LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin trân trọng gửi lời cảm ơn

sâu sắc đến quý thầy, cô giáo khoa Kinh Tế - Quản Lý trường Đại Học Thăng Long đã

tận tình dạy dỗ, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu. Đặc biệt, em xin gửi lời

cảm ơn chân thành đến Cô giáo Ths Ngô Thị Quyên đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian làm khóa luận. Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các anh chị,Ban

giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên nói chung

cũng như các anh, chị ở phòng kế toán nói riêng đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ dẫn và tạo

điều kiện cho em để hoàn thành khóa luận này.

Trong quá trình viết khóa luận, mặc dù đã rất cố gắng nhưng do hạn chế về mặt

thời gian cũng như kiến thức nên không thể tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, em kính

mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp của quý thầy cô để khóa luận của em được

hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2014

Sinh viên

Phạm Minh Nhật

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ

trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người

khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được

trích dẫn rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Phạm Minh Nhật

MỤC LỤC

CHƢƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

TRONG DOANH NGHIỆP................................................................ 1

1.1. Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp ............................................. 1 1.1.1. Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp ........................................ 1

1.1.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp ............................................ 1 1.1.2.1. Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp ............ 1

1.1.2.2. Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp ........................................... 2

1.1.2.3. Đối với người cho vay .......................................................................... 2 1.1.2.4. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, người lao động ..................... 2

1.1.2.5. Đối với các đối thủ cạnh tranh ............................................................ 3

1.1.3. Ý nghĩa phân tích tài chính doanh nghiệp ................................................. 3

1.1.4. Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp .............................................. 4

1.2. Tài liệu và phƣơng pháp phân tích tài chính ................................................... 5

1.2.1. Tài liệu sử dụng trong phân tích ................................................................. 5 1.2.1.1. Bảng cân đối kế toán ........................................................................... 6

1.2.1.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ............................................... 7

1.2.1.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ................................................................... 7

1.2.1.4. Thuyết minh báo cáo tài chính............................................................. 8

1.2.2. Phương pháp phân tích ............................................................................... 8 1.2.2.1. Phương pháp so sánh .......................................................................... 8

1.2.2.2. Phương pháp tỷ lệ ................................................................................ 9

1.2.2.3. Phương pháp Dupont ......................................................................... 10

1.3. Nội dung phân tích ........................................................................................... 11 1.3.1. Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp ................. 11 1.3.1.1. Phân tích cơ cấu tài sản .................................................................... 11

1.3.1.2. Phân tích cơ cấu nguồn vốn .............................................................. 11

1.3.1.3. Phân tích cân đối tài sản và nguồn vốn ............................................. 11

1.3.2. Phân tích tài chính thông qua kết quả hoạt động kinh doanh ................ 12

1.3.3. Phân tích tài chính thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ ...................... 13 1.3.4. Phân tích tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính ............................... 13 1.3.4.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán .............................................. 14 1.3.4.2. Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời ................................................... 15

1.3.4.3. Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý tài sản ........................................ 15

1.3.4.4. Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý nợ .............................................. 18

1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hoàn thiện phân tích tài chính trong doanh

nghiệp ....................................................................................................................... 19

1.4.1. Nhân tố chủ quan ...................................................................................... 19

1.4.2. Nhân tố khách quan .................................................................................. 20

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ

THUẬN THIÊN ................................................................................. 22

2.1. Khái quát chung về công ty ............................................................................. 22

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty ....................................... 22

2.1.2. Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý tại công ty TNHH kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên ......................................................................................................... 23

................................... 24

2.2. Thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty TNHH kỹ thuật và

công nghệ Thuận Thiên .......................................................................................... 25

2.2.1. Giới thiệu chung về công tác phân tích .................................................... 25 2.2.1.1. Qui trình phân tích tài chính trong công ty ....................................... 25

2.2.1.2. Phương pháp phân tích tài chính của công ty ................................... 26

2.2.1.3. Nguồn số liệu sử dụng trong phân tích tài chính tại công ty............. 26

2.2.2. Nội dung phân tích .................................................................................... 27 2.2.2.1. Phân tích cơ cấu tài sản và sự biến động tài sản .............................. 27

2.2.2.2. Phân tích cơ cấu và sự biến động nguồn vốn .................................... 30 2.2.2.3. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ......... 33

2.2.2.4. Phân tích một số chỉ tiêu tài chính .................................................... 36

2.3. Đánh giá thực trạng phân tích tài chính tại công ty TNHH Thƣơng mại và

kỹ thuật Thuận Thiên ............................................................................................. 43

2.3.1. Kết quả đạt được ........................................................................................ 43

2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân ................................................................. 45 2.3.2.1. Tồn tại ................................................................................................ 45

2.3.2.2. Nguyên nhân ...................................................................................... 46

CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ THUẬN THIÊN .................................................................... 48 3.1. Định hƣớng hoạt động kinh doanh của công ty ............................................ 48

3.2. Một số giải nhằm hoàn thiện phân tích tài chính tại công ty TNHH Kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên ........................................................................... 48 3.2.1. Một số giải pháp ......................................................................................... 48 3.2.1.1. . Hoàn thiện về tổ chức hoạt động phân tích ..................................... 48 3.2.1.2. Hoàn thiện về hệ thống thông tin phục vụ cho phân tích tài chính ... 50

3.2.1.3. Hoàn thiện về nội dung phân tích tài chính ....................................... 51

3.2.1.4. Hoàn thiện về phương pháp phân tích tài chính ............................... 52 3.2.1.5. Đào tạo, nâng cao đội ngũ cán bộ thực hiện phân tích tài chính ..... 54

3.3. Một số kiến nghị ............................................................................................... 54 3.3.1. Đối với Nhà nước ....................................................................................... 54

3.3.2. Đối với Bộ, Ngành có liên quan ................................................................ 55

PHỤ LỤC ........ ............................................................................................................ 58

Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH kỹ thuật & công nghệ Thuận Thiên

qua 3 năm 2010-2012 .............................................................................................. 58 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH kỹ thuật & công

nghệ Thuận Thiên qua 3 năm 2010- 2012 ............................................................. 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 61

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

BCĐKT Bảng cân đối kế toán

BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Báo cáo tài chính BCTC

Nguồn vốn NV

Trách nhiệm hữu hạn TNHH

Tài sản TS

Tài sản cố định TSCĐ

Tài sản dài hạn TSDH

Tài sản lưu động TSLĐ

Tài sản ngắn hạn TSNH

Vốn chủ sở hữu VCSH

Việt Nam đồng VNĐ

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Bảng phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản ............................... 28 Bảng 2.2. Bảng phân tích cơ cấu và biến động của nguồn vốn ............................. 32 Bảng 2.3. Bảng phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ......... 35 Bảng 2.4. Bảng phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn....................................... 36 Bảng 2.5. Bảng phân tích khả năng thanh toán nhanh ............................................ 37 Bảng 2.6. Bảng phân tích tỷ suất sinh lời trên doanh thu ....................................... 38 Bảng 2.7. Bảng phân tích tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản .................................... 38 Bảng 2.8. Bảng phân tích tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ............................. 39 Bảng 2.91. Bảng phân tích hệ số thu nợ ................................................................... 40 Bảng 2.10. Bảng phân tích chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho .................................... 40 Bảng 2.11.Bảng phân tích chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản cố định ... 41 Bảng 2.12. Phân tích chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản lưu động ......... 42 Bảng 2.13. Phân tích tỷ số nợ .................................................................................... 42 Bảng 2.14. Phân tích số lần thu nhập hoạt động trên lãi vay ................................. 43 Bảng 3.1. Phân tích khả năng thanh toán tức thì ..................................................... 51 Bảng 3.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tổng tài sản ................................... 52 Bảng 3.3. Phân tích ROE theo phương pháp phân tích Dupont ............................ 53 Sơ đồ 1.1. Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp ............................................ 4

.......................................... 23

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

ất.

Phân tích tài chính là công việc cần thiết để có thể cung cấp thông tin cho nhiều

đối tượng với nhiều mục đích khác nhau. Phân tích tài chính là cơ sở để doanh nghiệp

xem xét sự vững mạnh về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng như xác định đầy đủ

và chính xác nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài

chính của doanh nghiệp để từ đó những nhà lãnh đạo của doanh nghiệp đưa ra những

quyết định đúng đắn và kịp thời để doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả. Phân tích

tài chính cũng là cơ sơ quan trọng để các nhà đầu tư, tổ chức tín dụng,… đưa ra các

quyết định về đầu tư, cho vay đối với doanh nghiệp.

Trước sự sàng lọc khắt khe của nền kinh tế thị trường cũng như phải đáp ứng

được những yêu cầu đa dạng của những người quan tâm đòi hỏi các doanh nghiệp phải

không ngừng hoàn thiện tình hình tài chính của mình.

Nhận thức được tầm quan trọng trên nên em đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện phân

tích tài chính doanh nghiệp tại công ty trách nhiệm hữu hạn kỹ thuật và công nghệ Thuận

Thiên.”

2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Khóa luận đi sâu tìm hiểu, phân tích về thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất

kinh doanh tại công ty TNHH kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên trong giai đoạn 2010 – 2012 thông qua các báo cáo tài chính và một số chỉ tiêu tài chính. Trên cơ sở đó, đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và đồng thời đưa ra các giải pháp

nhằm hoàn thiện phân tích tài chính tai công ty.

Phạm vi nghiên cứu: sử dụng số liệu từ bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên trong giai đoạn 2010- 2012.

3. Phƣơng pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng chủ yếu phương pháp so sánh, phương pháp phân tích theo

chiều ngang, phân tích theo chiều dọc và phương pháp phân tích tỷ lệ để đưa ra đánh

giá và kết luận từ cơ sở là các số liệu được cung cấp và thực trạng tình hình hoạt động

của công ty.

4. Kết cấu khoá luận

Ngoài mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương:

Chƣơng 1: Những lý luận chung về phân tích tài chính trong doanh nghiệp

Chƣơng 2: Thực trạng phân tích tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn kỹ

thuật và công nghệ Thuận Thiên

Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện phân tích tài chính tại công

ty trách nhiệm hữu hạn kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên

1CHƢƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính là việc sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và

công cụ để thu thập, xử lý các thông tin kế toán và thông tin khác trong quản lý tài

chính doanh nghiệp nhằm kiểm tra, đối chiếu so sánh số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ. Qua đó, đánh giá được tiềm năng, chất lượng hoạt

động của doanh nghiệp cũng như những rủi ro trong tương lai. Việc phân tích tài chính giúp cho những người quan tâm có những nhận định đúng đắn về tình hình tài chính

của doanh nghiệp để có thể đưa ra những quyết định phù hợp với lợi ích của họ.

1.1.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp

Có thể nói, phân tích tình hình tài chính là một công việc vô cùng quan trọng

trong công tác quản trị doanh nghiệp. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ

chế thị trường có sự can thiệp của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc nhiều loại hình

sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh

vực kinh doanh. Chính vì thế, cũng có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: Chủ doanh nghiệp, nhà cung cấp, nhà đầu tư, nhà cho

vay, khách hàng, cổ đông, các cơ quan quản lý Nhà nước, cán bộ công nhân viên…

Việc phân tích tài chính doanh nghiệp vừa cung cấp thông tin từ nhiều khía cạnh khác

nhau, vừa đánh giá toàn diện khái quát lại vừa xem xét chi tiết hoạt động tài chính của

doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin khác nhau của những người sử dụng.

1.1.2.1. Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp

Là những người đứng đầu doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm

kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Bên cạnh đó, họ còn quan tâm đến các mục tiêu

khác như tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường… Tuy nhiên, để có thể hướng đến những mục tiêu này, đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng được hai mục tiêu được xem là cơ bản nhất đó là kinh doanh có lãi và trả được nợ. Một doanh nghiệp thường xuyên bị thua lỗ

sẽ buộc phải thu hẹp mọi nguồn lực và kết quả cuối cùng là phá sản. Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ quá hạn cũng sẽ phải ngừng hoạt động và đóng cửa. Như vậy, hơn ai hết những người chủ doanh nghiệp, người

quản trị doanh nghiệp cần phải có đầy đủ thông tin và hiểu rõ về hoạt động của doanh nghiệp để đánh giá được hiệu quả sử dụng các chính sách tài chính, khả năng sinh lời

của hoạt động kinh doanh, khả năng thanh toán cho chủ nợ, xác định những rủi ro tiềm

1

ẩn… Trên cơ sở đó, xác định rõ mặt mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp và đưa ra các quyết định đúng đắn trong tương lai như quyết định đầu tư, tài trợ, kế hoạch phân phối

và sử dụng lợi nhuận, mở rộng thị trường liên doanh liên kết…

1.1.2.2. Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp

Các nhà đầu tư là những người bỏ vốn vào doanh nghiệp và họ cũng là người

gánh chịu rủi ro khi doanh nghiệp gặp khó khăn. Chính vì vậy, quyết định của họ đưa ra luôn có sự cân nhắc giữa rủi ro và lợi nhuận đạt được.

Nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng có thể là cá nhân hay các doanh nghiệp. Họ

quan tâm trước hết đến những đặc điểm đầu tư của doanh nghiệp như sự rủi ro, bảo

toàn vốn đầu tư, lãi cổ phần, chính sách cổ tức,giá trị tăng thêm của vốn đầu tư… trước khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp hoặc rút vốn ra khỏi doanh

nghiệp vì nó tác động trực tiếp đến thu nhập của họ. Việc quan tâm đến phân tích tài

chính doanh nghiệp nhằm đánh giá cơ cấu vốn hiện tại, khả năng sinh lời, cũng như

triển vọng và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai. Đồng thời, các

nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến việc điều hành các hoạt động, tính hiệu quả của công

tác quản lý để nhằm đảm bảo cho tính an toàn và hiệu quả của việc đầu tư.

1.1.2.3. Đối với người cho vay

Hiện nay, vốn vay và nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn của doanh

nghiệp. Để quyết định cho vay, người cho vay là các ngân hàng thương mại, các định

chế tài chính, người mua cổ phiếu, trái phiếu… đều quan tâm đến việc doanh nghiệp

thực sự có nhu cầu vay vốn hay không? Khả năng trả nợ như thế nào? Tuy nhiên, đứng

trước các quyết định khác nhau, ở vị thế khác nhau thì nội dung và phương pháp phân

tích sử dụng có thể khác nhau. Nếu đứng trước quyết định cho vay ngắn hạn, người

cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp nghĩa là

khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn thanh toán. Nếu là những khoản

cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc vào khả năng trả nợ và khả năng sinh lời

từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi tùy thuộc vào khả năng sinh lời này. Ngoài ra, các ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến lượng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp vì đây được coi là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro. Không mấy ai sẵn sàng cho

vay khi những thông tin từ người vay không đảm bảo các khoản vay có khả năng và sẽ được thanh toán khi đến hạn.

1.1.2.4. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, người lao động

Dựa vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước sẽ tiến

hành phân tích tài chính để kiểm tra, đánh giá thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh

2

của doanh nghiệp, xem xét hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật không, tình hình hạch toán, và nghĩa vụ ngân sách đối với

Nhà nước.

Người lao động là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với quyền lợi của họ.

Họ quan tâm đến kết quả hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời, tình hình đầu tư, khả năng thanh toán (đặc biệt là khả năng thanh toán nhanh) v.v…

1.1.2.5. Đối với các đối thủ cạnh tranh

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường theo xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa,

cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt. Với một dòng sản phẩm tung ra thị trường đồng nghĩa với việc xuất hiện của hàng loạt các nhà sản xuất với hàng loạt các sản

phẩm có tính năng và công dụng tương tự. Các đối thủ cạnh tranh luôn muốn biết được

những thông tin liên quan đến chiến lược kinh doanh, tình hình tài chính của các

doanh nghiệp khác như khả năng sinh lời, hiệu quả sản xuất kinh doanh, tình hình đầu

tư, khả năng tạo vốn thông qua phát hành tín phiếu, trái phiếu…

Để có thể đáp ứng được nhu cầu thông tin đa dạng của các đối tượng khác nhau

về tình hình tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phân tích tài chính phải được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau, chính điều đó đã tạo điều kiện cho phân tích tài

chính ra đời ngày càng hoàn thiện và phát triển, đồng thời cũng tạo nên sự phức tạp

trong phân tích tài chính. Như vậy, phân tích tài chính là một công cụ hữu ích dùng để

xác định các giá trị kinh tế, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra

nguyên nhân khách quan và chủ quan để mang đến cho người sử dụng thông tin có cái

nhìn toàn diện về doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định phù hợp.

1.1.3. Ý nghĩa phân tích tài chính doanh nghiệp

Hoạt động tài chính là một bộ phận của sản xuất kinh doanh, có mối liên hệ trực

tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có ý nghĩa quyết định

trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều tác động đến tình hình tài chính của doanh nghiệp và ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh.

Phân tích tài chính cho phép nhận định tổng quát tình hình phát triển của doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán, sự hình thành và phát triển

của vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng của vốn để có biện pháp nâng cao chất lượng,

hiệu quả sử dụng vốn.

Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp cho

các nhà quản lý, chủ đầu tư cũng như những người sử dụng thông tin khác thấy được

3

thực trạng, tiềm năng kinh doanh của doanh nghiệp để có thể đưa ra các quyết định phù hợp nhất.

1.1.4. Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp

Thu thập và xử lý thông tin

Tiến hành phân tích

Dự đoán và quyết định

Lập kế hoạch phân tích

Sơ đồ 1.1. Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp

Lập kế hoạch phân tích

Lập kế hoạch phân tích là xác định trước về nội dung, phạm vi, thời gian và cách

tổ chức phân tích. Nội dung phân tích cần phải xác định rõ các vấn đề cần phân tích vì

đây là cơ sỏ để xây dựng đề cương để tiến hành phân tích. Tùy vào yêu cầu quản lý

thực tiễn mà phạm vi phân tích có thể là toàn bộ hoặc chọn một vài đơn vị làm điểm phân tích. Thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích bao gồm cả thời gian chuẩn bị

và thời gian tiến hành công tác phân tích. Cần phân công rõ trách nhiệm cho các bộ

phận trực tiếp thực hiện và bộ phận phục vụ công tác phân tích để thu thập được nhiều

ý kiến, đánh giá đúng thực trạng, phát hiện tiềm năng nhằm giúp doanh nghiệp phấn đấu đạt kết quả cao trong kinh doanh.

Thu thập và xử lý thông tin

Trong phân tích tài chính nhà phân tích cần thu thập và sử dụng mọi nguồn thông

tin từ thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ những thông tin

số lượng đến những thông tin giá trị, từ những thông tin lượng hóa được đến những

thông tin không lượng hóa được miễn là có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng

tài chính của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tài chính. Trên cơ sở thông

tin thu thập được, tùy vào yêu cầu và nội dung phân tích các nhà phân tích sẽ tiến hành

xử lý thông tin. Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp thông tin theo những mục tiêu

nhất định, tính toán các chỉ tiêu tài chính phù hợp, nhằm so sánh giải thích, đánh giá

được nguyên nhân, kết quả để phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.

Tiến hành phân tích

Tập trung phân tích cụ thể những nội dung cơ bản, những vấn đề được coi là

quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến tình hình hình tài chính của doanh nghiệp hiện tại và trong tương lai thông qua việc xác định các nhân tố ảnh hưởng, mối liên hệ giữa các nhân tố cũng như tác động của nó đến các chỉ tiêu phân tích từ đó lý giải nguyên nhân

của những ưu điểm cũng như tồn tại của doanh nghiệp.

