BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC TỶ SỐ TÀI CHÍNH CHỦ YẾU VÀ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY THÁI HÒA.

SINH VIÊN THỰC HIỆN : HOÀNG QUỐC VIỆT

MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH : A19504 : QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI – 2014

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN

TÍCH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP. ........................................... 1 1.1. Khái quát về tài chính và hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp. ....... 1

1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp và quản lý tài chính ....................... 1

1.1.2. Bản chất của tài chính doanh nghiệp. ................................................... 1

1.1.3. Đặc điểm, chức năng, vai trò của tài chính doanh nghiệp. ................... 3

1.1.3.1. Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp ...................................................... 3 1.1.3.2. Chức năng của tài chính doanh nghiệp.................................................... 3 1.1.3.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp .......................................................... 5 1.1.4. Các hoạt động của quản lý tài chính doanh nghiệp .............................. 7 1.1.4.1. Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp .......................... .7 1.1.4.2. Lập kế hoạch tài chính của doanh nghiệp. ............................................... 8 1.2. Nội dung cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp. ............................... 9

1.2.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp. ....................................... 9

1.2.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp. ...................................... 9

1.2.3. Mục đích và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp. .............. 10

1.2.3.1. Mục đích của phân tích tài chính doanh nghiệp. ................................... 10 1.2.3.2. Ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp. ............................... 11 1.2.4. Các phương pháp phân tích tài chính. ................................................ 11

1.2.4.1. Phương pháp loại trừ.............................................................................. 11 1.2.4.2. Phương pháp so sánh. ............................................................................ 11 1.2.4.3. Phương pháp liên hệ. .............................................................................. 13 1.2.4.4. Phương pháp phân tích tỷ lệ .................................................................. .14 1.3. Phân tích các tỷ số tài chính chủ yếu. ........................................................ 14

1.3.1. Nhóm tỷ số về khả năng sinh lợi. ......................................................... 14

1.3.1.1. Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu. .............................................................. 14 1.3.1.2. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA). ................................................ 15 1.3.1.3. Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE) ................................................ 15 1.3.2. Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán. ................................................... 16

1.3.2.1. Tỷ số thanh toán hiện hành. ................................................................... 17 1.3.2.2. Tý số thanh toán nhanh ......................................................................... .17 1.3.3. Nhóm tỷ số hoạt động........................................................................... 17 1.3.4. Nhóm tỷ số về cơ cấu vốn. .................................................................... 18

1.3.4.1. Phân tích Dupont các tỷ số tài chính. ..................................................... 19 1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng thực hiện các chỉ tiêu tài chính chủ

yếu. ..................................................................................................................... 19

1.4.1. Nhân tố chủ quan. ................................................................................ 19 1.4.2. Nhân tố khách quan. ............................................................................ 20

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH SẢN XUẤT

CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY THÁI HÒA............................................. 21 2.1. Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa. ........................ 21

2.1.1. Lịch sử ra đời, hoạt động, phát triển công ty cổ phần dệt may thái

hòa ............................................................................................................... 21

2.1.2. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty hiện nay .................... .22

2.1.3. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ các phòng ban. ........................ 22

2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức của Công Ty Cổ Phần Dệt May Thái Hòa. .................... 22 2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban............................................... 23 2.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh sản xuất của Công ty Cổ phần dệt may

Thái Hòa. .............................................................................................................. 25

2.2.1. Phân tích khái quát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp. ............................................................................................................... 25

2.2.2. Phân tích khát quát hoạt động tài chính của doanh nghiệp ............... 30

2.2.2.1. Phân tích cơ cấu tài sản. ......................................................................... 30 2.2.2.2. Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty ............................................... 34 2.2.3. Phân tích cân đối tài sản và nguồn vốn. .............................................. 37

2.2.4. Phân tích tình hình hoạt động và khả năng thanh toán của Công ty.38

2.2.4.1. Phân tích tình hình hoạt động. ............................................................... 38 2.2.4.2. Phân tích khả năng thanh toán. ............................................................. 40 2.2.5. Phân tích hiệu suất sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa............................................................................................................ 42

2.2.5.1. Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản .......................................................... 43 2.2.5.2. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định ......................................................... .43 2.2.5.3. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn. ......................................................... 44 2.2.5.4. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn. ...................................................... 44 2.2.6. Phân tích tỷ số về cơ cấu vốn của doanh nghiệp. ................................ 45

2.2.6.1. Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản. ....................................................................... 45 2.2.6.2. Tỷ lệ bù đắp lãi suất. ............................................................................... 46 2.2.7. Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp. .................................. 47 2.3. Phân tích Dupont các tỷ số tài chính.......................................................... 49 2.3.1. Đẳng thức Dupont thứ nhất. ................................................................ 49

2.3.2. Đẳng thức Dupont thứ hai. .................................................................. 49 2.4. Đánh giá hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa. .. 49 2.4.1. Tích cực. ............................................................................................... 49

2.4.2. Hạn chế và khó khăn. ........................................................................... 50

CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY THÁI HÒA. ................. 53

3.1. Định hướng hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần dệt may Thái

Hòa. ..................................................................................................................... 53 3.1.1. Mục tiêu chung của Công ty. ............................................................... 53

3.1.2. Mục tiêu thị trường và mặt hàng xuất khẩu của Công ty. ................. 53

3.1.2.1. Thị trường xuất khẩu.............................................................................. 53 3.1.2.2. Mặt hàng xuất khẩu................................................................................ 54 3.2. Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc của Công ty Cổ phần

dệt may Thái Hòa. ................................................................................................ 54 3.2.1. Giảipháp từ thị trường. ........................................................................ 54

3.2.1.1. Lựa chọn chiến lược phát triển thị trường: ............................................ 54 3.2.1.2. Tăng cường các hoạt động nghiên cứu và dự báo thị trường: ............... 55 3.2.1.3. Nâng cao chất lượng sản phẩm: ............................................................. 55 3.2.1.4. Tăng cường hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. .................................. 55 3.2.1.5. Áp dụng chính sách giá cả mềm dẻo ...................................................... 56 3.2.1.6. Củng cố và nâng cao uy tín của Công ty trên thị trường ........................ 56 3.2.2. Các giải pháp về vốn và tài chính. ....................................................... 57

3.2.3. Các giải pháp về nguồn nhân lực......................................................... 57

3.3. Một số kiến nghị với nhà nước. .................................................................. 58

3.3.1. Tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các đơn vị sản xuất,

xuất khẩu ngành thủ công dệt may. ................................................................. 58

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

CCDV Cung cấp dịch vụ

HĐKD Hoạt động kinh doanh

NK Nhập khẩu

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

TSCĐ Tài sản cố định

TSDH Tài sản dài hạn

TSNH Tài sản ngắn hạn

XK Xuất khẩu

VCSH Vốn chủ sở hữu

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC Sơ đồ 2.1.Cơ cấu tổ chức của Công Ty Cổ Phần Dệt May Thái Hòa. ................... 23

Bảng 2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần dệt may

Thái Hòa. .................................................................................................................. 26

Bảng 2.2.Phân tích cơ cấu và biến động tài sản. ..................................................... 31

Bảng 2.3.Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty Cổ phần dệt mayThái Hòa. ... 34

Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu phản ánh tình hình công nợ phải thu. ........................... 39

Bảng 2.5.Một số chỉ tiêu về khả năng thanh toán của Công ty Cổ phần dệt may

Thái Hòa. .................................................................................................................. 41

Bảng 2.6. Một số chỉ tiêu tài chính của Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa trong

những năm 2011-2013.............................................................................................. 47

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Quản trị kinh

doanh với đề tài: “ Phân tích các tỷ số tài chính chủ yếu và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa.”, ngoài

sự cố gắng nỗ lực của bản thân em đã nhận được sự giúp đỡ động viên từ phía các thầy

cô, các cô chú của Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa.

Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Th.s Lê Thị Hạnh, giáo viên đã giúp

đỡ em rất nhiều trong quá trình làm và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Cùng lời các cô chú trong Công ty đã tạo điều kiện cho em để em có thể hoàn thành khóa luận tốt

nghiệp.

Do điều kiện thời gian có hạn và kinh nghiệm còn ít nên khóa luận tốt nghiệp

của em không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, các bạn và các quý vị quan tâm tới đề tài này.

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 6 năm 2014.

Sinh viên

Hoàng Quốc Việt

LỜI CAM ĐOAN.

Tôi xin cam đoan: Toàn bộ nội dung khóa luận tốt nghiệp “ Phân tích các tỷ số tài chính chủ yếu và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của

Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa.” Do tôi tự nghiên cứu, tham khảo các tài liệu của

Công ty và sách vở có liên quan. Không sao chép hay sử dụng bài làm của ai khác.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình trước quý thầy cô

và nhà trường.

Hà Nội, tháng 6 năm 2014

Người Cam Đoan

Hoàng Quốc Việt

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài. Trong điều kiện hội nhập kinh tế như hiện nay, tính cạnh tranh ngày càng gay

gắt. Các doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác cùng ngành trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài trên cả thị

trường trong nước lẫn thị trường quốc tế. Vì vậy, để đứng vững được trong môi trường

kinh doanh đầy tính cạnh tranh này thì doanh nghiệp phải nỗ lực hết mình không chỉ

nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ để nâng cao tính cạnh tranh mà còn phải có

chiến lược kinh doanh đúng đắn, xây dựng mục tiêu trong đầu tư, và các biện pháp để phát huy tiềm lực của của mình. Muốn vậy, nhà quản trị phải nắm được thực trạng tình

hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty đang như thế nào, đâu là điểm mạnh,

đâu là điểm yếu, các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân

tố đến hoạt động sản xuất kinh doanh để có chiến lược phù hợp. Và việc phân tích tình hình tài chính của Công ty sẽ giúp nhà quản trị biết được những điều đó.

Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các doanh

nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, kết

quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp cũng như xác định được

một cách đầy đủ, đúng đắn nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thông

tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như rủi ro và triển

vọng trong tương lai của doanh nghiệp để lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra những giải

pháp hữu hiệu, những quyết định chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản

lý kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả của phân

tích tài chính không chỉ có ý nghĩa với các nhà quản trị doanh nghiệp mà nó còn có ý

nghĩa rất lớn với các đối tượng khác như các nhà cho vay, nhà đầu tư, nhà cung cấp,

cơ quan quản lý cấp trên… Phân tích tài chính cung cấp những thông tin cần thiết giúp

cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá được thực trạng tài chính và tiềm năng

của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó lựa chọn và đưa ra những phương án kinh tế tối ưu.

Nhận thức được tầm quan trọng của phân tích tình hình tài chính đối với sự

phát triển của doanh nghiệp, kết hợp với các kiến thức lý luận đã học và sự hướng dẫn

tận tình của giáo viên Th.s Lê Thị Hạnh, em đã quyết định chọn đề tài “ Phân tích các tỷ số tài chính chủ yếu và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa.” làm khóa luận tốt nghiệp cho mình.

- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề tổng quan về tài chính và phân tích hoạt động

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. tài chính doanh nghiệp và Thực trạng hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp.

- Phạm vi nghiên cứu: Các tỷ số tài chính chủ yếu tại Công ty Cổ phần dệt may

Thái Hòa.

3. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần mở đầu và kết luận, Khóa luận gồm 3 chương chính sau: Chương 1: Tổng quan về tài chính và phân tích hoạt động tài chính doanh

nghiệp

Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh sản xuất của công ty cổ phần dệt

may Thái Hòa.

Chương 3: Giải pháp để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty

cổ phần dệt may Thái Hòa.

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH

HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.

1.1. Khái quát về tài chính và hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp.

1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp và quản lý tài chính.

- Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế có liên quan đến viêc

hình thành và sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Tài chính được biểu hiện dưới hình

thức tiền tệ và có liên quan trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp. Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền

tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các

mục tiêu của doanh nghiệp

- Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng

tài chính của một doanh nghiệp để phân tích điểm mạnh điểm yếu của nó và lập các kế

hoạch kinh doanh.

1.1.2. Bản chất của tài chính doanh nghiệp.

Tài chính là một bộ phận cấu thành trong các hoạt động kinh tế của doanh

nghiệp. Nó có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại với các hoạt động kinh tế khác.

Mối quan hệ tác động qua lại này phản ánh và thể hiện sự tác động gắn bó thường

xuyên giữa phân phối sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Phân phối vừa phản ánh kết quả

của sản xuất và trao đổi, lại vừa là điều kiện cho sản xuất và trao đổi có thể tiến hành

bình thường và liên tục.

Tài chính doanh nghiệp là tài chính của các tổ chức sản xuất kinh doanh có tư cách

pháp nhân và là một khâu tài chính cơ sở trong hệ thống tài chính. Vì tại đây diễn ra

quá trình tạo lập và chu chuyển vốn gắn liền với qua trình sản xuất, đầu tư, tiêu thụ và

phân phối.

Tài chính - thoạt nhìn chúng ta lại hiểu là tiền tệ, như một doanh nghiệp sẽ phải

trích một khoản tiền lương để trả cho cán bộ công nhân viên. Tiền lương đó được phân

phối giữa các loại lao động có trình độ nghề nghiệp khác nhau và điều kiện làm việc

khác nhau. Tài chính tham gia phân phối sản phẩm quốc dân cho người lao động thông

qua quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền lương và các quỹ phúc lợi công cộng

khác. Do vậy giữa tài chính và tiền là hai phạm trù kinh tế khác nhau.

Tài chính cũng không phải là tiền tệ, và cũng không phải là quỹ tiền tệ. Nhưng

thực chất tiền tệ và quỹ tiền tệ chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của tài chính, còn

1

bên trong nó là những quan hệ kinh tế đa dạng. Nhân loại đã có những phát minh vĩ

đại trong đó phải kể đến việc phát minh ra tiền, mà nhờ đó người ta có thể quy mọi

hoạt động khác nhau về một đơn vị đo thống nhất, và trên cơ sở đó có thể so sánh, tính

toán được với nhau. Như vậy tiền chỉ là phương tiện cho hoạt động tài chính nói chung

và hoạt động tài chính doanh nghiệp nói riêng. Thông qua phương tiện này, các doanh

nghiệp có thể thực hiện nhiều hoạt động khác nhau trong mọi lĩnh vực, nếu như chúng

ta chỉ nhìn bề ngoài thì chỉ thấy các hoạt động đó hoạt động tách riêng nhau, nhưng

thật ra lại gắn bó với nhau trong sự vận động và chu chuyển vốn, chúng được tính toán

và so sánh với nhau bằng tiền.

Do vậy toàn bộ các quan hệ kinh tế được biểu hiện bằng tiền phát sinh trong

doanh nghiệp thể hiện nội dung của tài chính doanh nghiệp. Nó bao gồm các quan hệ

tài chính sau:

-Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp.

Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: đó là những quan hệ về phân

phối, điều hoà cơ cấu thành phần vốn kinh doanh, phân phối thu nhập giữa các thành

viên trong nội bộ doanh nghiệp; các quan hệ về thanh toán hợp đồng lao động giữa chủ

doanh nghiệp và công nhân viên chức.

Các mối quan hệ này đều thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở

doanh nghiệp như: vốn cố định, vốn lưu động, quỹ tiền lương, quỹ khấu hao, quỹ dự

trữ tài chính... nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

-Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước.

Thể hiện trong việc các doanh nghiệp nộp thuế cho chính phủ và sự tài trợ của

chính phủ trong một số trường hợp cần thiết để thực hiện vai trò can thiệp vào kinh tế

của mình.

Ở nước ta có thành phần kinh tế quốc doanh nên sự tài trợ của nhà nước được

thể hiện rõ bằng việc bảo đảm một phần vốn pháp định cho các doanh nghiệp.Trong

quá trình hoạt động các doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả và nhất là các

doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đất nước sẽ được

nhà nước chú trọng đầu tư vốn nhằm giúp doanh nghiệp phát triển tốt hơn. Cũng trong

quá trình hoạt động kinh doanh này, các doanh nghiệp nhà nước phải nộp các khoản

thuế, phí, lệ phí như các doanh nghiệp khác và còn phải nộp thuế sử dụng vốn cho

ngân sách nhà nước. Khoản thu này chiếm tỉ trọng lớn trong thu ngân sách giúp nhà

2

nước có nguồn để phục vụ cho quốc kế dân sinh nói chung và tạo hành lang pháp lý để

bảo vệ nền kinh tế cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế và

hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ hoặc không hoạt động ở những then

chốt, nhà nước sẽ cho cổ phần hoá. Nghĩa là toàn bộ số vốn của doanh nghiệp theo

dạng này sẽ bao gồm : Cổ phần của nhà nước, cổ phần của doanh nghiệp và cổ phần

của ngân hàng. Nếu doanh nghiệp bán cổ phần của mình cho cán bộ công nhân viên

trong doanh nghiệp thì lúc đó sẽ có các cổ phần của cán bộ công nhân viên. ở một

chừng mực nào đó, khi thị trường chứng khoán Việt Nam vận hành thì cổ phần đó sẽ

được mua đi bán lại trên thị trường và nảy sinh ra cổ phần xã hội. Trong điều kiện đó

mối quan hệ giữa ngân sách nhà nước với doanh nghiệp cũng có sự thay đổi đáng kể.

Nhà nước còn tham gia vào nền kinh tế với tư cách là một cổ đông.

-Quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức tài chính trung gian.

Hiện nay các tổ chức tài chính trung gian ở nước ta mới chỉ hiện rõ nét bằng

hoạt động của các ngân hàng thương mại và của công ty bảo hiểm. Nhưng để có một

nền kinh tế thị trường phát triển tất yếu phải có sự thiết lập các hình thức phong phú,

đa dạng trong lĩnh vực môi giới về vốn. Nhằm biến những nguồn vốn tạm thời nhàn

rỗi ở các hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức khác thành những nguồn vốn

dành để đầu tư cho kinh tế.

-Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhau.

Mối quan hệ này phát sinh trong quá trình thanh toán các sản phẩm và dịch vụ,

trong việc góp vốn liên doanh, vốn cổ phần và chia lợi nhuận do vốn liên doanh cổ

phần mang lại.

-Quan hệ giữa các doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế nước ngoài.

Phát sinh trong quá trình vay, cho vay, trả nợ và đầu tư với giữa doanh nghiệp

với các tổ chức kinh tế trên thế giới.

1.1.3. Đặc điểm, chức năng, vai trò của tài chính doanh nghiệp.

1.1.3.1. Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp

Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp gắn liền với quá trình hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp có các quan hệ tài chính doanh nghiệp đa dạng phát sinh:

quan hệ nộp, cấp phát giữa doanh nghiệp và nhà nước; quan hệ thanh toán với các chủ

thể khác trong xã hội, với người lao động trong doanh nghiệp.

1.1.3.2. Chức năng của tài chính doanh nghiệp.

3

- Chức năng tạo vốn và luân chuyển vốn.

Đảm bảo nguồn vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh để có đủ vốn cho hoạt

động sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghiệp phải tính toán nhu cầu vốn, lựa chọn

nguồn vốn, tổ chức huy động và sử dụng vốn đúng đắn nhằm duy trì và thúc đẩy sự

phát triển có hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Về phía Nhà nước phải hỗ trợ doanh nghiệp là tạo môi trường hoạt động phong

phú, đa dạng để tạo vốn và phát triển các loại hình tín dụng thu hút tối đa các nguồn

vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế xã hội và dân cư, tạo nguồn vốn cho vay dồi dào

đối với mọi loại hình doanh nghiệp.

- Phân phối thu nhập bằng tiền doanh nghiệp

Thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiêp phân phối.

Phân phối tài chính ở doanh nghiệp có thể được diễn ra giữa 2 chủ thế khác nhau,

chuyển một bộ giá trị từ hình thức sở hữu này sang hình thức sở hữu khác. Thu nhập

bằng tiền mà doanh nghiệp đạt được do thu nhập bán hàng trước tiên phải bù đắp cho

chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất: bù đắp hao mòn máy móc thiết bị, trả lương cho

người lao động và mua bán nguyên liệu, vật liệu để tiếp tục cho chu kỳ sản xuất mới,

thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Phần còn lại doanh nghiệp sử dụng hình thức

các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn đã lợi tức cổ phần nếu có. Chức

năng phân phối tài chính của doanh nghiệp và quá trình phân phối đó luôn gắn liền với

những đặc điểm vốn có của hoạt động sản xuất kinh doanh và hình thức sở hữu doanh

nghiệp.

