BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG VỐN HIỆU QUẢ TRONG CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ
SINH VIÊN THỰC HIỆN
: NGUYỄN HÀ OANH
MÃ SINH VIÊN
: A17036
CHUYÊN NGÀNH
: TÀI CHÍNH
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG VỐN HIỆU QUẢ TRONG CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành
: Thạc sỹ Chu Thị Thu Thủy : Nguyễn Hà Oanh : A17036 : Tài Chính
HÀ NỘI - 2014
LỜI CÁM ƠN
Trước tiên, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới giáo
viên hướng dẫn - Th.S Chu Thị Thu Thủy. Cô giáo không chỉ là người đã trực tiếp giảng dạy em một số môn học chuyên ngành trong thời gian học tập tại trường, mà còn
là người luôn bên cạnh, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, hỗ trợ cho em trong suốt thời gian
nghiên cứu và thực hiện khóa luận này. Em xin chân thành cám ơn cô vì những kiến
thức mà cô đã truyền dạy cho em, đó chắc chắn sẽ là những hành trang quý báu cho em bước vào cuộc sống sau khi đi học.
Thông qua khóa luận này, em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến tập thể các quý thầy cô đang giảng dạy tại trường Đại Học Thăng Long, những người đã trực tiếp
truyền đạt và trang bị cho em đầy đủ các kiến thức về kinh tế, từ những môn học cơ
bản nhất, giúp em có được một nền tảng về chuyên ngành học như hiện tại để có thể
hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Bên cạnh đó, em cũng xin chân thành cám ơn các cô, các chú, các anh chị thuộc
Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ đã tạo điều kiện, giúp đỡ, hỗ trợ
cung cấp số liệu, thông tin và tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện bài
khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hà Oanh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự
hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người
khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Nguyễn Hà Oanh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VÀ PHÂN
TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP ............................ 1
1.1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ VỐN TRONG DOANH NGHIỆP ............................. 1
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của vốn trong doanh nghiệp ........................... 1
1.1.1.1 Khái niệm .................................................................................................... 1
1.1.1.2 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp ........................................................... 3
1.1.2 Phân loại vốn trong doanh nghiệp ..................................................................... 4
1.1.2.1 Căn cứ theo vai trò và tính chất luân chuyển vốn ...................................... 4
1.1.2.2 Căn cứ vào nguồn hình thành ..................................................................... 5
1.1.2.3 Căn cứ vào thời gian hoạt động và sử dụng vốn ........................................ 6
1.2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TRONG DOANH NGHIỆP ............................................................................................ 6
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp ............... 6
1.2.1.1 Khái niệm về hiệu quả ................................................................................. 6
1.2.1.2 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn trong DN ............................................ 7
1.2.2 Khái niệm, mục tiêu, vai trò của phân tích hiệu quả sử dụng vốn ..................... 8
1.2.2.1 Khái niệm của phân tích hiệu quả sử dụng vốn .......................................... 8
1.2.2.2 Mục tiêu của phân tích hiệu quả sử dụng vốn ............................................ 9
1.2.2.3 Vai trò của phân tích hiệu quả sử dụng vốn ............................................... 9
1.2.3 Thông tin sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng vốn ............................... 10
1.2.4 Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp ................. 11
1.2.4.1 Phương pháp so sánh ............................................................................... 11
1.2.4.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ ..................................................................... 11
1.2.4.3 Phương pháp liên hệ đối chiếu và xếp hạng ............................................. 11
1.2.4.4 Phương pháp Dupont ................................................................................ 12
1.2.5 Nội dung phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp ....................... 12
1.2.5.1 Phân tích tình hình biến động vốn ............................................................ 12
1.2.5.2 Phân tích cơ cấu vốn ............................................................................... 16
1.2.5.3 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp ........... 20
1.2.6. Ứng dụng phương pháp Dupont...................................................................... 26
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG
DOANH NGHIỆP ......................................................................................................... 28
1.3.1. Nhân tố khách quan ......................................................................................... 28
1.3.2 Nhân tố chủ quan ............................................................................................ 29
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ........................ 30
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY ................................................................... 30
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ................................................................... 30
2.1.1.1 Giới thiệu chung về Công ty. ................................................................... 30
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty: ......................................... 30
2.1.2 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh .................................................................... 31
2.1.3. Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại
Ngọc Tuệ ....................................................................................................................... 31
2.2. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG
VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ ................................................................................. 36
2.2.1 Phân tích tình hình biến động nguồn vốn trong DN ........................................ 36
2.2.2 Phân tích cơ cấu vốn. ....................................................................................... 39
2.2.2.1 Cơ cấu vốn phân loại theo vai trò và tính chất luân chuyển .................... 39
2.2.2.2 Cơ cấu vốn phân loại theo nguồn hình thành ........................................... 40
2.2.2.2 Cơ cấu nguồn vốn theo thời gian sử dụng ................................................ 42
2.2.3 Chiến lược quản lý vốn trong DN .................................................................... 43
2.2.4 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong DN ................................... 45
2.2.4.1 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn theo nguồn hình thành .......................... 45
2.2.4.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn theo tính chất luân chuyển .................... 50
2.2.4.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn theo thời gian sử dụng vốn ................... 61
2.2.4.4 Ứng dụng phương pháp Dupont ............................................................... 65
2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ ................................................................................. 67
2.3.1. Hiệu quả sử dụng vốn theo tốc độ luân chuyển .............................................. 67
2.3.1.1 Quản lý vốn lưu động............................................................................... 67
2.3.1.2 Quản lý vốn cố định .................................................................................. 68
2.3.2. Hiệu quả sử dụng vốn theo nguồn hình thành ................................................ 68
2.3.2.1 Quản lý VCSH ........................................................................................... 68
2.3.2.2 Quản lý Nợ phải trả .................................................................................. 69
2.3.3. Hiệu quả sử dụng vốn theo thời gian .............................................................. 69
2.3.3.1 Quản lý NVDH .......................................................................................... 69
2.3.3.2 Quản lý NVNH .......................................................................................... 69
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ........................ 70
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TRONG TƯƠNG LAI ............. 70
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ. ........................... 70
3.2.1 Xác định nhu cầu VLĐ .................................................................................... 70
3.2.2 Xây dựng chính sách tín dụng thương mại hợp lý ........................................... 71
3.2.3 Tăng tốc độ quay vòng hàng tồn kho ............................................................... 73
3.2.4 Đầu tư đổi mới TSCĐ, tăng tốc độ luân chuyển VCĐ .................................... 73
3.2.5 Quản lý chi phí và doanh thu hiệu quả. ............................................................ 74
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
CSH Chủ sở hữu
HĐTV Hội đồng thành viên
ĐVT Đơn vị tính
BCTC Báo cáo tài chính
VCĐ Vốn cố định
VLĐ Vốn lưu động
NVDH Nguồn vốn dài hạn
NVNH Nguồn vốn ngắn hạn
SXKD Sản xuất kinh doanh
NVDH Nguồn vốn dài hạn
NVNH Nguồn vốn ngắn hạn
TSCĐ Tài sản cố định
TSLĐ Tài sản lưu động
TSDH Tài sản dài hạn
TSNH Tài sản ngắn hạn
VCSH Vốn chủ sở hữu
NV Nguồn vốn
DN Doanh nghiệp
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng phân tích báo cáo kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Ngọc
Tuệ giai đoạn 2010-2012 ........................................................................... 32
Bảng 2.2. Bảng CĐKT- Phần Nguồn vốn tại Công ty Ngọc Tuệ giai đoạn 2010-
2012 ............................................................................................................ 38
Bảng 2.3: Bảng cơ cấu nguồn vốn của công ty Ngọc Tuệ giai đoạn 2010-2012 ......... 39
Bảng 2.4: Vòng quay VCSH tại công ty Ngọc Tuệ giai đoạn 2010-2012 ................... 46
Bảng 2.5: Tỷ suất sinh lời của VCSH tại công ty Ngọc Tuệ từ năm 2010-2012 ......... 47
Bảng 2.6: Khả năng thanh toán lãi vay của Công ty Ngọc tuệ từ 2010-2012 .............. 48
Bảng 2.7: Khả năng sinh lời tiền vay của Công ty Ngọc Tuệ từ 2010-2012 ............... 49
Bảng 2.8: Vòng quay VCĐ tại công ty Ngọc Tuệ từ 2010-2012 .................................... 50
Bảng 2.9: Tỷ suất sinh lời VCĐ của Công ty Ngọc Tuệ từ năm 2010-2012.................... 51
Bảng 2.10: Hệ số đảm nhiệm VCĐ của công ty Ngọc Tuệ từ 2010-2012 ....................... 52
Bảng 2.11: Khả năng thanh toán của công ty Ngọc Tuệ từ 2010-2012 ........................ 53
Bảng 2.12: Hiệu quả sử dụng VLĐ của công ty Ngọc Tuệ năm 2010-2012 ............... 56
Bảng 2.13: Vòng quay phải thu và thời gian thu nợ của Ngọc Tuệ 2010-2012 ........... 60
Bảng 2.14: Vốn lưu động ròng của công ty Ngọc Tuệ 2010-2012 .............................. 61
Bảng 2.15: Vòng quay Vốn ngắn hạn của Ngọc Tuệ năm 2010-2012 ......................... 62
Bảng 2.16: Tỷ suất sinh lời Vốn ngắn hạn của Ngọc Tuệ năm 2010-2012 ................. 63
Bảng 2.17: Vòng quay Vốn dài hạn của Ngọc Tuệ năm 2010-2012 ........................... 64
Bảng 2.18: Tỷ suất sinh lời NVDH của Ngọc Tuệ năm 2010-2012 ............................ 65
Bảng 2.19: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của Công ty Ngọc Tuệ ........................... 66
năm 2010-2012 ............................................................................................................. 66
Bảng 2.20: Tỷ suất sinh lời trên VCSH của Công ty Ngọc Tuệ năm 2010-2012 ........ 66
Bảng 2.21: Tỷ suất sinh lời trên VCSH của Công ty Ngọc Tuệ năm 2010-2012 ........ 67
Bảng 3.1. Bảng cân đối kế toán rút gọn năm 2012 ...................................................... 71
Bảng 3.2. Tỷ lệ phần trăm các khoản mục có quan hệ chặt chẽ với doanh thu ........... 71
Bảng 3.3. Danh sách các nhóm rủi ro ........................................................................... 72
Bảng 3.4. Mô hình cho điểm tín dụng để phân nhóm rủi ro ........................................ 72
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Chính sách quản lý vốn .................................................................................. 44
Biểu đồ 2.1: Chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho của Công ty Ngọc Tuệ ............................ 59
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn là chìa khóa, là phương tiện để biến các ý tưởng trong kinh doanh thành hiện thực. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn sẽ góp phần quyết định sự thành bại của DN,
chính vì vậy bất kỳ một DN nào dù lớn hay nhỏ thì đều quan tâm đến vốn và vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Biểu hiện hình thái giá trị của các tài sản chính là vốn
của DN. Vì vậy, điều đầu tiên DN cần phải có là một lượng vốn nhất định. Chỉ khi nào
có vốn DN mới có thể đầu tư các yếu tố đầu vào để thực hiện hoạt động sản xuất kinh
doanh. Thế nhưng đã có một quy luật bất thành văn, ở đâu có lợi nhuận ở đó có rủi ro.
Rủi ro xảy ra đe dọa hoạt động của DN, làm thất thoát vốn, hao hụt, hoặc thậm chí là
phá sản. Để tránh gây ra hậu quả này, DN phải có cách tốt nhất nhằm quản lý và sử
dụng vốn một cách hiệu quả.
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN cũng là quá trình hình thành,
phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của DN. Trong quá trình đó, đã phát sinh các
luồng tiền tệ gắn liền với hoạt động đầu tư và kinh doanh thường xuyên của DN, bao
gồm các luồng tiền tệ đi vào và đi ra khỏi DN, tạo thành sự vận động của các luồng tài
chính trong doanh nghiệp. Sự vận động này cũng giống như sự lưu thông tuần hoàn
máu trong cơ thể, phải được duy trì đều đặn và thông suốt. Chính vì thế công tác quản
trị tài chính DN được chú trọng hàng đầu trong quản trị DN, góp phần quản lý chặt
chẽ, tăng hiệu quả sử dụng vốn và thúc đẩy DN phát triển.
Đối với các DN trong ngành thương mại và xây dựng như công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ thì vốn mang những đặc thù riêng. Có vốn DN mới có
điều kiện để trang bị các thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh
doanh cùng với việc ứng dụng khoa học vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn cũng
quyết định đến khả năng đổi mới thiết bị, công nghệ, phương pháp quản lý…của DN
trong suốt quá trình hoạt động. Bên cạnh đó vốn còn ảnh hưởng đến phạm vi hoạt
động đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh của DN bởi tất cả những hoạt động xây dựng phương án kinh doanh đầu tư, xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm, phân tích thị trường đều phụ thuộc vào quy mô vốn nhất định. Đối mặt với những yêu cầu thiết như vậy, công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ rất nỗ lực trong việc đảm bảo nguồn vốn kinh doanh, giúp DN trong việc chống đỡ được những tổn thất, rủi ro, biến động thị trường, khủng hoảng tài chính…trong quá trình hoạt động. Chính vì vậy,
công tác quản lý và sử dụng vốn trong các DN sao cho hiệu quả cũng phức tạp, khó
khăn hơn, đòi hỏi những chính sách rõ ràng và chặt chẽ.
2. Mục tiêu của đề tài
Nhận thấy được tính thiết yếu của vốn trong các DN,với đề tài này em sẽ nghiên cứu thực trạng sử dụng vốn và mức độ hiệu quả sử dụng vốn của công ty TNHH Xây
dựng và Thương mại Ngọc Tuệ. Từ đó làm rõ được tầm quan trọng của vốn, những
biến động của vốn ảnh hưởng đến DN ra sao, nhằm đem đến một cái nhìn hết sức toàn
diện, những giải pháp ngắn hạn và dài hạntrong cách thức sử dụng vốn giúp công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ nói riêng và các công ty Thương mại nói
chung sử dụng vốn một cách hiệu quả.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong DN Phạm vi nghiên cứu: Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ giai
đoạn 2010-2012
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài khóa luận này em sẽ khái quát lý luận để đưa ra cơ sở lý luận về vốn
và hiệu quả sử dụng vốn của DN. Sau đó em sẽ dùng phương pháp so sánh để thấy
được sự thay đổi về con số qua từng năm và nêu ra ý nghĩa của sự thay đổi đó, dùng
phương pháp tỷ số để ước tính được tỷ trọng của các khoản như ROE, tỷ số nợ, khả
năng sinh lời,… sau đó tiếp tục khai thác sâu hơn bằng phương pháp phân tích từi
chính Dupont để xử lý số liệu. Bằng sự kết hợp hài hòa và khoa học các phương pháp trên, em từng bước bóc tách được vấn đề, từ đó đưa ra được những nhận định, phân
tích, đánh giá một cách đúng đắn và khách quan nhất. Cũng như đưa ra các giải pháp
giúp DN sử dụng vốn ngày càng trở nên hiệu quả.
5. Kết cấu bài khóa luận
Bài khóa luận của em được chia thành 3 phần.
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn và phân tích hiệu quả sử
dụng vốn trong DN.
Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH
Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong
công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VÀ
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của vốn trong doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm
Theo quan điểm của Mác dưới góc độ của các yếu tố sản xuất thì: “Vốn (tư bản) không phải là vật, là tư liệu sản xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn. Tư bản là giá
trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê”. Để tiến hành sản
xuất, nhà tư bản ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá
trị thặng dư. Mác chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến. Tư bản bất biến
là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nhà
xưởng,...) mà giá trị của nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm. Còn tư bản khả
biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức lao động, trong quá trình sản xuất thay
đổi về lượng, tăng lên do sức lao động của hàng hoá tăng. Định nghĩa này có tính khái
quát cao, xong do sự hạn chế của trình độ phát triển nền kinh tế đương đại, ông cho
rằng chỉ có khu vực trực tiếp sản xuất mới tạo ra được giá trị thặng dư cho DN.
(Trang 147, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin)
Paul.A.Samuelson – nhà kinh tế học hiện đại cho rằng: “Vốn là một loại hàng
hóa, được sản xuất ra nhằm phục vụ một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt
động sản xuất của DN, bao gồm máy móc, vật tư, trang thiết bị, nguyên liệu,…” Quan
niệm của ông là một bước tiến lớn so với các bậc tiền bối, song ông không đề cập đến
các tài sản tài chính, giấy tờ có giá trị đem lại lợi nhuận cho DN. Như vậy ông đã đồng
nhất vốn với TSCĐ của DN.
(Trang 93, Kinh tế học, Paul A. Samuelson)
Theo David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused trong cuốn (Kinh tế học)
thì: vốn hiện vật là giá trị của hàng hoá đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hoá và dịch vụ khác. Ngoài ra còn có vốn tài chính. Bản thân vốn là một hàng hoá nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo. Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn, nhưng hạn chế cơ bản là chưa cho thấy mục đích của việc sử dụng vốn.
(Chương 12, Kinh tế học, David Begg & Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch)
Trong tài chính DN có nhiều quan niệm về vốn, như:
Theo nghĩa rộng thì: vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản
xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ
1
thuật của DN được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán
bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong DN, uy tín của DN. Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế
thị trường. Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khăn phức tạp nhất là
khi nước ta trình độ quản lý kinh tế còn chưa cao và pháp luật chưa hoàn chỉnh.
Theo nghĩa hẹp thì: vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi DN, mỗi quốc gia.
Có thể thấy, các quan điểm khác nhau về vốn ở trên, một mặt thể hiện được vai
trò tác dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ
thể. Mặt khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên phương diện hạch toán và
quản lý, các quan điểm đó chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về quản lý đối với hoạt động kinh doanh của DN. Vì vậy để đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hạch toán và
quản lý vốn trong cơ chế thị trường hiện nay có thể khái quát như sau:
Khái niệm về vốn được chia thành hai phần: Tư bản là giá trị mang lại giá trị
thặng dư. Vốn được quan tâm đến khía cạnh giá trị nào đó của nó mà thôi. Bảng cân
đối kế toán phản ánh tình hình tài chính của một DN tại một thời điểm . Vốn được nhà
DN dùng để đầu tư vào tài sản của mình. Nguồn vốn là những nguồn được huy động
từ đâu. Tài sản thể hiện quyết định đầu tư của nhà DN; Còn về bảng cân đối phản ánh
tổng dự trữ của bản thân DN dẫn đến DN có dự trữ tiền để mua hàng hoá và dịch vụ
rồi sản xuất và chuyển hoá, dịch vụ đó thàng sản phẩm cuối cùng cho đến khi dự trữ hàng hoá hoặc tiền thay đổi đó sẽ có một dòng tiền hay hàng hoá đi ra đó là hiện tượng
xuất quỹ, còn khi xuất hàng hoá ra thì DN sẽ thu về dòng tiền (phản ánh nhập quỹ và
biểu hiện cân đối của DN là ngân quỹ làm cân đối dòng tiền trong DN).
Tóm lại, nguồn vốn của DN là nguồn hình thành nên các tài sản của DN, nguồn
vốn DN thường bao gồm 2 nguồn cơ bản là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
(Trang 230, Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính, PGS.TS Nguyễn Năng Phúc)
1.1.1.1 Đặc điểm của vốn trong doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là yếu tố quan trọng số một của mọi DN. Vốn
mang những đặc điểm sau:
Vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của DN nhằm mục đích sinh lời. Vốn bao gồm hai mặt là hiện vật và giá trị của bộ phận nguồn lực DN được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Cónghĩa là vốn phải được biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của
DN, đồng thời cũng phải vận động và sinh lời, đạt được mục tiêu trong kinh doanh.
Vốn là điều kiện vật chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác tạo
ra đầu vào của qúa trình sản xuất kinh doanh. Vốn hiện hữu ngay từ đầu khi chưa bắt
đầu quá trình sản xuất và tồn tại đến chu kỳ sản phẩm cuối cùng.
2
Vốn phải được tích tụ và tập trung một lượng nhất định thì mớicó khả năng phát
huy tác dụng khi đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh.
Vốn có giá trị về mặt thời gian. Điều này có thể có vai trò quan trọng khi bỏ vốn
vào đầu tư và tính hiệu quả khi sử dụng đồng vốn.
Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, vốn sẽ không được đưa ra để đầu tư
khi mà người chủ của nó nghĩ về một sự đầu tư không có lợi nhuận.
Vốn được quan niệm như một thứ hàng hoá và có thể được coi là thứ hàng hoá
đặc biệt vì nó có khả năng được mua bán quyền sở hữu trên thị trường vốn, trên thị
trường tài chính.
Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền hay các giá trị hiện vật ( TSCĐ của DN: máy móc, trang thiết bị vật tư dùng cho hoạt động quản lý. . .) mà còn là của các tài sản vô
hình ( các bí quyết trong kinh doanh, các phát minh sáng chế,. . . )
1.1.1.2 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp
Vốn của các DN có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển
của từng loại hình DN theo luật định. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho
sự ra đời, tồn tại và phát triển của các DN. Tuỳ theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng
như phương thức huy động vốn mà DN có tên là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn, DN tư nhân, DN nhà nước, DN liên doanh...
Vốn là cơ sở, là tiền đề cho một DN bắt đầu khởi sự kinh doanh. Muốn đăng ký kinh doanh, theo quy định của nhà nước, bất cứ DN nào cũng phải có đủ số vốn pháp
định theo từng ngành nghề kinh doanh của mình (vốn ở đây không chỉ gồm tiền mặt,
tiền gửi ngân hàng, mà nó còn là các tài sản thuộc sở hữu của các chủ DN). Rồi để tiến
hành sản xuất kinh doanh, DN phải thuê nhà xưởng, mua máy móc thiết bị, công nghệ,
nguyên vật liệu, thuê lao động... tất cả những điều kiện cần có để một DN có thể tiến
hành và duy trì những hoạt động cuả mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra.
Không chỉ có vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN, vốn là điều
kiện để DN mở rộng sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm, tăng thu nhập cho người lao động... cũng như tổ chức bộ máy quản lý đầy đủ các chức năng. Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường.
Vốn là một trong số những tiêu thức để phân loại qui mô của DN, xếp loại DN vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những tiềm năng quan trọng để DN sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có và tương laivề sức lao động, nguồn
cung ứng hàng hoá, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá. Bởi vậy các doanh nhân thường ví “buôn tài không bằng dài vốn”.
3
Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm trong sản suất kinh doanh. Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ sở, là tiền đề để DN tính toán hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh. Nó cũng là chất
keo để chắp nối, kết dính các quá trình và quan hệ kinh tế và nó cũng là dầu nhờn bôi
trơn cho cỗ máy kinh tế vận động có hiệu quả.
Vốn kinh doanh của DN là yếu tố giá trị. Nó chỉ phát huy được tác dụng khi bảo tồn được và tăng lên được sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Nếu vốn không được bảo toàn
và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó là hiện tượng mất
vốn. Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn đến DN mất khả năng thanh toán sẽ làm cho DN bị phá
sản, tức là vốn kinh doanh đã bị sử dụng một cách lãng phí, không hiệu quả.
1.1.2 Phân loại vốn trong doanh nghiệp 1.1.2.1 Căn cứ theo vai trò và tính chất luân chuyển vốn
Thông qua những hình thức phân loại này, các DN có thể chủ động duy trì hay
tăng thêm các tài sản dài hạn bằng VCĐ hoặc điều chỉnh và phân phối VLĐ của mình
sao cho phù hợp với qui mô sản xuất và mục đích kinh doanh. Từ đó tạo ra sự khác
nhau giữa tỉ trọng của các thành phần cấu thành nên Vốn trong tổng nguồn Vốn của
DN, đó chính là kết cấu Vốn. Phân loại vốn trong DN căn cứ vào vai trò và tính chất
luân chuyển vốn sẽ giúp xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn có
hiệu quả hơn. Mặt khác thông qua việc thay đổi kết cấu vốn của mỗi DN trong những thời kì khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực hoặc những hạn chế về mặt
chất lượng trong công tác quản lý Vốn của từng DN.
Vốn cố định
Việc đầu tư thành lập một DN bao gồm việc xây dựng nhà xưởng, nhà làm việc
và quản lý, lắp đặt các hệ thống máy móc thiết bị chế tạo sản phẩm, mua sắm các
phương tiện vận tải … Khi các công việc được hoàn thành và bàn giao thì DN mới có
thể bắt đầu tiến hành sản xuất được. Như vậy vốn đầu tư ban đầu đó đã chuyển thành
VCĐ của DN.
Vì VCĐ của DN là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ; nên nó luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng. VCĐ của DN đóng vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh. Việc đầu tư đúng hướng TSCĐ sẽ mang lại hiệu quả và năng suất rất cao trong kinh doanh, giúp cho DN cạnh tranh tốt hơn và đứng vững trong thị trường.
Quy mô của VCĐ quyết định quy mô của tài sản nhưng các đặc điểm của tài sản
lại ảnh hưởng đến sự vận động và công tác quản lý VCĐ. Muốn quản lý VCĐ một cách hiệu quả thì phải quản lý sử dụng tài sản một cách hữu hiệu.
4
Vốn lưu động
Vốn lưu động luôn được chuyển hoá qua nhiều hình thức khác nhau, bắt đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật tư hàng hoá và lại quay trở về hình thái tiền
tệ ban đầu của nó. Vì quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục cho nên vốn lưu
động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ thành sự chu chuyển của vốn.
Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn, thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Tài sản lưu động tồn tại dưới dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu,
bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ... ) sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản
phẩm dở dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ, tiền mặt... trong giai đoạn lưu thông.
Trong bảng cân đối tài sản của DN thì tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ
tồn kho.
1.1.2.2 Căn cứ vào nguồn hình thành
Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn được chia thành hai phần là vốn chủ sở hữu và
nợ phải trả. Phân loại theo hình thức này sẽ cho ta thấy được mức độ tự chủ trong hoạt
động tài chính ra sao, hay tình hình các khoản nợ mà DN còn phải đi vay như thế nào,
nó là cơ sở để DN lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp tuỳ theo loại hình sở hữu, ngành
nghề kinh doanh, quy mô trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như chiến
lược phát triển và chiến lược đầu tư của DN. Dựa vào đó, các nhà quản trị mới đưa ra được các chiến lược để cơ cấu vốn và điều hành DN sao cho hợp lý, tránh tình trạng
Nợ ngắn hạn quá nhiều khiến DN bị động trong việc sử dụng vốn.
Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn và DN
không phải cam kết thanh toán, do vậy vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ.
Vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản như Vốn pháp định, các quỹ của DN, lợi
nhuận chưa phân phối, và các nguồn vốn khác như vốn liên doanh liên kết, kinh phí
xây dựng cơ bản, kinh phí sự nghiệp,…
Nợ phải trả
Đối với một DN hoạt động trong nền kinh tế thị trường, vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng nhưng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, DN phải tăng cường huy động các nguồn vốn khác dưới hình thức vay nợ, liên doanh liên kết, phát hành trái phiếu và các hình thức khác.
Nợ phải trả của DN bao gồm các khoản như vốn vay, vốn tín dụng thương mại,
các khoản phải trả người bán, phải thanh toán với ngân sách Nhà nước được hoãn lại, vốn tín dụng thuê mua,… Riêng với vốn tín dụng thuê mua, là một phương thức giúp
cho các DN thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động kinh doanh
5
của mình. Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành
và thuê tài chính
1.1.2.3 Căn cứ vào thời gian hoạt động và sử dụng vốn
Phân loại vốn theo cách này giúp DN xác định được khả năng thanh toán của mình, và cũng là cách để đánh giá chất lượng tài chính và hiệu quả hoạt động. Nếu nguồn vốn ngắn hạn được huy động có khả năng thanh toán thấp, sẽ xuất hiện các rủi ro tài chính, nguy cơ phá sản có thể xảy ra kể cả khi điều kiện chi tiêu khả năng thanh toán tổng quát cao. Còn về nguồn vốn dài hạn, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu có sẵn, vốn vay được dùng để đầu tư các tài sản dài hạn hay các khoản phải thanh toán như công nợ quá hạn, công nợ đến hạn, các khoản phải thanh toán ở kỳ tới. Như vậy, việc phân loại vốn theo thời gian hoạt động giúp DN nắm được tình hình tài chính của công ty, đưa ra những biện pháp cân bằng và đảm bảo có kế hoạch sử dụng tiền, đáp ứng tốt cho quá trình kinh doanh của DN. Nguồn vốn ngắn hạn Vốn ngắn hạn là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh số có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và các khoản chiếm dụng của bạn hàng.
Nguồn vốn dài hạn Vốn dài hạn là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà DN có thể sử dụng để đầu tư vào TSCĐ và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động DN. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn của DN. 1.2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm về hiệu quả
Trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước hiện nay để thực hiện tốt chế độ hoạch toán kinh tế, bảo đảm lấy thu bù chi và có lãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ, là cơ sở để thị trường tồn tại và phát triển của mỗi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt. Điều này đòi hỏi các thành phần kinh tế các DN hoạt động kinh doanh phải có hiệu quả.
Hiệu quả xã hội là đại lượng phản ánh mức độ thực hiện các mục tiêu xã hội của DN và mức độ ảnh hưởng của các kết quả đạt được của DN đến xã hội và môi trường.
Hiệu quả kinh tế có rất nhiều cách hiểu, có rất nhiều định nghĩa khác nhau tuỳ
thuộc vào mục đích kinh doanh của từng DN theo nghĩa rộng hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của các DN.
Cụ thể, hiệu quả kinh tế quốc dân hay còn gọi là hiệu quả kinh tế xã hội là hiệu quả
6
tổng hợp được xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Chủ thể của hiệu quả kinh tế xã
hội là toàn bộ xã hội mà người đại diện cho nó là Nhà nước, vì vậy những lợi ích và chi phí được xem xét trong hiệu quả kinh tế xã hội xuất phát từ quan điểm toàn bộ nền
kinh tế quốc dân.
Hiệu quả tài chính còn được gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệu quả
DN là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một DN. Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ chi phí kinh tế mà DN phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế.
Hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các
mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong
những điều kiện nhất định.
