BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI ABBANK – CHI NHÁNH HÀ NỘI
Giáo viên hƣớng dẫn
:Ths.Trần Thị Thùy Linh
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Thị An Giang
Mã sinh viên
: A16340
Chuyên ngành
: Tài Chính – Ngân Hàng
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình định hướng và thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình, em đã
gặp phải rất nhiều khó khăn do kiến thức còn hạn hẹp, thời gian nghiên cứu đề tài có hạn , tài liệu tham khảo không nhiều. Nhưng với sự hướng dẫn, giúp đỡ cùng với sự
đóng góp quý báu của ban lãnh đạo, các anh chị phòng tín dụng Ngân hàng thương
mại cổ phần An Bình-chi nhánh Hà Nội và quý thầy cô khoa quản lý kinh tế, đặc biệt
là sự giúp đỡ tận tình của cô Trần Thị Thùy Linh em đã hoàn thành luận văn của mình.
Em xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Thùy Linh, người đã trước tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.Kính chúc thầy cô khoa
kinh tế có nhiều sức khỏe để tiếp tục sự nghiệp trồng người vẻ vang của mình.
Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các anh chị phòng tín
dụng cùng toàn thể anh chị làm việc tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình-chi
nhánh Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành thời gian thực tập tại Ngân
hàng và cung cấp cho e những tài liệu, số liệu cần thiết để hoàn thành đề tài tốt nghiệp
của mình.
Mặc dù đã cố gắng thực hiện tốt luận văn của mình nhưng khó có thể tránh khỏi
những nhầm lẫn thiếu sót. Rất mong được sự thông cảm, hết lòng chỉ bảo của quý thầy
cô và nhận được sự đóng góp nhiệt tình của thầy cô để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị An Giang
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự
hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người
khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Nguyễn Thị An Giang
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU Trang
CHƢƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ. ................... 1
1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thƣơng mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. .............................................................................................................................. 1
1.1.1 Khái niệm hoạt động cho vay. ........................................................................ 1
1.1.2 Các hình thức cho vay của NHTM ................................................................ 1
1.3.1 Vai trò hoạt động cho vay của Ngân hàng. ................................................... 4
1.2 Những vấn đề cơ bản của DNV&N. ................................................................... 5
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ ............................................................. 5
1.2.2 Đặc điểm chủ yếu của DNV&N. .................................................................... 5
1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ. ........................................................... 7
1.3 Hiệu quả hoạt động cho vay. ............................................................................... 8
1.3.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động cho vay. ........................................................ 8
1.3.2 Sự cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. ............................................................................................................... 8
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay DNV&N ......................................... 9
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM đối với DNV&N. ........................................................................................................... 11
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH – CHI NHÁNH HÀ NỘI ......................................................................................................... 18
2.1 Khái quát chung về Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần An Bình..................... 18
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ............................................................... 18
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của ABBank – CN Hà Nội .................... 22
2.1.3 Tình hình huy động vốn của ngân hàng trong giai đoạn 2010-2012 ........ 26
2.1.4 Tình hình cho vay chung của ABBank – CN Hà Nội................................. 27
2.3 Thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.. 35
2.3.1 Tình hình cho vay của ngân hàng đối với DNV&N ................................... 35
2.3.2 Dựa trên chỉ tiêu định lượng ........................................................................ 41
2.3.3 Dựa trên chỉ tiêu định tính ........................................................................... 43
2.4 Đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ..... 44
2.4.1 Những mặt đạt được ..................................................................................... 44
2.4.2 Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân ................................................... 44
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG AN BÌNH – CN HÀ NỘI .................................................................................................... 47
3.1 Định hƣớng hoạt động cho vay DNV&N của ABBank – CN Hà Nội trong những năm tới. ......................................................................................................... 47
3.1.1 Định hướng chung ........................................................................................ 47
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động cho vay đối với DNV&N ....................... 47
3.1.3 Chiến lược của chi nhánh ............................................................................ 48
3.2 Những để xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng An Bình – Cn Hà Nội. ..................................... 49
3.2.1 Tăng cường công tác tiếp thị. ....................................................................... 49
3.2.2 Cải tiến quy trình cho vay ............................................................................. 49
3.2.3 Mở rộng hình thức tín dụng ......................................................................... 49