- Chức năng giám đốc (hoặc kiểm tra) bằng tiền đối với hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp.

Tài chính doanh nghiệp thường căn cứ vào tình hình thu chi tiền tệ và các chỉ

tiêu phản ánh bằng tiền để kiểm soát tình hình đảm bảo vốn sản xuất kinh doanh, tình

hình sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cụ thể qua tỷ trọng, cơ cấu

nguốn vốn huy động, việc sử dụng nguồn vốn huy động, việc tính toán các yếu tố chi

phí vào giá thành và chi phí lưu thông, việc thanh toán các khoản công nợ với người

bán, với tín dụng, với công nhân viên và kiểm tra việc chấp hành kỷ luật tài chính, kỷ

luật thanh toán, kỷ luật tín dụng của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó giúp cho các chủ thể

quản lý phát hiện những khâu mất cân đối, những sơ hở trong công tác điều hành,

quản lý kinh doanh để có quyết định ngăn chặn kịp thời khả năng tổn thất có thể xảy ra

4

nhằm duy trì nâng cao quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, chức

năng này trong phạm vi doanh nghiệp nơi mà hoạt động hằng ngày, hằng giờ thực hiện

việc tiêu dùng sản xuất vật tư và lao động thì nó có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Ba chức năng trên có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau. Chức năng tạo vốn

và phân phối được tiến hành đồng thời qua trình thực hiện chức năng Giám đốc. Chức

năng Giám đốc thực hiện tốt là cơ sở quan trọng cho những định hướng phân phối tài

chính đúng đắn, đảm bảo các tỷ lệ phù hợp với quy mô sản xuất, phương hướng sản

xuất, tạo điều kiện cho sản xuất được tiến hành liên tục. Việc tạo vốn và phân phối tốt

sẽ khai thông các luồng tài chính, thu hút mọi nguồn vốn khác nhau để đáp ứng nhu

cầu vốn cho các doanh nghiệp và sử dụng hiệu quả đồng vốn, tạo ra nguồn tài chính

dồi dào là điều thuận lợi cho việc thực hiện chức năng Giám đốc tài chính của doanh

nghiệp.

1.1.3.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp

Vai trò của tài chính doanh nghiệp được ví như những tế bào có khả năng tái

tạo, hay còn được coi như “ cái gốc của nền tài chính”. Sự phát triển hay suy thoái của

sản xuất- kinh doanh gắn liền với sự mở rộng hay thu hẹp nguồn lực tài chính. Vì vậy

vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động, thậm chí có thể là

tiêu cực đối với kinh doanh trước hết phụ thuộc vào khả năng, trình độ của người quản

lý ; sau đó nó còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, phụ thuộc vào cơ chế quản lý

kinh tế vĩ mô của nhà nước.

Song song với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà nước đã hoạch định

hàng loạt chính sách đổi mới nhằm xác lập cơ chế quản lý năng động như các chính

sách khuyến khích đầu tư kinh doanh, mở rộng khuyến khích giao lưu vốn. .. Trong

điều kiện như vậy, tài chính doanh nghiệp có vai trò sau:

- Tài chính doanh nghiệp- một công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính

nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh.

Để thực hiện mọi quá trình sản xuất kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp

phải có một yếu tố tiền đề - đó là vốn kinh doanh. Trong cơ chế quản lý hành chính

bao cấp trước đây, vốn của các doanh nghiệp nghiệp nhà nước được nhà nước tài trợ

hầu hết. Vì thế vai trò khai thác, thu hút vốn không được đạt ra như một nhu cầu cấp

bách, có tính sống còn với doanh nghiệp.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường đa thành phần, các doanh nghiệp nhà nước

chỉ là một bộ phận cùng song song tồn tại trong cạnh tranh, cho việc đầu tư phát triển

5

những ngành nghề mới nhằm thu hút được lợi nhuận cao... đã trở thành động lực và là

một đòi hỏi bức bách đối với tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong nền

kinh tế thị trường, khi đã có nhu cầu về vốn, thì nảy sinh vấn đề cung ứng vốn. Trong

điều kiện đó, các doanh nghiệp có đầy đủ điều kiện và khả năng để chủ động khai thác

thu hút các nguồn vốn trên thị trường nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh và

phát triển của mình.

- Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm

và hiệu quả.

Cũng như đảm bảo vốn, việc tổ chức sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu

quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong điều kiện của

nền kinh tế thị trường, yêu cầu của các quy luật kinh tế đã đặt ra trước mọi doanh

nghiệp những chuẩn mực hết sức khe khắt; sản xuất không phải với bất kỳ giá nào.

Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

đều được phản ánh bằng các chỉ tiêu giá trị, chỉ tiêu tài chính, bằng các số liệu của kế

toán và bảng tổng kết tài sản. Với đặc điểm này, người cán bộ tài chính có khả năng

phân tích, giám sát các hoạt động kinh doanh để một mặt phải bảo toàn được vốn, mặt

khác phải sử dụng các biện pháp tăng nhanh vòng quay vốn, nâng cao khả năng sinh

lời của vốn kinh doanh.

- Tài chính doanh nghiệp có vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết sản xuất

kinh doanh.

Khác với nền kinh tế tập trung, trong nền kinh tế thị trường các quan hệ tài

chính doanh nghiệp được mở ra trên một phạm vi rộng lớn. Đó là những quan hệ với

hệ thống ngân hàng thương mại, với các tổ chức tài chính trung gian khác, các thành

viên góp vốn đầu tư liên doanh và những quan hệ tài chính trong nội bộ doanh

nghiệp...Những quan hệ tài chính trên đây chỉ có thể được diễn ra khi cả hai bên cùng

có lợi và trong khuôn khổ của pháp luật. Dựa vào khả năng này, nhà quản lý có thể sử

dụng các công cụ tài chính như đầu tư, xác định lãi suất, tiền lương, tiền thưởng để

kích thích tăng năng suất lao động, kích thích tiêu dùng, kích thích thu hút vốn nhằm

thúc đẩy sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh.

- Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Tình hình tài chính doanh nghiệp là tấm gương phản ánh trung thực nhất mọi

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Thông qua các chỉ tiêu tài chính

6

như: hệ số nợ, hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn, cơ cấu các thành phần vốn...có thể

dễ dàng nhận biết chính xác thực trạng tốt, xấu trong các khâu của quá trình sản xuất

kinh doanh.

Để sử dụng có hiệu quả công cụ kiểm tra tài chính, đòi hỏi nhà quản lý doanh

nghiệp cần tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, xây dựnghệ

thống các chỉ tiêu phân tích tài chính và duy trì nề nếp chế độ phân tích hoạt động kinh

tế của doanh nghiệp..

Các hoạt động của quản lý tài chính doanh nghiệp

1.1.4.

1.1.4.1. Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

Vốn sử dụng của doanh nghiệp là chênh lệch giữa tài sản hiện có của công ty và

các khoản nợ phải trả, thường được gọi là vốn lưu chuyển trong công ty. Các nhà quản

trị phải luôn chú ý đến những thay đổi trong vốn lưu chuyển, nguyên nhân dẫn đến sự

thay đổi và ảnh hưởng của sự thay đổi đó đối với tình hình hoạt động của công ty. Khi

quản lý nguồn vốn lưu chuyển trong công ty, hãy xem xét các bộ phận cấu thành sau

đây:

- Tiền mặt và các khoản tương đương tiền mặt (các loại chứng khoán và tiền

gửi ngắn hạn). Khi lập các kế hoạch tài chính bạn phải trả lời được những câu hỏi liên

quan đến tiền mặt như : lượng tiền mặt của công ty có đáp ứng nhu cầu chi phí không?

Mối quan hệ giữa lượng tiền thu được và chi phí như thể nào? Khi nào thì công ty cần

đến các khoản vay ngân hàng?

- Các khoản phải thu: chủ yếu bao gồm các khoản tín dụng mua hàng cho khách

hàng. Nhà quản trị phải quan tâm đến những khách hàng nào thường hay trả chậm và

biện pháp cần thiết để đối phó với họ.

- Tồn kho: khoản tồn kho thường chiếm tới 50% tài sản hiện có của công ty do

đó nhà quản trị phải kiểm soát tồn kho thật cẩn thận thông qua việc xem xét xem

lượng tồn kho có hợp lý với doanh thu, liệu doanh số bán hàng có sụt giảm nếu không

có đủ lượng tồn kho hợp lý cũng như các biện pháp cần thiết để nâng hoặc giảm lượng

hàng tồn kho.

- Các khoản phải trả và các tín phiếu đến hạn chủ yếu là các khoản tín dụng mà

các nhà cung cấp cho công ty hưởng.

- Các khoản vay phải trả bao gồm các khoản vay từ ngân hàng và các nhà cho

vay khác. Nhà quản trị phải quan tâm đến các vấn đề như: lượng vốn đi vay có phù

7

hợp với tình hình phát triển của công ty, khi nào thì lãi suất cho vay đến hạn trả?

- Chi phí và thuế đến hạn trả bao gồm: các khoản trả lương, lãi phải trả đối với

các tín phiếu, phí bảo hiểm…

1.1.4.2. Lập kế hoạch tài chính của doanh nghiệp.

Lập kế hoạch tài chính gồm lập kế hoạch trong ngắn hạn và lập kế hoạch trong

dài hạn. Kế hoạch tài chính ngắn hạn là việc lập kế hoạch về lợi nhuận và ngân quỹ

công ty trong khi kế hoạch dài hạn thường mang tính chiến lược và liên quan đến việc

lập các mục tiêu tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận trong vòng từ 3 đến 5 năm.

- Kế hoạch tài chính ngắn hạn.

Các công cụ dùng trong việc lập kế hoạch ngắn hạn thường dùng là: báo cáo

thu nhập chiếu lệ, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, phân tích tình hình ngân quỹ và chiến

lược giá cả. Kế hoạch tài chính ngắn hạn nên được lập theo từng tháng để có được cái

nhìn sát hơn và đưa ra được biện pháp nâng cao tình hình tài chính.

- Lập kế hoạch tài chính dài hạn hay kế hoạch tài chính chiến lược.

Các doanh nghiệp thường sử dụng báo cáo thu nhập chiếu lệ cho khoảng thời

gian từ 3 đến 5 năm. Vấn đề khó khăn đặt ra là làm sao có thể dự đoán hết được những

biến động sẽ xảy ra với doanh nghiệp trong vòng mấy năm sắp tới. Các nhà quản lý sẽ

dễ dàng làm được điều này theo quy trình sau:

+ Xác lập tốc độ tăng trưởng mong muốn mà công ty có thể đạt được.

+ Tính toán mức vốn cần thiết để trang trải các khoản tồn kho, trang thiết bị,

nhà xưởng và nhu cầu nhân sự cần thiết để đạt được tốc độ tăng doanh thu.

+ Nhà quản trị phải dự tính được chính xác và kịp thời nhu cầu vốn để có kế

hoạch thu hút vốn bên ngoài trong trường hợp ngân quỹ từ lợi nhuận không chia

không đủ đáp ứng. Có 2 nguồn vốn trang trải cho nhu cầu vốn để tăng trưởng là: lợi

nhuận và vay nợ.

Nếu công ty không có đủ vốn để tài trợ cho chương trình mở rộng công việc

kinh doanh thông qua tăng tồn kho, đổi mới trang thiết bị và tài sản cố định và tăng chi

phí điều hành công ty thì sự phát triển của công ty sẽ bị chậm lại hoặc dừng lại hẳn do

công ty không thanh toán được các khoản nợ đến hạn.” Để tránh tình trạng này, nhà

quản trị phải tích cực lập kế hoạch tài chính để kiểm soát được tốc độ tăng trưởng.

Muốn thế bạn phải xác định được chính xác các nhu cầu của doanh nghiệp trong tương

lai bằng cách sử dụng báo cáo thu nhập chiếu lệ trong vòng từ 3 đến 5 năm.

Trong trường hợp lợi nhuận làm ra không đủ để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng

8

dự báo của công ty, người quản trị phải bố trí vay nợ bên ngoài hoặc giảm tốc độ tăng

trưởng để mức lợi nhuận làm ra có thể theo kịp nhu cầu tăng trưởng và mở rộng. Do

việc thu hút vốn đầu tư và vay nợ mất rất nhiều thời gian nên đòi hỏi nhà quản trị phải

dự báo chính xác và kịp thời để tránh tình trạng gián đoạn công việc kinh doanh.

Trong quá trình lập kế hoạch, nhà quản trị nên tập trung vào các điểm mạnh,

điểm yếu của doanh nghiệp và các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô và vi mô có thể ảnh

hưởng đến việc đạt được các mục tiêu đã đề ra. Đồng thời phải phát triển các chiến

lược dựa trên kết quả phân tích các yếu tố có liên quan (chiến lược giá, tiềm năng về

thị trường, cạnh tranh, so sánh chi phí sử dụng vốn đi vay và vốn tự có…) để có thể

đưa ra hướng đi đúng đắn nhất cho sự phát triển của công ty.

1.2. Nội dung cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp.

Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp.

1.2.1.

Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ

cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm

đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất

lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh

nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản

lý phù hợp.

Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá

sản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh

giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh

nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những

dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp

trong tương lai. Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính – một

trong các hướng dự đoán doanh nghiệp. Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo

nhiều hướng khác nhau với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với

mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích( trong doanh nghiệp

hoặc ngoài doanh nghiệp).

1.2.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp.

Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việc phân tích

các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh các số

liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá

tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai. Báo cáo tài

9

chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng như

tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính

rất hữu ích đối việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ

yếu đối với những người bên ngoài doanh nghiệp. Do đó, phân tích báo cáo tài chính

là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý doanh nghiệp, các

nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ

quan chính phủ, người lao động… Mỗi nhóm người này có những nhu cầu thông tin

khác nhau.

Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài

chính doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý

của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng

trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Do vậy sẽ có

nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như : chủ doanh

nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng… kể cả các cơ quan Nhà nước và người

làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các

góc độ khác nhau.

1.2.3. Mục đích và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp.

1.2.3.1. Mục đích của phân tích tài chính doanh nghiệp.

Có hai mục đích hoặc mục tiêu trung gian trong phân tích báo cáo tài chính,

đồng thời là mối quan tâm cho mọi nhà phân tích thông minh.

Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm để

"hiểu được các con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử dụng các công cụ

phân tích tài chính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu tài chính trong

báo cáo. Như vậy, người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân tích khác nhau nhằm để

miêu tả những quan hệ có nhiều ý nghĩa và chắt lọc thông tin từ các dữ liệu ban đầu.

Thứ hai, do sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm vào việc ra

quyết định, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp lý cho việc dự

đoán tương lai. Trên thực tế, tất cả các công việc ra quyết định, phân tích tài chính hay

tất cả những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương lai. Do đó, người ta sử dụng các

công cụ và kĩ thuật phân tích báo cáo tài chính nhằm cố gắng đưa ra đánh giá có căn cứ

về tình hình tài chính tương lai của công ty, dựa trên phân tích tình hình tài chính trong

quá khứ và hiện tại, và đưa ra ước tính tốt nhất về khả năng của những sự cố kinh tế

10

trong tương lai.

1.2.3.2. Ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp.

Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh

doanh. Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính

của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy

hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, phân tích tình hình

tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng

bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp.

- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: phân tích tài chính nhằm tìm ra những giải

pháp tài chính để xây dựng cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn thích hợp nhằm nâng cao

hiệu quả, tiềm lực tài chính cho doanh nghiệp.

- Đối với chủ sở hữu: phân tích tài chính giúp đánh giá đúng đắn thành quả của

các nhà quản lý về thực trạng tài sản, nguồn vốn, thu nhập, chi phí, lợi nhuận của

doanh nghiệp; sự an toàn và hiệu quả của đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp.

- Đối với khách hàng, chủ nợ, phân tích tài chính sẽ giúp đánh giá đúng đắn khả

năng và thời hạn thanh toán của doanh nghiệp.

1.2.4. Các phương pháp phân tích tài chính.

Phương pháp phân tích tài chính là kỹ thuật , là cách thức để đánh giá tình hình

tài chính của công ty ở quá khứ, hiện tại và dự đoán trong tương lai. Từ đó giúp các

đối tượng đưa ra quyết định kinh tế phù hợp với mục tiêu mong muốn của từng đối

tượng, để đáp ứng mục tiêu của phân tích có nhiều phương pháp, thông thường ta hay

sử dụng một số phương pháp sau:

1.2.4.1. Phương pháp loại trừ.

Trong phân tích kinh doanh, nhiều trường hợp nghiên cứu ảnh hưởng của các

nhân tố đến kết quả kinh doanh nhờ phương pháp loại trừ.

Loại trừ là một phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân

tố đến kết quả kinh doanh, bằng cách khi xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố này,

thì loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác.

1.2.4.2. Phương pháp so sánh.

Là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh.

Có ba nguyên tắc cơ bản khi sử dụng phương pháp này, đó là:

- Lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh.

Tiêu chuẩn để so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm căn cứ để so

11

sánh, tiêu chuẩn đó có thể là:Tài liệu của năm trước (kỳ trước), nhằm đánh giá xu

hướng phát triển của các chỉ tiêu. Các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự toán, định

mức), nhằm đành giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức.

Các chỉ tiêu của kỳ được so sánh với kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu kỳ thực hiện và là kết

quả mà doanh nghiệp đã đạt được.

- Điều kiện so sánh được.

Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu được sử dụng

phải đồng nhất. Trong thực tế, thường điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu

kinh tế cần được quan tâm hơn cả là về thời gian và không gian.

- Về mặt thời gian: là các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian

hạch toán phải thống nhất trên ba mặt sau:

+ Phải cùng phản ánh nội dung kinh tế.

+ Phải cùng một phương pháp phân tích.

+ Phải cùng một đơn vị đo lường

- Về mặt không gian: các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng quy mô và

điều kiện kinh doanh tương tự nhau.

Tuy nhiên, thực tế ít có các chỉ tiêu đồng nhất được với nhau. Để đảm bảo tính

thống nhất người ta cần phải quan tâm tới phương diện được xem xét mức độ đồng

nhất có thể chấp nhận được, độ chính xác cần phải có, thời gian phân tích được cho

phép.

- Kỹ thuật so sánh: Là một yếu tố quan trọng góp phần làm tăng hiệu quả của

việc phân tích tài chính doanh nghiệp.Các kỹ thuật so sánh cơ bản thường gặp là:

+ So sánh bằng số tuyệt đối: là hiệu số giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ

gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện khối lượng quy mô tăng giảm

của các hiện tượng kinh tế.

+ So sánh bằng số tương đối: là thương số giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ

gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ

phát triển, mức phổ biến của các hiện tượng kinh tế.

+ So sánh bằng số bình quân: số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt đối,

biểu hiện tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng, nhằm phản ánh đặc điểm chung

của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung, có cùng một tính chất.

+ So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô được điều

12

chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quyết định quy mô chung.

Tuỳ theo mục đích, yêu cầu của phân tích, tính chất và nội dung phân tích của

các chỉ tiêu kinh tế mà người ta sử dụng kỹ thuật so sánh thích hợp. Quá trình phân

tích theo kỹ thuật của phương pháp so sánh có thể thực hiện theo ba hình thức:

+ So sánh theo chiều dọc: là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ lệ quan hệ

tương quan giữa các chỉ tiêu từng kỳ của các báo cáo kế toán-tài chính, nó còn gọi là

phân tích theo chiều dọc (cùng cột của báo cáo).

+ So sánh chiều ngang: là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ lệ và chiều hướng

biến động các kỳ trên báo cáo kế toán tài chính, nó còn gọi là phân tích theo chiều

ngang (cùng hàng trên báo cáo).

+ So sánh xác định xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu: các chỉ tiêu riêng

biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo được xem trên mối quan hệ với các chỉ

tiêu phản ánh quy mô chung và chúng có thể được xem xét nhiều kỳ (từ 3 đến 5 năm

hoặc lâu hơn) để cho ta thấy rõ xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu.

