như :chuyển tiền hoặc sử dụng dịch vụ trả lương qua tài khoản tại Ngân hàng để thuận lợi cho hoạt động thanh toán lãi theo kỳ hạn, sử dụng các dịch vụ thẻ, quảng bá thương hiệu ngân hàng thông qua khách hàng. Khách hàng cũng có xu hướng sử dụng kèm các dịch vụ tại ngân hàng mình đã có quan hệ tín dụng. Đây là điều kiện giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần. Ngoài ra CVTD góp phần đa dạng hoá các lĩnh vực đầu tư, nâng cao thu nhập, phân tán rủi ro cho ngân hàng. 1.4.3. Đối với nền kinh tế
CVTD thúc đẩy thành phần tiêu dùng do đó gia tăng cầu trong nước, trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội, hạn chế sự phụ thuộc vào cầu nước ngoài, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững hơn.CVTD thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và từ đó làm tăng thu nhập, tạo khả năng tiết kiệm, mở rộng cơ hội huy động vốn và phát triển
7
các dịch vụ ngân hàng của các tổ chức tín dụng. CVTD kích cầu dẫn đến quy mô sản xuất tăng nhanh, mức độ đổi mới phong phú về chất lượng ngày một lớn, tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau. CVTD giúp đẩy mạnh tốc độ lưu thông hàng hóa, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, phát triển khả năng cạnh tranh, đẩy mạnh sự năng động của các doanh nghiệp. Chính vì vậy đã làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối tiêu dùng diễn ra nhanh chóng và hiệu quả. Đây chính là nền tảng tăng trưởng kinh tế. CVTD góp phần cải thiện môi trường thanh toán, giảm lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường. Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô: dịch vụ ngân hàng bán lẻ đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn trong dân cư để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống người dân, hạn chế dùng tiền mặt và tiết kiệm chi phí thời gian, tiền bạc cho xã hội 1.5. Hiệu quả hoạt động CVTD tại NHTM
Hiệu quả hoạt động CVTD là sự đáp ứng tốt nhất của ngân hàng yêu cầu về vốn của khách hàng để thực hiện hoạt động CVTD, phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. (Nguồn :Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH ngày 12/12/1997).
Hiệu quả CVTD được xác định thông qua sự phục vụ tốt sự phát triển của các ngành, các địa phương theo định hướng của Nhà nước qua từng thời kỳ. Các khoản cho vay được thực hiện đúng mục đích, đúng đối tượng, có hàng hoá tương đương làm đảm bảo. Ngoài ra, các khoản vay được thu hồi đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi cho hoạt động của ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường.
Dưới góc độ này, CVTD được coi là có hiệu quả khi đáp ứng nhu cầu về vốn của người tiêu dùng, nâng cao chất lượng đời sống dân cư, thúc đẩy được sản xuất phát triển.
Hiệu quả CVTD là việc đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, đa dạng hoá được các sản phẩm dịch vụ cung cấp, đồng thời các thủ tục đơn giản, thuận lợi, lãi suất và thời hạn hợp lý với khả năng và thu nhập của người tiêu dùng nhận được trong tương lai.
Như vậy, có thể nói hiệu quả CVTD được đảm bảo thì việc mở rộng CVTD sẽ diễn ra dễ dàng, có cơ sở và dành được thị phần cho vay trên thị trường, khi đó hoạt động CVTD của ngân hàng sẽ đạt hiệu quả cao. Nâng cao hiệu quả của CVTD sẽ giúp ngân hàng thực hiện thành công chiến lược kinh doanh và đứng vững trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày một gay gắt như hiện nay. 1.5.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng 1.5.1.1. Các chỉ tiêu định tính
Tuân thủ các quy định cho vay của NHNN: Sự tuân thủ các quy định của NHTM về hoạt động cấp tín dụng tiêu dùng: NHNN qui định các chỉ tiêu có tính chất 8
bắt buộc đối với các NHTM như thủ tục, hồ sơ vay vốn, thời gian tối đa để ra quyết định đối với một khoản vay, biên độ tối đa, tối thiểu lãi suất cho vay so với mức lãi suất cơ bản, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu…Việc tuân thủ những quy định này làm giảm thiểu rủi ro trong quy trình CVTD.
Chiến lược CVTD phù hợp với yêu cầu cạnh tranh, phát triển kinh doanh theo từng thơì kì: Chỉ tiêu trên được thể hiện trong chính sách cho vay của ngân hàng. Chính sách cho vay cho ta biết về chủ trương của ngân hàng là ưu đãi cho vay đối tượng khách hàng nào, từ đó đề ra các chiến lược, phương thức và hình thức thúc đẩy phát triển kinh doanh của Chi nhánh.
Công nghệ thông tin của ngân hàng: Trong xu thế hiện nay, công nghệ thông tin ngày càng có vai trò quan trọng không chỉ với các hoạt động kinh tế mà còn là hoạt động ngân hàng nói riêng. Công nghệ thông tin đem lại những lợi ích to lớn và sức mạnh cạnh tranh cho các NHTM bằng việc cập nhật, thu thập xử lý thông tin nhanh hơn, nâng cao chất lượng dịch vụ. Nhờ đó, ngân hàng có thể quản lý một khối lượng lớn các hồ sơ tín dụng và khách hàng cũng có thể tiếp cận các dịch vụ khác nhau của ngân hàng thông qua mạng Internet.
Đạo đức của CBTD: Khi cho vay, nếu CBTD có tinh thần thái độ, đạo đức nghề nghiệp tốt thì trong quá trình tiếp cận phục vụ khách hàng, CBTD tạo niềm tin và tạo một hình ảnh tốt trong mỗi khách hàng. Muốn làm được điều đó, mỗi nhân viên cần có trình độ chuyên môn, năng lực và kinh nghiệm tốt. Năng lực trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của CBTD có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng món vay. Với năng lực trình độ chuyên môn và kinh nghiệm cao thì khi thẩm định cho vay, CBTD sẽ đưa ra được những kết quả thẩm định đúng đắn, có hiệu quả, giúp giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
Hoạt động kiểm soát nội bộ: Hoạt động cho vay của ngân hàng rất nhạy cảm và liên tục phải đối mặt với nhiều rủi ro. Chính vì vậy, công tác kiểm soát nội bộ giúp nhận dạng, đo lường, đánh giá thường xuyên, liên tục kịp thời phát hiện, ngăn ngừa các rủi ro xảy ra trong hoạt động cho vay, qua đó đề xuất các biện pháp quản lý rủi ro thích hợp, nâng cao hiệu quả cho vay của ngân hàng. Hoạt động kiểm soát nội bộ được thực hiện thường xuyên sẽ tác động rất lớn đến chất lượng cho vay, hạn chế rủi ro cho vay ngân hàng. Ngoài ra, đánh giá tính tuân thủ qui trình hoạt động của khách hàng, xem xét và kiểm tra lại các công việc đã được thực hiện giúp giảm thiểu sai sót.
Số lượng khách hàng đến vay tại ngân hàng: Chất lượng cho vay của ngân hàng có tốt thì mới có nhiều người đến với ngân hàng, khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhanh và đầy đủ. Sự hài lòng của khách hàng là những gì phòng giao dịch cần nỗ lực để đạt được.Đó cũng là cách tốt nhất để thu hút và giữ chân khách hàng. Những khách hàng có mức độ hài lòng cao cũng ít quan tâm tới vấn đề giá cả, mặt 9
hàng họ ưa chuộng sẽ luôn được chú ý và đánh giá cao từ đó bạn bè, người thân của họ sẽ biết tới sản phẩm dịch vụ của ngân hàng trong các buổi nói chuyện thân mật.
Có thể nói các chỉ tiêu định tính phản ánh rủi ro CVTD tại NHTM là căn cứ để đánh giá rủi ro CVTD một cách khái quát. Tuy nhiên, để có được kết luận chính xác hơn nữa thì phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến hoạt động CVTD của ngân hàng 1.5.1.2. Các chỉ tiêu định lượng
Doanh số CVTD: Doanh số CVTD thể hiện tổng lượng vốn mà ngân hàng đã cho các cá nhân, tổ chức vay trong một thời kỳ cụ thể. Đây là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất tốc độ mở rộng CVTD. Doanh số cho vay càng lớn chứng tỏ nhu cầu vay của khách hàng được đáp ứng tốt hơn, đồng thời cho thấy khả năng tăng lợi nhuận từ hoạt động này của ngân hàng.
Dƣ nợ CVTD: Chỉ tiêu trên phản ánh số vốn ngân hàng CVTD tại một thời điểm cụ thể. Nó được tính trên số dư cuối kì trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Cùng với chỉ tiêu doanh số cho vay, chỉ tiêu cũng đánh giá mức độ tăng trưởng CVTD của ngân hàng. Đây là chỉ tiêu mà ngân hàng theo dõi thường xuyên để biết tình hình sử dụng vốn của khách hàng. Chỉ tiêu phản ánh quy mô của mở rộng CVTD và là cơ sở để xác định thu nhập của ngân hàng từ hoạt động này.Tuy nhiên, dư nợ CVTD cuối kì cao cũng chưa thể đánh giá hiệu quả CVTD là tốt được. Chỉ tiêu này còn phải kết hợp với các chỉ tiêu khác để có thể đánh giá một cách toàn diện hiệu quả CVTD.
Nếu cả hai chỉ tiêu trên đều cao và tốc độ tăng trưởng của hai chỉ tiêu này cùng dương thì chứng tỏ ngân hàng đang có tăng trưởng trong CVTD, sản phẩm cho vay của ngân hàng đã có uy tín và thu hút khách hàng. Qua đó, nhu cầu về vốn CVTD được ngân hàng đáp ứng tốt nhất. Mặc dù vậy, để xem xem hiệu quả CVTD có thật sự tốt ta vẫn cần phải xét đến các chỉ tiêu về thu nợ khác.
Doanh số thu nợ CVTD: Doanh số thu nợ CVTD là chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng vốn đã cho các cá nhân, tổ chức vay và được hoàn trả trong một thời kì cụ thể. Nếu doanh số cho cay cao kèm theo theo doanh số thu nợ cũng cao thì đây được xem là chất lượng các khoản vay là tốt, vòng quay vốn tín dụng của Chi nhánh là cao.
Nợ quá hạn CVTD: Nợ quá hạn là những khoản cho vay đến hạn mà khách hàng không trả được hoặc trả không đầy đủ số tiền trong hợp đồng tín dụng và không được ngân hàng gia hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa NQH và tổng dư nợ của NHTM ở một thời điểm nhất định, thường cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Tỷ lệ này cho biết tại thời điểm xác định cứ 100 đồng ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đồng là nợ quá hạn.
10
Nợ quá hạn CVTD
Tỷ lệ nợ quá hạn CVTD = *100%
Tổng dư nợ CVTD
Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng cho vay của ngân hàng, nó phản ánh những rủi ro cho vay mà ngân hàng phải đối mặt. Đối với ngân hàng, việc khách hàng không trả được nợ có thể ảnh hưởng đến tính thanh khoản cúng như hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do đó, điều quan trọng là ngân hàng cần duy trì tỷ lệ NQH ở mức thấp nhất có thể. Ngân hàng cần có những biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu kịp thời như tăng cường công tác đòi nợ quá hạn cũng như giám sát chặt chẽ các khoản vay.
Nợ xấu trong CVTD: Nợ xấu là những khoản nợ mà khả năng thu hồi là thấp. Đây là những khoản nợ mà ngân hàng không hề mong muốn. Tỷ lệ nợ xấu cho biết, trong 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu chính vì vậy tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả cho vay của ngân hàng
Tỷ lệ nợ xấu CVTD
Nợ xấu CVTD
Tỷ lệ nợ xấu CVTD = *100% Tổng dư nợ CVTD
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ CVTD phản ánh tỷ trọng của nợ xấu CVTD trong tổng dư nợ CVTD của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu càng cao càng phản ánh những rủi ro trong cho vay của ngân hàng càng lớn. Vì vậy, ngân hàng phải luôn tìm cách giảm tỷ lệ này đến mức thấp nhất có thể bằng những biện pháp khác nhau từ gia hạn nợ đến phát mại TSĐB…
Nợ xấu CVTD trên nợ quá hạn CVTD
Tỷ lệ nợ xấu CVTD trên nợ quá hạn CVTD = Nợ xấu CVTD/Nợ quá hạn CVTD
Tỷ lệ này cho biết 100 đồng nợ quá hạn CVTD thì có bao nhiêu đồng nợ xấu CVTD. Tỷ lệ này phản ánh chi tiết nhất tình hình nợ xấu CVTD có nguy cơ mang lại rủi ro cao cho ngân hàng, nó chiếm bao nhiêu trong nợ quá hạn, từ đó ngân hàng có thể đưa ra các phương án xử lý nợ xấu hợp lý và nhanh chóng.Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả các khoản vay càng thấp và độ an toàn của ngân hàng càng thấp.
Vòng quay vốn CVTD: Chỉ tiêu này thường được các NHTM tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng tiêu dùng và chất lượng tín
11
dụng tiêu dùng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa 3 lợi ích: Nhà nước, khách hàng và ngân hàng.
Doanh số thu nợ CVTD
Vòng quay vốn CVTD = Dư nợ CVTD bình quân
Hệ số này càng lớn càng tốt thể hiện khả năng thu nợ của ngân hàng và chứng tỏ nguồn vốn của ngân hàng đã đầu tư có hiệu quả. Nó phản ánh số vòng chu chuyển vốn của vốn CVTD cao, nguồn vốn luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ. Ngược lại, hệ số này nhỏ chứng tỏ việc thu nợ của ngân hàng là kém, chất lượng cho vay tiêu dùng là không cao.
Trích lập dự phòng rủi ro CVTD: Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho nhưng tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết (Nguồn: Ngân hàng nhà nước (2005), Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, Hà Nội.)
Do đó các ngân hàng sử dụng quỹ dự phòng nhằm bù đắp khoản nợ quá hạn
khi rủi ro xảy ra để không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng.
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho biết DPRR trong CVTD được trích so với dư nợ CVTD. Tỷ lệ này càng cao, chứng tỏ nợ xấu càng nhiều, ngân hàng CVTD chưa tốt, vẫn phải trích lập dự phòng nhiều.
DPRR cho vay tiêu dùng
*100%
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro CVTD = Dư nợ CVTD
Khả năng bù đắp rủi ro CVTD: Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng có thể bù đắp cho các rủi ro phát sinh từ các khoản CVTD như nợ khó đòi, nợ xấu. Khả năng bù đắp rủi ro càng cao chứng tỏ tiềm lực tài chính của ngân hàng càng mạnh và an toàn trong kinh doanh ở mức cao.
Hệ số khả năng bù đắp CVTD = DPRR cho vay tiêu dùng được trích/ Nợ đã xử lý rủi ro
Nếu hệ số này >1, chứng tỏ ngân hàng trích lập dự phòng đầy đủ, và có khả
năng bù đắp vốn khi xảy ra RRTD
Nếu hệ số này <1 cho biết trích lập dự phòng không đủ khả năng bù đắp vốn
khi xảy ra RRTD
Nếu hệ số này =1, ngân hàng đủ khả năng bù đắp rủi ro CVTD.
Tỷ lệ nợ mất trắng:
Tỷ lệ nợ mất trắng = Nợ mất trắng đã xóa/ Dư nợ CVTD 12
Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu phần trăm dư nợ được xóa, tức là nợ không thể thu hồi được và chuyển vào ngoại bảng để ngân hàng theo dõi. Tỷ lệ này càng thấp thì càng tốt và thông thường không vượt quá 2% chứng tỏ ngân hàng chưa đáng lo ngại. Nhưng nếu tỷ lệ này quá cao chứng tỏ ngân hàng có nhiều khoản cho vay bị mất trắng, hiệu quả cho vay có vấn đề ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Thu nhập từ hoạt động CVTD: Mục đích kinh doanh của bất cứ NHTM nào cũng là lợi nhuận. Do vậy bất kỳ một khoản cho vay nào mà không đem lại khoản thu nhập cho ngân hàng hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng thì không thể nói khoản vay đó có hiệu quả cao. Do đó là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển.
Lãi từ hoạt động CVTD
Thu nhập từ hoạt động CVTD = Tổng thu nhập
Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả CVTD.Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời từ hoạt động CVTD của ngân hàng, theo đó chỉ tiêu này càng cao thì lợi nhuận từ CVTD đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng càng lớn, thể hiện hiệu quả CVTD càng tốt. Ngoài ra, tỷ lệ này còn giúp ngân hàng xây dựng định hướng phát triển hoạt động CVTD tại ngân hàng. 1.6. Các nhân tố ảnh hƣởng tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động CVTD
Chất lượng của các khoản CVTD chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố bao gồm
nhân tố quan và nhân tố khách quan. Để có thể nâng cao được chất lượng CVTD ngân
hàng phải xem xét tác động của các nhân tố đến hoạt động cho vay của ngân hàng như
thế nào, chỉ ra được những mặt tích cực và những hạn chế còn tồn tại.Từ đó, phát huy
một cách hiệu quả những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực.
1.6.1. Các nhân tố khách quan
Chiến lƣợc kinh doanh của ngân hàng: Chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng tới chất lượng CVTD. Chiến lược được hiểu là tầm nhìn của doanh nghiệp trong dài hạn về phương hướng, về quy mô phát triển, về thị trường, lợi thế, nguồn lực, môi trường ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh, giá trị kỳ vọng mà những người trong và ngoài doanh nghiệp cần.
Chiến lược kinh doanh liên quan đến khả năng cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể. Chiến lược kinh doanh nó quyết định việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác, khai thác và tạo ra các cơ hội mới…Cũng giống như các doanh nghiệp, các NHTM nếu không có chiến lược kinh doanh cụ thể sẽ rơi vào tình trạng bị động, sẽ bị bỏ lại phía sau trong cuộc chạy đua giữa các ngân hàng. Các ngân hàng dựa trên cơ sở một chiến lược kinh
13
doanh được xác lập, ngân hàng sẽ chuyển nó thành hành động, lập ra những kế hoạch bộ phận cho từng thời kỳ đảm bảo cho những mục tiêu đã đề ra.
Chính sách tín dụng: Các khoản vay là tài sản lớn nhất của một ngân hàng. Sự lành mạnh của danh mục cho vay quyết định thu nhập của ngân hàng, cũng như tính hiệu quả của nó. Ngân hàng luôn tìm cách cung cấp tối đa các dịch vụ tín dụng nhưng phải theo nguyên tắc thận trọng, an toàn và thanh khoản. Chính sách tín dụng là nguyên tắc cơ bản chi phối mở rộng hoạt động tín dụng. Một chính sách tín dụng được hoạch định tốt, phù hợp với các quy luật khách quan là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả tín dụng nói chung và hiệu quả CVTD nói riêng.
Trong từng thời kỳ khác nhau các ngân hàng luôn đặt ra các chỉ tiêu hoạt động khác nhau, phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế, phù hợp với mục tiêu hoạt động của ngân hàng. Căn cứ vào đó, ngân hàng tiến hành xây dựng các biện pháp cụ thể để đạt mục tiêu cụ thể đề ra. Việc có một chính sách tín dụng hợp lý vừa giúp ngân hàng giảm thiểu các rủi ro, đồng thời tạo điều kiện thực hiện các mục đề ra. Tuỳ từng giai đoạn, tùy thời kỳ, ngân hàng có thể đề ra các chính sách nhằm thắt chặt hay nới lỏng tín dụng. Việc nới lỏng là việc ngân hàng tiến hành mở rộng cho vay tức cho khách hàng vay vốn nhiều hơn. Ngược lại, thắt chặt tín dụng tức ngân hàng hạn chế cho vay.
Quy trình tín dụng: Quy tình CVTD là tổng hợp các nguyên tắc, các quy định của ngân hàng trong việc cho khách hàng vay vốn, trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định, kể từ khi chẩn bị hồ sơ vay vốn đến khi chấm dứt hợp đồng. Đây là một trong các nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng CVTD của ngân hàng. Quy trình CVTD không chặt chẽ có ảnh hưởng tới quá trình thẩm định và quyết định cho vay. Mỗi khách hàng trước khi được ngân hàng cho vay đều phải trải qua một quy trình nhất định. Quy trình này có thể chia thành các giai đoạn: lập hồ sơ tín dụng, thẩm định (phân tích tín dụng), quyết định tín dụng, giải ngân, thu hồi nợ và thanh lý tín dụng. Các giai đoạn có mối liên hệ mật thiết với nhau, kết quả của giai đoạn trước là cơ sở cho giai đoạn sau thực hiện và nó tác động đến chất lượng của công việc của giai đoạn sau. Trong quy trình CVTD của ngân hàng, thẩm định là khâu quan trọng nhất, quyết định chất lượng của món vay. Thẩm định có thể hiểu là việc xem xét tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của phương án để ra quyết định cho vay. Bao gồm các bước: thu thập thông tin, xử lý thông tin và ra quyết định cho vay. Mục đích của khâu thẩm định là giúp cho các CBTD xem xét hiệu quả kinh tế của phương án kinh doanh, khả năng trả nợ, rủi ro có thể xảy ra. Từ đó CBTD quyết định xem có cho vay hay không? Đồng thời, nếu cho vay được xác định luôn số tiền khách hàng được vay, thời hạn vay bao lâu, mức lãi suất bao nhiêu và phương thức trả nợ như thế nào?
14
Chất lƣợng CBTD trong ngân hàng: Con người là yếu tố quan trong hàng đầu, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp không thể tồn tại và phát triển tốt nếu có đội ngũ nhân viên có trình độ thấp. Ngân hàng cũng vậy, chất lượng cho vay sẽ không thể tốt được nếu có một đội ngũ CBTD không tốt. CBTD là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, tiếp nhận những hồ sơ hướng dẫn khách hàng các thủ tục vay vốn, thực hiện thu thập và xử lý thông tin về khách hàng để đưa ra quyết định cho vay hay không cho vay, cũng như việc thực hiện giám sát sau khi cho vay và thu hồi nợ. CBTD là nhân tố quan trọng đầu tiên và quyết định đến chất lượng cho vay của ngân hàng. Điều này đòi hỏi CBTD phải có trình độ chuyên môn, khả năng nghiệp vụ, khả năng phân tích, đánh giá, có trách nhiệm trong công việc trên cơ sở lựa chọn những khách hàng tốt để đảm bảo khả năng trả nợ gốc và lãi vay cho ngân hàng, giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng cho vay.