3.2.4 Tăng cường công tác thẩm định và kiểm tra giám sát các khoản tín dụng đã cấp ...................................................................................................................... 50
3.2.5 Đa dạng hóa phương thức xử lý nợ quá hạn .............................................. 51
3.2.6 Giải pháp về lãi suất ..................................................................................... 51
3.2.7 Gia tăng tiện ích cho khách hàng ................................................................ 51
3.2.8 Nâng cao chất lượng đỗi ngũ công nhân viên ............................................ 51
3.2.9 Kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương ............................................ 52
3.3 Một số kiến nghị ................................................................................................. 52
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các bộ liên ngành ........................................... 52
3.3.2 Kiến nghị với NHTM An Bình – CN Hà Nội .............................................. 52
3.3.3 Kiến nghị với hội sở ABBank ....................................................................... 53
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 56
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt ABBank DN Tên đầy đủ Ngân hàng An Bình Doanh nghiệp
DNV&N Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DSCV Doanh số cho vay
DSTN Doanh số thu nợ
KH NHNN Khách hàng Ngân hàng nhà nước
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang
Bảng 2.1. Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng ............................................... 24
Bảng 2.2. Tình hình huy động vốn của ngân hàng trong giai đoạn 2010-2012 ................ 26
Bảng 2.3. Tình hình cho vay doanh nghiệp của ngân hàng ............................................... 28
Bảng 2.4. Tình hình cho vay theo thời hạn ....................................................................... 30
Bảng 2.5. Tình hình cho vay theo đối tượng kinh tế ......................................................... 31 Bảng 2.6. Tình hình thu nợ của ngân hàng theo thời hạn .................................................. 32
Bảng 2.7. Tình hình thu nợ của ngân hàng theo đối tượng kinh tế ................................... 33
Bảng 2.8. Tình hình dư nợ của ngân hàng theo thời hạn .................................................. 34
Bảng 2.9. Tình hình dư nợ của ngân hàng theo đối tượng kinh tế .................................... 35 Bảng 2.10. Tình hình cho vay DNV&N của ngân hàng giai đoạn 2010-2012 ................. 36
Bảng 2.11. Tình hình cho vay DNV&N theo thời hạn ...................................................... 37
Bảng 2.12. Tình hình thu nợ của ngân hàng đối với DNV&N của ngân hàng trong giai
đoạn 2010-2012 ................................................................................................................. 38
Bảng 2.13. Tình hình thu nợ của ngân hàng đối với DNV&N theo thời hạn ................... 39
Bảng 2.14. Tình hình dư nợ của ngân hàng đối với DNV&N trong giai đoạn 2010-
2012 ........................................................................................................................................... 40
Bảng 2.15. Tình hình dư nợ đối với DNV&N theo thời hạn ............................................. 41
Bảng 2.16. Hệ số thu nợ của ngân hàng đối với DNV&N trong giai đoạn 2010-2012
........................................................................................................................................... 42
Bảng 2.17. Tình hình thu nhập của ngân hàng đối với DNV&N trong giai đoạn 2010-
2012 ................................................................................................................................... 43
Bảng 3.1. Mục tiêu kinh doanh của ABBank – CN Hà Nội trong năm 2014 ................... 50
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức ABBank – CN Hà Nội ............................................................ 20
Sơ đồ 2.2. Quy trình cho vay doanh nghiệp của ABBank – CN Hà Nội .......................... 22
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong hoạt động tín dụng thì hoạt động cho vay doanh nghiệp của ngân hàng là hoạt động tuy mang lại lợi nhuận cao nhưng đồng thời cũng phức tạp và mang nhiều
rủi ro hơn cả. Hoạt động cho vay của doanh nghiệp không những đòi hỏi yêu cầu cao
về tính pháp lý, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, khả năng phân tích của cán bộ
tín dụng mà còn phụ thuộc vào các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô. Để hoạt động này
hiệu quả, các cán bộ tín dụng phải có kiến thức chuyên sâu về nhiều lĩnh vực kinh tế, thường xuyên kiểm soát và kiểm tra khách hàng trong quá trình vay vốn về hoạt động.
Trước tình hình kinh tế đầy biến động như hiện này, việc quản lý hoạt động các
khoản cho vay là vấn đề cấp thiết và rất quan trọng đối với ngân hàng đặc biệt cần phải
quan tâm đến vấn đề hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp. Chính vì vậy sau một thời gian thực tập trên thực tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình-chi nhánh
Hà Nội nhận thức được tầm quan trọng và tính chất phức tạp của hoạt động cho vay
doanh nghiệp của ngân hàng em đã chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình là: “
Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần An Bình - chi nhánh Hà Nội”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động cho vay của Ngân hàng đối với doanh
nghiệp vùa và nhỏ.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động và hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình-chi nhánh Hà Nội.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: bộ phận tín dụng doanh nghiệp chi nhánh Hà Nội của
ngân hàng An Bình.
- Phạm vi nghiên cứu: thời gian từ 2010 đến 2012.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học để
phân tích: phương pháp phân tích tổng hợp.
5. Kết cấu của khóa luận
Ở đề tài này em sẽ làm rõ những vấn đề cơ ản về DNV&N, thực trạng hoạt động và hiệu quả cho vay đối với DNV&N và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay của DNV&N tại ABBank.
Ngoài lời mở đầu và kết luận nội dung khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Chương 2.Thực trạng hoạt động và hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại Ngân hàng An Bình.
Chương 3.Một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
CHƢƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.