4

Dự đoán và quyết định

Có thể nói lập kế hoạch, thu thập và xử lý thông tin là những bước tiền đề, chuẩn

bị các điều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đi đến mục

tiêu cuối cùng là đưa ra các quyết định tài chính. Nếu đối với người chủ doanh nghiệp,

phân tích tài chính giúp họ đưa ra các quyết định liên quan đến mục tiêu hoạt động của

doanh nghiệp là tăng trưởng, là phát triển, là tối đa hóa lợi nhuận thì đối với người cho vay và đầu tư là đưa ra các quyết định về tài trợ và đầu tư cho doanh nghiệp.

1.2. Tài liệu và phƣơng pháp phân tích tài chính

1.2.1. Tài liệu sử dụng trong phân tích

Trong phân tích tài chính cần phải thu thập và sử dụng mọi nguồn thông tin.Từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ nhưng thông

tin số lượng đến những thông tin giá trị để có thể làm rõ mục tiêu của dự đoán tài

chính để có thể đưa ra những nhận xét và kết luận phù hợp.

Trong những thông tin bên ngoài cần chú ý thu thập những thông tin chung:

thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, chính sách lãi suất, cơ hội kinh doanh…,

thông tin về ngành kinh doanh: thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh

tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành…, các thông tin kinh tế, pháp lý đối với

doanh nghiệp: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp,…

Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có

thể sử dụng các thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp. Thông tin kế toán trong

nội bộ doanh nghiệp được xem là nguồn thông tin quan trọng hàng đầu và được phản

ánh tương đối đầy đủ qua hệ thống báo cáo tài chính.

Báo cáo tài chính là những báo cáo được lập nhằm cung cấp thông tin về tình

hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Đáp ứng nhu

cầu của người quản lý, cơ quan nhà nước cũng như những người sử dụng trong việc

đưa ra các quyết định kinh tế.

Hệ thống báo cáo tài chính ở nước ta bao gồm:

- Bảng cân đối kế toán. Mẫu số B.01- DN

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Mẫu số B.02- DN

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Mẫu số B.03- DN

- Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Mẫu số B.09- DN

5

1.2.1.1. Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, cho biết tình hình tài sản theo

giá trị và nguồn hình thành tài sản tại thời điểm nhất định (tháng, quý, năm). BCĐKT

phản ánh mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, thể hiện

qua phương trình kế toán cơ bản:

Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn

Tổng tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu

BCĐKT gồm hai phần, phần “Tài sản” và phần “Nguồn vốn”

Tài sản Nguồn vốn

Phản ánh quy mô và kết cấu của Phản ánh quy mô và cơ cấu vốn Nội dung

TS, được chia làm hai phần: của DN, gồm:

-Tài sản ngắn hạn: Đây là TS -Nợ phải trả: Những khoản tiền

thuộc quyền sở hữu của doanh mà DN đi vay, chiếm dụng của

nghiệp mà có thời gian sử dụng người khác và có trách nhiệm

dưới một năm hoặc một chu kỳ hoàn trả.

sản xuất kinh doanh. -Vốn chủ sở hữu: Là những

- Tài sản dài hạn: Bao gồm toàn nguồn vốn thuộc sở hữu của

bộ những TS có thời gian sử chủ DN và những thành viên

tham gia góp vốn.

dụng, thu hồi trên một năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh.

Đánh giá tổng quát về năng lực Cho thấy thực trạng tình hình Ý Kinh

và trình độ sử dụng TS. tài chính của DN. nghĩa tế

Phản ánh toàn bộ những TS hiện Thể hiện trách nhiệm pháp lý Pháp

có thuộc quyền quản lý, sở hữu của của DN đối với Nhà nước, với lý

DN.

các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng và các đơn vị kinh tế khác.

Tuy BCĐKT nói riêng cũng như các báo cáo tài chính nói chung có mặt hạn chế là làm ảnh hưởng đến việc phân tích tài chính doanh nghiệp do dữ liệu mà chúng cung cấp là của quá khứ trong khi phân tích lại hướng đến tương lai nhưng bảng cân đối kế toán vẫn là dữ liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng tài chính, khả năng thanh toán cũng như khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, dựa vào bảng cân đối kế toán, các nhà phân tích có thể nhận biết được

6

loại hình doanh nghiệp, cũng như quy mô và mức độ tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp.

1.2.1.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Một thông tin cũng không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài

chính là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Khác với BCĐKT, BCKQHĐKD là

báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tình hình kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước, thuế

và các khoản phải nộp khác trong những thời kỳ nhất định. BCKQHĐKD cho biết

mức lãi, lỗ của doanh nghiệp bằng cách lấy tất cả các khoản tạo nên doanh thu trừ đi

chi phí tương ứng. Nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến chính sách cổ tức, trích lập các quỹ như quỹ khen thưởng, phúc lợi xã hội, quỹ đầu tư tài chính. Các chỉ tiêu trong

báo cáo còn là tiền đề để dự báo dòng tiền trong tương lai, làm căn cứ tính toán thời

gian thu hồi vốn đầu tư, giá trị hiện tại ròng… BCKQHĐKD cũng là tài liệu quan

trọng cho các đối tượng khác nhau để có thể đánh giá, kiểm tra phân tích tình sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp qua từng thời kỳ, so sánh với các kỳ khác để đánh giá

khái quát về tình hình hoạt động cũng như xu hướng vận động nhằm đưa ra các quyết

định quản lý tài chính phù hợp.

1.2.1.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà doanh nghiệp phải lập để cung

cấp thông tin cho người sử dụng. Phản ánh luồng tiền ra, vào doanh nghiệp, tình hình

tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp qua từng thời kỳ.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin về dòng tiền ra vào, các khoản

tương đương tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn có tính lưu động cao, có thể nhanh chóng

chuyển đổi thành tiền, ít chịu rủi ro do biến động lãi suất. Được chia làm ba nhóm:

- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Phản ánh dòng tiền thu, chi từ hoạt động kinh doanh. Nguồn tiền ở đây chủ yếu thu về từ bán hàng và cung cấp dịch vụ.

- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: Phản ánh dòng tiền thu, chi từ các hoạt động đầu tư như mua bán cổ phiếu, trái phiếu, góp vốn kinh doanh, lãi đầu tư vào

các vị khác, thu từ thanh lý tài sản cố định…

- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính: Phản ánh dòng tiền thu, chi liên quan trực tiếp đến các hoạt động tài chính của doanh nghiệp như mua lại cổ phiếu của

chủ sở hữu, trả cổ tức cho cổ đông…

7

1.2.1.4. Thuyết minh báo cáo tài chính

Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành của cácbáo cáo tài chính

doanh nghiệp. Được lập nhằm cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, kinh doanh

chưa có trong các báo cáo tài chính. Đồng thời giải thích thêm các chỉ tiêu mà báo cáo

Nội dung của thuyết minh báo cáo tài chính gồm:

tài chính chưa được trình bày, giải thích một cách rõ ràng, cụ thể.

- Trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của DN.

- Các chế độ kế toán mà doanh nghiệp áp dụng.

- Tình hình và lí do biến động một số đối tượng tài sản, nguồn vốn.

- Phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và kiến nghị của DN.

Mỗi báo cáo tài chính cung cấp thông tin khác nhau nhưng chúng lại có quan hệ mật thiết với nhau, phản ánh các khía cạnh khác nhau của cùng một nghiệp vụ, sự

kiện. Vì vậy, để có thể đánh giá đúng được tình hình tài chính của doanh nghiệp chúng

ta phải xem xét dựa trên hệ thống báo cáo này và phân tích tình hình tài chính doanh

nghiệp thông qua các báo cáo đó.

1.2.2. Phương pháp phân tích

Để đánh giá kết quả hoạt động kinh tế cũng như kết quả của việc thực hiện các mục tiêu do chính doanh nghiệp đặt ra, cần phải áp dụng những phương pháp phân

tích phù hợp. Trên thực tế, có nhiều phương pháp được sử dụng như phương pháp so

sánh, phương pháp phân chia các hiện tượng và kết quả kinh tế, phương pháp tỷ lệ,

phương pháp Dupont, phương pháp thay thế liên hoàn… Tuy nhiên, trong phạm vi

khóa luận này, em chỉ trình bày những phương pháp chủ yếu sau:

1.2.2.1. Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và

phân tích tài chính nói riêng.

Phương pháp này tiến hành so sánh các báo cáo tài chính qua nhiều năm. Để áp

dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện so sánh của các chỉ tiêu tài chính là phải thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị hạch toán… tùy theo mục đích mà xác định gốc so sánh. Nội dung so sánh gồm:

- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với kỳ trước để thấy được tốc độ, xu hướng

phát triển cũng như kết quả tài chính của doanh nghiệp.

- So sánh giữa số thực hiện với mục tiêu đề ra để thấy được khả năng hoàn thiện

công việc của doanh nghiệp.

8

- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác và với chỉ tiêu trung bình ngành để biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp mình đang ở

mức nào, tốt hay xấu, tiên tiến hay lạc hậu.

Trong phân tích người ta thường sử dụng hai kỹ thuật so sánh:

- Kỹ thuật so sánh tuyệt đối: Là hiệu giữa trị số của chỉ tiêu kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu của kỳ gốc. Thể hiện được độ lớn của các chỉ tiêu nhưng không thấy được mối liên hệ giữa các chỉ tiêu.

- Kỹ thuật so sánh bằng số tương đối: Là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Kỹ thuật này không những cho

thấy sự thay đổi về độ lớn của các chỉ tiêu, khoản mục mà còn cho thấy mối liên hệ giữa chúng

- Quá trình phân tích so sánh có thể diễn ra theo chiều ngang hoặc chiều dọc.

Khi thực hiện theo phương pháp so sánh, số liệu cần bảo đảm các điều kiện sau:

- Cùng nội dung kinh tế, cùng đơn vị đo lường và cùng một khoảng thời gian

nhất định.

- Phương pháp tính phải thống nhất.

- Các chỉ tiêu phải có quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau.

1.2.2.2. Phương pháp tỷ lệ

Là phương pháp được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính. Đây là phương

pháp có tính hiệu lực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn

thiện giúp cho các nhà phân tích khai thác có hiệu quả số liệu, phân tích có hệ thống

các số liệu tỷ lệ theo thời gian liên tục vì các lý do sau:

Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán được hoàn thiện và cung cấp đầy đủ hơn, là cơ

sở hình thành nên những tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ lệ của một doanh

nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.

Thứ hai, việc áp dụng công nghệ thông tin cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy

nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ.

Thứ ba, giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt các tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn.

Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, cần xác định các ngưỡng, các tỷ số

tham chiếu như tỷ số trung bình ngành hay số kỳ trước. Để đánh giá tình hình tài chính

doanh nghiệp cần so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu.

Cho phép đánh giá từng khả năng tài chính của doanh nghiệp. Đây là phương pháp đòi hỏi thông tin được tập hợp từ bốn báo cáo của doanh nghiệp do đó ta có thể

9

nhìn nhận tương đối tổng quát về khả năng thanh toán, cơ cấu tài chính… của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đỏi hỏi người phân tích ngoài khả

năng tính toán còn phải có kiến thức và khả năng chuyên môn tương đối rộng để đưa

ra những nhận xét chính xác, làm tăng hiệu quả phân tích.

1.2.2.3. Phương pháp Dupont

Phương pháp Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống, tích hợp nhiều yếu tố

của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán.

Hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE là thông số dùng để đo lường hiệu suất

chung của doanh nghiệp, cho biết hiệu quả của doanh nghiệp trong việc tạo ra thu

nhập cho các cổ đông của họ.

ROE xem xét lợi nhuận ròng trên mỗi đồng tiền của vốn chủ sở hữu mang đi đầu

tư, nói cách khác đó là phần trăm lợi nhuận thu được của chủ sở hữu trên vốn đầu tư của mình.

Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên

ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản. Mối quan hệ này được thể

hiện bằng phương pháp Dupont như sau:

Hay:

Mô hình Dupont có thể triển khai tiếp tục như sau:

Trên cơ sở nhận biết ba nhân tố trên, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp làm tăng ROE như sau:

- Tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ

vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động.

- Tăng hiệu suất sử dụng tài sản. Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về

cơ cấu của tổng tài sản.

- Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm. Từ đó tăng

lợi nhuận của doanh nghiệp.

10

1.3. Nội dung phân tích

1.3.1. Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp

1.3.1.1. Phân tích cơ cấu tài sản

Kết cấu tài sản của doanh nghiệp gồm hai loại: tài sản ngắn hạn và tài sản dài

hạn. Trong mỗi loại lại có nhiều tài sản khác nhau, mỗi doanh nghiệp lại có các loại tài

sản khác nhau. Phân tích cơ cấu về tài sản là một chỉ tiêu hết sức có ý nghĩa. Một

doanh nghiệp có cơ cấu tài sản hợp lý không những sử dụng hiệu quả mà còn tiết kiệm được nguồn vốn trong kinh doanh.

Phân tích sự biến động của tài sản nhằm xem xét mức độ hợp lý của việc phân phối và sử dụng tài sản, đánh giá được sự biến động của các nhân tố cấu thành nên tài sản.

Phân tích biến động của tài sản không những chỉ so sánh số đầu kỳ và cuối kỳ để thấy

được sự biến động của quy mô tổng tài sản mà còn phải xem xét sự biến động của

từng khoản mục trong tổng tài sản để thấy được mức độ đảm bảo cho kinh doanh.

1.3.1.2. Phân tích cơ cấu nguồn vốn

Nguồn vốn của DN được chia thành hai loại:

Loại 1: Nợ phải trả phản ánh tình hình công nợ của doanh nghiệp

Loại 2: Nguồn vốn chủ sở hữu, phản ánh về khả năng tự chủ về tài chính của DN.

Phân tích cơ cấu NV là việc xem xét tỷ trọng từng loại NV trong tổng nguồn

cũng như xu hướng biến động của từng NV cụ thể. Qua đó, đánh giá được sự biến

động về mặt tài chính cũng như mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp.

Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng NV thì chứng tỏ khả

năng độc lập về tài chính và mức độ tự chủ của DN với các ngân hàng, nhà cung cấp là

cao và ngược lại.

Khi phân tích cơ cấu NV, cần tính và so sánh tỷ trọng của từng NV trong tổng

nguồn giữa đầu kỳ và cuối kỳ, giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc. Đồng thời, so sánh cả số tuyệt đối cũng như số tương đối giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của từng NV cụ thể để có thể đưa ra nhận xét về khả năng đảm bảo và tự chủ về mặt tài chính của DN.

Bên cạnh đó, viêc phân tích cơ cấu NV cũng giúp cho các nhà phân tích nắm

được các chỉ tiêu liên quan đến tình hình tài chính của DN, là cơ sở để xác định tính hợp lý về cơ cấu cũng như mức độ biến động của NV trong DN.

1.3.1.3. Phân tích cân đối tài sản và nguồn vốn

Mối quan hệ giữa TS và NV thể hiện sự tương quan về cơ cấu cũng như giá trị TS của DN, bên cạnh đó cũng phản ánh mối tương quan giữa chu kỳ luân chuyển TS

và chu kỳ thanh toán NV. Do sự vận động của TS tách rời với thời gian sử dụng NV

11

nên việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố của TS và NV sẽ chỉ ra được mức độ hợp lý giữa NV huy động được và việc sử dụng chúng.

Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có tài sản bao gồm

TSNH và TSDH. Để hình thành 2 loại tài sản này phải có các nguồn vốn tài trợ tương

ứng bao gồm vốn ngắn hạn và vốn dài hạn.

Nguồn vốn dài hạn trước hết được đầu tư để hình thành TSDH, phần dư của nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư hình thành TSNH. Chênh lệch

giữa nguồn vốn dài hạn với TSDH hay giữa TSNH với nguồn vốn ngắn hạn được gọi

là vốn lưu động thường xuyên. Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào

mức độ của VLĐ thường xuyên. Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, ta cần tính toán và so sánh giữa nguồn vốn với tài sản.

- Khi nguồn vốn dài hạn < TSDH

Nghĩa là nguồn vốn thường xuyên < 0. Nguồn vốn dài hạn không đủ đầu tư cho

TSDH. Doanh nghiệp phải đầu tư vào TSDH bằng một phần nguồn vốn ngắn hạn,

TSNH khôngd dáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của

doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệp phải dùng 1 phần TSDH để thanh toán nợ

ngắn hạn đến hạn trả, trong trường hợp như vậy giải pháp của doanh nghiệp là cần

tăng cường huy động vốn ngắn hạn hợp pháp hoặc giảm qui mô đầu tư dài hạn hoặc

thực hiện đồng thời cả 2 giải pháp đó.

- Khi nguồn vốn dài hạn > TSDH

Tức là VLĐ thường xuyên > 0, nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào

TSDH, phần thừa đó đầu tư vào TSNH, đồng thời TSNH > nguồn vốn ngắn hạn, do

vậy khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt. Vốn thường xuyên = 0 nghĩa là nguồn

vốn dài hạn tài trợ đủ cho TSNH và TSDH đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn

hạn, tình hình tài chính như vậy là lành mạnh.

1.3.2. Phân tích tài chính thông qua kết quả hoạt động kinh doanh

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và hiệu quả hoạt động kinh doanh chính và hoạt động khác tình

hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các khoản nộp báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần:

Phần 1: Lãi - Lỗ: phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp bao gồm hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác. Tất cả các chỉ tiêu trong

phần này đều trình bày số liệu của kỳ trước tổng số phát sinh trong kỳ báo cáo.

Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước.

12

Phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác. tất cả các chỉ tiêu trong phần này đều được trình bày: số còn phải nộp kỳ

trước chuyển sang, số còn phải nộp phát sinh trong kỳ báo cáo, số đã nộp trong kỳ báo

cáo, số còn phải nộp đến cuối lỳ báo cáo.

Phần 3: Thuế giá trị gia tăng (GTGT) được khấu trừ, được miễn giảm, được hoàn

lại: phản ánh số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, đã khấu trừ, và còn được khấu trừ ở cuối kỳ số thuế giá trị gia tăng được hoàn lại, đã hoàn lại và còn được hoàn lại cuối

kỳ.

Số thuế giá trị gia tăng được miễn giảm, đã miễn giảm và còn được miễn giảm.

Cơ sở số liệu để lập báo cáo kết quả kinh doanh là sổ kế toán trong kỳ các tài khoản từ loại 5 đến loại 9, tài khoản 333 và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ

trước.

1.3.3. Phân tích tài chính thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính phản ánh các khoản thu và chi

tiền trong kỳ của doanh nghiệp theo các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và

hoạt động tài chính. Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ thanh toán có thể đánh giá khả

năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần, khả năng thanh toán và dự đoán được

bằng tiền trong kỳ tiếp theo của doanh nghiệp.

So sánh các chỉ tiêu trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo chiều ngang thông qua

số tuyệt đối và tương đối để thấy được quy mô và tốc độ tăng, giảm của các chỉ tiêu

ảnh hưởng tới thanh toán và chất lượng dự toán tiền của kỳ tới. Từ đó so sánh bằng số

tuyệt đối và tương đối giữa kỳ này với kỳ trước của từng khoản mục, từng chỉ tiêu trên

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ để thấy sự biến động về khả năng tạo ra tiền của từng hoạt

động, sự biến động của từng khoản thu, chi. Việc phân tích có ý nghĩa quan trọng

trong việc xác định xu hướng tạo ra tiền của các hoạt động trong doanh nghiệp làm

tiền đề trong việc dự đoán tiền trong kỳ tới.