Chất lƣợng thông tin mà ngân hàng thu thập đƣợc: Thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động cho vay nói chung và CVTD nói riêng. Trước khi quyết định cho vay, ngân hàng cần có những thông tin chính xác về khách hàng đó. Ngân hàng nắm rõ về thu nhập cả khách hàng, mục đích cho vay của khách hàng, TSĐB, nguồn trả nợ ngân hàng ... Trên cơ sở thông tin đó, ngân hàng tiến hành phân tích tín dụng để ngân hàng đánh giá khách hàng, và quyết định cho vay hay không. Thông tin được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau như: từ hồ sơ đề nghị cấp vốn của khách hàng, từ hồ sơ tại các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác, từ các cơ quan có liên quan …Thông tin đúng đắn kịp thời sẽ là cơ sở cho vay đúng đắn hợp lý. Thông tin sai lệch, không đầy đủ làm cho cán bộ quyết định sai dẫn đến ngân hàng có khả năng mất vốn. Vì vậy thông tin đòi hỏi phải chính xác để có thể giảm được tối đa rủi ro trong quá trình cho vay.
Khả năng kiểm soát, tổ chức quản lý hoạt động của ngân hàng: Việc kiểm tra giám sát là công việc rất quan trọng, không thể coi nhẹ. Nó giúp ngân hàng phát hiện ra những dấu hiệu sai trái, những hoạt động không đúng trong quá trình sử dụng vốn. Cũng nhờ đó, ngân hàng có một cái nhìn toàn diện về hoạt động CVTD của ngân hàng. Định kỳ hoặc đột xuất, kiểm soát viên tiến hành kiểm soát, phát hiện và có những biện pháp xử lý kịp thời để nâng cao chất lượng CVTD, đồng thời tránh gây rủi ro đối với ngân hàng. 1.6.2. Các nhân tố chủ quan
Quy mô vốn của ngân hàng: Vốn giữ một vai trò quan trọng trong các hoạt động của ngân hàng, đồng thời nó cũng thể hiện vị thế của ngân hàng trong ngành. Bất cứ thành phần kinh tế nào muốn hoạt động đều cần phải có vốn. Riêng với lĩnh vực kinh doanh ngân hàng – một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, số vốn cần phải có lớn hơn gấp nhiều lần. Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm vốn chủ sở hữu và nguồn huy động 15
được. Vốn càng lớn, càng có điều kiện mở rộng hoạt động kinh doanh như nâng cao cơ sở hạ tầng, máy móc, thiết bị, công nghệ…; có khả năng đa dạng hoá danh mục sản phẩm dịch vụ, tăng sức cạnh tranh cho ngân hàng. Nhờ đó mà hoạt động của ngân hàng cũng phát triển theo và CVTD không phải là một ngoại lệ.
Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thanh hướng dẫn chung cho CBTD và các nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời. Toàn bộ các vấn đề có liên quan đến cấp tín dụng nói chung đều được xem xét và đưa vào chính sách tín dụng như quy mô, lãi suất, kì hạn, đảm bảo, phạm vi, các khoản tín dụng có vấn đề và các nội dung khác.
Đội ngũ cán bộ nhân viên: Trình độ chuyên môn, đạo đức, thái độ phục vụ… của cán bộ ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả kinh doanh nói chung, hoạt động CVTD nói riêng. CVTD là hình thức cho vay rủi ro khá cao nên đòi hỏi trình độ chuyên môn tốt của cán bộ ngân hàng. Nếu ngay từ khâu thẩm định làm không tốt sẽ gây tổn hại cho ngân hàng. Ngân hàng là một ngành kinh doanh dịch vụ nên thái độ phục vụ cũng như chế độ chăm sóc khách hàng rất được chú trọng. Cán bộ ngân hàng có thái độ phục vụ nhiệt tình, chế độ chăm sóc khách hàng chu đáo, khách hàng sẽ giao dịch với ngân hàng nhiều hơn, nhờ đó mà ngân hàng mở rộng được khách hàng. Bên cạnh đó, vấn đề đạo đức nghề nghiệp cũng cần được quan tâm. Cán bộ ngân hàng phải đặt lợi ích của ngân hàng và khách hàng lên đầu, không vì tư lợi cá nhân gây tổn hại đến ngân hàng và khách hàng.
Kết luận chƣơng 1
Trong chương 1 của khoá luận, chúng ta đã tìm hiểu những vấn đề mang tính lý luận chung về CVTD như khái niệm và vai trò của CVTD hay những loại hình đa dạng, phong phú của hoạt động CVTD. Chương 1 cũng đã đề cập đến những tiêu chí đánh giá hiệu quả cho vay cũng như những nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến chất lượng CVTD. Ở Việt Nam, đẩy mạnh CVTD là xu hướng tất yếu, là điều kiện khách quan trong nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là chiến lược, mục tiêu và là thị trường đầy tiềm năng của các NHTM. Tuy nhiên, CVTD chịu tác động của rất nhiều yếu tố, muốn mở rộng và nâng cao hoạt động này, mỗi ngân hàng cần tìm hiểu sự tác động cả các nhân tố đó một cách rõ ràng. Thực trạng hoạt động CVTD tại SHB phòng giao dịch Trần Đăng Ninh sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hoạt động này.
16
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NHTM CỔ PHẦN SÀI GÒN HÀ NỘI– PHÒNG GIAO DỊCH TRẦN ĐĂNG NINH
2.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội–
phòng giao dịch Trần Đăng Ninh
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCPSài Gòn Hà Nội
Tên đầy đủ: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội Tên giao dịch quốc tế: SAIGON HA NOI COMERCIAL JOIN STOCK BANK
Tên gọi tắt: SHB
Vốn điều lệ: 8.866 tỷ (quý 4/2013)
Tổng tài sản: 143.743 tỷ với 240 chi nhánh và điểm giao dịch trong nước, 2
chi nhánh tại Lào và Campuchia ( quý 4/2013)
Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB ) tiền thân là Ngân hàng TMCP Nông Thôn Nhơn Ái được thành lập theo giấy phép số 0041/NH /GP ngày 13/11/1993 do Thống đốc NHNN Việt Nam cấp và chính thức đi vào hoạt động vào 12/12/1993.
Năm 2006 vốn điều lệ của SHB là 301.929.000.000 đồng, mạng lưới hoạt
động kinh doanh rộng khắp trong địa bàn TP. Cần Thơ và một phần tỉnh Hậu Giang.
Ngày 20/01/2006, Thống Đốc NHNN Việt Nam đã ký Quyết định số 93/QĐ- NHNN về việc chấp thuận cho SHB chuyển đổi mô hình hoạt động từ Ngân hàng TMCP Nông thôn sang Ngân hàng TMCP, từ đó tạo được thuận lợi cho ngân hàng có điều kiện nâng cao năng lực về tài chính, mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh, đủ sức cạnh tranh và phát triển, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của SHB và đây là Ngân hàng TMCP đô thị đầu tiên có trụ sở chính tại Thành Phố Cần Thơ trung tâm tài chính-tiền tệ của khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) được thành lập ngày 11/9/2006, với các lĩnh vực kinh doanh: Tiền tệ, ngoại tệ, ngoại hối, vàng và thanh toán quốc tế. Sau khi sáp nhập với ngân hàng Habubank, số vốn điều lệ hiện nay của SHB lên đến gần 9.000 tỷ VND và tổng tài sản trên 143.743 tỷ VND.
Sau 19 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, SHB luôn nỗ lực không ngừng để mang đến cho khách hàng các dịch vụ ngân hàng với chất lượng tốt nhất và phong cách phục vụ chuyên nghiệp nhất.Với quyết tâm trở thành một ngân hàng bán lẻ hiện đại, đa năng hàng đầu Việt Nam và là một Tập đoàn tài chính năm 2015. 2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng
Ninh Trong nỗ lực mở rộng phạm vi cạnh tranh, mở rộng phạm vi thị trường, thị phần, SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh đã thành lập nhiều đơn vị giao dịch trong nội 17
bộ nhằm đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng. Theo quyết định số 54/2012/QĐ- HĐQT vào ngày 8/10/2012, NHTMCP SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh dưới sự chỉ đạo của hội sở chính đã được thành lập.Tại thời điểm thành lập, SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh được SHB bàn giao 230 tỷ vốn huy động và hơn 389 tỷ đồng dư nợ cho vay.SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh hiện có 70 nhân viên có kinh nghiệm, các phòng ban được trang bị đầy đủ thiết bị công nghệ tin học, viễn thông, thiết bị an ninh an toàn trong tác nghiệp theo đúng chuẩn mực quy định của NHTM và hội sở chính. 2.1.3. Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ các phòng ban thuộc Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Hà Nội – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh.
2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội– Phòng giao dịch Trần
Đăng Ninh
Sơ đồ 2.1Tổ chức bộ máy hoạt động của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh
(Nguồn: Phòng Tổng hợp SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh) 2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban của Ngân hàng TMCPSài Gòn Hà Nội –
phòng giao dịch Trần Đăng Ninh.
Phòng hành chính nhân sự: Tuyển nhân viên,theo dõi toàn bộ cán bộ công nhân viên bằng chương trình quản trị nhân sự, theo dõi chấm công lên bảng lương,soạn thảo các thông báo qui định, xây dựng công tác của ban giám đốc trong tuần, xây dựng phương án và thực hiện nghiêm ngặt công tác bảo vệ an toàn cơ quan và khách hàng đến giao dịch,… và một số nghiệp vụ liên quan chức năng.
18
Phòng tín dụng và thanh toán quốc tế: Thẩm định, xét duyệt, kiểm tra cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp, công thương nghiệp và tiêu dung thu hồi vốn lãi cho vay kể cả xử lý những khoản nợ khó đòi, phối hợp các phòng ban chức năng để phục vụ tốt nhu cầu khách hàng, hướng dẫn khách hàng làm đơn vay vốn, một số nghiệp vụ liên quan khác.
Phòng giao dịch ngân quỹ: Kiểm tra thực thu thực chi theo chứng từ kế toán, cân đối thanh khoản, điều chỉnh vốn, kinh doanh vàng bạc đá quý và thu hồi ngoại tệ, chịu trách nhiệm bảo quản tiền, vàng, ấn chỉ quan trọng và toàn bộ hồ sơ thế chấp, cầm cố của khách hàng vay, đào tạo, huấn luyện các giao dịch viên trong nghiệp vụ ngân quỹ và phục vụ khách hàng, một số nghiệp vụ có liên quan khác.
Phòng kế toán: Kiểm tra, lập phiếu thu, chi đối với hổ sơ cho vay phục vụ sản xuất, nông công thương nghiệp, tiêu dùng, thực hiện thanh toán liên ngân hàng, lập báo cáo kết quả kinh doanh hàng năm, một số nghiệp vụ liên quan khác.
Phòng công nghệ thông tin: Quản lý mạng vi tính, chương trình phần mền ứng dụng của chi nhánh, quản lý các giao dịch và các dịch vụ liên quan đến tài khoản của khách hàng, tạo ra các phần mền tiện ích qua mạng và qua SMS, một số nghiệp vụ liên quan khác. 2.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội–
phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011 -2013
2.1.4.1. Hoạt động huy động vốn
Nguồn vốn là điều kiện đầu tiên quyết định cho hoạt động Ngân hàng.Một nguồn vốn mạnh, ổn định là cơ sở để Ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh quyết định vốn quy mô hoạt động tín dụng, quyết định đến năng lực cạnh tranh.Sự cạnh tranh giữa các NH trong việc huy động vốn là thực tế diễn ra trong những năm gần đây và có xu hướng ngày càng mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, nguồn vốn của phòng giao dịch vẫn liên tục tăng trưởng, là kết quả tổng hợp của việc nâng cao ứng dụng công nghệ, phát triển sản phẩm và phong cách giao dịch văn minh của cán bộ mỗi Ngân hàng .
Xét về quy mô: Nhìn vào bảng 2.1, ta thấy tổng nguồn vốn huy động của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh năm 2011 là 531.628 triệu đồng. Năm 2012, nguồn vốn huy động đạt 724.803 triệu đồng, tăng 36,33% ứng với 193.175triệu đồng so với năm 2011. Đây là mức tăng trưởng trung bình so với toàn ngành vì năm 2012 là năm khó khăn trong công tác huy động vốn của các NHTM. Với việc dỡ bỏ trần lãi suất 14% của NHNN, ngân hàng đã thu hút được nhiều nguồn vốn cùng với uy tín và kinh nghiệm SHB- phòng giao dịch Trần Đăng Ninh đã đưa ra các biện pháp nhằm ổn định cũng như phát triển nguồn vốn như: Linh hoạt điều chỉnh lãi suất và kỳ hạn phù hợp với thị trường, tăng cường tiếp thị, khuyến mãi, cung cấp các gói sản phẩm đa dạng, hấp dẫn, khai thác 19
nhiều kênh huy động và mở thêm một số phòng giao dịch ở địa bàn Quận, thu hút nhiều đối tượng khách hàng nhất là khách hàng cá nhân. Chính vì vậy, trong năm 2012, tuy là một năm nền kinh tế gặp nhiều khó khăn lạm phát tăng cao nhưng nguồn vốn huy động của SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh vẫn tăng ổn định.Bước sang năm 2013, nguồn vốn huy động tại Phòng giao dịch đạt 1.034.365 triệu đồng, tăng 42,71% so với năm 2012. Mức tăng cao hơn năm 2012(36,33%) là do có sự ổn định về cơ cấu ngân hàng sau 1 năm sáp nhập Habubank, có những chiến lược marketing đúng đắn thu hút số lượng lớn khách hàng cá nhân, ngoài ra do chính sách tín dụng định hướng trong năm 2013 là tăng trưởng nhanh đã thúc đẩy ngân hàng huy động được một số lượng lớn tiền từ khách hàng.
Xét về cơ cấu:
Theo loại tiền: Theo bảng 2.1 có thể thấy nguồn vốn nội tệ luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn (79,43% năm 2011; 72,75% năm 2012; 70,39% năm 2013) và tăng trưởng cao trong 3 năm từ năm 2011 đến năm 2013. Năm 2012 nguồn vốn từ VND là 527.234 triệu đồng, tăng trưởng 24,86% ứng với 105.001 triệu đồng so với năm 2011, sang năm 2013 là 728.167 tỷ đồng tăng 38,11% tương ứng 200.933 triệu đồng so với năm 2012. Nguồn vốn nội tệ chiếm tỷ trọng cao và tăng qua 3 năm là do khách hàng của Phòng giao dịch đều là các khách hàng trong nước, nên mọi giao dịch hầu hết bằng đồng VND.
Nguồn vốn huy động từ đồng ngoại tệ cũng liên tục tăng qua các năm. Năm 2011, tiền gửi huy động bằng ngoại tệ là 109.395 triệu đồng, năm 2012 con số này tăng 88.174 triệu tương ứng 80,60 % so với năm 2011. Đây là một mức tăng rất cao do ngân hàng đã có những chính sách thu hút vốn từ các doanh nghiệp nước ngoài kiều bào và một số bộ phận dân cư tích trữ ngoại tệ. Năm 2013 phòng giao dịch đã huy động được 306.198 triệu đồng, chiếm 29,60% tổng nguồn vốn huy động và tăng 54,98 % so với năm 2012. Đó là vì gửi ngoại tệ cũng là hình thức sinh lời, đồng USD tăng giá tạo tâm lý muốn găm giữ đồng USD và có xu hướng gửi vào ngân hàng. Ngoài ra lượng kiều hối đổ về cuối năm tăng mạnh năm 2012 nên đã kéo theo mức tăng trưởng huy động USD lên cao. Tỷ lệ này tăng đã cho thấy phòng giao dịch có khả năng đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của khách hàng trong thời kỳ hội nhập. Tuy nhiên sự chuyển dịch tỉ trọng huy động giữa VND và ngoại tệ là không nhiều, ngân hàng cần tiếp tục phát triển một cơ cấu vốn ổn định trong thời gian sắp tới để có thể tiếp cận nguồn vốn ngoại tệ đặc biệt là ngoại tệ từ kiều hối chuyển về dân cư để đáp ứng nhu cầu kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất- nhập khẩu và cho vay của phòng giao dịch tăng trong tương lai. Mặc dù tỷ trọng của ngoại tệ ngày càng tăng nhưng chênh lệch giữa các năm có xu hướng giảm. Nguyên nhân là do chính sách maketing để huy động tiền gửi nội tệ của ngân hàng khá hiệu quả đối với khách hàng cá nhân, khách hàng có xu hướng
20
chuyển sang tiền gửi có kỳ hạn. Bên cạnh đó lãi suất gửi nội tệ cao hơn lãi suất USD nên tâm lý khách hàng vẫn gửi nhiều nội tệ hơn.
Theo kỳ hạn: Qua bảng 2.1 ta thấy nguồn tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng lớn nhưng có nhiều sự biến động kể từ năm 2011 đến 2013. Năm 2011 số tiền gửi không kỳ hạn là 406.513 triệu đồng tương ứng với tỷ trọng 76,46%, năm 2012 con số này chỉ là 306.476 triệu đồng tương ứng với 42,28 % giảm 100.037 triệu đồng tức 24,6% so với năm 2011. Sang đến năm 2013, tiền gửi không kỳ hạn đạt 425.722 triệu đồng, tăng 41,15% so với năm 2012 và đạt tỷ trọng 38,90%, cao hơn so với năm 2012. Mặc dù lượng tiền gửi không kỳ hạn có xu hướng giảm trong hai năm 2012 và 2013 nhưng vẫn chiếm một tỷ trọng nhất định là do phòng giao dịch đã tích cực trong việc tìm kiếm các khách hàng mới, đặc biệt là các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích giao dịch thanh toán chi trả các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra việc tiếp cận các doanh nghiệp liên kết với các ngân hàng trả lương nhân viên qua tài khoản ATM, tiếp thị nhiều khách hàng cá nhân mở thẻ thanh toán với chi phí ưu đãi và dịch vụ nhanh chóng cũng là một nguyên nhân tăng nhanh về lượng tiền gửi không kỳ hạn. Bên cạnh đó thị trường chứng khoán phát triển kéo theo sự gia tăng số lượng tài khoản mà nhà đầu tư mở tại các công ty chứng khoán khiến cho lượng tiền gửi thanh toán tại phòng giao dịch tăng cao.
Nguồn vốn không kỳ hạn xét về mặt tài chính có nhiều lợi thế do lãi suất huy động thấp tuy nhiên tính ổn định của nguồn này không cao, tăng giảm thất thường phụ thuộc vào sử dụng vốn của người gửi.
Chính vì vậy, SHB – phòng giao dịch Trần Đăng Ninh đã dần có sự chuyển dịch từ tiền gửi không kỳ hạn sang nguồn có kỳ hạn. Năm 2011 tiền gửi có kỳ hạn là 125.115 triệu đồng chiếm tỷ trọng 23,54%, sang đến năm 2012 con số này đã tăng lên 418.327 triệu đồng với tỷ trọng 57,72 %, tăng trưởng lên tới 234,353 %. Do năm 2012 là sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng SHB đã có những chính sách thu hút đúng đắn với lãi suất tiền gửi có kỳ hạn cao thêm vào đó năm 2011 là thị trường sốt vàng, sốt đất khiến cho khách hàng không có xu hướng gửi tiền có kỳ hạn tránh việc sử dụng không hiệu quả tiền của họ. Sang năm 2012 thị trường bất động sản và thị trường vàng lặng sóng, đây là cơ hội để NHTM đẩy lãi suất huy động có thời điểm lên tới 18% (vượt trần theo quy định của NHNN là 14%) nhằm dành giật thị phần tiền gửi. Năm 2013, tiền gửi có kỳ hạn tiếp tục tăng 190.316 triệu đồng, tăng 45,59% so với năm 2012 và đạt 608.643 triệu đồng. Để có được điều này là do ngân hàng đã xây dựng được uy tín ngày càng tốt đối với khách hàng.
Theo đối tƣợng: Nguồn vốn huy động của Chi nhánh chủ yếu từ tiền gửi cá nhân chiếm tỷ trọng cao trong nguồn vốn chiếm trên 50%, nguyên nhân là do địa bàn hoạt động của phòng giao dịch nằm trong khu vực đông đúc dân cư, trung tâm của thủ 21
đô Hà Nội, thu nhập của người dân tương đối cao. Năm 2012 vốn huy động từ dân cư đạt 413.678 triệu đồng, chiếm 57,07% và tăng 31,74% so với năm 2011. Năm 2013 tỷ trọng huy động vốn vẫn ở mức cao 66,63% trên số vốn huy động từ dân cư là 689.282 triệu đồng. Do tình hình kinh tế khó khăn, người dân có xu hướng tiêu dùng ít hơn, tiết kiệm nhiều hơn khiến dòng tiền đổ vào ngân hàng tăng lên. Bên cạnh đó TG dân cư đang có xu hướng chuyển dịch từ NHTM nhà nước sang khối NHTM cổ phần, do mức lãi suất cao mà các NHTM cổ phần đưa ra. Trong khi các NHTM cổ phần đua nhau nâng lãi suất để huy động TG từ mọi đối tượng trong nền kinh tế thì các NHTM Nhà nước bị ràng buộc bởi quy định về lãi suất trần. Sự gia tăng này thể hiện sự tin tưởng của dân cư vào bản thân SHB, đồng thời cho thấy phòng giao dịch đã làm tốt các hoạt động quảng bá, nâng cao uy tín chất lượng.
Việc huy động vốn từ các TCKT chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với huy động từ dân cư. Tỷ trọng năm 2012 là 25,82% tăng so với năm 2011 (21,10 %) và sang năm 2013 tỷ trọng lại giảm chỉ còn 20,81 %. Tiền gửi từ các TCKT năm 2012 đạt 187.123 triệu đồng, tăng 74.966 triệu đồng tức tăng 66,84 %. Sở dĩ tiền gửi TCKT tăng là do năm 2012 có khá nhiều doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa thu được một lượng vốn thặng dư được gửi vào ngân hàng. Cùng với sự sáp nhập của SHB càng khẳng định vị thế cũng như uy tín của ngân hàng đối với khách hàng là doanh nghiệp.Tiền gửi của TCKT có sự tăng nhẹ về tỷ trọng, nhưng giảm về số lượng là do kinh tế khó khăn, tình hình làm ăn của các doanh nghiệp, TCKT không ổn định. Đối với tiền gửi các tổ chức khác chỉ ở mức thấp, tương ứng 19,83% năm 2011, 17,10% năm 2012 và chiếm 12,55% năm 2013 trong cơ cấu huy động của ngân hàng giảm dần qua các năm, nguồn này chủ yếu đến từ các tổ chức tín dụng khác và một số cơ quan Nhà nước như Kho Bạc, chi cục thuế…
Nhìn chung, mặc dù do ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế nhưng tình hình huy động vốn của phòng giao dịch qua các năm đều tăng trưởng ổn định. Điều này được thể hiện ở cả quy mô và cơ cấu của nguồn vốn huy động. Tuy nhiên, phòng giao dịch cần có thêm nhiều chiến lược marketing thu hút khách hàng mới gửi tiền, việc phát triển thêm nguồn khác là chưa cao, chưa hiệu quả, cần có những biện pháp tăng lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế.
