BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY TNHH SX VÀ KD VLXD AN PHÚC

Giảng viên hƣớng dẫn

: Th.S Ngô Thị Quyên

Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Quốc Hùng

Mã sinh viên

: A17063

Chuyên ngành

: Tài chính – Ngân hàng

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn với toàn thể Quý Thầy Cô

trong Khoa Quản lý trường Đại học Thăng Long, những người đã hết lòng truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại

trường, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Th.S Ngô Thị Quyên đã giúp em hoàn

thành khóa luận tốt nghiệp này.

Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu An Phúc đã tạo điều kiện cho em được thực tập, nghiên cứu tại Quý

Công ty. Em xin cảm ơn các cô chú, anh chị thuộc phòng Kế toán cũng như tại các bộ phận khác tại Công ty, dù công việc bận rộn nhưng đã nhiệt tình cung cấp cho em số

liệu và giải thích vướng mắc giữa lý thuyết và thực tế về các quy trình hoạt động của

Công ty trong suốt thời gian thực tế lấy số liệu tại Công ty.

Do năng lực và kinh nghiệm có hạn nên bài khóa luận của em còn nhiều hạn chế,

em mong các thầy cô góp ý để bài viết có thể hoàn chỉnh hơn.

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Quốc Hùng

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người

khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được

trích dẫn rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Nguyễn Quốc Hùng

MỤC LỤC CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN NGẮN

HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH

NGHIỆP 1

1.1 Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp ........................................................... 1

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp ......... 1

1.1.2 Vai trò của tài sản ngắn hạn ..................................................................... 2

1.1.3 Phân loại tài sản ngắn hạn ........................................................................ 3

1.1.4 Kết cấu tài sản ngắn hạn và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu tài sản

ngắn hạn ................................................................................................................. 5

1.2 Nội dung quản lý TSNH trong doanh nghiệp................................................ 5

1.2.1 Chính sách quản lý TSNH ......................................................................... 5

1.2.2 Quản lý tiền mặt ......................................................................................... 7

1.2.3 Quản lý hàng tồn kho ............................................................................... 11

1.2.4 Quản lý khoản phải thu ........................................................................... 14

1.3 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp ........................... 16

1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp ..... 16

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh

nghiệp ................................................................................................................... 17

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong

doanh nghiệp ........................................................................................................ 23

1.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong

doanh nghiệp ............................................................................................................ 25

CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG AN PHÚC ................................................................................................ ……… 27

2.1 Khái quát về Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh Vật liệu xây dựng An Phúc .................................................................................................................... 27

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH SX và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc........................................................................ 27

2.1.2 Bộ máy quản lý ......................................................................................... 28

2.1.3 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh .......................................................... 30

2.1.4 Tình hình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp giai đoạn 2011 -

2013 ................................................................................................................... 30

2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty TNHH Sản

xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc ................................................... 38

2.2.1 Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn ........................................................ 38

2.2.2 Nội dung quản lý tài sản ngắn hạn ......................................................... 40

2.2.3 Phân tích các chỉ tiêu về tài chính .......................................................... 46

2.3 Nhận xét về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tài Công ty TNHH Sản

xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc ................................................... 52

2.3.1 Kết quả đạt được ....................................................................................... 52

2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân ................................................................ 53

CHƢƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI

SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH VẬT

LIỆU XÂY DỰNG AN PHÚC ................................................................................... 55

3.1 Thuận lợi và khó khăn của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật

liệu xây dựng An Phúc ............................................................................................ 55

3.1.1 Thuận lợi trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

trong giai đoạn hiện nay ...................................................................................... 55

3.1.2 Khó khăn .................................................................................................. 55

3.2 Định hƣớng phát triển của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật

liệu xây dựng An Phúc ............................................................................................ 56

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty

TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc ............................... 58

3.3.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ............................. 59

3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản phải thu ................... 60

3.3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi phí ......................................... 62

KẾT LUẬN .................................................................................................................. 64

DANH MỤC VIẾT TẮT Tên đầy đủ Tài sản ngắn hạn Tài sản dài hạn Trách nhiệm hữu hạn Hàng tồn kho Nguyên vật liệu Phải thu khách hàng Đơn vị tính Việt Nam Đồng

Ký hiệu viết tắt TSNH TSDH TNHH HTK NVL PTKH ĐVT VNĐ

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2011–2013 …………….32

Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán so sánh giữa các năm 2011-2013 ................................ 34

Bảng 2.3 Chỉ tiêu các khả năng sinh lợi của Công ty .................................................... 37

Bảng 2.4 Quy mô tài sản ngắn hạn của Công ty ........................................................... 39

Bảng 2.5 Quản lý ngân quỹ của Công ty ....................................................................... 41

Bảng 2.6 Quy mô các khoản phải thu........................................................................... 43

Bảng 2.7 Những khách hàng có tuổi nợ cao.................................................................. 44

Bảng 2.8 So sánh mức tín dụng cung cấp và được cung cấp của Công ty An Phúc ..... 44

Bảng 2.9 Hàng tồn kho của Công ty.............................................................................. 46

Bảng 2.10 Các chỉ tiêu thanh toán ................................................................................. 46

Bảng 2.11 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ............................ 48

Bảng 2.12 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản lí vốn lưu động của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc ..................................................... 49

Bảng 3.1 Thủ tục thu nợ đối với các hợp đồng quá hạn ................................................ 60

Bảng 3.2 Mức lãi suất ngân hàng. ................................................................................. 61

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tài sản của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc giai đoạn 2011-2013…….…………………………………………….35

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn vốn Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc giai đoạn 2011 - 2013 ............................................................................ 36

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu tái sản ngắn hạn của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc giai đoạn 2011-2013 ................................................................ 39

Biểu đồ 2.4 Cơ cấu quản lý ngân quỹ của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc giai đoạn 2011-2013 ................................................................ 41

Biểu đồ 2.5 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản lí vốn lưu động của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc ..................................................... 50

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Tỷ trọng TSNH và TSDH theo trường phái cấp tiến ....................................... 6

Hình 1.2. Tỷ trọng TSNH và TSDH trong trường phái thận trọng ................................. 7

Hình 1.3 Mô hình Miller-Orr ........................................................................................... 9

Hình 1.4 Các nhóm hàng tồn kho theo phân loại A-B-C .............................................. 12

Hình 1.5 Biến động hàng tồn kho trong một chu kỳ, hàng tồn kho bình quân ............. 13

Hình 1.6 Đường biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng tổng chi phí theo các mức sản lượng tồn kho ........................................................................ 13

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây

dựng An Phúc ................................................................................................................ 28

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thì trường có nhiều biến động như hiện nay, để có thể đứng

vững trên thị trường, đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của khách hàng, cũng như sự

cạnh tranh của các công ty khác, Công ty phải luôn chú trọng tới việc nâng cao chất

lượng sản phẩm đi đôi với giá cả phù hợp. Qua quá trình đổi mới cơ chế quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam đã cho thấy, doanh nghiệp nào xây dựng được chính sách

quản lý tốt, sử dụng tài sản ngắn hạn có hiệu quả thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi nhuận

cao, sản phẩm mới có tính cạnh tranh trên thị trường. Do vậy, việc sử dụng tài sản

ngắn hạn một cách hiệu quả luôn là vấn đề được đặt ra mà các nhà quản lý quan tâm.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn phát đạt

luôn có không ít những doanh nghiệp rơi vào tình trạng làm ăn thua lỗ, phá sản. Mặc

dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là kết quả của nhiều yếu tố chứ không phải

chỉ do việc quản trị tài sản ngắn hạn không tốt. Nhưng thực tế thì sự bất lực của một số

công ty trong việc hoạch định và kiểm soát chặt chẽ các loại tài sản ngắn hạn và các

khoản nợ ngắn hạn hầu như là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại cuối cùng của

công ty họ.

Trong thời gian qua, Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng

An Phúc đã có nhiều cố gắng trong việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn một cách có hiệu quả hơn, hàng năm Công ty đều có doanh thu tăng. Nhưng qua công tác thống

kê vẫn cho thấy việc sử dụng tài sản ngắn hạn vẫn còn tồn tại nhiều điểm chưa hợp lý,

dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn vẫn chưa đạt mức tối ưu. Mặc dù mục tiêu

hiệu quả đạt được của các doanh nghiệp là khác nhau nhưng tất cả đều hướng tới đạt

được lợi nhuận cao nhất. Đứng trước tình hình như hiện nay, Công ty TNHH Sản xuất

và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc phải tìm cách để khắc phục được tình trạng

đó, đẩy nhanh công tác hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

của Công ty trong thời gian tới.

Do tầm quan trọng của vấn đề và qua quá trình tìm hiểu thực tế tại Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc, được sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn, ban lãnh đạo công ty cùng các anh, chị cán bộ trong Công ty,

em đã chọn đề tài: “ Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc” cho bài khóa luận của mình.

Kết cấu của khóa luận gồm 3 chương:

Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử

dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty

TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc

Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của

Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc

Do điều kiện về khả năng và thời gian có hạn nên trong bài viết không tránh khỏi

những khiếm khuyết. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của cô giáo/Th.S Ngô Thị Quyên.

Em xin chân thành cảm ơn!

CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN

VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG

DOANH NGHIỆP

1.1 Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Trong nền kinh tế ngày nay, có nhiều ngành nghề mới liên tục ra đời dẫn đến quan niệm tài sản ngày càng được mở rộng. Tài sản là tất cả những nguồn lực có giá

trị thuộc sở hữu của doanh nghiệp và là yếu tố không thể thiếu của mọi quá trình sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ

tham gia vào một chu kì sản xuất, đến chu kì sản xuất sau lại phải sử dụng các đối tượng lao động khác. Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để

hợp thành thực thể của sản phẩm như bông thành sợi, các thành thủy tinh, một số khác

bị mất đi như nhiên liệu. Bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có

các đối tượng lao động. Lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối tượng

lao động gọi là vốn ngắn hạn của doanh nghiệp.

Như vậy: “Tài sản ngắn hạn là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán bao

gồm tất cả loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng 1 năm hoặc

trong 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt và các khoản

tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản khác có tính thanh khoản cao”.

Tài sản ngắn hạn rất quan trọng trong kinh doanh bởi đó là những tài sản được sử

dụng trong cho hoạt động hàng ngày và chi trả cho các chi phí phát sinh. Trong bảng

cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền

mặt, các khoản có tính thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho. Giá trị các loại

TSNH của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng giá

trị tài sản của chúng. Quản lý và sử dụng hợp lý các loại TSNH có ảnh hưởng đến việc

hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ do quản trị tài sản ngắn hạn kém hiệu quả. Nhưng cũng cần thấy rằng sự bất lực của một số công ty trong việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài sản ngắn hạn và các khoản nợ

ngắn hạn hầu như là một nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ.

TSNH liên tục thay đổi hình thái biểu hiện trong suốt quá trình kinh doanh,

Xét về đặc điểm thì TSNH có những đặc điểm chính sau:

đối với các doanh nghiệp sản xuất, hình thái TSNH: T – H – SX – H – T’, TSNH hình thành hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật

1

tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hóa, khi kết thúc quá tình tiêu thụ lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Đối với các doanh nghiệp thương mại,

hình thái TSNH: T – H – T’, sự vận động này nhanh hơn từ hình thái ban đầu

là TSNH bằng tiền chuyển hóa sang hình thái hàng hóa và cuối cùng lại

chuyển về hình thái bằng tiền. TSNH không ngừng vận động qua các giai đoạn

của chu kì kinh doanh: dự trữ - sản xuất – lưu thông một cách liên tục và lặp đi lặp lại có tính chất chu kì tạo thành sự chu chuyển của TSNH.

Kết thúc một chu kì sản xuất kinh doanh, giá trị của TSNH được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp lại khi doanh nghiệp thu được tiền bán hàng hóa, dịch vụ.

TSNH hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.

TSNH theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Toàn bộ giá trị TSNH

được thu hồi sau khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh.

1.1.2 Vai trò của tài sản ngắn hạn

Để tiến hành sản xuất, ngoài TSDH như máy móc, thiết bị, nhà xưởng... doanh

nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu.

phục vụ cho quá trình sản xuất. Như vậy, TSNH là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp

đi vào hoạt động hay nói cách khác TSNH là điều kiện tiên quyết của quá trình sản

xuất kinh doanh.

TSNH đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục. TSNH còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình mua

sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp.

TSNH có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử

dụng TSNH nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động

một lượng TSNH nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa. TSNH còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

TSNH là công cụ phản ánh, đánh giá quá trình vận động của vật tư. Trong doanh nghiệp sự vận động của TSNH phản ánh sự vận động của vật tư. TSNH nhiều hay ít là phản ánh số lượng vật tư, hàng hóa dự trữ, sử dụng ở các khâu dự trữ, sản xuất, lưu thông nhiều hay ít. TSNH luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không. Thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông có hợp lí hay không hợp lí. Bởi vậy thông qua tình

2

hình vận chuyển TSNH có thể kiểm tra, đánh giá một cách kịp thời với các mặt mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp.

TSNH là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hóa bán ra được

tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận. Do đó, TSNH đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa

bán ra.

1.1.3 Phân loại tài sản ngắn hạn

Việc quản lý và sử dụng TSNH muốn tiến hành một cách khoa học và hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý phải nắm được thành phần và kết cấu của TSNH, từ đó có các biện

pháp điều chỉnh và nâng cao hiệu suất sử dụng TSNH. Người ta sử dụng các tiêu thức

khác nhau để phân loại TSNH tùy thuộc vào mục tiêu của nhà quản lý. Có hai tiêu

thức phân loại chủ yếu thường được sử dụng: phân loại theo hình thái biểu hiện và

1.1.3.1 Phân loại theo hình thái biểu hiện

phân loại theo vai trò của TSNH đối với quá trình sản xuất kinh doanh.

Theo hình thái biểu hiện, TSNH được phân chia như sau:

Tiền và các khoản phải thu ngắn hạn: Tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, tiền dưới dạng séc các loại, tiền trong thẻ tín

dụng và trong tài khoản ATM. Tiền là loại tài sản có tính thanh khoản cao

nhất, đứng đầu tiên bên tài sản trên bảng cân đối kế toán. Loại tài sản này có

thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài

chính cho doanh nghiệp, bởi vậy nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng

chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán. Bên cạnh đó các tài sản dạng đặc biệt

như: vàng, bạc, đá quý, kim khí quý được dùng chủ yếu cho mục đích dự trữ.

Tuy nhiên, tiền mặt cũng là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lợi,

bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào để vừa đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm

vốn lại là một câu hỏi quan trọng cần nhà quản trị tài chính quan tâm giải

quyết.

Đầu tư tài chính ngắn hạn: Là các khoản đầu tư tài chính có thời hạn thu hồi

vốn không quá 1 năm tài chính hoặc trong một chu kỳ kinh doanh.

Các khoản phải thu: là một thành phần của tài sản ngắn hạn có tầm quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty thương mại, mua bán hàng hóa. Hoạt động mua bán chịu giữa các bên phát sinh các khoản tín dụng thương

mại. Các khoản phải thu chủ yếu bao gồm các khoản phải thu từ khách hàng, ngoài ra còn có các khoản ứng trước cho nhà cung cấp,…

3

Hàng tồn kho: bao gồm

Hàng tồn kho trong khâu dự trữ: bao gồm vật tư dự trữ. Đây là các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật đóng

gói và công cụ dụng cụ phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Hàng tồn kho trong khâu sản xuất: bao gồm các sản phẩm dở dang (sản

phẩm đang chế tạo).

Hàng tồn kho trong khâu tiêu thụ: bao gồm thành phẩm. Đây là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được

nhập kho.

Các chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phát sinh có liên

quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh nên được phân bổ vào giá thành sản phẩm của

nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí thuê tài sản, chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải

tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn,

giàn giáo, phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản …

Tác dụng của phân loại theo hình thái biểu hiện: Cho phép doanh nghiệp xem xét

đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, biết được kết

cấu tài sản ngắn hạn theo hình thái biểu hiện để có hướng điều chỉnh hợp lý và hiệu

1.1.3.2 Phân loại theo vai trò của TSNH với quá trình sản xuất kinh doanh

quả.

Theo tiêu thức này, TSNH chia thành 3 loại chủ yếu sau:

TSNH trong khâu dự trữ sản xuất: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên

liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói, công cụ dụng cụ nhỏ.

TSNH trong khâu trực tiếp sản xuất: Sản phẩm đang chế tạo (sản phẩm dở dang, bán thành phẩm), chi phí trả trước, chi phí sản xuất kinh doanh dở

dang…

TSNH trong khâu lưu thông: Thành phẩm, tiền, các khoản phải thu, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, cho vay ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng …)

Tác dụng của cách phân loại này cho phép doanh nghiệp thấy được kết cấu

TSNH theo từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó, cho phép đánh giá tình hình phân bổ TSNH trong các khâu và vai trò từng thành phần với quá trình kinh doanh. Tạo cơ sở đưa ra các giải pháp tổ chức quản lý nhằm hợp lý hóa kết cấu TSNH và tăng tốc độ luân chuyển TSNH.

4

1.1.4 Kết cấu tài sản ngắn hạn và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu tài sản ngắn

hạn

Kết cấu TSNH là tỷ trọng giữa từng bộ phận TSNH trên tổng số TSNH của

doanh nghiệp. Bên cạnh việc nghiên cứu các cách phân loại TSNH theo những tiêu

thức khác nhau, doanh nghiệp còn phải đánh giá và nắm bắt được kết cấu của TSNH ở

từng cách phân loại đó. Kết cấu TSNH thể hiện thành phần và các mối quan hệ tỷ lệ thành phần trong tổng số TSNH của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có kiểu kết cấu

TSNH khác nhau. Việc phân tích kết cấu TSNH của doanh nghiệp theo các tiêu thức

phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm của TSNH mà

mình đang quản lý, sử dụng từ đó xác định đúng các trọng điểm và các biện pháp quản lý TSNH có hiệu quả phù hợp với các điều kiện của doanh nghiệp. Bên cạnh đó việc

phân tích, theo dõi kết cấu TSNH trong các thời kì khác nhau có thể thấy được những

biến đổi tích cực cũng như những hạn chế còn tồn tại trong việc quản lý TSNH của

doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu của TSNH doanh nghiệp có nhiều

loại, tuy nhiên có thể chia thành những nhóm chính:

Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơi cung cấp, khả năng cung ứng của thị trường, kì hạn giao hàng và khối

lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng, chủng loại vật tư được cung

cấp…đều ảnh hưởng đến tỷ trọng TSNH vào khâu dự trữ.

Các nhân tố về mặt sản xuất cũng như đặc điểm kĩ thuật, công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo: độ dài của chu kì

sản xuất, trình độ tổ chức của quá trình sản xuất.

Những nhân tố về thanh toán: những doanh nghiệp sử dụng phương thức thanh toán hợp lí, giải quyết thanh toán kịp thời thì tỷ trọng TSNH sẽ không thay đổi. Đồng thời việc chấp hành kỉ luật thanh toán của khách hàng cũng ảnh

hưởng tới kết cấu của TSNH.

Điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng có ảnh hưởng nhất định tới kết cấu TSNH. Quy mô sản phẩm tiêu thụ lớn hay nhỏ, khoảng cách giữa các công trình và doanh nghiệp dài hay ngắn đều ảnh hưởng đến tỷ trọng TSNH trong lưu thông.

1.2 Nội dung quản lý TSNH trong doanh nghiệp

1.2.1 Chính sách quản lý TSNH

1.2.1.1 Quản lý TSNH theo trường phái cấp tiến

Quản lý TSNH theo trường phái cấp tiến là trướng phái duy trì một tỷ trọng

TSNH thấp.

5

Hình 1.1 Tỷ trọng TSNH và TSDH theo trƣờng phái cấp tiến

TSNH

TSDH

Đặc điểm của chính sách quản lí TSNH theo trường phái cấp tiến:

Mức TSNH thấp nhưng được quản lý cấp tiến và hiệu quả: Doanh nghiệp chỉ giữ một mức tối thiểu tiền và chứng khoán khả thi và dựa vào sự quản lý hiệu quả và khả

năng vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu bất thường. Tương tự vậy, khoản phải thu

khách hàng và hàng lưu kho của doanh nghiệp cũng mang giá trị thấp hơn.