1.3.4. Phân tích tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính

Các chỉ tiêu tài chính cung cấp những thông tin cơ bản về doanh nghiệp, những

đặc trưng riêng về tính chất kinh tế, chiến lược cạnh tranh cũng như hoạt động của doanh nghiệp. Thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính, có thể so sánh được mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận của các doanh nghiệp có quy mô khác nhau để có thể

giúp các nhà đầu tư, các chủ nợ đưa ra quyết định đầu tư, cho vay đúng đắn. Tuy

nhiên, nếu bỏ qua sự khác biệt về ngành, chế độ kế toán áp dụng, ảnh hưởng của cơ cấu vốn lưu động… trong quá trình phân tích thì rất dễ dẫn đến hiểu lầm. Những khuynh hướng biến động của một chỉ tiêu tài chính và sự khác biệt về thời gian có thể

13

cung cấp nhiều thông tin hơn, chính vì thế, đòi hỏi trong quá trình phân tích khả năng đánh giá những thay đổi trong báo cáo qua các năm với từng khoản đầu tư cụ thể và

khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành tại thời điểm xác định.

Thông thường có bốn nhóm chỉ tiêu chính:

1.3.4.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của DN. Khả năng thanh toán của DN phản ánh mối quan hệ tài

chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán

trong kỳ. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu này đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của DN. Cho biết mức độ đảm bảo củaTSNH trong việc chi trả các khoản nợ NH. Nợ NH là các

khoản nợ phải chi trả trong kỳ, do đó doanh nghiệp phải sử dụng một phần TS thực có của mình chuyển đổi thành tiền để trả nợ và TSNH là TS có khả năng chuyển đổi

thành tiền cao nhất trong số các TS mà DN nắm giữ.

Chỉ tiêu này đo lường mức thanh khoản cao hơn, cho biết khả năng chi trả các

khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán các tài sản dự trữ trong kho vì hàng

tồn kho có độ thanh khoản kém nhất trong số các tài sản ngắn hạn.

Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện khả năng thanh toán nhanh càng cao. Tuy nhiên,

nếu quá lớn lại dẫn đến tình trạng mất cân đối vốn lưu động, tập trung qua nhiều vào

vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn… có thể không mang lại hiệu quả.

Thông thường, chỉ tiêu này thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn

nếu <1 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán.

Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán bằng tiền mặt khắt khe hơn chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh. Chỉ tiêu này thường được sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp có hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và tỷ số khả năng thanh toán nhanh

cao tuy nhiên vẫn không có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn

14

thanh toán do các khoản phải thu chưa thu hồi được, hàng tồn kho cũng chưa chuyển hóa được thành tiền.

Thông thường 0,5 khả năng thanh toán tức thì

1. Nếu hệ số này quá cao, đồng nghĩa với việc sử dụng không hiệu quả quỹ tiền mặt, doanh nghiệp luôn chuẩn bị

sẵn sàng để trả nợ tuy nhiên những thời điểm trả nợ diễn ra không liên tục sẽ khiến

gây lãng phí nguồn tiền, mất cơ hội đầu tư.

1.3.4.2. Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời

Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là một trong những nội dung được các nhà quản trị, các nhà đầu tư, cho

vay đặc biệt quan tâm bởi nó gắn liền với lợi ích của họ.

Đánh giá khả năng sinh lời của doanh thu là xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ

với doanh thu. Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần tạo ra bao nhiêu đồng

lợi nhuận sau thuế. Thông thường, những doanh nghiệp có chỉ tiêu này cao là những

doanh nghiệp quản lý chi phí khá tốt trong hoạt động kinh doanh của mình.

Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng sinh lời của tài sản, phản ánh mối quan

hệ giữa lợi nhuận với tổng tài sản của doanh nghiệp. Cho biết trong 100 đồngTS bỏ ra

thì thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của vốn, trong 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra đầu tư thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.

1.3.4.3. Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý tài sản

Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên, nguồn lực

của doanh nghiệp.

15

Hệ số thu nợ là một chỉ tiêu thể hiện mức độ đầu tư vào các khoản phải thu để duy trì mứ doanh số bán hàng cần thiết cho DN, cho thấy tính hiệu quả của chính sách

tín dụng mà doanh nghiệp áp dụng đối với các bạn hàng. Chỉ số này càng cao sẽ cho

thấy doanh nghiệp được khách hàng trả nợ càng nhanh. Nhưng nếu so sánh với các

doanh nghiệp cùng ngành mà chỉ số này vẫn quá cao thì có thể doanh nghiệp sẽ có thể

bị mất khách hàng vì các khách hàng sẽ chuyển sang tiêu thụ sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh cung cấp thời gian tín dụng dài hơn làm cho doanh nghiệp bị sụt giảm

doanh số. Khi so sánh chỉ số này qua từng năm, nhận thấy sự sụt giảm thì rất có thể là

doanh nghiệp đang gặp khó khăn với việc thu nợ từ khách hàng và cũng có thể là dấu

hiệu cho thấy doanh số đã vượt quá mức.

Chỉ tiêu này cho biết số ngày trung bình mà DN có thể thu được tiền của khách

hàng từ khi xuất hàng đến khi thu tiền về. Thời gian thu nợ trung bình càng dài chứng tỏ thời gian thu hồi nợ chậm hơn, vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng nhiều trong khâu

thanh toán, kéo theo nhu cầu về vốn gia tăng trong điều kiện sản xuất với quy mô

không đổi. Điều này cho thấy chính sách tín dụng của doanh nghiệp kém hiệu quả hoặc

do chính sách nới lỏng tín dụng của DN với bạn hàng nhằm mở rộng doanh số hoạt động.

Hệ số này thể hiện số lần bình quân mà hàng hóa tồn kho luân chuyển trong kỳ. Hệ số này càng lớn chứng tỏ hàng hóa được luân chuyển càng nhiều, hàng hóa không

bị ứ đọng nhiều trong kho, chi phí lưu kho thấp, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.

Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho. Số ngày của một vòng hàng tồn kho là khoảng thời gian được tính từ khi doanh nghiệp bỏ tiền ra mua nguyên vật liệu đến khi sản xuất xong sản phẩm.

Thông thường, so với kì trước khi vòng quay hàng tồn kho giảm hay số ngày một vòng quay hàng tồn kho tăng lên cho thấy thời gian hàng còn lại trong kho dài hơn, vốn ứ đọng nhiều hơn làm tăng nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong điều kiện quy mô

sản xuất không đổi. Có nhiều trường hợp vòng quay hàng tồn kho giảm là do kết quả của việc tăng dự trữ kho nhằm đáp ứng theo hợp đồng, hoặc do mùa vụ cũng có thể do tình trạng cạn kho của doanh nghiệp hay thu hẹp quy mô sản xuất. Chính vì thế, để có

16

thể đánh giá đúng các chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho và thời gian luân chuyển kho trung bình thì ngoài việc so sánh vòng quay hàng tồn kho với kỳ trước cũng cần xem

xét tác động của các nhân tố khác như giá vốn hàng bán, hàng tồn kho…

Chỉ tiêu này phản ánh thời gian chiếm dụng vốn của doanh nghiệp. Hệ số này

càng nhỏ thì thời gian chiếm dụng vốn càng dài. Tuy nhiên nếu chiếm dụng vốn quá

lâu sẽ làm giảm uy tín của doanh nghiệp.

Chỉ tiêu này cho biết số ngày trung bình của một kỳ trả nợ. Chỉ tiêu này càng lớn

thì càng có lợi cho doanh nghiệp vì không mất chi phí sử dụng vốn.

Hiệu suất sử dụng TSDH nói lên mức độ đầu tư vốn vào TSDH để tạo ra doanh

thu, cho biết một đồng TSDH thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hiệu

suất sử dụng TSDH đo lường hiệu quả quản trị bộ phận TSDH đối với hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có hiêu suất sử dụng TSDH là

thấp so với doanh nghiệp khác hoặc giảm so với năm trước thường được đánh giá là chưa hiệu quả. Tuy vậy, nhận xét trên chưa hẳn đã hoàn toàn đúng bởi lẽ mức độ và xu

hướng biến động của chỉ số này còn phụ thuộc vào những nhân tố khác cấu thành nên

nó như vòng đời của công ty, chu kỳ sống của sản phẩm, thời điểm hình thành nên

TSDH, phương pháp trích khấu hao… Bởi vậy, khi phân tích cần phải xem xét kỹ

lưỡng xu hướng biến động của chỉ số này.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động luân chuyển không ngừng. Hiệu quả sử dụng TSNH là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng tài sản kinh doanh nói chung của

doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng TSNH cho biết một đồng TSNH thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hệ số này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả.

17

Hiệu suất sử dụng tài sản phản ánh khả năng sử dụng tổng TS của công ty. Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hệ

số này thể hiện hiệu quả đầu tư chung bằng cách dựa vào tác động qua lại của cả tài

sản NH và DH. Hệ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tài sản cho hoạt

động sản xuất kinh doanh càng tốt điều đó có nghĩa là doanh nghiệp cần ít tài sản hơn

để duy trì mức độ sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp đặt ra. Việc so sánh hệ số này với hệ số của các doanh nghiệp khác cùng ngành có thể chỉ ra những hiệu quả hoặc cơ

hội tiềm tàng của doanh nghiệp.

1.3.4.4. Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý nợ

Nhóm chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu này dùng để đo lường phần vốn

góp của chủ sở hữu so với phần tài trợ của các nhà cho vay và cũng thể hiện mức độ

tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho các khoản nợ vay.

Tỷ số nợ nói lên trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn nợ chiếm

bao nhiêu phần trăm. Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh

nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn. Tỷ số này càng thấp thì càng có lợi cho

chủ nợ vì các khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp bị phá sản. Và ngược lại,

càng cao thì càng có lợi cho chủ doanh nghiệp vì họ có thể tăng lợi nhuận để lại và có

toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Nhưng nếu tỷ số nợ quá cao, doanh nghiệp dễ rơi

vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Trong đó:

Số lần thu nhập hoạt động trên lãi vay (hệ số khả năng thanh toán lãi vay) là một hệ số quan trọng trong các chỉ số về cơ cấu vốn, cho thấy lợi nhuận trước thuế và lãi

vay có đủ bù đắp lãi vay hay không. Tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng vốn vay và mức độ đảm bảo trả nợ lãi vay cho các chủ nợ bằng các khoản lợi nhuận thu được

hàng năm như thế nào. Khả năng thanh toán lãi vay càng cao thì khả năng thanh toán

lãi của doanh nghiệp cho các chủ nợ của mình càng lớn. Mặt khác, đảm bảo tính hợp

lý về cơ cấu vốn vay và vốn chủ sở hữu. Tỷ số này càng cao thì rủi ro mất khả năng chi trả lãi vay càng thấp và ngược lại. Việc không hoàn trả nợ có thể dẫn đến nguy cơ

18

doanh nghiệp bị phá sản. Vì thế, những gì mà một doanh nghiệp cần phải đạt tới là tạo ra một độ an toàn hợp lý, bảo đảm khả năng thanh toán cho các chủ nợ của mình.

1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hoàn thiện phân tích tài chính trong doanh nghiệp

1.4.1. Nhân tố chủ quan

Thông tin sử dụng

Phân tích tài chính đòi hỏi phải có một hệ thống thông tin rõ ràng và đầy đủ và thường xuyên cập nhật. Bởi lẽ, thông tin càng cụ thể, chi tiết thì kết quả phân tích mới

thực sự hiệu quả và có thể cung cấp đầy đủ, chính xác và trung thực nhất về thực trạng

của doanh nghiệp với người sử dụng kết quả của phân tích đó, việc này cũng giúp cho việc đưa ra các giải pháp được tối ưu hơn.

Số liệu của các báo cáo được coi là một trong những thông tin không thể thiếu

trong phân tích tài chính. Số liệu có rõ ràng, đầy đủ thì việc tính toán ra các chỉ tiêu

mới chính xác và việc phân tích mới thực sự hiệu quả. Việc so sánh với các chỉ tiêu

trung bình ngành cũng là một thông tin quan trọng. Thông qua đối chiếu với hệ thống

chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản lý tài chính biết được vị thế của doanh nghiệp

mình, từ đó đánh giá được thực trạng tài chính doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản

xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mình.

Trình độ cán bộ phân tích

Hiện nay, không khó để tìm kiếm thông tin, số liệu về một doanh nghiệp nhưng

việc làm sao để đưa nó vào các báo cáo phân tích để làm nên một báo cáo phân tích

thực sự hiệu quả thì lại không hề đơn giản, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một

đội ngũ cán bộ chuyên trách để có thể tái hiện toàn bộ thực trạng của doanh nghiệp

mình thông qua các phương pháp phân tích tài chính. Bằng kĩ năng và nghiệp vụ của

mình, các nhà phân tích sẽ thu thập, xử lí những số liệu thô, tính toán ra các chỉ tiêu,

thiết lập bảng biểu… bên cạnh đó, các nhà phân tích sẽ gắn kết, tạo mối liên hệ giữa

các chỉ tiêu, kết hợp với những thông tin và hoàn cảnh cụ thể để có thể lý giải về tình hình tài chính của doanh nghiệp, tìm ra điểm mạnh điểm yếu và hướng đi mới để khắc phục những điểm yếu đó một cách hiệu quả nhất.

Công nghệ và phần mềm sử dụng trong phân tích

Việc phân tích tài chính đòi hỏi phải thu thập và xử lý một lượng thông tin vô cùng lớn, được thu thập từ nhiều nguồn, có nhiều phép tính phức tạp phải tính toán

nhiều, đòi hỏi độ chính xác cao. Việc này nếu sử dụng các phương pháp thủ công và

chỉ sử dụng con người thì rất khó để có thể làm việc với khối lượng thông tin khổng lồ như vậy và đương nhiên, việc tính toán nhiều sẽ khó có thể tránh khỏi sai sót, nhầm

lẫn cũng như không đáp ứng được về mặt thời gian cho người sử dụng.

19

Trong thời đại khoa học hiện đại trở nên phổ biến và phát triển như hiện nay, việc ứng dụng các thành quả công nghệ thông tin có vai trò quan trọng trong việc nâng

cao chất lượng, cập nhật các thông tin và những sáng chế mới, giúp cho doanh nghiệp

có khả năng phát triển một cách vững vàng.

Việc ứng dụng những phần mềm thống kê, thu thập số liệu, phân tích tài chính,

phần mềm kế toán hiện đại sẽ giúp cho doanh nghiệp nâng cao được độ chính xác của các thông tin, các con số tính toán, các chỉ số quan trọng trong báo cáo tài chính. Từ

đó, các báo cáo tài chính sẽ trở nên đáng tin cậy hơn, đưa ra được tình hình thực tế

hoạt động tài chính hiện tại của doanh nghiệp, cung cấp cái nhìn đúng đắn cho những

nhà quản trị doanh nghiệp, quản lý Nhà nước, những đối tượng quan tâm khác đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Tần suất phân tích tài chính

Để đánh giá mức độ hoàn thiện của phân tích tài chính thì tần suất phân tích cũng

là một chỉ tiêu quan trọng. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp chỉ tiến hành phân tích

tài chính doanh nghiệp một năm một lần, thường là cuối năm sau khi hoàn thiện 4 báo

cáo tài chính, trên cơ sở đó các doanh nghiệp mới tiến hành phân tích các chỉ tiêu tài

chính để đánh giá doanh nghiệp trong 1 năm vừa qua so với kế hoạch đề ra, so với

năm trước như thế nào. Như vậy, thông tin cung cấp chưa được cập nhật liên tục, các

thông tin đôi khi phản ảnh không sát với thực tế kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm ra quyết định vì thế gây khó khăn cho việc ra quyết định của người sử dụng

thông tin. Do vậy, để khắc những hạn chế đó các doanh nghiệp cần phải thường xuyên

cập nhật thông tin phục vụ cho việc phân tích cũng như tránh sai sót trong việc nhập

số liệu. Đồng thời cũng tăng tần suất phân tích các chỉ tiêu tài chính theo quý thậm chí

theo tháng tùy vào tình hình sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.

Sự quan tâm của lãnh đạo doanh nghiệp

Đây cũng là một nhân tố tích cực trong việc góp phần hoàn thiện phân tích tài

chính doanh nghiệp. Các nhà lãnh đạo có quan tâm và hiểu được tầm quan trọng của việc phân tích tài chính thì mới đầu tư công nghệ và phần mềm phục vụ cho công việc này, đào tạo nhân viên thành đội ngũ chuyên nghiệp, xây dựng các quy trình phân tích khoa học cho nhân viên thực hiện, chỉ đạo sự phối hợp giữa các phòng ban trong việc

cung cấp thông tin, hồi âm kết quả, áp dụng các giải pháp mà việc phân tích tài chính đưa ra để làm tốt hơn quá trình phân tích sau.

1.4.2. Nhân tố khách quan

Bên cạnh những yếu tố nội tại của doanh nghiệp cũng còn nhiều nhân tố khác

ảnh hưởng đến kết quả việc hoàn thiện phân tích tài chính như sau:

20

Khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách của Nhà nước

Đây là một yếu tố ảnh hưởng tương đối lớn đến việc hoàn thiện phân tích tài

chính doanh nghiệp. Hoạt động của doanh nghiệp bị chi phối bởi các điều luật, quy

định do Nhà nước đặt ra. Luật pháp yêu cầu các doanh nghiệp hoạt động phải có đầy

đủ hệ thống báo cáo tài chính theo quy định của Nhà nước. Môi trường pháp lý có thể

tác động đến tình hình tài chính doanh nghiệp theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Việc tạo ra khuôn khổ pháp lý phù hợp trong lĩnh vực tài chính sẽ giúp doanh nghiệp có

định hướng rõ ràng hơn.

Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành

Hầu hết các doanh nghiệp khi đi vào hoạt động cũng chịu sự chi phối của các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Chính vì thế, việc sử dụng hệ thống các chỉ tiêu trung bình

ngành trong quá trình phân tích là không thể thiếu. Hệ thống các chỉ tiêu trung bình

ngành là một cơ sở tham chiếu quan trọng khi tiến hành phân tích làm cho việc phân

tích tài chính đầy đủ và có ý nghĩa hơn. Qua việc đối chiếu với các chỉ tiêu trung bình

ngành cho thấy được vị thế của doanh nghiệp, thực trạng tài chính cũng như thực chất

hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Chế độ kế toán hiện hành

Chế độ kế toán khi doanh nghiệp áp dụng vào thực tế còn gặp nhiều bất cập.

Việc thay đổi chính sách thuế, chế độ kế toán áp dụng, hướng dẫn thực hiện,… cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định và tính toán các chỉ tiêu tài chính.

21

2CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ THUẬN THIÊN

2.1. Khái quát chung về công ty

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty

- Tên đầy đủ: CÔNG TY TNHH KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ THUẬN

THIÊN

- Tên viết tắt: THUAN THIEN TECHNOLOGY AND ENGINEERING

CO.,LTD

- Mã số thuế: 0102589641

- Trụ sở chính và văn phòng đại diện : Số 6, A13,Đầm Trấu, Bạch Đằng, Hai Bà

Trưng, Hà Nội.

