BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG HAI BÀ TRƢNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN
: ĐINH NGỌC KHÁNH
MÃ SINH VIÊN
: A17334
CHUYÊN NGÀNH
: NGÂN HÀNG
HÀ NỘI – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG HAI BÀ TRƢNG
Giảng Viên Hƣớng Dẫn
: Th.s Trần Thị Thùy Linh
Sinh Viên Thực Hiện
: Đinh Ngọc Khánh
Mã Sinh Viên
: A17334
Chuyên Ngành
: Ngân Hàng
HÀ NỘI – 2013
LỜI CẢM ƠN
Đề tài Khóa luận tốt nghiệp của em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của các Thầy, Cô giáo trong khoa Kinh tế - Quản lý, cô giáo hướng dẫn trực tiếp và các
cô chú, anh chị tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai Bà trưng – Hà Nội.
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị, cô chú tại Chi nhánh Ngân hàng Công
thương Hai Bà Trưng – Hà Nội đã góp ý, giúp đỡ để em hoàn thành tốt bài Khóa luận tốt nghiệp này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Kinh tế - Quản lý đã
nhiệt tình giảng dạy, chỉ bảo và truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích, quý báu trong
suốt những năm học vừa qua. Đặc biệt, em xin cảm ơn Cô giáo Th.s Trần Thị Thùy Linh
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình em hoàn thành bài
Khóa luận tốt nghiệp này.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2013
Sinh viên
Đinh Ngọc Khánh
MỤC LỤC
Trang
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI .......................... 1
1.1. Hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại ............................................ 1
1.1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại .............................................................. 1
1.1.2. Khái niệm về tín dụng Ngân hàng .................................................................. 3
1.1.3. Phân loại tín dụng Ngân hàng ........................................................................ 3
1.1.4. Các nguyên tắc tín dụng Ngân hàng .............................................................. 5
1.2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại ............................. 6
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng ................................................................................ 6
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng ................................................................................. 7
1.2.3. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng tại Việt Nam ......................................... 7
1.2.4. Tác động của rủi ro tín dụng ......................................................................... 10
1.2.5. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng ............................................................... 12
1.2.6. Một số chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng ...................................................... 12
1.3. Một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại ........ 16
1.3.1. Xây dựng chính sách tín dụng ...................................................................... 16
1.3.2. Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ .............................................. 17
1.3.3. Phân tích tín dụng và xác định mức độ rủi ro tín dụng............................... 18
1.3.4. Thực hiện đầy đủ khâu bảo đảm tín dụng .................................................... 18
1.3.5. Thực hiện tốt quy trình giám sát tín dụng .................................................... 19
1.3.6. Phân tán rủi ro tín dụng ................................................................................ 19
1.3.7. Xử lý hiệu quả nợ quá hạn ............................................................................ 19
1.3.8. Sử dụng các công cụ phái sinh ..................................................................... 19
1.3.9. Lượng hóa rủi ro tín dụng ............................................................................. 20
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH HAI BÀ TRƢNG ...................................................................................... 23
2.1. Giới thiệu về Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng – Hà Nội ... 23
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển .................................................................. 23
2.1.2. Cơ cấu tổ chức – bộ máy hoạt động của NHCT Hai Bà Trưng .................. 24
2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai
Bà Trưng – Hà Nội .............................................................................................. 27
2.2.1. Huy động vốn ................................................................................................. 27
2.2.2. Hoạt động sử dụng vốn .................................................................................. 32
2.2.3. Kết quả doanh thu – chi phí – lợi nhuận của NHCT Hai Bà Trưng .......... 33
2.2.4. Phát triển các dịch vụ Ngân hàng ................................................................. 34
2.2.5. Hoạt đông kinh doanh ngoại hối tại NHCT Hai Bà Trưng ........................ 36
2.3. Thực trạng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai Bà
Trưng – Hà Nội .................................................................................................... 37
2.3.1. Tình hình hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai
Bà Trưng – Hà Nội ........................................................................................ 37
2.3.2. Thực trạng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai Bà
Trưng – Hà Nội .............................................................................................. 43
2.4. Đánh giá rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai Bà
Trưng – Hà Nội .................................................................................................... 52
2.4.1. Những kết quả đạt được ................................................................................ 52
2.4.2. Những điểm còn tồn tại và nguyên nhân ..................................................... 53
CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƢƠNG VIỆT
NAM – CHI NHÁNH HAI BÀ TRƢNG ........................................................................ 56
3.1. Định hướng hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng – Hà Nội trong năm 2013 .................................................................. 56
3.2. Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương
Hai Bà Trưng – Hà Nội ....................................................................................... 58
3.2.1. Hoàn thiện, thực hiện nghiêm ngặt quy trình tín dụng ............................... 58
3.2.2. Nâng cao hơn nữa chất lượng thẩm định tín dụng ..................................... 58
3.2.3. Hoàn thiện và nâng cao hệ thống thông tin của Ngân hàng ...................... 59
3.2.4. Đa dạng hoá danh mục cho vay .................................................................... 60
3.2.5. Tổ chức phân tích, phân loại nợ xấu theo định kỳ ...................................... 60
3.2.6. Tăng cường đôn đốc, xử lý và thu hồi đối với các khoản nợ quá hạn và các
khoản nợ tồn đọng ......................................................................................... 61
3.2.7. Cơ cấu lại một số khoản nợ ........................................................................... 62
3.2.8. Tăng cường kỹ năng quản lý rủi ro trong hoạt động Ngân hàng ............... 63
3.2.9. Thực hiện nghiêm túc các quy định về đảm bảo tiền vay ............................ 63
3.2.10. Nâng cao ý thức, trách nhiệm và trình độ chuyên môn của cán bộ Ngân
hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng .............................................. 64
3.2.11. Tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ .. 65
3.2.12. Trích lập quỹ dự phòng rủi ro ...................................................................... 66
3.2.13. Xây dựng hệ thống phân loại và xếp hạng khách hàng tự động ................ 66
3.3. Một số kiến nghị .................................................................................................... 67
3.3.1. Kiến nghị với Ngân hàng Công thương Việt Nam ........................................ 67
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước .............................................................. 68
3.3.3. Kiến nghị với Chính phủ và Chính quyền địa phương các cấp ................... 70
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
BĐS Bất động sản
DN Doanh nghiệp
L/C Letter of Credit
NH Ngân hàng
NHCT Ngân hàng Công thương
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương mại
NQH Nợ quá hạn
RRTD Rủi ro Tín dụng
SXKD Sản xuất kinh doanh
TDN Tổng dư nợ
TSĐB Tài sản đảm bảo
TTCD Tổ chức tín dụng
TTCK Thị trường chứng khoán
USD United States Dollar
VAMC Vietnam Asset Management Company
VNĐ Việt Nam Đồng
XHTD Xếp hạng tín dụng
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC
Trang
Bảng 2.1. Kết quả huy động vốn qua các năm tại NHCT Hai Bà Trưng ........................... 28
Bảng 2.2. Kết quả doanh thu – chi phí – lợi nhuận của NHCT Hai Bà Trưng .................. 33
Bảng 2.3. Hoạt động thanh toán L/C tại NHCT Hai Bà Trưng .......................................... 35
Bảng 2.4. Hoạt động kinh doanh ngoại hối tại NHCT Hai Bà Trưng ................................ 36
Bảng 2.5. Kết quả hoạt động tín dụng qua các năm tại NHCT Hai Bà Trưng ................... 38
Bảng 2.6. Dư nợ phân theo nhóm nợ tại NHCT Hai Bà Trưng ......................................... 44
Bảng 2.7. Phân loại nợ xấu, nợ quá hạn theo nhóm nợ ...................................................... 47
Bảng 2.8. Phân loại nợ quá hạn theo đối tượng khách hàng .............................................. 48
Bảng 2.9. Vòng quay vốn tín dụng qua các năm tại NHCT Hai Bà Trưng........................ 50
Bảng 2.10. Trích lập quỹ dự phòng rủi ro qua các năm tại NHCT Hai Bà Trưng ............. 51
Đồ thị 2.1. Vốn huy động phân theo loại tiền .................................................................... 29
Đồ thị 2.2. Vốn huy động theo thành phần kinh tế ............................................................ 30
Đồ thị 2.3. Vốn huy động phân theo thời gian ................................................................... 31
Đồ thị 2.4. Tổng dư nợ qua các năm tại NHCT Hai Bà Trưng .......................................... 32
Đồ thị 2.5. Dư nợ tín dụng theo loại tiền ............................................................................ 39
Đồ thị 2.6. Dư nợ tín dụng theo đối tượng khách hàng ...................................................... 40
Đồ thị 2.7. Dư nợ tín dụng theo thời gian .......................................................................... 41
Đồ thị 2.8. Dư nợ tín dụng theo Tài sản đảm bảo .............................................................. 42
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của NHCT Hai Bà Trưng ............................................................ 24
LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Khi nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu với nền kinh tế thế giới thì vấn đề
cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày càng bộc lộ rõ nét. Trong nước, với sự phát triển rất
nhanh của hệ thống Ngân hàng trong vài năm trở lại đây, nhất là các Ngân hàng Thương mại Cổ phần thì tình trạng cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, còn đối với phạm vi
quốc tế thì khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong nước vẫn còn rất nhiều hạn chế. Các Ngân hàng nước ngoài chủ yếu cung cấp các dịch vụ, nhất là các dịch vụ Ngân hàng hiện
đại, trong khi đó thì hoạt động cho vay vẫn là hoạt động chính của các Ngân hàng trong
nước, và đi liền với hoạt động tín dụng luôn là rủi ro tín dụng. Khi rủi ro tín dụng xảy ra
sẽ ảnh hưởng đáng kể đến kết quả hoạt động cũng như khả năng cạnh tranh của Ngân
hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ gây ra những tổn thất về tài chính mà còn ảnh
hưởng đến uy tín của Ngân hàng, làm giảm sút niềm tin của công chúng đối với cả hệ
thống Ngân hàng. Do tính chất lây lan của nó, rủi ro tín dụng có thể là đầu mối của những
cuộc khủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng Kinh tế - Xã hội.
Trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam chưa phát triển thì hệ thống Ngân
hàng thương mại vẫn được kỳ vọng là nơi cung ứng vốn chủ yếu và quan trọng cho nền
kinh tế. Song trong thời gian qua, với việc phát triển nhanh của cả hệ thống Ngân hàng, đi
cùng với đó là hoạt động tín dụng cũng tiếp tục được mở rộng cả về số lượng và giá trị
của các khoản vay. Tuy nhiên đi kèm với tăng trưởng tín dụng luôn là nguy cơ xảy ra rủi
ro tín dụng sẽ cao hơn. Thực trạng tại hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam cho
thấy, các vấn đề về rủi ro tín dụng chưa được phân tích, đánh giá và kiểm soát một cách
chặt chẽ, nhất là khi hệ thống Ngân hàng bị những tác động không tốt từ nền kinh tế, nên
khi rủi ro tín dụng xảy ra thì nó sẽ có những ảnh hưởng xấu tới bản thân các Ngân hàng,
tới hệ thống Ngân hàng và cả với nền kinh tế. Do đó, việc nâng cao hiệu quả công tác phân tích và đánh giá rủi ro, đặc biệt là việc phân tích, đánh giá và đưa ra các biện pháp
hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam nhằm hạn chế rủi ro tín dụng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập hiện nay và nâng cao sức đề kháng, cũng như khả năng thích nghi của hệ thống Ngân hàng thương mại trước những tác động xấu từ nền kinh tế đang là vấn đề hết sức quan trong, cấp thiết và mang tính thời sự trong thời điểm hiện tại. Chính vì vây, em đã lựa chọn đề tài: “Thực trạng và các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thƣơng Hai Bà Trƣng” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài được nghiên cứu nhằm đạt 3 mục tiêu sau đây:
Thứ nhất là làm rõ vấn đề lý luận về tín dụng và rủi ro tín dụng.
Thứ hai là phân tích thực trạng hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng và các biện pháp
phòng ngừa rủi ro tín dụng, qua đó nêu lên những hạn chế, khó khăn trong công tác tín
dụng và phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHCT Hai Bà Trưng.
Thứ ba là trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng đã đưa ra một số giải pháp nhằm
phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHCT Hai Bà Trưng.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng và các biện
pháp nhằm phòng ngừa hạn và chế rủi ro.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động tín
dụng, rủi ro tín dụng trong giai đoạn 2010 - 2012 tại NHCT Hai Bà Trưng, từ đó đưa ra
các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHCT Hai Bà
Trưng một cách có hiệu quả.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu
như: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích so
sánh, phân tích tỷ trọng, số tuyệt đối, số tương đối.
Phương pháp thu nhập, xử lý số liệu: Số liệu được thu thập từ các báo cáo thường
niên, các báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của NHCT Việt Nam và Chi nhánh
NHCT Hai Bà Trưng, từ các cơ quan thống kê, báo…và được xử lý trên máy tính.
5. CẤU TRÚC NỘI DUNG KHÓA LUẬN:
Ngoài lời mở đầu và lời kết, Khóa luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng Thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hai Bà Trưng.
Chương 3: Các giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
thương mại cổ phàn Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng.
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái quát về Ngân hàng thƣơng mại
- Khái niệm về Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm nay, gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống
NHTM đã có những tác động quan trọng và to lớn đến quá trình hình thành và phát triển
của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại khi nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển mạnh
mẽ và đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được
hoàn thiện, giữ một vai trò đặc biệt quan trọng và trở thành định chế tài chính không thể
thiếu được. Nói cách khác thì NHTM có thể coi là một bộ phận không thể tách rời khỏi
đời sống xã hội, là một sản phẩm đặc biệt của nền kinh tế thị trường. Sự ra đời của
NHTM đánh dấu một bước nhảy vọt trong quá trình phát triển đi lên của nhân loại và là
kết quả tất yếu của quá trình phát triển của nền kinh tế tiền tệ.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về NHTM với những cách nhìn nhận khác nhau,
chẳng hạn như:
+ Tại Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và
hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính;
+ Tại Pháp: NHTM là những xí nhiệp thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức tiền gửi hay hình thức khác và họ dùng vào chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính;
+ Tại Ấn Độ: NHTM là cơ sở xác nhận các khoản tiền gửi để cho vay, tài trợ và đầu tư.
Còn tại Việt Nam, theo luật NHNN và Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2010 thì định nghĩa: "NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Cũng theo Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2010 thì:
+ Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động Ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi Ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân;
+ Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung
ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
1
Tuy các định nghĩa khác nhau về ngôn từ, cách diễn đạt và một số nội dung nhưng
có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các
dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối
đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
- Các chức năng của Ngân hàng thương mại:
+ Chức năng trung gian tín dụng:
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người
thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là
người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch
giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay, và cũng góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên
tham gia: Người gửi tiền và người đi vay...
+ Chức năng trung gian thanh toán:
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện
các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như: Trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ
để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền
thu bán hàng và các khoản thu khác theo yêu cầu của khách hàng…
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc,
ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu,
khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ
thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải
thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện
các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời
gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
+ Chức năng tạo phương tiện thanh toán:
Tạo phương tiện thanh toán là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù đã thực hiện được chức năng cơ bản của mình đó là tạo các phương tiện thanh toán cho nền kinh tế.
Chức năng tạo phương tiện thanh toán được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác
của NHTM là chức năng trung gian tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức
2
năng trung gian tín dụng, NH sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay
ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao
dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ
thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu
thanh toán, chi trả của xã hội. NHTM tạo phương tiện thanh toán phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của NH trung ương đã áp dụng đối với NHTM. Do vậy Ngân hàng Trung
ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.
Các chức năng của NHTM có mối quan hệ bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau, trong đó
chức năng tín dụng là chức năng cơ bản tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác.
Đồng thời khi NHTM thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và "tạo phương tiện
thanh toán" sẽ góp phần mở rộng hoạt động của chức năng trung gian thanh toán.
1.1.2. Khái niệm về tín dụng Ngân hàng
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của hoạt động thương mại, Tín dụng Ngân hàng
ngày càng phát triển như một nhu cầu tất yếu để giải quyết tình trạng dư thừa hay thiếu
hụt của các chủ thể tham gia trong nền kinh tế. ét trên phương diện tổng thể thì từ “Tín
dụng” credit xuất phát từ chữ “Credo” có nghĩa là “Tín nhiệm”. Như vậy, hoạt động tín
dụng nói chung có thể hiểu là sự chuyển dịch một lượng giá trị tài sản tạm thời từ người
sở hữu sang người sử dụng. Sau một khoảng thời gian nhất định, người sử dụng có nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản ban đầu cộng thêm phần giá trị thặng dư.
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản vốn giữa Ngân hàng với
các chủ thể khác trong nền kinh tế. Ngân hàng sẽ tiến hành đi vay các chủ thể thừa vốn và
dùng tài sản đó để cho vay lại với các chủ thể đang có nhu cầu về vốn. Nói một cách
khác, Ngân hàng giữ vị trí trung gian giúp tiến trình luân chuyển vốn giữa người tiết kiệm
và người đầu tư được nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Dựa vào những phân tích trên, ta có thể định nghĩa khái niệm Tín dụng NH như
sau: “Tín dụng NH là việc NH thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản bằng tiền, tài sản thực hay uy tín với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu tái chiết khấu , cho thuê tài chính, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ khác [10, tr343]” GS.TS Nguyễn Văn Tiến, 2009, giáo trình Ngân hàng thương mại, N B Thống kê .
1.1.3. Phân loại tín dụng Ngân hàng
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại Tín dụng Ngân hàng. Sau đây là một số tiêu thức
thường dùng trong các NHTM hiện nay:
3
- Căn cứ vào thời hạn:
+ Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, dùng để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp như mua vật tư, hàng hóa, trả lượng cho công nhân viên, thanh toán tiền điện nước… Đối với khách hàng cá nhân thì tiền vay được sử dụng nhằm đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng;
+ Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ một năm đến năm năm, chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đối mới thiết bị công
nghệ, mở rộng S KD, thực hiện các dự án có quy mô vừa và nhỏ có thời gian thu hồi
vốn nhanh. Trong nông nghiệp, tín dụng trung hạn được sử dụng đầu tư vào các đối
tượng là công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp như máy cày, máy bơm nước…;
+ Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, mục đích vay chủ yếu để tài trợ cho nhu cầu vốn dài hạn như đầu tư xây dựng nhà ở, đầu tư dây truyền
công nghệ, phương tiện vận tải, xây dựng cơ sở hạ tầng cho sản xuất. Loại cho vay
này có tốc độ thu hồi vốn chậm và rủi ro cao nhất do thời gian cho vay kéo dài.
- Căn cứ vào mục đích:
+ Tín dụng bất động sản: Liên quan đến việc mua sắm và xây dựng nhà ở, đất đai…;
+ Tín dụng công nghiệp và thương mại: Là loại hình tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải chi phí như: Mua hàng hóa, nguyên vật liệu, trả thuế hay chi phí
trả lương cho nhân viên…;
+ Tín dụng nông nghiệp: Bao gồm các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông
nghiệp như: Trồng trọt, chăn nuôi…;
+ Tín dụng tiêu dùng: Cung cấp nguồn vốn đáp ứng nhu cầu của cá nhân như: Mua
sắm, du học, chữa bệnh…;
+ Tín dụng các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các tổ chức tín dụng
khác, các công ty tài chính, công ty bảo hiểm…
- Căn cứ vào chủ thể vay vốn:
+ Tín dụng doanh nghiệp: Là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp. Đây còn
được gọi là tín dụng bán buôn vì các khoản vay thường lớn;
+ Tín dụng cá nhân, hộ gia đình: Thông thường là các khoản vay của những đối tượng
này thường nhỏ lẻ nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng là chính.
4
- Căn cứ vào bảo đảm tín dụng:
+ Tín dụng có bảo đảm: Là cho vay dựa trên các bảo đảm như thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Hình thức này áp dụng đối với những khách hàng
chưa có uy tín cao đối với các NHTM. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để NHTM có thêm nguồn thu khi nguồn thu thứ nhất trở nên thiếu chắc chắn;
+ Tín dụng không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba, mà việc cho vay này chỉ dựa trên uy tín của khách hàng. Tuy nhiên, các NHTM chỉ áp dụng loại cho vay này đối với những khách hàng có
tình hình sản xuất kinh doanh tốt, tình hình tài chính lành mạnh và có tín nhiệm cao
đối với Ngân hàng;
Ngoài ra, TDNH còn được phân loại theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp… , theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định), theo mục đích sử dụng vốn (sản
xuất, tiêu dùng… . Việc phân loại tín dụng cho phép các NHTM theo dõi rủi ro và sinh
lợi, gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức và
chính sách mở rộng phù hợp.
1.1.4. Các nguyên tắc tín dụng Ngân hàng
Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo
tính an toàn và khả năng sinh lời. Nhìn chung, hoạt động này phải tuân theo 3 nguyên tắc sau:
+ Thứ nhất: Khách hàng phải cam kết trả cả gốc và lãi cho NH trong một thời gian xác định. Đó là do NH cho vay dựa trên các khoản tiền gửi của khách hàng và bản thân
NH đi vay mượn. Cho nên khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi
như cam kết. Để có thể tồn tại và phát triển, Ngân hàng luôn yêu cầu người vay vốn
phải thực hiện đúng như cam kết trong hợp đồng tín dụng;
+ Thứ hai: Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả thuận với NH, phù hợp theo luật hiện hành. Thông thường, hoạt động tín dụng của NH đươc quy định trong luật nhưng mỗi NH lại có quy định riêng. Mục đích sử dụng
vốn được ghi trong hợp đồng tín dụng đảm bảo, NH không tài trợ cho những hoạt động trái pháp luật và ngoài phạm vi của NH. Nếu khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, khách hàng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước NH và luật pháp;
+ Thứ ba: Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án hoặc dự án) có hiệu quả. Bởi vì chỉ khi hoạt động sử dụng vốn vay NH và mang lại lợi nhuận thì khách hàng mới có khả năng hoàn trả vốn và lãi cho NH. Trong trường hợp thấy phương án hoặc dự án đó
có thể có rủi ro cao, NH yêu cầu khách hàng phải có các hình thức đảm bảo tiền vay.
5
1.2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ - loại hàng hoá đặc
biệt, do vậy nó chứa đựng rất nhiều rủi ro, gây những tổn thất không mong muốn đối với
các NHTM. Những rủi ro mà các NHTM thường gặp phải trong quá trình hoạt động như:
Rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro thanh khoản, rủi ro tồn đọng vốn… Trong đó, hoạt động tín dụng là hoạt động chính và là hoạt động sinh lợi chủ yếu của NH nên rủi ro tín
dụng là một trong những rủi ro không thể tránh khỏi và có thể mang lại những tổn thất
nghiêm trọng đối với NH, thậm chí làm phá sản. Vậy rủi ro tín dụng là gì?
Căn cứ vào Khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng (Ban hành theo
Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN) thì: “Rủi ro
tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong
hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có
khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Cũng theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức
trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài (01/06/2014 mới
có hiệu lực thi hành thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài do khách
hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ
của mình theo cam kết”. Thông tư 02 định nghĩa một cách rõ ràng và cụ thể hơn so với
Quyết định 493, trong đó nhấn mạnh bao gồm cả “chi nhánh Ngân hàng nước ngoài” chứ
không chỉ riêng các tổ chức tín dụng mà Quyết định 493 đã đề cập tới.
Thông thường, khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, Ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất, và Ngân hàng chỉ quyết định
cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên, không phải bao giờ các quyết định cũng là chính xác, phần là do khách hàng, phần là do NH và cũng có thể từ các yếu tố bên ngoài tác động. Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ NH, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là tất yếu khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, chỉ có thể hạn chế chứ không thể loại trừ.
6
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Dựa vào hình thức biểu hiện có thể phân rủi ro tín dụng thành 3 loại sau:
- Rủi ro sai hẹn: Là loại rủi ro khi khách hàng không trả nợ đúng hạn như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Đây là rủi ro ngoài ý muốn chủ quan của khách hàng, họ
có thiện chí trả nợ nhưng tạm thời gặp khó khăn về tài chính dẫn đến chậm trả nợ
cho NH. Rủi ro này được tập trung ở những món vay được NH gia hạn, và đây là dấu hiệu ban đầu của RRTD;
- Rủi ro không thu hồi được nợ: Đó là những khoản vay mà NH có khả năng thu hồi được vốn vay rất thấp, có nguy cơ bị mất vốn. Khách hàng cố tình chiếm dụng vốn
của NH hoặc cũng có thể do doanh nghiệp bị phá sản, NH sẽ tìm mọi cách để thu hồi nhưng thu hồi không được hoặc không đủ. Loại rủi ro này thường tập trung ở
các món vay đã chuyển sang nợ quá hạn, đây là loại rủi ro mà NH và các ngành có
liên quan cần quan tâm nhiều nhất;
- Rủi ro tiềm ẩn: Là loại rủi ro tiềm ẩn trong số dư nợ tưởng chừng như bình thường, tập trung ở những món vay mà quá trình làm thủ tục cho vay cán bộ tín dụng đã
không tuân thủ chặt chẽ quy trình cho vay, không đúng quy chế và những món vay
đã được NH cho vay đảo nợ.
1.2.3. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng tại Việt Nam
Nền kinh tế có nhiều biến động, hoạt động kinh doanh của các NHTM và DN luôn
phải đối mặt với nhiều rủi ro có thể dẫn đến thua lỗ hoặc phá sản nếu không có chính sách
quản lý chặt chẽ và hợp lý. Những rủi ro này xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan và khách quan. Trong đó, rủi ro xuất phát từ người vay và từ chính bản thân NH thì được gọi
là rủi ro do nguyên nhân chủ quan, còn rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh hay các yếu tố tác động từ bên ngoài tới NH thì gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan.
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay:
Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Đa số các DN khi vay vốn NH đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi. Tuy nhiên trong quá trình kinh doanh của mình, không phải lúc nào DN cũng có thể làm ăn có lãi để có thể trả nợ NH, nhất là trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn như hiện tại. Nền kinh tế đi xuống, các DN không bán được hàng, chính vì thế tình trạng trốn nợ hay không có khả năng trả nợ cho NH ngày càng nhiều hơn. Hơn nữa, không ít các DN đã cố tình sử dụng vốn sai
mục đích, cố ý lừa đảo NH để chiếm đoạt tài sản, chính vì thế mà làm tăng rủi ro cho NH.
7
Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi các DN vay tiền NH để mở rộng quy mô
SXKD, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít DN nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo
đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá lớn so với tư duy quản lý là nguyên
nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án SXKD đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành
công trên thực tế.