22
Đơn vị tính: Triệu đồng
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013
Chênh lệch
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 2011- 2012 2012- 2013 Chỉ tiêu
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)
531.628
100,00
724.803
100,00
1.034.365
100,00
193.175
36,33
309.562
42,71
Tổng NV huy động
406.513
76,46
306.476
42,28
425.722
41,15
(100.037)
(24,60)
119.246
38,90
I. TG theo kỳ hạn
125.115
23,54
418.327
57,72
608.643
58,85
293.212 234,353
190.316
45,49
1. Không kỳ hạn
2. Có kỳ hạn
531.628
100,00
724.803
100,00
1.034.365
100,00
193.175
36,33
309.562
42,71
112.157
21,10
187.123
25,82
215.238
74.966
66,84
213.115
68,84
20,81
II. TG theo thành phần KT
314.012
59,06
413.678
57,07
689.282
99.675
31,74
95.604
30,88
66,63
1. TG của tổ chức kinh tế
105.459
19,83
124.002
17,10
129.845
18.543
17,58
5.843
4,71
12,55
2. TG của cá nhân
3. Nguồn khác
531.628
100,00
724.803
100,00
1.034.365
100,00
193.175
36,33
309.562
42,71
422.233
79,43
527.234
72,75
728.167
105.001
24,86
200.933
38,11
70,39
III. Theo loại tiền gửi
109.395
20,57
197.569
27,25
306.198
88.174
80,60
108.629
54,98
29,60
1. VND
2. Ngoại tệ (quy đổi)
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của SHB- phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013)
23
2.1.4.2. Hoạt động sử dụng vốn
Qua bảng số liệu 2.2, có thể thấy dư nợ cho vay của SHB –phòng giao dịch Trần Đăng Ninh tăng mạnh qua các năm. Năm 2012, dư nợ cho vay tăng 153.964 triệu đồng, tương đương 35,37% so với năm 2011. Năm 2013, con số này tiếp tục tăng thêm 308.579 triệu đồng (tương đương 52,37%) so với năm 2012, đạt dư nợ cho vay 897.803 triệu đồng.Tăng trưởng dư nợ cho thấy phòng giao dịch đã chú trọng và mở rộng hoạt động CVTD nhằm tăng thị phần, tính cạnh tranh trên thị trường ngân hàng. Sự gia tăng liên tục về dư nợ cho vay này tỉ lệ thuận với sự gia tăng về nguồn vốn huy động. Năm 2013, nguồn vốn huy động tăng mạnh nên dư nợ cho vay toàn phòng giao dịch cũng tăng mạnh tới 52,37%. Nếu so sánh mức tăng về tổng dư nợ cho vay với mức tăng về tổng nguồn vốn huy động tại bảng 2.1 có thể thấy hai chỉ tiêu này tăng với tỉ lệ tương ứng. Tốc độ tăng dư nợ khá cao là do phòng giao dịch đã tăng cường tìm kiếm khách hàng, mở rộng cho vay. Tuy nhiên phòng giao dịch vẫn cần chú trọng quản lý chặt chẽ dư nợ để rủi ro cho vay ở mức cho phép.
Cơ cấu dƣ nợ theo kỳ hạn: Nếu phân loại dư nợ theo kì hạn thì dư nợ cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng dư nợ cho vay của phòng giao dịch, bởi có ưu điểm giúp cho phòng giao dịch đẩy nhanh vòng quay tín dụng, hạn chế bớt rủi ro . Năm 2011, dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm 56,88 %; năm 2012 tỷ lệ này là 62,35 % và dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm 56,95% năm 2013. Không chỉ chiếm một tỉ trọng cao nhất mà dư nợ ngắn hạn còn tăng qua các năm. Dư nợ cho vay tăng đều qua các năm thể hiện tiền gửi ngắn hạn có sự tăng mạnh là do nguyên nhân chính từ tiền gửi dân cư tăng mạnh và họ lựa chọn kỳ hạn ngắn để đảm bảo an toàn và linh hoạt hơn khi mức lãi suất giữa kỳ hạn ngắn so với trung và dài hạn là gần như nhau. Năm 2012 dư nợ tăng cao hơn hai năm sau và trước đó chiếm 62,35% tương ứng 367.405 triệu đồng nguyên nhân là do phòng giao dịch đã nới lỏng các điều kiện vay để đáp ứng nhu cầu về vốn của khách hàng về vốn lưu động tài trợ cho các dự án, mua sắm nguyên vật liệu cũng như nhu cầu chi tiêu, mua sắm cá nhân, hộ gia đình. Hơn nữa, do NHNN thay đổi trần lãi suất huy động khá thường xuyên nên khách hàng vay vốn trung và dài hạn chuyển sang ngắn hạn để hạn chế rủi ro trả nợ do lãi suất biến động. Tuy nhiên, trong thời gian trở lại đây, khi tình hình kinh tế đã có phần khởi sắc hơn, phòng giao dịch lại có những biện pháp nhằm nới lỏng CVTD, tạo điều kiện hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới, dự án nhà ở, văn phòng… ngày càng được phát triển, kéo theo đó là lượng vốn đầu tư theo chiều sâu. Chính vì vậy, dư nợ tín dụng trung và dài hạn có thể có xu hướng tăng lên một cách đáng kể. Cụ thể là dư nợ dài hạn năm 2012 tăng 34.170triệu đồng, tương ứng tăng 18,2% so với năm 2011. Đến năm 2013, dư nợ dài hạn là 386.483 triệu đồng, tăng tới 74,23 %. Việc ngân hàng triển khai nhiều giải pháp thu hút khách và hướng
24
đến đối tượng khách hàng cá nhân cho thấy ngân hàng đang tìm cách để khơi thông dòng vốn, chia sẻ khó khăn cùng khách hàng. Đặc biệt, việc ngân hàng áp dụng lãi suất 0% trong các tháng đầu tiên sẽ giúp khách hàng giảm số tiền trả nợ ban đầu. Với chương trình ưu đãi này, ngân hàng đã trở thành chỗ dựa cho người dân và DN trong các kế hoạch tài chính quan trọng, tạo được uy tín cũng như sự tin tưởng của khách hàng.
Cơ cấu dƣ nợ theo thành phần kinh tế: Từ bảng số liệu 2.2 ta thấy dư nợ cho vay của phòng giao dịch tập trung giải ngân cho các TCKT, nhưng người có nhu cầu về vốn nhiều hơn. Cuộc sống ngày càng phát triển thì nhu cầu về vốn để sản xuất kinh doanh và đáp ứng các nhu cầu về tiêu dùng, học tập ngày càng cao. Vì vậy các con số đã chỉ ra dư nợ cho vay đối với các tổ chức kinh tế luôn chiếm giữ một mức cao hơn hẳn so với dư nợ cho vay cá nhân. Năm 2011, dư nợ cho vay TCKT chiếm tỉ trọng 71,74%; năm 2012 con số này duy trì ở mức 72,10% năm 2013 giảm nhẹ còn 70,05 %. Nguyên nhân là do ảnh hưởng chung của môi trường kinh tế thế giới năm cũng như nhiều biến động về các thị trường tài chính, thị trường bất động sản dẫn đến hoạt động của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế kém hiệu quả, nhu cầu về vốn không còn được cao như trước tuy nhiên với nỗ lực thu hút khách hàng bằng lãi suất, chính sách ưu đãi phòng giao dịch vẫn đạt được những thành công đáng kể. Cụ thể, cho vay TCKT năm 2012 là 424.851 triệu đồng, tương ứng tăng 36,06 % so với năm 2011, năm 2013 cho vay TCKT là 646.939 triệu đồng, tăng 52,27 % so với năm 2012. Đây đã là thành quả đáng khích lệ của phòng giao dịch trong công tác thu hút các đối tượng vay cũng như tạo uy tín tốt với những đối tượng này.
Cho vay đối với cá nhân lại có xu hướng giảm về tỷ trọng qua các năm (năm 2011 là 28,26% đến năm 2013 là 27,94%). Năm 2011, giá cả thị trường nhà đất tăng liên tục, nhiều người muốn tham gia đầu tư, buôn bán nhằm hưởng chênh lệch giá, do đó nhu cầu vay vốn ngân hàng của các cá nhân tăng cao. Năm 2012, dư nợ cho vay cá nhân tăng 41.361 triệu đồng, tương ứng 33,62 % so với năm 2011. Sang năm 2013, tổng dư nợ cho vay cá nhân đã tăng 86.491 triệu đồng, tương đương 52,61% so với năm 2012. Nguyên nhân là do trong thời gian này, ngân hàng ngày càng nâng cao được uy tín của mình vị thế ngày càng lớn mạnh khi sáp nhập Sacombank với Habubank được nhiều cá nhân biết đến và tin tưởng, làm phát sinh nhiều hơn các quan hệ tín dụng với ngân hàng.Việc nâng cao dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân là một hướng đi đúng đắn và an toàn tại thời điểm hiện tại.
25
Bảng 2.2 Tình hình sử dụng vốn của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh trong giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
2011-2012 2012-2013 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%) Tỷ trọng (%) (%)
435.260 100 589.224 100 897.803 100 153.964 35,37 308.579 52,37 Dƣ nợ cho vay
187.649 43,11 221.819 37,64 386.483 43,04 34.170 18,20 164.664 74,23 - Dƣ nợ trung – dài hạn
247.611 56,88 367.405 62,35 511.320 56,95 119.794 48,37 143.915 39,17 - Dƣ nợ ngắn hạn
Dƣ nợ cho vay phân theo thành phần kinh tế
312.248 71,74 424.851 72,10 646.939 72,05 112.603 36,06 222.088 52,27 - TCKT
123,012 28,26 164.373 27,89 250.864 27,94 41.361 33,62 86.491 52,61 - Dân cƣ
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của SHB- phòng giao dịch Trần Đăng Ninh năm 2011-2013)
26
2.1.4.3. Kết quả hoạt động kinh doanh
Cũng như mọi tổ chức kinh tế khác, hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn hướng tới mục tiêu đạt lợi nhuận cao. Để đạt được kết quả kinh doanh khả quan thì ngân hàng phải quan tâm tới thu nhập và chi phí, hai yếu tố cấu thành nên lợi nhuận. Việc quản lý chặt chẽ, giảm thiểu chi phí có ý nghĩa quyết định không kém việc tăng nguồn thu. Do đó, việc đảm bảo cân đối và hiệu quả giữa hai hoạt động là huy động vốn và sử dụng vốn là hết sức quan trọng. Tình hình thu nhập, chi phí của ngân hàng được phản ánh cụ thể như sau:
Bảng 2.3Kết quả hoạt động kinh doanh của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
2011-2012 2012-2013 Chỉ tiêu
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)
90.236 102.398 135.523 12.162 13,48 33.125 32,35 Doanh thu
43.135 50.287 71.150 7.152 16,58 20.863 41,49 Chi phí
47.101 52.111 64.373 5.010 10,64 12.262 23,53 Lợi nhuận trƣớc thuế
34.560.75 38.452,25 47.279,32 3.891,5 11,26 8.827,07 22,96 Lợi nhuận sau thuế
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013) Nhìn bảng trên ta thấy doanh thu của phòng giao dịch các năm đều có xu hướng tăng, năm 2011 doanh thu đạt 90.236 triệu đồng, doanh thu năm 2012 tăng thêm 12.162 triệu đồng tương ứng 13,48% so với năm 2011. Sự tăng lên này là do tăng trưởng tín dụng và ngoài ra, năm 2012 các khoản thu ngoài lãi như thu từ dịch vụ, thu từ kinh doanh ngoại hối và thu khác cũng tăng lên, khiến doanh thu cũng tăng theo. Đến năm 2013 con số này tăng lên 32,35% ứng với 33.125 triệu đồng. Mặc dù nền kinh tế suy thoái, lãi suất cho vay giảm dần, nhiều diễn biến khó lường trên thị trường tài chính, nhưng do phòng giao dịch nằm trong khu vực dân cư đông đúc và với việc mở rộng mạng lưới hoạt động của mình, tìm kiếm các khách hàng chất lượng tốt hơn, phát triển sản phẩm mới, nên ngân hàng vẫn đạt được những kết quả đáng kể.
Trong 3 năm 2011-2013, SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh luôn cố gắng giảm chi phí đến mức tối đa nhằm kéo lợi nhuận lên cao. Năm 2011, tổng chi phí của phòng giao dịch là 43.135 triệu đồng. Năm 2011 tổng chi phí củaphòng giao dịch ở mức thấp là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nên các hoạt động bị thu hẹp.
27
Năm 2012, tổng chi phí đã tăng 7.152 triệu đồng, tương ứng 16,58 %. Sang năm 2013 tổng chi phí tăng mạnh 41,49 % so với năm 2012. Chi phí tăng là do phòng giao dịch tăng cường hoạt động cho vay nên phải chi trả nhiều hơn cho lĩnh vực này. Ngoài ra, ngân hàng còn tăng cường các khoản chi phí khác nhằm mục đích thu hút khách hàng như các chương trình khuyến mại, tặng quà cho khách hàng thân thiết. Bên cạnh đó, Ngân hàng còn tăng cường, mở rộng các hoạt động về dịch vụ như: dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, dịch vụ thẻ ATM nên chi phí không ngừng tăng lên. Năm 2012, lợi nhuận sau thuế đã tăng 3.891,5 triệu đồng, tương ứng 11,26 % so với năm 2011, năm 2013 tăng 22,96 % so với năm 2012. Tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế năm 2013 cao hơn mức tăng năm 2012 và tốc độ tăng của tổng chi phí nhỏ hơn tốc độ tăng của tổng doanh thu cho thấy phòng giao dịch đã thực hiện tốt công tác quản lý chi phí vốn và lãi suất tiền gửi huy động. Việc lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước cho thấy sự nỗ lực của phòng giao dịch trong hoạt động kinh doanh có lãi của mình.
Nhìn chung hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch trong 3 năm qua đạt hiệu quả khá tốt. Đó là nhờ năng lực quản lý của ban lãnh đạo cùng với sự nỗ lực, cố gắng và tinh thần đoàn kết của nhân viên trong Ngân hàng. Tìm ra được một giải pháp hiệu quả nhất, an toàn nhất cho hoạt động kinh doanh của mình và phục vụ tốt hơn đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vay vốn ngày càng tăng của khách hàng. Bên cạnh đó phòng giao dịch cũng chú trọng quản trị chi phí, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường, mở rộng đối tượng khách hàng, thực hiện những chương trình quảng cáo tiếp thị nhằm duy trì và thu hút khách hàng. Phòng giao dịch đã không ngừng củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ như thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, dịch vụ ngân quỹ, chi trả lương cho các đơn vị, chuyển tiền du học,… làm cho thu nhập từ các hoạt động tín dụng đều tăng lên. 2.2. Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại SHB- phòng giao dịch Trần
Đăng Ninh trong giai đoạn 2011-2013
2.2.1. Những quy định chung về nghiệp vụ CVTD tại SHB – phòng giao dịch Trần
Đăng Ninh
2.2.1.1. Đối tượng và điều kiện cho vay
Đối tượng cho vay của phòng giao dịch là người Việt Nam cư trú hoặc có việc làm ổn định, là công chức hoặc người lao động làm việc trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần hóa nhưng nhà nước nắm cổ phần chi phối, doanh nghiệp không phải của nhà nước thì phải có từ 10 lao động trở lên và chủ doanh nghiệp phải ký hợp đồng bảo lãnh để người lao động đó vay tại SHB Về điều kiện cho vay: Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành,có thu nhập ổn định đủ khả năng trả nợ ngân
28
hàng trong thời gian vay vốn,có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp,thực hiện các quy định đảm bảo tiền vay theo qui định của SHB 2.2.1.2. Mức CVTD
Số vốn vay mà PGD cho khách hàng vay được xác định căn cứ trên các yếu tố: Nhu cầu vay vốn của khách hàng căn cứ vào khả năng trả nợ, uy tín của khách hàng và của bên bảo lãnh,căn cứ vào quy định hiện hành của SHB về TSĐB, về mức cho vay tối đa trên tổng giá trị TSĐB ( do SHB quy định) 2.2.1.3. Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay của SHB- phòng giao dịchTrần Đăng Ninh được quy định phù hợp với quy định của SHB, quy định của NHNN, lãi suất thị trường, thể loại vay. Lãi suất cho vay đựợc thoả thuận và ghi vào Hợp đồng tín dụng gồm: lãi suất trong hạn và lãi suất áp dụng đối với nợ quá hạn. Hiện nay, lãi suất CVTD là lãi suất thoả thuận của SHB với khách hàng. Lãi suất áp dụng đối với nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. 2.2.1.4. Qui trình CVTD tại phòng giao dịch
Quy trình CVTD cũng tuân thủ theo quy trình cho vay chung của Ngân hàng
TCMP Sài Gòn Hà Nội
Sơ đồ 2.2Qui trình CVTD tại SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh
Tiếp xúc hƣớng Thẩm định hồ Tiếp nhận
dẫn sơ vay hồ sơ Lập tờ trình thẩm định Xét duyệt hồ sơ vay
Lƣu trữ hồ sơ Theo dõi nợ Thanh lý hợp Đăng ký giao dịch
cho vay vay đồng bảo đảm Ký hợp đồng và giải ngân
(Nguồn: Phòng khách hàng cá nhân SHB- PGD Trần Đăng Ninh)
29
Bƣớc 1:Tiếp xúc hướng dẫn Nhân viên tư vấn tài chính cá nhân (PFC) triển khai tiếp xúc khách hàng để tìm hiểu và nắm bắt thông tin về nhu cầu vay vốn của khách hàng, tư vấn về thời hạn khoản vay, số tiền vay, phương thức trả lãi và gốc hàng kỳ, TSĐB,… và hướng dẫn khách hàng chuẩn bị các giấy tờ pháp lý và thủ tục cần thiết để hoàn thành hồ sơ vay vốn.
Bƣớc 2: Tiếp nhận hồ sơ PFC nhận hồ sơ của khách hàng để kiểm tra xem có đầy đủ và chính xác hay không, nếu thiếu thì liên hệ với khách hàng để được nhân viên tín dụng hỗ trợ hướng dẫn bổ sung. Sau đó, PFC chuyển hồ sơ TSĐB cho nhân viên thẩm định giá tài sản (AA) thẩm định TSĐB.
Bƣớc 3:Thẩm định hồ sơ vay Nhân viên phân tích tín dụng (CA) tiến hành thẩm định hồ sơ của khách hàng. Nếu hồ sơ đủ tiêu chuẩn tín dụng thì chuyển sang bước tiếp theo, nếu không chấp nhận tín dụng thì tiến hành lưu trữ thông tin và trả hồ sơ lại cho khách hàng.
Bƣớc 4:Lập tờ trình thẩm định tín dụng CA tiến hành lập tờ trình thẩm định tín dụng sau đó chuyển sang cho trưởng bộ phận
và trưởng đơn vị kiểm tra hồ sơ trước khi trình chuyên viên hoặc ban tín dụng phê duyệt.
Bƣớc 5:Xét duyệt hồ sơ vay Dựa trên kết quả thẩm định và tờ trình đã được lập, CA trình hồ sơ cho chuyên viên tín dụng tại trung tâm phê duyệt tín dụng cá nhân (trường hợp các tiêu chí xét cấp tín dụng thuộc nhóm bình thường) hoặc ban tín dụng các cấp theo mức phê duyệt quy định (trường hợp các tiêu chí xét cấp tín dụng có tiêu chí rơi vào nhóm hạn chế). Khi có kết quả phê duyệt, nếu ngân hàng chấp nhận hoặc từ chối cấp tín dụng đều phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản.
Bƣớc 6:Công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm Nhân viên pháp lý chứng từ (LOD) cùng với khách hàng tiến hành công chứng,
đăng ký giao dịch đảm bảo để hoàn tất hồ sơ về TSĐB.
Bƣớc 7: Ký hợp đồng tín dụng và giải ngân Nhân viên pháp lý chứng từ lập hợp đồng tín dụng. Khách hàng tiến hành ký hợp đồng tín dụng với trưởng đơn vị. Dịch vụ tín dụng tiến hành tạo tài khoản tiền vay cho khách hàng và lập phiếu yêu cầu giải ngân.
Bƣớc 8:Theo dõi nợ vay Trong thời gian vay, CA (nhân viên phân tích tín dụng) định kỳ hoặc bất thường tiến hành kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn đúng mục đích hay không. Thông thường CA sử dụng các biện pháp sau:Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng; Viếng thăm và kiểm tra địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc
30
nơi cư ngụ của khách hàng đứng tên vay vốn; Yêu cầu khách hàng xuất trình hóa đơn chứng từ liên quan đến việc sử dụng vốn.
Trường hợp khách hàng không trả nợ (gốc, lãi) đúng kỳ hạn đã thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng và có văn bản đề nghị thì CBQHKH xem xét, đề xuất điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ. Cấp nào duyệt vay thì cấp đó có quyền phê duyệt, điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ.
Khi khoản vay được phân loại là nợ xấu thì được bàn giao sang bộ phận quản lý nợ xấu tại phòng giao dịch và thực hiện theo các hướng dẫn về quản lý nợ xấu có liên quan.
Bƣớc 9:Thanh lý hợp đồng tín dụng Khi hợp đồng tới hạn, khách hàng hoàn tất nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng, ngân hàng tiến hành thanh lý khoản tín dụng. Nhân viên pháp lý chứng từ thực hiện việc giải chấp TSĐB cho khách hàng.Nếu hợp đồng đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ (vi phạm hợp đồng) hoặc chỉ trả một phần nợ gốc và lãi thì ngân hàng sẽ chuyển nợ quá hạn, đồng thời tiến hành quản lý theo dõi nợ quá hạn.Trường hợp khách hàng có nhu cầu trả nợ trước hạn thì cũng tiến hành thanh lý hợp đồng theo quy định hiện hành.
Bƣớc 10: Lưu trữ hồ sơ tín dụng Khi khách hàng trả hết nợ CBQHKH phối hợp với CBQTTD và CBDVKH đối chiếu, kiểm tra về số tiền trả nợ gốc, lãi, phí... để tất toán khoản vay. CBQTTD thực hiện lưu trữ quản lý hồ sơ theo quy định của SHB.
