BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM VIETINBANK CHI NHÁNH HOÀNG MAI

SINH VIÊN THỰC HIỆN

: LẠI ÁNH TUYẾT

MÃ SINH VIÊN

: A16211

CHUYÊN NGÀNH

: TÀI CHÍNH

HÀ NỘI – 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM VIETINBANK CHI NHÁNH HOÀNG MAI

Giáo viên hƣớng dẫn

: Ths.Chu Thị Thu Thủy

Sinh viên thực hiện

: Lại Ánh Tuyết

Mã sinh viên

: A16211

Chuyên ngành

: Tài chính

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Thăng Long. Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn

đến các thấy cô giáo trong bộ môn Kinh tế, trường Đại học Thăng Long đã tận tình

giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành

khóa luận tốt nghiệp này.

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Chu Thị Thu Thủy đã

tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh khóa luận

tốt nghiệp này.

Do giới hạn về kiến thức cũng như thực tiễn nên trong phạm vi khóa luận tốt

nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp bổ sung của các thầy cô và các bạn.

Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2014

Tác giả

Lại Ánh Tuyết

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp “Thực trạng và một số giải pháp cải

thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công thương Việt nam chi nhánh Hoàng Mai” là công trình nghiên cứu độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn của

Ths.Chu Thị Thu Thủy. Các số liệu và kết quả trong khóa luận là trung thực và không

sao chép từ bất cứ tài liệu nào.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Lại Ánh Tuyết

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU ..................................................................................................................

CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI TO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ................................................................................................ 1

1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thƣơng mại .............................................. 1 1.1.1. Khái niệm, bản chất và vai trò của tín dụng Ngân hàng ................................... 1 1.1.2. Phân loại hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại ............................. 3

1.1.2.1. Căn cứ vào thời gian tín dụng Ngân hàng ......................................................... 3

1.1.2.2. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm .......................................................................... 4

1.2. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thƣơng mại ..................................................... 4 1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng .................................................................................... 4

1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng ..................................................................................... 5

1.2.2.1. Căn cứ vào nguyên nhận rủi ro .......................................................................... 5

1.2.2.2. Căn cứ theo mức độ tổn thất .............................................................................. 5

1.2.2.3. Căn cứ theo đối tượng sử dụng .......................................................................... 6

1.2.2.4. Căn cứ vào tính tổng thể của rủi ro ................................................................... 6

1.2.2.5. Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro ............................................................... 6

1.2.2.6. Căn cứ vào phạm vi của rủi ro tín dụng............................................................. 6

1.3. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng ................................................................. 6

1.3.1. Quy mô tín dụng .................................................................................................. 6

1.3.2. Cơ cấu tín dụng .................................................................................................... 7

1.3.2.1. Nợ quá hạn ......................................................................................................... 7

1.3.2.2. Nợ xấu ................................................................................................................ 8 1.3.2.3. Dự phòng rủi ro tín dụng ................................................................................... 8

1.4. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng .................................................................... 9

1.4.1. Nguyên nhân khách quan ................................................................................... 9

1.4.2. Nguyên nhân chủ quan ..................................................................................... 10

1.5. Tác động của rủi ro tín dụng ............................................................................. 12 1.5.1. Giảm lợi nhuận của Ngân hàng ....................................................................... 12 1.5.2. Giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng ..................................................... 12 1.5.3. Giảm uy tín của Ngân hàng .............................................................................. 12

1.5.4. Phá sản Ngân hàng ........................................................................................... 12 1.6. Những dấu hiệu của rủi ro tín dụng .................................................................. 13

1.6.1. Nhóm dấu hiệu từ phát sinh từ phía khách hàng ............................................ 13

1.6.2. Nhóm dấu hiệu phát sinh từ phía Ngân hàng ................................................. 13 1.7. Quản trị rủi ro tín dụng trong Ngân hàng Thƣơng mại ................................. 14

1.7.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng ................................................................... 14

1.7.2. Sự cần thiết phải quản trị rủi ro tín dụng ........................................................ 14 1.7.3. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng ..................................................................... 16

1.7.3.1. Nhận biết rủi ro tín dụng .................................................................................. 16

1.7.3.2. Đo lường rủi ro tín dụng .................................................................................. 20

1.7.3.3. Ứng phó rủi ro .................................................................................................. 23

1.7.3.4. Kiểm soát rủi ro tín dụng ................................................................................. 25 1.7.4. Mô hình quản lý rủi ro tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng .......................... 26

1.7.4.1. Mô hình tổ chức quản lý rủi ro phân tán ......................................................... 26

1.7.4.2. Mô hình quản lý rủi ro tập trung ...................................................................... 26

1.7.4.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng ....................................... 27

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG VIETINBANK CHI NHÁNH HOÀNG MAI .............................................. 29

2.1. Khái quát chung về Ngân hàng VietinBank chi nhánh Hoàng Mai .............. 29

2.1.1. Cơ cấu bộ máy tổ chức Ngân hàng VietinBank chi nhánh Hoàng Mai......... 29

2.1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh .......................................................................... 29

2.2. Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại VietinBank chi nhánh Hoàng Mai .................................................................................................................... 33

2.2.1. Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng của Ngân hàng VietinBank chi nhánh Hoàng Mai ........................................................................................................ 33

2.2.1.1. Dư nợ và cơ cấu tín dụng của Ngân hàng ........................................................ 33

2.2.1.2. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng ........................................................................ 35

2.2.2. Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VietinBank chi nhánh Hoàng Mai ............................................................................................................................ 40

2.2.2.1. Mô hình tổ chức quản trị rủi ro tín dụng ......................................................... 40 2.2.2.2. Nội dụng quản trị rủi ro tín dụng ..................................................................... 41

2.3. Đánh giá chung hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại VietinBank chi nhánh Hoàng Mai ............................................................................. 49

2.3.1. Kết quả đạt được ................................................................................................ 49

2.3.2. Những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý rủi ro tín dụng .................. 50 2.3.2.1. Những tồn tại .................................................................................................... 50 2.3.2.2. Những nguyên nhân .......................................................................................... 51

CHƢƠNG 3:GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG VIETINBANK CHI NHÁNH HOÀNG MAI ............................................................................................................................... 55

3.1. Định hƣớng giai đoạn năm 2010-2015 của Ngân hàng Công Thƣơng Việt Nam chi nhánh Hoàng Mai................................................................................. 55

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam chi nhánh Hoàng Mai ..................................... 57

3.2.1. Nhóm giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng ................................................... 57

3.2.1.1. Hoàn thiện hệ thống thông tin quản trị rủi ro tín dụng.................................... 57

3.2.1.2. Đa dạng hóa danh mục cho vay nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng ................... 58

3.2.1.3. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc hơn nữa theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ .................................................................................................................... 59

3.2.2. Nhóm giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng .......................................................... 59

3.2.2.1. Thực hiện việc bảo hiểm tín dụng .................................................................... 59

3.2.2.2. Cho vay đồng tài trợ ......................................................................................... 60 3.2.2.3. Sử dụng các công cụ phái sinh trong ngăn ngừa rủi ro tín dụng .................... 61

3.2.2.4. Xử lý nợ xấu, nợ quá hạn dứt điểm .................................................................. 62

3.2.2.5. Thực hiện việc mua bán nợ .............................................................................. 63

3.2.3. Nhóm giải pháp chung ...................................................................................... 63

3.2.3.1. Nâng cao chất lượng phương pháp nhận dạng rủi ro...................................... 63

3.2.3.2. Thông lệ tốt nhất về báo cáo rủi ro tín dụng và công bố thông tin .................. 66

3.2.3.3. Các phản ứng có thể của Ngân hàng trước các vấn đề của Doanh nghiệp ..... 67

3.2.3.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực .............................................................. 67

3.2.3.5. Phối hợp giữa các phòng quan hệ khách hàng, phòng quản trị tín dụng và phòng quản lý rủi ro một cách khoa học và hiệu quả .............................................. 68

3.2.3.6. Đầu tư hệ thống hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng ....................................... 69 KẾT LUẬN .................................................................................................................. 70

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

BCTC Báo cáo tài chính

DN Doanh nghiệp

DNV&N Doanh nghiệp vừa và nhỏ

DPRR Dự phòng rủi ro

KH Khách hàng

NH Ngân hàng

NHCT Ngân hàng Công thương

NHNNVN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHTM Ngân hàng thương mại

NQH Nợ quá hạn

QHKH Quan hệ khách hàng

QLRR Quản lý rủi ro

RRTD Rủi ro tín dụng

SXKD Sản xuất kinh doanh

TCTD Tổ chức tín dụng

TDNH Tín dụng ngân hàng

TSĐB Tài sản đảm bảo

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1. Nguy cơ rủi ro đối với KH ............................................................................ 19

Bảng 1.2. Xếp hạng DN của Moody's ........................................................................... 21 Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh .......................................................................... 30

Bảng 2.2. Bảng số liệu phản ánh tình hình cho vay của chi nhánh theo các chỉ tiêu

(năm 2011-2013) ........................................................................................................... 33

Bảng 2.3. Các nhóm nợ trên tổng dư nợ của chi nhánh (năm 2011-2013) ................... 35 Bảng 2.4. Tỷ lệ NQH trên tổng dư nợ ........................................................................... 36

Bảng 2.5. Cơ cấu NQH theo đối tượng DN vừa và nhỏ ................................................ 36 Bảng 2.6. Tỷ lệ NQH của đối tượng DN vừa và nhỏ .................................................... 37

Bảng 2.7. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ......................................................................... 38

Bảng 2.8. Tỷ trọng các nhóm nợ 3, 4, 5 trong tổng nợ xấu ........................................... 38

Bảng 2.9. Tình hình tổng dư nợ theo TSĐB ................................................................. 39

Bảng 2.10. Tình hình trích lập dự phòng tại chi nhánh ................................................. 39

Bảng 2.11. Khả năng bù đắp rủi ro tài chính ................................................................. 40

Bảng 2.12. Phân hạng rủi ro danh mục tín dụng ........................................................... 43

Bảng 2.13. Xếp hạng tín dụng DN tại chi nhánh .......................................................... 45

Bảng 2.14. Bảng đánh giá TSĐB .................................................................................. 47

Bảng 2.15. Tỷ lệ trích lập DPRR của chi nhánh ........................................................... 48

Bảng 3.1. Bảng so sánh các chỉ tiêu .............................................................................. 64

Bảng 3.2. Bảng sử dụng trong phương pháp liệt kê ...................................................... 66

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1. Hoán đổi tổng thu nhập ................................................................................ 61

Sơ đồ 3.2. Sơ đồ về quyền chọn tín dụng ...................................................................... 62

Sơ đồ 3.3. Phương pháp nhận dạng rủi ro bằng đồ thị .................................................. 65

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động của ngân hàng vốn có vai trò to lớn đối với sự phát triển nền kinh tế

và xã hội. Điều này xuất phát từ đặc thù của hoạt động ngân hàng – điểm khác biệt so

với các doanh nghiệp kinh tế khác: ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính, kinh

doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, mang lại 80-90% thu nhập của mỗi ngân hàng,

tuy nhiên nghiệp vụ này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng cao quá mức sẽ ảnh

hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng.

Đồng thời trong bối cảnh nền kinh tế khủng hoảng (từ năm 2011 đến năm 2013), số doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đang không ngừng tăng lên, bản thân hệ

thống ngân hàng vốn được coi là “xương sống” của thị trường tài chính cũng gặp rất

nhiều khó khăn, đặc biệt với vấn đề nợ xấu từ hoạt động tín dụng. Điều này chứng tỏ

việc quản lý rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam chưa tốt.

Chính vì vậy vấn đề nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế đến mức

thấp nhất có thể những nguy cơ tiềm ẩn gây nên rủi ro tín dụng của các ngân hàng

thương mại đang và ngày càng trở nên cấp thiết.

Với lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp cải

thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công thương Việt nam chi

nhánh Hoàng Mai”.

2. Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trong

ngân hàng.

- Phân tích tình hình thực tiễn quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHCT Hoàng Mai. - Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín

dụng tại chi nhánh NHCT Hoàng Mai.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng của đề tài là Rủi ro tín dụng và công tác quản lý rủi ro tại chi nhánh

NHCT Hoàng Mai

- Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống quản trị RRTD theo mô hình TAII tại chi nhánh

NHCT Hoàng Mai từ năm 2011 đến năm 2013.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Khóa luận được nghiên cứu dựa trên các phương pháp chủ yếu là: duy vật biện

chứng, logic, so sánh, thống kê, tổng hợp và diễn giải.

5. Kết cấu khóa luận

Khóa luận bố cục thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Chương 2: Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công

thương Việt Nam chi nhánh Hoàng Mai từ năm 2011 đến năm 2013

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng

tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam chi nhánh Hoàng Mai

CHƢƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI TO TÍN DỤNG TẠI

NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thƣơng mại

1.1.1. Khái niệm, bản chất và vai trò của tín dụng Ngân hàng

"TDNH là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là NH với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó NH đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho

vay, hay nói cách khác, NH là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm

thừa vốn sang nơi thiếu. Giá (lãi suất) của khoản vay do NH ấn định cho KH vay là

mức lợi tức mà KH phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay". (Nguồn: Theo VietinBank.vn)

Xét về bản chất, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả với các

đặc trưng sau:

Thứ nhất, tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng bao gồm hai hình thức là tiền

hay hiện vật.

Thứ hai, tín dụng phải tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay

khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi

vay sẽ trả đúng hạn.

Thứ ba, giá trị được hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay hay

nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần thêm phần lãi ngoài vốn gốc.

Thứ tư, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện, có nghĩa là

bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

Vai trò của TDNH Tín dụng NH đóng vai trò trung gian giải quyết mâu thuẫn phát trình trong quá

trình tuần hoàn chu chuyển vốn của DN: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy

trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của DN phải đồng thời tồn tại ở ba giai đoạn :dự trữ,

sản xuất và lưu thông. Khi không có sự ăn khớp về mặt thời gian và khối lượng vật tư hàng hóa cần mua với việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa ở từng DN thì tất yếu xảy ra hiện tượng tạm thời thừa vốn hoặc thiếu vốn. Thông thường các DN thiếu vốn khi có nhu cầu mua, dự trữ vật tư hàng hóa và có vốn nhàn rỗi khi bán được sản phẩm hàng

hóa mà chưa có nhu cầu chi tiêu. Trong toàn bộ nền kinh tế ở một thời điểm nhất định sẽ có hai hiện tượng trái ngược tạo nên mâu thuẫn của quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn: Một nhóm DN tạm thời thừa vốn (bán được hàng nhưng chưa có nhu cầu

chi tiêu hoặc chi tiêu thấp). Một nhóm DN khác tạm thời thiếu vốn (hàng chưa bán được nhưng đã phát sinh nhu cầu chi tiêu, hoặc cần mở rộng hoạt động kinh doanh đổi

1

mới kĩ thuật, công nghệ…). Với nghiệp vụ huy động vốn, NH thương mại tạo điều

kiện cho các DN có cơ hội đầu tư, sinh lời từ nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời. Bằng nguồn vốn huy động được từ các NH có điều kiện đáp ứng vốn cho các DN có nhu cầu

vay vốn. Là cầu nối giữa bên thừa vốn và bên thiếu vốn tạm thời. tín dụng NH góp

phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh

doanh được tiến hành một cách liên tục, không bị gián đoạn.

TDNH góp phần giải quyết mẫu thuẫn giữa chu kì thu nhập và chu kì tiêu dùng: Tiêu dùng của mỗi cá nhân trong xã hội phụ thuộc vào thu nhập do lao động của họ

tạo ra. Trong khi nhu cầu tiêu dùng cần thiết tối thiểu của mỗi cá nhân không ngừng

tăng thêm theo thời gian thì thu nhập của họ không phải lúc nào cũng ổn định. Trong

thời gian đầu của cuộc sống, con người phải phải học tập, học nghề, chờ việc, …họ hầu như chưa tạo ra khoản thu nhập đáng kể nào, nhưng lại có nhu cầu chi tiêu cao.

Khi đã tham gia vào quá trình sản xuất xã hội, lao động của họ không những tạo ra thu

nhập đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu mà còn có khả năng dành một phần để tích lũy,

tích lũy để thỏa mãn một nhu cầu cao hơn hay để dự phòng. Huy động vốn tiền tệ của

nhóm những cá nhân có khoản thu nhập dành cho tích lũy và dự phòng và cho vay đối

với những nhóm cá nhân có thu nhập thấp hơn nhu cầu chi tiêu, tín dụng NH không

chỉ giải quyết được mâu thuẫn giữ chu kỳ thu nhập và chu kỳ tiêu dùng của các cá

nhân mà còn góp phần nâng cao đời sống cho người lao động, kích thích sản xuất phát triển.

TDNH thu hút nguồn vốn tiết kiệm và thúc đẩy nhanh quá trình tập trung vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế: Trong mỗi DN và trong toàn thể xã hội

không chỉ có tái sản xuất giản đơn mà tái xuất còn là một quá trình thường xuyên mở

rộng và phát triển, vì vậy cần một lượng vốn tương xứng. Đối với DN vốn tự có dùng

để đầu tư có giới hạn, bên cạnh đó việc huy động vốn trực tiếp đòi hỏi những điều kiện

hết sức chặt chẽ mà không phải DN nào cũng thực hiện được, trong trường hợp này

vốn tín dụng là nguồn tài trợ quan trọng cho nhu cầu đầu tư. Tín dụng thực hiện huy

động vốn tiết kiệm cá nhân, DN, nhà nước để đáp ứng như cầu đầu tư, phát triển kinh

tế. Mỗi khoản tiết kiệm có mục đích nhất định, nhưng trong khoảng thời gian chưa

thực hiện được mục đích đã định các chủ sở hữu nó có thể gửi vào NH để kiếm lời. Bằng việc thu hút nguồn vốn tiết kiệm đáp ứng cho nhu cầu đầu tư, tín dụng NH là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư.

Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả: Với sự hoạt động của hệ

thống tín dụng,các nguồn tiền nhàn rỗi của các cá nhân và DN đc tập trung lại và sau đó tín dụng tiến hành phân phối các nguồn vốn đã được tập trung này nhằm đáp ứng

nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa cũng như nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội. Thông qua kênh tín dụng, bằng chính sách tiền tệ thích hợp cho từng giai đoạn nhà nước có thể điều tiết lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế góp phần ổn định tiền tệ và

2

giá cả.

TDNH góp phần ổn định đời sống của dân cư, tạo công ăn việc làm và đảm bảo trật tự xã hội: Do tín dụng có vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa

và dịch vụ ngày càng gia tăng, thỏa mãn nhu cầu đời sống của người lao động. Bên

cạnh đó, việc cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế tạo ra khả năng khai thác các tiềm

năng sẵn có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, lao động… từ đó có thể thu hút

nhiều lực lượng lao động của xã hôi, tạo công ăn việc làm. Một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống được ổn định, ai cũng có công ăn việc làm.

TDNH góp phần tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các DN và các tổ

chức kinh tế sử dụng vốn vay: Đặc trưng của tín dụng là người vay vốn phải hoàn trả

cả vốn và lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng tín dụng, nếu vi phạm phải chịu theo lãi suất quá hạn hoặc phải chịu các biện pháp chế tài khác. Bằng những hoạt động như

vậy, nên các DN vay vốn thường xuyên phải quan tâm thực hiện chế độ hạch toán kinh

tế, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đó cũng là điều

kiện quyết định đến khả năng hoàn trả vốn vay và tăng tích lũy cho DN.

1.1.2. Phân loại hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại

NH cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng KH với những mục

đích sử dụng khác nhau. Để có cái nhìn trực diện, tổng quát và tránh nhầm lẫn ta phân

loại tín dụng theo một số chỉ tiêu sau:

1.1.2.1. Căn cứ vào thời gian tín dụng Ngân hàng

Căn cứ vào thời gian tín dụng NH được chia ra làm ba loại:

Tín dụng ngắn hạn là các khoản tín dụng có thời gian cho vay đến 12 tháng. Loại

hình tín dụng này thông thường được áp dụng với nhiều loại hình KH dưới hình thức

vay hạn mức tín dụng từng lần. Thông thường KH sẽ có một phần tài sản để đảm bảo

cho toàn bộ món vay.

Tín dụng trung hạn là các khoản tín dụng có thời gian cho vay từ 12 tháng đến 60

tháng. Đây thường là hình thức NH cấp tín dụng cho các dự án mua sắm máy móc

thiết bị, các dự án nhà xưởng, kho bãi… thông thường tài sản hình thành từ vốn vay sẽ được dùng để thế chấp NH.

Tài sản trung hạn là các khoản tín dụng có thời gian cho vay từ 60 tháng trở lên. Đây thường là hình thức NH cấp tín dụng cho các dự án mua sắm dây truyền thiết bị

3

đồng bộ, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.. tài sản thế chấp chủ yếu là tài sản hình thành từ nguồn vốn vay.

1.1.2.2. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm

Căn cứ vào biện pháp bảo đảm, tín dụng NH được chia ra làm hai loại:

Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản là các khoản tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả

nợ của KH được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp của KH vay

hoặc bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba. Loại hình đảm bảo này cho NH có độ an

toàn cao hơn,khả năng mất vốn thấp hơn do NH có thể phát mại tài sản để thu hồi vốn trong trường hợp KH không có khả năng thanh toán nợ đến hạn.

Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản là các khoản tín dụng mà theo đó là

nghĩa vụ trả nợ của KH không được cam kết bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp

của KH hoặc bảo lãnh tài sản của bên thứ ba. Loại hình tín dụng này khá rủi ro với NH nên NH chỉ áp dụng đối với những KH có uy tín, được NH tín nhiệm và là KH truyền

thống, chiến lược của NH.

1.2. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thƣơng mại

1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng

Danh từ “rủi ro” đã được nhiều nhà kinh tế học định nghĩa theo nhiều cách thức

khác nhau. Frank Knight một học giả người Mỹ, định nghĩa: “Rủi ro là sự bất trắc có

thể đo lường được”. Allan Willett cho “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một số

biến cố không mong đợi”. Inrving Perfer lại cho rằng: “Rủi ro là tổng hợp của những

sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất”. Một học giả khác người Anh là Marilic Hurt Mr Carty quan niệm “rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong

tương lai có thể xác định được”.

Theo từ điển tài chính của P.H Collin, rủi ro có thể được định nghĩa là khả năng

gánh chịu một thiệt hại của chủ thể. Theo Bernard Manso: “Rủi ro là tác động của

những biến cố xảy ra trong tương lai lên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hay một

danh mục tài sản mà khả năng xảy ra biến cố đó có thể dự đoán trước nhưng không thể

dự đoán chính xác biến cố xảy ra như thế nào. Rủi ro được đo lường bằng độ lệch

chuẩn giữa lợi nhuận thực tế của chủ thể và mực lợi nhuận dự kiến. Mức biến động lợi nhuận càng lớn nghĩa là sự không chắc chắn càng nhiều thì nguy cơ rủi ro cao.

RRTD là khả năng xảy ra những tổn thất mà NH phải gánh chịu do KH vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ tiền lãi hoặc tiền gốc theo điều

kiện và cam kết trong hợp đồng tín dụng.

Sauders và H.Lange định nghĩa: RRTD là khoản lỗ tiềm năng khi NH cấp tín dụng cho KH, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của NH không

thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn.

4

Theo khoản 1, điều 2, Quyết định 493/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNNVN, đề cập khái niệm “RRTD trong hoạt động NH của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất

trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.

Theo quan điểm của tác giả: RRTD là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra do KH không có đủ khả năng

hoặc không có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ của họ một cách đầy đủ hoặc đúng hạn

theo cam kết.

RRTD chính là khả năng xảy ra sự khác biệt không mong muốn giữa thu nhập

thực tế và thu nhập kỳ vọng đúng hạn, nhận được đầy đủ gốc và lãi.

RRTD sẽ dẫn đến tổn thất tài chính tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thì

trường của vốn.

1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng

Có nhiều cách phân loại RRTD, việc phân loại RRTD tùy thuộc vào mục tiêu

nghiên cứu, phân tích. Đối với hệ thống NHTM thì việc phân loại RRTD có ý nghĩa vô

cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, qui trình, thủ tục và cả mô hình tổ

chức quản trị và điều hành nhằm đảm bảo nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và

phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu trong quá trình tác

nghiệp thẩm định, cấp tín dụng giám sát thu hồi nợ và xử lý khoản nợ nếu nó có dấu

hiệu không bình thường. Thực tế cho thấy sự phân chia trách nhiệm càng rõ ràng, càng

cụ thể, sẽ giúp cho quá trình quản lý RRTD có hiệu quả.

1.2.2.1. Căn cứ vào nguyên nhận rủi ro

Căn cứ vào nguyên nhận rủi ro, chia làm hai nhóm:

Rủi ro đạo đức là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao

dịch diễn ra.

Rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch là do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi

cuộc giao dịch diễn ra.

1.2.2.2. Căn cứ theo mức độ tổn thất

Căn cứ theo mức độ tổn thất chia làm hai nhóm: Rủi ro đọng vốn là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến thời hạn mà NH vẫn chưa thu hồi vốn vay, dẫn đến các khoản vốn bị đông cứng, kém lỏng và ảnh hưởng đến NH trên hai phương diện: (i) ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của NH, (ii) gặp khó

khăn cho việc thanh toán cho KH.

Rủi ro mất vốn là rủi ro khi người cho vay không có khả năng trả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và lãi vay, NH chỉ trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản

của danh nghiệp. Rủi ro mất cốn sẽ làm (i) tăng chi phí do nợ khó đòi tăng, chi phí quản lý, chi phí giám sát, (ii) giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng gia tăng cho các

5

khoản vốn mất đi.

1.2.2.3. Căn cứ theo đối tượng sử dụng

Căn cứ theo đối tượng sử dụng có thể chia làm ba nhóm:

Rủi ro KH cá thể: RRTD xảy ra đối với đối tượng KH là cá nhân.

Rủi ro công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính: RRTD xảy ra đối với KH là

công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính.

Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý: RRTD xảy ra đối với từng quốc gia với hoạt

động vay nợ, viện trợ.

1.2.2.4. Căn cứ vào tính tổng thể của rủi ro

Căn cứ vào tính tổng thể của rủi ro, RRTD được chia thành rủi ro giao dịch và rủi

ro danh mục.

Rủi ro giao dịch là một rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là so hạn chế trong quá

trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá KH. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa

chọn, rủi ro đảm bảo, rủi ro do nghiệp vụ.

Rủi ro danh mục là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong

quản lý danh mục cho vay của NH, được phân thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

1.2.2.5. Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro

Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro, chia làm ba nhóm:

Rủi ro trước khi cho vay: Rủi ro xảy ra khi NH phân tích đáng giá sai về KH dẫn

đến cho vay các KH không đủ điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lại.

Rủi ro trong khi cho vay: Rủi ro này xảy ra trong quy trình cấp tín dụng. Các

nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm : (i) việc giải ngân không đúng tiến độ , (ii)

không cập nhật thông tin KH thường xuyên, (iii) không dự báo được rủi ro tiềm năng.

