TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA - VỮNG TÀU

VIỆN NGÔN NGỮ - VĂN HÓA - QUAN HỆ QUỐC TẾ

-------- o0o---------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

OMOTENASHI - VĂN HÓA PHỤC VỤ BẰNG TRÁI TIM CỦA NGƯỜI NHẬT

Trình độ đào tạo: Đại học

Ngành: Đông Phương học

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Nhật Bản

Giảng viên hướng dẫn: ThS. LÂM NGỌC NHƯ TRÚC

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THÚY LINH TIÊN

MSSV: 13030386

Lớp: DH13NB

V ũ n g T à u , t h á n g 0 7 n ă m 2 0 1 7

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự

hướng dẫn khoa học của ThS. Lâm Ngọc Như Trúc. Các nội dung nghiên cứu, kết

quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước

đây.

Ngoài ra, trong khóa luận còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá của một

số tác giả khác. Các thông tin trích dẫn đều có nêu và chú thích nguồn gốc rõ ràng.

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

về nội dung khóa luận của mình.

Vũng Tàu, ngày 03 tháng 07 năm 2017

S in h v iê n t h ự c h iệ n

Nguyễn Thúy Linh Tiên

"Không Thầy đố mày làm nên" là câu tục ngữ gắn liền với tuổi thơ chúng

ta từ những ngày đầu ê a đến lớp. Câu tục ngữ ấy chúng ta được học từ cái thuở

bé xíu đến trường, nhưng chắc hẳn, trong trí óc non nớt của một đứa con nít học

với mục đích trả bài lấy điểm thì không thể nào thấm nhuần và cảm nghiệm được

ý nghĩa thực sự của nó. "Không Thầy đố mày làm nên" như một lời nhắc nhớ về

công ơn của những người làm thầy. Thầy: là ông bà, cha mẹ; thầy là thầy cô, bạn

bè; thầy là những người đã hỗ trợ, giúp đỡ, hướng dẫn cho chúng ta dù ít hay

nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp.

Trong suốt quãng thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học

cho đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia

đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi đến quý thầy cô Viện Văn

hóa - Ngôn ngữ - Quan hệ quốc tế của Trường đại học Bà Rịa - Vũng Tàu lời cảm

ơn chân thành, vì đã đem kinh nghiệm và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn

kiến thức quý báu cho tôi. Và đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến giáo viên

hướng dẫn khóa luận của tôi - Ths. Lâm Ngọc Như Trúc. Cô đã tận tâm hướng

dẫn tôi từ những ngày đầu lên ý tưởng cho đến quá trình nghiên cứu và hoàn thành

khóa luận. Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo và góp ý tận tình của cô,

tôi nghĩ khóa luận của tôi rất khó để có thể hoàn thiện và đạt kết quả tốt.

Tôi cũng xin cảm ơn Công ty Value Create Việt Nam (VCV), nơi đã kết

duyên cho tôi được biết đến tinh thần "Omotenashi". Cảm ơn quý anh chị VCV

đã cho tôi cơ hội được học tập, được trải nghiệm và được thực hiện tinh thần đó

không chỉ với khách hàng mà còn với từng thành viên trong công ty. Đến với

VCV, tôi cảm nhận được mọi người đều gắn kết với nhau bằng sự tử tế.

Khi bắt tay vào làm bài luận, tôi mới hiểu được những khó khăn mà mình

phải trải qua. Từ việc suy nghĩ chọn đề tài cho đến khi bước vào nghiên cứu. Mỗi

khía cạnh, mỗi chủ đề tôi tìm hiểu làm tôi cảm thấy bỡ ngỡ, tuy nhiên cũng mang

lại cho tôi những trải nghiệm, những kiến thức mới và hiểu hơn về những điều

mình đã được học trên lớp. Với sự chỉ bảo, góp ý của cô Lâm Ngọc Như Trúc -

cô giáo hướng dẫn tận tình của tôi và cùng sự nổ lực của bản thân, tôi đã có thể

hoàn thành được khóa luận này.

Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực văn hóa xã hội, đặc biệt là

văn hóa Nhật Bản, tôi cảm thấy kiến thức của bản thân mình vẫn còn đó những

hạn chế, vì vậy thiếu sót là điều không thể tránh khỏi. Do đó tôi rất mong nhận

được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và cô giáo hướng dẫn để

kiến thức của tôi trong lĩnh vực này ngày càng hoàn thiện hơn.

Con đường tương lai phía trước còn rất nhiều chông gai phải vượt qua.

Nhưng tôi tin chắc rằng, với những gì mà quý thầy cô đã tận tình chỉ bảo và hướng

dẫn, tôi sẽ có thể mạnh mẽ vươn tới tương lai và bước đi hiên ngang trên con

đường sự nghiệp cũng như cuộc sống của mình.

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Viện Ngôn ngữ - Văn

hóa - Quan hệ quốc tế trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu và cô Lâm Ngọc Như

Trúc. Kính chúc quý thầy cô và cô Lâm Ngọc Như Trúc dồi dào sức khỏe, nhiều

niềm vui và thành công trong cuộc sống.

Trân trọng.

MỤC LỤC

M Ở Đ Ầ U ...................................................................................................................... 1

1. L í do chọn đề tà i................................................................................................1

2. M ục đích nghiên c ứ u .......................................................................................4

3. Nhiệm vụ nghiên c ứ u .......................................................................................5

4. Lịch sử nghiên cứu vấn đ ề ............................................................................. 5

5. Đối tượng và phạm vi nghiên c ứ u ................................................................ 8

6. Phương pháp nghiên c ứ u ............................................................................... 8

7. D ự kiến kết quả nghiên c ứ u ........................................................................... 9

8. C ấu trú c của khóa lu ậ n .................................................................................10

NỘI DUNG.................................................................................................................11

CHƯ ƠNG 1: KH ÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA O M O T E N A SH I...................... 11

1.1. M ột số biểu hiện của văn hóa O m otenashi...........................................11

1.2. K hái niệm O m otenashi...............................................................................16

1.3. Nguồn gốc của văn hóa O m otenashi..................................................... 23

CHƯ ƠNG 2: OM OTENASHI TRO N G Đ Ờ I SỐNG XÃ H Ộ I VÀ CÁ

NHÂN CỦA NGƯ ỜI NHẬT B Ả N ......................................................................26

2.1. Đời sống xã h ộ i............................................................................................ 26

2.1.1. T a x i.........................................................................................................26

2.1.2. Ghế có chỗ treo t ú i ............................................................................. 29

2.1.3. Nhà vệ sinh công cộng........................................................................30

2.1.4. Con đường p h át ra tiếng n h ạ c ......................................................... 33

2.1.5. Lon nước có in chữ nổi....................................................................... 35

2.1.6. Hệ thống thang máy dành cho người khuyết tậ t và đường có vạch kẻ dành cho người khiếm t h ị ............................................................... 36

2.1.7. Nụ cười thân thiện cùng với lời cảm ơn chân th à n h ................... 38

2.1.8. N hững cái cúi đầu trâ n trọ n g ............................................................ 39

2.2. Đời sống cá n h â n .........................................................................................43

CHƯ ƠNG 3: M Ộ T SỐ BIỂU H IỆN CỦA OM OTEN A SH I TRO N G VĂN

HÓA NHẬT BẢ N .....................................................................................................49

3.1. V ăn hóa T rà đ ạ o .........................................................................................49

3.1.1. T rà th ấ t.................................................................................................. 49

3.1.2. Dụng cụ dùng trong pha chế và thưởng thức t r à ..........................51

3.1.3. Bánh n g ọ t.............................................................................................. 55

3.1.4. P ha trà và thưởng t r à .......................................................................... 56

3.2. V ăn hóa Ẩm thực (nhà hàng sushi).........................................................58

3.2.1. Phục v ụ ...................................................................................................59

3.2.2. Sushi - Sự tận tâm trong cả hương vị và hình th ứ c ..................... 65

3.3. V ăn hóa Du lịch (loại hình du lịch lữ q u á n ).........................................68

3.3.1. Giới thiệu L ữ q u á n .............................................................................. 69

3.3.2. Phục v ụ ...................................................................................................75

3.4. V ăn hóa K inh doanh (doanh nghiệp N hật B ả n )................................. 78

3.4.1. T rong mối quan hệ giữa các thàn h viên trong công t y ................. 79

3.4.2. T rong mối quan hệ với khách h àn g ................................................. 83

K ẾT L U Ậ N ............................................................................................................... 88

TÀI LIỆ U THAM K H Ả O ......................................................................................90

MỞ ĐẦU

1. L Í D O C H Ọ N Đ Ề T À I

Với rất nhiều người, nước Nhật đẹp nhất chính là cảnh sắc hiện đại xen lẫn

cổ kính, nhưng đối với tôi, nước Nhật đẹp nhất chính là con người Nhật. Họ là

nước Nhật, là cốt lõi tạo nên Nhật Bản với nhiều đặc điểm riêng biệt, độc đáo, tự

tôn, tự trọng và duy mỹ đến mỹ cực.

Thế giới ngưỡng mộ con người Nhật Bản - những con người luôn kiên

cường và vượt qua khó khăn thử thách trong tư thế ngẩng cao đầu, những con

người cúi nhưng không thấp, những con người tạo ra, xây dựng và giữ gìn nét văn

hóa đặc sắc của dân tộc mình.

Nói về văn hóa Nhật Bản, chắc chắn chúng ra sẽ khó mà lột tả được hết

những ý nghĩa và tinh hoa mà nó mang trong mình. Cũng như ngôn ngữ, văn hóa

là linh hồn của một dân tộc, là điều rất thiêng liêng ẩn sâu trong tâm thức của mỗi

con người. Điều mà du khách nước ngoài khi đến Nhật và quay về nước, còn thấy

đọng lại trong tim không phải là cơ sở vật chất, là cuộc sống tiện nghi, là những

thành phố cao ngút mái nhà, là những con phố sầm uất nhộn nhịp mà chính là:

Văn hóa của con người xứ sở hoa anh đào.

Dù khoa học công nghệ có tiên tiến tới đâu, máy móc có thể thay thế con

người đến thế nào thì vẫn không thể thiếu bóng dáng, bàn tay của con người. Bởi

vì chỉ có con người mới biết phục vụ con người tận tụy và chu đáo nhất.

Tôi vô cùng ngưỡng mộ nền văn hóa của đất nước mặt trời mọc, nhất là văn

hóa phục vụ bằng cả tấm lòng của họ. Một nét văn hóa mà chúng ta có thể bắt gặp

bất cứ nơi đâu: trên tàu điện, trong nhà ga, từ nhà hàng sang trọng cho đến cửa

hàng tiện lợi, hay giản đơn hơn là trong cuộc sống thường nhật hàng ngày...

Đến Nhật Bản, du khách không chỉ ngỡ ngàng với một xã hội hiện đại phát

triển mà điều làm họ nhớ mãi đó chính là phong cách phục vụ chuyên nghiệp.

Trong một xã hội luôn quay cuồng với nhịp sống hiện đại, văn hóa ứng xử truyền

thống được vận dụng khéo léo đã tạo nên phong cách phục vụ của người Nhật: ân

cần, nhanh chóng và đúng hẹn. Một nụ cười, lời cảm ơn, sự quan tâm lắng nghe

ý kiến và chu đáo đáp ứng yêu cầu của khách hàng đã mang đến cho khách hàng

nhiều thiện cảm. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy ở hình ảnh vội vã, đôi khi

phải chạy thay vì đi bộ thong thả, để kịp giờ hẹn của nhân viên giao hàng; thối

tiền lẻ rất nhanh tại các tiệm trong nhà ga xe điện để khách kịp đón tàu; thủ tục

tại khách sạn nhanh chóng và nhất là không cần kiểm tra lại phòng check out

mang lại cho khách cảm giác dễ chịu vì được tin tưởng.

Văn hóa làm việc gì cũng suy nghĩ cho sự thuận lợi của người kế tiếp của

người Nhật Bản luôn là điều mà tôi trân trọng. Người Nhật luôn suy nghĩ và chuẩn

bị tỉ mẫn cho từng công việc họ làm, đặc biệt là trong cung cách ứng xử: từ lời

chào hỏi cho đến việc tiếp đãi, phục vụ người khác. Và điều làm tôi vô cùng ấn

tượng đó chính là tinh thần "Omotenashi" - tinh thần phục vụ với cả tấm lòng của

con người xứ sở hoa anh đào.

Khi đến tham quan du lịch tại Nhật Bản, chắc hẳn chúng ta sẽ được trải

nghiệm rất rõ tinh thần này qua các dịch vụ du lịch của họ. Hoặc nếu chúng ta là

khách hàng của một công ty Nhật, chúng ta sẽ hiểu như thế nào là "Omotenashi"

trong chăm sóc khách hàng.

Ngày nay, có những bài viết, sách vở nói về văn hoá ứng xử của người Nhật.

Dường như nó đã trở thành biểu tượng của sự lịch thiệp vì hầu hết, ai đến Nhật

cũng có một cảm giác cực kì thoải mái khi đi vào nhà hàng, khách sạn hoặc thậm

chí là cửa hàng tiện lợ i... Khách hàng sẽ được chào đón và tiếp đãi rất tận tình.

Đó chính là nét thú vị không lẫn vào đâu được của phong cách Nhật, hay cũng

chính là "Omotenashi".

"Omotenashi" là từ chuyên dùng để nói về việc phục vụ khách hàng, tuy

nhiên, với bản thân tôi, tôi nghĩ, để có thể phục vụ khách hàng được như vậy,

người phục vụ phải có tinh thần "Omotenashi" từ ban sơ - từ nếp sống hàng ngày

trong đời sống con người đất nước mặt trời mọc. Họ phải thấm nhuần được tinh

thần ấy từ những điều nhỏ nhặt nhất, bình dị nhất và thực hiện nó như một thói

quen. Họ dùng thói quen ấy để nâng nó thành một chuẩn mực cư xử, một quy tắc

đạo đức. Và quan trọng hơn cả là đưa nó vào nền giáo dục, biến nó trở thành một

nét văn hóa riêng biệt.

Nét văn hóa ấy được dạy cho trẻ em từ rất sớm. Thời gian trôi qua, những

đứa trẻ ấy lớn lên, mang trong mình phong cách ứng xử rất Nhật Bản, rất

"Omotenashi" và góp phần làm cho nét văn hóa cao đẹp này tồn tại mãi. Thế hệ

tiếp nối thế hệ, văn hóa tiếp liền văn hóa, như con thoi xoay vòng nhịp nhàng và

đều đặn. Qua đó, chúng ta thấy được người Nhật đã chú trọng tinh thần

"Omotenashi" như thế nào và hơn nữa, họ đã giữ gìn và phát huy nét văn hóa ấy

ra sao.

Là một người con của dân tộc Việt, tôi hy vọng rằng đất nước mình có thể

học hỏi tinh thần vô cùng tốt đẹp này và cũng sẽ làm được điều đó, không chỉ gói

gọn trong việc tiếp đãi khách hàng mà mang cả "Omotenashi" vào cuộc sống

thường nhật. Phục vụ, suy nghĩ cho người khác với trái tim toàn vẹn, rồi từng

ngày từng ngày trôi qua, cung cách ứng xử ấy sẽ thấm nhuần vào đời sống và trở

thành thói quen tốt, hơn hết cả, nó sẽ trở thành một nét văn hóa du nhập giá trị,

mang trong đó tinh thần Nhật Bản và hương vị con người Việt Nam.

Tuy nhiên, làm thế nào để mọi người Việt đều biết đến tinh thần đó, khi

khái niệm "Omotenashi" vẫn còn rất xa lạ với nhiều người? Ngay cả chính bản

thân tôi - một sinh viên theo học chuyên ngành ngôn ngữ Nhật Bản cũng vô cùng

bỡ ngỡ khi lần đầu nghe đến khái niệm ấy.

Biết đến một vấn đề, không khó, nhưng làm thế nào để có thể đưa điểm tích

cực, cái hay của vấn đề đó vào công việc và cuộc sống lại là điều khó vô cùng.

Thiết nghĩ, chỉ khi chúng ta hiểu rõ, thấm nhuần và cảm nhận được vẹn toàn giá

trị của vấn đề đã học được, chúng ta mới có thể áp dụng và biến nó thành thói

quen.

Muốn chạm đến trái tim thì xuất phát điểm cũng phải từ trái tim. Nét văn

hóa đẹp đẽ này đã chạm đến trái tim tôi và tôi đã quyết định chọn nó để nghiên

cứu. Không đơn thuần chỉ là để biết thêm về văn hóa phục vụ tận tâm - văn hóa

Omotenashi, khám phá sâu xa hơn nét đẹp tinh hoa của nó mà tôi còn có thể xem

nó như một kim chỉ nam sống của bản thân mình.

Bên cạnh đó, từ suy nghĩ nếu doanh nghiệp Việt Nam học hỏi và ứng dụng

tốt nét văn hóa này, hay con người Việt Nam có thể tiếp nhận và phát huy nét đẹp

văn hóa ngoại lai Omotenashi để đưa vào đời sống thì công việc sẽ có một bước

tiến mới và cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn biết bao. Nếu mọi người đều có được tinh

thần này, thì không những sẽ đạt được thành công trong công việc mà cuộc sống

của chúng ta sẽ tươi đẹp, hòa đồng và hạnh phúc hơn.

Mong rằng qua quá trình tìm hiểu, tôi sẽ học thêm nhiều điều mới mẻ, bổ

ích cũng như hiểu rõ hơn về nét văn hóa Omotenashi. Và tôi hy vọng, những gì

tôi đã nghiên cứu không chỉ giúp ích cho tôi, nhưng còn có thể giúp ích cho người

khác trong công việc và cả trong cuộc sống. Điều đặc biệt nhất của cuộc đời, chính

là con người. Triết lý làm nên cuộc sống, còn chúng ta làm nên cuộc đời.

2 . M Ụ C Đ Í C H N G H I Ê N C Ứ U

Là một sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ Nhật Bản, việc tìm hiểu và học

hỏi về văn hóa của đất nước mặt trời mọc là điều tôi nghĩ vô cùng cần thiết. Điều

đó mang lại cho tôi cảm hứng học tập và giúp tôi mở rộng tầm hiểu biết của mình.

Nhờ vào quá trình làm khóa luận, tôi sẽ trau dồi thêm được vốn kiến thức

về đất nước Nhật Bản. Những điều tôi đã tìm tòi trong cuộc sống, văn hóa con

người Nhật sẽ như cơ hội để bản thân trải nghiệm thực sự, hòa mình vào nếp sống

chung của xứ sở hoa anh đào. Không chỉ thế, tôi sẽ có thể phát hiện ra những điều

mới mẻ, hoặc những thứ tuy nhỏ nhoi nhưng lại vô cùng ý nghĩa; góp nhặt và lưu

lại làm hành trang và vốn sống cho bản thân.

Ngoài ra, điều mà tôi mong muốn nhất khi nghiên cứu đề tài này bắt nguồn

từ dòng suy nghĩ: "Omotenashi" đối với Việt Nam chắc hẳn là một từ ngữ, một

khái niệm còn xa lạ. Tuy nhiên, tôi chắc chắn, tinh thần này rất cần thiết và bổ ích

đối với Việt Nam. Với khóa luận này, tôi hy vọng những gì mình khám phá và tìm

hiểu, sẽ là tài liệu hữu dụng để mọi người có thể biết cũng như hiểu hơn về nét văn

hóa Omotenashi và có thể áp dụng phần nào trong cuộc sống cũng như trong công

việc. Qua đó, chúng ta có thể tiếp nhận và học hỏi thêm một nét văn hóa đẹp từ dân

tộc Nhật Bản, giúp đời sống văn hóa thêm phong phú và hoàn thiện hơn.

3 . N H I Ệ M V Ụ N G H I Ê N C Ứ U

Khóa luận cần làm rõ những nội dung sau:

- Thứ nhất: Khái niệm và nguồn gốc Omotenashi

- Thứ hai: Omotenashi được thể hiện như thế nào trong đời sống xã hội,

đời sống cá nhân của người Nhật

- Thứ ba: Omotenashi tồn tại ra sao trong văn hóa Nhật Bản (trà đạo, ẩm

thực, du lịch, kinh doanh...)

Sau khi tham khảo tài liệu này, người đọc có thể hiểu một cách tổng quan

về "Omotenashi", có thể cảm nhận nó theo cách riêng của mình và ứng dụng vào

công việc cũng như cuộc sống.

4. L Ị C H S Ử N G H I Ê N C Ứ U V Ấ N Đ Ề

Từ trước đến nay, nét văn hóa Omotenashi hầu như chỉ được tìm hiểu qua

tinh thần dịch vụ đối với khách hàng. "Omotenashi" chủ yếu chỉ được gói gọn

trong dịch vụ hay trong kinh doanh. Đối tượng nghiên cứu nhắm đến là văn hóa

Omotenashi trong doanh nghiệp. Tài liệu sách về Omotenashi chưa xuất hiện nhiều

trên thị trường xuất bản Việt Nam.