Tình hình tài chính DN yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ
bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các DN Việt Nam. Ngoài
ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các
DN tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các DN cung cấp
cho NH nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ NH lập các
bảng phân tích tài chính của DN dựa trên số liệu do các DN cung cấp, thường thiếu tính
thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao NH vẫn luôn xem trọng phần tài sản
thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.
+ Rủi ro do các nguyên nhân từ phía Ngân hàng cho vay:
Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ của các Ngân hàng: Kiểm tra nội bộ có điểm
mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát
sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện
thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Nhưng trong thời gian trước đây, công việc
kiểm tra nội bộ của các NH hầu như chỉ tồn tại trên hình thức.
Rủi ro đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tín dụng: Một số vụ án
kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ các NHTM đều có sự tiếp tay
của một số cán bộ tín dụng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ cho vay, hạ chuẩn cho vay
bằng cách nâng giá trị của tài sản thế chấp, cầm cố lên giá quá cao so với thực tế hay bỏ
qua các khâu cơ bản trong quy trình tín dụng để hơp đồng tín dụng được ký kết và tiến tới giải ngân cho khách hàng. Chính vì thế, đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối
quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể rèn luyện, bồi dưỡng thêm về nghiệp vụ và chuyên môn, nhưng một cán bộ có thể giỏi về mặt chuyên môn nhưng lại có những biểu hiện không tốt về mặt đạo đức mà lại được bố trí trong công tác tín dụng thì có thể sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng cho NH.
Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay: Các Ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Khi Ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả.
8
Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này. Điều này
một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ NH, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các DN quá lạc hậu, không cung cấp
được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà các NH yêu cầu.
Sự hợp tác giữa các NH quá lỏng lẻo: Sự hợp tác này phát sinh do nhu cầu quản lý
rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều NH. Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa
của nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều NH cùng cho vay một
khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả các NH
tham gia chứ không riêng một NH nào.
- Nguyên nhân khách quan:
+ Những biến động kinh tế không dự báo được:
Khi nền kinh tế ổn định, tăng trưởng lành mạnh thì nhu cầu đầu tư trong xã hội có
xu hướng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Tuy nhiên khi xuất
hiện những biến động kinh tế như nền kinh tế có dấu hiệu đi xuống kéo theo lạm phát, giá cả tăng ở một số mặt hàng nào đó ảnh hưởng đến một nhóm ngành thì rủi ro tín dụng với
NH là rất lớn. Nhiều người vay có thể thích ứng và vượt qua khó khăn đó, nhưng cũng có
rất nhiều người bị đình trệ hoạt động sản xuất, kinh doanh thua lỗ nên khả năng trả nợ vốn
vay NH không được đảm bảo. Minh chứng rõ nhất chính là hệ thống NHTM Việt Nam bị
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, cuộc khủng hoảng nợ công Châu
Âu và những hệ lụy mà nó để lại vẫn còn cho tới bây giờ.
+ Sự thay đổi trong các chính sách kinh tế, pháp luật:
Sự thiếu nhất quán trong các chính sách kinh tế pháp luật cũng gây ảnh hưởng
không nhỏ tới NH cũng như như các doanh nghiệp có sử dụng vốn vay NH. Hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không ổn định khi có những thay đổi trong quy định về thuế, vốn… cũng như hoạt động tín dụng của NH cũng bị tác động nhiều bởi những văn
bản pháp luật về tài sản đảm bảo, dự trữ, trích lập… Như vậy, các chính sách kinh tế, pháp luật không hoàn chỉnh cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp về khả năng trả nợ, cũng như đe doạ đến sự an toàn của NH trong hoạt động cho vay.
+ Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN:
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra NH và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng. Năng lực cán bộ thanh tra,
giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ
9
mới thì Thanh tra Ngân hàng còn chưa được cập nhật mới. Nội dung và phương pháp
thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đựơc đổi mới. Vai trò kiểm toán chưa được phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu. Thanh tra tại chỗ vẫn là phương
pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu.
Thanh tra NH còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có
khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro và vi phạm.
+ Hệ thống thông tin quản lý:
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về DN và NH.
Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng (CIC - Credit Information Center) của NHNN
hoạt động đã quá một thập niên nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm DN một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật chưa đáp ứng
được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin. Đó cũng là thách thức cho hệ thống NH trong việc
mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông
tin tương xứng. Nếu các NHTM cứ cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu và RRTD
cho hệ thống NHTM Việt Nam.
1.2.4. Tác động của rủi ro tín dụng
- Tác động tới nền kinh tế:
Xét trong nền kinh tế vào thời điểm hiện tại, rủi ro tín dụng đang có ảnh hưởng rất
xấu tới nền kinh tế mà nổi bật là tỷ lệ nợ xấu đang ở ngưỡng cao so với mức độ an toàn,
có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống NH và cho toàn nền kinh tế nói chung. Một số
năm về trước tốc độ tăng trưởng tín dụng quá cao đi đôi với nền kinh tế tăng trưởng mạnh
nhưng nó lại kéo theo lạm phát tăng cao, cũng vào thời điểm đó thì các NH cho vay rất
nhiều vào lĩnh vực có độ rủi ro cao như BĐS, TTCK. Để cho đến thời điểm hiện tại, cùng với sự đi xuống của nền kinh tế nói chung thì không những hệ thống NHTM chưa thể hiện được vai trò cũng như tầm quan trọng của mình thì ngược lại những hệ quả từ sự
tăng trưởng tín dụng quá nóng những năm vừa qua đang ảnh hưởng rất xấu tới nền kinh tế. Doanh nghiệp vẫn chưa tiếp cận được nguồn vốn do mặt bằng lãi suất cao, cho dù cho
bây giờ mặt bằng lãi suất đã giảm mạnh so với vài năm trước, mà kể cả khi các DN vay được vốn thì họ cũng chỉ sản xuất cầm chừng, không đẩy mạnh mở rộng SXKD do lượng hàng tồn kho vẫn còn nhiều và sức mua không cao. Hơn nữa, cũng còn có một lượng vốn
rất lớn của nền kinh tế đang nằm trong các dự án bất động sản, sự bốc hơi một lượng tiền khồng lồ từ thị trường chứng khoán, đó là một sự lãng phí rất lớn cho nền kinh tế mà cho thời điểm hiện tại vẫn chưa có cách giải quyết hợp lý để khơi thông nguồn vốn đó.
10
Mặt khác, các NHTM thường có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, khi một NH
gặp phải rủi ro có nguy cơ phá sản dễ dàng kéo theo tình trạng khủng hoảng của cả hệ thống Ngân hàng, gây mất ổn định thị trường tiền tệ. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế
thị trường như hiện nay, mọi hoạt động thanh toán giao dịch của khách hàng được thực
hiện qua NH, các DN hoạt động chủ yếu nhờ vào vốn NH, khi NH gặp rủi ro lớn làm cản
trở trực tiếp quá trình chu chuyển vốn, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của DN.
- Tác động tới Ngân hàng:
Rủi ro tín dụng xảy ra ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của NH, ảnh
hưởng đến nguồn thu nhập, lợi nhuận NH, thậm chí nhiều NH kinh doanh thaa lỗ trong
một vài năm trở lại đây đã phải lấy vốn tự có của mình để bù đắp các khoản thiếu hụt do
rủi ro gây ra, khi đó khả năng thanh toán cũng như chi trả và cung ứng vốn cho nền kinh
tế của NH sẽ bị giảm sút đáng kể, bên cạnh đó còn làm suy giảm lòng tin của khách hàng,
người gửi tiền cũng muốn rút tiền để tránh rủi ro và người vay cũng sẽ tìm đến một NH
khác khỏe mạnh hơn để vay vốn.
Vì vậy, khi rủi ro ở mức nhỏ Ngân hàng có thể bù đắp bằng lợi nhuận kinh doanh
hoặc lỗ, nhưng rủi ro ở mức độ nghiêm trọng, nguồn vốn tự có của NH không đủ để bù
đắp thiệt hại, tất yếu sẽ dẫn NH đến bờ vực của sự phá sản và ảnh hưởng tới cả hệ thống
các NHTM.
- Tác động tới khách hàng:
Nguồn vốn huy dộng chiếm một phần lớn trong cơ cấu nguồn vốn của NH, vì vậy khi NH gặp rủi ro, nếu nghiêm trọng gây mất khả năng thanh toán thì người chịu thiệt hại
đầu tiên chính là các khách hàng gửi tiền. Nguồn vốn mà NH huy động từ dân cư không
phải là ít, số tiền họ gửi vào NH không phải là nhiều nhưng là số tiền họ tiết kiệm trong
nhiều năm để thực hiện các dự định trong tương lai và chi trả cho cuộc sống hiện tại.
Chính vì vậy khi rủi ro xảy ra sẽ tác động trực tiếp đến cuộc sống thường ngày, làm xáo trộn cuộc sống của các khách hàng gửi tiền, gây mất niềm tin vào hệ thống Ngân hàng và
có thể tạo ra những hệ quả xấu cho xã hội.
Ngoài ra, khi Ngân hàng gặp rủi ro thì khách hàng là doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh có quan hệ tài chính với NH cũng có thể bị mất vốn dẫn đến khó khăn trong sản xuất kinh doanh, gây chậm trễ trong việc thanh toán và ảnh hưởng không tốt đến quan hệ của DN đối với NH. Khi mà DN cần vốn thì họ buộc phải quan hệ với NH khác và phải tốn thêm một khoảng thời gian để thiết lập hồ sơ vay vốn, gây trì hoãn quá trình sản xuất, và nếu rủi ro lớn xảy ra có thể DN sẽ đứng trước nguy cơ phá sản.
11
1.2.5. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Một số dấu hiệu dễ nhận thấy mà các NHTM có thể phát hiện ra đó là khi khách hàng vay phát hành séc quá số dư, khó khăn trong thanh toán lương, số dư của tài khoản
tiền gửi giảm liên tục, xuất hiện các khoản nợ quá hạn, đặt niềm tin nhiều vào các khoản
nợ ngắn hạn, xin gia hạn nợ nhiều lần hoặc đảo nợ nhiều lần, gia tăng nợ thương mại,
thường sử dụng các nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động trung và dài hạn, chấp nhận tài trợ với mức chi phí cao nhất, các khoản phải trả tăng các khoản phải thu giảm, mức độ
vay tăng, thanh toán chậm nợ gốc và lãi, vay lớn hơn nhu cầu…
Ngoài ra, Ngân hàng cũng có thể dựa vào thông tin tài chính kế toán như chuẩn bị
không đầy đủ chậm trễ, trì hoãn nộp các báo cáo tài chính hay từ các báo cáo đó nhận
thấy tỷ lệ nợ tăng, hàng tồn kho tăng, lợi nhuận giảm, khả năng thanh khoản/vốn lưu động
giảm, những thay đổi nhanh chóng của tài sản cố định…
1.2.6. Một số chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng
- Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng:
+ Vòng quay vốn tín dụng:
Doanh số trả n trong Vòng quay vốn tín dụng (lần) = Dƣ n nh quân trong
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, thời gian thu
hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm, phản ánh tần suất sử dụng vốn của NH và là chỉ
tiêu quan trọng xem xét chất lượng tín dụng của NH. Vòng quay càng lớn với số dư nợ
luôn tăng chứng tỏ đồng vốn NH bỏ ra được sử dụng một cách hiệu quả, tiết kiệm chi phí
và tạo ra lợi nhuận cho Ngân hàng.
+ Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ:
N quá hạn Tỷ lệ n quá hạn trên tổng dƣ n (%) = Tổng dƣ n
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì: “Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hay toàn bộ nợ gốc và lãi đã quá hạn”. Nếu tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì mức độ RRTD cho NH càng lớn (Tỷ lệ này dưới 5% có thể coi là an toàn). Việc NQH tăng chứng tỏ khách hàng đang gặp khó khăn trong việc trả nợ là cao, do đó xác suất sau này khách hàng trả nợ cho NH là rất thấp. Mặt khác, tỷ lệ nợ quá hạn cao cũng đồng nghĩa với việc chi phí của NH cũng tăng lên, bao gồm chi phí thực tế và chi phí cơ hội đều tăng. Đây cũng là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng. Chỉ tiêu này càng thấp có nghĩa là
chất lượng tín dụng của NH càng cao và ngược lại, thông thường mỗi NH đều đưa ra một
12
ngưỡng nhất định nhằm đảm bảo hoạt động tín dụng và phòng tránh rủi ro. Nhưng cũng
không thể đánh giá rằng khi chỉ số này vượt quá tiêu chuẩn chung của ngành thì là không tốt, để có thể đánh giá được một cách chính xác hơn về tình hình nợ quá hạn của NH, ta
cần phải đánh giá kèm theo chỉ tiêu vòng quay của các khoản nợ quá hạn này, khả năng
giải quyết các khoản nợ quá hạn. Bởi vì, tỷ lệ nợ quá hạn cao mà khả năng giải quyết nợ
quá hạn hay vòng quay của các khoản nợ quá hạn cao thì khả năng NH gặp rủi ro tín dụng sẽ sất thấp. Và ngược lại, NH sẽ có nguy cơ gặp rủi ro tín dụng là rất lớn.
+ Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ:
N ấu Tỷ lệ n xấu trên tổng dƣ n ( %) = Tổng dƣ n
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì: "Nợ xấu (NPL - Nonperforming Loan) là
các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá
chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng”.
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhằm đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng của NH.
Tổng nợ xấu của ngân hàng bao gồm nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chuyển về nợ
trong hạn, chính vì vậy chỉ tiêu này cho thấy thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại NH, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của NH trong khâu cho vay, đôn đốc
thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thể hiện chất
lượng tín dụng của NH càng kém và ngược lại. Thông thường mỗi NH cũng đều đưa ra
một ngưỡng nhất định nhằm đảm bảo hoạt động tín dụng và phòng tránh rủi ro.
+ Tỷ lệ khách hàng có nợ quá hạn:
ố hách hàng c n quá hạn Tỷ lệ khách hàng có n quá hạn (%) = Tổng số hách hàng c dƣ n
Tỷ lệ này cho biết % số khách hàng có NQH trên tổng số khách hàng có dư nợ. Dỹ nhiên tỷ lệ này càng thấp càng tốt, chứng tỏ NH có nhiều khách hàng uy tín, trả nợ đúng
hẹn, nhưng nếu tỷ lệ này càng cao thì càng nguy hiểm, cho thấy nhiều khách hàng không trả được nợ và nguy cơ mất vốn cũng cao hơn. Nếu tỷ lệ khách hàng có NQH thấp hơn tỷ lệ nợ quá hạn rủi ro theo thời gian, thì dường như các khoản cho vay lớn có vấn đề hơn là các khoản cho vay có món nhỏ.
- Chỉ số phản ánh tình hình tổn thất tín dụng:
+ Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng:
13
Dự ph ng RRTD đƣ c tr ch ập Tỷ lệ trich lập dự phòng RRTD ( %) = Dƣ n cho áo cáo
Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập theo quyết định số “18/2007/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành
theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN”, chỉ số này cho biết bao nhiêu % dư nợ được
trích lập dự phòng. Chỉ số này càng cao cho thấy chất lượng các khoản tín dụng của NH đang tiêu cực và khả năng thu hồi nợ thấp, nó cũng ảnh hưởng tới lợi nhuận của NH khi
chi phí trích lập dự phòng RRTD được chuyển thẳng vào chi phí hoạt động của NH, chính
vi vậy trong thời gian vừa qua không có nhiều NH trích lập dự phòng RRTD đầy đủ nên
nợ quá hạn và nợ xấu tăng lên rất cao, thông thường các NH sẽ trích lập <=5% và tùy
thuộc vào từng giai đoạn. Nếu chỉ số này thấp thì có thể phản ánh chất lượng cải thiện của
các khoản nợ, hoặc có thể do các khoản dự phòng chưa được trích lập đủ theo quy định.
+ Tỷ lệ nợ mất trắng:
N ị mất trắng đ a cho áo cáo Tỷ lệ n mất trắng (%) = Dƣ n trung nh cho áo cáo
Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu % dư nợ được xóa, tức là nợ không thể thu hồi dược
và đã chuyển vào ngoại bảng để NH theo dõi. Tỷ lệ này càng thấp thì càng tốt và thông
thường không được vượt quá 2%, nó chứng tỏ NH vẫn còn có khả năng thu hồi được các
khoản nợ đã quá hạn và nguy cơ mất vốn là chưa đáng lo ngại. Nhưng nếu tỷ lệ này vượt
quá 2%, chứng tỏ NH có nhiều khoản cho vay bị mất trắng, chất lượng tín dụng có vấn đề
và ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
- Chỉ số bù đắp rủi ro cho hoạt động tín dụng:
Đối với các khoản NQH khi dự đoán khó có khả năng thu hồi, các NHTM buộc phải trích lập dự phòng RRTD để bù đắp. Nếu việc trích lập không đủ bù đắp phần tài sản bị rủi ro thì NH phải lấy lợi nhuận thu được trong kỳ để bù đắp. Trong trường hợp nếu cả hai
nguồn đểu không đủ thì nguồn thứ ba sẽ được tính đến, đó là nguồn vốn tự có của NH. Do đó, khi đánh giá và phân tích rủi ro, để đánh giá NH có khả năng bù đắp các khoản cho vay bị mất hay không, chúng ta thường xem xét qua các hệ số khả năng bù đắp các khoản cho vay đã bị mất trắng như sau:
+ Hệ số khả năng bù đắp các khoản cho vay bị mất trắng:
Hệ sô khả năng ù đắp các khoản cho vay bị mất trắng = Dự ph ng RRTD đƣ c trích lập / Dƣ n bị mất trắng
14
Hệ số này <1 tức là NH không có khả năng bù đắp rủi ro từ các khoản trích lập dự
phòng. Một cách khác, bằng cách cộng thêm vào tử số của hệ số trên phần lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong kỳ thì có thể kiểm tra được tất cả các khoản thu nhập
sẵn có đủ để trang trải các khoản cho vay đã bị mất hay không theo chỉ tiêu dưới đây:
+ Hệ số khả năng bù đắp các khoản cho vay bị mất trắng tín dụng được trích lập:
Hệ số khả năng ù đắp các khoản cho vay bị mất trắng tín dụng đƣ c trích lập =
(L i nhuận trƣớc thuế + Dự ph ng RRTD) / Dƣ n bị mất trắng
- Chỉ số an toàn vốn tối thiểu - Capital Adequacy Ratio – CAR:
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của NH. Nó được tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản có rủi ro của NH
(bao gồm cả nội và ngọai bảng).
Vốn cấp I Vốn cấp II CAR (%) = Tổng tài sản c rủi ro
Tỷ lệ này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của NH và
tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu. Bằng tỷ lệ này người
ta có thể xác định được khả năng của NH thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt
với các loại rủi ro khác như RRTD, rủi ro vận hành. Chính vì lý do trên, các nhà quản lý
NH các nước luôn xác định rõ và giám sát các NH phải duy trì một tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu, giống như chuẩn mực Basel mà các hệ thống NH trên thế giới áp dụng phổ biến.
Theo quy định mới về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu tại Điều 4 Mục 1 của Thông tư số
13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín
dụng ban hành ngày 20/05/2010: “Tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh Ngân hàng nước ngoài,
phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro
của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ ”.
- Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động – Loan to Deposit Ratio – LDR
Trước hết rằng tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động là một trong những tỷ
lệ an toàn được nhiều nước trên thế giới sử dụng khá phổ biến.
Chỉ tiêu này phản ánh NH cho vay được bao nhiêu so với nguồn vốn huy động, nó còn nói lên hiệu quả sử dụng vốn huy động của NH, thể hiện NH đã chủ động trong việc tích cực tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy động hay chưa.
Tổng dƣ n LDR (%) = Tổng nguồn vốn huy động
15
Khi tỷ lệ LDR tăng đến mức tương đối cao, xu hướng sẽ là ít muốn cho vay và đầu
tư. Hơn nữa, họ sẽ thận trọng khi tỷ lệ LDR tăng lên và đòi hỏi phải thắt chặt tín dụng, do đó, lãi suất có chiều hướng tăng lên. Mặc dù một tỉ lệ LDR cao chưa bao giờ được lượng
hóa, nhưng nó là một nhân tố ảnh hưởng đến các quyết định về đầu tư và cho vay. Việc sử
dụng mối quan hệ giữa cho vay và tiền gửi như một thước đo về thanh khoản dựa trên tiền
đề cho rằng tín dụng là tài sản kém linh hoạt nhất trong số các tài sản sinh lời của NH. Vì thế, khi tỷ lệ LDR tăng thì tính thanh khoản của NH giảm đi một cách tương ứng.
1.3. Một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thƣơng mại
1.3.1. Xây dựng chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng xác định những giới hạn áp dụng cho các hoạt động tín dụng,
đồng thời cũng thiết lập môi trường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động tín dụng. Chính
sách tín dụng được đưa ra nhằm bảo đảm rằng mỗi quyết định tín dụng (quyết định tài trợ
vốn đều khách quan, tuân thủ quy định của NHNN và phù hợp thông lệ chung của quốc tế.
Chính sách tín dụng của các NHTM phải thực hiện trên ba mục tiêu cơ bản: Lợi
nhuận, an toàn và minh bạch. Ngoài ra, chính sách tín dụng của NH khi thực hiên cũng
phải dựa trên những tiêu chí nhất định như quyền tự chủ của NH, đối tượng khách hàng,
điều kiện vay vốn, quy định về trả nợ gốc và lãi vay, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ - chuyển nợ
quá hạn, căn cứ xác định lãi suất cho vay - lãi suất ưu đãi - lãi suất quá hạn, căn cứ xác
định thời hạn và thể loại cho vay…
Chẳng hạn như với đối tượng khách hàng hay điều kiện vay vốn thì không phải
khách hàng nào cũng được vay vốn của NH, muốn vay vốn của NH thì khách hàng phải
đáp ứng những điều kiện nhất định và phải qua một quy trình tín dụng chặt chẽ mà NH
đặt ra qua đó tránh được rủi ro đối với những khách hàng cố tình lừa đảo, chiếm đoạt tài
sản của Ngân hàng.
Với quy định về trả nợ gốc, lãi vay hay xác định lãi suất cho vay - lãi suất ưu đãi - lãi suất quá hạn, căn cứ xác định thời hạn và thể loại cho vay thì NH có thể xác đinh một
cách khá chính xác dòng tiền của mình, đảm bảo các hoạt động kinh doanh - đầu tư, lên kế hoạch đốc thúc khách hàng trả nợ đúng hạn, nếu không sẽ áp dụng mức phạt theo quy định của NH qua đó có thể tránh được rủi ro không thu hồi được nợ đúng hạn.
Hay với nội dung “điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và chuyển nợ quá hạn”, đây là một trong những biện pháp mà NH đưa ra nhằm thu hồi nợ của mình, có thể khách hàng vay vốn hoạt động kinh doanh hiệu quả, nhưng trong quá trình kinh doanh của mình khách hàng
không tính toán đúng dòng tiền của mình hay nền kinh tế đang khó khăn nên khách hàng
không thể trả nợ đúng hạn. Chính vì vậy, Ngân hàng cho khách hàng thêm thời gian bằng
16
cách điều chỉnh kỳ hạn trả nợ - chuyển nợ quá hạn đề cỏ thể trả nợ cho NH đúng hạn,
nhằm hạn chế đến mức thấp nhất khả năng không thu hồi được nợ từ khách hàng.
Có thể nói chính sách tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh
của NH. Khi Ngân hàng xây dựng và thực hiện đúng chính sách tín dụng mà NH đặt ra thì
trước tiên các hoạt động tín dụng của Ngân hàng được thực hiện một cách thống nhất và
bài bản tạo hiệu quả cao trong công tác tín dụng của NH. Từ cơ sở đó, Ngân hàng có thể kiểm soát được một cách chặt chẽ các hoạt động tín dụng của mình qua đó có thể nhận
biết và phòng tránh được các rủi ro có thể xảy ra đối với Ngân hàng.
1.3.2. Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
Đây tuy không phải là điểm mới trong Thông tư 02 so với Quyết định 493 của
NHNN nhưng trong thông tư 02 đã nêu một cách chi tiết và cụ thể hơn rất nhiều về định
nghía, các nguyên tắc cũng như các điều kiện ràng buộc đối với Tổ chức tín dụng và chi
nhánh NH nước ngoài mà Quyết định 493 chưa đề cập tới, chứng tỏ tầm quan trọng của
công tác XHTD trong việc phòng tránh rui ro tín dụng. Theo thông tư 02 thì định nghĩa:
”Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là hệ thống gồm các bộ chỉ tiêu tài chính, các quy
trình đánh giá khách hàng trên cơ sở định tính và định lượng về mặt tài chính, tình hình
kinh doanh, quản trị, uy tín của khách hàng. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phải được
xây dựng cho từng đối tượng khách hàng khác nhau, kể cả các đối tượng bị hạn chế cấp
tín dụng và những người có liên quan của đối tượng này”.
Căn cứ vào kết quả XHTD, Ngân hàng có thể từ chối cho vay với những khách hàng
có mức điểm thấp, dành nhiều thời gian, nhân lực để tiếp tục thẩm định các khách hàng
vay đạt mức điểm yêu cầu. Vì thế, sử dụng XHTD nội bộ sẽ tiết kiệm được thời gian,
công sức, giảm bớt sự can thiệp từ con người và mang lại lợi ích cho cả Ngân hàng và
khách hàng. Mặt khác XHTD nội bộ còn là căn cứ để NH đưa ra các quyết định cấp tín
dụng mới, bổ sung cho các khách hàng tốt hay “cảnh báo sớm” để có biện pháp kịp thời đối với các khách hàng có hạng tín nhiệm thấp.
Xếp hạng tín dụng nội bộ còn tạo thêm một căn cứ độc lập để NH đánh giá về hiệu quả quá trình phòng tránh rủi ro của các bộ phận có liên quan, bảo đảm chức năng cấp tín dụng được quản lý phù hợp, các tài sản có rủi ro tín dụng nằm trong các giới hạn thống nhất với các tiêu chuẩn thận trọng và các giới hạn nội bộ, phát hiện sớm các khoản tín dụng xấu, các khoản tín dụng có vấn đề.
Với vai trò phát hiện và phòng tránh rủi ro tín dụng, XHTD nội bộ giúp thu thập, quản lý, khai thác, phân tích thông tin. Trên thực tế, thách thức lớn nhất đối với các
NHTM hiện nay chính là việc thu thập và phân loại thông tin chính xác, chi tiết về người
17
vay, về các đặc điểm của các loại hình rủi ro (loại sản phẩm - ngành kinh tế - khu vực địa
lý khác nhau… và kết quả của đầu tư tín dụng vào các loại hình rủi ro đó. HTD nội bộ vốn đòi hỏi rất nhiều thông tin đầu vào để vận hành, cũng như tạo ra nhiều thông tin đầu
ra có giá trị. Điều này sẽ tạo ra động lực để NH đầu tư vào hạ tầng công nghệ, hệ thống
hóa, lưu giữ và tích lũy dần các thông tin cần thiết. Đối tượng áp dụng XHTD gồm: Các
định chế tài chính - doanh nghiệp SXKD - khách hàng bán lẻ. Việc xếp hạng các khách hàng này đòi hỏi một khối lượng thông tin lớn và toàn diện. Vì vậy, triển khai xây dựng
hệ thống thông tin đầy đủ, sẽ giúp các NHTM dần chuẩn hóa và tích lũy kho dữ liệu về
khách hàng theo thời gian, giúp phát hiện và phòng ngừa rủi ro tín dụng hiệu quả hơn.