Các hình thức sử dụng kỹ thuật so sánh trên thường được phân tích trong các phân tích

báo cáo tài chính- kế toán, nhất là bản báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân

đối kế toán và bảng lưu chuyển tiền tệ là các báo cáo tài chính định kỳ của doanh

nghiệp.

1.2.4.3. Phương pháp liên hệ.

Mọi kết quả kinh doanh đều có liên hệ mật thiết với nhau giữa các mặt, các bộ

phận. Để lượng hoá các mối liên hệ đó, ngoài các phương pháp đã nêu, trong phân tích

kinh doanh còn sử dụng phổ biến các cách nghiên cứu liên hệ phổ biến như liên hệ cân

đối, liên hệ tuyến tính và liên hệ phi tuyến

Liên hệ cân đối có cơ sở là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của các yếu tố và

quá trình kinh doanh: giữa tổng số vốn và tổng số nguồn, giữa nguồn thu, huy động và

tình hình sử dụng các quỹ, các loại vốn giữa nhu cầu và khả năng thanh toán, giữa

nguồn mua sắm và tình hình sử dụng các loại vật tư, giữa thu với chi và kết quả kinh

doanh…mối liên hệ cân đối vốn có về lượng của các yếu tố dẫn đến sự cân bằng cả về

mức biến động (chênh lệch) về lượng giữa các mặt của các yếu tố và quá trình kinh

doanh. Dựa vào nguyên tắc đó, cũng có thể xác định dưới dạng “tổng số” hoặc “hiệu

số” bằng liên hệ cân đối, lấy liên hệ giữa nguồn huy động và sử dụng một loại vật tư

Liên hệ trực tiếp: là mối liên hệ theo một hướng xác định giữa các chỉ tiêu phân tích.

Chẳng hạn lợi nhuận có quan hệ cùng chiều với lượng hàng bán ra, giá bán có quan hệ

13

ngược chiều với giá thành, tiền thuế. Các mối liên hệ chủ yếu là:

- Liên hệ trực tiếp giữa các chỉ tiêu như giữa lợi nhuận với giá bán, giá thành,

tiền thuế. Trong những trường hợp này, các mối quan hệ không qua một chỉ tiêu liên

quan nào: giá bán tăng (hoặc giá thành hay tiền thuế giảm) sẽ làm lợi nhuận tăng.

- Liên hệ gián tiếp là quan hệ giữa các chỉ tiêu trong đó mức độ phụ thuộc giữa

chúng được xác định bằng một hệ số riêng.

- Liên hệ phi tuyến tính là mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trong đó mức liên hệ

không được xác định theo tỷ lệ và chiều hướng liên hệ luôn biến đổi.

1.2.4.4. Phương pháp phân tích tỷ lệ.

Phân tích tỷ lệ là một công cụ thường được sử dụng trong phân tích báo cáo tài

chính. Việc sử dụng các tỷ lệ cho phép người phân tích đưa ra một tập hợp các con số

thống kê để vạch rõ những đặc điểm chủ yếu về tài chính của một số tổ chức đang

được xem xét. Các nhà phân tích có thể đưa ra một tiêu chuẩn riêng của họ bằng cách

tính toán các tỷ lệ trung bình cho các công ty chủ đạo trong cùng một ngành. Cho dù

nguồn gốc của các tỷ lệ là như thế nào cũng đều cần phải thận trọng trong việc so sánh

công ty đang phân tích với các tiêu chuẩn được đưa ra cho các công ty trong cùng một

ngành và có quy mô tài sản xấp xỉ. Nếu ta chọn phương pháp này để trình bày các kết

quả thì tốt nhất là nên trình bày cả tiêu chuẩn ngành và xu thế trên cùng một biểu đồ.

Các tỷ lệ tài chính then chốt thường được nhóm lại thành bốn loại chính, tuỳ theo khía

cạnh cụ thể về tình hình tài chính của công ty mà các tỷ lệ này muốn làm rõ. Bốn loại

chính, xét theo thứ tự mà chúng ta sẽ được xem xét ở dưới đây là:

- Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lợi.

- Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán.

- Hiệu quả hoạt động.

- Cơ cấu vốn.

1.3. Phân tích các tỷ số tài chính chủ yếu.

1.3.1. Nhóm tỷ số về khả năng sinh lợi.

Tỷ số sinh lợi đo lường thu nhập của công ty với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như

doanh thu, tổng tài sản, vốn cổ phần.

1.3.1.1. Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu.

Chỉ tiêu này nói lên 1 đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Lợi nhuận ròng x100 Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu

14

= `Doanh thu thuần

Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì

thế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty

với tỷ số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia. Mặt khác, tỷ số này và

số vòng quay tài sản có xu hướng ngược nhau. Do đó, khi đánh giá tỷ số này, người

phân tích tài chính thường tìm hiểu nó trong sự kết hợp với số vòng quay tài sản.

1.3.1.2. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA).

Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lợi trên một đồng vốn đầu tư vào công ty.

Lợi nhuận ròng x100 Tỷ suất sinh lợi tổng tài sản = Tổng tài sản

ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng

vốn đầu tư (hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất

lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để

so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và

so giữa các công ty tương đồng nhau.

Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai

nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả của

việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì

càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.

1.3.1.3. Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE):

Đây là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của

một đồng vốn họ bỏ ra để đầu tư vào công ty. Tỷ số này đo tính hiệu quả của quá trình

sử dụng vốn góp của các cổ đông.

Lợi nhuận ròng x100 Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần = Vốn cổ phần

Sự khác nhau giữa ROA và ROE là do công ty có sử dụng vốn vay, nếu công ty

không sử dụng vốn vay thì hai tỷ số sẽ bằng nhau.

Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo

ra bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với

các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu

15

của công ty nào.

Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ

đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay

để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy

mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.

Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể

như sau:

- ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay

ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả

lãi vay ngân hàng.

- ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì phải đánh giá xem công ty đã vay ngân

hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty

này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không.

1.3.2. Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán.

Tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ nét chất lượng

công tác tài chính. Nếu hoạt động tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ ít công nợ, khả năng

thanh toán dồi dào, ít bị chiếm dụng vốn cũng như ít đi chiếm dụng vốn. Ngược lại

nếu hoạt động tài chính kém thì sẽ dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, các

khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây dưa, kéo dài.

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp chỉ tập trung vào thanh toán khoản vay

nợ mà doanh nghiệp cần phải thanh toán trong năm. Do vậy doanh nghiệp phải dùng

toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để thanh toán nợ tới hạn.

Nếu khả năng thanh toán yếu, doanh nghiệp phải chịu lãi suất đồng thời làm ảnh

hưởng đến các mối quan hệ kinh tế trong kinh doanh. Vì vậy khi xét đến khả năng

thanh toán người ta chỉ xét đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Thuộc nhóm chỉ tiêu

này bao gồm:

Tổng số nợ phải thu x100 Tỷ lệ khoản thu so với phải trả = Tổng số nợ phải trả

Nếu tỷ lệ này>100% thì số vốn đơn vị đi chiếm dụng đơn vị khác ít hơn số bị

chiếm dụng. Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng đánh giá khả năng đáp ứng các khoản

16

nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.

1.3.2.1. Tỷ số thanh toán hiện hành.

Là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một công ty được sử

dụng rộng rãi nhất.

Tổng TSLĐ Tỷ số thanh toán hiện hành = Nợ ngắn hạn

Chỉ số này càng thấp ám chỉ doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn đối với việc thực

hiện các nghĩa vụ của mình nhưng một chỉ số thanh toán hiện hành quá cao cũng

không luôn là dấu hiệu tốt, bởi vì nó cho thấy tài sản của doanh nghiệp bị cột chặt vào

“ tài sản lưu động” quá nhiều và như vậy thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh

nghiệp là không cao

1.3.2.2. Tý số thanh toán nhanh.

Được tính toán dựa trên những tài sản lưu động có thể nhanh chóng chuyển đổi

thành tiền, hay còn gọi là tài sản có tính thanh khoản .

TSLĐ – Hàng tồn kho Tỷ số thanh toán nhanh = Nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không

phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ. Tỷ số này cho thấy khả năng thanh toán thực sự

của một công ty.

1.3.3. Nhóm tỷ số hoạt động.

Tỷ suất hoạt động chỉ ra mức độ hiệu quả của một tổ chức trong việc sử dụng

tài sản. Việc sử dụng tài sản hiệu quả sẽ làm giảm nhu cầu đầu tư từ các bên cho vay

và chủ sở hữu.

Giảm đầu tư cũng đồng nghĩa với việc giảm cả rủi ro lẫn chi phí. Hai tỷ lệ hoạt

động mà nhiều nhà quản lý phải thường xuyên đối mặt là kỳ thu tiền chưa thanh toán

và tỷ lệ thay thế tồn kho.

Kỳ thu tiền chưa thanh toán (hoặc hạn thu) cho chúng ta biết thời gian trung

bình cần thiết để thu trên doanh thu do công ty tạo ra.

Khoản phải thu Kỳ thu tiền chưa thanh toán = Doanh thu trung bình ngày

Số ngày tồn kho lại là một tỷ lệ khác mà nhiều nhà quản lý cần quan tâm đến.

Việc xác định số lần bán và thay thế hàng tồn kho trong một năm cho phép đánh giá

17

khả năng thanh toán bằng tiền và khả năng doanh nghiệp đó chuyển hàng tồn kho

thành tiền một cách nhanh chóng nếu điều đó là cần thiết. Tốc độ thay thế tồn kho

chậm thường dẫn đến tình trạng có quá nhiều vốn bị chôn trong hàng tồn kho. Điều

này gây tốn nhiều chi phí, và đối với hàng kỹ thuật và đồ phụ kiện, có thể trở thành

hàng tồn kho lỗi thời. Lợi nhuận chỉ được cải thiện khi bạn có thể bán hết toàn bộ hàng

trong kho càng sớm càng tốt.

Giá vốn hàng bán Số ngày tồn kho = Tồn kho trung bình ngày

1.3.4. Nhóm tỷ số về cơ cấu vốn.

Nhóm tỷ số này phản ánh mức chủ động về tài chính cũng như khả năng sử

dụng nợ của doanh nghiệp.

Đối với chủ sở hữu, lợi thế của việc nợ nhiều là tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư

thực tế có thể cao hơn một cách bất tương xứng khi công ty tạo ra lợi nhuận. Mặt khác,

tỷ lệ vay nợ cao sẽ có hại khi dòng tiền giảm, vì lãi suất trên nợ là nợ phải trả trên hợp

đồng có nghĩa là dù tình hình kinh doanh tốt hay xấu thì đều phải thanh toán. Một

công ty có thể bị phá sản do bị thúc ép thanh toán lãi đến hạn trên khoản nợ còn tồn

đọng.

Tỷ lệ nợ được sử dụng rộng rãi trong phân tích tài chính vì nó cho biết tác động

của đòn bẩy tài chính. Có nhiều cách tính, nhưng ở đây chỉ nêu ra hai cách. Cách đơn

giản nhất là đo lường mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp so với tài sản :

Tổng nợ Tỷ lệ nợ = Tổng tài sản

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Tỷ lệ bù đắp lãi suất = Chi phí lãi suất

Hầu hết mỗi công ty đều cam kết sẽ thanh toán tiền mặt nếu có khả năng thanh

toán nợ. Thanh toán lãi suất là một trong những cam kết này. Hệ số đo khả năng thanh

toán lãi suất của một doanh nghiệp được gọi là tỷ lệ bù đắp lãi suất. Công thức tính

như sau:

Số lần thanh toán lãi suất được chi trả bởi thu nhập trước thuế (EBIT) thể hiện

18

mức độ mà thu nhập không gây ra tình trạng không thanh toán được nợ.

1.3.4.1. Phân tích Dupont các tỷ số tài chính.

Các tỷ số tài chính đều ở dạng phân số, vì vậy mỗi tỷ số tài chính tăng hay giảm

phụ thuộc vào hai nhân tố là mẫu số và tử số của nhân tố đó, mặt khác các tỷ số tài

chính còn ảnh hưởng đến nhau. Hay nói cách khác mỗi tỷ số tài chính có thể được

trình bày bằng một vài tỷ số tài chính khác.

- Đẳng thức Dupont thứ nhất.

Lãi ròng Doanh thu thuần ROA = x Doanh thu thuần Tổng tài sản

Phương trình này cho thấy ROA phụ thuộc vào hai nhân tố là: Thu nhập của

doanh nghiệp trên một đồng doanh thu là bao nhiêu và một đồng tài sản tạo ra bao

nhiêu đồng doanh thu.

- Đẳng thức Dupont thứ hai.

Lãi ròng Tổng tài sản ROE = x Tổng tài sản VCSH

Phân tích đẳng thức này cho ta thấy rằng khi tỷ số nợ tăng lên thì ROE cũng

tăng lên, có nghĩa là sử dụng vốn vay có hiệu quả sẽ khuếch đại được lợi nhuận trên

VCSH.

1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng thực hiện các chỉ tiêu tài chính chủ

yếu.

- Do trình độ tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, của ban

1.4.1. Nhân tố chủ quan.

giám đốc và của các cấp quản lý khác trong doanh nghiệp.

- Do trình độ lao động, trình độ của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp,

cũng như tinh thần làm việc và tinh thần trách nhiệm trong công việc của họ.

- Do đặc thù ngành nghề kinh doanh của công ty, kinh doanh mặt hàng tồn

được lâu hay phải luân chuyển nhanh.

- Do loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hay doanh

nghiệp thương mại hay doanh nghiệp hỗn hợp.

- Do công tác quản lý chi phí. Chính sách bán chịu, chính sách vay nợ, chính

19

sách marketing của doanh nghiệp.

- Lãi suất ngân hàng, tình hình lạm phát, khủng hoảng kinh tế, sức mua của thị

1.4.2. Nhân tố khách quan.

trường….

- Tình hình chính trị, kinh tế xã hội, quy hoạch đô thị, công nghiệp hóa…

- Tình hình dịch bệnh, y tế…

- Tình hình tài chính thế giới, tỷ giá hối đoái…

Nhìn chung, phân tích báo cáo tài chính là một nghệ thuật phiên dịch các số liệu

từ các báo cáo tài chính thành những thông tin hữu ích cho việc ra quyết định có cơ sở

thông tin. Trong đó những phạm vi được chú trọng bao gồm khả năng sinh lợi, tính

thanh khoản, hiệu quả hoạt động và cơ cấu vốn, thông qua một quy trình được thiết lập

có hệ thống và logic, tập trung phân tích những vấn đề này sẽ giúp ích rất lớn cho các

20

doanh nghiệp khi thực hiện những quyết định quan trọng.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH SẢN XUẤT CỦA

CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY THÁI HÒA.

2.1. Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa.

2.1.1. Lịch sử ra đời, hoạt động, phát triển công ty cổ phần dệt may thái hòa

- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY THÁI HÒA.

- Trụ sở chính: Xã Yên Trị, Huyện Ý Yên, Tỉnh Nam Định

- Hình thức sở hữu: Công ty Cổ Phần.

- Điện thoại: 03503826279

- Số Fax: 03503826279

- Mã số thuế: 0600511782

- Lịch sử hình thành và phát triển:

Công Ty Cổ Phần Dệt May Thái Hòa thành lập ngày 24/03/2004. Giấy chứng

nhận đăng ký kinh doanh số: 0106033693 do Sở kế hoạch đầu tư Nam Định cấp.

Tiền thân là Công ty dệt may Thái Hòa chuyên gia công sản phẩm quần áo

trong nước và xuất khẩu với phương châm là uy tín , đúng hẹn và đảm bảo chất lượng.

Công ty dệt may Thái Hòa đã được thành lập và dần dần có được uy tín trên thị trường

trong nước và ngoài nước.

Từ năm 2005, công ty chuyển sang hoạt động theo mô hình cổ phần hóa, sự

chuyển đổi này thể hiện sự muốn vươn lên khẳng định vị trí và thương hiệu của mình

trên con đường hội nhập và phát triển. Việc kinh doanh và quản lý có hiệu quả, tạo ra

lợi nhuận và mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa gia công đóng

vai trò quyết định trong thành công của công ty. Do đó Công ty Cổ phần dệt may Thái

Hòa đã quyết tâm xây dựng một thương hiệu vững chắc, khẳng định bước tiến của

Công ty trên con đường hội nhập và trở thành địa chỉ tin cậu cho các bạn hàng trong

nước và quốc tế.

Từ năm 2011 tới nay, Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa không ngừng phát

triển, đa dạng hóa các mặt hàng gia công, kim ngạch xuất nhập khẩu hằng năm đều

được gia tăng, thị trường và uy tín của công ty ngày càng mở rộng. Mặc dù trong thời

gian này cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang bùng nổ, tầm ảnh hưởng của nó đã

lan tỏa ra toàn thế giới ảnh hưởng đến hàng loạt các công ty và Công ty Cổ phần dệt

may Thái Hòa cũng không ngoại lệ. Đây là thời kỳ khó khăn của Công ty nhưng với

chiến lược kinh doanh đúng đắn, Công ty vẫn đứng vững được trên thị trường cạnh

21

tranh khắc nghiệt. Với những tiền đề hiện có, trong tương lai, Công ty Cổ phần dệt

may Thái Hòa sẽ không ngừng phát triển và vương xa hơn nữa, tiếp tục khẳng định

mình trên thị trường trong nước và quốc tế.

Với kinh nghiệm gần 11 năm xây dựng và phát triển, trải qua không ít khó khăn

và thách thức, Công Ty Cổ Phần Dệt May Thái Hòa nhờ hiểu rõ nhu cầu, nắm bắt

được những cơ hội, tiếp thu những công nghệ mới và đặc biệt với sự nhiệt huyết,

nhanh nhạy, sáng tạo, tinh thần nỗ lực tập thể của đội ngũ công nhân viên, Công ty đã

nhanh chóng đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu để kịp thời thích ứng với cơ chế thị

trường trên cơ sở ngày một cải tiến lĩnh vực sản xuất kinh doanh giúp Công ty khẳng

định hướng đi đúng đắn đồng thời duy trì và hoạch định kế hoạch phát triển, mở rộng

cho Công ty trong tương lai.

Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty hiện nay.

2.1.2.

- Kinh doanh, sản xuất các sản phẩm từ dệt may như vải dệt mộc, khăn dệt..vv..

- Nhận gia công các sản phẩm dệt may cho các công ty nước ngoài.

- Đầu tư xây dựng, kinh doanh, kho bãi, nhà xưởng, văn phòng làm việc, cơ sở

hạ tầng nhà ở cho công nhân viên.

- Đầu tư chứng khoán.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ các phòng ban.

2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức của Công Ty Cổ Phần Dệt May Thái Hòa.

Số lượng lao động: Công ty hiện có 130 lao động trong đó: 100 lao động trực

tiếp là lực lượng lao động lành nghề tại địa phương sẵn có và 30 lao động gián tiếp có

trình độ Đại học và trên Đại học đã có nhiều năm kinh nghiệm.

Trong đó Hội đồng quản trị là cấp cao nhất bổ nhiệm giám đốc điều hành các

hoạt động hàng ngày của Công ty và chịu sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị. Tiếp đến

là giám đốc và các phòng ban hoạt động theo các chức năng, nhiệm vụ chuyên môn

của mình theo sự chỉ đạo và điều hành từ giám đốc cùng các quy định luật pháp hiện

hành, để góp phần vào xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với thị

22

trường giúp Công ty ngày càng phát triển lớn mạnh.

Sơ đồ2.1.Cơ cấu tổ chức của Công Ty Cổ Phần Dệt May Thái Hòa.

Hội đồng quản trị

Giám đốc

Phó giám đốc

Phòng KCS

Phòng tài vụ

Phòng kĩ thuật

Phòng tổ chức hành chính

Phòng kinh doanh nội địa

Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu

(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)

2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban.

+ Hội đồng quản trị.

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cấp cao nhất của Công ty, có toàn quyền

nhân danh Công ty để giải quyết các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của

Công ty .

+ Giám đốc.

Giám đốc là người có pháp nhân hợp pháp về pháp lý nhà nước, là người lãnh

đạo trực tiếp mọi hoạt động kinh doanh của Công ty. Sắp xếp bổ nhiệm các thành viên

vào các vị trí phù hợp theo nhu cầu sản xuất từng giai đoạn, công việc. Chịu trách

nhiệm tài chính, hạch toán, thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. Định hướng chiến lược

và từng bước thực hiện xây dựng Công ty ổn định, phát triển lâu dài

+ Phó giám đốc.