Có thể kể đến một số cuốn sách sau:

- Cuốn Con đường đi đến thành công bằng s ự tử tế của tác giả

Inamori Kazuo viết, được dịch bởi Nguyễn Đ ỗ An Nhiên, Nhà xuất

bản Trẻ, xuất bản vào năm 2017 đã đưa ra những lời khuyên hữu ích

cho những người đứng ở vị trí lãnh đạo là hãy dùng sự tử tế để điều

hành công ty. Ngoài ra, ông còn khẳng định rằng: "Ngay cả trong

buôn bán cũng vậy, nếu chỉ nghĩ đến riêng mình thu lợi nhuận thì

thành công cũng không kéo dài được lâu. Phải làm sao mà những

người liên quan đến việc mua bán đều hài lòng, người bán cũng vui

mà người mua cũng mừng, không để chỉ một bên lợi, một bên thiệt

như trò zero - sum". [1]

- Cuốn Đến N hật B ản học về cuộc đời của tác giả Lê Nguyễn Nhật

Linh, do Nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2017 chia sẻ những điều mà

cô đã được trải nghiệm khi học tập và sinh sống tại Nhật. Đọc tác

phẩm, chúng ta có thể thấy được con người Nhật Bản lịch sự, chu đáo,

nguyên tắc và duy mỹ đến mỹ cực như thế nào, họ tận tụy và tử tế

trong cuộc sống hàng ngày ra sao. [2]

- Cuốn M ade in Japan, tác giả Akio Morita, Nhà xuất bản Lao Động

- X ã Hội xuất bản bản năm 2014. Đây là cuốn sách mở ra cánh cửa

giúp chúng ta hiểu về triết lý quản trị kinh doanh theo phong cách

Nhật Bản và vai trò của đạo đức kinh doanh. Ông đã đưa ra lời

khuyên: "Một doanh nhân hay một công ty muốn trở thành hùng

mạnh không chỉ cần nhằm vào mục tiêu lợi nhuận mà còn phải biết

đặt ra một sứ mạng cho mình, một sứ mạng xã hội về những gì họ

mong muốn mang lại cho cộng đồng". [3]

- Cuốn Sức m ạnh của s ự tử tế của tác giả Linda Kaplan Thaler &

Robin Koval do Trịnh Ngọc Minh dịch, Nhà xuất bản Thế Giới xuất

bản năm 2016 đề cao sự tử tế trong công việc và cuộc sống. Tác giả

nhấn mạnh chẳng dễ để trở thành người tử tế nhưng một khi đã được

rồi thì chúng ta sẽ nổi trội hơn, kiếm được nhiều tiền hơn, cảm thấy

vui vẻ và khỏe mạnh hơn. [4]

- Cuốn Tâm lý khách hàng và nghệ thuật p h ụ c vụ 5 sao của tác giả

Bùi Xuân Phong, Nhà xuất bản Lao Động, xuất bản vào năm 2016 đã

giới thiệu về tâm lý khách hàng hiện nay. Ngoài ra, tác giả còn nêu ra

quan điểm: "Chìa khóa của dịch vụ khác biệt nằm ở sự tận tụy và chu

đáo của những người phục vụ". [5]

- Cuốn Trí tuệ kinh doanh của người N hật được tác giả L í Trí Nông

viết, do Nhà xuất bản Lao Động xuất bản vào năm 2015 trình bày về

quan niệm, triết lý và đạo đức kinh doanh của người Nhật. Từ những

bài học kinh nghiệm của doanh nhân Nhật Bản, chúng ta sẽ tìm thấy

được những chỉ dẫn khôn ngoan trong kinh doanh và trong cuộc sống

đời thường. [6]

Hầu như chưa có tài liệu hay cuốn sách nào viết về "Omotenashi" như một

khía cạnh về văn hóa của con người Nhật. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng, ẩn sau tinh

thần phục vụ tận tình; suy nghĩ cho đối tác, cho khách hàng vượt lên trên cả sự

mong đợi của họ bằng một sự chuẩn bị và suy nghĩ vô cùng thấu đáo là nét tính

cách vốn có của con người Nhật Bản. Nó xứng đáng được xem là một nét đẹp văn

hóa mang tính nhân văn cao. Đây là nét văn hóa vô cùng đáng để chúng ta học tập

và phát triển.

Tôi đã quyết định nghiên cứu tinh thần "Omotenashi" theo hướng xem nó

như một mảng văn hóa trong cuộc sống của con người Nhật Bản. Từ những tài

liệu, nguồn thông tin đã có, tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn qua đó phát hiện ra nét đặc biệt

của tinh thần "Omotenashi". Không chỉ dừng lại trong du lịch, ẩm thực hay trong

doanh nghiệp, đề tài mà tôi lựa chọn sẽ thể hiện được văn hóa này tồn tại như thế

nào trong đời sống cá nhân cũng như đời sống xã hội Nhật, khái niệm và nguồn

gốc của nó là gì. Từng đề mục tôi trình bày sẽ rất gần gũi, có thể chỉ là những chi

tiết nhỏ, hình ảnh quen thuộc trong môi trường Nhật Bản nhưng nhờ vậy tôi sẽ

khám phá ra nét văn hóa ẩn đằng sau những chi tiết, những hình ảnh quen thuộc

đó.

Hơn nữa, tôi cũng sẽ nghiên cứu xem tinh thần này liệu đã có ở Việt Nam

hay chưa, nó tồn tại với tên gọi khác hay không, hay đơn thuần chỉ là việc chăm

sóc khách hàng tốt. Từ đó đưa ra những điều mà tôi mong đất nước mình có thể

tiếp nhận và học hỏi.

5. Đ Ố I T Ư Ợ N G V À P H Ạ M V I N G H I Ê N C Ứ U

Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu về Omotenashi - Văn hóa

phục vụ bằng trái tim của người Nhật.

Phạm vi nghiên cứu: Với đề tài là: "Omotenashi - Văn hóa phục vụ bằng

trái tim của người Nhật”, khóa luận đi sâu vào việc khám phá những nét tinh túy

trong tinh thần phục vụ của con người Nhật Bản, từ đó rút ra được giá trị văn hóa

qua tinh thần này. Khóa luận không phân tích hết tất cả những khía cạnh của đời

sống Nhật mà chỉ chọn lọc ra những nét đặc trưng và điển hình, làm nổi bật lên

được văn hóa Omotenashi trong từng vấn đề đưa ra. Trình bày một cách khái quát

tinh thần Omotenashi để thấy được những giá trị văn hóa Nhật được thể hiện như

thế nào.

6. P H Ư Ơ N G P H Á P N G H I Ê N C Ứ U

Dựa vào đối tượng nghiên cứu của đề tài tôi đã chọn: "Omotenashi - Văn

hóa phục vụ bằng trái tim của người Nhật" và để hoàn thành mục đích nghiên

cứu, tôi đã sử dụng những phương pháp cụ thể như sau:

- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp tư liệu Omotenashi, tài liệu về văn

hóa và tài liệu về cách ứng xử của người Nhật từ các nguồn trên internet

và sách báo liên quan cùng những kiến thức mà bản thân đã được học.

- Phương pháp phân tích: Từ những tài liệu đã tổng hợp, tiến hành phân

tích nội dung nào phù hợp và có triển khai để đưa vào khóa luận. Phân

tích một cách tỉ mĩ và kỹ càng, ghi chú thành một file tài liệu riêng sử

dụng cho khóa luận.

- Phương pháp hệ thống: Sau khi phân tích nội dung tôi hệ thống lại tất

cả các kiến thức về Omotenashi. Từ đó, rút ra kết luận về Omotenashi -

Văn hóa phục vụ bằng trái tim của người Nhật.

7. D Ự K I Ế N K Ế T Q U Ả N G H I Ê N C Ứ U

- Tài liệu tham khảo cho sinh viên (đặc biệt là sinh viên theo học các

ngành liên quan đến Nhật Bản): Phục vụ cho việc học tập, có thêm kiến

thức về kĩ năng mềm, hỗ trợ cho cuộc sống và công việc sau khi tốt

nghiệp.

- Tài liệu tham khảo cho người đi làm: Phục vụ cho công việc. Đọc và

trải nghiệm sau đó rút ra được những điều hữu ích cho bản thân (trong

mối quan hệ với cấp trên, với các đồng nghiệp và đặc biệt về lĩnh vực

liên quan đến chăm sóc khách hàng).

- Tài liệu cho những người quan tâm hoặc có hứng thú với văn hóa Nhật

Bản, muốn hiểu biết thêm về tinh thần dịch vụ này, có thể biến nó thành

vốn sống.

- Tài liệu tham khảo cho những bạn có dự định làm đề tài nghiên cứu hoặc

tiếp tục làm đề án này theo một hướng khác hoặc đi sâu hơn nữa vào

tinh thần Omotenashi của Nhật từ xưa đến nay.

- Nâng cao được sự hiểu biết của bản thân về văn hóa từ những gì đã

nghiên cứu và tìm hiểu được trong quá trình làm khóa luận. Rèn luyện

được kĩ năng chọc lọc, phân tích, tổng hợp và lập luận. Trang bị thêm

kiến thức bổ ích trong học tập, làm việc và cuộc sống.

8. C Ấ U T R Ú C C Ủ A K H Ó A L U Ậ N

Ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo, khóa luận được viết thành 3

chương:

Chương 1: Khái quát về văn hóa Omotenashi

Chương 2: Omotenashi trong đời sống xã hội và cá nhân của người Nhật Bản

Chương 3: Omotenashi trong văn hóa Nhật Bản

NỘI DUNG

C H Ư Ơ N G 1: K H Á I Q U Á T V Ề V Ă N H Ó A O M O T E N A S H I

1 .1 . M ộ t s ố b iể u h iệ n c ủ a v ă n h ó a O m o t e n a s h i

""Cousu Main" trong tiếng Pháp có nghĩa là làm bằng tay, tương tự như từ

"handmade" trong tiếng Anh. Nghệ thuật phục vụ Cousu Main là nghệ thuật phán

đoán và đáp ứng mong muốn của khách hàng ngay tại điểm trải nghiệm dịch vụ,

nhằm tạo nên khoảnh khắc phục vụ vượt qua sự mong đợi cho khách hàng. Từ đó

chạm tới cảm xúc và tạo ra những trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ cho họ, dù là

trong lần trải nghiệm dịch vụ đầu tiên hay những lần tiếp sau." [5, 105]

"Cốt lõi của nghệ thuật phục vụ "Cousu Main" là khả năng quan sát ngôn

ngữ cơ thể để đoán trước mong muốn của khách hàng và đáp ứng mong muốn đó

ngay tức thì... Chính khoảnh khắc mà khách hàng chưa kịp đề xuất yêu cầu của

mình thì đã được đón trước và đáp ứng ngay lập tức chính là khoảnh khắc của

nghệ thuật phục vụ "Cousu Main"." [5, 106 - 107]

""Lagniappe" là một từ gốc tiếng Pháp bắt nguồn từ cộng đồng người Pháp

ở tiểu bang Louisiana, phía Nam Hoa Kỳ, có nghĩa là thêm một chút. "Lagniappe"

là nghệ thuật tạo cảm kích cho khách hàng bằng hành động hoặc món quà nằm

ngoài mong đợi và kỳ vọng của họ. Trước khi lan tỏa khắp nước Mỹ và trên toàn

thế giới, nghệ thuật "Lagniappe" đặc sắc của các bang miền Nam cũng chính là

một trong những bí quyết tạo nên đế chế bán lẻ Wal - M art1 của Sam Walton."

[5, 119]

1 Nhãn hiệu Walmart, là một công ty công cổ phần công khai Mỹ, hiện là một trong những công ty lớn nhất thế giới (theo doanh số) theo công bố của Fortune 500 năm 2007. Nó được thành lập bởi Sam Walton năm 1962, đã thành lập công ty ngày 31 tháng 10 năm 1969, và niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán New York năm 1972. Đây là đơn vị tư nhân thuê nhân công lớn nhất thế giới và là đơn vị sử dụng nhân công công cộng và thương mại lớn thứ 4 thế giới, chỉ xếp sau Quân Giải phóng Nhân dân của Trung Quốc, Cục Y tế Quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và ngành Đường sắt Ấn Độ. Walmart là nhà bán lẻ tạp hóa lớn nhất Hoa Kỳ, với

Từ những thuật ngữ trên chúng ta có thể thấy được rằng: "hành động thêm

một chút" mà khách hàng nhận được có ý nghĩa rất lớn về tinh thần song lại tiêu

tốn chi phí rất nhỏ. Với mỗi một chút thêm ngoài mong đợi mà nhà cung cấp dịch

vụ mang đến cho khách hàng, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng và điều đó sẽ chạm

tới cảm xúc của họ. Khi đó, nhà cung cấp dịch vụ không những chỉ giữ được khách

hàng của mình mà chính khách hàng sẽ khoe với bạn bè, giới thiệu với cộng đồng

của họ. Chính những lần thêm một chút miễn phí của dịch vụ đã khiến khách hàng

cảm kích mà quảng cáo miễn phí cho việc kinh doanh của nhà cung cấp dịch vụ

đó. Cuối cùng, nhà cung cấp dịch vụ là người đạt được rất nhiều lợi ích. Vì "Đây

cũng chính là một trong những nguyên tắc hành vi con người được giới thiệu trong

cuốn Những đòn tâm lý trong thuyết phục1 của tiến sỹ tâm lý học nổi tiếng Robert

B. Cialdin: nguyên tắc đáp trả - con người thường có cảm giác mắc nợ và tìm cách

đền đáp những ai tốt với mình. Bằng việc làm cho khách hàng thích thú và bất

ngờ với món quà nhỏ hay hành động ngoài mong đợi, không những nhà cung cấp

dịch vụ thiết lập được mối quan hệ gần gũi mà còn củng cố quan hệ được với

khách hàng đó." [5, 111]

Nếu Soíỉtel* 2 3 nổi tiếng với nghệ thuật "Cousu Main", miền Nam nước Mỹ

nổi tiếng với nghệ thuật "Lagniappe" thì Nhật Bản lại được cả thế giới ngưỡng

mộ với nghệ thuật "Omotenashi".

"Trong tiếng Nhật có một từ gọi là "Kikubari", dịch ra tiếng Việt nghĩa là

chu đáo, là nghệ thuật phát hiện và đoán trước mong muốn hoặc ý định của người

khác để chủ động biến những mong muốn, ý định đó thành hiện thực. Nhật Bản

là một xã hội phụng sự, ở đó triết lý đào tạo nghề nghiệp của người Nhật gồm ba

khoảng 20% doanh thu hàng tiêu dùng và tạp phẩm, Walmart cũng là công ty bán đồ chơi lớn nhất Hoa Kỳ với khoảng 45% doanh số tiêu thụ đồ chơi. 2 Tựa gốc: Influence: The Psychology o f Persuasion. Sách đã được Alpha Book xuất bản. 3 Khách sạn thương hiệu cao cấp của Tập đoàn Accor - biểu tượng cho chất lượng dịch vụ khách sạn sang trọng hàng đầu của người Pháp trên toàn thế giới.

trụ cột: Mekubari ( Ẽ I E Ụ ) , Kokorokubari ( ) va Kikubari ( ) .

"Mekubari" có nghĩa là không chỉ chăm chăm làm việc và được việc của mình mà

phải cân nhắc xem có ảnh hưởng gì không tốt đến người khác hay không.

"Kokorokubari" là tâm thế hợp tác tích cực với người khác, khi thấy người khác

gặp khó khăn thì không làm ngơ mà sẵn sàng ưu tiên giúp đỡ. "Kikubari" là hành

động luôn nghĩ cho người khác, đặt mình vào địa vị và hoàn cảnh của người khác.

[5, 131]. Nghệ thuật Kikubari thực sự là nghệ thuật dịch vụ phụng sự làm lay động

tâm can của con người một cách tinh tế và sâu sắc. "Omotenashi" trong tiếng Nhật

có nghĩa là hiếu khách. Tinh thần dịch vụ "Omotenashi" bao hàm cả "Kikubari",

"Mekubari" và "Kokorokubari" - là một trong những niềm tự hào của người Nhật

và cũng là tinh thần dịch vụ được ngưỡng mộ trên toàn thế giới.

Khi đến Nhật, có lẽ nhiều du khách nước ngoài rất bất ngờ với sự tiếp đãi

nồng hậu tại bất cứ nơi nào ở Nhật, từ các cửa hàng, khách sạn sang trọng cho đến

những cửa hàng tiện lợi hay các tiệm cà phê be bé, tất cả người phục vụ ở đây đều

có cung cách tiếp đãi khách rất lịch sự, lễ phép và luôn nở nụ cười trên môi với

tiêu chí số một "khách hàng là thượng đế". Sự tiếp đãi nồng hậu: "Omotenashi"

( f ö ^ T f e L ) là phương châm kinh doanh ở Nhật, và người Nhật nổi tiếng thế

giới với điều đó: (Omotanashi no kokoro) (lòng hiếu khách).

Có 3 điều cơ bản trong tinh thần "Omotenashi" mà người Nhật hiểu và cố

gắng nắm rõ:

- Một là chăm sóc khách hàng chu đáo trên cả sự mong đợi của họ

Đây là điều cơ bản khác nhau giữa dịch vụ ( ^ — b f x ) và "Omotenashi".

Việc bồi bàn mang khăn lại cho khách hay chủ nhà nghỉ chuẩn bị chăn nệm cho

khách nghỉ ngơi là dịch vụ. Nhưng khi người bồi bàn đó đưa khăn cho khách và

nhẹ nói: "Quý khách chắc đã làm việc mệt rồi!", hay khi bà chủ nhà nghỉ viết một

tờ giấy nhỏ để bên cạnh chăn nệm đã được trải ra cho khách với lời nhắn: "Chúc

quý khách ngủ ngon!", hoặc khi vào cửa hàng cà phê nhân viên phục vụ đưa cà

phê cho khách và mỉm cười nói: "Mời quý khách từ từ thưởng thức"..., đó được

gọi là "Omotenashi".

Những cử chỉ quan tâm đến khách hàng, giúp họ cảm thấy thoải mái, dễ

chịu như vậy chính là những điều nhỏ nhặt nhưng tinh tế, mang lại cho khách

những cảm tình, ấn tượng đẹp và kéo họ quay trở lại lần hai, lần ba.

- Hai là hết lòng phục vụ khách mà không cần khách phải "hậu tạ" lại

Ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Úc, khi được nhân viên đối đãi lịch sự

thì khách thường phải kẹp thêm ít tiền tip thưởng cho nhân viên đó như là tiền

dịch vụ trả cho nhân viên tiếp khách. Nhưng ở Nhật, dù là nơi sang trọng hay cửa

hàng nhỏ bình thường, nhân viên đều hết lòng chào hỏi, cảm ơn, phục vụ mà

không yêu cầu thêm chi phí gì cả. Thái độ tiếp khách lễ phép, lịch sự tận tâm mà

không yêu cầu sự đáp trả lại của khách như vậy chính là "Omotenashi" của người

Nhật.

- Ba là thái độ tiếp khách nồng hậu từ tấm lòng chân thành chứ không

miễn cưỡng

"Người Nhật quan niệm rằng để có thể quan tâm, nghĩ đến người khác thì

bản thân mình cần có sự thư thả trong tâm hồn, tinh thần giống như quan niệm về

cốc nước chỉ rót thêm nước vào được khi cốc còn trống mà thôi. Chính vì thế, để

có được những khoảng trống trong tâm hồn, người Nhật thường đến với thiền,

đọc sách hay đi xem tranh tại các bảo tàng Mỹ thuật, để có thời gian một mình

suy ngẫm, giúp điềm tĩnh và mài dũa tư duy lại bản thân." [7]

Ở Nhật người bán hàng hết sức lễ phép và thực sự chiều chuộng khách hàng,

cho dù khách hàng chỉ xem, không mua gì, hoặc giá trị của thứ mua chỉ vài trăm

yên (vài USD). Không bao giờ người bán hàng nhận xét, bình phẩm về sự lựa

chọn của khách hàng. Sau khi khách hàng mua và trả tiền xong, họ đều gói ghém

hết sức cẩn thận trước khi trao hàng cho khách, sau đó chắp hai tay trước bụng

cúi chào cung kính, mắt nhìn xuống. Nếu những người bán hàng đó đi mua hàng

(đi chợ chẳng hạn), họ cũng là khách hàng và cũng sẽ được những người bán hàng

khác phục vụ tử tế như vậy. [8]

H ình 1.1. M ột hành động nhỏ như ng vẫn m ang tinh thần "Omotenashi" [7]

Người ta chỉ cần cư trú ở Nhật trong một thời gian và sự chú ý đến từng chi

tiết là có thể nhận ra bao nhiêu điều đáng học hỏi và trân trọng trong nhiều lĩnh

vực của ngành công nghiệp dịch vụ. "Nhật Bản có một câu tục ngữ là r

(o kyaku sama ha kami sama) - khách hàng luôn luôn đúng." [9]

Có nhiều người dịch câu tục ngữ này theo nghĩa đen là "khách hàng là

thượng đế". Mức độ tình cảm của câu tục ngữ này được nhấn mạnh trong các

ngành công nghiệp dịch vụ khi nhân viên bán hàng gọi khách hàng bằng cách

thêm kính ngữ "O" và "sama" để bắt đầu và kết thúc của từ kyaku - khách hàng

tương ứng.

Nếu sống ở Nhật Bản, chắc hẳn chúng ta sẽ được trải nghiệm "Omotenashi"

hàng ngày. Một tài xế taxi tự động mở ra và đóng cửa cho hành khách của mình,

một cây tăm độc đáo nằm ở giữa một đôi đũa gỗ hoặc ngay cả những chiếc ô và

túi được đặt sẵn trong tầm tay ở một cây ATM tại Nhật, những người dọn vệ sinh

trên chuyến tàu Shinkansen cúi chào hành khách khi họ làm việc cũng là một biểu

hiện nổi tiếng của "Omotenashi".

Tham quan một cửa hàng bách hóa Nhật Bản được mở vào buổi sáng, mỗi

nhân viên đều cúi chào khi khách bước vào thực sự là một trải nghiệm

"Omotenashi" ấn tượng nhất. "Omotenashi" được minh họa bằng một niềm tự hào

và nỗ lực trong việc chào đón du khách đến với cửa hàng của mình.

Trong thời đại quốc tế hóa hiện nay, với nhiều nền văn hóa khác nhau du

nhập vào Nhật Bản, người Nhật đã không chỉ cố hòa nhập không để bị hòa tan mà

ngược lại con người xứ sở anh đào còn đang nỗ lực đưa những nét đẹp đáng tự

hào của văn hóa Nhật Bản mở rộng ra thế giới.

1 .2 . K h á i n iệ m O m o t e n a s h i

Trong tiếng Nhật, " ( f c ^ T f e L " - "Omotenashi" là một danh từ có nghĩa

là "sự phục vụ khách hàng hết lòng" và động từ cho nó là " - motenasu.

Từ này được cấu thành bởi 2 chữ Hán: "f è ^ T " - Omote, nghĩa là "phía trước",

và " f e L " - nashi, mang nghĩa "không gì cả". Ghép lại, chúng có nghĩa là cách

đối xử chân thành, trực diện không phân biệt. Hoặc cũng có thể giải nghĩa là hành

xử nên coi trọng cả những gì chúng ta nhìn thấy (trước mắt) và những thứ không

nhìn thấy được (ví dụ như tâm hồn). Từ này được biết đến rộng rãi kể từ khi nó

được sử dụng trong diễn văn mời gọi Olympic Tokyo 2020 của cô MC duyên

dáng người Nhật mang trong mình dòng máu lai Pháp, Christel Takigawa.