Rủi ro sau khi cho vay: Rủi ro này xảy ra khi mà cán bộ tín dụng không nắm

được tình hình sử dụng vốn vay, khả năng tài chính trong tương lai của KH.

1.2.2.6. Căn cứ vào phạm vi của rủi ro tín dụng

Căn cứ vào phạm vi của RRTD, chia làm hai nhóm: RRTD cá nhân và RRTD hệ thống.

1.3. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng

1.3.1. Quy mô tín dụng

Quy mô tín dụng không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp RRTD nhưng nếu

quy mô tín dụng tăng quá nóng, không tương ứng với khả năng kiểm soát của NH thì lúc đó, quy mô tín dụng sẽ phản ánh RRTD. Sự thể hiện này ở các khía cạnh:

Thứ nhất, nếu quy mô tín dụng quá lớn (xét trên tổng dư nợ của NH), vượt khả

năng quả lý của NH thể hiện qua sự gia tăng các chỉ tiêu: dư nợ trên tổng tài sản, dư

6

nợ/số lượng cán bộ tín dụng so với mức trung bình của các NH, số lượng KH/số lượng cán bộ tín dụng,… thì mức độ rủi ro tăng lên.

Thứ hai, nếu NH mở rộng quy mô tín dụng theo hướng nới lỏng tín dụng cho từng KH: cho vay vượt quá nhu cầu của KH thì sẽ dẫn đến rủi ro KH sử dung vốn sai

mục đích, không kiếm soát được mục đích sử dụng vốn vay…Điều này sẽ gây ra rủi ro

cho NH.

1.3.2. Cơ cấu tín dụng

Cơ cấu tín dụng phản ánh mức độ tập trung tín dụng trong một ngành nghề, lĩnh vực, loại tiền, dư nợ cho vay có bảo đảm. Do đó, tuy không phản ánh trực tiếp mức độ

rủi ro, nhưng nếu cơ cấu tín dụng quá thiên lệch vào những lĩnh vực mạo hiểm, sẽ

phản ánh rủi ro tiềm năng. Cơ cấu tín dụng được chia làm hai nhóm sau:

Cơ cấu tín dụng theo ngành: nếu tập trung cho vay vào những ngành có độ rủi ro cao thì rủi ro không trả được nợ của NH cũng cao. Hoặc cơ cấu tín dụng tập trung

quá nhiều vào một ngành, lĩnh vực thì có thể mức độ rủi ro cao khi ngành đó bị suy

thoái hay bị các ảnh hưởng khác.

Cơ cấu tín dụng theo thời hạn cho vay: yếu tố này phải dựa trên cơ cấu vốn của

NH. Nếu NH có cơ cấu vốn ngắn hạn lớn. Trong khi đó cơ cấu tín dụng trong dài hạn

lại lớn, điều đó có nghĩa là NH đã sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn sang cho vay trung

và dài hạn. Điều này cho thấy khả năng NH đương đầu với rủi ro thanh khoản cao.

Cơ cấu tín dụng theo tài sản đảm bảo: nếu tỉ lệ các khoản cho vay có tài sản

đảm bảo thế chấp thì NH đối mặt với rủi ro tiềm ẩn khi KH không trả được nợ.

1.3.2.1. Nợ quá hạn

NQH phản ánh chỉ tiêu RRTD. NQH là kết quả của mối quan hệ tín dụng

không hoàn hảo, trước hết nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn,

sau nữa nó có thể dẫn đến sự vi phạm đặc trưng thứ hai của tín dụng là tính hoàn trả

đầy đủ, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cấp tín dụng với người nhận tín dụng. Một

khoản tín dụng được cấp luôn được xác định bởi 2 yếu tố: thời hạn hoàn trả và lượng

giá được hoàn trả. NQH sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết, người vay

không có khả năng trả nợ được một phần hay toàn bộ khoản vay cho người cho vay. Như vậy, NQH chỉ đơn thuần là các khoản nợ mà KH không thể thực hiện đúng các nghĩa vụ trả nợ cụ thể ở đây là về mặt thời gian và không được cơ cấu lại các khoản nợ. Lúc đó toàn bộ số dư nợ gốc sẽ bị chuyển sang NQH. NQH có thể được xác định

tại mọi thời điểm thông qua hệ thống sổ sách chứng từ và hồ sơ tín dụng tại NH.

NQH được phản ánh qua 2 chỉ tiêu sau:

Tổng NQH Tỷ lệ NQH = x 100% Tổng dƣ nợ

7

Tỷ lệ NQH càng cao thì rủi ro càng tăng.

Số KH có NQH Tỷ lệ KH có NQH = x 100% Tổng số KH

(Nguồn: Hướng dẫn phân tích tài chính DN) Nếu tỷ lệ KH có NQH thấp hơn tỷ lệ NQH thì dường như các khoản cho vay lớn

có vấn đề hơn các khoản cho vay nhỏ.

Nếu NH có chỉ tiêu NQH và số KH có NQH lớn thì NH đang có mức rủi ro cao

và ngược lại.

1.3.2.2. Nợ xấu

Nợ xấu chính là các khoản tiền cho KH vay, mà không thể thu hồi được do DN

đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, nợ phải trả tăng, DN mất khả năng thanh toán. Thời

gian nợ tồn đọng khá lâu, có thể kéo dài trên 1 năm. 2-3 năm hoặc lâu hơn nữa rất khó

giải quyết.

Định nghĩa nợ xấu theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của

NH nhà nước như sau: nợ xấu được phân vào nợ nhóm 3 (dưới chuẩn), nợ nhóm 4

(nghi ngờ), nợ nhóm 5 (khả năng mất vốn). Tuy nhiên ta có thể tóm lược lại nợ xấu là các khoản NQH có thời gian cơ cấu lại hơn 90 ngày hoặc các khoản nợ vẫn trong thời

gian cam kết nhưng KH bị mất khả năng thanh toán hoặc NH có những bằng chứng

xác thực chứng minh được mức rủi ro tăng cao cho khoản tín dụng hoặc các khoản

thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng

khoản vay được thanh

toán đầy đủ. Nợ xấu được phản ánh rõ nhất qua chỉ tiêu:

Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100% Tổng dƣ nợ

1.3.2.3. Dự phòng rủi ro tín dụng

Dự phòng RRTD đánh giá khả năng chi trả của NH khi rủi ro xảy ra. Khi NH

phải sử dụng quỹ dự phòng điều đó chứng tỏ NH gặp phải tình trạng rủi ro mất vốn, do đó, DPRR là một chỉ tiêu phản ánh tình trạng rủi ro mất vốn. Dự phòng của một NH

bao gồm dự phòng cụ thể, để bảo hiểm các rủi ro cụ thể cho từng khoản vay, và dự phòng chung, bảo hiểm rủi ro chung không xác định vốn có trong danh mục tín dụng.

Các chỉ số thể hiện dự phòng RRTD:

Dự phòng RRTD đƣợc trích lập Tỷ lệ trích dự phòng = x 100% Dƣ nợ cho kì báo cáo

Tỷ lệ này ở các TCTD, thường ít khi vượt quá 5%. Tỷ lệ trích lập dự phòng

8

RRTD càng cao thì RRTD càng lớn.

Mất vốn đã xóa cho kì báo cáo Hệ số khả năng bù đắp = x 100% các khoản vay bị mất Dƣ nợ trung bình cho kì báo cáo

Dự phòng RRTD đƣợc trích lập Hệ số bù đắp RRTD = x 100% NQH khó đòi

1.4. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng

Nguyên nhân gây ra RRTD gồm có hai nguyên nhân là nguyên nhân khách quan

và nguyên nhân chủ quan.

1.4.1. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất là môi trường pháp lý: Hoạt động của NH luôn chịu ảnh hưởng của môi

trường chính trị và hệ thống pháp luật cụ thể. Mỗi khi môi trường chính trị có biến

động hoặc pháp luật thay đổi thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NH. Nếu như trong nước diễn ra sự mất ổn định về chính trị thì ngay lập tức tình hình kinh tế của đất nước sẽ thay đổi theo chiều hướng xấu, kinh doanh bị ngừng trệ, thu

nhập giảm do đó khả năng trả nợ của NH giảm làm cho RRTD có nguy cơ gia tăng.

Chính sách hay pháp luật thay đổi thường xuyên, không nhất quán, mâu thuẫn, không

rõ ràng cũng làm gia tăng RRTD. Chẳng hạn nhà nước có chính sách tăng thuế thu

nhập DN sẽ làm cho khả năng trả nợ của KH giảm, RRTD tăng lên.

Như vậy tác động xấu từ sự bất ổn định của môi trường chính trị và hệ thống

pháp luật kể trên ảnh hưởng đến hoạt động của DN, KH của NH và qua đó gián tiếp

tăng thêm nguy cơ RRTD cho NH.

Thứ hai là môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế có ảnh hưởng đến sức mạnh

tài chính của người đi vay và cũng là sự thiệt hại hay thành công của người cho vay.

Sự hưng thịnh hay suy thoái của chu kì kinh doanh cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận của

người đi vay do vậy tạo niềm tin hay gây nên nỗi lo nắng cho người đi vay tiền. Trong

giai đoạn kinh tế hưng thịnh, người vay hoạt động tốt do lợi nhuận thu được tương đối

cao. Trong giai đoạn khủng hoảng thì khả năng hoàn trả của người đi vay bị giảm sút. Lạm phát, thiểu phát ảnh hưởng đến công việc kinh doanh như làm biến động giá cả, nguồn nguyên vật liệu, giá năng lượng, tiền lương trả cho nhân công… của DN, ảnh hưởng đến quá trình quản lý và thu hồi nợ của NH làm gia tăng thêm các khoản

RRTD và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế trong dài hạn. Thứ ba là môi trường xã hội: Các yếu tố xã hội như thói quen, truyền thống, tập quán, trình độ văn hóa… của người dân có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh

9

của NH. Do đó NH cần đặc biệt quan tâm tránh đưa ra các sản phẩm tín dụng không phù hợp.

Thứ tư là môi trường tự nhiên: Điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờ và gây thiệt hại lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì

vậy khi có thiên tai, dịch họa xảy ra thì KH cùng NH sẽ có nguy cơ tổn thất rất lớn,

phương án kinh doanh không có nguồn thu…Điều đó cũng đồng nghĩa với việc NH

cũng gánh chịu rủi ro với KH của mình.

Nguyên nhân tiếp theo là môi trường công nghệ: NH không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ NH

sẽ dẫn đến rủi ro. Cho nên NH luôn phải ứng dụng những thành tựu công nghệ hiện

đại vào sản xuất kinh doanh.

Và cuối cùng là nguyên nhân thông tin không cân xứng: Trong quá trình hoạt động, NH thực hiện nghiệp vụ Nợ và Có, chuyển vốn từ người gửi tiền sang người đi

vay tiền. Toàn bộ giao dịch này sẽ luôn suôn sẻ nếu các bên tham gia đều có những

thông tin và hiểu biết đầy đủ về nhau. Song một thực tế tồn tại là một bên không biết

tất cả những gì cần biết về phía bên kia, hoặc những thông tin không có được lại

không liên tục và độ tin cậy không cao; sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có

được như vậy là thông tin “không cân xứng”. Việc thiếu thiếu thông tin trong các giao

dịch này sẽ đưa đến sự “lựa chọn đối nghịch” và “rủi ro đạo đức”. Vì vậy mà NH phải

thật sự tỉnh táo để có những nguồn thông tin cân xứng nhằm vượt qua sự chọn lựa đối

nghịch đó và rủi ro đạo đức.

Tất cả các nguyên nhân khách quan nếu không được dự báo, có biện pháp phòng

ngừa kịp thời sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường kinh doanh của cả KH lẫn NH.

Khi KH gặp phải nguyên nhân khách quan gây nên họ không còn đủ khả năng thực

hiện cam kết trong hợp đồng tín dụng với NH thì việc tốt nhất NH có thể làm là giúp

đỡ, hỗ trợ KH để họ phục hồi lại kinh doanh để tạo nguồn trả nợ cho NH.

1.4.2. Nguyên nhân chủ quan

Do chính sách tín dụng của NH

Rủi ro do chính sách cho vay: chính sách tín dụng không minh bạch làm cho họat

động tín dụng lệch lạc, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo ra khe hở cho người sử dụng vốn có hành vi vi phạm hợp đồng và pháp lụât của nhà nước.

Do những yếu kém của cán bộ tín dụng Rủi ro do cán bộ tín dụng tính tóan không chính xác hiệu quả đầu tư dự án xin

vay. Cán bộ tín dụng không nắm rõ đặc điểm của ngành mà mình đang cho vay, hoặc do chính cán bộ tín dụng cố ý cho vay, dù đã tính tóan được dự án xin vay không có

hiệu quả, tính khả thi thấp, điều này sẽ gây ra rủi ro lớn cho NH.

Rủi ro do NH đánh giá chưa đúng mức về khoản vay, về người đi vay, chủ quan tin tuởng vào KH than thiết, coi nhẹ khâu kiểm tra tình hình tài chính, khả năng thanh

10

toán hiện tại và tương lai, nguồn trả nợ.

Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ NH đều có sự tiếp tay của một số cán bộ NH cùng với KH làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài

sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền NH.

Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề

hạn chế RRTD. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán

bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng.

Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay

Các NH thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước

khi cho vay mà nới lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Khi NH cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo

sẽ được hòan trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán

bộ tín dụng nói riêng và của NH nói chung. Việc theo dõi hoạt động của KH vay nhằm

tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa KH và NH nhằm tìm ra

những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên trong thời

gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này. Điều này một phần do yếu tố tâm

lý ngại gây phiền hà cho KH của cán bộ NH, một phần do hệ thống thông tin quản lý

phục vụ kinh doanh tại các DN quá lạc hậu, không cung cấp đuợc kịp thời, đầy đủ các

thông tin mà NHTM yêu cầu.

Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các NH

Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh

chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên,

do việc kiểm tra đuợc thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Nhưng

thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các NH hầu như chỉ tồn tại trên hình

thức. Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống “ thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ

xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an tòan, hiệu quả thì mới

tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn tồn tại thường trực trên con

đường đi tới.

Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả Kinh doanh NH là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nói cách khách đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong họat động tín dụng là không thể

tránh khỏi, các NH cần phải hợp tác chặt chẽ với nhay nhằm hạn chế rủi ro. Sự hợp tác này sinh do nhu cầu QLRR đối với cùng một KH khi KH này vay tiền tại nhiều NH.

Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một KH là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dận đến việc nhiều NH cùng cho vay một KH đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không

11

chừa một NH nào.

Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hịên nay, vai trog của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác đề các

NH có các quyết định cho vay hợp lý. Đáng tiếc là hiện nay NH dữ liệu của CIC chưa

đầy đủ và thông tin còn quá đợn địêu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời.

Tóm lại, RRTD có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân: khách quan và chủ

quan. Phụ thuộc phần lớn vào năng lực của các bộ phận tín dụng, chức năng quản lý của NH, KH, các cơ chế chính sách của NH và nhà nước. Các biện pháp phòng chống

và hạn chế rủi ro đều đang nằm trong tay của các NHTM, nhưng cũng có những biện

pháp thuộc về bí kíp riêng của mỗi NH và nhà quản lý.

1.5. Tác động của rủi ro tín dụng

1.5.1. Giảm lợi nhuận của Ngân hàng

Khi RRTD xảy ra sẽ phát sinh các khoản nợ khó đòi, sự ứ đọng vốn dẫn đến

giảm vòng quay vốn NH. Mặt khác, khi có quá nhiều các khoản nợ khó hoặc không

thu hồi được sẽ phát sinh các khoản chi phí quản lý, giám sát, thu nợ…Các chi phí này

cao hơn khoản thu nhập từ việc tăng lãi suất NQH, vì đây chỉ là những khoản thu nhập

ảo, một trong những biện pháp xử lý của NH, thực tế NH rất khó có thể thu hồi đầy đủ

chúng. Bên cạnh đó, NH vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền huy động trong khi một bộ

phận tài sản của NH không thu được lãi cũng như không chuyển được thành tiền cho

người khác vay và thu lãi. Kết quả là lợi nhuận của NH sẽ bị giảm sút.

1.5.2. Giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng

NH thường lập kế hoạch cân đối dòng tiền ra (trả lãi và gốc tiền gửi, cho vay,

đầu tư mới…) và dòng tiền vào (tiền nhận gửi, tiền thu nợ gốc và lãi cho vay…) tại

các thời điểm trong tương lại. Khi các hợp đồng vay không được thanh toán đầy đủ và

đúng hạn sẽ dẫn đến sự không cân đối giữa hai dòng tiền. Một thực tế diễn ra, các

khoản tiền gửi tiết kiệm của KH vẫn phải thanh toán đúng kí hạn trong khi các khoản

tiền vay của khách hành lại không được hoàn trả đúng hạn. Nếu NH không đi vay hoặc

bán các tài sản của mình thì khả năng chi trả của ngân hành sẽ bị suy yếu, gặp phải vẫn đề lớn trong rủi ro thanh khoản.

1.5.3. Giảm uy tín của Ngân hàng

Tình trạng mất khả năng chi trả tái diễn nhiều lần, hay những thông tin về RRTD

của NH bị tiết lộ ra công chúng, uy tín của NH trên thị trường tài chính sẽ bị giảm sút, đâu là cơ hội tốt để cho các đối thủ cạnh tranh giành giật lấy thị trường và KH.

1.5.4. Phá sản Ngân hàng

12

Nếu DN vay vốn NH khó khăng trong việc hoàn trả, nhất là những khoản vay lớn thì có thể dẫn đến khủng hoảng trong hoạt động của chính NH. Khi NH không chuẩn

bị trước phương án dự phòng, không đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu rút vốn quá lớn, sẽ nhanh chóng mất khả năng thanh toán, dẫn đến sự sụp đổ của NH.

1.6. Những dấu hiệu của rủi ro tín dụng

1.6.1. Nhóm dấu hiệu từ phát sinh từ phía khách hàng

Nhóm dấu hiệu liên quan đến mối liên hệ với NH

Xu hướng của các tài khoản của KH tại NH: dao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi, khó khăn trong thanh toán lương, thường

xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn lực lưu động từ nhiều nguồn khác nhau, gia tăng các

khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn.

Các hoạt động cho vay: Mức độ cho vay thường xuyên gia tăng, trì hoãn hoặc gây khó khăn đối với NH trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột ngột tình hình

sử dụng vốn vay, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của KH, thường xuyên yêu

cầu NH cho đáo hạn.

Phương thức tài chính: Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt

động dài hạn, chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất, giảm các khoản phải trả,

tăng các khoản phải thu, các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu.

Nhóm dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của KH

Rủi ro xảy ra khi KH có sự thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị

hoặc ban điều hành, hệ thống quản trị và ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản trị điều hành độc đoán hoặc ngược lại quá phân tán, việc lập kế hoạch không đầy

đủ, quản lý có tính gia đình, có tranh chấp trong quá trình quản lý.

Những nhóm có dấu hiệu liên quan xử lý thông tin về tài chính kế toán của KH

Nếu KH không chuẩn bị đầy đủ số liệu tài chính hoặc số liệu chậm trễ, trì hoãn

nộp các BCTC hoặc những kết luận về phân tích tài chính cho thấy: Sự gia tăng không

cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên, khả năng tiền mặt giảm, tăng doanh số bán nhưng lãi

giảm hoặc không có, điều này cho thấy KH đang có dấu hiệu rủi ro.

Nhóm các dấu hiệu thuộc các vấn đề kỹ thuật và thương mại

Các dấu hiệu thuộc về vấn đề kỹ thuật và thương mại thể hiện: Khó khăn trong phát triển sản phẩm, thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất, thay đổi thị hiếu, cập nhật kỹ thuật mới, mất nhà cung ứng hoặc KH lớn, chinh sách thuế, điều kiện thành lập và

môi trường.

1.6.2. Nhóm dấu hiệu phát sinh từ phía Ngân hàng

Nhóm dấu hiệu xuất phát từ trình độ và năng lực quản lý của nhân viên tín dụng

và người quản lý NH:

Nhóm dấu hiệu này bao gồm: Đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ

13

rủi ro của KH: cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu đảm bảo,

tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh và vượt qua khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn NH, cho vay dựa trên những sự kiện bất thường có thể xảy ra, ví

dụ như sát nhập, thay đổi địa vị pháp lý của chi nhánh.

Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách của NH

Nhóm dấu hiệu này thể hiện chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoăc quá lỏng

lẻo để khe hở cho KH lợi dụng, cho vay hỗ trợ mục đích đầu cơ (mua bất động sản, kinh doan chứng khoán), chính sách cho vay ưu đãi, cho vay theo chỉ định, quy trình

tín dụng không chặt chẽ.

1.7. Quản trị rủi ro tín dụng trong Ngân hàng Thƣơng mại

1.7.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng

Quản lý RRTD là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách quản

lý và kinh doan tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi mức rủi ro có thể

chấp nhận.

Kiểm soát RRTD ở mức có thể chấp nhận là việc NHTM tằn cường các biện

pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp NQH, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng,

nhằm tăng doanh thu tín dụng, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt được hiệu

quả trong kinh doanh tín dụng cả trong ngắn hạn và dài hạn. “Hiệu quả quản lý RRTD

là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và coi là đóng vai trò cốt

tử cho sự thành công của NH trong dài hạn” (Basel Committet on Banking Supervision, 2000).

Tóm lại, có thể đề cập khái niệm quản lý RRTD ở các góc độ khác nhau, nhưng

bản chất là giống nhau và đứng trên góc độ của quản trị học, chúng ta có thể diễn giải

khái niệm: Quản lý RRTD là quá trình các NH tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai

thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hóa lợi

nhuận của NH với mức rủi ro có thể chấp nhận.

1.7.2. Sự cần thiết phải quản trị rủi ro tín dụng

RRTD là căn nguyên chủ yếu tạo ra các vấn đề của NH Sự đổ vỡ hàng loạt Quỹ tín dụng tại Việt Nam trong những năm 1989-1990 do chất lượng các khoản cho vay yếu kém, không thu hồi được. Những năm 1999-2000, cũng từ nguyên nhân này NHNN đã đặt một số NH vào tình trạng giám sát đặc biệt,

những vụ án lớn và việc xử lý một khối lượng hàng ngàn tỷ đồng nợ tồn đọng của các NH từ năm 2000 về trước đều bắt nguốn từ những khoản vay khó đòi. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 bắt nguồn từ Đông Nam Á đã làm cho nhiều NH ở Châu Á

bị mất hàng tỷ đô la Mỹ, bị phá sản, hoặc buộc phải sát nhập, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là tỷ lệ NQH của NH tăng cao. Thời điểm trước cuộc khủng hoảng, tỷ

14

lệ NQH của các NH Thái Lan là 13%, Indonesia 13%, Phillippines 14%, Malaysia

10%. Gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế Mỹ bắt nguồn từ làn song cho vay thế chấp nhà đất rủi ro cao đã chứng minh rất rõ căn nguyên cơ bản tạo ra ở

vấn đề của NH là RRTD. Vì vậy, vấn đề quản lý RRTD luôn luôn là vấn đề sống còn

của NHTM.

Mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng ngày càng gia tăng

Tính cấp thiết của quản lý RRTD không chỉ xuất phát từ tính chất phức tạp và nguy cơ rất lớn của RRTD mà còn do xu hướng kinh doanh của NH ngày nay càng trở

nên rủi ro hơn. Theo nguyên cứu của chuyên gia, trong giai đoạn từ 1970 đến 1995,

trên thế giới trung bình một năm có một cuộc khủng hoảng NH; thì trong giai đoạn

1980 đến 1995, tỉ lệ này là 1,44.

Một số nguyên nhân chủ yếu làm cho mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh

NH ngày càng tăng:

Thứ nhất, do quá trình tự do hóa, nới lỏng qui định trong hoạt động NH trên

phạm vi toàn thế giới. Trong những thập kỷ gần đây, xu hướng toàn cầu hóa, tự do hóa

kinh tế, đề cao cạnh tranh trở thành phổ biến. Khi gia tăng cạnh tranh cũng đồng nghĩa

với rủi ro và phá sản tăng. Trong lĩnh vực NH, cạnh tranh làm cho chênh lệch lãi suất

biên ngày càng giảm xuống. Tác động này làm cho các NH ngày càng có xu hướng mở

rộng qui mô kinh doanh để bù đắp sự sụt giảm lợi nhuận, trong đó mở rộng qui mô tín

dụng đồng nghĩa với việc RRTD cũng có nguy cơ gia tăng. Bên cạnh đó, qui luật đào thải của cạnh trang làm tăng mức độ phá sản của các KH của NH kéo theo sự thiệt hại của NH.

Thứ hai, hoạt động kinh doanh của NH ngày càng theo xu hướng đa năng phức

tạp, với công nghệ ngày càng phát triển, cùng với xu hướng hội nhập cạnh tranh gay

gắt vừa tăng thêm mức độ rủi ro và nguy cơ rủi ro mới. Trong lĩnh vực tín dụng các

sản phẩm tín dụng có bước phát triển mạnh mẽ, vượt xa so với sản phẩm tín dụng

truyền thống. Các sản phẩm tín dụng dựa trên cơ sở của sự phát triển công nghệ như

thẻ tín dụng, cho vay cá thể,…luôn chứa đựng rủi ro mới. Nhưng dưới áp lực của cạnh

tranh thì việc mở rộng và đa dạng hóa sản phẩm cũng như phạm vi của hoạt động tín

dụng trở nên cấp thiết hơn, mang ý nghĩa sống còn với các NH. Với sự đang dạng phức tạp của sản phầm tín dụng cũng như RRTD càng đòi hỏi quản trị RRTD phải được chú trọng nâng cấp tương xứng.

Thứ ba, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước đang trong quá trình

chuyển đổi như Việt Nam, thì môi trường kinh tế chưa ổn định, hệ thống pháp luật đang xây dựng, mức độ minh bạch của thông tin thấp, thì hoạt động NH càng trở nên

15

rủi ro. Vì vậy, việc bắt tay ngày từ đầu thực hiện tốt công tác quản trị RRTD là một công việc tối quan trọng.

QLRR tốt là một lợi thế chạnh tranh và là công cụ tạo ra giá trị của NHTM “Hãy nói cho tôi biết bạn QLRR ra sao, tôi sẽ nói NH bạn thế nào?”- Tiến sĩ

S.L.Srinnivasulu, Chủ tịch tập đoàn KESDEE Inc - Nơi cung cấp các giải pháp học tập

trực tuyến (e-learning) về tài chính có trụ sở tại California, Hoa Kỳ - nói như vậy để

mở đầu câu chuyện QLRR trong NH. Dù nền kinh tế thế giới đang hứng chịu hậu quả

của sự “sơ suất” trong công tác QLRR của các NH, song điều ông Srinivasulu muốn nói là: Hãy quay về những gì đơn giản nhất. Từ lâu, công tác QLRR được xem như là

một chức năng nhằm thỏa mãn yêu cầu tuân thủ pháp chế và kiểm soát nội bộ. Dưới

góc nhìn này, rủi ro được xem như là điều không mong muốn nhưng phải chấp nhận

trong kinh doanh, và hoạt động QLRR được coi là trung tâm chi phí. Ông Srinivasulu cho rằng các NH nên chuyển hướng tiếp cận ngược lại: QLRR tốt nhất chính là một lợi

thế cạnh tranh và là một công cụ tạo ra giá trị, cũng góp phần tạo ra các chiến lược

kinh doanh hiệu quả hơn.