1.3.3. Phân t ch t n dụng và ác định mức độ rủi ro t n dụng
Thực hiên phân tích tín dụng một cách đầy đủ và toàn diện nhằm đánh giá khách
hàng và tính hiệu quả của dự án trước khi cho khách hàng vay.
Việc phân tích, thẩm định tín dụng được thực hiện trong và sau khi cho vay. Đó là
yêu cầu bắt buộc đối với mỗi khoản vay nhằm đảm bảo tính chính xác, tính kinh tế của
đồng vốn tín dụng đến được đúng đối tượng sử dụng vốn hiệu quả. Quá trình này chỉ
chấm dứt khi khoản vay được hoàn trả đúng thời han và đầy đủ. Công tác này có vai trò
quyết định trong việc khoản vay có sinh lời hay không, qua đó đảm bảo chu kỳ đồng vốn
của NH từ huy động đến cho vay và thu nợ, hoặc có đảm bảo được mục đích kinh doanh
của NH hay không. Bên cạnh đó, từ việc phân tích và xác định được mức độ RRTD từ các khoản cho vay của NH thì NH có thể đánh giá và xử lý được sớm những rủi ro hiện diện
và những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong các khoản vay, nhất là các khoản vay trung và
dài hạn qua đó nâng cao chất lượng tín dụng cũng như hiệu quả hoạt động cho NH.
1.3.4. Thực hiện đầy đủ khâu bảo đảm tín dụng
Khi thực hiện một hoạt động tài trợ về vốn, các Ngân hàng phải phân tích các yếu tố
của người vay sao cho độ an toàn của khoản tín dụng là cao nhất. Tuy nhiên việc dự đoán chính xác các vấn đề xảy ra là không thể tuyệt đối, buộc các NH phải áp dụng các biện
pháp đảm bảo hoạt động tín dụng nhằm thu hồi vốn triệt để. Tài sản đảm bảo được coi là biện pháp an toàn của việc cấp tín dụng, không phải là nguồn trả nợ mà là nguồn để xử lý các khoản nợ khi không thể thu hồi được.
Các yêu cầu TSĐB của NH với mục đích lớn nhất là nhằm hạn chế rủi ro trong trường hợp khách hàng không thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng vay vốn về
việc thanh toán gốc và lãi khi đến hạn và tạo căn cứ pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho vay. Tuy nhiên việc thực hiên hình thức bảo đảm tiền vay nào là phụ thuộc vào tình
hình của khách hàng và của bản thân NH cho vay.
18
1.3.5. Thực hiện tốt quy trình giám sát tín dụng
Cán bộ tín dụng phải theo sát quá trình sử dụng vốn của khách hàng có đúng mục đích không và để kiểm tra việc bảo quản vật tư hàng hóa hình thành từ vốn vay, tình hình
TSĐB, tiến độ thực hiện dự án… có thực hiện đúng theo hợp đồng hay không. Hơn nữa,
mục đích của việc giám sát tín dụng là để phát hiện ra những rủi ro tiềm ẩn, giúp cho
Ngân hàng phát hiện và xử lý kịp thời những khoản nợ có vấn đề, qua đó có thể hạn chế được những rủi ro không cần thiết.
1.3.6. Phân tán rủi ro tín dụng
Để có thể phân tán được rủi ro thì trước tiên Ngân hàng cần phải xác định được các
giới hạn cho vay cũng như tuân thủ đúng các quy định, quy trình trong cho vay, phải dựa
trên những đánh giá về TSĐB làm căn cứ cho vay, thực hiện đồng bộ với các chỉ tiêu an
toàn vốn tối thiểu trong hoạt động kinh doanh và yêu cầu khách hàng phải mua bảo hiểm
cho các tài sản hình thành từ vốn vay và TSĐB. Bên cạnh đó, Ngân hàng không nên tập
trung cho vay quá nhiều vào một loại đối tượng, một ngành, một địa bàn… mà NH cần
phải đa dạng hoá danh mục cho vay nhằm mục đích đa dạng hoá rủi ro, tăng cường khả
năng xử lý linh hoạt các tình huống có thể xảy ra. Đồng thời, NH cũng cần phải sử dụng
nghiệp vụ cho vay hợp vốn nhằm mục đích san sẻ rủi ro cho các đơn vị khác.
1.3.7. Xử lý hiệu quả n quá hạn
Để có thể xử lý được nợ quá hạn nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra đối với NH thì trước hết chính các NH cần phải ý thức được rằng những khoản nợ quá
hạn là những khoản nợ vay có vấn đề, chính vì vậy phải có những quyết định kịp thời,
hoặc là tiếp tục gia hạn nợ nếu đánh giá người vay vẫn còn khả năng trả nợ, hoặc là thanh
lý, thu hồi khoản nợ trước hạn nếu thấy khách hàng không có khả năng trả nợ. Ngân hàng
cần phải có những đánh giá, phân tích chính xác để có thể đưa ra quyết định sớm nhất có
thể nhằm giảm thiểu tới mức thấp nhất nợ quá hạn.
1.3.8. Sử dụng các công cụ phái sinh
Các công cụ phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ tài chính đã có, đây là biện pháp hạn chế rủi ro rất hữu hiệu của NH, nó không những có thể hạn chế được rủi ro mà còn có thể bảo vệ và mang lại lợi nhuận cho NH, giá trị của các công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỷ giá, giá trị cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất… Khi sử dụng các công cụ này cho mục đích giảm thiểu rủi ro thì NH cần phải có các đánh giá, phân tích và tính toán một cách chính xác về thị trường
và công cụ mà mình sử dụng, nếu không thì chính các công cụ này sẽ đem lại rủi ro cho
19
chính bản thân các Ngân hàng. Các công cụ phái sinh bao gồm các hợp đồng kỳ hạn,
tương lai, quyền chọn và hoán đổi.
Các công cụ phái sinh này đều có điểm chung là cho phép NH muốn làm giảm rủi ro
của NH bằng cách chuyển giao rủi ro sang cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó là
những nhà đầu cơ khác. Các công cụ phái sinh nhằm phân tán rủi ro tín dụng cho NH là
các dạng hợp đồng chuyển giao RRTD từ bản thân NH sang một NH khác hay một nhà đầu cơ khác sẵn sàng mua nó. Rủi ro tín dụng ở đây được bóc tách ra khỏi gốc tài sản để
phái sinh ra nó (Ví dụ: Như các khoản tín dụng, các công cụ nợ như trái phiếu hay các
giấy tờ có giá khác được mua bán trên thị trường tài chính để trở thành gốc phái sinh
tham chiếu có thể trao đồi. Các công cụ phái sinh này trở thành một công cụ hữu hiệu để
các chủ thể tham gia thị trường thực hiện bảo hiểm hoặc đầu cơ rủi ro tín dụng, đây cũng
là cơ hội lớn cho các NHTM đầu tư trong việc gia công chế biến tín dụng thành các sản
phẩm cơ cấu và phức hợp đáp ứng nhu cầu đa dạng của các chủ thể trên thị trường. Hơn
nữa, một ưu điểm nữa khi sử dụng các công cụ phái sinh nhằm hạn chế RRTD đó là: Thị
trường các công cụ phái sinh không hề tạo ra mà cũng chẳng thể phá hủy được tài sản,
chúng chỉ là những phương tiện chuyển giao rủi ro trên thị trường, những rủi ro sẵn có
của thị trường tài sản, chuyển nhượng khoản rủi ro đó từ những người không đủ khă năng
chấp nhận nó sang những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó chính là những nhà đầu cơ.
Các công cụ tài chính phái sinh phát triển mạnh mẽ và được sử dụng rộng rãi tại các thị trường tài chính lớn trên thế giới, là công cụ hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro, bao gồm
cả RRTD. Nhưng tại Việt Nam, do thị trường tài chính chưa phát triển và các cơ sở pháp
lý điều chỉnh thị trường này vẫn còn hạn chế và đơn lẻ, các giao dịch còn hạn chế về số
lượng và giá trị giao dịch, nó chưa chúng tỏ được nhiều vai trò của mình trong công tác
phòng ngừa RRTD tại mỗi Ngân hàng. Hơn nữa, mức độ rủi ro mà nó đem lại cũng không
phải là ít nếu NH dự đoán, phân tích sai hoặc do sự biến động quá lớn của thị trường.
Chính vì vậy, trên cơ sở các hoạt động tín dụng và hoạt động kinh doanh của mình, mỗi NH cần phải đưa ra các chính sách sử dụng các công cụ phái sinh hợp lý và hiệu quả dựa
trên những phân tích và đánh giá về tình hình biến động của thị trường tài chính. Đây là một trong những biện pháp quản lý cấp cao trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
1.3.9. Lƣ ng hóa rủi ro tín dụng
HIện tại, một số NH đã và đang sử dụng mô hình cho điểm để lượng hoá rủi ro tín dụng người vay. Mô hình cho điểm tín dụng có ưu điểm so với phương pháp truyền thống ở chỗ là nó cho phép xử lý nhanh chóng một khối lượng lớn các đơn xin vay, với chi phí
thấp, khách quan, do đó góp phần tích cực trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng NH. Các
20
mô hình cho điểm tín dụng sử dụng các số liệu phản ánh những đặc điểm của người vay
để lượng hoá xác suất vỡ nợ cũng như phân loại người thành các nhóm có mức độ rủi ro khác nhau. Để sử dụng các mô hình này, nhà quản lý phải xác định các tiêu chí về kinh tế
và tài chính liên quan đến rủi ro tín dụng đối với từng nhóm khách hàng cụ thể. Đối với
tín dụng tiêu dùng, các tiêu chí đó có thể là thu nhập, tài sản, tuổi tác, giới tính… Đối với
tín dụng công ty thì các chỉ tiêu tài chính thường là các chỉ tiêu chủ yếu. Sau khi tiêu chí đã được xác định, kỹ thuật thống kê sẽ được sử dụng để lượng hoá xác suất rủi ro tín dụng
hoặc để phân loại rủi ro tín dụng. Sau đây là một số mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng
cơ bản thường được sử dụng.
- Mô hình điểm số Z:
Mô hình điểm số Z do E.I.Altman hình thành để cho điểm tín dụng đối với các công
ty sản xuất của Mỹ. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với
người vay và phụ thuộc vào:
+ Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xj);
+ Tầm quan trọng của các trị số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay
(trọng số).
Từ đó, Altman đi đến mô hình cho điểm như sau:
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Trong đó:
+ X1 = tỷ số vốn lưu động ròng/tổng tài sản;
+ X2 = tỷ số lợi nhuận giữ lại/tổng tài sản;
+ X3 = tỷ số lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản;
+ X4 = tỷ số thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn;
+ X5 = tỷ số doanh thu/tổng tài sản.
Trị số Z càng cao thì người vay cao xác suất vỡ nợ càng thấp. Như vậy, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao. Theo Altman, bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao và NH chỉ cấp tín dụng khi điểm số Z được cải thiện.
Tuy nhiên, mô hình này có những hạn chế là chỉ phân biệt được khách hàng thành
hai nhóm vỡ nợ và không vỡ nợ. Trong thực tế, vỡ nợ được phân thành nhiều loại, từ không trả hay chậm trễ trong việc trả tiền vay đến không trả. Như vậy, cần có một mô
hình chính xác hơn, với nhiều thang điểm khác nhau để phân loại khách hàng thành nhiều
21
nhóm. Hơn nữa, mô hình này không tính tới một số nhân tố quan trọng nhưng khó lượng
hoá, nhưng lại ảnh hưởng đáng kể đến mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng như danh tiếng, mối quan hệ truyền thống hay yếu tố vĩ mô như chu kỳ kinh tế, chu kỳ kinh doanh.
- Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
Ngoài các biện pháp trên mà các NH hay sử dụng để phòng tránh và lượng hóa rủi
ro tín dụng thì hiên nay cũng có nhiều NH trên thế giới và tại Việt Nam sử dụng phương pháp cho điểm để lượng hoá rủi ro tín dụng trong việc xử lý các đơn xin vay của người
tiêu dùng (Trong phần 1.3.2 ở trên có đề cập tới hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ,
nhưng áp dụng cho tất cả các khách hàng của Ngân hàng, còn trong phần này sẽ trình
bày một cách cụ thể đối với khách hàng cá nhân có nhu cầu vay vốn cho mục đích tiêu
dùng). Nhiều khách hàng ưa thích sự thuận tiện và nhanh chóng khi những yêu cầu tín
dụng của họ được xử lý bằng hệ thống cho điểm tự động. Thông thường, khách hàng có
thể gọi điện thoại đến NH để xin vay, thông qua hệ thống máy tính nối mạng và có kết
quả tín dụng sau vài phút.
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình cho điểm tín
dụng tiêu dùng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thộc, sở
hữu nhà, thu nhập, tài khoản… Mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng thường sử dụng từ 7
đến 12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1 đến 10 tương ứng với tình trạng
người xin vay. Tổng điểm ở tất cả các hạng mục của khách hàng đó là tiêu chí để xếp hạng mức độ rủi ro cao hay thấp và từ đó có quyết định cho vay hay không?
Rõ ràng là mô hình điểm số đã loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong quá trình
cho vay và giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của NH. Tuy nhiên mô hình này
cũng có nhược điểm như không điều chỉnh linh hoạt thích ứng với những thay đổi trong
nền kinh tế.
Kết luận chƣơng 1
Nội dung của chương 1 đã trình bày lý thuyết tổng quan về tín dụng, RRTD trong
hoạt động kinh doanh của các NHTM, đồng thời nêu ra một số biện pháp phòng tránh RRTD cũng như một số mô hình lượng hóa RRTD trên thế giới, nhằm làm cơ sở lý luận phục vụ cho việc phân tích đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng và RRTD tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng ở chương 2 tiếp theo.
22
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƢƠNG
VIỆT NAM - CHI NHÁNH HAI BÀ TRƢNG
2.1. Giới thiệu về Chi nhánh Ngân hàng Công thƣơng Hai Bà Trƣng – Hà Nội
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Công Thương Việt Nam Vietinbank được thành lập từ năm 1988 trên cơ sở tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Nghị định số: 53/HĐBT ngày
26/03/1998 của Hội Đồng Bộ Trưởng. Trải qua quá trình 25 năm hình thành và phát triển,
Ngân hàng Công thương Việt Nam đã khẳng định được vị thế và vai trò của mình trong
ngành Ngân hàng Việt Nam cũng như đóng góp một phần lớn vào công cuộc xây dựng và
đổi mới đất nước trong hơn hai thập kỷ qua. Hiện tại, NHCT Việt Nam là một trong
những NHTM lớn nhất Việt Nam cả về quy mô vốn cũng như tổng tài sản. Tính đến hết
năm 2012, tổng tài sản của NHCT Việt Nam là 503,5 nghìn tỷ đồng và vốn điều lệ đạt
26,218 nghìn tỷ đồng (theo Báo cáo thường niên NHCT Việt Nam năm 2012), bên cạnh
đó thì NHCT Việt Nam còn có hệ thống mạng lưới trải rộng với 01 sở giao dịch, 150 chi
nhánh và trên 1000 phòng giao dịch - quỹ tiết kiệm trên toàn quốc.
Ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng là một chi nhánh của NHCT Việt Nam. Ban
đầu, sau khi thực hiện Nghị định số: 53/HĐBT ngày 26/03/1998 của Hội Đồng Bộ
Trưởng về tổ chức bộ máy NHNN VIệt Nam chuyển sang cơ chế Ngân hàng hai cấp, từ một Chi nhánh NHNN cấp Quận và một Chi nhánh Ngân hàng kinh tế cấp Quận thuộc địa
bàn Quận Hai Bà Trưng, trực thuộc NHNN Thành phố Hà Nội chuyển thành NHCT
Thàng phố Hà Nội thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam. Tại quyết định số:
93/NHCT-TCCB ngày 01/04/1993 của Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt
Nam sắp xếp lại bộ máy tổ chức NHCT trên địa bàn Hà nội theo mô hình quản lý hai cấp của NHCT Việt Nam, bỏ cấp Thành phố, hai Chi nhánh NHCT khu vực I và khu vực II Hai Bà Trưng là những Chi nhánh trực thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam được tổ
chức hạch toán kinh tế và hoạt động như các Chi nhánh NHCT cấp Tỉnh, Thành phố.
Kể từ ngày 01/09/1993, theo Quyết định của Tổng giám đốc NHCT Việt Nam, sáp nhập chi nhánh NHCT khu vực I và Chi nhánh NHCT khu vực II Hai Bà Trưng. Như vậy, kể từ ngày 01/09/1993 trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng Hà Nội) chỉ còn duy nhất một
Chi nhánh NHCT, và tại QĐ số: 107/QĐ-HĐQT-NHCT1 ngày 22 tháng 03 năm 2007 của Hội đồng quản trị NHCT1, Chi nhánh NHCT - khu vực II Hai Bà Trưng được đổi tên
thành Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng.
23
Hiện tại, Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng có trụ sở tại 285 Trần
Khát Chân – Hai Bà Trưng – Hà Nội với 11 phòng giao dịch và 02 quỹ tiết kiệm trải rộng trên địa bàn Quận và vùng phụ cận. Với lợi thế nằm trong một quận nội thành có diện tích
lớn và kinh tế phát triển và năng động nhất ở Hà Nội, nơi tập trung nhiều doanh nghiệp và
các khu công nghiệp lớn của Thủ đô hoạt động SXKD trên nhiều lĩnh vực cũng như
ngành nghề khác nhau, bên cạnh đó là mật độ cũng như trình độ dân trí cao đã tạo cho NHCT Hai Bà Trưng rất nhiều lợi thế trong kinh doanh, phát triển mở rộng mạng lưới
cũng như đóng góp vào sự phát triển chung trên địa bàn Quận và Thủ đô.
Tuy nhiên do sức ép cạnh tranh từ các NH trên cùng địa bàn cũng như bị ảnh hưởng
chung từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
thì NHCT Hai Bà Trưng đã gặp nhiều khó khăn, thử thánh. Nhưng với sự quyết tâm của
Ban giám đốc cũng như toàn thể nhân viên thì NHCT Hai Bà Trưng đã vượt qua những
khó khăn trước mắt, khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế mở cửa,
đứng vững và phát triển trong cơ chế mới, chủ động mở rộng mạng lưới giao dịch, đa
dạng hóa các dịch vụ kinh doanh tiền tệ. Mặt khác, Ngân hàng còn thường xuyên tăng
cường công tác huy động và sử dụng vốn, thay đổi cơ cấu đầu tư phục vụ phát triển kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức – bộ máy hoạt động của NHCT Hai Bà Trƣng
NHCT Hai Bà Trưng có hơn 200 cán bộ công nhân viên làm việc tại Chi nhánh, các phòng giao dịch và các quỹ tiết kiệm, Ngân hàng hoạt động dưới sự điều hành của một
Ban lãnh đạo gồm một giám đốc, bốn phó giám đốc phụ trách các mảng công việc khác
nhau và tám phòng ban được sắp xếp như sau:
ơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của NHCT Hai Bà Trƣng
Ban giám đốc
Khối kinh doanh Khối tác nghiệp Khối hỗ trợ Khối quản lý rủi ro
P.Khách hàng doanh nghiệp P.Kế toán giao dịch P.Tổ chức hành chính P.Quản lý rủi ro và nợ có vấn đề
P.Khách hàng cá nhân P.Tiền tệ kho quỹ P.Thông tin điện toán
Phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm (Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)
24
Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban:
- Ban giám đốc:
Bao gồm các giám đốc và phố giám đốc, điều hành chung mọi hoạt động kinh doanh
của chi nhánh NHCT, chịu trách nhiệm trước NHCT Hai Bà Trưng và cơ quan pháp luật.
- Phòng khách hàng doanh nghiệp:
Đối tượng khách hàng chính của phòng khách hàng doanh nghiệp là các tổ chức,
doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ có nhu cầu về tín dụng. Chức năng chủ yếu là trực tiếp tìm
kiếm, tiếp thị và tư vấn, hỗ trợ, chăm sóc khách hàng, kết hợp cùng các bộ phận liên quan
cung cấp trọn gói các sản phẩm - dịch vụ cũng như kết hợp bán chéo các sản phẩm - dịch
vụ Ngân hàng. Phòng khách hàng DN quản lý, khai thác hồ sơ, thông tin khách hàng nhằm tối đa hóa lợi ích cho Ngân hàng cũng như mở rộng thị phần của Chi nhánh, làm
đầu mối tiếp thị, tư vấn và giải quyết những vướng mắc phát sinh liên quan đến các sản
phẩm dịch vụ tài trợ thương mại cho các khách hàng. Phòng khách hàng DN cũng quản
lý, tổng hợp, giảm sát toàn bộ hoạt động kinh doanh và nghiên cứu, đề xuất cải tiến sản
phẩm, dịch vụ hiện có và phát triển sản phẩm, dịch vụ mới cho khách hàng… Ngoài ra.
phòng còn thực hiện các nghiệp vụ về thanh toán xuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ,
các nghiệp vụ thanh toán, phát hành và sửa đổi thư tín dụng - L/C.
- Phòng khách hàng cá nhân:
Đối tượng chủ yếu là các khách hàng cá nhân, dân cư, hộ gia đình. Chức năng chính
của phòng khách hàng cá nhân là giao dịch trực tiếp với khách hàng cá nhân để huy động
vốn bằng VNĐ và ngoại tệ, xử lý các nghiệp vụ liên quan đến cho vay cá nhân. Ngoài ra phòng khách hàng cá nhân cũng quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp, xây dựng và vận
dụng chính sách lãi suất phù hợp cho khách hàng.
- Phòng quản lý rủi ro và nợ có vấn đề:
Phòng quản lý rủi ro và nợ có vấn đề có chức năng chính là thẩm định và đề xuất quyết định tín dụng cho khách hàng có quan hệ tín dụng với chi nhánh NH. Cùng các
phòng khách hàng, phòng giao dịch quản lý xử lý thu hồi các khoản nợ xấu, nợ xử lý rủi ro, xử lý tài sản đảm bảo tiền vay, nghiên cứu đề xuất các biện pháp, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả công tác thẩm định, quản lý rủi ro, quản lý nợ có vấn đề. Phòng quản lý rủi ro và nợ có vấn đề cũng thực hiện chức nằng tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình
hoạt động kinh doanh của Chi nhánh, lưu trữ số liệu hoạt động chung toàn Chi nhánh theo quy định của NHNN và NHCT Việt Nam. Ngoài ra, phòng cũng thực hiện công tác hậu
kiểm theo quy định của NHCT Việt Nam trong từng thời kỳ nhất định.
25
- Phòng kế toán giao dịch:
Phòng kế toán giao dịch có nhiệm vụ giao dịch trực tiếp với khách hàng liên quan tới các nhiệm vụ về thanh toán, xử lý hạch toán các nghiệp vụ theo quy định của NHNN
và NHCT Việt Nam. Phòng cũng có chức năng quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ
thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt, thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách
hàng về sử dụng các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng.
- Phòng tiền tệ kho quỹ:
Phòng tiền tệ kho quỹ có chức năng chính là phòng quản lý an toàn kho quỹ, quản lý
tiền mặt theo quy định của NHNN và NHCT Việt Nam. Phòng cũng thực hiện nhiệm vụ
cung ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy dịch vụ, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có nhu cầu thu - chi tiền mặt lớn.
- Phòng tổ chức hành chính:
Phòng tổ chức hành chính là phòng nghiệp vụ thực hiện các công tác tổ chức cán bộ
và đào tạo tại Chi nhánh theo đúng chủ trương - chính sách của NHNN và quy định của
NHCT Việt Nam. Phòng cũng thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động
kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện các công tác bảo vệ, an ninh cho Chi nhánh NH.
- Phòng thông tin điện toán:
Phòng thông tin điện toán có nhiệm vụ thực hiện các công tác quản lý, duy trì hệ
thống thông tin điện toán tại chi nhánh. Phòng cũng có chức năng bảo trì - bảo dưỡng
thiết bị công nghệ thông tin để đảm bảo thông suốt các hoạt động hệ thống mạng của Chi
nhánh NH, tập hợp số liệu phát sinh trong ngày, xử lý và lập các báo cáo hạch toán.
- Phòng giao dịch:
Phòng giao dịch có chức năng thực hiện các nhiệm vụ chính như huy động vốn, tín
dụng, cung cấp các dịch vụ NH và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định. Phòng cũng có nhiệm vụ quản lý toàn bộ tiền mặt, tài sản quỹ, giấy tờ có giá, ấn chỉ quan trọng,
hồ sơ TSĐB theo phân cấp, ủy quyền tại phòng giao dịch, và đảm bảo an toàn kho quỹ của phòng giao dịch tai nơi giao dịch, trên đường vận chuyển cũng như kho bảo quản.
- Quỹ tiết kiệm:
Quỹ tiết kiệm có chức năng chính là huy động tiền gửi tiết kiệm, phát hành và chiết khấu giấy tờ có giá do NHCT VIệt Nam và NHCT Hai Bà Trưng phát hành, dịch vụ đại lý chi trả kiều hối cũng như cung cấp các dịch vụ chuyển tiền trong nước và quốc tế.
26
2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh Ngân hàng Công thƣơng Hai
Bà Trƣng – Hà Nội
Trong những năm vừa qua, nhất là trong giai đoạn vài năm trở lại đây, nền kinh tế
gặp nhiều khó khăn, nhưng NHCT Hai Bà Trưng đã tận dụng những lợi thế của mình
cũng như khắc phục khó khăn để hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Với mục tiêu không
ngừng hỗ trợ các thành phần kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Ngân hàng đã liên tục khai thác các nguồn vốn, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, mở rộng và
nâng cấp mạng lưới, mở rộng đầu tư tín dụng, đặc biệt đầu tư cho vay các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh. Ngoài ra, Ngân hàng cũng không ngừng mở rộng các loại hình dịch vụ
Ngân hàng hiện đại, khai thác nguồn ngoại tệ, đáp ứng đầy đủ kịp thời các nhu cầu xuất -
nhập khẩu, thanh toán ngoại tệ đối với các doanh nghiệp và khách hàng trên địa bàn Hà
Nội. Sau đây là tình hình hoạt động kinh doanh cụ thể của NHCT Hai Bà Trưng trong 3
năm vừa qua.