1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thƣơng mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. 1.1.1 Khái niệm hoạt động cho vay.
Cho vay của NHTM là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ NHTM
(người sở hữu) sang khách hàng vay (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay
trở lại NHTM với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Hay có thể hiểu cho vay của NHTM là quan hệ giữa một bên là người cho vay (NHTM) bằng cách chuyển giao
tiền cho bên người vay (khách hàng vay) để sử dụng trong một thời gian nhất định với
cam kết của người vay là hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn.Cho vay là quyền của
NHTM.Vì vậy NHTM có quyền yêu cầu khách hàng vay phải tuân thủ những điều
kiện mang tính pháp lý nhằm đảm bảo việc trả nợ khi đến hạn.
Đối với hầu hết các khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp, đặc biệt là đối với
doanh nghiệp ngân hàng thường là nguồn duy nhất cung cấp dịch vụ tư vấn và nguồn
vốn bổ sung. Cho vay là chức năng kinh tế lâu đời nhất của ngân hàng, là hoạt động
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng song cũng mang lại rủi ro nhiều nhất.
Hoạt động cho vay của NHTM có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế. Nó có tác
dụng khuyến khích tiêu dùng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo động lực cho sự tăng
trưởng của nền kinh tế. Nguồn vốn vay từ các ngân hàng rất quan trọng đối với sự phát
triển của các doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức kinh tế. Đặc biệt nguồn vốn vay từ
ngân hàng thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người
dân, làm cho nên kinh tế phát triển hơn nữa.
1.1.2 Các hình thức cho vay của NHTM 1.1.2.1 Theo hình thức cấp tiền vay
Các hình thức cho vay của NHTM áp dụng với DNV&N chủ yếu là:
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương pháp cho vay mà ngân hàng và khách hàng thỏa thuận xác định một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời gian nhất định. Hạn mức tín dụng là dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định, được ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Cho vay theo hạn mức tín dụng thường áp dụng cho các doanh nghiệp mà trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh họ thường xuyên có nhu cầu vay trả, có tốc độ luân chuyển vốn tín dụng nhanh, có tín nhiệm với ngân hàng. Khi cho vay theo hạn mức tín dụng, có thể ngân hàng yêu cầu
1
khách hàng trả phí cam kết và duy trì một số dư tối thiểu về tiền gửi thanh toán tại ngân hàng.
- Cho vay từng lần: là phương pháp cho vay mà mỗi lần vay khách hàng và ngân hàng đều phải làm các thủ tục và ký hợp đồng tín dụng. Cho vay từng
lần là hình thức cho vay theo món. Các NHTM thường áp dụng cho vay này đối với các khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, khách hàng
có nhu cầu vay từng lần hoặc ngân hàng xét thấy cần thiết phải áp dụng loại
cho vay này để giám sát việc sử dụng vốn chặt chẽ hơn. Số tiền cho vay được
xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn, giá trị tài sản đảm bảo, khả năng hoàn
trả của khách hàng, giới hạn cho vay của pháp luật và của ngân hàng.
- Thấu chi: là phương pháp cho vay qua đó khách hàng được chi trội hơn số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời hạn nhất định và trong một khoảng
thời gian nhất định. Đây là hình thức cho vay ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn
giản, phần lớn không có tài sản đảm bảo. Hình thức này chỉ sử dụng đối với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn.
- Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng mà ngân hàng cho phép khách hàng trả góp nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Ngân hàng thường cho
vay trả góp với khách hàng là người tiêu dùng thông qua hạn mức nhất
định.Đây là hình thức tài trợ cho người mua nhằm khuyên khích tiêu thụ hàng
hóa.
- Cho vay hợp vốn: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự ăn hay phương án vay vốn của khách hàng. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo
quy định của Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng và Quy chế đồng tài
trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành. - Cho vay khác: Ngân hàng có thể cho vay với hình thức khác mà không trái
với quy định của pháp luật.
1.1.2.2 Theo thời hạn cho vay
- Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn tới 12 tháng nhằm cung ứng vốn cho khách hàng để sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống. Do tính
chất, đặc thù là quy mô nhỏ, năng lực tài chính và năng lực quản lý còn nhiều hạn chế loại hình DNV&N phần lớn nhận được khoản vay ngắn hạn từ phía ngân hàng.
- Cho vay trung hạn: các khoản vay theo quy định của nhà nước có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm. Các khoản vay trung hạn chủ yếu dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới công nghê, mở rộng sản xuất kinh doanh…
2
- Cho vay dài hạn: các khoản vay có thời hạn trên 5 năm, thời hạn tối đa của khoản tín dụng này có thể lên đến 40 năm tùy thuộc vào khoản vay. Các
khoản vay dài hạn thường đáp ứng các tính chất dài hạn như: xây dựng nhà
xưởng, xí nghiệp…
1.1.2.3 Theo tài sản đảm bảo
Có nhiều trường hợp khi khách hàng đi vay vốn ngân hàng yêu cầu phải có tài
sản đảm bảo. Trên thực tế mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn chứa
đựng khả năng rủi ro, điều đó rất có thể kéo theo rủi ro của ngân hàng cho vay. Bởi
vậy, đảm bảo được coi là điều kiện quan trọng trong mọi nghiệp vụ cho vay của
NHTM.