Theo Masaru Watanabe, giám đốc điều hành khách sạn Palace tại Tokyo,

thì "mặc dù sự hiếu khách của người Nhật Bản, hay còn được gọi với biệt từ

"Omotenashi", đã được biết đến trên khắp thế giới và được xem như một chuẩn

mực cho một nền dịch vụ đẳng cấp, tuy nhiên rất khó để định nghĩa chính xác

khái niệm "Omotenashi" của người N hật... Đối với tôi, đó là lòng hiếu khách đi

cùng với sự chân thật tuyệt đối, cùng nét duyên dáng và thái độ cung kính mực

thước thể hiện trong từng cử chỉ hành vi nhỏ nhất. Không nên nhầm nó với những

hình thái dịch vụ khác; sự thể hiện chuyên nghiệp của nó không chỉ đơn thuần là

r

r

hoàn thành bổn phận với khách hàng và nhằm mục tiêu thu về lợi nhuận." [10]

H ình 1.2. X em trọng từng chi tiết nhỏ nhặt nhất [11]

"Omotenashi is the traditional Japanese way o f hospitality with the most

dedicated and exquisite manners. It creates an ambiance of tranquility and

relaxtion where guests will experience unforgettable moments at ease." (Daily

Breeze - Merrill Shindler)

Omotenashi là sự tiếp đón, chăm sóc khách hàng có truyền thống từ lâu đời

của người Nhật, với tất cả những hành vi tận tụy và tinh tế nhất. Nó tạo ra bầu

không khí yên bình và thư giãn, nơi khách hàng sẽ có được những trải nghiệm

khó quên.

_

r

_

H ình 1.3. Omotenashi - trái tim của lòng hiếu khách N hật B ản [12]

"Omotenashi is all about offering the best service without expectation of a

reward. Omotenashi is to enter guests wholeheartedly." (Coto Academy)

Omotenashi là cung cấp dịch vụ tốt nhất mà không cần nhận sự đáp lại dù

chỉ một chút. Omotenashi là tiếp đãi khách hàng bằng cả tấm lòng.

Omotenashi là dịch vụ khách hàng vượt trội xuất phát từ trái tim của Nhật

Bản. Đối với các yêu cầu của khách hàng, người Nhật không những luôn tìm cách

đáp ứng nhanh nhất, phù hợp nhất mà còn vượt lên trên cả sự kỳ vọng của họ.

Một du khách khi đến Nhật và có dịp ghé thăm một nhà sách tại Nhật đã

chia sẻ. "Khi tôi bước vào nhà sách, trời bắt đầu đổ mưa to, tôi đọc một vài quyển

sách trong lúc chờ mưa tạnh. Đó là một nhà sách lớn với hàng chục ngàn quyển

sách. Thật may mắn, họ trang bị hệ thống phân loại sách bằng máy vi tính, giúp

tôi dễ dàng tìm ra quyển sách mình cần... Khi tôi bước ra, mưa đã ngớt. Tôi thanh

toán số sách của mình, lòng tự hỏi: những quyển sách bìa da nhiều màu đẹp đẽ

này có thể giữ màu được bao lâu, nhưng tôi chưa kịp băn khoăn lâu thì cô nhân

viên đã bao lại toàn bộ số sách cho tôi r ồ i . Tiếp đó, chẳng đợi tôi nói một lời, cô

dùng một chiếc bao nylon to phủ bên ngoài, bên trong là chiếc giỏ nhỏ xinh bằng

giấy - quà tặng kèm đặc biệt của nhà sách, đựng toàn bộ số sách của tôi. Lúc này,

tôi mới chợt nhận ra ngoài trời tuy mưa đã ngớt nhưng vẫn còn nước đọng, những

tán lá rung rinh sẵn sàng làm tôi ướt bất cứ lúc nào...." [13]

Qua câu chuyện này, chúng ta có thể nhận thấy phong cách làm việc của

nhà sách và cô nhân viên kia vượt trên và đoán trước cả nhu cầu khách hàng. Đó

chính là Omotenashi - Tinh thần dịch vụ của người Nhật.

Tuy nhiên, Omotenashi khác biệt so với dịch vụ khách hàng hay phục vụ

thông thường. Chúng ta có thể nhận thấy được điều đó qua bảng giải thích ý nghĩa

của Omotenashi dưới đây.

7 t -

Manners

Í7*fÉ;í

t f - f c ' 3 s* i Service » ¿V a-ti:* .*

I3ÌT81/ rt.r8ŨẽT*B r* jẻ w ĩ* fc ĩă

* 3 f c ? ' j T < SS H o sp itality aã.ftfc'Éii í » l ' Ì T 8 l /

ãấ*

7 f > lẫH ospics ( * 3 £ 3 ) m rsA9f0)i3Sj

7 T > S m a n u s (7 2 3 ) 8n*rạj

■5T>íẫservitus ( t l l / Í N ỹ 3 ) rax»j 8 »

® 8 -3 T * T * / £ á V r a ũ a i r ô @11881/ » a © 8 I ' í * j r « r a c t

I I

xa s a m an u alf7 — J ? ) H s a h o sp itain SK l h o s p ic e r J ft3 k 3 j

s la v e ílS 8 J s e rv a n tlB íỉlV l

HtKtt

± a a « tt8ố

ì S t t » ttatãiMtii 8 ttV ã a © « 8 - iO£CLJÍ)£>

Ả f5 W £ ễriK ± T ' atU ĨtllQ M t

15 H

£ 0 Ả £ tt

i c r »

¿ Ó Ả m ì ( D Ả t ) {W ± i m z b <ừ$Ra

H ình 1.6. B ảng giải thích ý nghĩa từ "Omotenashi" [14]

H o sp ĩta lĩty

O m oten ashi

M anners

S e rv ice

(L ò n g h iêu k h ách , s ự t iê p

S ự tiêp đ ón , ch àm só c

(H ành v i / N g h i thức x ã giao)

(P h ụ c vụ )

đ ó n n ô n g h ậu)

T ừ lịc h sự cù a “M o ten a sh Y

1. S ừ dụng đ ỏ vật đ ẻ hoàn

T iên g Latrnh

M anus

T iê n g L atin h S ervitus

T iên g L atinh

H o sp ic e

thành m ộ t v iệ c

K h ó i

2 . T iẻ p x ú c b ăn g trái tim

n gu òn

trung thự c, k h ô n g c ó

Y n g h ĩa

T ay

Y n g h ĩa

N ỏ lệ

Y n g h ĩa

B ả o v ệ khách

m ật sau

T iê n g A n h

M anual

Servant

H o sp ital

C hủ - K h ách b in h đãng

Q uan h ệ p h ụ c tùng

C hủ - K h ách b ìn h đàng

C ơ sơ c ủ a m ò i quan h ệ g iừ a

K h ô n g y ê u c âu lợ i ích

Q uan hệ

Phát sin h khái n iệm v ê

K h ô n g y ê u câu lợ i ích

n g ư ờ i v ơ i n g ư ờ i

T â m thế, tinh că m củ a

g iá trị, lợ i íc h

C hăm só c n g ư ờ i khác

b ẽn thục h iện

C h i tại th ờ i đ iẻm n ày, ch i

tại h o à n cá n h n ày, c h i đ ỏ i

L à n h ù ng từ n gữ , n g h i thức

B át k è k h i n ào

C h i tại th ờ i đ iê m n ày

v ó i n g ư ờ i n à y

tót đ ẹp khi c o n n g ư ờ i đang

T ín h chât

ở đ â u

C hi tại h oàn cán h n ày

K ẽ c ả k h i k h ôn g c ó n gư ờ i

sõ n g , v à k h ô n g tạo căm giác

VỚI a i

C hi đ ò i v ó i n g ư ờ i này

đ ó ỏr đày, vâ n quan tâm v à

k h ó c h ịu v ớ i nhau

tạo c h o h ọ sự cá m đ ộ n g v à

cám giác khác nhau

H ình 1.7. Diễn giải B ảng giải thích ý nghĩa từ "O m otenashi"

Từ "Manners" - mang nghĩa là hành vi, nghi thức xã giao; là sự kết hợp của

từ Manus trong tiếng Latinh có nghĩa là tay và từ "Manual" trong tiếng Anh có

nghĩa là sổ tay. "Manners" chính là quy tắc tối thiểu để không gây khó chịu cho

người khác, là cơ sở của mối quan hệ giữa người với người. "Manners" chính là

từ ngữ mang tính chất tốt đẹp khi con người đang sống chung với nhau và không

tạo cảm giác khó chịu cho mọi người xung quanh.

Từ "Service" có nghĩa là phục vụ, dịch vụ; là sự kết hợp của từ "Servant"

trong tiếng Anh mang ý nghĩa người phục vụ và từ "Servitus" trong tiếng Latinh

và có nghĩa là nô lệ. Chính vì "Service" có nguồn gốc là từ nô lệ, nên đồng nghĩa

với bên phía nhận được sự phục vụ (khách hàng) là đối tượng chính và ở cấp cao

hơn. Ngược lại, bên phục vụ khách hàng sẽ ở cấp thấp hơn (người phục vụ). Đây

chính là quan hệ phục tùng, bắt đầu phát sinh các khái niệm về giá trị và lợi ích.

Tính chất của từ này là bất kể khi nào, bất cứ ở đâu và đối với bất kì ai; nếu đã

giữ vai trò là người phục vụ hoặc làm dịch vụ, người đó sẽ thực hiện sự phục tùng

đối với người được nhận được sự phục vụ hay dịch vụ.

Từ "Hospitality" mang nghĩa là lòng hiếu khách, sự tiếp đón nồng hậu; từ

này được kết hợp từ "Hospital" có ý nghĩa là bệnh viện trong tiếng Anh và từ

"Hospice" trong tiếng Latinh có nghĩa là bảo vệ khách. "Hospitality" thể hiện mối

quan hệ chủ - khách bình đẳng, không yêu cầu lợi ích với mục đích là chăm sóc

người khác. Tính chất mà nó thể hiện chính là chỉ tại thời điểm này, chỉ hoàn cảnh

này, người đứng trên cương vị là chủ sẽ chỉ quan tâm, chăm sóc khách của mình.

Tinh thần "Omotenashi" một bước đi xa hơn từ dịch vụ, thể hiện lòng hiếu

khách riêng lẻ đối với mỗi khách hàng. Omotenashi là sự tiếp đón, chăm sóc từ

trái tim. Không chỉ tại thời điểm này, chỉ trong hoàn cảnh này, chỉ đối với người

này mà kể cả khi không có họ ở đây thì người mang trong mình tinh thần phục vụ

Omotenashi vẫn quan tâm và tạo cho họ sự cảm động và cảm giác vui vẻ bằng

___

r

~\

nhiều cách khác nhau.

H ình 1.8. Tiếp đón khách hàng băng cả trái tim [15]

H ình 1.9. Kim tự tháp thể hiện Lòng hiếu khách [14]

Omotenashi

Phục vụ băng cả trái tim với mong muôn đem niêm vui đên cho môi khách hàng.

Cao

Phục vụ vói lòng hiêu khách và ý thức vê nhu câu cũa từng khách hàng riêng biệt

Hospitality (lòng hiêu khách)

qua 11

tâm ,

lưu ý

Service (phục vụ)

Có tiêu chuân, quy trình phục vụ rõ ràng và thông nhât cho mọi khách hàng

:i

Manner (hành vi, nghi thức xã giao)

CÓ hành vi, thái độ đúng với khách hàng.

Moral (quy tăc)

Không vi phạm các quy tãc đạo đức.

r

_

“7

H ình 1.10. Diễn giải Kim tự tháp thê hiện Lòng hiêu khách

"Omotenashi" là bậc cao nhất trong tất cả các yếu tố: Moral, Manner,

Service, Hospitality4. Không chỉ dừng lại ở việc phục vụ người khác mà không vi

phạm các quy tắc đạo đức; có hành vi, thái độ đúng mực; có tiêu chuẩn, quy trình

phục vụ rõ ràng và thống nhất cho mọi khách hàng; phục vụ với lòng hiếu khách

và ý thức về nhu cầu của từng khách hàng riêng biệt mà phục vụ bằng cả trái tim

với mong muốn đem niềm vui đến cho mỗi khách hàng mà mình phục vụ, luôn

luôn nghĩ về cách khiến khách hàng sẽ hài lòng hoặc cảm thấy hài lòng.

Nếu dùng những từ ngữ còn lại để diễn tả ý nghĩa thì sẽ không bao hàm

được trọn vẹn ý nghĩa của "Omotenashi". Nó là một từ ngữ thuần Nhật, xuất phát

từ Nhật và được đất nước này biến thành thương hiệu, để rồi mỗi lần nhắc đến

"Omotenashi", người ta sẽ nghĩ ngay đến Nhật Bản.

Tóm lại: "Omotenashi" nghĩa là đón tiếp khách hàng bằng cả tấm lòng. Đó

là sự quan tâm và những hành động giúp khách hàng cảm thấy thoải mái, vui vẻ.

"Omotenashi" là phục khách hàng bằng cả trái tim, với sự sáng tạo, quan tâm sâu

sắc đến nhu cầu của từng khách hàng, vượt trên cả sự kỳ vọng của khách hàng và

làm cho khách hàng phải ngạc nhiên, cảm động.

Với ý nghĩa sâu sắc là nhân văn hơn, "Omotenashi" chính là nét văn hóa

đáng quý trong chuẩn mực ứng xử của con người Nhật Bản. Nét văn hóa ấy được

hình thành, phát triển từng ngày và thấm nhuần vào từng hành động của con người

xứ sở hoa anh đào. Nó đã trở thành chuẩn mực đạo đức. Phục vụ mọi người bằng

trọn con tim, bằng cả tấm lòng chân thành mà không mưu lợi, không tính toán.

1 .3 . N g u ồ n g ố c c ủ a v ă n h ó a O m o t e n a s h i

4 Quy tắc; Hành vi, nghi thức xã giao; Phục vụ; Lòng hiếu khách, sự tiếp đón nồng hậu

"Theo giáo sư Isao Kumakura, giáo sư danh dự tại Viện nghiên cứu của

Bảo tàng Quốc gia dân tộc học Osaka, phần lớn phép tắc của người Nhật bắt nguồn

từ các nghi lễ trang trọng trong tiệc trà và võ thuật." [68]

Trong tiệc trà, chủ tiệc cố gắng hết sức để tạo không khí giúp khách thư

giãn, thoái mái. Chủ nhà tỉ mỉ chuẩn bị trong việc chọn kiểu các dụng cụ trong

tiệc trà, hoa, bánh và cách trang trí thích hợp nhất để khách thưởng trà có được

những giây phút yên bình tuyệt vời mà không mong mỏi được đáp lại.

Về phía khách mời, họ nhận thức rõ nỗ lực của chủ nhà và đáp lại nỗ lực

ấy bằng thái độ tôn trọng.

Cả chủ và khách tạo ra môi trường hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau, theo niềm

tin rằng việc tốt cho cộng đồng thì quan trọng hơn là nhu cầu cá nhân của mình.

r

~\

Đây chính là cốt lõi của tinh thần Omotenashi.

H ình 1.11. Omotenashi băt nguồn từ tiệc trà [16]

Tương tự, Omotenashi cũng bắt nguồn từ sự lịch sự và lòng trắc ẩn - giá trị

cốt lõi của Bushido - nguyên tắc của các Samurai. Các nguyên tắc này đề cao danh

dự, kỷ luật và đạo đức, cũng như cách làm đúng mọi thứ.

Quy tắc này dựa trên thiền của Bushido yêu cầu một người biết kiểm soát

cảm xúc, tĩnh tâm và tôn trọng người khác, kể cả kẻ thù. Bushido trở thành nguyên

_

r

>

_

tắc chung cho xã hội.

H ình 1.12. Omotenashi băt nguồn từ võ thuật [16]

C H Ư Ơ N G 2: O M O T E N A S H I T R O N G Đ Ờ I S Ố N G X Ã H Ộ I V À C Á

N H Â N C Ủ A N G Ư Ờ I N H Ậ T B Ả N

"Omotenashi" tồn tại khắp mọi ngõ ngách, len lõi vào từng góc nhỏ của đời

sống Nhật. Nếu tinh ý, chúng ta có thể cảm nhận được, văn hóa này hiện hữu một

cách vô thức trong cách ứng xử của người dân xứ sở hoa anh đào. Họ cư xử chuẩn

mực như một thói quen mà không biết rằng: điều họ đang thực hiện làm cả thế

giới phải thán phục và ngưỡng mộ.

Tinh thần này không chỉ được thể hiện trong môi trường xã hội mà đời sống

cá nhân của mỗi người dân đất nước Phù Tang cũng toát lên sự hiếu khách, tấm

lòng chân thành và tận tâm.

Khách hàng của mỗi con người xứ sở hoa anh đào không chỉ là những người

trao đổi dịch vụ bằng tiền bạc vật chất mà chính là đồng bào, là hàng xóm, láng

giềng, là những người sống xung quanh họ và là người thân trong gia đình.

2 .1 . Đ ờ i s ố n g x ã h ộ i

2 .1 .1 . T a x i

Hình ảnh những chiếc taxi tại Nhật có lẽ là hình ảnh mà chúng ta dễ dàng

bắt gặp nhất, đây là một ví dụ rất điển hình về tinh thần "Omotenashi".

"Những người tài xế taxi luôn cúi chào khách một cách lịch sự, họ không

cầm tiền từ khách mà luôn có khay đựng tiền. Hơn nữa, tài xế luôn mặc áo sơ mi

sơ vin phẳng phiu (màu trắng hoặc xanh dương) và tay đeo găng tay. Trang phục

chỉn chu không chỉ tôn trọng mình mà còn thể hiện sự tôn trọng người khác. Với

trang phục chuẩn, tác phong gọn gàng, hành khách khi đi taxi tại Nhật sẽ có cảm

nhận mình được tôn trọng. Ngoài ra, với thái độ thân thiện, hành khách sẽ thấy

thoải mái cũng như an tâm về chuyến đi của mình." [17]

Một điều đặc biệt nữa là tài xế taxi rất đàng hoàng, công khai với khách.

Khách sẽ được hỏi đi từ đâu đến đâu, sau đó tài xế lập tức nhẩm xem khách sẽ tốn

khoảng bao nhiêu tiền và thường sẽ khuyên khách đi tàu điện ngầm cho tiết kiệm.

Thậm chí, có những tài xế còn chở khách đến và hướng dẫn khách vào quầy hỏi

thông tin ở ga tàu điện.

Tại sao họ lại không chở khách đi hết chuyến đường mà lại chở khách đến

tàu điện ngầm gần nhất? Khi tìm hiểu về lí do, tôi đã rất ngạc nhiên và cảm thấy

khâm phục tấm lòng suy nghĩ cho hành khách của họ. Vì giá cước taxi ở Nhật rất

cao nên họ mong muốn tiết kiệm được chi phí cho khách hàng của mình chứ

không nghĩ đến việc để khách phải trả chi phí cao cho dịch vụ taxi mà họ đảm

nhận.

"Ngoài ra, những tài xế taxi không tham của khách dù một đồng. Khi đi taxi

mà con số cuối cùng là gần chẵn, ví dụ khoảng 998 yên, nếu khách đưa 1000 yên

tức là tiền thừa phải trả lại chỉ 2 yên (tương đương khoảng 400 đồng Việt Nam),

thì thường là khách sẽ bỏ qua con số đó hoặc thậm chí tài xế nhiều nơi cố tình lờ

đi không trả lại khách. Tuy nhiên, tài xế taxi ở Nhật sẽ bằng mọi cách trả lại cho

khách chứ không nhận thêm dù chỉ một đồng." [17]

Trong nhiều trường hợp, dù còn khoảng 100 - 200 mét nữa mới đến địa điểm

mà khách yêu cầu nhưng đồng hồ tính cước taxi đã lên mức chẵn, ví dụ khoảng

1000, 2000 yên thì tài xế sẽ tự động ngắt đồng hồ để không tính thêm tiền của

khách.

Tuy số tiền đó rất nhỏ, không đáng là bao, nhưng chúng ta có thể nhận thấy

một điều rằng: Tinh thần Omotenashi nơi những tài xế bình dị là vô cùng cao. Họ

quan tâm đến khách hàng bằng cả tấm lòng, vượt trên cả sự mong đợi của khách

hàng, mang lại cho khách hàng dịch vụ tốt nhất và cùng với đó là niềm vui dù chỉ

một chút.

Một điều đặc biệt nữa là: Tài xế sẽ không chấp nhận chở quá số người quy

định. "Chưa có ai có thể thuyết phục tài xế taxi ở Nhật để đi quá số người. Nếu

chỉ thừa thêm một người thôi thì cũng sẽ phải chuyển sang xe khác... Suy nghĩ

đảm bảo an toàn tuyệt đối cho khách chính là văn hóa "Omotenashi" của người

Nhật." [17]

Omotanashi trong dịch vụ taxi không dừng ở những người tài xế tận tâm.

Người Nhật còn đưa hẳn tinh thần phục vụ này vào máy móc mà ở đây chính là

cánh cửa taxi mở tự động.

Khách không cần tự đóng - mở cửa vì khi xe dừng, tài xế sẽ ấn nút hoặc gạt

cần để cửa mở, khách hàng chỉ việc lên xe và bỏ đồ vào cốp xe (nếu có). Khi

khách đã yên vị trên xe, tài xế sẽ gạt nút đóng cửa lần nữa. Nếu đi 1 - 2 khách,

taxi mặc định mở cửa sau để khách ngồi phía sau. Đi từ 3 người trở lên sẽ dùng

thêm ghế trước.

H ình 2.1. Taxi có cảnh cửa m ở tự động [18]

Với kiểu đóng - mở cửa tự động như thế này, khách có thể thoải mái mang

đồ mà không bận tâm đến việc tự mở cửa, đồng thời đảm bảo an toàn cho cả tài

xế và khách.

2.1.2. Ghế có chỗ treo túi

Từ trong những phát minh, sáng kiến nhỏ nhất, người Nhật Bản vẫn luôn

đặt cái tâm của mình vào trong đó và chứng minh cho mọi người thấy chỉ cần là

thứ mình muốn thì chẳng có gì là không thể.

Ví dụ, người Nhật đã tạo ra một chiếc ghế có chỗ treo túi được thiết kế đơn

giản nhưng lại vô cùng tiện lợi đối với phụ nữ. Khi ngồi xuống ghế mà không có

chỗ để túi, phụ nữ luôn phải để trên người, sau lưng hay để xuống đất gây ra sự

bất tiện. Một vài người để sau ghế những nó vẫn dễ dàng bị rơi. Và một trong

những điều khiến mọi người cảm thấy bực mình nhất khi ra ngoài hẹn hò là cứ

phải ôm khư khư chiếc túi nếu không muốn nó bị rớt liên tục. Suy nghĩ đến vấn

đề khó chịu này, người Nhật Bản đã giải quyết bằng cách sáng tạo nên chiếc ghế

có rãnh ở phần lưng, một phát minh cực kỳ đơn giản nhưng lại mang đến hiệu quả

bất ngờ.