Có nhiều cách định nghĩa hiệu quả khác nhau nhưng có lẽ cách định nghĩa sau
đây là toàn diện và sát thực nhất:
"Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô
lệ đến xã hội chủ nghĩa. Hiệu quả được coi là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa
kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí chủ thể bỏ ra để có
kết quả đó trong những điều kiện nhất định".
(Trang197, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp – Đại học Kinh tế quốc dân)
1.2.1.2 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn trong DN
Một DN muốn đạt hiệu quả thì phải đạt lợi nhuận cao vì lợi nhuận liên quan đến sự tồn tại và phát triển của DN. Có thể nói một DN có lợi nhuận cao tức là sử dụng
vốn hiệu quả. Để đạt được hiệu quả thì phải làm tốt tất cả các khâu từ chuẩn bị đi vào
sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
DN phải đảm bảo các điều kiện khai thác vốn triệt để, tức là vốn phải vận động sinh
lời không để nhàn rỗi. Bên cạnh đó việc sử dụng vốn phải tiết kiệm và phù hợp với
việc dùng vốn vào mục đích sao cho hiệu quả. Quản lý vốn chặt chẽ chống thất thoát,
lạm dụng chức quyền vào việc sai mục đích.
Hiệu quả sử dụng vốn của DN là quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình kinh doanh hay cụ thể là quan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh doanh với toàn bộ chi phí của quá trình kinh doanh đó. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn không chỉ thể hiện đơn thuần ở kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh, mà nó còn thể hiện ở nhiều mặt chỉ tiêu về kinh tế thanh toán, số vòng quay của vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hóa thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả
năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn … Nó phản ánh quan hệ
giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ
hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiên
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì
7
hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điêù kiện
quan trọng để doanh nghiệp phát triển vững mạnh.
Hiệu quả sử dụng vốn của DN là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai
thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn.Nó phản ánh số lợi nhuận sau thuế trong 100
đồng doanh thu. Cách đo lường chính xác, thể hiện một cách hiệu quả nhất là thước
đo tiền tệ để lượng hóa các yếu tố đầu vào và đầu ra. Tuy nhiên quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn được chia theo 2 khía cạnh:
Với số vốn hiện có, DN có thể sản xuất thêm sản phẩm với chất lượng tốt, giá
thành hạ nhằm mục đích tăng lợi nhuận cho DN.
Đầu tư thêm vốn sao cho tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm
mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của vốn chủ sở hữu.
(Trang 168, Giáo trình Quản lý tài chính DN, Học viện tài chính)
1.2.2 Khái niệm, mục tiêu, vai trò của phân tích hiệu quả sử dụng vốn
1.2.2.1 Khái niệm của phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn là một phần trong phân tích tài chính DN, vậy
trước khi đi vào tìm hiểu phân tích hiệu quả sử dụng vốn là gì, ta cần nắm được khái
niệm về phân tích tài chính DN. Để nhận thức được xu hướng phát triển của tài chính
DN đòi hỏi cần có nhiều phương pháp khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho phân tích
TCDN ngày càng hoàn thiện, đồng thời cũng tạo ra sự phức tạp của phân tích tài
chính.
“Phân tích tài chính DN là tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình
hình tài chính đã qua và hiện nay, dự đoán tình hình tài chính trong tương lai của DN,
giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết định của quản lý phù hợp với mục tiêu mà họ
quan tâm.”
(Trang 8, Giáo trình Phân tích TCDN – Học viện tài chính)
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn nhằm mục đích nhận thức đúng đắn về hiệu quả sử dụng vốn của DN để từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Qua khái niệm về phân tích tài chính DN, ta có thể đưa ra khái niệm về phân tích hiệu quả sử dụng vốn như sau: phân tích hiệu quả sử dụng vốn là quá trình phân tích quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh hay cụ thể là quan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh doanh với toàn bộ chi phí của quá trình kinh doanh đó ra thành từng mảnh nhỏ, để hiểu từng chi tiết, từng khía cạnh, xem xét và đánh giá nó đã
8
thực sự hiệu quả hay chưa để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những mặt hạn
chế và phát huy những ưu điểm của DN trong quản trị và sử dụng vốn.
1.2.2.2 Mục tiêu của phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Xét trong quá trình phân tích hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh, phân
tích hiệu quả sử dụng vốn là công việc tất yếu và quan trọng bậc nhất.
Thứ nhất: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn từ đó xem xét việc sử dụng vốn có hiệu quả giúp DN có uy tín huy động vốn tài trợ dễ dàng không và sẽ đảm bảo an toàn
tài chính cho DN. Đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc
thực hiện các nguyên tắc cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán,
dự báo các nguy cơ rủi ro từ đó có các biện pháp điều chỉnh kịp thời và có các cơ sở cần thiết để hoạch định chính sách tài chính cho tương lai của DN.
Thứ hai: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn giúp DN tự đánh giá và nâng cao uy tín
của mình trên thị trường, nâng cao mức sống của cán bộ công nhân viên. Khi DN làm
ăn có lãi thì tác động tích cực không chỉ đóng góp đầy đủ vào ngân sách nhà nước mà
cải thiện việc làm cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân tự
khẳng định mình trong môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Thứ ba:Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tạo điều kiện giúp các DN tăng khả năng
cạnh tranh của mình trên thị trường. Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị
trường thì kéo theo đó là sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Cạnh tranh là quy luật tất yếu của thị trường, cạnh tranh để tồn tại. Khi DN làm ăn hiệu quả, DN mở rộng quy
mô, đầu tư vào công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, đào tạo
đội ngũ cán bộ chất lượng tay nghề cao ....
1.2.2.3 Vai trò của phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Một trong vai trò quan trọng nhất trong phân tích tài chính DN, là phân tích hiệu
quả sử dụng vốn sẽ đem lại cái nhìn khách quan cho DN, làm rõ được những nguyên
nhân trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận, đến quyền lợi đến mục đích cao nhất của DN.
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có nghĩa là
nâng cao lợi nhuận. Như vậy ta có thể nhận thấy phân tích hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một việc làm thiết yếu của bất kỳ một DN nào.
Đánh giá đúng hiệu quả sử dụng vốn sẽ thấy được chất lượng của việc sản xuất kinh doanh nói chung và việc sử dụng vốn nói riêng. Mục tiêu cũng như ý tưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh là hướng tới hiệu quả kinh tế trên cơ sở khai thác và sử dụng một cách triệt để mọi nguồn lực sẵn có. Chính vì thế, các nguồn lực kinh tế trên cơ sở khai thác và sử dụng, đặc biệt là nguồn vốn sản xuất
kinh doanh của DN, có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn sẽ đem lại hiệu quả thực sự cho hoạt động
9
sản xuất kinh doanh của DN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là nhu cầu
thường xuyên bắt buộc của bất cứ DN nào trong nền kinh tế thị trường.
1.2.3 Thông tin sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Các thông tin bên trong đó là những yếu tố thuộc về tổ chức DN, ngành sản phẩm mà DN kinh doanh, quy trình công nghệ, năng lực của lao động, năng lực của các nhà quản trị DN,… Đó là những thông tin về chiến lược, sách lược kinh doanh của DN trong từng thời kỳ, những thông tin về tình hình kết quả kinh doanh của DN, tình hình sử dụng vốn, khả năng thanh toán,… Những thông tin này được thể hiện qua những giải trình của các nhà quản lý, qua các báo cáo của hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ,… Thông tin về đặc điểm hoạt động kinh doanh của DN như mục tiêu và chiến lược kinh doanh của DN, chính sách tài chính tín dụng của DN, tính thời vụ, chu kỳ kinh doanh của DN. Những thông tin bên trong của DN rất phong phú. Một số được công khai, một số chỉ dành cho những người có lợi ích gắn liền với sự sống còn của DN.
Các thông tin bên ngoài như chế độ chính trị, xã hội tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật, chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế,… Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có sự tác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh của DN. Những thông tin về các cuộc thăm dò thị trường, sự kỳ vọng phát triển trong sản xuất kinh doanh và dịch vụ thương mại ảnh hưởng đến chiến lược và sách lược kinh doanh trong từng thời kỳ. Khi phân tích tài chính, điều quan trọng phải biết sự lặp đi lặp lại của cơ hội: Vượt qua tăng trưởng đến suy thoái và ngược lại.
Các thông tin theo ngành kinh tế là những thông tin mà kết quả hoạt động của DN mang tính chất của ngành kinh tế như đặc điểm của ngành liên quan đến thực thể của sản phẩm, tiến trình kỹ thuật, cơ cấu sản xuất có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn, nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế. Quy mô và triển vọng phát triển của thị trường. Tính chất cạnh tranh của thị trường, mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng. Nguy cơ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh tiềm năng.
Các thông tin phục vụ công tác phân tích hiệu quả sử dụng vốn rất đa dạng, phong phú nhưng chủ yếu nhất là các báo cáo tài chính của đơn vị. Việc đọc, hiểu các báo cáo tài chính cho phép các chủ thể phân tích xác định và hiểu rõ nội dung kinh tế của các chỉ tiêu phân tích cũng như nguyên nhân khiến chúng biến động.
Tuy nhiên cũng cần thấy rõ rằng những thông tin thu thập được không phải tất cả đều được biểu hiện bằng số lượng và số liệu cụ thể mà có những tài liệu không thể
biểu hiện bằng số nó chỉ được thể hiện thông qua sự miêu tả đời sống kinh tế của DN. Do vậy, để có những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình phân tích hiệu quả sử dụng vốn, người làm phân tích phải sưu tầm đầy đủ và thích hợp những thông tin liên
quan đến hoạt động tài chính của DN.
10
1.2.4 Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp Để phân tích tài chính DN, người ta có thể sử dụng một hay tổng hợp các phương pháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp phân tích tài chính DN. Những
phương pháp phân tích tài chính sử dụng phổ biến là: Phương pháp so sánh, phương
pháp phân tích tỷ lệ, phương pháp liên hệ đối chiếu, phương pháp Dupont,…
1.2.4.1 Phương pháp so sánh
Để áp dụng phương pháp so sánh người ta cần phải đảm bảo các điều kiện so sánh
được của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về thời gian, không gian, nội dung, tính
chất, đơn vị tính,…) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh
được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo
hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối
hoặc số bình quân; nội dung so sánh bao gồm:
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng
thay đổi về tài chính DN. đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh
doanh để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới.
So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của DN.
So sánh giữa số liệu của DN với số liệu trung bình của ngành; của các DN khác
để đánh giá tình hình tài chính của DN mình tốt hay xấu được hay chưa được.
So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số tương đối và số
tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó thông qua các nghiệp vụ kế toán.
1.2.4.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên các tiêu chí và ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại
lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu
phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính
DN, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của DN với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính DN, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ
lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của DN. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính, trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau.
1.2.4.3 Phương pháp liên hệ đối chiếu và xếp hạng
Là phương pháp phân tích sử dụng để nghiên cứu, đánh giá các đối tượng nghiên cứu dựa trên mối quan hệ kinh tế, tài chính của các hiện tượng, quá trình và kết quả
hoạt động tài chính DN với các bên có liên quan. Việc xếp hạng đối tượng nghiên cứu
11
cần dựa trên những thông tin định lượng và định tính phản ánh được các đặc trưng cơ
bản trung bình của các đối tượng cùng loại, những tác động chủ yếu của môi trường đến đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp này nhận diện được mối liên hệ của các hoạt động kinh tế tài chính
DN trong nội bộ cũng như mối quan hệ của DN với môi trường bên ngoài. Xác định
được nội dung phân tích chứa mối liên hệ nào, hệ thống các chỉ tiêu tham gia xếp hạng. Phương pháp này cần có các tham số và khoảng xác định của từng hạng.
Phương pháp liên hệ đối chiếu thiết lập được mối liên hệ của các hoạt động tài
chính của DN với nhau dưới dạng định lượng hoặc định tính phù hợp với mục tiêu
phân tích. Xác định được tính chất của mối liên hệ đó: độc lập hay phụ thuộc, liên hệ cùng chiều hay ngược chiều, hình thức hay bản chất nhằm đánh giá các quan hệ tài
chính của DN với các bên có liên quan, tình hình tài chính, xu hướng biến động của
các quan hệ đó thông qua các mối liên hệ đã xác định để cung cấp thông tin cho chủ
thể quản lý về đối tượng phân tích.
1.2.4.4 Phương pháp Dupont
Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một
DN bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích hợp nhiều
yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán. Trong phân tích tài chính, người
ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra
những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định.
Mô hình có thể được sử dụng bởi bộ phận thu mua và bộ phận bán hàng để khảo
sát hoặc giải thích kết quả của ROE, ROA,…So sánh với những hãng khác cùng
ngành kinh doanh, phân tích những thay đổi thường xuyên theo thời gian, cung cấp
những kiến thức căn bản nhằm tác động đến kết quả kinh doanh của công ty, cho thấy
sự tác động của việc chuyên nghiệp hóa chức năng mua hàng.
Để áp dụng phương pháp Dupont ta cần có: Thu nhập số liệu kinh doanh ( từ bộ
phận tài chính ), Tính toán ( sử dụng bảng tính). Sau đó rút ra kết luận, nếu kết luận xem xét không chân thực , kiểm tra số liệu và tính toán lại.
1.2.5 Nội dung phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.2.5.1 Phân tích tình hình biến động vốn
Tình hình biến động VCĐ và VLĐ
Phân tích tình hình biến động VCĐ tạo điều kiện phản ánh chính xác tình hình
biến động của VCĐ, quy mô vốn phải bảo toàn. Điều chỉnh kịp thời giá trị của các tài
sản của DN để tạo điều kiện tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao, không để mất VCĐ. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của VCĐ gắn liền với hình thái vật
12
chất của.VCĐ phản ánh tiềm lực của DN về mặt giá trị bằng tiền, còn về mặt hiện vật,
VCĐ thể hiện qua các hình tháinhư TSCĐ, thuê tài chính, bất động sản,.... Đầu tư vào VCĐ là đầu tư một cách dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết
để thực hiện mục tiêu kinh doanh lâu dài của DN.
Việc hạ thấp mức VCĐ để sản xuất ra một đơn vị giá trị sản lượng là biểu hiện sự
tăng lên của hiệu quả sử dụng VCĐ trong DN. Hiệu quả sử dụng VCĐ tăng lên chừng nào mức tăng năng suất lao động nhanh hơn mức vốn trang bị cho lao động và mức
tăng giá trị sản xuất tính trên đồng VCĐ. Đồng thời, thời hạn thu hồi VCĐ được xác
định bởi lượng VCĐ trung bình với lượng thu nhập thuần tuý trung bình hàng năm.
Thời hạn thu hồi VCĐ cần được rút ngắn bằng cách nâng cao năng suất lao động và
tăng sự chênh lệch giá thành và giá tiêu thụ sản phẩm, nghĩa là tăng thu nhập thuần
túy. Điều đó chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn được nâng cao, vì lượng thu nhập thuần
tuý lớn hơn được sử dụng để bổ sung cho VCĐ mới. Do vòng quay của vốn dài nên rủi
ro lớn do những nguyên nhân chủ quan khách quan gây ra. Đồng thời, VCĐ được bù
đắp từng phần nên dễ bị thất thoát vốn.
VCĐ có tốc độc luân chuyển chậm do TSCĐ và các tài sản khác được đầu tư
bằng VCĐ tồn tại và sử dụng lâu dài trong quá trình sản xuất kinh doanh của DN. Vốn
CĐ đầu tư vào TSCĐ được luân chuyển từng bộ phận qua các chu kỳ sản xuất kinh
doanh dưới hình thức giá trị của TSCĐ bị giảm dần và chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ của DN.
VCĐ đầu tư hình thành nên các khoản đầu tư dài hạn sẽ thu hồi toàn bộ một lần
khi kết thúc đầu tư. Còn VCĐ nằm trong bộ phận XDCB dở dang, sẽ chuyển hóa một
lần và toàn bộ vào TSCĐ khi XDCB hoàn thành.
Còn đối với VLĐ,những thành tố quan trọng của VLĐ đó là lượng hàng tồn kho,
khoản phải thu, khoản phải trả. Các nhà phân tích thường xem xét các khoản mục này
để đánh giá hiệu quả và tiềm lực tài chính của một công ty.Tốc độ lưu chuyển hàng
tồn kho cũng là một công cụ hiệu quả để đánh giá hiệu quả quản lý VLĐ của DN. Tỷ
lệ này cho ta biết tốc độ bán hàng của DN, nếu tỉ lệ này ở mức cao tức là DN đang kinh doanh tốt.
Tăng VLĐ đồng nghĩa với việc DN đã sử dụng tiền để thanh toán, chẳng hạn cho việc mua hoặc chuyển đổi hàng trong kho, thanh toán nợ,... Như thế, tăng VLĐ sẽ làm giảm lượng tiền mặt DN đang nắm. Tuy nhiên, nếu VLĐ giảm, điều này đồng nghĩa với việc DN có ít tiền hơn để thanh toán cho các nghĩa vụ nợ ngắn hạn, điều này
có thể tác động gián tiếp, và thường khó lường trước, đến vận hành trong tương lai của DN. VLĐ là thước đo cho cả hiệu suất và sức mạnh tài chính ngắn hạn của DN.
VLĐ giảm có thể được dịch ra thành nhiều nguyên nhân. Có thể là DN tập trung bán
13
hàng tốt, nhưng họ phải chấp nhận bán chịu, chấp nhận khách hàng trả chậm quá
nhiều. Có thể là do tiền bị ứ đọng lại ở hàng trong kho. Dù nghĩa này hay nghĩa kia, DN hiện tại vẫn thiếu tiền.
Việc phân tích tình hình biến động của VLĐ trong DN theo các tiêu thức khác
nhau sẽ giúp xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý VLĐ có hiệu quả
hơn. Mặt khác thông qua việc thay đổi kết cấu VLĐ của mỗi DN trong những thời kì khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực hoặc những hạn chế về mặt chất
lượng trong công tác quản lý VLĐ của từng DN, đó chính là tình hình biến động
VLĐ.
Phân tích tình hình biến động Nợ phải trả và Vốn CSH
Việc phân tích tình hình biến động nợ phải trả và vốn CSH để xem DN đã huy
động vốn từ những nguồn nào? Quy mô nguồn vốn huy động được đã tăng hay giảm?
Cơ cấu NV của DN là tự chủ hay phụ thuộc, thay đổi theo chiều hướng nào? Xác định
trọng điểm cần chú ý trong chính sách huy động vốn của DN nhằm đạt đượưc mục tiêu
đề ra.
Tình hình biến động nợ phải trả cho ta thấy tỷ trọng của nợ phải trả chiếm bao
nhiêu từ đó đưa ra được kết luận nguồn vốn kinh doanh tăng hay giảm có phụ thuộc
nhiều vào chỉ tiêu này hay không. Tình hình công nợ và khả năng thanh toán phản ánh
rõ nét chất lượng công tác tài chính của DN. Nếu hoạt động tài chính tốt thì sẽ ít công nợ, khả năng thanh toán cao, ít bị chiếm dụng vốn. Ngược lại nếu hoạt động tài chính
kém thì sẽ dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, các khoản công nợ phải thu sẽ
dây dưa kéo dài, đơn vị mất tự chủ trong kinh doanh và không còn khả năng thanh
toán nợ đến hạn có khả năng dẫn đến tình trạng phá sản. Căn cứ vào bảng cân đối kế
toán lập bảng phân tích tình hình thanh toán, khi phân tích cần đưa ra tính hợp lý của
những khoản chiếm dụng để có kế hoạch thu hồi nợ và thanh toán đúng lúc, kịp thời.
Tính chất, phạm vi và thời hạn của các khoản nợ phải trả là khác nhau, đồng thời
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, các khoản nợ phải trả luôn biến
động. Do đó, DN cần phải quản lý một cách chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả. Các khoản nợ phải trả được theo dõi đến các thông tin như chi tiết số nợ phải trả, số nợ đã trả, số nợ còn phải trả cho từng chủ nợ.
Để phân tích tình hình biến động vốn CSH ta cần lưu ý những điểm quan trọng sau, Vốn đóng góp của các nhà đầu tư để thành lập mới hoặc mở rộng DN. Chủ sở hữu vốn của DN có thể là Nhà nước, cá nhân hoặc các tổ chức tham gia góp vốn, các cổ
đông mua và nắm giữ cổ phiếu, các khoản thặng dư vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu cao hơn hoặc thấp hơn mệnh giá, các khoản nhận biếu, tặng, tài trợ (nếu được ghi tăng
vốn chủ sở hữu), Vốn được bổ sung từ kết quả sản xuất, kinh doanh của DN theo quy
14
định của chính sách tài chính hoặc quyết định của các chủ sở hữu vốn, của Hội đồng
quản trị,. . .các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, và các quỹ hình thành tư lợi nhuận
sau thuế (Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, các quỹ khác thuộc vốn chủ
sở hữu, lợi nhuận chưa phân phối, nguồn vốn đầu tư XDCB,. . .)
Vốn chủ sở hữu, qua quá trình vận hành của DN, các khoản lãi, lỗ có thể làm thay đổi phần lãi giữ lại, khiến cho vốn chủ sở hữu trên thực tế thay đổi. Khi DN phát
hành cổ phần mới có thể phát sinh khoản thặng dư vốn cũng tác động đến vốn chủ sở
hữu. Ngoài ra, việc chuyển đổi các trái phiếu chuyển đổi thành cổ phần, tức là biến tài
sản nợ thành tài sản vốn, vốn chủ sở hữu của DN tiếp tục tăng lên.
Phân tích tình hình biến động của Nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn.
Với tính chất dùng để bổ sung vốn và phục vụ những hoạt động tạm thời, khẩn
cấp trong DN, vay ngắn hạn được huy động liên tục. Để phân tích được tình hình biến
động của nguồn vốn ngắn hạn, cần phải theo dõi khả năng tài chính của DN, mục đích
sử dụng vốn có phù hợp với mục đích đầu tư, các dự án đầu tư sử dụng vay ngắn hạn
thì phải đạt được hiệu quả và tính được hiệu quả trực tiếp. Đồng thời cũng phải trả các
khoản vay đầy đủ và đúng hạn.
Chỉ sử dụng các khoản vay ngắn hạn khi có các nhu cầu ngắn hạn. Điều này sẽ
giúp DN tránh phải trả lãi cao và các điều kiện hạn chế của việc vay dài hạn. Ví dụ, nếu việc bán hàng của DN tạm thời tăng đột biến do thời vụ chẳng hạn, DN nên xem
xét lựa chọn kiểu vay ngắn hạn.
Nguồn vốn ngắn hạn biến động có thể do doanh thu tăng lên thường gây ra việc
tăng các khoản phải chi có liên quan tới doanh thu như các khoản phải trả và thuế phải
nộp, dẫn đến nhu cầu vốn vay ngắn hạn tăng lên. DN sẽ nhìn thấy sự thay đổi trong chỉ
số khả năng thanh toán bằng tiền mặt như tỉ số khả năng thanh toán nhanh, vì các
khoản nợ ngắn hạn chỉ bao gồm các khoản nợ phải trả trong vòng một năm, không bao
gồm các khoản trả nợ dài hạn hơn.
Với nguồn vốn dài hạn, đòi hỏi quy mô vốn lớn và thời hạn dài. Vốn dài hạn gắn liền với tài sản dài hạn. DN cần theo dõi biến động của vốn dài hạn thông qua các kênh như phát hành cổ phiếu, trái phiếu của DN, tình hình sử dụng vốn dài hạn để mua sắm thiết bị và đổi mới công nghệ. Ngoài ra còn phải xem xét đến nền kinh tế thị trường đã ổn định hay chưa, nó có tác động tích cực hay tiêu cực đến việc định hướng trong lĩnh vực huy động vốn và phát triển của DN. Quan tâm đến hệ thống pháp luật
tài chính,chính sách kinh tế của Nhà nước, thị trường trái phiếu ngân hàng, thị trường cổ phiếu của DN. Do vậy các khoản vay dài hạn có thể tác động tích cực lên các tỉ số
thanh toán bằng tiền mặt của DN
15
Một nhân tố quan trọng nữa tác động đến nguồn vốn dài hạn của DN là Lãi suất
và thuế trong kinh doanh. Đây là yếu tố ảnh hưởng đến chi phí đầu tư của DN, ngoài vốn tự có, DN còn phải đi vay các tổ chức tín dụng với lãi suất cao, điều này chắc chắn
ảnh hưởng đến quyết định dài hạn của DN. Bên cạnh đó, thuế trong kinh doanh là yếu
tố kích thích hay đầu tư của DN. Xem xét mức rủi ro của các khoản đầu tư cũng là cần
thiết. Xem xét tỷ suất sinh lời có mang lại rủi ro hay không từ đó đưa ra quyết định đầu tư. Bởi lẽ mỗi quyết định đầu tư đến ảnh hưởng đến hoạt động của DN trong một
thời gian dài, cho nên nguồn vốn dài hạn là yếu tố quan trọng của bất kỳ DN nào.
1.2.5.2 Phân tích cơ cấu vốn
Trong nền kinh tế thị trường DN có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau, để đáp ứng nhu cầu về vốn trong hoạt động kinh doanh. Nhưng điều quan trọng là DN
phải biết phối hợp các nguồn vốn để tạo ra cơ cấu vốn hợp lý. Cấu trúc vốn là thuật
ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để
DN có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh.
Cơ cấu vốn thể hiện tỷ trọng của các nguồn vốn trong tổng nguồn vốn mà DN
huy động, sử dụng và hoạt động kinh doanh.
Cơ cấu vốn căn cứ theo vai trò và tính chất luân chuyển vốn
Theo vai trò và tính chất luân chuyển vốn, tỷ trọng của VCĐ và VLĐ được
phân ra rõ rệt, giúp chủ DN nhìn nhận và đưa ra các biện pháp cơ cấu sao cho VCĐ không bị ứ đọng, VLĐ không thiếu hoặc có khả năng thanh toán cao.
Các chỉ tiêu phản ánh:
Hệ số VCĐ = VCĐ / Tổng NV
Hệ số vốn cố định cho biết số lượng vốn cố định đầu tư vào DN chiếm bao
nhiêu % như các tài sản dài hạn, nhà xưởng, phương tiện vận tải…
Hệ số VLĐ = VLĐ / Tổng NV
Hệ số vốn lưu động này cho ta thấy lượng vốn lưu động chiếm tỷ trọng như thế
nào trong tổng số vốn của DN. Xem công ty có thể tiếp tục các hoạt động của nó và nó có dòng tiền đủ để đáp ứng cả nợ ngắn hạn và tài sản ngắn hạn hay không.
Cơ cấu vốn căn cứ theo nguồn hình thành
Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi DN không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới DN và hoạt động của DN mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của DN
trong môi trường cạnh tranh.
Các chỉ tiêu phản ánh:
Hệ số nợ = Tổng số nợ / Tổng NV
16
Hệ số nợ phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu % số vốn của DN, hay trong tài
sản của DN có bao nhiêu % được hình thành từ nợ phải trả.
Hệ số VCSH = Nguồn VCSH / Tổng NV
Hệ số này cho biết Vốn CSH chiếm tỷ trọng bao nhiêu % trong tổng nguồn vốn
của DN.
Hệ số nợ = 1- Hệ số VCSH
Vì NV của DN được hình thành từ 2 nguồn là Nợ phải trả và vốn CSH nên hệ số
nợ có thể được biểu thị qua công thức trên
Cơ cấu vốn căn cứ theo thời gian hoạt động và sử dụng
Căn cứ theo thời gian hoạt động, cơ cấu nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn của DN trả lời cho câu hỏi liệu DN có khả năng thanh toán hay không? Các khoản
vay “nóng” nhiều hay ít? Các chủ đầu tư tiềm năng, tình trạng tín dụng, kế hoạch kinh
doanh, tình trạng đóng thuế của DN … sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định phương
pháp huy động vốn.
Các chỉ tiêu phản ánh:
Hệ số Vốn ngắn hạn = Vốn ngắn hạn / Tổng NV
Hệ số này cho chủ DN biết tình trạng vốn vay tạm thời của DN là bao nhiêu,
chiếm bao nhiêu % trên tổng NV.
Hệ số Vốn dài hạn = Vốn dài hạn / Tổng NV
Hệ số này giúp DN định hình được vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn của các tổ
chức tín dụng chiếm tỷ trọng bao nhiêu.
1.2.5.2 Chiến lược quản lý vốn trong doanh nghiệp
Việc sử dụng các khoản vay dài hạn thay cho khoản vay ngắn hạn làm giảm rủi
ro kinh doanh và đem lại cho nhà quản trị tài chính sự an toàn hơn. Nhưng chi phí để
doanh nghiệp vay dài hạn thường cao hơn chi phí ngắn hạn.
Một số yếu tố khác tạo cho tín dụng dài hạn phải chịu chi phí cao hơn là những chi phí tiền lãi trong suốt những giai đoạn mà nguồn tín dụng có sẵn cao hơn nhu cầu tư bản sử dụng. Trong những giai đoạn đó, DN có thể trả những khoản tín dụng không dùng đến và giảm chi phí trả lãi vay nếu nó không vay dài hạn.
Tóm lại, chúng ta có thể kết luận rằng các nguồn tín dụng dài hạn nhìn chung có chi phí cao hơn nhưng DN có thể giảm rủi ro khi sử dụng chúng. Do đó cần chọn một giải pháp thỏa hiệp giữa rủi ro chi phí trong việc lựa chọn giữa tín dụng ngắn hạn và
dài hạn. Rõ ràng là việc ra quyết định trong tình huống này là một quyết định quản trị
quan trọng. Dưới đây là 3 quyết định lựa chọn cho việc thiết lập một thỏa hiệp giữa tín
dụng ngắn hạn và dài hạn.
(Trang 420, Quản trị tài chính DN – Nguyễn Hải Sản)
17
Chiến lược quản lý vốn thận trọng
Quản lý vốn thận trọng là chiến lược DN luôn duy trì TSLĐ ở mức tối đa và nợ
ngắn hạn ở mức thấp. Do đó, DN sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho
TSLĐ.
Tín dụng dài hạn
TSCĐ
Thời gian
(Trang 421, Quản trị tài chính DN – Nguyễn Hải Sản)
Chính sách này có những đăc điểm sau:
+ Khả năng thanh toán được đảm bảo do DN luôn duy trì TSLĐ ở mức độ tối đa
luôn đủ để trả các khoản nợ ngắn hạn.