- Phòng giao dịch: Phòng 1106 - Nhà N5d - Khu Trung Hòa - Nhân Chính -

Thanh Xuân - Hà Nội.

- Vốn đăng ký kinh doanh: 1.500.000.000 VNĐ (Một tỷ năm trăm triệu đồng

VN).

- Lĩnh vực kinh doanh: Kinh doanh và phân phối: Máy bơm nước - Máy Phát

điện - Hàng hoá, thiết bị nghành điện, vật tư ngành nước.

Công ty TNHH Kỹ thuật & Công nghệ Thuận Thiên được thành lập vào ngày

31/12/2007 theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Với nhu cầu ngày càng cao về các thiết bị vật tư ngành điện - nước, phòng cháy

chữa cháy của thị trường, công ty TNHH Kỹ thuật và Công nghệ Thuận Thiên đã được

ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó. Công ty Thuận Thiên tự hào là nhà cung cấp các

thiết bị liên quan đến ngành nước, máy bơm, máy phát điện, thiết bị chữa cháy chuyên

dụng, chính hãng cho thị trường trong nước.

Không chỉ cung cấp vật tư – trang thiết bị, với đội ngũ cán bộ công nhân viên lành nghề và được đào tạo tại nước ngoài Công ty TNHH Kỹ thuật và Công nghệ

Thuận Thiên là một trong những đơn vị hàng đầu về cung cấp giải pháp và xử lý nước thải. Thuận Thiên có thể xử lý những nguồn nước ô nhiễm, nước thải hóa chất, nước

thải bệnh viện,... thành những nguồn nước an toàn nhất.

Ngoài ra, Công ty TNHH Kỹ thuật và Công nghệ Thuận Thiên cùng đơn vị cộng tác là trung tâm phòng cháy chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn Việt Nam chuyên cung cấp các dịch vụ lắp đặt, bảo dưỡng bảo hành, cho thuê phương tiện phòng cháy chữa cháy

22

2.1.2. Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý tại công ty TNHH kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên

.1.

Giám đốc

P. Giám đốc Kinh doanh P.Giám đốc Kỹ thuật

Kế toán trưởng

P. Giám đốc Nhân lực

Phòng dự án Kế toán thuế Phòng hành chính Phòng xuất nhập hàng Kế toán nội bộ Phòn g công nghệ Phòng quản trị nhân lực Cửa hàng giới thiệu sp

Phòng kỹ thuật dịch vụ

Phòn gkỹ thuật lao động

(Nguồn: Phòng hành chính)

Giám đốc: là người đứng đầu doanh nghiệp, quyết định mục tiêu và phương

hướng phát triển điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty; tổ chức kế

hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư của công ty; ban hành qui chế quản lý công ty;

bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty.

Phó giám đốc kinh doanh: phụ trách bộ phận kinh doanh, bán hàng hoá sản

phẩm, chịu trách nhiệm về lĩnh vực kinh doanh, đảm bảo doanh số cho công ty, xét

duyệt các dự án công ty cần kí kết với các đối tác và khách hàng.

Phó giám đốc nhân sự: quản lý nhân sự chung, các phòg ban trong toàn công ty,

tuyển dụng nhân lực cho công ty, bố trí nhân sự cho các vị trí còn trống, cần có năng

lực quản lý trong lĩnh vực nhân sự để phát huy sở trường, khả năng cho các nhân viên

trong công ty.

Kế toán trưởng: quản lý các công việc xuất nhập, quản lý vốn và nguồn vốn của công ty, thanh toán công nợ, thanh toán các hợp đồng, dự án đã kí kết, quản lý hệ thống sổ sách, tài chính, chứng từ kế toán, tính toán cân đối các vấn đề về tài chính –

kế toán trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

Phó giám đốc kỹ thuật: chịu trách nhiệm về khâu kỹ thuật của công ty; kiểm soát kỹ thuật của máy móc, thiết bị nhập và xuất; tham mưu giúp đỡ giám đốc trong lĩnh vực tìm kiếm đối tác xuất nhập hàng hoá; thiết lập cơ chế bảo hành bảo dưỡng cho khách hàng.

23

Phòng xuất nhập khẩu: quản lý hàng hoá xuất nhập, kiểm tra kiểm soát các đơn hàng, kiểm kê hàng hoá, các đơn vị liên doanh liên kết mua bán hàng hoá của doanh

nghiệp.

Cửa hàng giới thiệu sản phẩm: là nơi trưng bày, quảng cáo các sản phẩm, dịch vụ

của công ty đến các khách hàng. Bộ mặt của công ty đến với khách hàng, nguồn thu

hút khách hàng chủ yếu của công ty.

Phòng dự án: bộ phận phụ trách các dự án kinh doanh của công ty; lên kế hoạch,

ký kết cho các dự án của công ty; giúp công ty có các dự án để gia tăng nguồn thu, xây

dựng kế hoạch phát triển của công ty.

Phòng hành chính: t

ữ văn thư, tiếp nhận xử lý các văn bản đi và đến;

quản lý con dấu, chữ kí theo qui định.

Phòng quản lý nguồn nhân lực: tổ chức tuyển dụng nhân viên theo nhu cầu của

công ty, chấm công, bố trí nhân lực cho các phòng ban.

Kế toán thuế: có nhiệm vụ kê khai, báo cáo đầy đủ các thông tin kinh doanh cho

cơ quan thuế định kì hàng năm cho cơ quan thuế.

Kế toán nội bộ: có nhiệm vụ hạch toán, cân đối nguồn vốn, nguồn tiền ra vào

trong công ty; ghi chép các nghiệp vụ tài chính của doanh nghiệp.

Phòng công nghệ: quản lý các công nghệ của công ty; kiểm tra kiểm soát các

công nghệ liên quan đến sản phẩm hàng hoá của công ty.

Phòng kỹ thuật lao động: đảm bảo môi trường lao động tốt, an toàn cho lao động

trong công ty.

Phòng kỹ thuật dịch vụ: chịu trách nhiệm về các dịch vụ kỹ thuật cho khách

hàng; bảo hành, đảm bảo chất lượng hàng hoá cho sản phẩm của công ty.

2.1.3.

- Kinh doanh thiết bị máy móc ngành nước máy bơm nước, máy xử lý nước công

nghiệp, chất thải công nghiệp, van, bình bơm nước…

- Kinh doanh máy phát điện. - Kinh doanh các thiết bị phòng cháy chữa cháy, cứu hộ cứu nạn.

24

2.2. Thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty TNHH kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên

2.2.1. Giới thiệu chung về công tác phân tích

2.2.1.1. Qui trình phân tích tài chính trong công ty

- Giai đoạn chuẩn bị phân tích là một khâu quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến

chất lượng, thời hạn và tác dụng của phân tích hoạt động tài chính. Công tác chuẩn bị

bao gồm việc xây dựng chương trình (kế hoạch) phân tích và thu thập, xử lý tài liệu phân tích.

Kế hoạch phân tích phải xác định rõ nội dung phân tích (toàn bộ hoạt động tài chính hay chỉ một số vấn đề cụ thể), phạm vi phân tích (toàn đơn vị hay một vài bộ

phận), thời gian tiến hành phân tích (kể cả thời gian chuẩn bị), phân công trách nhiệm

cho các cá nhân, bộ phận và xác định hình thức hội nghị phân tích (Ban giám đốc hay

toàn thể người lao động). Đặc biệt, trong kế hoạch phân tích phải xác định rõ loại hình phân tích được lựa chọn.

Tài liệu phục vụ cho việc phân tích bao gồm toàn bộ hệ thống báo cáo tài chính

liên quan, kể cả các báo cáo kế hoạch, dự toán, định mức, các biên bản kiểm tra, xử lý

có liên quan... Các tài liệu trên cần được kiểm tra tính chính xác, tính hợp pháp, kiểm

- Giai đoạn thực hiện phân tích được thực hiện theo trình tự sau:

Đánh giá chung (khái quát) tình hình:

tra các điều kiện có thể so sánh được rồi mới sử dụng để tiến hành phân tích.

Dựa vào chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu đã xác định theo từng nội dung

phân tích, sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá chung tình hình. Có thể so sánh

trên tổng thể kết hợp với việc so sánh trên từng bộ phận cấu thành của chỉ tiêu ở kỳ

phân tích với kỳ gốc. Từ đó, xác định chính xác kết quả, xu hướng phát triển và mối quan hệ biện chứng giữa các hoạt động kinh doanh với nhau.

Xác định nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối

tượng phân tích:

Hoạt động tài chính chịu ảnh hưởng của rất nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân mà nhà phân tích có thể xác định được mức độ ảnh hưởng và có những

nguyên nhân không thể xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự biến động của đối tượng nghiên cứu. Những nguyên nhân mà các nhà phân tích có thể tính toán được, lượng hóa được mức độ ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu gọi là nhân tố. Vì

thế, sau khi đã xác định lượng nhân tố cần thiết ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích sẽ vận dụng phương pháp thích hợp (loại trừ, liên hệ cân đối, so

25

sánh, toán kinh tế...) để xác định mức độ ảnh hưởng và phân tích thực chất ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự thay đổi của đối tượng nghiên cứu.

Tổng hợp kết quả phân tích, rút ra nhận xét, kết luận về chất lượng hoạt động tài

chính của doanh nghiệp:

Trên cơ sở kết quả tính toán, xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến

động của đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích cần tiến hành liên hệ, tổng hợp mức độ biến động của các nhân tố đến đối tượng nghiên cứu nhằm khắc phục tính rời rạc,

tản mạn. Từ đó, rút ra các nhận xét, chỉ rõ những tồn tại, nguyên nhân dẫn đến thiếu

sót, sai lầm; đồng thời, vạch ra các tiềm năng chưa được khai thác, sử dụng để có các

- Giai đoạn kết thúc phân tích:

quyết định phù hợp với mục tiêu đặt ra.

Kết thúc phân tích là giai đoạn cuối cùng của hoạt động phân tích. Trong giai

đoạn này, tiến hành viết báo cáo phân tích, báo cáo kết quả phân tích trước những

người quan tâm (Ban Giám đốc, các nhà đầu tư, cổ đông...) và hoàn chỉnh hồ sơ phân tích.

2.2.1.2. Phương pháp phân tích tài chính của công ty

Với quy mô là vừa và nhỏ nên hiện nay công ty TNHH kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên áp dụng chủ yếu phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ để

tính toán một số chỉ tiêu nhằm phục vụ công tác quản lý và đưa ra các quyết định.

Phương pháp so sánh được công ty sử dụng để phân tích cơ cấu tài sản, nguồn

vốn dựa trên BCĐKT để qua đó xem xét cấu trúc cũng như phát hiện các đặc trưng

trong phân bố tài sản và nguồn vốn. So sánh giữa số năm trước và số năm nay để thấy

được mức độ tăng trưởng. So sánh số thực hiện với kế hoạch để đánh giá mức độ hoàn

thành so với kế hoạch đã đề ra để từ đó lựa chọn phương hướng phù hợp.

Công ty sử dụng phương pháp phân tích tỷ lệ để phân tích một số chỉ tiêu cơ bản

nhằm đánh giá khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động cũng như khả năng sinh lời của công ty.

2.2.1.3. Nguồn số liệu sử dụng trong phân tích tài chính tại công ty

Kết quả phân tích tài chính là những thông tin vô cùng quan trọng vì nó ảnh

hưởng đến việc đưa ra các quyết định liên quan đến tài chính, quản lý tài chính của người chủ doanh nghiệp, cũng như ảnh hưởng đến việc ra quyết định của những người tài trợ, đầu tư… Kết quả phân tích sẽ là không hiệu quả nếu dựa trên những nguồn

thông tin không đáng tin cậy để phân tích. Báo cáo tài chính mà chủ yếu là bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là nguồn cung cấp số liệu đáng

tin cậy và chân thực nhất. Chính vì thế, công ty Thuận Thiên cũng chủ yếu sử dụng số

26

liệu từ hai báo cáo này. Các báo cáo này được phòng kế toán tổng hợp và lập định kỳ. Ngoài ra để kết quả phân tích được chính xác và rõ ràng, công ty còn sử dụng bản

thuyết minh báo cáo tài chính.

Số liệu sử dụng trong phân tích thường được lấy là 2 hoặc 3 năm liền kề với năm

phân tích.

2.2.2. Nội dung phân tích

2.2.2.1. Phân tích cơ cấu tài sản và sự biến động tài sản

Phân tích cơ cấu tài sản và sự biến động của tài sản cho thấy được tỷ trọng và sự

biến động của tài sản trong công ty.

Ta có thể thấy tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của công

ty. Điều này là hợp lý vì đây là công ty thương mại và dịch vụ nên chủ yếu tài sản của

công ty là hàng hóa phục vụ nhu cầu thi trường. Tài sản cố định và tài sản dài hạn chỉ

chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng tài sản công ty.

Từ bảng số liệu trên nhìn chung tổng tài sản của công ty liên tục tăng trong 3

năm từ 2010- 2012 chứng tỏ quy mô hoạt động của công ty ngày càng mở rộng. Năm

2010, tổng TS là 5.636.201.842 đồng. Sang đến năm 2011, với tốc độ tăng của tổng

tài sản là 10,31% đạt 581.207.173 đồng. Năm 2012 tiếp tục tăng thêm 1.827.357.353

đồng với tỷ lệ tăng là 29,39% trong đó tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn nhanh hơn tốc

độ tăng của tài sản dài hạn. Cụ thể:

Tài sản ngắn hạn

Năm 2010, tỷ trọng tài sản ngắn hạn là 95,86% trên tổng tài sản đến năm 2011

tăng lên 95,89% và 97,92% trong năm 2012. Tỷ trọng TSNH tăng do sự biến động

chủ yếu của các nhân tố sau:

- Tiền và các khoản tương đương tiền

Năm 2010, tiền và các khoản tương đương tiền đạt 2.101.144.285 đồng chiếm tỷ

trọng 37,28% trên tổng tài sản sang đến năm 2011 tăng 655.003.653 đồng với tốc độ tăng là 31,17%. Nhưng sang đến năm 2012 lại giảm chỉ còn 2.530.550.148 đồng chỉ còn chiếm 31,46%. Sở dĩ có sự sụt giảm mạnh về tiền và các khoản tương đương tiền là do sự khó khăn chung của nền kinh tế nên công ty phải tiến hành các biện pháp kích

cầu và ưu đãi khách hàng bằng cách cho khách hàng chậm thanh toán hoặc trả góp. Công ty đã đưa ra các chính sách giảm giá sản phẩm cũng như ưu đãi đặc biệt cho các khách hàng quen hoặc lấy hàng với số lượng lớn từ đó dẫn đến việc sụt giảm về lượng

tiền và tương đương tiền trong năm 2012.

27

Đơn vị tính: Đồng

Bảng 2.1. Bảng phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Chênh lệch 2011/2010

Chênh lệch 2012/2011

Chỉ tiêu

Số tiền

%

Số tiền

%

Số tiền

%

Số tiền

%

Số tiền

%

5.402.701.000

95,86

5.961.646.648

95,89

7.877.118.462

97,92

558.945.648

10,35

1.915.471.814

32,13

A-TÀI SẢN NGẮN HẠN

2.101.144.285

37,28

2.756.147.938

44,33

2.530.550.148

31,46

655.003.653

31,17

-225.597.790

-8,19

I. Tiền và các khoản tương đương tiền

II. Các khoản đầu tư tài

0,00

0

0,00

0

0,00

0

0,00

0

0

0,00

chính ngắn hạn

1.557.328.538

27,63

1.596.147.726

25,67

2.751.579.545

34,20

38.819.188

2,49

1.155.431.819

72,39

III. Các khoản phải thu ngắn hạn

IV. Hàng tồn kho

1.721.422.096

30,54

1.509.415.993

24,28

2.473.015.531

30,74

-212.006.103

-12,32

963.599.538

63,84

V. Tài sản ngắn hạn khác

22.806.081

0,40

99.934.991

1,61

121.973.238

1,52

22.038.247

22,05

77.128.910 338,19

B- Tài sản dài hạn

233.500.842

4,14

255.762.367

4,11

167.647.906

2,08

22.261.525

9,53

-88.114.461

-34,45

I. Tài sản cố định

214.185.045

3,80

202.585.952

3,26

140.225.972

1,74

-11.599.093

-5,42

-62.359.980

-30,78

II. Tài sản dài hạn khác

19.315.797

0,34

53.176.415

0,86

27.421.934

0,34

33.860.618

175,30

-25.754.481

-48,43

TỔNG CỘNG TÀI

100

SẢN

5.636.201.842

6.217.409.015

100

8.044.766.368

100

581.207.173

10,31

1.827.357.353

29,39

(Nguồn: Số liệu được tính từ Bảng cân đối kế toán năm 2010- 2012)

28

Phải thu ngắn hạn

Các khoản phải thu ngắn hạn có xu hướng tăng không đều qua các năm. Năm

2011 tăng nhẹ so với năm 2010 là38.819.188đồng (2,49%) với tốc độ tăng là

104,58%. Nhưng sang đến năm 2012 có sự tăng mạnh72,39% tương

đương1.155.431.819đồng do qua 2 năm kinh doanh, công ty đã có khá nhiều khách

hàng quen và các khách hàng lấy buôn làm đại lý nên đã đưa ra những chính sách bán chịu và cho khách hàng trả góp tiền hàng. Ngoài ra thì việc phải thu ngắn hạn tăng

mạnh cũng là do khoản trả trước cho người bán tăng cao vì công ty đã mua dự trữ khá

nhiều hàng hóa nhằm tránh biến động về giá. Đây tuy là biện pháp tăng doanh thu bán

hàng nhưng cũng là một vấn đề khá nguy hiểm khi gây ứ đọng vốn, giảm vốn dùng cho hoạt động kinh doanh.

- Hàng tồn kho

Hàng tồn kho cũng tăng giảm không đều qua các năm. Năm 2010, hàng tồn kho

chiếm 30,54% trên tổng tài sản sang năm 2011 thì chỉ số này giảm 12,32% chỉ còn

chiếm 24,28% tương đương 1.509.415.993 đồng. Nhưng sang đến năm 2012 con số

này lại tăng 63,84% đạt mức 2.473.015.531 đồng chênh lệch 963.599.538 đồng so với

năm 2011.

Sở dĩ có sự biến đông về tỷ trọng của hàng tồn kho là do trong giai đoạn từ cuối

năm 2010 được coi là một năm khó khăn của nền kinh tế Việt Nam. Tỷ lệ lạm phát ở mức cao, thâm hụt cán cân thương mại, lãi suất tăng cao tác động tiêu cực đến hoạt

động sản xuất kinh doanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với cùng kỳ năm

trước. Năm 2011 là một năm kinh tế khó khăn đối với toàn xã hội nên nhu cầu về mặt

hàng kinh doanh của công ty là không cao nên công ty đã hạn chế tích trữ hàng tồn

kho nhằm giảm rủi ro về vốn kinh doanh. Nhưng sang đến năm 2012 kinh tế có dâu

hiệu khởi sắc nên công ty đã mạnh dạn nhập dự trữ hàng tồn kho nhằm tránh sự biến

động về giá.