Phó giám đốc tham mưu cho Giám đốc, báo cáo trung thực, phân tích tình hình

Công ty, cùng Giám đốc tìm các biện pháp tối ưu trên mọi phương diện hoạt động của

Công ty. Họp bàn thống nhất và chỉ đạo cụ thể các phòng ban nghiệp vụ và các đội sản

23

xuất để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của Công ty đề ra.

+ Phòng tổ chức hành chính.

Phòng tổ chức hành chính có nhiệm vụ tổ chức quản lý các công việc hành

chính, tổ chức điều động nhân lực, thực hiện chế độ bảo hiểm, giải quyết các chính

sách với cán bộ, công nhân viên và tổ chức lao động công tác thi đua, lập ra các

phương án đề xuất về việc sử dụng hợp đồng dài hạn, ngắn hạn rồi chình lên Giám đốc

để ký hợp đồng lao động, điều động cán bộ công nhân viên, duy trì các hoạt động khác

và duyệt các định mức lao động, tiền lương, nâng bậc….

+ Phòng tài vụ.

Phòng có chức năng tổ chức các hoạt động tài chính và chịu trách nhiệm về

hoạt động tài chính của công ty, quản lý tài sản, phân tích các hoạt động kinh tế tài

chính, tham mưu giúp giám đốc thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán hạch toán

kinh doanh trong công ty, cung cấp các thông tin tài chính chính xác và kịp thời. Kế

toán trưởng giúp giám đốc chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kế toán, thống kê của

công ty, có quyền và nhiệm vụ theo qui định của pháp luật.

+ Phòng kĩ thuật.

Phòng có chức năng nâng cao hoặc chuyển đổi kĩ thuật sao cho phù hợp với thị

trường và nhu cầu tiêu dùng, quản lí các công tác kĩ thuật như: thiết kế mẫu mã, cắt

mẫu, lập các định mức và tiêu chuẩn kiểm tra sản phẩm, lập qui trình công nghệ.

Xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm, tháng của Công ty, hướng dẫn, kiểm tra quá

trình sản xuất sản phẩm, nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược cho hoạt động

phát triển sản xuất, kinh doanh của Công ty.

+ Phòng KCS.

Có nhiệm vụ chịu trách nhiệm trước giám đốc về vấn đề thí nghiệm, kiểm tra

chất lượng nguyên vật liệu đưa vào sản xuất, các loại sản phẩm do công ty sản xuất

theo tiêu chuẩn chất lượng công ty ban hành.

Quyết định chất lượng nguyên phụ liệu có đủ điều kiện đưa vào sản xuất (Trên

cơ sở các chỉ tiêu chất lượng đã được kiểm tra đánh giá theo quy định). Tiến hành các

thủ tục khiếu nại đối với các lô nguyên phụ liệu nhập về kho công ty không đảm bảo

yêu cầu về chất lượng

Công tác thí nghiệm kiểm tra kiểm soát quá trình sản xuất, phúc tra, nghiệm thu

24

chất lượng sản phẩm, phân cấp chất lượng sản phẩm

+ Phòng kinh doanh nội địa.

Bao gồm các nhân viên có trình độ chuyên nghiệp, có kinh nghiệm trong lĩnh

vực kinh doanh tại thị trường trong nước cũng như kinh doanh dịch vụ và sản phẩm.

Tất cả các nhân viên đều tốt nghiệp đại học và sau đại học các trường trong nước và

nước ngoài. Phòng kinh doanh nội địa có nhiệm vụtìm kiếm khách hàng ở thị trường

trong nước, tham mưu cho giám đốc trong công tác định hướng kinh doanh trong nội

địa, theo dõi về giá cả, thông tin thị trường.

+ Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu.

Phòng có nhiệm vụ tìm kiếm và đặt hàng các nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất,

liên hệ với khách hàng nước ngoài đồng thời xuất khẩu những sản phẩm của công ty

sang nước ngoài, vạch ra những kế hoạch định hướng kinh doanh, theo dõi các thông

tin thị trường, lập các hợp đồng kinh tế ngoại thương, thực hiện các nhiệm vụ xuất

nhập khẩu, theo dõi và tổng hợp các số liệu báo cáo trực tiếp cho giám đốc.

Nhận xét:

Qua sơ đồ trên, chúng ta có thể thấy được một cách tổng quát cơ cấu bộ máy

quản lý của Công Ty Cổ Phần Dệt May Thái Hòa có mối liên hệ mật thiết, ràng buộc

lẫn nhau từ giám đốc cho đến các phòng ban. Nhân viên công ty đang đi vào guồng

máy hoạt động để đảm bảo chi phí nhỏ nhất và lợi nhuận là lớn nhất, chất lượng sản

phẩm luôn đặt lên hàng đầu, chỉ có thể như thế công ty mới có thể đứng vững trên thị

trường tràn ngập tính cạnh tranh ngày nay.

2.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh sản xuất của Công ty Cổ phần dệt may

Thái Hòa.

2.2.1. Phân tích khái quát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong quá trình hội nhậpnền kinh tế thị trường hiện nay thì hiệu quả kinh

doanh là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Thông qua việc xem xét hiệu quả kinh

doanh, các nhà quản lý có thể đánh giá chính xác khả năng sinh lời và thực trạng tài

chính của doanh nghiệp. Để phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty ta sẽ xem xét

đến một số mục chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Qua đó, đánh

giá khái quát được hiệu quả kinh doanh cho ta cái nhìn tổng quan ban đầu về tình hình

và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của Công ty.Căn cứ vào Báo cáo

25

kết quả hoạt động kinh doanh 3 năm 2011, 2012, 2013. Ta lập bảng sau:

Bảng 2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần dệt

may Thái Hòa.

(Đơn vị : Triệu đồng)

Chênh lệch Chênh lệch Năm Năm Năm (2013-2012) (2012-2011) Chỉ tiêu 2013 2012 2011 Số tiền Số tiền

1. DT bán hàng và CCDV 518.104 638.602 583.571 (120.498) 55.031

- Doanh thu bán hàng- XK 189.467 258.895 247.866 (69.427) 11.029

- Doanh thu bán hàng trong nước 290.887 360.949 310.138 (70.061) 50.811

- Doanh thu bán hàng- Ủy thác 726 978 1.073 (251) (95)

- Doanh thu bán hàng- Thuê nhà 35.106 16.886 22.277 18.219 (5.391)

- Doanh thu bán hàng- khác 1.916 893 2.217 1.023 (1.324)

2. Các khoản giảm trừ doanh thu - - - - -

3. DTT bán hàng và CCDV 518.104 638.602 583.571 (120.498) 55.031

4. Giá vốn hàng bán 445.889 572.736 533.547 (126.847) 39.189

- Giá vốn hàng bán- XK 164.106 187.454 104.786 (23.348) 82.668

- Giá vốn hàng bán- NK 281.782 385.281 428.761 (103.498) (43.480)

5. Lợi nhuận gộp BH và CCDV 72.215 65.866 50.023 6.349 15.843

6. Doanh thu hoạt động tài chính 13.383 9.088 7.619 4.294 1.469

7. Chi phí tài chính 21.099 11.354 13.091 9.744 (1.737)

8. Chi phí bán hàng 46.213 39.138 24.288 7.074 14.850

9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 7.673 23.318 13.391 (15.644) 9.927

10. Lợi nhuận thuần từ HĐKD 10.612 1.143 3.872 9.468 (2.729)

11. Thu nhập khác 1.538 40 407 1.498 (367)

12. Chi phí khác 2.075 1,084 116 990 968

13. Lợi nhuận khác (537) (1.044) 290 507 (1.334)

14. Tổng lợi nhuận kế toán trước 10.075 7.162 9.976 (7.063) 99 thuế

15. Chi phí thuế TNDN hiện hành 765 - 751 13 13

16. Lợi nhuận sau thuế TNDN 9.310 7.162 9.225 85 (7.077)

26

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2011,2012,2013)

Nhận xét:

- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Theo số liệu của bảng 2.1 doanh thu

bán hàng và cung cấp dịch vụ qua 3 năm có sự biến động mạnh. Điển hình là năm

2012, doanh thu bán hàng và CCDV tăng 55.031 triệu đồng tương ứng 9,43% so với

năm 2011. Sang đến năm 2013 doanh thu bán hàng và CCDV lại có xu hướng giảm

mạnh 120.498 triệu đồng tương ứng 18,87%. Nguyên nhân chủ yếu là do:

+ Năm2012: Doanh thu bán hàng- xktăng nhẹ tương ứng 11.029 triệu đồng với tỷ

lệ 4,45% so với năm 2011. Doanh thu bán hàng trong nước cũng tăng 50.811 triệu

đồng với tỷ lệ 16,38%, điều này thể hiện nhu cầu về hàng hóa tăng cao, đặc biệt là

trong nước do Công ty đã tích cực tìm kiếm, mở rộng thị phần. Trong khi đó, doanh

thu bán hàng-Ủy thác, doanh thu bán hàng- thuê nhà và doanh thu bán hàng khác trong

năm 2012 đều giảm so với 2011. Cụ thể, Doanh thu bán hàng -Ủy thác giảm nhẹ

8,85% ứng với 95 triệu đồng, Doanh thu bán hàng-thuê nhà giảm 24.19% tương ứng

5.391 triệu đồng, Doanh thu bán hàng khác giảm mạnh với 1.324 triệu đồng tương ứng

59,72%. Điều này là do Công ty đã tập trung quá nhiều vào mở rộng thị phần chính

nên đã xem nhẹ đến các công tác khác.

+ Năm 2013, doanh thu bán hàng xuất khẩu giảm nhiều nhất 26,82% tương ứng

69.427 triệu đồng tiếp đó doanh thu bán hàng trong nước giảm 19,41% tương ứng

70.061 triệu đồng. Doanh thu cung cấp dịch vụ ủy thác cũng giảm 25,71% với 251

triệu đồng. Doanh thu bán hàng khác tăng mạnh với 1.023 triệu đồng tương ứng với

114,56%. Việc doanh thu giảm nhiều là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế

trong nướcvà thế giới trong những năm gần đây, chủ yếu tại Mỹ trung tâm kinh tế toàn

cầu. Nước này đã có những chính sách thắt chặt chi tiêu sau khủng hoảng ảnh hưởng

lớn tới thị trường tiêu thụ hàng hóa xuất nhập khẩu toàn cầu. Hiện nay mặc dù Công ty

chủ yếu xuất khẩu ở thị trường Châu Á, chủ yếu là Nhật Bản nhưng do ảnh hưởng từ

suy thoái kinh tế cộng thêm việc thị trường này đã dần trở nên bão hòa khiến cho các

quy định về chất lượng cũng như kiểm định rất khắt khe. Đó là những nguyên nhân

chính làm cho doanh thu bán hàng xuất nhập khẩu giảm mạnh trong thời gian qua.

+ Doanh thu thuê nhà: Do xu hướng hội nhập kinh tế, có nhiều công ty nước

ngoài vào đầu tư ở Việt Nam, do đó, nhu cầu thuê văn phòng rất lớn. Và đó cũng là

27

nguyên nhân dẫn đến doanh thu thuê nhà tăng nhanh 107,9% tương ứng 18.219 triệu

đồng năm 2013 so với 2012. Chứng tỏ lĩnh vực đầu tư bất động sảnphát triển tốt.

Trong thời gian tới, Công ty nên đầu tư thêm để phát triển lĩnh vực này.

- Giảm trừ doanh thu: Do chất lượng sản phẩm và hàng hóa của Công ty có chất

lượng tốt nên hàng hóa không bị sai sót, hỏng hóc, cả 3 năm Công ty không có khoản

giảm trừ doanh thu. Đây là tốt vì chất lượng hàng hóa tốt sẽ nâng cao uy tín của Công

ty trong long bạn hàng. Vì vậy doanh thu thuần của Công ty cũng chính là doanh thu

từ bán hàng và CCDV.

- Giá vốn hàng bán: Năm 2012 tăng nhẹ với tỷ lệ 7,34%, số tiền 39.189 triệu

đồng so với 2011. Trong đó, Giá vốn hàng bán xuất khẩu tăng mạnh với 78,89%,

tương ứng 82.668 triệu đồng, do sự tăng giá bán từ nhà cung cấp đã làm cho nguyên

liệu đầu vào tăng giá làm tăng chi phí sản suất. Giá vốn bán hàng nhập khẩu giảm

10,14% với 43.480 triệu đồng. Giá vốn hàng bán năm 2013 giảm 126.847 triệu đồng

tương ứng 22,15% so với năm 2012 trong đó, Giá vốn hàng nhập khẩu giảm 103.498

triệu đồng tương ứng 26,86%, Giá vốn hàng xuất khẩu giảm 23.348 triệu đồng tương

ứng 12,46%. Sự thu hẹp hoạt động của Công ty và nhu cầu tiêu thụ từ thị trường đã đề

cập là một nguyên nhân làm giá vốn giảm.

- Lợi nhuận gộp bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2012tăng khá tốt với 15.843

triệu đồng tương ứng với 31,67% so với năm 2011. Điều này là hợp lý do doanh thu

thuần của Công ty năm 2012 tăng mạnh so với 2011. Tuy nhiên một điều đặc biệt là

năm 2013 mặc dù Doanh thu giảm 120.498 triệu đồng so với năm 2012 nhưng Lợi

nhuận gộp lại tăng 6.348 triệu đồng tương ứng 9,64% so với năm 2012 chứng tỏ trong

năm 2013, Công ty đã thực thiện tốt công tác thu mua, bảo quản hàng hóa xuất khẩu

và hàng nhập khẩu, cắt giảm đáng kể chi phí thu mua, vận chuyển, lưu kho… làm giá

vốn hàng bán giảm. Đây là thành tích của Công ty nói chung cũng như của các phòng

kinh doanh nói riêng.

- Chỉ tiêu lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh năm 2012 giảm mạnh so với

2011 là 70,48% ứng với số tiền 2.729 triệu đồng. Chi phí tài chính năm 2012 giảm

13,26% ứng với 1.737 triệu đồng so với 2011, trong khi Chi phí bán hàng và chi phí

quản lý doanh nghiệp năm 2012 tăng lên rất nhiều với tỷ lệ lần lượt là 61,14% và

74,13% tương ứng 14.850 triệu đồng và 9.927 triệu đồng. Do công ty đã tăng cường

mở rộng thị phần để tìm kiếm những khách hàng mới vì vậy mới có sự gia tăng chi phí

28

mạnh như vậy. Năm 2013 lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh đã có bước tiến bộ

rõ rệt, tăng mạnh so với năm 2012 là 827,81% tương ứng 9.468 triệu đồng. Bởi vì

Công ty đã tiết kiệm chi phí trong hoạt động quản lí, đặc biệt là tiết kiệm chi phí quản

lý doanh nghiệp 67,09% tương ứng 15.644 triệu đồng. Do không phải đầu tư thêm

máy móc, trang thiết bị phục vụ cho doanh nghiệp, cộng thêm chính sách quản lý tài

chính tốt và chặt chẽ nên đã giúp giảm thiểu cho chi phí quản lý của Công ty.

- Trong lĩnh vực hoạt động tài chính, doanh thu hoạt động tài chính năm 2012

tăng 19,28% ứng với số tiền 1.469 triệu đồng so với 2011. Mặc dù Doanh thu hoạt

động tài chính năm 2013 tăng lên 4.294 triệu đồng tương ứng 47,26% nhưng chi phí

tài chính lại càng tăng đến 85,82% tương ứng 9.744 triệu đồng so với năm 2012.

Chứng tỏ Công ty bị lỗ trong hoạt động tài chính. Hoạt động tài chính của Công ty bao

gồm 11 tỷ đồng đầu tư vào chứng khoán, 3.2 tỷ đầu tư vào các Công ty con khác tại

Việt Nam. Có thể là do sự nguội đi của thị trường chứng khoán trong thời gian vừa

qua làm cho Công ty bị lỗ trong đầu tư chứng khoán, vốn bị ứ động. Trong thời gian

tới, Công ty nên thu hẹp hoạt động đầu tư tài chính để đầu tư vào lĩnh vực khác có

hiệu quả hơn.

- Thu nhập khác trong năm 2012 giảm mạnh 90,17% tương ứng 367 triệu đồng

so vơi 2011. Nhưng đến năm 2013 tăng rất mạnh với tỷ lệ 3742,2% tương ứng 1.498

triệu đồng so với 2012. Công ty đã có những tiến triển tốt nhằm tăng thêm nguồn thu

nhập cho mình. Chi phí khác trong năm 2012 lại tăng rất mạnh 834,48% tương đương

với 968 triệu đồng so vơi 2011. Năm 2013 tăng 990 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ

91,32% so với năm 2012. Công ty trong 2 năm 2012, 2013 đã đầu tư rất nhiều cho

hoạt động bán hàng nhằm quảng bá thương hiệu công ty đến với người tiêu dùng và

dần khẳng định vị thế trong lòng khách hàng.

- Lợi nhuận trước thuế năm 2012 giảm mạnh với 7.063 triệu đồng tương ứng

với 98,62% so với năm 2011, Lợi nhuận sau thuế cũng giảm mạnh với tỷ lệ 98,81%

tương ứng với 7.077 triệu đồng. Điều này là do có sự sụt giảm của Thu nhập khác,

tăng lên của Chi phí bán hàng, Chi phí khác, Chi phí quản lý doanh nghiệp. Sự giảm

sút mạnh về lợi nhuận là điều công ty phải nhanh chóng đề ra các biện pháp khắc phục

cho năm tới. Sự tăng lên của Doanh thu hoạt động tài chính, thu nhập khác và sự cắt

giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh đã làm cho Lợi nhuận trước thuế năm 2013

tăng gấp 100,77 lần tương ứng 9.976 triệu đồng, Lợi nhuận sau thuế tăng gấp 108,35

lần tương ứng với 9.225 triệu đồng so với 2012. Sự tăng lên nhanh chóng của Lợi

29

nhuận là một thành tích lớn của Công ty trong năm vừa qua.

2.2.2. Phân tích khát quát hoạt động tài chính của doanh nghiệp.

2.2.2.1. Phân tích cơ cấu tài sản.

Phân tích biến động các mục tài sản nhằm giúp người phân tích tìm hiểu được

sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của tài sản qua các thời kỳ như thế nào. Sự thay đổi này

bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh

doanh có thích hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế

hoạch sản xuất của doanh nghiệp hay không?

Nhận xét:

Qua bảng 2 ta thấy, về cơ cấucủa Tài sản Công ty là TSNH chiếm 53%- 74%,

TSDH chiếm 26%- 47%.%. Là một Công ty thương mại dịch vụ thì kết cầu tài sản

TSNH nhiều hơn TSDH như thế là khá hợp lý. Từ năm 2012 Công ty có bước tiến

triển rõ rệt. Tổng tài sản 2012 tăng 95.119 triệu đồng, tỷ lệ 36,21% so với 2011, do

chính tài sản dài hạn tăng mạnh 40.728 triệu đồng, tỷ lệ 78,03% và TSNH tăng 54.000

triệu đồng ứng với tỷ lệ 25,61%. Tuy nhiên, tổng tài sản ở năm 2013 của công ty lại

giảm 85.664 triệu đồng tương ứng với giảm 23,94%, nguyên nhân chính là do tài sản

ngắn hạn cuối năm giảm mạnh so với đầu năm là 119.694 triệu đồng tương ứng với

mức giảm 45,19%, tỷ trọng TSNH trong tổng tài sản cũng giảm 20,68% (74,03% -

53,35%). Trong khi đó, TSDH lại tăng 34.030 triệu đồng, tỷ trọng tăng 36,62%. Sự

tăng lên của tài sản dài hạn không đủ để bù đắp sự giảm xuống của TSNH làm cho

Tổng tài sản giảm. Trong cơ cấu TSNH của Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa thì

TSNH của Công Ty gồm có tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải

thu ngắn hạn, hàng tồn kho và TSNH khác. Trong đó, các khoản phải thu ngắn hạn

chiếm tỷ trọng lớn khoảng 55% đến 75% trong tổng TSNH. Như vậy, sự tăng hay

giảm các khoản phải thu ảnh hưởng rất lớn đến lượng TSNH của doanh nghiệp.