- Cho vay có tài sản đảm bảo: là hình thức cho vay qua sự xác định giá trị của tài sản mà khách hàng cầm cố hay thế chấp cho ngân hàng khi vay vốn. Tài
sản cầm cố thế chấp có thể là động sản hoặc bất động sản.Ngân hàng chỉ chấp
nhận những tài sản hợp pháp có khả năng bán được.
- Cho vay có tài sản đảm bảo theo hình thức thế chấp: là hình thức người nhận tài trợ phải chuyển các chứng từ có giá sang cho ngân hàng nắm giữ trong
thời gian cam kết song vẫn được sử dụng những tài sản đó với cam kết giữ
nguyên hiện trạng. Đảm bảo bằng thế chấp tạo thuận lợi cho người đi vay có
thể sử dụng tài sản đảm bảo để thực hiện hoạt động kinh doanh nhưng lại gây
bất lợi cho ngân hàng trong việc quản lý và kiểm soát tài sản đảm bảo bới quá
trình sử dụng sẽ làm biến dạng hoặc khách hàng có thể làm giảm giá trị tài sản đảm bảo gây rủi ro cho ngân hàng.
- Cho vay có tài sản đảm bảo theo hình thức cầm cố: là hình thức người nhận tài trợ phải chuyển các chứng từ có giá, tài sản sang cho ngân hàng nắm trong
thời gian cam kết. Ngân hàng quản lý mọi tài sản đó và mọi phí liên quan thì
người đi vay phải chịu.Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có thể
kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn. Khi tài trợ dựa trên tài sản cầm
cố, ngân hàng kiểm tra tính hớp pháp lý của tài sản, sau đó ngân hàng cùng
khách hàng định giá tài sản cầm cố, kí hợp đồng cầm cố theo quy định và
nghĩa vụ liên quan đến vật cầm cố.
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: là hình thức đảm bảo đối nhân bao gồm
cho vay tín chấp và cho vay bảo lãnh.
- Cho vay tín chấp: là hoạt động cho vay trong đó ngân hàng không yêu cầu tài
sản đảm bảo mà cho vay dựa trên uy tín của khách hàng.
3
- Cho vay bảo lãnh: là hình thức cho vay có sự xuất hiện của người thứ ba cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện được.
1.1.2.4 Theo mục đích sử dụng vốn
- Cho vay sản xuất lưu thông hàng hóa: đây là loại cho vay đối với doanh nghiệp để bổ sung vốn lưu động, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh lưu thông hàng hóa.
- Cho vay tiêu dùng: là hình thức cho vay nhằm thực hiện các mục đích tiêu
dùng như: mua sắm nhà, xe cộ, chuyển nhượng quyền sử dụng đất…
1.1.2.5 Theo đối tƣợng cho vay
- Doanh nghiệp lớn: quy mô 10 tỷ, quy mô lao đọng trên 300 lao động. - Doanh nghiệp vừa và nhỏ: quy mô dưới 10 tỷ, quy mô lao động dưới 300 lao
động.
1.3.1 Vai trò hoạt động cho vay của Ngân hàng.
Hoạt động cho vay của ngân hàng có quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp, tạo sức sống cho nền
kinh tế. Cung cấp vốn cho các doanh nghiệp mới tham gia sản xuất kinh doanh.Đối với
các doanh nghiệp cũ thì duy trì hoạt động kinh doanh, có điều kiện mở rộng quy mô.
Hoạt động cho vay có vài trò quan trọng đối với cá nhân, doanh nghiệp trong
việc sản xuất kinh doanh:
Một là, giải quyết nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp. Trong thực tế, không
phải doanh nghiệp nào cũng có đủ vốn để sản suất kinh doanh mà không phải vay vốn từ bên ngoài, dù đó là doanh nghiệp lớn đi nữa. Các DNV&N ra đời với nguồn vốn
chủ sở hữu thấp, để tồn tại và phát triển doanh nghiệp thường xuyên thiếu vốn kinh
doanh, do đó đối với những doanh nghiệp này thì nguồn vốn bổ sung từ quỹ tín dụng
của ngân hàng là vô cùng quan trọng. Có được nguồn vốn này các doanh nghiệp có
điều kiện đầu tư tài sản cố định và tăng năng lục cạnh tranh.
Hai là, cho vay doanh nghiệp là công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế. Thực
vậy, thông qua chính sách về tài chính tiền tệ, nhà nước tác động đến chính sách tín
dụng của các NHTM. Từ đó tác động đến sự phân bổ luồng chảy sao cho hợp lý theo
chiến lược kinh doanh từng thời kì, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển lành mạnh, an toàn.