+ Tính ổn định của nguồn vốn cao do nguồn vốn huy động chủ yếu từ nguồn dài
hạn, DN có thể sử dụng nguồn vốn này đầu tư vào hoạt động SXKD mà chưa phải lo ngay đến việc trả nợ.
+ Chi phí huy động vốn cao do các khoản phải thu khách hàng ở mức cao nên chi
phí quản lý cũng cao. Hàng lưu kho được giữ ở mức độ tối đa làm tăng chi phí lưu kho
và các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Lãi suất cho vay dài hạn cũng cao hơn so với lãi suất cho vay ngắn hạn.
+ Chính sách này sẽ giúp DN giảm bớt được các rủi ro như biến động tăng giá thành sản phẩm do dự trữ hàng tồn kho ở mức cao… Tuy nhiên thu nhập không cao do phải chịu chi phí cao hơn như: chi phí quản lý, chi phí lưu kho, chi phí lãi vay… làm cho EBT giảm.
Chiến lược Quản lý vốn cấp tiến
Quản trị vốn cấp tiến là việc DN duy trì TSLĐ ở mức tối thiểu, chủ yếu dùng
vốn ngắn hạn để tài trợ cho các loại tài sản.
18
Tín dụng ngắn hạn
TSCĐTín dụng dài hạn
Thời gian
(Trang 421, Quản trị tài chính DN – Nguyễn Hải Sản)
Chính sách có những đặc điểm sau:
+ Mức TSLĐ thấp nhưng được quản lý cấp tiến và có hiệu quả. Công ty chỉ giữ
một mức tối thiểu tiền và chứng khoán khả thị trong tay, và dựa vào chính sách quản
lý hiệu quả và khai thác triệt để khả năng vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu về vốn
của DN. Đối với quản lý hàng lưu kho và phải thu khách hàng cũng được duy trì ở
mức thấp.
+ Thời gian quay vòng tiền ngắn. Chính sách quản lý cấp tiến rút ngắn thời gian
quay vòng tiền. Lưu ý rằng:
Chu kì KD = Thời gian thu tiền trung bình + Thời gian quay vòng hàng lưu kho
Bằng cách giảm mức trung bình của cả PTKH và hàng lưu kho, dẫn đến tăng
vòng quay và rút ngắn thời gian quay vòng tiền.
+ Khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty không được đảm bảo: Công ty chỉ
dựa vào chính sách quản lý có hiệu quả và vay ngắn hạn để đáp ứng mọi nhu cầu về vốn không dự báo trước. Do đó có thể dẫn đến trình trạng DN mất khả năng thanh toán nếu không kịp đáp ứng nhu cầu bất thường.
+ Do luôn duy trì TSLĐ ở mức tối thiểu nên DN giảm thiểu được nhiều chi phí như chi phí lưu kho, chi phí lãi vay, chi phí quản lý...và doanh thu cao hơn kéo theo chỉ số EBIT cao hơn.
+ Với các yếu tố khác không đổi, rủi ro càng cao, thu nhập yêu cầu càng cao và ngược lại. Khi áp dụng chính sách quản lý tài sản cấp tiến có thể gặp các rủi ro như:
khả năng cạn kiệt tiền do lượng tiền nắm giữ ở mức tối thiểu, dự trữ hàng lưu kho thấp có thể dẫn đến mất doanh thu khi lượng hàng hết.
19
Chiến lược Quản lý vốn dung hòa
Tín dụng ngắn hạn
TSCĐ
Tín dụng dài hạn
Thời gian
(Trang 422, Quản trị tài chính DN – Nguyễn Hải Sản)
Chiến lược dung hòa kết hợp ưu nhược điểm của chính sách cấp tiến và chính
sách thận trọng. Dựa trên cơ sở của nguyên tắc tương thích: TSLĐ được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn ngắn hạn và TSCĐ được tài trợ bằng nguồn dài hạn. Chính sách dung
hoà có đặc điểm kết hợp quản lý tài sản thận trọng với nợ cấp tiến hoặc kết hợp quản
lý tài sản cấp tiến với nợ thận trọng. Tuy nhiên, trên thực tế, để đạt được trạng thái
tương thích không hề đơn giản do vấp phải những vấn đề như sự tương thích kỳ hạn,
luồng tiền hay khoảng thời gian, do vậy chính sách này chỉ cố gắng tiến tới trạng thái
tương thích, dung hòa rủi ro và tạo ra mức thu nhập trung bình hạn chế nhược điểm
của hai chính sách trên.
1.2.5.3 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn trong DN là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn, tài sản của DN vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí.
1.2.5.3.1 Phân loại theo nguồn hình thành
I, Hiệu quả sử dụng vốn CSH
Doanh thu Vòng quay VCSH = Vốn chủ sở hữu
Chỉ số này đo lường mối quan hệ giữa doanh thu thuần và VCSH bình quân của DN, cho biết 1 đồng VCSH tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Nếu số vòng quay
20
ngày càng cao, do doanh thu thu được tăng cao đồng thời VCSH không biến động
nhiều, là biểu hiện tốt, chứng tỏ DN sử dụng VCSH có hiệu quả. Nếu số vòng quay VCSH có xu hướng giảm cho thấy VCSH của DN đang sử dụng chưa thật hiệu quả vì
tốc độ tăng doanh thu không bằng tốc độ gia tăng của các khoản đầu tư từ VCSH. Như
vậy, chỉ số này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng VCSH của DN càng cao và ngược
lại.
EAT Khả năng sinh lời VCSH (ROE) = Vốn CSH
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận,
nó thể hiện hiệu quả thực tế của nguồn vốn chủ sở hữu, thấy được mức độ tiến triển, hiệu quả đầu tư của chủ DN thông qua hệ số của chỉ tiêu. Để đánh giá những thay đổi
của ROE là tích cực hay tiêu cực, ta cần phải đặt nó trong mối quan hệ với ROA. Bởi
VCSH là một phần của tổng vốn, hình thành nên tài sản nên tỷ suất sinh lời của VCSH
phụ thuộc vào tỷ suất sinh lời của tài sản. Ta có:
ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính
Trong đó đòn bẩy tài chính thể hiện cơ cấu nguồn vốn của DN, nó cho biết tỷ lệ
của VCSH hay nợ so với tài sản. Như vậy, khi Đòn bẩy tài chính tăng sẽ kéo theo
ROE tăng theo, dẫn đến nợ của DN cũng tăng, cho thấy rủi ro rất lớn. Khi chỉ tiêu đòn
bẩy tài chính tăng tức là doanh nghiệp tăng sử dụng các khoản nợ, trường hợp ROA
giảm chứng tỏ việc gia tăng đòn bẩy tài chính dẫn đến giảm ROE của DN. Ngược lại,
nếu ROA tăng, đòn bẩy tài chính giảm dẫn đến ROE tăng và giúp DN giảm thiểu được
rủi ro tài chính.
II, Hiệu quả sử dụng vốn vay
EBIT Khả năng thanh toán lãi vay = Lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi cho các khoản ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, hay các hình thức vay khác như cổ phiếu, trái phiếu như thế nào. Nếu số tiền mà DN có thể sử dụng để trả lãi vay quá nhỏ hoặc âm thì DN khó có thể trả được lãi, các chủ nợ có thể đi đến gây sức ép lên công ty, thậm chí dẫn tới phá sản công ty. Chỉ số này càng cao thì khả năng thanh toán lãi vay của DN cho các chủ nợ của mình càng lớn. Mặt khác, chỉ tiêu này cũng thể hiện khả năng sinh lời trên các khoản nợ của DN.
EAT Khả năng sinh lời tiền vay = Tiền vay bình quân
21
Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, DN sử dụng 100 đồng tiền vay phục
vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Khi lợi nhuận sau thuế tăng, số tiền vay của DN không biến động nhiều chứng tỏ DN đang
sử dụng tiền vay một cách hiệu quả. Ngược lại, nếu chỉ số này thấp, chứng tỏ DN sử
dụng tiền vay chưa hiệu quả, dẫn đến EAT của DN thấp. Như vậy, chỉ số này càng cao
càng tốt. Từ đó nhà quản trị đưa ra quyết định vay tiền đầu tư vào hoạt động sx kinh doanh, nó cũng chứng tỏ tốc độ tăng trưởng của DN.
1.2.5.3.2 Phân loại theo tính chất luân chuyển
I, Hiệu quả sử dụng VCĐ
Doanh thu thuần Vòng quay VCĐ = Vốn cố định
Chỉ tiêu đánh giá khái quát hiệu quả sử VCĐ, nó cho biết để thu được một đồng
doanh thu thuần phải bỏ ra bao nhiêu đồng VCĐ, nói cách khác, VCĐ quay được bao
nhiêu vòng để tạo ra được doanh thu trong một năm. Nếu doanh thu thuần tăng chậm
hơn VCĐ cho thấy tình trạng sử dụng VCĐ đang kém hiệu quả, cần phải được khắc
phục. Muốn VCĐ được sử dụng hiệu quả hơn thì các khoản đầu tư của VCĐ như
TSCĐ cần được sửa chữa, bảo dưỡng, bảo trì nhằm tăng năng suất lao động, bên cạnh
đó cần tăng cả doanh số để đảm bảo công suất của máy. Chỉ tiêu tính ra càng cao càng
tốt và ngược lại.
Lợi nhuận Tỷ suất sinh lời VCĐ = Vốn cố định
Tỷ suất sinh lời VCĐ càng lớn càng tốt,chứng tỏ trình độ sử dụng VCĐ của DN
tốt, sức sinh lời cao. Nó cho biết cứ 100 đồng vốn cố định tạo ra bao nhiều đồng lợi
nhuận. Ngoài ra, chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của công ty.
Trong trường hợp VCĐ tăng nhẹ, mà lợi nhuận lại giảm mạnh là biểu hiện không tốt, DN cần gia tăng lợi nhuận để cập và nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ. Nếu DN áp
dụng các biện pháp hiệu quả, gia tăng lợi nhuận, và mức tăng của VCĐ không cao bằng mức tăng của lợi nhuận thì tỷ suất sinh lời của VCĐ sẽ cao.
VCĐ bình quân Hệ số đảm nhiệm VCĐ = Doanh thu thuần
Hế số đảm nhiệm VCĐ cho biết để có được một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng vốn cố định bình quân . Hệ số của chỉ tiêu này tính ra càng nhỏ càng tốt.
Vì nếu lượng VCĐ đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh thấp mà doanh thu lại cao, chứng tỏ DN đang sử dụng VCĐ hiệu quả. Ngược lại, nếu VCĐ chiếm tỷ trọng
lớn, doanh thu tạo ra lại không cao, hoặc mức tăng của VCĐ bình quân cao hơn mức
22
tăng của doanh thu thuần thì DN cần xem lại chính sách của mình, tránh gây lãng phí
hoặc đầu tư không đúng hướng các khoản VCĐ.
II,Hiệu quả sử dụng VLĐ
a, Các chỉ tiêu tổng hợp
Tổng TSLĐ Khả năng thanh toán NH = Nợ ngắn hạn
Tỷ số này >1 thể hiện khả năng thanh toán ngắn hạn của DN trong tình trạng tốt.
Tỷ số này nói lên mức độ trang trải của TSLĐ với khoản nợ ngắn hạn mà không phải
cần tới một khoản vay mượn thêm nào. Tỷ số này có thể tăng nếu nợ ngắn hạn giảm
cao hơn mức giảm của TSLĐ. Tỷ số này giảm khi TSLĐ tăng nhưng nợ ngắn hạn tăng ở mức cao hơn.Nếu tỷ số này quá cao thì lại là một biểu hiện không tốt do việc tài sản
ngắn hạn quá nhiều(tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho...) ảnh hưởng đến khả năng
sinh lời của công ty.
Tổng TSLĐ – Hàng tồn kho Khả năng thanh toán nhanh = Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài sản có thể
chuyển đổi thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn, nó phản ánh khả năng
thanh toán của DN khi chưa hết hàng tồn kho. Công thức này phản ánh được chính xác
hơn khả năng trả nợ ngay của một doanh nghiệp, nó loại hàng tồn kho ra khỏi công
thức tính vì hàng tồn kho có tính thanh khoản không cao. Nếu hệ số này giảm cho thấy
tình hình thanh toán của DN không mấy khả quan, có thể do sự gia tăng lớn của hàng
tồn kho nên DN cần phải giải phóng hàng tồn kho để cải thiện khả năng thanh toán của
DN. Nhìn chung hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất.
Tiền + các khoản tương đương tiền Khả năng thanh toán bằng tiền = Nợ ngắn hạn
Đây là tỷ số cho biết khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp, hay mức độ
đáp ứng nhanh của VLĐ với các khoản nợ ngắn hạn, nó cho thấy cái nhìn “bảo thủ” hơn vì tiền và tương đương tiền là những tài sản có mức thanh khoản cao nhất. Chỉ số này tăng do các khoản vốn bằng tiền tăng và nợ ngắn hạn giảm. Vốn bằng tiền tăng có thể do khoản thu từ chứng khoán ngắn hạn hoặc khách hàng trả nợ từ kỳ trước. Tuy nhiên, nếu tồn đọng vốn bằng tiền sẽ không tốt và không đạt hiệu quả cao, do vậy cần phải đưa tiền vào lưu thông trong quá trình sản xuất kinh doanh thì mới đạt được hiệu
quả.
Doanh thu thuần Vòng quay VLĐ = VLĐ bình quân
23
Chỉ tiêu cho biết một đồng VLĐ bình quân tạo ra bao nhiêu đồng trong tổng
doanh thu thuần. Tốc độ luân chuyển của VLĐ có thể nhanh hay chậm hơn khi khả năng tiêu thụ của thị trường tăng mạnh hoặc giảm mạnh, dẫn đến sự thay đổi của
doanh thu. Khi VLĐ sử dụng bị biến động, sẽ làm thay đổi cả số ngày của 1 vòng quay
VLĐ. Nếu yếu tố doanh thu tăng, sẽ ảnh hưởng tích cực đến số vòng luân chuyển vốn,
còn với VLĐ, DN cần sử dụng tiết kiệm và hiệu quả để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn sẽ giúp DN tiết kiệm vốn và còn ngược lại sẽ gây
lãng phí.
Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lời trên vốn lưu động = VLĐ bình quân
Đây là chỉ số cơ bản cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận của 1 đồng VLĐ. Tỷ suất
lợi nhuận cao đồng nghĩa với việc vốn DN quay vòng nhanh và sinh lợi cao. Khả năng
tạo ra lợi nhuận trên mỗi đồng VLĐ có thể giảm do VLĐ sử dụng bình quân tăng
nhanh hơn so với mức tăng của lợi nhuận. Chỉ tiêu này cũng có thể tăng lên do DN sử
dụng tiết kiệm VLĐ và lợi nhuận được tạo ra giảm nhưng với mức độ thấp hơn của
VLĐ.
M1(K1-K0) Mức tiết kiệm VLĐ = 360
Trong đó: + M1: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch
+ K0, K1: Kỳ luân chuyển vốn năm báo cáo và năm kế hoạch
Mức tiết kiệm VLĐ cho thấy được mức vốn LĐ tiết kiệm được do tăng tốc độ
luân chuyển vốn. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt.Nếu thời gian luân chuyển VLĐ kỳ
này ngắn hơn kỳ trước thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được VLĐ. Số VLĐ tiết kiệm
được có thể sử dụng vào mục đích khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nếu
thời gian luân chuyển VLĐ kỳ này dài hơn kỳ trước thì doanh nghiệp đã lãng phí VLĐ.
b, Các chỉ tiêu thành phần
Giá vốn hàng bán Vòng quay hàng tồn kho = Bình quân hàng tồn kho
Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp, cho biết thời gian hàng nằm trong kho dài hay ngắn. Mặt khác chỉ tiêu này còn cho thấy chất lượng
và loại hàng hóa này có phù hợp với thị trường hay không. Khi vòng quay giảm tương đương với số ngày chứa hàng tồn kho tăng, có thể do mức độ tăng của giá vốn hàng
bán thấp hơn của hàng tồn kho vì sức tiêu thụ thấp. Nếu mức tiêu thụ gia tăng, mức
24
tăng của giá vốn hàng bán cao hơn mức tăng của lượng hàng tồn kho bình quân, thì
vòng quay hàng tồn kho cũng nhanh hơn.Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy DN bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều.
Doanh thu thuần Vòng quay phải thu khách hàng = Các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu
thành tiền mặt. Chỉ số này giảm khi mức độ tăng của doanh thu thuần nhỏ hơn mức độ
tăng của các khoản phải thu, dẫn đến thời gian thu hồi nợ tăng lên. Như vậy, hệ số này
càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của DN càng nhanh, khả năng chuyển đổi các
khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao. Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của DN bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm.
1.2.5.3.3 Phân loại theo thời gian sử dụng vốn
I, Hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn
Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn
Vốn lưu động ròng dương có nghĩa là công ty có khả năng chi trả được
các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của mình. Ngược lại, nếu vốn lưu động là một số âm tức là
hiện tại công ty không có khả năng thanh toán các khoản nợ bằng tài sản hiện có của
mình (bao gồm tiền mặt, khoản phải thu, tồn kho). Nếu như lượng tài sản hiện tại của
một công ty không lớn hơn các tổng các khoản nợ hiện tại thì công ty này có thể sẽ
gặp khó khăn trong việc thanh toán cho các chủ nợ trong ngắn hạn. Như vậy, thông
qua chỉ tiêu này để thấy được khái quát về tính chắc chắn ổn định của tài chính DN.
Yêu cầu của chỉ tiêu này là phải dương và càng cao càng tốt.
Doanh thu thuần Vòng quay vốn ngắn hạn = Vốn ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho thấy nhu cầu trongviệc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ nhu cầu vốn lưu động của DN, nó có tác dụng giúp DN khắc phục khó khăn về vốn.Thường thì số vòng quay vốn trong một khoảng thời gian càng nhiều càng tốt, còn thời gian cho một vòng quay vốn càng ngắn càng tốt.Nếu mức tăng của doanh thu tạo ra từ nguồn vốn ngắn hạn lớn hơn mức tăng của nguồn vốn ngắn hạn, chứng tỏ DN đang sử dụng vốn ngắn hạn hiệu quả. Ngược lại, nếu số vòng quay ít, tiền không lưu thông nhanh và không tạo được lợi nhuận thì DN cần xem lại và có biện pháp cải thiện tức thời.
Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lời trên vốn ngắn hạn = Vốn ngắn hạn
25
Tỷ suất sinh lời trên vốn ngắn hạn phản ánh một đồng vốn ngắn hạn sử dụng
bình quân trong kỳ đã tạo ra được bao nhiêu đồng lãi thuần sau thuế. Tỷ số này tăng khi mức độ gia tăng của lợi nhuận ròng thu được lớn hơn mức độ tăng của nguồn vốn
ngắn hạn mà DN đã bỏ ra để phục vụ sản xuất kinh doanh. Khi tỷ số này giảm hoặc
thấp, chứng tỏ DN đang sử dụng vốn ngắn hạn chưa hiệu quả, hay lượng đầu tư bằng
vốn ngắn hạn cao hơn mức lợi nhuận sinh ra được từ số vốn đó.
II, Hiệu quả sử dụng vốn dài hạn
Doanh thu thuần Vòng quay vốn dài hạn = Vốn dài hạn
Vòng quay vốn dài hạn là chỉ tiêu phản ánh DN phải có nghiã vụ thanh toán lãi vay và hoàn trả vốn gốc trong một thời gian dài (>1 năm). Hay nói cách khác đó là
thời gian hoàn vốn, Vốn dài hạn quay được bao nhiêu vòng để tạo ra được doanh thu.
Nếu doanh thu thuần tăng chậm hơn vốn dài hạn cho thấy tình trạng sử dụng vốn dài
hạn đang kém hiệu quả. Tức là nó cho thấy một đồng vốn dài hạn sinh ra được bao
nhiêu đồng trong khoản doanh thu thuần của DN. Vòng quay vốn dài hạn giảm khi các
khoản đầu tư từ vốn dài hạn như các TSCĐ, phương tiện vận tải, thuê tài chính hoạt
động không hiệu quả, không đáp ứng tốt khả năng sinh lời mà DN yêu cầu, khiến
doanh thu không kịp thu hồi khi mà nguồn vốn dài hạn kết thúc 1 chu kỳ kinh doanh.
Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lời trên vốn dài hạn = Vốn dài hạn
Cho biết hiệu quả sử dụng vốn dài hạn trong DN bao gồm cả vốn tự có và vốn
vay. Chỉ số này sẽ cho cái nhìn rộng hơn về hiệu quả sử dụng vốn của DN so với ROE.
Khi vốn dài hạn không đổi hoặc giảm nhẹ mà lợi nhuận giảm nhiều hơn hay lợi nhuận
tăng với tốc độ chậm hơn vốn dài hạn dẫn đến tỷ suất sinh lời cũng giảm. Điều này
cho thấy Dn cần xem xét lại chiến lược và mặt hàng của công ty mình, từ đó điều chỉnh dần phù hợp để sao cho tỷ số này tăng lên, DN sử dụng vốn dài hạn hiệu quả
hơn.
1.2.6. Ứng dụng phương pháp Dupont
Mô hình Dupont được ứng dụng trong những lĩnh vực sau: Mô hình có thể được sử dụng bởi bộ phận thu mua và bộ phận bán hàng để khảo sát hoặc giải thích kết quả của ROE, ROA,…So sánh với những hãng khác cùng ngành kinh doanh, phân tích những thay đổi thường xuyên theo thời gian, cung cấp những kiến thức căn bản nhằm tác động đến kết quả kinh doanh của công ty, cho thấy sự tác động của việc chuyên nghiệp hóa chức năng mua hàng.
Đối với hệ số doanh lợi tài sản, phương pháp Dupont và ROA có tác động như
sau:
26
Lợi nhuận ròng ROA = Tổng tài sản
= ROS x AU (AU là số vòng quay tổng tài sản)
Có hai hướng để tăng ROA là tăng ROS và vong quay tổng tài sản. Muốn tăng ROS cần phấn đấu tăng lãi ròng bằng cách tiết kiệm chi phí và tăng giá bán. Muốn tăng vòng quay tổng tài sản cần tăng doanh thu bằng cách giảm giá bán và tăng cường
hoạt động xúc tiến bán.
Dưới góc độ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ
số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng
nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản. Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:
Lợi nhuận ròng x Doanh thu x Tổng tài sản ROE = VCSH x Tổng tài sản x VCSH
Như vậy qua khai triển chỉ tiêu ROE chúng ta có thể thấy chỉ tiêu này được cấu
thành bởi ba yếu tố chính là lợi nhuận ròng biên, vòng quay tài sản và đòn bẩy tài
chính có nghĩa là để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh ( tức là gia tăng ROE) DN có 3
sự lựa chọn cơ bản là tăng một trong ba yếu tố trên.
Thứ nhất DN có thể gia tăng khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao doanh thu và
đồng thời tiết giảm chi phí nhằm gia tăng lợi nhuận ròng biên.
Thứ hai DN có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng tốt hơn các
tài sản sẵn có của mình nhằm nâng cao vòng quay tài sản. Hay nói một cách dễ hiểu
hơn là DN cần tạo ra nhiều doanh thu hơn từ những tài sản sẵn có.
Thứ ba DN có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao đòn bẩy tài
chính hay nói cách khác là vay nợ thêm vốn để đầu tư. Nếu mức lợi nhuận trên tổng tài
sản củaDN cao hơn mức lãi suất cho vay thì việc vay tiền để đầu tư của DN là hiệu quả.
Khi áp dụng công thức DuPont vào phân tích các nhà phân tích nên tiến hành so sánh chỉ tiêu ROE của DN qua các năm. Sau đó phân tích xem sự tăng trưởng hoặc tụt giảm của chỉ số nay qua các năm bắt nguồn từ nguyên nhân nào trong ba nguyên nhân kể trên từ đó đưa ra nhận định và dự đoán xu hướng của ROE trong các năm sau. Nếu sự gia tăng ROE đến từ việc gia tăng biên lợi nhuận hoặc vòng quay tổng tài sản thì đây là một dấu hiệu tích cực tuy nhiên các nhà phân tích cần phân tích sâu hơn. Liệu sự tiết giảm chi phí của DN có thể tiếp tục diễn ra không và nó bắt nguồn từ đâu? Doanh thu có tiếp tục tăng không với cơ cấu sản phẩm của Công ty như hiện nay và sẽ
tăng ở mức nào?
27
Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với
quản trị DN thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiêu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản lý của
DN.
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.3.1. Nhân tố khách quan
Sự ổn định về kinh tế - chính trị - xã hội: Đây là nhân tố quan trọng, có tác động
lớn tới hiệu quả sử dụng vốn tại DN và do đó tác động tới hoạt động quản lý vốn tại
DN nhà nước. Môi trường chính trị - xã hội ổn định, nền kinh tế tăng trưởng ổn định, ít lạm phát và ít biến động sẽ tạo ra cho các nhà đầu tư một tâm lý yên tâm trong quá
trình huy động và sử dụng vốn, do đó vốn lưu động tại DN nhà nước có điều kiện được
bảo toàn và phát triển.Trong thời gian qua, do nhiều lý do như ảnh hưởng khủng hoảng
kinh tế khu vực, thiên tai khiến môi trường kinh tế nước ta chưa thực sự ổn định. Mặt
khác, môi trường kinh tế hiện nay của nước ta còn đang thiếu nhiều yếu tố cần thiết để
tạo điều kiện cũng như tạo động lực cho hoạt động kinh doanh của các DN. Các nhân
tố trên đây đều tác động lớn tới hoạt động quản lý vốn tại DN. Bởi vậy việc nghiên
cứu tác động của từng nhân tố cũng như tác động tổng hợp của các nhân tố tới hoạt
động quản lý vốn nhà nước là hết sức cần thiết. Từ đó tìm ra được các nguyên nhân dẫn đến những bất hợp lý trong hoạt động quản lý VLĐ, rồi đưa ra những đề xuất để
hoàn thiện công tác quản lý.
Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước: Các chính sách vĩ mô của nhà nước
trong nền kinh tế thị trường là điều tất yếu, tác động không nhỏ đến chính sách quản lý
VLĐ. Nếu nhà nước có các chính sách khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất thì quản
lý VLĐ sẽ có nhiều định hướng mạo hiểm hơn, không chú trọng quá nhiều vào nắm
giữ vốn mà tận dụng các cơ hội đầu tư để sinh lời. Nếu chính sách của nhà nước được
siết chặt sẽ hạn chế nhiều cơ hội đầu tư của DN, dẫn đến DN sẽ sử dụng chính sách
quản lý thận trọng để đảm bảo an toàn vốn.
Sự phù hợp của các văn bản pháp luật liên quan: Để tối đa hoá lợi nhuận, các DN có thể bất chấp những lợi ích chung của toàn xã hội. Để hạn chế mặt tiêu cực đó, bên cạnh “bàn tay vô hình”- các quy luật của thị trường còn có “bàn tay hữu hình”-sự can thiệp của nhà nước. Sự can thiệp của nhà nước thể hiện qua những chính sách quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, qua hệ thống pháp luật...Các chính sách quản lý của
nhà nước vừa trực tiếp, vừa gián tiếp tác động tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DN nhà nước.
28
1.3.2 Nhân tố chủ quan
Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý: Trình độ, năng
lực của cán bộ quản lý trực tiếp tác động tới hoạt động quản lý vốn tại DN nhà nước. Bộ máy quản lý các DN là cơ quan trực tiếp tiến hành hoạt động quản lý tài chính.
Không những thế ở nhiều nước đây còn là cơ quan trực tiếp hay gián tiếp ban hành các
chính sách, chế độ về quản lý vốn tại các DN. Bởi vậy, sự am hiểu của cán bộ quản lý
về ngành nghề lĩnh vực mình quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng nắm bắt tình hình của họ với lĩnh vực đó, do đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc cán bộ quản lý đó có
phân tích và đưa ra được những kết luận đúng đắn hay không, có dự thảo ra được
những chính sách quản lý đúng đắn hay không? Thêm vào đó, phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý sẽ quyết định việc họ có thực hiện quản lý đúng theo lương tâm trách
nhiệm hay không.
Có quản lý về mặt nhân sự tốt mới đảm bảo có được một đội ngũ lao động có
năng lực thực hiện nhiệm vụ, sắp xếp lao động hợp lý thì mới không bị lãng phí lao
động. Điều đó giúp DN nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Trình độ quản lý về mặt tài
chính là hết sức quan trọng. Trong quá trình hoạt động, việc thu chi phải rõ ràng, tiết
kiệm, đúng việc, đúng thời điểm thì mới có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
DN.
Tình trạng tay nghề của người công nhân : Bên cạnh yếu tố về trình độ quản lý
DN thì yếu tố chất lượng lao động cũng có tác động đáng kể đến kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh. Đặc biệt là đối với DN sản xuất thì chất lượng sản phẩm sản xuất ra
phụ thuộc rất lớn vào trình độ tay nghề của người công nhân sản xuất. Chính vì vậy
mà doanh thu tiêu thụ sản phẩm, chi phí sản xuất cũng như uy tín của một DN chịu
ảnh hưởng lớn của đối tượng này nên hiệu quả sử dụng vốn cũng bị ảnh hưởng theo.
29
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
2.1.1.1 Giới thiệu chung về Công ty.
- Tên đầy đủ bằng tiếng Việt Nam: Công ty TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ.
- Tên công ty viết bằng tiếng Anh: Ngoc Tue construction & trading company limited.
-Tên công ty viết tắt: Ngoc Tue C&T Co.,ltd
- Địa chỉ: Khu 4, Phường Vân Phú, Thành phố Việt trì, Tỉnh Phú Thọ, Việt Nam - Hình thức sở hữu vốn: Công ty TNHH hai thành viên trở lên
- Mã số thuế: 2600343429
Fax: 0210 3952673
- Số điện thoại: 0210 3952673 - Website:
- Vốn điều lệ của Công ty khi mới thành lập: 4.999.000.000 đồng. - Vốn của nhà nước: 0 đồng chiếm tỷ lệ 0%.