2.2.1. Huy động vốn
Do xác định được ý nghĩa và tầm quan trọng của nguồn vốn nên NHCT Hai Bà
Trưng đã chủ động xây dựng chiến lược huy động vốn và đề ra những biện pháp tích cực,
đa dạng, hấp dẫn cũng như tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác huy động vốn. Bên
cạnh đó, NHCT Hai Bà Trưng cũng đã làm tốt công tác tiếp thị, có cơ chế khen thưởng rõ
ràng nhằm khuyến khích cán bộ đạt thành tích trong công tác huy động vốn, vì vậy kết quả huy động vốn của NH tăng trưởng qua từng năm. Cụ thể các chỉ tiêu như sau:
27
Bảng 2.1. Kết quả huy động vốn qua các năm tại NHCT Hai Bà Trƣng
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 So sánh 2010 và 2011 So sánh 2011 và 2012
Chỉ tiêu
S T T Số tiền Số tiền Số tiền Tƣơng đối Tuyệt dối (%) Tƣơng đối Tuyệt đối (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)
Tổng nguồn vốn huy động 1.386.410 1.918.212 531.802 38,36 2.038.372 120.160 6,26
1. Theo loại tiền
Việt Nam đồng 91,73 502.439 95,64 189.985 10,80 1.257.103 90,68 1.759.542 39,97 1.949.527
Ngoại tệ quy đổi VNĐ 9,32 8,27 29.363 22,71 4,36 (69.825) (44,00) 129.307 158.670 88.845
2. Theo thành phần kinh tế
Tiền gửi tổ chức kinh tế 42,81 215.287 35,53 33,43 (139.828) (17,03) 43,7 605.914 821.201 681.373
Tiền gửi tổ chức khác 6,51 61.586 97,39 10,39 86.733 69,48 4,56 63.239 124.825 211.558
Tiền gửi cá nhân 51,74 50,68 254.929 56,18 173.255 17,82 717.257 972.186 35,54 1.145.441
3. Theo thời gian
Tiền gửi không kỳ hạn 34,73 22,11 (57.427) (11,93) 21,25 9.060 2,14 481.545 424.118 433.178
Tiền gửi ngắn hạn 74,43 641.995 76,25 126.446 8,86 785.784 56,68 1.427.779 81,70 1.554.255
Tiền gửi trung và dài hạn 8,59 3,46 (52.766) (44.31) 2,50 (15.376) (23,19) 119.081 66.315 50.939
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh NHCT Hai Bà Trưng)
28
Tử bảng trên có thể thấy tổng nguôn vốn huy động năm 2011 của NH đạt 1.918.212
triệu đồng, vượt 25% kế hoạch đề ra và tăng 38,36% so với mức huy động năm 2010 là 1.386.410 triệu đồng. Đây là mức tăng trưởng cao so với toàn ngành mặc dù năm 2011 là
năm rất khó khăn trong công tác huy động vốn của các NHTM. Với việc áp dụng trần lãi
suất 14% của NHNN, bên cạnh đó là việc phá rào lãi suất nhằm thu hút nguồn vốn của
các NH khác diễn ra khá phổ biến, gây ảnh hưởng xấu tới công tác huy động vốn của NH. Nhưng với kinh nghiệm và uy tín lâu năm của mình, NHCT Hai Bà Trưng đã linh hoạt,
nhạy bén đưa ra các biện pháp nhằm ổn định cũng như phát triển nguồn vốn như: Linh
hoạt điều chỉnh lãi suất và kỳ hạn phù hợp với thị trường, tăng cường tiếp thị, khuyến
mãi, cung cấp các gói sản phẩm đa dạng, hấp dẫn, khai thác nhiều kênh huy động và mở
thêm một số phòng giao dịch tại một số khu vực trung tâm trên địa bàn Quận, thu hút
được nhiều đối tượng khách hàng mới nhất là từ khách hàng cá nhân. Chính vì vây, trong
năm 2011, nguồn vốn huy động tại NHCT Hai Bà Trưng tăng trưởng rất ấn tượng.
Bước sang năm 2012, nguồn vốn huy động tại chi nhánh NH đạt 2.038.372 triệu
đồng, vượt 5% kế hoạch được giao và tăng 6,26% so với năm 2011. Sở dĩ trong năm
2012, nguồn vốn huy động chỉ có sự tăng trưởng nhẹ là do Ngân hàng không tìm được
thêm nhiều đối tượng khách hàng mới, sự cạnh tranh rất lớn từ các NH khác và do chính
sách tín dụng của NH trong năm 2012 là tăng trưởng ổn định, không quá nóng như các
năm trước nên chỉ cần duy trì nguồn vốn ổn định, tránh tình trạng huy động nhiều mà không cho vay ra được sẽ ảnh hưởng xấu tới kết quả kinh doanh của Ngân hàng.
Cơ cấu nguồn vốn:
- Theo loại tiền:
2,000,000
Việt Nam Đồng 1,000,000 Ngoại tệ quy đổi VNĐ
0 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Đồ thị 2.1. Vốn huy động phân theo loại tiền
Qua biểu đồ trên có thể thấy nguồn vốn huy động bằng VNĐ luôn có xu hướng tăng, tăng mạnh nhất là giai đoạn 2010 – 2011 tăng 39,97% , trong khi mức độ tăng của năm
2011 – 2012 chỉ đạt 10,80%. Cơ cấu huy động bằng VNĐ vẫn chiếm tỷ trọng chính trong
29
cơ cấu huy động của NH, huy động bằng ngoại tệ chỉ chiếm một phần nhỏ. Huy động
bằng ngoại tệ (chủ yếu là USD) có mức tăng trưởng 22,71% trong năm 2011, đó là vì trong giai đoạn này lãi suất USD vẫn còn khá cao mặc dù NHNN đã áp dụng trần lãi suất
là 3% vài đầu năm và giảm 1% xuống 2% vào giữa năm 2011, gửi USD cũng là hình thức
sinh lời, bên cạnh đó là việc đồng USD tăng giá còn VNĐ mất giá tạo tâm lý muốn găm
giữ đồng USD và có xu hướng gửi vào NH, hơn nữa là lượng kiều hối đổ về cuối năm tăng mạnh trong năm 2011 nên đã kéo mức tăng trưởng huy động USD lên cao. Tuy
nhiên sang năm 2012, mức huy động giảm mạnh 44% do lãi suất huy động bằng USD ở
mức thấp, khoảng hơn 1% nên kênh đầu tư bằng gửi NH không còn hấp dẫn, tỷ giá ổn
định trong suốt năm 2012 nên lượng huy động bằng USD có phần giảm mạnh.
- Theo thành phần kinh tế:
1,500,000
Tiền gửi tổ chức khác 1,000,000
Tiền gửi tổ chức kinh tế 500,000 Tiền gửi cá nhân
0 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Đồ thị 2.2. Vốn huy động theo thành phần kinh tế
Dụa vào biểu đồ trên có thể nhân thấy tiền gửi cá nhân là nguồn vốn ổn định và luôn
duy trì tăng trưởng trong 3 năm. Trong đó, năm 2011, tiền gửi cá nhân tại chi nhánh NH
đạt 972.186 triệu đồng, tăng 35,34% so với năm 2010, và năm 2012 là 1.145.441 triệu
đồng, tăng 17,82% so với năm 2011. Năm 2011, tiền gửi cá nhân có sự tăng mạnh là do
NH tập trung vào đối tượng khách hàng cá nhân khi nhận thấy rằng nguồn vốn này khá
dồi dào và ổn định. Hơn nữa, khi nền kinh tế khó khăn, đầu tư – kinh doanh không hiệu quả nên gửi tiền vào NH là kênh đầu tư khôn ngoan,do đó NH đã tung ra nhiều chương
trình khuyến mãi, dự thưởng hấp dẫn nên thu hút được một lượng lớn khách hàng mới nhưng vẫn duy trì lượng khách hàng quen thuộc. Bước sang năm 2012, tiền gửi cá nhân có sự giảm nhẹ về tăng trưởng nhưng vẫn đạt và vượt mức mà Chi nhánh NH đã đề ra.
Tiền gửi của các tổ chức kinh tế có sự biến động lên xuống nhưng vẫn khá ổn định. Năm 2011, tiền gửi của các tổ chức kinh tế tại NH là 821.201 triệu đồng, tăng 35,53% so với năm 2010, nhưng giảm 17,03% trong năm 2012 ở mức 681.373 triệu đồng. Sở dĩ tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng là là do trong năm 2011 có khá nhiều DN Nhà nước cổ phần hóa thu được một lượng vốn thặng dư khá lớn, một phần đầu tư vào S KD, phần
30
tạm thời gửi vào NH. Bên cạnh đó, cũng có không ít DN trên địa bàn Quận làm ăn có lãi
nên họ gửi tiền vào NH, chính vì vậy mà lượng huy động tăng cao trong năm 2011. Tuy nhiên sang năm 2012, tiền gửi của các tổ chức kinh tế lại có sự suy giảm, nguyên nhân
chính là do kinh tế khó khăn, các DN không bán được hàng, nhiều DN chỉ hy vọng hòa
vốn chứ không mong có lãi để lấy tiền gửi NH, do đó mà nguồn huy động này giảm trong
nâm 2012, nhưng nhìn chung vẫn khá ổn định, phù hợp với xu hướng chung của ngành.
Còn tiền gửi tổ chức khác chỉ chiếm mức thấp trong cơ cấu huy động của NH nhưng
vẫn tăng trưởng đều đặn qua các năm, nguồn này chủ yếu đến từ các tổ chức tín dụng
khác và một số cơ quan Nhà nước như Kho bac, chi cục Thuế… Năm 2011, tiền gửi của
các tổ chức khác taị NH tăng 97,39% so với năm 2010 và năm 2012 tăng 69,48% so với
năm 2011. Sở dĩ có sự giảm về tốc độ tăng là do NHNN áp dụng “Thông tư số
21/2012/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay, đi vay, mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có
giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài (áp dung ngày
01/09/2012 ”, qua đó cấm các Tổ chức tín dụng huy động vốn lẫn nhau mà chỉ được đi
vay và cho vay thông qua thị trường liên Ngân hàng, chính vì vây mà có sự giảm nhẹ về
tốc độ tăng trong năm 2012.
- Theo thời gian:
2,000,000
1,500,000 Tiền gửi không kỳ hạn
1,000,000 Tiền gửi ngắn hạn
Tiền gửi trung và dài hạn 500,000
0 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Đồ thị 2.3. Vốn huy động phân theo thời gian
Qua biểu dồ thì có thể nhận thấy tiền gửi ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng
trưởng ổn định nhất. Năm 2011, tiền gửi ngắn hạn tại NH là 1.427.779 triệu đồng, tăng 74,43% so với năm 2010, còn năm 2012 là 1.554.255 triệu đồng, tăng 8,66% so với năm 2011. Nguồn vốn ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn vốn của NH bởi vì tính linh hoạt của nó, hai nữa là do tâm lý khách hàng không muốn gửi kỳ hạn dài vì
mức độ rủi ro cao. Năm 2011, tiền gửi ngắn hạn có sự tăng mạnh là do nguyên nhân chính là từ tiền gửi dân cư tăng mạnh và họ lựa chọn kỳ hạn ngắn để đảm bảo an toàn và linh
hoạt hơn khi mức lãi suất giữa kỳ hạn ngắn so với trung và dài hạn là gần như nhau.
31
Tiền gửi không kỳ hạn trong 3 năm tại NHCT Hai Bà Trưng là nguồn vốn khá ổn
định, không có sự biến động mạnh nào trong 3 năm do nguồn này chủ yếu dùng để các DN thanh toán tiền hàng, trả lương… phát sinh đều đặn nên rất ổn định. Tiền gửi trung và
dài hạn tại NH có tỷ trọng thấp nhất và có xu hướng giảm dần qua 3 năm, nguyên nhân
chính là khách hàng chuyển một phần đáng kể sang tiền gửi ngắn hạn. Vì nguồn vốn
trung và dài hạn có tính ổn định cao nên khi tỷ trọng tiền gửi trung và dài hạn thấp sẽ ảnh hưởng tới xấu tới cơ cấu nguồn vốn của NH, ảnh hưởng tới các quyết định đầu tư và cho
vay của NH. Chính vì vậy mà Chi nhánh NH cần đưa ra nhiều biện pháp hơn nữa để nâng
cao hơn tỷ trong tiền gửi trung và dài hạn trong thời gian tới.
2.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Trong 3 năm vừa qua hoạt động sử dụng vốn mà chủ yếu là hoạt động cấp tín dụng
của NH đã diễn ra khá hiệu quả và đã có những bước phát triển nhất định. Cụ thể, trong
năm 2011, tổng dư nợ của Chi nhánh đạt 1.653.047 triệu đồng, tăng 55,38% so với năm
2010 và trong năm 2012 là 1.683.192 triệu đồng, đạt 90% chỉ tiêu kế hoạch được giao.
2,000,000
1,683,192 1,653,047
1,060,602
1,000,000
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
0
Đồ thị 2.4. Tổng dƣ n qua các năm tại NHCT Hai Bà Trƣng
Kết quả này đạt được là do trong những năm trở lại đây, chi nhánh NH đã tập trung
đầu tư chủ yếu cho các phương án, dự án thực sự có hiệu quả, không phân biệt thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế hoạt động - SXKD có hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh bằng việc cung cấp các sản phẩm - dịch vụ
Ngân hàng đa dạng và tiện ích cho khách hàng. Ngoài ra, Ngân hàng cũng đã mở rộng phương thức cho vay đồng tài trợ với một số chi nhánh NHCT khác trên địa bàn Hà Nội đối với một số dự án lớn tại khu vực phía Bắc và đã đem lại những hiệu quả nhất định.
Tuy nhiên, trong năm 2012, chất lượng tín dụng tại NHCT Hai Bà Trưng có nhiều
vấn đề, nguyên nhân chính là từ việc tăng trưởng tín dụng mạnh trong năm 2011, cũng như nới lỏng các điều kiện cho vay trong năm 2012 kéo theo các khoản NQH trong năm
2012 xuất hiện nhiều. Chính vì vậy, trong năm 2012, Ban giám đốc NH đã quan tâm chỉ
32
đạo sát sao công tác thu hồi các khoản NQH trong năm và các năm về trước. Bên cạnh đó,
NHCT Hai Bà Trưng cũng đã thực hiện nghiêm túc các quy định của Quyết định 493 và Quyết định 18 của NHNN về việc cơ cấu và phân loại nợ theo các nhóm nợ, đồng thời rà
soát, đánh giá lại toàn bộ dư nợ hiện tại theo thời điểm, từ đó đưa ra những giải pháp xử
lý nghiêm túc nhằm đảm bảo xác định đúng chất lượng tín dụng đang lưu hành tại NH.
2.2.3. Kết quả doanh thu – chi phí – l i nhuận của NHCT Hai Bà Trƣng
Có thể nói trong 3 năm trở lại đây, nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn, nhưng
NHCT Hai Bà Trưng vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cả về doanh thu và lợi nhuận.
Cơ cấu doanh thu của NH trong 3 năm trở lại đây đã có sự thay đổi khi NH chú trọng vào
việc tăng doanh thu bằng việc cung cấp các dịch vụ NH cho khách hàng, nhưng tỷ trọng
của doanh thu đến từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm phần lớn (khoảng 70%) trên tổng
doanh thu của NH. Trong những năm tiếp theo, NH cần cố gắng tăng doanh thu bằng việc
cung cấp nhiều các sản phẩm dịch vụ NH hiện đại thay vì tăng trưởng tín dụng, vì hoạt
động này ít rủi ro, hiệu quả cao và là xu hướng tất yếu của ngành NH trong tương lai.
Bảng 2.2. Kết quả doanh thu – chi phí – l i nhuận của NHCT Hai Bà Trƣng
Đơn vị tính: Triệu đồng
STT Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
1. Doanh thu 160.381 191.252 201.196
2. Chi phí 83.357 108.016 89.045
3. L i nhuận trƣớc thuế 77.024 83.236 112.151
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHCT Hai Bà Trưng)
Doanh thu năm 2011 đạt 191.252 triệu đồng, tăng 19,25% so với năm 2010, doanh
thu trong năm 2011 tăng khá mạnh do tốc độ tăng trưởng tín dụng cao dẫn đến doanh thu tăng theo. Sang năm 2012, doanh thu đạt 201.196 triệu đồng, tăng 5,20% so với năm 2011, do đây được đánh giá là một năm kinh tế khó khăn, nền kinh tế có dấu hiệu suy
thoái trở lại, tăng trưởng tín dụng chậm lại, lãi suất cho vay giảm dần, nhiều diễn biến khó lường trên thị trường tài chính, nhưng với việc chủ động thay đổi cơ cấu trong doanh thu nên NH vẫn đạt và vượt chỉ tiêu doanh thu đề ra trong năm 2012.
Trong 3 năm từ 2010 – 2012, NHCT Hai Bà Trưng luôn cố gắng giảm chi phí đến mức tối đa nhằm kéo lợi nhuận của NH tăng cao, chi phí của NH vẫn chủ yếu đến từ chi phí vốn huy động. Năm 2012, chứng kiến sự nỗ lực của NH trong việc cắt giảm chi phí, chi phí của NH năm 2012 giảm 17,56% so với năm 2011, trong khi năm 2011 tăng
33
29,58% so với năm 2010. Có được thành quả như trên là nhờ vào việc Ban giám đốc đã
chỉ đạo sát sao các phòng ban cắt giảm tối đa các chi phí không cần thiết, nâng cao hiệu quả công việc qua đó giảm được chi phí cũng như tăng được doanh thu và lợi nhuận cho
NH. Bên cạnh đó cũng có thể thấy mặt bằng lãi suất huy động trong năm 2012 cũng giảm
mạnh, dao động từ 7% - 9% cho các kỳ hạn, qua đó cũng làm giảm chi phí vốn cho NH.
2.2.4. Phát triển các dịch vụ Ngân hàng
- Các dịch vụ thanh toán:
Với khối lượng vốn luân chuyển lớn và ngày càng phức tạp trong giao dịch thanh
toán của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất – nhập khẩu thì Chi nhánh
NH đã chú trọng tổ chức tốt công tác thanh toán, nâng cao phong cách giao tiếp, thực hiện triển khai kịp thời các chương trình ứng dụng công nghệ Ngân hàng hiện đại, đảm bảo
thanh toán kịp thời, chính xác và mức an toàn cao nhất cho khách hàng. Bên cạnh đó, với
việc Ngân hàng áp dụng hình thức giao dịch một cửa thì hoạt động thanh toán ngày càng
ổn định và tiện lợi hơn, thu hút được nhiều đối tượng khách hàng mới.
+ Dịch vụ thanh toán trong nước:
Đối với dịch vụ thanh toán trong nước đã có sự cải thiện đáng kể thông qua việc
nâng cấp chương trình thanh toán giúp cho tốc độ thanh toán nhanh, an toàn. Ngân hàng
đã triển khai nhiều hình thức dịch vụ thanh toán nội địa như: Ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi,
chuyển tiền nhanh, dịch vụ thanh toán biên mậu, ATM (Automated Teller Machine),
thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ. Ngoài ra, Ngân hàng cũng đã triển khai ký hợp đồng
chi trả lương qua tài khoản cho gần 50 đơn vị trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng.
Chi nhánh Ngân hàng cũng đã triển khai một hệ thống máy ATM rộng khắp, với 18
điểm giao dịch ATM, gần 300 điểm chấp nhận thẻ của VietinBank trên địa bàn Quận và thông qua hệ thống Banknet, thẻ ATM của NHCT có thể giao dịch trên nhiều máy ATM của các NH khác trong cùng hệ thống. Số lượng thẻ ATM phát hành (chủ yếu là thẻ ghi nợ E - Partner đến ngày 31/12/2012 là 27.781 thẻ, tăng 51,90% so với năm 2011, thẻ tín
dụng quốc tế đạt 2.169 thẻ, tăng 10% so với năm 2011. Thẻ E – Partner là sản phẩm thẻ ghi nợ chính của NH với nhiều tiện ích mới như ấn tin tài khoản ATM trực tuyến trên
Internet, nạp tiền cho thuê bao trả trước của các mạng di động bằng dịch vụ VnTopup, nhanh chóng, thuận tiện với các tiện ích của SMS Banking (chuyển khoản qua tài khoản thẻ E - Partner bằng tin nhắn, thông báo biến động số dư, sao kê tài khoản, xem thông tin
về lãi suất, tỷ giá ngoại hối... … tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận với những dịch vụ NH tiện lợi, hiện đại và nhanh chóng. Bên cạnh đó, với xu thế chung là phát triển các dịch vụ NH hiện đại nhằm nâng cao chất lượng thanh toán, gia tăng lợi ích cho khách
34
hàng và cạnh tranh với các NH khác thì chi nhánh NHCT đã phát triển các dịch vụ NH
điện tử (E – Banking) mới như dịch vụ Ipay, SMS Banking và Mobile BankingPlus.
+ Dịch vụ thanh toán quốc tế:
Trong những năm vừa qua, NHCT Hai Bà Trưng đã không ngừng mở rộng và nâng
cao nghiệp vụ thanh toán quốc tế thông qua việc đa dạng hoá các kênh chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam và ngược lại như: Dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union,
thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, Master card, Visa card, American express, séc du lịch và
các hoạt động thanh toán bằng L/C... Trong năm 2012, Chi nhánh NH đã chi trả được trên
1,5 triệu USD, dịch vụ chi trả kiều hối thông qua tài khoản đạt 1,3 triệu USD, thanh toán
séc du lịch 150 ngàn USD và thanh toán thẻ quốc tế đạt 100 ngàn USD.
+ Hoạt đông thanh toán quốc tế bằng L/C :
Bảng 2.3. Hoạt động thanh toán L/C tại NHCT Hai Bà Trƣng
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
L/C nhập 23.268 24.198 25.211
L/C xuất 1.422 1.519 1.800
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHCT Hai Bà Trưng)
Hoạt đông thanh toán quốc tế bằng L/C cũng được NHCT Hai Bà Trưng rất chú
trọng và quan tâm. Qua bảng trên có thể thấy hoạt động thanh toán bằng L/C tăng đều qua
các năm, trong đó NH chủ yếu thực hiện L/C nhập khẩu vì trên thực tế Việt Nam vẫn là
nước nhập siêu các mặt hàng từ nước ngoài. Một số khách hàng lớn của NH như: Công ty
Xuất nhập khẩu Hà Nội, chi nhánh Intimex Hải Phòng, tổng công ty Xuất nhập khẩu Dệt
may, tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy, công ty Xuất nhập khẩu vật tư Nông nghiệp…
- Dịch vụ bảo lãnh:
Nhìn chung dịch vụ bảo lãnh vẫn còn là dịch vụ khá mới mẻ đối với NH và chưa
thực sự phát triển tại Việt Nam, chính vì vậy mà doanh số hoạt động bảo lãnh vẫn còn ở mức khá khiêm tốn. Tuy nhiên, NH cũng đã thưc hiện hầu hết các ngiệp vụ bảo lãnh như bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh mở L/C… Hình thức bảo lãnh cũng khá đa dạng, bao gồm
bão lãnh ngắn, trung và dài hạn đối với các DN Quốc doanh và ngoài Quốc doanh.
Hiện tại, NHCT Hai Bà Trưng đang áp dụng mức phí cho hoạt động bảo lãnh được
quy định khá cụ thể, chi tiết. Tuy nhiên, do hoạt động này vẫn còn mới và tiềm ẩn nhiều
35
rủi ro nên NH quy định mức phí bảo lãnh là cố định, chưa có sự linh hoạt, buộc khách
hàng phải chấp nhận các điều kiện của NH, chính vì vậy đây chính là điểm hạn chế và chưa hấp dẫn được nhiều khách hàng.
2.2.5. Hoạt đông inh doanh ngoại hối tại NHCT Hai Bà Trƣng
Hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHCT Hai Bà Trưng diễn ra khá rộng rãi với
việc mua vào và bán ra nhiều loại ngoại tệ khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là đồng USD và EUR. Với biều phí kinh doanh khá linh hoạt, khách hàng có thể thỏa thuận với NH, thậm
chí với các giao dịch giao ngay và các giao dịch kỳ hạn sẽ không bị mất phí, bởi vậy hoạt
động kinh doanh ngoại hối của NHCT Hai Bà Trưng diễn ra khá nhộn nhịp và sôi động.
Bảng 2.4. Hoạt động kinh doanh ngoại hối tại NHCT Hai Bà Trƣng
Đơn vị tính: Triệu đồng
So sánh 2010 và 2011 So sánh 2011 và 2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Tƣơng đối Tuyệt đối (%) Tƣơng đối Tuyệt đối (%)
Ngoại tệ mua vào 46.935 46.911 (24) (0,05) 47.033 122 0,26
Ngoại tệ bán ra 47.643 47.266 (377) (0,79) 48.119 853 1,80
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHCT Hai Bà Trưng)
Qua bảng trên có thể thấy tình hình kinh doanh ngoại tệ của NH diễn ra khá ổn định,
không có biến động lớn nên lượng ngoại tệ đáp ứng nhu cầu các hoạt động thanh toán
quốc tế và tài trợ thương mại quốc tế luôn được đảm bảo. Bên cạnh đó là việc kinh doanh
chênh lệch tỷ giá của NH cũng đem lại lợi nhuận khá cao, lãi kinh doanh ngoại tệ năm
2012 đạt 3.826 triệu đồng, tăng 10% so với năm 2011 và thu phí dịch vụ đạt 113.000 USD.
Trong năm 2012, NHCT Hai Bà Trưng cũng đã thu đổi hơn 10 triệu USD, tương đương với 209 tỷ đồng và gần 900 ngàn EUR tương đương với 2,5 tỷ đồng. Ngoài ra, Ngân hàng còn thực hiện thu đổi nhiều loại ngoại tệ khác như GBP, CHF, CAD, JPY, AUD… nhưng với số lượng còn hạn chế.
Nhận xét:
Qua những phân tích bên trên có thể nhận thấy tình hình huy động vốn cũng như kết quả kinh doanh của NHCT Hai Bà Trưng đều khá tốt, luôn vượt hoặc bằng chỉ tiêu mà NH đề ra, đó là nỗ lực của toàn thể nhân viên NH cũng như sự chỉ đạo và định hướng đúng đắn của Ban giám đốc NHCT Hai Bà Trưng. Tuy nhiên, NHCT Hai Bà Trưng vẫn còn một số điểm còn tồn tại mà NH cần phải sớm khắc phục trong thời gian tới như tỷ
36
trọng vốn huy động trong trung và dài hạn của NH khá thấp, đây là nguồn vốn ổn định mà
NH có thể sử dụng trong cho vay và đầu tư. Bên cạnh đó, NH cũng cần cắt giảm hơn nữa chi phí trong hoat động kinh doanh của mình và gia tăng hơn nữa cung cấp các sản phẩm
dịch vụ NH mới, không tập trung quá nhiều vào doanh thu từ hoạt động tín dụng.