Ba là, cho vay doanh nghiệp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoàn thiện sổ sách kế toán, tài chính theo đúng quy định. Trước khi có quyết định tín dụng, các DNV&N phải trải qua các giai đoạn do ngân hàng đặt ra để thẩm định về mọi mặt như: tư cách pháp lí, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp... Hiện nay, ở các DNV&N luôn tồn tại một độ vênh giữa tình hình hoạt động thực tế so với sổ sách kế toán. Vì vậy, để vay vốn của các ngân hàng thương mại thì
4
các DNV&N phải minh bạch sổ sách kế toán – tài chính, tuân theo chuẩn mực kế toán,
do đó giúp cho việc quản lý của các cơ quan lãnh đạo được thực hiện dễ dàng hơn,
thuận tiện cho việc cho vay nhằm đảm bảo tính an toàn của nguồn vốn cho vay.
Ngoài ra hoạt động cho vay doanh nghiệp còn có vài trò quan trọng đối với ngân
hàng như sau:
Cho vay doanh nghiệp giúp cho ngân hàng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Cho
vay doanh nghiệp tuy tạo ra chi phí cao nhưng đồng thời cũng tạo ra lợi nhuận lớn trên
đồng vốn bỏ ra. Cho vay doanh nghiệp giúp cho khách hàng sử dụng những hình thức
vay khác nhau như: vay theo hạn mức, vay theo món, thấu chi....Khách hàng cũng có xu hướng sử dụng kèm các dịch vụ tại ngân hàng mình đã có quan hệ tín dụng. Đây là
điều kiện giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần. Ngoài ra
cho vay doanh nghiệp góp phần đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư, nâng cao thu nhập,
phân tán rủi ro của ngân hàng.
1.2 Những vấn đề cơ bản của DNV&N. 1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Có nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tùy từng đặc điểm
và quy định của mỗi nhà nước mà DNV&N được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Ở Việt Nam: DNV&N là những cơ sở sản xuất kinh doanh đôc lập, có đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số
lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động.
Có thể nói DNV&N là:
- Thành lập và hoạt động theo luật của doanh nghiệp và luật doanh nghiệp nhà
nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật của hợp tác xã. - Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày
3/2/2001.
1.2.2 Đặc điểm chủ yếu của DNV&N.
Các DNV&N ở Việt Nam hiện nay phát triển tương đối nhiều: công ty tư nhân,
trách nhiệm hữu hạn, cổ phần….Việc phát triển nhanh chóng này do nhiều nguyên nhân vì vậy hay xét xem đặc điểm chủ yếu của loại hình DNV&N này là gì? Cụ thể như sau:
- Về ưu điểm:
Thứ nhất, nhạy bén, năng động dễ thích ưng với sự thay đổi của thị trường. Đây được coi là lợi thế cạnh tranh của DNV&N với nhưng doanh nghiệp lớn. Với việc quản lý gọn nhẹ, quy mô nhỏ, cơ sở hạ tầng không lớn nên giúp cho các DNV&N dễ dàng thực hiện chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
5
Bên cạnh đó các DNV&N còn dễ dàng thích nghi với sự thay đổi của thị trường bởi
những ưu thế của nó.Có thế nói đó là điểm mạnh của các DNV&N để đem ra cạnh
tranh với doanh nghiệp lớn.
Thứ hai, DNV&N tạo điều kiện duy trì cạnh tranh tự do. Đây là loại hình doanh nghiệp có số lượng lớn và kinh doanh những mặt hàng thiết yếu, mặt khác DNV&N
không có sự bảo hộ của nhà nước đã tạo nên sự cạnh tranh công bằng và làm cho nền
kinh tế trở nên nóng và sôi động hơn. Để tồn tại và phát triển các DNV&N thường
chấp nhận rủi ro, tự chủ trong kinh doanh có thể thấy đây là lợi thế cho họ vì các
doanh nghiệp lớn không có được đặc thù như vậy.
Thứ ba, được tạo lập đơn giản, dễ dàng, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định
thấp. Để thành lập một doanh nghiệp hẳn phải nghĩ đến một khoản vốn khá lớn nhưng
với DNV&N thì được tạo lập tương đối đơn giản, vốn đầu tư, quy mô sản xuất thấp
bằng việc huy động từ gia đình, người thân nên việc giảm được chi phí lãi vay, chi phí cố định thấp.
Thứ tư, phát huy được tiềm lực trong nước. Trong quá trình công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước, sự phát triển của DNV&N giai đoạn đầu là cần thiết và là
phương thức tốt nhất để thay thế hàng hóa nhập khẩu, tận dụng các tiềm lực quốc gia.
DNV&N có khả năng chuyên môn hóa sâu sắc, sản xuất những mặt hàng tiêu dùng cần
thiết, tiết kiệm chi phí, chi phí cố định thấp, giá thành phù hợp góp phần ổn định đời
sống kinh tế.