Việc giảm tối thiểu lượng tiền mặt và hàng tồn kho nắm giữ được cho là “mạo

hiểm” vì công ty có thể không đủ lượng hàng tồn kho để cung ứng khi nhu cầu thị trường tăng cao, do đó sẽ bị lỡ mất cơ hội gia tăng doanh số, ngoài ra còn có thể bị mất

thị phần vào tay các đối thủ vì nếu tình trạng “đứt hàng” xảy ra thường xuyên thì

khách hàng sẽ tìm nhà cung cấp khác có nguồn hàng ổn định hơn. Bên cạnh đó, việc

nắm giữ lượng tiền mặt thấp cũng khiến công ty có thể lỡ mất cơ hội đầu cơ nguồn

nguyên liệu hay hàng hóa đầu vào khi giá nguyên liệu trên thị trường xuống thấp, hoặc

giảm vị thế đàm phán của công ty khi lựa chọn nhà cung cấp, điều này có thể khiến chi

phí đầu vào tăng lên.

Chi phí thấp hơn dẫn đến EBIT cao hơn: Do khoản phải thu khách hàng ở mức

thấp nên chi phí quản lý dành cho công nợ cũng thấp hơn, tổng giá trị của các khoản

nợ không thể thu hồi được sẽ giảm đi. Thêm vào đó, việc doanh nghiệp dự trữ ít hàng

tồn kho hơn cũng giúp tiết kiệm chi phí lưu kho. Nhờ tiết kiệm được chi phí nên EBIT

của doanh nghiệp sẽ tăng.

Vì rủi ro cao hơn nên thu nhập theo yêu cầu cũng cao hơn: Theo đuổi chiến lược

quản lý TSNH theo trường phái cấp tiến doanh nghiệp có thể gặp những rủi ro: cạn kiệt tiền hay không có đủ tiền mặt để theo đuổi chính sách quản lý hiệu quả, mất doanh thu khi dự trữ thiếu hụt hàng lưu kho, mất doanh thu khi sử dụng chính sách tín dụng chặt chẽ để duy trì khoản phải thu khách hàng thấp. Những rủi ro này đánh đổi

bởi chi phí thấp hơn nên yêu cầu lợi nhuận kì vọng cao hơn. Tuy nhiên, việc tài trợ cho tài sản ngắn hạn hoàn toàn bằng nguồn nợ ngắn hạn cũng có lợi bởi tính linh hoạt và lãi suất thấp của nợ ngắn hạn.

6

1.2.1.2 Quản lý TSNH theo trường phái thận trọng

Quản lý TSNH theo trường phái thận trọng là trướng phái duy trì một tỷ trọng

TSNH cao.

Hình 1.2. Tỷ trọng TSNH và TSDH trong trƣờng phái thận trọng

TSNH

TSDH

Trường phái thận trọng phản ánh việc doanh nghiệp gia tăng đáng kể lượng tiền

mặt và hàng tồn kho nắm giữ. Việc này giúp doanh nghiệp có thể tận dụng mọi cơ hội

tăng doanh số khi nhu cầu tăng, tăng thị phần hoặc thậm chí thống lĩnh thị trường vì

nguồn hàng ổn định và dồi dào đáp ứng nhu cầu kịp thời. Đặc biệt với nguồn tiền dồi

dào thì công ty cũng dễ dàng nắm bắt các cơ hội trong kinh doanh nhiều hơn so với trường phái khác.

Ngoài ra với lượng tiền mặt lớn công ty có thể đàm phán được giá tốt hoặc đầu cơ nguyên liệu và hàng hóa đầu vào với giá rẻ. Việc TSNH được tài trợ bằng nguồn

vốn chủ sở hữu giúp công ty giảm áp lực về vòng quay tiền hàng tháng, thậm chí có

thể gia tăng công nợ cho khách hàng và thông qua chính sách bán chịu này lại có thể

thúc đẩy tăng doanh số và thị phần.

Khả năng thanh toán của công ty được đảm bảo và ít rủi ro mất khả năng thanh

toán, luôn chủ động đáp ứng được nhu cầu thị trường. Tuy nhiên một nhược điểm lớn

của chính sách này chính là chi phí sử dụng vốn sẽ tăng cao vì một lượng vốn lớn nằm

trong hàng tồn kho, tiền nhàn rỗi và khoản phải thu, cộng với việc lãi suất của nợ dài

hạn và vốn chủ sở hữu thường cao hơn nợ ngắn hạn. Mặt khác, nếu đang trong một

nền kinh tế yếu, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa giảm thấp thì việc duy trì hàng tồn kho lớn

lại vô cùng mạo hiểm, mang lại rủi ro kinh doanh rất lớn.

1.2.2 Quản lý tiền mặt

Tiền mặt là một bộ phận cấu thành của TSNH, có tính thanh khoản cao nhất và trực tiếp quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tiền mặt bản

thân nó không sinh lời, nó chỉ sinh lời khi được sử dụng vào mục đích nhất định. Hơn nữa do có tính thanh khoản cao nên tiền mặt rất dễ bị thất thoát, gian lận và lợi dụng. Vì vậy quản lý tiền mặt đòi hỏi vừa phải đảm bảo độ an toàn tuyệt đối, khả năng sinh

lời cao song cũng phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp, nhu cầu tiền mặt thường do 3 lý do chính: nhằm đáp ứng yêu

cầu giao dịch, thanh toán hằng ngày như chi trả tiền mua hàng, trả tiền lương, tiền

7

công, cổ tức hoặc nộp thuế…; nắm bắt các cơ hội kinh doanh, cơ hội đầu tư sinh lời; nhu cầu dự phòng hoặc đề phòng các rủi ro bất ngờ ảnh hưởng đến việc thu chi tiền

mặt của doanh nghiệp. Quản lý tiền mặt là nội dung quan trọng trong việc quản lý

TSNH. Nội dung chủ yếu của công tác quản trị tiền mặt của doanh nghiệp là xác định

đủ mức dự trữ biên và quản lý hoạt động thu chi tiền mặt.

Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt một cách hợp lý. Việc xác định mức tồn trữ tiền mặt hợp lý có ý nghĩa quan trọng giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán

bằng tiền mặt cần thiết trong kỳ, tránh được rủi ro không có khả năng thanh toán. Giữ

được uy tín với các nhà cung cấp và tạo điều kiện cho doanh nghiệp chớp được cơ hội

kinh doanh tốt, tạo khả năng thu được lợi nhuận cao. Để xác dịnh được mức tồn trữ tiền mặt hợp lý có nhiều cách như có thể dựa vào kinh nghiệm thực tế, có thể sử dụng

mô hình quản lý Baumol.

William Baumol là người đầu tiên đưa ra mô hình quyết định số dư tiền mặt kết

hợp giữa chi phí cơ hội và chi phí giao dịch. Mô hình này được thiết lập nhằm xác

định số dư tiền mặt mục tiêu với các giải định là: Nhu cầu về tiền của doanh nghiệp là

ổn định, không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn, doanh nghiệp chỉ có hai hình

thức dự trữ: tiền mặt và chứng khoán khả thị, không có rủi ro trong đầu tư chứng

khoán.

T

TrC =

*F

C

Chi phí giao dịch (Transaction Cost – TrC)

Trong đó:

T là tổng cầu về tiền mặt trong năm

C là quy mô một lần bán chứng khoán,

T/C: số lần DN bán chứng khoán khả thị để bù đắp tiền mặt đã chi tiêu

F là định phí cho mỗi lần bán chứng khoán,

C

OC =

*K

2

Chi phí cơ hội (Opportunity Cost – OC)

Trong đó: OC là chi phí cơ hội của việc giữ tiền trong một năm,

C/2 là mức dự trữ tiền mặt trung bình

K là lãi suất đầu tư chứng khoán/năm,

8

*

Tổng chi phí = TrC + OC = *F + *K T C C 2

2 * F *T

*

Mức dự trữ tiền mặt tối ưu (C ) khi tổng chi phí ở mức tối thiểu: TCmin

=

K

* C

C

chính là mức dự trữ tiền mặt mà tại đó chi phí cơ hội bằng chi phí giao dịch

và tổng chi phí đạt cực tiểu

Mô hình quản lí tiền mặt Miller-orr: Mô hình này áp dụng cho DN có nhu cầu về tiền là không ổn định hay DN không dự đoán được chính xác các khoản thực thu và

thực chi ngân quỹ. Hình 1.3 Mô hình Miller-Orr

Mức cân đối tiền mặt Giới hạn trên Mức tiền mặt Giới hạn dưới Thời gian

Qua hình 1.3, mức tồn quỹ dao động lên xuống và không thể dự toán được cho đến khi đạt được giới hạn trên. Doanh nghiệp sẽ can thiệp bằng cách sử dụng số tiền

vượt quá mức so với mức tồn quỹ thiết kế để đầu tư vào các chứng khoán hay đầu tư

ngắn hạn khác và lúc đó, cân đối tiền trở về mức thiết kế .

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, cân đối tiền lại tiếp tục dao động cho đến khi tụt xuống dưới giới hạn dưới là lúc doanh nghiệp phải có sự bổ sung tiền để đáp ứng cho những hoạt động cần thiết, chẳng hạn việc bán một lượng chứng khoán để đáp ứng nhu cầu tiền của mình. Như vậy, mô hình này cho phép quản

lý ngân quỹ ở mức độ hoàn toàn tự do.

Khoảng dao động của mức cân đối tiền phụ thuộc vào ba yếu tố được chỉ ra trong

công thức sau:

Khoảng cách 1/3 3 * CP giao dịch * phương sai của thu chi NQ của giới hạn

9

= 3*

4 * Lãi suất

trên và giới hạn dưới của mức cân đối tiền

Nhìn vào hình 1.3, ta thấy mức ngân quỹ theo thiết kế không nằm chính giữa giới hạn trên và giới hạn giới hạn dưới . Các doanh nghiệp thường xác định mức tồn quỹ

theo thiết kế ở điểm một phần ba khoảng cách kể từ giới hạn dưới lên giới hạn trên:

+ Mức tiền theo thiết kế = Khoảng dao động tiền mặt 3 Mức tiền mặt giới hạn dưới

Mục tiêu của quản lý tiền mặt là phải đảm bảo cho việc tăng đầu tư lượng tiền

mặt nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận trong khi vẫn duy trì mức thanh khoản hợp lý để đáp

ứng các nhu cầu trong tương lai. Các công ty cần phải lập kế hoạch khi nào thì có tiền

nhàn rỗi có thể dành cho đầu tư và khi nào thì cần vay thêm tiền.

Như vậy để quản lý tiền mặt hiệu quả thì ta cần đưa ra các biện pháp sau:

Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi bằng tiền doanh nghiệp cần phải xây dựng các nội quy, quy chế về quản lý các khoản thu, chi, đặc biệt là các khoản thu

chi bằng tiền mặt để tránh sự mất mát, lạm dụng tiền của doanh nghiệp mưu

lợi cho cá nhân.

Tất cả các khoản thu chi bằng tiền mặt phải được thông qua quỹ, không được

chi tiêu ngoài quỹ.

Phải có sự phân định rõ ràng trong quản lý tiền mặt giữa nhân viên kế toán tiền mặt và thủ quỹ. Việc xuất nhập quỹ tiền mặt hàng ngày do thủ quỹ tiến

hành trên cơ sở các phiếu thu chi tiền mặt hợp thức và hợp pháp.

Tăng tốc quá trình thu tiền và làm chậm đi quá trình chi tiền. Dự đoán được thời gian chi trả, doanh nghiệp có thể tận dụng lượng tền mặt trôi nổi trên một số dư tiền mặt nhỏ hơn.

Cần quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt. Xác định rõ đối tượng tạm

ứng, mức độ tạm ứng và thời gian được tạm ứng.

Thường xuyên đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cho doanh nghiệp. Để chủ động trong thanh toán doanh nghiệp phải thực hiện tốt việc lập

kế hoạch lưu chuyển tiền tệ, trên cơ sở đó có biện pháp thích ứng nhằm đảm

bảo sự cân bằng thu chi tiền mặt của doanh nghiệp và nâng cao khả năng sinh lời của số tiền mặt nhàn rỗi.

10

1.2.3 Quản lý hàng tồn kho

Việc quản lý HTK rất quan trọng không phải chỉ vì nó chiếm tỷ trọng lớn trong

tổng TSNH của doanh nghiệp mà quan trọng hơn là tránh được tình trạng vật tư hàng

hóa bị ứ đọng, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được

diễn ra bình thường, góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển TSNH. Các doanh nghiệp

sản xuất thường tồn tại ba loại hàng tồn kho ứng với ba giai đoạn khác nhau của một quá trình sản xuất: Tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho sản phẩm dở dang, tồn kho thành

phẩm.

Đối với các doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho chủ yếu là dự trữ hàng hóa

để bán. Để xác định được mức độ đầu tư vào HTK tối ưu cần so sánh lợi ích đạt được từ dự trữ HTK với chi phí phát sinh do dự trữ HTK để có phương thức quyết định hợp

lí. Các chi phí liên quan đến dự trữ HTK gồm:

Chi phí đặt hàng: gồm chi phí giao dịch, chi phí vận chuyển, chi phí giao nhận hàng theo hợp đồng. Trên thực tế chi phí cho mỗi lần đặt hàng thường bao gồm các chi phí cố định và chi phí biến đổi. Tuy nhiên trong các mô hình quản

lý, TSNH về HTK đơn giản thường giả định chi phí cho mỗi làn đặt hàng là cố

định và độc lập với số đơn vị hàng đặt mua.

Chi phí lưu trữ (chi phí tồn trữ): là những chi phí liên quan đến việc thực hiện dự trữ HTK trong một khoảng thời gian xác định trước. Chi phí lưu trữ bao

gồm chi phí lưu kho và chi phí bảo quản; chi phí hư hỏng và chi phí thiệt hại

do HTK bị lỗi thời, giảm giá, biến chất; chi phí bảo hiểm; chi phí cơ hội về

TSNH lưu giữ đầu tư vào HTK; chi phí trả tiền lãi vay để mua vật tư, hàng

hóa dữ trữ; chi phí thuế. Thông thường, chi phí lưu trữ hàng năm giao động từ

20-45% tính trên giá trị HTK cho hầu hết các doanh nghiệp

Chi phí thiệt hại khi không có hàng (HTK hết): bao gồm chi phí đặt hàng khẩn cấp, chi phí thiệt hại do ngừng trệ sản xuất, lợi nhuận bị mất do hết thành

phẩm dự trữ để bán cho khách hàng…

Trong rất nhiều hàng tồn kho không phải loại nào hàng hóa cũng có vai trò như nhau trong việc bảo quản hàng tồn kho. Để quản lý hàng tồn kho hiệu quả người ta

phải phân loại hàng hóa dự trữ thành các nhóm theo mức độ quan trọng của chúng

trong dự trữ, bảo quản. Kĩ thuật phân tích A-B-C sẽ giúp doanh nghiệp phân loại và đầu tư có hiệu quả hơn cho việc quản lý hàng tồn kho. Giá trị hàng tồn kho trong năm được xác định bằng cách lấy nhu cầu của từng loại hàng tồn kho nhân với chi phí tồn kho đơn vị. Tiêu chuẩn để xếp các loại hàng tồn kho vào các nhóm là:

11

Nhóm A: Bao gồm các loại hàng hóa có giá trị hằng năm từ 60–80% tổng giá trị

tồn kho nhưng về số lượng chỉ chiếm 15–20% tổng số hàng tồn kho.

Nhóm B: Bao gồm các loại hành hóa có giá trị hằng năm từ 25–30% tổng giá trị

tồn kho nhưng về số lượng chúng chiếm 30–50% tổng số hàng tồn kho.

Nhóm C: Gồm những loại hàng có giá trị hằng năm nhỏ, giá trị hàng năm chỉ

chiếm 5–10% tổng giá trị hàng tồn kho. Tuy nhiên về số lượng chúng lại chiếm 30– 55% tổng số hàng tồn kho.

Hình 1.4. Các nhóm hàng tồn kho theo phân loại A-B-C

Mô hình phân tích theo A-B-C giúp doanh nghiệp đầu tư có trọng tâm khi mua

hàng, chẳng hạn ta phải dành nhiều tiềm lực để mua hàng hóa nhóm A nhiều hơn so

với nhóm C. Ngoài ra doanh nghiệp có thể xác định các chu kì kiểm toán khác nhau.

Đối với hàng tồn kho thuộc nhóm A, việc tính toán phải được thực hiện thường xuyên,

thường là mỗi tháng 1 lần. Đối với hàng hóa thuộc nhóm B, sẽ tính toán trong chu kì

dài hơn thường là 1 quý 1 lần. Đối với hàng hóa thuộc nhóm C thường tính toán 6

tháng 1 lần.

Doanh nghiệp cũng có thể áp dụng mô hình EOQ cho việc quản lý HTK với các

giả định: Mô hình EOQ là một mô hình quản lý hàng tồn kho mang tính định lượng

được sử dụng để xác định mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp. Dựa trên cơ sở giữa

chi phí tồn trữ hàng tồn kho và chi phí đặt hàng có mối quan hệ tương quan tỷ lệ

nghịch với nhau. Cụ thể, nếu số lượng sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng tăng lên thì số

lần đặt hàng trong kỳ sẽ giảm xuống và dẫn đến chi phí đặt hàng trong kì giảm trong

khi chi phí tồn trữ hàng hóa lại tăng lên. Do đó mục đích của quản lý hàng tồn kho là cân bằng hai loại chi phí này: chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng sao cho tổng chi phí tồn kho là thấp nhất.

12

Hình 1.5. Biến động hàng tồn kho trong một chu kỳ, hàng tồn kho bình quân

Q Lượng hàng cung ứng

Dự trữ trung bình Q/2

Thời gian

Gọi Q là lượng hàng tồn kho cho mỗi lần đặt hàng, khi hết hàng doanh nghiệp lại

tiếp tục đặt mua Q đơn vị hàng mới. Tại thời điểm đầu kỳ, lượng hàng tồn kho là Q và

ở thời điểm cuối kỳ là 0 nên số lượng tồn kho bình quân trong kỳ là:

Gọi C là chi phí tồn trữ cho mỗi đơn vị hàng tồn kho thì tổng chi phí tồn trữ hàng

tồn kho trong kỳ là:

Gọi S là hàng tiêu thụ trong kỳ nên số lần đặt hàng trong kỳ là

Gọi T là tổng chi phí thì : T=

Hình 1.6 Đƣờng biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng tổng chi phí theo các mức sản lƣợng tồn kho

Chi phí lưu

Chi phí kho

phí đặt

C1 . Q/2 Chi hàng

C2 . D/Q 0 Q* Lượng hàng cung

13

Gọi Q* là lượng hàng tồn trữ tối ưu tức tại Q* là lượng hàng cho chi phí thấp

nhất dẫn đến: Q* =

Nếu gọi T* là thời gian dự trữ tối ưu được tính bằng cách lấy số lượng hàng tối ưu Q* chia cho nhu cầu sử dụng hàng tồn kho bình quân một ngày, tức S/360 ( giả

định một năm có 360 ngày), đơn vị tính ngày.

Ta có công thức sau: T* =

Công thức trên cũng có thể được viết lại như sau: T* =

1.2.4 Quản lý khoản phải thu

Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa

hoặc dịch vụ. Trong kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp đều có các khoản phải thu nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể đến mức không thể kiểm soát

nổi, gây ảnh hưởng xấu cho hoạt động kinh doanh của doanh ngiệp. Vì thế quản lý

KPT là một nội dung quan trọng trong quản lý TSNH của doanh nghiệp. Quản lý KPT

liên quan đến đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Nếu không bán chịu hàng hóa, dịch vụ

doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội bán hàng, làm giảm lợi nhuận. Song nếu bán chịu hay

bán chịu quá nhiều sẽ kéo theo chi phí quản lý KPT tăng lên, làm tăng nguy cơ nợ phải

thu khó đòi và rủi ro không thu được nợ.

Mặt khác, quản lý khoản phải thu liên quan chặt chẽ đến việc tổ chức và bảo tồn

TSNH của doanh nghiệp. Việc tăng khoản phải thu từ khách hàng kéo theo việc gia

tăng các khoản chi phí quản lý nợ, chi phí thu hồi nợ, chi phí trả tiền vay để đáp ứng

nhu cầu TSNH thiếu do khoản bị khách hàng chiếm dụng. Tăng khoản phải thu làm

tăng rủi ro đối với doanh nghiệp dẫn đến tình trạng nợ quá hạn khó đòi hoặc không thu

hồi được do khách hàng vỡ nợ gây mất khoản phải thu của doanh nghiệp. Từ đó ảnh

hưởng rất lớn đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy doanh nghiệp cần

quản lý các KPT một cách hợp lý và linh hoạt.

