BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-------o0o------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH
TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
DẦU KHÍ ĐÔNG ĐÔ
SINH VIÊN THỰC HIỆN
: NGUYỄN MAI ANH
MÃ SINH VIÊN
: A19194
CHUYÊN NGHÀNH
: TÀI CHÍNH
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-------o0o------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH
TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
DẦU KHÍ ĐÔNG ĐÔ
Giảng viên hƣớng dẫn
: PGS.TS. Nguyễn Thị Bất
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Mai Anh
Mã sinh viên
: A19194
Chuyên nghành
: Tài chính
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trường Đại Học Thăng Long và đặc biệt là PGS.TS. Nguyễn Thị Bất cùng các bác, cô chú và
anh chị trong Công ty Cổ phần dầu khí Đông Đô đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành
khoá luận tốt nghiệp này. Em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy trong truờng
đã truyền đạt cho em rất nhiều kiến thức bổ ích để thực hiện khoá luận và cũng như có được hành trang vững chắc cho sự nghiệp trong tương lai.
Do giới hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều thiếu sót và
hạn chế, kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các thầy cô giáo để khoá luận của em
được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 4 tháng 7 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Mai Anh
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người
khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng.
Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Nguyễn Mai Anh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP ...........................................................................1 1.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của công tác phân tích tài chính ....................1
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính......................................................................1
1.1.2. Ý nghĩa phân tích tài chính ...........................................................................1
1.1.3. Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp .........................................4
1.2. PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP .................5
1.2.1. Phương pháp so sánh ....................................................................................5
1.2.2. Phương pháp phân tích tỷ số ........................................................................5
1.2.3. Phương pháp Dupont ....................................................................................6
1.3. QUY TRÌNH PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ........................7
1.4. NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ....9
1.4.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp ...............................9
1.4.2. Phân tích tình hình biến động của tài sản và nguồn vốn ............................9
1.4.3. Phân tích khả năng thanh toán ..................................................................10
1.4.3.1. Khả năng thanh toán ngắn hạn ..............................................................11
1.4.3.2. Hệ số khả năng thanh toán nhanh .........................................................11
1.4.3.3. Hệ số khả năng thanh toán tức thời .......................................................12 1.4.3.4. Hệ số khả năng thanh toán lãi vay.........................................................12
1.4.4. Phân tích khả năng quản lý nợ ...................................................................12
1.4.4.1. Hệ số nợ trên tổng tài sản .....................................................................12
1.4.4.2. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu ...............................................................13
1.4.5. Phân tích khả năng quản lý tài sản ............................................................13
1.4.5.1. Phân tích khả năng luân chuyển hàng tồn kho ......................................13 1.4.5.2. Phân tích tốc độ luân chuyển khoản phải thu ........................................14 1.4.5.3. Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản .........................................................15 1.4.5.4. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định ..........................................................15 1.4.5.5. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn.......................................................15
1.4.6. Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp .........................................16
1.4.6.1. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) ................................................16
1.4.6.2. Tỷ suất doanh lợi tổng tài sản (ROA) ....................................................16
1.4.6.3. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) .........................16
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY CP DẦU KHÍ ĐÔNG ĐÔ ................................................18 2.1. Tổng quan về Công ty CP Dầu khí Đông Đô .................................................18
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty........................................18
2.1.2. Ngành nghề kinh doanh của Công ty .........................................................18
2.1.3. Cơ c u t ch c bộ máy quản lý của Công ty CP D u khí ông ô .........19
2.1.3.1. Hội đồng Quản trị ..................................................................................20
2.1.3.2. Giám đốc ................................................................................................20 2.1.3.3. Các Phó Giám đốc .................................................................................20
2.1.3.4. Các phòng chức năng ............................................................................20
2.1.3.5. Các ban quản lý dự án ...........................................................................20 2.1.3.6. Sàn giao dịch bất động sản ....................................................................21
2.1.3.7. Các chi nhánh ........................................................................................21
2.2. Thực trạng công tác phân tích tình hình tài chính tại Công ty CP Dầu khí Đông Đô .....................................................................................................................21
2.2.1. Thực trạng các phương pháp phân tích tài chính của Công ty ................21
2.2.2. Quy trình phân tích tài chính của Công ty CP D u khí ông ô ............22
2.2.3. Thực trạng nội dung phân tích tài chính của Công ty ..............................23
2.2.3.1. Phân tích khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty CP Dầu
khí Đông Đô ........................................................................................................24
2.2.3.2. Phân tích khái quát tình hình tài sản – nguồn vốn của Công ty CP dầu
khí Đông Đô ........................................................................................................28
2.2.3.3. Phân tích khả năng thanh toán của Công ty CP Dầu khí Đông Đô ......38
2.2.3.4. Phân tích khả năng quản lý tài sản ........................................................40
2.2.3.5. Khả năng quản lý nợ ..............................................................................43
2.2.3.6. Phân tích khả năng sinh lời ...................................................................45
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CP DẦU KHÍ ĐÔNG ĐÔ ....................................................................49
2.3.1. Những kết quả đạt được ..............................................................................49
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ............................................................................50
2.3.2.1. Hạn chế ..................................................................................................50 2.3.2.2. Nguyên nhân ..........................................................................................51
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DẦU KHÍ ĐÔNG ĐÔ ....................................53 3.1. Định hƣớng công tác quản lý tài chính của Công ty CP Dầu khí Đông Đô 53
3.2. Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty CP dầu khí Đông Đô .....................................................................................................................53
3.2.1. T ch c tốt công tác phân tích tài chính ....................................................53
3.2.2. Hoàn thiện nguồn thông tin sử dụng trong công tác phân tích tài chính 54
3.2.3. Hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính ............................................55
3.2.4. Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính của Công ty CP D u khí ông ......................................................................................................................59 ô
3.2.4.1. Phân tích khả năng quản lý khoản phải thu ..........................................59
3.2.4.2. Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn ..............................................60
3.2.4.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ .....................................................60
3.3. Một số kiến nghị với các Bộ ngành và Nhà nƣớc ..........................................67
KẾT LUẬN
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
BCDKT Bảng cân đối kế toán
BCTC Báo cáo tài chính
BĐS Bất động sản
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CP Cổ phần
CNV Công nhân viên
DN Doanh nghiệp
SXKD Sản xuất kinh doanh
T.P Thành phố
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TSNH Tài sản ngắn hạn
VCSH Vốn chủ sở hữu
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh .......................................................................... 24
Bảng 2.2. Bảng phân tích tình hình tài sản trong 03 năm ............................................. 28
Bảng 2.3. Bảng phân tích tình hình nguồn vốn trong 03 năm ....................................... 34
Bảng 2.4. Khả năng thanh toán tức thời ........................................................................ 38
Bảng 2.5. Khả năng thanh toán tức thời ........................................................................ 39
Bảng 2.6. Chỉ tiêu quản lý hàng tồn kho ....................................................................... 40
Bảng 2.7. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản .................................................................. 41
Bảng 2.8. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định..................................................... 42
Bảng 2.9. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn .................................................. 43
Bảng 2.10. Chỉ tiêu hệ số nợ trên tổng tài sản ............................................................... 43
Bảng 2.11. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu ..................................................................... 45
Bảng 2.12. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên doanh thu ....................................................... 45
Bảng 2.13. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ..................................................... 46
Bảng 2.14. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu .............................................. 48
Bảng 3.1. Mức độ ảnh hưởng của ROS và Hiệu suất sử dụng tài sản lên ROA ........... 56
Bảng 3.2. Phân tích ROE theo mô hình Dupont............................................................ 57
Bảng 3.3. Tốc độ luân chuyển khoản phải thu .............................................................. 59
Bảng 3.4. Khả năng thanh toán ngắn hạn ...................................................................... 60
Bảng 3.5. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011 – 2013
....................................................................................................................................... 63
Bảng 3.6. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011 – 2013
....................................................................................................................................... 64
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu bộ máy tổ chức Công ty CP Dầu khí Đông Đô ...............................19
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tổng tài sản .................................................................................... 31
Biểu đồ 2.2. Tổng nguồn vốn của công ty ..................................................................... 36
Biểu đồ 2.3. Hệ số thanh toán nhanh ............................................................................. 38
Biểu đồ 2.4. Hệ số thanh toán tức thời ......................................................................... 39
Biểu đồ 2.5. Thời gian quay vòng hàng tồn kho trung bình .......................................... 40
Biểu đồ 2.6. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản .................................................................. 41
Biểu đồ 2.7. Hệ số nợ trên tổng tài sản .......................................................................... 44
Biểu đồ 2.8. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu.................................................................. 46
Biểu đồ 2.9. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ............................................................... 47
Biểu đồ 2.10. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ....................................................... 48
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt. Để doanh nghiệp có thể đứng vững trước sự
cạnh tranh của đối thủ, doanh nghiệp phải hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả,
phải có chính sách và chiến lược đúng đắn trong công tác quản lý doanh nghiệp nói
chung và quản lý tài chính nói riêng. Phân tích tài chính được sử dụng như một công
cụ đánh giá tình hình tài chính trong quá khứ, hiện tại, đánh giá rủi ro và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; từ đó giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có cái nhìn sâu hơn,
toàn diện hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Hơn thế nữa, phân tích tài chính
có ý nghĩa đối với các nhà quản trị trong việc đưa ra các quyết định tài chính một cách
chắc chắn hơn, giảm đi sự tín nhiệm vào linh cảm và trực giác.
Tuy nhiên hiện nay, do chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của phân
tích tài chính doanh nghiệp, Công ty cổ phần dầu khí Đông Đô đã chưa chú trọng đầu
tư cho hoạt động này. Do vậy, công tác phân tích tài chính chưa hoàn thiện, gây khó khăn cho các nhà quản trị công ty trong việc đưa ra các quyết định tài chính. Trong bối
cảnh đó, hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Dầu khí Đông Đô
là một yêu cầu bức thiết. Đề tài: “Hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính
tại Công ty Cổ phần dầu khí Đông Đô” được lựa chọn nghiên cứu nhằm góp phần
đáp ứng đòi hỏi trên của thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, các nhà quản trị có thể
đánh giá sức mạnh tài chính, hiệu quả hoạt động kinh doanh và những hạn chế còn tồn
tại của công ty. Qua việc nghiên cứu đề tài em có thể vận dụng những kiến thức đã
được học vào thực tiễn, tiến hành xem xét, tổng hợp phân tích các số liệu, các báo cáo
tài chính được công ty cung cấp, từ các cơ sở đó đánh giá tình hình tài chính của công
ty. Trên thực tế đó em mạnh dạn đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện
công tác phân tích tình hình tài chính phục vụ nhu cầu quản lý tài chính, sản xuất kinh doanh và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
ối tượng nghiên c u: Công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ Phần dầu
khí Đông Đô.
Phạm vi nghiên c u: Sử dụng báo cáo tài chính trong 3 năm 2011, 2012, 2013
của Công ty CP dầu khí Đông Đô.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong phân tích BCTC người ta sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau, có
những phương pháp nghiên cứu riêng của phân tích và có cả phương pháp nghiên cứu của một số môn khoa học khác. Tuy nhiên với các số liệu có được, khóa luận tập
chung sử dụng chủ yếu phương pháp so sánh, phương pháp số chênh lệch, phân tích
theo chiều ngang, phân tích theo chiều dọc và phương pháp phân tích tỷ lệ. Ngoài ra
khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp thống kê để làm rõ hơn về công tác phân tích tài chính tại Công ty CP dầu khí Đông Đô.
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, cấu trúc gồm 03 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về công tác phân tích tài chính trong doanh
nghiệp
Chƣơng 2: Thực trạng công tác phân tích tình hình tài chính tại Công ty CP
dầu khí Đông Đô
Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty CP
dầu khí Đông Đô
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của công tác phân tích tài chính
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các
công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm
đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp đánh giá rủi ro, mức độ và chất
lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó.
Mối quan tâm hàng đầu của phân tích tài chính doanh nghiệp là phân tích các báo
cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính từ đó đưa ra các thông tin về khả năng
thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động và khả năng sinh lời của doanh
nghiệp. Chính các thông tin này sẽ giúp cho người sử dụng thông tin xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp trong quá khứ và hiện đại; để từ đó phán
đoán, dự báo và đưa ra những quyết định phù hợp cho tương lai. Điều này góp phần
giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong thời buổi kinh tế thị trường cạnh tranh
khốc liệt như hiện nay.
1.1.2. Ý nghĩa phân tích tài chính
Phân tích tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài
chính doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng
trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Do vậy sẽ có
nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh
nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng,... kể cả các cơ quan Nhà nước và người
làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các
góc độ khác nhau.
Đối với nhà quản lí: Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục
sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa. Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý doanh nghiệp phải giải
quyết ba vấn đề quan trọng sau đây:
Th nh t, doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình sản xuất
kinh doanh lựa chọn. Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.
Th hai, nguồn vốn tài trợ là nguồn nào?
Th ba, nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế nào?
1
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanh nghiệp,
nhưng đó là những vấn đề quan trọng nhất. Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở
để đề ra cách thức giải quyết ba vấn đề đó.
Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính và dựa
trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các quyết định vì lợi ích của
cổ đông của doanh nghiệp. Các quyết định và hoạt động của nhà quản lý tài chính đều
nhằm vào các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp: đó là sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnh tranh và chiếm được thị phần tối đa trên thương trường, tối thiểu hoá chi phí, tối đa
hoá lợi nhuận và tăng trưởng thu nhập một cách vững chắc. Doanh nghiệp chỉ có thể
hoạt động tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà quản
lý được đưa ra là đúng đắn. Muốn vậy, họ phải thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp là những người có nhiều lợi thế
để thực hiện phân tích tài chính một cách tốt nhất.
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả năng thanh
toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi, nhà quản
lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng
của doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó, họ có thể định hướng cho giám đốc tài chính
cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính. Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để
kiểm soát các hoạt động quản lý.
Đối với các nhà đầu tƣ: Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ
là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro. Vì vậy, họ cần các thông tin về điều
kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của
các doanh nghiệp.
Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu tư và nguồn tài trợ. Trên cơ sở phân tích
các thông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư
sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển vọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra những quyết định phù hợp. Các nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất có một điều kiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương. Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức và cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề được các nhà đầu tư hết sức coi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ. Ta biết rằng thu nhập của cổ đông bao gồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần giá trị tăng thêm của cổ phiếu trên thị trường. Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và vốn chủ
sở hữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh nghiệp tăng vốn đầu tư vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS). Hơn nữa các cổ đông chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy mô doanh nghiệp khi quyền lợi của họ ít nhất không 2
bị ảnh hưởng. Bởi vậy, các yếu tố như tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng để
trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu
trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân
tích tài chính.
Đối với các chủ nợ: Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý
doanh nghiệp thực hiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi, tăng trưởng của
doanh nghiệp thì phân tích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng thương mại cho doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh
nghiệp.
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được xem
xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn. Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp,
nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ khi đến hạn trả. Nếu
là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả
năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng
sinh lời này.
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ chủ
yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ chú ý đặc biệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ
ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ
sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị
rủi ro. Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của
các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều
quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay.
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, họ phải
quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không, họ cần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và trong thời gian sắp tới.
Đối với ngƣời lao động: Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của doanh nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao
động. Ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn
3
mua một lượng cổ phần nhất định. Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệp
nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp.
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nƣớc: Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá,
kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh
nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định không, tình
hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách
hàng,...
Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích
các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống các
phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc
độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và
đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp.
1.1.3. Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp
Với ý nghĩa quan trọng như trên, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài chính
là việc cung cấp những thông tin chính xác về mọi mặt tài chính của doanh nghiệp,
bao gồm:
Phân tích tài chính phải cung cấp đầy đủ các thông tin hữu ích cho chủ doanh
nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin khác trong
việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào, ra và tình hình sử
dụng có hiệu quả nhất tài sản, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Phân tích tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin về nguồn vốn chủ sở
hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện và
tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp.
Tóm lại, nhiệm vụ của phân tích tài chính của doanh nghiệp phải cho nhà quản trị
thấy được những nét sinh động trên “bức tranh tài chính” của doanh nghiệp thể hiện qua các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực các thông tin tài chính cần thiết cho chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các khách hàng và nhà cung cấp.
Thứ hai, cung cấp những thông tin về tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động
nguồn vốn, khả năng sinh lợi và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
4
Thứ ba, cung cấp những thông tin về tình hình công nợ, khả năng thu hồi các
khoản phải thu, khả năng thanh toán các khoản phải trả cũng như các nhân tố ảnh
hưởng khác tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hoá của các nhân tố ảnh hưởng đến
tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biện pháp có hiệu quả để
khắc phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực tiềm tàng của doanh
nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.2. PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.2.1. Phương pháp so sánh
Là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong phân tích tài chính. Phương pháp
so sánh là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh
với một chỉ tiêu gốc. Nếu có được sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán của các chỉ tiêu tài chính và theo mục đích thì mới xác
định được gốc so sánh. Đây cũng chính là điều kiện để áp dụng phương pháp so sánh
này. Gốc so sánh được chọn phải là gốc về thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích
được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa chọn
bằng số tuyệt đối hoặc số bình quân. Ưu điểm của phương pháp này cho phép tách ra
những nét chung, nét riêng của các hiện tượng so sánh, trên cơ sở đó đánh giá được
các mặt phát triển hay kém phát triển, hiệu quả hay không hiệu quả để tìm ra các giải pháp hợp lí và tối ưu trong trường hợp cụ thể. Từ đó xác định xu hướng phát triển và
mức độ biến động.
Khi phân tích thì có thể phân tích theo chiều ngang cũng như chiều dọc. Phân
tích theo chiều ngang là so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối của một chỉ tiêu cụ
thể nào đó qua nhiều thời kỳ, qua đó ta sẽ thấy được xu hướng biến động của một chỉ
tiêu nào đó, là cơ sở để đánh giá được tình hình tốt lên hay xấu đi, là cơ sở để dự đoán
chỉ tiêu đó. Phân tích theo chiều dọc là xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong chỉ tiêu
tổng thể, từ đó chúng ta thấy được mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu đến chỉ tiêu
tổng thể hoặc là mức độ lớn nhỏ của từng chỉ tiêu trong chỉ tiêu tổng thể.
1.2.2. Phương pháp phân tích tỷ số
Phương pháp phân tích tỷ số là phương án phản ánh kết cấu, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài chính và sự biến đổi của lượng tài chính thông qua hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục và theo từng gian đoạn.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ số tài chính được phân thành các nhóm tỷ số đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động
của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ số về khả năng thanh toán, nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn, nhóm tỷ số về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ số về khả
5
năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ số lại bao gồn nhiều tỷ số phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận
của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau.
Phương pháp phân tích tỷ số là phương pháp mang tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện do nguồn thông tin kế toán
và tài chính được cải tiến, cung cấp đầy đủ hơn. Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ
tham chiếu đáng tin cậy, việc áp dụng công nghệ tin học giúp đẩy nhanh quá trình tính
toán các tỷ số, hệ thống được hàng loạt các tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục. Tuy
nhiên, một tỷ số đơn lẻ không mang lại nhiều ý nghĩa, do vậy khi phân tích tỷ số chúng ta cần phải có sự so sánh: so sánh các tỷ số của doanh nghiệp theo thời gian để thấy xu
hướng biến động; cũng như so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các doanh nghiệp
khác và với tỷ số ngành.
1.2.3. Phương pháp Dupont
Phân tích Dupont là kỹ thuật phân tích bằng cách chia tỷ số ROA và ROE thành
những bộ phận có mối quan hệ với nhau để đánh giá tác động của từng bộ phận lên kết
quả sau cùng. Ưu điểm lớn nhất của phương pháp Dupont so với phương pháp so sánh
và phương pháp phân tích tỷ số là ở chỗ phương pháp Dupont không chỉ dừng lại ở
việc phản ánh các hiện tượng tài chính mà cố gắng tìm hiểu và tiếp cận các nguyên
nhân gây ra hiện tượng đó. Đây là kỹ thuật mà các nhà quản lý trong nội bộ doanh
nghiệp thường sử dụng để thấy được tình hình tài chính và quyết định xem nên cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp như thế nào. Kỹ thuật này dựa vào hai
phương trình cơ bản sau:
Phương trình thứ nhất thể hiện mối liên hệ giữa doanh lợi tổng tài sản (ROA)
với doanh lợi doanh thu (ROS) và hiệu suất sử dụng tổng tài sản như sau:
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần ROA = x Doanh thu thuần Tổng tài sản
Thông qua phương trình này thì nhà quản lý sẽ thấy rằng ROA phụ thuộc vào hai
yếu tố đó là lợi nhuận sau thuế trên một trăm đồng doanh thu và bình quân một đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Thông qua phương trình này thì sẽ giúp cho nhà quản lý có cách để tăng ROA đó là: Tăng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu có được hoặc tăng khả năng làm ra doanh thu trên tài sản của doanh nghiệp.