1.7.3. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng

Quá trình quản trị RRTD gồm có 4 nội dung: nhận biết rủi ro, đo lường rủi ro,

ứng phó với rủi ro và kiểm soát rủi ro. Mặc dù có sự phân loại trong quy trình quản lý

RRTD song một số nguyên tắc có tính xuyên suốt các khâu được phân ra trong quy

trình phải luôn có sự liên hệ gắn bó với nhau, tạo thành một chu trình liên tục có như

vậy mới bảo đảm kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã định. RRTD một khi đã xác định thì cần được phân tích, đo lường và đưa ra các biện pháp theo dõi. Cũng như

trong quá trình quản lý theo dõi, hệ thống quản lý RRTD phải có khả năng xác định ra

các nguy cơ rủi ro mới và công việc của QLRR lại được lặp lại.

1.7.3.1. Nhận biết rủi ro tín dụng

Đây là việc làm của bản thân NH thương mại. Một số quan điểm cho rằng NH

thương mại nhìn nhận từ phía KH vay vốn để nhận biết rủi ro qua dấu hiệu báo trước.

Nhưng NH thương mại cũng phải nhìn nhận lại chính mình để thấy nguy cơ rủi ro có

thể xảy ra. Do đó công việc quản lý RRTD sẽ được xét trên 2 gó độ từ phía NH và từ phía KH.

Về phía NH: RRTD được thể hiện qua quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, NQH, nợ xấu, và DPRR do đó, khi các yếu tố này có xu hướng thiên lệch như quy mô tín

dụng tăng quá nhanh vượt quá khả năng quản lý của NH, hay cơ cấu tín dụng tập trung quá mức vào một ngành, một lĩnh vực rủi ro, hoặc các chỉ tiêu NQH, nợ xấu có dấu hiệu vượt quá ngưỡng cho phép, DPRR được sử dụng hết, NH đứng trước nguy cơ rủi ro.

Về phía KH: khi KH có những đấu hiệu khó có khả năng trả nợ được, tình hình

16

tài chính xấu. Lúc đó NH cần nhận biết được khả năng xảy ra rủi ro để quyết định kịp thời.

Do đó để nhận biết rủi ro các công việc mà NH cần làm: Phân tích danh mục tín dụng của NH:

Phân tích chung toàn bộ doanh mục của NH để nhận biết những rủi ro về quy

mô, cơ cấu tín dụng, về ngành, về loại tiền. Cần kết hợp với dự báo kinh tế vĩ mô để

đánh giá rủi ro chung cho toàn bộ danh mục tín dụng.

Phân tích đánh giá KH: Phân tích đánh giá KH nhằm phát hiện ra các nguy cơ rủi ro trong từng KH, từng

khoản nợ cụ thể.

Phân tích đánh giá KH để được thực hiện từ khi bắt đầu tiếp xúc với KH, phân

tích trong quá trình cho vay và sau quá trình cho vay.

Thu thập thông tin:

Thu thập thông tin về KH có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cho vay. Hiện

nay, việc khai thác thông tin của KH thường dựa vào BCTC trong những năm gần đây

của KH. Bên cạnh việc thu thập thông tin từ KH, cần thu thập thông tin từ đối tác của

KH, từ những NH mà NH có quan hệ từ cơ quan quản lý KH, từ trung tâm phòng ngừa

rủi ro….Nội dung phân tích KH theo chỉ tiêu định lượng và định tính để có những kết

quả chính xác về tình trạng của KH.

Các chỉ tiêu đinh tính: tiêu chí định tính là tiêu chí không lượng hóa bằng con

số mà phản ánh tính chất đặc điểm của KH, các tiêu chí được thể hiện rõ qua phương pháp 6C:

Character (tư cách người vay): Cán bộ tín dụng phải đánh giá tính đúng đắn và

hợp lý của mục đích xin vay, xác định xem có phù hơp với chính sách tín dụng hiện

hành của NH hay không. Thậm chí cho dù mục đích tín dụng đi vay là tốt thì cán bộ

tín dụng phải xác định xem người vay có tỏ thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn

vay, có thiện chí và có nỗ lực hoàn trả nợ khi đáo hạn. Trong thực tế có rất nhiều DN

cũng như cá nhân có khả năng trả nợ nhưng không thanh toán cho NH, mà chiếm dụng

vốn với mục đích cá nhân và các khoản đầu tư kiếm lợi nhuận khác

Capacity (năng lực của người đi vay): cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người xin vay có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng, người đại diện đặt bút kí là người được ủy quyền hợp pháp của công ty, có tư cách pháp nhân.

Cash flow (dòng tiền mặt): nhìn chung người đi vay có 3 khả năng tạo ra tiền:

tiền từ doanh thu bán hàng hay lợi nhuận thu nhập,tiền từ thanh lý tài sản, tiền từ chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn. NH ưu tiên hơn về khả năng trả nợ của KH

17

theo nguồn thu từ khoản vay đầu tiên, vì việc thanh lý tài sản sẽ làm cho năng lực của KH trở nên yếu đi, ngoài ra, đó cũng là một biểu hiện không lành mạnh trong hoạt động kinh doanh, khiến quan hệ tín dụng trở nên có vấn đề.

Collateral (bảo đảm tiền vay): KH được cấp tín dụng dựa trên giá trị tài sản đảm bảo: cầm cố, thế chấp, tín chấp, hay bảo lãnh từ bên thứ ba,… Việc nhận bảo đảm tín

dụng nhằm hai mục đích: thứ nhất là nếu người đi vay không trả nợ theo thỏa thuận thì

NH sẽ thanh lý tài sản đó để thu hồi nợ đọng; thứ hai là để rằng buộc người vay phải

có trách nhiệm nhiều hơn trong việc hoàn trả nợ vay để thu hồi tài sản đảm bảo của

mình, tạo uy tín và trở thành KH thân thiết của các NH.

Condition(các điều kiên): cán bộ tín dụng và các chuyên gia phân tích tín dụng

phải biết được những xu hướng tiến triển gần đây của KH cũng như của ngành mà KH

hoạt động, thấy được mức độ tác động của những thay đổi trong nền kinh tế đối với

khoản cho vay. Một khoản cho vay dường như rất tốt trên giấy tờ nhưng có thể giá trị của nó bị sụt giảm do doanh thu hay thu nhập của KH giảm trong thời kỳ suy thoái kinh

tế hoặc do lãi suất tăng cao trước sức éo của lạm pháp…

Control (kiểm soát): tập trung vào những vấn đề như các thay đổi trong pháp luật

có ảnh hưởng đến người đi vay hay không. Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng

được tiêu chuẩn của NH và của quản lý về chất lượng tín dụng hay không.

Các chỉ tiêu định lƣợng: hầu hết các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của

DN đều có thể tính trực tiếp từ các BCTC của công ty. Dựa vào BCTC của DN và các

nguồn thông tin khác, cán bộ tín dụng tiến hành các bước công việc sau:

Thứ nhất, thu nhập thông tin và phân tích tình hình tài chính KH Nhóm chỉ tiêu về thu nhập: Doanh thu của DN: bao gồm các khoản thu có thể thu

được từ hoạt động của DN, để trang trải các chi phí và tạo lợi nhuận của DN. Để phản

ánh sự tăng trưởng của doanh thu, người ta sử dụng chỉ tiêu thay đổi doanh thu là Tỷ lệ

% thay đổi doanh thu (Phụ lục)

Chi phí của DN: là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động của DN. Chi phí DN

phản ánh cụ thể qua chỉ tiêu tỷ lệ % chi phí hoạt động trên doanh thu (Phụ lục)

Lợi nhuận của DN: là thước do cuối cùng trong quá trình đánh giá hoạt động của

DN. Các chỉ tiêu lợi nhuận là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động cua DN.

Các chỉ tiêu lợi nhuận là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động của DN, là căn cứ để xây dựng kết hoạch tài chính.

Các nhóm chỉ tiêu cơ bản của lợi nhuận bao gồm Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

(ROA), chỉ tiêu lợi nhuận trên giá trị rủi ro VAR (RAPM). (Phụ lục)

Nhóm chỉ tiêu thanh khoản bao gồm: khả năng thanh toán hiện hành, khả năng

thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời (Phụ lục)

Nhóm chỉ tiêu hoạt động bao gồm: Vòng quay vốn lưu động, vòng quay hàng

18

tồn kho, vòng quay các khoản phải thu, hiệu suất sử dụng tài sản cố định.(Phụ lục)

Thứ hai, xử lý thông tin Sau khi thu nhập thông tin, cán bộ tín dụng có nhiệm vụ phải sàng lọc nguồn

thông tin đã thu nhập để phân tích, đánh giá KH, khả năng tài chính của KH trên cơ sở

đó, xác định nguy cơ rủi ro đối với KH để ra quyết định cho vay hay từ chối cho vay,

điều kiện cho vay nhằm hạn chế rủi ro.

Thứ ba, xác định các nguy cơ rủi ro của KH Có rất nhiều yếu tố xác có thể gây ra rủi ro đối với một DN. Tuy nhiên một DN

thường không phải gặp tất cả cá nguy cơ rủi ro mà chỉ có một số nguy cơ rủi ro chính.

Vấn đề quan trọng là phải xác định được nguy cơ rủi ro chính đó là gì.

Bảng dưới đây liệt kê tất cả các loại rủi ro mà một DN có thể gặp phải và các

công cụ phân tích tương ứng để xác định nguy cơ nào là có thực đối với DN, cụ thể:

Bảng 0.1. Nguy cơ rủi ro đối với KH

STT Các biểu hiện Nguy cơ rủi ro

Công cụ phân tích phát hiện rủi ro - Năng lực điều hành của - Bộ máy quản lý không kiểm soát DN

được kinh doanh gây thất thoát tài sản, lỗ - Đạo đức của chủ DN - Các yếu tố về cơ sở hạ tầng, đầu vào 1 Rủi ro hoạt động - Tổ chức sản xuất kinh doanh không hợp lý làm tăng chi phí gây lỗ - Sự gián đoạn trong sản xuất do hỏng hóc về công nghệ - Hoạt động bán hàng không hiệu quả làm giảm doanh thu gây lỗ

- Vốn vay lớn hơn lãi suất thay đổi làm chi phí lãi vay có thể biển động lớn - Nghĩa vụ trả nợ không hợp lý, lớn Phân tích định lượng các số liệu tài chính, trong đó đặc biệt chú ý đến mức độ và sự biến động theo thời gian qua của: hơn nguồn trả nợ - Rủi ro tỉ giá 2 Rủi ro tài chính

- Hệ số đòn bẩy - Các hệ số thanh khoản - Hệ số lợi nhuận - Cơ cấu nợ vay - Đặc thù kinh doanh (vay ngoại tệ nhưng doanh thu là tiền đồng)

- Dòng tiền không đảm bảo - Chi phí tăng Phân tích định lượng số liệu tài chính để đánh giá chất lượng quản lý DN:

19

3 Rủi ro quản lý - Dòng tiền - Các khoản phải thu, phải trả - Hệ số lợi nhuận

STT Các biểu hiện Nguy cơ rủi ro Công cụ phân tích phát hiện rủi ro

Phân tích định tính và định lượng:

- Tình hình cạnh tranh trong ngành 4 Rủi ro thị trường - Phân tích bản chất của - Mức độ cạnh tranh cao làm cho DN dễ dàng mất KH - Ngành mới phát triển chưa có vị trí ổn định - Đặc thù của ngành là mức độ biến động cao ngành - Tốc độ tăng trường của DN (so với DN khác)

Sự thay đổi của chính sách DN Phân tích các thông tin:

- Môi trường chính sách tại

5 địa phương có ảnh hưởng đến DN Rủi ro chính sách - Xu hướng các chính sách có tác động đến DN

1.7.3.2. Đo lường rủi ro tín dụng

Đo lường RRTD là bước tiếp theo sau khi phát hiện nguy cơ rủi ro. Hiện nay,

nhiều NH trên thế giới đã bắt đầu quan tâm đến việc định lượng rủi ro dụng một cách

bài bản và áp dụng nhiều phương thức và mô hình QLRR hiện tại:

Đo lường RRTD cho một khoản vay

EL=PD*LGD*EAD (Nguồn: Theo Basel II)

Trong đó:

- EL: Tổn thất dự kiến - PD: Xác suất vỡ nợ của KH /ngành hàng đó là bao nhiêu - LGD: Tỷ trọng % số dư rủi ro NH sẽ bị tổn thất khi KH không trả được nợ - EAD: Số dư nợ vay (và tương dương) của KH/ngành hàng khi xảy ra vỡ nợ

Với PD, LGD và EAD, 2 yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu tưởng chừng rất định tính, mà các NH thường xuyên nhắc đến trong quyết định cấp tín dụng là khả năng trả nợ và mong muốn trả nợ của KH đã được lượng hóa cụ thể. Và cũng nhờ PD, LGD, EAD, hàng trăm hàng chục các nhân tố có tác động đến KH cũng như các khoản tín dụng cấp cho họ đã được tóm tắt, phản ánh qua ba cấu phần rủi ro đó.

Quan trọng hơn dựa trên kết quả tính toán PD LGD EAD các NH sẽ phát triển các ứng dụng quản lý RRTD trên nhiều phương diện, mà các ứng dụng chính bao gồm:

20

Tính toán, đo lường RRTD EL – tổn thất dự kiến và UL – tổn thất ngoài dự kiến

Mô hình điểm số Z Mô hình này do E.I.Altman xây dựng để cho điểm tín dụng đối với các công ty

Mỹ. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người đi vay và phụ

thuộc vào:

Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xj)

Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người

vay trong quá khứ.

Từ đó, Altman đi đến mô hình cho điểm như sau:

Z=1,2X1+1,4X2+3,3X3+0.6X4+X5

Trong đó: X1= tỷ số vốn lưu động ròng trên tổng tài sản

X2= Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản

X3=Tỷ số lợi nhuận trước thuế, tiền lãi trên tổng tài sản

X4=Tỷ số giá trị cố phiếu trên giá trị ghi sổ nợ dài hạn

X5=tỷ số doanh thu trên tổng tài sản

Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp và ngược lại (Z có

thể âm). Theo mô hình cho điểm Altman bất cứ đơn vị nào có điểm số Z thấp hơn 1,81

được xếp vào nhóm có nguy cơ RRTD cao. Căn cứ vào kết luận này, NH sẽ không cấp

tín dụng cho KH hay cho đến khi cải thiện được điểm số Z > 1,81

Mô hình xếp hạng của Moody’s

Mô hình xếp hạng tình trạng hoạt động của DN dựa trên tỷ lệ rủi ro hàng năm,

chất lượng này thay đổi hàng năm. Các DN được xếp hạng cao khi tỉ lệ rủi ro dưới

0,1%

Bảng 0.2. Xếp hạng DN của Moody's

Xếp hạng Tình trạng Tỉ lệ rủi ro hằng năm

Aaa Chất lượng cao nhất 0,02%

Aa Chất lượng cao 0,04%

A Chất lượng khá 0,08%

Baa Chất lượng vừa 0,2%

Ba Nhiễu yếu tố đầu cơ 1,8%

B Đầu cơ 8,3%

(Nguồn: Theo báo cáo của Moody’s)

Đo lường RRTD cho một danh mục Rủi ro danh mục được đánh giá qua các mô hình Value At Risk (Var) và mô hình

21

Return at risk on capital (RAROC)

Mô hình Var Var của một danh mục tài sản được định nghĩa là khoản lỗ tối đa trong một thời

gian nhất định. Mô hình Var đánh giá mức độ rủi ro của danh mục theo hai tiêu chuẩn:

giá trị danh mục đầu tư và khả năng chịu đựng rủi ro của nhà đầu tư.

Việc xác định Var được tiến hành theo các bước sau:

Đánh giá giá trị các tài sản rủi ro của NH căn cứ vào việc phân tích xem những

tài sản nào chịu ảnh hưởng của rủi ro tính dụng:

Phân tích mức biến động giá trị của các tài sản rủi ro

Lựa chọn kỳ đánh giá

Lựa chọn độ tin cậy cho trước Mô hình RAROC

Mô hình raroc thực chất là một phương pháp định lượng, đo lường mức độ sinh

lời có tính đến yếu tố rủi ro. RAROC có tính toán đến mức độ biến động của thu nhập

ròng (lợi nhuận) gây ra bởi sự biến động về tổn thất trong tín dụng.

Quan niệm trung tâm về rủi ro theo RAROC là mức tổn thất, bao gồm 2 bộ phận

là tổn thất dự kiến (EL) và tổn thất ngoài dự kiến (UL). Do EL đã được đưa vào khi

xác định giá (lãi suất) nên thực chất,EL có thể không coi là rủi ro (vì dự đoán được).

Còn UL mới thực chất là rủi ro của NH cẩn phải chuẩn bị vốn để bù đắp rủi ro này nếu

xảy ra. Mô hình raroc được tính toán dựa vào một số khái niệm cơ bản như sau:

THU NHẬP RÒNG – TỔN THẤT RỦI RO DỰ KIẾN RAROC = VỐN KINH TẾ

(Nguồn: Theo Basel II)

Trong đó:

Thu nhập bao gồm: thu từ tài chính (thu từ chênh lệch lãi suất và các khoản phí

thu trước và các khoản phí thu định kì), thu từ hoạt động kinh doanh.

Tổn thất bao gồm:

Xác suất xảy ra rủi ro tính toán thông qua xếp hạng

Tổn thất dự kiến = Dƣ nợ khi xảy ra RR * Giá trị tổn thất trong trƣờng

hợp rủi ro (tính thông qua tỷ lệ thu hồi)

(Nguồn: Theo Basel II)

Tổn thất ngoài dự kiến = Độ lệch chuẩn trong phân bổ tốn thất

Đo lường RRTD tổng thể của NH Đo lường rủi ro còn được đánh giá qua việc tính toán quy mô dư nợ, cơ cấu dư

22

nợ, tỉ lệ NQH, nợ xấu, hệ số RRTD, DPRR.

Ý nghĩa của đo lường RRTD Một là loại bỏ những KH có mức rủi ro quá cao và nhận biết trước những rủi ro

có thể xảy ra.

Hai là giúp KH hiểu rõ hơn những điểm mạnh, điểm yếu của chính KH để từ đó

tư vấn cho KH những biện pháp đảm bảo vay vốn phù hợp.

Ba là tiến hành phân tích một cách khách quan, theo quy định NH, bảo đảm KH

có thể trả nợ, mong muốn trả nợ.

Bốn là, NH có thể đưa ra nhiều sản phẩm hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

1.7.3.3. Ứng phó rủi ro

Sau khi xác định, phân tích và hình thành các chỉ tiêu đo lường, rủi ro cần phải được theo dõi thường xuyên. Mục đích của khâu này là giúp cho bộ máy QLRR nắm

được tình trạng rủi ro của NH theo thời gian.

Quản lý, báo cáo, đây là khâu thể hiện rõ nhất chiến lược, cũng như tư tưởng của

NH về vấn đề RRTD. Trước hết NH phải có một hệ thống các công cụ QLRR (thiết

lập các giới hạn rủi ro, mức ủy quyền phán quyết,…) song song với các công cụ quản

lý RRTD, là việc tổ chức quản lý RRTD được thực hiện ở cấp độ trung trong toàn NH.

Các công cụ quản lý RRTD: Mức ủy quyền phán quyết là hạn mức tín dụng tối đa mà hội sở chính giao cho

chi nhanh được toàn quyết định.

Giới hạn rủi ro là mức rủi ro tối đa mà NH có thể chịu đựng được để đảm bảo đạt

được mức lợi nhuận tương ứng.

Quản lý danh mục cho vay

NH phải thường xuyên phân tích và theo dõi danh mục tín dụng, đặc biệt là các

khoản nợ xấu, nợ có vấn đề để có những biện pháp xử lý kịp thời khi có rủi ro xảy ra.

Trên cơ sở danh mục cho vay, NH tiến hành phân loại các khoản nợ trong hạn, nợ cần

được đặc biệt lưu ý, nợ dưới chuẩn và nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Ngoài

ra NH cũng hết sức lưu ý đến các khoản nợ đặc biệt chú ý vì khi có bất lợi xảy ra đối

với hoạt động cho vay NH, các khoản này dễ bị chuyển thành nợ xấu. NH đưa ra các biện pháp quản lý các khoản nợ trên để đảm bảo chất lượng tín dụng cho NH.

Để hoạt động quản lý RRTD được hiệu quả NH cần xây dựng một hệ thống thông tin tín dụng tập trung bao gồm các báo cáo định kỳ và đặc biệt. Báo cáo định kỳ

có thể bao gồm các báo cáo liên quan đến các nội dung sau: KH có dư nợ tín dụng lớn nhất, các khoản dư nợ lớn nhất; Phân tích danh mục tín dụng, các trường hơp ngoại lệ

(ví dụ vượt hạn mức); các khoản nợ xấu khó đòi; các dấu hiệu cảnh báo sớm, dự

23

phòng cho từng khoản nợ riêng lẻ, lợi nhuận cho từng KH và sản phẩm, nhật ký theo dõi các khoản vay.

Rà soát chính sách rủi ro theo từng thời kỳ Chính sách rủi ro tính dụng với mục tiêu mở rộng tín dụng đồng thời hạn chế

RRTD nằm nâng cao thu nhập cho NH. Chính sách quản lý RRTD nhằm hạn chế rủi

ro như sau: chính sách tài sản đảm bảo, chính sách bảo lãnh, chính sách đồng tài trợ,…

Chính sách quản lý RRTD là cơ sở để hình thành nên quy trình tín dụng với những

hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết, các bước cụ thể trong quá trình cấp tín dụng. Một chính sách quản lý RRTD tốt là một chính sách quản lý RRTD được trình bày bằng những

thuật ngữ chính xác, những hướng dẫn được thực hiện rõ ràng đối với các loại hình tín

dụng khác nhau và phải là một ứng dụng thông minh với những nguyên tắc tín dụng

thích hợp với những thay đổi của các nhân tố và môi trường kinh tế. Chính sách vạch ra cho cán bộ tín dụng phương hướng hoạt động và một khung tham chiếu để làm căn

cứ xem xét các nhu cầu vay vốn. Điều này tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín

dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.

Phân tán rủi ro

Phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng là việc thực hiện cấp tín dụng cho nhiều

ngành, nhiều lĩnh vực, khu vực sản xuất kinh doanh nhằm tránh những tốn thất lớn xảy

ra cho NH thương mại. Các hình thức phân tán rủi ro chủ yếu bao gồm:

Không tập trung cấp tín dụng cho một ngành, một lĩnh vực hay một khu vực. Để

hạn chế rủi ro không nên tập trung vốn quá nhiều vào một loại hình kinh doanh, một vùng kinh tế. Khi NH tập trung cấp tín dụng vào một lĩnh vực kinh tế thì sẽ giống như

“Bỏ trứng vào một rổ” điều đó có nghĩa là: Khi lĩnh vực kinh tế mà NH tập trung đầu

tư vốn gặp phải những biến động bất lợi thì thiệt hại của NH sẽ là vô cùng lớn. Như

vậy phân tán rủi ro là phân chia lĩnh vực đầu tư, khu vực đầu tư là một biện pháp cho

NH thương mại trong phòng chống rủi ro.

Không nên dồn vốn đầu tư vào một hoặc một số KH

Cùng với mục đích như trên là phân tán rủi ro, đây là lời khuyến cáo quan trọng

cho việc ra quyết định cấp tín dụng của NH. Cho dù là một KH kinh doanh hiệu quả

hay có quan hệ lâu năm với NH thì yêu cầu trên vẫn cần được tuân thủ bởi vì nếu KH gặp khó khăn rủi ro đột xuất xảy ra thì NH cũng chịu tổn thất lớn, hơn nữa những thay đổi trong chi kỳ kinh doanh của KH là khó tránh khỏi đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng có tác dụng phân tán rủi ro theo danh mục tài

sản, giảm thiệt hại xảy ra khi có rủi ro đối với một vài loại tài sản nhất định.

Cho vay đồng tài trợ

Là hình thức cho vay của một tổ chức tín dụng cho một dự án đầu tư và do một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối giữa các bên để thực hiện tài trợ. Cho vay đồng tài trợ nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động cho vay, giúp NH thương mại phân tán

24

rủi ro mà vẫn không bị mất nguốn thu từ phương án kinh doanh khả thi. Các tổ chức

tín dụng tham gia đồng tài trợ, phải ký kết với nhau một hợp đồng tài trợ. Do đó, khi rủi ro xảy ra gắng nặng sẽ được phân tán cho mỗi đơn vị chịu một phần rủi ro tương

ứng với mức vốn tham gia của mình.

Sử dụng các công cụ tín dụng phái sinh để phòng ngừa và hạn chế rủi ro:

Sử dụng các công cụ tín dụng phái sinh thông quá Hợp đồng trao đổi tín dụng

(Credit swap), hợp đồng quyền chọn tín dụng (Credit options). Hợp đồng quyền chọn tín dụng là một công cụ bảo vệ NH trước những tổn thất trong trị giá tài sản tín dụng,

giúp bù đắp mức chi phí vay vốn cao hơn khi chất lượng tín dụng của NH giảm sút.

Tổ chức QLRR Mô hình tổ chức QLRR đơn giản tùy thuộc vào qui mô của từng NH. Với những NH nhỏ, giám đốc điều hành có thể quán xuyến được toàn bộ hoạt động của NH thì

không nhất thiết phải hình thành những phòng chức năng chuyên trách về quản lý

RRTD, mà chỉ cần một vài nhân viên chịu trách nhiệm đo lường, đánh giá mức độ rủi

ro và trực tiếp báo cáo cho giám đốc. Tuy nhiên, tại những NH lớn với nhiều chi

nhánh, trong cơ cấu tổ chức NH thường hình thành khối chuyên trách QLRR với nhiều

cấp độ quản lý. Trong trường hợp này, có sự phân định rõ ràng ở từng cấp trong NH

và QLRR là quá trình thực hiện từ trên xuống và từ dưới lên. Tại cấp cao nhất là việc

xác định mục tiêu thu nhập với giới hạn rủi ro. Trong quá trình quản lý thực hiện từ

trên xuống, mục tiêu chung của NH sẽ được cụ thể hóa bằng những chỉ dẫn cho các bộ phần chức năng, và cho những người quản lý có trách nhiệm. Những chỉ dẫn này bao

gồm mục tiêu thu nhập, giới hạn rủi ro và các văn bản hướng dẫn chính sách QLRR.

Việc giám sát và lập báo cáo được định hướng từ dưới lên trên, bắt đầu từ giao dịch và

kết thức với những mức rủi ro đã được tổng hợp.