H ình 2.2. G hế có chỗ treo túi [18]

Với chiếc ghế này, mọi người có thể treo chiếc túi của mình một cách chắc

chắn và an tâm để có thể gặp gỡ người khác hay đơn giản chỉ ngồi nghỉ ngơi mà

không phải bận tâm đến chiếc túi của mình; không phải kệ nệ hay giữ nó khư khư

trên tay, hoặc cảm thấy vướng víu khi để trên mình. Nhờ có chiếc ghế tiện dụng

này, người sử dụng sẽ có cảm giác thoải mái hơn và cảm thấy vui vẻ trong cuộc

hẹn.

Chúng ta có thể thấy, Người Nhật suy nghĩ từng vấn đề tỉ mỉ đến lạ lùng,

cách giải quyết của họ vô cùng hiệu quả và nhân văn. Tôi tự hỏi, liệu người phát

minh ra chiếc ghế có chỗ treo túi nhận lại được gì khi mọi người sử dụng nó? Có

phải là tiền cho ý tưởng phát minh ra sản phẩm chăng hay chỉ đơn giản là được

mọi người biết đến? Và rồi tôi đã tìm ra câu trả lời. Điều mà họ nhận lại được,

chính là sự thoải mái của người sử dụng; niềm vui của họ chính là mang lại niềm

vui, lợi ích cho người khác và đóng góp được điều gì đó tốt đẹp cho cộng đồng.

Thế giới ngưỡng mộ người Nhật ở sự kiên cường, cần cù và trung tín. Còn tôi, tôi

ngưỡng mộ tấm lòng của họ - tấm lòng suy nghĩ cho mọi người.

2.1.3. Nhà vệ sinh công cộng

Chắc hẳn chúng ta không còn xa lạ gì khi nghe đến sự sạch sẽ đáng kinh

ngạc của các nhà vệ sinh công cộng tại Nhật Bản. Nhiều người còn nói đùa rằng:

Nhà vệ sinh công cộng Nhật sạch đến mức có thể vào trong đó thư giản nghỉ ngơi

và thậm chí là ngủ. Lí do nó sạch được như vậy chính là:

- Thứ nhất, luôn có người kiểm tra nhà vệ sinh thường xuyên

Khi bước vào bất kì toilet công cộng nào, chúng ta sẽ bắt gặp "Phiếu kiểm

tra toilet" treo gần cửa ra vào. Trên đó có ghi rõ ca trực và nhiệm vụ của các nhân

viên vệ sinh như châm thêm giấy, xịt phòng, kiểm tra vệ sinh toilet,... Điều đặc

biệt là các ca trực rất gần nhau, có nơi cách 1 tiếng, thậm chí có nơi chỉ cách 30

phút. Có lẽ chính nhờ tần suất kiểm tra thường xuyên đã khiến cho nhà vệ sinh

công cộng ở Nhật Bản luôn giữ được trạng thái sạch sẽ, vệ sinh.

H ình 2.3. L uôn có người kiểm tra nhà vệ sinh thường xuyên [19]

- Thứ hai: Ý thức cao độ nghĩ đến lợi ích chung của tập thể, cộng đồng

Như chúng ta đều biết người Nhật có một nét đẹp văn hóa ứng xử là "Nghĩ

cho người tiếp theo. Họ không có quan điểm: Có lợi bản thân là được. Không phải

ngẫu nhiên mà toilet tại Nhật được đánh giá là sạch nhất thế giới, vì không chỉ

nhờ việc các nhân viên lau dọn, kiểm tra thường xuyên mà mỗi người dân ở Nhật

họ luôn có ý thức rằng mình cần giữ sạch sẽ để người tiếp theo sẵn sàng sử dụng."

[19]

Một điều ngạc nhiên nữa là nhà vệ sinh của Nhật sử dụng bồn cầu tích hợp

nhiều chức năng vô cùng tiện lợi. Hình ảnh này khiến chúng ta hiểu rõ hơn việc

máy móc cũng được trang bị tinh thần Omotenashi như thế nào.

Chiếc bồn cầu này ngoài chức năng truyền thống còn được trang bị thêm

chức năng hỗ trợ người khuyết tật, tự vệ sinh và tự làm ấm. Đây là thiết bị được

xem như là niềm tự hào của Nhật Bản và là sản phẩm được yêu thích tại nhiều

quốc gia trên thế giới.

H ình 2.4. B ồn câu tích hợp nhiều chức năng vô cùng tiện lợi và

"O m otenashi" [18]

"Các nhà vệ sinh tại Nhật được thiết kế đa năng, không chỉ phục vụ chức

năng cơ bản mà chúng còn được thiết kế để phục vụ con người gần như mọi thứ.

Có hàng chục nút bấm chức năng trên bồn cầu mà chúng ta có lẽ không thể biết

hết nếu không có hướng dẫn sử dụng. Chúng đều có thể tự mở, tự đóng, tự dội

nước, có âm nhạc cho chúng ta thư giãn khi đang giải quyết và thậm chí nếu chúng

ta quên đóng nắp thì cũng có thể điều khiển từ xa qua phần mềm cài đặt trên điện

thoại của mình. Ngoài ra, nó còn có các dữ liệu phân tích tình trạng chất thải của

cơ thể giúp chúng ta biết được tình trạng sức khoẻ của dạ dày và có chế độ ăn

uống hợp lí hơn. " [20]

Người Nhật nghĩ đến nhu cầu cơ bản nhất của con người, từ người bình

thường cho đến người khuyết tật; từ những ngày hè oi bức cho đến ngày đông giá

rét. Khi sử dụng bồn cầu đa năng, người dùng đều cảm thấy thoải mái và tiện nghi,

không gặp bất cứ khó khăn hay e dè nào.

Từ vấn đề mà mỗi người đều cảm thấy e ngại khi nhắc đến, người Nhật lại

quan tâm và suy nghĩ rất cẩn thận và đưa ra những ý tưởng tuyệt vời. Có thể nói,

với Nhật Bản, tinh thần phục vụ không cần phải là những điều lớn lao mà đến từ

những điều nhỏ nhặt nhất. Quả thật, không phải quốc gia nào cũng có thể làm

được như đất nước mặt trời mọc này.

2.1.4. Con đường p h át ra tiếng nhạc

Việc lái xe đường dài khiến các tài xế thường rơi vào tình trạng mệt mỏi và

căng thẳng, vì thế người Nhật đã nảy ra ý tưởng tạo ra những con đường tràn ngập

bản nhạc êm ái để khi đi qua một số con đường, tài xế sẽ được nghe những giai

điệu nhẹ nhàng, du dương, giúp họ được thư giản và giải trí sau những chuyến đi

dài để lấy lại tâm trạng hứng khởi cho mình. Điều này vừa mang lại lợi ích cho

người lái xe, vừa tránh được tình trạng tài xế ngủ gục hay căng thẳng quá mức

gây tai nạn giao thông.

H ình 2.5. Ký hiệu báo cho tài x ế biết sắp đi vào “con đường âm nhạc" [17]

Con đường giai điệu (Melody Road) ở Nhật Bản là một đoạn đường mà khi

chúng ta lái xe qua đấy, những rung động và âm thanh ầm ầm sẽ truyền qua bánh

xe vào thân xe thành một giai điệu nào đó. Con đường độc đáo này có những vết

cắt trên bề mặt được sắp xếp theo khoảng cách nhất định và có độ nông sâu khác

nhau. Khi một chiếc xe di chuyển qua các khe rãnh này thì các nốt nhạc sẽ phát

ra, tạo thành những giai điệu riêng.

"Ý tưởng về con đường giai điệu này được hình thành khi ông Shizuo

Shinoda vô tình cạo một số đường rãnh vào một con đường bằng một xe ủi đất và

lái xe qua chúng, và nhận ra rằng nó đã có thể tạo ra những giai điệu tùy thuộc

vào độ sâu và khoảng cách của các rãnh." [21]

"Năm 2007, Viện nghiên cứu Công nghiệp Quốc gia Hokkaido đã dựa vào

phát hiện của Shinoda để tạo ra các con đường Melody. Họ đã tạo ra các rãnh trên

mặt đường bê tông và nhận thấy rằng các rãnh gần nhau có âm độ cao hơn, trong

khi rãnh được đặt cách nhau xa nhau tạo ra âm thanh thấp hơn." [21]

H ình 2.6. Thiết k ế rãnh trên m ặt đường [22]

"Các con đường làm việc bằng cách tạo ra các trình tự của rãnh có độ rộng

6mm và 12mm để tạo ra rung động cụ thể ở tần số thấp và cao. Và điều đặc biệt

là vỉa hè được thiết kế để các bài hát được nghe chỉ khi một chiếc xe lái ở khoảng

40 đến 47 km/h cũng như đảm bảo hướng gió, động cơ, tiếng ồn của bánh xe ở

mức tối thiểu. Điều này giúp cho việc điều khiển, quan sát giới hạn tốc độ, khuyến

khích người lái xe luôn đi ở tốc độ an toàn." [21]

Có lẽ chỉ duy nhất ở xứ sở hoa anh đào mới có những phát minh về con

đường bật lên âm thanh hòa tấu cùng tiếng chuyển động của bánh xe. Nếu muốn

thưởng thức âm thanh tuyệt vời này chúng ta có thể đến con đường giai điệu hiện

được xây dựng tại Hokkaido, Wakayama và Gunma.

2.1.5. Lon nước có in chữ nổi

Với những người khiếm thị, nhận biết những lon nước nước thuộc hãng hay

loại nào là một vấn đề vô cùng khó khăn. Vì đôi khi những nhãn hiệu khác nhau

lại có hình dáng vỏ lon tương tự. Việc nhận biết nhãn hiệu đối với người bình

thường có lúc còn gây nhầm lẫn, do đó những người khiếm thị vất vả trong việc

phân biệt là điều đương nhiên.

H ình 2.7. L on nước có in chữ nổi [23]

Nhận thấy sự khó khăn này, người Nhật Bản đã cho thấy sự sáng tạo vô bờ

bến của mình bằng cách in chữ nổi lên các nắp lon nước. Khi đó, người khiếm thị

chỉ cần sờ vào nắp lon là sẽ biết được đây có phải là loại nước uống mình muốn

không. Điều này đã thể hiện sự tinh tế của người Nhật và tinh thần "Omotenashi"

của Nhật rất rõ ràng.

Người Nhật quan tâm đến cả những điều nhỏ nhặt nhất dành cho đồng bào

mình. Họ hiểu rằng dù khiếm thị nhưng ai cũng muốn biết mình đang cầm thứ đồ

uống gì trên tay. Đó là lý do tại sao đến Nhật Bản, chúng ta sẽ không tìm thấy bất

cứ một lon nước nào không in chữ nổi trên nắp lon.

2.1.6. Hệ thống thang máy dành cho người khuyết tậ t và đường có vạch

kẻ dành cho người khiếm thị

Việc đi lại đối với một người khuyết tật là điều vô cùng khó khăn, nhất là

khi sử dụng cầu thang. Vì vậy, ở mỗi hệ thống thang máy công cộng của Nhật

Bản đa số đều có thang máy riêng dành cho người khuyết tật. Đây là một công

trình xã hội mang tinh thần tử tế - tinh thần Omotenashi.

Tuy nhiên, sự tử tế của người Nhật không dừng lại tại đó, trong mỗi bảng

hướng dẫn thang máy đều có in chữ nổi để người khiếm thị có thể đọc được ở

phía dưới.

H ình 2.8. B ảng hướng dẫn thang máy có in ch ữ nổi

Không chỉ người tàn tật cảm thấy thuận tiện khi sử dụng thang máy mà

người khiếm thị cũng có thể sử dụng dễ dàng khi không có người khác đi bên

cạnh giúp đỡ. Với cách in chữ nổi này, mỗi lần đi thang máy sẽ không còn là nổi

ám ảnh đối với người khiếm thị. Họ sẽ tự giải quyết được vấn đề của mình và cảm

thấy bản thân mình vẫn vượt qua được điều khó khăn. Chắc chắn họ sẽ cảm thấy

vui vẻ và tràn đầy nghị lực sống.

Một hình ảnh mang tinh thần "Omotenashi" nữa chính là đường có vạch kẻ

nổi dành cho người khiếm thị. Khi đi bộ trên đường, người khiếm thị có thể đi

theo vạch kẻ nổi này để đến được nơi mình muốn. Họ có thể xác định được vị trí

mà mình đang đứng và hướng mình định đi mà không sợ bị lạc.

H ình 2.9. Đ ường có vạch k ẻ dành cho người khiếm thị

Dạng que dài được xếp liền nhau, điều đó có ý nghĩa là tiến về phía trước

hay phía sau đều được. Còn khi gặp dạng bề mặt bi tròn, đó là điểm dừng, thể hiện

ý nghĩa có ngã ba hay ngã tư.

Qua những hình ảnh trên, chúng ta có thể thấy được văn hóa "Omotenashi"

không chỉ được sử dụng cho việc chăm sóc khách hàng mà nó còn hiện hữu trong

cách người Nhật suy nghĩ cho người dân nước họ. Mỗi công trình công cộng và

an ninh xã hội mà họ làm đều mang tấm lòng quan tâm sâu sắc đến từng vấn đề

và nhu cầu của người khác, kể cả nhu cầu riêng biệt. Từ vấn đề phổ thông với nhu

cầu sử dụng của một người lành lặn bình thường cho đến một con người khuyết

tật.

2.1.7. Nụ cười thân thiện cùng với lời cảm ơn chân thành

Khi đặt chân đến một quán ăn nhỏ, một siêu thị tiện lợi, nhà sách, hay cả

lên xe bus... thì câu chào, cảm ơn, tạm biệt luôn thường trực trên môi ở dạng kính

ngữ của các nhân viên và đi cùng với đó là một nụ cười thân thiện, chân thành.

Điều này khiến cho khách hàng cảm thấy nhận được sự tiếp đón nồng hậu, ấm áp

và sự quan tâm của các nhân viên sẽ ngay từ giây phút khách bước vào. Đó chính

là nét thú vị không lẫn vào đâu được của phong cách Nhật, hay cũng chính là

"Omotenashi".

H ình 2.10. N ụ cười thân thiện của nhân viên [24]

Một nụ cười thân thiện sẽ tạo cảm giác gần gũi và vui vẻ cho khách hàng.

Dù là cửa hàng lớn hay nhỏ, bình dân hay sang trọng; chúng ta vẫn sẽ bắt gặp hình

ảnh nhân viên luôn tươi cười với khách. "Không ai giàu đến nổi không cần một

nụ cười cũng như không ai nghèo đến nổi không thể cho một nụ cười". Nụ cười

là miễn phí. Tuy nhiên, nếu nụ cười xuất phát từ con tim, nhằm mong muốn mang

lại sự ấm áp cho người khác thì nó trở thành vô giá.

Dù khách hàng có mua sản phẩm nào hay không hay chỉ đơn giản là đi tham

quan thì mọi nhân viên đều cảm ơn khách lúc khách ra về. Lời cảm ơn có giá trị

hơn rất nhiều so với những gì khách hàng cảm nhận được. Để có được điều quý

giá ấy thì nhân viên phải cố gắng làm tốt công việc của mình, trăn trở khi làm sai

và quan tâm chân thành tới mỗi khách hàng.

Chỉ một hành động đơn giản là nở nụ cười và lời cảm ơn xuất phát từ con

tim cũng thể hiện giá trị văn hóa "Omotenashi" một cách tuyệt vời.

2.1.8. N hững cái cúi đầu trâ n trọng

Đối với người Nhật, cúi đầu chào là biểu hiện của sự chào đón và tôn trọng.

Cái nghiêng mình là hình ảnh quen thuộc khi người Nhật chào khách. Ở đất nước

mặt trời mọc, hình ảnh nghiêng gập người cúi chào thể hiện cả một nền văn hóa

Nhật Bản: Cúi nhưng không hạ mình. Sự nhún nhường chỉ làm tăng thêm sự nể

trọng của người đối diện đối với họ.

Nhân viên trong cửa hiệu và nhà hàng sẽ đón khách hàng với một cái cúi

đầu và câu chào nồng nhiệt. Và khi khách rời cửa hàng, thường thì họ sẽ đứng ở

cửa và cúi đầu chào cho tới khi khách hàng đi khỏi.

Trong nhiều trường hợp, dù khách hàng đang vội vã vì công việc và có vẻ

như không chú ý đến cử chỉ của nhân viên thì nhân viên Nhật Bản vẫn dừng lại

và gập người cúi đầu chào khách. Chắc chắn, sự tôn trọng mà họ dành cho khách

sẽ chạm tới trái tim. Khách sẽ tiếp tục bước đi với công việc bộn bề nhưng nét

mặt thể hiện sự hài lòng và vui vẻ.

"Trên các chuyến bay của hãng hàng không Japan Airlines, nụ cười luôn

nở trên môi các tiếp viên. Họ sẵn sàng ngồi, chính xác là "quỳ xuống", giúp khách

sửa tư thế của đôi chân tê mỏi. Họ niềm nở, vui vẻ tiếp nhận yêu cầu của hành

khách khó tính nhất. Không phải chất lượng máy bay khiến hành khách hài lòng

mà chính cách phục vụ của tiếp viên khiến mọi người nghĩ tốt về người Nhật. Chỉ

vài phút khởi hành muộn, toàn bộ nhân viên phục vụ mặt đất và tiếp viên, phi

công dàn thành hàng ngang, cúi rạp người xin lỗi khách." [25]

H ình 2.11. Cúi gập người chào khách [9]

"Đến với thương xá Nihonbashi thành lập từ 1831 tại T okyo và thử đi thang

máy tại đây. Khách sẽ cảm nhận được sự tận tình và lịch thiệp của nhân viên. Việc

sử dụng thang máy như hoạt động thông thường, thậm chí đôi khi còn gây ít nhiều

khó chịu, bất ngờ trở thành một nếp văn hóa thú vị và đáng mong chờ. Khi khách

tiến tới trước cửa thang máy, một nữ tiếp viên ăn mặc lịch thiệp, với bộ đồng phục

đậm chất thập niên 60 (bao gồm đủ bộ áo khoác, váy ngắn, găng tay, giày gót thấp,

mũ đội lệch) chào đón khách với cái cúi đầu trang nhã và chuỗi lời chào mừng

không một lần dừng nghỉ khi cô ấn nút "gọi thang", phần cánh tay và cẳng tay tạo

góc 90 độ chuẩn xác. Khi cửa thang máy mở ra, một nữ nhân viên khác - ăn mặc

giống như một nữ tiếp viên hàng không và thực hiện vai trò điều phối bên trong

thang máy - tiếp tục chào hỏi khách với hàng loạt cái cúi đầu và những lời chào

thân thiện. Khi khách bước vào bên trong, nữ điều phối chìa tay giữ cánh cửa,

trong khi nữ nhân viên đứng ngoài quay đầu hướng về khách, cúi đầu thật trang

trọng và giữ nguyên tư thế một cách hoàn hảo." [10]

H ình 2.12. N hân viên thang máy cúi chào khách [26]

Có thể đối với nhiều du khách, hành động đó là hơi quá hay họ xem cung

cách cúi chào và các cử chỉ tôn kính là thừa thãi - đi thang máy thì cần gì phải

quy củ đến vậy. Song, tất cả đều đem đến một thông điệp: Từ giây phút khách

hàng bước vào đây, mọi nhân viên đều tuyệt đối quan tâm tới khách. Những nhân

viên thật sự đã thành công khi để lại ấn tượng sâu sắc về một nước Nhật vô cùng

hiếu khách và nghệ thuật giao tiếp tuyệt vời.

Thêm một hình ảnh khiến thế giới ngưỡng mộ và vô cùng thích thú đó là

hình ảnh đội dọn vệ sinh thần tốc tàu Shinkansen.

"Đội dọn dẹp mặc đồng phục và cúi chào hành khách khi tàu Shinkansen

tới. Họ chào và cảm ơn hành khách xuống tàu, thu nhận rác từ khách ở một số

khoang. Các nhân viên xác nhận an toàn bằng cách chỉ về hướng cần thiết trước

khi lên tàu. Họ nhặt rác bên trong các khoang tàu và đổi hướng ghế. Sau đó, họ

mở các bàn gấp ra chùi sạch các vết bẩn, rồi lau cửa sổ một cách cẩn thận. Các

nhân viên còn phủi bụi ghế, kiểm tra xem trên ghế hay khoang hành lý phía trên

có đồ đạc gì bị bỏ quên hay không. Họ làm sạch sàn tàu bằng máy hút bụi và chổi.

Cuối cùng, các nhân viên thay tấm phủ lưng ghế. Nhà vệ sinh và phòng rửa tay

có nhân viên chuyên biệt dọn dẹp. Khi việc dọn dẹp kết thúc và tàu đã sẵn sàng

đón khách, họ xếp hàng trước tàu và cúi đầu chào. Những cái cúi chào của họ thể

hiện sự trân trọng và biết ơn với hành khách trên tàu." [27]

H ình 2.13. N hân viên dọn vệ sinh cúi đầu chào khách [28]

"Cúi đầu chào, cúi đầu cảm ơn, cúi đầu xin lỗi hoặc cúi đầu chỉ để thể hiện

rằng nhân viên biết đến sự hiện diện của khách. Đó là tinh hoa của dịch vụ khách

hàng vượt trên mọi quy chuẩn. Dù khách hàng đến từ nền văn hóa nào, dù khách

đang vui hay đang buồn, dù hài lòng hay phật ý thì họ cũng cảm nhận được trọn

vẹn sự chân thành của người phục vụ đối với họ. Nghệ thuật chính là cúi đầu

phụng sự để chất lượng dịch vụ vươn lên đến trời cao." [5, 134 - 135]

2.2. Đời sông cá nhân

Bên cạnh đời sống xã hội thể hiện tinh thần "Omotenashi" tuyệt vời thì đời

sống cá nhân của người Nhật cũng chứa đựng nét văn hóa đáng tự hào này.