Phương trình thứ hai thể hiện mối quan hệ giữa doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) với doanh lợi doanh thu, hiệu suất sử dụng tài sản và hệ số nhân vốn chủ sở hữu theo phương trình sau:
LNST DT thuần Tổng TS ROE = X x DT thuần Tổng TS Vốn CSH
6
Thông qua phương trình trên thì các nhà quản lý sẽ có ba chỉ tiêu để tăng chỉ tiêu
ROE như sau: Thứ nhất, tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu; muốn làm điều này thì
phải có cách để quản lý chi phí, tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu và đạt tốc độ tăng lợi nhuận lớn lơn tốc độ tăng doanh thu. Thứ hai, tăng tốc độ luân chuyển tài sản; muốn
làm được điều này thì doanh nghiệp phải tìm cách tăng doanh thu, dự trữ tài sản hợp
lý. Thứ ba, giảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu, có nghĩa là doanh nghiệp phải đảm bảo tốc độ
tăng vốn chủ sở hữu nhỏ hơn tốc độ tăng tài sản.
Với phương pháp Dupont này, các nhà phân tích có thể nhận ra những nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên
phương pháp này không được áp dụng rộng rãi mà chỉ áp dụng cho các công ty lớn, có
đội ngũ cán bộ phân tích chuyên trách, có trình độ là do phương pháp này không chỉ
đòi hỏi đánh giá tác động của chỉ tiêu thành phần với chỉ tiêu tổng hợp mà còn sử dụng kinh tế lượng để đánh giá mức độ tác động của các chỉ tiêu thành phần với nhau.
1.3. QUY TRÌNH PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
- Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết
minh thực trạng sử dụng tài chính của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tài
chính. Nó bao gồm những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những
thông tin kế toán và những thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị, trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh
nghiệp, là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy, phân tích tài chính trên
thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Nguồn thông tin kế toán bao gồm nguồn thông tin từ bộ báo cáo tài chính và
nguồn thông tin khác. Trong bộ báo cáo tài chính chủ yếu khai thác thông tin có được
từ bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và bảng
lưu chuyển tiền tệ.
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của một
doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý doanh nghiệp. Thông thường, bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán: một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp. Nhìn vào bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho
các nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp.
7
Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính
là thông tin phản ánh trong báo cáo Kết quả kinh doanh. Khác với bảng cân đối kế
toán, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép ta dự tính khả năng hoạt động của
doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả kinh doanh cũng giúp nhà phân tích so
sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hóa, dịch vụ; so sánh tổng chi
phí phát sinh với số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp. Trên cơ sở doanh
thu và chi phí, có thể xác định được kết quả kinh doanh: Lãi hay lỗ trong năm.
Để đánh giá được doanh nghiệp có đảm bảo được chi trả hay không, cần tìm hiểu
tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp. Tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp được thể
hiện rõ nét trên bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ giúp
nhà phân tích xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ bao gồm dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh và dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động đầu tư, tài chính, hoạt
động bất thường. Ngoài ra, nhà quản trị còn xác định và dự báo dòng tiền thực xuất
quỹ của doanh nghiệp thông qua bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Trên cơ sở dòng tiền
nhập quỹ và xuất quỹ, nhà phân tích thực hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ
đầu kỳ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ. Từ đó có thể thiết lập mức ngân quỹ dự
phòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả.
Nguồn thông tin khác ngoài kế toán thu thập được từ thông tin Bộ ngành liên quan, tình hình phát triển kinh tế xã hội cũng như các chính sách của Nhà nước. Trong
những thông tin bên ngoài, cần lưu ý thu thập những thông tin chung như: thông tin
liên quan đến trạng thái của nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất,
thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh
tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần,…) và các
thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình của doanh nghiệp, có thể sử
dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin quan
trọng bậc nhất. Với những đặc trưng hệ thống, đồng nhất và phong phú, kế toán hoạt động như một nhà cung cấp quan trọng những thông tin đáng giá cho hoạt động phân tích tài chính nói chung và hoạt động phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng.
- Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đó thu thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau, các phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân
tích đó đặt ra: Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân, các kết quả đó đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.
8
- Dự đoán và quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết
để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra quyết định tài chính. Có thể nói, mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra quyết định tài chính. Đối với chủ doanh
nghiệp phân tích tài chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt
động của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của doanh nghiệp, tăng trưởng, phát
triển, tối đa hoá lợi nhuận. Đối với người cho vay và đầu tư vào xí nghiệp thì đưa ra
các quyết định về tài trợ và đầu tư; đối với nhà quản lý thì đưa ra các quyết định về quản lý doanh nghiệp.
1.4. NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.4.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
- Phân tích khái quát thông qua bảng cân đối kế toán
Thứ nhất, thông qua việc xem xét cơ cấu, sự biến động của một số chỉ tiêu
chung bên phía nguồn vốn như tổng nguồn vốn, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn chủ sở
hữu thì ta có thể đánh giá bước đầu về khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp, xác định
được mức độ tự chủ trong hoạt động SXKD, chính sách tài trợ của doanh nghiệp. Nếu
vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng qua các năm thì cho thấy mức
độ tự tài trợ cao, mức độ phụ thuộc về vặt tài chính thấp và ngược lại. Thứ hai, thông
qua xem xét khái quát phần tài sản của doanh nghiệp ta sẽ biết được sự biến động quy mô tổng tài sản qua các năm, mức độ hoạt động của doanh nghiệp và việc phân bổ vốn
của doanh nghiệp như thế nào. Vốn nhiều hay ít, tăng hay giảm và việc phân bổ vốn
như thế nào thì nó sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Như vậy, khi đánh giá khái quát phần tài sản, nguồn vốn thì chúng ta
còn phân tích khái quát báo cáo kết quả kinh doanh, đặc điểm của ngành để có cái nhìn
khái quát hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
- Phân tích khái quát thông qua báo cáo kết quả kinh doanh
Thông qua bảng báo cáo kết quả kinh doanh thì chúng ta sẽ thấy được phần nào
về mức độ hoạt động của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp, khả năng quản lý các mặt của doanh nghiệp. Để có được điều này thì ta phải so sánh sự biến động của các chỉ tiêu qua nhiều kỳ khác nhau; tính tỷ trọng của một số chỉ tiêu trong doanh thu thuần hoạt động bán hàng, đồng thời so sánh chúng qua các năm.
1.4.2. Phân tích tình hình biến động của tài sản và nguồn vốn
- Phân tích cơ cấu và biến động tài sản
Tổng tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định, ta
cũng biết tài sản nhiều hay ít, tăng hay giảm nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Phân tích sự biến động và tình 9
hình phân bổ tài sản là để đánh giá việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp có hợp lý
hay không. Để làm được điều này ta làm như sau:
Thứ nhất, phân tích sự biến động của từng chỉ tiêu tài sản qua các năm cả về số tuyệt đối và số tương đối. Trong quá trình đó thì chúng ta còn xem xét sự biến động
của từng chỉ tiêu là do nguyên nhân nào, thông qua việc phân tích này thì chúng ta sẽ
nhận thức được tác động của từng loại tài sản đối với quá trình kinh doanh và tình hình
tài chính của doanh nghiệp.
Thứ hai, xem xét cơ cấu tài sản có hợp lý hay không, cơ cấu tài sản tác động như thế nào đến quá trình kinh doanh; để làm điều này thì chúng ta phải tính tỷ trọng
của từng chỉ tiêu trong tổng tài sản, tỷ trọng của các chỉ tiêu thuộc tài sản ngắn hạn
trong tổng tài sản ngắn hạn, tương tự cho tài sản dài hạn. Sau đó so sánh chúng qua
nhiều thời kỳ khác nhau để thấy được sự biến động của cơ cấu tài sản, khi đánh giá việc phân bổ tài sản có hợp lý hay không ta nên xem xét đặc điểm ngành nghề và kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân tích cơ cấu và biến động của nguồn vốn
Tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp được thể hiện qua cơ cấu và sự biến
động về nguồn vốn của doanh nghiệp. Cơ cấu nguồn vốn là tỷ trọng của từng loại
nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn; thông qua cơ cấu nguồn vốn thì chúng ta sẽ đánh
giá được hướng tài trợ của doanh nghiệp, mức độ rủi ro từ chính sách tài chính đó, ta cũng thấy được về khả năng tự chủ hay phụ thuộc về mặt tài chính của doanh nghiệp.
Thứ hai, thông qua sự biến động của các chỉ tiêu phần nguồn vốn thì ta sẽ thấy được
tình hình huy động các nguồn vốn cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp, nó cho
thấy được tính chủ động trong chính sách tài chính hay do sự bị động trong hoạt động
sản xuất kinh doanh gây ra. Bằng việc so sánh sự biến động cả về số tuyệt đối và
tương đối của các chi tiêu phần nguồn vốn, tính tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổng
nguồn vốn, tỷ trọng của từng chỉ tiêu thuộc nợ phải trả trong tổng nợ phải trả, tương tự
cho vốn chủ sở hữu; sau đó so sánh chúng qua nhiều năm khác nhau để thấy được cơ
cấu và sự biến động nguồn vốn của doanh nghiệp.
1.4.3. Phân tích khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đúng thời hạn mà không gặp phải bất kỳ một khó khăn nào; một doanh nghiệp được coi là mất khả năng thanh toán khi không thanh toán được các khoản nợ tới hạn. Khả năng thanh toán được đo lường bằng mức độ thanh khoản, tức là mức độ dễ dàng và nhanh chóng để chuyển một tài sản thành tiền mà không làm giảm đáng kể giá trị của tài sản
đó. Thông qua các tỷ số khả năng thanh toán sẽ cho chúng ta thấy thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp đang hoạt động có lãi, vẫn gặp phải vấn đề về
10
khả năng thanh toán là bình thường nếu như việc kiểm soát các khoản phải trả kém,
không thu được tiền khách hàng, hàng tồn kho nhiều. Tóm lại, muốn tồn tại và phát
triển lâu dài thì doanh nghiệp cần có khả năng sinh lợi và khả năng thanh toán tốt.
1.4.3.1. Khả năng thanh toán ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn được dùng để đánh giá khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả. Hệ số này cho biết, bình quân một đồng nợ
ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là những
khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản
phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác. Hệ số này càng cao hơn một
thì được đánh giá là khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cao, tuy nhiên chúng ta còn nhận
thức rõ bản chất vì sao nó cao thì mới có sự đánh giá chính xác. Khả năng thanh toán ngắn hạn cao có thể là quá nhiều các khoản phải thu mà có nguy cơ không thu hồi
được hay doanh nghiệp quá dễ dãi trong chính sách tín dụng thương mại đối với khách
hàng; cũng có thể là hàng tồn kho quá nhiều, trong đó có nhiều hàng kém phẩm chất,
yếu kém trong khâu tiêu thụ; tồn kho nguyên vật liệu quá nhiều do sự yếu kém trong
quản trị hàng tồn kho,… Tuy nhiên, nếu hệ số này nhỏ hơn một thì chứng tỏ khả năng
thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp kém, vì nợ ngắn hạn nhiều hơn so với tài sản
ngắn hạn, muốn đảm bảo thanh toán thì doanh nghiệp phải bán tài sản dài hạn để thanh toán nợ ngắn hạn.
Tài sản ngắn hạn Hệ số thanh toán
nợ ngắn hạn = Tổng số nợ ngắn hạn
1.4.3.2. Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán của một doanh nghiệp được đo lường bằng mức độ thanh
khoản của các loại tài sản; tính thanh khoản của một loại tài sản là khả năng nhanh
chóng chuyển đổi thành tiền mà không làm giảm đáng kể giá trị của tài sản đó. Vì
hàng tồn kho của doanh nghiệp ít nhất phải qua quá trình tiêu thụ mới có thể chuyển thành tiền, chưa nói là không tiêu thụ được, hàng ứ đọng kém phẩm chất, vì vậy tính thanh khoản của nó thấp. Để đánh giá khắt khe hơn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp ta sử dụng tỷ số thanh khoản nhanh; tỷ số này cho biết bình quân một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn nhưng không bao gồm hàng tồn kho.
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho = Hệ số thanh toán nhanh Tổng số nợ ngắn hạn
11
1.4.3.3. Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức thời cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng vốn bằng
tiền để sẵn sàng thanh toán tức thời cho một đồng nợ ngắn hạn. Tỷ lệ thanh toán bằng tiền càng lớn thì khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp càng cao; tuy
nhiên, hệ số này cao quá cũng không tốt, vì ta biết tiền không tự sinh lời được.
Vốn bằng tiền Hệ số thanh toán = tức thời Tổng số nợ ngắn hạn
1.4.3.4. Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Khi nói rằng doanh nghiệp sử dụng vốn vay có hiệu quả thì ít nhất việc sử dụng
vốn vay của doanh nghiệp phải tạo ra lợi nhuận đủ để trả cho chi phí lãi vay. Xuất phát
từ ý nghĩa đó, thông qua đánh giá hệ số khả năng thanh toán lãi vay thì ta thấy được
mức độ hiệu quả của việc sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, khả năng chi trả lãi vay của doanh nghiệp. Nếu tỷ số này càng cao hơn một thì các chủ sở hữu sẽ có
lợi, tuy nhiên nếu lợi nhuận tạo ra không đủ để trả lãi vay thì các chủ sở hữu phải gánh
chịu hậu quả của việc sử dụng nợ này.
Lợi nhuận trƣớc thuế và lãi Hệ số khả năng = thanh toán lãi vay Chi phí lãi vay
1.4.4. Phân tích khả năng quản lý nợ
1.4.4.1. Hệ số nợ trên tổng tài sản
Tỷ số này cho biết cứ một đồng doanh nghiệp đầu tư cho tổng tài sản thì có bao
nhiêu đồng là từ đi vay. Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh
nghiệp. Hệ số này mà quá nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay ít. Điều này có thể hàm ý
doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao. Song nó cũng có thể hàm ý là doanh
nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng
hình thức đi vay. Ngược lại, tỷ số này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực
lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh. Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn.
Hệ số này được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm cả nợ ngắn hạn lẫn nợ dài
hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị tổng tài sản trong cùng kỳ. Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Công thức tính như sau:
Tổng nợ Hệ số nợ trên tài sản = Tổng tài sản
12
1.4.4.2. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Hệ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu.
Hệ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ; có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp. Tuy nhiên, nó cũng có thể
chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích
của hiệu quả tiết kiệm thuế.
Hệ số này được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm cả nợ ngắn hạn lẫn nợ dài
hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị vốn chủ sở hữu trong cùng kỳ. Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Công
thức tính như sau:
Tổng nợ Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu
1.4.5. Phân tích khả năng quản lý tài sản
Tính hiệu quả của một hoạt động được xác định bằng kết quả đầu ra trên kết
quả đầu vào của nó, như vậy ta không thể căn cứ vào kết quả đạt được mà đánh giá
hoạt động đó là có hiệu quả. Nếu kết quả đầu ra trên một lượng đầu vào xác định càng
lớn thì càng hiệu quả. Do đó, một doanh nghiệp đầu tư vào tài sản của mình (nguồn
lực đầu vào) để tạo ra doanh thu và lợi nhuận (kết quả đầu ra), doanh nghiệp nào càng
tạo ra nhiều doanh thu và lợi nhuận từ một khoản đầu tư vào tài sản thì doanh nghiệp
đó hoạt động càng có hiệu quả. Thông qua việc phân tích các tỷ số thể hiện khả năng
hoạt động ta sẽ thấy được mức độ khai thác các nguồn lực đầu vào của doanh nghiệp,
từ đó chúng ta sẽ đánh giá được việc quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp có hợp
lý, tiết kiệm và hiệu quả hay không.
1.4.5.1. Phân tích khả năng luân chuyển hàng tồn kho
Sự hình thành hàng tồn kho là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình luân chuyển
vốn của doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào ngành nghề của doanh nghiệp mà mức độ tồn kho nhiều hay ít, cũng như chủng loại tồn kho là khác nhau. Thông thường thì hàng tồn kho sẽ bao gồm các loại sau: Nguyên vật liệu, công cụ - dụng cụ, thành phẩm, sản phẩm dở dang, hàng hoá,... Để đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng hàng tồn kho trong việc tạo ra doanh thu thì ta sử dụng chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho.
a. Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho thể hiện rằng trong kỳ thì doanh nghiệp đã xuất hàng
được mấy lần, như vậy nếu số vòng quay hàng tồn kho càng lớn thì chứng tỏ rằng hiệu
quả sử dụng hàng tồn kho càng cao. Và ngược lai, nếu số vòng quay hàng tồn kho
13
càng nhỏ thì có thể rằng doanh nghiệp đang đầu tư quá nhiều vào hàng tồn kho hoặc
hàng tồn kho của doanh nghiệp khó có khả năng luân chuyển.
Giá vốn hàng bán Vòng quay = hàng tồn kho Hàng tồn kho
b. Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho cho biết trung bình thì bao nhiêu ngày
doanh nghiệp xuất hàng một lần. Như vậy ta thấy, nếu số ngày trung bình một lần xuất hàng càng nhỏ thì chứng tỏ tốc độ luân chuyển hàng tồn kho cao, hiệu quả sử dụng
hàng tồn kho càng lớn và ngược lai.
Số ngày trong kỳ Số ngày một vòng = quay hàng tồn kho Số vòng quay hàng tồn kho
1.4.5.2. Phân tích tốc độ luân chuyển khoản phải thu
Trong chu trình luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp, bắt đầu từ Tiền
=> Hàng tồn kho => Khoản phải thu => Tiền. Như vậy ta thấy rằng, nếu doanh nghiệp
sử dụng hiệu quả hàng tồn kho trong khi hiệu quả sử dụng vốn lưu động thấp là
chuyện bình thường. Điều này muốn nói lên rằng, nếu như doanh nghiệp đầu tư quá
nhiều vào khoản phải thu, có nhiều khoản phải thu đã quá hạn, trong khi mức độ hoạt
động của doanh nghiệp lớn, lớn hơn tốc độ thu tiền về thì bắt buộc doanh nghiệp phải
huy động nguồn vốn khác để đầu tư vào hàng tồn kho chứ không phải tiền trong chu
trình. Trong trường hợp này thì rõ ràng là hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
thấp, biểu hiện tình hình tài chính không lành mạnh, khả năng thanh toán chắc chắn sẽ
khó khăn. Như vậy, hiệu quả sử dụng các khoản phải thu là góp phần cho hiệu quả sử
dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả sử dụng các khoản phải
thu thì ta sử dụng các tỷ số như vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân.
a. Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu thể hiện trong kỳ doanh nghiệp đã thu tiền được mấy lần từ doanh thu bán chịu của mình. Như vậy, thông qua số vòng quay các khoản phải thu thì ta sẽ thấy được tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp, số vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng cao,
giảm bớt vốn bị chiếm dụng, đảm bảo khả năng thanh toán bằng tiền, tái đầu tư vào hoạt động SXKD, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Ngược lại, nếu số vòng quay khoản phải thu nhỏ thì cho thấy khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp thấp hoặc tốc độ thu hồi nợ nhỏ hơn so với tốc độ tăng doanh thu bán chịu, điều này làm cho khả
năng thanh toán bằng tiền thấp, có nguy cơ không thu hồi được nợ và hiệu quả sử dụng
vốn thấp.
14
Doanh thu thuần Số vòng quay = khoản phải thu Khoản phải thu
b. Kỳ thu tiền bình quân
Tương tự như số vòng quay các khoản phải thu, kỳ thu tiền bình quân cũng được dùng để đánh giá tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp; kỳ thu tiền bình quân phản
ánh rằng bình quân bao nhiêu ngày thì doanh nghiệp thu được tiền một lần. Như vậy,
nếu số ngày thu tiền bình quân càng nhỏ thì chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp cao và ngược lại.
Số ngày trong kỳ Kỳ thu tiền = bình quân Số vòng quay các khoản phải thu
1.4.5.3. Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản
Đây là chỉ tiêu phản ánh một cách toàn diện về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, nó cho ta thấy tính hợp lý trong việc phân bổ tài sản, trình độ quản lý tài
sản của doanh nghiệp. Tỷ số này cho thấy, bình quân một đồng tài sản tạo ra được bao
nhiêu đồng doanh thu, nếu tỷ số này càng lớn thì hiệu quả sử dụng tài sản càng cao,
góp phần làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu tỷ số này quá cao thì chứng tỏ
rằng doanh nghiệp đang sử dụng hết công suất các nguồn lực đầu vào của mình, vì vậy
khó mà tăng thêm nếu không đầu tư thêm tài sản.