- Vốn điều lệ khi mới thành lập được góp bởi các thành viên trong HĐTV
- Số lượng nhân viên: 40 nhân viên.
- Lĩnh vực hoạt động: Xây dựng nhà các loại, xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng,
sản xuất mua bán tấm lợp kim loại, bán buôn sắt thép.
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty:
Khi mới thành lập, ngày 24 tháng 1 năm 2006 Công ty đã có tên là “CÔNG TY
TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ” nhưng là một DN TNHH một
thành viên. Ngày 4 tháng 5 năm 2010, Công ty được thành lập trên đề nghị của ông
Nguyễn Ngọc Tuệ theo quyết định của Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Phú Thọ. Ngày 12
tháng 5 năm 2011 Công ty đã thực hiện chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu hạn
hai thành viên trở lên và vẫn giữ tên là Công ty TNHH Xây Dựng Và Thương Mại Ngọc Tuệ và tên gọi đó của Công ty được giữ nguyên cho đến nay.
Khi mới thành lập, cơ sở vật chất,công nghệ của Công ty còn lạc hậu nhưng đến nay, Công ty đã phát triển về mọi mặt: cơ sở vật chất, thiết bị sửa chữa được cải thiện, đầu tư mới, trình độ công nhân được tăng lên qua các khóa đào tạo ngắn hạn. Tất cả các công trình xây dựng do công ty thi công đều được áp dụng theo tiêu chuẩn chất
lượng ISO 9001: 2000 đồng thời luôn đảm bảo tiến độ, an toàn lao động và được chủ đầu tư đánh giá cao.
Cho đến nay gần 7 năm xây dựng và phát triển, Công ty đã có những thành công
đáng kể, Công ty đã không ngừng lớn mạnh với cơ sở vật chất, công nghệ và trình độ
30
nhân viên tương đối ổn định.Công ty đã đạt được nhiều thành tựu cũng như uy tín
trong kinh doanh. Công ty không ngừng mở rộng quảng bá sản phẩm dịch vụ của mình ra thị trường địa bàn Thành phố Việt Trì và các huyện lân cận trong tỉnh. Có được kết
quả như vậy là do Công ty biết phát huy những tiềm năng sẵn có của mình, đồng thời
tích cực đầu tư thiết bị máy móc hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực
xây dựng và thương mại. Tuy nhiên, để có thể tồn tại và phát triển trong thời kỳ kinh tế khó Công ty còn phải không ngừng tự đổi mới và hoàn thiện mình, đặc biệt trong
điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt như hiện nay.
2.1.2 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh
Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh năm 2011 được cấp bởi Sở kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Phú Thọ hoạt động kinh doanh chính của Công ty là: Gia công cơ khí; xử
lý và tráng phủ kim loại; Bán buôn kim loại khác; Vận hành hành khách bằng taxi;
Bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt trong xây dựng; Bán buôn sắt thép; Kinh doanh các
sản phẩm cơ khí. Tuy nhiên, những năm gần đây, Công ty chỉ thực hiện hoạt động xây
dựng nhà các loại, công trình đường bộ, kinh doanh nguyên vật liệu xây dựng, bán
buôn sắt thép. Nguồn thu nhập chính của DN được thu từ các hợp đồng xây dựng, mua
bán nguyên vật liệu xây dựng, bán tấm lợp kim loại, mái tôn dân dụng và công nghiệp.
2.1.3. Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Xây dựng và Thương
mại Ngọc Tuệ
Thị trường xây dựng và kinh doanh sắt thép, nguyên vật liệu cơ khí, phát triển
mạnh mẽ với rất nhiều công ty lớn làm cho thị phần cũng bị chia nhỏ khiến công ty
phải hoạt động thật hiệu quả. Hoạt động SXKD là chỉ tiêu tổng hợp nhất đánh giá hiệu
quả tổ chức sử dụng vốn nói chung của DN. Vì vậy trước khi xem xét hiệu quả sử
dụng vốn, chúng ta sẽ đánh giá một cách khái quát về kết quả hoạt động SXKD của
công ty trong ba năm gần đây được thể hiện qua Bảng 2.1 sau đây:
31
Bảng 2.1: Bảng phân tích báo cáo kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Ngọc Tuệ từ 2010-2012
(ĐVT: Triệu đồng)
Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12
Năm Năm Năm Tỷ Tỷ
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Giá trị trọng Giá trị trọng
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1.972 10.562 20.918 8.590 435.48 10.355 98.04
2. Giá vốn hàng bán 1.497 8.960 19.931 7.462 498.17 10.970 122.44
3. Doanh thu hoạt động tài chính 0,2277 0,238 0,215 946.25 1,004 421.73 1,243
4. Chi phí tài chính 405,3 55,08 542,99 487,9 885.77 (137,65) -25.35
- Trong đó: Chi phí lãi vay 405,3 55,08 542,99 487,9 885.77 (137,65) -25.35
5. Chi phí bán hàng 231,5 699,02 176,43 467,5 201.96 (522,59) -74.76
6. Chi phí quản lý DN 186,18 322,18 393 135,99 73.04 70,81 21.98
7. Lợi nhuận sau thuế TNDN 1,33 1,68 10,98 0,353 26.49 9,3 551.62
(Nguồn: BCTC của Ngọc Tuệ từ năm 2010-2012)
32
Nhìn vào bảng 2.1 ta có thể thấy doanh thu và lợi nhuận của công ty NGỌC TUỆ
có xu hướng tăng dần từ 2010 đến 2012, đặc biệt tăng mạnh vào năm 2012. Năm 2011, doanh thu thuần đạt mức 10.562.824.782 đồng, tăng 8.590.233.338 đồng so với
năm 2010 (tương ứng với mức tăng 435.48%). Đây là mức tăng khả quan của công ty
và cũng là mức tăng mà nhiều công ty trong ngành mong muốn đạt được. Năm 2011,
hoạt động kinh doanh của công ty có nhiều khởi sắc nên đã đem về cho công ty nguồn doanh thu lớn hơn năm 2010. Doanh thu tăng kéo theo sự gia tăng của lợi nhuận sau
thuế. Lợi nhuận sau thuế năm 2011 đạt 1.686.406 đồng, tăng 353.192 đồng so với năm
2010, tương đương với mức tăng 26.49%. Năm 2012, doanh thu tiếp tục tăng mạnh
dẫn đến sự gia tăng của lợi nhuận sau thuế. Cụ thể doanh thu đạt 20.918.216.570 đồng,
tăng 98.04% so với năm 2011 và lợi nhuận sau thuế 2012 đạt 10.989.023 đồng, cao
hơn năm 2011 rất nhiều. Trong năm 2012 này, ngoài việc đa dạng hóa các mặt hàng,
công ty đã chú trọng hơn đến việc thu về lợi nhuận. Lợi nhuận năm nay tăng cao hơn
năm 2011 đến 551.62%. Đây là con số cho thấy sự bứt phá ngoạn mục của công ty.
Về doanh thu
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ tăng 8.590.233.338 đồng tương đương 435.48% qua 2 năm 2010 và 2011.
Phương châm kinh doanh của công ty là thận trọng từng bước, chỉ mở rộng quy mô
DN và đa dạng hóa sản phẩm để chiếm lĩnh thị phần. Nên công ty đã hoạt động với khả năng lớn nhất của mình, tạo bàn đạp cho hoạt động kinh doanh của năm sau tốt
hơn của năm trước. Năm 2012 chỉ tiêu này lại tiếp tục tăng 10.355.391.788 đồng
tương ứng với mức tăng 98.04% so với năm 2011. Nguồn thu chủ yếu cho công ty đó
là thu từ hoạt động kinh doanh sắt thép cơ khí và nhập các loại tôn lợp về bán. Do đã
mua được máy cán tôn hiện đại, và đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp.
Năm nay DN đã có thể tự sản xuất ra các sản phẩm tôn lợp mái với các loại hình dập
khác nhau, kích thước, màu sắc và chất lượng đa dạng, đáp ứng được các nhu cầu mua
lẻ cũng như mua buôn tại địa bàn tỉnh.
Doanh thu từ hoạt động tài chính: Doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty chiếm 1 phần nhỏ và tăng dần qua 3 năm. Cụ thể, năm 2010, khoản tiền 22.774 đồng từ hoạt động tài chính của công ty là từ tiền thu về do nhận được từ hoạt động góp vốn. Sang năm 2011, khoản mục này tăng lên 238.272 đồng nhận từ lợi nhuận được chia của công ty. Đến năm 2012 lợi nhuận nhận được từ công ty tăng lên 9.302.617 đồng, doanh thu của công ty tăng lên 10.355.391.788 đồng so với 2011
khiến doanh thu từ hoạt động tài chính cũng tăng lên 1.243.135 đồng, con số này cho
thấy tình hình hoạt động kinh doanh ngày càng khả quan của công ty.
33
Về chi phí
Giá vốn hàng bán: Theo bảng báo cáo kết quả hoạt động SXKD của công ty ở trên, ta thấy sự thay đổi của giá vốn hàng bán tương đương với sự thay đổi của doanh
thu. Cụ thể, ở năm 2011 chỉ tiêu này là 8.960.510.560 đồng, tăng 7.462.520.722 đồng
so với năm 2010 tương đương 498.17%. Từ 2010 đến 2011 giá vốn bán hàng hóa,
thành phẩm và giá vốn kinh doanh tăng nhẹ, đồng thời nhu cầu của DN cũng tăng nhiều do mở rộng mặt hàng kinh doanh về sắt thép cơ khí và tôn lợp. Sang đến năm
2012 con số này tiếp tục tăng lên đến 19.931.360.608 đồng, tăng 122.44% tương
đương 10.970.850.048 đồng. Giá vốn hàng bán tiếp tục tăng do giá của hàng hóa cơ
khí tăng, nhu cầu của DN nhập tôn về với số lượng lớn. Tuy tình hình kinh tế khó khăn
chung đối với ngành xây dựng trong năm 2012 nhưng do chủ động hướng kinh doanh
của mình, Ngọc Tuệ đã không bị ảnh hưởng gì nhiều.
Chi phí tài chính: Chi phí tài chính của công ty chỉ đến từ khoản chi phí lãi
vay. Trong một DN, chi phí tài chính là những khoản chi phí hoặc các khoản lỗ liên
quan đến các hoạt động đầu tư tài chính, chi phí đi vay vốn, dự phòng giảm giá các
khoản đầu tư tài chính…3 năm gần đây, chi phí tài chính của công ty tăng trong giai
đoạn 2010 - 2011 nhưng lại giảm từ năm 2011 đến 2012. Cụ thể chỉ tiêu này tại năm
2011 tăng 487.909.515 đồng tương ứng 885.77% so với năm 2010. Chi phí lãi vay của
công ty trong năm 2010 chỉ là 55.083.300 đồng, đến năm 2011 đã tăng lên 542.992.815 đồng tương đương tăng 885.77% so với 2010. Có sự chênh lệch lớn như
vậy là do năm 2011, tuy DN trả khoản vay dài hạn trị giá 1.000 triệu đồng do đến hạn
và sức ép lãi suất nhưng lại vay ngắn hạn với số tiền trị giá 2.580 triệu để đầu tư cho
TSNH. Năm 2012 thì chi phí tài chính giảm xuống 25.35% hay giảm 137.655.423
đồng. Ở Ngọc Tuệ, chi phí tài chính phát sinh là chi phí lãi vay, chi phí giảm xuống
chỉ còn 405.337.392 đồng. Nguyên nhân là do trong năm 2011, công ty huy động một
lượng lớn nợ ngắn hạn từ ngân hàng như VIB, Liên Việt...để tài trợ cho các TSNH là
các mặt hàng mới.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp:
- Chi phí bán hàng của công ty năm 2011là 699.029.205 đồng tăng 201.96% so với chi phí của năm 2010, con số năm 2010 chỉ là 231.500.984 đồng. Do công ty thực hiện chính sách khen thưởng cho hoạt động bán hàng, chính sách lương theo kết quả kinh doanh để tạo động lực mới cho kinh doanh. Đồng thời tìm kiếm các khách hàng tiềm năng, không quá trú trọng về lợi nhuận, tạo mối làm ăn lâu dài cho DN. Năm
2012, chi phí bán hàng của DN là 176.438.827 đồng, giảm 522.590.378 đồng so với
năm 2011, do DN dần đi vào quỹ đạo, đội ngũ công nhân viên hoạt động chuyên
nghiệp hơn. Khách hàng có được do chiến lược chiếm lĩnh thị phần từ năm 2011 phát
huy tác dụng khiến việc tìm kiếm khách hàng, xúc tiến bán hàng trong năm 2012
34
không có gì khó khăn. Điều này giúp DN tiết kiệm được khá nhiều chi phí. Năm 2012,
chi phí bán hàng chỉ còn 176.438.827 đồng.
- Chi phí quản lý DN của công ty bao gồm Chi phí nhân viên quản lý, chi phí
vật liệu quản lý và đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao TSCĐ, thuế phí và lệ phí, chi
phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác. Năm 2011 chỉ tiêu này tăng khá
nhiều so với năm 2010, cụ thể tăng đến 73.04% từ 186.188.410 đồng lên đến 322.188.243 đồng do đầu tư nâng cao chất lượng quản lý. Cử một vài cán bộ, công
nhân viên tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, trang bị kiến thức về vận
hành máy, kiểm nghiệm, bảo quản tôn, sắt thép. Sang đến năm 2012, chi phí quản lý
DN tiếp tục tăng lên 393.002.850 đồng tương đương mức tăng 70.814.607 đồng
(21,98%) so với 2011. Khoản mục này được chi cho việc sửa chữa văn phòng làm việc
và tuyển thêm nhân viên quản lý cho DN.
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp:
Kết quả kinh doanh của DN là tốt hay kém được đo lường bằng chỉ tiêu lợi nhuận
sau thuế, lợi nhuận sau thuế của công ty Ngọc Tuệ qua cả 3 năm đều không bị giá trị âm
và còn ngày càng tăng mạnh chứng tỏ công ty hoạt động có lợi nhuận. Tuy nhiên lợi
nhuận của công ty tăng nhẹ từ 2010 đến 2011, sang đến 2012 mới tăng mạnh, điều này
có được là do hướng đi đúng đắn của ban giám đốc, điều hành DN theo hướng mở rộng
mặt hàng kinh doanh. Tiên phong trong khu vực về lĩnh vực cắt tôn, bán buôn tôn hình, sắt thép gia công cơ khí. Năm 2011, lợi nhuận sau thuế của công ty Ngọc Tuệ đạt mức
1.686.406 đồng, so với năm 2010 thì đã tăng không đáng kể với giá trị chênh lệch là
353.192 đồng, tương đương tăng 26,49% . Doanh thu trong năm 2011 tăng cao so với
2010 nhưng do DN mới thử thách mình với các loại mặt hàng mới, đồng thời mở rộng
quy mô và uy tín của DN, khiến cho chi phí bán hàng và quản lý tăng cao, làm giảm
mức lợi nhuận thuần mà DN đạt được. Năm 2012, do Công ty đã đi vào ổn định nên chi
phí bán hàng đã giảm rất nhiều, đồng thời doanh thu lại tăng mạnh (đã phân tích ở trên)
khiến cho lợi nhuận sau thuế của DN trong năm 2012 là 10.989.023 đồng, tăng 551,62%
so với EAT của năm 2011.
Tóm lại, trong những năm gần đây, cùng với sự thay đổi vĩ mô, DN dần dần đi từ một DN nhỏ lẻ, kinh doanh mặt hàng chủ yếu là công trình xây dựng nhà, buôn bán NVL xây dựng, đã trở nhà DN lớn, nhà cung cấp sắt thép cơ khí cũng như tôn lợp mái cho đại lý trong tỉnh, là một quá trình phấn đấu và mạo hiểm của Ngọc Tuệ. Tuy nền kinh tế và ngành kinh doanh, xây dựng không còn được thuận lợi như trước, nhưng
công ty vẫn hoạt động được ở mức có lợi nhuận là 1 nỗ lực của toàn bộ đội ngũ lãnh
đạo và công nhân viên chức của công ty. Đây sẽ là động lực để Ngọc Tuệ cố gắng
phấn đấu trong những năm tiếp theo để trở thành một trong những công ty có tiếng
trong lĩnh vực kinh doanh và xây dựng.
35
2.2. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ 2.2.1 Phân tích tình hình biến động nguồn vốn trong DN Tình hình nguồn vốn tại công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ được thể hiện qua Bảng 2.2 (trang 40) dưới đây: Nhìn chung, các khoản nợ phải trả tăng là con số cho thấy việc huy động nợ tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng DN đã chiếm được thị phần và có uy tín trên thị trường nên tỷ trọng nợ ngắn hạn năm 2011 và 2012 lần lượt tăng cao là 62.48% và 110.93% là con số mà không phải DN nào cũng đạt được. Tuy nhiên, nợ ngắn hạn tăng cũng dần cũng gây nên gánh nặng tài chính cho DN, không đảm bảo được mức độ an toàn về nguồn vốn sử dụng. Nợ phải trả của DN bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Nợ ngắn hạn: Năm 2011 so với năm 2010 là năm mà DN cần đầu tư nhiều hơn cho các TSLĐ và TSCĐ để mở rộng quy mô, ổn định DN và đi vào hoạt động chuyên nghiệp, DN đã phải vay ngắn hạn 2.580 triệu đồng chiếm tỷ trọng 40,57% tổng nguồn vốn, chứng tỏ DN bắt đầu đầu tư rất mạnh mẽ. Cụ thể là VLĐ tăng từ 2.672.911.763 đồng tương đương 52.77% cơ cấu vốn lên đến 3.644.357.611 đồng tương đương 57.30%. Việc dùng nợ ngắn hạn để tài trợ cho TSCĐ cũng làm cho DN gia tăng thêm rủi ro.Đồng thời nhờ uy tín được nâng cao trên thị trường nên DN được nợ nhà cung cấp 412.701.400 đồng, tăng 589.57% so với 2010. Khoản tiền này DN chiếm dụng để dùng cho chi phí lãi vay ngân hàng. Thuế và các khoản phải nộp nhà nước trong năm là 2011 là 655.825 đồng chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn do EBT của DN trong năm 2011, chỉ đạt 1.851.686 đồng. Năm 2012 DN vẫn tiếp tục duy trì hướng đầu tư của mình, đẩy mạnh việc mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng lại nhà xưởng, mua thêm phương tiện vận tải. Khoản vay nợ ngắn hạn năm 2012 là 5.543.729.530 đồng tương đương 66.61% so với 2011. Công ty đã huy động vốn từ ngân hàng VIB Việt Trì và Ngân hàng Liên Việt với lãi suất từng ngân hàng tương ứng là 14% và 14,5% một năm, thời hạn 3-6 tháng. Phải trả người bán tăng 762.643.892 đồng, tăng 157.99% so với năm 2011 vì nhờ uy tín của DN nên nhà cung cấp cho DN nợ nhiều hơn. Thuế và các khoản phải nộp nhà nước trong năm 2012 giảm đi 153.417 đồng. Trong thời kỳ kinh tế khó khăn, việc DN mạnh dạn mở rộng quy mô và tăng nợ ngắn hạn nhiều như thế này là không nên vì rủi ro thanh toán được đẩy lên thấy rõ. Tuy nhiên tỷ trọng của nguồn vốn chủ sở hữu trên nợ phải trả cao nên DN không quá lo lắng về tình hình kinh doanh của mình.
Nợ dài hạn: Năm 2010-2011, năm 2010 nợ dài hạn chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng nguồn vốn của DN, chiếm 4.72% tương đương 300 triệu đồng, việc DN tiếp cận được nguồn vốn dài hạn trong thời kỳ này là điều mà không phải ai cũng làm được. So với năm 2010, DN đã giảm vay 1.000 triệu do khoản vay dài hạn trị giá 1.000 triệu đã đến hạn thanh toán, đồng thời lãi suất vay của khoản vay dài hạn là 20% trên năm nên DN đã chủ động thanh toán bớt nợ để giảm gánh nặng chi phí cho DN. Năm 2011-
36
2012, DN tăng khoản nợ dài hạn của mình lên 1.550.436.000 đồng tương đương tăng 12.81% so với năm 2011. Lãi suất vay của năm này đã giảm xuống còn 18,5% trên năm nên DN đã mạnh dạn vay để đầu tư. Các khoản vay nợ mục đích sử dụng là để mua máy móc hiện đại, tài sản cố định khác và một phần TSNH cho DN.
Vào thời điểm khó khăn như hiện nay, việc tài trợ TSNH bằng nợ dài hạn là một việc làm mạo hiểm và khiến cho DN không kịp thời phản ứng trước những nhu cầu kinh doanh phát sinh.
Nguồn VCSH: Nguồn VCSH của công ty chiếm số lượng khá cao, tăng dần lên từ năm 2010 – 2012 lần lượt là: 2.994.954.588 đồng, 2.996.640.994 đồng, 5.007.630.017 đồng. Các thành viên trong hội đồng thành viên liên tục đầu tư thêm vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Trong năm 2010-2011, DN chỉ tăng vốn CSH lên 1.686.406 đồng so với năm 2010, do năm trước DN làm ăn không được khả quan cho lắm, nên khoản tiền mà chủ DN có không nhiều. Tuy nhiên mức tăng của nợ ngắn hạn cao hơn mức tăng của nguồn VCSH nên xét về tỷ trọng so với tổng NV thì tỷ trọng VCSH giảm lần lượt từ 2010-2012 là: 59.13%, 47.12%, 41.38%. Năm 2012, VCSH tăng mạnh nguyên nhân là do VCSH của DN dùng để đầu tư cho TSCĐ, mở rộng DN và vốn lưu độngnên lượng VCSH cần nhiều. Đồng thời DN chủ động trả các khoản vay ngắn hạn đầu tư vào TSCĐ cho ngân hàng mà DN vay từ năm trước để giảm rủi ro thanh toán.
Với tỷ lệ nắm giữ như vậy, công ty Ngọc Tuệ vừa đảm bảo được nguồn vốn của
mình, vừa huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Lợi nhuận chưa phân phối: Khoảng thời gian từ 2010 đến 2012 là thời kỳ kinh tế thế giới vẫn chưa thoát khỏi cuộc khủng hoảng và Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ, do tình hình kinh tế bất ổn.Lợi nhuận chưa phân phối tăng nhẹ qua 2 năm 2010 và 2011, cụ thể từ 4.954.588 đồng (0,1%) lên 6.640.994 đồng (0,1% trong cơ cấu vốn) đồng tương đương tăng 34.4% so với 2010. Năm 2011 DN tập trung bán hàng lấy doanh số, chiếm thị phần nên doanh thu tăng cao, dẫn đến lợi nhuậ chưa phân phối cũng tăng. Nhưng trong năm này, DN không chú trọng thu lợi nhuận nên mặc dù tăng 34,4% so với 2010, nhưng lợi nhuận chưa phân phối của DN vẫn chỉ chiếm 0,1% trong tổng NV của DN. Năm 2012, lợi nhuận tiếp tục tăng thêm 10.989.023 đồng, tăng do tình hình kinh doanh của DN từ năm trước đã được cải thiện nhờ việc DN mở rộng thêm các mặt hàng và chiếm được thị phần lớn từ năm 2011. DN đi vào chuyên sản xuất và kinh doanh tấm lợp kim loại cũng như sắt thép cơ khí làm cho lợi nhuận chưa phân phối của DN đã đạt 17.630.017 đồng, tăng 165.47% so với 2011.
DN ngoài việc khẳng định uy tín và gia tăng doanh số bán hàng, cũng cần chú trọng hơn nữa đến lợi nhuận của DN. Điều này tác động lớn đến nhu cầu đầu tư sau này của chủ sở hữu, và đo lường được mức độ làm việc hiệu quả của DN.
37
Bảng 2.2. Bảng CĐKT- Phần Nguồn vốn tại Công ty Ngọc Tuệ từ 2010-2012
(ĐVT: Triệu đồng)
Chênh lệch Chênh lệch
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2010-2011 2011-2012
Tỷ Tỷ Tỷ
Chỉ tiêu Giá trị trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị trọng Giá trị trọng
2.070 40.87 3.363 52.88 7.094 58.62 1.293 62.48 3.730 110.93 A. Nợ phải trả
770 15.20 3.063 48.17 5.544 45.81 2.293 297.84 2.480 80.97 I. Nợ ngắn hạn
700 15.20 2.580 40.57 4.298 35.52 1.810 235.06 1.718 66.61 1. Vay và nợ ngắn hạn
70 1.38 483 7.59 1.245 10.29 412,7 589.57 762,6 157.99 2. Phải trả người bán
3. Thuế và các khoản phải nộp
0 0.00 0.65 0.01 (0,15) -0.0013 0,65 0.00 (0,81) -123.39 nhà nước
1.300 25.67 300 4.72 1.550 12.81 (1000) -76.92 1.250 416.81 II. Nợ dài hạn
1.300 62.65 300 4.72 1.550 12.81 (1000) -76.92 1.250 416.81 1. Vay và nợ dài hạn
2.995 59.13 2.997 47.12 5.008 41.38 1,68 0.06 2.011 67.11 B. Vốn chủ sở hữu
2.995 59.13 2.997 47.12 5.007 41.38 1,68 0.06 2.011 67.11 I. Vốn chủ sở hữu
2.990 59.03 2.990 47.01 4.990 41.23 0 0.00 2.000 66.89 1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu
0,5 0.10 6,6 0.10 17,6 0.15 1,68 34.04 10,99 165.47 2. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối
II. Nguồn kinh phí và các quỹ khác 0 0.00 0 0.00 0 0.00 0 0.00 0 0.00
Tổng Nguồn vốn 5.065 100.00 6.360 100.00 12.101 100.00 1.295 25.57 5.741 90.28
(Nguồn: BCTC của Công ty Ngọc Tuệ từ 2010-2012)
38
2.2.2 Phân tích cơ cấu vốn.
Để thấy rõ cơ cấu vốn, chúng ta hãy theo dõi bảng 2.3 bên dưới:
Bảng 2.3: Bảng cơ cấu nguồn vốn của công ty Ngọc Tuệ giai đoạn 2010-2012
(ĐVT: Triệu đồng)
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Vốn cố định 2.392 47.23 2.715 42.7 4.346 35.92
Vốn lưu động 2.672 52.57 3.644 57.3 7.754 64.08
Vốn CSH 2.994 59.13 2.996 47.12 5.007 41.38
Nợ phải trả 2.070 40.87 3.363 52.88 7.094 58.62
Vốn ngắn hạn 770 15.2 3.063 48.17 5.543 45.81
Vốn dài hạn 4.294 84.8 3.296 51.83 6.558 54.19
Tổng giá trị NV 5.064 6.359 1.210
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN)
2.2.2.1 Cơ cấu vốn phân loại theo vai trò và tính chất luân chuyển
Nhìn vào bảng trên cho ta thấy, mức độ chủ động duy trì hay tăng thêm các tài
sản dài hạn bằng VCĐ hay phân phối VLĐ của mình sao cho phù hợp với quy mô sản
xuất và mục đích kinh doanh. Trải qua 3 năm gần đây, VCĐ có xu hướng giảm dần
trong cơ cấu nguồn vốn. Cụ thể lần lượt năm 2010, 2011, 2012 VCĐ chiếm tỷ trọng
như sau: 47,23%, 42,7%, 35,92%. Tuy tỷ trọng VCĐ giảm dần, nhưng riêng với các
DN trong ngành xây dựng và kinh doanh vật liệu xây dựng thì việc đầu tư như vậy là
hợp lý, cụ thể như sau:
Vốn cố định: Năm 2010, DN có lượng vốn cố định là 2.392.042.825 đồng với
DN nhỏ như công ty Ngọc Tuệ, và số tuổi hoạt động chưa cao thì con số này là rất
đáng kể, chiếm hơn 47% số vốn của DN. VCĐ của DN trong năm 2010 hầu như là giá trị còn lại của các tài sản cố định từ năm trước. Do trong năm nay, DN chỉ chú trọng vào việc đầu tư xây dựng các công trình nhỏ. Ngành xây dựng trong giai đoạn này gặp nhiều khó khăn nên mọi hoạt động trong năm 2010 của DN chỉ ở mức duy trì, vốn cố định đáp ứng được nhu cầu ban đầu của hoạt động kinh doanh. Năm 2011, Vốn cố định cũng được đầu tư thêm 323.597.783 đồng, tương đương với tăng 13,53% so với
2010. Với số vốn cố định trị giá 2.715.640.608 đồng, chứng tỏ DN ko bị ứ đọng vốn, tiếp tục đầu tư nhằm khẳng định vị trí và mở rộng thị trường. VCĐ trong năm 2011 được đầu tư thêm để DN mua tài sản cố định mới, cụ thể là mua phương tiện vận tải
nhằm giảm bớt các chi phí vận chuyển trước đây phải thuê của DN khác. Năm 2012,
39
Vốn cố định là 4.346.844.762 đồng chiếm 35.92% trong tổng nguồn vốn của DN.
Công ty đã đầu tư thêm 2 tỷ tiền mua thêm máy dập cắt tôn và đẩy rộng diện tích sản xuất nhằm nâng cao năng lực sản xuất. Việc đầu tư thêm TSCĐ để sản xuất ra 1 đơn vị
hàng hóa là biểu hiện tốt, định hướng lâu dài và mạnh dạn của DN trong việc nâng cao
hiệu quả sử dụng VCĐ.