2.2.2. Các hình thức CVTD của SHB
CVTD hiện nay là một loại món vay rất phổ biến đối với khách hàng là cá nhân và hộ gia đình để tài trợ cho chính sự tiêu dùng của họ.Các khoản vay này giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Hiện nay, sản phẩm CVTD ở SHB có 5 loại:
Cho vay cán bộ công nhân viên Điều kiện: CBCNV có thời gian công tác tối thiểu 12 tháng tại cơ quan hiện tại (đối với khách hàng có mức lương 6 triệu đồng trở xuống có thêm điều kiện lương phải được trảqua tài khoản SHB) có thể lựa chọn sử dụng một hoặc nhiều sản phẩm cho vay:
Sản phẩm “Cho vay tiêu dùng” với số tiền vay vay tối thiểu 20 triệu đồng, hạn mức vay tối đa 12 tháng lương và không quá 200 triệu đồng, thời hạn vay không quá 36 tháng và không quá thời hạn còn lại trên hợp đồng lao động.
Sản phẩm “Cho vay theo hạn mức thấu chi” số tiền vay tối thiểu 5 triệu đồng, hạn mức tối đa 3 tháng lương và không quá 20 triệu đồng, thời hạn thấu chi không quá 12 tháng
31
Sản phẩm “Phát hành thẻ tín dụng” hạn mức tối đa tùy thuộc mức lương của
khách hàng và không vượt quá 200 triệu đồng
Cho vay cán bộ quản lý điều hành: Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản cho cán bộ quản lý điều hành (có thời gian công tác tại vị trí quản lý điều hành tối thiểu 6 tháng). Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc theo chế độ biên chế nhà nước hoặc hợp đồng lao động (CBCNV), có vị trí quản lý điều hành từ cấp phòng hoặc tương đương trở lên có nhu cầu vay vốn tiêu dùng. Khách hàng có thể lựa chọn sử dụng một hoặc nhiều sản phẩm cho vay:
Sản phẩm “Cho vay tiêu dùng” với số tiền vay vay tối thiểu 30 triệu đồng, hạn mức vay tối đa 18 tháng lương và không quá 200 triệu đồng, thời hạn vay không quá 36 tháng và không quá thời hạn còn lại trên hợp đồng lao động.
Sản phẩm “Cho vay theo hạn mức thấu chi” với số tiền vay tối thiểu10 triệu đồng, hạn mức tối đa 3 tháng lương và không quá 30 triệu đồng, thời hạn thấu chi không quá 12 tháng
Sản phẩm “Phát hành thẻ tín dụng” hạn mức tối đa tùy thuộc mức lương của
khách hàng và không vượt quá 200 triệu đồng
Cho vay mua nhà dự án: Điều kiện vay vốn là các cá nhân trong độ tuổi từ 25-30, có thu nhập thường xuyên hàng tháng từ 08 triệu đồng trở lên. Khách hàng sử dụng sản phẩm này để mua nhà của các dự án bất động sản có chủ đầu tư ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với SHB. Hạn mức cho vay 70% giá trị ngôi nhà nếu được bảo đảm bằng chính ngôi nhà định mua; và lên đến 100% giá trị ngôi nhà nếu được bảo đảm bằng tài sản khác. Trả góp với số tiền trả (tổng gốc và lãi) đều nhau cho tất cả các kỳ hoặc trả dần với số tiền trả gốc đều nhau hay tăng dần. Lãi suất vay tính theo dư nợ thực tế. khi có những khoản thu nhập bất thường khách hàng có thể trả gốc trước hạn.
Cho vay mua ô tô: Khách hàng sử dụng sản phẩm này để mua ô tô mới 100% hoặc ô tô đã qua sử dụng có thời gian sử dụng chưa quá 2 năm nhập khẩu và chưa từng được sử dụng ở Việt Nam (không bao gồm ô tô tải và 12 chỗ trở lên). Hạn mức 100% giá trị xe nếu được bảo đảm bằng giấy tờ có giá thanh khoản cao.
CVTD khác: Hạn mức cho vay xác định trên cơ sở nguồn trả nợ chứng minh được và không quá hạn mức TSĐB. Thời hạn vay và phương thức trả nợ tùy thuộc vào nguồn trả nợ của khách hàng.
32
2.2.3. Tình hình doanh số CVTD của SHB- phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013
Bảng 2.4Tình hình doanh số CVTD của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011– 2013
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Chênh lệch Chỉ tiêu 2011-2012 2012-2013
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ lệ (%) Tỷ trọng (%)
(47.671)
(11,49)
414.780
367.109
120.218
28,9
202.529
55,2
82.311
68,47
Doanh số CVTD 100 100 445.198 100 78.089 21,27
294.562
71,1
164.580
44,8
(129.982)
(44,13)
Ngắn hạn 250.063 56,17 47.534 23,47
Trung, dài hạn 195.135 43,83 30.555 18,56
(Nguồn :Báo cáo hoạt động kinh doanh SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013)
33
Nhận xét:
Bảng số liệu 2.4 thể hiện doanh số CVTD qua 3 năm từ 2011 đến năm 2013, cho thấy có nhiều biến động về tình hình doanh số CVTD trong 3 năm vừa qua. Doanh số CVTD năm 2012 giảm 47.9671triệu đồng so với năm 2011 cả ngắn hạn và trung dài hạn, do tình hình kinh tế khó khăn, lãi suất tín dụng năm 2012 tăng cao. Đến 2013, doanh số CVTD tăng 78.089 triệu đồng biến động so với năm 2012 cho thấy tình hình tín dụng tại phòng giao dịch nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung có sự chuyển biến tốt hơn rất nhiều. Về tỷ trọng Tổng doanh số CVTD năm 2012 giảm 11,49% so với năm 2011 trong khi năm 2013tăng hơn năm 2012 là 21,27%. Để hiểu rõ lý do biến động đó đi vào phân tích cụ thể doanh số CVTD ngắn hạn, trung dài hạn và những nguyên nhân dẫn đến tình hình trên.
Tín dụng trung dài hạn chiếm tỷ trọng cao hơn tín dụng ngắn hạn trong tổng doanh số CVTD trong năm 2011 và thấp hơn ở năm 2012, 2013. Cụ thể hơn, sự chênh lệch rõ ràng giữa tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung dài hạn là ở năm 2011 chênh lệch 174.344 triệu đồng đến năm 2012 tỷ trọng ngắn hạn lại cao hơn tín dụng trung dài hạn là 37.949 triệu đồng. Bởi trong năm 2011, phòng giao dịch chú trọng hơn vào loại hình tín dụng trung dài hạn. Thị trường trong nước luôn chứng kiến những cơn sốt vàng, sốt đất khiến nhu cầu tín dụng cá nhân tăng cao. Đến 2012, nền kinh tế trầm lắng hơn, nợ xấu ngân hàng tăng cao buộc phải điều chỉnh giảm doanh số CVTD. Tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn đảm bảo thu hồi vốn nhanh và ít rủi ro hơn tín dụng trung và dài hạn. Vì vậy, doanh số CVTD ngắn hạn của Ngân hàng tăng rất mạnh (gấp đôi) trong năm 2012. Năm 2013 tỷ trọng CVTD ngắn hạn chiếm 56,17% trên tổng doanh số CVTD tăng 18,56% so với năm 2012. Các khoản vay ngắn hạn thường là các khoản cho vay bổ sung vốn kinh doanh của các các hộ kinh doanh cá thể, ngân hàng có thể quay vòng vốn nhanh hơn, phù hợp với nguồn vốn mà ngân hàng huy động được.
Theo bảng số liệu trên, doanh số tín dụng ngắn hạn tăng mạnh qua các năm. Năm 2012 tăng 68,47% so với năm 2011 (tăng 82.311 triệu đồng), tín dụng ngắn hạn đạt 202.529 triệu đồng, tăng cao chiếm đến 55,2% trong tổng doanh số CVTD.Năm 2013 tín dụng ngắn hạn chiếm 56,17% trong tổng doanh số CVTD, năm 2011 con số này là 120.218 triệu đồng, đạt 28,98% trong tổng doanh số CVTD.
Năm 2011, lãi suất huy động lẫn lãi suất tín dụng tăng khá cao. Do sự khan hiếm tiền tệ trên thị trường, ngân hàng khó huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, các ngân hàng thay nhau tăng lãi suất huy động nhằm thu hút khách hàng, làm chi phí huy động vốn tăng cao kéo theo lãi suất tín dụng cũng tăng cao, gây khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng để tín dụng, bên cạnh đó người dân cũng không muốn đi vay với lãi suất cao như vậy. Tình hình lãi suất tín dụng của các ngân hàng TMCP theo công bố của NHNN đến giữa năm 2011 là 19,7%/năm. Mặc dù lãi suất tín dụng tăng cao nhưng hoạt
34
động CVTD của Ngân hàng ngày càng tăng về số lượng và tỷ trọng được nâng cao dần. Đến năm 2012, lãi suất tín dụng bắt đầu hạ nhiệt (lãi suất TDCN khoảng 13-15%/ năm) nhưng tình hình lạm phát, nợ xấu tăng cao, ngân hàng tập trung vào tín dụng ngắn hạn giảm thiểu rủi ro tín dụng. Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng ngày càng cao nên tín dụng ngắn hạn năm 2012 tăng so với năm 2011. Năm 2013 nền kinh tế dần vực dậy sau lạm phát năm 2012, khôi phục phần nào các khối ngành kinh tế, ngân hàng mở rộng đầu tư hoạt động, bên cạnh đó đời sống kinh tế người dân cũng được cải thiện đáng kể, nhu cầu về cuộc sống ngày càng cao nên doanh số CVTD ngắn hạn cũng vì thế mà tăng 47.534 triệu đồng tương đương tăng 23,47% so với năm 2012.
Nhìn chung, trước những khó khăn và trở ngại rất lớn của nền kinh tế trong thời gian gần đây, mức tăng về doanh số cho vay của phòng giao dịch là tương đối tốt, đây là sự gia tăng số lượng và quy mô các khoản CVTD mà phòng giao dịch cung cấp trong 3 năm vừa qua. Để đáp ứng nhu cầu vốn CVTD ngày càng tăng lên, phòng giao dịch đã đưa ra những chính sách mở rộng cũng như nâng cao hiệu quả của hoạt động CVTD. Nếu như việc quản trị rủi ro và thẩm định khách hàng vận hành hiệu quả thì việc mở rộng này sẽ mang lại nguồn lợi nhuận cao cho ngân hàng trong thời gian tiếp theo. Ngược lại, nếu công tác thẩm định và quản trị rủi ro không tốt phòng giao dịch sẽ phải đối mặt những khó khăn nhất định trong tương lai. Vì vậy, điều quan trọng cần xem xét tiếp theo là việc thu nợ các khoản giải ngân, nó ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận thu được và đánh giá hiệu quả cho vay của phòng giao dịch. 2.2.4. Tình hình doanh số thu nợ CVTD của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng
Ninh giai đoạn 2011 – 2013 Doanh số thu nợ là toàn bộ số tiền vốn và lãi mà ngân hàng đã thu về từ khoản cho vay, thể hiện khả năng thu nợ của ngân hàng qua các thời kỳ có thể là theo quý, tháng hoặc theo năm. Nếu trong kì, các khoản cho vay đến hạn, ngân hàng thu hồi được số tiền giải ngân càng lớn chứng tỏ chất lượng tín dụng tốt, chất lượng khách hàng tốt.
Nhìn vào bảng số liệu 2.5 ta thấy, doanh số thu nợ CVTD của phòng giao dịch đều tăng qua các năm. Doanh số thu nợ CVTD của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh vào năm 2011 là 115.612 triệu đồng, chiếm 36,81 % doanh số thu nợ. Năm 2012, doanh số thu nợ CVTD tăng 118.652 triệu đồng, tương ứng 37,78 % so với năm 2011. Tuy nhiên mức tăng này không cao và chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh số thu nợ của phòng giao dịch. Nguyên nhân là do doanh số cho vay năm 2012 tăng không đáng kể do chịu ảnh hưởng của nền kinh tế khó khăn, lạm phát cao, các khoản cho vay đến thời gian đáo hạn mà vẫn chưa thu hồi được.
Sang đến năm 2013, doanh số thu nợ là 330.878 triệu đồng, tăng 176.462 triệu đồng so với năm 2012. Phòng giao dịch đã cơ cấu lại hoạt động CVTD để tăng cường
35
hiệu quả. Năm 2013 là năm phòng giao dịch triển khai trên toàn hệ thống áp dụng quản lý mới vào hoạt động kiểm soát.Hệ thống Core Banking được cải tiến đã giúp hoạt động quản lý dễ dàng hơn, hệ thống thông tin khách hàng được chấp nhận hơn, dễ quản lý hơn và giúp đưa ra những cảnh báo sớm về khoản vay nguy hiểm. Chính sự định hướng của Ban lãnh đạo cũng như quá trình tìm kiếm khách hàng, thẩm định và thu hồi nợ đã giúp phòng giao dịch nâng cao doanh số thu nợ của mình.
Điều đó cho thấy với các chính sách và biện pháp tiến hành thu hồi nợ tiếp tục thực hiện, công tác thu hồi nợ của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh diễn ra tương đối tốt. Nguyên nhân doanh số thu nợ tăng là do sự nỗ lực của Ban lãnh đạo ngân hàng đã cử CBTD xuống tận nhà đôn đốc trả nợ. Mặt khác do ý thức trả nợ của nhiều khách hàng tương đối tốt đã làm cho tăng doanh số thu nợ của ngân hàng. Đó là dấu hiệu đáng mừng, giúp thúc đẩy nhanh tốc độ nhanh luân chuyển vòng vốn, tạo thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng.
Bảng 2.5Tình hình doanh số thu nợ CVTD giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch
Năm 2013 Năm 2011 Năm 2012 2011-2012 2012-2013 Chỉ tiêu
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)
115.612 154.416 330.878 38.804 33,56 176.462 114,27 Doanh số thu nợ cho CVTD
314.021 432.673 769.484 118.652 37,78 336.811 77,84 Tổng doanh số thu nợ
36,81 35,68 42,99 - - - - Tỷtrọng CVTD (%)
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kết quả kinh doanh SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn2011-2013)
36
2.2.5. Tình hình dư nợ CVTD của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội – phòng
giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013
Dư nợ là một trong những chỉ tiêu đánh giá về chiều rộng lẫn chiều sâu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, đây là chỉ tiêu hàng đầu mà bất kỳ ngân hàng nào muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm.Dư nợ CVTD chiếm một phần quan trọng trong tổng dư nợ của phòng giao dịch.Tình hình dư nợ CVTD của phòng giao dịch trong giai đoạn 2011-2013 đã đạt được những thành công đáng kể.
Qua bảng số liệu trên, ta thấy dư nợ CVTD của phòng giao dịch biến động qua các năm. Năm 2011, dư nợ CVTD là308.118 triệu đồng, chiếm 68,12 % so với dư nợ cho vay. Sang năm 2012, con số này giảm xuống 276.587 triệu đồng, giảm 10,2 % so với năm 2011. Tuy nhiên, dư nợ CVTD chiếm tỷ trọng chưa cao: năm 2011 là 68,12%, nhưng năm 2012giảm xuống 43,20%, năm 2013 giảm xuống còn 35,07 %. Điều này cho thấy Phòng giao dịch vẫn còn e ngại trong việc giải ngân hoặc khách hàng chưa đủ điều kiện vay vốn. Doanh số cho vay và dư nợ cho vay của Phòng giao dịch phần nhiều từ các tổ chức kinh tế và các doanh nghiệp. Mặt khác, dư nợ CVTD tăng về số tuyệt đối nhưng lại giảm mạnh về số tương đối lớn. Điều này là do huy động vốn khó khăn và cuộc chạy đua lãi suất của ngân hàng dẫn đến lãi suất và chi phí của hoạt động CVTD còn cao. Chính vì vậy, CVTD không phù hợp với thu nhập của phần lớn dân cư và tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn như hiện nay. Ngân hàng cần phải đẩy mạnh hơn nữa những chính sách khuyến mãi và chính sách lãi suất hợp lý nhằm thu hút khách hàng từ nhiều thành phần trong xã hội để nâng cao hiệu quả hoạt động cho CVTD.
Năm 2013 dư nợ CVTD tăng vọt lên mức 358.300 triệu đồng, tăng 29,54% so với năm 2012. CVTD đang dần trở thành đối tượng khách hàng nhận được sự quan tâm của phòng giao dịch. Nguyên nhân sự tăng trưởng là do chiến lược đẩy mạnh mở rộng CVTD và theo đó phòng giao dịch đã có nhiều cố gắng trong việc triển khai các biện pháp hỗ trợ CVTD với người dân trong giai đoạn kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, năm 2013 tốc độ tăng doanh số CVTD ít hơn mức tăng dư nợ cho vay.Điều này phản ánh phần nào hiệu quả cho vay của phòng giao dịch chưa thực sự tốt.Vì vậy phòng giao dịch cần có biện pháp kiểm soát CVTD, hạn chế rủi ro trong cho vay.
37
Bảng 2.6Tình hình dƣ nợ CVTD của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chỉ tiêu 2011-2012 2012-2013
Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%) Số tiền Số tiền
308.118
276.587
(31.531)
(10,2)
452.260 640.224 1.021.457 187.964 41,56 381.233 59,54 Dƣ nợ cho vay
358.300 81.713 29,54 Dƣ nợ CVTD
68,12 43,20 35,07 - - - - Tỷ trọng CVTD (%)
(Nguồn:Báo cáo hoạt động kinh doanh SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh năm 2011-2013)
38
2.2.6. Cơ cấu dư nợ CVTD của SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh 2.2.6.1. Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn
Biểu đồ 2.1Dƣ nợ CVTD phân theo kỳ hạn giai đoạn 2011-2013
400000
358300
350000
308118
300000
276587
246465
250000
224057
Đơn vị tính: Triệu đồng.
190285
200000
Vay ngắn hạn
150000
Vay trung, dài hạn
111835
86301
84061
100000
50000
0
Dư nợ CVTD
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh) Qua biểu đồ 2.1 cho thấy dư nợ CVTD của Ngân hàng có xu hướng tăng lên vào năm 2013.Cụ thể, năm 2011 tổng dư nợ đạt 308.118 triệu đồng; nhưng đến năm 2012 dư nợ đạt 276.587 triệu đồng giảm với tỷ lệ 10,2% so với năm 2011.Nguyên nhân là do ảnh hưởng bởi chính sách kiểm soát chặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nên dư nợ CVTD tại SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh cũng được giải ngân thận trọng hơn.Năm 2013 dư nợ đạt 358.300 triệu đồng tăng 81.713 triệu đồng so với năm 2012. Dư nợ tín dụng tăng lên do sự chủ động của Ngân hàng trong điều tiết dư nợ do nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của khách hàng ngày càng cao. Ngân hàng có nghĩa vụ đảm bảo việc cung ứng vốn luôn được sẵn sàng để đẩy mạnh việc lưu thông hàng hóa, thúc đẩy kinh tế phát triển, qua đó cũng góp phần tạo nguồn lợi nhuận cho ngân hàng.
Dư nợ ngắn hạn
Năm 2012 dư nợ cá nhân ngắn hạn tăng 2.240 triệu đồng, tức tăng2,66,% so với năm 2011. Công tác thu hồi nợ ngắn hạn trong năm 2012 còn chưa tốt, không đạt hiệu quả nên dư nợ vẫn tăng.
39
Năm 2013, dư nợ ngắn hạn là 111.835 triệu đồng, năm 2012 đạt 86.301 triệu đồng tăng 25.534 triệu đồng so với năm 2012, tốc độ tăng 29,58%. Với mức tăng dư nợ này có thể đánh giá hai khía cạnh. Đó là do doanh số tín dụng ngắn hạn năm 2013 tăng lên so với năm 2012 hay do công tác thu hồi nợ ngắn hạn trong năm 2013 chưa đạt hiệu quả cao. Nhưng qua hai bảng số liệu thể hiện doanh số CVTD và công tác thu hồi nợ ngắn hạn trong năm 2013 cho thấy nguyên nhân tăng lên của dư nợ ngắn hạn trong năm 2013 là do doanh số cho vay ngắn hạn trong năm tăng lên.Phòng giao dịch nên tích cực nghiên cứu thị trường để điều chỉnh giảm lãi suất cho vay trong ngắn hạn đối với nền kinh tế, niêm yết biểu phí phù hợp với quy định của NHNN và đảm bảo mức phí cạnh tranh nhất trên thị trường. Bên cạnh đó việc phát huy hiệu quả tổng hợp của các hình thức quảng cáo và các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt trên truyền hình sẽ giúp phòng giao dịchthu hút khách hàng, tăng lợi nhuận của mình.
Dư nợ cá nhân trung và dài hạn
Dư nợ cá nhân trung dài hạn chiếm tỷ trọng cao hơn dư nợ cá nhân ngắn hạn trong tổng dư nợ tại phòng giao dịch qua cả 3 năm vì doanh số CVTD trung dài hạn chiếm tỷ trọng cao hơn doanh số tín dụng ngắn hạn. Bên cạnh đó hiện nay thu nhập của người đi vay tiêu dùng ở mức trung bình khá, cộng thêm món vay lớn nên họ có xu hướng chọn vay với thời hạn dài để chủ động trong việc chi trả. Cao nhất là năm 2013 với dư nợ trung dài hạn 246.465 triệu đồng, tăng 56.180 triệu đồng so với 190.285 triệu đồng (năm 2012), năm 2011 dư nợ trung dài hạn là 224.057 triệu đồng.
Nguyên nhân chính của sự tăng lên của dư nợ năm 2013 là do doanh số cho vay năm 2013 tăng lên, mặt khác sự tăng lên trong tỉ lệ dư nợ trung và dài hạn là do hệ quả của chính sách thắt chặt tiền tệ mà NHNN nhà nước đưa ra khi lãi suất ngắn hạn vẫn còn cao thì việc dự đoán lãi suất sẽ giảm trong tương lai làm cho nhu cầu vay vốn trung và dài hạn tăng lên với lãi suất thấp hơn các kỳ ngắn hạn. Năm 2012, doanh số thu nợ tăng lên làm cho dư nợ 2012 giảm hơn so với năm 2011.Cụ thể năm 2012 dư nợ cho vay trung và dài hạn giảm đi 33.772 triệu đồng, tương ứng giảm 15,1% so với năm 2011. Công tác thu hồi nợ trung và dài hạn trong năm 2012 được thực hiện khá tốt, có hiệu quả và được quản lý rất chặt nên dư nợ vẫn giảm trong khi doanh số cho vay tăng.