-TSNH năm 2012 tăng 25,61% tương ứng 54.000 triệu đồng so với 2011, cụ thể

TSNH tăng 54.390.948.754 đồng (25,84%). Nguyên nhân của sự gia tăng này là do

lượng vốn bằng tiền của doanh nghiệp đã tăng 33.310 triệu đồng từ 5.916 triệu đồng

lên đến mức 39.226 triệu đồng (tăng gấp 5,63 lần so với năm 2011). Nhưng sang năm

2013, lượng tiền mặt này lại có xu hướng giảm mạnh 31.149 triệu đồng tương đương

với 79,41%. Nguyên nhân của sự tăng giảm đột ngột trong ba năm 2011,2012,2013 là

do Công ty cần sử dụng tiền để thanh toán các khoản phải chi trong năm 2012. Điều

đó cho thấy Công ty luôn đảm bảo được một lượng tiền nhất định để chi trả cho khách

30

hàng.

Bảng 2.2.Phân tích cơ cấu và biến động tài sản.

(Đơn vị: Triệu đồng)

Năm Năm Năm Chênh lệch Chênh lêch TÀI SẢN 2013 2012 2011 2013-2012 2012-2011

A. Tài sản ngắn hạn 145.186 264.881 210.881 (119.694) 54.000

I. Tiền và các khoản tương đương 8.077 39.226 5.916 (-31.149) 33.310 tiền

II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn 8.481 1.120 88 7.361 1.032 hạn

III. Các khoản phải thu ngắn hạn 112.092 177.329 118.325 (65.236) 59.004

IV. Hàng tồn kho 7.392 37.590 75.836 (30.198) (38.246)

V. Tài sản ngắn hạn khác 9.142 9.615 10.324 (472) (709)

Tỷ trọng tài sản ngắn hạn trên 53,35% 69,01% 80,27% (15,66%) (11,26%) tổng tài sản

B. Tài sản dài hạn 126.952 92.921 52.193 34.030 40.728

I. Các khoản phải thu dài hạn 0 0 0 0 0

II. Tài sản cố định 97.521 67.642 44.275 29.879 23.367

1. TSCĐ hữu hình 86.182 39.927 43.160 46.254 (3.233)

2. TSCĐ vô hình 1.329 296 296 1.032 0

3. Chi phí xây dựng cơ bản dở 10.009 27.417 817 (17.408) 26.600 dang

0 III. Bất động sản đầu tư 0 0 0 0

IV. Các khoản đầu tư tài chính dài 22.313 5.800 3.750 16.512 2.050 hạn

V. Tài sản dài hạn khác 7.117 19.478 4.168 (12.361) 15.310

Tỷ trọng tài sản dài hạn trên 46,65% 30,99% 19,73% 15,66% 11,26% tổng tài sản

TỔNG CỘNG TÀI SẢN 272.138 357.803 262.684 (85.664) 95.119

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2011,2012,2013)

-Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn qua các năm tăng dần lên nhưng có sự

tăng đột biến ở 2012, vào cuối năm đầu tư tài chính ngắn hạn đã đạt 1.120 triệu đồng,

31

tăng 11,73 lần so với con số 88 triệu đồng năm 2011. Năm 2013 tăng lên 8.077 triệu

đồng, có được sự gia tăng đột biến này là do việc thị trường chứng khoán trong những

năm này có sự tăng trưởng trở lại. Chính vì thế, Công ty đã có những quyết định đầu

tư trở lại vào thị trường chứng khoán nhằm thu về lợi nhuận.

- Khoản phải thu là khoản tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp do mua hàng

hóa, dịch vụ. Năm 2012, khoản phải thu của Công ty tăng 59.004 triệu đồng ứng với

49,87%. Nhưng đến năm 2013 chỉ số này giảm 65.236 triệu đồng ứng với giảm

36,79%. Sở dĩ có sự biến động bất thường này là do Công ty đã có những sự thay đổi

chính sách, chiến lược kinh doanh mới. Công ty đã đưa ra những chiến lược mới

khuyến khích khách hàng trả tiền trước, không cho mua chịu do đó mà các khoản phải

thu của Công ty đã có chiều hướng giảm ở năm 2013 điều này chứng tỏ tình hình thu

nợ của Công ty được thực hiện khá tốt, tránh bị chiếm dụng vốn, đồng thời đẩy nhanh

được tốc độ luân chuyển vốn giúp hạn chế rủi ro, tăng cao lợi nhuận.

- Hàng tồn kho của Công ty trong ba năm cũng có những sự biến đổi lớn. Cụ

thể, hàng tồn kho năm 2012 giảm mạnh 38.246 triệu đồng, tỷ lệ 50,43%, đến năm

2013 lại giảm mạnh 30.198 triệu đồng tương ứng với mức giảm 80,33% so với cuối

năm và chiếm tỷ trọng nhỏ trong Tổng tài sản của Công ty 2.72% . Là một Công ty

thương mại dịch vụ nên hàng tồn kho của Công ty chủ yếu là Hàng hóa, không có

thành phẩm. Riêng với các sản phẩm hàng gia công xuất khẩu được xuất khẩu thẳng,

không qua kho. Còn với các mặt hàng thủ công cho xuất khẩu chủ yếu được thực hiện

theo hợp đồng đặt hàng trước nên tồn kho ít. Hàng hóa tồn kho chủ yếu là hàng nhập

khẩu lưu kho. Hàng hóa cuối năm giảm so với đầu năm chứng tỏ trong năm vừa qua

công tác tổ chức tiêu thụ hàng hóa của Công ty là tốt, giảm thiểu chi phí lưu kho lưu

bãi, tránh được vốn ứ động trong hàng tồn kho, tăng tốc độ luân chuyển của vốn.

- TSNH khác qua ba năm cũng có xu thế giảm nhẹ từ năm 2011 đến năm 2013.

Năm 2012 giảm 709 triệu đồng xuống còn 9.615 triệu đồng và tiếp tục giảm 472 triệu

đồng xuống còn 9.142 triệu đồng năm 2013. Toàn bộ phần TSNH khác chỉ chiếm

6,29% trong tổng TSNH của Công ty. Do đó sự biến động nhẹ như vậy của TSNH

khác đều trong tầm kiểm soát của Công ty, tuy nhiên Công ty vẫn cần có những

phương án thích hợp để quản lý tốt nguồn TSNH khác này.

- TSDH của Công ty năm 2012 tăng mạnh với 78,03%, ứng với 40.728 triệu

đồng so với 2011. Năm 2013 tiếp tục tăng 34.030 triệu đồng ứng với 36,62%. Trong

đó thì tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn chiếm phần lớn tỷ trọng và có sự gia

tăng nhiều nhất trong TSDH của Công ty. Ngoài ra Công ty không có những khoản

32

phải thu dài hạn, điều này là tốt vì nó chứng tỏ Công ty không bị chiếm dụng vốn dài

hạn, tuy nhiên Công ty vẫn phải chú ý trong công tác quản lý để phòng ngừa các rủi ro

trong tương lai.

- Trong khoản mục tài sản cố định, mặc dù tài sản cố định hữu hình năm 2012

giảm 7.49% so với đầu năm còn tài sản cố định vô hình không thay đổi giá trị nhưng

khoản mục tài sản cố định vẫn tăng 23,366 triệu đồng (52.78%). Đó là do chi phí xây

dựng dở dang của doanh nghiệp đã tăng đột biến 26.599 triệu đồng từ 817 triệu đồng

lên 27,417 triệu đồng, tăng 32,55 lần. Nguyên nhân của sự gia tăng này là do năm

2007 việc đầu tư xây dựng trụ sở mới thay cho văn phòng cũ đi vào giai đoạn hoàn

thiện nên doanh nghiệp phải chi trả 1 khoản tiền lớn cho chủ thầu; đồng thời trong

năm này doanh nghiệp cũng tiến mở rộng qui mô của các xưởng sản xuất (xưởng thêu,

xưởng dệt). Điều này cũng thể hiện qua việc khoản mục tài sản dài hạn khác tăng 3,67

lần. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng tăng cường đầu tư cho các công ty liên kết liên

doanh do vậy các khoản đầu tư tài chính dài hạn đã tăng lên 54,68%. Như vậy, trong

năm 2012 cơ sở vật chất của công ty đã được tăng cường xây mới và sữa chữa mở

rộng. Tuy nhiên trong năm 2013 tài sản cố định của Công ty vẫn tăng 29.879 triệu

đồng tương ứng 44,17% là do Công ty tiếp tục đầu tư dài hạn, mua sắm một số

phương tiện vận tải mới. Chứng tỏ Công ty vẫn có xu hướng chiến lược đầu tư nhiều

vào TSDH.

- Các khoản đầu tư tài chính dài hạn của Công ty trong ba năm gần đây có xu

hướng tăng dần. Năm 2012 tăng 2.050 triệu đồng lên 5.800 triệu đồng so với năm

2011 và tăng mạnh 16.512 triệu đồng lên 22.313 triệu đồng năm 2013. Việc gia tăng

đầu tư dài hạn, đầu tư vào các công ty liên kết liên doanh sẽ giúp Công ty thu được

nguồn lợi nhuận lớn trong tương lai. Tuy nhiên bên cạnh đó là rủi ro do đầu tư trong

thời gian dài. Chính vì vậy Công ty nên có những chính sách đúng đắn, cẩn trọng

trong việc đầu tư dài hạn này.

Mặc dù TSDH của Công ty năm 2013 cao nhất nhưng tổng tài sản của Công ty

năm 2013lại thấp hơn tổng tài sản của năm 2012. Cụ thể thấp hơn 85.664 triệu đồng

tương ứng 23,94%nhưng nhìn chung, Công ty có cơ cấu tài sản khá hợp lý, tuy tổng

tài sản giảm nhưng đó là do TSNH giảm còn TSDH tăng cả về số tuyệt đối và số

tương đối. Trong tình hình hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn, thị trường biến

động nhiều như hiện nay thì một cơ cấu tài sản nhiều TSNH sẽ có rủi ro rất lớn. Cơ

cấu tài sản Công ty chuyển dịch theo hướng tăng TSDH và giảm TSNH là hợp lý. Mặc

dù khả năng sinh lời cũng như tốc độ luân chuyển vốn sẽ giảm nhưng đảm bảo được

33

an toàn trong hoạt động kinh doanh, bảo toàn vốn. Việc đầu tư vào TSCĐ sẽ góp phần

nâng cao chất lượng dịch vụ và tạo tiền đề phát triển trong tương lai khi thị trường ổn

định.

2.2.2.2. Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty

Một cơ cấu tài sản hợp lý thể hiện sự phân bổ hợp lý giữa TSNH và TSDH,

tuy nhiên nếu tài sản Công ty được đầu tư bằng những nguồn chưa hợp lý thì nó cũng

không mang lại kết quả kinh doanh tốt được. Phân tích cơ cấu nguồn vốn sẽ cho ta

thấy được khả năng và mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp như thế nào cũng

như các khó khăn mà Công ty đang gặp phải.

Bảng 2.3.Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty Cổ phần dệt mayThái

Hòa.

(Đơn vị : Triệu đồng)

Chênh lệch Chênh lêch Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 NGUỒN VỐN 2013-2012 2012-2011

Giá trị Giá trị Giá trị Giá trị Giá trị

A. Nợ phải trả 159.403 253.676 204.105 (94.273) 49.571

I. Nợ ngắn hạn 124.801 220.000 191.040 (95.198) 28.960

1. Vay và nợ ngắn hạn 17.564 73.062 134.668 (55.498) (61.606)

2. Phải trả người bán 14.035 23.503 31.159 (9.468) (7.656)

3. Người mua trả tiền trước 76.350 20.998 9.085 55.352 11.913

4. Thuế và các khoản phải 1.801 3.624 7.323 (1.823) (3.699) nộp nhà nước

5. Chi phí phải trả 6.312 3.303 1.559 3.009 1.744

6 Các khoản phải trả phải 5.892 95.501 7.243 (89.609) 88.258 nộp khác

II. Nợ dài hạn 34.601 33.675 13.065 925 20.610

1. Vay và nợ dài hạn 34.520 33.605 13.065 915 20.540

2. Dự phòng trợ cấp việc 80 70 - 10 70 làm

34

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2011,2012,2013)

Nhận xét:

Qua bảng 3 phân tích cơ cấu nguồn vốn ta thấy, tổng nguồn vốn của công ty năm

2012 tăng khá tốt 95.119 triệu đồng với tỷ lệ 36,21% so với 2011 nhưng đến năm 2013

lại bị giảm khá nhiều với 85.664 triệu đồng và tỷ lệ 23,94% so với 2012 là do các tác

động của các nhân tố nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, trong đó:

Nợ phải trả của Công ty gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn, năm 2012nợ phải trả

của Công ty tăng so với năm 2011 là 49.571 triệu đồng với tỷ lệ 24,29%. Năm 2013

giảm so với 2012 là 37,16% tương ứng với 94.273 triệu đồng, điều này chứng tỏ công

ty đang đi đúng hướng trong công tác giải quyết các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tạo

điều kiện thuận lợi trong việc dùng vốn đầu tư vào các hạng mục kinh doanh đem lại

nguồn lợi nhuận cho Công ty. Trong đó Nợ ngắn hạn giảm còn Nợ dài hạn tăng lên.

Cụ thể:

- Nợ ngắn hạn của Công ty bao gồ các khoản vay và nợ ngắn hạn, phải trả người

bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp, chi phí phải trả và các

khoản phải trả phải nộp khác. Trong đó người mua trả tiền trước chiếm tỷ trọng lớn

nhất. Năm 2012nợ ngắn hạn tăng 28.960 triệu đồng, tương ứng tỷ lệ 15,16%. Năm

2013 nợ ngắn hạn giảm 95.198 tương ứng 43,27%.

- Trong năm 2012, mặc dù mở rộng sản xuất kinh doanh, các khoản vay ngắn hạn

để thực hiện hợp đồng hay tiền nợ các nhà cung cấp đều giảm nhưng các khoản mục

phải trả khác lại tăng gấp 12,19 lần. Vay và nợ ngắn hạn năm 2012 giảm 45,75% ứng

với 61.606 triệu đồng so với 2011. Phải trả người bán cũng giảm 24,57% tương ứng

7.656 triệu đồng. Năm 2013 tiếp tục giảm, vay và nợ ngắn han giảm 55.498 triệu đồng

tương ứng 75,96%, phải trả người bán cũng giảm 9.468 triệu đồng tương ứng 16,31%.

Đây là tín hiệu tốt cho Công tykhi đã thực hiện tốt chính sách giảm lượng dự trữ hàng

tồn kho và kéo theo là việc giảm các khoản phải trả người bán.

- Người mua trả tiền trước năm 2012 tăng mạnh với 11.973 triệu đồng, tương ứng

131,1% so với 2011. Năm 2013 tiếp tục tăng mạnh 55.352 triệu đồng, tương ứng

263,6%. Có được sự tăng mạnh này hoàn toàn là do hiệu quả của chính sách khuyến

khích khách hàng trả trước không bán chịu của Công ty, do có được uy tín và sự tin

tưởng của bạn hàng nên Công ty dễ dàng thu được phần lớn lượng tiền trả trước trong

một đơn hàng vì thế mà mục người mua trả tiền trước mới có sự tăng mạnh như vậy.

Chiếm 28% trong tổng nguồn vốn năm 2013 cho thấy sự biến động của khoản này có

35

ảnh hưởng nhiều đến nguồn vốn của Công ty.

-Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước giảm liên tục trong cả ba năm do doanh

thu bán hàng của Công ty giảm. Năm 2012 giảm 50,51% tương ứng với 3.699 triệu

đồng. Năm 2013 tiếp tục giảm 50,3% tương ứng với 1,823%. Mặc dù tỷ trọng của thuế

và các khoản phải nộp nhà nước chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn,

trung bình 1,5% cả 3 năm. Nhưng lượng thuế giảm sẽ làm giảm các chi phí và gia tăng

lợi nhuận cho Công ty.

- Chi phí phải trả trong ba năm lại tăng mạnh, năm 2012 tăng 111,86% tương

đương 1.744 triệu đồng. Năm 2013 tăng 91,09 %, tương đương 3.009 triệu đồng. Các

khoản phải trả, phải nộp khác cũng tăng đột biến với tỷ lệ 1218% tương đương 88.258

triệu đồng năm 2012. Nhưng lại giảm mạnh 89.609 triệu đồng tương đương 93,83%

năm 2013. Điều này cho thấy công tác quản lí chi phi trong năm 2012 có nhiều sai sót.

Tuy nhiên sang năm 2013 Công ty đã có sự thay đổi trong chính sách quản lý vì vậy

đã dần ổn định được tình hình tài chính của Công ty.

- Nợ dài hạn của Công ty chủ yếu là các khoản vay và nợ dài hạn, năm 2012 các

khoản vay và nợ dài hạn của Công tyđãcó sựgia tăng mạnh, tăng 20.504 triệu đồng,

tương ứng 157,7%. Năm 2013 tăng nhẹ 915 triệu đồng, tương ứng 2,72%. Đây chính

là khoản công ty vay nợ của ngân hàng để mở rộng nhà xưởng sản xuất và đầu tư vào

xây mới cơ sở vật chất. Việc mở rộng và xây mới cơ sở này cũng thể hiện ở khoản

mục quỹ đầu tư và phát triển trong vốn chủ sở hữu.

(Đơn vị : Triệu đồng)

NGUỒN VỐN Năm Năm Năm Chênh lệch Chênh lêch

2013-2012 2012-2011 2013 2012 2011

I. Vốn chủ sở hữu 113.206 103.923 58.436 9.283 45.487

1. Vốn đầu tư chủ sở hữu 85.220 85.220 50.000 0 35.220

(27)

-

-

(27)

-

2. Thặng dư vốn cổ phần 18.100 18.100 2.700 0 15.400

678

678

3.198

0

(2.520)

3. Cổ phiếu quỹ

234

234

170

0

64

4. Quỹ đầu tư phát triển

9.001

(309)

2.367

9.310

2.676

5. Quỹ dự phòng tài chính

6. Lợi nhuận chưa phân phối

II. Nguồn kinh phí và quỹ khác (470) 203 141 (674) 62

TỔNG NGUỒN VỐN 272.138 357.803 262.684 (85.664) 95.119

36

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2011,2012,2013)

- Nguồn VCSH của Công ty tăng liên tục trong ba năm. Nguồn vốn VCSH năm

2012 tăng mạnh 45.487 triệu đồng ứng với tỷ lệ 77,75% so với 2011. Và năm 2013

tăng 9.283 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 20,4% so với 2012. Điều này thể hiện

sự phát triển của Công ty khi gia tăng lượng VCSH.

- Thặng dư vốn cổ phần năm 2012 tăng mạnh với 15.400 triệu đồng tương ứng

với 570,4% so với năm 2011. Nguyên nhân chính đó là do sự tăng lên của Lợi nhuận

sau thuế năm 2012.

- Năm 2012 so với năm 2011 quỹ đầu tư và phát triển giảm 2.520 tỉ đồng, tương

đương với 78,78%. Đặc biệt phải chú ý đến mức lợi nhuận chưa phân phối cuối năm

2012 là âm 309 triệu đồng đã góp phần làm giảm mức tăng của vốn chủ sở hữu. Sở dĩ

con số này âm là khá lớn là do hoạt động không hiểu quả nhưng công ty vẫn phải tiến

hành chia cổ tức nhằm giữ chân các nhà đầu tư..