"Có thể thấy thái độ đối với dịch vụ ở Nhật Bản không chỉ là sự thể hiện

của tính cách dân tộc. Đành rằng sự thỏa mãn và hài lòng của khách hàng chính

là kết quả cho tinh thần Omotenashi, giúp đem lại lợi nhuận hay thành tựu tốt cho

kinh doanh buôn bán. Thế nhưng, người Nhật còn xem "Omotenashi" là một cách

sống." [10]

"Nhiều người lớn lên với câu ngạn ngữ: "Sau khi ai đó làm điều gì tốt cho

chúng ta, chúng ta nên làm điều tốt với người khác. Tuy nhiên, nếu ai đó làm điều

xấu với chúng ta, chúng ta không nên làm thế với người khác." [29] Có lẽ chính

quan niệm này đã giúp người Nhật giữ lịch sự mọi lúc mọi nơi và luôn mong

muốn việc mình làm sẽ không gây phiền hà hoặc tốt hơn là sẽ mang lại lợi ích cho

mọi người.

Thói quen lịch sự xuất phát từ chính giáo dục, văn hóa và hình thành như

một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của người Nhật.

"Omotenashi" không đơn giản chỉ là cách đối xử tốt với khách du lịch, mà truyền

thống này còn ăn sâu vào tâm hồn người Nhật kể từ khi họ còn rất trẻ.

Người Nhật bệnh cảm, dù chỉ là cảm nhẹ thì cũng sẽ đeo khẩu trang để

tránh lây cho người xung quanh. Đêm tối khi đi bộ trên đường họ sẽ cố tình đi

tránh xa để không gây cảm giác khó chịu hay hoang mang cho người khác... Khi

một người nào đó chuẩn bị xây nhà, những người hàng xóm của họ sẽ tặng các túi

bột giặt với ý nghĩa giúp chủ nhà giặt sạch quần áo khi dính phải bụi bẩn bay ra

từ công trình.

H ình 2.14. H àng xóm tặng túi bột giặt trước kh i xây nhà [29]

Tất cả những điều đó cho thấy, "Omotenashi" ngay từ đầu không chỉ gói

gọn một nét tinh thần tốt đẹp mà còn là cả một văn hóa đáng được trân trọng và

học hỏi. Lối sống của người dân Nhật Bản không chỉ khiến người nước ngoài

nhạc nhiên, thích thú, mà còn khiến cho chính những người sống ở đây lâu năm

luôn cảm thấy vui vẻ. Nhiều người đã không ngần ngại khi gọi Nhật Bản là "quốc

gia lịch sự nhất thế giới".

Người Nhật rất quan trọng đến việc chào hỏi. Dù ở bất kỳ đâu và gặp bất kỳ ai,

họ đều mỉm cười, vừa tỏ thái độ khiêm nhu, vừa cúi nghiêng người để chào kính cẩn.

Hình ảnh nghiêng người cúi chào như vậy đã thể hiện một cách súc tích và thú vị về

cốt lõi văn hóa: Cúi đầu nhưng không hạ mình, khiêm nhu nhưng không hèn yếu. Một

thái độ văn hoá tôn nghiêm và lịch sự như thế càng làm tăng thêm sự nể trọng nơi

người đối diện. "Mọi người cúi đầu chào khi họ ngồi cạnh bạn trên xe bus, và chào

bạn một lần nữa khi họ đứng lên", Carmen Lagasca, một giáo viên người Tây Ban

Nha sống ở Nhật 9 năm cho biết. [30]

Nhiều khách du lịch chia sẻ điều tuyệt vời nhất khi họ được tiếp xúc với

lòng hiếu khách của người dân đất nước Phù Tang là cảm thấy vui vẻ hơn và cũng

thấy tính cách của mình trở nên mềm mại hơn. Do vậy, họ sẽ thấy vui lòng khi

nhặt được ví đánh rơi và giao cho cảnh sát, sẽ dễ dàng mỉm cười nhường đường

cho lái xe khác hay không xả rác nơi công cộng mà mang chúng về nhà...

"Khi bạn hỏi đường bất cứ người Nhật nào, họ sẽ không từ chối giúp đỡ

bạn. Nếu họ nói mà bạn không hiểu thì họ chỉ, nếu không chỉ thì họ sẽ dẫn đến

tận nơi. Từ đàn ông đến phụ nữ, từ học sinh đến người già, từ công nhân đến

người làm việc công sở ... Hỏi lên tàu nào, giờ nào, đi đường nào, làm thế nào,

như thế nào, là gì, cái gì, ở đ â u . Ở Nhật có nhiều thứ rất đắt. Có nhiều thứ đắt.

Có nhiều thứ rẻ. Có nhiều thứ rất rẻ. Và có nhiều thứ, người ta cho không. Đó

chính là tình cảm, là sự nhiệt tình, là sự giúp đỡ tận tâm, là lòng chân th à n h .. Ở

đâu cũng có người này người kia, đời bao gồm cả tốt và xấu như hai mặt của một

túi quần. Người thì bao gồm, tử tế và chưa tử tế hoặc là ít tử tế. Nhưng cho dù,

bạn có gặp người Nhật không tốt đi chăng nữa, thì người tốt vẫn quá đông." [2,

47 - 48]

Nước Nhật là một đất nước đứng lên thần kì từ đống tàn tích nát vụn của

chiến tranh. Khí hậu khắc nghiệt, thiên tai thì nhiều đến nổi người ta chẳng còn

sợ nữa. Con người là điều làm nên thay đổi. Với người Nhật, đại đa số, lịch sự là

một sự hiển nhiên. Trẻ em sinh ra ở Nhật từ rất nhỏ tuổi không được dạy là phải

trở thành một anh hùng, siêu sao, người giàu có, mà được hướng dẫn cách nuôi

dưỡng ước mơ, cách duy trì động lực cố gắng và các phép tắc lịch sự cơ bản để

phù hợp với chuẩn mực xã h ộ i . Người Nhật rất hay động viên, khích lệ nhau.

Đôi khi người Nhật nhận lời động viên ấy thấy áp lực, nhưng đa số họ lại biến nó

thành động lực để thể hiện lòng biết ơn.

Nhiều người không hiểu vì sao người Nhật xin lỗi và cảm ơn nhiều như thế.

Đấy có phải là một câu cửa miệng không. Thật sự, trong mỗi hoàn cảnh đều có ý

nghĩa riêng. Người Nhật trước khi vào thang máy sẽ nói xin lỗi và sau khi ra khỏi

thang máy sẽ nói cảm ơn. Họ nghĩ, vì họ khiến người vào trước thang máy phải

chờ, phải đợi dù chỉ một giây, và cảm ơn vì đã được "cho vào" và làm phiền mọi

người phải đợi một lần nữa để đi chung rồi tiếp tục làm phiền người vào trước ra

sau phải giữ nút mở thang máy. Với bản tính không làm phiền đến người khác,

muốn mọi người được thoải mái và mang nặng lòng biết ơn, xin lỗi và cảm ơn trở

thành câu nói ta thường được nghe nhất từ người Nhật.

Người Nhật nhặt được của rơi sẽ đem đến nộp cho cảnh sát. Hoặc nếu ai đó

làm rơi đồ ở nhà ga, họ có thể đến văn phòng nhà ga, miêu tả đồ vật của mình và

nhân viên ở đó sẽ trả lại cho họ dù cho đó chỉ là một chiếc ví rẻ tiền, một món đồ

nho nhỏ mà chúng ta nghĩ chắc chẳng ai thèm nhặt. Hoặc nếu là học sinh sinh

viên làm rớt đồ ở tòa nhà thư viện trường, họ có thể đến tủ kính bày đồ đánh rơi.

Chắc chắn họ sẽ tìm được đồ đã rơi của mình. Có thể chỉ là sách vở, sạc điện thoại,

bút chì, cục tẩy, chìa hóa, son, USB, thẻ các loại... thậm chí là cả dây buộc tóc

hay kẹp ghim chỉ khoảng hai nghìn đồng tiền Việt. Tất cả đều được để trong tủ và

có ghi rõ tháng mà người nộp nhặt được để tạo sự dễ dàng cho người nhận.

Người Nhật có những đức tính tử tế như thế, cho dù việc họ làm sẽ gây

phiền toái, mất thời gian của họ những họ vẫn cất công đem trả thì quả là đáng để

chúng ta cúi đầu nể phục.

"Những điều vĩ đại phi thường đều xuất phát từ hành động tốt đẹp nhỏ bé

cả mà thôi. Và nhất định, phải giữ lòng tin vào những điều tử tế có tồn tại. Đặc

biệt là trong lòng nước Nhật." [2, 106]

"Ở Nhật, bạn sẽ có cảm giác rất thèm được làm người tốt. Nếu ai đã sống

tử tế thì còn muốn tốt hơn thế nữa. Vì bạn được nhận, được giúp đỡ quá nhiều.

Tử tế sẽ nhận lại được lòng tốt, nhận được lòng tốt rồi thì tiếp tục trả lại bằng sự

tử tế, những đáp đền cứ thế nối tiếp nhau. " [ 2, 109 - 110]

Cách người Nhật tiếp khách đến nhà là một điều mà chúng ta nên học hỏi.

Người Nhật tiếp khách rất nồng hậu và chân thành. Họ thật sự rất hiếu khách. Họ

chuẩn bị mọi thứ để đón khách rất chu đáo. Từ chuẩn bị phòng ngủ nếu khách ngủ

lại, đồ ăn, thức uống, phòng tắm với bồn nước nóng pha sẵn cho đến trang phục

để khách thay...

H ình 2.15. Tiếp đãi khách nồng hậu [31]

Trong khi dùng bữa, chủ nhà sẽ liên tục hỏi khách đồ ăn có vừa miệng chưa,

có cần dùng thêm gì không... họ dành cho khách sự quan tâm từ tận đáy lòng và

bằng trọn trái tim.

Khi chúng ta đến thăm một gia đình Nhật và gợi ý sẽ phụ rửa chén sau khi

dùng bữa như văn hóa Việt Nam thì sẽ tạo sự bối rối cho chủ nhà. Với họ, khách

thật sự là khách đúng nghĩa. Họ sẽ không để khách bận tâm hay phải động tay vào

bất cứ một công việc nào, đặc biệt là việc phụ dọn dẹp. Nếu chúng ta vẫn cố gắng

làm, chủ nhà sẽ liên tục xin lỗi.

Khi tặng quà, người Nhật gói hay bao bọc chúng rất cẩn thận và đẹp mắt.

Cầm món quà trên tay, người nhận sẽ cảm nhận được tấm lòng mà người tặng

muốn trao gửi. Chưa nói đến giá trị bên trong của món quà, chỉ với lớp vải hay

giấy gói bên ngoài thôi cũng đủ để truyền tải sự trân trọng và quý mến mà người

gửi dành cho người nhận. Người nhận chắc chắn sẽ rất vui vẻ và cảm động. Họ sẽ

r

r

trân quý món quà đó như cái cách mà người tặng đã tỉ mỉ gói quà.

H ình 2.16. N hữ ng m ón quà được gói rất đẹp m ăt [32]

CHƯ ƠNG 3: M Ộ T SỐ BIỂU H IỆN CỦA OM OTEN A SH I TRO N G VĂN

HÓA NHẬT BẢN

3.1. Văn hóa T rà đạo

Bên cạnh việc phản ánh một nét tinh hoa trong văn hóa thì trà đạo Nhật Bản

còn toát lên tinh thần Omotenashi nổi tiếng - tinh thần phục vụ bằng trái tim.

3.1.1. T rà th ất

"Omotenashi" trong trà đạo Nhật Bản được thể hiện ở việc lựa chọn không

gian thưởng trà - trà thất và dụng cụ pha trà. Khung cảnh và các đồ dùng mộc

mạc, đơn sơ, càng gần gũi với thiên nhiên càng tốt cho thấy nghi thức trà đạo tập

trung vào việc để tâm trí đạt tới vô thường, tĩnh lặng, đầu óc tư tưởng không bị

phân tán hay cho phối bởi bên ngoài. Không một trà thất nào lại có không gian

sôi động, tất cả đều tĩnh lặng. Sự tĩnh lặng giúp cho con người chỉ tập trung vào

vấn đề họ đang quan tâm và phút giây hiện tại chứ không vọng tưởng việc khác.

H ình 3.1. Trà thất [62]

"Trà thất: Là một căn phòng có kích thước nhỏ nhất khoảng 3x3m. Trong

phòng có trải những tấm Tatami hay chiếu tre được sắp xếp thành hình vuông bởi

8 mảnh 0.75x1.5m, trông rất đẹp và trang nhã." [33]

Phòng trà được bày biện rất đơn giản nhưng khách có thể cảm nhận được

nét đẹp nhẹ nhàng, thanh tao, không khí ấm áp, thể hiện sự mến khách của chủ

nhà. Trên tường người ta thường treo những bức thư pháp, những chiếc quạt giấy

kiểu Nhật, những bức tranh thủy mặc và có cả những bình hoa được cắm vào

những lọ hoa bằng gỗ hoặc bằng tre biểu hiện sự chào đón của chủ nhà với khách.

Cách bày trí các đạo cụ trong trà thất cũng rất tinh tế và đẹp mắt. Nó sẽ làm

tăng thêm phần trang trọng cho trà thất.

"Lư trầm: Được đặt ở góc phòng hay dưới bức tranh hoặc giữa phòng,

nhưng thường lư trầm được đặt ở góc phòng. Trầm hương có tác dụng làm cho

căn phòng có được mùi hương thoang thoảng phảng phất nhẹ nhàng, khiến cho

mọi người được thư giãn tinh thần, thoải mái dễ chịu." [33]

"Hoa: Thường được cắm trong bình, lọ hay dĩa nhỏ, được đặt ở giữa phòng

hay đặt dưới bức tranh trong phòng. Nó có tác dụng làm cho căn phòng thêm sinh

động, tạo cảm giác thoải mái, gần gũi với thiên nhiên cho người tham gia. Phong

cách cắm hoa này được gọi là Chabana ( ^ f ê ) - là phong cách cắm hoa đơn giản

mà thanh lịch của trà đạo, có nguồn gốc sâu xa từ việc nghi thức hoá Ikebana.

Cha, theo nghĩa đen là trà và bana là biến âm của từ hana có nghĩa là hoa." [33]

Phong cách của Chabana là không có bất kỳ quy tắc chính thức nào để trở

thành chuẩn mực cho nghệ thuật cắm hoa trong trà thất. Hoa được cắm trong một

chiếc bình hoặc một cái lọ mộc mạc với phong cách thay đổi theo mùa, thể hiện

tình cảm của chủ nhà trong một buổi tiệc trà. Lọ hoa có thể được làm từ bất kỳ

chất liệu nào: Từ đồng, gốm tráng men hoặc không tráng men cho đến tre, thuỷ

tinh và các vật liệu khác.

Khi cắm hoa cho một bữa tiệc trà, đầu tiên chủ nhà chọn hoa và lọ tương

ứng. Hoa trong phòng trà gợi được cho người ngắm cảm giác như đang đứng giữa

khu vườn tự nhiên.

r

r

H ình 3.2. H oa được căm trong trà thất [34]

Các đạo cụ trên được xếp rất gọn gàng, không chiếm diện tích của phòng

trà, tạo sự cân bằng, hòa hợp.

Mỗi chi tiết nhỏ nhặt mà chủ nhà chuẩn bị nhằm mang lại sự thư thái cho

khách đều nói lên tinh thần "Omotenashi" của họ. Không chỉ đơn giản là lựa chọn

ngẫu nhiên một chữ thư pháp, một chiếc quạt hay một bức tranh thủy mặc, chủ

nhà luôn cân nhắc và đặt cả cái tâm của mình vào việc làm thế nào để cho khách

có một buổi tiệc trà ấm cúng và thư giãn nhất. Từ chất liệu, hoa văn, nội dung,

cách đặt để... đều được người Nhật suy nghĩ chu đáo và lựa chọn cẩn thận.

3.1.2. Dụng cụ dùng trong pha chế và thưởng thức trà

❖ Trà dùng trong trà đạo gồm matcha và trà nguyên lá, ngoài ra còn có thêm

phụ liệu.

- Matcha: Trà bột. Người ta hái những lá trà non đem đi rửa sạch, phơi

ráo nước và xay nhuyễn thành bột. Vì thế trà có màu xanh tươi và độ ẩm

nhất định chứ không khô như các loại trà lá. Khi uống, bột trà được đánh

tan với nưới sôi.

- Trà nguyên lá: Chỉ lấy nước tinh chất từ lá trà. Lá trà được phơi khô,

pha chế trong bình trà, lấy tinh chất, bỏ xác. Thường sử dụng loại trà

cho nước màu vàng tươi hay màu xanh nhẹ.

- Phụ liệu: Ngoài nguyên liệu chính là trà bột hay trà lá, người pha chế

còn cho thêm một số thảo dược, các loại củ quả phơi khô, đậu để làm

tăng thêm hương vị cho chén trà, hay quan trọng hơn là mang tính trị

liệu, rất có lợi cho sức khỏe, giúp người bệnh mau hồi phục thể chất lẫn

tinh thần.

❖ Nước pha trà: Thường là nước suối, nước giếng, nước mưa, hay nước đã

qua khâu tinh lọc.

Dụng cụ cho buổi tiệc trà cũng được chuẩn bị rất chu đáo và kĩ càng. Tùy

vào mỗi mùa, mỗi loại trà khác nhau mà hình dáng cũng như chất liệu dụng cụ

khác nhau. Điều này thể hiện sự tận tâm của chủ nhà khi đãi tiệc trà. Họ mong

muốn mang lại cho khách một buổi tiệc tạo được sự thư thái và hài lòng thật sự,

r

không chỉ bằng thái độ phục vụ trà mà còn đi từ những khâu chuẩn bị ban đầu.

H ình 3.3. M ột sô dụng cụ dùng trong tiệc trà [35]

Âm trà (Kama): Dùng đun nước sôi để pha trà, thường được làm bằng đồng

để giữ độ nóng cao. Kích thước khác nhau theo mùa xuân hạ thu đông.

Gáo múc nước (Hishaku): Chiếc gáo bằng tre, nhỏ, dài để múc nước từ

trong ấm nước, hủ đựng nước ra chén trà.

Chậu đựng nước (Kensui): Chậu đựng nước rửa chén khi pha trà, được làm

bằng men và to hơn chén trà một chút.

Chén trà (Chawan): Chén dùng để đựng trà cho khách thưởng thức. Chén

được làm bằng men, công phu, tỉ mỉ và mỗi chén có những họa tiết độc đáo

riêng. Vì thế mà trong khi làm một buổi tiệc trà, không có hai chén trà giống

nhau. Các nghệ nhân làm chén cũng đưa chủ đề thiên nhiên, thời tiết vào

trong tác phẩm của mình, vậy nên có thể dùng chén phù hợp cho 4 mùa:

xuân, hạ, thu, đông.

- Mùa xuân: Chén có những hoa văn mùa xuân như hoa anh đào.

- Mùa hạ: Là mùa nóng nên chén trà có độ cao thấp hơn, miệng rộng hơn

chén trà mùa xuân để dễ thoát hơi nóng.

- Mùa thu: Chén có hình dạng giống chén mùa xuân, có hoa văn đặc trưng

cho mùa thu là lá phong.

- Mùa đông: Là mùa lạnh nên chén có độ dày và cao hơn các chén mùa

khác để giữ nóng lâu hơn. Màu sắc của men cũng mang gam màu lạnh.

Hũ đựng trà (Chaire hay Natsume): Hủ, lọ dùng để đựng trà bột, được trang

trí họa tiết rất đẹp, gần gũi với cuộc sống sinh hoạt nhưng cũng mang tính

thẫm mĩ cao. Trên nắp hũ, đôi khi chúng ta có thể bắt gặp hình quạt giấy,

*► «

hình hoa lá, tre, trúc, ...

Hũ đựng nước (Mizusashi): Chất liệu đa dạng như sứ, kim loại, thủy tinh,

gỗ.... Dùng để đựng nước lạnh khi pha trà.

* «

► Muỗng múc trà (Chasaku): Muỗng múc bột trà, được làm bằng tre, gỗ hay

ngà v o i....chiếc muỗng dài và một đầu uốn cong để múc trà. Những phần

chuyển màu của tre hay mắt tre cũng trở thành điểm nhấn.

* «

H ình 3.4. M uỗng m úc trà, gậy đánh trà và khăn kobusaku [36]

Gậy đánh trà (Chasen): dụng cụ pha trà Matcha; được làm bằng tre, có một

đầu trông giống chiếc lồng đèn với nhiều cọng tre mảnh, nhỏ, rất mềm nên

> ♦

không làm trầy xước chén trà.

Khăn Kobukusa: Khăn dùng để kê chén trà. Khi đem trà cho khách thưởng

thức, dùng khăn để lên tay rồi đặt chén trà lên để giảm bớt độ nóng từ chén

trà xuống tay, sau đó mang chén trà cho khách.

H ình 3.5. K hăn F ukusa [37]

❖ Khăn Fukusa: Khăn lau hủ, lọ trà và muỗng trà khi pha trà.

H ình 3.6. Khăn Chakin [35]

❖ Khăn Chakin: Khăn lau chén trà khi pha trà, được làm bằng vải mùng màu

trắng.

"Những buổi tiệc trà lớn thường kéo dài hơn 4 tiếng đồng hồ, trước tiệc trà,

khách được phục vụ một chiếc bánh ngọt xinh xắn có hình dạng và màu sắc tùy

theo từng dịp lễ hay theo mùa. Trong thời gian này, chủ nhà tiến hành các bước

pha trà." [41]

3.1.3. Bánh ngọt

"Bánh truyền thống của Nhật Bản đã phát triển cùng với thói quen uống trà

của người Nhật. Trong những lễ hội 4 mùa, người Nhật làm những chiếc bánh

hình dáng nhỏ nhắn để thể hiện phong vị thiên nhiên, và bánh thường được thưởng

thức cùng với trà. Bánh truyền thống nổi tiếng được lấy cảm hứng từ vẻ đẹp thiên

nhiên, bốn mùa, từ thơ Waka, Haiku (là các thể thơ cổ của Nhật Bản) và cảm hứng

từ quê hương." [38]

Những chiếc bánh ngọt được làm vô cùng tỉ mỉ và được trang trí vô cùng

đẹp mắt. Tuy chỉ là một chiếc bánh nhỏ, mang yếu tố phụ trong tiệc trà nhưng vẫn

được chủ nhà chuẩn bị vô cùng chu đáo. Người thưởng thức không chỉ cảm nhận

hương vị của chiếc bánh bằng vị giác, mà còn được thưởng thức nó trước nhất

bằng thị giác của mình.

H ình 3.7. B ánh ngọt p h ụ c vụ trước tiệc trà [39]

Được phục vụ một chiếc bánh nhỏ xinh ngon miệng, khách sẽ cảm thấy

buổi tiệc trà thật trọn vẹn, để lại trong lòng họ ấn tượng đẹp...