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng = tổng tài sản Tổng tài sản
1.4.5.4. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định phản ánh mức độ sử dụng tài sản cố định để
tạo ra doanh thu cũng như mức độ đầu tư vào tài sản cố định. Tỷ số này nói lên một
đồng nguyên giá tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu.
Doanh thu thuần Hiệu suất sử = dụng TSCĐ Nguyên giá TSCĐ
1.4.5.5. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, hiệu suất sử dụng tài sản cho biết bình quân một đồng TSNH tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần hay là trong kỳ thì TSNH quay được mấy lần. Nếu hệ số này càng lớn thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp cao; thể hiện doanh nghiệp đã đầu tư hợp lý vào vật tư đầu vào, hàng hoá, thành phẩm tiêu thụ nhanh; tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp nhanh, giảm nợ phải thu, tồn quỹ tiền
mặt thấp. Ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thấp, chính sách tồn kho không hợp lý, có thể là thành phẩm không tiêu thụ được, nợ phải thu cao, tồn quỹ tiền mặt nhiều.
15
Doanh thu thuần Hiệu suất = sử dụng TSNH Tài sản ngắn hạn
1.4.6. Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp thì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, nhưng lợi nhuận không phải là chỉ tiêu để chúng ta đánh giá hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư - sản
xuất - tiêu thụ, khả năng quản lý các mặt của doanh nghiệp. Muốn đánh giá được tính hiệu quả của quá trình trên thì chúng ta cần xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với
các yếu tố tạo ra lợi nhuận như doanh thu, vốn,... Khả năng sinh lợi là kết quả của các
quyết định của doanh nghiệp, như quyết định đầu tư, quyết định nguồn tài trợ, trình độ
quản lý tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp. Để đánh giá khả năng sinh lời ta căn
cứ vào các tỷ số sau:
1.4.6.1. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
Tỷ số này cho biết bình quân một trăm đồng doanh thu thuần thì tạo ra được
bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ số này cao hay thấp là phụ thuộc vào tình hình
tiêu thụ sản phẩm, giá cả của sản phẩm, chiến lược tiêu thụ của doanh nghiệp; khả
năng quản lý các loại chi phí của doanh nghiệp như chi phí sản xuất, chi phí quản lý
doanh nghiệp, chi phí bán hàng.
Lợi nhuận sau thuế ROS = x 100% Doanh thu
1.4.6.2. Tỷ suất doanh lợi tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất doanh lợi tổng tài sản cho biết bình quân một đồng vốn đầu tư vào
doanh nghiệp thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, đây là chỉ tiêu phản
ánh hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản
1.4.6.3. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Lợi nhuận sau thuế ROE = x 100% Vốn chủ sở hữu
Đối với chủ sở hũu thì tỷ số quan trọng nhất đối với họ là doanh lợi vốn chủ sở hữu, tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu; tỷ số này cho biết bình quân một trăm đồng vốn chủ sở hữu thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Mong muốn của các chủ sở hữu là làm cho tỷ số này càng cao càng tốt, khả năng sinh
lời của vốn chủ sở hữu cao hay thấp phụ thuộc vào tính hiệu quả của việc sử dụng vốn và mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Trong trường hợp việc sử
16
dụng vốn của doanh nghiệp là hiệu quả, đồng thời mức độ tài trợ bằng nợ cao thì lúc
đó doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ rất cao. Ngược lại, nếu việc sử dụng vốn không hiệu
quả đến mức lợi nhuận không đủ chi trả lãi vay thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính trong trường hợp này là gây tổn thất cho chủ sở hữu, thậm chí là mất khả năng chi trả.
17
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CP DẦU KHÍ ĐÔNG ĐÔ
2.1. Tổng quan về Công ty CP Dầu khí Đông Đô
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty CP Dầu khí Đông Đô được thành lập theo giấy phép số 0103017950
ngày 15 tháng 06 năm 2007 do Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp. Đăng
ký thay đổi lần thứ 2 vào ngày 10 tháng 10 năm 2011.
Tên công ty: Công ty Cổ phần Dầu khí Đông Đô
Tên viết tắt: PVC Đông Đô
Địa chỉ: Tâng 2, toàn nhà Dolphin Plaza, số 28 Phố Trần Bình, Quận Nam Từ
Liêm, Thành phố Hà Nội
Số điện thoại: 04.62554111
Mã số thuế: 0102293517
Vốn điều lệ : 500.000.000.000 VNĐ (Năm trăm tỷ đồng)
Công ty CP Dầu khí Đông Đô tiền thân là Công ty CP Bất động sản Tài chính
Dầu khí Việt Nam được thành lập theo Nghị quyết số 1771/NQ-DKVN ngày
08/06/2007 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam).
Mục tiêu chiến lược của Công ty CP Dầu khí Đông Đô là xây dựng Công ty trở
thành doanh nghiệp Bất động sản (BĐS) mạnh của Tập đoàn Dầu khí, là Công ty kinh doanh BĐS hàng đầu ở Việt Nam.
Dựa vào năng lực tài chính, chính sách hội nhập của nền kinh tế Việt Nam, sự
phát triển mạnh mẽ của nhu cầu nhà ở, khu đô thị, khu nhà ở cao cấp, tòa nhà văn
phòng hiện đại, khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí và thể thao, PVC Đông Đô sẽ
trở thành Công ty BĐS mạnh về cả quy mô vốn, công nghệ đầu tư và xây dựng các dự
án, khả năng hợp tác với các đối tác trong nước và quốc tế, khả năng cạnh tranh cao
trên thị trường BĐS.
Với năng lực trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, PVC Đông Đô đang đầu tư nhiều
dự án tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các địa phương khác trên cả nước.
2.1.2. Ngành nghề kinh doanh của Công ty
Lĩnh vực tƣ vấn, thiết kế BĐS: Tư vấn xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật, môi trường (không bao gồm các dịch vụ thiết kế công trình); kinh doanh dịch vụ tư vấn BĐS, đấu giá BĐS, quản lý và quảng cáo BĐS.
Lĩnh vực xây lắp và thi công các công trình: Lập dự án đầu tư, xây dựng các
dự án nhà ở, văn phòng, khách sạn, trung tâm thương mại, siêu thị, khu đô thị mới, khu
18
công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao tổng thầu các công trình dân dụng, công
nghiệp, hạ tâng kỹ thuật, môi trường.
Lĩnh vực kinh doanh và cung cấp thiết bị: Kinh doanh vật tư thiết bị phục vụ cho các công trình xây dựng, trang thiết bị nội, ngoại tất, cấp thoát nước, môi trường,
hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng cơ sở; kinh doanh bất động sản.
2.1.3. Cơ c u t ch c bộ máy quản lý của Công ty CP D u khí ông ô
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu bộ máy tổ chức Công ty CP Dầu khí Đông Đô
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT
GIÁM ĐỐC
Phó Giám đốc phụ trách Tài chính Phó Giám đốc phụ trách Đầu tư Phó Giám đốc phụ trách Kỹ thuật Phó Giám đốc phụ trách Nội chính
Phòng Tài chính Kế toán Phòng Tổ chức Hành chính Phòng Kinh tế Kế hoạch Phòng Đầu tư phát triển Phòng Quản lý Kỹ thuật
Các Ban quản lý dự án Sàn giao dịch BĐS Chi nhánh Thanh Hóa Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh
(Nguồn: Phòng Tổ chức Hành chính)
Tổng số Cán bộ CNV của Công ty hiện có 132 người, trong đó Ban giám đốc
và Phó Giám đốc gồm 05 người, Công ty được biên chế gồm 05 phòng, dưới các phòng là 05 Ban quản lý dự án, 01 Sàn giao dịch BĐS và 02 chi nhánh, đó là chi nhánh Thanh Hóa và chi nhánh TP. Hồ Chí Minh.
Ban lãnh đạo Công ty là những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm quản lý, điều hành trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, cùng với đội ngũ cán bộ, kỹ thuật có trình độ cao, có năng lực và kinh nghiệm trong quản lý, điều hành thi công xây lắp, đầu tư kinh
doanh bất động sản, tư vấn thiết kế kiến trúc. Đội ngũ cán bộ của Công ty được đào tạo chính quy, thường xuyên được đào tạo bổ sung và nâng cao trình độ ở trong và
ngoài nước.
19
2.1.3.1. Hội đồng Quản trị
Hội đồng Quản trị là cơ quan quản lý có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết
định mọi vấn đề liên quan đến SXKD và quyền lợi của Công ty như quyết định chiến lược phát triển của Công ty, quyết định phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị
trường,... trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT hoạt động theo
điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước.
2.1.3.2. Giám đốc
Đại diện mọi quyền lợi, nghĩa vụ của Công ty trước pháp luật và trước cơ quan quản lý Nhà nước. Quản lý và lãnh đạo toàn bộ hoạt động SXKD của Công ty, báo cáo
Hội đồng Quản trị về các hoạt động của Công ty. Giám đốc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ khác theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước.
2.1.3.3. Các Phó Giám đốc
Dưới quyền Giám đốc là các Phó giám đốc chịu trách nhiệm điều hành Công ty
theo phân công và uỷ quyền của Giám đốc. Phó Giám đốc phụ trách tài chính – đầu tư
– nội chính chịu trách nhiệm điều hành bộ phận hành chính, tài chính- kế toán và đầu
tư phát triển của Công ty, Phó Giám đốc kỹ thuật trực tiếp quản lý và điều hành bộ
phận kỹ thuật và quản lý thi công trong Công ty, có trách nhiệm giám sát và quản lý
trực tiếp các ban quản lý dự án.
2.1.3.4. Các phòng chức năng
Có nhiệm vụ thực hiện các công việc do Giám đốc và các Phó Giám đốc giao,
hoàn thành các công việc được giao theo đặc điểm riêng của từng phòng.
Phòng đầu tư phát triển có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ thiết kế, lập kế hoạch thi
công cho từng công trình; phòng quản lý kỹ thuật có nhiệm vụ quản lý và giám sát
việc thi công về tiến độ và chất lượng thi công, lập dự toán và thiết kế các bản vẽ hồ sơ
hoàn công. Giám sát các đơn vị thi công về kỹ thuật và theo đúng thiết kế, có trách
nhiệm đảm bảo cho các công trình hoạt động liên tục, quản lý giao nhận vật tư và các
trang thiết bị tại công trình; phòng tổ chức hành chính quản lý và tổ chức nhân sự
trong công ty và thực hiện các công tác lao động tiền lương, BHXH, BHYT. Hỗ trợ các phòng ban khác soạn thảo văn bản, công văn và hồ sơ dự thầu; phòng tài chính – kế toán – kinh tế kế hoạch tổ chức công tác tài chính - kế toán trong công ty. Tập hợp và huy động các nguồn tài chính, quản lý quỹ, thanh toán vật tư và tập hợp các chi phí của từng công trình.
2.1.3.5. Các ban quản lý dự án
Ban quản lý dự án trực tiếp quản lý, điều hành, giám sát các dự án theo yêu cầu
chỉ thị của các Phó Giám đốc, phòng quản lý kỹ thuật. Các ban quản lý của Công ty
20
bao gồm ban quản lý khu đô thị Dầu khí Đức Giang, ban quản lý Hải Phòng, ban quản
lý 160 Trần Quang Khải, bản quản lý CT5E Xuân Phương, ban quản lý dự án Hòa Bình.
2.1.3.6. Sàn giao dịch bất động sản
Sàn giao dịch bất động sản là đầu mối thu thập và phân tích các dữ liệu, thông tin
về cung cầu và giá cả trên thị trường bất động sản; cập nhật các quy định pháp luật về
lĩnh vực bất động sản để tham mưu cho lãnh đạo Công ty trong việc xác lập chiến
lược, kế hoạch kinh doanh; cung cấp các dịch vụ hỗ trợ giao dịch mua bán, chuyển
nhượng, cho thuê, thuê mua bất động sản; thực hiện việc xác nhận bất động sản đã được giao dịch qua Sàn.
2.1.3.7. Các chi nhánh
Thực hiện phát triển các kinh doanh đã được cấp phép trên địa bàn hoạt động.
Soạn thảo những văn bản pháp quy phục vụ cho các mặt hoạt động của Chi nhánh dựa trên những văn bản pháp quy của Công ty. Chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho cán
bộ nhân viên tại Chi nhánh. Thực hiện việc báo cáo với các Cơ quan quản lý nhà nước
tại địa phương theo qui định. Phối hợp với văn phòng công ty và các chi nhánh khác
trong việc khai thác khách hàng cũng như việc điều động nhân viên. Hiện nay Công ty
chỉ có 2 chi nhánh là chi nhánh tại Thanh Hóa và TP. Hồ Chí Minh.
2.2. Thực trạng công tác phân tích tình hình tài chính tại Công ty CP Dầu khí
Đông Đô
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một nội dung rất quan trọng đối với bất kỳ
một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Đối
với các nhà đầu tư và các ngân hàng thì hoạt động phân tích tài chính rất được coi
trọng và được tiến hành từ sớm nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động đầu tư và kinh
doanh của mình. Tuy nhiên ở Việt Nam, hầu hết các Công ty mới chỉ tiến hành hoạt
động này trong vài năm trở lại đây, Công ty Cổ phần dầu khí Đông Đô cũng không
nằm ngoài số đó. Trong khoảng thời gian ngắn đó, công tác phân tích tài chính đã
bước đầu được quan tâm và có những đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty.
2.2.1. Thực trạng các phương pháp phân tích tài chính của Công ty
Hiện tại, Công ty chỉ áp dụng các phương pháp phân tích truyền thống là phương pháp so sánh và phương pháp tỷ số. Chưa áp dụng các phương pháp phân tích tài chính hiện đại như phương pháp Dupont. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa hai phương pháp trên vẫn chưa thực sự đồng bộ và phát huy hết được hiệu quả của nó do việc tiến hành so sánh chỉ tiêu của hai năm cũng như so sánh các chỉ tiêu chi tiết với các chỉ tiêu tổng
quát không kết hợp với việc phân tích các tỷ số nên không thấy được sự tương quan giữa số tuyệt đối và số tương đối.
21
Đối với phương pháp so sánh: Công ty sử dụng để phân tích các Báo cáo tài
chính, qua đó xem xét cấu trúc tài sản, nguồn vốn, phát hiện các đặc trưng trong phân
bố tài sản và nguồn vốn. Công ty sử dụng phương pháp này vì nó tương đối đơn giản, so sánh giữa số liệu năm nay với số liệu năm trước để thấy mức độ tăng trưởng, so
sánh số thực hiện với số kế hoạch để đánh giá mực độ hoàn thành so với kế hoạch đã
đề ra.
Đối với phương pháp tỷ số: Công ty tiến hành phân tích cả 4 nhóm chỉ tiêu:
nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn, nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động và nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời. Việc xem xét
các nhóm chỉ tiêu này cho thấy cơ cấu vốn, đánh giá khả năng thanh toán, hiệu quả
hoạt động và quan trọng nhất là xem xét khả năng sinh lời của Công ty.
Công ty vẫn chưa sử dụng phương pháp phân tích Dupont mặc dù đây là một phương pháp đem lại hiệu quả cao, tuy nhiên nó khá mới mẻ, đòi hỏi phải sử dụng
kinh tế lượng để đánh giá sự tác động của các chỉ tiêu thành phần với chỉ tiêu tổng hợp
và giữa các chỉ tiêu thành phần với nhau.
2.2.2. Quy trình phân tích tài chính của Công ty CP D u khí ông ô
Công tác tổ chức phân tích tài chính của Công ty
Nhìn chung Công ty đã quan tâm tới việc tổ chức công tác phân tích tài chính,
nhưng hiện nay việc tổ chức hoạt động này vẫn còn khá sơ sài, mang tính hình thức bắt buộc, chưa thực sự vì mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính mà mới chỉ dừng
lại ở mức thực hiện đúng theo chủ trương của chế độ kế toán mới. Chưa xây dựng
được một quy trình phân tích hoàn chỉnh từ xác định mục tiêu, kế hoạch phân tích mà
chỉ lặp lại các phương pháp, nội dung phân tích tài chính từ năm này qua năm khác.
Công ty cũng chỉ phân tích tài chính môt lần duy nhất vào cuối chu kỳ kình doanh (vào
cuối mỗi năm). Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do Công
ty chưa thực sự thấy rõ tầm quan trọng cũng như hiệu quả hoạt động phân tích tài
chính có thể đem lại.
Công tác này do Phòng Tài chính - Kế toán đảm nhận và thực hiện nhằm mục đích đánh giá kết quả hoạt động của Công ty trong năm vừa qua nhằm tìm ra các nguyên nhân và các nhân tố tác động đến kết quả đó, xây dựng các báo cáo, kế hoạch, chiến lược tài chính ngắn hạn và dài hạn, định hướng phát triển cho Công ty trong thời gian tới. Tuy nhiên, hiện nay công tác này chỉ do hai người của phòng đảm nhận và thực hiện tất cả các bước phân tích, hơn nữa các cán bộ của phòng được đào tạo chủ yếu về chuyên ngành kế toán, chưa được đào tạo chính quy về tài chính doanh nghiệp
nên hoạt động phân tích tài chính vẫn chưa thực sự phát huy được hết vai trò của nó.
22
Công tác lựa chọn và xử lý thông tin
Thông tin được Công ty sử dụng trong phân tích tài chính là các báo cáo tài chính
bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, và thuyết minh Báo cáo tài chính. Các báo cáo này do phòng Tài chính - Kế toán tổng hợp và lập định kỳ. Báo
cáo lưu chuyển tiền tệ mặc dù đã được lập nhưng chưa được Công ty sử dụng trong
phân tích.
Số liệu sử dụng trong phân tích thường cũng chỉ lấy số liệu trong hai năm, năm
hiện tại và năm liền kề trước đó. Chưa sử dụng số liệu của nhiều năm liên tiếp để đánh giá sự biến động qua nhiều năm và có một cái nhìn tổng quát hơn.
Ngoài những thông tin có được từ các Báo cáo tài chính trên, Công ty hầu như
không sử dụng thêm một nguồn thông tin nào từ bên ngoài như thông tin liên quan đến
trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất, các thông tin liên quan đến ngành nghề hoạt động,… Đây là một thực tế không chỉ của Công ty Cổ phần
dầu khí Đông Đô mà của hầu hết các công ty ở Việt Nam hiện nay.
Việc xử lý thông tin còn rất sơ sài, hầu hết mới chỉ dừng lại ở việc tính toán, so
sánh, giải thích một số chỉ tiêu mà hầu như chưa có sự đánh giá, giải thích nguyên
nhân. Các thông tin sử dụng từ hầu hết là các thông tin có được từ sổ sách kế toán mà
không có sự kiểm tra tính xác thực, bổ sung các thông tin khác và xử lý sơ bộ.
2.2.3. Thực trạng nội dung phân tích tài chính của Công ty
Để đánh giá thực trạng tài chính của Công ty trong thời gian qua và xây dựng kế
hoạch kinh doanh năm tới cũng như kế hoạch tài chính Công ty đã tiến hành phân tích
tài chính ở những nội dung sau:
23
2.2.3.1. Phân tích khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty CP Dầu khí Đông Đô
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh
Đơn vị tiền: Triệu VND
Năm 2013/2012 Năm 2012/2011 STT Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Tuyệt đối Tƣơng đối Tuyệt đối Tƣơng đối
Doanh thu bán hàng và cung cấp 1 6.996 2.140 353.904 4.856 226,92 (351.764) (99,40) dịch vụ
2 Các khoản giảm trừ doanh thu 0 0 57 0 - (57) (100,00)
Doanh thu thuần về bán hàng và 6.996 2.140 353.847 4.856 226,92 (351.707) (99,40) 3 cung cấp dịch vụ
4 Giá vốn hàng bán 8.289 2.206 318.762 6.083 275,75 (316.556) (99,31)
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung (1.293) (66) 35.084 (1.227) (1.859,09) (35.150) (100,19) 5 cấp dich vụ
6 Doanh thu hoạt động tài chính 73 2.506 33.680 (2.433) (97,09) (31.174) (92,56)
7 Chi phí tài chính 71.314 17.522 3.348 53.792 307,00 14.174 423,36
- Trong đó: Chi phí lãi vay 12.559 17.402 1.330 (4.843) (27,83) 16.072 1.208,42
8 Chi phí bán hang 50 27 63 23 85,19 (36) (57,14)
24
Năm 2013/2012 Năm 2012/2011 STT Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Tuyệt đối Tƣơng đối Tuyệt đối Tƣơng đối
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 3.466 10.757 28.575 (7.291) (67,78) (17.818) (62,36)
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh (76.050) (25.866) 36.778 (50.184) ( 194,02) (62.644) (170,33) 10 doanh
11 Thu nhập khác 445 1.521 1.181 (1.076) (70,74) 340 28,79
12 Chi phí khác 243 366 0 (123) (33,61) - 366
201 1.155 1.182 (954) (82,60) (2,28) (27) 13 Lợi nhuận khác
(75.849) (24.711) 37.960 (51.138) (206,94) (62.671) (165,10) 14 Tổng lợi nhuận kế toán trƣớc thuế
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 15 0 0 8.240 0 - (8.240) (100,00) hiện hành
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 16 0 0 0 0 - 0 - hoãn lại
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh (75.849) (24.711) 29.720 (51.138) ( 206,94) (54.431) (183,15) 17 nghiệp
(Nguồn: Báo cáo Tài chính)
25
Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Năm 2012 là 2.140 triệu đồng, giảm
351.764 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 99,40% so với năm 2011. Còn năm 2013 là 6.996 triệu đồng, tăng 4.856 triệu đồng, tương ứng tăng với tỉ lệ là 226,92% so với
năm 2012. Qua số liệu vừa đề cập ta có thể thấy doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ của Công ty giảm không đều qua các năm. Nguyên nhân là do tình hình kinh doanh
bất động sản, cũng như xây dựng và lắp đặt các công trình của công ty đang gặp khó
khăn và có dấu hiệu đi xuống. Các dự án bị đóng băng do thiếu vốn, thiếu nhà đầu tư. Hàng loạt các công ty bất động sản khác tổ chức bán tháo, giảm giá bất động sản đã
làm cho thị trường bất động sản nói chung và Công ty CP Dầu khí Đông Đô rơi vào
tình trạng khủng hoảng.