40
2.2.6.2. Cơ cấu dư nợ theo hình thức đảm bảo
Bảng 2.7Dƣ nợ CVTD của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh phân theo hình thức đảm bảo
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch Chênh lệch
Chỉ tiêu 2011-2012 2012-2013
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)
(31.531)
(10,2)
Dƣ nợ 308.118 100 276.587 100 358.300 100 81.713 29,54
65.987 21,41 62.038 22,42 77.029 24,99 (3.949) (5,98) 14.991 24,16 Tín chấp
145.367 47,17 168.464 60,90 203.257 68,15 23.097 15,88 34.793 20,65 Có TSĐB
132.754 43,08 149.186 53,93 187.255 60,77 16.432 12,37 38.069 25,51 Thế chấp
91.038 29,54 99.973 36,14 102.014 28,47 8.935 9,81 2.041 2,04 Cầm cố
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh năm 2011-2013)
41
Nhận xét :
Nhìn bảng trên ta thấy dư nợ cho vay đảm bảo có xu hướng biến động qua các năm. Năm 2011, cho vay tín chấp là 65.987 triệu đồng, chiếm 21,41% trên tổng dư nợ CVTD. Sang năm 2012, con số này giảm xuống 62.038 triệu đồng, tương ứng giảm 5,98% so với năm 2011. Nguyên nhân do lãi suất vay tín chấp cao hơn so với vay thông thường đồng thời năm 2012 là năm kinh tế khó khăn, SHB mới sáp nhập chưa ổn định nên chưa chú trọng vào những khoản cho vay nhỏ lẻ này. Năm 2013, cho vay tín chấp tăng thêm 14.991 triệu đồng, tương ứng 24,16 % so với năm 2012. Nguyên nhân là do ngân hàng có chương trình ưu đãi hỗ trợ vay vốn không cần TSĐB, chỉ cần dựa vào thu nhập. Bởi đa số khách hàng của phòng giao dịch là khách hàng quen thuộc, có thu nhập ổn định do đó ngân hàng muốn gia tăng khoản thu nhập của mình nên đã nới lỏng tín dụng. Tuy nhiên với những diễn biến nền kinh tế khó lường như năm 2012 thì nguy cơ để các cá nhân không trả nợ được gốc và lãi đúng hạn hoàn toàn có thể xảy ra, chính vì vậy mà cũng kéo theo rủi ro cho ngân hàng. Ngân hàng nên nâng cao tỷ trọng cho vay đảm bảo, giảm cho vay tín chấp vì mục tiêu an toàn tín dụng của mình.
Trong công tác thẩm định tín dụng, ngân hàng luôn coi trọng khâu đánh giá TSĐB vì đây là biện pháp cuối cùng để ngân hàng có thể thu hồi vốn trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, chính vì vậy dư nợ cho vay có TSĐB luôn chiếm tỷ trọng cao. Năm 2011, cho vay có TSĐB của ngân hàng là 145.367 triệu đồng (chiếm 47,17%). Năm 2012, khoản này tăng 23.097 triệu đồng, tương ứng tăng 15,88% so với năm 2011 và trong năm 2013, con số này vẫn tiếp tục tăng là 20,65%, tương ứng 34.793 triệu đồng. Sự tăng lên này là do tăng trưởng tín dụng ngân hàng tăng lên và để hạn chế rủi ro tín dụng nên cho vay TSĐB cũng tăng theo.
Cho vay theo hình thức thế chấp tăng dần qua các năm. Năm 2012, cho vay theo hình thức này tăng 16.432 triệu đồng, tương ứng 12,37 % so với năm 2011. Cho vay theo hình thức thế chấp năm 2013 là 187.255 triệu đồng (chiếm 60,77%), tăng 38.069 triệu đồng tương ứng 25,51% so với năm 2012. Bởi cho vay thế chấp hiện nay là biện pháp an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng khi Ngân hàng nắm giữ các giấy tờ về tài sản của khách hàng. Mặt khác chi phí bỏ ra để bảo quản tài sản thế chấp thấp hơn so với tài sản cầm cố.
Cho vay theo hình thức cầm cố chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong tổng dư nợ và có xu hướng không ổn định qua các năm. Năm 2012, cho vay theo hình thức này là 99.973 triệu đồng, tăng 8.935 triệu đồng tương ứng tăng 9,81% so với năm 2011. Sang năm 2013 con số này tiếp tục tăng 2,04%, ứng với mức tăng 2.041 triệu đồng. Mặc dù tăng về số tuyệt đối nhưng số tương đối đang có xu hướng giảm. Do hoạt động cho vay cầm cố các tài sản chủ yếu là máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, hàng hóa khi cầm cố quyền sử dụng tài sản nhiều khả năng thuộc về khách hàng. Mặt khác tài sản là
42
bất động sản nên dễ dàng bị hỏng, bị hao mòn, giá cả biến động. Đối với giấy tờ có giá, nhiều trường hợp vay vốn đã được thực hiện với tài sản cầm cố là chứng khoán “ảo”. Trong các trường hợp này, rủi ro thường rơi về các ngân hàng đã ứng vốn ra cho vay, trong khi việc thu hồi lại vốn vay không hề đơn giản.Chính vì vậy, ngân hàng cần nâng cao công tác thẩm định tài sản cầm cố chặt chẽ, để có thể thu hồi nợ trong trường hợp khách hàng không có khả năng trả nợ. 2.2.6.3. Cơ cấu dư nợ theo mục đích vay
Nhìn tổng quát qua bảng 2.8, cho thấy tình hình dư nợ theo mục đích sử dụng có sự biến động trong 3 năm qua. Năm 2012 giảm cả về dư nợ SXKD lẫn tiêu dùng và CBCNV so với năm 2011, nhưng đến năm 2013, tổng dư nợ lại tăng so với năm 2012.
Cho vay SXKD: Năm 2012, dư nợ SXKD giảm đi 31.475 triệu đồng tương đương với 12,5% so với năm 2011. Sở dĩ có sự sụt giảm là do trong năm này có một lượng khách hàng lớn của phòng giao dịch đã hoàn thành hợp đồng vay vốn đúng thời hạn cam kết, làm cho dư nợ cuối năm 2012 có sự biến động.Qua năm 2013, dư nợ SXKD đạt 269.903 triệu đồng, tăng 22,38% so với năm 2012. Năm 2013, doanh số cho vay tăng lên nên dư nợ năm này cũng tăng so với năm 2012.
Cho vay tiêu dùng & CBCNV: đây là hai loại hình cho vay có cùng mục đích sử dụng vốn, nhưng với sự đầu tư khác nhau trong từng thời kỳ, ngân hàng đã tạo ra sự chuyển biến tích cực mức tăng trưởng dư nợ như sau: tình hình dư nợ cho vay tăng đều qua các năm, cụ thể năm 2012 là 41.090 triệu đồng, tăng 4.004 triệu đồng so với 37.086 triệu đồng (năm 2011). Năm 2013, con số này tăng đến 19.844 triệu đồng tương ứng 48,29% so với năm 2012. Hơn nữa, hoạt động tín dụng tại ngân hàng cũng được mở rộng nhanh chóng nên có sự tăng trưởng này. Sản phẩm cho vay cán bộ CNV ngày càng được phòng giao dịch chú trọng. CVTD đã thu hút được số lượng lớn CBCNV của các cơ quan, đơn vị, thắt chặt mối quan hệ không chỉ với CBCNV mà còn với các cơ quan đơn vị mà họ đang làm việc, làm tiền đề cho các kế hoạch sử dụng sản phẩm cuả ngân hàng. Tuy nhiên ngân hàng cũng nên xem xét, cân nhắc để bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng của mình.
CVTD khác: Năm 2012 là 14.961 triệu đồng, giảm 4.060 triệu đồng so với năm 2011 là 19.021 triệu đồng thì đến năm 2013, dư nợ theo phương thức khác đã tăng lên 12.502 triệu đồng tương ứng tăng tới 83,56% so với năm 2012. Thực hiện chủ trương của NHNN khuyến khích tăng trưởng dư nợ nhưng phải cơ cấu lại danh mục tín dụng hợp lý và kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng. Vì vậy mà trong năm 2012 mặc dù rất tích cực tăng trưởng dư nợ nhưng SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh cũng rất thận trọng đối với những nguồn vay không có TSĐB nên tỷ trọng dư nợ không có TSĐB giảm đi. Tỷ trọng này giảm nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống tín dụng của Ngân hàng.
43
Bảng 2.8Dƣ nợ CVTD phân theo mục đích vay
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 2011-2012 2012-2013
Chỉ tiêu
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)
252.011 81,8 220.536 79,7 269.903 75,34 (31.475) (12,5) 49.367 22,38 Cho vay SXKD
37.086 12 41.090 14,9 60.934 17 4.004 10,8 19.844 48,29 Chovay TD&CBCNV
19.021 6,2 14.961 5,4 27.463 7,66 (4.060) (21,3) 12.502 83,56 Cho vay tiêu dùng khác
Tổng 308.118 276.587 358.300
(Nguồn:Báo cáo hoạt động kinh doanh phòng giao dịch SHB Trần Đăng Ninh năm 2011-2013)
44
2.2.6.4. Cơ cấu dư nợ theo phương thức cho vay
Căn cứ vào bảng số liệu 2.9 có thể thấy, cho vay từng lần đang dần chiếm ưu thế so với cho vay theo HMTD cả về tỷ trọng và mức tăng về giá trị tiền vay giữa các năm. Cho vay từng lần năm 2012 là 184.526 triệu đồng, tăng 5.593 triệu đồng, tương đương 3,12 % so với năm 2011. Năm 2013, dư nợ cho vay từng lần tiếp tục tăng, đạt số dư nợ là 250.586 triệu đồng, tăng 66.060 triệu đồng, tương đương 35,8% so với năm 2012. Tỷ trọng về dư nợ cho vay từng lần liên tục tăng trong 3 năm. Đến năm 2013, tỷ trọng này chiếm tới 69,94% tổng dư nợ cho CVTD.Chi phí trong hoạt động cho vay nhỏ lẻ, phục vụ người dân tiêu dùng là rất lớn nhưng bù lại khi cho vay từng lần, chênh lệch lãi suất giữa đầu vào và đầu ra tương đối tốt. Ngân hàng có thể dùng khoản lợi nhuận này để bù đắp cho các chi phí khác, đồng thời khi cho vay phân tán tính an toàn thường cao hơn đối với các khoản vay lớn, rủi ro tiềm ẩn nhiều hơn. Ngoài ra phương thức vay từng lần có những ưu điểm như hồ sơ khoản vay rõ ràng, tách biệt, dễ quản lý.
Bên cạnh đó, cho vay theo hạn mức tín dụng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng dư nợ CVTD. Năm 2012 cho vay theo HMTD là 92.061 triệu đồng giảm 28,73% tương ứng 37.124 triệu đồng so với năm 2011. Nguyên nhân do hình thức vay này thường chỉ phù hợp đối với các doanh nghiệp, các cá nhân thường không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, lãi suất thường không ổn định và thường cao hơn cho vay từng lần. Tuy nhiên sang năm 2013 cho vay theo hạn mức tín dụng đã tăng lên 15.653 triệu đồng, tăng 17 % so với năm 2012. Ngân hàng thường cho vay mua nhà, sữa chữa nhà, vì vậy hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng là phù hợp. Điều này cho thấy ngân hàng đang dùng nhiều biện pháp để tăng cho vay theo hạn mức tín dụng bởi thủ tục đơn giản, giúp các cá nhân chủ động về vốn, nâng cao uy tín và quan hệ với khách hàng. Tóm lại, thông qua các số liệu và bảng phân tích trên ta thấy được sự tăng cân đối và hài hòa của CVTD trong cơ cấu cho vay của SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh. Sự cân đối trong cơ cấu cho vay sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển đồng bộ của các sản phẩm cho vay nói chung và của CVTD nói riêng. Tuy nhiên phòng giao dịch cũng cần nỗ lực hơn nữa để đưa ra nhiều biện pháp hiệu quả đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất, cũng như tạo ra lợi nhuận cho phòng giao dịch.
45
Bảng 2.9Tình hình dƣ nợ cho vay phân theo phƣơng thức cho vay giai đoạn 2011 -2013
Đơn vị: Triệu đồng
Chênh lệch
Năm 2013
2011-2012 2012- 2013 Năm 2012 Chỉ tiêu
Năm 2011
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)
178.933 184.526 66,71 250.586 69,94 5.593 3,12 66.060 35,8 Cho vay từng lần 58,07
129.185 41,92 92.061 33,28 107.714 (37.124) (28,73) 15.653 17 Cho vay theo HMTD 30,06
308.118 100 276.587 100 358.300 (31.531) (10,2) 81.713 29,54 Dƣ nợ đối với CVTD
100
(Nguồn :Báo cáo hoạt động kinh doanh SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013)
46
2.3. Thực trạng hiệu quả hoạt động CVTD 2.3.1. Các chỉ tiêu định tính 2.3.1.1. Sự đa dạng các nguồn cho vay: Bảng 2.10 Số món vay khách hàng CVTD của SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011 - 2013
Đơn vị: Món vay
Chênh lệch Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chỉ tiêu 2011-2012 2012-2013
Món vay Món vay Món vay Món vay Món vay Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)
398
9
Nhà 356 362 2,52 36 9,94 1.CBCNV nƣớc
282 285 290 1,06 5 1,75 3 2.CBCNV doanh nghiệp
3.Cán bộ hƣu trí 115 120 125 4,34 5 4,16 5
515 545 600 30 5,82 55 10,09 4.Cá nhân và hộ gia đình
Tổng cộng 1268 1312 1413 44 3,47 101 7,69
(Nguồn:Báo cáo hoạt động kinh doanh SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013)
Nhìn bảng trên ta thấy các món vay cho các đối tượng đều tăng qua các năm.
Năm 2011, số món vay tiêu dùng của cán CBCNV nhà nước là 356 món, sang năm 2012 con số tăng thêm 6 món, tương ứng tăng 1,69 % so với năm 2011. Số món vay năm 2013 tăng 9,94 %. Số món vay này không có nhiều sự chuyển biến nhiều, tăng chậm qua các năm. Bên cạnh đó, số món vay cho CBCNV doanh nghiệp năm 2012 tăng 1,06 % ứng với 3 món so với năm 2011, năm 2013 mức tăng là 1,75 so với năm 2012. Bởi đây là đối tượng có mức thu nhập ổn định, chịu tác động của khủng hoảng kinh tế ít hơn các đối tượng khách hàng khác như: công nhân, người lao động. Trong điều kiện khó khăn về nguồn vốn huy động và lãi suất tăng cao thì việc Chi nhánh phát triển loại hình cho vay này có thể đáp ứng tốt hơn cả hai yếu tố về an toàn và lợi nhuận so với việc phát triển các sản phẩm CVTD.
47
Số lượng CBCNV tham gia công tác hành chính sự nghiệp, công ty nhà nước, vì
uy tín của đối tượng này được đánh giá cao hơn nên cơ chế cho vay thông thoáng hơn
Đối với cán bộ hưu trí, số món vay cũng tăng qua các năm, nhưng chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong số món vay của phòng giao dịch (<10%). Năm 2011, số món vay này là 115 món, tăng đều 5 món vào 2 năm 2012, 2013, tương ứng tăng 4,35 % và 4,17 %.
Số món vay cho cá nhân và hộ gia đình chiếm tỷ trọng cao nhất trong số món vay của phòng giao dịch. Năm 2011, số món vay là 515 món, chiếm 40,62 %. Số món vay cho cá nhân và hộ gia đình năm 2012 tăng lên 30 món, tương ứng 5,83%. Sang năm 2013, con số này là 600 món, tăng lên 10,09% so với năm 2012.
Số món vay cho khách hàng qua các năm có sự chuyển biến tăng qua các năm nhưng không có bước đột phá. Điều này cho thấy SHB bên cạnh yếu tố khách quan về tình hình kinh tế khó khăn nên người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh vẫn chưa thu hút cũng như có sự quan tâm rõ rệt đến số lượng khách hàng này. 2.3.1.2. Quy mô của hoạt động cho vay
Nhận thấy CVTD là thị trường đầy tiềm năng cho ngân hàng bởi phòng giao dịch nằm trong khu vực có đông đúc dân cư sinh sống và làm việc.Vì vậy, phòng giao dịch ngày càng mở rộng quy mô bằng cách tạo ra các sản phẩm mới, đa dạng, tạo ra sự khác biệt so với các ngân hàng khác.Sản phẩm cho vay cán bộ công nhân viên cũng được thiết kế chi tiết đến từng phân đoạn nhỏ theo nơi công tác, vị trí công tác, thu nhập hàng năm. Do vậy, các sản phẩm vay vốn đó đã tiếp cận được với thị trường, đáp ứng nhu cầu của từng nhóm khách hàng cũng như bảo đảm quản trị rủi ro một cách hiệu quả. 2.3.1.3. Nhân sự của ngân hàng
SHB- phòng giao dịch Trần Đăng Ninh đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo, nâng cao phẩm chất đạo đức của các CBTD. Phòng giao dịch thường xuyên có những khóa học để nâng cao các kỹ năng chuyên môn, kỹ năng mềm, đàm phán cho cán bộ nhân viên của mình. Hàng kỳ, phòng giao dịch cũng có những buổi nâng cao chất lượng thẩm định hoặc tín dụng cho nhân viên nhằm duy trì và phát triển hiệu quả thu được. Ban lãnh đạo cũng luôn chú trọng đầu tư tập trung cho củng cố và phát triển nguồn nhân lực, thực hiện cải cách đồng bộ từ mô hình tổ chức, phát triển, đào tạo, quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ. 2.3.1.4. Kiểm soát nội bộ ngân hàng
Trong thời kỳ suy thoái kinh tế và bị ảnh hưởng khủng hoảng tài chính thế giới, SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh đang đứng trước sự lựa chọn và sàng lọc các nhân sự quản trị, điều hành chủ chốt, sắp xếp lại bộ máy nhân sự. Đội ngũ nhân sự quản trị, điều hành của phòng giao dịch trong giai đoạn này chịu rất nhiều áp lực
48
hoạch định chiến lược và kết quả kinh doanh. Mặt khác, nợ xấu đang có xu hướng tăng trong năm 2012 đã bắt buộc phòng giao dịch chống đỡ như tập trung nhân lực cho công tác thu nợ quá hạn và xử lý nợ xấu. Nhưng quá trình thanh tra, quản lý lỏng lẻo để thất thoát một số lượng vốn lớn buộc phải sa thải, cách chức hoặc thuyên chuyển vị trí lãnh đạo cấp cao của phòng giao dịch. Trên thực tế, nguồn nhân lực ngân hàng đang biến chuyển nhiều và có sự chuyển dịch giữa các Ngân hàng và sang các lĩnh vực kinh doanh khác. 2.3.1.5. Uy tín của ngân hàng
Phòng giao dịch đã xây dựng được hình ảnh tốt đẹp trong tâm trí khách hàng, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng phần lớn đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng, chất lượng CVTD của ngân hàng có nhiều tín hiệu khả quan và uy tín của ngân hàng trên địa bàn đã được khẳng định. Các chỉ tiêu tài chính tương đối tốt giúp nâng cao niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng, giúp khách hàng yên tâm trong quá trình làm việc và hợp tác lâu dài với ngân hàng. 2.3.2. Chỉ tiêu định lượng
Qua phân tích các chỉ tiêu định tính ta thấy được phần nào hiệu quả CVTD tại SHB- phòng giao dịchTrần Đăng Ninh, tuy nhiên để đánh giá tình hình tăng trưởng cho vay có thực sự tốt không, chất lượng cho vay có thực sự cao thì cần xem xét các chỉ tiêu định lượng dưới đây. 2.3.2.1. Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay tiêu dùng
Nợ quá hạn là những khoản cho vay đến hạn mà khách hàng không trả được hoặc trả không đầy đủ số tiền trong hợp đồng tín dụng và không được ngân hàng gia hạn. Nhìn vào bảng 2.11 ta có thể thấy tỷ lệ nợ quá hạn CVTD 2011-2013 có sự biến động qua từng năm. Tỷ lệ NQH của phòng giao dịch năm 2011 là trong 100 đồng tổng dư nợ CVTD thì có 1,39 đồng nợ quá hạn. Sang năm 2012, nợ quá hạn là 7.334 triệu đồng, chiếm tới 2,65 % tổng dư nợ CVTD, tăng 70,80 % so với năm 2011). Tốc độ tăng NQH nhanh hơn tốc độ tăng dư nợ. Do các khoản CVTD chủ yếu được thanh toán thông qua tài khoản khách hàng mở tại phòng giao dịch. Con số 1,39%, 2,65% là con số không nhỏ, đó là hệ quả của sự lơ là trong công tác giám sát tín dụng, kiểm soát mục đích vay vốn một cách lỏng lẻo của phòng giao dịch.
Sang năm 2013, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ CVTD giảm xuống 0,42% so với năm 2012. Để có được kết quả trên, phòng giao dịch đã nỗ lực kiểm soát nợ quá hạn bằng cách thẩm định hồ sơ cho vay chặt chẽ, giải ngân ít hơn, CBTD đã tích cực hơn trong việc giám sát các khoản vay, thu hồi nợ. Phòng giao dịch cần tiếp tục phát huy và duy trì để tỷ lệ quá hạn được ổn định ở mức thấp nhất có thể.
49
2.3.2.2. Tỷ lệ nợ xấu CVTD
Tỷ lệ nợ xấu cho biết trong 100 đồng tổng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ xấu vì vậy tỷ lệ nợ xấu phản ánh rõ nét tình hình rủi ro, mức độ hoạt động cho vay của ngân hàng. Trong năm 2011 tỷ lệ nợ xấu CVTD của phòng giao dịch là 0,69% tương ứng với 2.127 triệu đồng. Tuy nhiên sang năm 2012 tỷ lệ nợ xấu tăng lên đến 1,21% do trong năm 2012 tình hình kinh tế biến động, lãi suất tăng cao, sức mua giảm sút, nhiều người mất việc, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân. Bên cạnh đó là việc khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích, hoặc sử dụng đúng nhưng việc kinh doanh không mang lại hiệu quả. Vì vậy họ không thể trả vốn và lãi đúng hạn, dẫn đến nợ xấu tăng cao. Ngoài ra, phòng giao dịch đã có phần chủ quan trong công tác nhận định rủi ro của các khoản vay, xử lý chưa triệt để nợ nhóm 2 đã dẫn đến phát sinh thêm nợ xấu.
Đến năm 2013 kinh tế đã có phần khởi sắc hơn phòng giao dịch đã chặt chẽ trong công tác hạn chế nợ xấu, giám sát tín dụng, bám sát khách hàng vay vốn, thúc giục khách hàng trả nợ đến hạn, tỷ lệ nợ xấu đã được cải thiện đáng kể chiếm 1,15% tương ứng mức giảm. Với nỗ lực trên phòng giao dịch đã thu hồi được các khoản nợ cả gốc và lãi, không để xảy ra tình trạng mất trắng.