3.1.4. P ha trà và thưởng trà

Nếu coi người thưởng thức trà là khách hàng thì người pha trà và nghệ thuật

pha trà thể hiện rõ nét nhất tinh thần phục vụ "Omotenashi" - phục vụ bằng cả

tấm lòng, bằng cả trái tim. Nghệ thuật trà đạo Nhật Bản mang đến cho người

thưởng trà không chỉ ly trà ngon mà còn hơn cả mong đợi của họ chính là được

chiêm ngưỡng những thao tác pha trà đã trở thành nghệ thuật - điều đặc biệt ấn

tượng khác xa cách uống trà thông thường, khiến khách muốn được quay lại

thưởng thức nhiều lần sau nữa.

Người Nhật quan niệm rằng: để có thể quan tâm, nghĩ đến người khác thì

bản thân mình cần có sự thư thả trong tâm hồn. Vì vậy, người pha trà cần tấm lòng

chân thành thật sự chứ không phải miễn cưỡng. Bởi nếu miễn cưỡng thì những

hành động không toát ra được sự khoan thai, tỉ mỉ cần thiết. Cái tâm của người

pha trà sẽ làm cho thao tác chuẩn mực hơn và cuốn hút được người theo dõi hơn.

Quá trình pha trà của nghi thức trà đạo Nhật Bản được thực hiện từ từ, kéo

dài qua nhiều giai đoạn, việc lau chùi dụng cụ chủ yếu là để chuẩn bị cho khách

tập trung. Trong quá trình thưởng trà, cả người uống và người pha đều thể hiện

thái độ lịch sự, lễ phép, nhẹ nhàng và nhã nhặn với nhau, không có bất cứ sự ồn

ào hay đòi hỏi nào. Người pha tập trung vào thao tác của mình, người uống tập

trung vào việc xem những thao tác ấy trong không gian tĩnh lặng.

«

I

|'

M

H ình 3.8. Pha trà [40]

"Trước hết, phải đun nước bằng bếp lò than, sau khi nhận biết nước trong

nồi đun vừa đủ độ nóng thích hợp để pha trà, bằng động tác thuần thục, họ mới

bắt đầu tráng ấm chén, rồi bỏ trà vào ấm. Sau đó, họ nhẹ nhàng dùng chiếc gáo

bằng gỗ múc nước trong nồi đun chế vào ấm trà. Sau khi hãm trà trong vài phút

để trà được hòa vào nước mà vẫn giữ nguyên hương vị của nó, họ cẩn thận rót

vào bình, rồi từ bình mới châm trà vào chén. Việc cuối cùng là đặt những chén trà

lên bàn, mời khách dùng trà với một cung cách lễ phép. " [41]

"Cách thức uống trà của khách cũng được quy định nghiêm ngặt. Trước khi

uống, khách để hai tay xuống sàn nhà, cúi đầu chào mọi người, rồi cung kính nâng

chén trà lên xoay chén ba lần theo hướng kim đồng hồ, sau đó từ từ uống." [41]

Việc uống trà thực hiện rất nhanh chóng, nhất là lần uống cuối cùng phải

thật nhanh và thật kêu. Việc này phản ánh sự tập trung cao độ, không còn chú ý

xung quanh nữa, chỉ chú tâm vào việc mình đang làm chính là giai đoạn thăng

hoa, là khoảnh khắc đỉnh cao sau một khoảng thời gian tiếp thu tinh thần

"Omotenashi". Khi uống xong, khách lại xoay chén theo hướng ngược lại về chỗ

cũ rồi nhẹ nhàng đặt chén xuống. Ngụm cuối cùng, khách thưởng thức trà thường

kèm theo một tiếng “khà” nho nhỏ để biểu thị sự tán tưởng, khen ngợi. Khi tất cả

đã uống xong, người khách lại cúi mình chào một cách kính cẩn rồi mới ra về.

Đến với một buổi thưởng thức trà đạo, khách thưởng trà gác lại đằng sau

những lo toan, bộn bề của cuộc sống để hòa mình vào cõi vô thường. Tại đó, tâm

hồn họ trở nên nhẹ bẫng, hòa vào hương vị đặc trưng của trà, ngòn ngọt của bánh

và cảm nhận cái tâm của chủ tiệc trà.

Có thể nói, trà đạo là tổng hợp từ những sự chuẩn bị nhỏ nhặt và chu đáo

nhất. Với sự chuẩn bị đó, người phục vụ trà đặt thêm vào đó sự tận tình trong từng

thao tác pha trà. Mong muốn cuối cùng của họ là mang lại những giây phút tuyệt

vời trong cái điềm tĩnh cho khách.

Như vậy, nghệ thuật trà đạo của Nhật Bản không đơn thuần chỉ là một thú

chơi tao nhã mà còn thể hiện rất rõ quan điểm trong lĩnh vực phục vụ của người

Nhật. Đó chính là sự tiếp đãi nồng hậu, tận tâm, là ý nghĩa nguyên bản của

"Omotenashi".

3.2. Văn hóa Ẩm thực (nhà hàng sushi)

Có hai loại nhà hàng sushi ở Nhật: nhà hàng sushi do chính bếp trưởng trực

tiếp phục vụ đồ ăn trước mặt khách và nhà hàng sushi băng chuyền.

Mỗi loại nhà hàng sushi tuy riêng biệt về cách phục vụ nhưng có một điểm

chung là ở đâu cũng đều chứa đựng tinh thần "Omotenashi".

3.2.1. Phục vụ

Bước vào một nhà hàng Nhật Bản, điều đầu tiên khiến khách ngạc nhiên đó

chính là các câu chào và cử chỉ lịch thiệp. Có thể nhân viên hay quản lí nhà hàng

đều biết không phải tất cả khách hàng đều hiểu và đáp lại được các lời chào mừng

hay cám ơn ấy nhưng họ vẫn chào to, rõ và nồng nhiệt khiến cho khách hàng cảm

thấy được tiếp đón nồng hậu và ấm áp.

Trải nghiệm món ăn ở nhà hàng không chỉ đơn giản là trải nghiệm độ ngon

hay dở mà là những cảm quan đến từ cách bài trí nội thất, khung cảnh, không gian,

hình thức phục vụ và thái độ phục vụ dành riêng cho cá nhân khách hàng.

Khi bước vào cửa, sẽ có một góc đặt sẵn những chiếc túi nhỏ. Những chiếc

túi này không phải là sọt rác mà chính là dụng cụ để khách hàng có thể bỏ túi xách

và áo khoác của mình vào đó, đặc biệt là khách nữ. Sau đó sẽ có nhân viên giữ đồ

đạc của khách, tất nhiên sẽ không có bất cứ mất mát và thu thêm chi phí gì.

H ình 3.9. Túi đựng giỏ xách và áo khoác khi vào nhà hàng [42]

Việc để những túi chiếc này giúp khách hàng đỡ cồng kềnh, vướng víu

trong việc giữ đồ cá nhân khi thưởng thức món ăn, tạo được tâm lý và tư thế thoái

mái nhất cho khách, giúp khách có được những phút giây thư giãn và vui vẻ. Chưa

kể đến chất lượng món ăn, chỉ một hành động nhỏ quan tâm khách hàng của nhà

hàng cũng sẽ khiến khách hàng cảm động.

Chiếc khăn Oshibori ướp lạnh sẵn cho cảm giác vô cùng thoải mái là thứ

tiếp theo khách hàng được phục vụ. Còn gì bằng khi giữa thời tiết nóng bức, được

lau mặt bằng chiếc khăn mát lạnh và uống một chén trà nhỏ. Chưa nói đến món

ăn sẽ được phục vụ như thế nào, chỉ hành động nhỏ này cũng làm cho khách hàng

cảm thấy mình được quan tâm. Và giả như chất lượng của thức ăn không được

như họ mong đợi thì chính tinh phần phục của nhà hàng sẽ bù lại cho phần chất

lượng ấy.

H ình 3.10. Chiếc khăn ướp lạnh cùng m ột chén trà nhỏ [43]

Nếu dùng sushi ở nhà hàng do bếp trưởng trực tiếp phục vụ thì bếp trưởng

sẽ là người thường đứng ở vị trí trung tâm gian bếp và có thể quan sát cũng như

giao lưu với khách hàng, vừa thoăn thoắt chế biến món ăn, vừa giải thích cặn kẽ

về món ăn ông đang thực hiện khi được hỏi.

H ình 3.11. N hà hàng sushi do đầu bếp trực tiếp p h ụ c vụ khách [44]

Việc đầu bếp chính tận tình với từng thực khách của mình cho đến sự nhiệt

tình của các nhân viên khiến những ai được “chăm sóc” sẽ vừa thích thú lại vừa

bối rối. Nhưng chắc hẳn sau khi được đi nhiều và thấy nhiều, khách hàng sẽ hiểu

rằng trải nghiệm được phục vụ hết lòng ấy thật ra rất bình thường, vì đó chính là

__ r

-?

r

cách thức các nhà hàng Nhật vẫn làm từ xưa đến nay tại xứ sở hoa anh đào.

H ình 3.12. Bêp trưởng quan tâm và để ý đên từng khách hàng của m ình [45]

Nếu đến nhà hàng sushi băng chuyền để thưởng thức sushi thì sẽ có một hệ

__

*?

r

~\

thống băng chuyền tiện lợi phục vụ sushi cho khách.

H ình 3.13. Các đĩa Sushi được chuyển đến bàn ăn trên m ột băng chuyền [46]

Khi khách hàng muốn gọi sushi theo sở thích và nhu cầu, sẽ có những chiếc

máy chọn món như màn hình tivi để khách chọn. Sau một khoảng thời gian, món

khách hàng đã gọi sẽ được một hệ thống băng chuyền riêng đưa đến tận chỗ ngồi

của khách, rất tiện lợi và nhanh chóng.

Thực đơn của nhà hàng cũng rất "Omotenashi". Ngoài tiếng bản xứ, trên

thực đơn sushi còn có ghi chú thêm những ngôn ngữ nước ngoài khác, đồng thời

còn cả thêm hình ảnh và giá tiền. Với thực đơn này, những du khách người nước

ngoài sẽ không phải bận tâm trong việc bất đồng ngôn ngữ; không hình dung được

món mình gọi sẽ ra sao và giá cả như thế nào.

Đặc biệt hơn nữa là những cửa hàng băng chuyền sushi hiện nay đang được

phát triển theo nhiều cách khác nhau để phục vụ các du khách đến Nhật Bản. Một

trong những thay đổi là cách các món ăn được đặt hàng. Các khách hàng không

biết tiếng Nhật có thể gọi món bằng cách sử dụng thực đơn cảm ứng bằng tiếng

Anh.

H ình 3.14. Thực đơn kèm hình ảnh và giá tiền được viết bằng nhiều ngôn

n g ữ [47]

S p e c i a l

N i g i r l

M ultilingual

unkan Mmono M e n u

Staff Call

P l e a SÔ ch o o s e food 2» drin ks from t h e s e menu

Alcohol

Miso Soup C h a w a n m u s lii

Order List

Account

___

>

__

r

H ình 3.15. Thực đơn cảm ứng bằng tiêng A n h [47]

Tất cả những thứ cần thiết cho bữa ăn của khách được đặt sẵn trên bàn. Từ

nước chấm, gia vị,... hay là một tách trà nóng để tráng miệng trước khi ăn món

tiếp theo. Bột pha trà, nước nóng để pha trà và cốc cũng được chuẩn bị sẵn trên

bàn, khách chỉ cần lấy một thìa bột trà từ lọ, đổ vào cốc và thêm nước nóng lấy từ

chiếc vòi bằng cách ấn vào cái nút bên dưới.

Mọi thứ đều chuẩn bị sẵn sàng chu đáo để phục vụ khách hàng một cách

tốt nhất. Khách hàng có thể thoải mái thưởng thức bữa ăn của mình mà không gặp

_

bất cứ khó khăn trở ngại nào.

H ình 3.16. B àn ăn sushi băng chuyền với đây đủ vật dụng [48]

Khi khách hàng muốn thanh toán, họ chỉ việc xếp các đĩa chồng lên nhau ở

trên bàn và gọi nhân viên khi đã ăn xong. Nhân viên sẽ xác nhận hóa đơn của

khách bằng cách đếm số lượng các đĩa và bát. Ngoài ra có các cửa hàng dùng hệ

thống tự động tính hóa đơn khi khách hàng đặt các đĩa vào máy. Tất cả các món

ăn đều được thanh toán bằng máy tính tiền. Bên cạnh đó còn có nhiều cửa hàng

chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng, đáp ứng được mọi hình thức thanh toán

của khách.

Tất cả những điều khiến khách hàng bận tâm đều được nhà hàng suy nghĩ

và giải quyết trước. Họ không để khách hàng của mình gặp phải bất cứ một bối

rối nào khi sử dụng dịch vụ tại nhà hàng của mình. Sự tận tâm phục vụ và suy

nghĩ trước cho khách hàng của họ vượt lên trên cả nhu cầu và sự kỳ vọng của

khách hàng. Chắc chắn, nếu đã đến đây một lần, khách sẽ muốn quay lại lần nữa.

Hình thức phục vụ tại nhà hàng Nhật Bản nói chung và nhà hàng sushi nói

riêng đều mang tinh thần "Omotenashi" - tinh thần phục vụ trên cả tuyệt vời của

Nhật Bản.

3.2.2. Sushi - Sự tận tâm trong cả hương vị và hình thức

"Sushi đã trở thành món ăn nổi tiếng trên toàn thế giới, thường được biết đến

dưới hình thức sushi nắm (nigiri-zushi), làm từ những lát hải sản nén chặt bằng

tay với cơm trộn dấm. Món ăn này khởi nguồn vào đầu năm 1800. Sushi được

biết đến cũng bởi giá trị dinh dưỡng nó đem lại, nhờ việc sử dụng hai nguyên liệu

chính là cá và dấm, giúp làm giảm căng thẳng, mệt mỏi cũng như tăng khẩu vị."

[49]

Trong tất cả các loại sushi, nigiri-zushi là loại khó làm nhất. Đặc biệt nghệ

thuật nén là kĩ nghệ của người nghệ nhân chỉ có thể đạt được sau một thời gian

r

r

dài luyện tập.

H ình 3.17. Nigiri - zushi (còn được biết đến là ""sushi được ép băng tay") [49]

"Kĩ thuật làm sushi mục tiêu là nén làm sao cho những khoảng không giữa

từng hạt gạo đều bằng nhau. Điều này khiến hương vị càng thêm mặn mà, những

hạt gạo sẽ dính lấy nhau khi chúng ta cầm lên tay và tự động tách rời ngay khi bỏ

vào miệng. Ây vậy mà toàn bộ quá trình nén ấy chỉ được phép thực hiện trong vài

giây. Nếu không nhanh, cơm sẽ ngay lập tức mất đi độ ẩm tiêu chuẩn." [49]

Từ quá trình học hỏi cho đến quá trình làm sushi, chúng ta có thể thấy được

sư kỳ công của ngươi đầu bếp khi truyền tai hương vi nguyên liệu đến khách hàng

là như thế nào.

Ngươi nghê nhân lam sushi đúng chuẩn sẽ nắm vững bí quyết hòa quyện

hương vị của gao trộn dâm với hai sản tươi. Khi nigiri - zushi (sushi nắm) mới

xuât hiến, nhưng phương phap bao quan hiến đai như tủi lạnh hay tủi đông chưa

phát triển. Trai qua môt khoang thơi gian, hải sản sẽ mât đi độ tươi sông. Bơi vây,

ngươi ta đa tao ra nhưng cach chế biến đế giũ: lai hương vi cua chung. Môt trong

nhưng cach chế biến đặc trưng đo la lam sushi vơi dâm va muôi, hâp hoặc luôc

lên, va châm sushi trong xi dâu.

Sau nay, nhưng tiến bô đến tư công nghế điến lanh va các cai tiến khác đa

giup giai quyết vấn đế tươi sông cua thực phâm nhưng kết tinh kinh nghiếm va tri

tuế cua nhưng ngươi nghế nhân sushi vân tiếp tuc được lưu truyến lai qua cac thế

hế. Các nguyên liệu tươi ngon nhất thường được sử dụng để làm sushi. Ngay nay,

điếu tôi quan trong la lam sao đế co thế truyến tai đươc hết hương vi cua nhưng

"?

r H ình 3.18. Người đâu bếp đang chuân bị sushi [49]

nguyến liếu này vao mon ặn.

Trong không gian của môi nhải hang sushi, ngươi nghê nhân trong bếp vải

ngươi khach thương thức chi cach nhau môt quây bếp. Điếu nảy củng nằm trong

sư trai nghiêm thương thức sushi, khi ma ngươi khach co thế tân mắt chứng kiến

ngươi nghế nhân lanh nghế trực tiếp cằt tưng miếng hai san trước mằt, va rôi phai

than phuc trươc phong thai chuyến nghiếp ngay tư khâu chuân bi. Ngay cài nhưng

cuôc đôi thoai qua quây bếp ây cung ân chưa sư tao nha va thú vị.

H ình 3.19. Sushi được làm m ột cách cẩn thận [49]

"Ngươi đầu bếp phục vu nhũng vi khách cua minh các miếng sushi tuần tự,

dựa trên sự cân nhắc về mùi vị, để loại sushi có hương vị đậm ăn sau cho bữa ăn

ngon miệng hơn. Không chỉ là thương thức sushi, ban còn được trái nghiêm cá kĩ

thuầt chế biến sushi truyến thống và nền văn hóa giàu có, cũng như nét lịch sự,

long hiếu khách của người dần Nhầt Bán." [49]

A

H ình 3.20. M ột set sushi bao gồm nigiri zushi (đặt bên trên cơm) và

ura - m aki (sushi cuộn từ trong ra ngoài) [49]

Có thể chắc chắn rằng, khi nói đến dịch vụ ẩm thực Nhật Bản, khách hàng

không chỉ tìm thấy "Omotenashi" được thể hiện qua thái độ phục vụ mà còn cảm

nhận nó qua món ăn. Từ việc nhỏ nhất là khâu chuẩn bị nguyên liệu đến cách tiếp

đãi của đầu bếp cũng như nhân viên nhà hàng. Họ xem món ăn là giá trị cốt lõi,

dịch vụ là phần giá trị cộng thêm và văn hóa Nhật chính là luôn mang đến giá trị

cao nhất cho sản phẩm. Giá trị ấy tạo nên thương hiệu không chỉ là sushi hay ẩm

thực Nhật mà là thương hiệu quốc gia - thương hiệu đậm nét văn hóa

"Omotenashi".

3.3. Văn hóa Du lịch (loại hình du lịch lữ quán)

Từ năm 2012, chính phủ Nhật đã chính thức đưa mục tiêu phát triển ngành

du lịch lên thành một trong những mục tiêu quan trọng, vừa để kích cầu kinh tế

vừa tạo bước thềm chuẩn bị cho Olympic 2020. Với quan điểm mang đến trải

nghiệm tốt nhất cho du khách, mỗi người dân là một đại sứ du lịch cùng sự hoàn

hảo trong dịch vụ, ngành du lịch Nhật ngày càng có chiều hướng tăng trưởng. Đặc

biệt, đây sẽ là một cơ hội tốt để Nhật Bản quảng bá sâu rộng hơn nữa tinh thần

phục vụ Omotenashi của đất nước mình.

"Nếu như vào năm 2012, Nhật mới chỉ thu hút được 8,5 triệu khách du lịch

nước ngoài thì đến năm 2014, con số này đã lên đến 13 triệu. Cũng trong năm

2014, mức chi tiêu của khách du lịch nước ngoài tại Nhật đạt 16,8 tỷ USD, tăng

trưởng đến 43% so với năm 2013. Đến năm 2015 và 2016, ngành du lịch Nhật

tiếp tục tăng trưởng mạnh về cả số lượng du khách cũng như doanh thu. Năm

2016, chính phủ Nhật đặt mục tiêu thu hút 20 triệu khách du lịch, cuối cùng số

lượng khách đã vượt xa mục tiêu, chính phủ Nhật nhờ vậy đã có thể nâng số lượng

khách du lịch mục tiêu năm 2020 lên 40 triệu du khách." [50]

Chính phương châm làm việc đúng đắn này đã góp phần quan trọng tạo nên

thành công của ngành du lịch Nhật trong những năm gần đây. Nhắc đến Nhật, gần

như ai cũng ao ước phải được đặt chân tới quốc đảo này một lần, không chỉ vì

cảnh sắc nên thơ cùng hoa anh đào hay núi Phú Sĩ, mà còn được trải nghiệm tinh

thần người Nhật.

Tính trách nhiệm của người Nhật rất cao, từ trong các hoạt động thường

nhật cho đến sự kỷ cương phép tắc trong công việc. Cũng bởi thế mà ngành dịch

vụ tại đây tuyệt vời hơn cả, vui lòng khách đến, khách đi thì sung sướng hạnh

phúc ngập tràn. Người ta còn nói vui với nhau rằng "Dù không phải bỏ tiền mua

hàng, mua dịch vụ ở Nhật, bạn cũng vẫn được trải nghiệm cảm giác làm "thượng

đế" đúng nghĩa." [50]

3.3.1. Giới thiệu L ữ quán

"Thất vọng về dịch vụ lưu trú và ẩm thực có thể dẫn đến những suy nghĩ

tiêu cực cho cả một điểm đến. Mỗi nhân viên phục vụ trong khách sạn, nhà hàng

là đại sứ cho hình ảnh khách sạn của mình, thành phố của mình, quốc gia của

mình. Những nổ lực phục vụ không chỉ thể hiện trong các bảng tiêu chuẩn xếp

hạng, mà còn sự am hiểu về các nền văn hóa khác nhau." [5, 69]

Nhờ nắm vững và thành thạo nghiệp vụ, tuân thủ thời gian và tốc độ, xử lý

được phàn nàn và quan trọng hơn cả là phục vụ hết mình với tinh thần

"Omotenashi", lữ quán tại Nhật trở thành một trải nghiệm khó quên của du khách

đến với Nhật Bản.

""Home away from home" (tạm dịch: "Xa nhà mà vẫn như ở nhà") là một

thành ngữ quen thuộc truyền cảm hứng cho những người làm dịch vụ khách sạn,

lữ quán cũng như lôi cuốn cảm xúc của khách du lịch lưu trú trên toàn thế giới."