Giá vốn hàng bán: Cùng xu hướng với doanh thu thì trong năm 2012, giá vốn hàng bán giảm từ 318.762 triệu đồng năm 2011 xuống còn 2.206 triệu đồng năm 2012
(giảm 99,31%). Năm 2013 lại tăng lên mức 8.289 triệu đồng (tăng 226,92%). Nhìn vào
thông tin trên ta có thể thấy mặc dù giá vốn hàng bán giảm nhưng giảm chậm hơn
doanh thu, chính vì vậy giá trị của giá vốn hàng bán trong 2 năm 2012 và 2013 đều cao
hơn doanh thu bán hàng. Điều này đã phán ánh đúng tình trạng bán tháo, giảm giá các
công trình bất động sản của Công ty. Trái ngược hẳn với một năm thị trường bất động
sản nở rộ thì sang đến năm 2012, tình trang xây dựng ồ ạt đã làm cho cung – cầu lệch nhau, các công trình xây dựng không bán được, một số công trình đang xây bị bỏ ngỏ
do không còn vốn đã gây nên tình trạng trên. Việc bán tháo, giảm giá bán bất động sản
của Công ty CP Dầu khí Đông Đô nhằm thu hồi vốn để trả nợ ngân hàng, thanh toán
cho chủ nợ. Giá vốn hàng bán cao hơn doanh thu đã làm cho lợi nhuận gộp bị âm vào
năm 2012 và 2013.
Doanh thu hoạt động tài chính: Công ty CP Dầu khí Đông Đô rất chú trọng trong
đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn. Năm 2011 Công ty chủ yếu vào đầu tư mua cổ
phiếu ngắn hạn; ngoài ra Công ty còn nhận ủy thác Đầu tư tại Công ty Tài chính Cổ
phần Dầu khí Việt Nam, mua cổ phần và góp vốn vào một số công ty xây dựng và bất động sản khác. Có thể nói năm 2011 là năm Công ty đi đầu tư dài hạn nhiều nhất. Thị trường bất động sản năm 2011 vẫn còn rất nóng, các danh mục đầu tư của công ty đều mang lại kết quả tốt. Chính vì lẽ đó mà năm 2011, doanh thu từ hoạt động tài chính của Công ty đạt 33.680 triệu đồng.
Năm 2012, Công ty đã rút vốn đầu tư dài hạn tại dự án Golden Palace chuyển sang góp vốn đầu tư ngắn hạn; ngoài ra Công ty còn góp vốn đầu tư ngắn hạn vào dự
án Chung cư BMM tại phường Phúc La, quận Hà Đông. Tuy nhiên, năm 2012, thị trường bất động sản đi xuống, các dự án không bán được đã làm cho doanh thu từ hoạt động tài chính của Công ty giảm xuống còn 2.505 triệu đồng (giảm 92,56% so với 26
năm 2011). Trước tình hình khó khăn của thị trường BĐS, sang năm 2013, Công ty
tiếp tục rút vốn tại một số dự án nhằm thu hồi vốn đem trả các khoản vay ngân hàng,
trả tiền cho các chủ nợ. Các danh mục đầu tư còn lại không đem lại nhiều lợi nhuận đã khiến cho năm 2013, doanh thu về hoạt động tài chính của công ty chỉ đạt 75 triệu
đồng, một con số rất nhỏ so với những gì đã làm được vào năm 2011.
Chi phí quản lý kinh doanh: Chi phí quản lý kinh doanh có xu hướng giảm từ
năm 2011 đến năm 2013. Trong mục chi phí quản lý kinh doanh thì chi phí quản lý
doanh nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất, và việc giảm của chi phí quản lý kinh doanh cũng bắt ngồn từ việc giảm chi phí quản lý doanh nghiệp. Năm 2011 chi phí quản lý
doanh nghiêp là 28.575 triệu đồng, năm 2012 giảm xuống còn 10.757 triệu đồng (giảm
62,36%), sang năm 2013 tiếp tục giảm thêm 67,78% khi chỉ còn 3.466 triệu đồng. Chi
phí quản lý doanh nghiệp giảm vì trong năm 2012, 2013 Công ty liên tục điều chỉnh giảm đội ngũ nhân viên, lao động nhằm giảm thiểu chi phí do tình hình kinh doanh yếu
kém.
Lợi nhuận sau thuế: Từ báo cáo kết quả kinh doanh có thể thấy Công ty liên tục
lỗ ròng trong 2 năm 2011 và 2012. Nguyên nhân xuất phát từ tình hình kinh doanh
kém, doanh thu giảm và nhỏ trong khi giá vốn hàng bán mặc dù có giảm nhưng vẫn
cao hơn doanh thu do Công ty phải bán lỗ các dự án, các bất động sản nhằm láy tiền
trả nợ ngân hàng và đảm bảo thanh khoản. Duy chỉ có năm 2011, Công ty vẫn thu được lợi nhuận là 29.720 triệu đồng. Năm 2012 và 2013 Công ty lỗ ròng lần lượt là
24.711 triệu đồng và 75.849 triệu đồng. Đây là một con số đáng báo động, tuy nhiên
lại là tình hình chung của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản lúc bấy giờ.
Tình hình kinh doanh thua lỗ là kết quả chung của các công ty bất động sản
trong khoảng thời gian từ năm 2012 – 2013. Bất động sản năm 2012 được cho là một
năm đầy bi ai. Xu hướng bán tháo, giảm giá bất động sản tăng mạnh, ồ ạt các dự án bị
bán tháo để thu tránh lỗ quá nhiều. Theo VNDIRECT công bố báo cáo hợp nhất có
kiểm toán của 25 doanh nghiệp bất động sản đang niêm yết đến ngày 6/8/2013 thì
không có công ty nào đạt doanh thu tới 500 tỷ đồng, lãi cao nhất cũng chưa đầy 54 tỷ đồng. Trên sàn Hà Nội (HNX), với 9 công ty đã nộp báo cáo kiểm toán hợp nhất, theo số liệu của VNDIRECT, doanh thu 6 tháng đầu năm 2013 cao nhất thuộc về Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng – Hội An (DIH) với mức 122,48 tỷ đồng. Còn Công ty Cổ phần Dầu khí Đông Đô (PFL) với 0,13 tỷ đồng là đơn vị có doanh thu 6 tháng thấp nhất.
27
2.2.3.2. Phân tích khái quát tình hình tài sản – nguồn vốn của Công ty CP dầu khí Đông Đô
a. Phân tích tình hình tài sản
Bảng 2.2. Bảng phân tích tình hình tài sản trong 03 năm
Đơn vị tính: Triệu VND,%
Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Năm 2013/2012 Năm 2012/2011 Chỉ tiêu
Tuyệt Tuyệt Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Tƣơng đối Tƣơng đối đối đối
A - TÀI SẢN NGẮN 141.574 100 117.037 100 102.021 100 24.537 20,97 15.016 14,72 HẠN
I. Tiền và các khoảng (360) (44,72) (6.157) (88,44) 445 0,31 805 0,69 6.962 6,82 tương đương tiền
(5.094) (11,22) 40.507 827,52 40.308 28,47 45.402 38,79 4.895 4,80 II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
III. Các khoản phải thu (1.060) (1,80) (19.302) (24,71) 57.742 40,79 58.802 50,24 78.104 76,56 ngắn hạn
1. Phải thu khách hàng (70) (0,19) (8.271) (18,55) 36.252 25,61 36.322 31,03 44.593 43,71
(4.564) (26,76) 7.231 73,59 12.493 8,82 17.057 14,57 9.826 9,63 2. Trả trước cho người
28
Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Năm 2013/2012 Năm 2012/2011 Chỉ tiêu
Tuyệt Tuyệt Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Tƣơng đối Tƣơng đối đối đối
bán
3. Các khoản phải thu 3.573 65,87 (18.261) (77,10) 8.997 6,36 5.423 4,63 23.685 23,22 khác
IV. Hàng tồn kho 30.402 1.373,79 (70) (3,07) 32.615 23,04 2.213 1,89 2.283 2,24
V. Tài sản ngắn hạn khác 650 6,62 37 0,38 10.464 7,39 9.814 8,39 9.777 9,58
B – TÀI SẢN DÀI HẠN (90.505) (15,30) (21.033) (3,43) 501.208 100 591.713 100 612.746 100
I. Tài sản cố định 1.968 0,71 2.543 0,93 278.785 55,62 276.817 46,78 274.274 44,76
1. Tài sản cố định hữu 24.629 1.854,59 (1.126) (45.88) 25.957 5,18 1.328 0,22 2.454 0,4 hình
24.211 488,91 (1.547) (23,80) 29.163 5,81 4.952 0,84 6.499 1,06 - Nguyên giá
(6.830) (188,47) (421) (10,41) (3.206) (0,63) (3.624) (0,62) (4.045) (0,66) - Giá trị hao mòn lũy kế
2. Tài sản cố định vô hình - - (24) (100) 0 0 0 0 24 0
29
Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Năm 2013/2012 Năm 2012/2011 Chỉ tiêu
Tuyệt Tuyệt Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Tƣơng đối Tƣơng đối đối đối
3. Chi phí xây dựng dở (22.661) (8,23) 3.694 1,36 252.828 50,44 275.489 46,56 271.795 44,36 dang
II. Bất động sản đầu tư 2.642 46,73 (236) (4,01) 8.296 1,66 5.654 0,96 5.890 0,96
III. Các khoản đầu tư tài (95.350) (30,83) (23.303) (7,01) 213.882 42,67 309.232 52,26 332.535 54,27 chính dài hạn
IV. Tài sản dài hạn khác 235 2.350 (37) (78,72) 245 0,05 10 0 47 0,01
TỔNG TÀI SẢN 642.782 708.750 714.767 (65.968) (9,31) (6.017) (0,84)
(Nguồn: Báo cáo Tài chính Công ty)
30
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tổng tài sản
(Nguồn: Báo cáo Tài chính Công ty)
Đơn vị tính: %
Tài sản ngắn hạn: Năm 2011 là 102.021 triệu đồng, tăng lên mức 117.037 triệu
đồng trong năm 2012 (tăng 14,72%) và tiếp tục tăng lên 141.574 đồng trong năm 2013
(tăng 20,97%). Có thể thấy tài sản ngắn hạn đang tăng lên, năm sau tăng nhanh hơn năm trước, tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản cũng được tăng lên. Trong đó:
Tiền và các khoản tương đương tiền: Năm 2012 là 805 triệu đồng chỉ chiếm
0,69% tài sản ngắn hạn, giảm 6.157 triệu đồng, tương đương giảm 88,44% so với năm
2011. Năm 2013, lượng tiền mặt trong Công ty chỉ còn lại 445 triệu đồng chiếm 0,31%
tài sản ngắn hạn. Việc giảm một lượng tiền mặt như vậy thể hiện động thái của công ty
khi đối mặt với tình hình lạm phát, tránh giữ quá nhiều tiền mặt mà mất đi chi phí cơ
hội, nên công ty đã dùng tiền mặt để đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn và dùng tiền
để trả nợ ngân hàng khi đến hạn do trong năm 2012 công ty làm ăn bị thua lỗ. Tuy
nhiên việc giảm lượng tiền mặt sẽ làm tính thanh khoản của công ty giảm xuống, Công
ty cần cân nhắc xem giữ lại bao nhiêu tiền cho hợp lý.
u tư tài chính ngắn hạn: Năm 2011, khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của Công ty chỉ có 4.895 triệu đồng chiếm xấp xỉ 4,8% tài sản ngắn hạn. Khoản đầu tư tài chính chủ yếu là đầu tư mua các cổ phiếu ngắn hạn. Sang năm 2012, Công ty bắt đầu
góp vốn đầu tư vào các dự án chung cư đã đẩy trị số khoản đầu tư tài chính ngắn hạn năm 2012 tăng lên đến 45.402 triệu đồng (tăng 40.507 triệu đồng, tăng 827,52% so với năm 2011). Năm 2013, do kinh doanh thua lỗ, một số dự án đầu tư ngắn hạn không đem lại lợi nhuận nên Công ty đã rút một vốn ở một số dự án để lấy tiền thanh toán nợ cho ngân hàng và chủ nợ. Chính vì vậy mà khoản đầu tư tài chính ngắn hạn trong năm 2013 chỉ còn 40.308 triệu đồng.
31
Phải thu khách hàng: Giảm qua từng năm, năm 2012 khoản phải thu này là
36.322 triệu đồng, giảm 8.271 triệu đồng, tương ứng giảm 18,55% so với năm 2011.
Năm 2013 tiếp tục giảm nhẹ xuống còn 36.252 triệu đồng, giảm 70 triệu đồng, tương ứng giảm 0,19% so với năm 2012. Khoản phải thu giảm và doanh thu thuần giảm hàng
năm cho thấy Công ty đã bán được ít hàng hơn, trúng thầu ít hoặc không tham gia thầu
các hạng mục công trình, năm 2012 và 2013 Công ty hầu như không thu hồi được vốn
do khách hàng chiếm dụng. Việc để khách hàng nợ quá nhiều sẽ khiến công ty có thể
gặp những rủi ro nhất định. Bởi vì Công ty có thể bị các khách hàng, các nhà thầu khác chiếm dụng vốn, hoặc khoản nợ có thể trở thành nợ khó đòi. Hoặc những khoản vốn
chưa thu hồi được sẽ trở thành những khoản vốn chết tạm thời, Công ty sẽ không thể
dùng khoản vốn đó để tái đầu tư một cách có hiệu quả nhất. Tuy nhiên để có thể đưa ra
những nhận định chính xác hơn thì ta cần phải tính toán và xem xét đến vòng quay khoản phải thu khách hàng bình quân.
Hàng tồn kho: Hàng tồn kho của Công ty chủ yếu là chi phí sản xuất kinh doanh
dở dang và hàng hóa bất động sản. Hàng tồn kho của Công ty tăng mạnh vào năm
2013 khi tăng từ 2.213 triệu đồng năm 2012 lên đến 32.615 triệu đồng năm 2013.
Nguyên nhân là do hàng hóa bất động sản tăng mạnh. Phần trị giá tăng thêm này chính
là giá trị của 10 căn hộ tại dự án Dragon Petro Hill, 4 căn hộ tại dự án Golden Palace
mà Công ty đang nắm giữ để phục vụ cho mục đích bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường. Việc dự trữ một lượng hàng tồn kho nhiều hơn đồng nghĩa với
việc Công ty phải chịu nhiều chi phí bảo quản. Vì vậy Công ty cần có những dự báo
chính xác nhất về nhu cầu của thị trường để dự trữ một lượng hàng tồn kho hợp lý.
Tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn qua 3 năm phân tích đang giảm đi khá nhiều, tỷ
trọng tài sản dài hạn cũng vì thế mà giảm đi. Việc giảm của tài sản dài hạn bị ảnh
hưởng bởi các đơn vị cấu thành nên nó. Cụ thể như sau:
Tài sản cố định: Chi phí xây dựng dở dang chiếm hầu hết tỷ trọng trong tài sản
cố định. Năm 2011, chi phí xây dựng dở dang là 271.795 triệu đồng nhưng đến năm
2013 thi giảm xuống còn 252.828 triệu đồng. Có thể thấy khoản chi phí dài hạn này giảm không nhiều. Nguyên nhân đến từ các công trình dở dang có thời gian thi công trên 1 năm đang bị đóng băng nhiều. Tài sản cố định hữu hình hầu như chiếm toàn bộ phần còn lại tỷ trọng trong tài sản cố định. Nguyên giá tài sản định hữu hình năm 2012 là 4.952 đồng, giảm 1.547 triệu đồng, tương ứng giảm 23,80% so với năm 2011. Năm 2013 nguyên giá tài sản cố định hữu hình tăng mạnh lên mức là 29.163 triệu đồng, tăng 24.211 triệu đồng, tương ứng tăng 488,91% so với năm 2012. Tài sản cố định hữu hình tăng do một số hàng mục đầu tư xâu dựng cơ bản đã được hoàn thành, Công ty có
mua thêm một số thiết bị dụng cụ quản lý. Tuy nhiên, theo những thông tin thu thập
32
được trong năm 2013, do Công ty làm ăn thua lỗ lớn nên đã đem giá trị còn lại của
TSCĐ hữu hình đem thế chấp, cầm cố để đảm bảo các khoản vay.
B t động sản đ u tư: Bất động sản đầu tư qua 3 năm phân tích đang có xu hướng tăng nhưng không đều. Năm 2012 bất động sản đầu tư đạt 5.654 triệu đồng
giảm nhẹ mức 4,01% so với năm 2011. Nhưng đến năm 2013 tăng lên đến 8.296 triệu
đồng, tăng so với năm 2012 là 2.502 triệu đồng tương ứng tăng 42,34%. Việc tăng này
được giải thích vì trong năm 2013, Công ty có mua thêm một căn nhà tại số 38A Lê
Lợi đã làm cho bất động sản đầu tư trong năm 2013 tăng lên.
Các khoản đ u tư tài chính dài hạn: Năm 2011, thị trường bất động sản lên cao,
Công ty đã đầu tư góp vốn cổ phần, mua cổ phiếu, góp vốn đầu tư vào nhiều công ty
khác, góp vốn đầu tư vào nhiều dự án nhằm thu lời từ các dự án này. Tuy nhiên sang
đến năm 2012 và 2013, thị trường bất động sản đi xuống, cung nhiều hơn cầu, các dự án không bán được căn hộ, các công ty xây dựng, bất động sản cũng bị thua lỗ, bán
tháo nhiều công trình để bù lỗ. Để tránh thất thoát tiền, Công ty CP Dầu khí Đông Đô
đã rút vốn đầu tư tại nhiều công ty, nhiều hạng mục dự án để tránh bị mất vốn nếu như
các công ty đó phá sản. Chính vì lẽ đó mà từ năm 2011 đến năm 2013, các khoản đầu
tư tài chính dài hạn tại Công ty đã giảm đáng kể. Năm 2013 chỉ còn 213.882 triệu
đồng trong khi năm 2011 vẫn đang ở con số là 332.535 triệu đồng.