Vốn lưu động: Năm 2010, DN có 2.672.911.763 đồng VLĐ, chiếm tỷ trọng 52,77% trong tổng nguồn vốn. Trong đó chủ yếu là các khoản phải thu ngắn hạn như
trả trước cho người bán, và các khoản phải thu khác. Phải thu ngắn hạn của DN trị giá
1.872.981.155 đồng, do khách hàng chiếm dụng 114.874.586 đồng của DN, trả trước
cho nhà cung cấp 358.106.569 đồng vì DN chưa có uy tín trên thị trường. Các khoản
phải thu khác là khoản tiền tạm ứng cho nhân viên trị giá 1.400 triệu. Hàng tồn kho
thời điểm này chiếm tỷ trọng nhỏ, chỉ 13,1% trong cơ cấu tài sản của DN. Thuế GTGT
được khấu trừ không đáng kể. Năm 2011, do tình hình kinh tế bắt đầu biến động,
ngành xây dựng thì chậm lại do thiếu vốn đầu tư, khách hàng làm ăn khó khăn, chưa
rót kịp tiền để trả cho DN. Ngành kinh doanh sắt thép và mái lợp kim loại thì khả quan
hơn, vì thời tiết nắng nóng và khí hậu nhiệt đới cộng thêm sự biến đổi của khí hậu làm
nhu cầu gia công cơ khí dân dụng và nhất là lợp tôn mát tăng lên. Dẫn đến DN cần
phải tăng mạnh vốn lưu động lên 3.644.357.611 đồng, tăng 36.34% so với năm 2010
khiến biểu đồ cơ cấu vốn có sự dịch chuyển rõ ràng hơn. Khoản phải thu giảm đi 759.573.880 đồng làm DN giảm bớt được gánh nặng thanh toán. Tiền chủ yếu được
dùng để mua hàng hóa và chi cho chi phí bảo quản tại kho với giá trị hàng tồn kho là
2.313.460.888 đồng chiếm 36,38% trong tổng tài sản của DN. Năm 2012, VLĐ tăng
hơn 4.110.593.174 đồng tương đương tăng 112.8% so với năm 2011. Tiền của DN
tăng lên đến 490.272.616 đồng do thu nợ được từ khách hàng và phân bổ từ nguồn vay
ngắn hạn. Điều này đồng nghĩa với việc DN đã sử dụng tiền để thanh toán hoặc
chuyển đổi hàng trong kho… Các khoản phải thu ngắn hạn đạt 1.660.245.186 đồng,
trong đó chủ yếu vẫn là các khoản phải thu khác chiếm tỷ trọng lớn. Hàng tồn kho
trong năm 2012 cũng tăng cao do như cầu sử dụng tôn lợp mái tăng, DN cũng tăng cường dự trữ đề phòng biến động về giá. Như vậy, tăng VLĐ đã làm tăng lượng tiền mặt mà DN đang nắm. Đây cũng là biểu hiện tích cực về chất lượng trong công tác quản lý VLĐ của DN.
2.2.2.2 Cơ cấu vốn phân loại theo nguồn hình thành
Theo bảng 2.3 ta thấy tỷ trọng VCSH giảm dần qua từng năm nghĩa là tỷ trọng
nợ ngắn hạn càng ngày càng tăng. Việc này khiến cho công ty gặp rủi ro nhiều hơn do
không chủ động trong nguồn vốn và phải phụ thuộc nhiều vào vốn vay bên ngoài.Ta
có thể thấyrõ sự thay đổi cơ cấu vốn này, do DN mở rộng thì nhu cầu về vốn cũng tăng
lên tương ứng để đảm bảo vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh. Tình hình công nợ
40
và các khoản thanh toán ngắn hạn của DN cũng nhiều, bị chiếm dụng nhiều và khả
năng thanh toán thấp.
Hệ số nợ: Hệ số nợ của công ty Ngọc Tuệ có biến động theo hướng tăng dần,
lần lượt 3 năm 2010, 2011, 2012 là 40.87%, 52.88%, 58.62% bên cạnh đó là hệ số vốn
chủ sở hữu năm 2010 cao trên 50% nhưng năm 2011, 2012 là 47.12%, 41.38% cho
thấy năm 2010, phần lớn tài sản được tài trợ bằng nguồn vốn tự có nhiều hơn nguồn nợ huy động bên ngoài với giá trị VCSH là 2.994.954.588 đồng nhiều hơn nợ phải trả
924.954.588 đồng. Nợ ngắn hạn của Ngọc Tuệ trong năm 2010 chỉ là 770 triệu đồng,
trong đó khoản vay ngắn hạn trị giá 700 triệu và nợ người bán là 70 triệu đồng. Bên
cạnh đó, DN cũng vay dài hạn với số tiền 1.300 triệu để tài trợ và nâng cấp cho TSCĐ
cơ bản của DN như nhà xưởng, máy móc,…Qua bảng 2.3 ta có thể thấy mức độ tự chủ
tài chính của Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ trong năm 2010 khá
cao. Năm 2011,do nền kinh tế và ngành xây dựng khó khăn, công ty lại mở rộng quy
mô nên dẫn đến việc tăng nợ. Nợ phải trả tăng 62,48% so với 2010, khiến cho cán cân
nợ nặng hơn. Nợ phải trả trong năm 2011 là 3.363.357.225 đồng. Khoản này bị tăng
mạnh là do công ty mạnh dạn vay ngắn hạn của ngân hàng với giá trị 2.580 triệu đồng,
chủ yếu để tài trợ cho TSNH do thời gian này DN mới kinh doanh thêm mặt hàng tấm
lợp kim loại nên nhu cầu tăng cao, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng nhỏ lẻ cũng
như của đại lý. Một phần trong khoản nợ ngắn hạn được DN dùng để đầu tư cho TSCĐ là một chiếc ô-tô tải, vận chuyển sắt thép và tôn lợp chuyên dụng. Điều này
khiến cho DN cũng tăng thêm gánh nặng tài chính. Nợ dài hạn được trả bớt 1.000 triệu
do khoản vay này đến hạn, và cơ cấu vốn được thay đổi để phù hợp với hướng đi của
DN. Khoản nợ nhà cung cấp cũng tăng mạnh lên 482.701.400 do DN đã dần có uy tín
trên thị trường.Năm 2012, Nợ phải trả tăng lên 7.094.165.530 đồng tương đương
58,62% cơ cấu vốn. Việc này làm cho công ty có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc
biệt là lãi suất ngân hàng không thường cố định nên tỷ lệ rủi ro khá cao. DN đã tăng
vay ngắn hạn và dài hạn ngân hàng với số tiền lần lượt là 4.298.537.655 đồng, chiếm
35,52% cơ cấu vốn, và 1.550.436.000 đồng nợ dài hạn, tương đương 12,81% tổng vốn. Hai khoản vay này được huy động thêm nhiều so với năm cũ do tình hình sản xuất kinh doanh trên đà khởi sắc. Với lãi suất ngắn hạn trong 3-6 tháng là 14-14,5%/năm tại ngân hàng VIB Việt Trì, và dài hạn là 20%/năm, DN đã tính toán và huy động các khoản vay phù hợp, phục vụ yêu cầu của DN. Tuy nhiên, việc sử dụng nợ cũng có một ưu điểm, đó là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu nhập DN. Nhưng đây có thể là
biểu hiện không tốt do 2 năm liền tỷ trọng nợ phải trả liên tục tăng nhẹ, cho thấy mức độ tự chủ về vốn của công ty bị giảm sút.
Vốn chủ sở hữu: Năm 2011-2010, VCSH không biến động nhiều. So với năm
2010 thì DN đã giảm tỷ trọng của nguồn VCSH này xuống 12.01% nguyên nhân do
41
nguồn VCSH biến động ít chỉ tăng 0,06% nhưng nợ phải trả tăng lên 62.48% khiến
cho tỷ trọng càng bị chênh lệch. Dẫn đến cơ cấu VCSH chỉ còn là 47,12% trên tổng vốn. Do tình hình kinh doanh của năm 2010 không khả quan, lợi nhuận thấp nên DN
gần như không có lãi và không dám đặt nhiều niềm tin vào năm 2011, khoản đầu tư
thêm của chủ sở hữu vào đầu năm 2011 chỉ là 1.686.406 đồng. Năm 2012, tuy công ty
tăng VCSH lên 5.007.630.017 đồng nhưng mức tăng lại nhỏ hơn mức tăng của Nợ phải trả. Cụ thể là nợ phải trả tăng thêm 3.730.808.305 đồng, tương đương 110,93% so
với 2011, nhưng vốn chủ sở hữu chỉ tăng thêm 2.010.989.023 đồng, tương đương tăng
67,11% so với 2011. Dẫn đến tỷ trọng VCSH tiếp tục giảm. Tình hình kinh doanh khởi
sắc của năm 2011 đã tạo động lực cho DN đầu tư mạnh mẽ hơn, tuy mức VCSH huy
động được nhỏ hơn khoản nợ nhưng đây là con số đáng ghi nhận của DN trong thời kỳ
kinh tế đầy biến động này.
Như vậy, qua phân tích tình hình nguồn vốn của Công ty TNHH Ngọc Tuệ ta thấy
Công ty có xu hướng sử dụng nguồn nợ phải trả để tài trợ cho tài sản, vốn chủ sở hữu
chiếm tỷ trọng tương đối ít hơn so với nguồn nợ phải trả.Nguyên nhân chủ yếu do các
khoản nợ phải trả tăng nhiều hơn so với VCSH. Việc này làm công ty kém chủ động về
vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhưng tỷ trọng nguồn vốn chủ sở
hữu và nợ phải trả tăng nên nguồn vốn của Công ty cũng tăng.
2.2.2.2 Cơ cấu nguồn vốn theo thời gian sử dụng
Nguồn vốn ngắn hạn: Năm 2010, DN có số vốn ngắn hạn rất ít, chỉ chiếm
15,2% cơ cấu vốn tương đương với 770 triệu đồng, lúc đầu vì DN vẫn chỉ sản xuất
kinh doanh ở quy mô nhỏ lẻ nên hoạt động của DN phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn
dài hạn. Vốn ngắn hạn được huy động từ nguồn chính là vay ngân hàng với trị giá là
700 triệu và nợ người bán số tiền hàng là 70 triệu đồng. Hàng tồn kho trong thời điểm
này cần rất ít do hoạt động kinh doanh không khả quan, hàng tồn kho chỉ là
663.636.187 đồng nên DN không cần vay ngắn hạn nhiều. Năm 2011, lượng tiền trong
nguồn vốn ngắn hạn được công ty chú trọng hơn, đồng thời tỷ trọng nguồn vốn ngắn
hạn trong tổng nguồn vốn cũng tăng lên. Cụ thể năm 2011 nguồn vốn ngắn hạn tăng 52.88% tương đương 3.363.357.225 đồng, chiếm 48,17% trong tổng nguồn vốn. Khoản tăng mạnh này phát sinh là do nhu cầu về VLĐ của DN tăng, các loại tôn lợp cần sẵn sàng để đáp ứng nhu cầu ngay khi cần. Với thời tiết ngày càng khắc nghiệt và bất thường như hiện nay, việc người tiêu dùng chú trọng đến sản phẩm này của DN là điều tất yếu. DN mạnh dạn vay ngắn hạn ngân hàng với kỳ hạn 3-6 tháng, lãi suất 14-
14,5% số tiền trị giá 2.580 triệu đồng. Khoản nợ người bán cũng được chiếm dụng
nhiều hơn, đạt giá trị là 482.701.400 đồng. Năm 2012 là năm mà DN đầu tư khá mạnh
mẽ về tất cả các mặt. Tuy mảng xây dựng kém phát triển nhưng nhờ vào sự chuyển
hướng, chuyên sâu vào kinh doanh sắt thép và tấm lợp kim loại, nguồn vốn của công
42
ty tăng 5.741.797.328 đồng tức là 90.28%, gần gấp đôi số vốn của 2011. Tuy tỷ trọng
của nguồn vốn ngắn hạn giảm nhẹ xuống 46% nhưng mức tăng của nguồn vốn ngắn hạn là 3.730.808.305 đồng, tăng 110.3% so với 2011. Khoản vay ngắn hạn tiếp tục
được huy động với giá trị là 4.298.537.655 đồng chiếm 35,52% tổng nguồn vốn. Phải
trả người bán cũng ngày càng nhiều hơn với giá trị 1.245.345.292 đồng, tương đương
10,92% số vốn của DN.Đây là con số cho thấy DN đã tiếp cận được nguồn vốn ngắn hạn nhiều hơn trong thời kỳ khó khăn, nhưng Tỷ trọng nợ ngắn hạn cao cũng làm cho
DN đối mặt với rủi ro lớn.
Nguồn vốn dài hạn: Năm 2010, Vốn dài hạn của công ty lúc ấy vừa dùng để đầu
tư vào tài sản dài hạn của DN, lại vừa đóng vai trò 1 phần là vốn lưu động. Chỉ khi DN
cần thêm vốn để đầu tư nguyên vật liêu, công cụ dụng cụ hay thanh toán cho người
bán mà lượng tiền từ nguồn VCSH không đủ thì DN mới phải đi vay ngắn hạn. Vốn
dài hạn trong năm 2010 là 4.294.954.588 đồng, trong đó khoản vay dài hạn trị giá
1.300 triệu, lãi suất 20%/ năm, còn lại là từ VCSH. Năm 2011, nguồn vốn dài hạn
đồng thời cũng tăng nhưng mức tăng không bằng so với nguồn vốn ngắn hạn. So với
2010, nguồn dài hạn giảm đi 998.313.594 đồng. Do khoản vay dài hạn giảm 1.000
triệu đồng do đến hạn thanh toán. Lãi suất dài hạn cho DN thời kỳ này cao, nên lượng
tiền nợ dài hạn giảm, để tránh gây áp lực lên DN. Khoản VCSH đầu tư đầu năm 2011
cũng chỉ tăng nhẹ có 1.686.406 đồng. Điều này khiến cho mức tăng của nợ dài hạn giảm hẳn, chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nợ ngắn hạn rất nhiều. Năm 2012, nguồn dài hạn lại
tăng với mức tăng là 3.261.425.023 đồng tương đương với 98,93% so với 2011.
Nguồn này cũng tăng vì DN cần dùng 1 phần của nguồn dài hạn này để mua thêm tài
sản cố định mới, nên DN đã vay dài hạn tại VIB Việt Trì số tiền là 1.250.436.000
đồng.VCSH được huy động mạnh mẽ, tăng thêm 2.010.989.023 đồng để phục vụ nhu
cầu ngắn hạn và dài hạn của DN. Điều này chứng tỏ tuy DN theo đuổi chiến lược thận
trọng, chú trọng đến nguồn vốn dài hạn, không gây sự mất cân đối quá nhiều trong tỷ
trọng của nguồn vốn. Từ đó vẫn có thể chủ động điều hành và phát triển được DN.
Từ những con số trên, ta có thể thấy DN đang chuyển hướng sang thanh toán các khoản có tính chất tạm thời, phát sinh nhiều hơn. Còn các khoản vay có tính chất ổn định thì DN không huy động mà chủ yếu dùng tiền của VCSH.
2.2.3 Chiến lược quản lý vốn trong DN
Qua phần phân tích nói trên, những năm gần đây, Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ đã áp dụng chiến lược quản lý vốn theo chính sách chính sách
thận trọng. Chính sách này mang lại cho Công ty nhiều thuận lợi như: nguồn vốn dài
hạn có tính ổn định cao, hạn chế rủi ro trong kinh doanh, tính tự chủ cao, chi phí lãi
vay cao. Tuy nhiên chính sách này không đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao. Vào giai
đoạn kinh tế bất ổn như hiện nay, việc sử dụng chính sách thận trọng sẽ góp phần đảm
43
bảo an toàn về nguồn vốn cho hoạt động SXKD của công ty, giảm áp lực về chi phí
lãi. Đây là chính sách mà hầu hết các DN trong thời gian này đều áp dụng. Chiến lược quản lý vốn được thể hiện rõ nét hơn qua hình 2.1 minh họa dưới đây:
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
TSNH NVNH TSNH NVNH NVNH TSNH 3.644 770 2.672 5.543 3.063 7.754
NVDH NVDH TSDH TSDH NVDH 4.294 6.557 TSDH 2.392 2.715 3.296 4.346
(Đơn vị tính: Triệu đồng)
Hình 2.1 Chính sách quản lý vốn
Năm 2010, TSNH chiếm 52.77% tương đương 2.672 triệu đồng cơ cấu tài sản,
được tài trợ bởi 15.2% NVNH tương đương 770 triệu đồng, phần còn lại là 1.902 triệu
nhờ vào sự tài trợ của Nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho TSNH. Sự tài trợ của nguồn
dài hạn cho các TSLĐ cho thất DN khá tự chủ trong hoạt động kinh doanh của mình,
dư thừa khả năng thanh toán. Thời kỳ này do DN vẫn ở trong thị trường hẹp, chỉ thầu
1 vài công trình xây dựng nhỏ nên nguồn vốn dài hạn chủ yếu là từ vay dài hạn và
nguồn VCSH.Với giá trị vốn vay dài hạn là 1.300 triệu và VCSH đầu tư tới
2.994.954.588 đồng. Đổi lại là chi phí tài chính cao. Bởi nếu DN sử dụng NVNH để
tài trợ cho TSNH thì chi phí tài chính chỉ là 14%, nhưng khi TSNH được tài trợ bằng NVDH thì chi phí lên đến 20%/năm. Nhưng năm 2010 DN không có nhiều khoản phát sinh gấp, Vốn của DN cũng vẫn đáp ứng được kịp thời. Sang năm 2011, TSNH tăng nhẹ lên 3.644.357.611 đồng tương đương 57.3%, TSCĐ tăng nhẹ lên 2.715 triệu. DN đã tăng khoản tài trợ bằng nguồn ngắn hạn cho TSNH nhiều hơn cụ thể là nguồn ngắn hạn tài trợ cho TSNH là 3.063.357.225 đồng tăng xấp xỉ 33% so với 2010, phần TSNH còn lại là 581 triệu do nguồn dài hạn tài trợ. DN đã chuyển sang tiếp cận nguồn ngắn hạn để chịu lãi suất thấp (14%-14,5%/năm) và phù hợp với đặc tính của TSNH là các nguyên vật liệu cơ khí, xây dựng hay mái tôn thô nhằm gia công mái lợp. Nguồn dài
hạn được đầu tư chuyên sâu cho TSCĐ hơn với tổng nguồn dài hạn là 3.296.640.994 đồng. DN dần ổn định về quy mô và duy trì phát triển. Năm 2011, do ảnh hưởng của
44
lãi suất ngân hàng, và nợ đến hạn công ty đã chủ động trả khoản vay dài hạn trị giá
1.000 triệu đồng, điều này làm cho tỷ trọng của nguồn ngắn hạn và dài hạn cân đối hơn đồng thời cũng phù hợp hơn với hình thức kinh doanh của DN. Điều đó cho ta
thấy được rõ nhất chiến lược quản lý vốn thận trọng nhưng có xu hướng bắt kịp chiến
lược dung hòa. Năm 2012, do nhu cầu về TSNH tăng lên 64.08% tương đương 7.754
triệu mà nguồn vốn NH chỉ tài trợ được 5.543.729.530 đồng do nhu cầu đầu tư nguyên vật liệu và nhất là mặt hàng tôn mát tăng mạnh. Về NVDH, thời điểm này DN bắt đầu
chiếm lĩnh được thị trường và trở thành nhà cung cấp cho nhiều đại lý nhỏ ở các huyện
lân cận, nên DN mạnh dạn đầu tư và tận dụng khoản giảm trừ từ lá chắn thuế. Cụ thể
là các khoản đầu tư cho TSNH từ nguồn ngắn hạn là 45.81% trên tổng nguồn vốn,
tương đương 4.298.537.655 đồng, DN đã vay ngắn hạn thêm 2.480.372.305 đồng so
với 2011 để tăng cường VLĐ. Đồng thời DN tiếp tục vay dài hạn ngân hàng với số
tiền 1.550.436.000 đồng đây là lúc DN mở rộng đầu tư vào DN của mình. DN cũng đã
sử dụng nguồn dài hạn 1 phần để làm VLĐ, tài trợ cho TSNH 2.211 triệu đồng. Chi
phí mua máy cắt tôn, dập múi tôn làm TSCĐ được tài trợ hết bằng nguồn dài hạn và
vốn lưu động dùng để đào tạo nguồn nhân công chuyên nghiệp, mua NVL nhằm hoàn
tất các công trình xây dựng nhằm thu hồi tiền khiến DN không ngại đầu tư lớn.
Tóm lại, công ty đã cố gắng duy trì chính sách quản lý VLĐ của mình trong 3
năm qua theo mô hình quản lý thận trọng. Với chiến lược này, VLĐ thường xuyên lần lượt tăng thêm 1.902 triệu, 581 triệu, 2.211 triệu cho thấy khả năng thanh toán được
đảm bảo do TSLĐ luôn được duy trì ở mức tối đa. Nguồn dài hạn biến động thất
thường nhưng nhìn chung là tăng khiến cho DN chuyên tâm vào hoạt động SXKD chứ
chưa phải lo ngay đến việc trả nợ. DN cũng giảm bớt được các rủi ro như biến động
tăng giá. Nhưng rủi ro của chiến lược thận trọng cũng không ít, DN phải tốn chi phí
cho việc huy động vốn cao, lãi suất cho vay dài hạn là 18%-20%/ năm, cao hơn lãi
suất ngắn hạn chỉ từ 14%-14,5%/ năm. Thu nhập của DN không cao do chịu chi phí
quản lý, lưu kho lớn. DN cần điều chỉnh tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn của
mình sao cho hợp lý hơn nữa.
2.2.4 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong DN 2.2.4.1 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn theo nguồn hình thành I, Hiệu quả sử dụng VCSH
Để tính toán và thấy rõ được hiệu quả sử dụng VCSH, trước hết ta sẽ xem chỉ
tiêu vòng quay VCSH. Tỷ số này cho thấy khả năng tự chủ về mặt tài chính của DN.
Vòng quay VCSH: Chỉ số này cho thấy nếu số vòng quay ngày càng cao thì đó là biểu hiện tốt, ngược lại, nếu vòng quay VCSH có xu hướng giảm chứng tỏ DN đang sử dụng vốn chưa thật hiệu quả. Cụ thể như sau:
45
Bảng 2.4: Vòng quay VCSH tại công ty Ngọc Tuệ giai đoạn 2010-2012
(ĐVT: Lần)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Doanh thu thuần 1.972 10.562 20.918 8.590 435,48 10.355 98,04
Vốn CSH 2.994 2.996 5.007 1,68 0,06 2.010 67,11
Vòng quay VCSH 65,86 352,49 417,73 286,63 435,21 65,24 18,51
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN)
Ta thấy, số vòng quay VCSH ngày càng tăng, lần lượt trong 3 năm là 2010 là
65,86; năm 2011 là 352,49; 2012 là 417,73. Năm 2010 số vòng quay này chỉ là 65.86 tức là trong 100 đồng vốn CSH bỏ ra thì thu được 65.86 đồng Doanh thu thuần. Trong
khi VCSH bỏ ra cho hoạt động kinh doanh là 2.994.954.588 đồng, nhưng Doanh thu
lại chỉ là 1.972.591.444 đồng, con số này cho thấy trong năm này DN chưa sử dụng Vốn chủ sở hữu một cách hiệu quả. Lượng đầu tư lớn nhưng sản phẩm mà DN cung
cấp ra thị trường chưa thực sự đa dạng, chỉ là các công trình xây dựng nhỏ và nguyên
vật liệu cơ khí. Năm 2011 chỉ số này tăng đột biến là 352,49, trong 100 đồng vốn bỏ
ra, DN đã thu về được 352,49 đồng doanh thu thuần. Mặc dù năm 2011 DN gần như
giữ nguyên lượng vốn chủ sở hữu của mình, do lợi nhuận giữ lại của công ty để tái đầu
tư trong khi đó, với chính sách đa dạng hóa sản phẩm và việc bán hàng của DN có hiệu quả dẫn đến doanh thu thuần tăng mạnh 10.562.824.782 đồng. Từ việc gia tăng
của DT thuần dẫn đến vòng quay VCSH tăng từ 65,86 vòng lên đến 352,49 vòng. Đẩy
nhanh vòng quay vốn CSH trong 1 kỳ kinh doanh, kích thích sự đầu tư và phát triển
hơn nữa của DN. Năm 2012, DN đã tăng lượng vốn chủ sở hữu lên hơn gấp rưỡi năm
cũ, cụ thể là DN tăng 67.11% tương đương mức tăng là 2.010.989.023 đồng để đẩy
mạnh hướng kinh doanh của mìnhnhờ việc mở rộng và đi đầu khu vực trong hoạt động
sản xuất tôn lợp, mua máy cắt tôn và dập hình tôn mát đã giúp DN đứng vững trên thị
trường. Nhưng tốc độ tăng của doanh thu thuần đạt 20.918.216.570 đồng, vẫn tiếp tục cao dẫn đến vòng quay VCSH tăng từ 352,49 vòng lên 417,73 vòng. Từ đây có thể thấy, việc sử dụng VCSH của công ty ngày càng đạt được hiệu quả.
ROE
Tỷ suất sinh lời của VCSH là tiêu chuẩn phổ biến nhất dùng để đánh giá tình hình hoạt động tài chính của các nhà đầu tư và quản lý. Vì nó đo lường tính hiệu quả
của đồng vốn của các chủ sở hữu của công ty, đó là phần trăm lợi nhuận sau thuế thu được của chủ sở hữu từ các đồng vốn của mình.
46
Bảng 2.5: Tỷ suất sinh lời của VCSH tại công ty Ngọc Tuệ từ năm 2010-2012
(ĐVT:%)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
EAT 1,33 1,68 10,98 0,35 26,49 9,3 551,62
VCSH 2.994 2.996 5.007 1,68 0.06 2.010 67,11
ROE 0,04 0,06 0,22 0,02 26,42 0,16 289,94
(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa vào BCTC DN)
Nhìn vào bảng ta thấy ROE có xu hướng tăng liên tục trong 3 năm qua, cụ thể
như sau: Năm 2010, ROE bằng 0.04 tức là cứ 100 đồng VCSH tạo ra được 0.04 đồng
lợi nhuận sau thuế. Lợi nhuận gộp từ hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ đạt được 474.601.606 đồng nhưng các loại chi phí trong DN lại khá lớn như chi phí lãi vay là
55.083.300 đồng, chi phí quản lý và bán hàng lên tới 417.689.394 đồng chứng tỏ việc
hoạt động của DN trong 2010 chưa có hiệu quả cũng như vốn chủ sở hữu chưa thực sự
được sử dụng tốt, chi phí còn lớn và lợi nhuận không đáng kể. Đến 2011, tỷ suất sinh
lời tăng lên 0.02 tức là tăng lên 26,42% so với năm 2010, điều này cho thấy dấu hiệu
khả quan trong việc sử dụng VCSH. Tuy lợi nhuận gộp đã tăng lên đến 1.566.314.222
đồng tương đương tăng 230.03% so với 2010. Nhưng do nhu cầu về nguồn vốn lưu
động và đầu tư thêm vào TSCĐ tăng khiến cho các khoản vay ngắn hạn tăng, dẫn đến
chi phí lãi vay là 542.992.815 đồng tăng 885,77% so với 2010. Điều này làm cho ROE
năm 2011 không có dịch chuyển nhiều do EAT chỉ tăng nhẹ. Năm 2012, ROE tăng đột
biến với con số lên đến 0.22 nghĩa là 100 đồng vốn CSH tạo ra được 0.22 đồng lợi
nhuận sau thuế, con số này tăng 289,94% so với 2011. Cùng với mức tăng đáng kể của
VCSH là 2.010.989.023 đồng tương đương 67,11% nhằm mua thiết bị thúc đẩy sản
xuất tôn lợp, thì lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cũng tăng 551,62% là 9.302.617
đồng so với 2011.Tuy ROE của DN còn rất nhỏ nhưng nó cũng báo hiệu tin vui cho DN rằng mình đang đi đúng hướng và tiếp tục duy trì, phát huy chiến lược của mình.
Tóm lại, ROE đã được cải thiện qua các năm nhưng tỷ suất sinh lợi VCSH ở mức thấp, nguyên nhân chủ yếu là do khả năng cân đối chi phí và doanh thu chưa hiệu quả. Dẫn đến lợi nhuận thuần sau thuế thấp khiến cho tỷ suất sinh lời VCSH nhỏ. Như vậy, có thể thấy việc đầu tư của CSH không đem lại lợi nhuận tương xứng.
II, Hiệu quả sử dụng vốn vay
Ta biết rằng, để hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì DN nào cũng cần có một khoản vốn vay để phục vụ cho các hoạt động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
của DN. Trước hết, để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay ta cần, xét đến khả năng
47
thanh toán lãi vay. Trả lãi vay là nghĩa vụ của DN, nó đảm bảo khả năng chi trả lãi từ
lợi nhuận của DN.Chính vì thế, công tác đánh giá, kiểm tra và chi trả các khoản lãi là rất quan trọng. Để đánh giá khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp là tốt hay
không, người ta sử dụng Hệ số thanh toán lãi vay.
Bảng 2.6: Khả năng thanh toán lãi vay của Công ty Ngọc tuệ từ 2010-2012
(ĐVT: Lần)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
EBIT 56,93 545,3 418,6 488,4 857.82 (126,6) -23,23
Lãi vay 55,08 542,9 405,3 487,9 885.77 (137,6) -25.35
1,03 1,00 1,03 (0,03) -2,83 0,03 2,84
Khả năng thanh toán lãi vay
(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa vào BCTC DN) Năm 2010, ta thấy DN có hệ số thanh toán lãi vay là 1,03 tức là 1 đồng lãi vay
thì DN có 1,03 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi để thanh toán chi phí lãi. Năm 2010,
DN vay dài hạn với số tiền là 1.300 triệu đồng và ngắn hạn là 700 triệu đồng khiến cho
số tiền lãi cần thanh toán là 55.083.300 đồng nhưng EBIT lại chỉ đạt con số
56.934.986 đồng cho nên tuy DN vẫn có thể đảm bảo trả lãi nhưng hệ số thanh toán lãi
khá nhỏ. Năm 2011, tuy khả năng thanh toán lãi vay của DN bị giảm đi 0,03 tức là
giảm đi 2,83% so với 2010 là do DN đã trả bớt khoản vay dài hạn là 1.000 triệu đồng
để giảm gánh nặng tài chính nhưng vì nhu cầu VLĐ ở thời gian này tăng cao, đồng
thời DN dùng một phần khoản vay ngắn hạn để tài trợ cho máy móc cố định tại DN
khiến các khoản vay ngắn hạn bị tăng đột biến lên tới 2.580 đồng, khoản lãi phải trả
tăng mạnh lên 542.992.815 đồng làm cho khả năng thanh toán lãi bị giảm. Tuy nhiên
lợi nhuận trước thuế và lãi cũng tăng lên 545.335.046 đồng nhưng mức tăng nhỏ hơn
mức tăng của lãi vay cho thấy đây cũng là biểu hiện không tốt, chứng tỏ DN sử dụng
đòn cân nợ chưa có hiệu quả. Năm 2012, DN đều tăng vay ngắn hạn và dài hạn lên
con số lớn để đầu tư thêm các tài sản cố định đắt tiền nhập ngoại và mua thêm NVL để nhanh chóng hoàn thành các công trình đang thực hiện cũng như mua tôn thô để sản xuất tôn lợp đang có nhu cầu tiêu thụ mạnh. Bên cạnh đó, lãi suất ngân hàng ưu đãi cho DN vay để kinh doanh được giảm xuống chỉ còn 9%/ năm. Cụ thể là DN vay ngắn
hạn 4.298.537.655 đồng tăng 66.61% so với 2011 và vay nợ dài hạn là 1.250.436.000 đồng so với 2011.Cùng với đó, EBIT giảm xuống 418.657.420 đồng do Doanh thu thuần năm 2012 là 20.918.216.570 đồng nhưng giá vốn cũng tăng lên đến 19.931.360.608 đồng. Tuy bán được nhiều hàng hóa nhưng do giá nhập của hàng hóa
tăng mạnh, DN bán giá cả cạnh tranh nên EBIT bị giảm. Lãi vay bị giảm theo lãi suất
48
chỉ còn 405.337.392 đồng khiến cho khả năng thanh toán lãi được cải thiện lên con số
1,03. Đây là biểu hiện tốt cho thấy khả năng thanh toán dài hạn của DN có biến chuyển theo chiều hướng đi lên.