[5, 99]

"Cảm giác như ở nhà" không có nghĩa là khách hàng có thể sinh hoạt tùy

thích như ở nhà mình và cũng không có nghĩa là người phục vụ luôn đáp ứng mọi

nhu cầu như ở nhà của khách hàng. Tuy nhiên, phải ứng xử như thế nào để giải

quyết vấn đề đó một cách tốt đẹp và tạo được sự bằng lòng cho khách hàng là cả

một vấn đề lớn. Người Nhật đã giải quyết được vấn đề này nhờ vào tinh thần phục

vụ "Omotenashi". Họ khiến khách hàng cảm thấy rằng họ luôn thấu hiểu nhu cầu

của khách hàng và sẽ nổ lực đáp ứng ở mức tối đa.

Bằng cách lấy sự chuẩn mực làm nền tảng để từ đó, sáng tạo vượt lên mọi

giới hạn, đạt đến vô hạn, nhằm chạm vào cảm xúc của khách hàng ngày trong

những khoảnh khắc trải nghiệm riêng của họ. Chính những cảm kích khi chạm

đến cảm xúc riêng qua văn hóa "Omotenashi" của lữ quán Nhật sẽ khiến khách

hàng cảm thông trước những yêu cầu không được đáp ứng và tôn trọng chuẩn

mực phục vụ của Nhật Bản. Lúc đó, khách hàng hoàn toàn cảm nhận được sự gần

gũi và thân thuộc "xa nhà mà vẫn như ở nhà".

Ryokan (lữ quán) là một kiểu nhà trọ truyền thống của Nhật Bản, khác với

những nhà trọ thông thường, ở Ryokan có sự ấm áp của gỗ cây, có Onsen, có

những món ăn cầu kỳ và tấm nệm futon5 mềm mại... khách sẽ có được những trải

5 Futon ( ^ H ) là một tấm nệm phẳng, dày khoảng 5cm với một lớp vải bọc ngoài, bên trong nhồi bông hoặc bông tổng hợp.

nghiệm khó quên trong một không gian thấm đẫm tinh thần Nhật Bản và những

phút giây thư giãn yên bình nhất.

H ình 3.19. L ữ quán tại N hật [51]

"Ryokan có lịch sử từ rất lâu đời. Vào thời Heian (từ năm 794 - 1192), vì

các du khách không được phép dựng trại nên một tổ chức từ thiện đã cho xây

dựng những nhà nghỉ cao cấp dành cho tầng lớp quý tộc. Sau đó, vào thời Edo (từ

năm 1603-1867), dạng nhà trọ được đông đảo người dân sử dụng gọi là "Hatago"

xuất hiện và trở thành nơi mà du khách trong và ngoài nước đến nghỉ ngơi và tận

hưởng suối nước nóng. Do lịch sử Ryokan trải dài cùng với lịch sử đất nước Nhật

Bản, bạn có thể bắt gặp nhiều nét văn hóa truyền thống đặc trưng của đất nước

này ở Ryokan." [52]

Khoảnh khắc tháo bỏ đôi giày để xỏ chân vào đôi dép đi trong nhà và bước

thêm vài bước, khách đã ở trong “Washitsu” - căn phòng truyền thống Nhật Bản.

“Căn phòng đón khách với tình thân ái” này được chuẩn bị đầy đủ và chu đáo để

chào đón các vị khách. Từ tấm chiếu Tatami, cửa kéo bằng giấy Shouji, chiếc đệm

ngồi cho đến tách uống trà đều là những món đồ nội thất đặc trưng của Nhật Bản.

H ình 3.20. Chiếu Tatami, cửa kéo Shouji và giấy Washi dán vào khung cửa

[53]

Những tấm giấy Washi được dán vào khung gỗ gồm các thanh ngang và

dọc, được dùng làm cửa ra vào hoặc cửa sổ. Dù cửa đóng kín nhưng ánh sáng bên

ngoài vẫn hắt vào nhè nhẹ.

Từ cửa sổ du khách có thể ngắm cảnh sắc bên ngoài thay đổi theo từng

mùa: lá đỏ khi vào thu, tuyết trắng vào trời đông,... khiến họ có cảm giác như

đang được chiêm ngưỡng vô vàn bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp. Cấu tạo của

mỗi căn phòng về cơ bản đều giống nhau, tuy nhiên tùy thuộc vào đồ nội thất, vật

trang trí hay quán trọ có bồn tắm lộ thiên hay không, sẽ tạo nên đặc trưng riêng

cho từng Ryokan. Có những lữ quán phảng phất dấu ấn thời gian qua kiến trúc lâu

đời, trong khi một số khác đem đến không khí hiện đại với những thiết kế sang

trọng, dù là kiểu Ryokan nào thì du khách chắc chắn cũng sẽ cảm thấy thích thú

khi trải nghiệm.

Có thể nói, từ khi khách bước vào lữ quán, mỗi đồ vật ở đây đều khiến du

khách cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thoát và yên bình đến lạ. Cảm giác xưa cũ của

một nước Nhật mang đầy tinh hoa trở về, quyện vào không gian làm họ chìm đắm

trong cảm giác an nhiên đó đến lạ lùng.

Mỗi kiểu thiết kế, sắp xếp, trang trí đồ vật cũng như cảnh sắc đều chứa đựng

cái tâm của người chuẩn bị. Làm thế nào để khách trọ cảm thấy thoải mái nhất,

tận hưởng được không gian tuyệt vời và thư giản nhất luôn là điều mà chủ lữ quán

và nhân viên trăn trở.

Một điều tuyệt vời nữa khi du khách quyết định dừng chân tại lữ quán là

được trải nghiệm văn hóa tắm nước nóng Onsen. Khách có thể chọn 2 hình thức

tắm Onsen, bên cạnh hồ tắm trong nhà - Uchiburo, còn có hồ tắm lộ thiên -

Rotenburo. Đến với Onsen, du khách như bước vào chốn "thiên đường" vì mọi

hoạt động mà họ trải qua nơi đây đều khiến họ cảm thấy thú vị và ấm áp.

H ình 3.21. B ồn tắm Onsen lộ thiên và bồn tắm Onsen trong nhà

[54], [55]

"Sau khi tắm Onsen, cơ thể vô cùng khoan khoái, cũng là lúc đến giờ dùng

bữa tối. Đa số các Ryokan đều phục vụ ẩm thực Nhật Bản với bữa tối theo phong

cách “Kaiseki Ryouri6” . Những chiếc bát đĩa chứa các món ăn đầy màu sắc xuất

hiện liên tục trước mắt sẽ khiến bạn phân vân không biết nên ăn món nào trước.

6 Kaiseki ryori la một loại hình ẩm thực truyền thống của Nhật Bản, có đặc trưng là sử dụng nguyên liệu theo từng mùa và sự phối hợp tinh tế giữa các món ăn.

Các Ryokan thường sử dụng đặc sản theo từng mùa - gọi là “Shun” hoặc các loại

nguyên liệu đặc sản tươi ngon ở vùng đó để chế biến. Nếu là Ryokan ở miền biển,

bạn sẽ có bữa tối thịnh soạn các loại hải sản, nếu là Ryokan ở vùng núi, bạn sẽ

được thưởng thức các loại nấm và rau xanh ngon lành." [52]

Nếu là bữa ăn sáng du khách sẽ cảm thấy thích thú khi dùng bữa với thực

đơn gồm cơm trắng vừa nấu chín, cá nướng và súp miso7, họ sẽ được thưởng thức

một bữa sáng điển hình của người Nhật.

r

_

Ngoài ra, cũng có một số nơi phục vụ lẩu hay buffet cho bữa sáng và tối.

H ình 3.22. B ữa ăn ấm áp tại lữ quán [56]

Một điều chắc chắn là cho du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài cảm

thấy thích thú đó chính là được mặc trang phục truyền thống của Nhật - Yukata.

Trải nghiệm văn hóa và tinh thần của một đất nước chính là hòa mình vào

cuộc sống của con người ở đất nước đó. Mọi hoạt động ăn uống, nghỉ ngơi, thưởng

thức hay chỉ đơn giản là khoác lên mình trang phục truyền thống của một đất nước

cũng sẽ để lại trong lòng du khách những dấu ấn sâu đậm và những kỉ niệm không

bao giờ quên.

7 Canh tương hay Súp Miso misoshiru) là một món ăn truyền thống của Nhật Bản. Canh tương bao gồm phần nước dùng được gọi là "dashi" nấu cùng với tương miso và một số nguyên liệu khác như đậu phụ, rong biển.

H ình 3.23. Du khách mặc lên m ình bộ Yukata [57]

"Bạn có thể mặc bộ Yukata và di chuyển bên trong Ryokan. Vào mùa lạnh,

nhà trọ sẽ chuẩn bị thêm cho bạn Haori hoặc Tanzen - một loại áo khoác ngoài

khá ấm áp. Khác với Yukata mà người Nhật thường mặc trong các lễ hội mùa hè,

Yukata ở Ryokan là loại đơn giản dùng để mặc khi ngủ nên bạn có thể tự mặc

theo ý thích sao cho thoải mái nhất. Tất cả đều mong muốn mang lại sự thoải mái

nhất cho lữ khách." [52]

3.3.2. Phục vụ

Các nhân viên lữ quán hầu hết là nữ giới, phục vụ ăn uống, chăn nệm và

những nhu cầu về mặt tinh thần cho khách như đàn ca, nhảy múa.

Khi đón khách, tất cả nhân viên của lữ quán xếp thành hai hàng đứng trước

cửa vào lữ quán. Khi khách vào, tất cả mọi người vừa cúi mình chào đón vừa nói

Irasshaimase (kính chào quý khách).

"Người quản lý nữ của lữ quán gọi là Okamisan có rất nhiều

trường hợp người quản lý Okami đảm đương các vai trò quan trọng về kinh doanh

và dịch vụ cho khách. Ở các lữ quán cao cấp hoặc là các lữ quán hoạt động theo

phương châm tôn trọng truyền thống thì nữ chiêu đãi viên hay người quản lý nữ

thường đảm đương công việc tiếp khách trong các phòng. Trang phục của họ là

Hòa phục (ÍD ^ ) (trang phục kiểu Nhật) giống với Okami. " [57]

Ngoài việc hướng dẫn khách đến phòng, họ còn có nhiệm vụ thay chăn nệm,

phục vụ thức ăn, tiến hành tổ chức các dịch vụ một cách tích cực, tỉ mỉ, nhận sự

yêu cầu, lắng nghe những nguyện vọng của khách.

Khi khách bước vào tới phòng washitsu, sau khi cởi giày, sẽ có nhân viên

lữ quán quỳ mở cửa phòng và chào khách cũng như hướng dẫn khách sử dụng

phòng.

H ình 3.24. N hân viên quỳ chào khách [58]

Quỳ để chào gợi đến hình ảnh thời vua chúa ngày xưa, những thường dân

cúi rạp mình và quỳ sát đất để tỏ lòng tôn kính. Ngày này, hình ảnh ấy vẫn tồn tại

ngay tại lữ quán Nhật. Nhân viên quỳ một cách nghiêm trang và cung kính mở

cửa cho khách nhằm khẳng định và thể hiện rằng, với họ, khách hàng mà họ sẽ

tiếp đãi bây giờ là thượng đế, là vua của họ. Với họ, tại khoảnh khắc này, khách

hàng là tất cả.

Sự hạ mình của một con người không làm cho phẩm giá của họ bị giảm

xuống, ngược lại, du khách cảm thấy vô cùng cảm động về giá trị ẩn sau cái cúi

đầu chào ấy.

"Omotenashi" không là cơ sở vật chất hào nhoáng, không là giá cả đắt đỏ,

không đo được bằng giá trị đồng tiền mà đo bằng sự rung cảm của trái tim.

Khi trải nghiệm được tạo ra từ sự tương tác giữa con người với con người

thì cảm giác sẽ lặng im và nhường chỗ cho cảm xúc lên tiếng. Một khi ánh mắt,

nụ cười, lời nói của người phục vụ đủ tinh tế và đem lại những xúc cảm cho khách

thì đồng nghĩa với việc lữ quán đó đã có thêm được một khách hàng thân thiết.

Với mỗi bữa ăn ở lữ quán, du khách sẽ cảm nhận được tinh thần

"Omotenashi" rõ rệt nhất; từ món ăn, dụng cụ ăn cho đến cách phục vụ trong bữa

ăn của nhân viên lữ quán đều toát lên sự tận tâm. Nhân viên và đầu bếp lữ quán

quan tâm đến khách một cách sâu sắc, vượt lên trên cả sự kỳ vọng của khách, làm

cho khách vui vẻ hạnh phúc và cảm động.

H ình 3.25. N hân viên lữ quán tận tình p h ụ c vụ đồ ăn cho khách [59]

Vào ngày trước khi tiễn khách, các lữ quán thường tổ chức bữa tiệc chiêu

đãi. Trong bữa tiệc chủ lữ quán sẽ bày tỏ lòng biết ơn khách đã đến khu suối nước

nóng và đặc biệt đã trọ tại lữ quán. Sau lời cảm ơn, chủ lữ quán cũng mong muốn

lần sau sẽ được tiếp đón và phục vụ khách.

"Ngày hôm sau khi ra về, chủ lữ quán cùng nhân viên phục vụ cũng xếp

thành hai hàng và tiễn khách với thái độ lịch sự, trang trọng. Mọi người cúi chào

hướng về phía khách cho đến khi nào bóng dáng của khách mất hút thì mới thôi

chào." [52]

^

-----

Á. n i l

1 '1

PpMvị

|gỉ

■ 11 w h Á X 'ỈV *ầ*jAy ỵ y

y

ĩ

?1$ ^ ề

/ 4 M 1 Ễ r m —* 7*^ "■ w M M

' ^aBp 1 ặyf3Ê %èểễ*‘W m\

*; a « - . .

1 X >. ■ ■

'

111113 \ r H ình 3.26. Chủ lữ quán và nhân viên xếp hàng chào tiễn khách [60]

Lữ quán Nhật Bản là một trải nghiệm đẹp khó quên cho những du khách

đến Nhật. Không chỉ tận hưởng không gian đậm nét truyền thống của xứ sở anh

đào mà còn được phục vụ với tất cả sự chân thành mà từng nhân viên ở đây dành

cho họ. Mỗi cử chỉ, hành động đều thể hiện văn hóa phục vụ của Nhật Bản - văn

hóa "Omotenashi".

3.4. Văn hóa K inh doanh (doanh nghiệp N hật Bản)

Chắc hẳn chúng ta ít nhiều đã nghe đến tinh thần làm việc của người Nhật.

Họ hết mình vì công việc và có ý thức tập thể vô cùng cao. "Muốn đi nhanh, hãy

đi một mình; muốn đi xa, hãy đi cùng nhau". Chính vì hiểu và sống được câu nói

này, người Nhật mới vươn lên mạnh mẽ từ đống đổ nát và tạo nên sự phát triển

kinh tế thần kì.

Tinh thần đó chính là tinh thần nỗ lực, cố gắng hết mình để làm hài lòng

người khác, mà ở đây là khách hàng hay những người mà họ yêu quý. Cách làm

việc này nảy sinh từ tư tưởng tập đoàn, sống vì tập thể, thậm chí quên cả bản thân

vì người khác của người Nhật. Trong cuộc sống hiện tại, tinh thần phục vụ được

thể hiện rất rõ ràng trong các ngành liên quan đến kinh doanh, dịch vụ, giải trí của

Nhật Bản. Nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ luôn trăn trở tạo ra sản phẩm tốt

nhất cho khách hàng, đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu rồi sau đó mới là

lợi nhuận.

Về phía người lao động, nhân viên của một công ty, tổ chức thì đó là tinh

thần trách nhiệm, cố gắng hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ được giao, là tâm

tư dằn vặt, áy náy khi bản thân không làm tốt nhiệm vụ, gây phiền phức cho đồng

nghiệp, phụ sự tin tưởng của cấp trên. Tinh thần trách nhiệm đó không phải chỉ vì

sự thăng tiến của bản thân mà là vì sự tín nhiệm của cấp trên và vì thành quả mà

họ tạo ra sẽ góp phần tạo được sự hài lòng từ khách hàng. Suy nghĩ này có ở rất

nhiều nước tiên tiến trên thế giới nhưng được thể hiện ró nét nhất, nổi bật nhất ở

con người Nhật Bản.

Đối với doanh nghiệp Nhật, đạt được thành quả tốt trong công việc và có

được sự hài lòng từ khách hàng và những người giúp đỡ mình là hạnh phúc trong

lao động. Nhưng để đạt được hạnh phúc ấy không hề đơn giản. Và một điều kiện

tiên quyết để có được hạnh phúc ấy chính là thấm nhuần tinh thần phục vụ.

Người Nhật không hoàn hảo toàn diện nhưng họ có những đức tính đáng

quý mà chúng ta nên học hỏi. "Omotenashi" trong doanh nghiệp Nhật Bản được

thể hiện rõ nét nhất trong việc chăm sóc khách hàng. Tuy nhiên, giữa các thành

phần nội bộ trong công ty cũng mang đậm nét văn hóa "Omotenashi" của người

Nhật. Tinh thần phục vụ lan tỏa từ cấp trên xuống nhân viên, giữa các nhân viên

với nhau và toàn bộ doanh nghiệp đến khách hàng.

3.4.1. T rong mối quan hệ giữa các thàn h viên trong công ty

Tác giả Inamori Kazuo, người viết tác phẩm (Jinsei no oudou

- Vương Đạo Cuộc Đời) từng nói: "Hưng suy của mỗi quốc gia đồng nhất với

trạng thái tâm hồn của quốc dân". [1, 8] Trong doanh nghiệp cũng vậy, nếu công

ty là quốc gia, thì quốc dân ở đây chính là mỗi nhân viên đang làm việc. Công ty

sẽ tồn tại và phát triển, hơn nữa sẽ phát triển bền vững khi mọi người trong công

ty đồng lòng, luôn suy nghĩ cho lợi ích của công ty, bỏ lại cái tôi của bản thân ở

phía sau để hạ mình phục vụ vì ích chung.

J.W.Mariott8 đã từng đưa ra lời khuyên rằng: "Nếu bạn biết chăm lo cho

nhân viên của mình thì họ sẽ tận tụy, chu đáo với khách hàng của bạn và khi đó

bạn sẽ không còn phải lo lắng về công việc kinh doanh của mình nữa." [5, 123]

Và tác giả Bùi Xuân Phong 9 cũng đã viết: "Mọi nghệ thuật phục vụ khách hàng

phải bắt nguồn từ nghệ thuật chinh phục nhân viên của bạn. Khi bạn hiểu tâm lý

nhân của nhân viên và làm cho họ hài lòng thì họ sẽ biết cách nắm bắt tâm lý của

khách hàng và làm cho khách hàng hài lòng. Tinh thần tận tụy và chu đáo sẽ tạo

nên nghệ thuật phục vụ nhu cầu trải nghiệm của khách hàng mà chúng ta thường

ca tụng là chất lượng phục vụ 5 sao. Để có một đội ngũ tận tụy và chu đáo với

khách hàng thì chính những người chủ, những người quản lý phải biết tận tụy và

chu đáo với nhân viên của mình. Dù khoa học công nghệ có tiên tiến tới đâu, máy

móc có thay thế con người đến thế nào thì ngành dịch vụ vẫn không thể thiếu bóng

dáng, bàn tay của con người. Bởi vì chỉ có con người mới biết phục vụ con người

tận tụy và chu đáo mà thôi." [5, 24]

Cấp trên tại các doanh nghiệp Nhật hiểu rõ: cần hướng sự quan tâm của

mình vào cảm xúc của người phục vụ hơn là tìm mọi cách thỏa mãn cảm xúc của

khách hàng, bởi vì khi cảm xúc được quan tâm thì nhân viên sẽ lan tỏa cảm xúc

đó tới khách hàng và thỏa mãn mọi nhu cầu trải nghiệm của họ. Người quản lý

không thể kiểm soát mọi tiểu tiết trong quá trình khách trải nghiệm dịch vụ của

khách hàng mà chính những người phục vụ trực tiếp mới có thể tương tác và tạo

8 J.W Marriott - người sáng lập đồng thời là CEO của tập đoàn Marriott International nổi tiếng trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn lớn nhất thế giới. 9 Bùi Xuân Phong là chuyên gia tư vấn và đào tạo nghiệp vụ Call Center & Telesales, từng là giám đốc dự án tái cấu trúc hoạt động của Trung tâm dịch vụ khách hàng (Contact Center), Sacombank (2011) cũng như giám đốc dự án thành lập Trung tâm dịch vụ khách hàng (Call Center), OCB (2013).

ra cảm xúc tích cực cho khách hàng ở mỗi giây phút trải nghiệm. Với việc làm ở

công ty Nhật, các nhà quản lý luôn biết lắng nghe ý kiến của nhân viên, vì theo

quan niệm người Nhật, có gắn kết thì doanh nghiệp mới phát triển lâu dài và bền

vững.

Người lãnh đạo công ty Nhật đều biết khen chê, thưởng phạt nhân viên một

cách thông minh. Ở các doanh nghiệp Nhật, các nhân viên luôn được ưu đãi, vì

các cấp quản lý người Nhật luôn thưởng phạt phân minh. Phạt ở đây không nhất

thiết phải đuổi việc nhân viên đó, có thể có những hình thức gửi thư cảnh cáo hoặc

trừ một tháng lương nếu phạm lỗi nặng. Nhưng nếu khi nhân viên làm được việc

và đạt thành tích tốt thì cấp quản lý sẽ công nhận những công lao của nhân viên

và kèm theo những phần thưởng hấp dẫn để khích lệ tinh thần làm việc. Cấp trên

doanh nghiệp Nhật cũng hiểu được tâm lý: Ngoài những quyền lợi từ công ty,

nhân viên còn mong muốn thêm khi làm việc hiệu quả hoặc đạt doanh số ngoài

mức mong đợi của cấp trên thì sẽ được trọng thưởng.

H ình 3.27. Cấp trên và nhân viên hòa hợp [63]

Ngược lại, với vai trò là người lao động, những nhân viên trong doanh

nghiệp Nhật hiểu rằng: một nhân viên đúng nghĩa là phải có tinh thần trách nhiệm,

cố gắng hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ được giao, là tâm tư dằn vặt, áy náy

khi bản thân không làm tốt nhiệm vụ, gây phiền phức cho đồng nghiệp, phụ sự tin

tưởng của cấp trên. Tinh thần trách nhiệm đó không phải chỉ vì sự thăng tiến của

bản thân mà là vì sự tín nhiệm của cấp trên và vì thành quả mà họ tạo ra sẽ góp

phần tạo được sự hài lòng từ khách hàng.