Để đạt được hiệu quả cao trong việc thu hồi các quản tín dụng thì các doanh nghiệp cần phải xây dựng riêng cho mình các chính sách cũng như tường bước trong

quá trình quản lý các khoản phải thu.

Các doanh nghiệp có thể chia thành các bước như sau:

Bước 1: Ra các điều khoản bán, đây là một trong những ưu tiên cho các doanh nghiệp khi thực hiện ký kết hợp đồng với các khách hàng của mình, dựa trên các tiêu chí như lãi suất ngân hàng, nhu cầu sử dụng vốn ... thì mỗi doanh nghiệp có thể đưa ra điều khoản khi ký kết hợp đồng với các khách hàng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ của 14

mình như: chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán, thời hạn thanh toán... Đây sẽ giúp cho các doanh nghiệp quản lý tốt hơn các khoản phải thu của mình, tránh phát sinh các

chi phí không cần thiết để bù đắp cho khoản vốn của mình bị khách hàng chiếm dụng.

Bước 2: Phân tích tín dụng là bước thứ hai cần thực hiện khi một doanh nghiệp

đánh giá việc cấp tín dụng, Phân tích tín dụng là xem xét các khách hàng mà doanh

nghiệp cho vay có đủ khả năng chi trả cả vốn lẫn lãi cho mình sau này không. Đây là công việc rất quan trọng, nó sẽ đánh giá khả năng thanh toán của các khách hàng với

công ty cũng như giúp các doanh nghiệp phân tích, đánh giá và ra quyết định cấp tín

dụng khi đứng trước một yêu cầu cấp tín dụng cho khách hàng. Kiểm soát và quản lý

rủi ro tín dụng khi quyết định cấp tín dụng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng trong mỗi doanh nghiệp.

Bước 3: Quyết định tín dụng là công việc được thực hiện sau 2 bước trên khi các

cấp lãnh đạo của công ty xem xét việc cấp tín dụng của mỗi doanh nghiệp.

Ngoài ra, các doanh nghiệp có thể áp dụng các chính sách tín dụng và thu tiền

như sau:

CFt

NPV =

*CFo

k

- Áp dụng mô hình cơ bản

Với: CFt = VC * S * (ACP/365)

CF0 = [ S*(1-VC) - S*BD – CD ] * (1-T)

Trong đó: CFt là dòng tiền thu được sau thuế mỗi thời kì, k là tỷ lệ thu nhập yêu cầu

CF0 là khoản đầu tư vào phải thu khách hàng

VC là CFout biến đổi theo tỷ lệ % tính trên CFin, S là doanh thu dự kiến trên mỗi

thời kì

ACP là thời gian thu tiền trung bình (ngày), BD là tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu

(%)

CD là CFout tăng của bộ phận tín dụng

T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.

Quyết định:

NPV > 0 : cấp tín dụng

NPV < 0 : không cấp tín dụng

15

NPV = 0 : bàng quan

Bước 4: Quản lý nợ phải thu. Sau khi cấp tín dụng cho mỗi đối tượng thì các

nhân viên phụ trách thu hồi nợ sẽ phải tiếp tục theo dõi tình hình tài chính của các

khách hàng. Với tình hình của mỗi đối tượng khác nhau thì nhân viên sẽ phân chia

thành các nhóm nhằm có được những phương án tốt nhất khi các khách hàng phát sinh

các sự cố không mong muốn từ đó đảm bảo ổn định khả năng thanh toán của công ty trong tương lai.

Các nhân viên phụ trách thu hồi nợ có thể phân nhóm theo các tiêu chí như sau:

Nhóm 1: Khách hàng tiêu chuẩn: là những khách hàng có lịch sử thanh toán các

khoản nợ được thanh toán trong hạn hoặc quá hạn dưới 10 ngày

Nhóm 2: Khách hàng cần chú ý: là những khách hàng có lịch sử thanh toán các

khoản nợ quá hạn từ 10 đến 30 ngày hoặc có các dấu hiệu ảnh hưởng tiêu cực đến khả

năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ cả gốc lẫn lãi .

Nhóm 3: Khách hàng dưới tiêu chuẩn: là những khách hàng có lịch sử thanh toán

các khoản nợ quá hạn trên 30 ngày, liên tục xin gia hạn thời gian thanh toán các khoản

nợ hoặc có những dấu hiệu rõ ràng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản nợ.

Tùy theo các khách hàng được phân loại theo nhóm 1, 2, 3 thì công ty sẽ có

những sự điều chỉnh phù hợp cho công tác hoạt động thu hồi nợ như bán nợ cho các tổ

chức tài chính. 1.3 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Theo cách hiểu đơn giản thì sử dụng tài sản hiệu quả có nghĩa là với một số

lượng tài sản nhất định đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ mang lại lợi

nhuận cao nhất với chi phí thấp nhất. Điều này được hiểu trên hai khía cạnh:

Với số tài sản hiện có, doanh nghiệp có thể sản xuất ra số lượng sản phẩm lớn

hơn với chất lượng tốt hơn, giá thành hạ để tăng lợi nhuận.

Đầu tư thêm tài sản một cách thích hợp nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng của tài sản.

Như vậy, có thể hiểu: “Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và mục tiêu tăng

trưởng với chi phí tối thiểu trong một khoảng thời gian nhất định”.

16

Hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp được lượng hóa thông qua hệ thống các chỉ tiêu về lợi nhuận, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển, khả năng hoạt

động,…Thông qua các chỉ tiêu đó có thể phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được

và chi phí bỏ ra ban đầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Chi phí bỏ ra càng ít so với

kết quả đạt được thì hiệu quả sử dụng tài sản càng cao.

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu sau:

1.3.2.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá chung về khả năng thanh toán

Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, cho nên việc sử dụng

hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản. Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì người ta thường

Khả năng thanh toán ngắn hạn:

sử dụng các chỉ tiêu sau đây:

Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, được sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán ngắn hạn. Công thức tính khả năng thanh toán ngắn hạn là:

Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn Nợ ngắn hạn

Khả năng thanh toán ngắn hạn cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể

chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này đo

lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Nếu khả năng thanh toán ngắn hạn giảm cho

thấy khả năng thanh toán giảm, đó là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính

sẽ xảy ra. Nếu hệ số này cao, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh

toán các khoản nợ. Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn.

Khả năng thanh toán nhanh:

Khả năng thanh toán nhanh được tính toán trên cơ sở những tài sản lưu ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng còn được gọi là tài sản có tính thanh khoản, tài sản có tính thanh khoản bao gồm tất cả tài sản ngắn hạn trừ hàng tồn kho. Do đó, khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ

ngắn hạn không phụ thuộc vào hàng tồn kho.

Khả năng thanh toán nhanh = TSNH – hàng tồn kho Nợ ngắn hạn

Khả năng thanh toán tức thời:

Khả năng thanh toán tức thời được xác định trên cơ sở lượng tiền dự trữ tại doanh nghiệp bao gồm tiền măt, tiền gửi ngân hàng và các khoản tương đương tiền 17

khác có thể nhanh chóng thanh toán các khoản nợ phải trả trong ngắn hạn của doanh nghiệp đó. Do vậy, khả năng thanh toán tức thời cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn mang tính ngay lập tức của một đơn vị.

Tiền và các khoản tương đương tiền Khả năng thanh toán tức thời = Nợ ngắn hạn

1.3.2.2 Nhóm tý số đánh giá khả năng quản lý tài chính

Đây là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Để nâng cao hệ

số hoạt động, các nhà quản trị doanh nghiệp phải biết những tài sản nào chưa được sử

dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng những tài sản đó sao cho mang lại hiệu quả hoặc

phải loại bỏ những tài sản đó đi. Hệ số đo lường khả năng hoạt động đôi khi còn được

gọi là hệ số hiệu quả hoặc hệ số luân chuyển. Do đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt

động thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu thể hiện vòng quay, thể hiện chu kỳ của

tài sản sau đây:

Vòng quay các khoản phải thu:

Các khoản phải thu là các khoản bán chịu mà doanh nghiệp chưa thu được tiền về quỹ do thực hiện chính sách tín dụng thương mại, các khoản tạm ứng chưa thanh

toán và các khoản trả trước cho người bán…

Doanh thu thuần Vòng quay các khoản phải thu = Các khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận quá trình khách

hàng thanh toán các khoản nợ cho doanh nghiệp. Khi khách hàng thanh toán các khoản

nợ đã đến hạn thì lúc đó các khoản phải thu đã quay được một vòng.

Chu kỳ thu tiền:

360 Chu kỳ thu tiền = Vòng quay các khoản phải thu

Chỉ tiêu này cho ta biết tốc độ chuyển đổi nợ phải thu từ khách hàng thanh tiền trong quỹ của doanh nghiệp là bao lâu. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì tình hình kinh doanh

của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại, chỉ tiêu này càng lớn thì doanh nghiệp đang trong tình trạng các khoản nợ của khách hàng đã quá hạn.

Vòng quay hàng tồn kho:

Vòng quay của hàng tồn kho là một tiêu chuẩn để đánh giá doanh nghiệp sử dụng

hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào.

18

Doanh thu thuần Vòng quay của hàng tồn kho = Hàng tồn kho

Các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất luôn phải tính đến mức dự trữ tồn kho bởi doanh nghiệp không thể nào đến lúc sản xuất mới mua nguyên vật liệu. Để trành trường hợp bị ứ đọng hàng tồn kho thì doanh nghiệp phải có trước một lượng vật tư hàng hóa vừa phải, bởi nếu dự trữ hàng tồn kho quá nhiều thì doanh nghiệp sẽ mất

khoản chi phí để bảo quản vật liệu. Nếu lượng dự trữ quá ít không đủ cho sản xuất sẽ

dẫn đến tình trạng tạm ngừng hoạt động ở các khâu sản xuất tiếp theo.

Như vậy có thể thấy chỉ tiêu này rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó quyết

định thời điểm đặt hàng cũng như mức dự trữ an toàn cho doanh nghiệp. Vòng quay dự trữ, tồn kho cao thể hiện được khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là

tốt, có như vậy mới đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Chỉ tiêu này cao phản

ánh được số lượng nguyên vật liệu được đưa vào sử dụng cũng như hàng hóa được bán

ra nhiều, như vậy là doanh thu sẽ tăng và đồng thời lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt

được cũng tăng theo. Vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm

của từng ngành nghề kinh doanh và phụ thuộc vào mặt hàng kinh doanh.

Chu kỳ lƣu kho:

360 Chu kỳ lưu kho = Vòng quay hàng tồn kho

Chỉ tiêu này cho ta biết số ngày lượng hàng tồn kho được chuyển đổi thành

doanh thu. Từ chỉ tiêu này có thể biết được số ngày cần thiết cho việc luân chuyển kho vì hàng tồn kho có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ở khâu

dự trữ. Hệ số này chứng tỏ công tác quản lý hàng tôn kho càng tốt, hiệu quả sử dụng

tài sản ngắn hạn càng cao và ngược lại.

Hệ số trả nợ:

Hệ số trả nợ là chỉ tiêu đo lường tốc độ thu nợ của doanh nghiệp và được xác

định bằng công thức:

Giá vốn hàng bán + chi phí bán hàng, quản lí Hệ số trả nợ = Phải trả người bán + Lương, thưởng, thuế phải trả

Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy tốc độ trả nợ của doanh nghiệp càng cao và

ngược lại.

Thời gian trả nợ trung bình:

19

Chỉ tiêu này cho biết số ngày bình quân mà doanh nghiệp chiếm dụng vốn của nhà cung cấp thông qua mua hàng hóa trả chậm trước khi thanh toán nơ, được tính

toán bằng công thức:

360 Thời gian trả nợ trung bình = Hệ số trả nợ

Thời gian trả nợ trung bình càng dài phản ánh khả năng chiếm dụng vốn từ các doanh nghiệp tốt. Tuy nhiên, không phải kỳ trả tiền bình quân càng dài càng tốt, vì khi

đó nhà cung cấp bị thiệt, và có thể gây ảnh hưởng không tốt cho mối quan hệ giữa

doanh nghiệp với đối tác.

Chu kỳ kinh doanh:

Chu kỳ kinh doanh = Chu kỳ thu tiền + Chu kỳ lưu kho

Chỉ tiêu này cho ta biết được thời gian cần thiết kể từ khi doanh nghiệp mua

nguyên vật liệu đến khi doanh nghiệp thu được tiền bán hàng. Chỉ tiêu này được chia

ra làm hai giai đoạn đó là giai đoạn tồn kho và giai đoạn thu tiền bán hàng. Có thể thấy rằng nếu chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp thấp, chứng tỏ hiệu quả hoạt động của

doanh nghiệp từ lúc nhập nguyên vật liệu, sản xuất đến khi bán hàng thu được tiền về

quỹ là tốt. Còn ngược lại nếu chu kỳ kinh doanh lớn, ta cần xem xét do chu kỳ thu tiền

hay do chu kỳ lưu kho tác động để từ đó có hướng giải quyết nhằm đem lại hiệu quả

kinh doanh tốt nhất cho doanh nghiệp.

Thời gian luân chuyển tiền:

Thời gian luân chuyển tiền = Chu kỳ kinh doanh – Thời gian trả nợ

Mục đích của doanh nghiệp khi quan tâm đến chỉ tiêu này là dựa vào chỉ tiêu này

để có thể thay đổi các chính sách liên quan đến tín dụng mua hàng và tín dụng bán

hàng. Tiêu chuẩn thanh toán tín dụng mua hàng và nhận tiền từ người mua có thể thay

đổi trên cơ sở báo cáo của thời gian luân chuyển tiền. Nếu chỉ tiêu này cho khả năng thanh toán tiền mặt tốt, chính sách tín dụng đã áp dụng có thể tiếp tục được duy trì. Ngoài ra còn để nghiên cứu dòng tiền của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền mặt

và nghiên cứu thời gian luân chuyển tiền mặt sẽ rất hữu ích cho các quản trị để phân tích dòng tiền.

1.3.2.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá về khả năng sinh lời:

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS):

Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Tỷ số này thế hiện được lợi nhuận chiếm bao nhiêu 20

phần trăm trong doanh thu. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là Công ty kinh doanh có lãi và ngược lại

Lợi nhuận ròng = Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Doanh thu thuần

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA):

Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng

lợi nhuận ròng, đồng thời tỷ số này cũng thể hiện hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản

để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp. Nếu tỷ suất này lớn hơn 0 thì có nghĩa doanh

nghiệp làm ăn có lãi và ngược lại

Tỷ suất sinh lời trên tổng Lợi nhuận ròng = tài sản Tổng tài sản

Công thức Dupont thứ nhất: ROA = ROS x Vòng quay tài sản

Có hai xu hướng cần phải tăng lãi ròng bằng cách tiết kiệm chi phí và tăng giá

bán. Việc tăng giá bán phải được thị trường chấp nhận, có nghĩa là giá bán tăng thì chất lượng sản phẩm cũng phải tăng. Muốn tăng vòng quay tài sản cần phải tăng doanh

thu bằng cách giảm giá bán nhưng giảm giá sẽ làm cho ROS giảm, vì vậy ta có thể vẫn

tăng giá bán những chất lượng sản phẩm cũng phải tăng, sự tăng lên này được người

tiêu dùng chấp nhận. Như vậy, đảm bảo doanh thu vẫn tăng bên cạnh đó doanh nghiệp

tăng cường hoạt động xúc tiến bán hàng như: áp dụng các dịch vụ chăm sóc khách

hàng, dịch vụ bảo hành, chiết khấu thương mại…

Tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần (ROE):

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tạo ra bao

nhiêu đồng lợi nhuận ròng, đồng thời chỉ số này để đo khả năng sinh lợi trên mỗi đồng

vốn cổ phần. Nếu tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là Công ty làm ăn có lãi và ngược lại

Lợi nhuận ròng = Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu

Đẳng thức Dupont 2: ROE = ROS x Vòng quay tài sản x (Tổng Tài Sản/VCSH)

Có 2 xu hướng để tăng ROE đó là tăng ROA, ROS hoặc là tăng hệ số đòn bẩy tài chính. Vì vậy, khi muốn tăng tỷ số này thì doanh nghiệp phải xem xét và đánh giá khả năng trả nợ của mình để đưa ra quyết định có vay thêm hay không

Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu hay được đem so sánh với tỷ suất sinh lợi

trên tài sản (ROA). Nếu tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu lớn hơn ROA thì có nghĩ 21

là đòn bẩy tài chính của Công ty đã có tác dụng tích cực. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn

Tỷ suất lợi nhuận tài sản ngắn hạn:

Là chỉ tiêu phản ánh một đồng tài sản ngắn hạn có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi

nhuận trước thuế. Tỷ suất lợi nhuận tài sản ngắn hạn càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao.

Lợi nhuận ròng Tỷ suất lợi nhuận tài sản ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn trong kỳ

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn:

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn

Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp, cho

biết cứ một đồng tài sản ngắn hạn đưa vào sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu

đồng doanh thu thuần. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù

rộng, bao hàm nhiều mặt tác động nhau. Vì vậy, khi phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta phải xem xét trên nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau.

Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn:

Kỳ luân chuyển vốn lưu động phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay vốn

lưu động. Chỉ tiêu này càng nhỏ, tốc độ thu hồi lưu động của doanh nghiệp cang cao

và ngược lại. Công thức tính như sau

365 = K Vòng quay vốn lưu động trong kỳ

Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn:

Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động cần có để đạt được một đồng doanh thu

thuần trong kỳ. Hệ số này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn càng cao.

Tài sản ngắn hạn Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần

Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn:

Mức tiết kiệm vốn lưu động là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được

trong kỳ kinh doanh. Mức tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện bằng chỉ tiêu:

22

M1 *( K1 - K0 ) Vtk = 360

Trong đó:

Vtk : Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn

K0: Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn năm báo cáo

M1: Tổng mức luân chuyển kỳ kế hoạch

Mức tiết kiệm là số vốn lưu động tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn

nên doanh nghiệp tăng tổng mức luân chuyển mà không cần tăng thêm vốn lưu động

hoặc tăng với quy mô không đáng kể.

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh

nghiệp

Hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố,

bao gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Để có thể phát huy được những mặt tích cực cũng như giảm bớt mặt tiêu cực tác động đến quá trình sử dụng TSNH

đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp cần nắm bắt các nhân tố đó để từ đó đề ra những

1.3.3.1 Nhân tố khách quan

biện pháp quản lý và sử dụng TSNH hiệu quả nhất.

Các nhân tố khách quan thuộc môi trường vĩ mô của doanh nghiệp nên có phạm

vi rất rộng, bao trùm lên toàn bộ nền kinh tế và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến

Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác

mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp.

động đến doanh nghiệp như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng. Nhân tố này ảnh hưởng

lớn và trực tiếp đến quyết định quản lí TSNH của doanh nghiệp, cụ thể là mức

dự trữ. Sở dĩ như vậy là do tính mùa vụ của thị ttrường cung ứng lẫn thị

trường tiêu thụ. Hơn nữa khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi thì doanh

nghiệp phải tốn chi phí nhiều hơn cho công tác dự trữ (chi phí vận chuyển, bảo quản) từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp.

Môi trường kinh doanh

Biến động cung cầu hàng hóa: tác động vào khả năng cung ứng của thị trường đối với nhu cầu nguyên vật liệu hay khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp trên thị trường, từ đó làm tăng hay giảm mức dự trữ của doanh nghiệp, và ảnh hưởng tới khả năng quay vòng của TSNH, đến mức sinh lợi.

23

Tốc độ phát triển của nền kinh tế: Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, sức mua bị giảm sút làm ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh

nghiệp, sản lượng tiêu thụ bị suy giảm, doanh thu ít đi, lợi nhuận giảm sút

và tất yếu làm giảm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và TSNH

nói riêng.

Mức độ cạnh tranh trên thị trường: để đạt được hiệu quả cao nhất trong nền kinh tế thị rường thì mỗi doanh nghiệp phải có những biện pháp, chính sách

hấp dẫn so với đối thủ cạnh tranh như chấp nhận bán chịu, cung ứng đầu

vào ổn định, chi phí thấp,…Như vậy doanh nghiệp sẽ phải đề ra các biện pháp và các chiến lược thích hợp để tăng vòng quay TSNH, giảm chi phí, tăng lợi nhuận.

Sự thay đổi của chính sách kinh tế vĩ mô: bằng luật pháp kinh tế và các chính sách kinh tế, Nhà Nước thực hiện việc điều tiết và quản lí nguồn lực

trong nền kinh tế tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát

triển sản xuất kinh doanh theo hướng nhất định. Chỉ một sự thay đổi nhỏ

trong chế độ, chính sách hiện hành cũng ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược

kinh doanh và ảnh hưởng đến hiệu quả họat động của doanh nghiệp nói

chung và hiệu quả sử dụng TSNH nói riêng.