33
b. Phân tích t ng nguồn vốn
Bảng 2.3. Bảng phân tích tình hình nguồn vốn trong 03 năm
Đơn vị tính: Triệu VND,%
Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Năm 2013/2012 Năm 2012/2011 Chỉ tiêu
Tuyệt Tƣơng Tuyệt Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Tƣơng đối đối đối đối
A – NỢ PHẢI TRẢ 10.019 4,79 44.542 27,07 219.097 100 209.078 100 164.536 100
I. Nợ ngắn hạn 10.488 5,26 41.974 26,66 209.904 95,80 199.416 95,38 157.442 95,69
1. Vay và nợ ngắn hạn 1.117 1,43 2.381 3,15 79.098 36,10 77.981 37,30 75.600 45,95
2. Phải trả người bán 3.480 40,85 254 3,07 11.998 5,48 8.518 4,07 8.264 5,02
3. Người mua trả tiền 2.288 385,83 (71) (10,69) 2.881 1,31 593 0,28 664 0,40 trước
4. Thuế và các khoản (504) (34,10) (317) (17,66) 974 0,44 1.478 0,71 1.795 1,09 phải nộp Nhà nước
5. Phải trả người lao (1.010) (71,63) (1.052) (42,73) 400 0,18 1.410 0,67 2.462 1,50 động
34
Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Năm 2013/2012 Năm 2012/2011 Chỉ tiêu
Tuyệt Tƣơng Tuyệt Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Tƣơng đối đối đối đối
6. Chi phí phải trả 11.847 89,49 12.704 2.374,58 25.086 11,45 13.239 6,33 535 0,33
7. Các khoản phải trả, (6.236) (6,75) 28.363 44,34 86.088 39,29 92.324 44,16 63.961 38,87 phải nộp ngắn hạn khác
8. Quỹ khen thưởng, phúc lợi (494) (12,75) (289) (6,94) 3.379 1,54 3.873 1,85 4.161 2,53
II. Nợ dài hạn (469) (4,85) 2.566 36,17 9.192 4,20 9.661 4,62 7.095 4,31
1. Vay và nợ dài hạn (469) (4,85) 2.917 43,25 9.192 4,20 9.661 4,62 6.744 4,10
2. Phải trả dài hạn khác 0 - (351) (100) 0 0 0 0 351 0,21
B – VỐN CHỦ SỞ (75.987) (15,21) (50.559) (9,19) 423.685 100 499.672 100 550.231 100 HỮU
I. Vồn chủ sở hữu (75.987) (15,21) (50.559) (9,19) 423.685 100 499.672 100 550.231 100
TỔNG NGUỒN VỐN 642.782 708.750 714.767 (65.968) (9,31) (6.017) (0,84)
(Nguồn: Báo cáo Tài chính Công ty)
35
Biểu đồ 2.2. Tổng nguồn vốn của công ty
Đơn vị tính: %
(Nguồn: Báo cáo Tài chính của Công ty)
Nợ phải trả: Qua biểu đồ trên ta có thể thấy tỷ trọng nợ phải trả qua 3 năm đang
tăng dần lên. Cụ thể:
Vay và nợ ngắn hạn: Có thể thấy vay và nợ ngắn hạn của Công ty đang tăng lên.
Nguyên nhân là do năm 2012 và 2013, Công ty bị lỗ ròng - chi phí trả lãi tăng cao
khiến Công ty phải đi vay ngắn hạn với lãi cao để thanh toán các khoản nợ. Lợi nhuận
bị âm, trong khi một số Công trình vẫn cần vốn để tiếp tục thi công đã khiến cho Công
ty tìm đến các khoản vay nóng, vay thế chấp. Điều này đã khiến cho chi phí lãi vay
trong năm 2012 và 2013 tăng lên rất cao. Cụ thể năm 2011, khoản vay và nợ ngắn hạn
là 75.600 triệu đồng, năm 2012 là 77.981 triệu đồng và năm 2013 tiếp tục tăng lên là
79.098 triệu đồng. Khoản vay và nợ ngắn hạn tăng lên đi kèm với gánh nặng nợ ngắn
hạn cũng tăng theo.
Phải trả người bán: Năm 2012 là 8.518 triệu đồng, tăng 254 triệu đồng, tương
ứng tăng 3,07% so với năm 2011. Đối với năm 2013 là 11.998 triệu đồng, tăng 3.480
triệu đồng, tương ứng tăng 40,85% so với năm 2012. Phải trả người bán liên tục tăng qua các năm do tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty ngày một kém đi, các công trình bị đóng băng do thiếu vốn, doanh thu giảm, bị lỗ ròng khiến, trong khi một số dự án đang thực hiện vẫn cần phải tiếp tục thi công đòi hỏi cần một lượng nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình xây dựng các công trình. Mặc dù tình hình kinh doanh đang hết sức khó khăn, nhưng dựa vào uy tín cũng như sự hậu thuẫn giúp đỡ từ công ty mẹ đã giúp Công ty tìm được các bạn hàng sẵn sàng cho nợ tiền nguyên vật liệu hàng hóa. Có
thể thấy thông qua BCĐKT khoản phải trả người bán ở mức cao và chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng nợ phải trả, điều này cho thấy Công ty đã tạo dựng được một uy tín nhất
định về khả năng thanh toán với các người bán. Tuy nhiên phải trả người bán liên tục
36
tăng và có giá trị lớn sẽ ít nhiều khiến Công ty chịu gánh nặng phải trả nợ, và nếu nợ
quá lâu người bán có thể sẽ khiến Công ty không đặt hàng đươc những hàng hóa và
nguyên vật liệu tốt nhất.
Người mua trả tiền trước: Khoản người mua trả tiền trước tròng năm 2011 và
2012 không có sự chênh lệch nhiều. Duy chỉ có năm 2013 đã đột ngột tăng thêm 2.287
triệu đồng, tăng 385,67% so với năm 2012. Nguyên nhân là do trong năm 2013, Công
ty có thực hiện bán tháo, giảm giá một số căn hộ, một số khách hàng đã đặt tiền trước
để mua nhưng các căn hộ này chưa bàn giao đến tay khách hàng vì thế khoản tiền này trở thành khoản chiếm dụng của Công ty đối với khách hàng.
Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước: Mặc dù kinh doanh thu lỗ nhưng theo
những gì có trong bảng CĐKT thì hàng năm Công ty vẫn thực hiện đều đặn nghĩa vụ
trả các khoản thuế và các khoản phải nộp Nhà nước. Năm 2011, khoản mục này ở mức 1.795 triệu đồng nhưng đến năm 2013 thì chỉ còn 974 triệu đồng.
Phải trả người lao động: Mặc dù công ty phải đi vay để sản xuất kinh doanh
nhưng cũng không chiếm dụng quá nhiều tiền từ người lao động, luôn cố gắng chi trả
lương hết sức có thể. Đây là một chính sách riêng của công ty. Luôn trả lương đầy đủ
và đúng hạn cho người lao động sẽ giúp họ an tâm hơn trong lao động và cống hiến hết
mình cho công ty.
Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác: Là một Công ty Cổ phần vì vậy hàng năm Công ty vẫn phải thanh toán cổ tức phải trả cho các cổ đông, kinh phí công
đoàn, bảo hiểm xã hội,.... Năm 2012, khoản mục này ở mức 63.961 triệu đồng nhưng
đến năm 2012 thì tăng lên 92.324 triệu đồng chủ yếu là do Công ty phải chi trả cổ tức
nhiều hơn. Năm 2013 thì khoản mục này giảm xuống còn 86.088 triệu đồng.
Vay và nợ dài hạn: Năm 2011, Công ty có vay một khoản tiền trị giá 6.744 triệu
đồng từ Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam để đầu tư tại dự án Tòa
nhà hỗn hợp tại Hải Phòng, khoản vay được đảm bảo bằng quyền sử dụng đất hình
thành từ vốn vay. Sang năm 2012, Công ty tiếp tục vay thêm tại Tổng Công ty Cổ
phần Tài chính Dầu khí Việt Nam, ngoài ra Công ty còn đi vay thế chấp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội – Chi nhánh Mỹ Đình. Chính điều này đã làm cho vay và nợ dài hạn năm 2012 tăng lên mức 9.661 triệu đồng so với năm 2011 (tăng 43,25%).
Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với vốn vay. Khoản mục này hàng đang giảm dần. Nguyên nhân chủ yếu là do trong năm 2012 và 2013 Công ty làm ăn thua lỗ, trong khi vẫn phải trả cổ tức, trả lương và các khoản
chi phí hoạt động. Chính vì vậy Công ty đã lấy khoản lợi nhuận sau thuế chưa phân
37
phối tiến hành chi trả, tuy nhiên chi phí phải trả lạ vượt quá quỹ lợi nhuận để lại đã
khiến cho khoản mục này bị giảm và âm kéo theo vốn chủ sở hữu giảm xuống.
2.2.3.3. Phân tích khả năng thanh toán của Công ty CP Dầu khí Đông Đô
a. Khả năng thanh toán nhanh
Bảng 2.4. Khả năng thanh toán tức thời
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tài sản ngắn hạn (Triệu VND) 102.021 117.037 141.574
Hàng tồn kho (Triệu VNĐ) 2.283 2.213 32.615
Tổng nợ ngắn hạn (Triệu VND) 157.442 199.416 209.904
Hệ số thanh toán nhanh (Lần) 0,63 0,58 0,52
Chênh lệch giữa các năm (Lần) (0,05) (0,06)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Biểu đồ 2.3. Hệ số thanh toán nhanh
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Khả năng thanh toán nhanh: Là chỉ tiêu đánh giá được khả năng thanh toán của Công ty một cách chặt chẽ hơn. Năm 2012 khả năng thanh toán nhanh là 0,58 lần, giảm 0,05 lần so với năm 2011, đến năm 2013 chỉ số này lại tiếp tục giảm. Cụ thể năm 2013 là 0,52 lần, giảm 0,06 lần so với năm 2012. Khả năng thanh toán nhanh của
những năm gần đây đều nhỏ hơn 1. Điều này cho thấy 1 đồng nợ ngắn hạn của Công ty được đảm bảo bởi ít hơn 1 đồng tài sản có tính thanh khoản cao. Nguyên nhân chủ yếu đều xuất phát từ hàng tồn kho quá cao đã khiến cho khả năng thanh toán của công
ty giảm xuống. Việc dự trữ quá nhiều hàng tồn kho không những không đảm bảo khả
năng thanh toán những lúc cấp bách mà lại còn phát sinh chi phí quản lý kho của Công ty.
38
b. Khả năng thanh toán t c thời
Bảng 2.5. Khả năng thanh toán tức thời
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tiền và các khoản tương đương tiền 6.962 805 445 (Triệu VND)
Tổng nợ ngắn hạn (Triệu VND) 157.442 199.416 209.904
Hệ số thanh toán tức thời (Lần) 0,044 0,004 0,002
Chênh lệch giữa các năm (Lần) (0,04) (0,002)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Biểu đồ 2.4. Hệ số thanh toán tức thời
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Khả năng thanh toán tức thời: Năm 2012 chỉ tiêu này là 0,004 lần, giảm 0,04 lần
so với năm 2011. Đối với năm 2013 là 0,002 lần; giảm 0,002 lần so với năm 2012. Chỉ
tiêu này trong năm 2013 giảm do tốc độ tăng của nợ ngắn hạn luôn luôn tăng, trong
khi tiền và các khoản tương đương tiền lại giảm mạnh. Khác với khả năng thanh toán
ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh, chỉ tiêu khả năng thanh toán tức trong những năm gần đây đều nhỏ hơn 1 rất nhiều. Tiền và các khoản tương đương tiền có giảm nhưng nhờ những khoản tiền khách hàng ứng trước, khoản chiếm dụng của người bán cho nên mặc dù khả năng thanh toán tức thời nhỏ hơn 1 nhưng vẫn có thể đáp ứng được hầu hết các khoản thanh toán tức thời.
39
2.2.3.4. Phân tích khả năng quản lý tài sản
a. Khả năng luân chuyển hàng tồn kho
Bảng 2.6. Chỉ tiêu quản lý hàng tồn kho
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Vòng quay hàng tồn kho (Vòng) 139,65 1,00 0,25
Chênh lệch vòng quay hàng tồn kho giữa các năm (138,65) (0,74) (Vòng)
Thời gian quay vòng hàng tồn kho (Ngày) 2,58 351,15 1.416,56
Chênh lệch thời gian quay vòng hàng tồn kho giữa 348,57 1.065,41 các năm (Ngày)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Biểu đồ 2.5. Thời gian quay vòng hàng tồn kho trung bình
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Khả năng luân chuyển hàng tồn kho đuợc đánh giá thông qua các chỉ tiêu số
vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho.
Xem xét khả năng luân chuyển hàng tồn kho thông qua số vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho thì ta thấy rằng khả năng luân chuyển hàng tồn kho của công ty khá thấp, ba năm trở lại đây khả năng luân chuyển hàng tồn kho lại có xu hướng giảm rất nhanh. Cụ thể:
Năm 2011 thì Công ty có trung bình 139,65 lần xuất hàng, chu kỳ xuất hàng là
2,58 ngày. Năm 2011, Công ty kinh doanh rất tốt do thị trường Bất động sản vẫn còn
khá nhộn nhịp, các công trình xây dựng được thực hiện hoàn tất, thu hồi vốn nhanh, kinh doanh bất động sản đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên đến năm 2012, 2013 thì tình hình
40
đã thay đổi chóng mặt khi thị trường BĐS đổ vỡ, hàng loạt các dự án bị đóng băng,
các bất động sản đầu tư không bán được, bị ứ đọng lớn đã khiến cho vòng quay hàng
tồn kho năm 2012 chỉ còn 1,00 vòng, năm 2013 còn xuống đến 0,25 vòng trong 1 năm. Năm 2013 đạt mốc kỉ lục khi phải mất 1.416,56 ngày hàng tồn kho mới quay hết 1
vòng. Năm 2013 vòng quay hàng tồn kho giảm mạnh do tốc độ tăng của hàng tồn kho
lớn (tăng 1.373,5% so với năm 2012) trong khi giá vốn hàng chỉ tăng thêm 275,7% so
với năm 2012. Trong năm 2013, Công ty chưa đủ 1 lần xuất hàng. Vòng quay hàng tồn
kho giảm hay nói cách khác là thời gian quay vòng hàng tồn kho tăng là do tốc độ tăng của hàng tồn kho cao hơn tốc độ tăng của giá vốn hàng bán.
b. Hiệu su t sử dụng t ng tài sản
Bảng 2.7. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Doanh thu thuần (Triệu VND) 353.847 2.140 6.996
Tổng tài sản (Triệu VND) 714.767 708.750 642.782
Nguyên giá TSCĐ (Triệu VND) 6.523 4.952 29.163
TSNH (Triệu VND) 102.021 117.037 141.574
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (Lần) 0,495 0,003 0,011
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Biểu đồ 2.6. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Nhìn vào biểu đồ trên có thể thấy được hiệu suất sử dụng tài sản đang có xu
hướng giảm mạnh nhưng không đều. Bên cạnh đó thì doanh thu thuần và tổng tài sản
41
cũng đang có chiều hướng biến động theo chiều hướng giảm qua các năm, nhưng gần
đây nhất là năm 2012 thì hiệu suất sử dụng tổng tài sản lại giảm mạnh, điều này cho
thấy rằng việc sử dụng tài sản của công ty vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Cụ thể như sau:
Năm 2011-2012: Năm 2012, hiệu suất sử dụng tổng tài sản là 0,003 lần, giảm
0,492 lần so với năm 2011. Ở đây có thể hiểu rằng trong năm 2012 một đồng tài sản
đưa vào hoạt động kinh doanh thì thu được 0,003 đồng doanh thu thuần. Chỉ số này
giảm vào năm 2012 do tốc độ giảm mạnh của doanh thu thuần đạt 99,40% trong khi tổng tài sản chỉ giảm nhẹ 0,84%. Chỉ số này tăng cho thấy năm 2012 Công ty đã sử
dụng kém hiệu quả lợi ích mà tài sản đem lại để tạo ra doanh thu.
Năm 2012-2013: Sau 1 năm hiệu suất sử dụng tài sản giảm thì tính đến cùng kì
năm 2013 lại tăng nhẹ lên mức 0,011 lần. Việc giảm đầu tư vào tài sản cũng như tích cực hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm vực lại tình hình kinh doanh thua lỗ vào năm
2012. Trong năm 2013 Công ty có thực hiện bán giảm giá nhiều dự án, căn hộ nhằm
thu tiền về trả khoản chi phí lãi vay đang cao ngất ngưởng đe dọa đến sự tồn tại của
Công ty. Doanh thu thuần trong năm 2013 có tăng lên thêm 226,92%. Tác động tổng
hợp này đã làm cho hiệu suất sử dụng tổng tài sản tăng nhẹ lên mức 0,011 lần (tăng
0,008 lần so với năm 2012)
c. Hiệu su t sử dụng tài sản cố định
Bảng 2.8. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Doanh thu thuần (triệu VND) 353.847 2.140 6.996
Nguyên giá tài sản cố định (triệu VND) 6.523 4.952 29.163
Hiệu suất sử dựng tài sản cố định (Lần) 54,24 0,43 0,24
Chênh lệch giữa các năm (Lần) (53,81) (0,19)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Nhìn chung, hiệu suất sử dụng của TSCĐ của công ty trong 3 năm qua luôn giảm mạnh. Năm 2011 là năm Công ty có hiệu suất sử dụng TSCĐ là cao nhất với 54,45 lần, tức là lúc này với 1 đồng tài sản cố định tạo ra 54,24 đồng thoanh thu thuần. Tuy nhiên đến năm 2012, mọi sự đã thay đổi khi chỉ số này đột ngột giảm xuống còn 0,43 lần (giảm 53,81 lần so với năm 2011), lúc này một đồng tài sản cố định tạo chỉ tạo ra 0,43 đồng doanh thu thuần. Năm 2012 doanh thu thuần giảm từ 353.847 triệu đồng
xuống còn 2.140 triệu đồng (giảm 99,40%), TSCĐ trong năm 2012 cũng có xu hướng giảm nhưng tốc độ giảm thấp hơn doanh thu thuần khi giảm 45,88% nên sức sản xuất
42
của TSCĐ giảm mạnh so với năm 2011. Sang năm 2013, sức sản xuất của TSCĐ cũng
vẫn tiếp tục giảm so với năm trước và chỉ còn 0,24 lần, một đồng vốn đầu tư vào
TSCĐ tại Công ty chỉ còn đem lại 0,24 đồng doanh thu thuần.
d. Hiệu su t sử dụng tài sản ngắn hạn
Bảng 2.9. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Doanh thu thuần (Triệu VND) 353.847 2.140 6.996
Tài sản ngắn hạn (Triệu VND) 102.021 117.037 141.574
Hiệu suất sử dụng TSNH (Lần) 3,47 0,02 0,05
Chênh lệch giữa các năm (Lần) (3,45) 0,03
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Qua bảng ta có thể thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có xu hướng giảm từ
năm 2011 đến 2013 nhưng không đều giữa các năm. Cụ thể:
Năm 2011 – 2012: Năm 2012, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn đạt 0,02 lần,
thấp hơn so với năm 2011 là 3,45 lần. Con số này có ý nghĩa là 1 đồng tài sản ngắn
hạn được đưa vào hoạt động kinh doanh Công ty chỉ thu được 0,02 đồng doanh thu
thuần vào năm 2012, thay vì thu được 3,45 đồng doanh thu thuần vào năm 2011.
Năm 2012 - 2013: Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn trong thời gian này có tăng
nhẹ mức 0,05 lần tức là một đồng tài sản ngắn bỏ ra thu được 0,05 đồng doanh thu
thuần. Hơn nữa, trong 02 năm này, khoản phải thu và hàng tồn kho chiếm một phần rất
lớn trong cơ cấu tài sản ngắn hạn và các tài sản ngắn hạn này đang ngày càng gia tăng
khiến cho nguồn vốn từ tài sản này bị ứ đọng, không đạt hiệu suất cao nhất khi sử dụng.
2.2.3.5. Khả năng quản lý nợ
a. Hệ số nợ trên t ng tài sản
Bảng 2.10. Chỉ tiêu hệ số nợ trên tổng tài sản
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Nợ phải trả (Triệu VND) 164.536 209.078 219.097
Tổng tài sản (Triệu VND) 714.767 708.750 642.782
Hệ số thanh toán nợ trên tổng tài sản (Lần) 0,23 0,29 0,34
Chênh lệch giữa các năm (Lần) 0,06 0,05
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
43
Biểu đồ 2.7. Hệ số nợ trên tổng tài sản
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Hệ số này cho biết trong 1 đồng tài sản của Công ty thì bao nhiêu đồng được huy động từ nợ. Năm 2012 hệ số này là 0,29 lần, năm 2013 là 0,34 lần. Năm 2012 hệ số
này tăng 0,06 lần so với năm 2011 do tốc độ tăng của tổng tài sản thấp hơn tốc độ tăng
của nợ ngắn hạn, đối với năm gần đây nhất là 2013 thì hệ số này là 0,34 lần, tăng 0,05
lần so với năm 2012. Hệ số nợ trong những năm gần đây đều tăng lên phản ánh Công
ty sử dụng vốn kinh doanh từ nợ phải trả nhiều hơn trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Điều này khiến Công ty chịu nhiều gánh nặng trả lãi từ các khoản nợ
phải trả. Công ty không những phải chịu quá nhiều gánh nặng vì lãi suất vay ngân
hàng và các tổ chức tài chính mà còn phải chịu gánh nặng từ phía người bán và người
mua trong việc đáp ứng đúng tiến độ công trình hay giao hàng cho người mua cũng
như trả tiền đúng hạn cho người bán. Mặc dù Công ty đã tận dụng đòn bẩy tài chính
vào hoạt động kinh doanh của mình song hiệu quả đem lại không như mong đợi, nợ
phải trả vẫn tiếp tục tăng dần lên, trong khi Công ty vẫn tiếp tục phải bán tài sản để lấy tiền trả nợ vay.