Có thể thấy rằng các DNV&N đã góp phần to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.
- Về nhược điểm:
Một là, nguồn vốn tài chính hạn chế, đặc biệt là nguồn vốn tự cố cũng như bổ
sung để thực hiện quá trình tích tụ, tập trung nhằm duy trì hoặc mở rộng sản xuất kinh
doanh.
Hai là, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ kỹ thuật thường yếu kém, lạc
hậu.Nơi làm việc, nhà xưởng và trụ sở giao dịch, quản lý của đa phần các doanh
nghiệp vừa và nhỏ rất nhỏ hẹp chưa có quy mô.
6
Ba là, trình độ quản lý nói chung và quản trị các mặt theo các chức năng còn hạn chế. Đa số các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trường, về quản trị kinh doanh, họ quản lý bằng kinh nghiệm thực tiễn là chủ yếu.
1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các DNV&N có thể giữ những vai trò ở
mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau:
Thứ nhất, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Các DNV&N thường chiếm
tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp ( Ở Việt Nam chỉ xét các
doanh nghiệp có đăng kí thì tỷ lệ này >95%). Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản
lượng và tạo việc làm là rất đáng kể.
Thứ hai, giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Ở phần lớn các nền kinh tế, các DNV&N là những nhà thầu phụ của các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng
thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế được ổn định. Vì thế, DNV&N được
ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế.
Thứ ba, làm cho nền kinh tế năng động. Vì DNV&N có quy mô nhỏ hẹp nên dễ
điều chỉnh hoạt đông kinh doanh ( xét về mặt lí thuyết).
Thứ tư, tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng. DNV&N
thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một
sản phẩm hoàn chỉnh.
Thứ năm, là trụ cột của nên kinh tế địa phương. Nếu như doanh nghiệp lớn
thường đặt trụ sở tại những trung tâm thành phố lớn, thì DNV&N lại có mặt rải rác
khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng và thu ngân sách, vào sản lượng và tạo việc làm cho người dân địa phương.
Thứ sáu, đóng góp không nhỏ vào GDP của quốc gia.
Do vai trò quan trọng của các DNV&N nên các quốc gia đã khuyến khích loại
hình này phát triển. Các hỗ trợ mang tính thể chế để khuyến khích bao gồm: nhằm tạo
ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, hỗ trợ bồi dưỡng năng lực doanh nghiệp, hỗ
trợ tín dụng và những hỗ trợ khác. Trong nhiều năm tới, DNV&N vẫn là động cơ chạy
chính cho nền kinh tế. . Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế, là khối này cũng chỉ
phát triển mạnh trong những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận khiêm tốn, công nghệ thấp
7
do không có lợi thế về quy mô (tiềm lực tài chính, địa bàn hoạt động, thị phần…) mà thường tập trung vào các vấn đề như lựa chọn mục tiêu kinh doanh phù hợp với khả năng, ổn định, củng cố thị phần đã có hay phát triển thị trường từng bước và có chọn lọc khâu, điểm đột phá thuận lợi nhất. Các DNV&N vẫn phải tự vận động và liên kết để hợp tác kinh doanh mà thiếu vắng vai trò rõ nét của chính sách nhà nước.
1.3 Hiệu quả hoạt động cho vay. 1.3.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động cho vay.
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu cho ngân hàng thương mại, do đó hiệu quả cho vay luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu
của các ngân hàng. Hiện nay ở các vị trí khác nhau thì có những quan điểm khác nhau
về hiệu quả của hoạt động cho vay.
Theo quan điểm của khách hàng, các khoản vay có hiệu quả phải là các khoản có
vốn vay phù hợp với mục đích sử dụng, có lãi suất và kỳ hạn hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thủ tục đơn giản, thuận
tiện nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ các quy tắc cho vay của ngân hàng.
Theo quan điểm sự phát triển vĩ mô của nên kinh tế, hiệu quả cho vay phụ thuộc
vào hoạt động cho vay có phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa hay không, góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo được sự hài hòa giữa hoạt động cho vay với
chính sách của Chính phủ.
Theo quan điểm của ngân hàng thương mại, hiệu quả cho vay thể hiện trên hai
mặt: mức độ an toàn của khoản vay và hiệu quả kinh tế của khoản vay.
- Mức độ an toàn của khoản vay: được thể hiện qua chỉ tiêu khả năng trả nợ của khách hàng. Một khoản vay chứa đựng nhiều nguy cơ không trả được nợ thì
được gọi là khoản vay kém hiệu quả.
- Hiệu quả kinh tế của khoản vay: đó là khả năng sinh lời mà khoản vay mang lại để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng. Thông qua
hoạt động cho vay này các doanh nghiệp nhận tiền vay sẽ được hỗ trợ về vốn
để mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm...đóng góp vào sự phát triển chung
của toàn xã hội.