Môi trường khoa học công nghệ: Sự phát triển của khoa học công nghệ không những làm thay đổi chất lượng, số lượng sản phẩm mà còn làm phát sinh

những nhu cầu mới, khách hàng trở nên khó tính hơn. Ngoài ra nó còn ảnh

hưởng đến tốc độ chu chuyển tiền, các khoản dự trữ, tồn kho nhờ tăng năng

suất, rút ngắn thời gian sản xuất. Do vậy các doanh nghiệp phải nắm bắt được

1.3.3.2 Nhân tố chủ quan

điều này để có biện pháp đầu tư, đổi mới công nghệ phù hợp.

Ngược lại với các nhân tố khách quan là những nhân tố chủ quan xuất phát từ

Cơ cấu TSNH của doanh nghiệp: Việc xác định cơ cấu TSNH của doanh

bản thân doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể thay đổi các nhân tố này để đạt được kết quả kinh doanh tốt nhất. Nhân tố chủ quan cơ bản gồm:

nghiệp hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp càng

được tối ưu hóa bấy nhiêu. Nếu bố trí cơ cấu TSNH không hợp lý, làm mất sự cân đối giữa TSNH và TSDH dẫn đến làm thiếu hoặc thừa một loại tài sản nào

Vấn đề xác định nhu cầu TSNH: Việc xác định nhu cầu TSNH thiếu chính xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh. Nếu thừa thì

đó sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH.

24

sẽ gây lãng phí còn nếu thiếu sẽ gây ảnh hưởng đến họat động sản xuất kinh doanh. Điều này ảnh hưởng không tốt đến quá trình họat động kinh doanh

Việc lựa chọn phương án đầu tư: Đây là nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến

cũng như hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp.

hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất

ra những sản phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời giá hành hạ thì doanh nghiệp thực hiện được

quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay của TSNH, nâng cao hiệu quả sử

Trình độ quản của doanh nghiệp: Trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém sẽ dẫn đến thất thoát vật tư, hàng hóa trong quá trình mua sắm, dự trữ,

dụng TSNH và ngược lại.

sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

1.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh

nghiệp

Nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp phát

triển vững mạnh. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH cần phải đảm bảo sử dụng tài

sản đúng mục đích, hợp lý, tiết kiệm, có sự quản lý chặt chẽ, không để tài sản bị thất

thoát lãng phí, đảm bảo thỏa mãn đủ TSNH cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài

ra, bản thân doanh nghiệp cũng cần thường xuyên kiểm tra giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH nhằm phát hiện kịp thời và nhanh chóng khắc phục những hạn chế

trong quản lý và sử dụng TSNH.

Để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một

lượng tài sản nhất định và nguồn tài trợ tương ứng, không có tài sản sẽ không có bất kì

hoạt động sản suất kinh doanh nào. Song việc sử dụng tài sản như thế nào cho hiệu quả

cao là một nhân tố quan trọng quyết định tới sự tăng trưởng và phát triển của doanh

nghiệp. Vì vậy, việc quản lý, sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nói chung

và TSNH nói riêng trong doanh nghiệp là rất quan trọng của công tác quản lí tài chính doanh nghiệp.

Lợi ích kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả từng đồng TSNH làm cho TSNH được thu hồi sau mỗi kì sản xuất. Việc tăng tốc độ

luân chuyển TSNH cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn, do đó vốn thu hồi được nhanh hơn, có thể giảm bớt được khối lượng TSNH cần thiết mà vẫn giữ được khối lượng sản phẩm hàng hóa bằng hoặc hơn trước. Nâng cao hiệu quả sử dụng

TSNH sẽ cải thiện được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Đứng trước những đòi hỏi ngày càng khắt khe của người tiêu dùng, sản phẩm

hàng hóa phải luôn đa dạng về chủng loại, chất lượng không ngừng được cải tiến nâng 25

cao, có vậy thì doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển được. Để làm được điều này thì doanh nghiệp phải huy động hết nguồn lực của mình và khai thác chúng một cách có

hiệu quả. Từ đó doanh nghiệp mới có khả năng để tái đầu tư, cải thiện máy móc, tăng

năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.

Việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH còn giúp doanh nghiệp luôn có

được trình độ sản xuất phát triển, trang thiết bị kĩ thuật luôn được cải tiến. Việc áp dụng công nghệ kĩ thuật hiên đại, tiên tiến sẽ tăng khả năng nâng cao năng suất lao

động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo thế cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường.

Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH còn làm tăng khả năng tài chính

cho doanh nghiệp khi các khoản tiền mặt, phải thu, dự trữ, phải trả của doanh nghiệp được quản lý và sử dụng tốt sẽ nâng cao khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, giúp

doanh nghiệp dễ dàng huy động vốn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ tiềm lực

để vượt qua khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Khi khai thác tốt tài sản , sử dụng

tiết kiệm, hiệu quả TSNH trong sản xuất kinh doanh để giảm bớt nhu cầu vay vốn, từ

đó giảm các chi phí về lãi vay.

Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH hay việc tối đa hóa lợi nhuận trên

một số vốn nhất định là vấn đề hết sức quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp sản

xuất hàng hóa, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế. Trong số các loại TSNH thì tiền

mặt, các KPT và HTK là 3 bộ phận quan trọng nhất và là đối tượng chủ yếu của quản trị tài chính.

26

CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH VẬT

LIỆU XÂY DỰNG AN PHÚC

2.1 Khái quát về Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh Vật liệu xây dựng An

Phúc

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh

doanh vật liệu xây dựng An Phúc

Tên gọi đầy đủ : CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT

VÀ KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG AN PHÚC

Tên giao dịch : AN PHUC MANUFACTURING AND TRADING

BUILDING MATERIALS COMPANY LIMITED..

Tên viết tắt : AN PHUC BUILDING MATERIALS CO., LTD.

Địa chỉ trụ sở chính : Số 9A ngõ 1/26 phố Nhân Hoà – Phường Nhân Chính –

Quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ trạm sản xuất : Km2 +500 đại lộ Thăng Long - Mễ Trì - Từ Liêm – Hà

Nội.

Điện thoại : (04) 66 75 52 01

Fax : (04) 62 65 86 15

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: 0104032366 cấp ngày 03/01/2008 – tại Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội.

Loại hình doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn

Lĩnh vực hoạt động:

Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng nung và không nung, cấu kiện vật

liệu xây dựng các loại, bê tông thương phẩm (Bê tông tươi).

Chuyển giao công nghệ xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị sản xuất vật liệu

xây dựng.

Vận tải hàng hoá bằng đường bộ.

: Nguyễn Văn Lực Giám đốc

Vốn điều lệ : 4.900.000.000 đồng (Bốn tỷ chín trăm triệu đồng)

Tháng 1/2008: Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh Vật liệu xây dựng An

Phúc được thành lập với ngành nghề đăng ký kinh doanh là Sản xuất và kinh doanh

vật liệu xây dựng bê tông thương phẩm, vận tải hàng hoá bằng đường bộ...

27

Công ty TNHH Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc là một Công ty chuyên cung cấp vật liệu xây dựng, bê tông thương phẩm. Với lợi thế nằm giữa

trung tâm các khu công nghiệp và các dự án đã, đang và sẽ xây dựng, là một Công ty

với tuổi đời còn rất trẻ nhưng nắm bắt được nhu cầu của thị trường xây dựng dân

dụng, toàn thể các cán bộ công nhân viên Công ty đã phấn đấu nỗ lực hết mình để

khẳng định thương hiệu, uy tín và độ tin cậy tuyệt đối đối với sản phẩm Công ty cung cấp cho thị trường xây dựng. Để đảm bảo tốt nhất sản phẩm của mình Công ty An

Phúc đã đầu tư trang thiết bị, máy móc chuyên dụng hiện đại đồng bộ nhằm phát huy

tối đa các công nghệ và cốt liệu được sử dụng.

Với phương châm hoạt động: “Sự hài lòng của khách hàng chính là niềm tự hào của Công ty”, Công ty An Phúc cùng với đội ngũ nhân viên dày dạn kinh nghiệm và

phong cách làm việc chuyên nghiệp luôn phấn đấu cung cấp cho khách hàng những

sản phẩm dịch vụ tốt nhất vừa đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế và vừa phù

hợp với đặc điểm khí hậu, địa hình tại Việt Nam.

2.1.2 Bộ máy quản lý

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc

(Nguồn: Phòng Hành chính - Nhân sự)

28

Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận

Giám đốc: là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của Công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm

vụ của mình. Bên cạnh đó, giám đốc còn có các quyền, nghĩa vụ cơ bản như quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của

Công ty; tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của

Công ty; ban hành quy chế quản lý nội bộ Công ty; bổ nhiệm, miễn nhiệm,

cách chức các chức danh quản lý trong Công ty; ký kết hợp đồng nhân danh

Công ty; ngoài ra còn có các quyền và nhiệm vụ khác được quy định tại Điều lệ Công ty.

Phó giám đốc: là người trợ giúp cho giám đốc trong các lĩnh vực được phân công trong quá trình sản xuất và quản lý doanh nghiệp. Thay mặt cho

giám đốc khi giám đốc đi công tác để thực hiện điều hành Công ty tiếp tục

sản xuất kinh doanh bình thường.

Phòng kế toán: Quản lý điều hành toàn bộ hoạt động tài chính kế toán. Lập dự toán nguồn vốn, phân bổ, kiểm soát vốn cho toàn bộ hoạt động sản xuất

kinh doanh của Công ty. Dự báo các số liệu tài chính, phân tích thông tin,

số liệu tài chính kế toán.

Phòng vật tƣ: Phòng có nhiệm vụ thực hiện các công việc liên quan đến tiếp nhận vật tư, vật liệu xây dựng thô, kết hợp với phòng kỹ thuật xác định

chất lượng của cốt liệu thô. Thống kê, theo dõi xuất nhập vật tư, sản phẩm

trang thiết bị của Công ty.

Phòng kinh doanh: là bộ phận xây dựng hình ảnh chuyên nghiệp của Công ty tới khách hàng và lập kế hoạch bán hàng. Chị trách nhiệm chính về công

việc tổ chức, thực hiện chào giá phục vụ cho việc bán hàng, Tổ chức phối

hợp với các bộ phận trong Công ty thực hiện công việc tiếp thị quảng bá

sản phẩm của Công ty.

Phòng điều hành: Phòng được phân công công việc trên cơ sở phần công việc của phòng kinh doanh, quản lý giám sát bộ phận điều hành sản xuất của trạm trộn, điều độ sản xuất. Kết hợp với đội xe bố trí phương tiện vận

chuyển sản phẩm của Công ty. Kết hợp với phòng kỹ thuật quản lý công tác an toàn và bảo hộ lao động, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ trong Công ty.

Phòng kỹ thuật: Phòng có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm nghiệm vật liệu xây dựng. Quản lý các thiết bị, dụng cụ thí nghiệm, cấp phối liên quan đến sản

29

phẩm của Công ty. Làm hồ sơ cấp phối cho các công trình, tư vấn trong lĩnh vực đơn vị đảm nhiệm (Thí nghiệm, kiểm nghiệm vật liệu xây dựng, cấu

kiện). Quản lý sử dụng thiết bị và hệ thống điện sản xuất, điện sinh hoạt.

Đội xe: có chức năng thực hiện nhiệm vụ vận chuyển sản phẩm cung cấp cho các đơn vị khách hàng và các đơn vị thi công một cách nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo đúng thời gian, tiến độ. Quản lý máy móc thiết bị đã được

giao.

2.1.3 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh

Theo quy định của pháp luật, Công ty TNHH sản xuất và kinh doanh vật liệu xây

dựng An Phúc được phép kinh doanh các loại hình sau:

Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng nung và không nung, cấu kiện vật

liệu xây dựng các loại, bê tông thương phẩm (Bê tông tươi).

Chuyển giao công nghệ xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị sản xuất vật liệu

xây dựng.

Vận tải hàng hoá bằng đường bộ.

Xây lắp dân dụng, công nghiệp.

Cung cấp dịch vụ cho thuê nhà, văn phòng.

Khai thác, chế biến sản phẩm từ nông nghiệp.

Tuy nhiên hiện nay, Công ty đang tập trung vào sản xuất, cung cấp bê tông tươi

cho các công trình tại Hà Nội và các tỉnh thành lân cận. Sản phẩm của Công ty đã tạo

nên được uy tín cũng như sự tin dùng của các đối tác là các tập đoàn xây dựng lớn

trong nước cũng như với các khách hàng nhỏ lẻ có nhu cầu xây dựng dân dụng.

Với những lợi thế sắn có, hiện nay Công ty TNHH sản xuất và kinh doanh vật

liệu xây dựng An Phúc đang có kế hoạch mở rộng thêm kinh doanh đặc biệt là trong

lĩnh vực xây lắp.

2.1.4 Tình hình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp giai đoạn 2011 - 2013

2.1.4.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong những năm trở lại đây tình hình kinh doanh của công ty phát triển tương

đối tốt do Công ty không ngừng tìm kiếm đối tác kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch

vụ cũng như chất lượng sản phẩm. Qua những số liệu có được từ bảng Báo cáo kết quả kinh doanh trong 3 năm vừa qua, có thể cho ta thấy rõ được điều này.

Công ty có những biến đổi lớn về doanh thu, nhưng lợi nhuận sau thuế lại không

có những bước nhảy vọt qua các năm. Để hiểu thêm về vấn đề này ta đi vào phân tích các chỉ tiêu cụ thể:

30

31

Bảng 2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2011 – 2013

Đvt: VNĐ

Chênh lệch 2013 và 2012

Chênh lệch 2012 và 2011

Chỉ Tiêu

Năm 2013

Năm 2012

Năm 2011

Tƣơng đối

Tuyệt đối (%)

Tƣơng đối

Tuyệt đối (%)

1.Tổng doanh thu

14.624.118.795

22.37

40.405.632.931

161.79

80.004.348.634

65.380.229.839

24.974.596.908

2.Doanh thu thuần

14.624.118.795

22.37

40.405.632.931

161.79

80.004.348.634

3.Giá vốn hàng bán

18.232.086.026

32.34

35.898.725.869

175.3

74.609.408.803

56.377.322.777

20.478.596.908

65.380.229.839 24.974.596.908

4.Lợi nhuận gộp

(3.607.967.231)

(40.08)

4.506.907.062

100.24

5.Doanh thu HĐTC

(12.994.793)

(44.28)

(6.398.516)

(17.9)

16.349.281

29.344.074

35.742.590

6.Chi phí tài chính

(1.876.357.624)

(49.32)

2.539.862.959

200.88

1.927.891.916

3.804.249.540

1.264.386.581

- trong đó: CF Lãi vay

(1.876.357.624)

(49.32)

2.539.862.959

200.88

1.927.891.916

5.394.939.831 9.002.907.062 4.496.000.000

7.Chi phí QLKD

(1.665.526.342)

(50.46)

1.742.861.746

111.86

1.635.472.805

3.300.999.147

1.558.137.401

3.804.249.540 1.264.386.581

8.LN từ HĐKD

(4.1)

(79.078.058)

217.783.841

12.74

9.Thu nhập khác

123900

4.545.455

5.631.818.181

0

4.545.455

1.847.924.391 1.927.002.449 1.709.218.608

10.Chi phí khác

5.114.992.821

21817.42

(23.552.487)

0

(23.552.487)

5.636.363.636 0

5.091.440.334 0

11.Lợi nhuận khác

516.825.360

1839.37

28.097.942

0

544.923.302 28.097.942 0

12.∑ LNTT

437.747.302

22.39

245.881.783

14.39

13.Thuế TNDN

109.436.825

22.39

61.470.446

14.39

2.392.847.693 1.955.100.391 1.709.218.608

598.211.923 488.775.098 427.304.652

14.LNST

328.310.477

22.39

184.411.337

14.39

1.794.635.770 1.466.325.293 1.281.913.956

(Nguồn phòng kế toán)

32

Bảng báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2011 – 2013 của công ty cho thấy tổng doanh thu của công ty trên đà tăng trưởng qua các năm. Cụ thể, Năm 2012 tăng

40.405.632.931 đồng và tương ứng mức tăng 161,79% so với năm 2011, từ đây có thể

thấy được sự nỗ lực đặc biệt của nhân viên phòng kinh doanh để đem về các hợp đồng

mới, nhân viên đã tận dụng được những điều kiện thuận lợi của ngành xây dựng góp

phần nâng cao doanh thu. Năm 2013 tăng 14.624.118.795 đồng tăng 22,37% so với năm 2012 và tăng khoảng 220% so với năm 2011. Sau một năm 2012 thành công với

nhiều hợp đồng lớn, đến năm 2013 là năm chứng kiến rất nhiều sự biến động của

ngành xây dựng, nhưng doanh thu năm 2013 vẫn tăng do Công ty đã chuyển sang làm

những dự án nhỏ, với chính sách “lấy ngắn nuôi dài” để đảm bảo công việc ổn định cho nhân viên gắn bó và cống hiến nhiều năm cho Công ty. Do đặc thù hàng hóa của

Công ty là xi măng tươi do đó không phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu, làm mức

Tổng doanh thu bằng với Doanh thu thuần.

Ngành xây dựng, đặc biệt là xây dựng cầu đường đã trở thành một trong những

ngành kinh tế có tăng trưởng mạnh trong thời gian gần đây. Chính phủ quan tâm nhiều

hơn đến phát triển cơ sở hạ tầng. Cùng với sự phục hồi của nền kinh tế, nhận thấy cơ

hội phát triển nhanh chóng của ngành xây dựng trong tương lai, Công ty đã không

ngừng khai thác thị trường đẩy mạnh phát triển, thực hiện nhiều biện pháp tìm kiếm

khách hàng cũng như trực tiếp thực hiện nhiều dự án lớn. Sự chỉ đạo đúng đắn của ban lãnh đạo công ty đã tạo động lực phát triển mạnh mẽ. Về lợi nhuận sau thuế, năm 2011

là 1.281.913.956 đồng đạt 5,13% trên doanh thu. Năm 2012, lợi nhuận sau thuế là

1.466.325.293 đồng đạt 2,24% trên doanh thu giảm 2,89% so với năm 2011. Đến năm

2013, lợi nhuận sau thuế là 1.794.635.770 đồng đạt 2,24% trên doanh thu, cũng tương

đương với năm 2012 và giảm 2,89% so với năm 2011. Sở dĩ tỷ trọng lợi nhuận sau

thuế trên doanh thu của năm 2012 thấp hơn năm 2011 là do tỷ trọng của giá vốn hàng

bán trên doanh thu năm 2012 là 86% cao hơn so với năm 2011 là 4%, cùng với đó là

sự tăng lên của các khoản lãi vay. Năm 2013, tuy tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh

thu là 93,25% tăng 7,25% so với năm 2012 nhưng Công ty lại kiểm soát được chi phí lãi vay, chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh nên tỷ trọng lợi nhuận sau thuế trên doanh thu của Công ty vẫn ở mức tương đương so với năm 2012.

Qua những phân tích trên có thể thấy tốc độ gia tăng lợi nhuận của Công ty vẫn

được duy trì qua từng năm, minh chứng cho khả năng phát triền của Công ty trong tương lai. Tuy nhiên Công ty cần kiểm soát được giá vốn hàng bán và các khoản chi

phí lãi vay để có thể đem lại mức lợi nhuận sau thuế cao hơn trong tương lai.

33

2.1.4.2 Tình hình tài sản – nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2011-2013

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, cho biết tình hình tài sản

hiện có và nguồn vốn hình thành tài sản đó của Công ty. Thông qua bảng cân đối kế

toán ta có thể nhận xét, đánh giá khái quát về tình hình tài chính của Công ty. Trên cơ

sở đó ta có thể phân tích được tình hình khả năng huy động vốn và quá trình sản xuất

kinh doanh của Công ty.

Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán so sánh giữa các năm 2011-2013

Đơn vị tính: triệu VNĐ

Chênh lệch Chênh lệch 2012-

2013-2012 2011 Năm Năm Năm Chỉ tiêu Tuyệt Tuyệt 2013 2012 2011

Tƣơng đối Tƣơng đối đối (%) đối (%)

TSNH (48) (0,19) 12.504 96,90 25.361 25.409 12.904

TSDH 4.916 24,39 3.474 20,83 25.071 20.155 16.681

TỔNG TÀI 4.868 10,68 15.979 54,01 50.432 45.564 29.585 SẢN

Nợ phải trả 5.338 15,2 50,75 40.449 35.111 23.291 11.820

-Nợ ngắn hạn (1.231) (4,56) 25.773 27.004 9.857 17.147 173,95

-Nợ dài hạn 14.675 6.569 81,03 8.106 13.433 (5.327) (39,66)

Vốn CSH (470) (4,5) 4.159 66,08 9.983 10.453 6.294

TỔNG

4.868 10,68 15.979 54,01 50.432 45.564 29.585

NGUỒN VỐN

(Nguồn phòng kế toán)

Qua bảng 2.2 ta có thể thấy:

Về Tổng Tài Sản:

Tổng tài sản của Công ty cuối năm 2013 là 50.432 triệu đồng tăng 4.868 triệu đồng, tương ứng mức tăng 10,68% so với năm 2012, nguyên nhân chủ yếu là do sự gia tăng 4.916 triệu đồng của tài sản dài hạn. Năm 2013 là năm mà Công ty thực hiện đẩy mạnh việc đầu tư vào cơ sở vật chất văn phòng làm việc, máy móc thiết bị phục vụ cho

sản xuất, để có thể đáp ứng được nhiều đơn hàng trong năm 2013. Năm 2012, tổng tài

34

sản của Công ty là 45.564 triệu đồng tăng 15.979 triệu đồng, tương ứng mức tăng 54,01% so với năm 2011, chủ yếu là do sự gia tăng 12.504 triệu đồng của tài sản ngắn

hạn. Năm 2012, Công ty nhận được rất nhiều đơn hàng, có thể nói năm 2012 là năm

kinh doanh thành công nhất của Công ty từ khi thành lập. Để khuyến khích khách

hàng, Công ty thường áp dụng phương thức bán chịu, điều này có thể làm tăng thêm

một số chi phí do việc tăng thêm các khoản nợ phải thu của khách hàng. Đổi lại Công ty cũng tăng thêm được lợi nhuận nhờ tăng thêm số lượng sản phẩm tiêu thụ. Nhưng

Công ty không quản lý tốt được các khoản phải thu, dẫn đến các khoản này chiếm tỷ

trọng rất cao trong tổng tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2012.

Cùng với sự thay đổi về quy mô tổng tài sản, cơ cấu tổng tài sản cũng có sự thay

đổi:

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tài sản của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc giai đoạn 2011-2013

ĐVT:%

Cơ cấu về tài sản của doanh nghiệp trong năm 2011, tài sản dài hạn chiếm

56,39% và tài sản ngắn hạn chiếm 43,61% tổng tài sản, có sự chênh lệch 12,78% giữa

tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn của Công ty. Có thể thấy rằng năm 2011 là giai

đoạn đầu tư của Công ty, Công ty tập trung đầu tư nhiều hơn vào tài sản dài hạn như

máy móc, thiết bị để chuẩn bị cho những dự án lớn trong tương lai Công ty có thể

nhận được.

Cơ cấu về tài sản của doanh nghiệp năm 2012, tài sản ngắn hạn chiếm 55,76% và tài sản dài hạn chiếm 44,24% tổng tài sản, có sự chênh lệch 11,52% giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, điều này lý giải cho năm 2012 là năm kinh doanh thành công

lớn của Công ty vì thế tài sản ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản, doanh nghiệp thường xuyên nhận được những dự án của nhà nước và các doanh

nghiệp lớn nên tỷ trọng tài sản ngắn hạn cao để đảm bảo cho việc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao nhất và không bị gián đoạn.

35

Cơ cấu về tài sản của doanh nghiệp năm 2013 gần như có sự cân bằng giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn vì trải qua giai đoạn đầu tư và phát triển năm 2011 và

2012, đến năm 2013 thì cơ cấu này dần tìm được điểm cân bằng. Khi Công ty tiếp tục

đầu tư vào tài sản dài hạn, nhưng cùng với đó vẫn giữ mức tài sản ngắn hạn phù hợp

để đáp ứng tốt được nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh.

Về Tổng Nguồn Vốn:

Tổng nguồn vốn năm 2013 là 50.432 triệu đồng tăng 4.868 triệu đồng, tương ứng

mức tăng 10,68% so với năm 2012. Năm 2012, tổng nguồn vốn là 45.564 triệu đồng

tăng 15.979 triệu đồng, tương ứng mức tăng 54,01% so với năm 2011. Có thể nhận

thấy tổng nguồn vốn của Công ty các năm 2013 và 2012 đều tăng so với năm trước, là do nợ phải trả tăng. Phân tích sâu hơn về các bộ phận cấu thành nên nguồn vốn của

Công ty:

Quy mô của nợ phải trả năm 2011 là 23.291 triệu đồng, năm 2012 là 35.111

triệu đồng tăng 11.820 triệu đồng, tương ứng mức tăng 50,75% so với năm 2011.

Trong đó khoản nợ ngắn hạn tăng 17.147 triệu đồng tương đương mức tăng 173,95%

so với năm 2011, nhưng khoản nợ dài hạn lại giảm 5.327 triệu đồng tương đương mức

giảm 39,66% so với năm 2011. Năm 2012 là năm kinh doanh thành công của Công ty,

nên có thể nhận thấy Công ty rất cần những nguồn vốn chiếm dụng được của người

bán để tái đầu tư sản xuất. Đó là lý do tại sao trong năm 2012, các khoản nợ ngắn hạn tăng lên rất nhiều so với năm 2011. Đến năm 2013, quy mô nợ phải trả là 40.449 triệu

đồng tăng 5.338 triệu đồng, tương ứng mức tăng 15,2% so với năm 2012. Trong đó nợ

ngắn hạn giảm 1.231 triệu đồng, tương ứng giảm 4,56% so với năm 2012, nợ dài hạn

tăng 6.569 triệu đồng, tương ứng mức tăng 81,03% so với năm 2012. Có thể thấy năm

2013, quy mô của nợ dài hạn tăng rất nhiều so với năm 2012 do Công ty đầu tư nhiều

hơn vào tài sản dài hạn như mua máy móc, thiết bị đầu tư cho sản xuất.

Quy mô vốn chủ sở hữu năm 2011 là 6.294 triệu đồng, năm 2012 là 10.453 triệu

đồng tăng 4.159 triệu đồng, tương ứng mức tăng 66,08% so với năm 2011. Năm 2013 là 9.983 triệu đồng giảm 470 triệu đồng, tương ứng mức giảm 4,5% so với năm 2012. Có sự tăng giảm trong nguồn vốn của chủ sở hữu giữa các năm chủ yếu là do giá trị của lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tăng giảm qua các năm.

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn vốn Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc giai đoạn 2011 - 2013

ĐVT:%

36

Cơ cấu của nợ phải trả luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn của Công

ty, năm 2011 cứ 100 đồng tài sản của Công ty thì có 78,72 đồng nợ và 21,28 đồng vốn chủ sở hữu. Năm 2012, cứ 100 đồng tài sản của Công ty thì có 77,06 đồng nợ và 22,94

đồng vốn chủ sở hữu. Năm 2013, cứ 100 đồng tài sản của Công ty thì có 80,2 đồng nợ

và 19,8 đồng vốn chủ sở hữu. Qua đó ta có thể thấy khả năng tự chủ về tài chính của

Công ty là tương đối thấp, tài sản của Công ty phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nợ, điều này khiến cho Công ty phải rất thận trọng trong quá trình kinh doanh của mình.

2.1.4.3 Chỉ tiêu tài chính đánh giá quá trình hoạt động của Công ty

Bảng 2.3 Chỉ tiêu các khả năng sinh lợi của Công ty

Đơn vị tính: %

Năm Năm Năm Chênh lệch Chênh lệch Các chỉ tiêu đánh giá ĐVT 2011 2012 2013 2013-2012 2012-2011

Tỷ suất lợi nhuận trên % 4,33 3,22 3,56 0,34 (1,11) tổng tài sản (ROA)

Tỷ suất lợi nhuận trên % 5,13 2,24 2,24 0 (2,91) doanh thu (ROS)

Tỷ suất lợi nhuận trên % 20,36 14,03 17,98 3,95 (6,33) vốn chủ sở hữu (ROE)

Hiệu suất sử dụng tổng 143,4 158,6 Lần 84,41 15,15 59,08 tài sản 9 4

Qua bảng 2.3 ta thấy:

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản: Năm 2011 là 4,33%. Năm 2012 là 3,22% giảm 1,11% so với năm 2011. Năm 2013 là 3,56% tăng 0,34% so với năm 2012. Tỷ suất này cho tao biêt trong năm 2013, 100 đồng tài sản tạo ra 3,56 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012, 100 đồng tài sản tạo ra 3,22 đồng lợi

nhuận sau thuế. Năm 2011, 100 đồng tài sản tạo ra 4,33 đồng lợi nhuận sau thuế. Qua số liệu phân tích ở trên ta thấy tổng tài sản năm 2013 tăng lên so với

37

năm 2012, tuy nhiên lợi nhuận sau thuế của năm 2013 vẫn cao hơn năm 2012 là 0,34 đồng. Nguyên nhân dẫn tới việc gia tăng này là do trong năm 2013, tốc

độ gia tăng của tổng tài sản là 10,68% nhưng tốc độ gia tăng của lợi nhuận sau

thế là 22,39%. Cho thấy Công ty sử dụng tài sản để đem lại lợi nhuận có hiệu

quả hơn trong năm 2013.

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: Năm 2011 là 5,13%. Năm 2012 và 2013 là 2,24% giảm 2,91% so với năm 2011. Năm 2013, 100 đồng doanh thu chỉ tạo

được 2,24 đồng lợi nhuận bằng với năm 2012. Năm 2011, 100 đồng doanh thu

tạo được 5,13 đồng lợi nhuận. Do mức biến động của giá vốn hàng bán đã làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty trong năm 2012. Có thể nhận thấy rằng

tuy Công ty đang có được mức doanh thu tăng qua từng năm, nhưng khả năng

quản lý giá vốn hàng bán chưa tốt nên làm giảm khả năng sinh lời của Công

ty. Vì vậy, Công ty cần có phải có những chính sách quản lý chi phí tốt hơn

đặc biệt là các chi phí kinh doanh để từ đó làm giảm giá vốn hàng bán.

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu: Năm 2011 là 20,36%. Năm 2012 là 14,03% giảm 6,33% so với năm 2011. Năm 2013 là 17,98% tăng 3,95% so với

năm 2012. Năm 2013, 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo được 17,98 đồng lợi

nhuận sau thuế và năm 2012 thì 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo được 14,03 đồng

lợi nhuận sau thuế. Trong năm 2013, tuy vốn chủ sở hữu giảm nhưng lợi

nhuận sau thuế vẫn tăng đó là nguyên nhân khiến tỷ suất này tăng so với năm

2012.

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Năm 2013, 100 đồng tài sản tạo ra được 158,64 đồng doanh thu. Năm 2012, 100 đồng tài sản tạo ra được 143,49 đồng

doanh thu. Năm 2011, 100 đồng tài sản tạo ra được 84,41 đồng doanh thu. Sở dĩ có sự gia tăng của năm 2013 do tốc độ tăng của tổng tài sản là 10,68% trong

khi đó tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế là 22,39%.

2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty TNHH Sản xuất

và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc

2.2.1 Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn

Việc huy động vốn đầy đủ và kịp thời cho sản xuất kinh doanh là rất khó, nhưng

làm thế nào để quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn có hiệu quả là việc làm còn khó hơn. Một trong những nhân tố có ảnh hưởng quyết định tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, đó là việc phân bổ tài sản ngắn hạn sao cho hợp lý. Mỗi một khoản mục sẽ chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản ngắn hạn của Công ty. Do đó các doanh nghiệp khác nhau sẽ có kết cấu tài sản ngắn hạn khác nhau. Là một Công ty hoạt động

trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng với lượng tài sản ngắn hạn chiếm tỉ trọng lớn 38

trong tổng vốn thì việc phân bổ tài sản ngắn hạn của Công ty sao cho hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng, có tính quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.

Ta có thể thấy được quy mô tài sản ngắn hạn của Công ty qua bảng bên dưới:

Bảng 2.4 Quy mô tài sản ngắn hạn của Công ty

Đvt: triệu VNĐ

Chênh lệch Chênh lệch

2013 - 2012 2012 - 2011 Chỉ Năm Năm Năm

tiêu 2013 2012 2011 Tƣơng Tuyệt đối Tƣơng Tuyệt đối

đối (%) đối (%)

Tiền 2.508 2.478 1.492 30 1,21 986 66,08

PTKH 18.156 19.802 8.710 (1.644) (8,31) 11.092 127,33

HTK 4.695 3.083 2.151 52,29 932 43,32 1.612

0 45 505 (100) (460) (91,09) (45) TSNH khác

Tổng 25.361 25.409 12.904 (0,19) 12.504 96,90 (48) TSNH

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán từ năm 2011 - 2013 của công ty)

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu tái sản ngắn hạn của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc giai đoạn 2011-2013

Quy mô của tài sản ngắn hạn năm 2011 là 12.904 triệu đồng, năm 2012 là 25.409 triệu đồng tăng 12.504 triệu đồng, tương ứng mức tăng 96,9% so với năm

2011, có sự gia tăng lớn như vậy chủ yếu là do khoản phải thu năm 2012 đã tăng 11.092 triệu đồng so với năm 2011, chiếm 77,93% tổng tài sản ngắn hạn, cùng với đó

39

là sự tăng nhẹ của khoản mục tiền là 986 triệu đồng, chiếm 9,75 tổng tài sản ngắn hạn và hàng tồn kho là 932 triệu đồng, chiếm 12,14% tổng tài sản ngắn hạn. Có thể thấy

rằng trong năm 2012, do Công ty đã mạnh dạn đấu thầu làm nhà thầu phụ cho các

công trình của nhà nước, nhưng do quy trình thực hiện và quyết toán yêu cầu có nhiều

thời gian nên khoản phải thu khách hàng tăng mạnh.

Đến năm 2013, quy mô tài sản ngắn hạn là 25.361 triệu đồng giảm 48 triệu đồng, tương ứng mức giảm 0,19% so với năm 2012, có thể thấy quy mô về tài sản

ngắn hạn năm 2013 không có nhiều biến động so với năm 2012. Do quy mô của khoản

mục phải thu khách hàng năm 2013 giảm 1.644 triệu đồng so với năm 2012, chiếm tỷ

trọng 71,59% trong tổng tài sản ngắn hạn, trong khi đó khoản mục hàng tồn kho vẫn tiếp tục tăng 1.612 triệu đồng, tăng tỷ trọng của hàng tồn kho trong tổng tài sản ngắn

hạn lên mức 18,52%. Nguyên nhân do năm 2012, công ty đạt được mức lợi nhuận cao

nên đến năm 2013 ban lãnh đạo quyết định đầu tư vào trang thiết bị sản xuất. Vì vậy,

trong năm 2013, công ty không những đáp ứng được nhu cầu của khách hàng mà còn

tang cường dự trữ hàng tồn kho đề phòng biến động giá thị trường. Bên cạnh đó, ta có

thể nhận thấy công ty đã có phương pháp quản lý các khoản phải thu tốt hơn giúp quay

vòng vốn nhanh hơn, hỗ trợ nhiều cho việc sản xuất và kinh doanh của công ty.

Như vây, sang đến năm 2013 quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn của Công ty đã

có những chuyển nhất định, khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền hầu như không có sự thay đổi cả về quy mô và cơ cấu. Khoản mục phải thu khách hàng đã

giảm cả về quy mô và cơ cấu, đây chính là do Công ty đang từng bước có những biện

pháp để khắc phục. Riêng khoản mục hàng tồn kho thì tăng cả về quy mô lẫn cơ cấu,

điều này có thể thấy Công ty có quá ít đối tác cung ứng nguyên vật liệu nên thường bị

ép giá, do đó mà phải dự trữ lượng hàng tồn kho lớn. Tuy nhiên, việc hai khoản mục

hàng tồn kho và phải thu khách hàng vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản

ngắn hạn đã phần nào phản ánh việc một lượng tài sản ngắn hạn khá lớn của Công ty

đang bị chiếm dụng. Để xem xét tính hiệu quả trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn của

Công ty, ta đi phân tích sự biến động của từng khoản mục cụ thể.

2.2.2 Nội dung quản lý tài sản ngắn hạn

2.2.2.1 Chính sách quản lý ngân quỹ

Vốn bằng tiền mặt có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, nó đáp ứng kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu của Công ty như: tạm ứng cho cán bộ công nhân viên, mua sắm hàng hóa, thanh toán các khoản chi

phí phát sinh hàng ngày. Đồng thời nó cũng giúp cho doanh nghiệp tăng được khả năng thanh toán nhanh, đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên,

việc tính toán, xác định xem khoản vốn bằng tiền mặt cần một lượng bao nhiêu là điều

40

không đơn giản. Một lượng vốn bằng tiền mặt hợp lý là phải đáp ứng được vừa đủ các nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp, đồng thời cũng phải có sự tăng giảm sao cho phù

hợp với từng khoản thời gian nhất định.

Bảng 2.5 Quản lý ngân quỹ của Công ty

Đvt: triệu VNĐ

Chênh lệch Chênh lệch

2013 - 2012 2012 - 2011 Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2013 2012 2011 Tƣơng Tuyệt đối Tƣơng Tuyệt đối

đối (%) đối (%)

Tiền mặt 396 402 232 (1,47) 170 (5) 73,23

TGNH 2.112 2.076 1.260 1,73 816 35 64,76

Tổng 2.508 2.478 1.492 1,21 986 30 66,08 Tiền

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán từ năm 2011 - 2013 của công ty)

Biểu đồ 2.4 Cơ cấu quản lý ngân quỹ của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc giai đoạn 2011-2013

Tiền mặt: Năm 2011 là 232 triệu đồng, năm 2012 là 402 triệu đồng tăng 170

triệu đồng tương ứng mức tăng 73,23% so với năm 2011. Năm 2013 là 396 triệu đồng

giảm 5 triệu đồng tương ứng mức giảm 1,47% so với năm 2012. Lượng tiền mặt của

Công ty qua các năm đều chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn bằng tiền của Công

ty: Năm 2013 chiếm 15,8%, năm 2012 chiếm 16,23%, năm 2011 chiếm 15,56%. Hiện

nay Công ty chưa áp dụng mô hình quản lý ngân quỹ cụ thể nào, chính sách quản lý

ngân quỹ của Công ty trong những năm vừa qua chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế

41

nên còn nhiều hạn chế. Việc quản lý vốn bằng tiền của Công ty rất phức tạp, phải theo

dõi thường xuyên từ đó duy trì một lượng tiền phù hợp và đặc biệt là có một cơ cấu

vốn bằng tiền hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán cho Công ty, như vậy mới đảm

bảo an toàn đồng thời đảm bảo khả năng sinh lợi cho Công ty.

Tiền gửi ngân hàng: Năm 2011 là 1.260 triệu đồng, năm 2012 là 2.076 triệu

đồng tăng 816 triệu đồng tương ứng mức tăng 64,76% so với năm 2011. Năm 2013 là

2.112 triệu đồng tăng 35 triệu đồng tương ứng mức tăng 1,73% so với năm 2012. Mức

dự trữ tiền gửi ngân hàng của Công ty chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn

bằng tiền của Công ty: như năm 2013 chiếm 84,2%, năm 2012 chiếm 83,77%, năm

2011 chiếm 84,44%. Điều này chứng tỏ Công ty bắt kịp xu thế và công nghệ hiện đại

ngày này, Công ty chủ yếu thanh toán việc mua nguyên vật liệu đầu vào và thu tiền

bán sản phẩm của mình cho khách hàng bằng việc chuyển khoản qua tài khoản thanh

toán của ngân hàng. Hình thức thanh toán này không những đảm bảo an toàn, chính

xác, tránh những sai sót không cần thiết trong việc hạch toán của bộ phận kế toán, vì

dựa trên những sổ phụ ngân hàng cung cấp sau mỗi lần có phát sinh trong tài khoản, sẽ

giúp tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí quản lý cho Công ty, giúp Công ty có một

khoản tiền lãi từ tài khoản không kỳ hạn định kỳ hàng tháng. Hình thức thanh toán này

của Công ty còn góp phần giúp cho xã hội giảm được một khoản chi phí không nhỏ so

với thanh toán bằng tiền mặt.