44
b. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Bảng 2.11. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
164.536 209.078 219.097 Nợ phải trả (Triệu VND)
550.231 499.672 423.685 Vốn chủ sở hữu (Triệu VND)
0,30 0,42 0,52 Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (Lần)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy từ năm 2011 đến năm 2013 thì hệ số nợ trên
vốn chủ sở hữu liên tục tăng chứng tỏ doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc nhiều hơn
vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ. Cụ thể năm 2011 hệ số nợ trên vốn chủ sở
hữu là 0,30 lần, đến năm 2012 là 3,42 lần (tăng 0,12 lần) và đến năm 2013 thì tiếp tục tăng lên mức 0,52 lần. Điều này sẽ tăng độ rủi ro và gánh nặng cho doanh nghiệp trong
việc thực hiện nghĩa vụ nợ. Tuy nhiên điều nào cũng có hai mặt của nó, Công ty đi vay
nợ hoặc chiếm dụng vốn nhiều cũng chứng tỏ được doanh nghiệp đã biết vận dụng
cách vay nợ để kinh doanh và khai thắc lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế.
2.2.3.6. Phân tích khả năng sinh lời
a. Tỷ su t sinh lời trên doanh thu (ROS)
Bảng 2.12. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên doanh thu
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Lợi nhuận sau thuế (Triệu VND) 29.720 (24.711) (75.849)
Doanh thu thuần (Triệu VND) 353.847 2.140 6.996
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (%) 8,4 (1154,71) (1084,18)
Chênh lệch giữa các năm (%) (1163,11) 70,53
(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)
45
Biểu đồ 2.8. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
(Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính)
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần thu về sẽ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2010 tỉ suất sinh lời trên doanh thu thuần là 8,4% (có
nghĩa là 100 đồng doanh thu thuần thu về sẽ mang lại 8,4 đồng lợi nhuận sau thuế).
Sang đến năm 2012, Công ty có dấu hiệu làm ăn thua lỗ, lợi nhuận sau thuế bị lỗ ròng
khiến cho tỷ suất sinh lời trên doanh thu năm 2012 là (1.154,71)%, giảm 1.163,11% so với năm 2011. Năm 2013, ROS có tăng lên những vẫn còn rất thấp với (1.084,18)%,
lúc này với 100 đồng doanh thu thuần Công ty bị lỗ ròng tới 1.084,18 đồng lợi nhuận
sau thuế. Nguyên nhân đến từ khoản chi phí tài chính lên tới 17.522 triệu đồng vào
năm 2012 và 71.314 triệu đồng vào năm 2013. Mặc dù năm 2013 doanh thu thuần có
tăng lên những giá vốn hàng bán lại vượt quá doanh thù thuần khiến Công ty bị lỗ gộp
1.293 triệu đồng. Khoản chi phí tài chính tăng cao chủ yếu là do lỗ thanh lý các khoản
đầu tư ngắn hạn và dài hạn là nguyên nhân khiến Công ty phải chịu mức lỗ ròng lên
tới 75.849 triệu đồng vào năm 2013. Đây được coi là mức lỗ khủng nhất từ trước đến
nay của Công ty.
Bảng 2.13. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Lợi nhuận sau thuế (Triệu VND) 29.720 (24.711) (75.849)
Tổng tài sản (Triệu VND) 714.767 708.750 642.782
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (%) 4,16 (3,49) (11,8)
Chênh lệch giữa các năm (%) (7,65) (8,32)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
46
Biểu đồ 2.9. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng được đầu tư cho tài sản sẽ thu lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2010, ROA đạt 4,16%, tức là lúc này 100 đồng được
đầu tư cho tài sản công thu thu về được 4,16 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012 tỷ
suất sinh lời trên tài sản là (3,49)% (có nghĩa là 100 đồng vốn được đầu tư cho tài sản
Công ty bị lỗ 3,49 đồng lợi nhuận sau thuế), giảm 7,65% so với năm 2011, lý do giảm
vì tốc độ giảm của tổng tài sản thấp hơn tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế, điều này cho thấy năm 2012 Công ty đã không sử dụng tài sản tốt bằng năm 2011. Cụ thể năm
2012 tổng tài sản giảm 6.017 triệu đồng, tương ứng giảm 0,84% so với năm 2011,
trong khi đó lợi nhuận sau thuế năm 2012 giảm 54.431 triệu đồng đồng, tương ứng
giảm 183,15% so với năm 2011. Chỉ số này trong năm 2012 tiếp tục có dấu hiệu đi
xuống, năm 2013 tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là (11,85)% (có nghĩa là 100 đồng
vốn được đầu tư cho tài sản Công ty bị lỗ 11,8 đồng lợi nhuận sau thuế), giảm 8,31% so với năm 2012. Tỉ số này giảm do năm 2013 tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế giảm mạnh hơn cả năm 2012, thấp nhất trong 3 năm phân tích, trong khi đó tài sản vẫn giảm nhưng chậm hơn. Cụ thể lợi nhuận sau thuế năm 2013 giảm 51.138 triệu đồng, tương ứng giảm thêm 206,94% so với năm 2012, trong khi đó tổng tài sản giảm 9,31% so với năm 2012. Điều này cho thấy trong năm 2013 Công ty đã quản lý và sử dụng tài sản kém hơn so với năm 2012.
47
b. Tỷ su t sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Bảng 2.14. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Lợi nhuận sau thuế (Triệu VND) 29.720 (24.711) (75.849)
Vốn chủ sở hữu (Triệu VND) 550.231 499.672 423.685
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (%) (4,95) (17,9) 5,4
Chênh lệch giữa các năm (%) (10,35) (12,95)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Biểu đồ 2.10. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra sẽ thu lại bao nhiêu đồng
lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu ROE từ năm 2011 đến năm 2013 đều giảm, năm sau giảm
mạnh hơn năm trước. Năm 2011 tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là 5,4% (có nghĩa là 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra sẽ mang lại 5,4 đồng lợi nhuận sau thuế). Năm 2012 thì tỷ suất này giảm xuống còn (4,95)%, giảm 10,35% so với năm 2011 (tức là trong năm 2012, với 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra Công ty bị lỗ ròng 4,95 đồng lợi nhuận sau thuế), lý do giảm vì tốc độ giảm của vốn chủ sở hữu thấp hơn tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế, điều này cho thấy năm 2012 Công ty đã không sử dụng vốn chủ sở hữu tốt hơn năm 2011, hay có thể nói năm 2012 Vốn chủ sở hữu đã không đem lại hiệu quả gì cho Công ty. Năm 2013 tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tiếp tục giảm
xuống thấp hơn so với năm 2012, năm 2013 tỷ suất này là (17,9)% (có nghĩa là 100 đồng vốn được đầu tư cho tài sản bị lỗ ròng 17,9 đồng lợi nhuận sau thuế), giảm 12,95% so với năm 2012. Có thể nói rằng trong các năm Công ty đã sử dụng vốn chủ
48
sở hữu của mình một cách kém hiệu quả và năm 2013 Công ty đã sử dụng vốn chủ sở
hữu kém nhất trong tất cả các năm.
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY CP DẦU KHÍ ĐÔNG ĐÔ
2.3.1. Những kết quả đạt được
Từ thực trạng phân tích tài chính của Công ty CP Dầu khí Đông Đô trong thời
gian qua, ta có thể đánh giá các kết quả đạt được của công ty như sau:
- Về mặt thời gian: hoàn thành phân tích, công ty đã thực hiện công việc phân tích với thời gian khá nhanh, do đó đã đáp ứng được yêu cầu của ban Giám đốc trong
việc ban hành các quyết định quản lý và điều hành các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh,
kế toán Tài chính…. Việc phân tích tài chính được thực hiện theo định kỳ hàng năm.
- Về công tác tổ chức bộ máy phân tích tài chính: Dưới sự chỉ đạo của kế toán trưởng, bộ máy tổ chức công tác phân tích tài chính tại Công ty CP Dầu khí Đông Đô
hoạt động khá linh hoạt. Trong tổ chức công tác phân tích đã có sự phân công tách biệt
giữa kế toán tổng hợp và các nhân viên thực hiện công tác phân tích tài chính. Do hiểu
rõ trình độ chuyên môn của các nhân viên trong phòng Tài chính – Kế toán nên kế
toán trưởng đã phân công các giai đoạn trong quá trình phân tích cho từng người rất
hợp lý. Điều đó đã góp phần làm cho công tác phân tích tài chính tại Công ty đạt hiệu
quả cao hơn. Mặt khác những cán bộ nhân viên trong phòng kế toán là những người trực tiếp thu thập và xử lý các thông tin kế toán nên trong quá trình phân tích tài chính
họ nắm bắt rõ được bản chất của vấn đề, điều đó rất thuận lợi cho việc phân tích tài
chính tại Công ty.
- Thông tin sử dụng trong công tác phân tích: Nhìn chung những thông tin được sử dụng trong quá trình phân tích tài chính tại Công ty CP Dầu khí Đông Đô là hoàn
toàn chính xác. Những thông tin này chủ yếu trong nội bộ doanh nghiệp, đó là những
bảng báo cáo tài chính mà chính nhân viên phòng Tài chính – Kế toán đã lập ra. Chính
từ nguồn thông tin chính xác kịp thời này mà công tác phân tích tài chính tại Công ty
có rất nhiều thuận lợi. Kết quả phân tích được là hoàn toàn đáng tin cậy.
- Về mặt nội dung hay kết quả phân tích: Báo cáo phân tích tài chính của công ty nhìn chung đã đề cập đến một cách khá toàn diện tình hình tài chính của công ty. Thông tin sử dụng trong phân tích mặc dù chưa đầy đủ nhưng đều đã được kiểm toán để đảm bảo độ chính xác.
- Phương pháp phân tích chủ yếu mà Công ty CP Dầu khí Đông Đô sử dụng là hai phương pháp so sánh và phương pháp tỷ số. Hai phương pháp này đã phát huy
được hiệu quả bởi nó khác đơn giản, dễ áp dụng, giúp nhà phân tích tiết kiệm được thời gian, chi phí và mang lại hiệu quả nhất định.
49
- Các chỉ tiêu tài chính cơ bản của công ty như doanh thu, chi phí, lợi nhuận,... đều được phân tích cụ thể, đã phản ánh được phần nào tình hình tài chính của công ty
trên các mặt cơ cấu tài chính, khả năng thanh toán, khả năng hoạt động và khả năng sinh lời.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1. Hạn chế
Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại Công ty đã bộc lộ những hạn chế
vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan.
Về tổ chức công tác phân tích: Hoạt động phân tích tài chính của Công ty chỉ
được được tiến hành sau khi đã thu thập đầy đủ thông tin cần thiết. Như vậy, thời điểm
để bắt đầu các phân tích phụ thuộc lớn vào thời điểm hoàn tất quyết toán của doanh
nghiệp. Nhưng thực tế cho thấy, các Báo cáo tài chính đến cuối quý I, thậm chí sang quý II mới hoàn tất, trong khi mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp là từ thực
trạng hoạt động kinh doanh, đưa ra các kế hoạch chiến lược trong tương lai. Cho nên
kết quả hoạt động phân tích sẽ bị giảm ý nghĩa thực tiễn, những chiến lược xây dựng
có thể sẽ không theo kịp những biến đổi của môi trường kinh doanh.
Về thông tin sử dụng trong phân tích: Công ty có cơ chế quản lý hệ thống sổ
sách, chứng từ kế toán chặt chẽ, tuân thủ nghiêm túc các quy định của Nhà nước, của
Bộ chủ quản về quy chế quản lý tài chính, kế toán và biểu mẫu. Song thông tin được sử dụng trong công tác phân tích tài chính tại Công ty vẫn còn nhiều hạn chế, sai lệch
về mặt chất lượng và số lượng cung cấp.
Thứ nhất, công tác phân tích tài chính tại Công ty bị hạn chế do sử dụng thông tin
không đầy đủ: Với 03 Báo cáo tài chính trong đó không có những thông tin khác liên
quan đến Công ty như thông tin về tình hình kinh tế trong và ngoài nước, hệ thống
pháp lý, chỉ tiêu chung của ngành... chưa được cập nhật và đưa vào sử dụng.
Thứ hai, các Báo cáo tài chính được lập theo ý muốn chủ quan của người lập nên
số liệu cũng chưa chắc đã hoàn toàn phản ánh thực tế một cách chính xác trung thực.
Do đó ít nhiều có ảnh hưởng đến kết quả phân tích.
Về phƣơng pháp phân tích: Hiện nay trong công tác phân tích tài chính, công ty mới chỉ sử dụng hai phương pháp truyền thống là: Phương pháp tỷ số và phương pháp so sánh. Tuy nhiên công ty chưa thực sự quan tâm sử dụng các phương pháp phân tích mới, hiện đại khác như: Phương pháp phân tích Dupont, phương pháp phân tích độ co giãn, phương pháp phân tích kinh tế lượng,... Sự kết hợp giữa các phương pháp trên còn chưa đồng bộ và toàn diện để phát huy hết tác dụng của từng phương
pháp trong công tác phân tích khiến kết quả đạt được còn nhiều hạn chế, chưa hỗ trợ được nhiều trong việc ra quyết định.
50
Về nội dung phân tích: Nội dung phân tích là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
chất lượng phân tích; Nội dung càng cụ thể, đầy đủ, chi tiết thì chất lượng phân tích
càng cao. Nội dung phân tích tài chính của Công ty Cổ phần Dầu khí Đông Đô còn tồn tại một số hạn chế sau:
- Công ty chưa đi sâu phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian và chưa so sánh chúng với số liệu ngành, số liệu của các đối thủ cạnh tranh, vì vậy chưa thấy được mối
liên hệ và tác động qua lại giữa các chỉ tiêu, dẫn đến quyết định kém chính xác. Đặc
biệt, chỉ tiêu quản lý khoản phải thu – một trong những chỉ tiêu quan trọng thể hiện khả năng quản lý tài sản của Công ty chưa được Công ty CP dầu khí Đông Đô quan
tâm phân tích;
Khả năng thanh toán và vấn đề sống còn của công ty, nhưng việc phân tích nó
chưa được thực hiện đầy đủ, do đó làm cản trở việc thu hút vốn của công ty đối với các nhà đầu tư, chủ nợ và ngân hàng, hơn thế nữa còn ảnh hưởng đến tính chính xác của
kết luận tài chính là chưa đúng sát với tình hình thực tế. Công ty đã phân tích 2 chỉ số:
khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời; còn lại chỉ tiêu về khả năng
thanh toán ngắn hạn cần được Công ty CP dầu khí Đông Đô phân tích, làm rõ;
- Vốn bằng tiền là một bộ phận tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp, nó tham gia vào hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp. Qua phân tích tình hình sử dụng vốn
bằng tiền, chúng ta có thể biết được chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Song, Công ty cổ phần dầu khí Đông Đô chưa đi vào phân tích chỉ tiêu này, thể hiện ở chỗ
Công ty mới chỉ chú trọng vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bản cân đối
kế toán mà chưa sử dụng bản báo cáo lưu chuyển tiền tệ vào việc phân tích tài chính.
Về xử lý kết quả sau phân tích: Sau khi có hoàn thiện xong kết quả của quá
trình phân tích, trên cơ sở nhận diện những vẫn đề còn tồn đọng thông qua một số chỉ
tiêu taì chính, Công ty đã có những hành động triển khai các biện pháp nhằm thay đổi
các chỉ tiêu theo hướng có lợi cho doanh nghiệp. Tuy nhiên lại chưa chú trọng về tính
trung thực của các kết quả, bỏ qua công tác kiểm tra, đánh giá lại tính trung thực và
khách quan của kể quả phân tích để từ đó đưa ra biện pháp cải thiện công tác phân tích, tính toán.
2.3.2.2. Nguyên nhân
a. Nguyên nhân chủ quan
- Do Ban giám đốc Công ty chưa nhận thức được tầm quan trọng và tác dụng của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp. Chính vì vậy, mà công tác này chưa có được sự chú trọng đầu tư thích đáng.
51
- Các phương pháp phân tích tài chính được Công ty sử dụng còn quá sơ sài mới chỉ dừng lại ở phương pháp phân tích tỷ số, phương pháp so sánh và phương pháp
Dupont nhưng còn chưa vận dụng một cách chính xác.
- Công ty vẫn chưa áp dụng một phần mềm phân tích tài chính chuyên dụng nào, công tác phân tích chủ yếu được tính toán bằng thủ công do vậy hiệu quả đạt được là
không cao.
b. Nguyên nhân khách quan
- Hệ thống pháp lý chưa đầy đủ, phù hợp: Hệ thống pháp lý của chúng ta vẫn chưa phù hợp với cơ chế mới, lại thường xuyên sửa đổi,... điều đó đã làm cho công tác
phân tích gặp nhiều khó khăn do không lường trước được sự thay đổi.
- Tình hình kinh tế xã hội chưa phát triển: Thị trường tiền tệ và thị trường vốn ở Việt Nam chưa phát triển nên công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp nói chúng là chưa được quan tâm đúng mức. Khi các thị trường này được xây dựng và
phát triển, thì các nhà đầu tư mới có cơ hội đầu tư vào các doanh nghiệp và do đó họ
cần phải biết tình hình tài chính của doanh nghiệp trước khi ra quyết định đầu tư. Khi
đó các doanh nghiệp phải công khai hoá các Báo cáo tài chính và có các Công ty kiểm
toán thực hiện việc thẩm định lại các báo cáo này, nhờ vậy công tác phân tích tài chính
sẽ có hiệu quả hơn.
52
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DẦU KHÍ ĐÔNG ĐÔ
3.1. Định hƣớng công tác quản lý tài chính của Công ty CP Dầu khí Đông Đô
Trong những năm vừa qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn và thử thách nhưng
Công ty đã đạt được những thành tựu nhất định. Công ty luôn lấy mục tiêu công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ mở cửa và hội nhập làm phương
hướng thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, để duy trì, phát huy và dần nâng cao hiệu quả
kinh doanh, riêng đối với công tác phân tích tài chính tại Công ty CP Dầu khí Đông Đô, Trưởng phòng Tài chính – Kế toán Công ty đã mạnh rạn đưa ra mục tiêu chiến
lược trong công tác phân tích tài chính đó là: Thường xuyên đánh giá hoạt động kinh
doanh qua từng năm, qua đó rút ra được những thuận lợi để phát huy cũng như từng
bước khắc phục những tồn tại còn vướng mắc; Cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu chung của ngành, của các công ty đối thủ để trên cơ sở đó làm căn cứ, chuẩn mực đánh giá
chính xác thực trạng tài chính của Công ty trong tương quan so sánh với doanh nghiệp
cùng ngành, với đà phát triển kinh tế nói chung là rất cần thiết. Có được hệ thống chỉ
tiêu tài chính trung bình ngành thì công tác phân tích tài chính mới có thể phát huy
hiệu quả phân tích và tác dụng dự báo của nó được.
3.2. Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty CP dầu khí
Đông Đô
3.2.1. T ch c tốt công tác phân tích tài chính
Để nâng cao chất lượng quản trị, điều hành doanh nghiệp, một giải pháp quan
trọng mà công ty cần phải thực hiện ngay đó là: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng
của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp cho Ban lãnh đạo và cán bộ công nhân
viên, tổ chức tốt công tác phân tích tài chính. Cụ thể, Công ty cần tiến hành ngay một
số công việc sau:
- Xác định ngay từ chiến lược của Công ty vị trí và vai trò của công tác phân tích
tài chính doanh nghiệp.
Thứ nhất, phân tích tài chính doanh nghiệp phải được coi như một biện pháp quan trọng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh, bởi nhờ đó Ban giám đốc Công ty có thể nhận biết những biến đổi bất thường, những dấu hiệu bất an trong quá
trình kinh doanh;
Thứ hai, phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ rõ cho Ban giám đốc biết phải làm gì? Ở đâu? Như thế nào? để giảm thiểu tổn thất, tăng cường khả năng sinh lời...
đạt được những mục tiêu đề ra.
53
- Xây dựng quy trình phân tích tài chính của Công ty một cách cụ thể, chi tiết làm cơ sở hướng dẫn cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ phân tích. Công tác phân tích tài
chính doanh nghiệp hiện nay ở Công ty vẫn chưa đi vào nề nếp, một trong những nguyên nhân chủ yếu do là Ban giám đốc Công ty chưa thực sự quan tâm đúng mức.
Vì vậy, cho đến nay chưa có một văn bản nào quy định cụ thể, chi tiết về mục đích, ý
nghĩa, cơ chế tổ chức thực hiện, đặc biệt là hướng dẫn quy trình tự thực hiện công tác
phân tích.