Tóm lại, từ bảng 2.6 ta thấy được khả năng thanh toán lãi vay của DN là thấp.
Hiệu quả sử dụng vốn của DN chưa đạt được hiệu quả.
Chỉ tiêu thứ 2 cần xét đến khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay là khả năng sinh lời tiền vay. Chỉ tiêu này cho biết trong 1 năm làm ăn, DN sử dụng 100 đồng vốn vay thì
thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Bảng 2.7: Khả năng sinh lời tiền vay của Công ty Ngọc Tuệ từ 2010-2012
(ĐVT: %)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-
12
Giá trị Tỷ Giá trị Tỷ
trọng trọng
EAT 1,33 1,68 10,98 0,35 26.49 9,3 551.62
Tiền vay 2.000 2.880 5.848,9 880 44 2.968,9 103.09
Khả năng 0.000667 0.0005856 0.0019 (0.000081) (0.12) 0.0013 2.21
sinh lời
tiền vay
(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa vào BCTC DN)
Năm 2010, Tỷ số khả năng sinh lời của tiền vay là 0.000667 do lợi nhuận sau
thuế chỉ đạt được 1.333.214 đồng trong khi số tiền vay cả ngắn hạn và dài hạn lên đến
2.000 đồng. EAT năm 2010 đạt mức thấp do thị trường của DN còn hạn chế, đồng thời
các mặt hàng tiêu thụ cũng chưa đa dạng. Doanh thu của DN là 1.972.591.444 đồng
nhưng có quá nhiều chi phí trong đó có cả chi phí vay khiến cho EAT còn lại ít. Con
số này cho thấy việc sử dụng tiền vay của DN chưa thực sự hiệu quả. Năm 2011, số tiền vay của DN tiếp tục tăng 44% tức là tăng 880 triệu trong đó chủ yếu là vay ngắn
hạn để phục vụ các nguyên vật liệu xây dựng và tôn thô so với năm 2010, đồng thời DN đã trả 1.000 triệu đồng tiền vay dài hạn nhằm giảm bớt gánh nặng tài chính do lãi suất dài hạn cao nhưng khả năng sinh lời từ tiền vay vẫn giảm xuống còn 0.0005856 do mức tăng của EAT chỉ là 26.49% nhỏ hơn nhiều so với mức tăng của số tiền vay năm 2011. Trong năm này, doanh thu từ hoạt động kinh doanh tăng mạnh nhưng do chưa kịp điều tiết cho phù hợp nên chi phí quản lý và bán hàng cũng tăng rất cao. Bên
cạnh đó, chi phí tiền vay lên tới 542.992.815 đồng. Điều này cho thấy việc sử dụng
tiền vay của DN trong 2 năm 2010 đến 2011 vẫn chưa hiệu quả, khả năng sinh lời từ
tiền vay quá thấp, thậm chí còn giảm qua 2 năm. Năm 2012, tình hình có vẻ khả quan hơn khi chỉ số khả năng sinh lời tiền vay tăng lên 0.0019 tương đương mức tăng
49
2.21% so với 2011. Lúc này DN đã chú trọng hơn đến việc cân đối tiền vay ngắn hạn
và dài hạn cũng như sử dụng các nguồn vốn phục vụ các hoạt động của DN một cách đúng đắn và hiệu quả. Ngân hàng cũng linh động và ưu đãi về lãi suất cho DN hơn nên
DN mạnh dạn vay nhiều hơn. Số tiền vay năm nay lên tới 5.848.973.655 đồng trong đó
vay ngắn hạn là 4.298.537.655 đồng nhằm mua tôn lưu kho, phòng tăng giá và dập tôn
theo các cách thức mới, vốn dài hạn cũng tăng lên 1.550.436.000 đồng phần nhiều đầu tư vào máy móc hiện đại khiến chi phí vay là 405.337.392 đồng. Nhưng EAT sinh ra cũng
tăng vọt một cách đáng kể, với số tiền là 10.989.023 đồng.
Như vậy, cho dù tình hình sử dụng vốn vay của DN đã được cải thiện nhưng DN vẫn
cần phải phát huy tính linh động của các nguồn vốn đặc biệt là nguồn ngắn hạn để sử
dụng chúng sao cho đúng đắn, tránh tình trạng lợi nhuận thu về không đủ khả năng chi
trả tiền lãi. Bởi tuy khả năng sinh lời tiền vay tăng trong năm 2012 nhưng con số vẫn rất
nhỏ, nên DN cần sử dụng vốn vay của mình hiệu quả hơn nữa.
2.2.4.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn theo tính chất luân chuyển I, Hiệu quả sử dụng VCĐ
Để đánh giá tình hình sử dụng vốn theo tính chất luân chuyển, xét về VCĐ ta cần
xem xét 3 chỉ tiêu tiêu biểu đó là Vòng quay VCĐ, Tỷ suất sinh lời VCĐ, và Hệ số đảm
nhiệm VCĐ. Trước hết, để đánh giá khái quát hiệu quả sử dụng VCĐ, ta cần xem xét
vòng quay VCĐ.
Bảng 2.8: Vòng quay VCĐ tại công ty Ngọc Tuệ từ 2010-2012
(ĐVT: Vòng)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Doanh thu thuần 1.972 10.562 20.918 8.590 435.48 10.355 98.04
VCĐ 2.392 2.715 4.346 323 13.53 1.631 60.07
Vòng quay VCĐ 0.82 3.89 4.81 3.07 374.39 0.92 23.65
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN) Nhìn vào bảng ta thấy, Vòng quay VCĐ trong 3 năm có xu hướng tăng dần, lần lượt trong 3 năm 2010, 2011, 2012 là: 0,82; 3,89; 4,81. Cụ thể năm 2010, Vòng quay VCĐ là 0.82 tức là trong 1 đồng VCĐ bỏ ra thì chỉ thu về được 0.82 đồng doanh thu. Con số này có thể cho ta cái nhìn tổng quan trong năm 2010, DN sử dụng VCĐ chưa tốt do doanh thu thu về không hoàn lại bằng số VCĐ đã bỏ ra. Xét về VCĐ, trong năm 2010 DN chỉ sử dụng để chi cho nhà xưởng, phương tiện vận tải và tài sản cố định sơ sài của DN, chưa đầu tư nhiều về các tài sản có tính chất đột phá, hiện đại. Doanh thu thuần cũng chỉ ở mức 1.972.591.444 đồng do sản phẩm của DN vẫn chủ yếu là các công trình nhỏ đang thi công và buôn bán nguyên vật liệu xây dựng. Năm 2011, hệ số vòng quay VCĐ đã thay đổi một cách rõ rệt. Vòng quay tăng 374.39% so với 2010 với giá trị là 3.89. Nguyên nhân
50
vòng quay VCĐ tăng là do Doanh thu của năm này tăng rất cao với con số 10.562.824.782 đồng, vì sau khi phát huy và đẩy mạnh năng suất hoạt động của cả máy móc sẵn có cũng như nguồn nhân lực hiện hành, đồng thời với việc DN sử dụng nhiều hơn nguồn vốn lưu động để đầu tư cho các tài sản lưu động như tôn thô và sắt thép cơ khí, doanh thu thuần đã tăng 435.48% so với 2010. Đồng thời VCĐ của DN không thay đổi nhiều, chỉ tăng 323.597.783 đồng so với 2010 nhằm đầu tư thêm 1 phần nhỏ cho TSNH. Năm 2011, DN đã định hướng phát triển mạnh về mảng tôn lợp và sắt thép cơ khí chứ không đầu tư quá nhiều vào mảng xây dựng, sự thay đổi này làm cho sức sinh lời từ VCĐ tăng lên, đồng nghĩa với việc doanh thu của công ty cũng tăng lên. Năm 2012, vẫn tiếp tục với xu hướng kinh doanh chủ yếu là mặt hàng tôn lợp và sắt thép cơ khí, DN đã đầu tư thêm số tiền là 1.631.204.154 đồng tăng 60.07% so với 2011 để mua thiết bị máy móc hiện đại là máy dập hình và cắt tôn cho DN. Tính đến thời điểm này thì Ngọc Tuệ là công ty tiên phong trong việc sản xuất tôn lợp tại địa bàn Việt Trì nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung. Sự đầu tư này đã mang lại doanh thu là 20.918.216.570 đồng tăng 98.04% cho DN so với 2011. Sự gia tăng của VCĐ đã đem lại doanh thu cao dẫn đến chỉ số vòng quay VCĐ cũng tăng lên với giá trị là 4.81 tăng hơn 20% so với 2011. Tức là VCĐ quay được 4,81 vòng trong 1 chu kỳ kinh doanh. Trong thời điểm kinh tế khó khăn như hiện nay, việc DN sử dụng Vốn ngày càng có hiệu quả và được cải thiện là điều mà không phải DN nào cũng làm được.
Tỷ suất sinh lời VCĐ
Sau khi tính được vòng quay VCĐ, chỉ tiêu thứ 2 cần xem xét trong mục này là Tỷ
suất sinh lời của VCĐ. Nó sẽ giải thích cho ta thấy rõ hơn mức độ sử dụng VCĐ hiệu quả
hay không? Mức lợi nhuận được sinh ra từ VCĐ là bao nhiêu?
Bảng 2.9: Tỷ suất sinh lời VCĐ của Công ty Ngọc Tuệ từ năm 2010-2012
(ĐVT: %)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Lợi nhuận 1,33 1,68 10,98 0,35 26,49 9,3 551,62
VCĐ 2.392 2.715 4.346 323,59 13,53 1.631 60,07
Tỷ suất sinh lời VCĐ 0.05 0.06 0.25 0.01 20 0,19 317,84
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN)
Qua bảng ta thấy suất sinh lời trên VCĐ tăng dần qua từng năm , năm 2011, tỷ suất sinh lời trên VCĐ là 0.0006 tức là 1 đồng VCĐ chỉ sinh ra được 0.0006 đồng lợi nhuận sau thuế. So với năm 2010, con số này chỉ tăng rất nhẹ, hầu như là không. Vì lượng VCĐ
của năm 2011 tăng lên 323.597.783 đồng so với 2010 nhưng lợi nhuận thuần lại chỉ tăng
353.192 đồng dẫn đến sức tăng của suất sinh lời hầu như không thay đổi. Tuy doanh thu
51
của DN tăng rất cao nhưng thời điểm này DN đang thử nghiệm hướng kinh doanh chuyên
sâu vào lĩnh vực sản xuất tôn mái để lấy khách hàng khiến chi phí bán hàng và quản lý cũng phát sinh nhiều. Bên cạnh đó, giá vốn hàng bán khi nhập vào đã khá cao, trị giá
8.960.510.560 đồng mà doanh thu lại là 10.562.824.782 đồng, nên lợi nhuận của năm này
là không đáng kể. Từ đó, việc lợi nhuận thuần của DN không giảm cũng là yếu tố đáng
ghi nhận. Sang năm 2012, với nền móng là doanh thu năm 2011 tăng cao, DN mạnh dạn tăng lượng VCĐ lên 4.346.844.762 đồng để đầu tư thêm các thiết bị mới hiện đại trị giá
gần 2 tỷ, từ đây DN bắt đầu đi vào hoạt động chuyên nghiệp, sản xuất và trở thành nhà
cung cấp lớn cho các đại lý trong địa bàn tỉnh về mặt hàng sắt thép cơ khí đặc biệt là tấm
lợp kim loại, kinh doanh có lãi. Lợi nhuận thuần của năm này đã lên tới con số 10.989.023
đồng tăng 551.62% so với 2011. Đây là con số đáng ghi nhận cho thấy DN đang sử dụng
VCĐ dần dần có hiệu quả cao và kinh doanh đang đi đúng hướng.
Vậy trong 100 đồng doanh thu, DN đã sử dụng bao nhiêu đồng VCĐ? Việc sử dụng
nhiều VCĐ để tạo ra doanh thu là nên hay không nên? Ta cùng tìm hiểu chỉ tiêu hệ số
đảm nhiệm VCĐ của Ngọc Tuệ.
Bảng 2.10: Hệ số đảm nhiệm VCĐ của công ty Ngọc Tuệ từ 2010-2012
(ĐVT: Đồng)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12
Giá Tỷ Giá Tỷ
trị trọng trị trọng
VCĐ 2.392 2.715 4.346 323,59 13.53 1.631 60.07
Doanh thu thuần 1.972 10.562 20.918 8.590 435.48 10.355 98.04
Hệ số đảm nhiệm 1.21 0.26 0.21 (0.95) (78.51) (0.05) (19.23)
VCĐ
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN)
Nhìn vào chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm VCĐ ta thấy mức độ đảm nhiệm của VCĐ giảm dần qua các năm 2010, 2011, 2012 lần lượt là: 1,21, 0,26, 0,21. Như vậy, trong năm 2010, để có được 1 đồng doanh thu, DN phải bỏ ra 1,21 đồng VCĐ. VCĐ trong năm 2010 dùng để tài trợ cho cả TSCĐ, TSLĐ. Mà Công ty Ngọc Tuệ trong lúc đó mới chỉ là DN quy mô nhỏ, khi ấy ngoài việc dùng VCĐ để đầu tư nhà xưởng, Công ty còn bỏ ra một phần để thành lập trụ sở nhỏ dành cho công nhân và chứa NVL xây dựng gần các công trình nhằm phục vụ cho việc tiết kiệm chi phí vận chuyển, nhưng tiến độ thi công và số
lượng công trình lại quá ít. Do lượng VCĐ đầu tư là 2.392.042.825 đồng nhưng lại chỉ thu về được 1.972.591.444 đồng nên mức đảm nhiệm của VCĐ trong thời điểm này là cao và
chưa đạt được hiệu quả kinh tế khi sử dụng nó. Tuy nhiên, đến năm 2011, Hệ số này giảm xuống nhanh chóng chỉ còn 0.26 tức là trong 1 đồng doanh thu thuần thì chỉ cần bỏ ra
52
0.26 đồng VCĐ. Giống như khi đã phân tích ở vòng quay VCĐ, thời điểm này DN mới
phát triển ngành sản xuất tôn lợp nên bán rẻ và ít lợi nhuận để chủ yếu tăng doanh thu, chiếm thị phần. Doanh thu trong năm 2011 là 10.562.824.782 đồng, khi đó, lượng vốn cố
định không biến đổi nhiều, chỉ tăng 323.597.783 đồng mục đích chính là mua hàng dự trữ.
DN chú trọng đầu tư nhiều vào các loại tôn kim loại và sắt thép cơ khí nên nhu cầu VLĐ
mới biến động lớn. Năm 2012, Hệ số đảm nhiệm VCĐ giảm xuống 0.21 tương đương với giảm 19.23% so với 2011. Đây là biểu hiện tốt cho thấy hiện tại DN chỉ cần bỏ ra 0.21
đồng VCĐ là đã thu về được 1 đồng doanh thu thuần. Cùng với đó, ta thấy tuy VCĐ năm
2012 tăng 60.07% tương đương với tăng 1.631.204.154 đồng chủ yếu do nguồn đầu tư từ
chủ sở hữu và vay dài hạn, nhưng mức tăng của Doanh thu còn cao hơn là tăng
10.355.391.788 đồng so với 2011. Doanh thu thuần qua các năm tăng lên đáng kể, đem lại
tương lai sáng sủa cho DN. Nhờ việc đầu tư mua mới tài sản cố định hiện đại nhập khẩu
và đội ngũ công nhân viên vận hành máy cắt tôn chuyên nghiệp khiến cho VCĐ mà DN
đầu tư đã thực sự có hiệu quả.
Như vậy, chỉ cần qua 3 chỉ tiêu ta đã đánh giá được hiệu quả sử dụng VCĐ tại Công
ty TNHH Xây Dựng và Thương mại Ngọc Tuệ. Có thể thấy những nỗ lực rõ rệt của công
ty đưa DN mình đi đúng hướng và tồn tại được trong bối cảnh kinh tế khó khăn và khắc
nghiệt như hiện nay.
II, Hiệu quả sử dụng VLĐ
A, Các chỉ tiêu tổng hợp
(1) Khả năng thanh toán
Bảng 2.11: Khả năng thanh toán của công ty Ngọc Tuệ từ 2010-2012
(ĐVT: lần)
Chênh lệch Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2010 2011 2012 10 – 11 11 - 12
Khả năng thanh toán hiện hành 3.47 1.19 1.4 (2.28) 0.21
Khả năng thanh toán nhanh 2.61 0.43 0.42 (2.18) (0.01)
Khả năng thanh toán bằng tiền 0.06 0.03 0.09 (0.03) 0.6
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN)
Khả năng thanh toán hiện hành: Chỉ tiêu này phản ánh việc công ty có thể đáp
ứng nghĩa vụ trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn hay không. Nhìn chung tại công ty Ngọc Tuệ, chỉ số này giảm qua 2 năm và tăng nhẹ trở lại vào năm 2012, cụ
53
thể, khả năng thanh toán hiện hành năm 2010 là 3,47 nghĩa là 1 đồng nợ của công ty
được đảm bảo bởi 3.47 đồng TSLĐ. Công ty vay ngắn hạn với số tiền trị giá 700 triệu đồng, nhưng tài sản lưu động của công ty lại lớn hơn nhiều, TSLĐ của DN năm 2010 trị
giá 2.672.911.763 đồng trong đó phần lớn là các khoản phải thu ngắn hạn trị giá
1.872.981.155 đồng và hàng tồn kho trị giá 663.636.187 đồng. Hệ số này tuy có lớn,
chứng tỏ khả năng thanh toán ngay của DN cao, nhưng nó cũng cho ta thấy các khoản bị chiếm dụng như các khoản phải thu khác còn nhiều, trị giá 1.400 triệu, lượng hàng tồn
kho cũng lớn mặc dù lúc này DN chưa kinh doanh rộng và nhu cầu thị trường không
nhiều. Sang đến năm 2011 giảm 2.28 lần còn 1.19 tức là khi cần thanh toán nợ ngắn
hạn, DN có thể đảm bảo khoản vay bằng 1,19 đơn vị tài sản lưu động của mình. Tuy hệ
số giảm nhưng vẫn đảm bảo khả năng thanh toán. Trong năm này, khoản nợ ngắn hạn
tăng mạnh do DN bắt đầu nhập thêm rất nhiều tôn lợp cũng như sắt thép cơ khí để bán
buôn cho các đại lý trong khu vực. Tùy thuộc vào từng thời điểm biến động giá cả mà
DN tích trữ hàng nhưng nhìn chung, trong năm 2011, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng
tại DN tăng khiến cho lượng TSLĐ tại Ngọc Tuệ cũng tăng đến 3.644.357.611 đồng
chiếm 57,3% trong cơ cấu tài sản của DN. Điều này đồng nghĩa với các khoản nợ ngắn
hạn cũng phải tăng để phục vụ yêu cầu ngắn hạn của DN với tổng số tiền vay trong năm
2011 là 2.580 triệu đồng tăng 268,57% so với 2010. Do TSLĐ được tài trợ một phần
nhỏ bằng nguồn vốn dài hạn nên mức tăng của TSLĐ vẫn lớn hơn mức tăng của Nợ ngắn hạn. Năm 2012, Khả năng thanh toán tức thời của DN tăng nhẹ trở lại lên 1,4 lần
vào năm 2012. DN vẫn tiếp tục huy động nguồn vốn vay ngắn hạn để tài trợ cho các loại
sắt thép cơ khí, tấm lợp kim loại với trị giá TS là 7.754.950.785 đồng, tăng 112,8% so
với nhu cầu của năm 2011. Đồng thời nợ ngắn hạn của DN tiếp tục tăng 2.480.372.305
đồng tương đương tăng 80,97% so với 2011. Tuy cả 2 chỉ số đều tăng nhưng mức tăng
của nợ ngắn hạn ít hơn so với mức tăng của TSLĐ nên DN vẫn đảm bảo 1 đồng nợ ngắn
hạn được trả bằng 1,4 đồng vào năm 2012. Chỉ số này lớn hơn 1 thì công ty đảm bảo
được khả năng thanh toán ngắn hạn của mình cho nên khả năng thanh toán hiện hành
của DN tuy lúc tăng lúc giảm nhưng vẫn luôn đảm bảo các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn khi cần.
Khả năng thanh toán nhanh: Chỉ tiêu này thể hiện khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản để chi trả các khoản nợ ngắn hạn của TSLĐ khi nó đến hạn. Chỉ tiêu này của công ty qua 3 năm cũng có sự thay đổi theo hướng giảm dần, lần lượt qua 3 năm 2010, 2011 và 2012 là 2.61; 0,43 và 0.42 lần. Năm 2010, chỉ số này rất cao nghĩa là
khi DN chưa hết hàng tồn kho, DN có thể chuyển đổi TS ngắn hạn của mình thành tiền để đảm bảo các khoản chi trả ngắn hạn, 1 đồng nợ được đảm bảo bằng 2.61 đồng TS ngắn hạn. Giá trị của các TSNH không tính đến hàng tồn kho trong năm 2010 là
2.009.275.576 đồng, trong khi khoản nợ và vay ngắn hạn chỉ là 700 triệu. Thời kỳ này
54
quy mô DN còn nhỏ nên lượng Vốn chủ sở hữu hay vốn dài hạn nhiều, đầu tư cho cả
TSDH và TSNH của DN nên không cần phải vay nhiều. Sang năm 2011, chênh lệch này giảm còn 0,43 lần, tức là số tài sản có thể chuyển đổi ngay lập tức là
1.330.896.723 đồng nhưng số tiền vay nợ ngắn hạn đã lên đến mức 3.063.357.225
đồng. TSNH lúc này của DN chủ yếu là các khoản bị khách hàng chiếm dụng trong
ngắn hạn và các khoản phải thu khác với tổng trị giá 1.113.407.275 đồng. Các khoản phải thu hầu hết là khoản tạm ứng cho nhân viên và cho vay trong ngắn hạn không tính
lãi. Năm 2012, khả năng thanh toán nhanh lại giảm tiếp còn 0.42 lần, giảm 0,01 lần so
với khả năng của năm 2011. Mặc dù các tài sản có tính thanh khoản cao trong DN có
tổng giá trị là 2.312.069.334 đồng nhưng khoản nợ ngắn hạn mà DN huy động lên tới
4.298.537.655 đồng, sự tăng mạnh này khiến cho khả năng thanh toán nhanh của DN
không chỉ bị thấp mà còn sụt giảm đi so với năm trước. Năm 2012, chủ yếu khoản nợ
ngắn hạn được huy động với mục đích phục vụ hàng tồn kho. Nhưng do bị đánh giá là
có tính thanh khoản thấp nên hàng tồn kho bị loại ra khỏi chỉ tiêu này. Bên cạnh đó,
các nguồn phải thu khác đang bị chiếm dụng tăng lên 66,67% so với 2011 với giá trị
tại năm 2012 là 1.000 triệu và vẫn là tạm ứng cho nhân viên và cho vay “nóng” không
lãi. Qua chỉ tiêu này, ta thấy khả năng đảm bảo thanh toán bằng những tài sản có giá
trị thanh khoản cao của DN, Công ty dự trữ hàng tồn kho cao trong cơ cấu TSLĐ
khiến khả năng thanh toán nhanh thấp. Và ngoài năm 2010, ở cả 2 năm còn lại, chỉ tiêu này đều nhỏ hơn 0,5 nghĩa là khả năng thanh toán của công ty đang ở mức kém an
toàn. Tuy nhiên cũng phải nhận thấy, chỉ số này của ngành cũng không phải cao, đó là
tình trạng chung của giai đoạn này. Chỉ tiêu này cho ta cái nhìn rõ hơn về khả năng trả
nợ ngay của DN.
Khả năng thanh toán bằng tiền: Nội dung của chỉ tiêu này thể hiện sự chủ động
trong việc thanh toán ngay tại một thời điểm bất kỳ nào đó mà chỉ phụ thuộc vào
lượng tiền mặt đang có của DN. Chỉ số này của công ty Ngọc Tuệ ở năm 2010 là 0.06,
sang năm 2011 thì chỉ tiêu này giảm xuống còn 0,03 và tăng mạnh lên 0,09 lần vào
năm 2012.Nguyên nhân là do năm 2011, tiền mặt của DN chỉ tăng 81.568.334 đồng tương đương tăng 1,28% so với 2010. Nhưng khoản nợ ngắn hạn dùng để mua các NVL và đầu tư cho TSLĐ nhiều lên tới 3.063.357.225 đồng khiến cho khả năng thanh toán bằng tiền ở thời điểm này chỉ đạt 0,03 lần. Tức là 1 đồng nợ ngắn hạn thì được DN đảm bảo bằng 0,03 đồng tiền mặt. Năm 2012, lượng tiền mặt tăng đáng kể so với năm 2011, đây là lý do dẫn đến hệ số thanh toán tức thời gia tăng.Mức độ gia tăng này
có được không thể không nhắc tới sự tài trợ từ chủ sở hữu với giá trị tài trợ tăng 67,11% tương đương mức tăng đó là khoản đầu tư trị giá 2.010.989.023 đồng so với 2011. Tuy nợ ngắn hạn tăng cao lên tới 5.543.729.530 đồng nhưng lượng tiền mặt do
khách hàng thanh toán ngay cũng tăng lên đến 490.272.616 đồng nên chỉ tiêu khả năng
55
thanh toán tức thời của DN cũng được cải thiện lên 0.09 lần. Đến đây ta thấy, Công ty
cần phải tính toán lượng dự trữ tiền mặt sao cho hợp lý, để phục vụ các nhu cầu thanh khoản và đầu tư. Tóm lại, khả năng thanh toán ngắn hạn của Công ty đang ở mức ổn
định, tuy nhiên khả năng thanh toán nhanh có xu hướng giảm cho thấy khả năng thanh
toán của Công ty kém an toàn hơn các DN cùng ngành. Do vậy, để cải thiện được vấn
đề này, công ty cần cân đối giảm lượng hàng tồn kho ở mức thích hợp và bổ sung thêm các công cụ đầu tư tài chính ngắn hạn.
(2) Để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ, ta cần xem xét các chỉ tiêu như:
Vòng quay VLĐ, Tỷ suất sinh lời trên VLĐ và Mức tiết kiệm VLĐ.
Bảng 2.12: Hiệu quả sử dụng VLĐ của công ty Ngọc Tuệ năm 2010-2012
Chênh lệch
Chỉ tiêu ĐVT 2010 - 2011 - Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011 2012
Doanh thu thuần Triệu Đồng 1.972 10.562 20.918 8.590 10.355
Lợi nhuận sau thuế Triệu Đồng 1,33 1,68 10,98 0,35 9,3
VLĐ Triệu Đồng 2.672 3.644 7.754 971,4 4.110
Vòng quay VLĐ Vòng 0.74 2.9 5.74 2.16 2.84
Tỷ suất sinh lời VLĐ % 0.05 0.046 0.14 (0.004) 0.094
(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa vào BCTC DN)
Vòng quay VLĐ có xu hướng tăng qua cả 3 năm 2010 và 2011, 2012 với con số
lần lượt là 0.74, 2.9 và 5.74. Chỉ số này năm nghĩa là năm 2010, 1 đồng VLĐ tạo ra
được 0.74 đồng doanh thu thuần. Cụ thể là doanh thu thuần trong năm chỉ đạt mức
1.972.591.444 đồng nhưng VLĐ là 2.672.911.763 đồng khiến cho tỷ trọng doanh thu
trên VLĐ nhỏ. Do năm 2010, DN huy động VLĐ để tài trợ một phần cho TSLĐ, phần
còn lại của TSLĐ là nhờ NVDH. VLĐ thời điểm này được dùng để mua các nguyên
vật liệu xây dựng nhằm phục vụ công trình, sắt thép cơ khí chỉ chiếm số lượng nhỏ.
Năm 2011, khi bỏ 1 đồng VLĐ thì DN tạo ra được 2.9 đồng doanh thu. Nhu cầu về
TSLĐ trong năm 2011 tăng mạnh do DN đẩy mạnh xu hướng kinh doanh sắt thép cơ
khí và tôn lợp mái. Bước đầu của chiến lược DN đưa ra là không cần lợi nhuận, chủ
yếu mở rộng thị trường, tên tuổi và khẳng định vị trí của DN, tạo tiền đề phát triển
chuyên nghiệp cho năm 2012. Điều này làm cho VLĐ của DN tăng lên 3.644.357.611
đồng, doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh cũng tăng lên 10.562.824.782 đồng.