Nói tóm lại, tổ chức QLRR kinh doanh nói chung là quản lý RRTD có liên quan

đến nhiều hệ thống cấp bậc trong NH từ trên xuống dưới nhằm tổng hợp rủi ro và khả

năng sinh lời của NH để giám sát chúng.

1.7.3.4. Kiểm soát rủi ro tín dụng

Kiểm soát RRTD là một nội dung của quản lý RRTD được thực hiện song song với hoạt động QLRR nhằm mục đích: (i) phòng chống và kiểm soát các rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động của NH, (ii) đảm bải toàn bộ các hoạt động, các bộ phận và cá nhân trong NH đều tuân thủ các quy định của pháp luật, tuân thủ và thực hiện các

chiến lược, chính sách, quy trình và quyết định của các cấp thẩm quyền, đảm bảo mục tiêu an toàn và hiệu quả trong hoạt động của NH.

Kiểm soát RRTD bao gồm kiểm soát trước khi cho vay, trong khi cho vay và sau

khi cho vay.

Kiểm soát trước khi cho vay bao gồm: Kiểm soát quá trình thiết lập chính sách,

thủ tục, quy trình cho vay; kiểm tra quá trình lập hồ sơ vay vốn và thẩm định, các kiểm 25

tra viên thực hiện đối chiếu với quy định để kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp của hồ sơ vay vốn, kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán và thẩm định trên hồ sơ tín

dụng; kiểm tra tờ trình cho vay và các hồ sơ liên quan để tìm hiểu quan điểm của các

bộ phận tín dụng, ý kiến của phụ trách bộ phận tín dụng, xét duyệt của ban lãnh đạo và

trình duyệt đối với trường hợp vượt thẩm quyền phán quyết.

Kiểm soát trong khi cho vay: Kiểm soát một lần nữa hợp đồng tín dụng; kiểm tra quá trình giải ngân bao gồm đối chiếu xác nhận của KH với số liệu tại NH để từ đó

phát hiện các trường hợp vay hộ, lập hồ sơ giải ngân vay vốn, kê khai khống tài sản

đảm bảo, cán bộ tín dụng thu nợ, lãi không nộp NH, điều tra việc sử dụng vốn vay của

KH có đúng mục đích xin vay hay không, giám sát thường xuyên khoản vay.

Kiểm soát sau khi cho vay: Kiểm soát đôn đốc thu hồi nợ, kiểm soát tín dụng nội

bộ độc lập, đánh giá lại chính sách tín dụng.

1.7.4. Mô hình quản lý rủi ro tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng

1.7.4.1. Mô hình tổ chức quản lý rủi ro phân tán

Mô hình tổ chức QLRR phân tán là cách thức tổ chức hoạt động QLRR tản mạn,

ở nhiều bộ phận khác nhau, quyền quyết định và quyền QLRR khoản vay không tập

trung ở Trung ương mà dàn đều ở cấp cơ sở.

Đặc điểm:

Một là: Quyền lực không tập trung vào Hội đồng quản trị, thông tin bị phân tán nên Hội đồng quản trị không có khả năng xây dựng, kiểm tra các mục tiêu chiến lược,

các quyết định phòng ngừa RRTD.

Hai là: Không có sự tách bạch giữa chức năng QLRR, kinh doanh và tác nghiệp.

Trong đó, phòng tín dụng thực hiện đầy đủ 3 chức năng và chịu trách nhiệm đối với

mọi khâu của một khoản vay. Ban lãnh đạo của phòng tín dụng cũng đảm nhận phê

duyệt cả 3 khâu.

Ba là: Hoạt động tín dụng và QLRR được thực hiện độc lập ở chi nhánh, mỗi

giám đốc chi nhánh tự đưa ra phán quyết tín dụng và chịu trách nhiệm về quyết định

của mình.

1.7.4.2. Mô hình quản lý rủi ro tập trung

Đây là cách thức tổ chức QLRR dựa trên nguyên tắc tập trung tại một bộ phận,

quyền quyết định và QLRR khoản vay tập trung tại Trung ương.

Đặc điểm:

- Thông tin về hoạt động tín dụng tập trung cao tại Hội đồng quản trị trên cơ sở đó

Hội đồng quản trị có thể xây dựng, kiểm tra các mục tiêu và tầm nhìn chiến lược.

26

- Mô hình này dựa trên nguyên tắc chính là tách biệt giữa 3 chức năng: kinh doanh, QLRR, tác nghiệp. Theo đó, phòng tín dụng được lập thành 3 bộ phận khác

nhau để phụ trách 3 chức năng trên, đó là: bộ phận quản lý quan hệ KH, QLRR, quản lý nợ.

- Các quyết định vay vượt hạn mức đều tập trung vào quyết định cho vay của

Trung ương, điều này hạn chế rủi ro cho toàn hệ thống.

1.7.4.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng

Có rất nhiều nghiên cứu về việc xác định mô hình quản lú RRTD và các nhân tố ảnh huởng đuợc đánh giá cao. Theo quan điểm của các nhà học thuật, có một số nhân

tố chính ảnh huởng đến việc xác định mô hình quản lý RRTD.

Định hướng QLRR của NH

Đây là một yếu tố chủ quan hết sức quan trọng thuộc về bản thân mỗi NHTM, nó

quyết định mức độ quan tâm đến họat động quản lý RRTD.

Định huớng quản lý RRTD của NH là một kế họach hay chiến lược tổng thể phát

triển họat động tín dụng và quản lý RRTD gồm một hệ thống các mục tiêu, chuơng

trình, chính sách và giải pháp cụ thể đuợc xây dựng một cách phù hợp các diễn biến về

chính trị, kinh tế, xã hội trong nuợc tại từng thời kỳ, quy mô của mỗi NH trong họat

động tín dụng.

Công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin là yếu tố có vai trò cực kì quan trọng trong việc nâng cao

năng lực họat động của NH đặc biệt trong lĩnh vực QLRR. Theo Basel II, sự đầu tư công nghệ này, kết hợp với cơ sở dữ liệu chi tiết đó thu thập được, theo thời gian tất

yếu sẽ phát huy đuợc lợi ích tiềm tàng to lớn của nó trong định giá và QLRR nói

chung, cũng như trong điều hành quản lý NH nói riêng. Công nghệ thông tin đuợc ứng

dụng vào họat động kinh doanh của NH, cải thiện môi trường làm việc, tăng nhanh tốc

độ xử lý công việc, xử lý giao dịch và độ an toàn cao hơn do giảm bớt sự can thiệp thủ

công và vì vậy cải thiện được dịch vụ. Trình độ áp dụng công nghệ thấp, dịch vụ NH

sẽ nghèo nàn, tốc độ xử lý kém, không đảm bảo an toàn do phải qua nhiều khâu lao

động thủ công. Đặc biệt, việc ứng dụng các mô hình quản lý RRTD hiện đại cần một

hệ thống thông tin chuẩn xác thì yếu tố hỗ trợ công nghệ chiếm một vai trò vô cùng quan trọng.

Trình độ nhân lực Yếu tố con người luôn có vai trò vô cùng quan trọng trong bất kỳ một lĩnh vực

nào, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ NH, một dịch vụ đặc biệt vừa liên quan đến ngành tài chính, đến kĩ thuật, đến con người một cách trực tiếp.

NH nào dự báo được những thay đổi của thị trường một cách chính xác, đưa ra

những chính sách khai thác hợp lý và sớm hơn các NH khác thì sẽ chộp được cơ hội. Việc lựa chọn mô hình QLRR nào cho NH cũng phải xem xét, trình độ, năng lực của

nhân viên trong lĩnh vực tín dụng của NH. Nếu NH có một đội ngũ cán bộ am hiểu về 27

kỹ thuật đo lường rủi ro thì việc ứng dụng các mô hình đo lường RRTD cũng không khó khăn. Do đó, để có khả năng áp dụng mô hình quản lý RRTD hợp lý, ngòai việc

ứng dụng công nghệ mới nhất của ngành NH, đòi hỏi đội ngũ nhân viên làm công tác

QLRR phải không ngừng trau dồi và trang bị kiến thức mới để có thể am hiểu về hệ

thống QLRR để họat động quả lý rủi ro mang lại kết quả cao.

Quy mô NH Quy mô NH có ảnh huởng lớn đối với việc quyết định mô hình quản lý RRTD.

Nếu NH có quy mô nhỏ bé, họat động tín dụng tập trung ở một số ngành nhất định, sẽ

lựa chọn các mô hình QLRR theo mô hình đơn, gọn nhẹ. Nếu NH có quy mô lớn,

mạng lưới rộng khắp, cần có các mô hình QLRR tập trung định lượng, kiểm soát kép.

Trên đây là một số nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới xác định mô hìnhh QLRR của

các NH thương mại. Nhìn chung, thực tiễn đã chỉ ra rằng, các nhân tố trên đây có quan

hệ đan xen nhau, tác động tổng thể nhiều chiều tới họat động QLRR của NH thương

mại. Do đó, các NH thương mại cần tiến hành phân tích tổng hợp các nhân tố ảnh

hưởng trên cũng như phải biết vận dụng cơ chế của Nhà nước, chủ động nắm bắt sự

biến động của các nhân tố ảnh hưởng đến họat động tín dụng và quản lý RRTD của

28

các NHTM.

CHƢƠNG 2:

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TẠI

NGÂN HÀNG VIETINBANK CHI NHÁNH HOÀNG MAI

2.1. Khái quát chung về Ngân hàng VietinBank chi nhánh Hoàng Mai

2.1.1. Cơ cấu bộ máy tổ chức Ngân hàng VietinBank chi nhánh Hoàng Mai

NHTM cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập vào ngày 26/3/1988, trên cơ sở tách ra từ NHNN Việt Nam theo Nghị định số 53/HĐBT của Hội

đồng Bộ trưởng. Vốn điều lệ tính đến thời điểm ngày 31/12/2010 đạt 15.173 tỷ đồng.

VietinBank là một trong bốn NHTM nhà nước lớn nhất Việt Nam. VietinBank có tổng

tài sản chiếm hơn 25% thị phần trong toàn bộ hệ thống NH Việt Nam. Nguồn vốn của VietinBank luôn tăng trưởng qua các năm đạt bình quân hơn 20%/năm, đặc biệt có

năm tăng 35% so với năm trước. Mạng lưới kinh doanh trải rộng toàn quốc với 02 Sở

Giao dịch, 160 Chi nhánh và trên 700 điểm giao dịch, 03 công ty hạch toán độc lập là

công ty cho thuê tài chính, công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán, công ty quản lý

nợ và khai thác tài sản và 02 đơn vị sự nghiệp là trung tâm công nghệ thông tin và

trung tâm đào tạo.

VietinBank còn là thành viên sáng lập của các Tổ chức Tài chính Tín dụng: - Sài

Gòn Công Thương NH - Indovinabank (NH liên doanh đầu tiên tại Việt Nam) - Công

ty cho thuê Tài chính Quốc tế - VILC (Công ty cho thuê Tài chính Quốc tế đầu tiên tại Việt Nam) - Công ty Liên doanh Bảo hiểm châu Á - NHCT, là thành viên chính thức

của: - Hiệp hội NH Việt Nam (VNBA) - Hiệp hội các NH châu Á (AABA) - Hiệp hội

Tài chính Viễn thông Liên NH (SWIFT) - Tổ chức phát hành và thanh toán thẻ VISA,

MASTER quốc tế. VietinBank đã ký 08 Hiệp định Tín dụng khung với các quốc gia

như Bỉ, Hàn Quốc, Thụy Sĩ và có quan hệ đại lý với hơn 900 định chế tài chính và NH

lớn của 60 quốc gia trên khắp các châu lục.

Chi nhánh VietinBank - Hoàng Mai là chi nhánh cấp I thuộc hệ thống

VietinBank. Hoạt động theo quy chế về tổ chức và hoạt động của VietinBank, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố và góp phần mở rộng quy mô hoạt động của NH thành phố Hà Nội. Trụ sở giao dịch đặt tại 254 Trương Định, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Cũng giống như các Chi nhánh khác của

VietinBank, Chi nhánh VietinBank - Hoàng Mai là một TCTD thực hiện các Hội đồng tín dụng và đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu hoạt động của VietinBank

2.1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh

Trong thời gian qua, với sự nỗ lực, chi nhánh Hoàng Mai đã không ngừng phát triển cả về số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tăng thu nhập, mở rộng thị phần để

29

ngày một khẳng định vị thế và nâng cao tính cạnh tranh của NH trên địa bàn.

Bảng 0.1. Báo cáo kết quả kinh doanh

Đơn vị tính: triệu đồng

Chênh lệch

STT Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

1 291.309 185.184 106.125 57,31 Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự

2 -160.387 -124.023 -36.364 29,32 Chi phí lãi và các chi phí tương tự

69.761 I Thu nhập lãi thuần 130.922 61.161 114,06

1 Thu nhập từ hoạt động dịch vụ 10.389 7.879 2.510 31,86

2 Chi phí hoạt động dịch vụ -466 -322 -144 44,93

2.366 II 9.923 7.558 31,30 Lãi/lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ

183 III 3.056 2.873 6,38 Lãi/lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối

1 Thu nhập từ hoạt động khác 603 4.331 -3.728 (86,07)

2 Chi phí hoạt động khác -15.022 -11.332 -3.690 32,56

-7.418 IV -14.419 -7.001 105,96 Lãi/lỗ thuần từ hoạt động khác

-770 V Chi phí hoạt động -38.308 -37.538 2,05

64.157 VI 91.175 27.017 237,47 Lợi nhuận thuần trƣớc chi phí dự phòng RRTD

64.157 VII Tổng lợi nhuận trƣớc thuế 91.175 27.017 237,47

64.157 VIII Lợi nhuận sau thuế 91.175 27.017 237,47

(Nguồn: Phòng tổng hợp Chi nhánh VietinBank - Hoàng Mai )

Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của VietinBank - Hoàng Mai trong 2 năm 2012 và 2013 ta thấy nhìn chung chi nhánh này hoạt động không những có lãi mà lợi nhuận sau thuế của năm sau còn tăng đáng kể (gấp hơn 4 lần) so với năm trước. Đây được coi là một trong những chi nhánh hoạt động hiệu quả nhất của

VietinBank. Cụ thể như sau:

Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự của năm 2013 là 291.309 triệu đồng tăng tuyệt đối 106.125 triệu đồng tương đương với 57,31% so với năm 2012 chủ yếu

30

là nhờ thu nhập lãi cho vay KH.

Chi phí lãi và các chi phí tương tự năm 2013 tăng tuyệt đối 36.364 triệu đồng, tăng tương đối 29,32% so với năm 2012 do tác động của cuộc chạy đua lãi suất giữa

các NHTM.

Tốc độ tăng của thu nhập từ lãi lớn hơn rất nhiều so với tốc độ tăng của chi phí

lãi làm cho thu nhập lãi thuần tăng mạnh 69.761 triệu đồng tương ứng với 114,06%.

Sự gia tăng “kỉ lục” của thu nhập lãi thuần là nguyên nhân chính khiến cho kết quả hoạt động kinh doanh của cả năm 2013 tăng trưởng mạnh mẽ. Không khó để lý giải

điều này bởi thu nhập từ việc cho vay vốn là nguồn thu chủ yếu của chi nhánh và

VietinBank là một trong những tổ chức tín dụng cho vay KH lớn nhất với tỷ trọng thu

nhập từ lãi cho vay KH cao nhất, chiếm hơn 80% tổng thu nhập từ lãi.

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ năm 2013 là 10.389 triệu đồng tăng tuyệt đối

2.510 triệu đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 31,86%. Đây là nguồn thu từ

phí bảo lãnh, thu phí dịch vụ thanh toán, thu từ tham gia thị trường tiền tệ, thu từ việc

cho vay đầu tư vào các dự án, thu từ phí dịch vụ ngân quỹ…và các khoản thu từ dịch

vụ khác.

Chi phí hoạt động dịch vụ tăng từ 322 triệu đồng năm 2012 lên 466 triệu đồng

tức là tăng 44,93% chủ yếu là do phí chi về dịch vụ thanh toán trong và ngoại nước,

cước phí bưu điện về mạng viễn thông…cũng tăng lên cao.

Mặc dù thu nhập và chi phí hoạt động dịch vụ đều tăng nhưng lãi từ hoạt động dịch vụ không những không giảm mà còn tăng 2.366 triệu đồng tương đương với

31,30% bởi lượng gia tăng của thu nhập chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với lượng

gia tăng của chi phí. Hoạt động dịch vụ không những là một lĩnh vực kinh doanh mang

lại lợi nhuận không nhỏ cho NH mà còn là hoạt động hỗ trợ các hoạt động huy động

và tín dụng phát triển tốt hơn. Những năm gần đây, các NHTM khác nói chung và

VietinBank - Hoàng Mai nói riêng đang chú trọng đầu tư cho lĩnh vực này nhiều hơn,

vì chi phí bỏ ra không nhiều mà lợi nhuận thu về khá cao.

Lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại hối của NH gần như không có thay đổi trong

2 năm, năm 2013 tăng nhẹ 183 triệu đồng tương ứng với 6,38% so với năm 2012. Trong giai đoạn tỷ giá biến động mạnh mẽ trong năm 2013 do tiền đồng mất giá mạnh, thâm hụt thương mại 6 tháng đầu năm 2013 tăng khiến niềm tin vào tiền đồng giảm sút và nhu cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng, đặc biệt là việc phải đối phó với lần điều chỉnh

tỷ giá mạnh nhất của NH Nhà Nước ngày 11/2/2013 được coi là “một cú shock trên thị trường ngoại hối” thì việc duy trì hoạt động kinh doanh ngoại hối có lãi là một thành

công không nhỏ của chi nhánh Hoàng Mai nói riêng và VietinBank nói chung.

Các hoạt động về thu nhập khác và chi phí khác là một vấn đề cần nói ở đây khi mà thu nhập từ hoạt động này giảm mạnh từ 4.331 đồng năm 2012 xuống chỉ còn 603

31

đồng tương đương với mức giảm tuyệt đối là 3.728 triệu đồng, giảm tương đối là

86,07%. Hơn nữa, chi phí hoạt động khác không vì vậy mà giảm đi còn tăng 3.690 triệu đồng tương đương 32,56% làm cho kết quả hoạt động kinh doanh khác năm 2013

thâm hụt đi 7.418 triệu đồng tương đương với 105,96%.

Chi phí hoạt động năm 2013 tăng không nhiều so với năm 2011 với mức tăng

tuyệt đối là 770 triệu đồng tương đối là 2,05%. Chi phí về nhân sự luôn chiếm tỷ trọng

lớn nhất trong chi phí hoạt động của các NHTM. Chi phí hoạt động hầu như không có sự thay đổi dù trong thời điểm thị trường tiền tệ năm 2013 gặp khó khăn với nhiều

biến cố, nhiều NH cắt giảm nhân sự để thực hiện tái cấu trúc nhưng chi nhánh Hoàng

Mai vẫn hoạt động ổn định, không cần phải cắt giảm qui mô, cũng như đảm bảo đồng

lương và phúc lợi cho toàn thể cán bộ. Chi nhánh có sự điều chỉnh quan trọng về cơ cấu nhân sự , xây dựng cơ chế lương thưởng khoa học với mục đích sắp xếp đúng

người đúng việc và có chế độc đãi ngộ chính xác nhất đối với từng vị trí. Có thể thấy

VietinBank luôn chú trọng đến việc tạo dựng sự gắn bó lâu dài của đội ngũ nhân sự vì

đó là một trong những yếu tố then chốt để phát triển trong dài hạn.

Lợi nhuận thuần trước chi phí dự phòng RRTD bằng tổng lợi nhuận trước thuế và

cũng bằng lợi nhuận sau thuế. Chi nhánh không có chi phí dự phòng RRTD và không

phải hạch toán thuế thu nhập DN vì VietinBank hạch toán tập trung tại Hội sở chính.

Lợi nhuận sau thuế tăng trưởng vô cùng tốt với mức tăng tuyệt đối 64.157 triệu đồng

tức là tăng 237,47%. Các hoạt động của Chi nhánh đều có lãi trong cả 2 năm, hơn nữa lãi từ các hoạt động năm 2013 lại tăng hơn so với năm 2012, đặc biệt là hoạt động cho

vay. Đây là kết quả tất yếu mà Chi nhánh đạt được nhờ bộ máy quản lý hoạt động đạt

hiệu quả cao, cũng như khả năng mở rộng và nắm bắt thị trường, đồng thời không

ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, uy tín và vị thế đối với KH. Và để đạt được thành

quả này, cũng phải kể đến sự cố gắng, tinh thần trách nhiệm của cán bộ công nhân viên

trong toàn Chi nhánh trong việc kinh doanh và tiết kiệm chi phí hoạt động.

Tóm lại: Trong những năm qua, VietinBank Hoàng Mai luôn hoàn thành tốt

những chỉ tiêu được giao. Với sự đoàn kết, thống nhất, phát huy sức mạnh của cả tập

thể cùng với sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo, bằng những kế hoạch cụ thể như: hiện đại hóa máy móc thiết bị, thay đổi công nghệ, chấn chỉnh tác phong giao dịch, nâng cao chất lượng phục vụ, tập trung phát triển công tác sử dụng vốn, mở rộng quan hệ KH,.VietinBank Hoàng Mai đã thực hiện tốt hoạt động huy động vốn, hoạt động cho

32

vay và các hoạt động khác nhằm nâng cao lợi nhuận cho chi nhánh và NH - đúng như mục đích mà NH đã đề ra.

2.2. Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại VietinBank chi nhánh

Hoàng Mai

2.2.1. Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng của Ngân hàng VietinBank chi nhánh

Hoàng Mai

2.2.1.1. Dư nợ và cơ cấu tín dụng của Ngân hàng

Bảng 0.2. Bảng số liệu phản ánh tình hình cho vay của chi nhánh theo các chỉ tiêu

(năm 2011-2013)

Đơn vị: tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng Tỷ trọng Tỷ trọng

Tổng Dƣ nợ 1438,8 100% 2252,4 100% 2900 100% tín dụng cuối kỳ

Cơ cấu cho vay theo đối tượng KH

Dư nợ cho vay DN 1312,8 91,2% 1995,6 88,6% 2580 89%

Dư nợ cho vay cá nhân 126 8,8% 256,8 11,4% 320 11%

Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn

Dư nợ trung dài hạn 631,2 43,9% 758,4 33,7% 1280 44,1%

Dư nợ ngắn hạn 807,6 56,1% 1494 66,3% 1620 55,9%

(Nguồn: Phòng tổng hợp Chi nhánh VietinBank - Hoàng Mai )

Qua bảng số liệu ta thấy:

Về cơ cấu cho vay theo đối tượng KH:

Trong giai đoạn 2011-2013, thực hiện định hướng phát triển kinh tế - xã hội của

thành phố Hà Nội và sự chỉ đạo của NHCT Việt Nam, VietinBank Hoàng mai đã chủ động mở rộng cho vay, tìm kiếm dự án, tìm kiếm KH để tăng doanh số hoạt động tín dụng, tích cực trong việc cơ cấu lại tín dụng theo thành phần kinh tế, đẩy mạnh tín dụng xuất khẩu. Chủ động tạo điều kiện cho các đối tượng KH là DN vừa và nhỏ, có

hiệu quả kinh doanh thấp do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, dễ dàng tiếp cận vốn, nhằm hỗ trợ DN vượt qua khó khăn, tạo bước phát triển ổn định, bền vững.

Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng KH của chi nhánh NHCT Hoàng Mai chủ yếu

là KH DN.Chính vì thế dư nợ cho vay DN về số tuyệt đối tăng cao,trong năm 2011 là 1312,8 tỷ đồng (chiến 91,2%) thì đến năm 2012 là 1995,6 tỷ đồng (chiến 88,6%) và

33

đến năm 2013 là 2580 tỷ (chiếm 89%). Một trong những nguyên nhân làm cho vay đối

với thành phần kinh tế DN không những tăng lên về số lượng là trong những năm gần đây có lẽ là do tính chủ động trong kinh doanh của thành phần kinh tế này đã được

nâng cao. Các DN nhà nước càng ngày càng hòa nhập với nền kinh tế thị trường. Hơn

nữa, với tình hình kinh tế ngày một phát triển, yêu cầu đổi mới về công nghệ đang đòi

hỏi hết sức cấp bách bởi tính cạnh tranh gay gắt. DN nhà nước đóng vai trò chủ đạo

trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, không ngừng hội nhập với nền kinh tế khu vực thế giới. Trong bối cảnh đó, chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần đề cao

việc cho vay đầu tư mua sắm thiết bị công nghệ mới, mặc dù nó như là một con dao

hai lưỡi, tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.

Ngoài ra đối với cho vay dư nợ cá nhân cũng tăng cao, chi nhánh NHCT Hoàng Mai chủ yếu cho vay theo hình thức tín dụng chấp hành bảo lãnh không có tài sản đảm

bảo. Do vậy hoạt động kinh doanh của thành phần kinh tế này nếu không có hiệu quả,

không có khả năng trả nợ cho NH thì có thể khẳng định rằng khả năng mất vốn đối với

NH là khá cao. Hơn nữa theo thống kê thì NHCT Hoàng Mai cho vay đối với DN nhà

nước chủ yếu là cho vay trung và dài hạn và tập trung vào một số công ty lớn. Sự tập

trung vốn không hợp lý này đã làm cho hoạt động tín dụng của NHCT chi nhánh

Hoàng Mai phụ thuộc khá lớn vào những đơn vị sản xuất kinh doanh trên. Và khi họ

gặp khó khăn về tài chính không trả được nợ cho NH thì nguồn vốn tín dụng của NH

sẽ giảm sút, làm giảm khả năng thanh khoản của NH và tác động tiêu cực tới kế hoạch huy động và cho vay mới của NHCT Hoàng Mai.

Từ những nhận xét trên cho thấy sự ưu ái hơn với đối tượng KH DN. Tuy nhiên,

xét về tỷ trọng thì tỷ trọng cho vay DN giảm, là do NH ngày càng trở nên thận trọng

hơn để tránh RRTD không mong muốn trong thời kỳ kinh tế khó khăn. Dư nợ cho vay

DN tăng nhưng tốc độ tăng không bằng độ tăng của cho vay cá nhân nên tỷ trọng bị

giảm. Tuy nhiên tính về giá trị tuyệt đối cho vay tín dụng DN lại tăng nhiều hơn so với

cho vay cá nhân. Có thể nói ngoài cho vay DN là chủ yếu thì NH đang chú trọng đến

lĩnh vực bán lẻ hơn nhằm giảm thiểu rủi ro hơn.

Về cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn: Trong năm 2011-2012 do khủng hoảng nền kinh tế, nền kinh tế Việt Nam có dấu hiệu đang chạm đáy nên các NH hạn chế cho vay dài hạn hơn để giảm thiểu rủi ro, đồng thới các khoản cho vay dài hạn lớn đến hạn dẫn đến cho vay dài hạn giảm.