2.2.3. Phân tích cân đối tài sản và nguồn vốn.

Phân tích cân đối tài sản và nguồn vốn là xét mối quan hệ giữa tài sản với

nguồn vốn nhằm khái quát tình hình phân bổ, sử dụng các loại vốn và nguồn vốn đảm

bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

(Đơn vị: Triệu đồng)

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Nợ ngắn Nợ ngắn Nợ ngắn TSNH TSNH TSNH hạn hạn hạn 264.881 145.186 210.881 191.040 220.000 124.801 74,03% 53,35% 80,16% 72,72% 61,48% 45,86%

Nợ dài hạn Nợ dài hạn Nợ dài hạn

13.065 33.675 34.601 TSDH TSDH TSDH 4,97% 9,41% 12,71% 92.921 126.952 52.193 VCSH VCSH VCSH 25,97% 46,65% 19,84% 58.578 104.127 112.735

22,31% 29,11% 41,43%

- Nhận xét:

Qua việc phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty trong ba năm 2011

37

đến 2013, ta thấy nguồn vốn chủ sở hữu không đủ đáp ứng cho nhu cầu về vốn trong

việc đầu tư vào tài sản phục vụ cho kinh doanh.Công ty phải sử dụng nguồn VCSH để

đầu tư vào TSNH. Nguồn vốn lưu động thường xuyên của Công ty luôn âm cho thấy

chính sách quản lý vốn kinh doanh của Công ty là chính sách thận trọng, tuy an toàn

nhưng chi phí sử dụng vốn sẽ cao. Vì vậy mà trong tương lai Công ty nên gia tăng

nguồn VCSH để giảm thiểu chi phí sử dụng vốn của mình.

2.2.4. Phân tích tình hình hoạt động và khả năng thanh toán của Công ty.

Tình hình công nợ của doanh nghiệp là một nội dung cơ bản mà các nhà quản

trị phải quan tâm, các khoản công nợ ít, không kéo dài sẽ tác động tích cực đến tình

hình tài chính, thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển. Các khoản nợ tồn động nhiều

sẽ dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn của nhau, ảnh hưởng đến uy tín của doanh

nghiệp. Tình hình công nợ lại phụ thuộc vào khả năng thanh toán, thông qua khả năng

thanh toán, các đối tượng bên ngoài sẽ quyết định có cho Công ty vay vốn hay bán

chịu cho doanh nghiệp hay không? Do vậy, doanh nghiệp cần phải phân tích thường

xuyên tình hình công nợ và khả năng thanh toán trong mối quan hệ mật thiết với nhau

để đánh giá một cách chính xác thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp đang

như thế nào. Từ đó giúp các Nhà quản lý đưa ra được những quyết định kinh doanh

đúng đắn, góp phần bảo đảm an toàn và phát triển vốn.

2.2.4.1. Phân tích tình hình hoạt động.

Chỉ tiêu vòng quay các khoản phải thu cho biết mức độ hợp lý của số dư các

khoản phải thu và hiệu quả của việc thu hồi công nợ. Việc phân tích các khoản nợ phải

thu, nợ phải trả theo thời gian cho ta thấy được cơ cấu các khoản phải thu, phải trả

theo đối tượng, theo thời hạn, từ đó xác định được số vốn bị chiếm dụng, vốn chiếm

dụng và mức độ rủi ro của các khoản phải thu cũng như khả năng thanh toán các

khoản phải trả. Để từ đó có biện pháp thu hồi nợ cũng như thanh toán các khoản nợ

góp phần ổn định tài chính.

Để thấy được tình hình công nợ phải thu của Công ty trong năm qua ta xét các

38

chỉ tiêu sau:

Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu phản ánh tình hình công nợ phải thu.

Năm Năm Năm Chỉ tiêu phân tích Cách tính 2013 2012 2011

Tổng nợ phải thu Tỷ lệ nợ phải thu so với nợ 70,32% 69,90% 57,97% phải trả (%) Tổng nợ phải trả

Doanh thu thuần Số vòng luân chuyển các 3.580 4.320 4.073 Các khoản phải thu bình khoản phải thu (vòng) quân

Giá vốn hàng bán Số vòng quay hàng tồn kho 60.32 15.23 7.03 (vòng) Hàng tồn kho

360

Số ngày tồn kho (ngày) 5.96 23.63 51.2 Số vòng quay hàng tồn

kho

360

Kỳ thu tiền bình quân (ngày) 100.551 83.335 88.389 Số vòng luân chuyển các

khoản phải thu

- Nhận xét:

Nhìn vào bảng 4, ta thấy tỷ lệ nợ phải thu so với nợ phải trả ở mức thấp chứng tỏ

số vốn Công ty đi chiếm dụng lớn hơn số vốn bị chiếm dụng. Trong hoạt động kinh

doanh, việc chiếm dụng vốn lẫn nhau khá phổ biến, Công ty đã biết tận dụng nguồn

vốn tín dụng thương mại phong phú, linh hoạt, chi phí sử dụng vốn thấp này. Nhìn

chung trong năm các chỉ tiêu trên không biến động nhiều. Số vòng luân chuyển các

khoản phải thu năm 2012 đạt 4.32 vòng, tăng 0.247 vòng so với năm 2011 và năm

2013 chỉ đạt 3.58 vòng giảm 0.74 vòng so với 2012. Số vòng luân chuyển chậm làm

cho thời gian 1 vòng quay khoản phải thu năm 2011 lớn và tăng 1.06 so với 2012,

Năm 2013, thời gian 1 vòng quay khoản phải thu rất lớn 100,5 ngày tăng 17.2 ngày so

39

với 2012.

Đặc điểm của một Công ty xuất nhập khẩu là có độ trễ về thời gian trong thanh

toán, thời gian từ lúc ký hợp đồng xuất khẩu đến lúc thanh toán thông thường mất

khoảng 90 ngày. So với mức trung bình thì thời gian thu hồi vốn trong năm qua của

Công ty như vậy là chậm. Chứng tỏ công tác thu hồi nợ của Công ty không hiệu quả

và cuối năm có xu hướng giảm so với đầu năm như thế là hoàn toàn không tốt. Công

ty cần phải xem xét lại chính sách bán hàng, thanh toán và thu hồi nợ hiện tại.

+ Số vòng quay hàng tồn kho:

Năm 2011 hàng tồn kho của Công ty quay được 7.03 vòng, năm 2012 hàng tồn

kho của Công ty quay được là 15.23 vòng nhưng ở năm 2013 quay được là những

60.32 vòng. Điều này chứng tỏ công tác bán hàng của doanh nghiệp trong những năm

này không ổn định và có xu hướng tăng dần lên. Đây là biểu hiện của công tác bán

hàng năm 2013 là tốt hơn nhiều so với hai năm trước với lượng hàng hóa luân chuyển

được nhiều vòng trong một năm. Số ngày tồn kho trong các năm này cũng giảm dần

đi, năm 2011 là 51.2 ngày, năm 2012 là 23.63 ngày và năm 2013 chỉ còn 5.96 ngày.

Để có được số ngày tồn kho thấp như vậy thì ngoài việc quản lý trong công tác bán

hàng và lượng hàng tồn kho thì nguyên nhân chủ yếu chính là việc thay đổi chính sách

mới của công ty để giảm thiểu lượng hàng tồn đọng mang lại nhiều rủi ro cho công ty.

- Về tình hình thanh toán các khoản vay, Tổng nợ phải năm 2012 tăng với

49.571 triệu đồng ứng với 24,28% so với năm 2011 nhưng sang năm 2013 tổng nợ

phải trả giảm 94.273 triệu đồng tương ứng với mức giảm 37,16% là do sự giảm mạnh

của Nợ ngắn hạn và sự tăng lên không đáng kể của Nợ dài hạn. Trong đó phải nói tới

sự giảm của các khoản Vay và nợ ngắn hạn và khoản phải trả người bán, tỷ trọng các

khoản mục này trong Tổng Nợ phải trả cũng giảm xuống. Chứng tỏ Công ty chú trọng

việc thanh toán nợ, uy tín Công ty được nâng lên, bên cạnh đó, Công ty cũng đang thu

hẹp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và cung cấp dịch vụ mà tăng cường đầu

tư vào lĩnh vực mang tính chất ổn định lâu dài như kinh doanh bất động sản.

Để thấy rõ hơn tình hình thanh toán các khoản nợ của Công ty ta phải xét đến các

chỉ tiêu về khả năng thanh toán của Công ty.

2.2.4.2. Phân tích khả năng thanh toán.

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp cho biết khả năng tài chính trước mắt và

lâu dài của Công ty. Do vậy, phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ cho

phép đánh giá được sức mạnh tài chính hiện tại, tương lai cũng như cho phép dự doán

40

được tiềm lực trong thanh toán và an ninh tài chính của doanh nghiệp.

Trong quá trình phân tích trên, ta đã có một số nhận định ban đầu về khả năng

thanh toán của Công ty. Để thấy rõ hơn vấn đề ta xem xét các chỉ tiêu sau:

Bảng 2.5.Một số chỉ tiêu về khả năng thanh toán của Công ty Cổ phần dệt

may Thái Hòa.

(Đơn vị : Triệu đồng)

Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011

1.Tổng tài sản 272.138 357.803 262.684

2. Tổng Nợ phải trả 159.403 253.676 204.105

3. Nợ phải trả ngắn hạn 124.801 220.000 191.040

4. Tài sản ngắn hạn 145.186 264.881 210.881

5. Tiền và các khoản tương đương tiền 8.077 39.226 5.916

6. Các khoản phải thu ngắn hạn 112.092 177.329 118.325

7. Hệ số thanh toán tổng quát (1/2) 1.707 1.410 1.287

8. Hệ số thanh toán nhanh (5/3) 0.065 0.178 0.031

9. Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn(4/3) 1.163 1.204 1.104

10. Hệ số khả năng chuyển đổi thành tiền

của TSNH(5/4) 0.056 0.148 0.028

Từ kết quả tính toán trên ta thấy tất cả hệ số về khả năng thanh toán qua 3 năm

biến động không đáng chỉ có Hệ số thanh toán nhanh có xu hướng giảm sút. Đồng thời

các hệ số đều ở mức rất thấp chứng tỏ tình hình thanh toán của Công ty đang rất xấu.

Cụ thể như sau:

Hệ số thanh toán nhanh ở mức thấp năm 2011 là 0.031, năm 2012 tăng lên

0.147 so với 2011. Nhưng đến năm 2013 lại có xu hướng giảm. Đây là điều báo động

cho công ty. Chứng tỏ công ty đang thiếu hụt một lượng tiền lớn để đảm bảo thanh

toán các khoản nợ đến hạn. Việc thanh toán của công ty chủ yếu được thực hiện thông

qua ngân hàng Vietcombank. Công ty có thể sử dụng khoản tiền gửi tại ngân hàng

hoặc vay ngắn hạn ngân hàng để thanh toán. Những tiện ích và ưu đãi từ ngân hàng

giúp cho việc thanh toán nhanh chóng dễ dàng, việc duy trì ít lượng tiền mặt sẽ làm

luân chuyển vốn nhanh. Nhưng việc thanh toán phụ thuộc vào ngân hàng nhiều là

không tốt. Nhất là trong 3 năm qua, khủng hoảng kinh tế dẫn tới lạm phát tăng cao, lãi

41

suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng biến động liên tục và có xu hướng

tăng lên gây khó khăn rất nhiều cho công ty đặc biệt là các công ty hoạt động trong

lĩnh vực xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, chi phí sử dụng vốn vay cao và đòi hỏi Công ty

phải có mối quan hệ tín dụng tốt với ngân hàng. Nếu tình trạng này kéo dài thì Công ty

rủi ro tài chính nhất định sẽ xảy ra.

Tuy nhiên nhìn vào Hệ số thanh toán tổng quát và Hệ số thanh toán nợ ngắn

hạn cả 3 năm 2013, 2012, 2011 đều được duy trì ở mức an toàn( >1). Công ty vẫn

hoàn toàn có khả năng trả nợ, tài sản ngắn hạn và tổng tài sản vẫn có khả năng trang

trải đủ cho các khoản nợ hiện thời.

Mặc dù hệ số thanh toán nợ ngắn hạn ở cả 3 năm 2013, 2012, 2011 đều ở mức

an toàn (>1) tuy nhiên khả năng chuyển đổi thành tiền của TSNH cả đầu năm và cuối

năm đều ở mức rất thấp chỉ đạt từ 5.6% đến 14.8% và có xu hướng giảm đi. Vốn hoạt

động thuần vẫn được duy trì thường xuyên nhưng vẫn còn ít hơn rất nhiều so với Tổng

nợ ngắn hạn, do do, Công ty sẽ gặp rủi ro rất lớn nếu rủi ro tài chính xảy ra do không

đáp ứng kịp thời nguồn tiền để thanh toán các khoản nợ đến hạn.

Qua phân tích trên ta thấy Công ty vẫn hoàn toàn có khả năng thanh toán các

khoản nợ trong dài hạn và ngắn hạn. Tuy nhiên, khả năng thanh toán nhanh các khoản

nợ của Công ty rất thấp, an ninh tài chính không đảm bảo nếu tình trạng này kéo dài.

Vì vậy, Công ty cần phải có biện pháp để nâng cao khả năng thanh toán tức thời, đảm

bảo an toàn về tài chính trong tương lai.

2.2.5. Phân tích hiệu suất sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần dệt may Thái

Hòa.

Một Công ty muốn hoạt động liên tục, hiệu quả thì phải đảm bảo đầy đủ nhu

cầu về vốn để tài trợ cho nhu cầu về tài sản của Công ty. Muốn đánh giá việc sử dụng

tài sản dài hạn có hiệu quả hay không phải xem xét được một đồng tài sản tạo ra được

bao nhiêu đồng doanh thu. Để xem xét kỹ hơn về hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty

ta có bảng đánh giá sau:

(Đơn vị tính: lần)

Năm Năm Năm Chỉ tiêu phân tích Cách tính 2013 2012 2011

42

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng toàn bộ 1,9 1,78 2,22 tài sản Tổng tài sản

2.2.5.1. Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản.

Nhìn vào các tỷ số ta có thể thấy năm 2011 toàn bộ tài sản được sử dụng một

cách hiệu quả nhất, đạt tới 2,22 lần trong khi năm 2012 và 2013 chỉ lần lượt là 1,78 và

1,9 lần.

Ta có thể thấy hiệu suất sử dụng tổng tài sản năm 2011 đạt được cao nhất là vì

năm 2011 lượng tổng tài sản là thấp nhất. Doanh thu từ lượng hàng bán ra trong năm

2011 thấp hơn so với năm 2012 và cao hơn năm 2013 nhưng tổng tài sản trong năm

2012 lại rất cao, hơn hẳn 2011 và 2012. Điều này là do trong năm 2012, Công ty có sự

gia tăng đột biến của một lượng lớn các khoản phải thu ngắn hạn.

Để tăng tỷ số này Công ty cần phải đẩy mạnh công tác bán hàng để tăng doanh

thu hoặc cũng có thể giảm tổng tài sản xuống bằng cách làm tốt công tác quản lý tiền

mặt để giảm lượng tiền tồn quỹ không sinh lợi tránh ứ đọng vốn tiền mặt, làm tốt công

tác tín dụng thu hồi nợ tránh bị chiếm dụng vốn, giảm lượng hàng tồn kho…

2.2.5.2. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định.

(Đơn vị tính: lần)

Năm Năm Năm Chỉ tiêu phân tích Cách tính 2013 2012 2011

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản cố 5,31 9,44 13,18 định Tài sản cố định

Một đồng tài sản cố định đầu tư vào hoạt động kinh doanh mang lại cho doanh

nghiệp 13.18 đồng doanh thu năm 2011, mang lại 9.44 đồng doanh thu năm 2012 và

5.31 đồng doanh thu năm 2013.

Nhìn vào những tỷ số này ta thấy trong cả ba năm thì năm 2011 công ty sử

dụng tài sản cố định có hiệu quả hơn hẳn. Năm 2012 thì tài sản cố định được gia tăng

thêm so với năm 2011, đồng thời doanh thu lại giảm, vì vậy làm cho hiệu suất sử dụng

tài sản cố định năm 2012 là thấp. Ở năm 2013 Công ty vẫn tiếp tục đầu tư thêm vào tài

sản cố định nhưng doanh thu trong năm lại giảm mạnh dẫn đến hiệu suất sử dụng tài

43

sản cố định tiếp tục giảm xuống mức 5.31.

2.2.5.3. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn.

(Đơn vị tính: lần)

Năm Năm Năm Chỉ tiêu phân tích Cách tính 2013 2012 2011

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản dài 4,08 6,87 11,18 hạn Tài sản dài hạn

Một đồng tài sản dài hạn đầu tư vào hoạt động kinh doanh mang lại 11.18 đồng

doanh thu thuần năm 2011, mang về 6.78 đồng doanh thu thuần năm 2012 và 4.08

đồng năm 2009.

Vì là doanh nghiệp thương mại nên tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn nhất

trong tài sản dài hạn, cụ thể trong doanh nghiệp tài sản cố định chủ yếu là nhà kho và

văn phòng làm việc, vì vậy xu hướng biến động của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản

dài hạn phụ thuộc vào xu hướng biến động tăng hay giảm giá trị tài sản cố định và sự

biến động của doanh thu thuần. Ta thấy tài sản cố định của Công ty tăng dần theo từng

năm 2011-2013 nhưng doanh thu thuần trong các năm này lại biến động khác nhau và

sự gia tăng của doanh thu thuần nhỏ hơn sự gia tăng của tài sản cố định. Chính vì vậy

mà hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn của Công ty lại giảm dần từ năm 2011-2013.

2.2.5.4. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn.

(Đơn vị tính: lần)

Năm Năm Năm Chỉ tiêu phân tích Cách tính 2013 2012 2011

Hiệu suất sử dụng tài sản Doanh thu thuần 3,57 2,41 2,78 ngắn hạn

Qua tính toán ta thấy rằng xu hướng biến động của tỷ số hiệu quả sử dụng tài

sản ngắn hạn là giảm vào năm 2012 và tăng trở lại vào 2013, mặc dù chính doanh thu

năm 2012 là cao nhất trong cả 3 năm khi doanh thu năm 2013 lại thấp nhất trong cả 3

năm. Điều này bởi có sự sụt giảm mạnh tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2013 mà

44

chủ yếu là do giảm hàng tồn kho, cụ thể:

Năm 2011 cứ 1 đồng tài sản ngắn hạn đầu tư vào kinh doanh mang lại 2.78

đồng doanh thu thuần, mang về 2.41 đồng doanh thu thuần năm 2012 và 3.57 đồng ở

năm 2013.

Tài sản ngắn hạn là loại tài khoản có tính thanh khoản vao ảnh hưởng đến khả

năng thanh toán của doanh nghiệp. Chính vì vậy việc tăng hiệu suất sử dụng tài sản

ngắn hạn là một dấu hiệu tốt cho thấy Công ty đang có những bước phát triển tốt và

đúng đắn.

2.2.6. Phân tích tỷ số về cơ cấu vốn của doanh nghiệp.

2.2.6.1. Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản.

Năm Năm Năm Chỉ tiêu phân tích Cách tính 2012 2011 2010

Tổng nợ

Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản 58,57% 70,89% 77,69%

Tổng Tài Sản

Chỉ tiêu tỷ số nợ trên tổng tài sản cho ta biết bao nhiêu phần trăm tài sản của

Công ty được đầu tư bằng nguồn vốn vay. Khi tỷ số này cao thì có lợi cho chủ sở hữu

doanh nghiệp vì doanh nghiệp có thể sử dụng vốn vay để khuếch đại lợi nhuận trên

vốn cổ phần. Tuy nhiên ở Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa tỷ số này khá cao,

doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính, mất khả năng thanh toán.

Cụ thể như sau:

Năm 2010 có 77,69% tổng tài sản được đầu tư bằng vốn vay. Năm 2011 tỷ số

này còn 70,89% và ở năm 2012 giảm xuống chỉ còn 58,57% tổng tài sản được đầu tư

bằng vốn vay.

Qua cả 3 năm ta thấy phần lớn tài sản của doanh nghiệp đều được đầu tư bằng

vốn vay. Tỷ số này khá cao cho thấy khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp là

thấp, phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn đi vay. Tuy nhiên với sự giảm xuốn còn

58,57% ở năm 2012, chứng tỏ rằng Công ty đã giảm thiểu bớt sự phụ thuộc vào nguồn

vốn vay bên ngoài, đây là một dấu hiệu tốt cho thấy khả năng phát triển và tự chủ về

nguồn vốn trong những năm sắp tới của Công ty. Nhưng mặt khác tỷ lệ này cao cũng

45

cho ta thấy được uy tín của doanh nghiệp, sự tin tưởng của các nhà cho vay đối với

doanh nghiệp, vì trong 3 năm liên tiếp đều cho Công ty vay với tỷ trọng lớn. Điều này

cho thấy Công ty đã chiếm dụng được nhiều vốn hơn là bị chiếm dụng vốn.