Nhìn chung, tỷ lệ nợ xấu của phòng giao dịch trong CVTD tuy có sự tăng giảm nhưng cũng khá an toàn và phù hợp với toàn hệ thống SHB và nhỏ hơn nhiều so với NHTM khác trong 3 năm là giai đoạn kinh tế đầy biến động. Có thể nói, nợ xấu CVTD không phải nguyên nhân chính trong nợ xấu củaphòng giao dịch, nhưng trong tương lai phòng giao dịch cần luôn chú ý đến khoản mục này vì gia tăng nợ xấu gây bất lợi lớn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu CVTD trên nợ quá hạn của phòng giao dịch năm 2011 là 49,53% nghĩa là trong 100 đồng nợ quá hạn có 49,53 đồng nợ xấu. Sang năm 2012 tỷ lệ này giảm xuống còn 45,90 %. Điều này cho thấy ,năm 2011 tỷ lệ nợ xấu chiếm tỷ trọng nhiều trong nợ quá hạn hơn năm 2012. Phòng giao dịch đã có những biện pháp quản lí chặt chẽ đạo đức nghề nghiệp nhân viên,nâng cao khả năng thu hồi nợ . Tuy nhiên đến năm 2013, con số này lại tăng lên 51,72 %. Sự tăng này là do năm 2013, dư nợ xấu của phòng giao dịch tăng 776 triệu đồng và nợ quá hạn cũng tăng 658 triệu đồng so với năm 2012. Điều này cho thấy nợ xấu chiếm nhiều hơn nợ quá hạn, có xu hướng tăng, nguy cơ mất vốn cũng tăng theo. Đây thực sự là dấu hiệu đáng lo ngại cho hiệu quả CVTD của phòng giao dịch trong 3 năm vừa qua. Do vậy phòng giao dịch cần sử dụng mọi biện pháp để thu hồi nợ, tránh làm gia tăng nợ xấu, ảnh hưởng đến lợi nhuận của mình.
50
Bảng 2.11 Hệ số chất lƣợng CVTD giai đoạn 2011-2013
Đơn vị:Triệu đồng
Chênh lệch
Năm 2011 Năm2012 Năm 2013
Chỉ tiêu
2012-2013
2011-2012
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)
3.040 70,80 658 8,97 7.992 4.294 7.334 NQH CVTD
1.240 58,29 776 23,04 4.134 2.127 3.367 Nợ xấu CVTD
308.118 276.587 358.300 (31.531) (10,2) 81.713 29,54 Dƣ nợ CVTD
1,26 - (0,42) 2,23 1,39 2,65 NQH/Tổng dƣ nợ CVTD
0,52 - (0,06) 1,15 0,69 1,21 Nợ xấu/Tổng dƣ nợ CVTD
- - 49,53% 45,90% 51,72% Nợ xấu/NQH CVTD
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013)
51
2.3.2.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng.
Nợ xấu và nợ quá hạn không phải là chỉ tiêu duy nhất đánh giá chất lượng tín dụng. Để đánh giá tốt hơn về chất lượng tín dụng, người ta còn dựa trên chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng. Ở Phòng giao dịchSHB–Trần Đăng Ninh, vòng quay vốn CVTD được thể hiện qua bảng sau
Bảng 2.12Chỉ tiêu vòng quay của CVTD
Đơn vị: Triệu đồng
Chênh lệch
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chỉ tiêu 2011-2012 2012-2013
Số tiền Số tiền Tỷ lệ Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) (%)
115.612 154.416 330.878 38.804 33,56 176.462 114,27 Doanh số thu nợ CVTD
308.118 276.587 358.300 (31.531) (10,23) 81.713 29,54 Dƣ nợ bình quân CVTD
quay 0,37 0,55 0,92 0,18 - 0,37 - Vòng vốn CVTD
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013)
Chỉ tiêu vòng quay vốn phản ánh sự quay vòng vốn nhanh hay chậm trong cho vay. Thông thường vòng quay càng lớn thể hiện việc thu hồi nợ càng tốt và ngược lại. Nhìn bảng có thể thấy vòng quay vốn của phòng giao dịch có xu hướng tăng qua các năm.Năm 2012, vòng quay vốn đạt 0,55 vòng, tăng 0,18 vòng so với năm 2011.Vòng quay vốn năm 2011 là tương đối thấp. Chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, các cá nhân gặp nhiều khó khăn trong việc trả nợ. Điều này khiến cho ngân hàng vào tình thế bị giảm sự luân chuyển dòng vốn, thu hồi nợ chậm, làm giảm kết quả kinh doanh. Đặc biệt là vào giai đoạn cuối năm, khi nhu cầu chi tiền doanh nghiệp tăng cao, ngân hàng đã tiến hành giải ngân cho khách hàng mà chưa kịp thu hồi, các món nợ quá
52
hạn thời gian chưa lâu nên chưa đươc xét nhóm vào nợ xấu nhưng đã làm vòng quay vốn của ngân hàng thấp.Tài chính chưa đủ mạnh cũng góp phần làm suy giảm thêm năng lực hoạt động phần nào là nguyên nhân làm vòng quay vốn giảm nhẹ trong thời gian qua nên có một số khoản nợ khách hàng xin gia hạn thêm thời gian trả nợ.
Sang năm 2013, nhờ có những chính sách và biện pháp kịp thời, phòng giao dịch đã làm tăng vòng quay vốn của mình lên 0,92 vòng, tương ứng tăng 0,37vòng so với năm 2012. Điều này có được là doanh số thu nợ trong năm 2013 tăng cao.Chính sự cẩn trọng trong quá trình xét duyệt cấp cho vay và sát sao hơn trong việc giám sát sử dụng vốn, thu hồi nợ đã giúp phòng giao dịch tăng được doanh số thu hồi nợ của mình. Hiệu quả cho vay tốt sẽ giúp cho công tác thu nợ của ngân hàng thuận lợi và dễ dàng hơn rất nhiều.Vòng quay vốn CVTD của phòng giao dịch tăng qua các năm nhưng so với trung bình ngành vẫn khá thấp (1,02 vòng theo Thời báo ngân hàng ngày 12/5/2013). Nguyên nhân là do cho vay sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ. Những khoản vay này chủ yếu là những khoản cho vay trung và dài hạn do nhu cầu vốn lớn và việc hoàn trả phụ thuộc thu nhập định kỳ của người vay. Đây là lý do làm cho vòng quay vốn CVTD của phòng giao dịch thấp trong cácnăm.
2.3.2.4. Tỷ lệ trích lập DPRR
Bảng 2.13Tỷ lệ trích lập DPRR CVTD
Đơn vị: Triệu đồng
Chênh lệch Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chỉ tiêu 2010-2011 2011-2012
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)
3.879 4.723 5.055 844 21,75 332 7,02 DPRR đƣợc trích
308.118 276.587 358.300 (31.531) (10,23) 81.713 29,54 Dƣ nợ CVTD
1,25 1,7 1,4 0,45 - (0,3) - Tỷ lệ trích (%)
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013)
53
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ cam kết. Trích lập DPRR để chủ động trong công tác quản lý RRRD cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.Tỷ lệ này cho biết DPRR trong CVTD được trích so với tổng dư nợ cho VTD là bao nhiêu.Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ chất lượng cho VTD là chưa tốt, vẫn phải trích dự phòng nhiều. Năm 2011, Phòng giao dịch đã trích lập 3.879 triệu đồng, tương ứng 1,25% trên tổng dư nợ CVTD. Năm 2012, con số này đã lên 4.723 triệu đồng, tăng 21,75 % so với năm 2011. Tỷ lệtrích này tăng thêm 0,45% là 1,7 %. Nguyên nhân là do năm 2012 hoạt động tín dụng của ngân hàng tăng, cùng với ảnh hưởng khó khăn chung của nền kinh tế, lạm phát cao ảnh hưởng đến chi tiêu người dân, khả năng trả nợ. Chính vì vậy, nợ quá hạn và nợ xấu cũng tăng theo qua đó làm tăng trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng.
Năm 2013, DPRR CVTD được trích là 5.055 triệu đồng, tăng 332 triệu đồng so với năm 2012.Mặc dù sự quản lý của Ban lãnh đạo Ngân hàng đã nghiêm ngặt hơn nhưng với nợ quá hạn từ những năm trước dồn xuống cộng thêm với việc thanh tra nghiêm ngặt từ NHNN nên trích lập DPRR của phòng giao dịch tăng lên. Tuy nhiên, tỷ lệ trích lập năm 2013 là 1,41%, tương ứng giảm 0,29 % so với năm 2012. Điều này là do dư nợ CVTD năm 20123 tăng cao. Tốc độ tăng của DPRR nhỏ hơn tốc độ tăng của nợ xấu và nợ quá hạn là do phòng giao dịch chủ yếu cho vay bằng TSĐB và tăng qua các năm. Việc trích lập dự phòng rủi ro nhiều sẽ làm giảm lợi nhuận sau thuế của phòng giao dịch vì vậy phòng giao dịch cần chú ý hơn đến chỉ tiêu này để giảm tỷ lệ trích lập xuống mức thấp nhất có thể.
2.3.2.5. Hệ số khả năng bù đắp rủi ro
Xét về chất lượng CVTD, cần xét thêm một chỉ tiêu nữa đó là hệ số khả năng bù đắp rủi ro. Chỉ tiêu này cho biết được khả năng bù đắp những khoản nợ đã được xử lý rủi ro của ngân hàng.
54
Bảng 2.14Hệ số khả năng bù đắp rủi ro
Đơn vị: Triệu đồng
Chênh lệch
2011-2012 2012-2013 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)
3.879 4.723 5.055 844 21,75 332 7,02 DPRR đƣợc trích
1.27 1.897 2.615 625 49,14 718 37,85 Nợ đã xử lý rủi ro
3,04 2,48 1,93 (0,56) - (0,55) - Hệ số khả năng bù đắp (lần)
(Nguồn:Báo cáo hoạt động kinh doanh SHB-Phòng giao dịch giai đoạn 2011-2013)
Khi các khoản vay đã được xử lý tức là đã xảy ra thất thoát trong ngân hàng thì hệ số khả năng bù đắp rủi ro này sẽ cho biết ngân hàng có đủ khả năng bù đắp cho số dư nợ đã mất đi bằng dự phòng rủi ro tín dụng hay không. Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy, năm 2011, hệ số khả năng bù đắp rủi ro đối với CVTD là 3,04 lần. Sang đến năm 2012, số dư nợ đã xử lý là 1.897 triệu đồng, DPRR được trích là 4.723 triệu đồng nên hệ số bù đắp rủi ro là 2,48 lần, giảm 0,56 lần so với năm 2011. Nguyên nhân là do nợ xấu năm 2012 tăng nên phòng giao dịch trích lập dự phòng nhiều hơn, dẫn đến hệ số bù đắp giảm hơn so với năm 2011.Tuy nhiên, hệ số này của Phòng giao dịch trong 2 năm khá tốt (đều >1) vì số dư nợ đã xử lý không quá nhiều, nhiều khoản vay ngân hàng tiến hành cơ cấu lại nợ để tạo cơ hội cho khách hàng trả nợ thay vì sử dụng dự phòng để xử lý. Đây là một hành động đúng đắn và kịp thời của phòng giao dịch trước tình hình nợ xấu của ngân hàng gia tăng. Với chính sách xử lý nợ xấu như vậy, nhưng sang năm 2013, hệ số này ở mức 1,93 lần, giảm 0.55 lần, so với năm 2012 là vì đã có những khoản nợ xấu năm 2012 để lại được xử lý trong năm 2013, ngoài ra do tăng lên của khoản nợ xấu và nợ đã xử lý trong năm 2013. So với nợ xấu, nợ quá hạn, nợ đã xử lý rủi ro luôn ở mức cao liên tục tăng. Điều này là do sự quản buông lỏng quản lý trong công tác thanh tra, giám sát, nhất là không kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm qui định vay. Bên cạnh đó, một số cán bộ ngân hàng suy thoái đạo đức nghề nghiệp, cấu kết, móc ngoặc với cá nhân để trục lợi cho bản thân và cho vay không đúng quy định. Việc xử lý rủi ro ảnh hưởng tới nguồn vốn của Phòng giao dịch, làm giảm uy tín và lợi nhuận của ngân hàng. Hệ số bù đắp của Phòng giao dịch ở
55
mức khá cao, tuy nhiên đang có xu hướng giảm.Vì vậy, Phòng giao dịch cần lưu ý vì nó phản ánh trực tiếp sự an toàn, ổn định về vốn cũng như hiệu quả cho vay của Phòng giao dịch. 2.3.2.6. Thu nhập từ CVTD
Ngoài các chỉ tiêu trên, ta cần phải đánh giá về kết quả thu lãi từ hoạt động tín dụng tiêu dùng. Vì lợi nhuận là cái đích hướng đến của mọi tổ chức kinh tế nói chung và của ngân hàng nói riêng. Một khoản cho vay có chất lượng tốt đồng nghĩa khoản vay đó phải đem về lợi nhuận cho ngân hàng. Kết quả thu lãi của SHB Trần Đăng Ninh được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 2.15Thu nhập từ CVTD
Đơn vị: Triệu đồng
Chênh lệch
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chỉ tiêu 2011-2012 2012-2013
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)
8.233 17.606 25.606 9.373 113,84 45,43 8 Thu lãi từ CVTD
20.366 47.315 61.376 26.949 132,32 14.061 29,71 Thu lãi từ cho vay
40,42 37,21 41,71 Tỷ trọng - - - -
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh SHB-Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh giai đoạn 2011-2013)
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng thu được từ hoạt động tín dụng trong tổng thu nhập của ngân hàng. Từ đó thấy được vai trò, vị trí của hoạt động cho vay trong việc tạo ra lợi nhuận. Qua bảng số liệu 2.15, ta thấy thu lãi từ cho vay của phòng giao dịch liên tục tăng qua các năm: Năm 2011, thu lãi từ CVTD là 8.233 triệu đồng, năm 2012 con số này đã tăng 9.373 triệu đồng, tương ứng 113,85 %. Nguyên nhân của sự tăng lên này là do sự gia tăng của doanh số và dư nợ CVTD qua các năm, bên cạnh đó là do công tác thu hồi nợ cũng như chất lượng các khoản vay ngày càng được nâng cao.Tỷ trọng lãi thu được từ CVTD phù hợp với với doanh số cho vay và dư nợ CVTD. Tỷ trọng này tăng lên trong năm 2011 là 40,42 % và năm 2012 giảm còn 37,21%. Điều này thể hiện vai trò CVTD ngày càng được phòng giao dịch coi trọng. Tỷ trọng năm 2012 có phần giảm sút so với năm 2011 là do khoản thu từ các đối tượng khác tăng cao hơn. Phòng giao dịch cần chú trọng cân đối giữa các đối tượng vay khác nhau để nâng cao doanh thu trong thời gian tới.Năm 2013 thu lãi từ CVTD là 25.606 tăng
56
45,43% so với năm 2012 thể hiện chất lượng làm việc của cán bộ nhân viên trong phòng giao dịch ngày càng tốt và chuyên nghiệp hơn.
Những kết quả đạt được trong vòng 3 năm qua là những cố gắng, nỗ lực của toàn thể cán bộ nhân viên tại phòng giao dịch. Nhìn chung thì những kết quả đó cũng khá khả quan, mặc dù trong năm 2012 có sự sụt giảm trong doanh số CVTD do những biến động khó lường của nền kinh tế, đó cũng là xu hướng chung của toàn hệ thống ngân hàng trong cả nước.
2.4. Đánh giá hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội-Phòng
giao dịch Trần Đăng Ninh. 2.4.1. Những kết quả đạt được
Trong những năm vừa qua, có thế nhận thấy hoạt động kinh doanh của các NHTM đang gặp không ít khó khăn, thách thức Tuy nhiên vượt qua nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng vẫn duy trì được tốc độ khá so với nhiều nước trên thế giới, trong đó có SHB cùng với Chi nhánh Tây- phòng giao dịch Trần Đăng Ninh đã không ngừng nỗ lực để giữ vững vị thế, lớn mạnh hơn nữa. Ngân hàng đã tích lũy cho mình một số kết quả nhất định và đáng khích lệ nhằm nâng cao chất lượng đa dạng hóa các sản phẩm và hình thức kinh doanh, đồng thời mở rộng mạng lưới để thỏa mãn nhu cầu của người dân, cùng như mang lợi nhuận cho ngân hàng.
Doanh số cho vay và dư nợ CVTD luôn tăng mạnh qua các năm.Phòng giao dịch đã có bước phát triển vững chắc, dư nợ đã tăng gấp 3 lần qua 2 năm. Đồng thời xu hướng tăng của tỷ trọng dư nợ và doanh số CVTD những năm qua cũng chứng tỏ việc mở rộng hoạt động cho vay với loại hình doanh nghiệp này đã được phòng giao dịch chú trọng phát triển. Số lượng khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng ngày càng tăng. Phòng giao dịch đã kết hợp giữa việc duy trì và củng cố quan hệ hợp tác với các khách hàng cũ, khách hàng chiến lược với việc mở rộng, tìm kiếm khách hàng mới. Đây là thành công bước đầu của phòng giao dịch trong việc thu hút khách hàng mở rộng thị phần. Kết quả thu được là doanh thu và lợi nhuận của phòng giao dịch trong 3 năm đều tăng trưởng, đóng góp tích cực vào thành công chung của toàn NHTMCP Sài Gòn Hà Nội.
Hoạt động cho CVTD của phòng giao dịch có tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn có sự tăng lên các năm nhưng tốc độ tăng này nhỏ hơn nhiều so với tốc độ tăng của dư nợ và luôn thấp hơn mặt bằng chung của SHB cũng như toàn ngành ngân hàng. Điều này cho thấy Ban lãnh đạo phòng giao dịch đã chú trọng và thực hiện sát sao, nâng cao công tác thẩm định, đôn đốc thu hồi nợ và đem lại hiệu quả tích cực.
Việc trích lập dự phòng rủi ro và dùng dự phòng xử lý nợ xấu được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ theo quy định của NHNN góp phần đáng kể vào nâng cao chất 57
lượng nợ, giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong cho vay. Qua đây, ta thấy phòng giao dịch đang quản trị rủi ro khá tốt, mang lại an toàn, hiệu quả kinh doanh của mình.
Cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu CVTD, bên cạnh đó tỷ trọng cho vay ngắn hạn cũng có xu hướng tăng lên. Cơ cấu này dựa vào việc phát huy năng lực của phòng giao dịch kết hợp với việc thích ứng với biến động của nền kinh tế.
Phòng giao dịch đã tuân thủ những kế hoạch định hướng liên quan đến các tiêu chuẩn về rủi ro cũng như chiến lược rủi ro của ngân hàng. Phòng giao dịch đang từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý, giám sát rủi ro của mình.
CVTD góp phần đa dạng hoá danh mục sản phẩm tín dụng, làm phong phú thêm loại hình cho vay, đối tượng cho vay. Từ việc phát triển CVTD nhằm vào các cá nhân và hộ gia đình, phòng giao dịch có thể tạo ra các sản phẩm đi kèm khác như dịch vụ thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng tại nhà, thu hút thêm nhiều khách hàng tiềm năng. Nhờ vậy cũng phân tán được rủi ro vì CVTD có số lượng khách hàng lớn, giá trị mỗi khoản vay nhỏ nên nếu một vài khách hàng có gặp khó khăn trong việc trả nợ thì cũng ít ảnh hưởng lớn đến hoạt động của Phòng giao dịch như trong cho vay các doanh nghiệp.Vì vậy phòng giao dịch cần nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ nhân viên để những sản phẩm được khách hàng đón nhận một cách tốt nhất. 2.4.2. Những tồn tại
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong CVTD, SHB- Phòng giao dịch Trần
Đăng Ninh còn tồn tại những vấn đề sau:
Tỷ lệ nợ xấu của phòng giao dịch có xu hướng tăng từ năm 2011-2013. Tuy là mức nhỏ hơn nhiều so với nhiều phòng giao dịch khác và các NHTM khác nhưng điều này cho thấy công tác phòng ngừa rủi ro CVTD có phòng giao dịch còn nhiều vấn đề đáng chú ý trong điều kiện kinh tế diễn biến phức tạp như hiện nay. Mặc dù doanh số thu nợ khả quan, nhưng phòng giao dịch vẫn còn nhiều khoản nợ tồn đọng, khoản nợ xử lý chậm, nợ quá hạn của CVTD tiến độ xử lý chậm, chất lượng chưa cao.
Tỷ lệ cho vay không có TSĐB của ngân hàng còn cao, điều đáng ngại là tỷ lệ này tăng dần qua các năm, chứng tỏ ngân hàng chưa thực sự chú trọng đến khâu đánh giá TSĐB khi cho vay. Chính vì vậy, đây là dấu hiệu đáng lo ngại của ngân hàng trong công tác cho vay, nó cũng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay tại ngân hàng trong các giai đoạn tiếp theo và vì dù gì thì TSĐB vẫn là công cụ thu nợ cuối cùng khi khách hàng không trả được nợ, và nó gần như là điều kiện bắt buộc khi ngân hàng giải ngân cho khách hàng.
Việc kiểm tra đôn đốc, thu hồi nợchưa thực hiện triệt để. Mặc dù công tác thu hồi nợ của phòng giao dịch đã dần được được cải thiện qua các năm nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Đôi khi trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận 58
trong việc kiểm tra, đôn đốc thu hồi nợ còn chưa rõ rang và bị chồng chéo. Các bộ phận, phòng ban còn thiếu sự liên kết trong việc rà soát, đối chiếu, điều chỉnh và xử lý triệt để các khoản nợ. Công tác tổ chức xác minh khách hàng, nghiên cứu, đánh giá hồ sơ, khai thác đối với tài sản thu nợ đôi khi còn nhiều thiếu sót.
Chưa có phòng chuyên môn nghiên cứu về sản phẩm cá nhân. Để phát triển mạnh và hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân đòi hỏi phòng giao dịch phải có chiến lược cụ thể, đầu tư chú trọng theo chiều sâu vào các sản phẩm cá nhân đang cung cấp. Có một phòng chuyên môn nghiên cứu về sản phẩm cá nhân, đưa ra các dịch vụ mới, quy trình tín dụng cá nhân và định hướng phát triển hoạt động cá nhân cho phòng giao dịch. Như vậy nhiệm vụ trước mắt của phòng giao dịch bây giờ là thành lập bộ máy điều hành, nghiên cứu và thực thi việc phát triển hoạt động tín dụng cá nhân, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng và chú trọng nâng cao trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ về hoạt động này. 2.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại
Nguyên nhân từ phía Ngân hàng
Số lượng nhân lực cho công tác cho vay của phòng giao dịch vẫn còn thiếu. Điều này đã khiến cho tốc độ giải quyết công việc bị hạn chế, ngoài ra còn dễ xảy ra tình trạng sai sót trong quá trình giải quyết thủ tục vay vốn.Năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ phòng giao dịch đã từng bước được nâng cao nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được hoàn toàn yêu cầu công việc. Đa số cán bộ còn trẻ do vậy kinh nghiệm trong việc thu thập và phân tích thông tin khách hàng còn hạn chế.