Trong nền kinh tế thị trường, NH có thể cho KH vay ngắn hạn nhằm bổ sung vốn lưu động tạm thời thiếu hụt cho KH hoặc cho vay tiêu dùng. Khi nói đến hoạt động tín

dụng của NH thì tín dụng ngắn hạn luôn được NH coi hàng đầu, bên cạnh việc hỗ trợ vốn cho các thành phần kinh tế phát triển, đây còn là yếu tố quan trọng tạo ra lợi nhuận cho NH. Bơi vậy dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao, luôn chiếm trên 55% tổng

34

dư nợ tín dụng cuối kỳ từ 2011 đến 2013.

Dư nợ trung dài hạn về số tuyệt đối cũng tăng tương đối khi năm 2011 là 631,2 tỷ đồng, năm 2012 là 758 tỷ đồng thì năm 2013 đã là 1280 tỷ đồng. Nguyên nhân là do

NHCT chi nhánh Hoàng Mai cho vay nhằm đáp ứng vốn đầu tư cho dự án mới, dự án

mở rộng sản xuất, dự án ứng dụng khoa học, công nghệ và mua sắm các tài sản cố

định phù hợp với sự phát triển chung của cả khu vực và trong nước.

Việc cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao là do mục đích vay vốn của KH, KH vay nhằm hỗ trợ hoạt động SXKD hoặc thực hiện DASX mới trong ngắn hạn. Hơn

nữa, việc cho vay ngắn hạn giúp NH tránh được nhiều RRTD, có tính thanh khoản cao

hơn và dễ dàng kiểm soát khoản vay cũng như định giá tài sản bảo đảm. Điều đó sẽ

giúp giảm tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh. Việc cho vay dài hạn, thường có tỷ lệ rủi ro cao hơn cho vay ngắn hạn, nên các NH thường phải tốn nhiều chi phí thẩm định cũng như

là chi phí trích lập DPRR.

2.2.1.2. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng

Xem xét nợ xấu, NQH NQH, nợ xấu là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng. Xem

xét NQH nói chung và nợ xấu nói riêng sẽ cho thấy hiệu quả của việc thẩm định trước

khi cho vay, quản lý nợ vay.

Bảng 0.3. Các nhóm nợ trên tổng dƣ nợ của chi nhánh (năm 2011-2013)

Đơn vị: Tỷ đồng

Năm Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tỷ Tỷ Tỷ Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền trọng trọng trọng

1438,8 100% 2252,4 100% 100% 2900 Tổng dƣ nợ

1182,7 82,2% 1769,7 78,6% 64,2% 1861,5 Nợ nhóm 1

256,1 17,8% 425,9 18,9% 31,5% 914,1 Nợ nhóm 2

0 0% 3,2 0,2% 3,1% 89,9 Nợ nhóm 3

0 0% 0 0% 0,02% 0,6 Nợ nhóm 4

0 0% 0,1786 0,008% 1,27% 34,4 Nợ nhóm 5

(Nguồn: Phòng tổng hợp Chi nhánh VietinBank - Hoàng Mai )

Qua bảng số liệu ta thấy, tỷ trọng của nợ nhóm 1 trên tổng dư nợ giảm liên tục.

35

Năm 2011 tỷ trọng của nợ nhóm 1 so với tổng dư nợ là 82,2%, năm 2012 là 78,6% và đến năm 2013 là 64,6%. Nợ nhóm 2 tăng liên tục, từ 17,8% năm 2011 đến năm 2012 là 18,9% và tăng mạnh năm 2013 là 31,5%. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng nhóm nợ dao động từ 0% đến 4% là rất cao. Năm 2011, do quản lý tốt, cho vay theo đúng quy định và KH đều là những KH có năng lực tài chính tốt nên nợ xấu ko xảy ra. Nợ nhóm 2 chủ yếu là do dòng tiền KH không khớp với kỳ hạn trả nợ, ngoài ra còn một số KH gặp khó khăn

do khủng hoảng kinh tế. Năm 2012 tăng do một số KH bị phá sản (nhóm 5). Còn với nhóm 3 là do một số KH lớn được gia hạn nợ nhưng vẫn chưa trả được nợ. Nguyên

nhân sâu xa của nợ xấu tăng mạnh là do sự thiếu kiểm soát cho vay. Việc thiếu kiểm

soát này là hệ quả tất yếu của một nền kinh tế nặng về “chỉ huy” và kém minh bạch.

NH vừa không đủ năng lực thẩm định chất lượng KH vừa không có động cơ để thẩm

định nó. Ngoài ra, vì sự thiếu minh bạch đó làm cho nhóm lợi ích chi phối thị trường tài chính và dẫn đến rủi ro đạo đức. Nền kinh tế gặp khó khăn làm cho nợ xấu tăng và

đồng thời cũng khiến cho nợ xấu được che dấu trước đó bung ra.

Bảng 0.4. Tỷ lệ NQH trên tổng dƣ nợ

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tổng dư nợ 1438,8 2252,4 2900

Tổng NQH 256,1 482,7 1038,5

Tỷ lệ NQH 17,8% 21,4% 35,8%

Tỷ lệ NQH tăng rất nhanh qua các năm. Năm 2011 tỷ lệ này là 17,8%, năm 2012

là 21,4%, tăng 4,4%, nhưng đến năm 2013, tỷ lệ tăng đột biến thêm 14,45 thành

35,8%, chiếm hơn 1/3 tổng dư nợ của toàn NH. Điều này chứng tỏ rủi ro tăng cao. Tỷ

lệ này cao là do: một số KH là DN và cá nhân hoạt động kinh doanh kém hiệu quả,

hàng hóa tồn động nhiều, làm cho khả năng thanh toán của họ bị yếu kém, dẫn đến

một số cá nhân bị phá sản, giải thể không thể trả nợ đúng hạn. Mặt khác do chi chi

nhánh thực hiện chuyển NQH theo công văn 1627/2001/QĐ/NHNN theo quy định đó

nếu NH trễ hạn một kỳ hạn trả nợ hoặc một số giấy tờ thì toàn bộ dư nợ hợp đồng sẽ

chuyển sang NQH làm cho dư NQH cao nhưng số dư thực tế thấp hơn.

Xem xét tình hình NQH với đối tượng cụ thể là DN vừa và nhỏ quốc doanh và

DN vừa và nhỏ tư nhân, ta có:

Bảng 0.5. Cơ cấu NQH theo đối tƣợng DN vừa và nhỏ

Đơn vị: tỷ đồng

Năm Năm 2012 Năm 2013

Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền

Dƣ nợ DNV&N Năm 2011 Tỷ trọng 100% 688 Tỷ trọng 100% 909 Tỷ trọng 100% 803

DNV&N 175 25% 16% 146 20% 163

DNV&N QD 513 75% 84% 763 80% 640

NQH DNV&N 7,34 100% 100% 5,83 100% 6,34

DNV&N 0,69 9,4% 6% 0,35 7,2% 0,46

DNV&NQD 6,65 90,6% 94% 5,48 92,8% 5,88

36

(Nguồn: Phòng tổng hợp Chi nhánh VietinBank - Hoàng Mai )

NH cho đối tượng DNQD vay là chủ yếu. Năm 2013 NQH giảm đáng kể là điều đáng mừng đối với hoạt động của NH. Chứng tỏ NH có nhiều nỗ lực trong công tác

thu hồi và xử lý nợ đến hạn. Mặt khác do công tác thẩm định ngày càng có hiệu quả,

lựa chọn đúng KH, cho vay đúng thời điểm nên các DN làm ăn có hiệu quả, kinh tế

tăng trưởng ổn định nhằm đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn. Qua bảng trên ta thấy NQH

của đối tượng DN vừa và nhỏ về số tuyệt đối có xu hướng giảm qua các năm.

Đối với DNV&NQD năm 2011 là 6,65 tỷ đồng, năm 2012 giảm xuống 5,88 tỷ

đồng và đến năm 2013 giảm xuống còn 5,48 tỷ đồng bằng 82% so với năm 2011. Điều

này đáng mừng là các KH lớn này ngày càng hoạt động có hiệu quả hơn trước và giảm

dần NQH cho NH.

Đối với DNV&N năm 2011 là 0,69 tỷ đồng và giảm dần qua các năm. Đến năm

2013 chỉ còn 0.35 tỷ đồng bằng 50,7% so với năm 2011. NQH giảm cho thấy sự khởi

sắc trong sử dụng vốn vay của các thành phần kinh tế khác trong sử dụng vốn vay

đúng mục đích nhằm đảm bảo trả nợ đúng hạn theo hợp đồng, thực hiện tốt việc giao

chỉ tiêu NQH đến từng phòng và NH cũng tiến hành miễn lãi, xóa nợ cho những KH

có thiện chí trả nợ nhưng gặp khó khăn trong hoạt đồng sản xuất kinh doanh.

Mặt khác, chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã tăng cường kiểm soát chặt chẽ đối với

DN tư nhân, công ty TNHH sử dụng vốn vay ngân hàn; sàng lọc và loại bỏ những

công ty làm ăn thua lỗ, tình hình tài chính thiếu lành mạnh khi có nhu cầu vay vốn, hạn chế cho vay đầu tư vào những dự án không khả thi và tính rủi ro cao.

Bảng 0.6. Tỷ lệ NQH của đối tƣợng DN vừa và nhỏ

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tỷ lệ NQH của DNV&N tư nhân 0,4% 0,28% 0,24%

Tỷ lệ NQH của DNV&N QD 1,3% 0,92% 0,72%

Theo dõi tỷ lệ NQH của từng nhóm KH, ta thấy tỷ trọng NQH của các DN quốc doanh luôn cao hơn từ 3 đến 4 lần tỷ trọng này của các DN tư nhân. Điều này chứng tỏ việc cho vay các DN quốc doanh gặp nhiều vấn đề hơn các DN tư nhân. Tính thanh

khoản cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến RRTD. Dù DN có tình trạng kinh tế tốt nhưng nếu tính thanh khoản hay khả năng huy động tiền mặt không cao thì DN có

37

nhiều khả năng phải thanh toán NQH quy định. Điều này đồng nghĩa với việc cho vay các DN quốc doanh gặp nhiều rủi ro hơn. Nguyên nhân là do khi đánh giá rủi ro tính dụng, NH dựa trên BCTC không thật nên quyết định đưa ra bị sai, sau đó nhận ra rủi ro đối với KH đó cao dẫn đến hạn chế cho vay, hoặc cho vay với lãi suất cao, và đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo cao hơn đẫn đến DN không vay được vốn, hoặc có vay được nhưng chi phí đi vay quá cáo dẫn đến thua lỗ và đương nhiên không trả được.

Bảng 0.7. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tổng dư nợ 1438,8 2252,4 2900

Tổng nợ xấu 0 3,38 124,92

Tỷ lệ nợ xấu 0% 1,5% 4%

(Nguồn: Phòng tổng hợp Chi nhánh VietinBank - Hoàng Mai )

Qua bảng trên ta thấy nợ xấu tăng đột biến qua các năm 2012, 2013. Năm 2011, trong cơ cấu tổng dư nợ không có nợ xấu, vậy mà năm 2012 tăng là 3,38 tỷ, chiếm

1,5% tổng nợ và năm 2013 thì nợ xấu tăng gấp 4 lần là 124,92 tỷ, chiếm 4% tổng nợ.

Việc nợ xấu năm 2013 là 4%, vượt ngưỡng cho phép của NHNN là 3% là một điều

đáng lo ngại cho NH. Năm 2011, NHCT VN đã thực hiện tốt công tác quản lý nợ xấu,

thực hiện các biện pháp QLRR một cách chặt chẽ nên không xảy ra tình trạng nợ xấu. Nhưng đến năm 2012, do hạn chế về công tác quản lý dẫn đến nợ khó đòi chuyển

thành nợ xấu tăng lên khá lớn. Và trong năm 2013, nợ xấu tăng đột biến là do nhiều

DN phá sản không có khả năng chi trả nợ cho NH. Điều này dẫn đến tỉ lệ nợ xấu tăng

cao.

Bảng 0.8. Tỷ trọng các nhóm nợ 3, 4, 5 trong tổng nợ xấu

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

0 3,38 124,92 Tổng nợ xấu Triệu đồng

Nợ nhóm 3 % 0% 94,67% 72%

Nợ nhóm 4 % 0% 0% 0,46%

Nợ nhóm 5 % 0% 5,33% 27,54%

(Nguồn: Phòng tổng hợp Chi nhánh VietinBank - Hoàng Mai)

Qua bảng trên ta thấy nợ tổng nợ xấu tăng đột biến, chứng tỏ chất lượng tín dụng

giảm mạnh. Trong tổng nợ xấu, nợ nhóm 3 chiếm tỷ trọng cao nhất, năm 2012 là 94,67%, năm 2013 giảm xuống là 72%. Năm 2012, nợ nhóm 4 là 0% nhưng năm 2013 đã tăng đáng kể lên 0,46%. Ngược lại với sự giảm ở nợ nhóm 3, nợ nhóm 5 tăng mạnh, năm 2012 là 5,33% thì năm 2013 đã tăng hơn 5 lần là 27,54%. Điều này cho

38

thấy các khoản nợ không có khả năng thu hồi là nhiều.

Bảng 0.9. Tình hình tổng dƣ nợ theo TSĐB

Đơn vị: tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng

Tổng Dƣ nợ 1438,8 100% 2252,4 100% 2900 100% TD cuối kỳ

Dư nợ có TSĐB 1040,25 72,3% 1838 81,6% 2482,4 85,6%

Dư nợ không có 398,55 27,7% 414,4 18,4% 417,6 14,4% TSĐB

(Nguồn: Phòng tổng hợp Chi nhánh VietinBank - Hoàng Mai)

Ta thấy dư nợ có TSĐB chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ. năm 2011 là

72,3%, năm 2012 tăng lên 81,6% và năm 2013 là 85,6%. Nguyên nhân là do trong giai

đoạn 2011-2013, NH yêu cầu KH nâng hạng mức đảm bảo và chuyển dần TSĐB về

chi nhánh nên tỷ lệ tăng liên tục. Mặt khác do dư nợ theo thành phần kinh tế quốc

doanh chiếm tỷ trọng lớn, đối tượng cho vay truyền thống tập trung vào những tập

đoàn kinh tế lớn do vậy thường là cho vay với số lượng lớn cần phải có TSĐB giá trị

cao.

Xem xét tình hình trích lập DPRR: Việc trích lập DPRR cho phép NH sử dụng quỹ dự phòng để xử lý các khoản nợ

xấu, nợ khó đòi, nợ đọng từ mấy năm trước còn tồn tại.

Bảng 0.10. Tình hình trích lập dự phòng tại chi nhánh

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tổng dƣ nợ 1438,8 2252,4 2900

Trích lập DPRR 57,785 76,860 113,72

Tổng dư nợ được xử lý bằng DPRRTD 8,421 46,427 173,6

(Nguồn: Phòng tổng hợp Chi nhánh VietinBank - Hoàng Mai )

Nhìn vào 2 bảng số liệu ta thấy năm 2013 số tiền trích lập dự phòng là 113,72 tỷ, tăng 24,81% so với năm 2012; năm 2012 là 76,860 tỷ, tăng tương ứng giảm 32,08% so với 2011 là 57,785 tỷ. Năm 2012, số nợ xấu bị xử lý là 46,427 tỷ chỉ bằng 18,14%

39

so với năm 2011. Năm 2013, số nợ xấu bị xử lý tăng mạnh là 113,6 tỷ, tăng 26,74%.

Bảng 0.11. Khả năng bù đắp rủi ro tài chính

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Trích lập DPRR 57,785 76,860 113,72

NQH 256,1 482,7 1038,5

Hệ số khả năng bù đắp RRTD 22,6% 15,9% 10,9%

(Nguồn: Phòng tổng hợp Chi nhánh VietinBank - Hoàng Mai )

Hệ số khả năng bù đắp RRTD cho ta biết khả năng bù đắp 1 đồng NQH của NH

là bao nhiêu. Nếu hệ số này cao đồng nghĩa NQH thấp và RRTD thấp. Qua bảng trên,

ta thấy hệ số giảm mạnh qua các năm, nguyên nhân do NQH tăng cao, trong khi đó với nguồn dự phòng dùng để bù đắp tương ứng tăng nhưng không đáp ứng kịp lượng tăng

của NQH. Điều này chứng tỏ NH đang rơi vào tình trạng nguy hiểm, chất lượng tín

dụng giảm sút, các khoản nợ xấu không có khả năng thu hồi lẫn không có khả năng bù

đắp, đồng nghĩa RRTD tăng cao.

2.2.2. Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VietinBank chi nhánh Hoàng Mai

2.2.2.1. Mô hình tổ chức quản trị rủi ro tín dụng

GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

Phòng KH Phòng Tổ Phòng Phòng Phòng Phòng KH

chức cá nhân Kho Giao Kế DN

QLRR quỹ dịch toán

Bộ phận quản lí rủi ro có nhiệm vụ làm bảo báo về thẩm định RRTD, đầu tư đối

với KH DN, KH cá nhân và thực hiện các công việc liên quan đến công tác quản lí rủi

ro theo thông lệ, quản lý nợ có vấn đề.

Phân tích hoạt động SXKD (tổ chức, cá nhận), phân tích BCTC, hiểu và sử dụng các văn bản pháp lý ở mức độ từ đơn giản cho đến phức tạp nhằm phục vụ công tác

thẩm định và đề xuất tín dụng. Thu nhập, phân tích và xử lý các thông tin liên quan đến KH/ngành/lĩnh vực kinh tế, phân tích tổng hợp đánh giá hoạt động của các ngành kinh tế.

Thực tế, hiện nay NHCT Việt Nam đang ở mô hình Quản lý RRTD phân tán. NH

40

đã thành lập Ủy ban QLRR để:

QLRR một cách hệ thống trên quy mô toàn NH, đảm bảo tính cạnh tranh lâu dài, xây dựng chính sách QLRR thống nhất cho toàn hệ thống. Thiết lập và duy trì môi

trường QLRR đồng bộ, phù hợp với quy trình quản lý gắn với hoạt động của các bộ

phận kinh doanh nâng cao năng lực đo lường giám sát rủi ro.

Mỗi chi nhánh có nhiều KH khác nhau, kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khách nhau,

mỗi chi nhánh tự xây dựng cho riêng mình chính sách quản lý phù hợp với đặc điểm KH, lĩnh vực mà chi nhánh hoạt động.

2.2.2.2. Nội dụng quản trị rủi ro tín dụng

- Nhận biết RRTD

Để nhận biết sớm rủi ro, hồ sơ của KH phải được thẩm định qua 2 phòng (phòng

quan hệ KH và quản lý RRTD)

Tiếp nhận và thẩm định hồ sơ

Cán bộ quan hệ KH sau khi hướng dẫn và tư vấn cho KH lập hồ sơ xin cấp tín

dụng sẽ tiến hành thẩm định sơ bộ hồ sơ xin cấp tín dụng đó. Mẫu hồ sơ xin cấp tín

dụng đã được NH lập sẵn, trong đó yêu cầu KH cung cấp các thông tin chi tiết phục vụ

cho việc thậm định tín dụng sau này. Các thông tin và tài liệu cung cấp như thông tin

cơ bản về KH, tình hình tài chính hiện tại, mục đích vay, hồ sơ tài sản thế chấp, cơ sở

hoàn trả lãi, gốc và kế hoạch trả nợ sẽ được cán bộ tín dụng sử dụng nhiều kênh khác

nhau để điều tra, đánh giá tính hợp pháp và hợp lệ.

Tiếp theo cán bộ tín dụng tiếp tục tiến hành thẩm định các nghĩa vụ thực hiện

trong tương lai có liên quan đến khoản tín dụng mà KH đang xin vay. NH đã đưa ra hệ

thống các tiêu chuẩn về tín dụng nhằm thẩm định về dự án vốn vay nhằm xác định nhu

cầu vốn thực tính, tính khả thi, hiệu quả của phương án vay vốn, khả năng trả nợ, định

giá tài sản đảm bảo và những rủi ro có thể xảy ra để sàng lọc hồ sơ cấp tín dụng một

cách hiệu quả. Căn cứ vào đó, cán bộ tín dụng sẽ lập tờ trình thẩm định cấp có thẩm

quyền phê duyệt tín dụng (thông thường là cấp lãnh đạo phòng KH hoặc phòng giao dịch).

Sau khi nhận được tờ trình thẩm định do cán bộ quan hệ KH trình, lãnh đạo

phòng KH hoặc phòng giao dịch trực tiếp làm việc với KH sẽ kiểm tra, rà soát thông tin trên tờ trình thẩm định một lần nữa. Để có thể tái tẩm định hồ sơ, cấp lãnh đạo phòng trực tiếp sẽ rà soát lại đầy đủ hợp lệ và hợp pháp của tất cả các thông tin, tài liệu có trong hồ sơ vay vốn. Ngoài ra các thông tin khác phục vụ nhằm thẩm định kết quả

chấm điểm tín dụng và xếp hạng KH do cán bộ tín dụng thực hiện cũng được các cấp lãnh đạo xem xét lại để đảm bảo không xảy ra sơ suất. Đồng thời, cấp lãnh đạo phòng

41

trực tiếp sẽ căn cứ vào hồ sơ xin cấp tín dụng để đề xuất giới hạn cấp tín dụng cho KH.

Thẩm định rủi ro độc lập Ngoài thẩm định cụ thể từng hồ sơ xin cấp tín dụng, phòng QLRR còn xem xét

các giới hạn QLRR như các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định của NHNN, các tỉ lệ

về cơ cấu tín dụng theo loại bảo đảm, kỳ hạn..

Quản lý và giải ngân tín dụng

Quá trình giải ngân được bắt đầu khi NH và KH kí kết hợp đồng cho vay. Nguyên

tắc là không bao giờ giải ngân trước khi hợp đồng giải ngân được kí kết.

Quy trình quản lý RRTD gắn liền với quy trình cấp tín dụng. Quy trình cấp tín

dụng thay đổi theo mô hình mới đã yêu cầu quy trình QLRR thay đổi theo, được tổ

chức lại theo mô hình QLRR tập trung. Trong đó, ta thấy được những nét mới trong công tác QLRR đó là: bộ phận QLRR được thiết kế nằm trong các quy trình nghiệp

vụ, QLRR đã không còn đứng ngoài quy trình để thực hiện chức năng giám sát sau khi

nghiệp vụ đã thực sự phát sinh nữa. Sau khi bộ phận QHKH tiếp xúc với KH, thực

hiện việc thẩm định và lập báo cáo đề xuất tín dụng thì hồ sơ sẽ chuyển lên cho bộ

phận QLRR để thẩm định theo quy định. Sau đó khoản tín dụng đó sẽ được giao cho

cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Các cấp thẩm quyền sau: + Trường hợp 1: KH thuộc nhóm không cần bắt buộc phải được bộ phản QLRR

thẩm định (KH loại 1), thì phê duyệt tín dụng là PGĐ phụ trách QHKH;

+ Trường hợp 2: KH thuộc nhóm bắt buộc phải được bộ phận QLRR thẩm định

(KH loại 2), thì phê duyệt tín dụng sẽ là PGĐ/GĐ phụ trách QLRR;

+ Trường hợp 3: KH thuộc thẩm quyền phê duyệt của hội đồng tín dụng. Sau khi cấp thẩm quyền phê duyệt tín dụng, bộ phận QLRR chịu trách nhiệm

soạn thảo quyết định cấp tín dụng, ngoại trừ KH do PGĐ phụ trách QHKH ký duyệt

thì coi như là quyết định tín dụng. Nếu có thẩm quyền phê duyệt RRTD là các Hội

đồng thì GĐ/PGĐ phụ trách QLRR sẽ có thẩm quyền ký trên văn bản quyết định cấp

tín dụng. Sau đó, quyết định cấp tín dụng cùng toàn bộ hồ sơ sẽ được chuyển cho bộ

phận QHKH để thực hiện việc soạn thảo hợp đồng với KH. Sau khi hợp đồng được ký kết thì bộ phận QHKH sẽ bàn giao toàn bộ hồ sơ gốc của KH cho bộ phận quản trị tín dụng để thực hiện việc nhập thông tin vào hệ thống SIBS. Bộ phận QHKH tiếp tục thực hiện việc giám sát và kiểm soát phân loại nợ của KH, đánh giá lại TSĐB. Bộ

phận QLRR và bộ phận QHKH và bộ phận Quản trị tín dụng phối hợp với nhau để kịp thời phát hiện các dấu hiệu rủi ro, trong đó bộ phận Quản trị tín dụng có trách nhiệm

42

theo dõi diễn biến thực trạng các khoản vay, qua đó cảnh báo các dấu hiệu rủi ro cho bộ phận QHKH.

Việc thực hiện theo quy trình mới bắt đầu từ tháng 10/2008 đến nay, chi nhánh đã bước đầu thành công trong việc triển khai theo quy trình mới này. Qua đó, chất

lượng tín dụng được nâng lên rõ rệt.

- Đo lường RRTD tại NH

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Theo chỉ thị từ NHCT Việt Nam, NHCT Hoàng Mai đã thiết lập cho mình một hệ thống xếp hạng rủi ro cho danh mục tín dụng. Điều này cho phép NH có một nhận

định chung về danh mục cho vay trong bảng cân đối của mình, có cơ sở để định giá

các khoản vay chính xác hơn, phát hiện các khoản vay đi chệch hướng chính sách tín

dụng hay có khả năng gây ra tổn thất cho NH, tạo cơ sở để xác định mức trích lập DPRR, các quy trình tín dụng được thiết lập một cách cụ thể nên chi phí quản lý tiết

kiệm. Mỗi mô hình khác nhau có cách xếp hạng rủi ro khác nhau đối với KH.

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ áp dụng cho 3 đối tượng KH chính là: KH là

tổ chức tín dụng, KH là tổ chức kinh tế, KH là cá nhân. Trong đó cấu phần hệ thống

xếp hạng tín dụng nội bộ đối với đối tượng KH là tổ chức kinh tế là cốt lõi bởi đây là

đối tượng KH có tổng dư nợ chiếm tỷ trọng lớn nhất. NHCT Việt Nam căn cứ vào các

thông tin thu thập được như thông tin tài chính và phi tài chính sau đó xếp hạng thành

6 mức sau:

Bảng 0.12. Phân hạng rủi ro danh mục tín dụng

Mức rủi ro Mô tả nội dung

Khả năng thực hiện các nghĩa vụ của KH là chắc chắn, đảm bảo

việc trả nợ như đã thỏa thuận, có thể có một số khía cạnh yếu, rủi ro 1. Tín dụng ít rủi ro nhỏ.

Khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của KH là vững mạnh, rủi

2. Tín dụng rủi ro ro ở mức chấp nhận được nhưng có một số khía cạnh yếu kém có

trung bình thể gây ra RRTD nên cần chú ý giám sát.

Khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của KH ở mức mạo hiểm

3. Tín dụng trên mức rủi ro trung bình do có một vài khía cạnh thực tế có yếu kém lớn, các yếu kém này có dấu hiệu và khả năng khắc phục được. Mức rủi ro tiềm tàng này yêu cầu phải tăng việc giám sát để đảm bảo tình hình không xấu đi kịp thời.

4. Tín dụng rủi ro cao KH đang trong tình trạng xấu kéo dài. Ví dụ như thua lỗ trong kinh doanh, khó khăn trầm trọng cả về khả năng thanh toán. NH cố gắng cải thiện hoặc từ bỏ mối quan hệ để tránh thua lỗ tiềm tang.