2.3. Thực trạng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng
2.3.1. Tình hình hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng
Trong những năm qua, hoạt động tín dụng tại NHCT Hai Bà Trưng là hoạt động
chính đem lại lợi nhuận cho NH nhưng cũng đã chịu tác động của nhiều nhân tố như: Sự
ảnh hưởng chung của nền kinh tế khó khăn, những thay đổi trong chính sách kinh tế,
chính sách quản lý ngày càng thắt chặt của NHNN, sự cạnh tranh của các NH khác… Tuy
nhiên vẫn có một số nhân tố tích cực như: Nền kinh tế thế giới và trong nước đang có dấu
hiệu phục hồi, bằng chứng là tốc độ tăng trưởng GDP (Gross Domestoc of Product) luôn
đạt trên 5%, lạm phát có xu hướng giảm, sự vào cuộc mạnh mẽ của NHNN trong việc tái
cấu trúc ngành NH và hơn hết là niềm tin đã bắt đầu trở lại cho sự phục hồi và phát triển trở lại của nền kinh tế Việt Nam. Những nhân tố này đã mang lại không ít khó khăn,
nhưng cũng đem lại những cơ hội và lợi thế nhất định cho hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng. Nhận ra những khó khăn và thách thức như vậy, NHCT Hai Bà Trưng đã đưa
ra một kế hoạch kinh doanh cụ thể, phát huy tối đa thế mạnh của mình và cố gắng khắc
phục khó khăn còn tồn tại để duy trì sự ổn định và phát triển trong tương lai.
Qua bảng số liệu dưới đây, một cách tổng thể ta có thể nhận thấy rằng hoạt động tín
dụng của NHCT Hai Bà Trưng tương đối ổn định và duy trì được tăng trưởng trong ba
năm qua 2010 – 2012). Từ mức dư nợ 1.060.602 triệu đồng năm 2010 tăng lên 1.653.047
triệu đồng trong năm 2011, tương ứng tăng 55,86%, sang năm 2012, mức dư nợ tín dụng
đạt 1.683.192 triệu đồng, tương ứng tăng 1,82%. Trong tình hình kinh tế khó khăn và
cạnh tranh gay gắt như hiện nay giữa các NH thì với tốc độ tăng trưởng như trên là một tốc độ tăng trưởng đáng khen ngợi và khích lệ. Có thể coi đây là nỗ lực rất lớn của toàn thể cán bộ cán bộ - công nhân viên NHCT Hai Bà Trưng trong 3 năm qua. Cũng có thể
nhận thấy “Tổng dư nợ/tổng vốn huy động” trong 2 năm 2011 và 2012 của NH là 86,18% và 82,58%, điều đó chứng tỏ tốc độ tăng trưởng tín dụng của NHCT Hai Bà Trưng trong hai năm qua đang khá ổn định. Tuy nhiên với tốc độ tăng tín dụng so với vốn huy động
khá cao như vậy thì NH cũng cần phải xem xét lại, vì tốc độ tín dụng tăng nhanh hơn tốc độ huy động chưa hẳn đã là một điều tốt bởi rất có thể nó dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh khoản, vì NH không dự trữ đủ lượng tiền thanh khoản cần thiết ngay để thanh toán.
Để có thể thấy rõ hơn về tình hình hoạt động tín dụng tại NH, ta xem xét các chỉ tiêu sau:
37
Bảng 2.5. Kết quả hoạt động tín dụng qua các năm tại NHCT Hai Bà Trƣng
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 So sánh 2010 và 2011 So sánh 2011 và 2012
Chỉ tiêu
S T T Số tiền Số tiền Số tiền Tƣơng đối Tuyệt dối (%) Tƣơng đối Tuyệt đối (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)
Tổng dƣ n cho vay 1.060.602 1.653.047 592.445 55,86 1.683.192 30.145 1,82
1. Theo loại tiền
Việt Nam đồng 97,91 610.981 99,14 70.288 4,34 1.007.527 95,00 1.618.508 60,64 1.668.769
Ngoại tệ quy đổi VNĐ 5,00 2,09 (18.536) (34,92) 0,86 (20.116) (58,24) 53.075 34.539 14.423
2. Theo đối tƣ ng khách hàng
Doanh nghiệp lớn 28,22 23,19 84.090 28,09 34,34 194.625 50,76 299.327 383.417 578.042
Doanh nghiệp vừa và nhỏ 55,53 55,58 329.940 56,03 52,87 (28.926) (3,15) 588.904 918.844 889.918
Khách hàng cá nhân 16,25 21,23 178.415 103,51 12,79 (135.554) (68,64) 172.371 350.786 215.232
3. Theo thời gian
Cho vay ngắn hạn 76,00 556.618 77,00 29.443 2,34 699.997 66,00 1.256.615 79,52 1.286.058
Cho vay trung và dài hạn 34,00 24,00 36.127 10,02 23,00 (9.598) (2,41) 360.605 396.732 387.134
4. Theo tài sản đảm bảo
Cho vay có TSĐB 88,00 489.533 82,00 (74.464) (5,12) 965.148 91,00 1.454.681 50,72 1.380.217
Cho vay không có TSĐB 9,00 12,00 102.912 107,81 18,00 104.609 52,74 95.454 198.366 302.975
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh NHCT Hai Bà Trưng)
38
Cơ cấu dư nợ tín dụng qua các năm:
- Dư nợ tín dụng theo loại tiền:
2,000,000
Việt Nam Đồng
1,000,000
1,500,000
Ngoại tệ quy đổi VNĐ
500,000
0 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Đồ thị 2.5. Dƣ n tín dụng theo loại tiền
Qua đồ thị trên có thể nhân thấy, cơ cấu dư nợ tín dụng của NH vấn tập trung chủ
yếu bằng VNĐ, tỷ trọng cho vay bằng ngoại tệ mà chủ yếu bằng đồng USD chiếm rất thấp, và có xu hướng giảm qua từng năm. Cụ thể năm 2011, cho cho vay ngoại tệ tại NH
đạt 34.539 triệu đồng, giảm 34,92% so với năm 2010, năm 2012 đạt 14.423 triệu đồng,
tương ứng giảm 58,24%. Sở dĩ cho vay bằng ngoại tệ có sự giảm đáng kể như vậy là do
trong năm 2011 và 2012, hoạt động xuất – nhập khẩu có sự đi xuống, các công ty xuất
nhập khẩu không ký được các đơn hàng nên nhu cầu về vay ngoại tệ để thanh toán cũng
giảm theo, mà nguyên nhân chính là do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và các
doanh nghiệp trong nước bị cạnh tranh gay gắt bởi các công ty nước ngoài. Tuy nhiên, tốc
độ tăng trưởng cho vay bằng VNĐ của NH vẫn ổn định, năm 2011, cho vay bằng VNĐ
đạt 1.618.508 triệu đồng, tăng 60,64 % và năm 2012 là 1.668.769 triệu đồng, tương ứng
tăng 4,34% so với năm 2011. Năm 2011, cho vay bằng VNĐ có sự tăng mạnh là do chính
sách mở rộng tín dụng của NH trong từng thời kỳ, bên cạnh đó cũng do để đáp ứng như
cầu cho vay để SXKD của các DN khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi. Sang năm 2012,
cho vay bằng VNĐ của NH chỉ có sự tăng nhẹ nhưng vẫn đảm bảo sự ổn định cho NH trong công tác tín dụng. Tăng trưởng tín dụng trong năm 2011 ở mức cao là nguyên nhân
chính dẫn đến chất lượng tín dụng của NH giảm đi trong 2 năm 2011 và 2012.
- Dư nợ tín dụng theo đối tượng khách hàng:
Trên địa bàn Quận và các vùng lân cận thì số lượng DN vừa và nhỏ chiếm một số lượng lớn nên tỷ trọng cho vay theo thành phần kinh tế cũng có chiều hướng tương tự. Tỷ trọng cho vay khu vực Doanh nghiệp lớn (chủ yếu là các doanh nghiệp Quốc doanh hoạt động trên dịa bàn Quận) luôn có sự tăng trưởng. Năm 2011, cho vay khối DN lớn tại NH là 299.327 triệu đồng, tăng 28,09% so với năm 2010, năm 2012 là 578.042 triệu đồng,
39
tương ứng tăng 50,76% so với năm 2011. Do đây có không ít là những khách hàng quen
thuộc của NH, là các tập đoàn, tổng công ty lớn, các doanh nghiệp xuất – nhập khẩu, các công ty xây lắp lớn hoạt động SXKD khá hiệu quả, trả nợ đúng hạn, bên cạnh đó là điều
kiện cho vay của NH với các DN này cũng dễ dàng hơn nên luôn có sự tăng trưởng về dư
nợ trong 3 năm qua. Nhu cầu vốn trong nhóm khách hàng này tập trung nhiều trong trung
và dài hạn, các dự án đầu tư lớn như: các công trình xây dựng cơ bản, các dự án bất động sản, mua sắm dây chuyền máy móc – thiết bị và một số lĩnh vực đầu tư khác.
DN lớn DN vừa và nhỏ KH cá nhân
1,000,000 800,000 600,000 400,000 200,000 0 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Đồ thị 2.6. Dƣ n tín dụng theo đối tƣ ng khách hàng
Khu vực DN vừa và nhỏ là khu vực có tỷ trọng dư nợ cao nhất do đây là đối tượng
khách hàng chính của NH, chủ yếu là các công ty cổ phần, công ty TNHH, các DN ngoài
Quốc doanh… hoạt động trong nhiều lĩnh vực SXKD khác nhau như: Xây dựng dân
dụng. sản xuất đồ gia dụng, linh kiện điện tử, chế tạo máy, thực phẩm, dệt may, một số công ty xuất nhập khẩu.... Năm 2010, dư nợ tín đụng đạt 588.904 triệu đồng, tăng
56,03%, do đây là đối tượng khách hàng chính, nhu cầu vốn lớn, đặc biệt là vốn lưu động
phục vụ SXKD, sang năm 2012 giảm 3,15% xuống còn 889.918 triệu đồng. Sở dĩ năm
2012 có sự giảm nhẹ là do khối DN vừa và nhỏ chịu sự tác động chính của cuộc khủng
hoảng kinh tế trong vài năm trở lại đây. Nhiều DN tỏ ra khó khăn trong S KD, không ký
được nhiều hợp đồng, thậm chí nhiều DN còn bị lỗ và có nguy cơ phá sản, chính vì vậy mà DN không thể trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho NH, làm gia tăng nợ quá hạn cho NH, do đó mà chủ trương của Ban lãnh đạo NH trong năm 2012 là đốc thúc thu hồi các khoản
nợ, giảm tăng trưởng tín dụng, chuyển cơ cấu cho vay và nâng cao chất lượng tín dụng.
Khối khách hàng cá nhân – hộ gia đình là đối tượng khách hàng nhiều tiềm năng mà NH đang hướng tới, chủ yếu NH cho vay tiêu dùng với nhiều sản phẩm cho vay với lãi
suất hấp dẫn nên trong năm 2011 có sự tăng vượt bâc tới 103,51%. Tuy nhiên sang năm
2012, cho vay khách hàng cá nhân lại giảm 68,34% do trong năm 2012, nền kinh tế khó khăn, xu hướng chính là cất giữ đồng tiền, hạn chế chi tiêu, đầu tư, chủ trương thắt lưng
buộc bụng nên mức dư nợ có sự giảm đáng kể trong năm 2012.
40
Bên cạnh đó, NH cũng chủ động giảm lãi suất cho vay theo sự chỉ đạo của NHNN
và NHCT Việt Nam đối với các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở
mức thấp từ 7-9% nhằm tháo gỡ và chia sẻ khó khăn với DN, nâng cao khả năng cạnh
tranh cho NH trong thời điểm này và tìm được đầu ra cho nguồn vốn huy động.
- Dư nợ tín dụng theo thời gian:
Dư nợ tín dụng ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cho vay của NH do
hoạt động này ít rủi ro hơn so với cho vay trong trung và dài hạn. Năm 2011, cho vay
ngắn hạn đạt 1.256.615 triệu đồng, tăng 79,52% so với năm 2010, và trong năm 2012 là
1.286.058 triệu đồng, tương ứng tăng 2,34% so với năm 2011. Trong năm 2011, chứng
kiến sự tăng mạnh của tín dụng ngắn hạn là do trong năm NH cho vay bổ sung vốn lưu
động với mức dư nợ lớn cho các DN vừa và nhỏ để đáp ứng nhu cầu SXKD, nhất là trong
giai đoạn cuối năm. Bên cạnh đó, NH cũng tích cực cho vay tiêu dùng trong SXKD hoặc
một số hình thức cho vay đặc thù nên cũng kéo theo mức tăng trưởng tín dụng trong ngắn
hạn cao. Còn trong năm 2012, dư nợ ngắn hạn chỉ có sự tăng nhẹ là do NH giảm tăng
trưởng tín dụng, nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng trong cho vay ngắn hạn.
1,500,000
1,000,000 Ngắn hạn
Trung và dài hạn 500,000
0 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Đồ thị 2.7. Dƣ n tín dụng theo thời gian
Cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng luôn ở mức ổn định, không có sự biến động lớn mức dư nợ trong khoảng 360 tỷ đồng đến 390 tỷ đồng. Năm 2011, dư nợ trong
trung và dài hạn tại NH tăng 10,21%, nhưng sang năm 2012 thì lại giảm 2,41%. NH chủ yếu cho vay các DN lớn hoạt động hiệu quả, các DN vừa và nhỏ có phương án S KD trong trung và dài hạn tốt, các dự án lớn có tính khả thi cao, hoặc cho vay đồng tài trợ với
các NH khác. Bên cạnh đó là mặt bằng lãi suất cho vay trung và dài hạn khá cao, từ 15% - 17% trong năm 2011, trong đầu năm 2012 nên các DN chuyển sang ngắn hạn để giảm bớt sức ép trả lãi NH. Hơn nữa, trong giai đoạn này có nhiều biến động về tỷ giá, lãi suất, giá
vàng… khiến cho các khoản vay này gặp nhiều rủi ro, nên để phòng tránh và giảm thiểu
41
rủi ro trong hoạt động cho vay thì NH buộc phải dè dặt hơn trong các quyết định cho vay
và luôn giữ ở mức an toàn nhất định trong các khoản vay trung và dài hạn này, vì kỳ hạn vay này thường chiếm dụng một khoản vốn lớn và nếu gặp sự cố, ngoài ảnh hưởng đến
tính thanh khoản của NH thì nó còn ảnh hưởng đến lợi nhuận của NH do NH phải trích
lập thêm các khoản dự phòng làm tăng chi phí dẫn đến giảm lợi nhuận.
- Dư nợ tín dụng theo tài sản đảm bảo:
Trong công tác thẩm định tín dụng trước khi cho vay, Ngân hàng luôn coi trọng
khâu đánh giá TSĐB vì đó có thể coi là biện pháp cuối cùng để NH có thể thu hồi vốn
trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, chính vì vậy mà dư nợ tín dụng có
TSĐB luôn chiếm tỷ trọng cao. Cụ thể năm 2011, cho vay có TSĐB của NH là 1.454.681
triệu đồng (chiếm 88% , tăng 50,72% so với năm 2010 và trong năm 2012, cho vay có
TSĐB tại NH là 1.380.217 triệu đồng (chiếm 82%), giảm 5,12% so với năm 2011. Năm
2011, cho vay có TSĐB có sự tăng mạnh là do tốc độ tăng trưởng tín dụng NH tăng cao
kéo theo cho vay bằng TSĐB cũng tăng theo. Sang năm 2012 có sự giảm nhẹ đó là do
trong năm 2012, NH giảm tăng trưởng tín dụng và tăng tỷ trọng cho vay không có TSĐB.
1,500,000
1,000,000 Có TSĐB
Không có TSĐB 500,000
0 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Đồ thị 2.8. Dƣ n tín dụng theo Tài sản đảm bảo
Tỷ lệ cho vay không có TSĐB của NH luôn tăng trong 3 năm liên tiếp, đây là dấu hiệu không thực sự tốt đối với NH. Cụ thể trong năm 2011, cho vay không có TSĐB tại
Ngân hàng là 198.366 triệu đồng, tăng 107,81% so với năm 2010. Bước sang năm 2012, cho vay không có TSĐB là 302.975 triệu đồng, tương ứng tăng 52,74% so với năm 2011. Năm 2011, cho vay không có TSĐB tại NH có sự tăng mạnh là do NH chưa thực sự quan
tâm nhiều đến công tác thẩm định TSĐB, tập trung nhiều vào tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ
cho vay bằng tín chấp vẫn khá nhiều, cho dù đa số đối tượng khách hàng được NH cho
vay tín chấp hoặc bảo lãnh bởi bên thứ 3 đều là những khách hàng quen thuôc, có tình hình SXKD khá ổn định các năm về trước. Nhưng với diễn biến nền kinh tế khó lường
như trong năm 2011 thì bất cứ DN nào cũng có thể gặp khó khăn cho dù là có kế hoạch
42
SXKD tốt, nguy cơ không trả được gốc và lãi đúng hạn vẫn có thể xảy ra, chính vì vậy mà
cũng kéo theo rủi ro cho NH. Sang năm 2012, tỷ lệ cho vay không có TSĐB vẫn tăng, cũng tương tự như năm 2011, nhưng trong năm 2012, Ngân hàng chủ yếu cho vay trong
ngắn hạn, cho vay vốn lưu động phục vụ S KD. Hơn nữa, Ngân hàng cũng chủ yếu cho
vay với các công ty có uy tín và là khách hàng lâu năm của NH. Với tốc độ tăng cho vay
không có TSĐB vẫn còn cao như trong 2 năm 2011 và 2012 thì vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho NH. Chính vì vậy, Ngân hàng cần có những biện pháp nâng cao tỷ trọng cho vay có
TSĐB trong tương lai vì mục đích an toàn trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
2.3.2. Thực trạng rủi ro t n dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thƣơng Hai Bà
Trƣng – Hà Nội
Bản chất của hoạt động tín dụng là ứng trước cho người vay, bởi vậy rủi ro là thuộc
tính vốn có của tín dụng. Rủi ro tín dụng xảy ra có nghĩa là khả năng thu hồi nợ gốc và lãi
khi đến hạn là thấp, hoặc có thể biểu hiện dưới dạng NH quá tập trung cho vay vào một
hoặc một số khách hàng cụ thể. Để xem xét về thực trạng RRTD tại một NH, nếu chỉ xem
xét về dư nợ, về cơ cấu thành phần thì hoàn toàn chưa đủ, chúng ta cần xem xét về chất
lượng của các khoản vay đó, bao nhiêu khoản NH thu hồi được, bao nhiêu khoản NH chịu
mất vốn… Thông thường, để đo lường về RRTD tại NH, người ta thường xem xét đến chỉ
tiêu nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ và chỉ tiêu nợ xấu cũng như tỷ lệ nợ xấu
trên tổng dư nợ. Khi mà tỷ lệ NQH lên tới 5% hoặc tỷ lệ nợ xấu vượt ngưỡng 3% so với tổng dư nợ thì chứng tỏ NH đang trong tình trạng phải đối mặt với RRTD có thể xảy ra.
Tuy nhiên ở Việt Nam, do sự thay đổi của các văn bản tín dụng, nên ở mỗi thời kỳ,
lại có những chỉ tiêu khác nhau đo lường thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng. Do vậy,
trong Khóa luận này, thực trạng rủi ro tín dụng được xem xét trên cơ sở các văn bản sau:
+ Năm 2005: Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về việc phân loại nợ và trích lập dự
phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng;
+ Năm 2007: Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN;
+ Và mới nhất là Thông tư số 02/2013/TT-NHNN (01/06/2014 mới có hiệu lực thi hành quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài.
43
- Dư nợ phân theo nhóm nợ tại NHCT Hai Bà Trưng:
Qua bảng dưới đây có thể thấy trong 3 năm qua chất lượng tín dụng của NH có khá nhiều vấn đề mặc dù NH vẫn giữ những tỷ lệ quan trọng như NQH và nợ xấu trên tổng dư
nợ luôn dưới 5% và 3%, nhưng hoạt động tín dụng của NH vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Năm
2011, nợ đủ tiêu chuẩn ĐTC đạt 1.595.356 triệu đồng (chiếm 96,51% tổng dư nợ , tăng
575.905 triệu đồng và 56,49% so với năm 2010. Nợ quá hạn và nợ xấu cũng tăng lần lượt là 40,19% và 39,44% so với năm 2011, sự tăng này cũng dễ hiều vì có thể nhận thấy năm
2011 có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao đến 55,86%), Ngân hàng cho vay ra nhiều nhằm
đáp ứng nhu cầu vốn S KD và tiêu dùng cho DN và người dân. Chính vì cho vay ra
nhiều nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà có nhiều khách hàng không trả nợ gốc
và lãi đúng hạn, qua đó làm tăng NQH và nợ xấu của NH lên khá cao trong năm 2011.
Bảng 2.6. Dƣ n phân theo nhóm n tại NHCT Hai Bà Trƣng
Đơn vị tính: Triệu đồng
So sánh 2010 và 2011 So sánh 2011 và 2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Tuyệt đối (%) Tuyệt đối (%) Tƣơng đối Tƣơng đối
Tổng dƣ n 1.060.602 1.653.047 592.445 55,86 1.683.192 30.145 1,82
Nợ đủ tiêu chuẩn 1.019.451 1.595.356 575.905 56,49 1.605.597 10.241 0,64
Nợ quá hạn 41.151 57.691 16.540 40,19 77.595 19.904 34,50
Nợ xấu 18.138 25.292 7.153 39,44 37.872 12.280 49,74
Nợ ĐTC/TDN % 96,12 96,51 0,39 95,39 (1,12)
NQH/TDN (%) 3,88 3,49 (0,39) 4,61 1,12
Nợ xấu/TDN (%) 1,71 1,53 (0,18) 2,25 0,72
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh NHCT Hai Bà Trưng)
Tuy vậy, mặc dù NQH và nợ xấu đều tăng nhưng tỷ lệ NQH và nợ xấu trên tổng dư nợ lại giảm lần lượt là 0,39% và 0,18%. Nguyên nhân chính là trong năm 2011, NH đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ bằng cách gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho các khoản NQH, nợ xấu các năm về trước và nhiều khoản NQH trong cho vay ngắn hạn cũng phát
sinh mới trong năm 2011. Hơn nữa là NH cũng phân loại và cơ cấu lại các nhóm nợ theo sự chỉ đạo của NHCT Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của NH và trong hệ
thống NHCT, nhất là một số DN có tỷ lệ nợ xấu cao tại NH trong lĩnh vực xây dựng, đặc
44
biệt là kinh doanh Bất động sản và một số hoạt động cho vay làm đòn bẩy tài chính trên
Thị trường chứng khoán, lý do đơn giản là vì trong thời điểm này thì khó có thể thu hồi được các khoản nợ của DN này do thị trường BĐS đóng băng và TTCK tuột dốc, nên NH
buộc phải cơ cấu lại các nhóm nợ này, vừa tạo điều kiện cho DN tiếp tục hoạt động và trả
nợ cho NH, vừa cải thiện chất lượng tín dụng tại NH, nhưng những hoạt động này vẫn ẩn
chứa nhiều rủi ro cho NH. Sang năm 2012, do tăng trưởng tín dụng chậm lại, nợ đủ tiêu chuẩn đạt 1.605.597 triệu đồng (chiếm 95,39% tổng dư nợ , tăng 0,64% so với năm 2011,
NQH và nợ xấu cũng lần lượt tăng 34,50% và 49,74% so với năm 2011. Năm 2012 có tốc
độ tăng NQH và nợ xấu khá mạnh cả về số tiền và tỷ trọng, nguyên nhân chính là do tốc
độ tăng trưởng tín dụng của năm 2011 tại NH cao, kéo theo các khoản NQH trong năm
2012 cũng tăng theo. Năm 2012 kinh tế tiếp tục khó khăn, các DN không trả được nợ gốc
và lãi nên buộc NH phải cho vào NQH, hơn nữa là việc các khoản nợ được cơ cấu lại
trong năm 2011 tiếp tục quá hạn nên kéo theo NQH và nợ xấu tiếp tục tăng. Bên cạnh đó,
năm 2012, một vấn đề nữa cũng phải nhắc tới đó là việc NH chưa thực hiện nghiêm các
quy trình tín dụng, tỷ lệ cho vay không có TSĐB vẫn có chiều hướng tăng, một số khâu
thầm định tín dụng bị bỏ qua, nhiều quyết định giải ngân vẫn mang tính chủ quan, chưa
dựa nhiều trên việc phân tích và đánh giá khách quan và thực tế… qua đó cũng làm giảm
chất lượng tín dụng của NH trong hai năm vừa qua. Năm 2012, chủ trương của NH là
nâng cao chất lượng tín dụng thực chất, đó là NH giảm tăng trưởng tín dụng, tăng cường công tác thẩm định và thu hồi nợ, nhất là các khoản NQH, nợ xấu trong các năm về trước.
- Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu qua các năm của NHCT Hai Bà Trưng:
+ Phân loại NQH và nợ xấu theo nhóm nợ:
NHCT Hai Bà Trưng thực hiện phân loại nợ theo “Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN
ngày 25 tháng 04 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 04 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước”.
N nhóm 1 (N đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ
cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
N nhóm 2 (N cần chú ý) bao gồm:
45
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
N nhóm 3 (N dƣới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn
trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2.
N nhóm 4 (N nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn
trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
N nhóm 5 (N có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ
được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn
hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
Việc phân loại nợ theo Quyết định 18 và Quyết định 493 của NHCT Hai Bà Trưng
tỏ ra khá hiệu quả, giúp NH đánh giá một cách khá chính xác mức độ rủi ro của các khoản nợ qua đó đưa ra các biện pháp thích hợp nhưng vẫn còn một số điểm mà NH cần phải
đánh giá và xem xét lại như: Nếu khách hàng xin gia hạn nợ hoặc đảo nợ thì tổng dư nợ
của NH vẫn tăng lên nhưng tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ giảm đi, NH sẽ không kịp có những biện pháp hạn chế và xử lý rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó theo quy định này, NQH được phân thành 4 nhóm nhóm 2 đến nhóm 5), nợ xấu phân thành 3 nhóm nhóm 3 đến nhóm 5) và trong mỗi nhóm không chỉ bao gồm nợ quá hạn mà còn có những khoản nợ cơ cấu lại kỳ hạn hay trong hạn nhưng bị đánh giá là tiềm ẩn rủi ro, điều đó sẽ gây khó khăn cho NH trong công tác đánh giá rủi ro cho các khoản nợ.