Việc đánh giá tài sản thế chấp của khách hàng chưa chặt chẽ. Ngân hàng không thực hiện tốt công tác kiểm tra đánh giá đúng giá trị tài sản hoặc giấy tờ hợp pháp mang tính hợp pháp của tài sản thế chấp, coi nhẹ việc thẩm định giá trị tài sản thế chấp. Đến khi khách hàng không trả được nợ ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thu nhập vì muốn phát mại tài sản đó phải có thời gian và các chi phí khác liên quan. Khi Ngân hàng gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.
Công tác marketing ngân hàng còn chưa được coi trọng. Các thông tin về thị trường và khách hàng còn thiếu và không thường xuyên. Do vậy đã khiến ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm và thu hút khách hàng mới.
Quy trình tín dụng của phòng giao dịchtuân theo quy trình chung của toàn hệ thống nên còn rườm rà và nhiều loại giấy tờ. Khi có nhu cầu vay vốn, các khách hàng thường đến Ngân hàng, gặp trực tiếp CBTD, thực hiện các thủ tục vay vốn theo đúng trình tự mà Ngân hàng quy định. Điều này gây mất rất nhiều thời gian cho khách hàng để có thể hoàn thiện hồ sơ theo đúng yêu cầu của Ngân hàng. Như vậy, nếu quy trình,
59
thủ tục cho vay đơn giản hơn, thuận tiện hơn, gây tốn ít thời gian hơn thì chắc chắn sẽ có nhiều khách hàng là cá nhân đến và sử dụng sản phẩm CVTD của Ngân hàng.
Nguyên nhân từ phía khách hàng
Tâm lý của người dân thường là tích lũy đủ mới tiêu dùng, nếu thiếu thì vay anh em, họ hàng, bạn bè chứ ít khi nghĩ đến vay ngân hàng. Họ rất ái ngại việc ngay ngân hàng, sợ mọi người biết mình đi vay nên che dấu những người xung quanh. Hơn nữa, quan điểm của những người xung quanh đối với bất động sản thế chấp là do làm ăn không tốt nên mới phải thế chấp nhà để vay ngân hàng.
Hiểu biết của người dân về ngân hàng còn thấp, họ cho rằng thủ tục vay vốn ngân hàng rất phức tạp, thủ tục rườm rà, họ chưa hiểu được đối với ngân hàng thì họ là khách hàng, điều này xuất phát từ cách làm của các NHTM nhà nước trước đây để lại, vì vậy họ sẵn sàng vay tư nhân với lãi suất cao gấp nhiều lần nhưng rất nhanh chóng, đơn giản.
Những khách hàng có trình độ và có năng lực tài chính mạnh thường đòi hỏi cao về chất lượng dịch vụ. Nếu CBTD không có kinh nghiệm thẩm định và sự phối hợp giữa các bộ phận của ngân hàng không tốt thì dễ làm khách hàng phật lòng. Những khách hàng này luôn có nhu cầu giảm thiểu thủ tục, được đáp ứng nhanh nhưng lại không chịu cung cấp thông tin, gây khó khăn cho việc thẩm định và ra quyết định tín dụng của ngân hàng.
Sự hiểu biết về các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng nói chung và sản phẩm tín dụng cá nhân của Ngân hàng nói riêng của người dân vẫn còn thấp. Nhiều người vẫn coi sử dụng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là một thứ khó tiếp cận. Người dân còn có tâm lý tiết kiệm, thói quen tiêu dùng bằng tiền đi vay vẫn chỉ tồn tại ở một bộ phận nhỏ dân cư. Tâm lý này cản trở rất lớn tới việc xâm nhập và mở rộng thị trường của ngân hàng.
Nguyên nhân khác
Cuộc khủng hoảng kinh tế vài năm trở lại đây đã ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng và khách hàng, ảnh hưởng đến thu nhập của người dân, gây khó khăn cho hoạt động của ngân hàng nói chung CVTD nói riêng. Mặc dù tiêu dùng trong dân cư là rất lớn nhưng sự thiếu ổn định của kinh tế đã gây e ngại cho người dân hạn chế khả năng mở rộng CVTD của ngân hàng. Khách hàng không thể trả nợ gốc và lãi đúng hạn trong ngân hàng,qua đó ảnh hưởng rất lớn đến khách hàng.Bên cạnh đó mặt bằng lãi suất vẫn còn cao nhiều trường hợp không dám vay ngân hàng vì không có nguồn để trả nợ,điều đó ảnh hưởng nhiều đến doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng.
Do càng ngày càng có nhiều ngân hàng ra đời, nên sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Các ngân hàng này cũng đang trong giai đoạn hoàn thiện và nâng cao chất
60
lượng các sản phẩm và dịch vụ của chính mình nên mỗi ngân hàng đều nỗ lực trong việc đưa ra những lợi thế so sánh và những ưu điểm khác nhằm tạo ra khả năng cạnh tranh tốt nhất trên thị trường. Và đặc biệt là trong hoạt động CVTD, đối với các ngân hàng thì nó vẫn đang còn khá mới mẻ, được coi là một thì trương mới và đầy tiềm năng trong tương lai .
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 Nội dung chương 2 đã cho thấy cái nhìn tổng quan về lịch sử hình thành cũng như cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội– Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh. Bên cạnh đó Chương 2 đã đưa ra các số liệu về tình hình hoạt động kinh doanh cũng như thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân trong giai đoạn từ năm 2011 – 2013 đồng thời nêu lên những mặt còn hạn chế, khó khăn trong hoạt động tín dụng cá nhân tại Phòng giao dịch. Những đánh giá, phân tích trong Chương 2 cũng là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế hoạt động TDCN tại SHB – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh được thể hiện trong chương 3 tiếp theo.
61
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN HÀ NỘI- PHÒNG GIAO DỊCH TRẦN ĐĂNG NINH 3.1. Định hƣớng hoạt động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội trong những
năm tới
3.1.1. .Nhu cầu cho vay tiêu dùng trong thời gian tới
Nhìn chung, trong những năm gần đây, mức sốngcủa người tiêu dùng đã được cải thiện đáng kể, hoà mình với xu hướng chung của khu vực và thế giới, nhu cầu tiêu dùng tại Việt Nam đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Xu hướng tích luỹ của cải đến một mức nhất định để chi cho các nhu cầu tiêu dùng có chi phí đắt đã dần thay đổi.Thêm vào đó người tiêu dùng đã dần quen với môi trường thanh toán hiện đại và các dịch vụ tài chính NH tiện ích.Nhu cầu vay vốn NH để chi cho tiêu dùng trở thành một nhu cầu tất yếu. Trong khi đó, lĩnh vực cho vay kinh doanh của các NH đang ngày một trở nên khó khăn do áp lực cạnh tranh, CVTD trở thành thị trường tiềm năng cho các NH nhằm đa dạng hoá đầu tư. Hoạt động vay tiêu dùng đang được hưởng những lợi ích nhất định mà các NH mang lại, nhu cầu vay tiêu dùng qua đó ngày càng tăng cao. Để đáp ứng nhu cầu đó, các NHTM nói chung và chi nhánh nói riêng cần cải thiện chất lượng CVTD, qua đó thu hút được nhiều KH hơn.
Quận Cầu Giấy là khu vực kinh tế của thủ đô, lĩnh vực tài chính ngân hàng nói chung và CVTD nói riêng có rất nhiều triển vọng phát triển. Khu vực dân cư tại quận Cầu Giấy có mức sống trung bình cao, nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt là nhu cầu mua hàng hoá có chi phí đắt là rất lớn. Trước tình hình đó, phòng giao dịch cần phải có định hướng nâng cao chất lượngCVTD để nắm lấy thời cơ, thu hút thêm nhiều KH, tăng lợi nhuận, tạo điều kiện cho sự phát triển vững chắc của phòng giao dịch trong tương lai. 3.1.2. Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của SHB- Phòng giao
dịch Trần Đăng Ninh
Về chất lượng khoản vay: phòng giao dịch Trần Đăng Ninh luôn xác định chất lượng của khoản vay là tiêu chí hàng đầu khi xét duyệt cho vay cho nên Ngân hàng tập trung vào các khoản vay mà người vay có mức thu nhập cao, ổn định, đã có quan hệ tốt với Ngân hàng.
Về chất lượng dịch vụ: phòng giao dịch cố gắng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, tạo quan hệ bền vững với khách hàng trong quan hệ tín dụng. Đây là một nhân tố rất quan trọng giúp cho phòng giao dịch nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Do hoạt động CVTD rất ít có sự chênh lệch về lãi vay, khách hàng lựa chọn Ngân hàng để vay chủ yếu dựa vào uy tín thương hiệu, chất lượng dịch vụ và các mối quan hệ trước đó. Bên cạnh đó, phong cách phục vụ đối với khách hàng của các CBTD
62
cũng phải được cải thiện dựa trên những cải tiến cơ bản về quy trình cho vay, cách giao tiếp với khách hàng…
Về Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Ngân hàng: luôn tìm kiếm những cán bộ mới có năng lực và trình độ cao; tiến hành đào tạo, bồi dưỡng cho các nhân viên mới còn ít kinh nghiệm; có chính sách đãi ngộ tốt hơn về lương, thưởng với các nhân viên giàu kinh nghiệm, có đóng góp lớn cho phòng giao dịch. Đây chính là động lực đổi mới của Ngân hàng trong thời gian tới.
Về chính sách khách hàng: trong thời gian tới, hàng loạt các khu đô thị, chung cư mới sẽ được xây mới trên địa bàn nên phòng giao dịch sẽ tiếp tục phát triển các nhóm khách hàng dân cư tại đây, đặc biệt là nhóm khách hàng có thu nhập từ trung bình khá trở lên, trẻ tuổi và thành đạt. Ngoài ra, cần phát triển hơn nữa các sản phẩm tín dụng tiêu dùng hiện có, trong đó chú trọng đặc biệt vào hoạt động tài trợ mua nhà chung cư, sửa chữa nhà và mua ô tô trả góp. 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại NHTM cổ phần Sài Gòn
Hà Nội- Phòng giao dịch Trần Đang Ninh
3.2.1. Tăng cường công tác huy động vốn
Công tác huy động vốn của phòng giao dịch có hiệu quả tuy nhiên vòng quay vốn lại không tốt vẫn khá thấp so với trung bình ngành. Bên cạnh đó chênh lệch giữa huy động vốn không kỳ hạn và có kỳ hạn có xu hướng biến động qua các năm, nguồn vốn vẫn chưa có sự ổn định. Chính vì vậy đểtăng vòng quay vốn phòng giao dịch cần trú trọng hơn trong công tác huy động vốn. Nguồn vốn dồi dào chính là điều kiện hàng đầu để phòng giao dịch có thể nâng cao chất lượng CVTD. Để làm được điều này, phòng giao dịch cần có các biện pháp cụ thể như sau:
Đa dạng hoá các hình thức huy động: đặc biệt là các hình thức huy động tiền gửi. Đối với tiền gửi thanh toán, phòng giao dịch có thể phát hành nhiều loại thẻ khác nhau, phù hợp với nhu cầu phong phú của khách hàng. Còn đối với tiền gửi tiết kiệm, các loại hình tiền gửi với kỳ hạn, lãi suất khác nhau sẽ đem đến cho khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn. Từ đó khách hàng sẽ có tâm lý thoải mái bởi họ có thể chủ động lựa chọn hình thức gửi tiền phù hợp nhất trong số rất nhiều sản phẩm huy động mà phòng giao dịch đưa ra.
Tăng tính hấp dẫn của các hình thức huy động tiền gửi: đối với tiền gửi thanh toán, phòng giao dịch cần đem đến cho khách hàng nhiều tiện ích hơn khi sử dụng thẻ thanh toán hoặc dịch vụ thanh toán của phòng giao dịch. Đối với tiền gửi tiết kiệm, phòng giao dịch có thể tăng tính hấp dẫn của hình thức huy động này bằng cách tăng lãi suất, áp dụng lãi suất bù lạm phát hay lãi suất bậc thang… Ngoài ra, các hình thức khuyến mại như bốc thăm trúng thưởng, quà tặng… dành cho khách hàng khi họ mở tài khoản thanh toán hoặc khi gửi tiền cũng rất cần thiết.
63
Nâng cao chất lượng sản phẩm huy động tiền gửi:các sản phẩm huy động tiền gửi có đặc điểm là chất lượng của nó phụ thuộc nhiều vào phong cách phục vụ của những người cung cấp nó, mà cụ thể là nhân viên giao dịch. Một khi khách hàng có ấn tượng xấu về nhân viên giao dịch, họ cũng có ấn tượng không tốt về ngân hàng nơi nhân viên đó làm việc và ấn tượng này rất khó thay đổi. Bởi vậy, ngoài kỹ năng nghề nghiệp tốt, nhân viên giao dịch của ngân hàng cần phải có kỹ năng giao tiếp tốt, có tác phong phục vụ chuyên nghiệp… Nhờ đó, hình ảnh về phòng giao dịch trong lòng khách hàng sẽ là một hình ảnh đẹp. Những người gửi tiền sẽ trở thành khách hàng trung thành của phòng giao dịch. Điều này không những làm tăng vốn cho phòng giao dịch mà còn giúp huy động được những nguồn ổn định hơn. Bên cạnh yếu tố con người, yếu tố công nghệ cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng của sản phẩm huy động tiền gửi. Máy móc công nghệ lạc hậu sẽ gây phiền hà cho khách hàng, đặc biệt là các khách hàng sử dụng thẻ thanh toán hay các dịch vụ thanh toán khác. Bởi vậy, phòng giao dịch cần đầu tư, hiện đại hoá máy móc và công nghệ để các sản phẩm dịch vụ mà chi nhánh cung cấp có chất lượng ngày càng cao hơn.
Tăng cường huy động vốn trung và dài hạn: Bằng việc đưa ra lãi suất hấp dẫn cho các khoản tiền gửi trung dài hạn, phát hành thêm nhiều giấy tờ có giá dài hạn, phòng giao dịch có thể gia tăng nhanh chóng nguồn vốn trung dài hạn của mình. Nguồn vốn trung dài hạn tăng lên chính là điều kiện để phòng giao dịch nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn đối với CVTD. 3.2.2. Đa dạng hóa các loại hình cho vay tiêu dùng
Thực hiện đa dạng hoá các loại hình sản phẩm, dịch vụ CVTD là hoạt động quan trọng đối với phòng giao dịch SHB. Bởi lẽ nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân, hộ gia đình là rất phong phú không chỉ vay để mua nhà đất, sửa chữa nhà cửa, vay mua ô tô mà còn vay để thanh toán hàng hoá - dịch vụ, để mua sắm đồ dùng sinh hoạt gia đình hoặc là nhu cầu tài trợ du học, khám chữa bệnh… Tuy nhiên phòng giao dịch mới chỉ chú trọng đến những nhu cầu mua nhà đất, mua sắm đồ dùng sinh hoạt, phương tiện đi lại và xây sửa nhà cửa là chủ yếu, trong khi các nhu cầu khác như: học hành, chữa bệnh, du lịch, hay các nhu cầu tiêu dùng tiện ích khác vẫn chưa được quan tâm. Phòng giao dịch cần chú trọng mở rộng thêm các loại hình sản phẩm mới, cải thiện chất lượng các sản phẩm cũ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Có như vậy phòng giao dịch mới có thể thu hút thêm khách hàng, tăng sức cạnh tranh giữa các ngân hàng trong cùng địa bàn, phục vụ mục đích nâng cao chất lượng CVTD.
Tuy nhiên để thực hiện việc đó không phải dễ dàng, số lượng khách hàng có nhu cầu trên thường ít hơn các loại hình truyền thống. Phòng giao dịch nên chủ động tiếp cận với những khách hàng này thông qua hoạt động Marketing quảng bá sản phẩm mới.Bên cạnh đó phòng giao dịch vẫn phải duy trì và phát triển các hình thức dịch vụ
64
đã có như cho vay mua nhà đất, sửa chữa nhà cửa và cho vay mua ô tô vì nhu cầu này của người tiêu dùng hiện vẫn đang hết sức lớn. 3.2.3. Xây dựng chính sách khách hàng theo hướng cởi mở hơn đối với khách
hàng vay tiêu dùng Hiện nay chính sách tín dụng đối với khách hàng vay tiêu dùng của phòng giao dịch còn khá khắt khe, người tiêu dùng khó vay được vốn và việc nâng cao chất lượng CVTD gặp nhiều trở ngại. Vì vậy, việc điều chỉnh chính sách tín dụng theo hướng mềm dẻo, cởi mở hơn với các khoản vay tiêu dùng là rất cần thiết.
Hiện tại, đối tượng chủ yếu mà phòng giao dịch đang CVTD là những cá nhân có tài sản bảo đảm và công nhân viên chức nhà nước có thu nhập ổn định đảm bảo trả được nợ vay.Tuy nhiên những khách hàng thường xuyên này lại chỉ chiếm một phần nhỏ trong dân cư. Trong khi đó ở địa bàn thành phố Hà Nội, và địa bàn quận Cầu Giấy những người có nhu cầu vay tiêu dùng như buôn bán nhỏ, rồi các sinh viên mới ra trường đang làm việc cho các công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty nước ngoài rất đông đảo. Họ cũng có thu nhập ổn định và khả năng thanh toán cao. Đây chính là nguồn khách hàng tiềm năng màphòng giao dịch cần có chính sách để khai thác, chất lượng CVTD đối với các khác hàng này còn hạn chế.Phòng giao dịch cần cải thiện chất lượng các sản phẩm vay tiêu dùng cũ và cung cấp các sản phẩm chất lượng cao mới đối với đối tượng khách hàng trên.
Về lãi suất tại phòng giao dịch hiện nay, lãi suất đối với các món vay tiêu dùng thường cao hơn so với cho vay sản xuất kinh doanh khoảng 2% một năm.Tuy rằng các khoản vay tiêu dùng có rủi ro cao hơn nhưng nó không thật phù hợp với thực tế vì mục đích của vay tiêu dùng là chi tiêu, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của người vay chứ không phải vay để sinh lãi. Do vậy, phòng giao dịch cần áp dụng mức lãi suất đa dạng cho từng loại khách hàng, để tạo nên sự hài hoà cân đối giữa lợi ích ngân hàng và lợi ích khách hàng. Cụ thể, phòng giao dịch cần xây dựng chính sách lãi suất linh hoạt theo đối tượng vay vốn: với các khách hàng quen thuộc, có uy tín ,phòng giao dịch có thế áp dụng mức lãi suất ưu đãi. Điều đó củng cố mối quan hệ lâu dài với khách hàng, vừa khuyến khích cho khách hàng tăng cường mối quan hệ với, phòng giao dịch, vừa tích cực làm ăn có hiệu quả, trả nợ lãi và gốc đúng hạn cho ngân hàng. Còn đối với các món vay có độ rủi ro cao thì sẽ áp dụng mức lãi suất cao hơn…
Đối với phương thức thu hồi nợ gốc và lãi, tại phòng giao dịch hiện nay vẫn áp dụng phương thức trả định kỳ theo kỳ hạn nợ. Tuy nhiên đối với một số người buôn bán kinh doanh, nguồn thu chỉ phát sinh không đều đặn, phương thức này lại gây ra khó khăn cho họ khi kỳ trả nợ đến. Hoặc đối với những người có thu nhập không trùng với kỳ hạn trả nợ, việc trả lãi định kỳ sẽ rất khó khăn.
65
Để giải quyết khó khăn này,phòng giao dịch có thể xem xét giải pháp về CVTD thông qua người đại diện. Người đại diện trong phương thức cho vay này thường là người ở đơn vị có cán bộ nhân viên vay vốn, có trách nhiệm tập hợp các hồ sơ xin vay, tiến hành thu nợ gốc và lãi của người xin vay. Để đảm bảo quyền lợi của người đại diện nhằm khuyến khích họ làm tốt trách nhiệm được giao, nên có một số ưu đãi như: hàng kỳ trích thưởng theo % số lãi thực thu và hỗ trợ tiền đi lại khi đến kỳ trả nợ. Tuy nhiên ngân hàng cũng cần lưu ý về trách nhiệm của người đại diện theo hình thức cho vay này. Nếu ngân hàng không có sự giám sát và kiểm tra chặt chẽ thì có thể dẫn đến tình trạng người đại diện lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tiền trả nợ của người vay, gây ảnh hưởng đến việc cho vay và thu nợ.Chính vì vậy mà việc xác định rõ quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên tham gia rất quan trọng và cần phải được xem xét kỹ càng. Giải pháp thông qua người đại diện giúp phòng giao dịch nâng cao chất lượng khoản vay, dễ dàng hơn trong công tác thu lãi, thu hút thêm nhiều đối tượng khách hàng tại cùng địa điểm, thông qua đó, hỗ trợ hoạt động nâng cao chất lượng CVTD tại phòng giao dịch. 3.2.4. Xử lí dứt điểm nợ quá hạn, nợ xấu
Phòng giao dịch hiện đang áp dụng các loại hình CVTD thu theo nhiều kỳ hạn. Do vậy, nhân viên phòng giao dịch có trách nhiệm phải theo dõi lịch trả nợ, thường xuyên có thông tin qua lại giữa nhân viên kế toán và nhân viên tín dụng. Tuy nhiên, do những nguyên nhân khác nhau, khách hàng có thể không thực hiện đúng lịch trả nợ thì chi nhánh phải có những thông báo, biện pháp kịp thời.
Trong công tác thu nợ cần chú ý tới những những khoản vay đã quá hạn và khoản vay chưa đến hạn nhưng khách hàng có nguy cơ không trả được nợ do mất khả năng thanh toán, do thua lỗ hoặc do có biểu hiện vi phạm pháp luật. Để đảm bảo hoạt động bình thường với một mức độ rủi ro cho phép,phòng giao dịch phải quy định chặt chẽ quy trình xử lý nợ quá hạn: khai thác những khoản nợ còn khả năng thu hồi và thanh lý những khoản nợ không còn khả năng thu hồi.
Khi thấy dấu hiệu của nợ có vấn đề, phòng giao dịch cần tiến hành ngay các biện pháp cần thiết như: điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc, nợ lãi, gia hạn nợ, nhận thêm tài sản bảo đảm…Ngoài ra, phòng giao dịch cần phải động viên thuyết phục khách hàng ý thức được trách nhiệm và có sự cố gắng trong việc thanh toán số nợ đã quá hạn cho phòng giao dịch.