Vòng quay VLĐ từ đó cũng đạt 2,9 vòng trong 1 kỳ kinh doanh.Năm 2012, Vòng
56
quay VLĐ là 5.74. Với lượng doanh thu thuần tiếp tục tăng mạnh lên đến
20.918.216.570 đồng, kéo theo nhu cầu VLĐ cũng tăng mạnh, tăng 4.110.593.174
đồng so với năm 2011. Có thể thấy rằng hiệu suất sử dụng VLĐ của Công ty càng
ngày càng tăng và có hiệu quả so với các DN cùng ngành. Nguyên nhân là do ảnh
hưởng bởi doanh thu trong giai đoạn 2011 và 2012 này tăng mạnh, đặc biệt vào năm
2012 doanh thu tăng gần gấp đôi so với năm 2011. Tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn
tốc độ tăng của VLĐ nên hệ số hiệu suất sử dụng VLĐ năm 2012 tăng lên là 5,74
vòng. Như vậy, công ty Ngọc Tuệ cần duy trì và phát huy tốc độ quay của VLĐ để có
được những kết quả khả quan hơn nữa.
Khả năng sinh lời VLĐ biểu hiện khả năng tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận
trong 100 đồng VLĐ, chỉ số này của Công ty khá thấp ở cả 3 năm và biến động thất
thường.Năm 2011 giảm 0,004% so với năm 2010 và đạt mức 0,05%. Khi DN bỏ ra
100 đồng VLĐ thì DN thu lại được 0,05 đồng lợi nhuận sau thuế. Con số này trên thực
tế là quá nhỏ nhưng đồng thuận theo phương châm của DN, năm 2011 chỉ bán hàng để
lấy doanh số, khẳng định vị trí chứ chưa cần lợi nhuận. Nên trong năm 2011, DN chỉ
thu về được 1.686.406 đồng lợi nhuận trên số VLĐ đầu tư là 3.644.357.611 đồng. Khả
năng sinh lời của năm nay giảm đi so với khả năng sinh lời của 2010 là do DN vẫn có
lợi nhuận nhưng nhu cầu VLĐ năm nay tăng mạnh hơn mức tăng của EAT rất nhiều
nên không những tỷ số này nhỏ, mà còn bị giảm. Năm 2012 con số này tăng nhẹ lên
0.14% tức là 100 đồng VLĐ đã đem về được 0.14 đồng doanh thu, hiệu quả tuy kém
nhưng cũng được cải thiện. Trong thực tế, do nguồn vốn cố định tăng để đầu tư chuyên
nghiệp cho các máy móc hiện đại, đóng góp không nhỏ vào việc tăng doanh thu, năm
vừa qua DN đã bỏ ra 7.754.950.785 đồng VLĐ, chủ yếu là để tài trợ nguồn TSLĐ là
các tấm tôn thô và sắt thép cơ khí nhưng nó cũng đã góp phần làm tăng EAT của DN
lên 10.989.023 đồng. DN đi vào làm ăn có lãi chứ không chỉ tập trung vào việc chiếm
lĩnh thị trường như trước nữa.
Qua 2 chỉ tiêu này, ta thấy hiệu quả sử dụng VLĐ của Ngọc Tuệ trong 3 năm gần đây là tương đối khá do bị ảnh hưởng chung từ nền kinh tế nhưng công ty đã có hướng đi và hướng sử dụng VLĐ 1 cách tối ưu. Công ty cần cố gắng hơn trong việc quản lý VLĐ trong những năm tới để hoạt động SXKD đạt hiệu quả cao hơn.
Mức tiết kiệm VLĐ: Để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ, ta còn có thể xác định bằng mức tiết kiệm VLĐ khi tăng tốc độ luân chuyển VLĐ, đánh giá qua 2 chỉ tiêu: mức tiết kiệm tuyệt đối và mức tiết kiệm tương đối.
+ Mức tiết kiệm VLĐ tuyệt đối năm 2011 1972591444 1972591444 - = -1.985.460.167 2,.9 0,74
57
+ Mức tiết kiệm VLĐ tuyệt đối năm 2012
10562824782 10562824782 - = -1.802.139.996 5,74 2,9
Năm 2011, công ty tiết kiệm được số vốn là 1.985.460.167 đồng nghĩa là đây là
lượng vốn thặng dư, mà công ty có thể rút ra để tiết kiệm do tăng vòng quay vốn mà
vẫn sản xuất theo quy mô cũ Năm 2012 do hiệu suất sử dụng VLĐ vẫn được duy trì
tốt nên công ty tiếp tục tiết kiệm được 1.802.139.996 đồng có nghĩa để đạt được mức doanh thu thuần bằng năm 2011 Công ty cần bỏ ra một lượng VLĐ ít hơn so với năm
2011 là 1.802.139.996 đồng.
+ Mức tiết kiệm VLĐ tương đối năm 2011
10562824782 10562824782 = - 10.631.734.170 - 2,9 0,74
+ Mức tiết kiệm VLĐ tương đối năm 2012
20918216570 20918216570 = -3.568.889.527 - 5,74 2,9
Ta thấy, năm 2011 Công ty đã tiết kiệm được một khoản là 10.631.734.170 đồng
có nghĩa trong năm 2011 Công ty không cần phải bỏ thêm 10.631.734.170 đồng VLĐ
lẽ ra phải bỏ để mở rộng doanh thu. Quy mô sản xuất kinh doanh vẫn tăng do tăng
vòng quay VLĐ, số vòng quay của VLĐ của năm 2011 là 2,9 tăng 2,16 vòng so với
năm 2010.Đến năm 2012, DN tiếp tục tiết kiệm được VLĐ với con số 3.568.889.527
đồng, do số vòng quay VLĐ tăng lên 5,74 vòng, làm cho mức chênh lệch giữa vòng
quay VLĐ của 2012 và 2011 tăng lên thành 2,84 vòng. Số vòng luân chuyển vốn trong
năm 2012 cao hơn hẳn số vòng quay của năm 2011, đồng thời giá trị của các vòng
quay vốn lớn mà mức tăng của doanh thu lại tăng nhẹ hơn dẫn đến mức tiết kiệm VLĐ
còn là 3.568.889.527 đồng.
Tóm lại, qua phân tích cơ cấu các bộ phận của VLĐ và một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng của từng bộ phận ta thấy Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ đã làm tốt trong việc quản lý VLĐ, làm vòng quay vốn tăng nhanh khiến vốn hoạt động linh hoạt, giảm chi phí sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn hơn.Tuy nhiên xét về tổng thể có thể thấy khả năng sinh lời của vốn lưu động thấp, thể hiện hiệu quả về sử dụng vốn lưu động không hiệu quả.
58
B, Các chỉ tiêu thành phần
Quản lý hàng tồn kho
Biểu đồ 2.1: Chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho của Công ty Ngọc Tuệ
(Nguồn: Tính toán từ báo cáo tài chính công ty)
Hệ số lưu kho vào năm 2010 là 2,26 tương ứng với thời gian quay vòng hàng tồn
kho 156,49 ngày. Năm 2010, Giá vốn hàng bán có trị giá là 1.497.989.838 đồng cao
hơn hàng tồn kho nhiều, khi đó hàng tồn kho chỉ đạt giá trị là 663.636.187 đồng.
Trong năm 2010, nhu cầu về hàng hóa không nhiều, việc kinh doanh của DN cũng
chậm, hợp đồng ký kết với các đại lý ít nên DN không dự trữ nhiều hàng tồn kho. Tuy
nhiên, với tình hình đó của Công ty trong năm 2010 mà số vòng quay hàng tồn kho đạt
2,26 vòng cũng ở mức chấp nhận được. Sang năm 2011 con số này tăng thêm 1,62 lên
thành 3,87 vòng tương ứng với thời gian quay vòng hàng tồn kho giảm xuống còn
92,95 ngày. Khi DN mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, mục đích chính không
phải lợi nhuận mà là uy tín và chiếm thị phần với các nhà cung cấp cũng như khách
hàng. Theo đó, GVHB công ty nhập vào là 8.960.510.560 đồng con số này đã tăng hơn
so với năm 2010 rất nhiều. Trị giá hàng tồn kho cũng tăng hơn 1.649.824.701 đồng so
với 2010 làm cho hệ số hàng lưu kho theo đó tăng lên 3,87 vòng trên một năm. Khi DN ký được một hợp đồng cung ứng hàng hóa lớn thì đương nhiên phải dự trữ hàng trong kho để thực hiện hợp đồng, đảm bảo an toàn trong việc cung ứng sản phẩm. Đến năm 2012 thì chỉ tiêu này giảm xuống 3,66 tương ứng với thời gian quay vòng hàng tồn kho tăng 6 ngày so với năm 2011, nghĩa là tốc độ bán hàng tồn kho năm 2012 chậm hơn so với năm 2011. Nguyên nhân là do giá vốn hàng bán của công ty năm 2011 tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng của giá trị lưu kho bình quân nên chỉ số này
còn 3,66 vòng. Đặc điểm của sản phẩm của DN cũng có nét đặc trưng, do nhu cầu tấm
lợp kim loại tăng lên, sắt thép cơ khí cũng phân phối được nhiều cho các đại lý nhỏ. Năm 2012 giá vốn hàng bán của công ty tăng đến 19.931.360.608 đồng nhưng hàng
59
tồn kho còn tăng cao hơn với giá trị là 5.442.881.451 đồng làm cho DN bị giảm nhẹ về
hệ số lưu kho. Một phần do DN đón đầu tình trạng khan hiếm hay tăng giá của sản phẩm, hàng hoá mà mình đang nắm quyền chi phối để "găm hàng" và sẽ tung ra sản
phẩm ở thời điểm cần thiết. Khi đó, hàng tồn kho trở thành khoản lợi nhuận đang chờ
ngày thanh toán của DN. Hệ số này lớn vừa phải cho thấy tốc độ quay vòng của hàng
hóa trong kho là nhanh, cách làm của DN đang đúng hướng.
Quản lý phải thu khách hàng
Bảng 2.13: Vòng quay phải thu và thời gian thu nợ của Ngọc Tuệ 2010-2012
Chênh lệch Năm Năm Năm Chỉ tiêu ĐVT 2010 2011 2012 10 - 11 11 – 12
Vòng 1,05 9,49 12,6 8,43 3,11 Vòng quay các khoản phải thu
Thời gian thu nợ TB Ngày 362,86 37,93 28,57 (324,93) (9,36)
(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa vào BCTC DN)
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải phải
thu thành tiền mặt. Hệ số này có xu hướng tăng dần trong 3 năm vừa qua, cụ thể năm 2010, vòng quay các khoản phải thu chỉ là 1,05 vòng, sang đến năm 2011 chỉ tiêu này
tăng lên 9,49 vòng. Con số này cho thấy công ty đã giảm các khoản bán chịu nhiều
hơn khiến cho các khoản phải thu cũng giảm đi. Khoản phải thu năm 2011 là
1.113.407.275 đồng, tương đương với mức giảm 759.573.880 đồng so với 2010 của
DN. DN thời kỳ này đang muốn chiếm thị phần của các khách hàng, ngoài việc không
cần lợi nhuận, chỉ cần tăng doanh thu, DN vẫn cho các đại lý nợ để làm ăn lâu dài.
Năm 2012, con số tiếp tục tăng lên là 12,6 vòng. Như vậy khả năng quản lý và sử
dụng các khoản phải thu tại công ty Ngọc Tuệ khá hiệu quả. Do doanh thu thuần của
năm nay tăng khá cao, tình hình kinh doanh thuận lợi với giá trị là 20.918.216.570
đồng, mà các khoản phải thu chỉ tăng 546.837.911 đồng nên vòng quay các khoản phải
thu tăng thêm 3,11 vòng. Với thời gian quay vòng như vậy, công ty sẽ tận dụng được tối đa giá trị của các khoản phải thu vào hoạt động SXKD của mình, thêm vào đó sẽ làm giảm chi phí quản lý các khoản mục này do chúng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng NV của công ty.
Thời gian thu nợ trung bình (kỳ thu tiền bình quân) là chỉ tiêu đo lường hiệu quả và chất lượng các khoản phải thu của DN, khi hệ số thu tiền thấp thì kỳ thu tiền bình quân càng cao và ngược lại. Tại công ty Ngọc Tuệ chỉ số này giảm dần qua 3 năm , có nghĩa là công ty phải ngày càng ít thời gian để thu hồi các khoản vốn bị chiếm dụng. Nhìn vào bảng ta có thể thấy, năm 2010 thời gian thu nợ trung bình là 362,86 ngày. Tức là khách hàng nợ tiền của DN thì chiếm dụng vốn của công ty trong
60
1 năm. Do vòng quay các khoản phải thu khách hàng chỉ là 1,05 vòng, tức là vòng
quay quá nhỏ, khiến số ngày đòi được nợ lớn. Con số này cũng thể hiện một phần do năm 2010, DN chỉ kinh doanh nhỏ lẻ, tập trung vào các công trình nhỏ và thi công
chậm do ít vốn. Năm 2011, thời gian thu nợ giảm đi hẳn 324,93 ngày so với năm
2010, chỉ còn 37,93 ngày. Trong vòng 1 năm, DN thu nợ 9,49 lần thì dẫn đến thời gian
1 lần thu nợ là 37,93 ngày. Doanh thu tăng mạnh lên 10.562.824.782 đồng mà các khoản phải thu giảm còn 1.113.407.275 đồng chứng tỏ chính sách thu hồi công nợ của
DN đã đi vào ổn định và chuyên nghiệp hơn nhiều so với 2010. Sang tới năm 2012 thì
con số này tiếp tục giảm hơn 9 ngày, còn 28,57 ngày. Tức là tháng nào DN cũng thu
hồi được nợ để bổ sung vào VLĐ. Đáp ứng kịp thời các nhu cầu ngày càng tăng của
mặt hàng tấm lợp kim loại, phục vụ cho khách hàng đại lý cũng như khách lẻ. Đây là
mức giảm rất lớn, thể hiện sự linh hoạt và chủ động trong việc thu hồi nợ của công ty.
Với thời gian thu nợ TB nhỏ hơn rất nhiều, có thể thấy hoạt động thu hồi vốn của công
ty có nhiều thuận lợi và cơ hội.
2.2.4.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn theo thời gian sử dụng vốn
I, Hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn
Để phân tích hiệu quả sử dụng vốn theo thời gian, trước hết ta xem xét các chỉ
tiêu về nguồn vốn ngắn hạn. Mục này gồm 2 chỉ tiêu chính là Vốn lưu động ròng và
vốn quay ngắn hạn.Để thấy rõ hơn về chính sách quản lý vốn đặc biệt là vốn lưu động, chúng ta cùng tìm hiểu sâu thêm chỉ tiêu VLĐ ròng hay còn gọi là Vốn lưu động
thường xuyên.
VLĐ ròng là khoản vốn mà công ty đang thực nắm giữ giúp công ty chủ động
trong các công việc kinh doanh phát sinh trong kỳ đã trừ đi các khoản trả nợ ngắn hạn.
Chỉ số này giúp đo lường năng lực tài chính trong ngắn hạn và hiệu quả hoạt động của
công ty.
Bảng 2.14: Vốn lưu động ròng của công ty Ngọc Tuệ 2010-2012
(ĐVT:Triệu đồng)
Chênh lệch Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 10 – 11 11 - 12
VLĐ ròng 1.902 581 2.211 (1.321) 1.630 TSNH – Nợ ngắn hạn
(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa vào BCTC DN)
VLĐ thường xuyên của công ty tại năm 2010, giá trị này ở mức 1.902.911.763 đồng thì sang đến năm 2011 đã giảm đi 1.321.911.377 đồng chỉ còn 581.000.386
đồng. Từ năm 2010 đến 2011 do công ty tăng vay các khoản ngắn hạn với số tiền
61
3.063.357.225 đồng, đồng thời TSNH tăng 36,34% tương đương 3.644.357.611 đồng,
làm cho khoản nợ ngắn hạn tiến gần hơn với TSNH, chứng tỏ hầu hết tài sản ngắn hạn của DN được tài trợ bằng Nợ ngắn hạn trong năm 2011 khiến chỉ tiêu VLĐ ròng bị
giảm như trên. Đến 2012, VLĐ ròng lại tăng trở lại với con số lớn là 2.211.221.255
đồng, do chính sách thận trọng của DN, dùng nguồn ngắn hạn để tài trợ cho các
TSNH, phần còn lại của TSNH là được nguồn dài hạn tài trợ làm cho TS ngắn hạn của DN lớn hơn tổng các khoản nợ. Tổng nợ ngắn hạn trong năm 2012 là 5.543.729.530
đồng, đồng thời TSNH được đầu tư rất nhiều từ chủ sở hữu nhằm đáp ứng nhu cầu về
tài sản lưu động như tôn lợp mái các chủng loại với giá trị đầu tư là 7.754.950.785
đồng. Tất nhiên khả năng thanh toán của công ty vẫn ở mức an toàn do các khoản nợ
ngắn hạn đều được đảm bảo bằng các TSNH và VLĐ thường xuyên không bị giá trị
âm.
Vòng quay vốn ngắn hạn
Bảng 2.15: Vòng quay Vốn ngắn hạn của Ngọc Tuệ năm 2010-2012
(ĐVT: Vòng)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12
Giá trị Tỷ Giá trị Tỷ
trọng trọng
Vòng quay 2,56 3.45 3.77 0.89 0.32 9.28 34.77
vốn NH
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN)
Qua bảng ta thấy, Vòng quay vốn ngắn hạn tăng dần qua từng năm.: Năm 2010,
chỉ số này chỉ là 2,56 tức là 1 đồng vốn ngắn hạn tạo ra được 2,56 đồng doanh thu
thuần. NVNH trong năm 2010 chủ yếu là từ khoản vay ngân hàng trị giá 700 triệu và
khoản chiếm dụng vốn của nhà cung cấp trị giá 70 triệu. Năm nay DN chưa có nhu cầu
tài trợ nhiều cho TSNH do thị trường còn hẹp nên nguồn ngắn hạn nhỏ, dẫn đến doanh
thu thời kỳ này chỉ tương đối với giá trị là 1.972.591.444 đồng. Như vậy, doanh thu 1 năm của Ngọc Tuệ quay vòng được 2,56 lần nguồn vốn ngắn hạn cho thấy việc sử dụng vốn ngắn hạn của DN tuy ít nhưng đã khá hiệu quả. Năm 2011, Doanh thu tăng mạnh với mức tăng là 435.48% tương đương 8.590.233.338 đồng thời nguồn vốn ngắn
hạn cũng được huy động tăng 36.34% lên đến giá trị là 3.644.357.611 đồng. Cho dù NV ngắn hạn tăng nhưng mức tăng vẫn thấp hơn của doanh thu, nên vòng quay vốn tăng theo là 3.45 tức là 1 đồng vốn thì tạo ra được 3,45 đồng doanh thu. Thời kỳ này DN đang tăng cường bán các mặt hàng mới như tôn lợp và sắt thép cơ khí để mở rộng
thị phần và chiếm lĩnh thị trường nên doanh thu tăng rất cao và nhu cầu NVNH cũng
cần cao để tài trợ cho các nhu cầu hàng hóa liên tục của DN. Đây là nỗ lực đáng ghi
62
nhận cho thấy việc sử dụng vốn ngắn hạn của DN càng ngày càng đạt được hiệu quả.
Năm 2012, số vòng quay ngắn hạn tăng nhẹ lên 3,77 nguyên nhân là mức tăng của Nguồn ngắn hạn rất cao, tăng 80,97% tương đương tăng 2.480.372.305 đồng so với
2011 trong khi doanh thu đạt được tăng cao hơn với tỷ trọng tăng là 98,04% tương
đương 10.355.391.788 đồng làm cho vòng quay vốn lại tăng. Cho thấy 1 đồng vốn
ngắn hạn bỏ ra vẫn thu được 3,77 đồng doanh thu. Hay trong 1 năm, DN có thể đảm bảo các nguồn vốn ngắn hạn của mình bằng 3,77 lần từ TSNH của DN. Qua đây, ta
thấy được thành tích kinh doanh của DN vẫn đang ở mức tốt. DN cần duy trì và phát
huy phong độ này.
Tỷ suất sinh lời trên vốn ngắn hạn
Chỉ số này cho thấy 1 mức độ sinh lời của nguồn vốn ngắn hạn. Ta có bảng sau:
Bảng 2.16: Tỷ suất sinh lời Vốn ngắn hạn của Ngọc Tuệ năm 2010-2012
(ĐVT: %)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Tỷ suất sinh 0.00173 0.00055 0.00198 (0.00118) (68.21) 0.00143 260.07
lời NVNH
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN)
Nhìn vào bảng ta thấy tỷ suất sinh lời trên vốn ngắn hạn có biến động bất thường.
Cụ thể vào năm 2010, tỷ số này là 0,00173. Lợi nhuận của Ngọc Tuệ trong năm nay là
rất nhỏ do mặt hàng kinh doanh không phong phú, mà nợ ngắn hạn so với lợi nhuận lại
lớn hơn rất nhiều. Trong khi lợi nhuận chỉ là 1,333 triệu thì NVNH mà DN vay và
chiếm dụng của người bán là 770 triệu, khiến cho 100 đồng vốn ngắn hạn chỉ tạo ra
được 0,00173 đồng lợi nhuận. Năm 2011, tỷ suất sinh lời vốn ngắn hạn giảm 68,21%
so với năm 2010 và đạt mức 0,00055% tức là năm 2011 do sức tăng của lợi nhuận
thấp, chỉ tăng 353.192 đồng trong khi vốn ngắn hạn tăng 2.293.357.225 đồng điều này làm cho suất sinh lời vốn đã thấp từ năm trước đến nay càng giảm. Nhưng DN cũng đã xác định chiến lược kinh doanh của mình là huy động hết sức vào TSNH là sắt thép cơ khí và tôn lợp mái, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tập trung sửa chữa nhà máy, nhà xưởng để kinh doanh chuyên nghiệp và đa dạng hơn vào năm 2012. Không lợi nhuận
là slogan của DN trong năm 2011. Năm 2012, chỉ số này tuy đã được cải thiện nhưng DN cũng không thể chủ quan. Trong 100 đồng vốn bỏ ra, DN chỉ thu về được 0,198 đồng là lợi nhuận. Tuy lợi nhuận tăng cao đột biến lên tới 10.989.023 đồng nhưng so với lượng vốn ngắn hạn bỏ ra để mua các tài sản ngắn hạn phục vụ nhu cầu liên tục
như tôn thô, để cắt thành tấm và dập hình ngói cho tôn thì chưa thể giúp chỉ số này
63
tăng nhiều. Điều này chứng tỏ DN đang sử dụng vốn ngắn hạn chưa hiệu quả, cần điều
chỉnh chiến lược sao cho phù hợp, tránh tình trạng tỷ suất sinh lời bị âm.
II, Hiệu quả sử dụng vốn dài hạn.
Bên cạnh nguồn vốn ngắn hạn, một yếu tố không thể thiếu của các DN là vốn dài
hạn. Để nhìn nhận một cách toàn diện hiệu quả sử dụng vốn dài hạn ta cần xét ít nhất 2
chỉ tiêu sau đây:
Vòng quay vốn dài hạn
Bảng 2.17: Vòng quay Vốn dài hạn của Ngọc Tuệ năm 2010-2012
(ĐVT: Vòng)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Vòng quay vốn DH 1,52 35,21 13,49 2220.41 36,39 21,72 (0,62)
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN)
Vòng quay vốn dài hạn cho ta thấy trong thời gian trên 1 năm, vốn dài hạn quay
được bao nhiêu vòng để tạo ra doanh thu. Năm 2010, Hệ số này là 1,52 chứng tỏ khi
bỏ ra 1 đồng vốn thì DN thu về được 1,52 đồng doanh thu thuần. Do trong năm 2010,
DN chỉ đầu tư chủ yếu vào nhà xưởng và các phương tiện vận tải chuyên nghiệp phục
vụ các công trình xây dựng là những sản phẩm cần đầu tư lớn mà quay vòng vốn
không nhanh, lợi nhuận thấp nên vốn dài hạn chỉ tạo ra được 1,52 đồng doanh thu
thuần. Đến 2011, do DN trả ngân hàng khoản vay trị giá 1.000 triệu đồng làm lượng
vốn dài hạn giảm đáng kể chỉ còn 300 triệu đồng, DN điều chỉnh kịp thời các mặt hàng
kinh doanh, mở rộng thị trường và huy động thêm các khoản vay ngắn hạn, phụ thuộc
chủ yếu vào chúng nên DN đã có doanh số là 10.562.824.782 đồng tăng 435,48%
khiến cho vòng quay vốn dài hạn cũng tăng đột biến. Năm 2011, trong 1 đồng vốn dài
hạn bỏ ra, DN thu về được 35,21 đồng doanh thu thuần. Đây là con số rất lớn, không
phải DN nào cũng làm được. Năm 2012, Nguồn dài hạn được huy động thêm 1.250.436.000 đồng để đầu tư vào máy móc thiết bị mới là các máy cán tôn, dập hình tôn. Bên cạnh đó là chi phí đào tạo nhân công nhằm phát triển thêm các mặt hàng tôn, DN cũng vay ngắn hạn rất lớn để tài trợ TSLĐ phục vụ nhu cầu tăng cao của DN khiến doanh thu cũng tăng cao, lên tới 20.918.216.570 đồng tuy giá trị vòng quay vốn
dài hạn giảm nhưng nó vẫn ở mức rất cao là 13,49. Điều này khiến các nhà đầu tư và chủ DN yên tâm vì Vốn dài hạn đang được sử dụng rất có hiệu quả.
Tỷ suất sinh lời trên vốn dài hạn
Tỷ số này sẽ cho ta thấy 1 đồng vốn dài hạn sinh ra được bao nhiêu đồng lợi
nhuận thuần.
64
Bảng 2.18: Tỷ suất sinh lời NVDH của Ngọc Tuệ năm 2010-2012
(ĐVT: %)
Chênh lệch Chênh lệch
10-11 11-12 Chỉ tiêu 2010 2011 2012
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
15 26,09 Tỷ suất sinh lời vốn 10,26 56 71 45,74 448.13
DH
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN)
Năm 2011 so với 2010, tỷ suất sinh lời của vốn dài hạn tăng 448.13%, với tỷ
suất là 0,56 cho thấy 1 đồng vốn dài hạn thu được 0,56 đồng lợi nhuận ròng. Năm
2011 do DN đang mở rộng thị trường, tăng cường Vốn ngắn hạn, bán hàng theo
phương châm quảng bá thương hiệu là chính nên không chú trọng về lợi nhuận. Lợi
nhuận trong năm 2011 chỉ đạt 1.686.406 đồng hơn năm 2010 là 353 .192 đồng. Năm
2012, khoản đầu tư về máy móc thiết bị mới làm NV dài hạn tăng 1.250.436.000 đồng,
lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đến lúc này cũng đã là 10.989.023
đồng nhưng mức tăng vẫn rất nhỏ so với mức tăng của nguồn dài hạn dẫn đến việc
suất sinh lời tăng 0,15 đồng lên đến 0,71 đồng trên một đồng vốn dài hạn. Nguồn dài
hạn của DN tăng mạnh góp phần không nhỏ trong việc mua sắm thiết bị máy móc hiện
đại, phục vụ lâu dài cho DN. Tuy khoản làm tăng doanh thu lợi nhuận không trực tiếp
là nguồn dài hạn nhưng thiếu nó thì DN cũng không thể tăng doanh số đột biến như
2011 và 2012.
Qua các chỉ tiêu phân tích tổng hợp về các nguồn vốn phân theo thời gian sử
dụng, ta thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng vốn đúng mục đích cũng như phù
hợp với tài sản mà DN đang sử dụng để đạt được năng suất cao nhất, thu lại lợi nhuận
nhiều nhất.
2.2.4.4 Ứng dụng phương pháp Dupont
Phương pháp phân tích Dupont cho thấy mối quan hệ tương hỗ giữa các tỷ số tài
chính. Trước hết, ta xem xét mối quan hệ tương tác giữa tỷ số lợi nhuận thuần trên doanh thu và tỷ số hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản (=) tỷ số lợi nhuận thuần trên toàn bộ tài sản.
65
Bảng 2.19: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của Công ty Ngọc Tuệ
năm 2010-2012
(ĐVT: Đồng)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12
LN thuần 1,85 2,34 1,33 0,49 10,97
Tổng TS 5.064 6.359 12.101 1.295 5.741
ROA 0.00037 0.00037 0.00110 0 0.00073
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN) Nhìn vào bảng tính toán trên ta thấy, 1 đồng tài sản thì tạo ra được 0,00037 đồng
lợi nhuận thuần năm 2010 và 2011. Sang năm 2012, hiệu quả sử dụng tài sản của DN tăng lên là 0,00110. Như vậy, ta thấy nguyên nhân làm tăng ROA của DN là do Doanh
thu bán hàng đủ lớn để tạo ra lợi nhuận, năm 2010, 2011 và 2012 doanh thu lần lượt
tăng cao với giá trị là 1.972.591.444 đồng, 10.562.824.782 đồng, 20.918.216.570
đồng. Như vậy DN nên đẩy mạnh tiêu thụ để tiếp tục nâng cao doanh thu và làm tăng
hiệu suất sử dụng TSCĐ của DN. Để thấy rõ hơn ý nghĩa của con số này, ta xem xét
thêm đẳng thức sau:
Bảng 2.20: Tỷ suất sinh lời trên VCSH của Công ty Ngọc Tuệ năm 2010-2012
(ĐVT: Đồng)
Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12 Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
ROA 0.037 0.037 0 0 0.26 70.27 0.11
Đòn bẩy 2.42 2.12 (0.3) (12.4) (0.43) (20.28) 1.69
tài chính
ROE 0.09 0.078 0.1859 (0.012) (13.33) 0.11 1.38
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN)
Năm 2010, tỷ suất sinh lời của tổng tài sản chỉ có 0.037 nhưng nhờ tác dụng của đòn bẩy tài chính, ROE của DN tăng lên được thành 0.09. Sang năm 2011, do DN đã thanh toán bớt 1 khoản nợ dài hạn trị giá 1.000 triệu đồng nên đòn bẩy tài chính bị giảm xuống còn 2.12, tức là giảm 12.4% so với 2010. Chỉ tiêu ROE không đổi nên dẫn đến tỷ suất sinh lời trên VCSH bị giảm. Đây là biểu hiện không hẳn tốt vì tỷ suất đòn bẩy tài chính giảm dẫn đến DN sự sụt giảm của ROE. Năm 2012, ROA của công ty tăng 0.26 tương đương tăng 70.27% so với 2011, đồng thời đòn bẩy tài chính lại giảm đi 20.28% tuy nhiên ROE trong năm nay của DN vẫn tăng do mức tăng của ROA cao hơn nhiều so với mức giảm của đòn cân nợ. Điều này cho thấy hiệu suất sử dụng tài sản của DN khá tốt làm cho suất sinh lời trên VCSH tăng theo giúp DN giảm thiểu được rủi ro tài chính.