2.2.6.2. Tỷ lệ bù đắp lãi suất.

Năm Năm Năm Chỉ tiêu phân tích Cách tính 2012 2011 2010

Lợi nhuận trước thuế và Tỷ lệ bù đắp lãi suất 0.94 0.012 1.85 lãi vay

Tỷ lệ này thể hiện sự cam kết của Công ty sẽ thanh toán tiền mặt nếu có khả

năng thanh toán nợ.

Qua tính toán có thể thấy rằng trong cả 3 năm chỉ có duy nhất năm 2010 là

Công ty duy trì được khả năng trả lãi vay lớn hơn 1, có nghĩa là Công ty có thể hoàn

toàn trả được khoản lãi vay năm 2010, nhưng tỷ số này có xu hướng ngày càng giảm

xuống ở những năm 2011 và 2012 cho ta thấy khả năng trả lãi vay của Công ty là kém.

Đặc biệt là năm 2011, cụ thể như sau:

Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay của Công ty năm 2010 là cao nhất đạt 1.85 là

vì vay nợ trong năm 2010 của Công ty là ít, đồng thời lãi suất trung bình trong năm đó

cũng thấp nhất, vì vậy nên lãi vay phải trả thấp làm cho khả năng thanh toán lãi vay

của Công ty cao.

Năm 2011 chỉ tiêu này giảm mạnh vì công ty tăng vay nợ do giá nguyên vật

liệu tăng cao, trong khi mức tăng của lợi nhuận không theo kịp cùng với sự gia tăng

chóng mặt của lãi suất đã làm cho lãi vay phải trả tăng cao, vì vậy làm sụt giảm

nghiêm trọng khả năng thanh toán lãi vay của Công ty.

Năm 2012 chỉ tiêu này đã được phục hổi trở lại và tiến gần tới 1. Nguyên nhân

là Công ty đã thay đổi nhà cung cấp, tìm được nhà cung ứng mới làm giảm giá vốn

hàng bán và tăng cường mức lợi nhuận cộng với việc công tác quản lý chi phí của

Công ty đã đạt được hiệu quả hơn dẫn đến sự gia tăng của lợi nhuận trước thuế, làm

46

tăng khả năng thanh toán lãi vay của Công ty.

2.2.7. Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

Bảng 2.6. Một số chỉ tiêu tài chính của Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa

trong những năm 2011-2013.

(Đơn vị : Triệu đồng)

Chênh lệch Chênh lệch Năm Năm Năm (2013-2012) (2012-2011) Chỉ tiêu 2013 2012 2011 Số tiền % Số tiền %

1. Doanh thu thuần bán 518.104 638.602 583.571 (120.49) (18,87) 55.031 9,43 hàng và CCDV

2. Lãi ròng 9.310 85 7.162 9.225 10835 (7.077) (98,81)

3.Tổng tài sản 272.138 357.803 262.684 (85.664) (23,94) 95.119 36,21

4. Suất sinh lời của Tổng 0.03 0.0003 0.027 0.030 110,01 (0.026) (96,29) Tài sản (ROA) (2/3)

5. VCSH 112.735 104.127 58.578 8.608 8,27 45.549 77,75

6. Suất sinh lời của VCSH 0.086 0.001 0.122 0.085 8500 -0.119 -99.17 (ROE) (2/5)

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2011,2012,2013)

- Nhận xét:

Từ số liệu bảng 6 ta thấy ba năm liên tiếp Công ty kinh doanh có lãi. Tuy nhiên,

tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty có nhiếu biến động, không ổn định.

Đầu tiên là Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu, tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm

bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Chỉ số này của doanh nghiệp trong cả ba năm

đều có giá trị dương có nghĩa là doanh nghiệp làm ăn có lãi. Qua tính toán ta thấy:

Năm 2011 cứ 100 đồng doanh thu có thể tạo ra 1.23 đồng lợi nhuận, ở năm

2012 tạo ra 0.01 đồng lợi nhuận và năm 2013 thì là 1.8 đồng lợi nhuận.

Năm 2011 và 2013 mặc dù doanh thu không cao bằng năm 2012 nhưng công

tác quản lý chi phí tốt cộng với việc giá vốn hàng bán thấp hơn làm cho lợi nhuận đạt

được cao hơn năm 2012, vì vậy làm cho tỷ số sinh lợi trên doanh thu hai năm 2011 và

2013 đều cao hơn năm 2012.

Nguyên nhân của việc doanh nghiệp tăng giá bán và giá vốn bán hàng của

47

doanh nghiệp năm 2012 là do việc nhập hàng của nhà cung cấp tăng cao làm giá bán

của doanh nghiệp bị đẩy lên. Ngoài ra sự gia tăng của các chi phí phát sinh, trong khi

thu nhập khác gần như không có đã làm cho lợi nhuận năm 2012 bị giảm mạnh.

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Tỷ số này thể hiện mức tương quan

giữa mức sinh lợi của công ty so với tổng tài sản của nó. ROA cho biết hiệu quả của

việc sử dụng tài sản để kiếm lời.

Tính toán chỉ tiêu này ta thấy tỷ số sinh lợi trên tổng tài sản của doanh nghiệp

qua các năm luôn lớn hơn 0, có nghĩa là doanh nghiệp vẫn làm ăn có lãi nhưng tỷ số

này có xu hướng giảm mạnh ở năm 2012, cụ thể như sau:

Năm 2011 thì tỷ số này là 2,7%, có nghĩa là cứ 100 đồng vốn đầu tư vào tổng

tài sản thu về được 2.7 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012 thì tỷ số này giảm mạnh

còn 0,03% có nghĩa là cứ 100 đồng vốn đầu tư vào tổng tài sản thu về được 0.03 đồng

lợi nhuận sau thuế. Và năm 2013 thì tỷ số này tăng trở lại mức 3% có nghĩa là cứ 100

đồng vốn đầu tư vào tổng tài sản thu về được 3 đồng lợi nhuận sau thuế.

Tỷ số sinh lợi trên tổng tài sản năm 2011 và 2013 cao là do có được nguồn cung

nguyên liệu giá rẻ, nhập được hàng hóa với giá thấp, làm giảm chi phí giá vốn hàng

bán, đồng thời đẩy mạnh công tác quản lý chi phí theo chiều hướng tốt hơn làm gia

tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Năm 2009 tỷ số này giảm mạnh do có vấn đề với nhà cung cấp cũ nhập hàng

với giá thành cao, buông lỏng công tác quản lý chi phí làm tăng chi phí doanh nghiệp

dẫn đến giảm lợi nhuận thu về.

Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE): Tỷ số này đo lường khả năng tạo lãi

của 1 đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu. Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư, các cổ đông

quan tâm nhất vì nó cho biết các thu nhập của cổ đông, cho biết thực tế trong năm

doanh nghiệp có làm ăn hiệu quả hay không.

Qua các năm ta thấy ROE của Công ty là thấp điều này chứng tỏ doanh nghiệp

sử dụng vốn vay không hiệu quả, chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh của mình

trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô.

ROE năm 2011 là 12,2% , năm 2013 là 8,6% đều chỉ nhỉnh hơn hay bằng lãi

vay ngân hàng, trong khi năm 2012 rất thấp chỉ 0,1%, vốn vay sử dụng chưa thực sự

có hiệu quả . Lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng. Vì thế Công ty nên

đánh giá kỹ tình hình để có được kế hoạch khai thác hết được lợi thế cạnh tranh để

48

tăng được chỉ tiêu này trong năm tới.

2.3. Phân tích Dupont các tỷ số tài chính.

2.3.1. Đẳng thức Dupont thứ nhất.

Lãi ròng Doanh thu thuần ROA = x Doanh thu thuần Tổng tài sản

Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011

ROA 3,42% 0.023% 2,71%

Tỷ lệ này có sự biến đổi qua các năm, chứng tỏ thu nhập sau thuế trên một đồng

tài sản của Công ty có sự biến động qua từng năm.Qua tính toán ta thấy ROA của năm

2012 giảm mạnh so với năm 2011, nguyên nhân là do lãi ròng của Công ty đã giảm

quá mạnh. Nhưng đến năm 2013 lại trở lại bình thường, vì thế mới có sự biến động

như vậy. Năm 2012 giảm mạnh sau đó lại tăng mạnh ở năm 2013 thể hiện việc sử

dụng tài sản hiện có của Công ty đã được cải thiện. Tuy nhiên chỉ ở mức thấp, như vậy

trong tương lai Công ty nên tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản .

2.3.2. Đẳng thức Dupont thứ hai.

Lãi ròng Tổng tài sản ROE = x Tổng tài sản VCSH

Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011

ROE 8,24% 0,079% 12,15%

ROE của Công ty trong ba năm 2011 đến 2013 cũng có sự biến động mạnh.

ROE năm 2012 giảm mạnh nhưng lại tăng mạnh vào năm 2013. Nguyên nhân là do

ROA trong năm 2012 giảm mạnh. Nhưng năm 2013 ROE thấp hơn năm 2012 lại là do

sự gia tăng mạnh VCSH của Công ty hơn nhiều so với sự gia tăng của tổng tài sản.

Hay nói cách khác năm 2013 Công ty sử dụng tài sản không hiệu quả.

2.4. Đánh giá hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa.

2.4.1. Tích cực.

49

- Chất lượng hàng hóa vượt trội:

Các mặt hàng được gia công của Công ty được sản xuất ra từ bàn tay khéo

léo của những công nhân giàu kinh nghiệm , gắn với nguồn nguyên liệu chất lượng tốt

để đúc kết ra những sản phẩm mang giá trị nghệ thuật vừa mang tính truyền thống, vừa

bắt kịp xu hướng của thời đại.

- Đội ngũ nhân viên có trình độ cao:

Công ty có trong tay đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp gồm 130 người, được

tuyển chọn từ các cá nhân có khả năng và kinh nghiệm phong phú trong lĩnh vực gia

công xuất nhập khẩu, trong đó có 30 người được đào tạo chính quy từ các trường đại

học. Nhân viên của Công ty luôn được khuyến khích và động viên bởi các chương

trình khen thưởng và đào tạo kịp thời của Ban lãnh đạo, điều này đã thúc đẩy sự linh

hoạt và nhiệt tình trong công việc của các thành viên trong Công ty. Lực lượng này

giúp cho Công ty duy trì sự đồng nhất ở mức độ cao, hoàn thành tốt công việc, đáp

ứng cao nhất nhu cầu của khách hàng.

- Tính ưu việt trong khả năng tiếp cận thị trường và khách hàng:

Là Công ty có bề dày kinh nghiệm nên Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa

đã kế thừa và phát huy các thị trường cũ và ngày càng mở rộng thị trường mới một

cách hiệu quả, tạo cho mình một thương hiệu vững chắc trong lòng bạn hàng khắp

năm châu. Thái Hòa là một trong những Công ty đi đầu ở Việt Nam trong việc năng

động tổ chức và tham gia có hiệu quả tại các hội chợ thương mại ở nhiều quốc gia trên

thế giới. Hàng năm Công ty tham gia trên 10 hội chợ lớn nhỏ, tiếp cận và nắm bắt trực

tiếp nhu cầu của khách hàng, mở rộng quan hệ đối tác làm ăn với nhiều doanh nghiệp.

- Uy tín cao trong thực hiện hợp đồng:

Công ty luôn đề cao uy tín trong từng hợp đồng ký kết với khách hàng, đảm

bảo cho khách hàng nhận được sự thỏa mãn cao nhất, nhận được những mặt hàng đúng

với yêu cầu trong thời gian thỏa thuận, thanh toán nhanh chóng và thuận tiện.

2.4.2. Hạn chế và khó khăn.

- Hạn chế và khó khăn từ phía công ty:

Mặc dù lãnh đạo và cán bộ công nhân viên trong Công ty đã hết sức nỗ lực

tìm kiếm và mở rộng thị trường nhưng hoạt động mở rộng thị trường của Công ty vẫn

còn tồn tại một số vấn đề.

+ Có được thị trường nhưng Công ty ít giữ được thị trường và đánh mất

50

nhiều thị trường cũ.

+ Kim ngạch xuất khẩu đi các thị trường nhỏ, không ổn định, thị phần thấp,

chưa khai thác hết tiềm năng của các khu vực thị trường.

+ Sản phẩm xuất khẩu chưa đa dạng hoá, thiếu những mặt hàng mạnh nên

xuất khẩu còn nhỏ lẻ, ví dụ như thiếu sản phẩm đáp ứng nhu cầu của những khu vực

khách hàng có thu nhập cao, sản phẩm có chất liệu mới....và sản phẩm ít thay đổi mẫu

mã, kiểu dáng nên không thu hút được khách hàng.

+ Không đáp ứng được yêu cầu của các đơn đặt hàng lớn của bạn hàng nước

ngoài.

+ Giá thành xuất khẩu sản phẩm gia công còn chưa có tính cạnh tranh, chất

lượng một số sản phẩm còn thua kém các đối thủ khác như Trung Quốc, Thái Lan....do

đó làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường nước ngoài.

+ Hoạt động xúc tiến thương mại chưa được đặt đúng vị trí quan trọng, sản

phẩm xuất khẩu dù rất có khả năng thâm nhập nhưng vẫn mang nặng tính chuẩn bị

hoặc khởi động nhiều hơn là nhằm thu lợi nhuận nhanh chóng. Công ty tham gia hoạt

động xúc tiến thương mại nhằm mục đích chính là tìm hiểu và thăm dò thị trường.

Chưa tận dụng cơ hội một cách triệt để như bán hàng, tìm kiếm bạn hàng, tìm kiếm đối

tác lâu dài...

+ Công tác nghiên cứu thị trường còn tản mạn, mang tính bị động và thiếu

định hướng. Khách hàng tìm đến Công ty nhiều hơn chứ không phải Công ty tìm đến

khách hàng. Khá phụ thuộc vào những bạn hàng lớn nên với biến động lớn Công ty

thường bị động. Trước tình hình đó công ty phải chuyển hướng kinh doanh, tích cực

hơn cho những mặt hàng khác và thị trường khác. Như vậy sự mất cân đối trong cơ

cấu thị trường và cơ cấu mặt hàng đã buộc công ty phải đối mặt với rủi ro lớn hơn khi

tình hình thị trường thế giới biến động.

Doanh nghiệp nào trong kinh doanh đều có những tồn tại, hạn chế của mình.

Điều quan trọng là có thể tìm ra nguyên nhân và khắc phục những điểm còn yếu đó.

Như vậy, tuỳ theo mục tiêu đang đặt ra sẽ cho phép Công ty Cổ phần dệt may Thái

Hòa có những điều chỉnh phù hợp để hoạt động kinh doanh của mình ngày càng tốt

hơn.

- Hạn chế và khó khăn từ môi trường vĩ mô.

Nền kinh tế trong những năm gần đây luôn luôn biến động. Nối tiếp đó là

một loạt các yếu tố gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất kinh doanh của

51

các doanh nghiệp như: xu hướng gia tăng của lãi suất ngân hàng, lạm phát, sự biến

động của tỷ giá hối đoái, việc tăng cao của giá lao động đầu vào trong khi vẫn thiếu

hụt những lao động có tay nghề cao.

+ Trong khi đó, sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và đang trong giai

đoạn hậu khủng hoảng đặc biệt từ nền kinh tế hàng đầu thế giới Mỹ đang diễn ra trầm

trọng, ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế của các nước trong đó có các nước xuất khẩu

chủ yếu của Thái Hòa. Sức tiêu dùng giảm mạnh đã ảnh hưởng xấu tới thị trường xuất

khẩu, vốn là lĩnh vực kinh doanh chủ đạo mang lại doanh thu cao nhất cho Công ty.

Có thể đây là nguyên nhân chính dẫn đến tổng doanh thu giảm trong 2 năm vừa qua.

+ Ngoài ra các chính sách hỗ trợ của tỉnh vẫn còn khá ít cho lĩnh vực may

mặc do vậy Công ty thường phải dựa vào sức mình để có thể cạnh tranh được với các

doanh nghiệp khác. Các ngân hàng trên địa bàn tỉnh vẫn chưa có những chính sách lãi

suất ưu tiên cho lĩnh vực may mặc của Công ty, do đó việc huy động vốn của Công ty

52

vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.

CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT

KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY THÁI HÒA.

3.1. Định hướng hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa.

Trên phương diện chung, chất lượng hàng thủ công may mặc Việt Nam chưa

thật cao, đa phần cơ sở làm hàng còn phân tán, khó sản xuất hàng loạt để đáp ứng các

đơn hàng lớn. Không ít đơn vị chậm đổi mới mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm và đặc biệt

phải đối mặt với tình trạng suy cạn nguồn hàng. Nguồn nguyên liệu không được ổn

định do ảnh hưởng từ nguồn cung không ổn định và bị phụ thuộc nhiều trong khi

không có quy hoạch tự cung cấp nguồn nguyên liệu mới một cách kế hoạch, có địa

phương đã phải tự xây dựng nguồn cung cấp nguyên liệu riêng chỉ lưu hành trong nội

tỉnh để đảm bảo cung ứng cho cơ sở của địa phương. Và hiện tại nguồn tơ mà Công ty

đang dùng có phần là tơ thủ công cấp B, C, nên đã phải nhập loại phẩm cấp cao.

3.1.1. Mục tiêu chung của Công ty.

Mục tiêu của Công ty trong thời gian tới là mở rộng thị trường, phát trỉển nhanh,

chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo chiều hướng tốt, đưa kim ngạch xuất khẩu của

Công ty lên cao. Để đạt được nhiệm vụ đó, Công ty đã xác định nhiệm vụ chính của

mình:

- Chuẩn bị tốt khâu khai thác nguồn hàng xuất khẩu, khai thác tối đa nguồn hàng

trong nước, duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu.

- Mở rộng mặt hàng kinh doanh.

- Đầu tư mở rộng quy mô sản xuất.

- Từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm.

- Đổi mới phương thức kinh doanh, đào tạo cán bộ kinh doanh có đù trình độ và

năng lực.

3.1.2. Mục tiêu thị trường và mặt hàng xuất khẩu của Công ty.

3.1.2.1. Thị trường xuất khẩu.

- Trong xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá, quốc tế hoá, Công ty Cổ phần dệt

may Thái Hòa, không ngừng mở rộng quan hệ buôn bán với nhiều nước trên thế giới.

Ngoài những thị trường truyền thống, Công ty luôn nỗ lực tìm kiếm và khẳng định vị

trí của mình ở những thị trường mới.

- Hiện nay thị trường Châu Á đang là thị trường xuất khẩu chủ lực của Công ty

nên đây là thị trường trọng điểm mà Thái Hòa sẽ khai thác mạnh nhất trong thời gian

53

tới. Với nền văn hoá tương đồng các nước Châu Á lại có vị trí địa lý gần Việt Nam,

giao thông vận tải thuận lợi, thu nhập đầu người ở mức trung bình, khá trở lên nên

trong tương lai gần đây vẫn là thị trường giữ vai trò chủ đạo và đem lại doanh thu lớn

cho công ty.

- Thị trường Tây Âu trong thời gian gần đây, đây là thị trường phát triển khá

cao, các quốc gia trong khu vực là những nước phát triển, có nền kinh tế ổn định, tốt

với thu nhập bình quân đầu người cao nên đây là thị trường mục tiêu của công ty,

định hướng trong tương lai của Thái Hòa là nghiên cứu văn hoá phong tục tập quán,

phong cách tiêu dùng của họ và đưa ra những sản phẩm mới để thâm nhập thêm vào

thị trường lân cận như Đông Âu, Bắc Âu…..

- Thị trường Châu Mỹ: Đây là thị trường không đồng nhất với nhu cầu rất đa

dạng , nhu cầu đa dạng kết hợp với những rào cản thương mại khó khăn, sản phẩm

truyền thống không đáp ứng được nhu cầu nên mục tiêu trong thời gian tới của công ty

sẽ nghiên cứu phát triển thêm nhiều dòng sản phẩm mới thời trang và vượt qua được

các rào cản thương mại. Thị trường này tiềm tàng nhiều cơ hội sẽ mang lại lợi nhuận

cao cho công ty trong tương lai khi mà rào cản thương mại được giải quyết.