Như vậy, Công ty cần sớm ban hành một văn bản hướng dẫn cụ thể quy trình thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp. Nếu thực hiện được điều đó thì mức dộ
chính xác trong đánh giá tình hình tài chính cũng như khả năng dự báo chiến lược sẽ
tăng lên khá nhiều, tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác cùng ngành.
- Tổ chức nguồn nhân sự cho công tác phân tích:
Tại Công ty CP Dầu khí Đông Đô hiện nay, công tác phân tích tài chính doanh
nghiệp đang do Phòng Tài chính – Kế toán đảm nhiệm. Các nhân viên của Phòng với
số lượng chỉ có 03 người vừa phải thực hiện công tác hạch toán kế toán, vừa phải kiêm
nhiệm việc phân tích tài chính.
Do đó, trong thời gian tới Ban giám đốc Công ty nên thực hiện việc phân chia
Phòng Tài chính Kế toán thành hai bộ phận riêng biệt: một bộ phận thực hiện công tác
kế toán, một bộ phận thực hiện công tác phân tích tài chính. Việc phân chia như vậy sẽ tạo điều kiện để chuyên môn hoá công việc, vừa góp phần giảm gánh nặng cho các
nhân viên kế toán, vừa xây dựng cho Công ty một đội ngũ cán bộ phân tích tài chính
có trình độ cao.
3.2.2. Hoàn thiện nguồn thông tin sử dụng trong công tác phân tích tài chính
Để công tác phân tích tài chính có thể đưa ra được những kết quả chính xác về
tình hình tài chính thì Công ty cần phải có nguồn thông tin đảm bảo tính đầy đủ, chính
xác. Đối với nguồn thông tin bên trong: Hiện nay, Công ty thực hiện việc lập các Báo
cáo tài chính theo đúng các chế độ quy định của Nhà nước. Hệ thống Báo cáo tài chính
của Công ty bao gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính.
Tuy nhiên, trong quá trình phân tích tài chính hiện nay Công ty mới chỉ sử dụng số liệu trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh mà chưa sử dụng Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Đây là một nguồn thông tin quan trọng phản ánh năng lực tài chính của Công ty. Trên báo cáo này cho phép đánh giá khả năng tạo tiền, khả năng thanh toán, khả năng sử dụng tiền nhàn rỗi trong đầu tư, ngoài ra báo cáo này còn là
công cụ để lập dự toán tiền, xây dựng kế hoạch thu chi trong những năm tiếp sau. Do
54
vậy, trong những năm tới Công ty nên sử dụng thông tin trên Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ như là một nguông thông tin không thể thiếu cho công tác phân tích.
Hơn nữa, việc lập và phân tích đầy đủ các số liệu trên Báo cáo tài chính sẽ tạo nên một ấn tượng tốt về sự quy củ trong quản trị, phân tích tài chính doanh nghiệp đối
với các đối tượng bên ngoài, tạo điều kiện thuận lưọi cho Công ty khi hợp tác, liên kết
với các doanh nghiệp nước ngoài. Sử dụng đầy đủ thông tin phải đi đôi với yêu cầu
chất lượng của nguồn thông tin đó. Do vậy hiện nay khi chưa có những quy định cụ
thể Nhà nước về chế độ kiểm toán bắt buộc với các doanh nghiệp, thì Trưởng phòng Kế toán nên chỉ đạo công tác kiểm toán nội bộ trong Công ty nhằm đảm bảo thông tin
được sử dụng là thông tin “sạch”.
Đối với nguồn thông tin bên ngoài: Để các kết luận trong phân tích tài chính có
tình chất thuyết phục cao, Công ty cần sử dụng các thông tin có liên quan đến hoạt động kinh doanh như:
- Thông tin về tình hình tăng trưởng, suy thoái kinh tế,...
- Thông tin về lãi suất ngân hàng, tỷ giá ngoại tệ,...
- Thông tin về lạm phát...
- Thông tin về sự thay đổi chỉ số giá của các loại hàng hóa sử dụng trong kinh doanh. Nguồn thông tin giúp Công ty có được những giải pháp hợp lý trong trường
hợp khan hiếm hàng hoá hay chỉ số giá biến động bất thường,...
- Các chủ trương chính sách lớn của Nhà nước liên quan đến hoạt động kinh
doanh và xây dựng công nghiệp.
3.2.3. Hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính
Phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là việc đưa ra và phân tích
các chỉ tiêu tài chính, rồi sau đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về tình hình tài chính
của doanh nghiệp; mà yêu cầu đặt ra là phải chỉ ra rõ nguyên nhân nào gây ra tình hình
tài chính đó. Trên cơ sở đó, tư vấn cho Ban lãnh đạo đề ra mục tiêu, kế hoạch và
phướng hướng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiện nay, Công ty CP Dầu khí Đông Đô cũng như các chủ thể kinh tế khác đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, mới chỉ áp dụng hai phương pháp phân tích là: Phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh do vậy không thể đáp ứng được yêu cầu đề ra. Để tháo gỡ những vướng mắc trên Công ty nên nhanh chóng đưa phương pháp phân tích Dupont vào áp dụng trong công tác phân tích tài chính. Khi sử dụng phương pháp phân tích Dupont, các cán bộ phân tích tài chính của Công ty sẽ xác định được chính xác các nguyên nhân căn bản dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong
hoạt động của Công ty.
55
Trong các phần phân tích ở chương 2, khi phân tích chỉ tiêu: Tỷ suất lợi nhuận
trên tổng tài sản (ROA) và chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) bằng
phương pháp phân tích tỷ số kết hợp với phương pháp so sánh đưa tới nhận xét: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) từ năm 2011-2013 là giảm nhưng biến động và tỷ
suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) từ năm 2011-2013 là giảm, nhưng các phương
pháp trên không chỉ ra được nguyên nhân của hiện tượng đó. Với phương pháp phân
tích Dupont thì các vấn đề đó sẽ được làm sáng tỏ:
Mô hình phân tích Dupont cho chỉ số ROA:
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần kinh doanh ROA= x Doanh thu thuần kinh doanh Tài sản bình quân
ROA = Tỷ suất sinh lời trên doanh thu x Số vòng quay tài sản
Muốn lý giải diễn biến quá khứ của ROA của công ty, hay dự báo giá trị tương lai của ROA phải cẩn thận lưu ý đến tổ hợp lợi nhuận ròng, doanh thu và tổng tài sản
của công ty. Đi phân tích cụ thể sau đây sẽ giúp ta hiểu rõ lý do.
Bảng 3.1. Mức độ ảnh hƣởng của ROS và Hiệu suất sử dụng tài sản lên ROA
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
ROS (%) 8,40 (1.154,48) (1.084,21)
HIỆU SUẤT SỬ DỤNG TỔNG TS (Lần) 0,495 0,003 0,011
ROA(%) 4,16 (3,49) (11,80)
DELTA ROA (%) - (7,64) (8,31)
Ảnh hưởng ROS (%) - (3,51) 0,76
- (4,13) (9,07) Ảnh hưởng của HS sử dụng tổng TS (%)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Năm 2011-2012: ROA giảm từ 4,16% năm 2011 xuống còn (3,49)% vào năm
2012. Năm 2011, do tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) giảm mạnh và số vòng quay
tổng tài sản cũng giảm làm cho ROA giảm. Năm 2012, thị trường BĐS đóng làm cho
Công ty CP Dầu khí Đông Đô gặp vô vàn khó khăn trong công tác sản xuất kinh doanh và công tác trả nợ, chi phí giá vốn tăng vượt cả doanh thu, chi phí lãi vay cao đã làm cho lợi nhuận ròng bị âm. Tác động giảm tổng hợp của ROS và Hiệu suất sử dụng tổng tài sản khiến cho hiệu quả sinh lời tài sản của Công ty giảm 7,64% hay 100 đồng tài sản năm 2012 đã tạo ra ít hơn năm 2011 là 7,64 đồng lợi nhuận.
Năm 2013, tình hình kinh doanh không mấy khả quan, trong khi các khoản nợ ngắn hạn đến hạn phải trả, Công ty đành phải thanh lý lỗ các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn, nhượng lỗ lại một số dự án do không thể tiếp tục thi công là
nguyên nhân khiến Công ty phải chịu mức lỗ ròng lên tới 75.849 triệu đồng trong năm 2013. Chính vì lẽ đó mà ROS mặc dù tăng những vẫn ở mức lỗ ròng 1.084,21 đồng lợi
56
nhuận sau thuế. Hiệu suất sử dụng tài sản trong năm 2013 tăng nhẹ. Tác động đối
nghịch của ROS và Hiệu suất sử dụng tổng tài sản khiến cho hiệu quả đầu tư vào tài
sản năm 2013 giảm 8,31% so với năm 2012.
Tóm lại, qua phân tích Dupont ở trên có thể nhận thấy rằng khả năng sinh lời tài
sản của công ty có xu hướng giảm, điều này bị ảnh hưởng bởi cả hai nhân tố là ROS
và hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Nguyên nhân ảnh hưởng đến hai yếu tố trên có thể
giải thích do ảnh hưởng của cả yếu tố khách quan và nội tại bên trong doanh nghiệp,
cụ thể: Do tình trạng kinh tế bất ổn, thị trường BĐS đóng băng làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty, mặt khác công ty có xu hướng nắm giữ một số bất
động sản mới để tích trữ sử dụng cho kỳ kinh doanh sau, trong khi lại bán lỗ một số
bất động sản và dự án khác nhiều hơn làm cho tổng tài sản giảm xuống, tuy nhiên tốc
độ giảm của doanh thu lại cao hơn rất nhiều đã làm cho hiệu suất sử dụng tài sản năm luôn ở mức thấp đã tác động không nhỏ tới ROA.
Mô hình phân tích Dupont cho chỉ số ROE:
Để bóc tách chi tiết hơn những yếu tố tác động lên chỉ số lợi nhuận ròng trên
vốn chủ sở hữu (ROE) của công ty, khóa luận sẽ nghiên cứu theo mô hình Dupont.
ROE sẽ được phân tích trên 3 yếu tố: Đòn bẩy tài chính, vòng quay tổng tài sản, và tỷ
suất lợi nhuận trên doanh thu.
Lợi nhuận sau thuế EAT Doanh thu Tổng tài sản = x x Vốn chủ sở hữu Doanh thu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
Bảng 3.2. Phân tích ROE theo mô hình Dupont
8,40
(1.154,48)
(1.084,21)
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
0,495
0,003
0,011
ROS (%)
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (Lần)
Tổng TS/VCSH (Lần) 1,30 1,42 1,52
ROE (%) 5,40 (4,95) (17,90)
Ảnh hưởng của ROS (4,98) 1,16
(4,95) (12,94) Ảnh hưởng của hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Ảnh hưởng của Tổng TS/VCSH (%) (0,42) (1,17)
(12,96) Delta ROE (%)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
57
ROE của công ty trong thời gian gần đây luôn ở mức âm. Việc phân tích theo mô
hình Dupont cho thấy đang có sự thay đổi trong 3 yếu tố cấu thành ROE, cụ thể:
Trước hết là ảnh hưởng của chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên doanh thu đến ROE, có thể nhận thấy rằng ROS có xu hướng bất ổn định và đạt mức cao nhất năm 2011 là
8,40%, điều này dẫn đến ảnh hưởng mạnh đến ROE trong năm 2012. Trong 3 năm từ
năm 2011 đến năm 2013, chỉ duy nhất năm 2013 là ROS có tác động làm tăng khả
năng sinh lời của ROE (tác động của ROS làm ROE tăng thêm 1,16%), còn năm 2012,
do ROS giảm mạnh nhất và đạt mức (1.154,48)% do Công ty làm ăn thua lỗ, doanh thu thuần giảm đột biến, chi phí giá vốn vượt doanh thu khiến cho lợi nhuận sau thuế
bị lỗ ròng đã làm giảm khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu là 4,98%, hay một trăm
đồng vốn chủ sở hữu năm 2012 đã tạo ra ít đồng lợi nhuận hơn so với năm 2011. Về
mặt lý thuyết khi khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu giảm sẽ kéo theo uy tín của doanh nghiệp giảm.
Thứ hai là ảnh hưởng của khả năng quản lý tài sản của doanh nghiệp đến hiệu
quả sử dụng vốn chủ sở hữu: Nhìn vào bảng phân tích ảnh hưởng có thể nhận thấy
rằng hiệu suất sử dụng tổng tài sản đạt mức lớn nhất năm 2011 là 0,495 lần, sau đó có
xu hướng giảm dần do bắt đầu từ năm 2012 các dự án đầu tư xây dựng, các bất động
sản không bán được khiến doanh thu thuần giảm, công ty muốn có tiền trả nợ đã phải
bán lỗ một số bất động sản để trả nợ đến hạn. Lúc này tốc độ giảm của doanh thu lớn hơn tốc độ giảm của tổng tài sản và vòng quay của tài sản chậm dần. Chính vì vậy mà
tác động cộng hưởng của số nhân khiến cho ROE giảm, cụ thể năm 2012 do hiệu suất
sử dụng tổng tải sản giảm 0,492 lần so với năm 2011 kéo theo ROE giảm 4,95%.
Thứ ba là ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên ROE. Có thể thấy rằng, Công ty
CP Dầu khí Đông Đô đã sử dụng đòn bẩy tài chính nhiều hơn thể hiện qua chỉ số tổng
tài sản trên vốn chủ sở hữu tăng từ 1,30 lần năm 2011 lên 1,52 lần năm 2013, với xu
hướng tăng này đãng lẽ ra sẽ làm ROE tăng lên những do ảnh hưởng giảm quá sâu từ
phía ROS và hiệu suất sử dụng tổng tài sản đã vô hình chung làm cho đòn bẩy tài
chính có tác động ngược lại đối với ROE. Cụ thể năm 2012 đòn bẩy tài chính làm ROE giảm 0,42% và năm 2013 làm ROE giảm thêm 1,17%.
Tóm lại, qua phân tích Dupont trên đây có thể nhận thấy rằng sự gia tăng của việc sử dụng nợ trong Công ty lại có tác động âm đến hiệu quả sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Mặt khác, hai nhân tố còn lại là ROS và hiệu suất sử dụng tài sản có tác động không giống nhau giữa các năm đến khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu. Vì vậy, công ty cần có những biện pháp hợp lý trong việc quản lý chi phí, doanh thu và tăng
hiệu suất sử dụng của tài sản nhằm làm gia tăng khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp từ những yếu tố đầu vào sẵn có.
58
3.2.4. Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính của Công ty CP D u khí ông ô
3.2.4.1. Phân tích khả năng quản lý khoản phải thu
Bảng 3.3. Tốc độ luân chuyển khoản phải thu
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Doanh thu thuần (Triệu VND) 353.847 2.140 6.996
Phải thu khách hàng (Triệu VND) 44.593 36.322 36.252
Vòng quay phải thu KH (Lần) 7,94 0,06 0,19
Chênh lệch vòng quay phải thu KH (Lần) (7,88) 0,13
Kỳ thu tiền bình quân (Ngày) 45,37 6.108,89 1.865,49
Chênh lệch kỳ thu tiền bình quân (Ngày) 6.063,52 (4.243,4)
Phải thu khách hàng (Triệu VND) 44.593 36.322 36.252
Chênh lệch tuyệt đối (8.271) (70)
Chênh lệch tương đối (18,55) (0,19)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Trong năm 2012, số vòng quay các khoản phải thu khách hàng giảm đột ngột và
chỉ còn ở mức 0,06 vòng giảm 7,88 vòng so với năm 2011. Điều này đã khiến cho kỳ
thu tiền bình quân tăng lên mức 6.108,89 ngày; tăng 6.063,52 ngày so với năm 2011.
Và năm 2012 số vòng quay các khoản phải thu khách hàng có tăng nhẹ lên mức 0,19
vòng, tăng 0,13 vòng so với năm 2012, kéo theo kỳ thu tiền bình quân giảm 4.243,4
ngày so với năm 2012. Có thể thấy 2 chỉ số này luôn biến đổi theo từng năm. Vòng
quay phải thu khách hàng trong năm 2012 giảm so với năm 2011 là doanh thu thuần năm 2012 giảm rất mạnh (giảm 99,40%) thì khoản phải thu khách hàng lại giảm chậm
hơn với mức giảm 18,55% đã làm cho vòng quay khoản phải thu khách hàng giảm
mạnh. Đây là dấu hiệu tiêu cực đối với Công ty, bởi vì thời gian mà Công ty bị chiếm
dụng vốn đã tăng lên rất nhiều, như vậy Công ty sẽ có ít vốn hơn để quay vòng phục
vụ quá trình sản xuất kinh doanh.
Năm 2013 số vòng quay các khoản phải thu tăng nhẹ lên mức 0,19 vòng và kỳ thu tiền bình quân giảm xuống còn 1.865,49 ngày. Nguyên nhân của hiện tượng này là do doanh thu thuần trong năm 2013 đã tăng trở lại khi tăng thêm 226,92% so với năm
2012 trong khi khoản phải thu giảm nhẹ 0,19%. Có thể thấy qua 3 năm phân tích, khoản phải thu liên tục giảm nhưng càng về sau lại giảm chậm hơn chứng tỏ quản lý công tác thu hồi nợ chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng vốn bị chiếm dụng nhiều và làm gia tăng các khoản nợ đến hạn, quá hạn. Đây là một xu hướng không tốt, vì vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm là tốt nhưng cần cần phải
xây dựng một chính sách tín dụng hợp lý, đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển phải thu
khách hàng và hàng tồn kho.
59
Trong 03 năm, các chỉ tiêu về tình hình các khoản phải thu tăng giảm không ổn
định. Chỉ số vòng quay khoản phải thu của Công ty đang thấp ở mức đáng báo động
chứng tỏ công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp được đánh giá là kém và lúc này khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn bởi các khoản phải thu của doanh nghiệp là rất ít.
3.2.4.2. Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn
Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán, Công ty đã phân tích 2 chỉ số: khả năng
thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời. Vậy cần bổ sung thêm chỉ tiêu về khả
năng thanh toán ngắn hạn.
Bảng 3.4. Khả năng thanh toán ngắn hạn
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tài sản ngắn hạn (Triệu VND) 102.021 117.037 141.574
Tổng nợ ngắn hạn (Triệu VND) 157.442 199.416 209.904
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn (Lần) 0,65 0,59 0,67
Chênh lệch giữa các năm (Lần) (0,06) 0,08
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn: Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn được
bảo đảm bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Trong năm 2011 là 0,65 lần có nghĩa là
1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi 0,65 đồng tài sản ngắn hạn. Trong năm 2012
khả năng thanh toán ngắn hạn là 0,59 lần có nghĩa là 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm
bảo bởi 0,59 đồng tài sản ngắn hạn, giảm 0,06 lần so với năm 2011. Năm 2013 với 1
đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi 0,67 đồng tài sản ngắn hạn, tăng thêm 0,08 đồng
so với năm 2012. Chỉ tiêu này giảm trong năm 2012 do tốc độ tăng của tài sản ngắn
hạn thấp hơn tốc độ tăng của tổng nợ ngắn hạn. Tuy nhiên qua bảng số liệu ta có thể
thấy trong 3 năm trở lại đây (từ năm 2011 đến 2013) chỉ số này đều nhỏ hơn 1 cho
thấy 1 đồng nợ ngắn hạn không được đảm bảo bởi nhiều hơn 1 đồng tài sản ngắn hạn,
hay nói cách khác tổng tài sản ngắn hạn không đủ để bù đắp cho những đồng nợ ngắn
hạn. Mặc dù vậy khả năng thanh toán ngắn hạn của Công ty vẫn được đảm bảo khá tốt.
3.2.4.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện luồng tiền vào ra, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp trong một chu kỳ kinh doanh. Báo cáo có 03 phần chính thể hiện các dòng tiền thu/chi đến từ các hoạt động:
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh dương (thu>chi) thể hiện công ty làm
ăn có hiệu quả,có khả năng trả ngay các khoản nợ đến hạn. Hệ số dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh cho biết tỷ lệ tạo ra nguồn tiền vào từ hoạt động kinh doanh chính
60
của doanh nghiệp. Thông thường nếu doanh nghiệp không có những biến động tài
chính đặc biệt thì tỷ lệ này khá cao (khoảng 80%), đây là nguồn tiền chủ yếu dùng
trang trải cho hoạt động đầu tư dài hạn, trả lãi vay, nợ gốc, cổ tức.
Dòng tiền từ hoạt động đầu tƣ
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc mua
sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không
thuộc các khoản tương đương tiền. Lưu chuyển thuần từ hoạt động đầu tư dương
(thu>chi) thể hiện quy mô của doanh nghiệp bị thu hẹp. Vì số tiền thu được từ khấu hao, bán tài sản cố định sẽ lớn hơn số tiền mua sắm tài sản cố định khác.