- Tài sản ngắn hạn khác

TSNH tăng đột biến so với năm 2010. Nếu như năm 2010 TSNH chỉ là 22.806.081 đồng chiếm 0,4% thì sang năm 2011, do có sự gia tăng của các khoản chi phí trả trước, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ nên làm cho TSNH khác tăng 77.128.910 đồng

(338,19%) so với năm 2010. Năm 2012 thuế giá trị gia tăng được khấu trừ tiếp tục tăng 10.847.051 đồng (10,85%) nên chỉ số này vẫn tăng nhẹ.

Tài sản dài hạn

Tài sản dài hạn có xu hướng tăng nhưng không ổn định. Năm 2011, tài sản dài hạn tăng 22.261.525 đồng (9,53%) so với năm 2010. Năm 2012, với tốc độ giảm

34,45% TSDH còn 167.647.906 đồng chiếm 2,08% trên tổng tài sản. Sự bất ổn định

29

của TSDH chủ yếu chịu tác động do sự biến động của TSCĐ, TSDH khác cũng chi phối ít, không đáng kể. Chi tiết như sau:

- Tài sản cố định

Năm 2011, TSCĐ giảm 11.599.093 đồng tương ứng với tốc độ giảm là 5,42% là

do công ty quyết định thanh lý một số trang thiết bị phục vụ cho bộ phận văn phòng.

Sang đến năm 2012, tỷ trọng TSCĐ lại giảm 62.359.980 đồng tỷ lệ giảm là 30,78% là do công ty tiếp tục cắt giảm nhân sự dẫn đến thanh lý một số TSCĐ cũ phục vụ bộ

phận văn phòng, một số thiết bị đã cũ cần thay thế.

- Tài sản dài hạn khác

Tài sản dài hạn khác của công ty không có sự biến động quá lớn. Năm 2011, TSDH khác chiếm 0,86% do có sự tăng lên của khoản chi phí trả trước dài hạn là

đạt 27.421.934 đồng. Do công ty đã giảm bớt khoản phải thu dài hạn từ 53.176.415 đồng xuống còn 27.421.934 đồng vì công ty đã được khách hàng trả một phần nợ dài hạn và xiết chặt khoản nợ này không cho khách hàng nợ dài hạn nữa.

Qua toàn bộ quá trình phân tích đã thể hiện quy mô tài sản của công ty không

ngừng tăng qua các năm kể cả về quy mô lẫn kết cấu, trong đó tài sản ngắn hạn vẫn

chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Trước tác động của lạm phát và khủng hoảng kinh tế, công ty đã chủ động giảm lượng dự trữ tiền và các khoản tương đương tiền và tăng tỷ

trọng hàng tồn kho để ổn đinh giá thành đầu ra. Tuy nhiên, việc giảm dự trữ tiền và tăng

dự trữ hàng tồn kho cũng sẽ làm tăng rủi ro thanh khoản, mất cơ hội đầu tư.

33.860.618 đồng. Năm 2012, chi phí dài hạn khác lại giảm 25.754.481đồng (48,43%)

2.2.2.2. Phân tích cơ cấu và sự biến động nguồn vốn

Để có thể đưa công ty vào vận hành cần phải bỏ ra một lượng vốn nhất định để

đầu tư vào tư liệu sản xuất, đối tượng lao động và sức lao động. Như vậy, vốn kinh

doanh là biểu hiện bằng tiền giá trị các loại tài sản dùng trong hoạt động sản xuất kinh

doanh của công ty.

Nguồn vốn của công ty gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu là vốn do người chủ doanh nghiệp bỏ ra, công ty có quyền chi phối và sử dụng lâu dài vào các hoạt động của mình.

Tỷ lệ kết cấu trong tổng số nguồn vốn phản ánh tính chất hoạt động kinh doanh

của công ty. Nguồn vốn thể hiện nguồn hình thành tài sản, tải sàn biến động tương ứng với sự biến động của nguồn vốn. Vì thế phân tích tài sản luôn đi đôi với việc phân

tích nguồn vốn.

Cũng như tài sản, nguồn vốn của công ty cũng tập trung ở phần vốn ngắn hạn. Chiểm tỷ trong lớn trong nguồn vốn ngắn hạn là nợ ngắn hạn. Do đặc điểm ngành nghề của công ty là công ty thương mại, chủ yếu đầu tư vào các TSNH nên công ty

30

cũng không cần sử dụng quá nhiều nguồn vốn dài hạn. Giúp hạn chế các khoản phí lãi vay phát sinh.

Từ bảng số liệu ta thấy nguồn vốn của công ty tăng đều qua các năm. Nguồn vốn

năm 2011 tăng 10,31% so với năm 2010 và đạt 6.217.409.015đồng. Năm 2012, tổng

nguồn vốn tiếp tục tăng thêm 1.827.357.353 đồng (29,39%) đạt 8.044.766.368 đồng.

Sự gia tăng của tổng nguồn vốn chủ yếu chịu tác động của nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

Nợ phải trả

Dựa vào bảng phân tích ta thấy nợ phải trả chiếm tỷ trong khá cao trong tổng

NV. Năm 2010 tổng nợ phải trả là 3.603.059.115 đồng chiếm 63,93% tổng giá trị nguồn vốn. Sang đến năm 2011, tổng nợ phải trả tăng 15,8% đạt con số 4.172.220.754

đồng. Năm 2012 tiếp tục tăng thêm 1.804.808.177 đồng với tốc độ tăng 43,26% . Cụ

thể:

- Nợ ngắn hạn

Nợ ngắn hạn không ổn định và có xu hướng tăng và luôn chiếm tỷ trọng cao

trong nợ phải trả. Trong khoảng thời gian 2010- 2012, nợ ngắn hạn tăng gấp đôi từ

3.603.059.115 đồng lên 5.977.028.931 đồng. Nợ ngắn hạn tăng chủ yếu đến từ sự gia

tăng của các khoản phải trả người bán và người mua ứng trước. Do đặc thù kinh

doanh của công ty là kinh doanh các máy móc thiết bị đa dạng về chủng loại nên khi khách hàng có yêu cầu mua đúng chủng loại cần đặt cọc trước tiền để nhập hàng nên

khoảng người mua ứng trước sẽ tăng. Còn khoản phải trả người bán tăng vì điều

khoản giữa 2 bên là thanh toán định kì nên công ty sẽ tận dụng được nguồn vốn chiếm

dụng để phục vụ cho mục đích hoạt động của công ty. Tuy nhiên, việc sử dụng nợ

ngắn hạn nhiều khá rủi ro. Điều này sẽ dễ dẫn đến mất khả năng thanh toán của công

ty khi các khoản nợ này đến hạn mà không thanh toán được.

- Nợ dài hạn

Công ty không có nợ dài hạn điều này cho thấy công ty không sử dụng nợ dài hạn để chi trả cho tài sản cố định và các khoản nợ ngắn hạn. Đây cũng là một bất lợi khi các khoản nợ ngắn hạn đến kì chi trả công ty có thể sẽ gặp khó khăn.

Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu tăng nhẹ qua các năm, chủ yếu tăng do lợi nhuận sau thuế tăng. Năm 2010, giá trị của vốn chủ sở hữu là 2.033.142.727 đồng tương ứng với 36,07% tổng giá trị nguồn vốn. Sang đến năm 2011 là 2.045.188.261 đồng với tốc độ tăng là 0,59%. Năm 2012 tiếp tục tăng thêm 1,1% tương ứng với 22.549.176đồng và đạt

2.067.737.437đồng. Cụ thể:

31

Bảng 2.2. Bảng phân tích cơ cấu và biến động của nguồn vốn

Đơn vị tính: Đồng

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Chênh lệch 2011/2010

Chênh lệch 2012/2011

Chỉ tiêu

Số tiền

%

Số tiền

%

Số tiền

%

Số tiền

%

Số tiền

%

A-NỢ PHẢI

3.603.059.115

63,93

4.172.220.754

67,11

5.977.028.931

74,30

569.161.639

15,80 1.804.808.177

43,26

TRẢ

I. Nợ NH

3.603.059.115

63,93

4.172.220.754

67,11

5.977.028.931

74,30

569.161.639

15,80 1.804.808.177

43,26

II. Nợ dài hạn

0

0,00

0

0,00

0

0,00

0

0,00

0

0,00

B-VỐN CHỦ

2.033.142.727

36,07

2.045.188.261

32,89

2.067.737.437

25,70

12.045.534

0,59

22.549.176

1,10

SỞ HỮU

I. VCSH

2.002.488.330

35,53

2.014.533.864

32,40

2.037.083.040

25,32

12.045.534

0,60

22.549.176

1,12

TỔNG CỘNG

5.636.201.842

100

6.217.409.015

100

8.044.766.368

100

581.207.173

10,31 1.827.357.353

29,39

NV

(Nguồn: Số liệu tính toán từ BCTC năm 2010- 2012)

32

- Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu của công ty vẫn giữ nguyên qua các năm tương đương

1.500.000.000 đồng.

- Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

Sự gia tăng của lợi nhuận sau thuế chưa phân phối từ 443.936.809đồng năm

2010 lên 455.982.343đồng năm 2011 tương ứng với 2,71%. Năm 2012 đạt 478.531.519đồng tương ứng với tốc độ tăng là 4,95%. Việc gia tăng của lợi nhuận

chưa phân phối cho thấy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, tuy chỉ là tăng nhẹ nhưng

đây cũng là dấu hiệu tốt vì công ty cũng mới được thành lập và đang trên đà phát

triển.

Qua phân tích trên ta thấy, cả nợ phải trả và VCSH của công ty đều tăng nhưng

tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu chậm hơn tốc độ tăng của nợ phải trả.Tỷ trọng của

VCSH trong tổng nguồn vốn vẫn còn khá thấp, cho thấy công ty vẫn còn đang thiếu

vốn. Đây có thể là một dấu hiệu không tốt vì cho thấy khả năng đảm bảo nợ vay bằng

vốn chủ sở hữu đang có chiều hướng giảm dần. Chính vì thế, công ty cần tìm kiếm

nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài.

2.2.2.3. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

Nếu như phần trước dựa trên bảng cân đối kế toán để phân tích đã cho ta biết

phần nào sức mạnh về tài chính, tình hình quản lý, sử dụng tài sản, nguồn vốn thì việc

phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ bổ sung thêm các thông tin về tài

chính phục vụ hữu hiệu trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty và ra các

quyết định quản lý.

Qua bảng phân tích ta thấy lợi nhuận sau thuế của công ty là không ổn định và

có chiều hướng giảm qua các năm. Năm 2011 giảm 41.816.377 đồng so với năm

2010, sang năm 2012 tuy có tăng 10.503.642 đồng so với năm 2011 nhưng vẫn chưa

bằng được lợi nhuận sau thuế của năm 2010. Lợi nhuận sau thuế giảm là do ảnh hưởng của các thành phần sau:

Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ

Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm dần qua các năm. Năm

2010 là 10.566.124.249 đồng, năm 2011 giảm 1.521.803.209 đồng với tốc độ giảm là 14,4%, năm 2012 giảm so với năm 2011 là 188.369.959 đồng tương đương với 2,8% và đạt con số là 8.855.951.081 đồng, nguyên nhân bởi nền kinh tế trong giai đoạn khủng

hoảng, nhà nước cũng như người tiêu dùng đều thắt chặt chi tiêu, ngoài ra việc ngành bất động sản khó khăn cũng ảnh hưởng không nhỏ đến doanh thu của công ty. Vì đặc thù cung

33

cấp của công ty là các thiết bị máy và dịch vụ về ngành điện và nước phát triển cùng với ngành xây dựng và bất động sản.

Giá vốn hàng bán

Giá vốn hàng bán là chỉ tiêu chiếm tỷ lệ khá cao so với doanh thu thuần. Giá vốn

hàng bán biến động không đều qua các năm. Năm 2011, chỉ tiêu giá vốn hàng bán đạt

7.737.428.080 đồng, tăng 408.924.465 đồng (5,58%) so với năm 2010. Năm 2012 chỉ tiêu này giảm 114.163.865đồng tương ứng với tỷ lệ 1,48% và đạt con số

7.623.264.215 đồng. Nguyên nhân chủ yếu đến từ tác động của lạm phát và khủng

hoảng kinh tế đẩy giá đầu vào sản phẩm, tỷ giá ngoại tệ, chi phí vận chuyển, … tăng

cao từ đó là tăng giá trị của sản phẩm bán ra. Ngoài ra còn một lý do khiến giá vốn hàng bán tăng cao là chi phí lưu kho tăng do công ty đầu cơ hàng hoá trong kho nhằm

giảm nguy cơ biến động giá và cuối năm 2012.

Lợi nhuận sau thuế

Giá vốn hàng bán chiếm tỷ lệ cao so với doanh thu thuần nên làm cho lợi nhuận

đạt được thấp, thực tế là do giá sản phẩm bán ra quá cao nên làm cho lợi nhuận thấp.

Năm 2011, lợi nhuận sau thuế giảm 77,64% so với năm 2010 là 41.816.377 đồng.

Sang năm 2012 nhờ có các bước điều chỉnh về hàng hóa dự trữ nên công ty đã hạn

chế được việc tăng giá vốn hàng bán. Chính vì thế, năm 2012 đạt 22.549.176 đồngvới

tốc độ tăng là 87,2% so với năm 2011.

Sau khi phân tích bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ta thấy tình hình

doanh thu, lợi nhuận của công ty là có xu hướng tăng. Tuy nhiên, cùng với sự tăng lên

của doanh thu thì chi phí cũng tăng lên rất nhiều nhất chủ yếu là từ giá vốn hàng bán.

Do đó công ty cần có biện pháp để vừa nâng cao doanh thu và lợi nhuận vừa giảm chi

phí hoạt động để nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.

34

Bảng 2.3. Bảng phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Đơn vị tính: Đồng

2010

2011

2012

Chênh lệch 2011-2010 Tỷ lệ

Số tiền

Chênh lệch 2012-2011 Tỷ lệ

Số tiền

Chỉ tiêu

Tổng doanh thu

10.566.124.249

9.044.321.040

8.855.951.081

-1.521.803.209

-14,40

-188.369.959

-2,08

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

10.566.124.249

9.044.321.040

8.855.951.081

-1.521.803.209

-14,40

-188.369.959

-2,08

Các khoản giảm trừ doanh thu

0

0

0

0

0

0

0

10.566.124.249

9.044.321.040

8.855.951.081

-1.521.803.209

-14,40

-188.369.959

-2,08

Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ

Giá vốn hàng bán

7.328.503.615

7.737.428.080

7.623.264.215

408.924.465

5,58

-114.163.865

-1,48

3.237.620.634

1.306.892.960

1.232.686.866

-1.930.727.674

-59,63

-74.206.094

-5,68

Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ

Doanh thu hoạt động tài chính

2.712.639

2.904.650

1.594.429

192.011

7,08

-1.310.221

-45,11

28.889.921

193.532.139

142.140.426

164.642.218

569,90

-51.391.713

-26,55

Chi phí tài chính

0

0

0

0

0,00

0

0,00

Trong đó: Chi phí lãi vay

3.109.001.737

1.128.614.509

1.052.409.723

-1.980.387.228

-63,70

-76.204.786

-6,75

Chi phí quản lý DN

102.441.615

41.650.962

39.731.146

-60.790.653

-59,34

-1.919.816

-4,61

Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh

696.4

3.797.750

200

445,34

-3.597.750

-94,73

Thu nhập khác

3.101.350

0

29.388.000

9.865.578

0,00

-19.522.422

-66,43

Chi phí khác

29.388.000

Lợi nhuận khác Tổng lợi nhuận kế toán trƣớc thuế Chi phí thuế thu nhập DN Lợi nhuận sau thuế thu nhập DN

696.4 103.138.015 49.276.104 53.861.911

-25.590.250 16.060.712 4.015.178 12.045.534

-9.665.578 30.065.568 7.516.392 22.549.176

-26.286.650 -3.774,65 -84,43 -87.077.303 -91,85 -77,64

-45.260.926 -41.816.377

15.924.672 14.004.856 3.501.214 10.503.642

-62,23 87,20 87,20 87,20

(Nguồn: Số liệu được tính từ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2010-2012)

35

2.2.2.4. Phân tích một số chỉ tiêu tài chính

Tình hình tài chính được đánh giá dựa trên khả năng huy động và sử dụng vốn, bên cạnh đó các nhà phân tích còn xem xét các tỷ số tài chính để đo lường khả năng

sinh lời cũng như rủi ro tồn tại trong hoạt động kinh doanh của công ty. Qua đó, đưa

ra những nhận xét về tình hình tài chính của công ty là tốt hay xấu. Vì thế, ta đi vào

xem xét các tỷ số sau:

Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh sức mạnh tài chính của công ty tại những

thời điểm nhất định, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tình hình tài chính của công ty và là

yếu tố quyết định của công ty trong nhiều thời điểm.

- Khả năng thanh toán ngắn hạn

Bảng 2.4. Bảng phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Tổng TSNH Đồng 5.402.701.000 5.961.646.648 7.877.118.462 1

Đồng 3.603.059.115 4.172.220.754 5.977.028.931 2 Tổng nợ ngắn hạn

Khả năng

3 thanh toán Lần 1,50 1,43 1,32

ngắn hạn

(Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012)

Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết cứ 1 đồng nợ ngắn hạn huy động

được thì được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng TSNH. Dựa trên bảng phân tích ta thấy, hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn của cả 3 năm đều >1 chứng tỏ công ty theo đuổi

chiến lược quản lý vốn thận trọng, công ty hoàn toàn có khả năng trả nợ khi đến hạn thanh toán. Hệ số này có xu hướng giảm. Cụ thể:

Năm 2011 hệ số này là 1,43 có nghĩa là cứ 1 đồng nợ ngắn hạn huy động được thì được đảm bảo bằng 1,43 đồng TSNH, giảm so với con số 1,5 của năm 2010.

Nguyên nhân là do tổng nợ ngắn hạn tăng so với năm 2010, với tốc độ tăng là 15,8% trong khi đó tổng TSNH lại tăng với tốc độ nhỏ hơn là 10,35%. Sang đến năm 2012, mặc dù cả tổng TSNH và tổng nợ NH đều tăng nhưng hệ số này chỉ còn là 1,32 tức là

giảm 0,1 lần so với năm 2011.

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh

36

Bảng 2.5. Bảng phân tích khả năng thanh toán nhanh

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Tổng TSNH Đồng 5.402.701.000 5.961.646.648 7.877.118.462 1

Hàng tồn kho Đồng 1.721.422.096 1.509.415.993 2.473.015.531 2

Đồng 7.124.123.096 7.471.062.641 10.350.133.993 3 Tổng TSNH - hàng tồn kho

Tổng nợ NH Đồng 3.603.059.115 4.172.220.754 5.977.028.931 4

Khả năng thanh 5 Lần 1,98 1,79 1,73 toán nhanh

(Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012)

Khả năng thanh toán nhanh cho biết cứ 1 đồng nợ ngắn hạn huy động thì được

đảm bảo bằng bao nhiêu đồng TSNH có tính thanh khoản cao, không tính đến giá trị

hàng lưu kho. Từ bảng phân tích trên có thể dễ dàng nhận thấy khả năng thanh toán

nhanh của công ty tăng giảm dần qua các năm. Cụ thể:

Năm 2010 là hệ số khả năng thanh toán nhanh của công ty là 1,98 lần, sang đến

năm 2011 là đạt 1,79 lần giảm 0,19 lần so với năm 2010. Nguyên nhân của sự suy

giảm này là do năm 2011, tuy mức chênh lệch giữa tổng TSNH và hàng tồn kho tăng

là 346.939.545 đồng so với năm 2010 nhưng mức tăng của tổng nợ NH lại lớn hơn so

với mức chênh lệch trên tương đương 569.161.639 đồng làm cho thương số giữa hiệu

của tổng TSNH và hàng tồn kho với tổng nợ NH suy giảm.