Qua bảng dưới đây thì có thể thấy NQH của NH tăng trong 3 năm liên tiếp, kéo theo các khoản nợ từ nhóm 2 đến nhóm 4 cũng tăng theo, cụ thể năm 2011, nợ nhóm 2 là
46
32.399 triệu đồng, tăng 40,79% so với năm 2010, năm 2012 là 39.723 triệu đồng (chiếm
51,19% trong tổng NQH và tăng 22,61% so với năm 2011. Nơ nhóm 2 vẫn chiếm tỷ trọng cao trên tổng NQH (trên 50%), chứng tỏ NH vẫn giữ một mức an toàn nhất định
cho các khoản cho vay của mình. Nợ nhóm 2 tăng chủ yếu là do khách hàng chậm trả nợ
gốc và lãi trong ngắn hạn do hoạt động SXKD gặp khó khăn trong thời gian ngắn, chưa
có dòng tiền ngay để trả nợ NH, tuy nhiên khả năng thu hồi vốn của NH vẫn khá cao, nhưng NH vẫn phải theo dõi và xem xét kỹ các khoản nợ này, cũng như có các biên pháp
để có thể thu hồi sớm nhất, tránh tình trạng các khoản nợ tiếp tục quá hạn.
Bảng 2.7. Phân loại n xấu, n quá hạn theo nhóm n
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)
Tổng NQH 41.151 100 57.691 100 77.595 100
Nợ nhóm 2 23.013 55,92 32.399 56,16 39.723 51,19
Nợ nhóm 3 14.476 35,18 21.992 38,12 28.104 36,22
Nợ nhóm 4 2.531 6,15 2.959 5,13 6.633 8,55
Nợ nhóm 5 1.131 2,75 341 0,59 3.135 4,04
N xấu/TDN 1,71 1,53 2,25
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHCT Hai Bà Trưng)
Nợ xấu của NH (nợ nhóm 3 đến nhóm 5) của NH cũng có chiều hướng gia tăng,
điều này thất sự đáng lo ngại, đang chứng tỏ mức độ rủi ro rín dụng tại NH là khá cao
nhất là trong năm 2012, tỷ lệ nợ xấu của NH là 2,25%, tăng 47,06% so với năm 2011. Với tỷ lệ nợ xấu của NH là 2,25% thì đó cũng là con số cao trong hệ thống NHCT khi tỷ lệ nợ xấu của NHCT Việt Nam chỉ ở mức khá thấp là 1,46%. Bên cạnh đó mức tăng nợ nhóm 4
và nhóm 5 cũng khá cao, đây là hai nhóm nợ mà khả năng mất vốn xảy ra rất lớn. Cụ thể trong năm 2012, nợ nhóm 5 là 3.135 triệu đồng (chiếm 4,04% NQH), nợ nhóm 4 là 6.633 triệu đồng (chiếm 8,55% NQH), và mức tăng cũng rất cao. Nguyên nhân chính là hai nhóm nợ này được NH cơ cấu lại nhiều nhất trong năm 2011 nhưng lại tiếp tục quá hạn, một số khoản vay trong trung và dài hạn có tỷ trọng lớn cũng đã quá hạn và nhiều khoản vay ngắn hạn vào cuối năm 2011 cũng đã quá hạn nhưng NH chưa thu hồi được, do đó làm tăng tỷ trọng nợ nhóm 4 và 5 qua đó cũng làm tăng tỷ lệ nợ xấu và khiến NH phải đối mặt với nguy cơ cao xảy ra rủi ro tín dụng.
47
+ Phân loại nợ quá hạn theo đối tượng khách hàng:
Qua bảng dưới đây có thể nhận thấy NQH từ 3 nhóm khách hàng trên đều tăng. Đối
với các DN lớn thì tăng 3 năm liên tiếp, điều này cũng khá hợp lý khi mức dư nợ của khối
này cũng tăng 3 năm liên tiếp. Cụ thể năm 2011, NQH khối DN lớn là 14.613 triệu đồng
(chiếm 25,33% NQH , tăng 21,36% so với năm 2010, đến năm 2012 thì NQH ở mức 21.726 triệu đồng (chiếm 27,29% NQH). Nguyên nhân là do không phải các DN lớn nào
cũng hoạt động hiệu quả, cũng có không ít DN lớn đến NH xin gia hạn nợ hoặc chuyển kỳ
hạn nợ. Một phần do nền kinh tế khó khăn, bên cạnh đó cũng có nhiều nguyên nhân khác,
mà điển hinh là có khá nhiều DN lớn là các tập đoàn, tổng công ty hoạt động và đầu tư trên nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nhất là một só thị trường nhạy cảm như BĐS,
TTCK hay đầu tư vào thị trường vàng. Không ít các DN lớn đã đổ một lượng tiền khá lớn
vào các thị trường này, cho dù đó không phải là hoạt động kinh doanh chính của DN vì
mức độ sinh lời cao và không nói đến các DN chuyên hoạt động trong các lĩnh vực này,
thì thực tế những năm vừa qua đã chứng minh rất rõ, thị trường BĐS đóng băng, lượng hàng tồn kho rất lớn, nhiều dự án BĐS ngừng hoạt động. TTCK cũng chung xu hướng ảm
đạm như vậy, lượng tiền cứ bốc hơi dần sau mỗi phiên giao dịch, nguy hiểm hơn nữa là
thị trường vẫn chưa xác định đáy để có thể phục hồi. Thị trường vàng thì quá bất ổn, liên
tục lập những kỷ lục giá mới, bị làm giá nhiều, không phản ánh đúng giá trị thật cũng như
bị ảnh hưởng và phụ thuộc rất lớn từ giá vàng thế giới. Chính vì thế mà nhiều DN lớn đã
mất một lượng tiền khá lớn hoặc tiền bị giam trong các dự án BĐS hoặc cổ phiếu, mà
lượng tiền này chiếm một phần không nhỏ từ tiền vay của NH, có thể các DN xin vay đầu
tư thật hoặc cố tình dùng sai mục đích vay để đầu tư kiếm lời nhanh chóng, điều đó đã
làm gia tăng môt cách nhanh chóng NQH và nợ xấu tại NH trong hai năm vừa qua.
Bảng 2.8. Phân loại n quá hạn theo đối tƣ ng khách hàng
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)
Tổng NQH 41.151 100 57.691 100 77.595 100
Doanh nghiệp lớn 12.041 29,26 14.613 25,33 21.176 27,29
Doanh nghiệp vừa và nhỏ 23.205 56,39 30.645 58,12 39.713 51,18
Khách hàng cá nhân 5.905 14,35 12.432 16,55 16.706 21,53
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHCT Hai Bà Trưng)
48
Hơn nữa, trong năm 2011, Ngân hàng cũng thực hiện cơ cấu lại nhiều khoản nợ
trong khối DN lớn, tạo điều kiện cho các DN này tiếp tục hoạt dộng - SXKD và trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho NH. Bên cạnh đó là việc cho vay không có TSĐB hoặc khoản
vay được thế chấp một phần bằng TSĐB hoặc một phần bằng tín chấp nên rủi ro mang lại
cũng khá cao cho NH và nó cũng là một lý do kéo theo NQH tăng lên. Trong năm 2012,
mặc dù dư nợ giảm nhưng nhiều khoản nợ cho vay trong trung và dài hạn mà NH đã giải ngân đã quá hạn, nguy hiểm hơn là nhiều khoản nợ rơi vào nhóm 4 và nhóm 5 mà chủ yếu
tập trung vào khối DN lớn.
Khối Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có NQH tăng liên tiếp trong 3 năm. Cụ thể
trong năm 2011, NQH của khối DN vừa và nhỏ là 30.645 triệu đồng (chiếm 58,12% tổng
NQH , năm 2012 là 42.817 triệu đồng (chiếm 55,18% tổng NQH . Năm 2012 có NQH
tăng so với năm 2011 nhưng tỷ trọng lại giảm, nguyên nhân là do trong năm 2011, NH
cho vay ra nhiều vốn lưu động để đáp ứng nhu cầu SXKD của các DN vừa và nhỏ, nhưng
do kinh tế khó khăn mà nguồn trả nợ chính là đến từ doanh thu bán hàng, nên khi không
tiêu thụ được sản phẩm, lượng hàng tồn kho cao thì dẫn đến nhiều DN không trả được nợ
gốc và lãi đúng hạn, kéo theo tỷ trọng NQH tăng lên. Nhưng sang năm 2012, tỷ trọng
NQH lại giảm đi nhưng NQH vẫn tăng lên, đó là do các khoản nợ tiếp tục quá hạn, nhiều
khoản vay trung và dài hạn cũng quá hạn nên kéo theo NQH tăng lên khá nhanh, nhiều
khoản nợ cơ cấu lại vào cuối năm 2011 cũng tiếp tục quá hạn. Bên cạnh đó là sự gia tăng NQH khá nhanh của khối DN lớn và KH cá nhân nên tỷ trọng có phần giảm đi so với năm
2011, Ngân hàng cũng đã dùng nhiều biện pháp để thu hồi nợ cũng như trích lập dự
phòng rủi ro nhưng chưa có nhiều hiệu quả, NQH vẫn ở mức cao trong năm 2012.
Khối KH cá nhân cũng tăng cả về số tiền cũng như tỷ trọng NQH trong 3 năm liên
tiếp. Cụ thể trong năm 2011, NQH của khối khách hàng cá nhân là 12.432 triệu đồng
tương ứng 16,55% so với tổng NQH , năm 2012 là 16.706 triệu đồng (chiếm 21,53 tổng
NQH , tăng 34,38% so với năm 2011. Nguyên nhân chính là do trong năm 2011, NH đẩy mạnh cho vay tiêu dùng vì thấy đây là thị trường tiềm năng, nhưng có thể nhận thấy đây
vẫn là thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro cho NH, vì thu nhập của người dân có xu hướng giảm và không ổn định, nguy cơ mất việc làm cũng không phải là nhỏ, nhất là trong thời buổi kinh tế khó khăn như trong vài năm trở lại đây. Nhận định được điều đó nên đa số
các khoản NQH này đều được NH đánh giá là nợ nhóm 2 và nợ nhóm 3, mức độ rủi ro vẫn chưa phải nguy hiểm. Hơn nữa, đa số các khoản nợ này đều được NH đánh giá, thẩm định khá kỹ càng và đều cho vay bằng TSĐB nên mức độ rủi ro cũng chưa thực sự cao,
nhưng NH vẫn cần phải theo dõi cẩn thận và chặt chẽ để phòng tránh rủi ro có thể xảy ra.
49
Có thể thấy qua những phân tích trên thì rủi ro lớn nhất vẫn thuộc về khối DN vừa
và nhỏ vì mức dư nợ lớn nhất cũng như NQH cao nhất. Đây là khối khách hàng bị ảnh hưởng lớn nhất và có sức đề kháng thấp khi nền kinh tế thay đổi theo chiều hướng khó
khăn, do đó tất yếu không chỉ NHCT Hai Bà Trưng mà cả hệ thống NH Việt Nam gặp rất
nhiều khó khăn trong công tác thu hồi nợ cũng như đưa ra các quyết định có cho vay ra
tiếp hay không. Bên cạnh đó khối DN lớn có NQH tăng theo xu hướng khá nhanh, đặc biệt là nợ nhóm 4 và 5 nằm nhiều trong khối này, chính vì vậy mà NH cần có những biện
pháp nhanh chóng và kip thời để thu hồi nợ nhằm tránh rủi ro xảy ra với Ngân hàng.
- Vòng quay vốn tín dụng:
Bảng 2.9. Vòng quay vốn tín dụng qua các năm tại NHCT Hai Bà Trƣng
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Doanh số trả nợ 876.579 1.253.169 1.675.538
Dư nợ bình quân 986.155 1.356.825 1.668.200
Vòng quay vốn tín dụng (lần) 0,89 0,92 1,01
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHCT Hai Bà Trưng)
Qua bảng trên có thể nhận thấy vòng quay vốn tín dụng của NH tăng qua từng năm,
cụ thể năm 2010 là 0,89 lần, năm 2011 là 0,92 lần, tăng 0,03 lần, và năm 2012 là 1,01 lần,
tăng 0,09 lần, tương ứng 9,78%. Vòng quay vốn tín dụng tăng chứng tỏ nguồn vốn của
NH luân chuyển nhanh, sử dụng ngày càng hiệu quả, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất
và lưu thông hàng hóa. Năm 2012, vòng quay vốn tín dụng của NH tăng khá nhanh đó là
do NH chủ trương đốc thúc thu hồi các khoản nợ, nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của NH trong năm 2012. Cũng có thể nhận thấy trong hai năm 2011 và 2012 cơ cấu dư nợ của
NH cũng thay đổi khi NH tập trung nhiều cho vay nhiều trong ngắn hạn, nhất là cho vay vốn lưu động (tỷ lệ này trong hai năm lần lượt là 76% và 77%) nên lượng tiền NH thu về
khá nhanh và đảm bảo, dòng tiền của NH được thu hồi về nhanh qua đó làm tăng vòng quay vốn tín dụng của NH. Đồng thời ta có thể nhận thấy doanh số thu nợ của NH cũng tăng cao và tiệm cận tới mức dư nợ bình quân, thể hiện vốn cho vay của NH được thu hồi khá nhanh, đảm bảo an toàn vốn, khả năng thanh khoản tăng và NH có thể tái đầu tư…
Vòng quay vốn tín dụng của NH tăng nhưng so với trung bình ngành thì vẫn còn khá thấp (Vòng quay tín dụng trung bình ngành từ 1,5 – 2 lần), chính vì vậy mà trong thời gian tới NH cần có những biện pháp quyết liệt hơn trong công tác thu hồi nợ vay, nhất là
50
các khoản NQH nhằm tăng vòng quay vốn tín dụng lên cao qua đó tránh được nguy cơ
RRTD và nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Ngân hàng.
- Tình hình trích lập quỹ dự phòng rủi ro tại NHCT Hai Bà Trưng:
Nơ quá hạn và nợ xấu là hai chỉ tiêu tất yếu trong hoạt động tín dụng của mỗi
Ngân hàng, nó luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động cho vay. Với nguyên tắc phòng tránh
rủi ro hơn xử lý rủi ro và theo quy định của NHNN, bản thân NHCT Hai Bà Trưng luôn cố gắng và chấp hành trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ở mức mà theo NH cho là an toàn
và tuân thủ đúng theo quy định của NHNN.
Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập theo quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN sửa
đổi, bổ sung một số điều của Quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành
theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN.
Bảng 2.10. Trích lập quỹ dự phòng rủi ro qua các năm tại NHCT Hai Bà Trƣng
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Trích lập dự phòng rủi ro 6.259 10.769 11.258
Thu hồi nợ xử lý rủi ro 10.136 13.368 17.325
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHCT Hai Bà Trưng)
Qua bảng số liệu ta thấy, trích lập dự phòng của NH đều tăng trong 3 năm liền. Cụ
thể năm 2011 là 10.769 triệu đồng, tăng 71,06% so với năm 2010, và năm 2012 là 11.258
triệu đồng, tăng 4,54% so với năm 2011. Nguyên nhân là do trong 2 năm 2011 và 2012
hoạt động tín dụng của Ngân hàng tăng mạnh, NQH và nợ xấu cũng tăng theo, kéo theo
làm tăng các khoản dự phòng chung cũng như dự phòng cụ thể, qua đó làm tăng trích lập
dự phòng rủi ro của Ngân hàng.
Khi Ngân hàng tăng trích lập dự phòng rủi ro thì NH có điều kiện sử dụng quỹ dự
phòng để xử lý các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi từ các năm trước còn tồn đọng lại, qua đó một phần giảm bớt được NQH và nợ xấu còn tồn đọng. Với biện pháp trích lập dự phòng rủi ro giúp cho Ngân hàng có thể chủ động hơn trong công tác quản lý RRTD cũng như nâng cao được hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình.
Công tác thu hồi nợ xử lý rủi ro của NH cũng có chiều hướng tăng, đây là dấu hiệu tích cực cho thấy NH đang tích cực phòng tránh rủi ro tín dụng, nhất là năm 2012 đạt
17.325 triệu đồng, tương ứng tăng 26,60% so với năm 2011. Nguyên nhân là do trong
51
năm 2012, Ngân hàng giảm tăng trưởng cho vay, đốc thúc thu hồi các khoản nợ đã xử lý
rủi ro nên lượng tiền thu hồi từ nợ xử lý rủi ro của Ngân hàng tăng cao trong năm 2012.
2.4. Đánh giá rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thƣơng Hai Bà Trƣng
2.4.1. Những kết quả đạt đƣ c
Trong những năm vừa qua, do bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm
2008, cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu kéo theo suy thoái kinh tế kéo dài thì có thể nhận thấy hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn
và tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể phá vỡ cả hệ thống. Bằng chứng là tỷ lệ nợ xấu, NQH được
NHNN công bố những năm vừa qua luôn rất cao (khoảng 8,6% - 10%), vượt ngưỡng an
toàn, có thể đó là hệ quả của tăng trưởng quá nóng hay có thể là do thiếu sự giám sát,
đánh giá cũng như phòng tránh rủi ro xảy ra của NHNN và bản thân các NHTM, hoặc do
nhiều nguyên nhân khác trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra.
Trước bối cảnh đó, NHCT Hai Bà Trưng cũng không phải là trường hợp ngoại lệ,
nhưng trong 3 năm vừa qua, NHCT Hai Bà Trưng cũng đạt được những kết quả nhất định
trong công tác đánh giá và phòng tránh RRTD. Điểm sáng nhất đó chính là công tác thu
hồi NQH và thu hồi nợ đã xử lý rủi ro của NH (nhất là các DN Quốc doanh có mức dư nợ
cao , đây là biện pháp được Ban lãnh đạo NH chú trọng và chỉ thị rõ, được thực hiện một
cách sát sao và đã đem lại hiệu quả tích cực. Bằng chứng là doanh số thu hồi NQH luôn
tăng, cụ thể là một số DN như: Công ty Bê tông Vĩnh Tuy là 8 tỷ đồng, Công ty thương mại Bạch Đằng: 5 tỷ đồng, Công ty Cơ khí ôtô công trình: 9 tỷ đồng, Cảng Hà Nội: 3 tỷ
đồng… tổng doanh số thu NQH đạt 29 tỷ đồng. Công tác thu hồi nợ sau xử lý rủi ro cũng
đạt kết quả cao, cụ thể như: Công ty Dệt 8/3 là 4 tỷ đồng, Công ty xây lắp Thương mại 1
là 2 tỷ đồng, Công ty Bê tông Thịnh Liệt: 3 tỷ đồng, Công ty Vật liệu xây dựng - Xuất
nhập khẩu Hồng Hà là 5 tỷ đồng… tổng thu nợ sau xử lý rủi ro đạt trên 17 tỷ đồng.
Ngoài ra, công tác phòng chống rủi ro bằng nâng cao công tác thẩm định, đánh giá khách hàng trước cho vay cũng được NH triển khai và thực hiện nghiêm túc. Cho dù tỷ lệ
NQH và nợ xấu trên tổng dư nợ khá cao lần lượt là 4,61% và 2,25% vẫn nhỏ hơn mức giới hạn là 5% và 3% nên vẫn có thể coi hoạt động tín dụng tại NH là an toàn, mặc dù đã tiệm cận tới mức nguy hiểm mà NH phải đối mặt với rủi ro tín dụng xảy ra, đây cũng là nỗ lực của Ban giám đốc cũng như toàn thể nhân viên trong công tác phòng tránh RRTD.
Cơ cấu cho vay của NH cũng hợp lý hơn qua các năm. Tỷ trọng cho vay thành phần
kinh tế Quốc doanh giảm, tránh tình trạng cho vay những DN làm ăn thua lỗ, hoạt động SXKD không hiệu quả, tài sản đảm bảo không đủ điều kiện… Trong khi đó, thành phần
kinh tế ngoài Quốc doanh, nhất là khối DN vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng dư nợ ngày càng
52
lớn hơn, và trong những năm vừa qua NH cũng đẩy mạnh công tác cho vay tiêu dùng.
Việc thay đổi cơ cấu cho vay cũng nằm trong chính sách của NH trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế thị trường. Đối với các DN vừa và nhỏ, tuy trong bối cảnh kinh tế khó
khăn nhưng họ cũng đã chứng minh họ là thị phần khách hàng chính của NH, bằng chứng
là tỷ trọng cho vay cao, luôn chiếm trên 50% tổng dư nợ, tỷ lệ NQH và nợ xấu cũng có
chiều hướng giảm trong tương lai khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi. Chính vì vậy, việc thay đổi cơ cấu cho vay cũng là biện pháp tốt mà NH có thể phòng tránh RRTD.
2.4.2. Những điểm còn tồn tại và nguyên nhân
- Những điểm còn tồn tại:
Bên cạnh những kết quả đạt được như ở trên thì NHCT Hai Bà Trưng vẫn còn tồn
tại một số điểm còn hạn chế sau:
Thứ nhất, hoạt động tín dụng của NHCT Hai Bà Trưng vẫn tồn tại nhiều rủi ro tiềm
ẩn. Cụ thể là năm 2012, tỷ lệ NQH và nợ xấu tăng nhanh, ảnh hưởng nhiều tới lợi nhuận
của NH khi NH phải trích một phần không nhỏ vào chi phí cho hoạt động dự phòng rủi ro
tín dụng, bên cạnh đó cũng ảnh hưởng tới hoạt động chung của NH, nếu không giải quyết
sớm sẽ có thể dẫn tới tình trạng mất khả năng thanh khoản cho NH.
Thứ hai, tỷ lệ cho vay không có TSĐB của NH vẫn còn cao, điều đáng lo ngại hơn
là nó tăng dần qua từng năm, chứng tỏ NH vẫn chưa thực sự chú trọng nhiều tới khâu
đánh giá TSĐB khi cho vay. Cũng có thể một phần do NH đánh giá tốt khả năng trả nợ của khách hàng, hiệu quả từ phương án S KD, các DN lớn, khách hàng lâu năm, nhưng
có thể trong giai đoạn này, hoạt động cho vay không có TSĐB của NH vẫn tiềm ẩn nhiều
rủi ro, ngay cả khi DN thế chấp bằng tài sản là hàng hóa trong kho nhưng vẫn có nhiều
trường hợp khách hàng vay vốn được nhiều NH khác nhau, cố tình lừa đảo gây mất vốn
cho NH, chứ không nói trường hợp NH chỉ cho vay bằng tín chấp, bằng uy tín của khách
hàng. Chính vì vậy, đây vẫn là dấu hiệu đáng lo ngại cho NH trong công tác cho vay, nó cũng sẽ ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng tại NH trong các giai đoạn tiếp theo, và vì dù
gì thì TSĐB vẫn là công cụ thu hồi nợ cuối cùng khi khách hàng không trả được nợ, và nó gần như là điều kiện bắt buộc khi NH giải ngân cho khách hàng.
Thứ ba, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, ngừng sản xuất nhưng các Bộ ngành địa phương chần chừ không sắp xếp lại do nhiều lý do gây nên khó khăn trong việc thu nợ.
Cũng có doanh nghiệp đã có quyết định phá sản, giải thể nhưng tài sản không thể thanh lý
được do không có đầy đủ giấy tờ hoặc tài sản không còn giá trị. Do vậy, việc bán tài sản công khai trên thị trường và qua trung tâm bán đấu giá rất mất thời gian để xác định giá trị của tài sản, qua đó làm chậm công tác thu hồi nợ của Ngân hàng.
53
- Nguyên nhân:
Một khoản NQH, nợ xấu có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan gây ra. Do vậy xử lý NQH, nợ xấu là một công việc rất phức tạp và mất nhiều
thời gian và công sức. Để xử lý được một khoản nợ xấu có hiệu quả thì trước hết cần phải
biết được nguyên nhân chính gây ra nó để có hướng xử lý phù hợp, đảm bảo cho Ngân
hàng thu được nợ và tạo điều kiện cho khách hàng tiếp tục hoạt động – SXKD và trả nợ cho Ngân hàng. NQH và nợ xấu của NH đến từ một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Nguyên nhân từ phía Ngân hàng:
Thứ nhất, khâu thẩm định khách hàng ban đầu chưa đầy đủ, chính xác trước khi cho
vay nên có những quyết định không kịp thời đúng đắn, cho khách hàng vay trong khi nguồn trả nợ của họ không có. Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng tín dụng đòi hỏi khả năng hết
sức nhạy bén của cán bộ tín dụng trong công tác thẩm định khách hàng ngay từ đầu.
Thứ hai, việc đánh giá tài sản thế chấp của khách hàng chưa chặt chẽ. Ngân hàng
không thực hiên tốt công tác kiểm tra, đánh giá đúng giá trị tài sản hoặc giấy tờ mang tính
hợp pháp của tài sản thế chấp. Đến khi khách hàng không trả được nợ buộc Ngân hàng
phải đem tài sản đó ra phát mại thì gặp khó khăn không thu hồi đủ vốn.
Thứ ba, công tác kiểm soát chưa chặt chẽ. Sau khi phát tiền vay cho khách hàng theo
quy định của chế độ tín dụng thì cán bộ tín dụng phải có biện pháp theo dõi, nắm bắt đầy
đủ mọi diễn biến của quá trình sử dụng tiền vay và tình hình sản xuất kinh doanh của
khách hàng. Từ đó không phát hiện được khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, hoặc kinh doanh thua lỗ để có biện pháp xử lý kịp thời.
+ Nguyên nhân từ phía khách hàng:
Thứ nhất, công nghệ, kỹ thuật, trình độ sản xuất của DN chưa cao, tính toán chọn
phương án kinh doanh thiếu thông tin, thiếu chính xác dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, lợi nhuận thấp có khi còn thua lỗ gây khó khăn cho việc trả nợ Ngân hàng.
Thứ hai, khả năng tài chính của nhiều DN vẫn còn non yếu nên chỉ một rủi ro nhỏ
cũng có thể làm mất khả năng thanh toán và không trả nợ được cho Ngân hàng. Bên cạnh đó là tư cách đạo đức của người đi vay, khi đến hạn trả nợ gỗc và lãi nhưng khách hàng vẫn cố tình không trả trong thời gian dài khiến cho các khoản vay đều bị chuyển thành NQH và nợ xấu.
Thứ ba, sử dụng vốn sai mục đích như dùng vốn của NH để kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro, không đúng với hồ sơ xin vay mượn vốn với
NH, hoặc cũng có thể do khách hàng cố tình lừa đảo nhằm chiếm dụng vốn của NH.