5. Tín dụng

43

khó đòi lãi KH có rủi ro cao, có thể bị thấy thoát lãi song có thể hy vọng lấy lại được gốc.

Mô tả nội dung Mức rủi ro

KH có rủi ro rất cao, có thể bị mất cả vốn, lãi và các khoản chi phí sau khi đã nỗ lực trong việc áp dụng các biện pháp có thể. 6. Tín dụng khó đòi gốc và lãi

(Nguồn: VietinBank Hoàng Mai)

Sau đây là mô hình chấm điểm và xếp hạng tín dụng cho đối tượng Tổ chức

kinh tế.

KH

NGÀNH KINH TẾ

CHỈ TIÊU TÀI CHỈ TIÊU PHI LOẠI HÌNH DOANH QUY MÔ CHÍNH TÀI CHÍNH NGHỆP

TỔNG HỢP ĐIỂM TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG KH

AAA AA A BBB BB B CCC CC C D

Hệ thống chấm điểm và xếp hạng KH là Tổ chức kinh tế được thực hiện qua 6

bước:

Bước 1: Xác định ngành nghề kinh tế

Bước 2: Xác định quy mô

Việc xác định quy mô KH dựa trên việc chấm điểm các chỉ tiêu:

+ Vốn chủ sở hữu

+ Số lượng lao động

+ Doanh thu thuần

+ Tổng tài sản

Bước 3: Xác định loại hình sở hữu của KH

Bước 4: Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính: gồm 14 chỉ tiêu thuộc 4 nhóm Bước 5: Chấm điểm các chi tiêu phi tài chính: gồm 40 chỉ tiêu thuộc 5 nhóm Bước 6: Tổng hợp điểm và xếp hạng

Điểm của KH = Điểm các chỉ tiêu tài chính × Trọng số phần tài chính

44

Điểm các chỉ tiêu phi tài chính × Trọng số phần phi tài chính

Trọng số của phần tài chính và phi tài chính phụ thuộc vào BCTC của KH có

được kiểm toán hay không hay không được kiểm toán. Cụ thể:

BCTC không được BCTC được kiểm toán kiểm toán

35% 30% Các chỉ tiêu tài chính

65% 70% Các chỉ tiêu phi tài chính

(Nguồn:NHCT chi nhánh Hoàng Mai)

Xếp hạng tín dụng KH: dựa trên điểm đạt được, KH được xếp vào một trong 10

nhóm theo thang điểm như sau:

Bảng 0.13. Xếp hạng tín dụng DN tại chi nhánh

Điểm Xếp loại

95-100 AAA

90-94 AA

85-89 A

75-84 BBB

65-69 B

60-64 CCC

55-59 CC

35-54 C

Ít hơn 35 D

(Nguồn:NHCT chi nhánh Hoàng Mai)

Hạn chế của việc xếp hạng là ở chỗ chi nhánh Hoàng Mai mới chỉ tiến hành xếp

hạng với những KH là tổ chức kinh tế có dư nợ lớn hơn 5 tỷ đồng, các KH mới thành

lập chưa có thông tin tài chính cũng chưa thể xếp hạng được. Và hiện tại, NHCT

Hoàng Mai chưa tính được các tổn thất dự tính được và không dự tính được.

- Ứng phó RRTD

Quá trình phân tích và đo lường RRTD đã cho phép NH lựa chọn được những khoản vay có độ an toàn và RRTD ở mức chấp nhận được. Tuy nhiên do môi trường hoạt động luôn biến động nên RRTD mà NH đã dự kiến hoàn toàn có thể khác so với thực tế. Vậy nên, NH phải có biện pháp kiểm soát sự biến động đó, nhằm duy trì

RRTD ở mức độ kỳ vọng, giảm thiểu RRTD và để NH không rơi vào tình trạng đổ vỡ. Các biện pháp đã được tiến hành ở NHCT chi nhánh Hoàng Mai:

45

+ Thực hiện kiểm tra định kỳ các khoản vay: 30 ngày, 60 ngày, 90 ngày với những khoản vay lớn, đồng thời kiểm tra bất thường với những khoản vay có quy mô nhỏ hơn.

+ Tổ chức quá trình kiểm soát một cách cẩn thận và nghiêm túc để đảm bảo xem

xét và đánh giá được tất cả những đặc tính quan trọng đối với từng khoản vay.

+ Trong trường hợp nền kinh tế có vấn đề hay các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay của NH phải đối mặt với những vấn đề lớn (sự xuất hiện của

các đối thủ cạnh tranh mới, hay sự thay đổi công nghệ tạo ra nhu cầu mới) nên NH đã

tăng cường các biện pháp kiểm soát tín dụng. Cụ thể của việc kiểm soát RRTD là:

Giám sát: nhằm phát hiện ra những dấu hiệu rủi ro thực tiễn, kịp thời xử lý thông

qua các biện pháp:

+ Giám sát thông qua hoạt động tài khoản của KH tại NH; + Phân tích các BCTC của DN theo định kỳ; + Đánh giá chất lượng và tình hình các tài sản đảm bảo tiền vay; + Kiểm tra thực trạng khu sản xuất kinh doanh hoặc nơi cư trú của người vay. Đối với khoản vay có vấn đề, sẽ thiết lập một bộ phận chuyên trách khôi phục

vốn từ các khoản vay một cách tối đa theo các bước sau:

+ Luôn giữ vững mục tiêu, tận dụng mọi cơ hội trong việc phục hồi toàn bộ

phần vốn vay.

+ Phát hiện và cảnh báo kịp thời những vấn đề nảy sinh liên quan đến khoản vay. + Tách biệt chức năng đòi nợ với chức năng cho vay thành các bộ phận độc lập

để có thể áp dụng các biện pháp mạnh khi cần thiết.

+ Tiến hành gặp gỡ KH có khoản vay có vấn đề để thỏa thuận các biện pháp

khắc phục.

+ Ước tính những nguồn sẵn có để thu hồi khoản vay có vấn đề. + Cán bộ thu nợ tìm hiểu các thủ tục pháp lý nếu xảy ra tranh chấp trong trường

hợp KH có ý định không hoàn trả nợ vay.

+ NH cân nhắc những khả năng có thể xảy ra trong việc giải quyết các khoản vay có vấn đề, nếu những vấn đề phát sinh ngắn hạn thì tìm cách giúp KH cải thiện

dòng tiền hoặc cho vay them, gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn…

Phòng ngừa rủi ro: Hiện nay, NHCT nói chung cũng như NHCT Hoàng Mai nói riêng đã phân định rõ ràng nhiệm vụ cho từng phòng quan hệ KH, phòng QLRR và phòng quản lý tín

dụng. Theo đó các phòng ban này sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:

46

+ Kiểm tra, giám sát vốn vay: Phòng QHKH thực hiện theo dõi, quản lý tình hình hoạt động của KH, kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay, TSĐB cùng phòng QLRR phát hiện, xử lý nợ có vấn đề và thống nhất biện pháp xử lý để thu hồi nợ tồn đọng, thực hiện soát xét hàng ngày tiến độ thu hồi các khoản nợ tồn đọng.

+ Kiểm tra tài sản bảo đảm: trong quá trình thế chấp, cầm cố, định kỳ 6 tháng hay tối đa 12 tháng 1 lần, chi nhánh kiểm tra, đánh giá lại tài sản bảo đảm. Khi loại tài

sản đó biến động về giá cả thị trường từ 10% trở lên so với thời điểm định giá gần

nhất, hoặc khi số lượng chủng loại tài sản có biến động trên 20%, chi nhánh phải tiến

hành đánh giá lại tài sản. Giá trị tài sản sau khi đánh giá lại nếu không lớn hơn dư nợ

tại thời điểm đó, thì yêu cầu KH bổ sung TSĐB khác hoặc bảo lãnh của bên thứ ba hoặc yêu cầu KH trả nợ trước hạn phần dư nợ không được đảm bảo. Trong trường hợp

khoản tín dụng cấp bị đánh giá là xuống hạng, chi nhánh rà soát và đánh giá lại TSĐB

của KH, việc đánh giá lại TSĐB nhằm mục đích xem xét giá trị thị trường của TS đó.

Sau đây là bảng đánh giá TSĐB:

Bảng 0.14. Bảng đánh giá TSĐB

Xếp hạng Giá trị có thể phát mại của TSĐB tính bằng số % của giá trị

TSĐB khoản vay

A 140%

B 110%

C 80%

D 50%

E 20%

F 0%

(Nguồn:NHCT chi nhánh Hoàng Mai)

+ Phân loại nợ vay: Hiện nay, các NHTM Việt Nam trong đó có NHCT Điều 6- QĐ 493, NHTM phân loại nợ chủ yếu căn cứ theo thời gian quá hạn của các khoản nợ.

Theo Điều 7-QĐ 493, NTHM phân loại nợ căn cứ theo kết quả xếp hạng KH từ hệ

thống XHTD nội bộ - dựa trên sự đánh giá tổng hợp về tình hình tài chính, phi tài

chính, kết quả hoạt động kinh doanh…

Chính sách phân loại nợ của chi nhánh được áp dụng đồng bộ với chính sách KH

và chính sách xếp hạng tín dụng. Chính sách này đã xây dựng được kế hoạch phân loại nợ, đề ra kế hoạch giảm nợ xấu đến từng KH, chủ động hơn trong việc kiểm soát tín dụng, sớm phát hiện rủi ro tiềm ẩn,nợ xấu có thể phát sinh, dự kiến lập được số DPRR

phải trích vào cuối năm tài chính ngay từ đầu năm.

47

+ Trích lập và sử dụng dự phòng: Việc trích lập DPRR được thực hiện đúng theo QĐ 493/2005/QĐ-NHNN và QĐ 18/2007/QĐ-NHNN với từng đối tượng KH cụ thể. Theo đó, các khoản vay trong NH được phân thành 5 nhóm nợ, tương ứng là tỷ lệ trích lập DPRR:

Bảng 0.15. Tỷ lệ trích lập DPRR của chi nhánh

Nhóm nợ Tỷ lệ trích lập

Nợ nhóm 1 0%

Nợ nhóm 2 5%

Nợ nhóm 3 20%

Nợ nhóm 4 50%

Nợ nhóm 5 100%

(Nguồn:NHCT chi nhánh Hoàng Mai)

Số tiền dự phòng cụ thể phải trích được tính theo công thức:

R = Max[0,(A-C)]*r

Trong đó:

R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích

A: giá trị của khoản nợ

C: giá trị của TSĐB

r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể

Theo quyết định này nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) chiếm tỷ lệ từ 0% đến 3%

là một tỷ lệ có thể chấp nhận được. Ngoài ra, NH còn trích lập và duy trì một khoản dự

phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.

NH sử dụng DPRR để xử lý RRTD theo nguyên tắc: sử dụng DP cụ thể để xử lý

các khoản nợ, phát mại TSĐB để thu hồi nợ, trường hợp vẫn chưa đủ bù đắp tổn thất

do RRTD thì mới sử dụng dự phòng chung để xử lý. Việc sử dụng dự phòng chung để xử lý không phải là xóa nợ cho KH, và không được báo cho KH biết về việc xử lý RRTD đó.

- Kiểm soát RRTD

Để tạo được hành lang an toàn trong công tác tín dụng, chi nhánh đã đề ra 4 yêu

cầu đối với cán bộ:

+ Chấp hành đúng quy trình nghiệp vụ trước, trong và sau khi cho vay; + Không hạ thấp các điều kiện khế ước; + Không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ thông qua công tác đào tạo và đào

tạo lại cán bộ;

+ Nâng cao tính kỷ luật, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp. Cùng với đó, ban giám đốc chi nhánh luôn giám sát chặt chẽ từng cán bộ trong khi giao viêc, bắt đầu từ khâu thẩm định đến quy trình cấp tín dụng và tài sản bảo đảm. Trong quá trình này, việc giám sát được đặt biệt chú trọng công tác kiểm tra sau khi

cho vay để có thể đánh giá được hoạt động kinh doanh của KH đó như thế nào? Vốn vay có hiệu quả và phù hợp với mục địch vay vốn hay không? Khi thấy có chiều

48

hướng không tốt công tác giám sát sẽ đưa ra khuyến cáo cảnh báo sớm rủi ro, từng

bước tính toán mức độ ảnh hưởng để từ đó đưa ra các biện pháp chủ động điều chỉnh quy mô, cơ cấu tài sản có.

Ngoài các quy trình, quy định của NHCT chi nhánh đã thành lập Ban giám đốc

và xử lý nợ có vấn đề để theo dõi, giám sát và cập nhật báo cáo đánh giá rủi ro hàng

ngày/tuần, tuân thủ chặt chẽ các tỉ lệ an toàn bắt buộc nhằm xác định các rủi ro và đặc

tính của từng loại rủi ro mà chi nhánh đang phải đối mặt…từ đó có thể lượng hóa mức dộ ảnh hưởng của rủi ro đến đống vốn của NH. Ngoài ra, xác định hạn mức cho từng

loại rủi ro nhằm kiểm soát rủi ro luôn nằm trong giới hạn đã được phê duyệt cũng giúp

chi nhánh đảm bảo an toàn vốn và kiếm soát, hạn chế phát sinh rủi ro.

2.3. Đánh giá chung hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại

VietinBank chi nhánh Hoàng Mai

2.3.1. Kết quả đạt được

- Thực hiện tốt việc đa dạng hóa các hình thức tín dụng (thấu chi, bao thanh toán, bảo

lãnh…) nhằm phân tán rủi ro cũng như đáp ứng được nhu cầu KH…;

- Việc thực hiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ với các KH là tổ chức kinh tế

đã được thực hiện nghiêm túc, chính xác;

- Chi nhánh xây dựng một chính sách KH phù hợp, nghiên cứu những thay đổi của thị trường, nhu cầu KH nhằm xây dựng được những mô hình quản trị rủi ro thích hợp; - Các báo cáo tín dụng được nâng cao, đảm bảo tính chính xác, trung thực, kịp thời. Thực hiện báo cáo tín dụng hàng tháng, phục vụ cho công tác điều hành của ban giám

đốc, đưa ra các định hướng, giải pháp, cơ cấu tín dụng tại chi nhánh;

- Chi nhánh đã chú trọng công tác đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nghiệp vụ, thường

xuyên cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo do VietinBank và NHNN tổ chức;

- Chuyển đổi thành công mô hình tổ chức mạng lưới hoạt động cũng như về nhân sự, đảm bảo cho dự án TAII ở cấp chi nhánh được vận hành thông suốt. VietinBank

Hoàng Mai đã thành công trong việc kiểm soát được rủi ro trên cơ sở tuân thủ các

pháp luật, tuân thủ các quy chế quy định của ngành cà chỉ đạo của hệ thống. Ban lãnh

đạo VietinBank Hoàng Mai đã biết khơi dậy niềm tự hào về truyền thống lịch sử, tính nghiêm túc và năng lực chuyên môn của từng cán bộ bên cạnh việc tăng cường các thiết chế, sử dụng có hiệu quả các công cụ giám sát, kiểm tra.

Thành tích nổi bật trong công tác quản trị rủi ro thời gian qua mà VietinBank

Hoàng Mai đạt được đó là:

Từ năm 2005, NHCT ban hành quy có định về xếp hạng RRTD đối với các chi

nhánh trực thuộc, qua đó có cách đánh giá toàn diện và thống nhất hơn về RRTD tại

49

các đơn vị kinh doanh. Mục đích của việc xếp hạng này trước hết là để làm cơ sở để giao chỉ tiêu thực hiện phân cấp ủy quyền phán quyết tín dụng của NHCT đối với các

giám đốc chi nhánh (và đến lượt các giám đốc chi nhánh ủy quyền lại cho các cấp trưởng đơn vị kinh doanh thuộc chi nhánh), theo đó thì mức xếp hạng càng cao, mức ủy

quyền càng phán quyết càng lớn. Trong bảng xếp hạng năm 2012, tỷ lệ xếp hạng loại cao

nhất (AA) đã giảm đi rõ rệt, từ 43% năm 2011 xuống 21% năm 2012, đây là do các chỉ

tiêu tính điểm xếp hạng thay đổi chủ yếu do các chỉ tiêu liên quan đến nợ xấu theo quyết

định 493/2005/QĐ-NHNN và QĐ 18/2007/QĐ-NHNN. Tuy nhiên, NHCT vẫn xếp hạng AA.

2.3.2. Những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý rủi ro tín dụng

2.3.2.1. Những tồn tại

Thứ nhất, xuất hiện nhiều nợ xấu, NQH. Tỷ lệ NQH và nợ xấu đều vượt ngưỡng cho phép là (5% và 3%), điều này chứng tỏ RRTD mà NH phải đối mặt ở mức rất cao.

Thứ hai, qua phân tích cho thấy cơ cấu vay chưa đồng đều, phần lớn tập trung

vào các đối tượng KH quốc doanh vốn là những đối tượng KH truyền thống mà chưa

tìm kiếm các đối tượng vay vốn khác. Đồng thời chưa cung cấp các sản phẩm dịch vụ

khác đi kèm một cách tốt nhất.

Thứ ba, vấn đề định giá TSĐB nhiều khi không sát với giá thị trường và giá trị thanh

lý tài sản. Hơn nữa trước sức ép phải gia tăng tỷ lệ dư nợ có TSĐB, có thể chi nhánh đã

chủ động không cho hạch toán giảm giá trị TSĐB đã được đánh giá lại hàng năm. Kết quả

là số liệu báo cáo về tỷ lệ dư nợ có TSĐB rất cao.

Thứ tư, cán bộ trong quy trình tín dụng thường nhầm lẫn giữa “bảo đảm tín

dụng” và “tài sản bảo đảm” mà cụ thể là tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên

thứ ba. Nhiều cán bộ QHKH đã dựa nhiều vào TSĐB để cho vay mà nới lỏng khâu

thẩm định dự án vay. Dòng tiền thu được từ dự án mới là yếu tố quan trọng để đưa ra

quyết định cho vay hay không. Thông qua việc xếp hạng tín dụng khách hạng để áp

dụng chính sách cho vay phù hợp, trong đó có chính sách về tỷ lệ cho vay có TSĐB,

nhưng không được cho rằng TSĐB là điều kiện cần, thực chất nó điều kiện đủ để cho

vay mà thôi.

Thứ năm, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của NHCT nói chung và chi nhánh nói riêng mới chỉ được áp dụng cho KH là các tổ chức kinh tế, còn đối với KH là cá nhân thì việc phân loại nợ vẫn áp dụng theo điều 6, quyết định 493/QĐ-NHNN/2005,

do đó chưa đánh giá hết được về mức độ rủi ro của KH cá nhân. Hơn nữa, đối với các KH có dư nợ tại NHCT dưới 5 tỷ đồng, theo quy định thì chi nhánh tổ chức chấm điểm và xếp hạng KH 6 tháng 1 lần. Tuy nhiên, việc xếp hạng 6 tháng 1 lần là quá lâu.

Những KH có dư nợ dưới 5 tỷ thì mức rủi ro không thấp hơn KH có dư nợ trên 5 tỷ do

50

đó, các chi nhánh cần phải xếp hạng nhóm KH có dư nợ dưới 5 tỷ mỗi quý một lần như các nhóm KH khác.

Thứ sáu, việc phối hợp giữa các phòng QHKH, quản trị tín dụng và QLRR còn khá lỏng lẻo. Trong cả 3 giai đoạn: trước giải ngân, trong giải ngân và sau giải ngân,

việc phối hợp giữa các phòng còn có khá nhiều điểm trùng lặp về trách nhiệm và

quyền hạn. Khi rủi ro xảy ra thì phòng nào chịu trách nhiệm hay việc kiểm tra giám sát

khoản vay còn nhiều hạn chế.

Thứ bảy, rủi ro đạo đức do thông tin bất cân xứng vẫn là nỗi ám ảnh chung của ngành NH. Một dự án “tốt” thường rất dễ được phía NH nhận biết là tốt, nhưng một dự

án “xấu” thường không dễ nhận biết là xấu. Như vậy, tình trạng lựa chọn sai vẫn luôn

hiện hữu và là lý do thường trực gây ra RRTD.

Thứ tám, mô hình tổ chức theo TAII tuy đã thể hiện được những ưu điểm vượt trội so với mô hình cũ, song vẫn mang tính cồng kềnh, mất nhiều thời gian để đội ngũ

nhân viên thích nghi.

Thứ chín, chi nhánh vẫn chưa thể lượng hóa được các tổn thất dự tính được và

tổn thất không dự tính được do RRTD. Điều này, gây khó khăn cho NH trong việc

lường trước rủi ro và thực hiện việc tính toán vốn kinh tế, từ đó bị động khi rủi ro thực

sự xảy ra.

2.3.2.2. Những nguyên nhân

Nguyên nhân chủ quan từ phía NH: Thứ nhất, quy trình tín dụng chưa thực sự rõ ràng, minh bạch, chặt chẽ và đề cao trách nhiệm cá nhân lại không được kiểm soát chặt chẽ, chưa có cơ chế cảnh báo từ xa

nên rất dễ cho cán bộ QHKH hay trưởng phòng lợi dụng để mưu lợi cá nhân. Quá trình

kiểm tra cho thấy còn rất nhiều lỗi tác nghiệp trong suốt quy trình. Dưới đây là một số

lỗi thực tế thường gặp:

- Không kiểm tra thực tế tại DN trước khi quyết định cho vay (cán bộ trực tiếp giải quyết công việc, đặc biệt là cán bộ QHKH, chỉ xử lý trên hồ sơ, không “mắt thấy tai

nghe”);

- Không kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay sau giải ngân (hoặc kiểm tra chiếu lệ,

không thực chất, mang tính đối phó với cấp quản lý và với thanh tra của NHNN);

- Các hợp đồng vay và hợp đồng bảo đảm tài sản còn nhiều sai sót, chưa chặt chẽ về mặt pháp lý. Các sai sót này là rất nhiều và phổ biến nhưng lại không được thống kê và báo cáo một cách trung thực.

Thứ hai, cán bộ QHKH, đặc biệt là các cán bộ QHKH trẻ, thiếu kinh nghiệm (có thời gian làm việc chưa lâu), không hiểu biết hết các quy định hiện hành trong các quy

trình nghiệp vụ. Mặt khác, cán bộ tín dụng không thực sự nhận thức được tầm quan

51

trọng của các quy định ấy trong quản trị RRTD và đây dường như là lý do căn bản nhất.

Thứ ba, là cán bộ QHKH biết rất rõ nhưng cố tình làm sai vì động cơ tiêu cực, tham nhũng. Mặt khác còn một số cán bộ xuống cấp về mặt đạo đức, dễ mua chuộc

nhất là lĩnh vực nhạy cảm như hoạt động tín dụng. Mặc dù chưa có vụ tham nhũng nào

bị phát hiện và xử lý bằng pháp luật tại chi nhánh Thanh Xuân từ trước đến nay, nhưng

rõ ràng nguy cơ này vẫn luôn tồn tại, đe doạ và ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

Thứ tư, không kiểm tra sự tồn tại thực tế TSĐB mà chỉ dựa vào hồ sơ KH đưa đến, không đánh giá kỹ TSĐB, cho vay khi chưa hoàn thành thủ tục pháp lý về TSĐB (chưa

đăng ký bảo đảm, KH chưa mua bảo hiểm tài sản như cam kết…), không định giá lại

TSĐB định kỳ ( mặc dù biết giá trị đã biến động rất nhiều…)

Thứ năm, là xu hướng nới lỏng các điều kiện tín dụng nhằm mang lại “lợi ích” cho các KH được đánh giá là KH tiềm năng, KH lớn, KH mà chi nhánh đang thực hiện

tiếp thị, “lôi kéo”. Với loại KH này, họ có sức mạnh thị trường hơn phía NH và họ

không cần thực hiện đầy đủ các điều kiện tín dụng mà vẫn nhận được vốn vay. Hơn

nữa, tình trạng cạnh tranh đã đến hồi gay gắt giữa các NHTM, trong dài hạn, sẽ rất tốt

cho thị trường tín dụng nhưng ngược lại, trong ngắn hạn, sẽ tạo nên xu hướng tiêu cực,

nới lỏng điều kiện tín dụng.

Thứ sáu, mô hình tổ chức hoạt động tín dụng tại chi nhánh hiện nay của NHCT

không có thiết chế kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tác nghiệp của cán bộ QHKH

một cách độc lập hay bộ phận hỗ trợ chuyên môn sâu. Ví dụ trong khâu soạn thảo hợp đồng tín dụng: Cán bộ tín dụng là người chịu trách nhiệm soạn thảo hợp đồng mẫu có

sẵn để trình lên trưởng phòng tín dụng xem xét lại và sau đó chuyển hợp đồng sang

phòng quản trị tín dụng để quản lý. Vì hợp đồng soạn thảo theo mẫu sẵn nên phát sinh

vấn đề về tính cứng nhắc của hợp đồng, không cụ thể và chi tiết hóa phù hợp với sự đa

dạng của KH. Hơn nữa, khâu xét duyệt của trưởng phòng QLKH thường rất bận rộn

nên có xu hướng xem xét sơ xài, chỉ đọc những điều khoản quan trọng nhất thôi. Mặt

khác không phải ai cũng có đủ kiến thức pháp luật để thẩm định tính đúng đắn và chặt

chẽ của hợp đồng.

Thứ bảy, tâm lý cho vay khu vực DN nhà nước có tính an toàn cao hơn (rủi ro ít hơn) nên việc chủ quan, áp đặt vẫn bao phủ lên các quyết định tín dụng và xem ra còn mất nhiều thời gian.

Thứ tám, khâu định giá TSĐB này hầu như được giao cho cán bộ QLKH thực

hiện, nhưng bản thân họ chưa phải là chuyên gia về định giá tài sản (vốn là một công việc phức tạp đòi hỏi phải có kiến thức và kỹ năng chuyên biệt).

Nguyên nhân khách quan từ bên ngoài NH: Thứ nhất, sự thiếu minh bạch trong các BCTC của các KH DN (rất ít DN đựơc kiểm toán) gây khó khăn cho NH trong việc đánh gía khả năng sinh lời của DN và ảnh

52

hưởng đến các quyết định cấp tín dụng của NH.

Thứ hai, việc thực hiện quy trình đánh giá TSĐB hiện nay chưa có một văn bản chung cho tất cả các NH. Mặt khác, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện tại về TSĐB rất

phức tạp, thủ tục phát mại TSĐB xử lý nợ không dễ, tốn nhiều chi phí. Các thủ tục về

phá sản và thi hành án lại kém hiệu quả, nên việc xử lý nợ xấu bằng cách thanh lý

TSĐB của KH bị phá sản diễn ra chậm chạp làm nản lòng người cho vay.

Thứ ba, trung tâm thông tin tín dụng CIC của NHNN chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng và chất lượng. Ngày 21/6/2006 NHNN đã ban hành Quyết định 1253/QĐ-

NHNN cho phép Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) chính thức được phép thực hiện

nghiệp vụ phân tích và xếp hạng tín dụng DN nhằm mục đích tăng cường công tác

QLRR trong hệ thống NH và đánh giá năng lực của các DN. Tuy nhiên, đến nay, CIC vẫn chưa thực sự tỏ ra giúp ích cho các NHTM.