Năm 2012 mức chênh lệch giữa TSNH và hàng tồn kho lẫn tổng nợ NH đều

tăng. Nhưng lần này chênh lệch giữa TSNH và hàng tồn kho tăng nhanh hơn mức tăng

của tổng nợ NH đạt mức 2.879.071.352 đồng, tổng nợ NH chỉ tăng 1.804.808.177 đồng nên khả năng thanh toán nhanh giảm không đáng kể so với năm 2011 chỉ giảm

0,06% . Công ty hoàn toàn đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn

đến hạn, tuy nhiên nếu khoản tiền dự trữ, phải thu khách hàng quá lớn sẽ làm cho vốn

bị ứ đọng, không có khả năng sinh lời, rủi ro khi cho khách hàng chiếm dụng vốn.

Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời

Điều mà bất kì ai quan tâm đến công ty, doanh nghiệp đều là khả năng tạo ra lợi

nhuận của công ty, doanh nghiệp đó. Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đánh giá năng lực quản lý tại công ty.

- Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

37

Bảng 2.6. Bảng phân tích tỷ suất sinh lời trên doanh thu

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Doanh thu 1 Đồng 10.566.124.249 9.044.321.040 8.855.951.081 thuần

Lợi nhuận 2 Đồng 53.861.911 12.045.534 22.549.176 sau thuế

3 ROS % 0,51 0,13 0,25

(Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012)

Qua bảng phân tích số liệu ta thấy, tỷ suất sinh lời trên doanh thu ROS không ổn

định và có xu hướng giảm, cụ thể:

Năm 2011 chỉ tiêu ROS là 0,13% giảm so với năm 2010 là 0,0,51%. Điều này có nghĩa là cứ 100 đồng doanh thu chỉ tạo được 0,13 đồng lợi nhuận. Trong năm, doanh

thu thuần đã giảm từ 10.566.124.249 đồng năm 2010 xuống còn 9.044.321.040 đồng

năm 2011 với tốc độ tăng là 14,4% trong khi đó, lợi nhuận sau thuế lại giảm

41.816.377 đồng tương đương với 77,64% so với năm 2010. Chính nguyên nhân này

đã dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng của tỷ suất sinh lời.

Năm 2012, doanh thu thuần tiếp tục giảm đến 168.369.959 đồng, giảm 2,28% so

với năm 2011, tuy vậy lợi nhuận sau thuế lại tăng 10.503.642 đồng tương ứng với

mức tăng 87,92%. Sự gia tăng của lợi nhuận sau thuế với tốc độ cao hơn so với tốc độ

tăng của doanh thu thuần đã làm cho tỷ suất sinh lời trên doanh thu tăng 0,12% so với

năm 2011và đạt con số là 0,25%. Điều đó có nghĩa là cứ 100 đồng doanh thu thuần bỏ

ra thì thu về được 0,25 đồng lợi nhuận. Đây là một tín hiệu khá tốt trong bối cảnh kinh

tế khó khăn nhưng trong năm tới công ty cần cố găng hơn nữa để có kết quả khả quan

hơn.

- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

Bảng 2.7. Bảng phân tích tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Lợi nhuận sau Đồng 53.861.911 12.045.534 22.549.176 1 thuế

Tổng tài sản Đồng 5.636.201.842 6.217.409.015 8.044.766.368 2

ROA % 0,96 0,19 0,28 3

(Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012)

38

Từ bảng phân tích số liệu trên cho thấy, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cũng có xu hướng biến động không không ổn định. Năm 2010, chỉ tiêu ROA đạt 0,96% có

nghĩa là trong 100 đồng tổng tài sản bỏ ra thì thu về được 0,96 đồng lợi nhuận sau

thuế. Tuy nhiên sang đến năm 2011, công ty không thể duy trì ở con số này mà tụt

xuống chỉ còn là 0,19% có nghĩa là 100 đồng tài sản bỏ ta chỉ thu về được 0,19 đồng

lợi nhuận sau thuế. Điều này được giải thích là do trong năm 2011, tổng tài sản đạt 6.217.409.015 đồng tương đương với mức tăng 10,31%, trong khi lợi nhuận sau thuế

lại giảm đi 77,64%.

Năm 2012, chỉ tiêu này lại tăng lên 0,28%, nghĩa là để thu về được 0,28 đồng lợi

nhuận sau thuế thì cần phải sử dụng 100 đồng tổng tài sản. Sự tăng lên của chỉ tiêu ROA năm 2012 được giải thích là do tốc độ tăng của tổng tài sản là 29,39% chậm hơn

so với tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế là 87,2%. Điều đó chứng tỏ công ty sử dụng

chưa hiệu quả tổng tài sản để góp phần làm tăng lợi nhuận sau thuế.

- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

Bảng 2.8. Bảng phân tích tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Lợi nhuận sau 1 Đồng 53.861.911 12.045.534 22.549.176 thuế

2 Tổng VCSH Đồng 2.033.142.727 2.045.188.261 2.067.737.437

3 ROE % 2,65 0,59 1,09

(Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012)

Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của vốn, trong 100 đồng vốn bỏ ra thu

về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Từ bảng phân tích trên cũng có thể nhận thấy, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty cũng không ổn định trong giai

đoạn 2010- 2012. Cụ thể:

Năm 2011, cứ 100 đồng VCSH bỏ ra thì thu về được 0,95 đồng lợi nhuận, bằng

một phần tư so với năm 2010. Nguyên nhân chủ yếu là do sự sụt giảm của lợi nhuận sau thuế từ 53.861.911 đồng năm 2011 xuống còn 12.045.534 đồng trong khi đó vốn chủ sở hữu lại tăng từ 2.033.142.727 đồng lên 2.045.188.261đồng. Sang đến năm

2012, chỉ tiêu này lại tăng lên thành 1,09% do sự tăng lên cả về vốn chủ sở hữu cũng như lợi nhuận sau thuế. Sự biến động đột ngột của ROE qua các năm cho thấy rằng công ty chưa khai thác tối đa nguồn vốn mình đang có. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu thấp sẽ khó có thể thu hút được các nhà đầu tư bỏ vốn để mở rộng sản xuất. Công ty cần tìm kiếm giải pháp thích hợp để thu hút đầu tư, khẳng định khả năng tự chủ tài chính của mình, cũng như sức cạnh tranh của công ty trên thị trường hiện nay.

39

Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý tài sản

- Hệ số thu nợ

Bảng 2.91. Bảng phân tích hệ số thu nợ

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1 Đồng 10.566.124.249 9.044.321.040 8.855.951.081 Doanh thu thuần

2 Đồng 1.378.671.137 1.582.380.291 1.615.805.789 Phải thu khách hàng

3 Hệ số thu nợ Vòng 7,66 5,72 5,48

4 Ngày 46,97 62,99 65,68 Thời gian thu nợ trung bình

(Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012)

Hệ số thu nợ cho biết số vòng quay các khoản phải thu khách hàng trong 1 năm.

Qua bảng phân tích và biểu đồ ta thấy xu hướng biến động của hệ số thu nợ là không

đồng đều. Cụ thể:

Năm 2011 hệ số thu nợ là 5,72 vòng, thời gian trung bình mỗi vòng là 62,99

ngày. So với năm 2010 thì số vòng giảm 1,94 vòng và số ngày mỗi vòng tăng lên

16,02 ngày. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của phải thu khách hàng năm 2011

(14,78%) cao hơn so với tốc độ tăng của doanh thu thuần (-14,4%). Hệ số thu nợ giảm

là không tốt, thể hiện khả năng thu hồi vốn chậm hơn, vốn của công ty bị ứ đọng nơi

khách hàng. Sang đến năm 2012, tình hình tiếp tục xấu đi khi hệ số thu nợ tiếp tục

giảm xuống còn 5,48 vòng và số ngày thu nợ tăng lên 65,68 ngày.

- Phân tích chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho

Bảng 2.10. Bảng phân tích chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1 Đồng 7.328.503.615 7.737.428.080 7.623.264.215 Giá vốn hàng bán

2 Đồng 1.721.422.096 1.509.415.993 2.473.015.531 Giá trị hàng tồn kho

3 Lần 4,26 5,13 3,08 Vòng quay hàng tồn kho

4 Ngày 84,56 70,23 116,79 Thời gian luân kho chuyển trung bình

(Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012)

40

Như chúng ta đã biết, dự trữ là khâu quan trọng nhằm đảm bảo cho hoạt động của công ty. Nếu dự trữ ở mức hợp lý sẽ góp phần đem lại hiệu quả sử dụng vốn, giảm

được chi phí dự trữ hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu kinh doanh khá

quan trọng bởi nó cho thấy được tốc độ hàng luân chuyển trong một kỳ. Qua bảng số

liệu trên ta thấy, số vòng quay hàng tồn kho liên tục giảm trong giai đoạn 2010- 2012.

Cụ thể là:

Năm 2010, trung bình hàng tồn kho luân chuyển được 4,62 vòng và số ngày mỗi

vòng là 84,56 ngày. Sang đến năm 2011số vòng luân chuyển trung bình của hàng tồn

kho tăng lên 5,13 vòng làm cho số ngày trung bình của mỗi vòng giảm xuống là

70,23 ngày. Nguyên nhân dẫn đến việc vòng quay hàng tồn kho tăng là do năm 2011 lượng hàng tồn kho giảm 12,32% trong khi giá vốn hàng bán lạỉ tăng 5,58% . Đây là

tín hiệu tốt vì cho thấy hàng hóa không bị tồn đọng trong kho lâu, điều này giúp giảm

chi phí quản lý kho và giảm tích tụ vốn của công ty.

Sang đến năm 2012, vòng quay hàng tồn kho lại giảm mạnh. Nếu như năm 2011

hàng tồn kho luân chuyển được 5,13 lần thì đến năm 2012 giảm còn 3,08 lần. Điều

này đồng nghĩa với việc số ngày trung bình của một vòng quay cũng dài hơn và năm

2012 là 116,79 ngày. Đây là biểu hiện không tốt cho thấy khả năng chuyển đổi thành

tiền của hàng tồn kho đã giảm chủ yếu vẫn là do số lượng hàng tồn kho tăng cao. Điều

này cũng một phần bị ảnh hưởng bởi công ty đang dự trữ khá nhiều hàng hóa để tránh được sự biến động giá của thị trường.

- Phân tích chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản cố định.

Bảng 2.11.Bảng phân tích chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản cố định

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Doanh thu Đồng 10.566.124.249 9.044.321.040 8.855.951.081 1 thuần

Tổng TSDH Đồng 214.185.045 202.585.952 140.225.972 2

3 Lần 49,33 44,64 63,15 Hiệu suất sử dụng TSDH

(Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012)

Qua bảng phân tích trên thấy hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công ty là

không ổn định trong khoảng thời gian 2010- 2012. Cụ thể:

Hiệu suất sử dụng TSDH năm 2010 là 49,33 có nghĩa là 1 đồng TSDH thì tạo được 49,33 đồng doanh thu thuần. Sang đến năm 2011 thì hệ số này có sự giảm xuống còn 44,64 đồng là do năm 2011 tốc độ giảm của doanh thu thuần (14,4%) nhanh hơn so với tốc độ giảm của tổng TSDH (5,425). Tuy nhiên, đến năm 2012 hệ số

41

này lại tăng lên là 63.15 có nghĩa là 1 đồng TSDH tạo ra 63,15 đồng doanh thu. Đây được coi là tín hiệu tốt vì việc sử dụng TSDH đã góp phần làm tăng doanh thu cho

công ty.

- Phân tích chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng tài sản lưu động

Bảng 2.12. Phân tích chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản lƣu động

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Doanh thu 1 Đồng 10.566.124.249 9.044.321.040 8.855.951.081 thuần

2 Tổng TSNH Đồng 5.402.701.000 5.961.646.648 7.877.118.462

Hiệu suất sử

3 dụng tổng Lần 1,96 1,52 1,12

TSNH

(Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012)

Từ bảng phân tích trên có thể nhận thấy hiêu suất sử dụng TSNH của công ty có

xu hướng giảm. Cụ thể:

Năm 2010, chỉ tiêu này là 1,96 có nghĩa là cứ 1 đồng TSNH sẽ tạo ra được 1,96

đồng doanh thu thuần nhưng sang đến năm 2011 thì một đồng TSNH chỉ còn tạo được

1,52 đồng doanh thu. Có sự sụt giảm trên là do tốc độ tăng của tổng TSNH là 10,53%

lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần là -14,4%. Sang đến năm 2012 chỉ tiêu này

tiếp tục giảm, một đồng TSNH chỉ tạo ra 1,12 đồng doanh thu thuần. Điều này cho

thấy việc tận dụng TSNH vào việc góp phần tạo nên doanh thu của công ty là chưa

thực sự hiệu quả. Công ty cần tăng cường đẩy mạnh nhanh tiến độ giảm hàng tồn kho

cũng như thu hồi các khoản phải thu để đưa vốn vào hoạt động giúp tăng hiệu suất sử dụng tài sản lưu động.

Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý nợ

- Phân tích tỷ số nợ

Bảng 2.13. Phân tích tỷ số nợ

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1 Tổng nợ Đồng 3.603.059.115 4.172.220.754 5.977.028.931

2 Tổng TS Đồng 5.636.201.842 6.217.409.015 8.044.766.368

3 Tỷ số nợ % 63,93 67,11 74,30

(Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012)

Tỷ số nợ cho biết tỷ trọng nguồn vốn nợ trong tổng nguồn vốn của công ty. Bảng phân tích trên cho thấy, tỷ số nợ liên tục tăng qua các năm, năm 2010 thì nguồn vốn

42

nợ chiếm 63,93%, năm 2011 là 67,11% và năm 2012 là 74,30%. Tỷ số nợ tăng cao là do trong năm 2011 và 2012, tốc độ tăng của tổng nợ lần lượt là 15,8% và 43,26% cao

hơn so với tốc độ tăng của tổng tài sản lần lượt là 10,31% và 29,39%. Tổng nợ tăng là

do sự gia tăng của những khoản nợ ngắn hạn từ việc nhận tiền ứng trước của người

mua. Đây là điều tốt với công ty vì công ty có thể sử dụng nguồn vốn vay để tăng lợi

nhuận, tuy nhiên nếu duy trì ở mức quá cao sẽ dễ dẫn đến rơi vào trạng thái mất kiểm soát và không trả được nợ.

- Số lần thu nhập hoạt động trên lãi vay

Bảng 2.14. Phân tích số lần thu nhập hoạt động trên lãi vay

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Lợi nhuận trước 1 Đồng 103.138.015 16.060.712 30.065.568 thuế

2 Lãi vay Đồng 0 0 0

3 EBIT Đồng 103.138.015 16.060.712 30.065.568

Số lần thu nhập

4 hoạt động trên Lần _ _ _

lãi vay

(Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012)

Công ty không sử dụng các khoản vay để dùng vào mục đích kinh doanh, điều

này cho thấy công ty có thế tự chủ được nguồn vốn và dòng tiền trong sản xuất và

kinh doanh.

2.3. Đánh giá thực trạng phân tích tài chính tại công ty TNHH Thƣơng mại và kỹ thuật Thuận Thiên

2.3.1. Kết quả đạt được

Tuy hoạt động phân tích tài chính còn khá mới mẻ và được đưa vào công ty chưa lâu, nhưng dưới sự chỉ đạo tận tình của giám đốc cùng với sự nỗ lực không ngừng của toàn thể công ty đã giúp cho công tác phân tích tài chính tại công ty ngày càng hoàn thiện và thu được những kết quả đáng ghi nhận: Giúp cho giám đốc, nhà đầu tư, các

ngân hàng và những người quan tâm có cái nhìn chi tiết hơn về doanh nghiệp, giúp họ

đưa ra các quyết định dễ dàng và chính xác hơn.

- Về tổ chức hoạt động phân tích

Hoạt động kinh doanh của công ty được đánh giá định kỳ hàng năm, chính vì thế giúp cho giám đốc phát hiện ra những nguy cơ và thách thức mà công ty có thể gặp

phải, để từ đó có hướng khắc phục và quản lý điều hành hoạt động kinh doanh, lập kế

43

hoạch phát triển cho công ty trong ngắn hạn và dài hạn. Bên cạnh đó, để hoạt động kinh doanh của công ty ngày càng hiệu quả thì cần phải có những giải pháp nhằm phát

huy mặt tích cực và hạn chế những tiêu cực đang còn tồn tại trong công ty.

- Về thông tin sử dụng trong phân tích

Các BCTC là nguồn cung cấp thông tin quan trọng đê các nhà quản trị có cái

nhìn toàn diện và sâu sắc tình hình tài chính của công ty. Thông tin phân tích chủ yếu được lấy từ BCĐKT và BCKQHĐKD của công ty. Thông tin trên các báo cáo này về

cơ bản đảm bảo tuân thủ theo các chuẩn mực kế toán Việt Nam. Hai báo cáo này cung

cấp một bức tranh khái quát về cơ cấu tài sản cũng như hoạt động kinh doanh của

công ty trong một thời kỳ nhất định.

- Đội ngũ cán bộ phân tích

Công tác phân tích tài chính do phòng kế toán đảm nhiệm, người thực hiện chính

là kế toán trưởng. Công ty đã xây dựng được bộ máy kế toán hợp lý với tính chuyên

môn hóa cao giúp cho nhân viên kế toán có khả năng phát huy hết khả năng của bản

thân. Tuy quy mô của công ty không quá lớn nhưng cũng trang bị cho mình bộ phận

kế toán với những nhân viên có trình độ, nắm vững về chuyên ngành cũng như chế độ

kế toán hiện hành. Chính vì thế, phản ánh nhanh chóng, kịp thời và chính xác các

nghiệp vụ phát sinh, là cơ sở để giám đốc đưa ra các quyết định đúng đắn.

- Nội dung phân tích

Nội dung phân tích tài chính tại công ty khá đầy đủ, đảm bảo phản ánh được

những nét cơ bản tình hình tài chính của công ty. Các cán bộ phân tích đã thực hiện

phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn trên BCĐKT, phân tích BCKQHĐKD. Tiếp đó

họ đã tập trung sâu vào việc phân tích các chỉ tiêu tài chính đặc trưng. Các chỉ số tài

chính cũng được tính toán rõ ràng, chính xác qua từng năm để nhận thấy sự thay đổi

của từng chỉ tiêu. Từ các nhận xét, đánh giá được của các cán bộ phân tích rút ra ban

giám đốc có thể đưa ra các quyết định phù hợp, hữu ích.

- Phương pháp phân tích

Sử dụng nhuần nhuyễn hai phương pháp phân tích là phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh, trong đó phương pháp phân tích tỷ số được đội ngũ phân tích sử dụng để tính toán hầu hết các chỉ tiêu phân tích, phản ánh các nội dung cơ bản

về tình hình tài chính của công ty. Phương pháp so sánh đã được sử dụng để so sánh các giá trị của các chỉ tiêu tài chính của năm thực hiện so với năm liền kề trước để tìm

ra xu hướng biến động của các chỉ tiêu đó trong các năm phân tích.

Tuy nhiên, phân tích tài chính tại công ty vẫn chưa đạt kết quả cao vì còn những

tồn tại cần khắc phục và điều chỉnh.