54
+ Nguyên nhân khác:
Thứ nhất và có lẽ cũng là nguyên nhân lớn nhất là từ cuộc khủng hoảng tài chính
năm 2008, khủng hoảng nơ cộng ở Châu Âu kéo theo khủng hoảng kinh tế vài năm trở lại
đây, không chỉ riêng NH bị ảnh hưởng mà còn nhiều NH, tổ chức tín dụng khác và các
DN cũng bị ảnh hưởng theo. Kinh tế khó khăn, DN không bán được hàng, lượng hàng tồn kho cao dẫn đến doanh thu và lợi nhuận giảm, đương nhiên kéo theo là không thể trả nợ
gốc và lãi đúng hạn cho NH, qua đó gây ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của NH. Bên
cạnh đó, mặt bằng lãi suất vẫn còn cao, nhiều DN không tiếp cận được nguồn vốn và cũng
có trường hợp không dám vay NH vì không có nguồn gì để trả nợ, điều đó ảnh hưởng nhiều tới doanh thu và lợi nhuận của NH.
Thứ hai, sự thay đổi về cơ chế chính sách. Cơ chế chính sách kinh tế của Nhà nước
không ổn định là nguyên nhân làm cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
vay vốn bị đảo lộn. Việc nhà nước tăng giá một số mặt hàng độc quyền như xăng dầu,
điện, nước… cũng làm cho các DN vừa và nhỏ có vốn không cao, nhưng lại có tỷ lệ vốn vay NH lớn nên dễ bị tổn thương trước những thay đổi đột ngột này.
Thứ ba, xu thế toàn cầu hoá ngày càng mở rộng cũng khiến cho cả NH và khách
hàng đều gặp phải những rủi ro nhất định. DN không kịp thích ứng với những biến đổi
của môi trường xung quanh, sản phẩm sản xuất ra không thể cạnh tranh được trên thị
trường dẫn đến thị phần giảm, thu nhập giảm và làm giảm cả khả năng trả nợ cho NH.
Cuối cùng là việc thu thập các thông tin liên quan đến khách hàng nói chung, không
những của Chi nhánh NHCT Hai Bà Trưng mà còn cả nhiều Ngân hàng khác cũng gặp
nhiều khó khăn. Hệ thống số liệu báo cáo của các doanh nghiệp chưa chính xác, không
kịp thời, và khi Ngân hàng không được hỗ trợ bởi một hệ thống thông tin có hiệu quả tạo
cơ sở ra để ra các quyết định có cho vay hay không thì các quyết định cho vay này vẫn
tiềm ẩn nhiều rủi ro cho NH, và cũng là nguyên nhân không nhỏ gây ra RRTD.
Kết luận chƣơng 2
Nội dụng của chương 2 tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng, NQH và nợ xấu của NHCT Hai Bà Trưng và công tác phòng ngừa RRTD tại Chi nhánh NH, đồng thời nêu lên những mặt còn hạn chế, khó khăn trong công tác tín dụng và phòng ngừa RRTD tại chi nhánh NHCT Hai Bà Trưng. Những đánh giá, phân tích trong chương 2 cũng là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế RRTD tại NHCT Hai Bà Trưng được thể hiện trong chương 3 tiếp theo.
55
CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG
THƢƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HAI BÀ TRƢNG
3.1. Định hƣớng hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thƣơng
Hai Bà Trƣng – Hà Nội trong năm 2013
Năm 2013 tiếp tục được dư báo tiếp tục là một năm khó khăn với nền kinh tế nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng. NHCT Hai Bà Trưng phải đối mặt với nhiều khó
khăn trước mắt như tỷ lệ NQH và nợ xấu vẫn ở mức khá cao, mặc dù tỷ nợ xấu vẫn chưa
vượt quá 3% để bán lại nợ cho công ty Quản lý tài sản Quốc gia (VAMC), nhưng nếu
không có những biện pháp tích cực và đúng đắn thì rất có thể trong năm tới thì tỷ lệ này
sẽ vượt quá 3%, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động tín dụng và kinh doanh của NH. Thứ hai
là tìm đầu ra cho nguồn vốn huy động khi dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm 2013 ở
mức khiêm tốn từ 9% - 12%, nhiều DN nhất là khối DN vừa và nhỏ không tiếp cận được
nguồn vốn do mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao. Bên cạnh đó là tình hình S KD
gặp nhiều khó khăn, DN không trả được nợ đúng hạn nên NH không thể tiếp tục cho vay.
Hơn nữa là DN cũng không đáp ứng được các điều kiện của NH như TSĐB hay năng lực
trả nợ nên NH cũng khó có thể tiếp tục giải ngân. Thứ ba là nhiều chính sách mới của
NHNN trong quản lý hoạt động của các NHTM đặc biệt là vấn đề giải quyết nợ xấu của
hệ thống NHTM. Bên cạnh đó là một số thông tư, nghị định mới của NHNN cũng được ban hành nhằm thắt chặt hơn hoạt động kinh doanh của NHTM, nổi bật nhất là thông tư
02 sẽ có tác động rất lớn đến NH trong việc quản lý NQH và nợ xấu trong thời gian tới.
Sự cạnh tranh ngày càng lớn của các Tổ chức tín dụng khác trên địa bàn, trích lập dự
phòng RRTD tăng cao, tăng trưởng tín dụng chậm lại sẽ ảnh hưởng rất lớn tới lợi nhuận
của NH và ảnh hưởng trực tiếp tới cán bộ - công nhân viên tại Chi nhánh NH, rõ nhất là
việc cắt giảm lương, thưởng vả cắt giảm nhân sự sẽ ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống cũng như tâm lý làm việc của toàn thể cán bộ - nhân viên trong NHCT Hai Bà Trưng.
Bên cạnh những khó khăn thì NHCT Hai Bà Trưng cũng có một số thuận lợi như: Dự báo GDP vẫn tăng và cao hơn năm 2012, lạm phát có xu hướng giảm. Chính phủ tiếp tục tung ra nhiều gói kích cầu nhằm hỗ trợ cho các DN trong SXKD và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và ổn định. Thị trường chứng khoán có dấu hiệu phục hồi tốt và thị trường Bất động sản cũng bắt đầu ấm dần lên. Đó là một số thông tin vĩ mô tích cực từ nền kinh
tế, còn về phía NH thì NH cũng đã chủ động lường trước được khó khăn và đưa ra các biện pháp kịp thời, tận dụng lợi thế sẵn có của mình như: NH vẫn là một trong những NH
có uy tín lớn và hoạt động hiệu quả trong ngành, chiếm được lòng tin của khách hàng gửi
56
tiền cũng như của khách hàng vay vốn, thị phần về huy động vốn cũng như cho vay vẫn
được đảm bảo, tăng trưởng về tín dụng cũng như lợi nhuận cao và luôn đổi mới phong cách cũng như tư duy làm việc nhằm đưa ra các sản phẩm tốt nhất dành cho khách hàng.
ác định và đánh giá được những thuận lợi và khó khăn của mình, Ban lãnh đạo
NHCT Hai Bà Trưng đã đã đề ra những định hướng cho hoạt động tín dụng trong năm tới
cho Ngân hàng, cụ thể như sau:
- Tập trung mở rộng hoạt động tín dụng cùng với việc nâng cao chất lượng tín dụng, không để NQH và nợ xấu phát sinh mới, hạn chế việc cơ cấu lại các khoản nợ, phát
triển các dịch vụ NH cũng như tăng cường công tác bán chéo các sản phẩm NH;
- Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ đã được xử lý rủi ro, NQH và nợ xấu một cách sớm nhất;
- Tăng cường kiểm tra kiểm soát theo chuyên đề các phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm;
- Chú trọng và ưu tiên cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công ty đã cổ phần
hoá làm ăn có hiệu quả, cũng như đẩy mạnh công tác cho vay tiêu dùng;
- Triển khai mạnh việc cho vay và huy động ngoại tệ đối với khách hàng để từ đó đẩy
mạnh công tác thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ ở Ngân hàng;
- Phân loại nợ sát theo tình hình thực tế để có thể đánh giá đúng chất lượng tín dụng;
- Cơ cấu lại toàn diện mọi hoạt động, thực hiện chuẩn hóa các nghiệp vụ, quản trị NH, nâng cao trình độ và kỹ năng đội ngũ cán bộ - nhân sự, công khai - minh bạch hóa
thông tin và lành mạnh về tài chính.
Căn cứ vào những định hƣớng trên, các chỉ tiêu hoạt động năm 2013 của
NHCT Hai Bà Trƣng đƣ c cụ thể hoá nhƣ sau:
- Tổng nguồn vốn huy động tăng 10% - 15% đạt 2.242.209 triệu đồng - 2.344.128
triệu đồng vào cuối năm 2013;
- Tổng dư nợ tăng 15% - 20% đạt 1.935.671 triệu đồng - 2.019.830 triệu đồng vào
cuối năm 2013;
- Lợi nhuận trước thuế tăng 20% và đạt 134.581 triệu đồng;
- Thu phí dịch vụ tăng 20%;
- Tỷ lệ NQH nhỏ hơn 4%;
- Tỷ lệ nợ xấu dưới mốc 2%;
- Thu nợ xử lý tủi ro 50 tỷ đồng trở lên;
- Trích lập dự phòng rủi ro dưới 10 tỷ đồng.
57
3.2. Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thƣơng
Hai Bà Trƣng – Hà Nội
Trong những năm vừa qua, NHCT Hai Bà Trưng cũng đã thực hiện nhiều biện pháp
nhằm ngăn ngừa rủi ro tín dụng nhưng hiệu quả đạt được là chưa cao, chất lượng tín dụng
của NH chưa được đảm bảo. Tỷ lệ NQH và nợ xấu vẫn ở mức mấp mé mức nguy hiểm,
nhiều khoản vay có khả năng mất trắng, do đó nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng vẫn còn tiềm ẩn ở mức cao, qua đó làm ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh của NH. Chính
vì vậy mà trong thời gian tới, NHCT Hai Bà Trưng nên thực hiện một số biện pháp nhằm
phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng như sau.
3.2.1. Hoàn thiện, thực hiện nghiêm ngặt quy trình tín dụng
Việc thực hiện đúng quy trình này sẽ giúp loại bỏ những rủi ro, giúp quá trình cho
vay được an toàn. Trên thực tế thì Chi nhánh NH vẫn chưa thực hiện đúng và đủ quy trình
này. Để thực hiện quy trình này một cách nghiêm túc hơn thì NHCT Hai Bà Trưng cần:
- Ban hành đầy đủ các quy trình nghiệp vụ và có hướng dẫn thực hiện cụ thể đồng thời quán triệt đến từng chi nhánh, từng cán bộ NHCT Hai Bà Trưng nói chung và
cán bộ tín dụng nói riêng nhận thức đầy đủ tính cấp thiết, lợi ích của việc ngăn ngừa
phát sinh NQH và nợ xấu;
- Quy định về nhiệm vụ, phân công trách nhiệm, xác định rõ quan hệ điều hành từ Chi nhánh chính xuống cơ sở. Phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng cấp, từng cá
nhân. ác định lại thẩm quyền phán quyết đối với từng đơn vị, từng bộ phận nhằm nâng cao tính độc lập và giảm bớt khối lượng công việc cho NHCT Hai Bà Trưng;
- Trên cơ sở trách nhiệm và quyền hạn, cần xử lý nghiêm các trường hợp làm sai quy trình nhằm hạn chế rủi ro trong trường hợp khách hàng và cán bộ tín dụng móc ngoặc với nhau. Đồng thời thường xuyên tiến hành kiểm tra, đánh giá thực hiện và xử lý sau khi thực hiện.
3.2.2. Nâng cao hơn nữa chất ƣ ng thẩm định tín dụng
Chất lượng thẩm định tín dụng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng của NH, nhất là chất lượng thẩm định dự án đầu tư. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng
thẩm định như các chính sách về đầu tư, các quy hoạch ngành, vùng... Thẩm định dự án và cho vay theo dự án là hoạt động có tầm quan trọng bậc nhất tại Ngân hàng. NHCT Hai Bà Trưng đã ban hành nhiều quy trình, quy định, hướng dẫn... về thẩm định dự án, kiểm soát... nhằm không ngừng nâng cao chất lượng thẩm định. Nội dung thẩm định ngày càng
được hoàn thiện, các phương pháp thẩm định tiên tiến đã dần được áp dụng trong toàn hệ
58
thống. Trình độ cán bộ phân tích tín dụng và thẩm định dự án không ngừng được nâng
cao. Tuy nhiên bên cạnh những bước phát triển trên còn có một số hạn chế trong quá trình thẩm định, để khắc phục điều đó thì NHCT Hai Bà Trưng cần xem xét:
- Hiện nay việc thực hiện các bước chuẩn bị đầu tư mất rất nhiều thời gian. Chủ đầu tư sau khi được cấp có thẩm quyền cho phép triển khai dự án, phải lập dự án. Sau đó
là được sự đồng ý của các Bộ, ban ngành có liên quan, chính quyền các cấp và NH cũng cần phải thẩm định lại chắc chắn một lần nữa tính khả thi của dự án. Mỗi bên
đều có yêu cầu riêng và để đảm bảo yêu cầu khách quan hoạt động thẩm định của
NH cũng được thực hiện tách rời với chủ đầu tư. Kinh nghiệm chuyên môn của cán
bộ NH không thể chuyên sâu cho tất cả các lĩnh vực do vậy thời gian thẩm định kéo
dài, chi phí lớn. Trong một số trường hợp chủ đầu tư muốn rút ngắn thời gian chuẩn
bị đầu tư. Để tiết kiệm chi phí và tận dụng được khả năng của cán bộ xây dựng dự
án cần có sự kết hợp ngay từ đầu giữa NH và chủ đầu tư trong việc thẩm định dự án;
- Đối với cho vay ngắn hạn, nếu thấy người vay không có khả năng hoàn trả NH có thể ngừng cho vay và có thể yêu cầu phát mại tài sản thế chấp. Cho vay trung và dài
hạn thì khó khăn hơn, khi phát sinh rủi ro thì NH khó thực hiện việc phát mại tài
sản. Ngân hàng cần tham gia trực tiếp vào quá trình định hướng của ngành mà mình
cho vay, tham gia vào quá trình phân tích của chủ đầu tư và Ngân hàng có thể thẩm
định thêm một số chỉ tiêu mà Ngân hàng cho là cần thiết để tạo điều kiện tốt nhất
cho DN trả được nợ và phòng tránh rủi ro cho Ngân hàng.
3.2.3. Hoàn thiện và nâng cao hệ thống thông tin của Ngân hàng
Để thực hiện được tốt công tác thẩm định thì cần phải có hệ thống thông tin đầy đủ,
chính xác, cập nhật và kịp thời. Thông tin đảm bảo yêu cầu sẽ giúp việc thẩm định có
được những quyết định phù hợp. Vì vậy mà việc nâng cao chất lượng thông tin là vấn đề
mà NHCT Hai Bà Trưng cũng cần phải quan tâm. Nội dung chính là:
- Tiến hành thu thập thông tin về khách hàng từ tất cả các kênh: trung tâm thông tin tín dụng, từ nguồn thông tin nội bộ, từ Internet... NHCT Hai Bà Trưng cũng cần nắm được xu hướng phát triển đối với các lĩnh vực, ngành nghề cho vay. Trên cơ sở đó
tập hợp, phân tích và đánh giá mức độ rủi ro có thể xảy ra, có cơ sở tính toán xác định hạn mức rủi ro, quản lý và xử lý rủi ro cho phù hợp với thực tiễn hoạt động;
- Tổ chức hệ thống thông tin quản lý phải đạt được các yêu cầu đối với quản trị DN, đó là thông tin thông suốt từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên, kịp thời, chính xác,
đầy đủ, cập nhật. Quản trị mạng theo mô hình NH hiện đại, an toàn và bảo mật.
59
3.2.4. Đa dạng hoá danh mục cho vay
Khi một NH phát triển chiến lược và kế hoạch kinh doanh của mình, để giảm thiểu rủi ro tín dụng, họ phải xem xét đến các yếu tố và mức độ rủi ro của thị trường mục tiêu
và phân đoạn khách hàng, sự kết hợp giữa các sản phẩm tín dụng, khả năng cấp và trọng
tâm danh mục. Tuy nhiên, theo các chuyên gia NH, việc cần làm nhất vẫn là đa dạng hoá
các danh mục cho vay. Thực vậy, việc đa dạng hoá danh mục cho vay của NH sẽ làm giảm tối đa rủi ro vì các khoản vay thường có mức độ rủi ro khác nhau theo năng lực, quy
mô khách hàng, ngành nghề, tính chất sở hữu… của khách hàng.
NHCT Hai Bà Trưng nên tăng cường hơn nữa cho vay đồng tài trợ vì hình thức
này cũng giúp phân tán rủi ro. Thông thường các khoản cho vay đồng tài trợ thường là
các khoản lớn, khó thẩm định mà khả năng về vốn của NH cũng không tài trợ toàn bộ
được. Trong trường hợp đó, NH sẽ kết hợp với các NH khác đánh giá và cho vay, như
vậy, rủi ro sẽ được chia sẻ mà vẫn đảm bảo lợi nhuận thu được. Thực tế cho thấy trong
năm 2012, NHCT Hai Bà Trưng cho vay đồng tài trợ 3 dự án với dư nợ 192 tỷ thì 2 dự án
đã trả nợ gốc và lãi đúng hạn và cho tới thòi điểm này chưa có dấu hiệu rủi ro xảy ra. Do
đó, cho vay đồng tài trợ cũng là một trong những biện pháp giảm thiểu rủi ro có hiệu quả.
3.2.5. Tổ chức phân tích, phân loại n xấu theo định k
Cán bộ tín dụng phải coi việc phân tích, phân loại nợ xấu là một công việc trọng
yếu. Đối với từng khoản nợ có vấn đề phải phân tích chi tiết thực trạng tình hình tài chính của khách hàng, tìm ra nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, khả năng tài chính của khách hàng
có thể thu nợ đến đâu, tìm hiểu rõ đạo đức, gia cảnh của khách hàng. Từ đó giúp cán bộ
tín dụng nắm được nguyên nhân phát sinh để có cách giải quyết cho từng đối tượng.
Cụ thể như sau:
- Việc phân tích, phân loại nợ xấu phải tiến hành thường xuyên, liên tục, định kỳ, khi phát hiện ra một sự thay đổi nào phải báo cáo lên trên và phải báo cáo về tình hình xử lý nợ, những khó khăn trong quá trình thực hiện về NHCT Việt Nam và NHNN
để lấy ý kiến chỉ đạo kịp thời;
- Mỗi chi nhánh cử một vài cán bộ vững vàng nghiệp vụ, thông hiểu từng khách hàng, có kinh nghiệm trong công tác xử lý nợ để kiểm tra, phân tích các khoản nợ xấu. Tiến hành phân tích trên nhiều góc độ khác nhau: Theo thành phần kinh tế, theo phương thức cho vay, theo tài sản bảo đảm, theo mức độ rủi ro... để xác định đúng hướng xử lý các khoản nợ đó. Đồng thời kiểm tra tính pháp lý hồ sơ đề nghị xử lý nợ của các phòng tín dụng chuyển đến và tập hợp trình lên ban xử lý nợ cấp trên, trình tự này sẽ giúp cho công tác đánh giá chính xác, khả thi hơn.
60
3.2.6. Tăng cƣờng đôn đốc, xử lý và thu hồi đối với các khoản N quá hạn và các
khoản n tồn đọng
Nợ quá hạn và nợ xấu luôn có xu hướng tăng trong những năm vừa qua khiến chất
lượng tín dụng của NH không đảm bảo. Chính vì vậy mà công tác đôn đốc, xử lý và thu
hồi NQH, nợ xấu và nợ tồn đọng là một trong những biện pháp tốt trong việc phòng ngừa
RRTD tại Ngân hàng. NHCT Hai Bà Trưng cần phải xác định rõ một số quan điểm trong công tác xử lý và thu hồi các khoản NQH, nợ tồn đọng như sau:
- Trước hết cần cương quyết sắp xếp lại đội ngũ cán bộ nhất là cán bộ tín dụng. Những cán bộ nào chưa đáp ứng được yêu cầu, trình độ thì cho đi đào tạo lại. Còn
cán bộ nào không đáp ứng được yêu cầu thì cương quyết chuyển công tác khác;
- Cần tập trung nhìn thẳng vào nợ xấu và coi việc xử lý nợ xấu là vấn đề tất yếu vì những rủi ro tiềm ẩn là không thể tránh khỏi, nếu không nhìn thẳng vào thực tế này
thì rất khó có những giải pháp triệt để phù hợp nhằm giải quyết các khoản nợ xấu
phát sinh;
- Cần đánh giá phân tích rõ bản chất tất cả các khoản nợ. Chi nhánh NH phải chuyển NQH ngay đối với các khoản nợ khó có khả năng thu hồi mà không đợi đến khi hết
thời hạn gia hạn hoặc ngay cả khi còn trong hạn;
- Lập lộ trình thu hồi nợ cụ thể trên cơ sở đánh giá khả năng trả nợ thực tế khách hàng. Lộ trình này sẽ được theo dõi hàng tháng và cập nhật để đảm bảo việc thu hồi
nợ được thực hiện theo đúng kế hoạch;
- Việc xử lý nợ xấu được tập trung hoàn toàn cho bộ phận thu hồi nợ chuyên nghiệp là phòng quản lý tín dụng khi nợ ở nhóm 3 trở lên thay vì chỉ sau khi được chuyển ngoại bảng. Đồng thời cũng phải kiểm điểm làm rõ trách nhiệm cá nhân có liên quan;
- Cán bộ nào để phát sinh NQH, nợ tồn đọng nhiều, thời gian kéo dài thì lãnh đạo phòng không tiếp tục giao công việc mới mà chỉ giao cán bộ đó tập trung vào việc
thu hồi nợ xấu;
- Và cũng có những cơ chế khuyến khích bằng vật chất đối với các khoản nợ được thu hôi mà Ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi và các khoản nợ xấu đã xử lý từ dự phòng rủi ro chuyển sang ngoại bảng.
Trên cơ sở đó, Ngân hàng cần tiến hành các biện pháp đôn đốc, thu hồi thích hợp
với từng khoản nợ xấu nhằm đạt hiệu quả thu hồi cao nhất và trong thời gian ngắn nhất. Đây được xem là biện pháp ít tốn kém nhất nhưng hiệu quả mang lại không phải là nhỏ.
Cụ thể như sau:
61
- Đối với NQH < 12 tháng: Ngoài việc gửi văn bản thông báo NQH, kết hợp với việc tăng cường kiểm tra kết quả quá trình sử dụng vốn, thực hiện tài chính, tài sản đảm bảo... cán bộ tín dụng có thể tiến hành tư vấn cho khách hàng về các đối tác có quan
hệ kinh tế để tránh xảy ra những vụ lừa đảo, hoặc các hợp đồng vô hiệu dẫn đến rủi
ro cho khách hàng cũng như Ngân hàng);
- Đối với các khoản NQH > 12 tháng, nguy cơ rủi ro cao thì công tác đôn đốc cần
được thực hiện liên tục và chặt chẽ hơn:
+ Tiến hành thương lượng với khách hàng về các biện pháp xử lý nợ. Cần ưu tiên
các khách nợ có tư cách đạo đức tốt, có thiện chí trả nợ và có khả năng trả nợ. Các biện
pháp thương lượng với khách hàng phải gắn với cơ chế, chính sách...;
+ Tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan chủ quản, tổ trưởng tổ nhóm vay... để nâng
cao kết quả thực hiện;
+ Có các hình thức thu nợ thích hợp: Một phần hoặc toàn phần, thu gốc trước lãi
sau... tạo điều kiện cho khách nợ có điều kiện hoàn trả đủ gốc và lãi.
3.2.7. Cơ cấu lại một số khoản n
Cho dù việc cơ cấu lại các nhóm nợ cũng là một trong nhưng nguyên nhân gây ra nợ
xấu đối với NHCT Hai Bà Trưng trong năm vừa qua nhưng đối với một số khoản NQH,
nợ xấu do nguyên nhân khách quan nhưng chưa phải là bất khả kháng thì việc xem xét cơ
cấu lại nợ là việc làm cần thiết. Điều này sẽ giúp cho DN có được cơ hội để tiếp tục sản
xuất và tiến hành trả nợ cho NH. Việc cơ cấu lại nợ hoặc thay đổi hợp đồng tín dụng gồm:
- Nhóm NQH được xét cho khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5, là các DN chưa trả được nợ vay NH do chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sự thay đổi cơ chế, chính sách và môi
trường kinh doanh như bị đóng cửa, mất thị trường...), do tiến hành sắp xếp lại doanh nghiệp, do NH cho vay theo chỉ định của cấp trên... Trước mắt NH chịu rủi ro phần thu lãi hàng năm trên loại nợ xấu này. Tuy nhiên để NH có được nguồn vốn hoạt động NH cần có cơ chế mua bán nợ và khoản nợ khoanh được hạch toán riêng và tạm loại
ra khỏi chỉ tiêu tính tỷ lệ nợ xấu của NH từ thời điểm có quyết định được khoanh;
- Nhóm nợ xấu được xét cho giãn nợ từ 3 đến 5 năm là các DN, đặc biệt là các DN Quốc doanh chưa có khả năng trả nợ cho NH do kinh doanh thua lỗ, mất thời cơ tiêu thụ hàng hoá hoặc thời kỳ phát huy hiệu quả dự án sản xuất chưa tới, do nhu cầu của
nền kinh tế và hướng phát triển trong tương lai mà doanh nghiệp đó cần được tiếp tục tồn tại. Đây là khoản dư nợ được xét cho cơ cấu lại: Biến nợ thời hạn ngắn thành
thời hạn dài hơn, biến NQH thành nợ trong hạn và con nợ vẫn phải trả lãi tiền vay
62
trong suốt thời gian chưa đáo hạn của các hợp đồng tín dụng đó. Để bù đắp thiếu hụt
nguồn vốn thanh toán (do phải kéo dài thời gian thu hồi nợ) thì NHCT Hai Bà Trưng có thể sử dụng thị trường tiền tệ và thị trường mua bán nợ thông qua công ty Quản
lý tài sản Quốc gia (VAMC) trong thời gian tới.
3.2.8. Tăng cƣờng kỹ năng công tác quản lý rủi ro trong hoạt động Ngân hàng
- Phân tích, đánh giá cơ cấu tài sản nợ: Tiến hành nghiên cứu phân tích toàn diện môi trường kinh doanh để dự báo về xu hướng vận động của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô,
của lãi suất và tỷ giá hối đoái từ đó có kế hoạch phát triển nguồn vốn phù hợp. Diễn
biến tăng giảm cơ cấu các loại vốn trong tổng nguồn vốn, mối quan hệ giữa vốn và
sử dụng vốn, trên cơ sở đó xây dựng cơ chế chính sách huy động và điều hành vốn
có hiệu quả nhất. Xây dựng các chỉ tiêu an toàn về huy động vốn phù hợp với cơ cấu
nguồn vốn tối ưu và tốc độ tăng trưởng hiệu quả tài sản có.