Bên cạnh đó, để giải quyết nợ có vấn đề đạt hiệu quả, phòng giao dịch nên tăng cường sự gắn bó với chính quyền sở tại, các cơ quan chức năng thông qua hình thức như hội nghị khách hàng, tổng kết hoạt động kinh doanh...đồng thời phải lập bộ phận xử lý nợ có vấn đề bao gồm những người có chuyên môn, nghiệp vụ cao, vừa thông
66
hiểu pháp luật, vừa nhạy bén trong kinh doanh và có kinh nghiệm để giúp cho công tác thu hồi nợ được tốt hơn. 3.2.5. Hiện đại hoá ngân hàng
Hiện nay trụ sở phòng giao dịch còn chật hẹp, cơ sở vật chất đầu tư còn chưa tương xứng với tầm vóc vị thế của ngân hàng do vậy nên hạn chế việc quảng bá hình ảnh thương hiệu của SHB trên địa bàn. Phòng giao dịch lại chưa có phòng chuyên môn, chuyên nghiên cứu và triển khai các sản phẩm tín dụng cá nhân. Đổi mới hiện đại hoá ngân hàng là yêu cầu cấp thiết của các ngân hàng hiện nay nếu họ muốn tồn tại và phát triển. Đối với NHTM, công nghệ thông tin đã trở thành công cụ quan trọng trong quản lý, kinh doanh bảo đảm an toàn và hiệu quả: Quản lý khách hàng, kiểm soát tốt nguồn vốn, mở rộng và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ hiện đại… Nhiều lĩnh vực và nghiệp vụ ngân hàng đã được ứng dụng công nghệ mới rộng hơn, sâu hơn và theo xu hướng tự động hoá. Bên cạnh đó, việc khách hàng đến giao dịch với những phòng giao dịch có trang thiết bị hiện đại sẽ tạo niềm tin vào sự an toàn thuận tiện khi giao dịch cho khách hàng. Điều đó sẽ giúp phòng giao dịch nâng cao hình ảnh của mình.
Tuy nhiên, công nghệ thông tin thay đổi rất nhanh. Vì vậy, các dịch vụ ngân hàng công nghệ cao cũng phải luôn đổi mới, đa dạng cho phù hợp với sự thay đổi đó. SHB- Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh cần hiện đại hoá cơ sở vật chất, công nghệ, phát triển ứng dụng công nghệ thông tin ngân hàng phải bảo đảm an ninh, bảo mật, an toàn cơ sở dữ liệu ngân hàng và tham gia quản lý tốt rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Công tác an ninh bảo mật, an toàn cơ sở dữ liệu ngân hàng phải được đảm bảo tuyệt đối, bởi đó là tài sản, tiền bạc của Nhà nước, của doanh nghiệp và của khách hàng. Vì vậy, thực hiện tốt công tác an ninh bảo mật cho các dịch vụ ngân hàng là bảo vệ quyền lợi của khách hàng và cũng là bảo vệ ngân hàng. 3.2.6. Đẩy mạnh hoạt động Marketing ngân hàng
Hiện nay sự cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng đang diễn ra rất gay gắt. Thông qua hoạt động marketing các NHTM phải chủ động tìm hiểu nhu cầu của thị trường, tìm đến khách hàng và lôi kéo họ về phía mình. Hoạt động marketing có ý nghĩa quyết định tới số lượng khách hàng cũng như sự trung thành của họ đối với NH. Chính vì lẽ đó, để nâng cao chất lượng CVTD, phòng giao dịch cần phải tăng cường hoạt động marketing, tập trung vào đối tượng khách hàng tiềm năng. Nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động này là xác định được nhu cầu, mong muốn của KH có nhu cầu vay tiêu dùng và cách thức đáp ứng nhu cầu đó một cách hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh của phòng giao dịch. Trong chiến lược marketing hiện nay của phòng giao dịch thì chiến lược quảng bá hình ảnh thương hiệu chưa được chú trọng đúng mức. Để khắc phục điều này,phòng giao dịch cần thực hiện một số biện pháp như sau:
67
Tổ chức họp báo và hội nghị khách hàng để giới thiệu về định hướng nâng cao chất lượng CVTD của mình. Tại đây, những thông tin về các sản phẩm hiện có, kế hoạch triển khai sản phẩm chất lượng cao mới sẽ được phòng giao dịch cung cấp cho báo chí và khách hàng. Đồng thời, phòng giao dịch thu thập ý kiến phản hồi, giải đáp những thắc mắc của khách hàng khi vay vốn tại phòng giao dịch. Đây là biện pháp rất hiệu quả để phòng giao dịch và khách hàng hiểu biết sâu sắc hơn về nhau, giúp cho quan hệ tín dụng giữa hai bên được mở rộng và bền chặt hơn.
Sử dụng các phương tiện truyền thông như truyền hình, báo chí, Internet… để giới thiệu về chi nhánh và các chính sách ưu đãi dành cho khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng, quảng cáo về các sản phẩm mới, đặc biệt là các sản phẩm sắp tung ra thị trường. Biện pháp này không những giúp cho hình ảnh của phòng giao dịch trở nên phổ biến hơn mà còn giúp truyền thông điệp đầy thiện chí từ phòng giao dịch đến với khách hàng.
Tài trợ cho các sự kiện tiêu biểu nhằm thu hút sự chú ý của người tiêu dùng. Tất cả những sự kiện thu hút được sự chú ý của xã hội đều nên được tận dụng để làm cho thương hiệu phòng giao dịch trở nên quen thuộc hơn. Tuy nhiên, phòng giao dịch cũng cần có sự lựa chọn khi tài trợ, tránh tài trợ cho các sự kiện không phù hợp với hoạt động NH, không xứng đáng với vị thế của phòng giao dịch ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội.
Chủ động tìm kiếm khách hàng mới. Chi nhánh có thể tổ chức họp báo giới thiệu sản phẩm hoặc tổ chức sự kiện quảng bá sản phẩm mới, hướng dẫn, tư vấn khách hàng trong việc lựa chọn sản phẩm dịch vụ phù hợp với họ. Đây là biện pháp trực tiếp làm tăng số lượng khách hàng vay vốn tại phòng giao dịch, qua đó nâng cao chất lượng CVTD.
Bên cạnh việc chú trọng tạo dựng quan hệ với KH mới, phòng giao dịch không nên sao lãng việc duy trì và phát triển quan hệ với KH cũ. Bộ phận chăm sóc KH phải liên tục thu thập thông tin phản hồi từ KH để có sự điều chỉnh hợp lý về sản phẩm. Bộ phận marketing phải nghiên cứu đưa ra những chương trình khuyến mại, những chính sách ưu đãi dành cho KH vay tiêu dùng để khuyến khích họ tiếp tục vay vốn tại phòng giao dịch.
Bên cạnh chiến lược quảng bá thương hiệu thì chiến lược sản phẩm cũng cần phải được phòng giao dịch quan tâm nhiều hơn. Hiện nay, các sản phẩm tín dụng của phòng giao dịch khá đa dạng song không có nhiều khác biệt so với các sản phẩm dịch vụ mà những NHTM khác đang cung cấp. Điều đó tạo ra tâm lý quen thuộc của KH là dù đến các NH khác nhau, họ cũng nhận được những loại hình dịch vụ như nhau, với chất lượng đồng đều. Bởi vậy, để nâng cao chất lượngCVTD, phòng giao dịch phải nắm bắt kịp thời nhu cầu của thị trường, đa dạng hoá danh mục tín dụng để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của KH. Hơn thế nữa, phòng giao dịch cần phải tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của mình, bằng các dịch vụ tiện ích kèm theo, bằng phong cách phục vụ
68
tận tình, chuyên nghiệp. Điều này sẽ tạo ra dấu ấn riêng cho các sản phẩm dịch vụ của phòng giao dịch. Một mặt hoàn thiện các sản phẩm của mình, mặt khác, chi nhánh cần phải tìm hiểu xem các NH đối thủ đang triển khai dịch vụ gì, chất lượng ra sao và dịch vụ mới nào sắp được họ tung ra thị trường. Từ đó, phòng giao dịch có những động thái đáp lại để có thể cạnh tranh với các NH khác trong việc thu hút KH về phía mình.
Tất cả những biện pháp trên, từ việc nghiên cứu môi trường kinh doanh đến quảng bá thương hiệu đều phải được phòng giao dịch thực hiện đều đặn, thường xuyên hoặc định kỳ. Hoạt động marketing của phòng giao dịch không những được tăng cường về quy mô và còn được nâng cao về chất lượng. Nhờ đó việc nâng cao chất lượng CVTD mới được thực hiện dễ dàng và hiệu quả. 3.3. Kiến nghị 3.3.1. Kiến nghị với chính phủ và các cơ quan thẩm quyền có liên quan
Tiếp tục hoàn thiện luật ngân hàng Tại hội nghị Quốc hội khóa X, đã tiến hành thông qua hai bộ luật: Luật NHNN Việt Nam và luật các tổ chức tín dụng. Có thể nói rằng sự ra đời của hai bộ luật trên cùng với sự điều tiết của luật ngân sách, luật công ty, luật doanh nghiệp Nhà nước, luật thương mại… sẽ đảm bảo được tính đồng bộ của cơ chế tài chính tiền tệ quốc gia, thay thế cho hai pháp lệnh Ngân hàng là pháp lệnh NHNN và pháp lệnh hợp tác xã, tổ chức tín dụng và công ty tài chính đã bộc lộ nhiều bất cập trong việc điều hành cũng như thực thi có hiệu quả trong điều kiện hệ thống ngân hàng nước ta đang từng bước chuyển đổi hòa nhập chung với hệ thống ngân hàng các nước trong khu vực và trên thế giới.
Trong khi đó, mọi hoạt động tiền tệ tín dụng và kể cả các định chế hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng đòi hỏi phải hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật, làm cho mọi hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng được kiểm soát chặt chẽ. Chỉ có như vậy, tất cả các nguồn vốn của quốc gia được tập trung đẩy đủ và thỏa đáng, lợi ích của các thành phần kinh tế mới được bảo vệ một cách đúng đắn. Nếu như không có hệ thống luật pháp quy định rõ về thao tác nghiệp vụ, nội dung, tính chất hoạt động của tất cả các đối tượng hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng thì có thể các đơn vị kinh tế không có chức năng tín dụng cũng sẽ thực hiện hoạt động huy động vốn. Điều này dẫn đến tình trạng nguồn vốn huy động được bị phân tán, không thể tập trung hoàn toàn vào các định chế ngân hàng và do đó các ngân hàng cũng không thể có sự phối hợp kịp thời và hợp lý, từ đó rủi ro cho người gửi tiền là rất có thể xảy ra gây khó khăn cho công tác huy động vốn cũng như công tác đầu tư, cho vay theo đúng định hướng của nền kinh tế.
Chính phủ cần quản lý tốt các nhân tố vĩ mô trong đó quan trọng nhất là kiềm chế lạm phát ở mức thấp để mọi tài sản dù thể hiện bất kỳ hình thức nào cũng đều
69
được sử dụng vào mục tiêu kinh tế, đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời hợp lý trong mọi hoạt động đầu tư. Chính phủ cần sớm ban hành đủ luật và chỉnh sửa các luật đã công bố, tạo lập môi trường pháp lý quan trọng cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Đồng thời xây dựng đồng bộ các luật có liên quan, các văn bản hướng dẫn luật để đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng ngân hàng. Từ đó các NHTM cổ phần có điều kiện đẩy mạnh các hoạt động thu hút vốn và phân phối vốn cho nền kinh tế. Mọi hoạt động tiền tệ tín dụng và kể cả các định chế hoạt động trong lĩnh vực tín dụng đòi hỏi phải hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật, làm cho mọi hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và ngân hàng được kiểm soát chặt chẽ.Chính phủ cần hoàn thiện luật ngân hàng, nhà nước cần ban hành luật tạo cơ sở cho việc thanh toán điện tử, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc huy động vốn.
Chính sách tiền tệ: Chính phủ cần khuyến khích tiết kiệm, tránh chi tiêu lãng phí, tập trung vốn nhàn rỗi vào đầu tư cho sản xuất kinh doanh, tạo nguồn vốn tích lũy trong nước thông qua thực hiện cơ chế lãi suất dương có lợi cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp. Có biện pháp cụ thể kiên quyết ngăn chặn, xóa bỏ các tổ chức cá nhân kinh doanh tiền tệ, tín dụng trái phép dưới mọi hình thức, vì điều này làm ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô: Môi trường kinh tế vĩ mô ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của mọi chủ thể kinh tế, đặc biệt là với hoạt động ngân hàng đối với đối tượng khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế thuộc các địa bàn trên toàn quốc. Môi trường kinh tế vĩ mô có thể tạo điều kiện thuận lợi nhưng cũng có thể cản trở, hạn chế công tác huy động vốn của ngân hàng. Việc người dân còn sử dụng một lượng tiền nhàn rỗi lớn để mua vàng, ngoại tệ, bất động sản cũng một phần là hậu quả của sự thiếu tin tưởng và khả năng ổn định kinh tế, ổn định kinh tế là điều kiện hết sức quan trọng để thực thi có hiệu quả các giải pháp nhằm tăng cường huy động các nguồn vốn cho các ngân hàng TMCP. 3.3.2. Kiến nghị với NHNN
Với chức năng là cơ quan quản lý các NHTM, có tầm quan trọng rất lớn các chiến lược huy động vốn của các ngân hàng, đồng thời cũng định hướng cho các NHTM trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn hiện nay. Chính sách hợp lý và cách thức điều hành đúng đắn sẽ là tiền tề có tác động tích cực đối với công tác huy động vốn của các NHTM.
Kinh nghiệm thực tế các năm qua đã cho thấy, bằng các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, giữ tỷ giá hối đoái ổn định và tạo ra hệ thống ngân hàng ngày càng vững mạnh đã và đang có ảnh hưởng rất lớn đến việc huy động vốn của các NHTM. Tuy nhiên trong quá trình điều hành và tổ chức thực hiện các chính sách tiền
70
tệ, NHNN cần tiếp tục hoàn thiện và khắc phục những thiếu sót.NHNN cần xây dựng và điều hành một chính sách tiền tệ hợp lý nhằm khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng. Chính sách tiền tệ phải đảm bảo theo sát với tín hiệu của thị trường, các can thiệp của NHNN phải thông qua thị trường bằng các hệ thống công cụ tiền tệ gián tiếp như: thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu. Nếu sự quản lý của NHNN quá chặt chẽ đôi khi vượt sự cần thiết thì sẽ gây khó khăn cho sự hoạt động của các NHTM. Trong thời gian tới, NHNN cần thực hiện:
Tiếp tục kiềm chế lạm phát, giữ vững lạm phát dưới hai con số, ổn định giá trị đồng nội tệ. Trong năm 2012 và đầu năm 2013 tình trạng lạm phát liên tục diễn ra làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế, nguồn vốn huy động của các ngân hàng được sử dụng không nhiều, có nhiều NHTM ứ động nhiều vốn không cho vay được làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng: một mặt các ngân hàng phải trang trải nguồn chi phí huy động, một mặt phải tìm mọi cách để tránh tình trạng nguồn vốn bị đóng băng. Lạm phát sẽ kìm hãm sự tăng trưởng, làm cho nền kinh tế trì trệ, kém phát triển. Hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó.
Trong thời gian tới NHNN phải tìm cách giúp đỡ các NHTM tìm cách phá vỡ tảng băng ứ đọng vốn, một nguyên nhân làm cho nguồn vốn này không giải ngân được là do lãi suất còn quá cao đối với các doanh nghiệp vay vốn. Khi mà nền kinh tế gặp khó khăn, các doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng đó thì việc hạ lãi suất khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn để bứt phá khỏi sự trì truệ là điều hết sức quan trọng, nó sẽ góp phần khơi thông nền kinh tế. Các NHTM lại tiếp tục công tác huy động vốn để chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo của sự phát triển.
Qua các số liệu đã phân tích ở chương 2, ta thấy tiền gửi không kỳ hạn của dân cư là khá cao.Thông thường ở các nước phát triển thì loại tiền gửi này chỉ nhằm mục đích giúp cho các khách hàng thanh toán tiền mua hàng hóa và dịch vụ được thuận tiện mà ngân hàng không phải trả một đồng lãi suất nào.Ngược lại, khách hàng cũng không phải trả tiền dịch vụ cho ngân hàng. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh nước ta hiện nay dân chúng vẫn chưa quen với các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và công tác thanh toán ngân hàng vẫn chưa thực sự hấp dẫn mới chỉ trong giai đoạn hiện đại hóa,do vậy ngân hàng vẫn nên trả lãi cho khoản tiền này. Khi hệ thống thanh toán của ngân hàng đã thực sự hoàn thiện và khách hàng thực sự tin tưởng vào loại hình dịch vụ này thì ngân hàng nên áp dụng hình thức giảm lãi suất và tiến tới không trả lãi nữa, khách hàng chỉ được hưởng dịch vụ phí từ ngân hàng mà thôi. 3.3.3. Kiến nghị với SHB
SHB cần tạo mọi thuận lợi cho các chi nhánh và phòng giao dịch hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.Ngân hàng cần cập nhật nhanh nhất mọi nguồn tin có liên quan đến hoạt động ngân hàng để từ đó chắt lọc và có sự chỉ đạo kịp thời với các chi
71
nhánhvà phòng giao dịch.Tùy vào tình hình hoạt động của mỗi chi nhánh mà ngân hàng có thể giao chỉ tiêu hoạt động.
Cần kiểm tra, giám sát hoạt động của các chi nhánh, phòng giao dịch. Do hệ thống SHB có mạng lưới rộng khắp, cấp độ hoạt động rộng nên việc quản lý trực tiếp từ SHB đến từng chi nhánh, phòng giao dịch là rất khó thực hiện. Để công tác quản lý có hiệu quả, ngân hàng cần có một hệ thống quản lý ở các chi nhánh cấp tỉnh, thành phố thật sự trung thực và hiệu quả.
SHB cần cho phép các phòng giao dịch tự quyết định hoạt động kinh doanh của mình trong một chừng mực nào đó.Mỗi chi nhánh, phòng giao dịch có địa bàn hoạt động khác nhau, đặc điểm địa lý dân cư ở mỗi nơi cũng khác nhau.Nếu như SHB cứ cứng nhắc áp dụng một nguyên tắc nào đấy cho tất cả các chi nhánh thì có thể hiệu quả đem lại sẽ không cao. Ngân hàng nên cho phép các chi nhánh, phòng giao dịch tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động của ngân hàng, tình hình kinh tế địa phương, tâm lý khách hàng,... để quyết định hành động cho phù hợp, tránh không gây bất ổn cho địa bàn, cho các ngân hàng trong khu vực và nhất là không ảnh hưởng đến hoạt động chung của toàn bộ hệ thống. 3.3.4. Kiến nghị với Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh
Phương hướng hoạt động tín dụng của phòng giao dịch là phải nâng cao chất lượng CVTD, phòng giao dịch cần chủ động hơn trong việc lựa chọn dịch vụ, nhu cầu cần tài trợ.
Xây dựng quy trình cho vay phù hợp với các khoản vay tiêu dùng, điều chỉnh những điều kiện cho vay và chính sách tín dụng theo hướng mềm dẻo, linh hoạt hơn đối với khách hàng vay tiêu dùng.
Phòng giao dịch cần tăng cường các hoạt động giới thiệu hình ảnh và quảng bá thương hiệu.Thực hiện các chương trình quảng cáo, tài trợ cho các sự kiện để thương hiệu Ngân hàng SHB trở nên phổ biến hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho phòng giao dịch thu hút được nhiều khách hàng, qua đó thúc đẩy động lực nâng cao chất lượng CVTD tại phòng giao dịch.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
Toàn bộ Chương 3 đã nêu lên định hướng hoạt động kinh doanh cũng như mục tiêu cụ thể của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội –Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh trong những năm tới. Đồng thời chương 3 đã nêu lên một số giải pháp, kiến nghị với mong muốn nâng cao chất lượng CVTD tại phòng giao dịch.
72
LỜI KẾT
Nâng cao hiệu quả cho vay luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi ngân hàng vì hoạt động cho vay đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Nâng cao hiệu quả CVTD cũng là một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội – Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh trong môi trường cạnh tranh hiện nay. Để nâng cao hiệu quả cho vay đòi hỏi phải có sự nỗ lực của không chỉ bản thân Ngân hàng mà rất cần phải có sự hoàn thiện hơn của hệ thống pháp luật, những chính sách điều tiết từ NHNN.
Tìm hiểu về hiệu quảCVTD cũng như các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CVTD tại SHB–Phòng giao dịch Trần Đăng Ninh đã giúp em hiểu rõ hơn về thực tiễn hoạt động Ngân hàng, quá trình từ khi thẩm định, kết luận cho vay tới khi giải ngân và thu hồi vốn. Từ đó hiểu được những khó khăn và hạn chế trong hoạt động CVTD trong ở Việt Nam hiện nay. Một số nhận xét và ý kiến về giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay đã được đưa ra.
Do sự hiểu biết và thời gian nghiên cứu có hạn, khóa luận chắc hẳn còn rất nhiều thiếu sót, còn nhiều vấn đề phải đi sâu xem xét lại. Em rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét của các thầy cô giáo trong Hội đồng chấm khóa luận của nhà trường để khoá luận của em hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô giáo đặc biệt là sự giúp đỡ của cô giáo Ths Nguyễn Phương Mai đã tạo giúp em hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội ngày 28 tháng 6 năm 2014 Sinh viên
Phạm Phương Thanh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị định số 59/2009NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM 2. Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 3. PGS.TS. Phan Thị Thu Hà, Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Tài Chính. 4. Ngân hàng nhà nước (2005), Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, Hà Nội. 5. Hội đồng quản trị (2012), Quyết định số 54/2012/QĐ- HĐQT, Hà Nội. 6. Ngân hàng nhà nước (2006), Quyết định số 93/QĐ-NHNN, Hà Nội 7. Ngân hàng SHB Việt Nam (2012), Báo cáo thường niên năm 2012, Hà Nội. 8. Ngân hàng SHB Việt Nam (2013), Báo cáo thường niên năm 2013, Hà Nội. 9. Ngân hàng SHB phòng giao dịch Trần Đăng Ninh (2011-2013), Báo cáo kết quả
10. Website: http://www.shb.com.vn/ 11. Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại - PGS.TS.Nguyễn Đăng Dờn, NXB Thống kê
hoạt động giai đoạn 2011-2013, Hà Nội.
2009
12. Quản trị ngân hàng - PGS.TS.Trần Huy Hoàng, NXB Lao động xã hội 2008
13. Giáo trình Quản trị ngân hàng – TS Tô Ngọc Hưng, NXB Thống kê 2009