44

2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân

2.3.2.1. Tồn tại

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công ty cũng để lộ ra những tồn tại sau:

- Về tổ chức hoạt động phân tích

Hoạt động phân tích của công ty chỉ được tiến hành vào cuối mỗi năm tài chính

sau khi thu thập đầy đủ thông tin và hoàn chỉnh các BCTC. Thông thường như hiện

nay thì các BCTC phải đến quý I sang năm mới hoàn tất trong khi mục tiêu của phân tích tài chính là để đánh giá thực trạng của kỳ này để đưa ra chiến lược trong tương

lai. Chính vì thế đã làm giảm đi ý nghĩa thực tiễn của hoạt động phân tích tài chính và những chiến lược, mục tiêu đưa ra không theo kịp với quá trình hoạt động của công

ty. Đây là thực tế không chỉ ở riêng công ty Thuận Thiên mà đa phần các công ty và

doanh nghiệp khác cũng như vậy.

- Về thông tin sử dụng trong phân tích

Hiện nay, công ty chỉ chủ yếu sử dụng thông tin lấy từ hai báo cáo chính quan

trọng nhất là BCĐKT và BCKQHĐKD để tiến hành phân tích, chưa sử dụng đến dữ

liệu của báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC. Thuyết minh BCTC là

nguồn cung cấp thông tin bổ sung cần thiết cho quá trình đánh giá tình hình tài chính

cũng như kết quả kinh doanh của công ty nhưng Công ty lập thuyết minh còn sơ sài,

không rõ ràng nên gây khó khăn trong việc lấy số liệu để phân tích.

Việc chưa sử dụng hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành vào quá trình phân tích

khiến cho kết quả cũng như chất lượng phân tích tài chính của công ty bị ảnh hưởng.

Thêm vào đó, việc không so sánh được với các doanh nghiệp khác cùng ngành cũng

gây bất lợi cho công ty vì đây là nhân tố quan trọng trong nền kinh tế thị trường như

hiện nay.

- Về nội dung phân tích

Nội dung phân tích là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính. Nội dung càng cụ thể bao nhiêu thì kết quả phân tích càng rõ ràng bấy nhiêu. Mặc dù công ty đã nêu được hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu nhưng chỉ dừng lại ở việc đưa ra các con số tăng giảm chứ chưa đi sâu giải thích nguyên nhân của sự tăng giảm

đó chính vì thế kết quả phân tích chỉ mang tính khái quát, thiếu trọng điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động phân tích tài chính cũng như thực tiễn hoạt động của công ty.

- Về phương pháp phân tích

Hiện nay công ty đang áp dụng hai phương pháp phân tích phổ biến đó là phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ. Tuy nhiên, việc sử dụng hai

phương pháp này mang tính đơn điệu và cứng nhắc, chủ yếu mới chỉ là tính toán các

45

chỉ số, so sánh để thấy được sự tăng, giảm chứ chưa nêu bật được điểm mạnh, điểm yếu gây khó khăn cho việc ra quyết định và dự báo tình hình tài chính.

- Về đội ngũ cán bộ phân tích

Công ty vẫn chưa có bộ phận riêng để thực hiện công việc phân tích mà công

việc phân tích vẫn do phòng kế toán đảm nhiệm, việc này gây ảnh hưởng không nhỏ

đến chất lượng phân tích. Thực tế ở Việt Nam vẫn còn rất nhiều công ty, doanh nghiệp chưa tách bạch giữa bộ phận phân tích tài chính và bộ phận kế toán, chủ yếu

vẫn thực hiện công tác kế toán là chính còn về nghiệp vụ phân tích tài chính vẫn chưa

được coi trọng. Cán bộ phân tích chủ yếu là kế toán trưởng và các kế toán viên chưa

được đào tạo chuyên nghiệp về phân tích tài chính. Chính vì thế, dẫn đến việc phân tích tài chính tại công ty còn nhiều bất cập, và kết quả phân tích nhiều khi không đáp

ứng được yêu cầu của người sử dụng.

2.3.2.2. Nguyên nhân

Nguyên nhân chủ quan

- Thông tin sử dụng trong phân tích

Việc phân tích phải đòi hỏi thu thập được nguồn thông tin đa dạng và chính xác

kể cả bên trong lẫn bên ngoài công ty. Việc công ty chỉ sử dụng nguồn thông tin nội bộ mà không sử dụng thông tin bên ngoài sẽ làm cho kết quả phân tích không chuẩn

xác, bị thiếu hụt vì thông tin bên ngoaì cũng là một nguồn thông tin vô cùng quan

trọng và giúp ích cho việc phân tích rất nhiều.

- Trình độ cán bộ phân tích

Trình độ nghiệp vụ của các cán bộ phân tích còn yếu kém, chuyên môn chính

thường là kế toán, hiểu biết về tài chính chưa nhiều, chưa nắm rõ được hết vai trò

quan trọng của hoạt động phân tích. Việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn của

cán bộ chưa được công ty chú trọng, chủ yếu những người phân tích được cử tham gia

các khóa đào tạo ngắn hạn. Hơn thế nữa, đội ngũ cán bộ thực hiện công tác phân tích tài chính vẫn mang hình thức kiêm nhiệm và chưa có một chế độ ưu đãi nào khác ngoài lương thưởng như các nhân viên kế toán bình thường khác, do vậy không khuyến khích được tinh thần lao động của đội ngũ phân tích tài chính.

- Ban lãnh đạo công ty chưa thực sự quan tâm đến hoạt động phân tích

Mặc dù nhận thức được ý nghĩa quan trọng của hoạt động này nên chưa có được sự quan tâm đúng mực. Hơn nữa các nhà lãnh đạo chỉ coi đây là một công việ mang

tính hình thức hình thức chứ chưa sử dụng nó để tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của công ty mình.

46

Nguyên nhân khách quan

Tại Việt Nam, hoạt động phân tích chưa thực sự hiệu quả và mang tính hình

thức chưa có sự kiểm tra giám sát nghiêm ngặt của đội ngũ cán bộ chuyên trách.

Báo cáo tài chính của các công ty thường ít được công khai chính vì thế không

so sánh được các chỉ tiêu tương tự ỏ các doanh nghiệp khác cùng ngành. Hơn nữa, hệ

thống chỉ tiêu trung bình chưa hoàn thiện để có thể so sánh và đối chiếu.

Bên cạnh đó, các văn bản pháp lý quy định về hoạt động tài chính, kế toán ở

nước ta còn chưa hoàn thiện, thường xuyên thay đổi qua các năm gây không ít khó

khăn cho hoạt động phân tích cũng như dự báo tình hình tài chính.

47

3CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ THUẬN THIÊN

3.1. Định hƣớng hoạt động kinh doanh của công ty

Định hướng phát triển lâu dài của công ty là hướng đến mở rộng công ty về cả

quy mô cũng như phạm vi hoạt động, không chỉ tập trung vào khu vực Hà Nội mà còn muốn đẩy mạnh hoạt động kinh doanh ra các tỉnh miền bắc và các tỉnh thành khác trên

cả nước. Chính vì vậy công ty luôn hoạt động với phương châm đảm bảo chất lượng

hàng hóa và xây dựng uy tín của công ty với các khách hàng. Ngoài ra công ty cũng

không ngừng hoạt động quảng bá hình ảnh bằng cách tham gia các hội chợ, triển lãm về sản phẩm trong ngành xây dựng và máy móc để đến gần hơn với khách hàng.

Phần lớn công ty đã tận dụng được nguồn vốn vay khá tốt từ việc quay vòng vốn

nhanh. Tuy nhiên, tỷ trọng về hàng tồn kho và các khoản phải thu trên tổng tài sản còn khá lớn, nguồn vốn đọng lại ở các khoản này nhiều làm giảm khả năng sinh lời của một bộ phận tài sản. Rủi ro thanh khoản cao khi lượng dự trữ tiền mặt trong công ty

còn khá thấp, khả năng quản lý chi phí của công ty cũng chưa thực sự hiệu quả. Bên

cạnh đó, các chỉ số về khả năng sinh lời thấp sẽ khó có khả năng thu hút vốn từ cá nhà

đầu tư. Chính vì thế, công ty cần có những chính sách phù hợp trong việc quản lý hàng

tồn kho, xác định mức dự tữ tối ưu sao cho chi phí lưu kho là thấp nhất. Đồng thời,

tăng lượng dự trữ tiền mặt trong công ty để đối phó với những biến cố bất thường và

cân đối giữa việc sử dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu của công ty để không phải phụ

thuộc quá nhiều từ bên ngoài, giúp cho công ty chủ động hơn về mặt tài chính. Ngoài

ra, cần chú trọng nâng cao khả năng quản lý chi phí, đề ra các biện pháp nhằm cắt

giảm các khoản chi phí không hợp lý, lập kế hoạch chi tiêu cụ thể và cố gắng hoàn

thành mục tiêu đã đề ra.

3.2. Một số giải nhằm hoàn thiện phân tích tài chính tại công ty TNHH Kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên

3.2.1. Một số giải pháp

3.2.1.1. . Hoàn thiện về tổ chức hoạt động phân tích

Để phân tích tài chính trở thành công cụ hiệu quả trong việc ra quyết định thì hoạt động phân tích tài chính cần phải được tổ chức một cách khoa học, phù hợp với

đặc điểm của công ty cũng như đáp ứng được sự quan tâm của từng đối tượng. Muốn

hoàn thiện tổ chức hoạt động phân tích tài chính cũng như có thể tăng tần suất phân tích trong một năm thì trước hết cần phải xây dựng một quy trình tổ chức phân tích

48

hợp lý, rõ ràng, minh bạch và thực hiện phân tích theo quy trình đã định, Quy trình tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm các bước sau:

- Bước 1: Lập kế hoạch phân tích

Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định phương hướng cũng như hiệu quả của quá

trình phân tích.

Trước hết cần xác định được mục tiêu phân tích của mình để từ đó nhận định chính xác, đi sâu vào vấn đề chính, tránh lãng phí thời gian, tiết kiệm chi phí. Hoạt

động phân tích tài chính tại công ty nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng tài chính của

công ty trong thời gian qua đồng thời xây dựng kế hoạc tài chính cho thời gian tới.

Bên cạnh đó, xây dựng dựng được hệ thống BCTC để trình lên lãnh đạo cũng như các cơ quan Nhà nước theo quy định. Như vậy ngoài việc giải trình số liệu về tài chính,

các kết quả phân tích còn phải thể hiện được tình hình tài chính của công ty trên từng

khía cạnh cụ thể và tìm ra điểm mạnh yếu của tình hình tài chính hiện tại của công ty,

tìm ra nguyên nhân gây ra sự suy giảm hay tăng trưởng của khả năng sinh lời cũng

như tác động của nó đến kết quả hoạt động của công ty để từ đó dự báo và lập kế

hoạch tài chính và làm căn cứ cho việc xây dựng biện pháp khắc phục nhược điểm,

chiến lược cũng như phương hướng phát triển cho tương lai.

Sau khi đã xác định được mục tiêu, ta cần lập kế hoạch phân tích bao gồm nội

dung phân tích, nguồn nhân lực cho phân tích và thời gian tiến hành phân tích. Nội dung phân tích cần nêu khái quát tình hình tài chính của công ty cũng như phân tích cơ

cấu tài chính, phân tích các chỉ tiêu tài chính. Xác định số lượng nhân sự phục vụ cho

phân tích, có kế hoạch phân công chi tiết và thông báo đến từng bộ phận, cá nhân theo

kế hoạch. Thời gian tiến hành phân tích nên quy định ngay sau khi các BCTC được lập

xong và độ dài thời gian cũng cần được xác định rõ ràng.

- Bước 2: Thu thập và xử lý thông tin

Chất lượng phân tích tài chính phụ thuộc rất nhiều vào thông tin sử dụng. thông

tin dung để phân tích cần phải chính xác, đầy đủ, kịp thời và có tính so sánh.

Sau khi đã có đầy đủ số liệu trong tay các nhà phân tích tiến hành xử lý số liệu, tính toán các chỉ tiêu phân tích. Từ đó, xác định nguyên nhân và tính toán mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích.

- Bước 3: Tiến hành phân tích

Tiến hành phân tích đầy đủ các nội dung theo mục tiêu đã định. Phân tích khái

quát tình hình sản xuất kinh doanh, cơ cấu tài chính cũng như các chỉ tiêu tài chính.

- Bước 4: Dự đoán và quyết định

Sau khi đã có được kết quả từ xử lý thông tin, các nhà phân tích sẽ xác định và dự đoán những nhân tố tác động và ảnh hưởng đến tình hình tài chính của công ty

49

mình. Để từ đó, tổng hợp kết quả, rút ra kết nhận xét, kết luận, nhận xét về tình hình tài chính của công ty. Đồng thời đưa ra một số biện pháp để phát huy những thành

công hiện có cũng như khắc phục những hạn chế còn tồn taị. Bên cạnh đó, đưa ra các

quyết định tài chính, dự báo và lập kế hoạch tài chính cho tương lai.

3.2.1.2. Hoàn thiện về hệ thống thông tin phục vụ cho phân tích tài chính

Thông tin sử dụng cho phân tích tài chính rất đa dạng, được lấy từ nhiều nguồn

khác nhau, được chia làm hai loại chính là thông tin bên trong và thông tin bên ngoài.

- Thông tin bên trong là thông tin được thu thập vào tổng hợp từ hệ thống BCTC của công ty, số liệu từ các BCTC phải phản ánh đầy đủ, trung thực và chính xác

tình hình hoạt động kinh doanh của công ty. Ngoài ra, cũng cần phải lấy từ tài liệu kế toán trong nội bộ công ty để theo dõi sự biến động tình hình sản xuất kinh doanh cũng

như toàn bộ hoạt động của công ty trong ngày, trong tháng để phát hiện và giải quyết

kịp thời những vấn đề phát sinh.

- Thông tin bên ngoài: Sự phát triển của công ty chịu tác động của nhiều yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài công ty. Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự

báo tài chính giúp cho việc ra các quyết định về tài chính trong tương lai của công ty.

Chính vì thế, thông tin sử dụng không chỉ gói gọn trong những thông tin tài chính hiện tại và quá khứ của công ty mà còn phải mở rộng ra bên ngoài. Đó là những thông tin

chung về kinh tế, chính trị, luật pháp, thông tin về ngành,…

+

Các thông tin chung về kinh tế: Đó là các thông tin phản ánh chung về tình hình kinh tế, sự tăng trưởng hay suy thoái của một nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát thất

nghiệp là bao nhiêu, triển vọng tăng trưởng trong tương lai như thế nào… và những

nhân tố ấy sẽ đưa đến ảnh hưởng như thế nào với Công ty để có những hướng đi phù

hợp.

+

Thông tin về chính trị, luật pháp: Sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của Công ty nói riêng cũng như các doanh nghiệp khác cùng ngành nói chung là như

thế nào ví dụ như những biện pháp giúp đỡ tài chính, chính sách thuế, tỷ giá, chính sách ưu đãi… Ngoài ra, công ty cũng nên chủ động tiếp cận với các Bộ, Sở cũng như các cơ quan ban ngành có liên quan tại địa phương để nắm được những thay đổi về hành lang pháp lý, những điều tiết đối với hoạt động kinh doanh để có những điều chỉnh phù

hợp với công ty của mình.

+

Các thông tin theo ngành: Đây cũng là một nội dung đáng quan tâm của các nhà phân tích, là những thông tin chung về ngành mà công ty đang tham gia ví dụ như

tốc độ phát triển chung của ngành, hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, số lượng các công ty, doanh nghiệp hoạt động trong ngành cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của họ… Qua đó, giúp công ty đánh giá được tiềm năng phát triển của ngành

50

trong tương lai cũng như vị thế của công ty, năng lực hoạt động của công ty so với mức chỉ tiêu trung bình ngành.

+

Ngoài ra còn có thông tin khác như thông tin về bản thân công ty: đặc điểm hoạt động của công ty về quy mô, hình thức sở hữu vốn..., về cơ cấu tổ chức trong

công ty, mục tiêu hoạt động…

Các thông tin này nên được tổng hợp định kỳ hàng tháng và chuyển về cho cán bộ phân tích. Đồng thời, công ty cũng cần kiểm tra thường xuyên và nghiêm túc để có

thể phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm và nhầm lẫn trong khâu kế toán.

Công ty cũng cần hoàn thiện báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo

tài chính để sử dụng vào việc phân tích nhằm tạo điều kiện thuận lợi

3.2.1.3. Hoàn thiện về nội dung phân tích tài chính

Nội dung phân tích được xem là cốt yếu bởi lẽ nó quyết định chất lượng phân

tích. Về cơ bản, nội dung phân tích tại công ty TNHH kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên đã nêu được các chỉ tiêu quan trọng, tuy nhiên để có được kết quả phân tích tốt

hơn cần bổ sung một số chỉ tiêu sau:

- Hệ số khả năng thanh toán tức thì

Bảng 3.1. Phân tích khả năng thanh toán tức thì

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Tiền và các

khoản tương

1 đương tiền Đồng 2.101.144.285 2.756.147.938 2.530.550.148

Tổng nợ ngắn

2 hạn Đồng 3.603.059.115 4.172.220.754 5.977.028.931

Khả năng thanh

3 toán tức thì Lần 0,58 0,66 0,42

(Nguồn: Số liệu tính toán từ BCTC năm 2010- 2012)

Khả năng thanh toán tức thì biến động không đều qua các năm. Năm 2011 đạt 0,66 tức là tăng 0,08 lần so với năm 2010 và cao hơn 0,24 lần so với năm 2012. Khả

năng thanh toán tức thời thể hiện việc sử dụng tiền và các khoản tương đương tiền để thanh toán ngay cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần chuyển đổi các TSNH khác sang các tài sản có tính lỏng cao như tiền. Nguyên nhân là do tiền và các khoản tương đương tiền năm 2011 tăng 655.003.653 VNĐ tương ứng tăng 31,17% so với năm 2010. Năm 2012 tiền và các khoản tương đương tiền lại giảm 8,2% do đó làm giảm tính thanh khoản của công ty, công ty dễ gặp khó khăn trong việc phản ứng với những

51

rủi ro, bất thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như nền kinh tế. Chính vì thế, cần có chính sách quản lý thu chi tiền hợp lý để làm giảm rủi ro thanh toán.

- Phân tích chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Bảng 3.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tổng tài sản

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1 Doanh thu thuần Đồng 10.566.124.249 9.044.321.040 8.855.951.081

Tổng TS Đồng 5.636.201.842 6.217.409.015 8.044.766.368 2

Hiệu suất sử Lần 1,87 1,45 1,10 3 dụng tổng TS

(Nguồn: Số liệu tính toán từ BCTC năm 2010- 2012)

Dựa vào bảng phân tích số liệu có thể thấy được hiệu suất sử dụng tổng tài sản

đang có xu hướng giảm qua các năm. Bên cạnh đó thì doanh thu thuần và tổng tài sản

cũng đang có chiều hướng biến động không ít. Điều này cho thấy rằng việc sử dụng tài

sản của công ty vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Cụ thể như sau:

Năm 2010-2011: Năm 2010 hiệu suất sử dụng của tổng tài sản là 1,87 lần, sang

năm 2011 là 1,45 lần, giảm 0,42 lần. Ở đây có thể hiểu rằng một đồng tài sản đưa vào

hoạt động kinh doanh thì thu được 1,45 đồng doanh thu thuần. Chỉ số này giảm do

doanh thu thuần giảm trong khi tổng tài sản lại tăng. Tuy việc đầu tư của tài sản vảo

doanh thu thuần giảm nhưng tỷ lệ này vẫn đạt ở mức cao.