- Phân tích, đánh giá cơ cấu tài sản có: Chủ yếu đánh giá tình hình thu nhập, chi phí, kết quả kinh doanh. Đánh giá các khoản thu nhập, chi phí so với mức độ sử dụng
vốn hoặc so với khối lượng vốn huy động, việc trích lập dự phòng phải thu khó đòi,
tỷ lệ nộp thuế ảnh hưởng tới thu nhập. Cẩn thận trọng công tác nghiên cứu, sàng lọc,
lựa chọn các dự án đầu tư có triển vọng tốt, hiệu quả cao để cho vay trên cơ sở thực
hiện chuyên môn hoá việc theo nhóm khách hàng, loại dịch vụ và từng ngành, nghề.
Phân loại tài sản có theo quy định các hạn mức đầu tư phù hợp với mức độ rủi ro
nhằm hạn chế nợ xấu. Sử dụng có hiệu quả hệ thống các chỉ tiêu phòng ngừa rủi ro và điều chỉnh linh hoạt phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính của khách hàng
cũng như mục tiêu sinh lời của Ngân hàng;
- Phân tích, đánh giá thực hiện quy định về các tỷ lệ để đảm bảo an toàn trong hoạt động NH: Vốn tự có, tài sản có rủi ro được tính theo quy định về các tỷ lệ đảm bảo
an toàn trong hoạt động NH, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, việc chuyển nhượng cổ phần, góp vốn mua cổ phần doanh nghiệp, vốn pháp định, vốn điều lệ;
- Phân tích, đánh giá về khả năng chi trả: Tài sản có có thể thanh toán ngay so với tài sản nợ phải thanh toán ngay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, đánh giá rủi ro thanh khoản, cân đối vốn và sử dụng vốn, tăng trưởng tài sản có, tài sản nợ và các khoản vốn lớn.
3.2.9. Thực hiện nghiêm túc các quy định về đảm bảo tiền vay
Có thể nhận thấy cho vay không có TSĐB của NHCT Hai Bà Trưng trong 3 năm gần đây luôn có xu hướng tăng, NH cũng chưa thật sự quan tâm nhiều đến TSĐB, nhưng
việc tăng cho vay có TSĐB cũng là một biện pháp thiết yếu trong việc hạn chế RRTD tại
63
NH. TSĐB là nguồn thu thứ hai sau phương án sản xuất kinh doanh. Khi phương án sản
xuất kinh doanh gặp rủi ro thì tài sản bảo đảm là cơ sở để tiến hành thu nợ, quan trọng hơn là TSĐB gắn trách nhiệm của người vay với khoản vay. Do đó, việc thực hiện
nghiêm túc các vấn đề quy định về đảm bảo tiền vay là vô cùng cần thiết đối với NH.
- Đối với hình thức bảo đảm bằng tài sản:
+ Tài sản bảo đảm phải có giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp
pháp, tài sản bảo đảm phải ổn định về giá trị, có tính thanh khoản cao...;
+ Đối với những dự án có mức độ rủi ro lớn thì cần có mức tài sản bảo đảm tương
ứng, quan hệ giữa thời hạn cho vay và tài sản bảo đảm cũng phải được tính toán kỹ. Thời
hạn cho vay càng dài thì việc dự báo về rủi ro càng kém chính xác, đòi hỏi phải sử dụng các tài sản bảo đảm có mức độ rủi ro thấp. Mặt khác nếu thời gian thực hiện nghĩa vụ trả
nợ càng dài thì sự thay đổi giá trị càng lớn. Do vậy mà Ngân hàng cần tiến hành định giá
tài sản theo định kỳ đối với tài sản bảo đảm trong cho vay trung và dài hạn và cách thức
xử lý khi giá trị tài sản bảo đảm tái định giá nhỏ hơn dư nợ;
+ Cũng cần phải xác định rõ trách nhiệm và quyền của các bên trong việc thực hiện
hợp đồng về tài sản bảo đảm, tạo điều kiện cho việc xử lý tài sản bảo đảm được thuận lợi
nếu rủi ro xảy ra.
- Đối với hình thức bảo lãnh của bên thứ ba: Cần xác định rõ năng lực tài chính, năng lực pháp lý cũng như trách nhiệm của người bảo lãnh, tài sản của người bảo lãnh.
3.2.10. Nâng cao ý thức, trách nhiệm và tr nh độ chuyên môn của cán bộ Ngân hàng
nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng
Có thể thấy nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng đối với NH, không chỉ trong
công tác phòng tránh RRTD mà liên quan tới toàn bộ hoạt động của NH. Hơn nữa, đội
ngũ cán bộ, nhân viên còn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NH. Chính vì vậy
mà NH cần phải thực hiện một cách nghiêm túc công tác tuyển chọn, đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn cũng như ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, cụ thể như sau:
- Lựa chọn các cán bộ có trình độ chuyên môn, có đạo đức tốt vào các vị trí phù hợp, đảm bảo đúng người, đúng việc, đúng tiêu chuẩn nhằm khai thác tối đa tiềm năng,
sử dụng triệt để năng lực, sở trường, thế mạnh của từng cán bộ Ngân hàng;
- Ban hành và cụ thể hoá các chính sách thu hút nhân tài, nhất là các chuyên gia đầu ngành, chuyên gia giỏi, những người có trình độ cao trong lĩnh vực chuyên môn, sản phẩm mới, công nghệ Ngân hàng. Đây là cơ sở tiền đề để tạo ra năng lực cạnh tranh
mới cho Ngân hàng;
64
- Bảo đảm tính thừa kế giữa các lớp cán bộ, trẻ hoá đội ngũ cán bộ, mạnh dạn sử dụng
và bố trí cán bộ trẻ, có năng lực và phẩm chất thực sự vào các chức vụ quản lý;
- Tập trung đào tạo nâng cao, đào tạo chuyên sâu nghiệp vụ truyền thống, cập nhật kiến thức mới, đào tạo về sản phẩm mới, công nghệ Ngân hàng hiện đại. Sử dụng tối
đa các nguồn lực của NH trong phạm vi cho phép. Đồng thời khai thác triệt để các nguồn tài trợ bên ngoài cho công tác đào tạo, bồi dưỡng. Trên cơ sở đó phân loại và
thực hiện sắp xếp lại cán bộ. Dựa vào kết quả thu được, Ngân hàng đề ra chính sách
tiền lương phù hợp với từng loại trình độ, từng loại công việc chuyên môn, độ phức
tạp và trách nhiệm cho từng cán bộ từ đó phát huy hết sức sáng tạo, chủ động của mỗi cán bộ trong hệ thống;
- Bên cạnh đó cũng có thể nhận thấy một trong những giải pháp quan trọng nhất để phòng ngừa NQH và nợ xấu chính là năng cao ý thức và năng lực chuyên môn của
mỗi cán bộ tín dụng, vì đơn giản cán bộ tín dụng là người tiếp xúc trực tiếp với
khách hàng nên việc móc ngoặc với khách hàng hay cố ý làm sai các quy trình tín
dụng để có lợi cũng rất dễ xảy ra. Hơn nữa, việc NH giao mức tăng trưởng tín dụng
cho từng cán bộ tín dụng là một chính sách rất dễ gây rủi ro. Để chạy theo mức tăng
trưởng tín dụng được giao cán bộ tín dụng có thể làm trái các quy định. Vì vậy, để
phòng ngừa rủi ro trong thời điểm này thì NH không nên giao tăng trưởng tín dụng
mà cần nâng cao chất lượng tín dụng, mỗi cán bộ tín dụng tuy không đạt được mức
tăng trưởng tín dụng nhưng các khoản cho vay của các cán bộ tín dụng này đều thu
hồi đủ đầy đủ và đúng hạn thì cũng cần có chính sách khuyến khích và phát huy.
3.2.11. Tăng cƣờng chất ƣ ng, hiệu quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Đây là công tác quan trọng mà NHCT Hai Bà Trưng cần thực hiện một cách nghiêm
túc và sát sao hơn nữa để phòng tránh RRTD, cụ thể như sau:
- Củng cố, kiện toàn hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ. Hệ thống kiểm tra nội bộ chuyên trách và các cán bộ kiểm tra hoạt động độc lập với các bộ phận nghiệp vụ và
được độc lập đánh giá, kết luận, kiến nghị trong hoạt động kiểm tra - kiểm toán;
- Xây dựng hoàn chỉnh các quy chế, quy trình kiểm tra. Xây dựng chương trình kiểm tra định kỳ (kể cả hệ thống giám sát từ xa để giám sát phòng ngừa phòng ngừa mọi sai sót, mọi hành vi vi phạm pháp luật để bảo đảm an toàn hoạt động kinh doanh toàn hệ thống và từng đơn vị thành viên. Chủ động kiểm tra kiến nghị xử lý các trường hợp sai phạm, đảm bảo mọi hoạt động của Ngân hàng đều được kiểm tra kiểm soát chặt chẽ;
65
- Hệ thống kiểm tra phải chịu trách nhiệm trước giám đốc và việc kiểm tra giám sát bảo đảm thông suốt, an toàn và đúng pháp luật mọi hoạt động nghiệp vụ của NH;
- Trên cơ sở xây dựng các hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chung của NH, xây dựng và phát triển hệ thống thu thập, quản lý và cung cấp thông tin quản lý rủi ro trên tất cả
các mặt hoạt động phục vụ cho việc kiểm tra kiểm soát đạt hiệu quả cao hơn;
- Chỉ đạo và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện những kiến nghị và kiểm tra của
NHCT Việt Nam và NHNN.
3.2.12. Trích lập quỹ dự phòng rủi ro
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 04 năm 2005 và Quyết định
số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 04 năm 2007 của Thống đốc NHNN, dư nợ cho
vay được phân loại và được trích lập dự quỹ bù đắp rủi ro hàng tháng, số tiền trích rủi ro
được tính vào chi phí của Ngân hàng. Quy định tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với
năm 5 nhóm nợ quy định tại Khoản 1 Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:
- Nhóm 1: 0%;
- Nhóm 2: 5%;
- Nhóm 3: 20%;
- Nhóm 4: 50%;
- Nhóm 5: 100%.
Giải pháp này giúp NHCT Hai Bà Trưng có được nguồn tài chính nhằm vào việc xử
lý NQH, nợ xấu và được thực hiện hàng năm nên NQH, nợ xấu tại Ngân hàng luôn được
giữ ở mức an toàn. Trên thực tế việc sử dụng quỹ dự phòng rủi ro căn cứ vào kết quả kinh
doanh của hệ thống sau đó trích lấy nguồn dự phòng rủi ro cho các nhóm nợ từ nhóm 2
đến nhóm 5. Việc trích dự phòng đi đôi với việc đôn đốc thu hồi nợ, tức là vẫn thu hồi nợ
nhưng vẫn phải trích dự phòng, với các khoản nợ có khả năng tiềm ẩn rủi ro sẽ được hạch toán ra ngoại bảng để tiếp tục theo dõi và dùng quỹ dự phòng để bù đắp.
3.2.13. Xây dựng hệ thống phân loại và xếp hạng khách hàng tự động
Tại NHCT Hai Bà Trưng, khách hàng là doanh nghiệp hay cá nhân đều được phân thành 10 loại theo mức độ rủi ro giảm dần. Việc phân loại này dựa trên điểm số tín dụng của mỗi khách hàng tổng hợp từ nhiều yếu tố như tình hình tài chính, tư cách pháp nhân, quan hệ với NH, tài sản thế chấp… Dựa vào điểm số này, Ngân hàng có thể ra các quyết định khi cấp tín dụng cho khách hàng. Tuy nhiên, hiện nay cán bộ tín dụng vẫn phải chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng bằng tay. Cách làm đó có rất nhiều nhược điểm
66
như mất thời gian, dễ sai sót, nhầm lẫn do khối lượng chỉ tiêu lớn, dễ bị chi phối bởi ý
kiến chủ quan. Do vậy, để giảm thiểu những yếu tố có thể dẫn đến sai lệch trong điểm số tín dụng và hạng của khách hàng; NH cần xây dựng một phần mềm chấm điểm và phân
loại. Như vậy, Ngân hàng có thể giảm thời gian ra quyết định mà vẫn có được kết quả
chính xác. Tuy nhiên, hệ thống chấm điểm tự động đó phải điều chỉnh để phù hợp được
những thay đổi của nền kinh tế như giá cả, mức sống, yếu tố cạnh tranh… Khi có sự thay đổi đó, cần phải xếp hạng và đánh giá lại mức độ rủi ro của khách hàng để có mức phân
bổ dự phòng, điều chỉnh giới hạn cấp. Ngoài ra, định kỳ NH nên phân loại khách hàng để
loại dần những khách hàng làm ăn không hiệu quả, thu hút những khách hàng tài chính
lành mạnh để đầu tư. Như vậy, với hệ thống phân loại và xếp hạng khách hàng tự động,
Ngân hàng có thể mở rộng tín dụng mà vẫn đảm bảo hạn chế rủi ro xảy ra.
3.3. Một số kiến nghị
3.3.1. Kiến nghị với Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam
NHCT Hai Bà Trưng là Chi nhánh thành viên của hệ thống NHCT Việt Nam, hệ
thống có mạnh thì Chi nhánh hoạt động mới ổn định. Vì thế để thực hiện hạn chế RRTD
trở thành quy trình nghiệp vụ chính thức và mang tính tổng quát, thì dưới đây là một số đề
xuất - kiến nghị với NHCT Việt Nam một số vấn đề khi xây dựng, ban hành quy trình -
chế độ tổ chức thực hiện trong công tác tín dụng và phòng ngừa RRTD như sau:
- Xây dựng và thực hiện ứng dụng hệ thống thông tin của ngành cập nhật đầy đủ dữ liệu về môi trường liên quan đến hoạt động tín dụng để đáp ứng các nhu cầu cung
cấp và sử dụng trong quản trị và hạn chế rủi ro, cũng như tăng cường hệ thống an
toàn, bảo mật thông tin, dữ liệu và an ninh mạng;
- Sớm ban hành quy chế về quản trị rủi ro độc lập với các quy trình nghiệp vụ, đặc biệt là hoạt động tín dụng. Quy trình này cần phải chi tiết về bộ máy tổ chức và
chuyên sâu trong thực hiện nghiệp vụ, có đầy đủ những chuẩn mực áp dụng để phân loại, đánh giá và nhận biết các loại rủi ro;
- Xây dựng một hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ độc lập đảm bảo tư vấn có chất
lượng trong việc cảnh báo, đề phòng các loại rủi ro trong quá trình hoạt động;
- Chính sách nguồn nhân lực trong các khâu nghiệp vụ cần phải chuẩn hoá, có sàng lọc khi thực hiện nghiệp vụ. Các chế độ khuyến khích, đãi ngộ phải phù hợp đúng
người đúng việc để động viên kịp thời;
- Cần tiếp tục chú trọng hơn nữa công tác xử lý NQH trong năm tới nhất là trong năm 2013, để đạt được mục tiêu của Chính phủ năm 2013 làm trong sạch về cơ bản bảng
67
tổng kết tài sản. Tình thần xử lý nợ tồn đọng phải được quán triệt tới từng Chi
nhánh, từng cán bộ làm công tác tín dụng.
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nƣớc
Dưới đây là một số kiến ngị với NHNN trong công tác lãnh đạo, điều hành nhắm
nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế RRTD với không chỉ với NHCT Hai Bà Trưng
mà trong cả hệ thống NHTM Việt Nam như sau:
- NHNN cần phối hợp với Bộ Tài chính hoàn thiện và khẩn trương ban hành hệ thống kế toán theo chuẩn mực kế toán quốc tế. Xây dựng các giải pháp hoàn thiện phương
pháp kiểm soát và kiểm toán nội bộ trong các Tổ chức tín dụng phù hợp với các
chuẩn mực quốc tế. Hoàn thiện hệ thống giám sát ngân hàng theo hướng: nâng cao chất lượng phân tích tình hình tài chính và hệ thống cảnh báo sớm những rủi ro tiềm
ẩn trong hoạt động của các TCTD, phát triển và thống nhất cách thức giám sát NH
trên cơ sở lí luận và thực tiễn. NHNN cũng cần xây dựng cách tiếp cận hoạt động
đánh giá chất lượng quản lí rủi ro trong nội bộ các TCTD và riển khai mạnh hơn nữa
các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro trên thị trường tiền tệ như: Quyền chọn (option),
hoán đổi (swap), kì hạn (forward , tương lai (future)...;
- Triển khai mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa việc tái cơ cấu lại hệ thống NHTM, thúc đẩy quá trình mua bán - sáp nhập các NH cũng như các TCTD hoạt động yếu kém,
xử lý dứt điểm các khoản nợ tồn đọng, nợ xấu, đồng thời khơi thông dòng vốn trong
nền kinh tế, nhất là khới thông được dòng vốn nằm trong thì trường bất động sản. Bên cạnh đó thì NHNN cũng cấn phải lành mạnh hóa tình hình tài chính, làm sạch
bảng cân đối tiền tệ của các NHTM, đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa khối NHTM
Nhà nước để tăng năng lực cạnh tranh, giảm bớt yếu tố can thiệp trực tiếp của Nhà
nước, minh bạch hóa hệ thống tài chính theo chuẩn mực quốc tế, từ đó tăng năng lực
tự giám sát và quản lý rủi ro nội bộ;
- Mới đây, với việc thành lập công ty Quản lý tài sản Quốc gia (VAMC) thì có thể coi đây là động thái tích cực của Chính phủ và nòng cốt là NHNN trong việc xử lý dứt điểm, triệt để các khoản nợ xấu và “làm sạch” hệ thống NHTM. Nhưng tính tới thời
điểm này thì công tác mua lại nợ xấu của VAMC từ các TCTD vẫn còn chậm và hạn chế về số lượng, chưa thể hiện đúng vai trò và tầm ảnh hưởng trong công tác xử lý nợ xấu. Chính vì vậy trong thời gian tới, Chính phủ, các Bộ và nòng cốt là NHNN
cần có những hướng dẫn, chỉ đạo và thực hiện sát sao hơn nữa để VAMC thưc hiện và hoàn thành tốt chức năng và vai trò của mình, trước tiên là xử lý nợ xấu và tiếp
theo là thúc đẩy hơn nữa thì trường mua bán nợ trong hệ thống NHTM Việt Nam.
68
- Xây dựng và hoàn thiện chiến lược, chính sách quản trị rủi ro trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến rủi ro tín dụng) phù hợp. Thành lập bộ phận chuyên trách về quản lí rủi ro độc lập với kinh doanh, tiến tới thực hiện quản lí rủi ro theo ngành dọc, giảm
dần mức độ uỷ quyền theo hàng ngang. Nâng cao chất lượng các công cụ lượng hoá
rủi ro và tiếp tục áp dụng các công cụ đo lường mới, giúp các nhà lãnh đạo NH
lượng hoá mức độ rủi ro, phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro, nhận biết chính xác các nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro để có giải pháp kịp thời và hữu hiệu;
- Hoàn thiện quy trình cho vay, quy chế hoá mọi hoạt động trong NH, đảm bảo được các nguyên tắc hạn chế rủi ro như phân tách chức năng, tuân thủ hạn mức... ở mọi khâu trong NH. Thường xuyên xem xét lại quy trình theo định kì, đảm bảo mọi công
việc được xử lí một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và đúng thẩm quyền. Tuân thủ
Quy định về các tỉ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng ban
hành theo Quyết định số 493 và Quyết định 18 và tăng cường các biện pháp phòng
ngừa rủi ro trong hoạt động Ngân hàng và của các Tổ chức tín dụng;
- Thực hiện minh bạch và công khai hoá thông tin. Đây là tiền đề cơ bản để nâng cao chất lượng quản lí rủi ro. Việc minh bạch và công khai thông tin không chỉ được
thực hiện giữa các NHTM với NHNN, trong nội bộ NHTM mà còn giữa NHTM với
các nhà đầu tư, với công luận;
- Bảo hiểm có vị trí đặc biệt trong hệ thống quản lí rủi ro tín dụng của NH. Cơ sở của bảo hiểm ngân hàng là các nghĩa vụ chi trả bảo hiểm cho các ngân hàng khi gặp sự
cố rủi ro. Quản lí rủi ro tín dụng và bảo hiểm là các bộ phận không thể thiếu về an ninh kinh tế và ổn định kinh doanh. Bảo hiểm Ngân hàng là một trong những sản
phẩm tiêu chuẩn đối với các NH trên thị trường quốc tế;
- Nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin cập nhật và chính xác về khách hàng. Tăng cường các quy chế công bố thông tin, nâng cao chất lượng và mức độ tin cậy của
thông tin thông qua cải thiện chất lượng và hiệu quả hoạt động của kiểm toán độc lập. Ban hành các văn bản hướng dẫn việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín nhiệm ở từng NH cũng như việc thành lập và hoạt động của các tổ chức tín nhiệm độc lập. Đối với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập, cho phép thành lập với nhiều hình thức sở hữu khác nhau nhưng cũng phải giám sát chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của các kết quả xếp hạng này, không để xảy ra tình trạng thông đồng giữa tổ chức xếp hạng với tổ chức được xếp hạng. Bên cạnh đó, những tiêu chí của tổ chức xếp hạng cũng phải phù hợp với Hiệp ước Basel;
69
- NHNN cần có quy định cụ thể biện pháp quản lý, thanh tra, kiểm tra để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Các NHTM Việt Nam cũng như chi nhánh của NH nước ngoài đều phải tuân theo một cơ chế
thẩm định thống nhất của NHNN, không được hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng để cạnh
tranh, giành giật khách hàng, gây rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng.
3.3.3. Kiến nghị với Chính phủ và Chính quyền địa phƣơng các cấp
Chính phủ và Chính quyền địa phương các cấp cần sớm hoàn thiện hệ thống pháp
luật và cơ chế chính sách nhằm tạo điều kiện về hành lang pháp lý để hoạt động tín dụng
của các NHTM hoạt động hiệu quả. Một số nội dung như sau:
- Rà soát sửa đổi bổ xung cơ chế chính sách và các văn bản phù hợp với lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế như cam kết gia nhập WTO (World Trade Organization),
hiệp định Việt - Mỹ, hiệp định tự do thương mại ASEAN (AFTA - ASEAN Free
Trade Area và đều lệ Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF (International Monetary Fund);
- Sửa đổi bổ xung các văn bản liên quan đến tính hiệu quả của nền kinh tế như; Luật đầu tư, luật phá sản... Không áp dụng các hình thức hỗ trợ bằng cơ chế chính sách
cho các DN Nhà nước để các đơn vị này kinh doanh có hiệu quả. Quy định bắt buộc
các doanh nghiệp công bố thông tin công khai, minh bạch và tình hình S KD được
kiểm toán thường niên;
- Tiến hành sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan đến ngân hàng và hoạt động tín dụng như: Thúc đẩy ứng dụng các thông lệ, chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực tiền
tệ, ngân hàng. Hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến hoạt động tín dụng như luật các Tổ chức tín dụng, các văn bản liên quan đến bảo đảm tiền vay và xử lý tài
sản đảm bảo nợ vay... nhằm tránh những rắc rối và phiền phức của ngân hàng khi áp
dụng những văn bản này trong thực tiễn;
- Có chính sách hỗ trợ kịp thời những thiệt hại của các địa phương và đối tượng liên
quan để khắc phục thiệt hại do nguyên nhân bất khả kháng gây ra.
Kết luận chƣơng 3
Trên cơ sở phân tích thực trạng trong chương 2 và căn cứ vào một số định hướng hoạt động tín dụng cũng như các chỉ tiêu hoạt động của NHCT Hai Bà Trưng, một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế RRTD tại NHCT Hai Bà Trưng đã được đề xuất trong chương 3. Ngoài ra, để các giải pháp đã đề xuất có tính khả thi hơn, một số kiến nghị đối với NHCT Việt Nam, NHNN, Chính phủ và Chính quyền địa phương các cấp cũng được đưa ra trong chương cuối này.
70
LỜI KẾT
Trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam hiện nay thì hoạt động tín
dụng đóng góp phần lớn trong kết quả kinh doanh của Ngân hàng, nhưng lại là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất. Chính vì vậy rủi ro tín dụng luôn rình rập và là mối đe dọa đến
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu
với nền kinh tế thế giới thì các NHTM cổ phần và các Ngân hàng nước ngoài đang đua
nhau mở rộng mạng lưới và quy mô hoạt động kinh doanh làm cho tình hình cạnh tranh thêm quyết liệt, nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, bên cạnh đó là việc tăng trưởng tín
dụng quá nhanh dẫn đến chất lượng tín dụng ngày càng kém, điều này cũng đồng nghĩa là mức độ rủi ro tín dụng cũng ngày càng càng cao. Tình hình đó đòi hỏi NHCT Việt Nam nói chung và Chi nhánh NHCT Hai Bà Trưng nói riêng cần phải ngày càng nâng cao hơn
nữa chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả quản lý RRTD và hạn chế đến mức thấp nhất
khả năng rủi ro tín dụng xảy ra.
Qua bài viết này, trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã học và các kiến thức từ
thực tế, Khóa luận đã phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng, thực trạng rủi ro
tín dụng tại chi nhánh NHCT Hai Bà Trưng, từ đó nêu lên những mặt hạn chế, khó khăn
trong công tác tín dụng và quản lý rủi ro tại Chi nhánh, từ đó Khóa luận đã đưa ra một số
giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NHCT Hai Bà Trưng.
Do kiến thức và thời gian nghiên cứu có hạn nên Khóa luận không thể tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các Thầy, Cô giáo để Khóa luận của em
được hoàn thiện hơn.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực từ 01/01/2011). 2. Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/05/2005 về việc ban hàng quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân
hàng của các tổ chức tín dụng.
3. Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động Ngân hàng của các tổ chức tín dụng ban hàng kèm Quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN.
4. Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động Ngân hàng
của tổ chức tín dụng (có hiệu lực từ 01/10/2010).
5. Thông tư số 19/2010/TT-NHNN ngày 27/09/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 13/2010/TT-NHNN
ngày 20/05/2010 Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động Ngân hàng
của các tổ chức tín dụng.
6. Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 (Ngày có hiệu lực: 01/06/2014) quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc
sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân
hàng nước ngoài.
7. PGS.TS Mai Văn Bạn (2009), Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Đại học
Thăng Long, Nhà xuất bản Tài Chính.
8. PGS.TS Phan Thị Thu Hà (2008), Giáo trình Ngân hàng thương mại, Đại học Kinh tế
Quốc dân, Nhà xuất bản Thống Kê.
9. TS Nguyễn Minh Kiều (2008), Tín dụng và thẩm định tín dụng Ngân hàng, Nhà xuất
bản Tài Chính.
10. GS.TS Nguyễn Văn Tiến 2009), Giáo trình Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản
Thống Kê, tr 343.
11. GS.TS Nguyễn Văn Tiến (2010), Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh
Ngân hàng, Học viện Ngân hàng, Nhà xuất bản Thống Kê.
12. Cẩm nang tín dụng của các NHTM Việt Nam.