Nói một cách khái quát, hiệu quả cho vay chính là sự đáp ứng cả về số lượng và
chất lượng đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng và đảm bảo các yếu tố an toàn về
lợi nhuận của ngân hàng. Hoạt động cho vay được coi là hiệu quả khi nó mang lại lợi
ích về kinh tế cho khách hàng, ngân hàng và cho cả xã hội. Tức là vốn đưa vào kinh doanh đủ để trang trải chi phí, trả được gốc và lãi cho ngân hàng, có lợi nhuận đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
1.3.2 Sự cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tập trung đi sâu vào mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng. Mở rộng cho vay song song với việc nâng cao chất lượng tín dụng. Mở rộng cho vay được thể hiện ở hai khía cạnh đó là mở rộng về chất lượng và
8
mở rộng về số lượng:
- Mở rộng về chất lượng: nghĩa là ngân hàng làm tăng chất lượng và hiệu quả của các món vay, mở rộng về chất lượng không phản ánh trực tiếp sự mở rộng
cho vay đối với các DNV&N nhưng nó rất quan trọng để đánh giá sự an toàn và hiệu quả của hoạt động cho vay.
- Mở rộng về số lượng: nghĩa là ngân hàng thực hiện các biện pháp nhằm tăng
các chỉ tiêu phản ánh sự gia tăng quan hệ tín dụng đối với các DNV&N.
Do đó việc tìm cách tối đa hóa lợi nhuận bằng cách mở rộng tín dụng thì phải đi
liền với giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh và buộc các ngân hàng phải nâng cao chất lượng tín dụng và mở rộng tín dụng đối với những đối tượng khách hàng mà
khi cấp tín dụng thì rủi rỏ phải là ít nhất. Trong đó, các DNV&N là những khách tiềm
năng của ngân hàng.
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay DNV&N
Hiệu quả cho vay đối với DNV&N là một khái niệm vừa cụ thể ( thông qua các
chỉ tiêu định lượng để tính toán được báo cáo kết quả kinh doanh) vừa trừu tượng ( thể
hiện ở khả năng thu hút khách hàng, đóng góp vào nền kinh tế). Từ đó, để đánh giá
được hiệu quả cho vay của các NHTM đối với DNV&N, người ta chia làm 2 nhóm chỉ
tiêu: định tính và định lượng.
a. Các chỉ tiêu định tính
Khó có thể đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể cho chỉ tiêu định tính. Do đó, tùy vào mỗi
ngân hàng sẽ xác định tiêu chí cho các chỉ tiêu định tính. Cụ thể là:
- Tuân thủ theo cơ sở pháp lý, nguyên tắc và quy trình tín dụng:
Hoạt động cho vay có hiệu quả phải tuân thủ theo các quy định pháp luật của Nhà
nước: luật tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, các văn bản của NHNN và các văn
bản có liên quan.
Khi tiến hành các hoạt động cho vay phải đảm bảo luôn tuân thủ các quy trình
cho vay, nguyên tắc cho vay vì nó giúp phòng ngừa rủi ro, đánh giá được hiệu quả cho
vay. Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nhất định nhằm đảm bảo tính an
toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các quy định của Ngân hàng Nhà nước và các NHTM. Có thể kể đến ba nguyên tắc cơ bản sau:
Khách hàng cam kết hoàn trả vốn và lãi với thời hạn đã xác định trong hợp
đồng tín dụng với NHTM.
Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích như đã thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng với NHTM.
Ngân hàng chỉ được tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả.
Nếu ngân hàng thực hiện đúng theo quy trình cho vay, thì ngân hàng có thể đánh
9
giá đúng tình hình tài chính của khách hàng, từ đó giúp đưa ra quyết định tài trợ hợp lý, đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro cho ngân hàng.
- Chính sách quản trị điều hành đúng đắn, chiến lược phát triển phù hợp với yêu cầu cạnh tranh, phát triển kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kì
cụ thể.
Chỉ tiêu trên được thể hiện trong chính sách tín dụng của ngân hàng. Chính sách
tín dụng cho ta biết về cương lĩnh tài trợ của ngân hàng, hướng dẫn chung cho cán bộ,
nhân viên ngân hàng nâng cao chuyên môn và tạo sự thống nhất. Chính sách tín dụng
của ngân hàng cũng cho ta biết được chiến lược phát triển tín dụng của ngân hàng. - Mức độ thỏa mãn nhu cầu tài trợ của khách hàng và chi phí cho vay:
Hiệu quả cho vay của khách hàng đối với ngân hàng được cho là tốt khi mà ngân
hàng có khả năng đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng. Để đảm
bảo yêu cầu trên ngân hàng cần có hệ thống đánh giá, dự báo, phân tích nhu cầu của
khách hàng thật chính xác, từ đó nâng cao hiệu quả cho vay. Đồng thời việc đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của khách hàng cũng làm tăng cao uy tín của ngân hàng. - Đóng góp của hoạt động cho vay của ngân hàng vào nền kinh tế xã hội:
Thông qua cho vay đối với các DNV&N thì các ngân hàng đã đóng góp vào sự
phát triển của nền kinh tế xã hội, tăng việc làm, thúc đẩy sản xuất...Tuy nhiên đây là
chỉ tiêu khó có thể đánh giá chính xác.