Thứ tư, hệ thống kế toán Việt Nam chưa bám sát với hệ thống kế toán chuẩn mực

quốc tế. Điều này gây ra khó khăn trong quá trình thực hiện nghiệp vụ của NH với các

KH hoặc các NH ở nước ngoài.

Thứ năm, là do khủng hoảng kinh tế giai đoạn vừa qua. Các DN – đối tượng vay

vốn chủ yếu của NH – đang gặp rất nhiều vấn đề trong hoạt động SXKD của mình,

khả năng trả nợ của họ là rất kém dẫn đến việc NH phải đối mặt với nguy cơ RRTD

53

cao mặc dù công tác QLRR đã được thực hiện nghiêm túc.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2

Để cung cấp dịch vụ tài chính-NH đến được với KH, không có cách nào khác,

các NH buộc phải mở rộng và thành lập các chi nhánh của mình ở các khu vực thị

trường tiềm năng. Số lượng chi nhánh càng nhiều, việc quản trị càng trở nên phức tạp.

Giai đoạn 2011-2013, NHCT đã thực hiện hiệu quả với hơn 117 chi nhánh và trên 551

điểm mạng lưới, 1.300 ATM/POS tại 63 tỉnh/thành phố trên toàn quốc. Trong quản trị NH, bất kỳ NHTM nào cũng buộc phải quan tâm thích đáng đến RRTD như là một

nguyên nhân cơ bản gây ra phá sản NH. NHCT nói chung và VietinBank chi nhánh

Hoàng Mai nói riêng đã ý thức được như thế, đã và đang xây dựng “văn hóa tín

dụng” lành mạnh với chướng trình quản trị RRTD theo chuẩn mực quốc tế. Những phân tích, nghiên cứu về thực trạng RRTD cũng như thực trạng quản trị RRTD tại chi

nhánh NHCT Hoàng Mai đã cho chúng ta hiểu được các vấn đề về quản trị RRTD,

chương 2 cũng đã chỉ ra những ưu, nhược điểm cụ thể tại chi nhánh, và đó chính là cơ

54

sở để đề ra giải pháp, kiến nghị trong chương tiếp theo.

CHƢƠNG 3:

GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ

QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG VIETINBANK

CHI NHÁNH HOÀNG MAI

3.1. Định hƣớng giai đoạn năm 2010-2015 của Ngân hàng Công Thƣơng Việt

Nam chi nhánh Hoàng Mai

Kế hoạch 5 năm 2011-2015 của đất nước và của Hệ Thống NH ĐT & PT Việt

Nam đã đặt cho Chi nhánh NH Công Thương Việt Nam (NHCT Việt Nam) nhiệm vụ

to lớn: “Phải góp phần khai thác và sử dụng tốt mọi nguồn lực, thúc đẩy việc tăng

trưởng kinh tế thủ đô, đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Theo định hướng phát triển chung của toàn NH NHCT trong giai đoạn chiến lược 2011 – 2015 và hướng tới

mục tiêu trở thành một trong những chi nhánh hàng đầu trong hệ thống, trên cơ sở phát

huy những thế mạnh sẵn có và khắc phục những khó khăn, hạn chế, chi nhánh Hoàng

Mai đã đề ra các định hướng trong thời gian sắp tới như sau:

Với vị trí là một trong những chi nhánh lớn của NHCT, mục tiêu ưu tiên của

NHCT Hoàng Mai là phát huy những thành tựu đổi mới trong những năm qua, tận

dụng thời cơ mới, thuận lợi mới và khắc phục mọi khó khăn trở ngại, thực hiện các

giải pháp có hiệu quả để tiếp tục giữ vững danh hiệu chi nhánh có tỷ trọng về nguồn

vốn huy động, tín dụng, dịch vụ và lợi nhuận cao trong hệ thống NHCT. Chủ động thực hiện các công việc liên quan đến kế hoạch cổ phần hóa của NH Công Thương

Việt Nam, xây dựng và phát triển thương hiệu - văn hóa NHCT.

Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu chất lượng tài sản nợ - có, phấn đấu đạt các

chuẩn mực về hoạt động theo thông lệ quốc tế và hướng tới trở thành chi nhánh bán

buôn lớn nhất trong khối các tổ chức tín dụng trên địa bàn Hà Nội, khẳng định vai trò

đầu tàu trong hệ thống. Tiếp tục hạn chế các rủi ro phát sinh trong hoạt động, phát

triển và nâng cao hiệu quả của hoạt động của chi nhánh, thực hiện lành mạnh hóa tài

chính và nâng cao năng lực cạnh tranh trong mọi hoạt động.

Cải thiện và phát triển hệ thống công nghệ thông tin NH, tiếp tục nghiên cứu, triển khai mạnh hơn nữa các chương trình ứng dụng, các chương trình QLRR, quản lý thanh toán, quản lý tài sản nợ - có phục vụ cho công tác điều hành, góp phần tăng năng

lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập.

Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại KH theo hướng mở rộng các DN vừa và nhỏ, các KH quốc doanh, xác định KH mục tiêu cho từng hoạt động, thực hiện chính sách KH

phù hợp theo từng nhóm KH. Tập trung vào đối tượng KH chủ yếu là các DN, các tổ chức kinh tế, dân cư của Thành Phố. Phục vụ các chương trình phát triển của Thủ đô.

55

Tập trung củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng đi đôi với tăng

cường kiểm soát các khoản vay. Tích cực, chủ động và tập trung quyết liệt để các vấn đề liên quan đến nợ xấu, tận thu lãi treo và trích đủ DPRR.

Thực hiện gia tăng công tác phát triển dịch vụ, cung cấp các sản phẩm dịch vụ có

chất lượng cao, đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động mạng lưới, kênh phân phối

truyền thống và phi truyền thống (ATM, POS…).

Tập trung thực hiện kế hoạch hóa và có các giải pháp cụ thể đối với từng nhóm cán bộ tác nghiệp...Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gắn quy hoạch cán bộ với

đào tạo, quan tâm đúng mức và xác định đội ngũ cán bộ trẻ chính là lực lượng nòng

cốt trong quá trình hội nhập và phát triển.

Song song với việc củng cố nâng cao hiệu quả mạng lưới kinh doanh hiện có, thực hiện phát triển mạng lưới kinh doanh hợp lý gắn với an toàn, hiệu quả, kết hợp

phát triển hệ thống ATM để hoàn thiện mạng lưới kinh doanh trong địa bàn được phân

công. Mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới tại các khu vực có tiềm năng, phục

vụ KH một cách thuận tiện và có hiệu quả cao.

Đổi mới quản trị điều hành tới các chuẩn mực và thông lệ quốc tế của một NH

thương mại hiện đại. Thực hiện quản lý mọi rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động

kinh doanh và duy trì trong giới hạn có thể cho phép.

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát chung được cụ thể hóa thông qua các chỉ tiêu cơ bản là:

- Các chỉ tiêu hiệu quả:

+ Chênh lệch thu chi và lợi nhuận trước thuế: tăng trưởng bình quânl 1 % + Thực hiện trích DPRR theo đúng quy định + Phấn đấu đảm bảo chênh lệch đầu ra và đầu vào từ 3% trở lên

- Các chỉ tiêu chất lượng:

+ Tỷ lệ NQH: < 8% tổng dư nợ + Tỷ lệ nợ xấu : < 2% tổng dư nợ + Cơ cấu dự nợ/tổng tài sản có: < 62% + Khả năng sinh lời ROA: >= 1% - Các chỉ tiêu tăng trưởng, quy mô:

+ Tổng tài sản tăng bình quân: 17% + Nguồn vốn huy động tăng bình quân: 30%/năm + Dư nợ tín dụng tăng bình quân: 21%/ năm + Thu dịch vụ ròng tăng bình quân: 11%/năm

- Chỉ tiêu cơ cấu:

56

+ Tỷ trọng dư nợ trung dài hạn / tổng dư nợ < 35% + Tỷ trọng dự nợ cho vay ngoài quốc doanh/ tổng dư nợ >50% + Tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo/Tổng dư nợ: > 80%

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân

hàng Công thƣơng Việt Nam chi nhánh Hoàng Mai

3.2.1. Nhóm giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng

3.2.1.1. Hoàn thiện hệ thống thông tin quản trị rủi ro tín dụng

Thông tin luôn là vấn đề lớn và quan trọng trong hoạt động tín dụng và

QTRRTD. Có hai khía cạnh của thông tin cần được quan tâm và tìm cách khắc phục vốn là điểm yếu cố hữu của các NH nói chung và NHCT nói riêng. Khía cạnh thứ nhất

đó là thiếu thông tin (chất lượng thông tin) và khía cạnh thứ hai là tốc độ truyền thông

tin giữa các cấp quản lý.

Khía cạnh chất lượng thông tin bị ảnh hưởng bởi hai mức độ:

- Việc thu thập thông tin sẵn có và lưu trữ thông tin không đạt hiệuquả; - Ở mức độ cao hơn là tình trạng thông tin bất cân xứng vốn tồn tại phổ biến “ở các nước đang trong quả trình chuyển đổi và đang phát triển như Việt Nam, nơi mà tính minh

bạch, quyền tiếp cận, cơ sở hạ tầng thông tin còn yếu kém”.

Trong quá trình xử lý hồ sơ KH, cán bộ quan hệ KH là người thu thập được rất

nhiều thông tin về KH. Nhưng quá trình lưu trữ kém hiệu quả, chủ yếu vẫn nằm rải rác

trong từng tập hồ sơ tín dụng riêng biệt, mỗi cán bộ QHKH lưu mỗi kiểu khác nhau,

dẫn đến tình trạng các tệp thông tin mất dần theo năm tháng. Khi có sự thay đổi cán bộ

QHKH phụ trách KH, cán bộ QHKH mới phải tiến hành lại các bước thu thập thông

tin ngay từ đầu, tốn quá nhiều thời gian và chi phí và nguy cơ rủi ro.

Để khắc phục tình trạng này, trước mắt chi nhánh Hoàng Mai nên chủ động xây

dựng quy trình thu thập, lưu trữ thông tin khoản vay và thông tin KH (đặc biệt là lịch

sử vay mượn), làm cơ sở cho cán bộ QHKH thống nhất áp dụng. Hiện tại phần mềm

tích hợp SIBS của NHCT chỉ cho phép in các báo cáo về khoản vay đang thực hiện

của từng KH, chưa có các báo cáo tổng họp khác về toàn bộ danh mục tín dụng của chi

nhánh. Do vậy mới chỉ đáp ứng được một phần thông tin để quản lý khoản vay mà

chưa có thông tin về quản lý danh mục. Các báo cáo như vây, nếu hội sở chính - NHCT muốn có, không còn cách nào khác là phải thiết kế mẫu biểu và buộc các chi nhánh báo cáo lên.Việc xây dựng phần mềm như vậy là cực kỳ cấp bách và hoàn toàn khả thi về mặt công nghệ và chi phí nguồn lực. Khi được xây dựng, nó trở thành kho

dữ liệu chứa thông tin về KH cả quá khứ lẫn hiện tại đang còn nằm rải rác “trong đầu” từng cán bộ QHKH và trong từng chi nhánh khác nhau và cả các ban đầu mối tại HSC thu thập được.

57

Việc xây dựng kho dữ liệu và cấp quyền truy cập rộng rãi cho những người tham gia vào hoạt động tín dụng sẽ khắc phục được cấp độ thứ nhất của vấn đề chất lượng thông tin: việc thu thập thông tin sẵn có và lưu trữ chúng không đạt hiệu quả. Nhưng

điều này lại chưa khắc phục được tình trạng thông tin bất cân xứng (do BCTC của DN thiếu tin cậy, Trung tâm tín dụng (CIC) của NHNN họat động kém hiệu quả...). Trong

bối cảnh đó, giải pháp đưa ra là nhấn mạnh tính tích cực, chủ động của cán bộ QHKH

trong việc tìm kiếm thông tin từ môi trường bên ngoài và các chuyên gia đã khuyến

nghị phương pháp hạn chế những trở ngại của thông tin bất cân xứng bằng cơ chế: i)

sàng lọc (screening); ii) phát tín hiệu (signaling); iii; giám sát trực tiếp khoản vay; và iv) khuyến khích cho vay tiếp hay cho vay nhiều hơn nếu KH trả nợ đúng hạn.

Khía cạnh thứ hai là tốc độ truyền thông tin giữa các cấp quản lý. Khi kho dữ liệu

được thiết lập, các cấp quản lý có thể truy cập bất cứ lúc nào để nhận được các thông

tin cần thiết mà không còn phải đợi cấp dưới báo cáo một cách thủ công và chậm chạp như hiện nay nữa.

Tuy nhiên, vấn đề về tốc độ truyền thông tin không chỉ phụ thuộc vào phương

tiện truyền dẫn (hệ thống mạng LAN và internet, nó còn phụ thuộc vào cấu trúc mô

hình của tổ chức, ít ra là đối với những thông tin báo cáo không mới phát sinh, không

có và không thể cập nhật trong kho dữ liệu. Thông tin như vậy thường rất nhiều, liên

quan đến một KH và khoản vay cụ thể, đòi hỏi cấp ra quyết định phải xử lý ngay. Ví

dụ tin giám đốc DN bị khởi tố hình sự được đánh giá là cực kỳ hệ trọng đe dọa đến an

toàn tín dụng và cấp quản lý cần phải biết để áp dụng các biện pháp khẩn cấp cần thiết

nhằm phòng tránh rủi ro. Mô hình tổ chức càng nhiều cấp bậc, thông tin truyền đi từ người trực tiếp xử lý công việc đến người có quyền ra quyết định quản trị trực tiếp (và

ngược lại) càng chậm và chất lượng càng kém. Người ta tính toán rằng cứ qua một mắt

trung gian, lượng thông tin bị giảm đi mất 20%, đó là chưa nói đến tỉnh trạng chất

lượng thông tin bị giảm hay mất đi hoàn toàn do cấp trung gian cố tình che giấu.

Như vậy giải pháp cho bài toán ở đây là rút ngắn và giảm thiểu cấp trung gian

quản lý. Với mô hình phân cấp ủy quyền mạnh mẽ trong hoạt động tín dụng được mô

tả ở trên, dường như vấn đề được giải quyết. Thay vì mọi thông tin cần từ cán bộ

QHKH phải chuyển qua mắt trung gian là trưởng phòng tín dụng để rồi chuyển lên cấp

giám đốc quyết định, thì nay thông tin từ cán bộ QHKH chỉ cần chuyển trực tiếp đến cấp trưởng của họ là đã được xử lý và ra quyết định. Tất nhiên không phải chỉ vì chú ý đến tốc độ truyền thông tin mà rút ngắn lại tất cả các quá trình và bỏ đi các cấp trung gian cần thiết.

3.2.1.2. Đa dạng hóa danh mục cho vay nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng

Đa dạng hóa lĩnh vực cho vay là biện pháp chiến lược có tính chủ động nhằm

phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng của NH. NH không tập trung quá nhiều vốn

vào một nhóm KH, một lĩnh vực cụ thể mà nên mở rộng ra nhiều đối tượng KH, nhiều lĩnh vực.

58

Qua phân tích cho thấy cơ cấu vay chưa đồng đều, phần lớn tập chung vào các

đối tượng KH quốc doanh. Do đó NH nên cần tiếp tục mở rộng cho vay vào các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tạo nên cơ cấu cho vay đa dạng với mục đích giảm

thiểu RRTD và mang lại lợi nhuận nhiều hơn cho NH. Ngoài ra còn phải phối hợp

đồng bộ các dịch vụ NH đi kèm với hoạt động tín dụng nhằm khai thác tối đa KH như

thẻ tín dụng nội địa, thẻ tín dụng quốc tế hay nghiệp vụ thấu chi, bao thanh toán.

Ngoài ra, việc giám sát định kỳ danh mục cho vay cần thực hiện liên tục sao cho phù hợp với các điều kiện thay đổi của nền kinh tế. Chi nhánh cũng cần quán triệt thực

hiện công tác tư tưởng, tuyên truyền công tác quản trị điều hành để đảm bảo việc phân

loại đánh giá đúng thực chất, chính xác thực trạng nợ.cần rà soát và có các báo cáo

định kỳ về xu hướng rủi ro, các nguy cơ rủi ro chính, các lĩnh vực rủi ro cao của danh mục. Trong quá trình giám sát cần đặc biệt chú ý so sánh thành phần của danh mục với

mục tiêu cần đạt được.

3.2.1.3. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc hơn nữa theo hệ thống xếp hạng tín dụng

nội bộ

Từ khi NHCT thực hiện việc xếp hạng tín dụng nội bộ theo điều 7 quyết định

493/2005/QĐ-NHNN thì chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã thực hiện một cách nghiêm

túc và có hiệu quả, chất lượng tín dụng được nâng lên rõ rệt. Trong thời gian tới, việc

xếp hạng tín dung nội bộ cần được thực hiện một cách nghiêm túc hơn nữa cho cả KH

là tổ chức kinh tế và KH là tổ chức cá nhân. Đối với KH cá nhân, NH có thể xếp hạng tín dụng theo MH Điểm số tín dụng tiêu dùng vốn rất phổ biến tại các NH Mỹ. Đối với

các KH có dư nợ tại NHCT dưới 5 tỷ đồng, theo quy định thì chi nhánh tổ chức chấm

điểm và xếp hạng KH 6 tháng 1 lần. Tuy nhiên, việc xếp hạng 6 tháng 1 lần là quá lâu.

Những KH có dư nợ dưới 5 tỷ thì mức rủi ro không thấp hơn KH có dư nợ trên 5 tỷ do

đó, các chi nhánh cần phải xếp hạng nhóm KH có dư nợ dưới 5 tỷ mỗi quý một lần

như các nhóm KH khác.

3.2.2. Nhóm giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng

3.2.2.1. Thực hiện việc bảo hiểm tín dụng

RRTD xuất phát từ nhiều nguyên nhân rất đa dạng mà đôi khi những rủi ro đó NH không thể lường trước được. Vì vậy sử dụng các công cụ bảo hiểm và áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay để hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra là cực kì quan trọng.

NH có thể yêu cầu KH mua bảo hiểm trong quá trình xây dựng và bảo hiểm công trình (đối với các dự án đầu tư), bảo hiểm hàng hóa…Như vậy những tổn thất vốn vay do thiên tai gây ra sẽ được cơ quan bảo hiểm than toán, giảm thiểu đáng kể thiệt hại cho

NH. Việc liên kết với các công ty bảo hiểm mang lại cho NH nhiều lợi ích.

Thứ nhất, việc chuyển một phần rủi ro cho nhà bảo hiểm đảm bảo độ tin cậy của

59

người vay cao hơn, tạo điều kiện giảm thiểu RRTD cho NH và nâng cao chất lượng tài

sản có của NH. NH có thể tập trung thời gian và nguồn lực vào việc trực tiếp cung cấp dịch vụ NH, tạo khả năng hoạt động theo một cơ chế linh hoạt hơn trong việc xác định

cân đối lợi ích giữa rủi ro và thu nhập

Thứ hai, các chuyên gia của công ty bảo hiểm có nhiều điều kiện hơn trong việc

chuyên môn hóa đánh giá khách quan rủi ro và xây dựng chiến lượng rủi ro. Nhờ vậy

tính bền vững, độ tin cậy của NH được tăng cường và có tác động tích cực đến nâng cao uy tín, thương hiệu của NH.

NH có thể sử dụng các loại hình bảo hiểm sau phòng ngừa RRTD: bảo hiểm tài

sản (trong đó có bảo hiểm tài sản đảm bảo), bảo hiểm các chu kỳ sản xuất, bảo hiểm

trách nhiệm các loại (trong đó có trách nhiệm với người thứ ba khi không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng), bảo hiểm hàng hóa khi vận chuyển. NH có thể yêu cầu KH

mua bảo hiểm để đề phòng bất trắc hoặc tự NH mua bảo hiểm cho các sản phẩm tín

dụng của mình.

Trên thế giới, bảo hiểm NH là một trong những sản phẩm chuẩn đối với các NH

trên thị trường quốc tế. Bảo hiểm Tín dụng là một cam kết bồi thường cho người cấp

tín dụng khi không thu hồi được nợ từ người nhận tín dụng (bao gồm trong nước và

nước ngoài) khi người nhận tín dụng rơi vào các tình trạng: mất khả năng thanh toán

(insolvency), trì hoãn không trả nợ (protracted default), rủi ro chính trị (political risk).

3.2.2.2. Cho vay đồng tài trợ

Trên thực tế, có những DN có những nhu cầu vay vốn rất lớn mà một NH không

thể đáp ứng được, đó thường là nhu cầu đầu tư cho các dự án lớn và khó xác định mức

độ rủi ro có thể xảy ra. Trong trường hợp này, các NH cùng nhau liên kết để thẩm định

dự án, cho vay và chia sẻ rủi ro đám bảo quyền lợi và nghĩa vụ mỗi bên.

Đây là một hình thức tín dụng chưa thực sự phổ biến đối với các NH thương mại

Việt Nam. Một phần do sự phưc tạp của hình thức này, một phần còn do vướng mắc

trong việc thỏa hiệp giữa các NH về quyền lợi và trách nhiệm trong khi liên kết. Đây

cũng chính là nhược điểm của biện pháp này.

Hiện nay NH nhà nước Việt Nam đã ra quy chế về vấn đề cho vay đồng tài trợ là tiền đề cơ sở về mặt pháp lý cho việc xúc tiến hoạt động đó. Để thực hiện có hiệu quả hình thức tín dụng này, các NH phải có ý thức hợp tác, đồng thời cần phải có một NH chủ trì cho việc thỏa hiệp giữa họ, vai trò này có thể giao cho NH Nhà nước hoặc Ủy

60

ban nhân dân cấp tỉnh hoặc thành phố thực hiện.

3.2.2.3. Sử dụng các công cụ phái sinh trong ngăn ngừa rủi ro tín dụng

Một công cụ hiệu quả trong quản lí RRTD là các phái sinh tín dụng trong các

nghiệp vụ tự phòng vệ. Chúng cho phép tách RRTD với các loại hình rủi ro khác vốn

có trong mỗi công cụ cụ thể và chuyển rủi ro này từ người bán rủi ro (người mua sự

bảo vệ tín dụng) đến người mua rủi ro (người bán sự bảo vệ tín dụng). Các phái sinh

tín dụng chủ yếu có thể nêu lên là “total return swap”, “credit default swaps”, các giấy tờ phái sinh gắn với RRTD (credit linked notes). Khả năng tách RRTD khỏi các tài sản

Có và tài sản Nợ làm cho phái sinh tín dụng trở nên hấp dẫn trong sử dụng. Nhờ các

công cụ này, các TCTD có thể tự bảo vệ mình khỏi các RRTD, đảm bảo đa dạng hoá

các rủi ro này.

Dưới đây là một số công cụ phái sinh: + Hoán đổi tổng thu nhập:

Sơ đồ 0.1. Hoán đổi tổng thu nhập

Thanh toán theo lãi suất (Libor,…) dựa trên NH B NH A (Ngƣời giá trị tài sản của bên A (Ngƣời bán

mua sự bảo vệ) sự bảo vệ)

Thanh toán khoản thu nhập từ TS kể cả lãi

Giao dịch hoán đổi là thỏa thuận mà trong đó, một bên ( người bán sự bảo vệ)

cam kết sẽ thanh toán một số tiền theo một lãi suất nhất định (có thể là lãi suất biến

đổi hoặc cố định), bên còn lại ( người bán sự bảo vệ) cam kết thanh toán bằng một

khoản thu nhập từ một tài sản nào đó, trong đó bao gồm cả lãi mà nó tạo ra. Các tài

sản cơ bản sử dụng trong giao dịch hoán đổi tổng thu nhập có thể là: chứng khoán, trái phiếu, các khoản vay... Hoán đổi tổng thu nhập cho phép các bên nhận được

khoản thu nhập kể cả lãi từ một tài sản cho dù không sở hữu nó.

+ Hợp đồng quyền chọn tín dụng: Hợp đồng quyền chọn tín dụng là công cụ bảo vệ giúp NH bù đắp những tổn thất

trong giá trị tài sản tín dụng, giúp bù đắp mức vốn cao hơn khi chất lượng tín dụng của NH giảm sút. Ví dụ: NHCT lo lắng về chất lượng tín dụng của khoản cho vay trị giá

61

10 tỷ đồng mới thực hiện NHCT có thể ký hợp đồng quyền chọn tín dụng với một tổ chức kinh doanh quyền chọn. Hợp đồng này sẽ đồng ý thanh toán toàn bộ khoản vay nếu như khoản vay này giảm giá đáng kể hoặc không thể được thanh toán như dự tính. Nếu KH vay vốn trả nợ đầy đủ như kế hoạch, NHCT sẽ thu được những khoản thanh toán như dự tính và hợp đồng quyền chọn sẽ không được sử dụng và NHCT chấp nhận mất phí quyền chọn.

Sơ đồ 0.2. Sơ đồ về quyền chọn tín dụng

Trả khoản phí cho hợp đồng

Tổ chức kinh doanh quyền Ngƣời mua /bán quyền chọn Thanh toán nếu chi phí tín dụng tăng quá chọn tín dụng

mức thỏa thuận hay CLTD giảm dưới mức quy định

+ Hợp đồng quyền chọn trái phiếu để phòng ngừa RRTD: Đối với việc sử dụng quyền chọn trái phiếu đề chống RRTD NHTM chủ yếu sử

dụng công cụ này trong các trường họp nền kinh tế rơi vào các điều kiện khó khăn.

Nguyên lý là lấy lãi ngoại bảng từ hợp đồng quyền chọn để bù đắp thua lỗ nội bảng. Theo đó, các NHTM sẽ thực hiện bảo hiểm trên cơ sở mua các quyền chọn bán trái phiếu nếu

nhận thấy tình hình nền kinh tế bất lợi cho các khoản vay.

3.2.2.4. Xử lý nợ xấu, nợ quá hạn dứt điểm

Việc xử lý nợ xấu, NQH là yêu cầu cấp thiết của NH Công Thương Việt Nam nói

chung và chi nhánh NHCT Hoàng Mai nói riêng. Để xử lý nợ xấu, NQH có thể có một

số biện pháp sau:

+ NH cần kiểm soát chặt chẽ chất lượng tăng trưởng tín dụng Việc tăng trưởng tín dụng quá nóng có thể gây ra việc tăng nợ xấu, vì thế lựa

chọn được những KH có phương án SXKD hay dự án tốt là việc quan trọng hàng đầu.

Có thể định kỳ kiểm tra chéo hồ sơ của các cán bộ QHKH khác nhằm giảm thiểu rủi ro.

+ Tăng cường các biện pháp thu hồi nợ Cán bộ QHKH cần bám sát KH, khi KH có nguồn thu yêu cầu KH thanh toán

ngay cho NH.

Đối với các khoản vay có TSĐB: cần nhanh chóng đẩy mạnh công tác phát mại

tài sản, mặc dù giá bán chưa thể bù đắp được tổn thất do khoản nợ gây ra, nhưng

nhanh thu hồi vốn, tránh trường hợp tài sản bị xuống cấp hư hỏng.