66
Bảng 2.21: Tỷ suất sinh lời trên VCSH của Công ty Ngọc Tuệ năm 2010-2012
(ĐVT: Đồng)
Chênh lệch Chênh lệch Chỉ tiêu 2010 2011 2012 10-11 11-12
1,85 2,34 1,33 0,49 10,97 LN thuần
Doanh thu 1.972 10.562 20.918 8.590 10.355 thuần
Tổng 5.064 6.359 12.101 1.295 5.741
NV(TS)
VCSH 2.994 2.996 5.007 1,68 2.010
ROE 0.0618 0.078 0.27 0.0163 0.19
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ BCTC DN)
Từ bảng này ta thấy xu hướng của ROE trong DN là tăng dần. Chỉ số này cho
biết 100 đồng vốn thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong quá trình hoạt động
SXKD. Ở năm 2010 chỉ tiêu này có giá trị là 0,0618% và lên thành 0,078% tại năm
2011, chứng tỏ hoạt động đầu tư của công ty đã có kết quả nhất định. Năm 2012, DN
tiếp tục tăng suất lợi nhuận trên VCSH lên 0,27% sự gia tăng ROE này đến từ việc gia
tăng nhẹ của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vòng quay tổng tài sản cho thấy đây là
một dấu hiệu tích cực. Tuy nhiên do nguyên nhân chính đến từ tình hình khó khăn
chung của nền kinh tế nên ROE chỉ tăng nhưng tăng hết sức nhẹ. Sự biến động này
chủ yếu do ảnh hưởng từ kết quả hoạt động kinh doanh đang dần khả quan, trong 2
năm vốn chủ sở hữu của DN không có sự biến động nhiều, nhưng đột biến tăng ở năm 3 khiến cho ROE cũng tăng hơn hẳn 2 năm trước.
Như vậy, qua khai triển chỉ tiêu ROE có thể thấy chỉ tiêu này được cấu thành bởi
ba yếu tố chính. Thứ nhất là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu. Thứ hai là,
vòng quay toàn bộ vốn (vòng quay tài sản). Thứ ba là, hệ số vốn/vốn chủ sở hữu (hệ số
nợ) - Đây là yếu tố phản ánh trình độ quản trị tổ chức nguồn vốn cho hoạt động của
DN.
2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ
2.3.1. Hiệu quả sử dụng vốn theo tốc độ luân chuyển
2.3.1.1 Quản lý vốn lưu động
Qua phần phân tích đa chiều ở trên, ta có thể rút ra được mức độ hiệu quả của việc quản lý VLĐ của công ty Ngọc Tuệ. Nhìn chung về ưu điểm, thì Ngọc Tuệ đã sử dụng VLĐ ngày càng hiệu quả. Tuy năm 2010 VLĐ vẫn còn chiếm tỷ trọng và giá trị
nhỏ, tốc độ luân chuyển vốn chậm, lý do là mặt hàng kinh doanh của công ty chỉ tập
67
trung vào các công trình xây dựng nhỏ lẻ, dẫn đến chậm vốn. Nhưng từ năm 2011 đến
năm 2012, VLĐ trong công ty đã được cải thiện đáng kể sao cho phù hợp với mặt hàng chính mà DN hướng tới. Như vậy, DN cần tiếp tục phát huy điểm mạnh trong
công tác quản lý của mình, duy trì các biện pháp phù hợp để vòng quay vốn, mức đảm
nhiệm vốn, mức tiết kiệm VLĐ,… ở mức hợp lý.
Về nhược điểm, DN vẫn còn tồn tại một số vấn đề bất cập trong công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động. Nhu cầu VLĐ trong năm tới của DN cần phải được xác định
và điều chỉnh sao cho phù hợp với mục đích kinh doanh, và tình hình của DN. Hàng
tồn kho cũng cần được điều chỉnh do bản chất của nó có tính thanh khoản thấp, DN
không nên dự trữ quá nhiều hàng tồn kho, làm đọng vốn. Do vậy, việc đưa ra các giải
pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong năm tới là rất cần
thiết và cấp bách.
2.3.1.2 Quản lý vốn cố định
Công ty Ngọc Tuệ đã duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh tốt trong môi
trường bất ổn của ngành, tuy tăng trưởng chậm lại nhưng đó là những nỗ lực, cố gắng
không ngừng nghỉ của toàn Công ty. Về việc quản lý nguồn vốn cố định, qua phần
phân tích tình hình sử dụng VCĐ của Công Ty Ngọc Tuệ, ta có thể thấy được Vòng
quay VCĐ có xu hướng tăng, thể hiện trình độ quản lý vốn đã có dấu hiệu chuyển biến
tích cực. VCĐ được luân chuyển nhanh hơn trong quá trình sản xuất. Hệ số đảm
nhiệm VCĐ cũng giảm dần, cho thấy mức độ chuyên nghiệp và quản lý vốn khá phù
hợp.
Tuy nhiên, sau khi phân tích hiệu quả quản lý và sử dụng vốn, ta thấy được Công
ty vẫn còn tồn tại nhiều điểm yếu. Tỷ suất sinh lời trên VCĐ của DN ở mức rất thấp,
nếu đo lường mức độ tạo ra lợi nhuận cho DN từ TSCĐ thì con số là không đáng kể. Tốc độ luân chuyển VCĐ cần phải được gia tăng hơn nữa vì giá trị sản xuất hiện tại
chưa phát huy và tận dụng được khả năng tối đa của TSCĐ trong DN.
2.3.2. Hiệu quả sử dụng vốn theo nguồn hình thành
2.3.2.1 Quản lý VCSH
Trong những năm vừa qua, chủ sở hữu luôn là người sát cánh nhất đối với DN, lo lắng và vui mừng cùng với sự biến động dù là nhỏ nhất. Nguồn VCSH của DN trong 3 năm qua thay đổi rất nhiều. Mặc dù tình hình kinh tế biến động theo hướng khó khăn, khiến nhiều nhà đầu tư không dám mạnh dạn mở rộng kinh doanh. Nhưng riêng với Ngọc Tuệ, việc quản lý VCSH đã diễn ra tương đối hiệu quả. VCSH tăng
hàng năm, đặc biệt tăng mạnh vào năm 2012. Mức sinh lời trên VCSH cũng ngày càng
được cải thiện cho thấy những cái nhìn tích cực hơn và cổ vũ cho chủ DN làm ăn ngày
68
càng phát triển. DN cần phát huy hơn nữa việc quản lý vốn của mình trong năm tới,
không được lơ là, chủ quan làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của DN.
2.3.2.2 Quản lý Nợ phải trả
Nợ phải trả trong Công ty Ngọc Tuệ những năm vừa qua là khoản chiếm tỷ
trọng lớn nhất và biến động nhiều nhất. Bên cạnh những ưu điểm mà Nợ phải trả của
DN đem lại như đáp ứng kịp thời được nhu cầu về vốn của DN trong ngắn hạn và dài hạn, chiếm dụng được của nhà cung cấp một khoản lớn trong thời gian dài thì DN vẫn
còn nhiều khuyết điểm trong công tác quản lý nợ. Khả năng sinh lời từ nợ phải trả
ngày càng được cải thiện nhưng vẫn ở mức rất thấp. Số tiền vay ngày càng nhiều, gánh
nặng tài chính ngày càng lớn điều này DN cần phải chú trọng điều tiết. Tránh tình trạng nợ phải trả quá cao, dẫn đến doanh thu và hàng tồn kho không đáp ứng được
khoản nợ sẽ đưa DN vào tình trạng mất khả năng thanh toán và dẫn đến phá sản.
2.3.3. Hiệu quả sử dụng vốn theo thời gian
2.3.3.1 Quản lý NVDH
Trong những năm qua, NVDH của DN luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với
NVDH. Điều đáng khen cho DN là trong thời kỳ kinh tế khó khăn nhưng DN vẫn có
khoản vốn dài hạn đủ lớn để tài trợ cho TSCĐ và TSLĐ khi cần. Điều này phù hợp với
hướng đi của DN là chiến lược quản lý vốn thận trọng. Tuy nhiên, DN cũng nên có
những chính sách phù hợp hơn nữa trong công tác duy trì và quản lý NVDH phù hợp.
2.3.3.2 Quản lý NVNH
NVNH trong DN là khoản biến động nhiều trong những năm vừa qua, một phần
do tính chất của NVNH là tài trợ cho TSNH, các nhu cầu liên tục sản xuất kinh doanh
trong DN. Càng ngày khả năng sử dụng NVNH của DN càng được cải thiện. Vòng
quay vốn ngắn hạn ngày càng tăng, tỷ suất sinh lời cũng biến chuyển rõ rệt. NVNH đã
đạt được những ưu điểm nhất định như tài trợ kịp thời cho các NVL, bổ sung nguồn
vốn khi cần thiết.
Để hoàn thiện hơn chính sách quản lý NVNH của mình, trong năm tới DN cần xây dựng chính sách tín dụng và thương mại sao cho hợp lý. Quản lý chi phí và doanh thu hiệu quả tăng tỷ suất sinh lời của vốn. Cải thiện được một số điều này DN sẽ thu được kết quả tích cực hơn nữa
69
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TRONG TƯƠNG LAI
Trong những năm qua, với sự nỗ lực không ngừng của Ban lãnh đạo Công ty, tập thể cán bộ công nhân viên và đặc biệt sự tin tưởng của khách hàng, Công ty đã đạt được nhiều thành tựu trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm. Trong năm tới, Công ty sẽ phấn đấu không ngừng tạo ra các sản phẩm mới với chất lượng cao, phấn đấu tăng doanh thu 30% so với năm 2012. Trong thời gian tới Công ty sẽ cố gắng mở rộng sản xuất để tạo công ăn việc làm cho người lao động. Tiếp tục nâng cao hơn nữa trình độ của cán bộ công nhân của Công ty để đáp ứng sự phát triển khoa học không ngừng của thế giới. Công ty phấn đấu mở rộng hợp tác với Công ty cùng và khách ngành để giới thiệu sản phẩm và khẳng định thương hiệu của mình.
Song song với việc đó, Công ty luôn phấn đấu giữ vững chính sách chất lượng. Với phương châm tăng cường nâng cao khả năng cạnh tranh bằng việc không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Công ty TNHH Thương Mại Và Xây Dựng Ngọc Tuệ cam kết cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tốt thông qua việc liên tục cải tiến và đổi mới nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Toàn thể công nhân viên của Công ty thường xuyên duy trì hệ thống quản lý chất lượng có đủ khả năng và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh. 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI NGỌC TUỆ. 3.2.1 Xác định nhu cầu VLĐ
Môi trường kinh doanh luôn biến động không ngừng và khó lường, để hoạt động tốt, cần phải có sự chuẩn bị các mục tiêu cũng như kế hoạch cụ thể để hoàn thành mục tiêu đó trong năm tiếp theo.
Xây dựng kế hoạch sử dụng VLĐ trong kỳ kế hoạch đòi hỏi cần có những căn cứ khoa học như: Kế hoạch sản xuất kinh doanh, các tiêu chí về kỹ thuật, định mức hao phí vật tư, sự biến động giá cả thị trường, trình độ và năng lực quản lý. Tránh dự tính VLĐ thấp hơn hoặc cao hơn thực tế cần sử dụng làm ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư của công ty cũng như tốn kém về mặt chi phí vào những khoản mục không cần thiết. Vậy nên, để xác định được lượng VLĐ phù hợp với hoạt động SXKD của công ty mình. Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ có thể sử dụng phương pháp sau:
Phương pháp ước tính nhu cầu VLĐ bằng tỷ lệ phần trăm trên doanh thu Căn cứ vào BCKQKD của Công ty TNHH Ngọc Tuệ trong năm 2010, 2011,
2012 ta có thể tính được bảng 3.1 để xác định nhu cầu VLĐ cho công ty.
70
Bảng 3.1. Bảng cân đối kế toán rút gọn năm 2012
(ĐVT: Đồng)
Tài sản Số dư cuối kỳ Nguồn vốn Số dư cuối kỳ
A. Tài sản ngắn hạn 7.754.950.785 A. Nợ phải trả 7.094.165.530
I. Tiền 490.272.616 I. Nợ ngắn hạn 5.543.729.530
II. Các khoản phải thu 1.660.245.186 1. Vay và nợ ngắn hạn 4.298.537.655
2. Phải trả cho người III. Hàng tồn kho 5.442.881.451 1.245.345.292 bán
IV. Tài sản ngắn hạn 3. Thuế và các khoản 161.551.532 (153.417) PNNN khác
II. Nợ dài hạn 1.550.436.000
B. Tài sản dài hạn 4.346.844.762 B. Vốn chủ sở hữu 5.007.630.017
Tổng cộng 12.101.795.547 Tổng cộng 12.101.795.547
(Nguồn: BCTC của Công ty TNHH Ngọc Tuệ)
Theo báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty, năm 2012 Công ty đạt doanh thu
thuần là 20.918.216.570 đồng. Từ đó ta có bảng tỷ lệ các khoản mục có quan hệ chặt
chẽ với doanh thu:
Bảng 3.2. Tỷ lệ phần trăm các khoản mục có quan hệ chặt chẽ với doanh thu
(ĐVT: %)
Tỷ lệ trên Tài sản Nguồn vốn Tỷ lệ trên DT DT
I. Tiền 2,34 1. Vay và nợ ngắn hạn 20,55
II. Các khoản phải thu 7,93 2. Phải trả cho người bán 5,95
III. Hàng tồn kho 26,02
IV. Tài sản ngắn hạn khác 0,77
37,07 Tổng Tổng 26,5
(Nguồn: Tính toán từ Bảng 3.1) Bảng 3.2 cho ta thấy để tăng thêm 1 đồng doanh thu thuần cần phải tăng thêm 37,07 đồng VLĐ; và 1 đồng doanh thu thuần tăng lên thì Công ty chiếm dụng được 26,54 đồng nguồn vốn. Vậy thực chất 1 đồng doanh thu tăng lên Công ty cần số VLĐ ròng là: 37,07-26,5= 10,57 (đồng)
Theo kế hoạch của Công ty năm 2013, doanh thu thuần dự kiến của Công ty tăng lên 30% tương đương tăng lên 6.275.464.971 đồng so với năm 2012. Vậy nhu cầu
VLĐ ròng của Công ty là:
6.275.464.971 x 10,57% = 663.316.647(đồng)
3.2.2 Xây dựng chính sách tín dụng thương mại hợp lý
71
Để nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ, Công ty cần có những chính sách để nâng
cao hiệu quả quản lý các khoản phải thu KH để giúp hạn chế tối đa lượng vốn mà Công ty bị chiếm dụng. Để nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý các khoản phải thu
KH, Công ty có thể sử dụng một số biện pháp sau đây:
Xây dựng thông tin về tín dụng của KH Các thông tin của KH cần được lưu lại và tổng hợp thành một hệ thống để công ty tiện theo dõi, bao gồm: thời gian KH giao dịch với Công ty, các tiêu chí thể hiện
năng lực tài chính của KH như: khả năng thanh toán, tỷ lệ khoản phải trả trong tổng nợ
ngắn hạn, doanh thu, lợi nhuận; thông tin về thời hạn trả nợ đúng hạn, quá hạn; doanh
số nợ.
Dựa vào các tiêu chí thu thập và tổng hợp lại trong hệ thống thông tin về tín dụng
của khách, Công ty nên sử dụng phương pháp phân nhóm KH theo mức độ rủi ro
giống của các NHTM đánh giá KH của họ. Theo phương pháp này, KH của Công ty
có thể được chia thành các nhóm như sau:
Bảng 3.3. Danh sách các nhóm rủi ro
Tỷ lệ doanh thu Tỷ lệ KH thuộc nhóm Nhóm rủi ro không thu hồi được ước rủi ro (%) tính
1 35 0 – 1
2 30 1 – 2,5
3 20 2,5 – 4
4 10 4 – 6
5 5 >6
(Nguồn: Quản trị tài chính doanh nghiệp – Tác giả Nguyễn Hải Sản )
Theo đó, để giảm thiểu rủi ro đến từ KH, Công ty xem xét các chỉ tiêu trên để
đánh giá từng KH một, nếu KH nào đó thuộc nhóm 5 thì công ty cần đề nghị KH thanh
toán ngay toàn bộ hoặc một phần khi nhận được hàng hóa, dịch vụ. Ngược lại các KH thuộc nhóm 1, 2 có thể được ưu tiên hơn trong việc thanh toán chậm. Cách xếp hạng này cần được làm lại hàng năm để theo kịp với tình hình thực tế KH.
Tiếp theo là phương pháp phân nhóm theo mô hình chấm điểm tín dụng:
Số năm hoạt động = 4× + 11× + 1× Khả năng thanh toán Khả năng thanh toán Điểm tín dụng lãi nhanh
Bảng 3.4. Mô hình cho điểm tín dụng để phân nhóm rủi ro
72
Biến số Trọng số Điểm tín dụng Nhóm rủi ro
Khả năng thanh toán lãi Lớn hơn 47 4 1
Khả năng thanh toán nhanh 11 40 – 47 2
Số năm hoạt động 1 32 – 39 3
24 – 31 4
Nhỏ hơn 24 5
(Nguồn: Quản trị tài chính doanh nghiệp – Tác giả Nguyễn Hải Sản)
Sau khi đã thu thập và phân tích thông tin tín dụng của KH như trên, Công ty sẽ
đưa ra quyết định về các khoản tín dụng mà KH đề nghị.
Tăng cường công tác thu hồi nợ Để quản lý các khoản nợ thật tốt, công ty nên lập danh sách KH nợ bao gồm các thông tin như tên KH, ngày mua hàng, hạn thanh toán, số tiền nợ, điện thoại KH…kèm
theo đó là số điểm tín dụng để tiện theo dõi mức độ rủi ro mà từng KH có thể mang đến
cho công ty. Tình hình kinh tế hiện nay chưa có nhiều khởi sắc nên các nói chung hoạt
động còn chưa hiệu quả nên có thể công tác thu nợ còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là
KH của Công ty TNHH Ngọc Tuệ hầu hết đều là những lớn với các khoản nợ không nhỏ,
đòi hỏi Công Ty TNHH Ngọc Tuệ bên cạnh việc thu nợ còn phải giữ mối quan hệ tốt với
KH, Công ty nên cùng với KH đàm phán về ngày trả nợ, phương thức trả, trả luôn toàn bộ
hay lộ trình cụ thể kèm số tiền như thế nào. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế còn khó khăn
nên hầu hết các hoạt động chưa có lãi nhiều nên việc trả nợ chậm là điều không tránh
khỏi, công ty cũng cần có sự thông cảm và hiểu biết KH của mình.
3.2.3 Tăng tốc độ quay vòng hàng tồn kho
Như đã phân tích ở chương 2, Hàng tồn kho của công ty luôn chiếm tỷ trọng cao
trong giai đoạn 2010 – 2012. Hàng tồn kho tồn đọng còn khiến cho khả năng thanh
toán nhanh của Công ty bị giảm sút, so với các cùng ngành khả năng thanh toán nhanh
của công ty Ngọc Tuệ là thấp hơn. Ngoài ra, vòng quay hàng tồn kho cũng rất chậm góp phần khiến cho vòng quay tiền dài, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh chung của toàn Công ty. Do vậy, việc cấp thiết mà DN cần phải làm đó là có phương pháp quản lý hàng tồn kho thật tốt, phương pháp đó có thể là:
- Lập kế hoạch cho hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở tình hình của năm báo cáo, chi tiết số lượng theo từng tháng, quý. Có biện pháp thích hợp kiểm soát và
bảo vệ hàng tồn kho, tránh tác động của môi trường quá nhiều làm giá trị bị giảm sút.
- Ngoài ra, Công ty có thể đầu tư vào phần mềm quản lý hàng lưu kho, đào tạo
nhân sự sử dụng phần mềm để có thể quản lý hàng lưu kho dễ dàng và hiệu quả hơn.
3.2.4 Đầu tư đổi mới TSCĐ, tăng tốc độ luân chuyển VCĐ
73
Trong quá trình sử dụng, những biến động về giá cả, chênh lệch tỷ giá hối đoái,
ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho sức mua của VCĐ ở thời điểm hiện tại và thời điểm ban đầu có sự chênh lệch. Tính đến nay, Công ty TNHH Ngọc Tuệ
chưa sử dụng biện pháp đánh giá tài sản cố định nào nhằm bảo toàn vốn. Tốc độ luân
chuyển VCĐ của DN đặc biệt chưa cao, trong 3 năm gần đây nó lần lượt là 0,82; 3,89;
4,81. Trong nền kinh tế hiện nay, tuy vòng quay VCĐ là không cao nhưng số vòng luân chuyển VCĐ cũng đã được cải thiện rõ rệt. Trong năm 2013 tới, DN nên tiếp tục
tăng vòng quay VCĐ hơn nữa để TSCĐ của DN thực sự đạt được hiệu suất sử dụng
cao.
Ngoài việc đầu tư TSCĐ là máy móc hiện đại, mạnh mẽ như trong năm 2011 và
đặc biệt là trong năm 2012, Công ty nên đổi các TSCĐ cũ, có tính hao mòn cao, trực
tiếp tham gia sản xuất. Mua bảo hiểm cho TSCĐ có mức độ rủi ro cao như phương
tiện vận tải cũng là cách để DN tiết kiệm VCĐ cho mình. Công ty cũng nên lập cho
mình quỹ dự trữ tài chính đề phòng khi DN gặp rủi ro.
Đánh giá TSCĐ là việc xác định lại giá trị của nó tại một thời điểm nhất định.
Đánh giá đúng TSCĐ tạo điều kiện phản ánh chính xác tình hình biến động VCĐ, quy
mô vốn phải bảo toàn. Điều chỉnh kịp thời giá trị của TSCĐ, tính đủ chi phí khấu hao
của TSCĐ, không để mất VCĐ.
3.2.5 Quản lý chi phí và doanh thu hiệu quả.
Doanh thu và chi phí là hai mặt của một quá trình. Đây là hai chỉ tiêu rất quan
trọng phản ánh tình hình lãi lỗ của DN. Trong công ty TNHH Xây dựng và Thương
mại Ngọc Tuệ, Doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN có xu
hướng tăng dần và tăng mạnh. DN cần tiếp tục phát huy và tăng Doanh thu thêm 30%
như dự kiến. Để tăng lợi nhuận, có thể thực hiện các công việc sau:
Xây dựng chính sách sản phẩm Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa ngày càng trở lên phong phú đa dạng về chủng
loại. Và giữa thị trường khác nhau cũng có sự khác biệt về nhu cầu tiêu dùng. Vậy để
tận dụng được hết tiềm năng của thị trường thì các cần phải có những chính sách hợp lí để đa dạng hóa sản phẩm một cách khả thi và mở rộng tuyến sản phẩm để đạt được mục đích cuối cùng của mình là tối đa hóa lợi nhuận.
Sử dụng vốn hiệu quả hơn Trong cơ chế mới rõ ràng là các không thể chờ vào nhà nước. Hiện nay tỷ trọng vốn vay trong tổng số vốn của các còn rất cao chiếm trên 60% điều này ảnh hưởng rất
lớn đến hiệu quả kinh doanh của DN vì vậy cần phải tăng nhanh nguồn vốn chủ sở hữu của mình lên bằng cách hàng năm trích một phần lợi nhuận vào vốn chủ sở hữu, để giảm vốn vay tiết kiệm chi phí trả lãi, làm tăng lợi nhuận.
Nỗ lực chủ quan nhưng bị tác động của yếu tố khách quan.
74
+ Giảm chi phí để tăng lợi nhuận hoặc tăng chi phí để tăng sản lượng tiêu thụ:
việc tăng giảm chi phí chủ yếu do sự nỗ lực chủ quan.
+ Giảm giá bán để tăng lợi thế cạnh tranh: muốn giảm giá bán thỉ phải giảm chi
phí, chủ yếu do nỗ lực chủ quan.
Do đó, để tăng lợi nhuận người quản lý phải luôn quan tâm đến kiểm soát chi phí. Tuy nhiên Chi phí của DN trong những năm gần đây từ năm 2011 đến năm 2012 biến động thất thường. Như vậy để kiểm soát và giảm chi phí, chúng ta cần tập trung các giải pháp để giảm các khoản mục, cụ thể các giải pháp đó là:
- Giảm chi phí mua điện nội bộ Chi phí mua điện nội bộ = Sản lượng điện nhận x Giá mua điện nội bộ
Sản lượng điện nhận = Sản lượng điện thương phẩm/(1- tỷ lệ điện dùng trong SXKD) Chi phí mua điện nội bộ bị tác động bởi 2 yếu tố đó là: giá mua điện nội bộ và sản lượng điện nhận. Trong đó giá mua điện là theo khung quy định, không thể thay đổi. Như vậy để giảm chi phí mua điện nội bộ cần tập trung giảm sản lượng điện nhận, và một trong giải pháp để giảm đó là thực hiện giảm tỷ lệ điện dùng để phân phối điện.
- Kiểm soát chi phí phát triển khách hàng, chi phí sửa chữa thường xuyên, tiết kiệm chi phí sửa chữa lớn. Tận dụng vật tư tồn kho, vật tư thu hồi để giảm chi phí mua sắm.
- Giảm các chi phí dịch vụ mua ngoài. Thực hiện tiết kiệm chi phí điện, nước, điện thoại trong làm việc, đặc biệt là thực hiện tiết kiệm điện trong cơ quan. Đây là những khoản chi phí chiếm tỷ trọng khá lớn trong chi phí mua ngoài và những khoản mục chi phí này hoàn toàn có thể giảm được. Hạn chế tổ chức các hội nghị, hội họp tập trung để giảm chi phí.
- Bóc tách chi phí quản lý như: văn phòng phẩm, sửa chữa máy in, máy tính, xăng dầu... phục vụ cho sản xuất kinh doanh điện, nhận thầu thi công, sửa chữa lớn, xây dựng cơ bản... hạch toán đúng và đầy đủ. Các khoản mục chi phí như xăng dầu đi lại để vận chuyển vật tư, chi phí lưu kho bãi, nhân công bảo quản…, cho công tác này cũng phải tách bạch.
Tóm lại, kiểm soát doanh thu chi phí là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý tài chính . Nhận diện, phân tích các hạng mục chi phí phát sinh, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến các khoản mục chi phí sẽ giúp cho nhà quản lý đề ra các giải pháp phù hợp để giảm các khoản mục chi phí, từ đó góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN.
75
KẾT LUẬN
Lợi nhuận đối với một doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu, tuy nhiên xét về
thực tế thì hoạt động của doanh nghiệp là việc các dòng vốn được sắp xếp sao cho hiệu quả nhất. Một doanh nghiệp dù hoạt động kinh doanh có lãi nhưng vẫn có thể rơi vào
tình trạng căng thẳng tài chính dẫn đến phá sản, đó chính là bởi doanh nghiệp đó yếu
kém trong quá trình quản lý vốn của mình. Đặc biệt trong môi trường kinh doanh phát
triển nhanh và đầy biến động như hiện nay, hoạt động của doanh nghiệp sẽ luôn tiềm ẩn rủi ro. Để cho hoạt động của doanh nghiệp được thông suốt và bền vững, các nhà
quản trị tài chính luôn cần nâng cao hiệu quả quản lý vốn phù hợp với môi trường kinh doanh bên ngoài. Việc xây dựng và hoàn thiện công tác quản lý vốn sao cho hiệu quả
không những giúp cho doanh nghiệp hoạt động bền vững mà còn giúp doanh nghiệp
sử dụng các nguồn vốn một cách hiệu quả nhất.
Với lịch sử 7 năm xây dựng và phát triển, Công ty TNHH Xây dựng và Thương
mại Ngọc Tuệ từ chỗ là một DN 1 thành viên nay đã trở thành một Công ty lớn mạnh.
Hoạt động của Công ty TNHH Ngọc Tuệ trải qua nhiều biến động khó khăn nhưng đã
dần ổn định, đặc biệt trong các năm gần đây đã có những bước phát triển vượt bậc về
quy mô cũng như hiệu quả hoạt động, những nỗ lực ấy rất đáng ghi nhận.
Xét về công tác sử dụng và quản lý vốn, mặc dù đã được Công ty quan tâm xây
dựng và đạt được một số kết quả nhưng hoạt sử dụng vốn vẫn còn tồn tại những hạn
chế nhất định. Đặc biệt trong bối cảnh môi trường kinh tế ngày càng nhiều biến động
phức tạp, cùng với nhu cầu phát triển của bản thân Công ty, cách thức sử dụng vốn sao
cho hiệu quả trong Công ty cần được phân tích và nghiên cứu đưa ra những giải pháp
nhằm hoàn thiện hơn nữa.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn giảng viên, Ths. Chu Thị Thu Thủy và các
thầy cô trường Đại học Thăng Long cũng như ban lãnh đạo và nhân viên Công ty
TNHH Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ đã giúp em thực hiện khóa luận này. Em
cũng hy vọng bản khóa luận sẽ đóng góp thêm một nghiên cứu nhất định cho kho tàng kiến thức khoa học về quản trị tài chính nói chung và quản lý VLĐ nói riêng.
Hà Nội, ngày.......tháng.....năm
Sinh viên
Nguyễn Hà Oanh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] David Begg & Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch (2008), Kinh tế học, NXB
Thống kê, Hà Nội.
[2] Đại học Kinh tế quốc dân (2010), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp.
[3] Học viện tài chính (2009) Giáo trình Phân tích TCDN.
[4] Bộ giáo dục và đào tạo (2009), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác- Lênin
[5] PGS.TS Nguyễn Năng Phúc, Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính, NXB Đại
Học Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội.
[6] Nguyễn Hải Sản (1996), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản tài chính,
Hà Nội
[7] ThS. Chu Thị Thu Thủy (2010), Slide bài giảng tài chính doanh nghiệp 1,
Trường ĐH Thăng Long.
[8] Các website tham khảo:
www.bsc.com.vn
www.cafef.vn
www.bfinance.vn
www.voer.edu.vn