Dòng tiền từ hoạt động tài chính
Lưu chuyển thuần từ hoạt động tài chính dương thể hiện lượng vốn cung ứng từ
bên ngoài tăng. Điều này thể hiện tiền tạo ra từ hoạt động tài chính là do sự tài trợ từ bên ngoài và doanh nghiệp có thể phải phụ thuộc vào các nguồn vốn từ bên ngoài.
Hoạt động tài chính là những nghiệp vụ làm thay đổi cơ cấu tài chính của doanh
nghiệp. Cụ thể: tăng, giảm các khoản vay; tăng giảm VCSH khi huy động, phát hành
cổ phiếu; mua lại trái phiếu, cổ phiếu; trả cổ tức, lợi nhuận giữ lại. Nếu lưu chuyển từ
hoạt động kinh doanh không đủ cho hoạt động đầu tư buộc doanh nghiệp phải điều
phối dòng tiền từ hoạt động tài chính. Đó có thể là một khoản vay sẽ được tăng lên,
phát hành thêm cổ phiếu hay là sự giảm đi hoặc thậm chí ngưng trả các khoản cổ tức. Và các dòng thể hiện số tiền mặt có tại thời điểm đầu kỳ, dòng tiền ròng thu được
trong kỳ (từ 3 hoạt động chính trên), và số lượng tiền mặt còn lại vào cuối kỳ của báo
cáo. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp cho nhà quản trị một số thông tin quan trọng
như: Lượng tiền mặt có được hiện tại là do đâu; tiền được sử dụng chủ yếu cho những
hoạt động nào; sự khác biệt giữa lợi nhuận và lượng tiền mặt hiện có.
Căn cứ vào Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, kết hợp với các thông tin trên các Báo
cáo tài chính khác, nhà quản trị có thể nắm được tình hình sử dụng tiền, dự báo lượng
tiền cần thiết để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có các phương án phù
hợp như vay vốn hoặc cho vay để tăng hiệu quả sử dụng tiền.
Dưới đây là báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Công ty CP Dầu khí Đông Đô giai
đoạn 2011 – 2013 (bảng 3.5 và bảng 3.6):
Lƣu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
Nhìn vào bảng 3.5 có thể thấy Công ty lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp nên có thể thấy thành phần chính ảnh hưởng chủ yếu đến sự biến động của lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh năm 2011 là tiền lỗ từ
hoạt động đầu tư và các khoản phải trả. Năm 2011, khoản tiền bị lỗ từ hoạt động đầu tư của Công ty là 48.122 triệu đồng; trong năm này Công ty mặc dù làm ăn có lãi, lợi
61
nhuận trước thuế đạt 37.960 triệu đồng, tuy nhiên do bị lỗ từ hoạt động đầu tư đã khiến
cho lợi nhuận huần từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động bị âm 5.783
triệu đồng. Trong năm ta thấy trong danh mục thay đổi vốn lưu động thì phần thay đổi các khoản phải trả có sự thay đổi mạnh mẽ nhất khi mà bị âm 186.767 triệu đồng. Tiền
lãi vay đã trả là (1.330) triệu đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp (10.251) triệu
đồng. Trong khi đó khoản phải thu bị âm 8.866 triệu đồng, duy nhất có hàng tồn kho là
tăng lên 1 cách rõ nét khi tăng lên mức 260.053 triệu đồng. Các khoản tăng lên thì đủ
để bù lỗ cho các khoản chi. Điều này thể hiện luồng tiển ra của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh nhỏ hơn lượng tiền vào, lưu chuyển tiền thuần dương 47.214
triệu đồng.
62
Bảng 3.5. Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011 – 2013
Năm 2013/2012 Năm 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Tuyệt đối Tƣơng đối Tuyệt đối Tƣơng đối
(A) (1) (2) (3) (1) – (2) % (2) – (3) %
I. Lƣu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
(51.138) (206,94) (62.671) (165,10) 1. (Lỗ)/Lợi nhuận trƣớc thuế (75.849) (24.711) 37.960
2. Điều chỉnh cho các khoản 0 - 0 -
Khấu hao TSCĐ 25 2,35 (24) (2,20) 1.090 1.065 1.089
Các khoản dự phòng 9.430 7858,33 (1.840) (93,88) 9.550 120 1.960
Lãi từ hoạt động đầu tư 62.785 1889,41 44.799 93,09 59.462 (3.323) (48.122)
Chi phí lãi vay (4.843) (27,83) 16.072 1208,42 12.559 17.402 1.330
16.259 172,11 (3.664) (63,36) 6.812 (9.447) (5.783) 3. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trƣớc thay đổi vốn lƣu động
Thay đổi các khoản phải thu 2.043 161,25 10.133 (114,29) 3.310 1.267 (8.866)
Thay đổi hàng tồn kho (31.356) (45443,5) (259.984) (99,97) (31.287) 69 260.053
(14.496) (1367,55) 187.827 100,57 Thay đổi các khoản phải trả (không bao gồm lãi vay phải trả, thuế thu nhập doanh (13.436) 1.060 (186.767)
nghiệp phải nộp)
63
Thay đổi chi phí trả trước (339) (115,30) 137 87,26 (45) 294 157
Tiền lãi vay đã trả 4.358 89,16 (3.558) (267,52) (530) (4.888) (1.330)
Thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp (25) (4,76) 9.726 94,88 (550) (525) (10.251)
Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh - - - - - (1.136) -
Lƣu chuyển tiền thuần từ hoạt động (22.422) (168,52) (60.519) (128,18) (35.727) (13.305) 47.214 kinh doanh
Bảng 3.6. Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011 – 2013
Năm 2013/2012 Năm 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Tuyệt đối Tƣơng đối Tuyệt đối Tƣơng đối
(A) (1) (2) (3) (1) – (2) % (2) – (3) %
II. Lƣu chuyển tiền từ hoạt động đầu tƣ
(358.795) (15.918,15) 177.870 98,75 (361.049) (2.254) (180.124) 1. Tiền để chi mua sắm, xây dựng TSCĐ và các TSDH khác
(746) (63,11) - - 436 1.182 - 2. Tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các TSDH khác
162.750 100 0 - (162.750) 3. Tiền chi cho vay, bán lại các công cụ nợ của các đơn vị khác
4. Tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác 0 - 0 -
- 34.603 (3.250) (100) 34.603 3.250 5. Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác
64
Năm 2013/2012 Năm 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Tuyệt đối Tƣơng đối Tuyệt đối Tƣơng đối
(A) (1) (2) (3) (1) – (2) % (2) – (3) %
(205) (83,33) 246 - 41 246 6. Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia
0 - 12.284 100 7. Tiền chi đầu tư dài hạn (12.284)
8. Tiền thu hồi cho vay, bán lại các công cụ (1.686) (63,01) (207.354) (98,73) 990 2.676 210.030 nợ của các đơn vị khác
Lƣu chuyển tiền thuần từ hoạt động 33.860 1830,27 110.061 101,71 35.710 1.850 (108.211) đầu tƣ
III. Lƣu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
1. Tiền vay ngắn hạn, dài hạn nhận được (5.211) (75,21) (101.671) (93,62) 1.718 6.929 108.600
2. Tiền chi trả nợ gốc vay (432) (26,50) 31.370 95,06 (2.062) (1.630) (33.000)
3. Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho cổ đông - - - - - - (17.983)
(5.643) (106,49) (52.318) (90,80) (344) 5.299 57.617 Lƣu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính
5.796 94,14 (2.776) (82,11) Lƣu chuyển tiền thuần trong năm (361) (6.157) (3.381)
(6.157) (88,44) (3.381) (32,69) Tiền và tƣơng đƣơng tiền đầu năm 805 6.962 10.343
(360) (44,72) (6.157) (88,44) Tiền và tƣơng đƣơng tiền cuối năm 445 805 6.962
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
65
Năm 2012, lợi nhuận trước thuế đã giảm mạnh và bị âm 24.711 triệu đồng so
với khoản lãi dương 37.960 triệu đồng vào năm 2011. Hoạt động đầu tư vẫn chưa thể
đem lại lợi nhuận cho Công ty, tuy nhiên phần lỗ đã giảm đi khá nhiều khi chỉ còn (3.323) triệu đồng. Khoản lãi vay phải trả trong năm 2012 đã tăng lên đáng kể từ
(1.330) triệu đồng năm 2011 lên (4.888) triệu đồng trong năm 2012 do Công ty đi vay
thêm tiền để đầu tư kinh doanh nhưng không đem lại kết quả cao. Lưu chuyển tiền
thuần trong năm 2012 đã bị âm 13.305 triệu đồng cho các khoản phải chi ra lớn hơn
lượng tiền vào của doanh nghiệp.
Bước sang năm 2013, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh tiếp tục
mang dấu âm, đạt mức (35.727) triệu đồng. Nguyên nhân là do trong khi tiền thu từ
bán hàng, cung cấp dịch vụ tăng 226,83% trong khi giá vốn hàng bán tăng 275,66%,
cao hơn tốc độ tăng của doanh thu do Công ty thực hiện thanh lý lỗ các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn, khoản chi phí tài chính trong năm 2013 rất cao đã khiến
cho lợi nhuận sau thuế năm 2013 bị lỗ 75.849 triệu đồng. Hoạt động đầu tư đang dần
được hồi phục khi đem lại số tiền lãi trong năm đạt mức 59.462 triệu đồng. Các khoản
tiền vào trong năm không thể bù đắp các khoản tiền ra làm cho lưu chyển tiền thuần từ
hoạt động kinh doanh năm 2013 vẫn ở con số (35.727) triệu đồng, thấp hơn cả so với
cùng kỳ năm ngoái.
Lƣu chuyển tiền từ hoạt động đầu tƣ
Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư chỉ chiếm tỷ trọng lớn trong báo cáo lưu
chuyển tiền tê, sức ảnh hưởng lên các khoản lưu chuyển tiền thuần trong năm là khá
lớn. Trong phần lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư thì năm có biến động mạnh nhất
là năm 2011 với việc công ty chi 180.124 triệu đồng để mua sắm, xây dựng TSCĐ và
các TSDH khác cho Công ty. Ngoài ra trong năm này công ty cũng chi cho vay, bán
lại các công cụ nợ cửa các đơn vị khác lên tới 162.750 triệu đồng. Một khoản tiền
12.284 triệu đồng cũng được chi ra để đem đi đầu tư dài hạn. Có thể nói năm 2011 là
một năm chi nhiều hơn thu rất lớn. Lưu chuyền tiền thuần từ hoạt động đầu tư cũng vì
thế mà (108.211) triệu đồng.
Ngược lại với năm 2011, năm 2012 lại là năm Công ty chủ yếu thu tiền về hơn là chi tiền đi đầu tư. Khoản chi duy nhất trong năm của Công ty là số tiền 2.254 triệu đồng chi để mua sắm xây dựng TSCĐ và mua các TSDH khác. Cca khoản tiền thu về trong năm đến từ khoản thu hồi cho vay, bán lại các công cụ nợ của các đơn vị khác, tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ và TSDH khác. Với lượng tiền thu về cao hơn nên trong năm 2012 lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư đạt mức 1.850 triệu đồng.
Năm 2013, tình hình kinh doanh BĐS vẫn đang chưa có tiến triển nhiều, nhận thấy các khoản đầu tư, góp vốn kinh doanh không còn đem lại nhiều lợi nhuận, cho
66
nên Công ty đã thu hồi một khoản tiền 34.603 triệu đồng từ đầu tư góp vốn. Trong
năm 2013, Công ty chi rất nhiều tiền vào mua sắm, xây dựng TSCĐ và các TSDH
khác. Nguyên nhân một phần đến từ mực tiêu chiến lược phát triển trong năm tới cũng như dự đoán được thị trường BĐS sẽ khởi sắc trong năm tới vì vậy Công ty đã mua
thêm một số các bất động sản cũng như xây dựng thêm 1 số công trình để thực hiện
kinh doanh cho kỳ tiếp theo.
Lƣu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính chỉ bao gồm các khoản tiền vay ngắn hạn, dài hạn nhận được, tiền chi trả nợ gốc vay và cổ tức, lợi nhuận đã trả cho cổ đông.
Năm 2011, công ty tiến hành vay ngắn hạn, dài hạn và nhận được 108.600 triệu đồng,
trong khi đó khoản tiền chi trả gốc vay nhỏ hơn (tiền chi trả gốc vay phát sinh năm
2011 là 33.000 triệu đồng), cổ tức và lợi nhuận trả cho cổ đông phát sinh trong năm là 17.983 triệu đồng. Khoản phát sinh nhở hơn khoản nhận được trong năm nên lưu
chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính trong năm 2011 đạt dấu dương và nằm ở mức
57.617 triệu đồng. Năm 2012, Công ty vẫn tiếp tục vay thêm vốn từ Công ty mẹ và từ
Ngân hàng Cổ phần Quân đội (cho vay từng lần chia đều hàng năm) nên trong năm
2012, Công ty vẫn nhận được 1 khoản tiền vay là 6.929 triệu đồng, tiền nợ gốc vay
phát sinh 1.630 triệu đồng. Năm 2012 Công ty làm ăn thua lỗ, không thực hiện chia cổ
tức. Năm 2013 Công ty vẫn nhận khoản tiền cho vay từng lần từ phía ngân hàng. Nợ gốc vay ngày một tăng đã gây phát sinh tiền chi trả nợ gốc lên tới 2.062 triệu đồng.
Lưu chuyển tiền thuần năm 2013 đã âm 344 triệu đồng.
Từ lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt
động đầu tư và từ hoạt động tài chính, ta có lưu chuyển tiền thuần trong năm. Lưu
chuyển tiền thuần trong cả 03 năm phân tích đều ở mức âm. Nguyên nhân là do hoạt
động tài chính tuy ở mức dương nhưng không bù đắp được sự sụt giảm từ lưu chuyển
tiền thuần từ hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tư do sự chiếm lĩnh lớn của
khoản tiền ra đến từ việc chi trả cho người cung cấp và các khoản chi mua sắm TSCĐ,
mua sắm TSDH khiến cho khoản lưu chuyển tiền thuần trong năm ở mức âm. Điều này chứng tỏ công ty thu về dòng tiền ít hơn dòng tiền đã sử dụng trong năm.
3.3. Một số kiến nghị với các Bộ ngành và Nhà nƣớc
Trong bối cảnh kinh tế ngày càng phát triển, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản trị doanh nghiệp nói chung và trình độ quản trị tài chính nói riêng. Tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính ngày càng được khẳng định nên các doanh
nghiệp cần phải nhanh chóng tiến hành các giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp của mình. Các giải pháp được đề xuất ở trên là những việc
67
làm cần thiết nhất đối với Công ty CP Dầu khí Đông Đô. Tuy nhiên, để tạo động lực
và điều kiện thuận lợi cho Công ty thực hiện các giải pháp trên thì các cơ quan quản lý
Nhà nước, các Bộ ngành cần phải có sự quan tâm, giúp đỡ nhất định.
- Với các Bộ ngành
Để tạo cơ sở cho việc cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác, Bộ Tài chính cần
ban hành một chế độ kế toán phù hợp, yêu cầu tất cả các doanh nghiệp phải thực hiện
đầy đủ việc lập các Báo cáo tài chính theo một trình tự thống nhất. Ngoài ra, để đảm
bảo tính “trong sạch” của các Báo cáo tài chính thì các báo cáo này bắt buộc phải có xác nhận của cơ quan kiểm toán Nhà nước, phải có chế tài xử phạt nghiêm khắc đối
với các trường hợp cố tình thay đổi, làm sai các số liệu kế toán.
Trong công tác phân tích tài chính của Công ty CP Dầu khí Đông Đô, do đến nay
vẫn chưa có chỉ tiêu trung bình ngành vì vậy Công ty thiếu các chuẩn mực để so sánh, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình với chỉ tiêu trung bình ngành. Tình
trạng này xảy ra ở rất nhiều doanh nghiệp ở các ngành khác nhau. Do vậy đề nghị
Tổng cục thông kê, Bộ Tài chính và Bộ chủ quản sớm có kế hoạch triển khai xây dựng
và ban hành hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành góp phần đem lại hiệu quả ở cả tầm vi
mô và tầm vĩ mô.
Hiện nay công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại Công ty CP Dầu khí Đông
Đô nói riêng và các doanh nghiệp trong nước nói chung vẫn còn rất yếu kém cả về nội dung phân tích và trình độ cán bộ phân tích. Do đó, Bộ Tài chính cần phối hợp với các
Bộ ngành có liên quan thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức,
nghiệp vụ cho các cán bộ chuyên môn tại doanh nghiệp. Có như vậy thì công tác phân
tích tài chính doanh nghiệp mới thực sự đi vào nề nếp.
- Với Nhà nước
Ban hành và sửa đổi các văn bản pháp luật về doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt
hướng dẫn về mặt quản lý tài chính sao cho các doanh nghiệp sớm chủ động hơn trong
việc quản lý, sử dụng, thay thế tài sản,... để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản và vốn.
Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, tham gia hội nhập nhanh
chóng với khu vực và thế giới, thiết lập các cơ quan chuyên trách cung cấp những thông tin tài chính, thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh, thông tin về thị trường nước ngoài... Điều này sẽ hỗ trợ cho quá trình phân tích tài chính và ra quyết định của các doanh nghiệp, đồng thời mang lại một môi trường kinh doanh quốc tế thuận lợi và mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán giữa các doanh nghiệp với nhau với các nước trên thị trường thế giới.
68
KẾT LUẬN
Qua tất cả những phân tích trên ta thấy công tác phân tích tài chính đã khẳng
định được những ưu điểm trong quá trình hoạt động kinh doanh và ra quyết định tài chính cả các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Công ty Cổ phần Dầu khí Đông Đô
nói riêng. Trong điều kiện hội nhập và phát triển kinh tế khu vực cà toàn cầu, Công ty
Cổ phần Dầu khí Đông Đô muốn thu thập được những thông tin tốt nhất liên quan đến
ngành hoạt động của mình để tránh rủi ro trong kinh doanh và tăng cao lợi nhuận;
muốn tự mình thay đổi những phương pháp, cách nghĩ, cách làm để thích ứng với môi trường kinh doanh đầy biến động và phức tạp, đưa ra những chiến lược kinh doanh
thật hiệu quả. Nâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp là một điều kiện
cần thiết giúp Công ty thực hiện phần nào mong muốn trên.
Qua thời gian thực tập ngắn ngủi trong Công ty Cổ phần Dầu khí Đông Đô, bằng những hiểu biết hạn hẹp của mình, em nhận thấy nâng cao chất lượng phân tích tài
chính tại công ty là vấn đề sống còn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao. Vì vậy, em đã
quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính tại Công ty
Cổ phần Dầu khí Đông Đô” làm đề tài nghiên cứu của mình. Tuy vậy, em cũng nhận
thấy bài còn nhiều thiếu sót, mong rằng sẽ được thầy cô quan tâm, góp ý để bài viết được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 4 tháng 7 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Mai Anh
PHỤ LỤC
1. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2011
của Công ty CP Dầu khí Đông Đô.
2. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2012
của Công ty CP Dầu khí Đông Đô.
3. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2013
của Công ty CP Dầu khí Đông Đô.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS Vũ Duy Hào (2008), Những vấn đề cơ bản về quản trị tài chính doanh
nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội
2. PGS.TS. Nguyễn Năng Phúc, Phân tích báo cáo tài chính, NXB Đại học Kinh
tế quốc dân , tái bản lần 2 năm 2011
3. GS.TS. Ngô Thế Chi, TS.Đoàn Xuân Tiến, GS.TS.Vương Đình Huệ (2010), Kế toán - Kiểm toán và Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội.
4. Giáo trình Quản lý Tài chính công - nhà xuất bản tài chính năm 2009 5. Kênh tin tức kinh tế, tài chính, thông tin chứng khoán Cafef.vn 6. Công thông tin giao dịch chứng khoán trực tuyến VnDirect.com.vn 7. Phạm Thị Gái (2004), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Nxb Thống
Kê, Hà Nội
8. Nguyễn Năng Phúc (2004), Phân tích tài chính trong các Công ty cổ phần ở
Việt Nam, Nxb Thống Kê, Hà Nội
9. ThS Nguyễn Tấn Bình (2001), Phân Tích Hoạt Động Doanh Nghiệp, NXB Đại
Học Quốc Gia TP.HCM
10. Học viện Tài Chính (2003), Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp, Nxb
Tài chính, Hà Nội
11. PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang & Nguyễn Thị Liên Hoa (2007), Phân Tích
Tài Chính, NXB Lao Động – Xã Hội
12. TS Nguyễn Quốc Khánh & TS Nguyễn Thị Mỹ Dung, Giáo trình nhập môn tài
chính tiền tệ, Nxb Giáo dục Việt Nam