Đối với khoản vay không có TSĐB: Chi nhánh cần đề nghị KH thắt chặt ngân quỹ, khuyên KH bán bớt tài sản có giá trị, thanh lý tài sản không sử dụng để có tiền trả

nợ NH...

+ Tăng cường tích lũy DPRR Ở chi nhánh Hoàng Mai, quỹ dự phòng được thiết lập dựa trên kết quả kinh doanh của năm tài chính cho phép, do vậy NH hoạt động ngày càng hiệu quả thì nguồn

62

tài chính trích dự phòng ngày càng nhiều. Muốn vậy, NH cần phải phân bổ vốn nhiều hơn nữa vào các hoạt động kinh doanh có mức sinh lời cao như tín dụng, góp vốn liên

doanh liên kết, kinh doanh ngoại tệ, đồng thời tận thu những khoản lãi cho vay chưa thu được.

Đối với các khoản nợ đã xử lý bằng quỹ dự phòng, NH cần có kế hoạch theo dõi,

tiếp tục thu hồi nếu có thể làm tăng nguồri thu cho NH.

+ Chuyển nợ thành vốn góp cổ phần Chuyển nợ thành vốn góp cổ phần gắn với xóa nợ vừa giúp xử lý nợ xấu của

NHTM nhà nước, vừa giúp cổ phần hóa các công ty nhà nước.

3.2.2.5. Thực hiện việc mua bán nợ

Ngày 21/12/2006, Thống đốc đã Ban hành Quy chế mua, bán nợ của các tổ chức

tín dụng kèm theo Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN. Quyết định này thay thế Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14 ngày 19/4/1999 của Thống đốc NH Nhà nước ban

hành Quy chế mua, bán nợ của các tổ chức tín dụng. Theo đó, mua, bán nợ đó là việc

chuyển nhượng khoản nợ, do bến bán nợ chuyển giao quyền chủ nợ của khoản nợ cho

bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ. Khoản nợ được mua, bán là khoản nợ

được tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng, tổ chức

tín dụng nước ngoài cho KH vay (kể cả khoản trả thay trong bảo lãnh) hiện đang còn

dư nợ hoặc đang được theo dõi ngoại bảng. Việc mua, bán nợ được thực hiện theo một

trong hai phương thức sau và do các bên tham gia lựa chọn: (1) Phương thức mua, bán

nợ thông qua đấu giá các khoản nợ thựchiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. (2) Phương thức mua, bán nợ thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán

nợ và bên mua nợ hoặc thông qua môi giới. NH Công Thương Việt Nam đã ký hợp tác

với công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng (Công ty mua bán nợ-DATC) giai đoạn

2006-2010 nhằm xử lý các khoản nợ và nâng cao năng lực tài chính nhằm đáp ứng các

chỉ tiêu hoạt động kinh doanh phù họp theo chuẩn mực quốc tế. Chi nhánh Hoàng Mai

cần tận dụng cơ hội này để cùng DATC giải quyết các khoản nợ tồn đọng, nợ xấu trên

tinh thần lành mạnh hóa các khoản tín dụng.

3.2.3. Nhóm giải pháp chung

3.2.3.1. Nâng cao chất lượng phương pháp nhận dạng rủi ro

Vì hiệu quả của việc quản trị RRTD phụ thuộc rất nhiều vào việc phân loại, nhận dạng rủi ro. Cơ sở khoa học về việc phân loại rủi ro đã tạo điều kiện cho các nhà quản

trị NH có thể xác định rõ ràng vị trí của các loại rủi ro trong hệ thống rủi ro. Việc nhận dạng rủi ro họp lý, chất lượng sẽ giúp nâng cao khả năng và hiệu quả áp dụng những phương pháp phù hợp trong công tác quản trị rủi ro. Vì vậy phải không ngừng nâng

cao tính hiệu quả của các phương pháp nhận dạng rủi ro. Một số phương pháp là:

- Phương pháp dùng bảng so sánh:

63

Cán bộ QHKH xây dựng một bảng theo dõi với các nội dung đã được thống nhất

với KH (bao gồm các nội dung đã cam kết trong khế ước vay nợ và các tỷ số tài chính tối thiểu cần duy trì). Bảng theo dõi tiến hành theo dõi các chỉ tiêu từng tháng của KH

trong suốt thời gian vay. Qua bảng này chúng ta có thể thấy sự tăng giảm về chất

lượng khoản vay một cách khá dễ dàng. Kết cấu của bảng như sau:

Bảng 0.1. Bảng so sánh các chỉ tiêu

Cột chỉ tiêu cần theo dõi có thể là: Doanh số bán hàng so với kế hoạch; hàng tồn

kho so với kế hoạch; tỷ lệ phạn ữăm tổng lợi nhuận; Tỷ lệ phần trăm lãi ròng; khoản phải thu, phải trả (hay các hệ số vòng quay của nó).

Chú ý: khi lên bảng số liệu, cán bộ QHKH phải kiểm tra tính thời điểm của thông

tin, tính pháp lý của thông tin.

Sau khi lập bảng, cán bộ QHKH sẽ thấy được mức độ so sánh giữa các chỉ tiêu

theo 2 chiều: so với kế hoạch ban đầu và so với thời gian trước đó (tháng trước). Từ đó

phải giải thích được nếu sự sai biệt này quá một mức nào đó (ví dụ 5%-10%). Đồng

thời có một phương hướng giải quyết thích họp tiếp theo.

- Phương pháp đồ thị:

Sở dĩ có phương pháp này là vì: KH vay vốn để thực hiện mục tiêu của mình và

NH trước khi chấp nhận cho vay sẽ đánh giá mục đích của KH là hiệu quả mới giao

vốn của mình cho KH sử dụng, việc đồng ý này được thực hiện bằng hợp đồng tín

dụng. Tuy nhiên trong thực tế việc sử dụng vốn vay của KH không phải lúc nào cũng

đúng như cam kết vì nhiều nguyên nhân (có thể đo đạo đức của KH, có thể do các

nhân tố thuộc về môi trường kinh tế xã hội). Vì vậy có thể theo dõi những thay đổi này

qua sự chệch hướng đồ thị thực tế và đồ thị kế hoạch đã đặt ra.

+ Nội dung của phương pháp này theo dõi giám sát KH bằng cách: Khi nhận được các số liệu kế hoạch (trong phần xét duyệt cho vay) cán bộ QHKH sẽ đưa nó lên

64

một đồ thị mà một trục là tháng, một trục là các mức độ của chỉ tiêu. Mỗi chỉ tiêu được theo dõi bằng một đồ thị riêng.

Sơ đồ 0.3. Phƣơng pháp nhận dạng rủi ro bằng đồ thị

Khi nhận được số liệu thực tế, sau khi đã kiểm tra, cán bộ tín dụng tiếp tục đặt nó

lên đồ thị. Các đường biểu diễn này phản ánh rõ xu hướng chất lượng khoản vay.

+ Đánh giá: Qua phương pháp nhận dạng rủi ro bằng đồ thị thì NH có thể theo dõi sát KH, thấy được những thay đổi bất thường của KH trong quá trình sử dụng vốn,

như yậy sẽ dễ dàng phát hiện sớm những dấu hiệu rủi ro, giúp nhận dạng rủi ro kịp

thời. Như vậy đây là phương pháp nhận dạng rủi ro không những hiệu quả mà còn sát

với thực tế, dễ làm.

- Phương pháp phân tích lưu đồ:

+ Nội dung: Đây là phương pháp phân tích dựa trên việc xem xét quá trình diễn ra hoạt động cho vay, từ khâu đầu tiên là tiếp xúc với KH, qua các khâu trung gian và

đến khâu cuối cùng là công tác thu nợ và lãi, tất toán thánh lý hợp đồng. Đây là khâu

phân tích hỗ trợ cho phương pháp bảng liệt kê trong việc xem xét tất cả các khâu trong

quy trình cho vay để từ đó nhận ra rủi ro có thể phát sinh trong từng khâu, khâu nào rủi

ro tập trung nhiều nhất, từ đó xác định rủi ro trong khâu đó có thể thuộc nguồn nào,

các yếu tố nghi vấn gây rủi ro và cơ chế của chúng.

Qua phương pháp lưu đồ kết hợp với bảng liệt kê, ta có thể xem xét trong suốt

quy trình cho vay của NH qua tất cả các khâu. Mỗi khâu trong quy trình đó sẽ hàm

chứa nguồn rủi ro. Trong từng nguồn đó, ta sử dụng phương pháp bảng liệt kê để liệt kê ra những yếu tố rủi ro có thể có của từng nguồn vàcơ chế gây ra rủi ro để từ đó xem xét một cách toàn diện những rủi ro có khả năng xảy ra mà phương pháp phân tích số

liệu trong quá khứ không phát hiện được

Ứng với từng nguồn gây ra rủi ro trong suốt quá trình cho vay thì NH phải linh hoạt ứng dụng trong từng thời điểm, từng đối tượng KH cụ thể để loại bỏ bớt những khả năng không có căn cứ, hoặc những khả năng mà KH không có nguy cơ nhiều đồng

65

thời thêm vào những khả năng mới để từ đó xác định được những nguy cơ rủi ro cho vay nào mà KH có thể gặp phải. Đây là bước đầu tiên quan trọng để phục vụ cho việc

đo lường mức độ rủi ro, từ đó quyết định cho vay hay không.

- Phương pháp bảng liệt kê:

+ Sử dụng phương pháp này vì: Bảng liệt kê trong nhận dạng rủi ro có tác dụng tốt trong việc tìm ra những rủi ro có thể có, bằng việc xác định theo từng nguồn gây ra

rủi ro để đặt ra các yếu tố nghi vấn về khả năng gây ra rủi ro (nhân tố gây ra rủi ro) rồi

tìm cách giải thích cách thức hoặc cơ chế gây ra rủi ro (tức là các yếu tố nghi vấn gây ra rủi ro bằng cách nào, như thế nào).

+ Nội dung phương pháp: Thông qua quá trình rà soát tất cả các nguồn gây rủi ro từ thực tế, nhà quản trị sẽ xác định được rủi ro chủ yếu từ nguồn nào, yếu tố rủi ro

của nguồn đó, đồng thời loại bỏ những nghi vấn không có cơ sở hoặc quá mờ nhạt, giữ lại và bổ sung các nghi vấn mới có cơ sở rõ ràngễ Việc làm này giúp nhà quản trị nhận dạng được các yếu tố rủi ro từ các nguồn, cách thức gây rủi ro và tính chất nghiêm

trọng của chúng.

Có thể minh họa một bảng liệt kê RRTD theo nguồn thông tin:

Bảng 0.2. Bảng sử dụng trong phƣơng pháp liệt kê

Nghi vấn về nhân tố gây ra rủi ro Nguy cơ rủi ro

- Thông tin không cân xứng về KH - Thông tin không cân xứng về lĩnh

vực đầu tư - Sai lâm trong lựa chọn KH, lẽ ra phải chọn KH tốt thì lại chọn KH không tốt - Đầu tư trong lĩnh vực mà rủi ro cao - .......

3.2.3.2. Thông lệ tốt nhất về báo cáo rủi ro tín dụng và công bố thông tin

Trong quá trình KH vay vốn, NH phải thường xuyên yêu cầu từng KH hợp tác để

cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời thông qua các BCTC hàng quý, hàng

năm. Tại NH, các cán bộ tín dụng và cán bộ QTRR có trách nhiệm lập báo cáo hàng

tháng với các nội dung:

Tổng quát về danh mục tín dụng ( xếp hạng tín dụng, hạn mức, dư nợ, TSĐB,

ngày xem xét, ngày phê duyệt, ngành KD…)

- Tổng quát về NQH: số lượng KH quá hạn - Các trường hợp vượt hạn mức (KH nào, số tiền là bao nhiêu, thời điểm vượt) - Sự tuân thủ về TSĐB (KH nào, giá trị TSĐB bị thiếu, thời hạn bảo đảm) - Sự tuân thủ ràng buộc hợp đồng (KH nào, ràng buộc tài chính, phi tài chính, chấp

thuận đối với trường hợp vi phạm hợp đồng)

- Tình trạng hồ sơ (KH nào chưa có hồ sơ/thất lạc, khi nào) - Rủi ro quốc gia (cho vay quốc gia, cho vay xuyên biên giới, báo cáo về tổng cho

vay quốc gia/bảng cân đối)

66

Bên cạnh đó, NH lập các báo cáo hàng quý với nội dung:

- Các khoản tín dụng có vấn đề (KH, hạn mức, dư nợ, tình trạng hồ sơ, quản lý

phòng QHKH chịu trách nhiệm giải quyết)

- Dự phòng RRTD (KH, dự phòng quý trước, dự phòng trích lập bổ sung, thu hồi

bằng tiền mặt, dự phòng tháng này)

3.2.3.3. Các phản ứng có thể của Ngân hàng trước các vấn đề của Doanh nghiệp

Trong quá trình vay vốn, việc KH gặp các vấn đề trong hoạt động kinh doanh là không thể tránh khỏi. Sau khi nắm bắt được thông tin chính xác, kịp thời về tình trạng

của KH, NH cần đồng hành cùng KH đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro một

cách tối đa.

- Tìm kiếm lối thoát cùng DN như: tư vấn tài chính để giúp DN cải thiện dòng tiền… - Trong ngắn hạn, NH có thể gia hạn tín dụng cho DN. - NH có thể chiết khấu khoản nợ và thoái vốn - NH thỏa thuận với DN về việc thanh lý TSĐB

3.2.3.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất trong mọi lĩnh vực. Các giải pháp

khác liệu có thể thực hiện được hay không khi mà yếu tố về con người không được

đảm bảo, vì thế chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân lực là chiến lược lâu dài

nên chi nhánh cần có định hướng cụ thể và tiến hành thường xuyên. Cụ thể:

+ Lựa chọn các cán bộ có kiến thức, trình độ và đạo đức nghề nghiệp làm công tác tín dụng và quản lý RRTD. Phải có kế hoạch cụ thể về tuyển dụng và đào tạo cán

bộ cho từng thời kỳ, đáp ứng yêu càu của công việc cả về số lượng và chất lượng.

Đồng thời có chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho những cán bộ trong lĩnh vực tín dụng

và quản trị rủi ro.

+ Có chính sách thưởng phạt công bằng, nghiêm minh với mục đích gắn kết trách nhiệm của các cán bộ QHKH... những như toàn thể nhân viên trong NH. Chi

nhánh tổ chức thi đua cán bộ xuất sắc, giỏi trong toàn hệ thống và có chế độ thưởng,

phạt thích họp với từng mức độ đạt được.

+ Khi đã có đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ, nhà quản lý cũng cần biết cách sử dụng nhân viên, phải nắm được điểm mạnh, điểm yếu của họ để bố trí phân công công việc hợp lý. Từ đó phát huy cao nhất năng suất cũng như tinh thần làm việc

của từng nhân viên.

+ Văn hóa NH là yếu tố quyết định đến hình ảnh, uy tín của NH. Vì vậy, chi nhánh cần xây dựng văn hóa NH thật tốt nhằm tạo sư gắn bó của nhân viên với NH,

với các đồng nghiệp của mình, đảm bảo đạo tạo được phẩm chất của các cán bộ nhân

67

viên tốt, người đi trước làm tấm gương cho người đi sau. Từ đó xây dựng được văn hóa đẹp cho NH.

3.2.3.5. Phối hợp giữa các phòng quan hệ khách hàng, phòng quản trị tín dụng và

phòng quản lý rủi ro một cách khoa học và hiệu quả

Sự rạch ròi trong phân định trách nhiệm sẽ đảm bảo tính công bằng trong đánh

giá chất lượng công việc, là điều kiện để quá trình xử lý các dấu hiệu RRTD được

nhanh chóng, hịêu quả và kịp thời cũng như tạo sự yên tâm trong suy nghĩ, hành động

của cán bộ các bộ phận. Đồng thời, mỗi bộ phận trong chức năng, nhiệm vụ của mình cần xây dựng các mục tiêu trong hoạt động cấp tín dụng (tỷ lệ nợ xấu chấp nhận được,

số lượng và nhóm KH cần thiết lập, mức độ tăng trưởng tín dụng...), các giải pháp hiện

thực hóa các mục tiêu đó, đảm bảo sự phối hợp uyển chuyển, nhịp nhàng giữa các bộ

phận tác nghiệp khi thực thi các mục tiêu quản trị RRTD đã đề ra, phù hợp với đặc thù của NHCT cũng như chính sách tín dụng mà NHCT đề ra.

- Tiêu chuẩn hóa cán bộ theo dõi RRTD để đáp ứng trong mô hình mới TA2. Theo đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý RRTD có kinh nghiệm, có kiến thức và khả

năng nhanh nhạy khi xem xét, đánh giá các đề xuất tín dụng. NH có thể xây dựng một

hệ tiêu chuẩn đối với cán bộ RRTD như trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế, có thời gian trải qua công tác tại bộ phận quan hệ KH... Những yêu cầu này sẽ giúp cho

đội ngũ cán bộ quản lý RRTD có đủ trình độ, kinh nghiệm thực tế để xử ỉý nhanh

chóng, hiệu quả và một sự thận trọng hợp lý trong quá trình phân tích, thẩm định và

giám sát tín dụng. Đồng thời, cần nâng cao tính chuyên nghiệp của cán bộ NH, theo đó

mỗi cán bộ NH trong chức năng, nhiệm vụ của mình phải thực hiện một cách đầy đủ,

hết trách nhiệm và thái độ tất cả vì công việc chung trong xử lý mối quan hệ giữa các

bộ phận.

- Xây dựng cơ chế trao đổi thông tin hiệu quả, đảm bảo sự liên lạc thường xuyên, liên tục và cập nhật kịp thời các thông tin trọng yếu giữa các bộ phận chức năng trong

hoạt động cấp tín dụng. Mô hình TA2 chỉ có thể thành công khi giải quyết được vấn đề

cơ chế trao đổi thông tin, đảm bảo sự phân tách các bộ phận chức năng để thực hiện

chuyên môn hóa và nâng cao tính khách quan nhưng không làm mất đi khả năng nắm

bắt và kiểm soát thông tin của bộ phận quản lý RRTD. Muốn vậy, những thông tin trọng yếu trong quá trình cho vay cần phải được bộ phận quan hệ KH cập nhật định kỳ và/hoặc đột xuất và chuyển tiếp những thông tin này cho bộ phận quản lý RRTD phân tích, đánh giá những rủi ro tiêm ân. Như vậy, sự vận hành của mô hình mới có thể

68

thông suốt và giảm thiểu những e ngại của bộ phận quản lý RRTD trong các nhận định cấp tín dụng.

3.2.3.6. Đầu tư hệ thống hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng

Công nghệ NH là “đòn bẩy” cho sự đột phá trong hoạt động kinh doanh. Do vậy,

hiện đại hóa NH là yêu cầu tất yểu trong bối cảnh hiện nay. Ngay khi ký một hợp đồng

đấu thầu công nghệ cốt lõi (corebanking) thì thường dự án đó đã lỗi thời cách đây 3

năm đối với nhà cung cấp. Điều quan trọng trong đầu tư công nghệ NH là để phát triển

được những ứng dụng trên công nghệ đã đầu tư. Vì vậy không nhất thiết phải có một công nghệ NH quá đắt đỏ hoặc quá chuyên biệt.

Việc quan trọng nhất NH cần thực hiện đó là:

- Ưu tiên vốn đầu tư cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, tiếp nhận và triển khai có hiệu quả các dự án công nghệ thông tin từ nguồn tài trợ trong nước và quốc tế.

- Tăng cường ứng dụng và triển khai công nghệ thông tin trong hoạt động, đặt nền tảng vững chắc cho việc hiện đại hóa công nghệ NH: lựa chọn kỹ thuật và công nghệ

hiện đại và có khả năng mở rộng, phát triển trong tương lai

- Ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các nghiệp vụ NH, đặc biệt là hệ thống

thanh toán theo hướng tự động hoá, phát triển các dịch vụ NH điện tử.

- Chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, kỹ sư chuyên ngành công nghệ thông tin, để sãn sàng và chủ động tiếp nhận, chuyển giao công nghệ hiện đại, bảo đảm hoạt

69

động tốt và an toàn.

KẾT LUẬN

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế

thế giới, cạnh tranh là vô cùng khốc liệt.Điều đó buộc các nhà lãnh đạo NH phải đổi

mới cả trong tư duy lẫn thực tiễn tại NH mình.Các NHTM cần phải nắm bắt được cơ

hội, vượt qua thử thách.Một trong những thách thức lớn nhất đối với hệ thống NH Việt

Nam là việc giải quyết vấn đề nợ xấu và nâng cao chất lượng quản trị RRTD. Khóa luận “ Nâng cao hiệu quả quản trị RRTD tại NH Công thương Việt Nam chi nhánh

Hoàng Mai ” của tác giả viết với mong muốn được góp phần giúp cho các NHTM Việt

Nam nói chung, NHCT Việt Nam nói riêng vượt qua thử thách này. Trên cơ sở nghiên

cứu thực tiễn tại chi nhánh Hoàng Mai, khóa luận đã:

- Về lý luận, đã xây dựng được một hệ thống khái niệm và nội dung về quản trị

RRTD có tính khái quát, khoa học.

- Về thực tiễn, đã sử dụng những kiến thức trong phần một để làm rõ thực trạng công tác quản trị RRTD tại NH và đánh giá kết quả NH đã đạt được và vấn đề còn hạn chế. - Trên cơ sở những nghiên cứu về lý luận và thực tế tại NHCT Việt Nam chi nhánh Hoàng Mai, khóa luận đã đề xuất một sổ giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất

70

lượng công tác quản trị RRTD tại chi nhánh NHCT Việt Nam.

PHỤ LỤC 1: NHÓM CHỈ TIÊU

Tỷ lệ % thay đổi Chênh lệch doanh thu năm nay – năm trước = 100% doanh thu Doanh thu năm trước

Chi phí cho hoạt động

= 100% Tỷ lệ % chi phí hoạt động trên doanh thu Doanh thu

Lợi nhuận sau thuế

= 100% Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu Doanh thu thuần

Lợi nhuận sau thuế

= 100% Tỷ suất lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu (ROE) Vốn chủ sở hữu bình quân

Lợi nhuận sau thuế

= 100% Tỷ suất lợi nhuận trên Tổng tài sản có(ROA) Tổng tài sản có bình quân

Lợi nhuận sau thuế

= 100% Chỉ tiêu lợi nhuận trên giá trị rủi ro VAR (RAPM) Var

Tài sản ngắn hạn

= 100% Khả năng thanh toán hiện hành Nợ ngắn hạn

(Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho)

71

= 100% Khả năng thanh toán nhanh Nợ ngắn hạn

Tiền và các khoản tương đương tiền

= 100% Khả năng thanh toán tức thời Nợ ngắn hạn

Doanh thu thuần

Vòng quay vốn lưu động = 100% Tài sản ngắn hạn bình quân

Giá vốn hàng bán

Vòng quay hàng tồn kho = 100% Hàng tồn kho bình quân

Doanh thu thuần

= 100% Vòng quay các khoản phải thu Các khoản phải thu bình quân

Doanh thu thuần

= 100% Hiệu suất sử dụng tài sản cố định

Giá trị còn lại của tài sản cố định bình quân

72

(Nguồn: Hướng dẫn phân tích tài chính doanh nghiệp NH TMCP CTVN)

PHỤ LỤC 2: Ý NGHĨA VỀ CÁC MỨC XẾP HẠNG

STT Ý nghĩa Mức XH

1. AAA

2. AA

3. A

4. BBB

5. BB

6. B

7. CCC

Đây là mức xếp hạng cao nhất. Khả năng khoản vay của KH được xếp hạng này là đặc biệt KH xếp loại AA có năng lực trả nợ không kém nhiều so với KH xếp loại cao nhất, khả năng trả nợ là rất tốt KH xếp hạng này có thể có nhiều khả năng chịu tác động tiêu cực của các yếu tố bên ngoài và các điều kiện kinh tế hơn các KH trên, tuy nhiên khả năng trả nợ vẫn được đánh giá là tốt. KH xếp hạng BBB có các chỉ số cho thấy KH hoàn toàn có khả năng hoàn trả đầy đủ các khoản nợ. Tuy nhiên, các điều kiện kinh tế bất lợi và có sự thay đổi của các yếu tố bên ngoài có nhiều khả năng làm suy giảm khả năng trả nợ của KH hơn. KH xếp hạng B có nguy cơ mất khả năng trả nợ hơn các nhóm từ B đến D. Tuy nhiên, các KH này đang phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn hoặc các ảnh hưởng từ điều kiện kinh doanh, tài chính và kinh tế bất lợi, dẫn đến suy giảm khả năng trả nợ. KH hạng này có nhiều nguy cơ mất khả năng trả nợ, tuy nhiên hiện thời KH vẫn có khả năng hoàn trả nợ vay . các điều kiện kinh doanh, tài chính và kinh tế nhiều khả năng ảnh hưởng đến khả năng hoặc thiện chí của KH KH xếp hạng này hiện thời đang bị suy giảm khả năng trả nợ do khả năng trả nợ của KH phụ thuộc vào độ thuận lợi của các điều kiện kinh doanh, tài chính và kinh tế. Trong trường hợp có các yếu tố bất lợi xảy ra, KH nhiều khả năng không trả được nợ

8. CC KH xếp hạng này hiện thời đang bị suy giảm rất nhiều khả năng trả nợ

9. C

10. D

73

KH xếp hạng C trong trường hợp đã thực hiện các thủ tục xin phá sản hoặc có các động thái tương tự nhưng việc trả nợ của KH vẫn đang được duy trì KH xếp hạng này trong trường hợp đã mất khả năng thanh toán nợ, các tổn thất đã thực sự xảy ra, không xếp hạng D cho KH thì việc mất khả năng trả nợ mới chỉ là dự kiến.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình tín dụng ngân hàng - Học Viện Ngân Hàng-NXB Thống kê 2001.

2. Giáo trình Ngân hàng Thương Mại - Trường kinh tế Quốc Dân-NXB Thống kê.

3. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng- PGS-TS Nguyễn Văn Tiến- NXB

Thống kê 2008.

4. Quản trị Ngân hàng Thương Mại -Peter S.Rose - NXB Tài chính 2004.

5. Nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam (kỷ yếu

hội thảo khoa học) NXB Phương Đông 2005.

6. Các thị trường tài chính mới nổi - D.O. Beim &C.W. Calomiris.

7. Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng từ những ứng dụng nguyên tắc Basel về

quản lý nợ xấu - Nguyễn Đào tố, Tạp chí ngân hàng số 5 tháng 3/2008.

8. Cẩm năng tín dụng Ngân hàng Công Thương Việt Nam.

Các website:

Ngân hàng nhà nước Việt Nam twww.sbv.gov.vn

Hiệp hội ngân hàng Việt Nam www.vnba.org.vn

Thời báo kinh tế Việt Nam www.vneconomy.com.vn

74

Ngân hàng Công Thương Việt Nam www.VietinBank.vn