2.2.2.2 Các khoản phải thu

Đối với công việc sản xuất kinh doanh của Công ty, việc chiếm dụng vốn và bị

chiếm dụng vốn giữa các công ty là điều không thể tránh khỏi, luôn phát sinh trong các

quan hệ thanh toán. Điều làm cho các nhà quản trị lo ngại chính là các khoản vay nợ

khó đòi, các khoản vay nợ không có khả năng thu hồi, chúng sẽ làm ảnh hưởng đến kết

quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Vì vậy để đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn lưu động, các công ty cũng phải quản lý tốt các khoản phải thu, mà đặc biệt với Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu An Phúc thì đó là những khoản phải thu khách hàng.

Ngày nay, tín dụng thương mại là một hình thức cho phép trả chậm phổ biến mà

người bán dành cho người mua. Việc cho phép trả chậm như vậy tạo điều kiện cho các

doanh nghiệp giữ chân được khách hàng, gây thiện cảm để thúc đẩy quá trình tiêu thụ

sản phẩm được dễ dàng hơn, việc làm ăn thanh toán cũng thuận lợi hơn. Khi Công ty thực hiện bán chịu cho khách hàng thì nảy sinh một khoảng cách thời gian giữa thời

42

điểm giao hàng và thời điểm thanh toán cho sản phẩm. Trong khi quá trình sản xuất và lưu thông lại là hai quá trình diễn ra liên tục, vì vậy, các khoản phải thu phát sinh

thường xuyên. Nếu các khoản phải thu tồn tại ở mức độ hợp lý, doanh nghiệp có thể

đẩy nhanh quá trình tiêu thụ, tích lũy thêm vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh, có cơ

hội tăng doanh thu lợi nhuận và đảm bảo an toàn về mặt ổn định tài chính. Ngược lại

các khoản phải thu nếu phát sinh quá lớn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài chính và nguồn vốn kinh doanh của công ty đến hạn thanh toán những khoản phải trả,

nhất là khi khách hàng mất khả năng thanh toán sẽ làm công ty tăng chi phí sử dụng

vốn cho những đồng vốn huy động thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh

doanh hàng ngày của mình.

Bảng 2.6 Quy mô các khoản phải thu

Đvt: triệu VNĐ

Chênh lệch 2013 - 2012 Chênh lệch 2012 - 2011 Chỉ tiêu 2013 2012 2011

Tƣơng đối (1.644) Tuyệt đối (%) (8,31) Tƣơng đối 11.092 Tuyệt đối (%) 127,33 PTKH 18.156 19.802 8.710

Các KPT khác 0 0 45 0 0 (45) (100)

18.156 19.802 8.755 (1.644) (8,31) 11.137 127,33 Các khoản phải thu ngắn hạn

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán từ năm 2011 - 2013 của công ty) Phải thu khách hàng: năm 2012 tăng 11.092 triệu đồng tương ứng mức tăng

127,33% so với năm 2011, chiếm tỷ trọng 100% trong khoản phải thu ngắn hạn, do

Công ty trong năm 2012 thực hiện rất nhiều công trình lớn của nhà nước nên đến cuối

công trình, khi quyết toán thì nhà nước chưa duyệt hoặc có thể duyệt vào cuối năm nên

báo cáo chuyển sang năm sau. Ngoài ra còn do việc khi hoàn thành xong công trình

cho khách hàng, thì khách hàng lại có những vấn đề về tài chính nên xin trả chậm.

Điều này chứng tỏ trong năm 2012 Công ty đã thực hiện không tốt việc thu nợ từ

khách hàng, khiến nợ xấu của khách hàng tăng cao. Đến năm 2013 giảm 1.644 triệu

đồng tương ứng giảm 8,31% so với năm 2012, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng 100% trong

khoản phải thu ngắn hạn. Do các dự án làm cho nhà nước đã được giải ngân, nhưng

trong năm 2013 thì vẫn có những khách hàng mới nợ nên tuy khoản phải thu khách

hàng có giảm nhưng vẫn còn hạn chế. Điều này cho thấy Công ty đang từng bước điều

43

chỉnh lại chính sách thu hồi nợ từ phía khách hàng, tuy nhiên mức giảm này vẫn còn

chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn.

Bảng 2.7 Những khách hàng có tuổi nợ cao

Tên khách hàng Số tiền Tuổi nợ

Cty CP xây dựng Long Việt 3,294,423,745 10 tháng

Cty CP LIDECO 1 2,662,266,000 9 tháng

Cty CP xây dựng và đầu tư Hạ tầng 3,419,176,464 11 tháng

CN Cty CP ĐT và xây lắp dầu khí Sài Gòn 2,172,250,499 10 tháng

Cty TNHH MTV Duyên Hải 890,340,907 11 tháng

Tổng Cộng 12,438,457,615

(Nguồn: Phòng Tài Chính – Kế toán)

Dựa vào bảng 3.3, ta có thể thấy rằng nhiều Công ty có tuổi nợ cao trải dài từ 9

tháng đến 11 tháng, khoản mục nợ khó đòi là 12,438,457,615 đồng chiếm 68,48% tổng

khoản phải thu khách hàng. Do đó, Công ty chưa quản lý tốt các khoản phải thu, khiến

khoản mục này tồn đọng số vốn lớn.

Các khoản phải thu khác: chỉ phát sinh trong năm 2011 với số tiền là

45.000.000 đồng, đây là số tiền Công ty tạm ứng trước cho nhân viên để đi khảo sát

khu vực thi công. Nhưng các năm 2012 và 2013 thì không phát sinh các khoản phải

thu khác, cho thấy doanh nghiệp đã quản lý tốt các khoản phải thu khác, sử dụng tiền

đúng mục đích và tiền không bị thất thoát.

Bảng 2.8 So sánh mức tín dụng cung cấp và đƣợc cung cấp của Công ty An Phúc

Đơn vị tính: nghìn đồng

Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011

19.802.061

8.710.697

19.802.061

8.710.697

Vốn bị chiếm dụng 18.156.388

Phải thu khách hàng 18.156.388

44

Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011

Vốn đi chiếm dụng 17.930.703 17.941.521 6.342.770

Phải trả người bán 17.930.703 17.941.521 6.342.770

Chênh lệch (225.685) (1.860.540) (2.367.927)

Hệ số bị chiếm dụng vốn 1,01 lần 1,1 lần 1,37 lần

Qua bảng trên ta thấy, năm 2011 Công ty bị chiếm dụng vốn 2.367.927 nghìn

đồng với hệ số bị chiếm dụng là 1.37 lần. Cho thấy trong năm 2011, Công ty đã bị chiếm dụng nguồn vốn lớn để tái đầu tư sản xuất kinh doanh, do Công ty đang trong giai đoạn đầu tư nên nới lỏng những chính sách tín dụng để tạo được quan hệ tốt với

khách hàng.

Năm 2012, số vốn Công ty bị chiếm dụng là 1.860.540 nghìn đồng, có thể thấy

rằng trong năm 2012, Công ty vẫn duy trì chính sách tín dụng nới lỏng cho khách

hàng, cũng như trong năm Công ty thực hiện được nhiều dự án lớn gối đầu nhau nên

các khoản phải thu chưa được thanh toán, giải ngân. Nhận thấy điều đó, Công ty cũng

thực hiện chính sách chiếm dụng vốn của người bán để có khả năng quanh vòng vốn.

Tuy nhiên, số vốn bị chiếm dụng năm 2012 vẫn ở mức cao.

Năm 2013, Công ty chỉ bị chiếm dụng vốn 225.685 nghìn đồng với hệ số chiếm

dụng vốn là 1.01. Công ty đã kiểm soát tốt được nguồn vốn đi chiếm dụng và nguồn

vốn bị chiếm dụng, để khoản chênh lệch không quá lớn và gần như là bằng nhau. Để

làm được điều đó, Công ty đã quản lý tốt hơn khoản phải thu khách hàng, làm khoản

phải thu khách hàng giảm so với năm 2012.

Việc đến năm 2013, Công ty đã cân bằng được số vốn đi chiếm dụng và số vốn

bị chiếm dụng cho thấy đây là điều Công ty nên duy trì và phát huy. Nhưng Công ty

cần phải giảm cả 2 khoản mục mà vẫn duy trì được chỉ số cân bằng như trên. Vì nếu

Công ty duy trì sự cân bằng này ở mức cao, thì một mặt Công ty sẽ bị những đối tác

cung ứng đánh giá không tốt về khả năng thanh toán của Công ty, mặt khác nếu để cho khoản phải thu ở mức cao Công ty sẽ mất rất nhiều chi phí sử dụng vốn, cũng như chi phí cho nhân viên thu hồi nợ. Điều này sẽ làm tăng những chi phí không đáng có cho

Công ty.

2.2.2.3 Hàng tồn kho

Để hướng tới mục đích đảm bảo nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty được tiến hành liên tục, không bị gián đoạn và việc phân phối sản phẩm tới khách

hàng không bị ngưng trệ khi có rủi ro xảy ra, các công ty đều có kế hoạch dự trữ một lượng hàng tồn kho nhất định. Việc lưu trữ một lượng hàng tồn kho này sẽ làm phát

45

sinh các khoản phí đi kèm, nguồn vốn tồn kho càng lớn thì chi phí cơ hội của đồng vốn càng cao, vốn bị lãng phí không thể sử dụng cho mục đích khác.

Bảng 2.9 Hàng tồn kho của Công ty

Đơn vị tính: triệu VNĐ

Chênh lệch 2013 - 2012 Chênh lệch 2012 - 2011

Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Tƣơng đối Tƣơng đối Tuyệt đối (%) Tuyệt đối (%)

NVL 4.695 3.083 2.151 1.612 52,29 932 43,32

HTK 4.695 3.083 2.151 1.612 52,29 932 43,32

Hàng tồn kho của Công ty chỉ có nguyên vật liệu, do là Công ty chuyên sản xuất

xi măng tươi do đó mà hàng tồn kho của Công ty chỉ có nguyên vật liệu mà không có

sản phẩm kinh doanh dở dang, nên nguyên vật liệu luôn chiếm tỷ trọng 100% trong

tổng hàng tồn kho của Công ty trong 3 năm. Năm 2013, nguyên vật liệu tăng 1.612 triệu đồng so với năm 2012 tương ứng mức tăng 52,29%. Năm 2012, nguyên vật liệu

tăng 932 triệu đồng so với năm 2011 tương ứng mức tăng 43,32%. Sau năm 2011 đầy

biến động của thị trường, đến năm 2012, Công ty đã tăng lượng dự trữ hàng tồn kho để

tránh những thiệt hại của việc biến động giá dẫn đến việc lượng hàng tồn kho trong

năm 2012 tăng 43,32% so với năm 2011. Trong năm 2013, Công ty nhận được nhiều

hợp đồng thi công vào đầu năm 2014, lo ngại về sự tiếp diễn của biến động giá năm

2014 nên đến những tháng cuối năm 2013, Công ty phải tăng cường dự trữ hàng tồn

kho để có thể đủ lượng nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm cho các công trình đầu năm

2014, đồng thời đảm bảo có đủ hàng hóa để cung ứng cho nhu cầu tức thời của thị

trường. Việc Công ty đầu cơ dự trữ hàng tồn kho vì lo sợ biến động về giá sẽ làm tăng

các chi phí lưu kho, chi phí quản lý hàng tồn kho. Các loại chi phí này có mối quan hệ

qua lại với nhau, nếu lượng đặt hàng nhiều thì chi phí đặt hàng sẽ thấp nhưng chi phí lưu kho lại tăng vì hàng hóa trong kho nhiều. Mặt khác, đặt hàng nhiều khả năng bị mất doanh thu là thấp, chi phí phát sinh khi thiếu hàng gần như không có. Mục tiêu

của quản lý kinh tế dự trữ là làm tối thiểu chi phí toàn bộ của dự trữ. Công ty muốn kiểm soát được hàng tồn kho thì phải xác định được khi nào thì phải đặt hàng và xác

định số lượng mỗi lần đặt hàng. Nếu chỉ đặt hàng đủ nhu cầu và đúng lúc sẽ làm gảm tối đa chi phí tồn kho.

2.2.3 Phân tích các chỉ tiêu về tài chính

2.2.3.1 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Bảng 2.10 Các chỉ tiêu thanh toán

46

ĐVT: lần

Chỉ tiêu

Hệ số thanh toán hiện hành Hệ số thanh toán nhanh Hệ số thanh toán tức thời Năm 2011 1,31 1,09 0,15 Năm 2012 0,94 0,83 0,09 Năm 2013 0,98 0,8 0,1 Chênh lệch 2013-2012 0,04 (0,03) 0,01 Chênh lệch 2012-2011 (0,37) (0,26) (0,06)

Qua bảng phân tích trên cho thấy:

Hệ số thanh toán hiện hành: cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo

bằng bao nhiêu đồng tài sàn ngắn hạn. Khả năng thanh toán hiện hành của Công ty

năm 2013 là 0,98 lần tăng 0,04 lần so với năm 2012, năm 2012 khả năng thanh toán

hiện hành là 0,94 lần giảm 0,37 lần so với năm 2011. Năm 2012, cả tài sản ngắn hạn

và nợ ngắn hạn đều tăng nhưng tốc độ tăng của nợ ngắn hạn là 173,95%, còn tốc độ

tăng của tài sản ngắn hạn chỉ là 96,9% do đó mà hệ số này năm 2012 giảm so với

2011. Năm 2013, cả tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn đều giảm nhưng tốc độ giảm của

nợ ngắn hạn là 4,56% cao hơn mức giảm của tài sản ngắn hạn là 0,19% làm cho hệ số

này tăng trở lại. Hệ số này trong năm 2012 và 2013 đều nhỏ hơn 1. Tuy nhiên theo những báo cáo về hệ số thanh toán hiện hành của ngành năm 2013 chỉ ở mức 0,65 lần.

Điều này có thể thấy tuy khả năng thanh toán hiện hành của Công ty không ở mức cao

nhưng so với mức trung bình ngành thì còn vượt rất xa. Đây là dấu hiệu cho thấy Công

ty vẫn đang kiểm soát được khả năng thanh toán của mình.

Hệ số thanh toán nhanh: chỉ tiêu này cho biết khi các khoản nợ ngắn hạn đến

hạn, Công ty có thể sử dụng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn để chi trả mà không cần

bán hàng tồn kho. Hệ số này thể hiện tốc độ chuyển đổi các tài sản để thanh toán các

khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán nhanh của năm 2013 là 0,8 giảm 0,03 lần so với

năm 2012. Năm 2012 là 0,83 giảm 0,26 lần so với năm 2011. Trong năm 2012 và năm

2013 tuy tiền và các khoản phải thu có tăng nhưng tốc độ tăng không bằng các khoản

nợ ngắn hạn, do đó hệ số này qua các năm ngày càng giảm. Hệ số này vẫn nhỏ hơn 1

khiến cho Công ty sẽ gặp nhiều khó khăn khi gặp các khoản nợ ngắn hạn, phải dùng đến hàng tồn kho để có thể chi trả được các khoản nợ. Tuy nhiên nếu so sánh với hệ số thanh toán nhanh của ngành là 0,38 thì hệ số này vẫn rất khả quan, cách rất xa so với mức trung bình ngành.

Hệ số thanh toán tức thời: Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng nợ của Công ty được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tiền mặt và các khoản tương đương tiền. Năm 2013 là 0,1 tăng 0,01 lần so với năm 2012. Năm 2012 là 0,09 giảm 0,06 lần so với năm 2011. Điều này cho thấy khả năng đáp ứng việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, đến hạn của Công ty năm 2013 chỉ có thay đổi rất nhỏ so với năm trước. Chỉ tiêu này nhỏ hơn

47

1 cho thấy khả năng thanh toán tức thời của Công ty còn tồn tại rất nhiều mặt hạn chế, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến Công ty. Chính vì vậy, Công ty nên có những chính

sách, biện pháp dự trữ tiền mặt để có khả năng thanh toán tức thời tốt hơn.

Tóm lại, qua quá trình phân tích 3 hệ số: khả năng thanh toán hiện hành, khả

năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời, ta thấy 3 chỉ tiêu này đều thấp

hơn 1. Nguyên nhân chủ yếu ở đây là chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng hưởng bởi sự tăng lên rất lớn các khoản phải thu. Nhưng hoạt

động trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng, vốn còn nhiều biến động như ngày nay,

thì việc Công ty giữ được những hệ số thanh toán ở mức như trên là điều rất đáng duy

trì và phát huy trong những năm tới.

2.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành Tài sản

cố định

Bảng 2.11 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Chỉ tiêu

Lần

3,15

2,57

1,94

0,58

0,64

%

7

6

1

1

(5)

Ngày 114,28

185,56

(25,8)

Đơn vị Đồng Năm 2013 0,32 Năm 2012 0,39 Năm 2011 0,52 Chênh lệch 2013-2012 (0,07) Chênh lệch 2012-2011 (0,13)

140,08 (45,48) Đối với từng Doanh nghiệp hay Công ty thì việc xác định hiệu suất sử dụng

Hệ số đảm nhiệm TSNH Hiệu suất sử dụng TSNH Tỷ suất sinh lời TSNH Kỳ luân chuyển TSNH

TSNH một cách chính xác là điều rất quan trọng, thông qua chỉ tiêu này ta có thể đánh

giá được những chỉ tiêu khác của Công ty như hiệu quả trong kinh doanh, tính toán

nhu cầu vốn ngắn hạn cần thiết của một Công ty.

Với kết quả tính toán ở trên có thể thấy hiệu suất sử dụng TSNH của Công ty

tăng đều qua các năm 2011-2013, cụ thể:

Hiệu suất sử dụng TSNH: chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản ngắn hạn bỏ ra

doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng

doanh thu thuần. Như bảng trên, một đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thu được 1,94 đồng doanh thu thuần ở năm 2011. Đến năm 2012, một đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thu được 2,57 đồng doanh thu thuần tăng 0,64 lần so với năm 2011. Sang đến năm

2013, một đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thu được 3,15 đồng doanh thu thuần tăng 0,58 lần so với năm 2012. Có thể thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty tăng qua từng năm, Công ty đã không để tình trạng vốn nhàn rỗi, chi phí phát sinh ít và đã quản lý thực sự hiệu quả nguồn phát sinh. Chính vì thế Công ty cần tiếp tục duy trì và phát huy vào những năm tiếp theo.

48

Tỷ suất sinh lời tài sản ngắn hạn: hay còn gọi là mức doanh lợi vốn lưu động phản ánh một đồng vốn ngắn hạn có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng cho

Công ty. Năm 2013, một đồng vốn ngắn hạn bỏ ra thu được 0,07 đồng lợi nhuận,

nhưng năm 2012 thì một đồng vốn ngắn hạn bỏ ra thu được 0,06 đồng lợi nhuận, năm

2011 một đồng vốn ngắn hạn bỏ ra thu được 0,1 đồng lợi nhuận. Có thể thấy rằng lợi

nhuận ròng của Công ty tăng quá ít so với mức tăng của tài sản ngắn hạn.

Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn: cho biết số tài sản ngắn hạn cần để tạo ra

được một đồng doanh thu. Năm 2011, để tạo ra một đồng doanh thu cần 0,52 đồng tài

sản ngắn hạn. Năm 2012, cần 0,39 đồng tài sản ngắn hạn để tạo ra một đồng doanh

thu, giảm 0,13 đồng tài sản ngắn hạn so với năm 2011. Đến năm 2013, một đồng doanh thu cần 0,32 đồng tài sản ngắn hạn, giảm 0,07 đồng so với năm 2012. Qua đó có

thể thấy Công ty đang sử dụng tối ưu nguồn tài sản ngắn hạn để đem lại doanh thu.

Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn: chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để thực

hiện được một vòng quay của tài sản ngắn hạn. Năm 2013, cần 114,28 ngày để thực

hiện được một vòng quay của tài sản ngắn hạn, ít hơn 25,8 ngày so với năm 2012.

Năm 2012, cần 140,08 ngày để thực hiện được một vòng quay của tài sản ngắn hạn, ít

hơn 45,48 ngày so với năm 2011.

Để phân tích rõ hơn, ta sẽ xem mức tiết kiệm vốn đầu tư cho tài sản ngắn hạn

trong năm 2013 và 2012:

80.004.348.634 x (114,28 -140,08) = -5.733.644.985,4 Vtk = 360

Có thể thấy trong năm 2013, mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn là 5.733.644.985,5 tức là Công ty không cần bỏ ra số tài sản ngắn hạn là 5.733.644.985,5 mà vẫn đảm bảo

được nhiệm vụ sản xuất kinh doanh như năm 2012, nói cách khác với số vốn như năm

2012 nhưng Công ty vẫn mở rộng được quy mô sản xuất kinh doanh.