Năm 2011-2012: Việc tiếp tục đầu tư vào tài sản tăng 29,4% nhưng lại chưa

đảm bảo doanh thu tăng tướng ứng nên hiệu suất sử dụng tài sản giảm xuống chỉ còn

1,1 lần. Tức là năm 2012, một đồng tài sản bỏ ra đầu tư chỉ thu được 1,1 đồng doanh

thu thuần. Nguyên nhân là do trong năm 2012, công ty vẫn tiếp tục mở rộng hoạt động và doanh thu thuần giảm trong khi tổng tài sản lại tăng, thêm vào đó là sự gia tăng

mạnh mẽ của hàng tồn kho khiến cho tổng tài sản tăng lên. Điều này chính là nguyên

nhân làm giảm hiệu suất sử dụng tổng tài sản trong năm. Vì vậy, công ty cần có những

chính sách sử dụng tài sản một cách hợp lý hơn, để mức tăng doanh thu thuần tương ứng với tăng tổng tài sản của công ty.

3.2.1.4. Hoàn thiện về phương pháp phân tích tài chính

Hoàn thiện phương pháp phân tích sẽ giúp cho công ty có một cái nhìn toàn diện và đúng mức hơn về hiện trạng tài chính cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của mình.

Hiện nay Công ty TNHH kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên mới chỉ áp dụng hai phương pháp phân tích truyền thống là phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ. Việc sử dụng hai phương pháp này chỉ dừng lại ở việc tính toán các chỉ tiêu cơ bản chứ chưa cho thấy được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu cũng như mức đọ ảnh

52

hường của các nhân tố khác đến các chỉ tiêu cần phân tích. Chính vì thế, để nâng cao hiêu quả phân tích tài chính. Công ty nên áp dụng phương pháp Dupont. Đây là

phương pháp phân tích khoa học, cho thấy được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu thành

phần với các chỉ tiêu tổng hợp,từ đó có thể tìm ra nguyên nhân dẫn đế những kết quả

tích cực cũng như tiêu cực của tình hình tài chính, để từ đó lựa chọn hướng đi phù

hợp, đúng đắn hơn.

Ví dụ áp dụng phương pháp Dupont để phân tích các nhân tố tác động lên ROE

của Công ty TNHH kỹ thuật và công nghệ Thuận Thiên giai đoạn 2010- 2012 như sau:

Bảng 3.3. Phân tích ROE theo phƣơng pháp phân tích Dupont

STT Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1 ROS (%) 0,51 0,13 0,25

2 Hiệu suất sử dụng tổng TS (Lần) 1,87 1,45 1,10

Tổng TS/ Tổng VCSH (Lần) 3 2,77 3,04 3,89

4 ROE (%) 2,65 0,59 1,09

(Nguồn: Số liệu tính toán từ BCTC năm 2010- 2012)

Từ bảng phân tích trên có thể thấy chỉ tiêu ROE là không ổn định và có xu hướng

giảm. ROE đạt mức cao nhất tại năm 2010 với 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 2,65

đồng lợi nhuận, và sau đó thay đổi qua các năm, cụ thể:

Năm 2011 chỉ tiêu ROE giảm chỉ còn 0,59% do sự sụt giảm đồng bộ của các chỉ

tiêu ROS, hiệu suất sử dụng tổng tài sản. ROS giảm từ 0,51% xuống còn 0,13% tương

ứng giảm 73,87%, hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm từ 1,87 lần xuống còn 1,45 lần

tương ứng với 22,4% . Mặc dù chỉ tiêu tổng tài sản trên tổng VCSH có tăng từ 2,77 lên thành 3,04 lần tương ứng 9,6% nhưng tốc độ tăng của chỉ tiêu này lại nhỏ hơn so với

tốc độ giảm của 2 chỉ tiêu ROS và hiệu suất sử dụng tổng tài sản.

Năm 2012, chỉ tiêu ROS lại tăng lên thành 0,25%, chỉ tiêu tổng tài sản trên tổng

VCSH cũng tăng thành 3,89 lần. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản có giảm nhưng không đáng kể chính vì thế làm cho ROE tăng lên thành 1,09%, có nghĩa là sử dụng 100 đồng VCSH thì tạo ra được 1,09 đồng lợi nhuận sau thuế.

Từ những phân tích trên, có thể thấy chỉ tiêu ROE chịu sự chi phối mạnh mẽ của các chỉ tiêu thành phần cấu tạo nên nó. Do vậy, công ty cần có những biện pháp hợp lý trong việc quản lý chi phí, doanh thu và tăng hiệu suất sử dụng của tài sản nhằm làm gia tăng khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp từ những yếu tố đầu vào sẵn có.

53

3.2.1.5. Đào tạo, nâng cao đội ngũ cán bộ thực hiện phân tích tài chính

Con người là nhân tố quan trọng trong mọi họat động đối với công ty nói chung

và trong việc phân tích tài chính nói riêng. Trình độ cán bộ thực hiện công việc phân

tích là một trong những nhân tố quyết định có ảnh hưởng lớn đến chất lượng phân tích

tài chính của công ty.

Tại công ty hiện nay chưa có đội ngũ nhân viên chuyên về phân tích tài chính mà chủ yếu là cán bộ và nhân viên của phòng kế toán. Mặc dù các nhân viên kế toán có

kiến thức rất chắc về kế toán nhưng lại khá lúng túng trong vấn đề phân tích tài chính

tại công làm cho kết quả phân tích không được như ý muốn. Chính vì thế, công ty cần

có kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cán bộ kế toán bằng cách mời các chuyên gia có kinh nghiêm đến giảng dạy hoặc cử cán bộ đi học.

Thêm vào đó, trong tình hình hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động trong môi

trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp

phải không ngừng nâng cao chất lượng quản lý. Chính vì thế, đòi hỏi bản thân doanh

nghiệp phải có một đội ngũ phân tích giỏi về chuyên môn cũng như hiểu biết sâu rộng

về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, kinh tế vĩ mô, chính sách pháp luật của

Nhà nước cũng như xu hướng biến động của nền kinh tế. Vậy nên công ty có thể tiến hành tuyển dụng chuyên viên phân tích tài chính. Việc tuyển dụng này sẽ giúp công ty

tiết kiệm được chi phí đào tạo cũng như có ngay được một đội ngũ nhân viên chuyên

trách. Sau đó, hàng năm công ty có thể cử những nhân viên này tiếp tục đi đào tạo

thêm để nâng cao trình độ chuyên môn. Nhờ đó, công ty vừa có cán bộ để sử dụng,

vừa có thể từng bước nâng cao tay nghề của họ cho phù hợp với sự phát triển của công

ty cũng như sự phát triển của nền kinh tế.

3.3. Một số kiến nghị

Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, môi trường cạnh tranh ngày càng

gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý doanh

nghiệp và quản lý tài chính nói riêng. Do đó, tầm quan trọng của việc hoàn thiện phân tích tài chính ngày càng được nâng lên, đòi hỏi các công ty, các doanh nghiệp phải tiến hành các biện pháp để hoàn thiện nội dung phân tích của mình và nâng cao hiệu quả của hoạt động tài chính. Bên cạnh đó, cũng không thể thiếu được sự hỗ trợ từ phía Nhà

nước và các Bộ, Ngành có liên quan.

3.3.1. Đối với Nhà nước

Trước hết, để tạo tiền đề cho việc cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác, Nhà

nước cần hoàn thiện về hệ thống kế toán, kiểm toán.

Thứ nhất, Nhà nước và Bộ tài chính cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi và hoàn

thiện chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam theo hướng phù hợp với nền kinh tế thị

54

trường, phù hợp với đặc điểm của mọi thành phần kinh tế đồng thời hòa nhập với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Thứ hai, cần có sự ổn định trong việc ban hành chế độ quản lý tài chính và hạch

toán trong kinh doanh, tránh tình trạng chính sách thường xuyên thay đổi gây lúng

túng cho các công ty, doanh nghiệp trong quá trình quản lý hoạt động của mình. Bên

cạnh đó, cần tránh không để tình trạng nhiều cơ quan, tổ chức trong cùng một lĩnh vực có những quy định khác nhau. Đồng thời, cũng cần thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh

những quy định còn bất hợp lý và bổ sung thêm những quy định phù hợp để điều chỉnh

hoạt động theo yêu cầu của từng thời kỳ phát triển kinh tế.

Thứ ba, các cơ quan kiểm toán Nhà nước cần thực hiện tốt nhiệm vụ của mình để đảm bảo tính khác quan của công tác kiểm toán, tăng cường sự kiểm tra đánh giá của

nhà nước. Bảo đảm cho công tác kiểm toán tiến hành tại các doanh nghiệp được thực

hiện đúng thời gian với đầy đủ các nội dung và nghiệp vụ theo yêu cầu. Báo cáo kịp

thời lên Bộ tài chính những bất hợp lý và sai phạm trong công tác hạch toán kế toán

của doanh nghiệp để góp phần nâng cao hiệu quả của phân tích tài chính.

Thứ tư, Nhà nước cần có những chính sách để xây dựng thị trường tài chính, thị

trường vốn ổn định phát triển thị trường chứng khoán để ra nhiều kênh huy động vốn

cho doanh nghiệp. thông qua các trung gian tài chính như: ngân hàng thương mại, tổ

chức tín dụng, quỹ đầu tư… để hoà nhập thị trường vốn trong nước và ngoài nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể tự huy động vốn thông qua các hình thức phát

hành cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp liên doanh… Ngoài ra, cũng cần hoàn thiện hệ

thống pháp luật để tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh

nghiệp cũng là yếu tố cần thiết.

Thứ năm, Nhà nước cần có sự ưu ái và hỗ trợ thiết thực đối với các nhà thầu

trong nước về vốn như đơn giản hóa các thủ tục về xin vay vốn, bảo lãnh, thế chấp…

Có chính sách hỗ trợ lãi suất, tạo điều kiện thanh toán vốn xây dựng cơ bản cho các

doanh nghiệp thực hiện các công trình trọng điểm, công trình kinh tế ở vùng khó khăn nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp.

3.3.2. Đối với Bộ, Ngành có liên quan

Thứ nhất, Bộ tài chính nên có những quy định rõ ràng về việc thực hiện công

khai các BCTC để làm sở cho việc quản lý cũng như phân tích các BCTC được dễ dàng, thuận lợi hơn.

Thứ hai, cần sớm có kế hoạch hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu trung bình trong ngành xây dựng. Đây là cơ sở tham chiếu để các nhà phân tích có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá, kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp mình một cách

55

chính xác trong tương quan so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành, với đà phát triển chung của kinh tế.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay phần lớn các ngành nghề trong đó có ngành xây

dựng đều có chỉ tiêu nhưng chưa đầy đủ và chính xác chính vì thế, hệ thống chỉ tiêu

trung bình ngành chưa thực sự phát huy được hiệu quả trong phân tích tài chính, gây ra

nhiều khó khăn, lúng túng cho các nhà phân tích trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chính vì thế, cần có sự phối hợp giữa các Bộ, Ngành liên

quan để sớm đưa ra những văn bản hướng dẫn cụ thể và xây dựng hệ thống chỉ tiêu

trung bình ngành thống nhất, chuẩn mực. Có như thế, hệ thống chỉ tiêu trung bình

ngành mới góp phần làm cho công tác phân tích tài chính phát huy được hết hiệu quả.

Thứ ba, Bộ tài chính cần có sự phối hợp với bộ, sở kế hoạch đầu tư và các cơ

quan có liên quan để có những hướng dẫn cụ thể về phân tích tài chính. Phối hợp, giúp

đỡ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, công ty trong việc đào tạo cán bộ phân tích

cũng như kỹ thuật phân tích để tiến tới mục tiêu là các công ty, doanh nghiệp phải tự

thực hiện phân tích tài chính của mình, tự đánh giá hoạt động để đề ra những phương

hướng phát triển và báo cáo lên cơ quan cấp trên.

56

KẾT LUẬN

Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại đang từng bước phát triển và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, các công ty phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp như

sự biến động liên tục của nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt giữa các công

ty, các doanh nghiệp trong và ngoài nước… Vì vậy, đòi hỏi bản thân mỗi công ty, mỗi

doanh nghiệp phải xác định được phương hướng , mục tiêu trong hoạt động cũng như phát huy tối đa hiệu quả của những nguồn lực sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất

trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, cũng cần hoàn thiện phân tích tình

hình tài chính để có cái nhìn toàn diện, khách quan về tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định một cách đúng đắn những tồn tại trong hoạt động kinh doanh để từ đó

đưa ra những giải pháp kịp thời và dự đoán được những hệ quả tài chính từ hoạt động

của mình. Mặt khác, kết quả của phân tích tài chính cũng là mối quan tâm hàng đầu

của các nhà đầu tư, chủ nợ của doanh nghiệp vì những thông tin này ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư của họ.

Qua quá trình phân tích tài chính tại công ty TNHH kỹ thuật và công nghệ Thuận

Thiên, bên cạnh một số điểm tồn tại trong hoạt động phân tích tài chính thì nhìn chung

công ty hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Do đó, để khắc phục những tồn tại đòi hỏi

bản thân công ty cần chú trọng hơn nữa đến việc hoàn thiện phân tích tài chính

đểkhông ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính,hoạt động sản xuất kinh doanh

của mình.

Tuy nhiên, do chưa có nhiều thông tin khi phân tích cũng như hạn chế về mặt

trình độ, kinh nghiệm thực tế nên những đánh giá trong khóa luận này chưa được sát

thực còn mang tính chủ quan, các giải pháp đưa ra chưa chắc đã tối ưu. Vì vậy, em rất

mong nhận được sự đóng góp, bổ sung từ phía quý thầy cô để bài khóa luận được hoàn thiện hơn và giúp ích cho công việc của em sau này.

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo đặc biệt là cô giáo Th.s

Ngô Thị Quyên đã tận tình hướng dẫn để giúp em hoàn thành khóa luận này.

Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2014

Sinh viên thực hiện Phạm Minh Nhật

57

PHỤ LỤC

Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH kỹ thuật & công nghệ Thuận Thiên qua

3 năm 2010-2012

Đơn vị tính: Đồng

Năm Chỉ tiêu 2010 2012 2011

TÀI SẢN

A-TÀI SẢN NGẮN HẠN 5.402.701.000 5.961.646.648 7.877.118.462

I. Tiền và các khoản tƣơng 2.101.144.285 2.756.147.938 2.530.550.148 đƣơng tiền

1.Tiền 2.101.144.285 2.756.147.938 2.530.550.148

II. Các khoản đầu tƣ tài chính 0 0 0 ngắn hạn

1. Đầu tư ngắn hạn 0 0 0

III. Các khoản phải thu ngắn 1.557.328.538 1.596.147.726 2.751.579.545 hạn

1. Phải thu khách hàng 1.378.671.137 1.582.380.291 1.615.805.789

2. Trả trước cho người bán 55.443.401 13.767.435 1.126.373.756

3. Các khoản phải thu khác 123.214.000 0 9.400.000

IV. Hàng tồn kho 1.721.422.096 1.509.415.993 2.473.015.531

1. Hàng tồn kho 1.721.422.096 1.509.415.993 2.473.015.531

V. Tài sản ngắn hạn khác 22.806.081 99.934.991 121.973.238

1. Thuế giá trị gia tăng được khấu 22.806.081 99.934.991 110.782.042 trừ

11.196 11.196 0 2. Thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước

3. Tài sản ngắn hạn khác 0 0 11.180.000

B- Tài sản dài hạn 233.500.842 255.762.367 167.647.906

I. Tài sản cố định 214.185.045 202.585.952 140.225.972

1. Tài sản cố định hữu hình 214.185.045 202.585.952 140.225.972

Nguyên giá 276.342.857 317.132.857 317.132.857

58

Giá trị hao mòn lũy kế -62.157.812 -114.546.905 -176.906.885

II. Tài sản dài hạn khác 19.315.797 53.176.415 27.421.934

1. phải thu dài hạn 19.315.797 53.176.415 27.421.934

TỔNG CỘNG TÀI SẢN 5.636.201.842 6.217.409.015 8.044.766.368

NGUỒN VỐN

A-NỢ PHẢI TRẢ 3.603.059.115 4.172.220.754 5.977.028.931

I. Nợ ngắn hạn 3.603.059.115 4.172.220.754 5.977.028.931

1. Vay ngắn hạn 180.000.000 808.200.000 973.000.000

2. Phải trả người bán 1.633.414.835 1.631.805.806 1.808.699.824

3. Người mua trả tiền trước 1.639.796.896 1.502.866.603 3.081.583.012

4. Thuế và các khoản phải nộp 149.847.384 205.494.345 113.746.095 Nhà nước

5. Phải trả người lao động 0 0 0

6. Các khoản phải trả, phải nộp 0 23.854.000 0 ngắn hạn khác

II. Nợ dài hạn 0 0 0

1. Vay và nợ dài hạn 0 0 0

B-VỐN CHỦ SỞ HỮU 2.033.142.727 2.045.188.261 2.067.737.437

I. Vốn chủ sở hữu 2.002.488.330 2.014.533.864 2.037.083.040

1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 1.500.000.000 1.500.000.000 1.500.000.000

2. Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu 58.551.521 58.551.521 58.551.521

443.936.809 455.982.343 478.531.519 3. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

30.654.397 II. Quỹ khen thƣởng, phúc lợi 30.654.397 30.654.397

TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN 5.636.201.842 6.217.409.015 8.044.766.368

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010-2012)

59

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH kỹ thuật & công nghệ

Thuận Thiên qua 3 năm 2010- 2012

Đơn vị tính: Đồng

Năm Chỉ tiêu 2010 2012 2011

Doanh thu thuần về bán hàng 10.566.124.249 9.044.321.040 8.855.951.081 và cung cấp dịch vụ

Giá vốn hàng bán 7.328.503.615 7.737.428.080 7.623.264.215

3.237.620.634 1.306.892.960 1.232.686.866 Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ

Doanh thu hoạt động tài chính 2.712.639 2.904.650 1.594.429

Chi phí tài chính 28.889.921 193.532.139 142.140.426

Trong đó: Chi phí lãi vay 0 0 0

Chi phí quản lý doanh nghiệp 3.109.001.737 1.128.614.509 1.052.409.723

Lợi nhuận thuần từ hoạt động 102.441.615 41.650.962 39.731.146 kinh doanh

Thu nhập khác 696.400 3.797.750 200.000

Chi phí khác 0 29.388.000 9.865.578

Lợi nhuận khác 696.400 -25.590.250 -9.665.578

Tổng lợi nhuận kế toán trƣớc 103.138.015 16.060.712 30.065.568 thuế

Chi phí thuế thu nhập doanh 49.276.104 4.015.178 7.516.392 nghiệp

53.861.911 12.045.534 22.549.176 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010- 2012)

60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. PGS.TS Lưu Thị Hương, PGS.TS Vũ Duy Hào (2011), Tài chính doanh nghiệp,

Nhà xuất bản đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

2. PGS.TS Lưu Thị Hương, PGS.TS Vũ Duy Hào (2012), Giáo trình Tài chính

doanh nghiệp, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

3. GS.TS Đặng Thị Loan(2012), Giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh

nghiệp, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, , Hà Nội.

61