Một người thì không thể nào hoàn thành được công việc. Nhân viên doanh

nghiệp Nhật nhờ nắm rõ được câu nói này nên tinh thần teamwork10 của họ rất tốt.

Họ sẽ bỏ qua cái tôi cá nhân để góp phần xây dựng lợi ích chung, chia sẻ vai trò

cho mỗi người và cùng nhau hợp lực để có thể hoàn tất được công việc. Nhờ đó,

công việc được hoàn thành nhanh chóng với sự tin tưởng lẫn nhau.

H ình 3.28. N hân viên vui vẻ hợp tác hoàn thành công việc [65]

Mỗi nhân viên đều hướng đến cùng một mục đích đó là “Sự thành đạt”, cho

nên những mặt tốt mặt xấu của mối quan hệ con người với nhau cũng có những

chi phối nhất định đến thành tích của công ty. Tuy nhiên, nguyên tắc cơ bản của

mối quan hệ con người đó là “sự vị tha” và “sống vì người khác”. Xuất phát từ

việc muốn hiểu đối phương, tình cảm vị tha sẽ nảy sinh để nuôi dưỡng cho mối

quan hệ tốt đẹp hơn. Thông qua sự chân thành trong giao tiếp giữa các đồng

10 Teamwork là một nhóm từ 2 người cùng hợp tác để hoàn thành một mục tiêu chung trên cơ sở tương tác và trách nhiệm lẫn nhau, là cách tốt nhất để nhiều cá nhân cùng đạt đến một mục đích mà một mình không thực hiện được.

nghiệp, họ có được sự tin tưởng lẫn nhau và quan trọng hơn hết là “sự tâm thông”.

Nhờ xây dựng tốt mối quan hệ, công việc sẽ đạt những kết quả tốt.

Hơn nữa, nhân viên trong doanh nghiệp Nhật là những người có thể quên

mình để phục vụ cho lợi ích của công ty. Hình ảnh những nhân viên Nhật rời khỏi

chỗ làm về nhà vào đêm muộn là hình ảnh rất phổ biến tại Nhật. Với mong muốn

duy nhất và cũng là mong muốn tối thượng, công ty phát triển và phát triển ngày

càng bền vững.

3.4.2. T rong mối quan hệ với khách hàng

Nhật Bản sở dĩ trở thành thành thị trường có đòi hỏi gắt gao nhất trên thế

giới và trở thành thị trường tham chiếu của các doanh nghiệp hàng đầu chính là

vì doanh nghiệp Nhật suy nghĩ rất chu đáo cho khách hàng - sự phục vụ đối với

khách hàng của họ gần như đạt đến mức kín kẽ.

"Hầu hết doanh nhân của mọi quốc gia trên thế giới đều nhận thức đầy đủ

về tầm quan trọng của khách hàng. Doanh nhân châu Âu gọi khách hàng là "vua",

doanh nhân Trung Quốc gọi khách hàng là "ông Thần Tài", còn doanh nhân Nhật

Bản gọi khách hàng là "Thượng đế". Nhưng nghiên cứu thấu triệt nhất về khách

hàng, thực sự coi trọng tầm quan trọng của khách hàng, phục vụ khách hàng chu

đáo nhất có lẽ phải kể đến doanh nhân Nhật." [6, 197]

Người lãnh đạo doanh nghiệp Âu Mỹ cho rằng họ làm việc chủ yếu là vì

các cổ đông, còn các nhà lãnh đạo Nhật Bản công khai cho biết họ "làm việc vì

khách hàng". Vì quan niệm "khách hàng là trên hết" đã ăn sâu vào đầu doanh nhân

Nhật và "lấy khách hàng làm trung tâm" đã trở thành quan niệm kinh doanh của

đa số doanh nghiệp Nhật.

Hiện nay, khi kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu của con người không

chỉ dừng lại ở "ăn no, mặc ấm" mà đã trở thành "ăn ngon, mặc đẹp". Nói rộng ra,

phục vụ nhu cầu của con người ngày nay là phục vụ nhu cầu trải nghiệm. Khách

hàng càng có nhiều sự lựa chọn thì nhu cầu trải nghiệm ngày càng mạnh mẽ và

yêu cầu trải nghiệm ngày càng khắt khe. Mặc dù dựa theo một số quy luật chung,

doanh nghiệp có thể đoán trước được tâm lý khách hàng để có cách ứng phó,

nhưng nhu cầu và yêu cầu trải nghiệm của họ đã và đang dần trở nên cá nhân hóa.

Vì thế, nhằm thu hút, làm hài lòng và giữ chân khách hàng, đòi hỏi nhà cung cấp

dịch vụ không chỉ thông hiểu hành vi và tâm lý khách hàng, mà còn phải tinh tế

trong việc tạo ra chuỗi trải nghiệm từ giai đoạn tìm kiếm, quyết định mua cho đến

thời điểm sử dụng dịch vụ. Tận tụy, chu đáo với công việc và với khách hàng sẽ

giúp những người phục vụ trở nên tinh tế. Sự tinh tế, tận tụy, chu đáo này được

các doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng và thể hiện vô cùng tốt. Nhà cung cấp dịch

vụ Nhật không kinh doanh đơn thuần theo kiểu đáp ứng dịch vụ cho khách hàng

vừa đủ và đúng với số tiền mà doanh nghiệp được trả. Điều mà các doanh nghiệp

Nhật trăn trở và mục đích cuối cùng mà công ty Nhật hướng đến chính là làm hài

lòng khách hàng, cung cấp dịch vụ vượt lên cả sự mong đợi và khiến khách hàng

cảm động. Với các doanh nghiệp Nhật, cảm xúc của khách hàng là điều vô cùng

quan trọng vì: "Các nhà tâm lý học hành vi đã khẳng định 70% các trải nghiệm

của khách hàng được quyết định bởi cảm xúc. Cảm xúc được tạo ra từ các trải

nghiệm để rồi trở thành những câu truyền miệng của khách hàng. Hiểu rõ những

cách thức tạo ra cảm xúc tích cực tức là nắm trong tay quyền lực kiểm soát cảm

xúc của khách hàng, từ đó dễ dàng làm hài lòng và chinh phục họ. Lâu nay, chúng

ta thường lầm tưởng rằng làm hài lòng khách hàng tức là đáp ứng các nhu cầu "ăn

no mặc ấm" còn bây giờ là "ăn ngon mặc đẹp", mà không biết rằng trước khi cảm

thấy hài lòng, khách hàng cần được chào đón, trân trọng, quan tâm và đối xử đặc

biệt." [5, 23]

Người Nhật hiểu rằng: Muốn cả quốc gia phát triển thì việc đầu tiên phải

làm chính là cải thiện từ đơn vị con người. Vì thế, trong quan điểm kinh doanh

của người Nhật, khách hàng chính là thượng đế, họ coi mỗi lần khách đến cửa

hàng là một dịp để làm vừa lòng khách, dù khách có mua hàng hay không, mục

đích cao cả nhất vẫn là tạo dựng hình ảnh hoàn hảo cho đất nước Nhật Bản.

Người Nhật rất tôn trọng khách hàng của mình. Họ không phân biệt cấp bậc

khách hàng khi nhìn vào vẻ bề ngoài. Với họ, dù là một cửa hàng nhỏ hay một

trung tâm bán đồ hiệu xa xỉ thì mỗi khách hàng đều phải được tôn trọng như nhau,

dù đối tượng khách hàng của họ có là một người mang đồ hiệu, trên người tỏa ra

mùi nước hoa thơm nồng hay chỉ là một người ăn mặc giản dị.

"Đôi khi người ta mua hàng không phải vì người ta cần sản phẩm đó, mà vì

thích người bán hàng. Người bán hàng, nếu không thuyết phục được khách hàng

về lợi ích của sản phẩm, hãy khiến họ thích mình." [1, 58] Đó chính là văn hóa

bán hàng của người Nhật. Kể cả có nơi, sản phẩm chưa hẳn nổi bật và hấp dẫn,

nhưng chính tình cảm của khách hàng dành cho nhân viên đến quản lý đã kéo

khách, giữ khách và để khách quay lại.

H ình 3.29. N hân viên p h ụ c vụ khách với thái độ niềm n ở [66]

Nhân viên luôn nở nụ cười niềm nở và chân thành khi phục vụ khách hàng.

Họ không chỉ cười cho có, cười cho xong nhưng cười bằng sự trân trọng và quý

mến khách hàng thật sự. Họ cho rằng nụ cười không đến từ trái tim là nụ cười nửa

miệng. Thái độ khiên cưỡng sẽ biến người phục vụ trở thành một cái máy phục

vụ, dù tuân thủ mọi chuẩn mực của quy trình.

Tham quan bất kỳ một cửa hàng Nhật Bản được mở vào buổi sáng, mỗi

nhân viên cúi chào khi khách hàng bước vào thực sự là một trải nghiệm khó quên.

Và khi khách về, nhân viên lại xếp hàng ngay ngắn chào khách. Quả thật,

"Omotenashi" là một niềm tự hào và nỗ lực trong việc chào đón khách đến với

cửa hàng của mình của người Nhật.

H ình 3.30. N hân viên xếp hàng chào khách [61]

""Omotenashi" còn được thể hiện khi người bán hàng có thể đoán trước

đươc nhu cầu của khách hàng và đưa ra sản phẩm và dịch vụ tốt nhất mà khách

hàng không ngờ tới. Nhưng tại sao "Omotenashi" lại quan trọng trong văn hóa

doanh nghiệp Nhật? Bởi vì nếu sản phẩm và dịch vụ tốt thì sẽ giữ được trái tim

khách hàng. Quy luật 80/20 cũng cho thấy 80% doanh số có được là từ 20% trong

tổng số khách hàng. Do vậy, chất lượng của sản phẩm và dịch vụ sẽ quyết định sự

thỏa mãn của khách hàng và việc tiếp tục sử dụng dịch vụ hay mua sản phẩm của

công ty trong tương lai hay không. Sự thỏa mãn đó chính là kết quả của tinh thần

"Omotenashi"." [64]

"Omotenashi" có thể được nhìn thấy qua hình ảnh nhân viên ngân hàng hiếu

khách, lịch sự và tốt bụng. Như nếu chúng ta cần gửi tiền khác ngân hàng, nhưng

chúng không biết tên chi nhánh của ngân hàng đó, họ sẽ vẽ đường cho chúng ta

đi đến ngân hàng chúng ta muốn đến, thậm chí viết hẳn một câu giới thiệu để chỉ

cần đưa giấy ra là ngân hàng kia hiểu, và xin lỗi vì không giúp được gì nhiều hơn.

Những nhân viên thu ngân trong các cửa hàng tiện lợi cũng thể hiện văn

hóa "Omotenashi" một cách tuyệt vời. Họ cảm ơn, họ xin lỗi, họ chào, họ tạm biệt,

họ vuốt tờ tiền trả lại một cách phẳng phiu để thể hiện sự tôn trọng công sức lao

động của người mua hàng. Họ điềm đạm, ân cần chân thật, hỏi han khách hàng

cần gì, thậm chí nhờ nhân viên khác trông hộ quầy thu ngân để chạy đi chỉ cho

khách thứ khách cần tìm. Thái độ, giọng nói, mọi thứ dễ chịu đến nỗi khách hàng

chỉ muốn mua hàng và mua hàng nữa mà thôi. Họ mang đến cho khách sự phục

vụ vượt trên cả mong đợi nhờ hiểu rõ: "Chất lượng dịch vụ 5 sao phải được tạo ra

bởi những con người sở hữu nghệ thuật phục vụ 5 sao chứ không phải bởi cơ sở

vật chất 5 sao." [5, 139]

H ình 3.31. N hân viên tận tình p h ụ c vụ khách [67]

KẾT LUẬN

"Omotenashi" là phục vụ người khác bằng cả trái tim chân thành, không

mưu toan vụ lợi, không chỉ đi tìm lợi ích cá nhân. "Omotenashi" là dùng chính sự

tử tế và tấm lòng chân thành của mình để quan tâm, đối đãi với người khác; khiến

họ được vui vẻ và cảm động mà không mong được nhận sự đáp lại dù chỉ một

chút.

Văn hóa Omotenashi - Văn hóa phục vụ bằng trái tim của người Nhật chính

là chiếc chìa khóa mở ra thành công trong công việc cũng như cuộc sống.

"Omotenashi" là giá trị văn hóa quý báu của người Nhật, không những trong việc

chăm sóc khách hàng mà trong đời sống hàng ngày của người dân xứ sở hoa anh

đào cũng chứa đựng điều đó.

Qua những hình ảnh, những ví dụ cụ thể về tinh thần Omotenashi của người

Nhật, chúng ta có thể cảm nhận được phần nào giá trị của nét văn hóa này. Cách

người Nhật giữ gìn, phát triển và thành công nhờ tinh thần Omotenashi ra sao.

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp Nhật Bản rót vốn đầu tư vào thị trường

Việt Nam ngày càng tăng. Ngoài ra, số lượng công ty Nhật hiện diện ở Việt Nam

ngày càng nhiều. Do vậy, các doanh nghiệp Việt liên kết với doanh nghiệp Nhật

hay những công ty Việt làm ăn với công ty Nhật sẽ có cơ hội tốt để học tập tinh

thần Omotenashi của doanh nghiệp Nhật Bản.

Bên cạnh đó, số lượng du học sinh và người lao động chọn đất nước mặt

trời mọc để học tập và làm việc đang ngày càng trở nên phổ biến. Nhờ sống trong

môi trường Nhật Bản, họ có thể dễ dàng tiếp cận với đời sống người Nhật cũng

như tinh thần làm việc của doanh nghiệp Nhật. Đây có thể sẽ là những con người

Việt mang tinh thần Omotenashi Nhật đến với Việt Nam để giúp đất nước biết

đến và học hỏi được nét văn hóa tốt đẹp này của đất nước Phù Tang.

Hơn nữa, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin thì việc tìm

hiểu về văn hóa là điều rất đơn giản. Qua việc tìm hiểu, mỗi người có thể có cái

nhìn riêng của mình, cảm nhận những gì mình tìm hiểu được và đưa những điều

hữu ích vào cuộc sống.

Omotenashi là tinh hoa văn hóa của người Nhật. Tôi hy vọng, con người

Việt Nam có thể học tập được nét văn hóa này và ứng dụng nó vào cuộc sống. Để

rồi những cử chỉ, hành vi hằng ngày của người Việt cũng chứa đựng sự tử tế và

đều xuất phát từ tấm lòng; những doanh nghiệp Việt sẽ nhờ áp dụng Omotenashi

trong quan hệ giữa các thành viên trong công ty trở nên hòa hợp và thắt chặt hơn,

nhờ đó, việc đồng lòng đưa công ty phát triển qua việc chăm sóc khách hàng tận

tụy cũng ngày một phổ biến hơn.

Mong rằng, với tinh thần Omotenashi, công việc của chúng ta sẽ có những

bước tiến thành công và cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp, hạnh phúc hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. TÀI LIỆ U SÁCH

1. Inamori Kazuo (Nguyễn Đỗ An Nhiên dịch) (2017), Con đường đi đến

thành công bằng s ự tử tế, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh

2. Lê Nguyễn Nhật Linh (2017), Đến N hật B ản học về cuộc đời, NXB Trẻ,

Tp. Hồ Chí Minh

3. Akio Morita (2014), M ade in Japan, NXB Lao Động - Xã Hội, Hà Nội

4. Linda Kaplan Thaler & Robin Koval (Trịnh Ngọc Minh dịch) (2016), Sức

mạnh của s ự tử tế, NXB Thế Giới, TP. Hồ Chí Minh

5. Bùi Xuân Phong (2016 ), Tâm lý khách hàng và nghệ thuật p h ụ c vụ 5 sao

NXB Lao Động, Tp. Hồ Chí Minh

6. Lí Trí Nông (2015), Trí tuệ kinh doanh của nười Nhật, NXB Lao Động,

Tp. Hồ Chí Minh

II. TÀI LIỆ U INTERN ET

7. http://www.congdongotakuviet.com/t14779-tim-hieu-nhat-ban-van-hoa-

omotenashi-niem-tu-hao-cua-nguoi-nhat

8. http: //www.advite.com/CuocSongONhatBan.htm

9. http://blog.nhatnguohayo.com/2015/10/omotenashi-nghia-la-gi.html

10. http: //www.baomoi.com/nhat-ban-va-van-hoa-dich-vu-hang-dau-the-

gioi/c/14070602.epi

11. http://www.asadayaihei.co.jp/nagoya_ihei/hospitality/

12. http: //www.sendai-ymca.ac.j p/omotenashi/omotenashi2. php

13. https://www.facebook.com/ValueCreate.VN/posts/882869438492307

14. http: //www.omotenashi-j apan.com/omotenashi

15. http://tiin.vn/chuyen-muc/song/long-hieu-khach-dang-kinh-ngac-cua-

nguoi-nhat-ban.html

16. http://www.baonghean.vn/xa-hoi/van-hoa/201605/nguoi-nhat-lich-su-

nhat-the-gioi-2700254/

17. http: //kenh 14 .vn/xa-hoi/dang-nguong-mo-nhu-tai-xe-taxi-o-nhat-ban-

20140627041355855.chn

18. http://cafef.vn/16-dieu-nho-nhat-nhung-vo-cung-tuyet-voi-tu-nhat-ban-

ma-quoc-gia-nao-cung-mong-muon-co-duoc-20161211103137888.chn

19. http://www.kilala.vn/gia-dinh-va-am-thuc/vi-sao-toalet-o-nhat-luon-sach-

se.html

20. http://afamily.vn/11-dieu-o-nhat-ban-khong-the-tim-thay-o-bat-cu-noi-

dau-tren-the-gioi-so-7-that-than-ky-20161229141610612.chn

21. http://lacviettravel.com.vn/news/con-duong-phat-ra-tieng-nhac-tai-nhat-

ban-khien-du-khach-thich-thu/

22. http://tin8.co/con-duong-biet-hat-ky-la-giup-tai-xe-thu-gian-luc-lai-xe-

24563

23. http://thoidaimoi.edu.vn/18-su-thu-vi-ve-dat-nuoc-nhat-ban/

24. http: //www. mitoya-group .co.j p/tokucho/

25. http://www.songtinmungtinhyeu.org/index.php?open=contents&id=2854

26. http://linkedin.com/pulse/^ t -

yuki-togawa

27. http://thoibao.today/paper/phep-mau-7-phut-tren-tau-sieu-toc-cua-nhat-

ban-354849

28. http://thoibao.today/paper/nguoi-viet-hoc-duoc-gi-tu-cach-nguoi-nhat-

tranh-thu-7-phut-de-don-ve-sinh-tren-tau-sieu-toc-shinkansen-376453

29. http://news.zing.vn/nguoi-nhat-lich-su-nhat-the-gioi-post653539.html

30. http: //kul .vn/doi-song/ngo-ngang-long-hieu-khach-cua-nguoi-nhat-ban-

36540.html

31. https://www.dim-sum.nl/japan/onze-reizen/rondreizen/m/10369/japan-

familiereis/reisbeschrijving

32. http://richell.com.vn/csmb/an-dam-kieu-nhat/furoshiki-nghe-thuat-khan-

goi-qua-cua-nhat-ban-310.aspx

33. http://vietcotra.vn/Tin-tuc/Tra-dao-nhat-ban-co-the-ban-chua-biet-

c8a158.html

34. http: //kenh 14 .vn/kham-pha/thuong-thuc-tra-theo-kieu-nguoi-nhat-ban-

20101015010626956.chn

35. http: //www.kilala.vn/van-hoa-nhat/cha-no-yu-nghi-thuc-pha-tra-trong-

tra-dao.html

36. http ://goods. kuchibue.jp/?cid=55

37. http://ruiruitomidori.blog.fc2.com/blog-entry-418.html

38. http: //www.duhocnhatban.edu.vn/van-hoa-nhat-ban/5 5-van-hoa-nhat-

ban/97-nghe-thuat-tra-dao-nhat-ban-phan-cuoi.html

39. http: //dulichnhathan. net/chi-tiet-tin/banh-ngot-wagashi-nghe-thuat-am-

thuc-doc-dao-cua-nguoi-nhat-151128103248960

40. http://uji-matcha.vn/cach-pha-tra-dao-mot-nghe-thuat-doc-dao-nhat-

ban.html

41. http://www.amthucnhat.org/nghe-thuat-tra-dao.html

42. http://kbjanderson.com/life-in-japan-"Omotenashi"-the-spirit-of-japans-

customer-service-hospitality/

43. http://cotoacademy.com/oshibori/

44. http://blog.livedoor.jp/kuimonnew/archives/21384444.html

45. https://www.inshokuten. com/foodist/article/1914/

46. http: //j apan-magazine.j nto .go j p/zh/1509_sushi. html

47. http://glodeco.com.vn/doc-dao-voi-sushi-bang-truyen-tai-nhat-ban/

48. http://qoonell.me/26750/

49. https://www.panasonic.com/vn/consumer/aspire/005/omotenashi.html

50. http://cafef.vn/cach-nuoc-nhat-phat-trien-du-lich-tu-viec-cai-thien-don-

vi-con-nguoi-20170310090952005 .chn

51. http://selected-Ryokan.com/info/top-10-best-luxury-Ryokan-

2016_nagoya-chubu-hokuriku.html

52. http: //www.kilala.vn/du-lich-nhat/lu-quan-nhat-ban.html

53. http: //www.j as .cuhk.edu.hk/ en- GB/alumni-corner

54. https: //www.hotel .com.au/hakone/yo shiike-Ryokan.htm

55. https: //www.nakaya-Ryokan.com/vi/

56. http://www.kilala.vn/du-lich-nhat/miyagi-va-ve-dep-da-sac-ngay-hom-

nay.html

57. https: //chillchillj apan.com/how-to-wear-Ryokan-yukata/

58. http: //u-note.me/note/47503890

59. http: //www.kashiwaya.org/e/magazine/Ryokan/meal_Ryokan.html

60. http://jpninfo.com/4151

61. http://www.afr.com/news/world/asia/blame-it-on-the-bowing-japanese-

productivity-still-lowest-in-g7-20150716-gidv37

62. http: //www.j imotoya.net/welcome.html

63. http://imagenavi.jp/search/detail.asp?id=14940050

64. https://shiseidobeauty.com.vn/omotenashi-tinh-hieu-khach-kho-quen-cua-

nguoi-nhat/

65. http://style.nikkei.com/article/DGXZZO 16507170X10C17A5000000?cha

nnel=DF 180320167071

66. http: //nourishj apan.com/vn/

67. https: //www.youtube. com/watch?v=fIM5MWlfIAk&t=2s