Qua phân tích số liệu trên ta có thể thấy Công ty đã thực sự sử dụng có hiệu quả nguồn tài sản ngắn hạn của mình. Trong tương lai Công ty nên tiếp tục duy trì điểm mạnh này để nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh.

2.2.3.3 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản lý tài sản ngắn hạn

Bảng 2.12 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản lí tài sản ngắn hạn của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc

Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011

Hệ số thu nợ Vòng 4,4 3,3 2,85

Thời gian thu nợ TB Ngày 81,81 109,09 126,32

49

Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011

Hệ số lưu kho Vòng 15,88 18,28 9,51

TG luân chuyển kho TB Ngày 22,67 19,69 37,85

Hệ số trả nợ Vòng 4,1 2,98 2,88

Thời gian trả nợ Ngày 87,8 120,8 125

Chu kỳ kinh doanh Ngày 104,48 128,78 164,17

Thời gian luân chuyển tiền Ngày 16,68 7,98 39,17

Biểu đồ 2.5 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản lí vốn lƣu động của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc

Hệ số thu nợ: Năm 2013 là 2,85 vòng, năm 2012 là 3,3 vòng, năm 2013 là 4,4

vòng. Điều này chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu qua các năm ngày càng

cao. Nguyên nhân do, phải thu khách hàng năm 2012 tăng với tốc độ rất lớn 127,33%

nhưng tốc độ tăng của doanh thu thuần lại là 161,79% làm hệ số thu nợ năm 2012 cao

hơn 2011. Phải thu khách hàng có tốc độ giảm 8,31% trong năm 2013 và tốc độ tăng

của doanh thu thuần là 22,37%, lý giải cho việc hệ số thu nợ năm 2013 tiếp tục tăng. So sánh với hệ số thu nợ của ngành là 8.02 vòng, có thể thấy việc Công ty đã để chính

sách tín dụng quá nới lỏng đối với khách hàng, làm cho nguồn vốn bị khách hàng chiếm dụng quá lớn. Qua phân tích trên Công ty cần thắt chắt chính sách tín dụng để

có nguồn vốn thu về tái đầu tư, làm giảm các nguy cơ về nợ xấu, nợ quá hạn.

Thời gian thu hồi nợ: Năm 2013 là 81,81 ngày, năm 2012 là 109,09 ngày, năm 2011 là 126,32 ngày. Do hệ số thu nợ tăng nên thời gian thu hồi nợ của Công ty ngày càng giảm. Như năm 2013 số ngày trung bình là 81,81 ngày giảm 27,28 ngày so với năm 2012, nhận thức được khoản phải thu của Công ty đang chiếm tỷ trọng rất lớn

50

trong tổng tài sản ngắn hạn, nên Công ty dần có những biện pháp để thu hồi nợ. Tuy vẫn chưa được thực sự tốt nhưng phần nào đã cải thiện được.

Hệ số lưu kho: Năm 2013 là 15,88 vòng, năm 2012 là 18,28 vòng, năm 2011 là

9,51 vòng lần. Nguyên nhân là năm 2012, tốc độ tăng của giá vốn hàng bán là 175,3%

tăng nhanh hơn tốc độ tăng của hàng tồn kho là 43,32%, chính vì thế đã làm cho hệ số

lưu kho của năm 2012 tăng cao. Năm 2013, tốc độ tăng của hàng tồn kho là 52,29% gia tăng nhanh hơn tốc độ gia tăng của giá vốn hàng bán là 32,34%, dẫn đến hệ số lưu

kho năm 2013 giảm so với năm 2012. Nếu so sánh với hệ số lưu kho trung bình ngành

là 4,83 có thể thấy Công ty luôn vận động được hàng trong kho làm cho số vòng quay

tăng nhanh. Tuy nhiên, mức dự trữ hàng tồn kho chưa phải là mức tối ưu của Công ty, do nhận thấy Công ty chịu rất nhiều sức ép của giá vốn hàng bán nên mới phải tăng

lượng hàng tồn kho. Do đó sang năm 2014, Công ty nên có những kế hoạch cụ thể để

tìm những đối tác cung cấp nguyên vật liệu mới, gia tăng số lượng sản phẩm bán ra và

giảm lượng hàng tồn kho để khắc phục tình trạng trên.

Thời gian lưu kho: Năm 2013 là 22,67 ngày, năm 2012 là 19,69 ngày, năm 2011

là 37,85 ngày. Có thể nhận thấy rằng sau những cải thiện về hàng tồn kho năm 2012.

Đến năm 2013 do lo sợ về giá của nguyên vật liệu tăng dẫn đến việc Công ty phải dự

trữ hàng tồn kho nhiều hơn, làm thời gian lưu kho dài hơn.

Chu kỳ kinh doanh: Năm 2011 là 164,17 ngày, năm 2012 là 128,78 ngày do trong năm 2012, Công ty đã giảm được thời gian thu nợ và thời gian lưu kho nên chu

kỳ kinh doanh của năm 2012 giảm so với năm 2011. Đến năm 2013 là 104,48 ngày,

tuy thời gian lưu kho trong năm 2013 tăng so với năm 2012, nhưng mức giảm của thời

gian thu nợ nhiều hơn so với mức tăng của thời gian lưu kho nên vẫn dẫn đến năm

2013 chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp giảm. Nhận thấy trong năm 2013, Công ty

đã có những chính sách nhất định để làm giảm thời gian thu nợ, làm cho thời gian từ

lúc mua nguyên vật liệu để tiến hành sản xuất kinh doanh đến lúc thu được tiền được

diễn ra nhanh hơn.

Thời gian luân chuyển tiền: Năm 2011, Công ty mất 39,17 ngày kể từ lúc bắt đầu chi tiền mua nguyên vật liệu đến lúc thu được tiền hàng về, năm 2012 là 7,98 ngày do trong năm 2012, Công ty đã giảm được chu kỳ kinh doanh và thời gian trả nợ nên

thời gian luân chuyển tiền giảm. Năm 2013 là 16,68 ngày, sở dĩ tăng hơn so với năm 2012 là do thời gian trả nợ giảm nhiều hơn so với sự giảm của chu kỳ kinh doanh. Có thể thấy rằng trong năm 2013, Công ty đã ý thức được việc thanh toán nợ của mình

nhằm nâng cao uy tín đối với nhà cung cấp, tuy nhiên thời gian trả nợ giảm 33 ngày

lớn hơn sự giảm thời gian thu nợ là 6 ngày dẫn đến việc thời gian luân chuyển tiền trong năm 2013 giảm.

51

Đánh giá chung: tuy khoản phải thu khách hàng của Công ty vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản ngắn hạn. Nhưng bằng những biện pháp và chính sách của mình thì

Công ty đã rút ngắn được thời gian thu hồi nợ. Hàng tồn kho của Công ty cần được cải

thiện để không chiếm quá nhiều nguồn vốn của Công ty. Số ngày của chu kỳ kinh

doanh lớn hơn số ngày của thời gian luân chuyển tiền, có thể thấy Công ty đang được

mua hàng trả chậm.

2.3 Nhận xét về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tài Công ty TNHH Sản xuất

và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc

2.3.1 Kết quả đạt được

Qua kết quả phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty THNN Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng ở trên cho phép em đưa ra những nhận xét như

sau:

Khả năng sinh lợi của tài sản qua các năm của Công ty đều lớn hơn 0, chứng tỏ

hoạt động kinh doanh của Công ty đạt hiệu quả, lợi nhuận luôn dương do đó có thể nói

tài sản của Công ty đang được sử dụng có hiệu quả.

Doanh thu của Công ty tăng cao qua từng năm cho thấy qua các năm Công ty

càng có thêm nhiều bạn hàng tiềm năng, Công ty có nhiều dự án hơn khiến cho doanh

thu hàng năm tăng. Đây là kết quả mà Công ty cần duy trì và phát huy vào những năm

tiếp theo.

Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn của Công ty giảm qua các năm, ở năm 2013 là

114,28 ngày, làm cho Công ty tiết kiệm được một lượng vốn nhất định để đầu tư vào

các khoản mục khác, nhằm đem lại doanh thu cao hơn.

Các hệ số thanh toán của Công ty có những thành tích nhất định so với hệ số

thanh toán trung bình của ngành. Đặc biệt là chỉ số lưu kho, với mức trung bình ngành

đạt 4,83 vòng nhưng chỉ số lưu kho của Công ty đạt mức 15,88 vòng tại năm 2013.

Chứng tỏ rằng lượng hàng tồn kho của Công ty luôn luôn được vận động ở mức cao,

việc Công ty liên tục có những đơn đặt hàng lớn, nhỏ làm cho hàng tồn kho được xoay vòng liên tục dẫn đến thời gian lưu kho của nguyên vật liệu ngắn. Cho thấy Công ty luôn tích cực làm cho vòng quay hàng tồn kho của mình vận động liên tục. Ngoài ra việc Công ty đầu cơ vào hàng tồn kho với số lượng lớn vào cuối năm 2013 là 4.695

triệu đồng do lo sợ biến động về giá, cho thấy Công ty đã có những kinh nghiệm nhất định để đối phó lại với thị trường nguyên vật liệu ngày nay.

52

2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân

2.3.2.1 Tồn tại

Bên cạnh các kết quả đạt được công ty cũng còn tồn tại những hạn chế nhất định

đó là hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng

của công ty, biểu hiện ở các mặt sau:

Do đặc thù của ngành xây dựng là kéo dài trong nhiều năm, nên khoản phải thu khách hàng của Công ty luôn chiếm tỷ trọng cao trong tài sản ngắn hạn. Công ty cần

có những chính sách nhằm khuyến khích khách hàng thanh toán sớm và đúng hạn.

Tình trạng Công ty bị chiếm dụng vốn như hiện nay sẽ làm cho Công ty bị thiếu vốn

để tái đầu tư sản xuất, dẫn đến không mở rộng được quy mô Công ty, cũng như không đủ nguồn vốn để nhận những dự án lớn khác.

Hiện tại Công ty vẫn chưa xây dựng được một quy trình quản lí vốn bằng tiền,

việc xác định lượng tiền dự trữ còn chưa được thực hiện khiến cho việc quản lí vốn

bằng tiền gặp nhiều khó khăn. Mức tiền mặt của Công ty ở mức thấp, đặt khả năng

thanh toán tức thời của Công ty vào tình trạng báo động. Công ty không có khả năng

chi trả được các khoản phát sinh bất thường, đây là điều Công ty cần khắc phục sớm

nhất trong thời gian tới.

Có thể nhận thấy rằng trong năm 2013 mức doanh thu vẫn tăng nhưng lợi nhuận

trước thuế đem lại không cao, khoản chi phí của năm 2013 là 77.611.500.941 đồng. Lợi nhuận trước thuế đem lại trong năm 2013 chỉ lớn hơn năm 2012 là 437.747.302

đồng những khoản chi phí của năm 2013 lại tăng 14.186.371.493 đồng, chứng tỏ Công

ty chưa quản lý tốt được các khoản chi phí bỏ ra. Công ty cần có những biện pháp cắt

giảm chi phí để có thể đem lại mức lợi nhuận cao hơn trong tương lai.

Mặc dù Công ty vẫn còn rất nhiều điều hạn chế về khả năng quản lý tài sản ngắn

hạn, nhưng bốn tồn tại trên là những tồn tại cần được giải quyết hàng đầu của Công ty.

Qua những phân tích trên cho thấy, những tồn tại này của Công ty đã kéo dài trong

nhiều năm mà chưa được giải quyết. Nếu để tồn tại này còn tiếp tục trong những năm tới sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh về lâu dài của Công ty. Do đó vấn đề trước mắt là Công ty cần nhanh chóng đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục những tồn tại trên.

2.3.2.2 Nguyên nhân

Nhận thức của lãnh đạo công ty về công tác quản lý tài sản ngắn hạn chưa thật

tốt, từ đó làm cho công tác tổ chức quản lý mang tính khoa học chưa cao, làm giảm

hiệu quả sử dụng của tài sản ngắn hạn.

53

Các nhà quản lý cần nâng cao trình độ để ra quyết định về việc lựa chọn cơ cấu

nguồn vốn tài trợ hợp lý vừa đảm bảo khả năng sinh lời vừa phải an toàn.

Chính sách quản lý tài sản chưa phù hợp, chưa có quy định rõ ràng trong việc

phân cấp tài sản để quản lý làm cho hiệu quả sử dụng của tài sản không cao.

Hệ thống thông tin quản lý chưa đảm bảo yếu tố cập nhật thường xuyên, chưa

đảm bảo tính hệ thống và chính xác. Hiện nay phòng tài chính và phòng kế toán nhập làm một, các nghiệp vụ tài chính đều do các kế toán thực hiện mà họ lại không có

chuyên môn sâu về lĩnh vực tài chính gây ra sự quá tải trong công việc và giảm chất

lượng công tác tài chính. Có thể nói đây là nguyên nhân chính tác động đến việc sử

dụng không hiệu quả các loại tài sản lưu động.

Công ty không có đội ngũ cán bộ chuyên sâu trong lĩnh vực thẩm định tài chính

và kiểm soát khách hàng nên không theo dõi được các khoản phải thu dẫn đến các

khoản phải thu chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản ngắn hạn.

Tín dụng thương mại là một chính sách quan trọng giúp công ty có thể giành

thắng lợi trong cạnh tranh, việc cấp tín dụng thương mại sẽ thu hút được nhiều khách

hàng nhưng hiện nay chính sách này chưa được công ty quan tâm nhiều đến. Để tăng

doanh thu, tăng lợi nhuận công ty đã cấp tín dụng thương mại một cách tràn lan dẫn

đến tình trạng công ty bị chiếm dụng vốn lớn.

Hiện nay vốn của công ty chủ yếu là vốn đi vay bao gồm cả vay dài hạn và vay ngắn hạn. Xét một khía cạnh nào đó thì các khoản vay dài hạn đã đến hạn trả cũng trở thành

vay ngắn hạn, do đó yêu cầu đặt ra đối với công ty là phải hạch toán kinh doanh hết sức

cẩn thận nếu không sẽ gặp rủi ro.

54

CHƢƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ KINH

DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG AN PHÚC

3.1 Thuận lợi và khó khăn của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu

xây dựng An Phúc

3.1.1 Thuận lợi trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong

giai đoạn hiện nay

Chính sách ngày nay của nhà nước quan tâm rất nhiều đến chi tiêu công như xây

dựng cầu đường, điều này tạo ra một cơ hội vô cùng lớn cho doanh nghiệp, vì thời

gian thi công ngắn, thu hồi vốn nhanh.

Ngoài ra, nhà nước còn có các chính sách kích cầu bằng việc cho doanh nghiệp

vay với lãi suất thấp, việc tiếp cận với nguồn vốn sẽ dễ dàng hơn. Đây là cơ hội cho

doanh nghiệp vay vốn đê mở rộng quy mô doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Qua quá trình hoạt động, Công ty đã dần gây dựng được lòng tin với các đối tác

kinh doanh, tạo được uy tín lớn trên thị trường và có những đối tác lâu dài. Với những

kinh nghiệm đã có, Công ty tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh và đạt được những

kết quả tốt trong những năm gần đây.

3.1.2 Khó khăn

Sau đây là phần phân tích SWOT, nêu ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách

thức để ta có cái nhìn rõ hơn về tình hình của doanh nghiệp.

Điểm mạnh: Công ty có những sản phẩm chất lượng cao và dịch vụ làm hài lòng khách hàng, tạo được uy tín trên thị trường . Ngoài ra, Công ty còn có đội

ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ cao, nhiệt huyết và tận tâm trong công

việc. Công ty còn có khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt, ít khi lâm vào

tình trạng hết hàng, tạo ra ưu thế cạnh tranh lớn so với các đối thủ.

Điểm yếu: của Công ty là vấn đề sử dụng vốn lưu động. Ban lãnh đạo cần phải sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả hơn để tăng doanh thu cho Công ty hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh để tăng tính cạnh tranh trên thị

trường. Ngoài ra Công ty chưa chú trọng tìm thêm đầu vào và đầu ra mới cho các sản phẩm và dịch vụ của mình tạo ra sự khó khăn trong việc tăng doanh thu. Công ty cần phải đầu tư thêm cho quảng cáo, marketing, thăm dò thị trường để tìm kiếm thêm khách hàng.

Cơ hội: Trong bối cảnh nền kinh tế đang dần được phục hồi, nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào trong nước đang có dấu hiệu tăng, đây là một trong những cơ

55

hội để doanh nghiệp bứt phá trong ngành của mình, trở thành một trong những Công ty đứng đầu về sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, điển hình ở

đây là xi măng tươi.

Thách thức: Bên cạnh thuận lợi và các cơ hội đang mở ra trước mắt thì cũng tồn tại không ít thách thức cho Công ty. Vì Công ty này là doanh nghiệp còn trẻ kinh nghiệm còn chưa nhiều và chịu sự cạnh tranh rất mạnh từ các đối thủ

cạnh tranh cùng ngành và yêu cầu từ phía khách hàng ngày cao về mặt chất

lượng và mẫu mã, giá cả và cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính chất toàn cầu

cũng tác động không nhỏ tới doanh nghiệp. Buộc doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới cũng như áp dụng những khoa học kỹ thuật hiện đại nhất để tạo thành

sản phẩm của mình. Công ty hiện nay xác định được 2 đối thủ cạnh tranh

chính đó là:

Công ty Cổ phần đầu tư bê tông Việt Ý

Địa chỉ: Số 79 Cù Chính Lan – Khương Mai – Thanh Xuân – Hà Nội

Tel: 04 35666661

Fax: 04 35666662

Email: viety.cty@gmail.com

Công Ty Cổ Phần Việt Mỹ

Địa chỉ: Phòng 7 nhà B6 – TT công ty xây dựng số 1 – TX Bắc – Thanh

Xuân – Hà Nội

Tel: 04 62948370

Fax: 04 62822571

Email: betongvietmy@gmail.com

3.2 Định hƣớng phát triển của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu

xây dựng An Phúc

Thế giới đang đứng trước xu hướng toàn cầu hoá trong đó thế giới ngày càng gắn kết với nhau thành một thị trường toàn cầu, trong đó tất cả các quốc gia đều có thể tham gia vào thị trường toàn cầu hoá.

Đối với thị trường Việt Nam, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế với tốc độ

phát triển nhanh. Hàng loạt các văn bản, chính sách từ chỉ thị của TW Đảng, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng cho đến các văn bản của các Bộ,

Ngành, địa phương đã ra đời với nhiều chính sách ưu đãi và các biện pháp khuyến

khích đầu tư phát triển.

56

Trước tình hình đó Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An

Phúc đã đưa ra các chiến lược phát triển để tăng doanh thu.

Mục tiêu dài hạn: Đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh. Bên

cạnh các lĩnh vực truyền thống là sản xuất vật liệu xây dựng, từng bước thâm nhập và

khẳng định chỗ đứng trong các lĩnh vực khác. Trở thành công ty sản xuất vật liệu xây

dựng có uy tín tại Việt Nam và hướng ra thị trường quốc tế. Đảm bảo luôn đáp ứng những sản phẩm hữu hiệu nhất cho khách hàng.

Mục tiêu ngắn hạn: Xây dựng thị trường trong nước. Tập trung cung cấp các sản

phẩm dịch vụ tốt, kèm theo các giải pháp tổng thể đảm bảo doanh thu Công ty tăng

nhanh trong các năm tiếp theo. Cụ thể, kế hoạch 2014 – 2016 như sau:

Về chính sách phát triển thị trường: Công ty có bộ phận truyền thông doanh nghiệp mang hình ảnh một doanh nghiệp thân thiện, chuyên nghiệp với khách

hàng. Đối tượng phục vụ trong thời gian tới là những doanh nghiệp đã tin

tưởng vào chất lượng bê tông trong những năm vừa qua, thu hút được sự quan tâm của các công trình lớn nhỏ trong địa bàn Hà Nội và những khu công

nghiệp nằm trên địa phận giáp Hà Nội như Hưng Yên, Quốc Oai…

Công ty cũng gửi những thư ngỏ, hồ sơ năng lực giới thiệu và quảng bá về công ty tới tay khách hàng, làm khách hàng hiểu rõ hơn và thấy rằng lựa

chọn một nhà cung cấp bê tông như vậy là sáng suốt.

Do đặc thù của chuyên ngành đầu tư xây dựng cơ bản là các dự án chỉ thực hiện một lần và duy nhất vì vậy công ty luôn cung cấp cho các chủ đầu tư

chất lượng bê tông tốt nhất để mang lại thương hiệu, hình ảnh ấn tượng

trong mỗi doanh nghiệp xây dựng.