3.1.2.2. Mặt hàng xuất khẩu.

- Nhóm mặt hàng thủ công, dệt may. Công ty đang tìm cách phát triển và nâng

cao chất lượng sản phẩm để cho ra đời những sản phẩm tốt và phù hợp với thị hiếu của

từng quốc gia, và được sản xuất hết sức cẩn thận.

- Các mặt hàng khác: Hiện nay công ty đang nghiên cứu và phát triển thêm

những mặt hàng mới và hướng tới đa dạng hoá các lĩnh vực kinh doanh … Tăng thêm

doanh thu và lợi nhuận trong tương lai.

3.2. Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc của Công ty Cổ phần dệt

may Thái Hòa.

3.2.1. Giảipháp từ thị trường.

3.2.1.1. Lựa chọn chiến lược phát triển thị trường:

Đối với các thị trường truyền thống công ty cần có những biện pháp khắc phục

những hạn chế thiếu sót đã xảy ra, còn các thị trường mới có triển vọng cần có các

chiến lược thâm nhập phù hợp. Cụ thể là:

- Đối với thị trường Châu Á có truyền thống văn hoá tương đồng thì nên chú

trọng và tăng cường đẩy mạnh xuất khẩu và mối quan hệ tạo nên sự thân thiện.

- Đối với thị trường Tây Âu thì ta phải giải quyết dứt điểm các vụ kiện bán phá

54

giá nhằm làm giảm chi phí và nâng cao uy tín của công ty, mặt khác ta phải luôn đẩy

mạnh nghiên cứu sản phẩm mẫu mã mới, không ngừng nâng cao hiểu biết về thị

trường cũng như thị hiếu của người dân.

- Đối với các thị trường khác tăng cường công tác điều tra nghiên cứu thị

trường, tăng cường xuất khẩu vào các thị trường mới, tìm các đối tác mới và tìm chỗ

đứng trên thị trường.

3.2.1.2. Tăng cường các hoạt động nghiên cứu và dự báo thị trường:

Do thị trường tiêu thụ của Công ty là thị trường nước ngoài nên nhiều năm qua

công tác nghiên cứu và dự báo thị trường của Công ty còn khá nhiều hạn chế cần được

khắc phục như: Chưa được tổ chức đồng bộ chặt chẽ, các thông tin thu nhập được còn

quá ít… Để khắc phục tình trạng này của Công ty nên:

- Tăng thêm kinh phí đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và dự báo nhu cầu thị

trường.

- Tổ chức các hoạt động nghiên cứu thị trường dưới nhiều hình thức hơn nữa.

- Quản lý chặt chẽ các nguồn thông tin giữa các chi nhánh, đại diện nước ngoài

về tình hình tiêu thụ sản phẩm và nhu cầu thị trường.

- Để công việc nghiên cứu thị trường đơn giản hơn cần phân đoạn thị trường

cho từng loại sản phẩm.

- Về công tác dự báo thị trường: Công ty một mặt cần sử dụng triệt để các kết

quả hoạt động nghiên cứu thị trường, mặt khác cần áp dụng công cụ dự báo định lượng

để phân tích xu hướng vận động của nhu cầu thị trường một cách chính xác.

3.2.1.3. Nâng cao chất lượng sản phẩm:

- Cần nghiên cứu chính xác, đầy đủ các mặt hàng sản xuất, các đơn vị sản xuất.

Nghiên cứu về giá cả, quy cách, mẫu mã, bao bì… để lựa chọn nguồn hàng hay lựa

chọn nhà cung cấp.

- Lập kế hoạch mua tương xứng với kế hoạch bán dựa trên các căn cứ vào thị

trường bán thị trường mua, nhu cầu của khách hàng…

- Ngoài ra để có được các sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh

đối với nhà cung cấp Công ty cũng cần có các biện pháp hỗ trợ về vốn, tư vấn về kỹ

thuật và hỗ trợ công nghệ.

3.2.1.4. Tăng cường hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm.

Trong thời gian qua hoạt động hỗ trợ tiêu thụ chưa được Công ty quan tâm

55

đúng mức nên hiệu quả chưa cao. Để làm tốt Công ty cần chú ý những mặt sau:

- Về mặt quảng cáo: Do đặc thù của mặt hàng này là những đặc trưng mang

tính thời trang do đó mục đích của quảng cáo là phải đưa được các hình ảnh về sản

phẩm của Công ty đến với khách hàng để gợi nhu cầu và đồng thời đảm bảo tính

thuyết phục đối với người xem.

- Về các hoạt động xúc tiến bán hàng công ty nên tổ chức nhiều hơn nữa các

của hàng giới thiệu sản phẩm. Công ty nên tham gia nhiều hơn nữa vào các hội chợ

triển lãm trong và ngoài nước. Thông qua đó, công ty có điều kiện giới thiệu sản phẩm

của mình với khách hàng, tạo điều kiện tìm đối tác tiêu thụ, liên doanh liên kết nhằm

đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá.

Để tăng cường mối quan hệ đối với khách hàng góp phần nâng cao uy tín của

Công ty và tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường, Công ty cũng cần phải làm tốt các

dịch vụ sau bán hàng như: hỗ trợ các thủ tục, phương tiện chuyên chở bảo hành đối

với các sản phẩm...

3.2.1.5. Áp dụng chính sách giá cả mềm dẻo:

- Giá cả hàng hoá do Công ty xác định phải phù hợp với sự chấp nhận của

người mua, phải phù hợp với quan hệ cung cầu của sản phẩm đó theo từng thời điểm

và phải được xem xét trong mối quan hệ với giá cả của các sản phẩm cạnh tranh và tỷ

giá có thể chấp nhận được đối với sản phẩm thay thế .

- Công ty cần áp dụng chính sách giá một cách linh hoạt và mềm dẻo. Công ty

nên có chính sách ưu đãi hơn về giá cả đối với các khách hàng truyền thống, khách

hàng mua với khối lượng lớn. Tuỳ theo khối lượng hàng bán mà thực hiện các tỷ lệ

chiết khấu phù hợp cho khách hàng.

3.2.1.6. Củng cố và nâng cao uy tín của Công ty trên thị trường:

- Uy tín vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sản

xuất kinh doanh của Công ty.

- Uy tín của Công ty thông thường được thể hiện qua ba khía cạnh sau:

+ Uy tín về chất lượng sản phẩm.

+ Uy tín về tác phong kinh doanh.

+ Uy tín về kết quả sản xuất kinh doanh.

Do vậy để củng cố và nâng cao uy tín của mình trên thị trường Công ty cần làm

một số việc sau:

- Đầu tư có chiều sâu vào công tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, áp

56

dụng công nghệ hiện đại nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành

- Tăng cường các hoạt động liên doanh, liên kết với các tổ chức của cá nhân

trong và ngoài nước có bằng phát minh sáng chế hoặc các Công ty có uy tín trên thị

trường thế giới để tận dụng vốn, uy tín của họ.

- Thường xuyên quan tâm chăm sóc các bạn hàng truyền thống, khách hàng lâu

dài và các khách hàng ở các thị trường mới thâm nhập...

3.2.2. Các giải pháp về vốn và tài chính.

- Khai thác triệt để các nguồn vốn tín dụng, các nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ

chức kinh tế trong và ngoài nước cho phát triển sản xuất kinh doanh. Khai thác tối đa

đòn bẩy nợ, trên cơ cơ sở duy trì hệ số an toàn về tài chính.

- Tính toán phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý (vốn sản xuất và vốn kinh

doanh), tranh thủ các nguồn vốn ứng trước của khách hàng.Tăng vòng quay vốn, giảm

tối đa công nọ và bán trả chậm.

- Giữ vững mối quan hệ, đảm bảo uy tín đối với Ngân hàng trong việc vay vốn

và thanh toán nợ.

- Huy động vốn từ các cổ đông ngoài xã hội, tham gia thị trường chứng khoán

khi thị trường thuận lợi.

3.2.3. Các giải pháp về nguồn nhân lực.

Yếu tố con người cũng là một trong những yếu tố làm nên sự thành công của

doanh nghiệp. Công ty tạo mọi điều kiện như hỗ trợ kinh phí, thời gian để cán bộ có

nguyện vọng đều được học tập, nâng cao trình độ. Trong số 100 cán bộ, nhân viên

khoảng 30 người có trình độ đại học và trên đại học. Hằng tuần, Công ty tổ chức các

cuộc hội thảo theo chuyên đề, các khóa học nghiệp vụ, ngoại ngữ do chính cán bộ

trong Công ty truyền đạt.

- Có kế hoạch đào tạo, tuyển dụng nguồn nhân lực trẻ, năng động, có trình độ

để từng bước kế thừa, tiếp thu kinh nghiệm những người đi trước.

- Có chính sách đãi ngộ hợp lý với người lao động trên cơ sở chất lượng và hiệu

quả công việc nhằm khuyến khích lao động có trình độ nghiệp vụ cao, có tinh thần

trách nhiệm và kinh doanh giỏi.

- Chỉnh lý, bổ sung hoàn thiện chế độ tiền lương, tiền thưởng sao cho đây thực

sự là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy người lao động hăng say làm việc, tăng năng suất lao

động và tăng hiệu quả kinh doanh, thu hút chất xám về Công ty.

- Có thể xem xét thuê các chuyên gia thiết kế nước ngoài tại những nhóm thị

57

trường trọng điểm hoặc liên kết với họ trên cơ sở phân chia lợi nhuận bán hàng. Đây là

một giải pháp mang tính dài hạn vì họ có khả năng thiết kế ra các sản phẩm phù hợp

với thị trường của họ, chúng ta sẽ không phải mày mò để đưa ra mẫu mã sản phẩm.

Sản phẩm sẽ mang những nét đặc trưng văn hoá của Việt Nam và thị trường trọng

điểm. Nếu nhắm vào ngách thị trường cao cấp chi phí thiết kế sẽ cao hơn nhưng chúng

ta cũng sẽ bán được sản phẩm với giá cao hơn rất nhiều. Điều này phù hợp với mục

tiêu xây dựng một thương hiệu cho Artimext và thủ công dệt may Việt Nam.

3.3. Một số kiến nghị với nhà nước.

3.3.1. Tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các đơn vị sản xuất, xuất

khẩu ngành thủ công dệt may.

Để thay đổi cơ cấu sản xuất nói chung và cơ cấu hàng xuất khẩu nói riêng cần

có sự đầu tư. Vì vậy trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành rất nhiều chế độ,

chính sach để khuyến khích đầu tư, bao gồm trong cả lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu.

Kết hợp với sự thông thoáng của luật doanh nghiệp, những chế độ và chính sách đã

phát huy tác dụng rất tích cực trông việc tạo ra các mặt hàng mới và chuyển dịch cơ

cấu hàng xuất khẩu theo hướng tăng dần tỷ trọng của hàng chế biến, chế tạo. Theo bộ

Công Thương, những ưu đãi như hiện nay dành cho sản xuất hàng xuất khẩu là tương

đối đầy đủ. Vấn đề chính hiện nay là làm sao để tăng cường tính minh bạch và tính

phổ cập của những ưu đãi này, đồng thời thi hành chúng một cách nhất quán trên thực

tế không để những khó khăn vướng mắc về thủ tục hành chính, kìm hãm tác dụng tích

cực của chúng.

- Nâng cao kỹ năng xuất khẩu và văn hóa thúc đẩy hợp tác giữa các doanh

nghiệp sản xuất hàng dệt may.

Xuất khẩu sẽ không thể tăng trưởng và bền vững nếu không lưu ý trau dồi kỹ

năng xuất khẩu và văn hóa xuất khẩu. Kỹ năng xuất khẩu tiên tiến bao gồm như sàn

giao dịch, thương mại điện tử… Trong khi văn hóa chứa đựng những nội dung như

liên kết dọc, liên kết ngang, coi trọng người tiêu dùng và chữ tín trong kinh doanh, hai

mảng này đều là điểm là điểm yếu của nước ta. Để khắc phục tình hình kết hợp chặt

chẽ hơn các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu, để các doanh nghiệp có cơ sở trong

việc tạo lập các mối quan hệ thuận cho phát triển kinh doanh

- Tiếp tục hoàn thiện và phát triển môi trường thể chế để thúc đẩy xuất khẩu.

Một khu vực xuất khẩu năng động, linh hoạt và hoạt động theo định hướng thị

trường rất cần các thể chế tương thích với nó để phát huy hết mặt tích cực và hạn chế

58

mặt tiêu cực. Để hỗ trợ các doanh nghiệp chuẩn bị tốt hành trang , nâng cao năng lực

cạnh tranh với các công ty nước ngoài, tạo điều kiện thủ công dệt may Việt Nam thâm

nhập thị trường thế giới, cần đề nghị Chính phủ và Bộ công thương tạo điều kiện cần

thiết cho các doanh nghiệp những vấn đề sau:

+ Đề nghị Bộ thương mại cho mở website riêng của thương vụ để giúp các

công ty tiếp cận thị trường và quảng cáo cho hàng thủ công dệt may của Việt Nam.

+ Thành lập trung tâm triển lãm trưng bày các sản phẩm ở các trung tâm kinh

tế của các nước cho các doanh nghiệp tham gia, mở them văn phòng và chi nhánh tại

các địa bàn cần thiết.

- Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ cần thiết hỗ trợ cho xuất khẩu.

Hiện nay các doanh nghiệp đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp thông tin về mọi mặt

liên quan đến xuất khẩu cho họ. Biện pháp tốt nhất là có chính sách khuyến khích phát

triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu. Bên cạnh dịch vụ nghiên

cứu thị trường và phân tích thông tin, rất cần phát triển them các dịch vụ khác nhu dịch

vụ phân tích tài chính, bao gồm phân tích rủi ro về tỷ giá, dịch vụ pháp lý để các

doanh nghiệp tham khảo trong quá trình thực hiện hợp đồng

- Tiếp tục đẩy mạnh và cải cách hành chính, cắt giảm chi phí cho xuất khẩu và

kiện toàn công tác xúc tiến. Cần rà soát lại các khoản phí đang thu vào hàng xuất khẩu

ở khu vực biên giới, kể cả phí có hóa đơn và chứng từ, tránh nhưng khoản phí trùng

lặp không cần thiết

- Tăng cường ưu đãi đầu tư sản xuất kinh doanh hàng dệt may.

Hiện nay đối với hàng thêu, đan, móc thường gặp phải những vướng mắc do

chế độ thuế gây ra. Những vướng mắc ở đây tương tự như giữa các ngành may, dệt

sợi. Nguyên liệu để làm hàng thêu, ren, móc phần lớn là nguyên liệu sản xuất trong

nước, giá của vải, chỉ, len,… cung cấp cho các cơ sở sản xuất dệt may đều đã có thuế

nhập khẩu thu trên nguyên liệu sản xuất ra vải, chỉ, len đó. Do khoản thuế này không

được hoàn trả nên giá thành của ta bao giờ cũng cao hơn Trung Quốc, rất khó cạnh

tranh. Chính phủ và nhà nước nên xem xét lại việc cắt giảm thuế cho các đơn vị sản

xuất kinh doanh, xuất khẩu hàng dệt may sao cho hơp lý.

- Hỗ trợ nghiệp vụ về tín dụng và văn phòng.

Để đáp ứng theo yêu cầu khách hàng, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ

công mỹ nghệ, đề nghị cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu các loại hàng này theo

phương thức trả chậm, phương thức gửi bán hoặc đại lý bán hàng ở nước ngoài, có sự

59

bảo lãnh tín dụng xuất khẩu của ngân hàng hoặc quỹ hỗ trợ xuất khẩu

Đề nghị chính phủ giao cho ngân hàng Nhà nước hướng dẫn các ngân hàng

thương mại thực hiện ưu đãi về lãi suất và kéo dài thời gian cho vay vốn đáp ứng nhu

cầu kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ theo các phương thưc sau:

+ Nhà nước cần ủng hộ và hỗ trợ các công ty chuyên doanh trở thành công ty

mạnh trong lĩnh vực này để làm nòng cốt trong việc duy trì và phát triển các ngành

nghề thủ công truyền thống

+ Tổ chức, giúp đỡ các cơ sở sản xuất khai thác các chính sách khuyến khích, ưu

đãi đầu tư, trong đó mỗi công ty đỡ đầu một vài làng nghề, hỗ trợ họ tổ chức sản xuât

kinh doanh đáp ứng nhu cầu thị trường, nhất là thị trường nước ngoài

- Quản lý Nhà nước đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh hàng thủ công.

Thành lập một tổ chức cho việc hỗ trợ phát triển ngành nghề theo các chủ

trương chính sách Nhà nước. Để có thể theo dõi sát tình hình thực hiện các chủ trương

chính sách của Nhà nước và trên cơ sở đó có những sửa đổi bổ sung cần thiết cho việc

đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, đề nghị Chính phủ giao Tổng cục hải quan tổ chức

lại việc thống kê xuất khẩu tương đối chi tiết về các loại hàng hóa thuộc nhóm hàng

thủ công dệt may.

- Thu hút khách du lịch quốc tế

Với xu hướng phát triển của ngành du lịch hiện nay, khách du lịch đến Việt

Nam se ngày càng đông, mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ lại là một món quà độc dáo

cho khách du lịch nước ngoài. Để tận dụng lợi thế này, Nhà nước nên có các chính

sách phát triển ngành du lịch, gắn liền với việc tăng cường tiêu thụ hàng thủ công mỹ

nghệ bằng một số hoạt động sau: phát triển du lịch văn hóa, tổ chức các lễ hội văn hóa,

tổ chức các lễ hội văn hóa truyền thống, liên hệ và đón tiếp các đoàn khách du lịch, có

các chính sách đầu tư cho làng nghề để phát triển du lịch qua đó làm tăng lượng hàng

60

thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ra nước ngoài bằng hình thức xuất khẩu tại chỗ.

KẾT LUẬN

Trong tiến trình hội nhập kinh tế vừa mang lại cơ hội vừa mang lại thách thức

rất lớn cho các doanh nghiệp nói chung và Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủ công

may mặc nói riêng. Trong những năm vừa qua, nền kinh tế thế giới đã có những biến

động phức tạp với những cuộc khủng hoảng kinh tế ở nhiều quốc gia trên thế giới. Là

một Công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu là chủ yếu nên Công ty không

thể tránh khỏi những ảnh hưởng nặng nề đó. Qua việc phân tích tình hình tài chính của

Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa ta thấy được tình hình của Công ty có nhiều mặt

tích cực đáng khích lệ. Song bên cạnh đó còn không ít những điểm tồn đọng đòi hỏi

cần thiết được khắc phục để từng bước khẳng định vị trí của mình trên thương trường.

Bằng những kiến thức lý luận đã học kết hợp với thực tiễn nghiên cứu tìm hiểu

tại Công ty. Em đã mạnh dạn đưa ra một số ý kiến đề xuất với mong muốn tăng cường

hơn nữa nhằm nâng cao được hiệu quả hoạt động của Công ty Cổ phần dệt may Thái

Hòa. Song thời gian tiếp xúc với thực tế có hạn, hiểu biết trong lĩnh vực tài chính còn

nhiều hạn chế nên những phân tích trong khóa luận cũng như những ý kiến trong bài

không tránh khỏi những sai sót nhất định. Em rất mong các thầy cô, giáo viên hướng

dẫn, các cô chú cán bộ phòng Tài chính-kế hoạch của Công ty đóng góp ý kiến với

mục đích giúp em được hoàn thiện hơn bài khóa luận này.

Em xin chân thành cảm ơn các cô chú ở Công ty Cổ phần dệt may Thái Hòa,

các thầy cô giáo, đặc biệt là giáo viên Th.s Lê Thị Hạnh đã tận tình giúp đỡ em hoàn

thành bài khóa luận tốt nghiệp này của mình.

Sinh viên thực hiện.

61

Hoàng Quốc Việt – QE24.

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Tiếng Việt:

1. Bùi Hữu Phước (2009), Tài Chính Doanh Nghiệp,Nhà xuất bản Tài Chính

2. Nguyễn Năng Phúc (2011), Phân tích báo cáo tài chính, Nhà xuất bản

Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

3. Nguyễn Hải Sản (2012), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản

Lao Động