Công ty còn tham gia các cuộc đấu thầu rộng rãi để tìm kiếm những hợp

đồng có giá trị lớn, mang lại lợi nhuận cao.

Về chính sách phát triển sản phẩm: Để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, Công ty đã tư vấn cho khách hàng về bê tông khi địa hình xây dựng phức tạp và các chính sách khuyến mãi để khách hàng thấy thoải mái nhất khi làm việc, thống nhất được phương thức làm việc và triển khai đúng tiến độ.Mỗi mẻ trộn bê tông đều được soát xét kỹ lưỡng, đảm bảo không còn những sai sót kỹ thuật

và mang đến cho phía khách hàng sản phẩm tốt nhất của Công ty. Nhờ vậy, uy tín của Công ty càng được khẳng định từ phía khách hàng.

Chính sách xúc tiến bán hàng: Lĩnh vực bê tông thương phẩm luôn được coi là một thị trường mở, tiềm năng khách hàng còn rất lớn chính vì vậy Công ty cần phải có những chương trình Quảng bá cho sản phẩm lớn như:

57

Công ty tham gia các hội nghị, hội thảo chuyên ngành.

Cử đại biểu tham gia các hội nghị lớn của các Công ty chuyên về xây dựng nói chung và ngành nghề sản xuất bê tông thương phẩm nói riêng trên toàn

quốc. Công ty TNHH Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc là thành viên của hiệp hội bê tông Việt Nam (Hiệp hội có chức năng chống

phá giá vật liệu xây dựng, bình ổn giá bê tông thương phẩm).

Bộ phận truyền thông của Công ty nhanh chóng tiếp xúc với doanh nghiệp đang có nhu cầu để thu thập thông tin khách hàng, giới thiệu sản phẩm của

Công ty, gửi hồ sơ năng lực tới khách hàng…

Các bộ phận nghiệp vụ theo dõi và tham gia các cuộc đấu thầu rộng rãi để có cơ hội xúc tiến thực hiện quảng bá thương hiệu tại các doanh nghiệp đầu

ngành và các dự án giá trị lớn.

Chính sách nâng cao trình độ đội ngũ công, nhân viên: Công ty luôn chú trọng vào nguồn nhân lực mà mình có và coi đó là tài sản quý giá nhất mang lại

thành công cho Công ty. Việc xây dựng chính sách tốt để phát triển nguồn

nhân lực là ưu tiên hàng đầu. Trong thời gian tới đây, Công ty sẽ thực hiện chính sách tuyển dụng nhân viên có trình độ cao, kinh nghiệm giỏi, tăng

cường công tác đào tạo nghiệp vụ cho nhân viên sẽ và đang làm việc cho Công

ty, cung cấp các chế độ làm việc tốt nhất và chế độ khen thưởng thích hợp đối

với các nhân viên, phòng ban có thành tích xuất sắc, có ý kiến đóng góp nhằm

tạo thêm lợi nhuận cho công ty. Khuyến khích người lao động phát huy tối đa

năng lực của mình.

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty

TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc

Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những biểu hiện của năng lực sản

xuất kinh doanh, là thước đo so sánh giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận mang lại cho công

ty. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn luôn là mục tiêu hướng tới của Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc.

Qua xem xét tình hình tổ chức, huy động và sử dụng vốn lưu động của Công ty trong những năm vừa qua cho thấy: Mặc dù hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp

nhiều khó khăn. Song với sự lãnh đạo của Ban Giám đốc cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty đã chứng tỏ sự nỗ lực vươn lên, quyết tâm phấn đấu hoàn thành kế hoạch đề ra.

Nhìn lại, các năm 2011-2013 là một năm có nhiều khó khăn thử thách với Công ty: cạnh tranh giữa các đơn vị cùng ngành diễn ra một cách gay gắt, giá cả nguyên vật

58

liệu có nhiều biến động. Điều này đã tác động không nhỏ tới quá trình kinh doanh, hiệu quả kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty.

Ngày nay nhu cầu, thị hiếu của khách hàng về chất lượng sản phẩm dịch vụ ngày

càng cao. Để có thể tồn tại và phát triển được một cách vững chắc, nhận biết điều đó,

Công ty đã không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình, đầu tư đổi

mới dây chuyền sản xuất, hiện đại hoá máy móc thiết bị, xây dựng mới nhà cửa, kho hàng. . . Nhờ thế có thể ổn định sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được, Công ty còn bộc lộ một số tồn tại

cần khắc phục trong quá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức và sử dụng vốn kinh doanh

nói chung vốn lưu động nói riêng. Để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty, qua tìm hiểu thực tế em xin mạnh dạn đề xuất một số biện

pháp sau:

3.3.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Hiện tại công ty Cổ phần TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An

Phúc đang áp dụng mô hình xác định lượng ngân quỹ cần thiết dựa vào kinh nghiệm

do đó còn nhiều hạn chế trong việc quản lý ngân quỹ của công ty. Để cho ngân quỹ

được sử dụng hiệu quả hơn:

Trước hết phải xác định được mức vốn tối thiểu để đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được diễn ra liên tục. Ban tài chính nên lập kế

hoạch thu chi để xác định nhu cầu chỉ tiêu và nguồn thu tiền tương ứng. Kế

hoạch thu chi nên chi tiết cho từng tháng, quý và năm; kế hoạch thu chi càng

chi tiết thì lượng tiền mặt được xác định có độ chính xác càng cao và nên có

sự tham gia của các bộ phận, phòng ban liên quan để có độ khách quan cao.

Mục đích của việc lập kế hoạch thu chi là nhằm cân đối khả năng chi trả, giảm

các chi phí liên quan và làm tăng tính luân chuyển của tiền cho hoạt động sản

xuất kinh doanh. Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng

An Phúc với lượng tồn quỹ nhỏ và với sự biến động phức tạp về giá nguyên vật liệu nên có thể áp dung mô hình quản lý tiền mặt Miller Orr để xác định lượng tiền cần thiết đáp ứng cho nhu cầu thanh toán của công ty.

Trên cơ sở đã xác định được tài sản ngắn hạn như đã lập, Công ty cần xây dựng được kế hoạch như xác định số vốn cần huy động, xác định số vốn còn thiếu để bổ sung. Công ty nên huy động tối đa nguồn lực từ bên trong, tăng cường huy động vốn ngắn hạn để đầu tư cho nguồn vốn trước mắt, tận dụng tối đa các khoản nợ ngắn hạn phải trả nhưng chưa đến hạn thanh toán, áp dụng hình thức tín dụng thương mại vì Công ty không phải trả thêm chi phí mà vẫn

59

có nguồn vốn để phát triển. Công ty nên tăng nguồn vốn chủ sở hữu để thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn.

Sau khi huy động nguồn lực từ bên trong Công ty mà vẫn chưa đủ số vốn cần huy động, lúc này Công ty buộc phải huy động vốn bên ngoài từ các khoản

cho vay ngắn hạn và dài hạn. Trong năm 2013, các khoản vay của Công ty đã chuyển dịch từ vay ngắn hạn sang dài hạn. Điều này chứng tỏ rằng Công ty

muốn giảm tải áp lực về thanh toán ngắn hạn, thay vào đó đầu tư vào máy móc

thiết bị để nâng cao chất lượng hoạt động của Công ty. Nhưng để tạo được áp

lực trong kinh doanh, Công ty vẫn cần phải sử dụng chính sách đòn bảy tài chính, các khoản vốn vay ngắn hạn sẽ được đưa vào sử dụng ngay để tránh

lãng phí, để làm được điều đó Công ty cần có thêm nhiều hợp đồng kinh

doanh để vốn vay có thể được đầu tư, cũng như việc vay thêm vốn từ các tổ

chức tín dụng sẽ dễ dàng hơn cho Công ty.

Sử dụng nguồn vốn hợp lý là điều rất quan trọng đối với mỗi Công ty, phải làm cho nguồn vốn luôn luôn vận động đem lại lợi nhuận. Việc lập các kế hoạch sử dụng

nguồn vốn phải dựa theo những số liệu, chỉ tiêu từ năm trước, lấy đó làm thước đo

tương đối để Công ty có những bước đi đúng đắn. Tránh trường hợp để nguồn vốn vay

nhiều hơn tài sản lưu động của Công ty.

3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản phải thu

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh các khoản phải thu phát sinh như là một tất

yếu khách quan. Một trong các nhân tố ảnh hưởng đến các khoản phải thu thì chính

sách tín dụng thương mại có tác động lớn nhất, nó không những ảnh hưởng trực tiếp

để quy mô của các khoản phải thu mà còn làm tăng doanh thu, giảm chi phí hàng tồn

kho. Tín dụng thương mại đem đến cho công ty nhiều lợi thế nhưng cũng gặp không ít

rủi ro. Do đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản phải thu, công ty nên:

Xây dựng chính sách tín dụng thương mại hiệu quả: thông thường bao gồm

một trình tự hợp lý cho các giải pháp mà nó áp dụng cho các hợp đồng đã quá hạn. Các biện pháp có thể áp dụng như bảng dưới:

Bảng 3.1 Thủ tục thu nợ đối với các hợp đồng quá hạn

Thời gian quá hạn Giải pháp cụ thể

30 ngày Điện thoại nhắc nhở các hợp đồng đã đến hạn thanh toán và yêu cầu thanh toán cho Công ty.

50 ngày

Gửi thư hoặc Fax kèm theo thông tin hợpdđồng thúc giục trả tiền và khuyến cáo, có thể làm giảm uy tín trong các yêu cầu tín dụng.

60

Thời gian quá hạn Giải pháp cụ thể

70 ngày

Cho nhân viên tín dụng đến trực tiếp làm việc, khẳng định thông báo hủy bỏ tín dụng và có thể nhờ pháp luật can thiệp.

90 ngày Chuyển vào nợ khó đòi, nếu giá trị hợp đồng lớn thì nhờ pháp luật can thiệp.

Như vậy, tiến trình thu nợ không những phát sinh thêm chi phí mà có thể làm

giảm mối quan hệ và làm mất long khách hàng, bởi vì họ luôn có lý do cho sự chậm trễ của mình. Người mua hàng thường mong muốn kéo dài thời hạn thanh toán, nhưng

lại không muốn làm mất uy tín hay đối phó với ngân hàng, pháp luật. Trong khi, các

Công ty cung cấp lại mong muốn thu hồi khoản nợ để hạn chế những chi phí phát sinh.

Chính vì thế biện pháp để giảm thiểu rủi ro trong công tác thu hồi nợ cũng như

giữ mối quan hệ với khách hàng, Công ty cần có những chính sách để khuyến khích khách hàng thanh toán sớm hoặc trả nợ nhanh. Biện pháp chủ yếu là áp dụng mức

chiết khấu trong mỗi đợt thanh toán. Tuy nhiên, cần có sự linh hoạt trong việc áp dụng

mức chiết khấu cho khách hàng trong từng giai đoạn thanh toán.

Đối với khách hàng thanh toán ngay công ty nên áp dụng mức chiến khấu ưu đãi cho khách hàng, mức chiết khấu này sẽ cao hơn mức chiết khấu hiện hành

của công ty (1%). Do đó mức chiết khấu sẽ được áp dụng cho khách hàng khi

thanh toán ngay là từ 1,5% - 2% tùy theo mối quan hệ làm ăn cvowis công ty

và được hưởng những sự ưu đãi khác như hỗ trwoj heêm chi phí vận chuyển,

hoặc nhận được mức giá ưu đãi trong đơn hàng tiếp theo và được trừ ngay trên

đơn hàng mua.

Bảng 3.2 Mức lãi suất ngân hàng.

Mức lãi suất huy động/năm 6%

Mức lãi suất cho vay/năm 8%

Mức lãi suất huy động ngày 0.017%

Mức lãi suất cho vay ngày 0.022%

Giả sử giá trị đơn hàng cần thanh toán là 100.000.000 đồng.

Nếu khách hàng thanh toán ngay cho công ty thì sẽ được hưởng mức chiết khấu

là 1,5% trên giá trị đơn hàng: 1,5% * 100.000.000 = 1.500.000 đồng.

Mặt khác nếu khách hàng không thanh toán ngay cho công ty mà chiếm dụng vốn của công ty để đầu tư vào các hoạt động khác như gửi ngân hàng thì số tiền khách hàng có được là: 0,017% * 100.000.000 * 30 = 510.000 đồng.

61

Kết quả trên cho thấy sự chênh lệch của việc khách hàng thanh toán ngay và chiếm dụng vốn của công ty để gửi ngân hàng. Do đó, việc xây dựng mức chiết khấu

phù hợp sẽ kích thích khách hàngthan h toán sớm cho công ty, góp phần gia tăng số

lượng đơn hàng trong tháng cũng như số lượng trên mỗi lần nhập.

Đối với khách hàng thanh toán trong thời hạn tín dụng thì sẽ áp dụng mức chiết khấu ngang bằng với mức chiết khấu theo chính sách của công ty là 1%

và mức chiết khấu này cũng được trừ ngay trên hóa đơn thanh toán.

Đối với khách hàng thanh toán chậm hơn thời hạn tín dụng theo thỏa thuận thì sẽ không được hưởng mức chiết khấu thanh toán mà chỉ được hưởng mức chiết khấu theo số lượng tiêu thụ vào cuối tháng. Nếu trường hợp khách hàng thanh toán chậm hơn thồ hạn tín dụng từ 10 đến 20 ngày thì công ty sẽ tiến

hành biện pháp phạt tiền. Số tiền phạt được áp dụng dựa trên số ngày khách

hàng chiếm dụng vốn quá thời hạn tín dụng của công ty và mức lãi suất ngân

hàng hiện hành như hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán: 0,022% *

100.000.000 * Số ngày thanh toán chậm. Vì khi khách hàng thanh toán chậm

thì doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng để lấy nguồn vốn tái đầu tư. Do đó

trong các hợp đồng tới, Công ty nên thêm khoản mục người mua phải trả lãi

vay nếu thanh toán chậm.

Tuy nhiên, việc phạt tiền nên hạn chế áp dụng với khách hàng, trừ một số khách

hàng có hệ số tín dụng thấp hoặc thường xuyên thanh toán chậm. Do đó, chính sách tín

dụng của Công ty cần có sự linh hoạt để giữ mối quan hệ đối tác với các khách hàng.

Công ty phải tiến hành đánh giá tuổi nợ của các khoản phải thu: nhằm xác

định tỷ lệ các khoản phải thu hưởng chiết khấu thanh toán, tỷ lệ các khoản phải thu trả

chậm so với quy định của chính sách, từ đó nắm bắt những thông tin tín dụng tổng

quát về khách hàng và điều chỉnh các yếu tố của chính sách tín dụng cho phù hợp.

Ngoài ra việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi là vấn đề cần thiết trong công tác

quản trị của Công ty, nhưng nếu khoản mục này phát sinh ngày càng nhiều, thể hiện

một số lớn các khoản phải thu quá hạn trả nợ so với chính sách, đồng nghĩa với bộ sưu tập tín dụng khách hàng của Công ty đang gặp vấn đề, hoặc một chính sách tín dụng quá nới lỏng đã chấp nhận một số khách hàng có khả năng tài chính kém.

3.3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi phí

Việc Công ty vẫn tăng doanh thu qua các năm nhưng mang lại mức lợi nhuận sau thuế không cao, bởi ảnh hưởng rất lớn từ các khoản chi phí mà Công ty phải bỏ ra trong quá trình hoạt động của mình. Nhằm đem lại mức lợi nhuận cao hơn trong tương lai thì Công ty cần phải kiểm soát được những chi phí bỏ ra, hạn chế tối đa những chi

62

phí không cần thiết, có những chính sách nhất quán để có thể dựa vào đó giảm thiểu được chi phí.

Nâng cao chất lượng người lao động: sử dụng lao động có trình độ cao chắc chắn sẽ tiết kiệm được chi phí cho phép sử dụng các thiết bị tiên tiến một cách

dễ dàng, làm tăng năng suất lao động và giảm sự hao hụt. Công ty cũng nên đào tạo nâng cao trình độ của công nhân, đào tạo các kỹ thuật viên có trình độ

nghiệp vụ cao, có như vậy Công ty mới theo kịp cơ chế vận hành của thị

trường. Ngoài ra để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng năng suất

lao động, thì yếu tố kích thích người lao động cũng không thể thiếu bởi nó làm nâng cao niềm đam mê với nghề cho người lao động, cán bộ Công ty nên lập

các quỹ khen thưởng, quỹ hỗ trợ khó khăn, tích cực sử dụng các đòn bấy nâng

cao ý thức trách nghiệm của cán bộ công nhân viên, có chế độ thưởng phạt

nghiêm minh đối với cán bộ công nhần việc trong việc quản lý sử dụng chi

phí.

Tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu: Công ty nên đặt ra mức hao hụt trong định

mức khi sản xuất của mình, để tiết kiệm lượng nguyên vật liệu

Ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh:

Tiếp tục đầu tư máy móc thiết bị sản xuất tiên tiến mà khả năng tự động hóa cao. Việc đầu tư này cần phải dựa vào sự phân tích chênh lệch giữa khấu

hao máy móc và việc thuê nhân công làm thủ công.

Đầu tư nhiều hơn vào máy vi tính cho công tác quản lý nhằm giảm bớt lượng lao động thủ công, đầu tư phần mềm kế toán hiện đại, khả năng xử lý

nhanh nhạy. Việc đầu tư thêm máy móc mới đòi hỏi phải thường xuyên

nâng cao trình độ người sử dụng, để nâng cao hiệu suất sử dụng máy móc.

Thúc đẩy quá trình bán hàng và hạ thấp giá thành sản phẩm của Công ty: nhằm tăng tính cạnh tranh trên thị trường của Công ty, góp phần làm cho quá

trình bán hàng diễn ra nhanh hơn. Từ đó, sẽ tiết kiệm được rất nhiều khoản chi

phí như chi phí lưu và bảo quản kho, chi phí lãi vay vì doanh nghiệp thiếu vốn để xoay vòng quá trình sản xuất kinh doanh.

63

KẾT LUẬN

Cùng với sự chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế và xu thế hội nhập mạnh mẽ

hiện nay, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ngày càng là mục tiêu trước mắt

và lâu dài cần đạt tới của tất cả các doanh nghiệp. Đối với mỗi doanh nghiệp, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn giúp các nhà phân tích tài chính có cái

nhìn toàn diện về tình hình quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn ở công ty từ đó có thể

đưa ra các quyết định, chính sách đúng đắn nhằm nâng cao lợi nhuận. Không nằm

ngoài mục đích trên, bằng việc phân tích tình hình hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, bài khóa luận đã đưa ra một số giải pháp để cải thiện hiệu quả sử dụng vốn lưu động

của Công ty trong các năm tới.

Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh vật liệu xây dựng An Phúc đã hoạt

động được 5 năm và là loại hình doanh nghiệp nhỏ. Dù có nhiều thuận lợi, ưu điểm

trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn nhưng trong những năm gần đây lợi nhuận đem lại

không cao, hiệu quả hoạt động không được cao. Vì vậy Công ty cần chú trọng hơn vào

tài sản ngắn hạn và áp dụng các giải pháp kiến nghị trên là hoàn toàn khả thi đối với

công ty nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.

Tuy nhiên do sự hạn chế hiểu biết, thiếu kinh nghiệm thực tế và thời gian có hạn nên chuyên đề tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được

nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo để bài viết của em được hoàn thiện

hơn và có đủ căn cứ khoa học góp phần giúp ích cho công việc sắp tới.

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Quốc Hùng

64

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. GS.TS Ngô Thế Chi, PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ - Học viên tài chính, Giáo trình

phân tích tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản (Nxb) Tài Chính.

2. PGS.TS Lưu Thị Hương, PGS.TS Vũ Duy Hào, Tài chính doanh nghiệp, Trường

ĐH Kinh Tế Quốc Dân Khoa Ngân Hàng-Tài Chính, Nhà xuất bản Lao Động nămm

2004.

3. TS. Bạch Đức Hiển (2008), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất ban Tài Chính.

4. Phan Trọng Phức (2006), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Nguyễn Hải Sản (2010), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nxb Thống Kê, Hà Nội

6. PGS.TS Nguyễn Hữu Tài (2007), Giáo trình lý thuyết tài chính-tiền tệ, Nxb Đại học

Kinh Tế Quốc Dân

7. PGS.TS. Phạm Quang Trung (2009), Tăng cường năng lực cạnh tranh của các DN

vừa và nhỏ, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

65