b. Các chỉ tiêu định lượng
Vì các chỉ tiêu định tính rất khó để xác định được hiệu quả của hoạt động cho vay nên người ta thường sử dụng các chỉ tiêu định lượng để đánh giá hiệu quả cho vay của
ngân hàng. Đây là các chỉ tiêu rất quan trọng đối với các NHTM, thông qua các chỉ
tiêu này ngân hàng có thể xác định một cách tương đối chính xác về hiệu quả cho vay
đối với các DNV&N của ngân hàng. Do đó, việc tính toàn cần đảm bảo sự chính xác
và đầy đủ.
Dưới đây là một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay đối với
DNV&N
- Doanh số cho vay: phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng cho vay trong thời gian nhất định, bao gồm cả vốn đã thu hồi hay chưa thu hồi. Nó được tính bằng cách cộng dồn các khoản vay của từng thời kì. Con số này thể hiện xu hướng cho vay của ngân hàng tăng hay giảm.
- Doanh số thu nợ: phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng thu về khi đáo hạn vào thời điểm nhất định. Nó được xác định bằng cách cộng dồn các khoản nợ ở từng thời kì. Doanh số cho vay lớn thì cần kèm theo doanh số thu nợ cao thì mới đảm bảo được hiệu quả cho vay của ngân hàng. Nếu doanh số thu nợ thấp thể hiện dư nợ quá hạn lớn, khả năng thu hồi vốn và lãi thấp thể
10
hiện hiệu quả cho vay kém.
- Dư nợ: phản ánh số nợ mà ngân hàng cho vay và sẽ thu hồi được trong thời gian nhất định. Là việc so sánh chỉ tiêu doanh số cho vay và doanh số thu hồi
nợ. Nó được tính trên số dư cuối kì của bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Đây là chỉ tiêu mà ngân hàng phải theo dõi thường xuyên để biết được tình hình
sử dụng vốn của ngân hàng. Nếu dư nợ cuối kỳ thấp có xu hướng giảm nó phản
ánh hiệu quả cho vay thấp vì hoạt động cho vay không thu hút khách hàng và
không được mở rộng.
- Doanh số thu nợ/doanh số cho vay: thể hiện sự so sánh giữa số tiền ngân hàng
thu nợ với số tiền ngân hàng cho vay trong khoảng thời gian nhất định.
Doanh số thu nợ
Hệ số thu nợ (%) =
Doanh số cho vay
Tóm lại, khi đánh giá hiệu quả cho vay đối với DNV&N của ngân hàng, cần xem
xét một cách tổng quát các chỉ tiêu định tính và định lượng. Các chỉ tiêu định lượng
cũng cần xem xét trong mối quan hệ mật thiết với nhau chứ không thể xem xét từng
chỉ tiêu. Nếu ngân hàng có hiệu quả cho vay tốt, các chỉ tiêu cũng thể hiện xu hướng
cho vay tốt như: dư nợ tăng qua các năm, doanh số cho vay và khả năng thu hồi nợ tốt,
tỷ nợ quá hạn và nợ thấp ( không có)...Để có các chỉ tiêu trên các quy trình cho vay cũng cần phải được thực hiện chính xác. Và từ hiệu quả cho vay trên, uy tín của ngân
hàng ngày càng được nâng cao, thu hút thêm nhiều khách hàng đến vay vốn.
1.3.4 Các nhân tố ảnh hƣởng tới hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM đối với DNV&N.
Khi nói đến hiệu quả hoạt động cho vay, ngoài quan tâm đến các chỉ tiêu phản
ánh đến hiệu quả, các ngân hàng cũng cần phải quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng tới
hiệu quả cho vay. Nó sẽ cho thấy những tác động tích cực hay tiêu cực đến hiệu quả
cho vay đối với DNV&N. Từ đó, dựa trên thực trạng hiệu quả cho vay, các NHTM sẽ
có những biện pháp nhằm điều chỉnh, hạn chế các tác động tiêu cực, nâng cao những tác động tích cực. Qua đó nâng cao hiệu quả cho vay của NHTM. Có thể xem xét những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM đối với DNV&N sau:
- Nguồn vốn của Ngân hàng:
Một Ngân hàng cũng như một doanh nghiệp, muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có vốn. Hai nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng là vốn tự có và vốn huy động. Ngân hàng thương mại nằm trong hệ thống Ngân hàng chịu sự tác
11
động của chính sách tiền tệ, chịu sự quản lý của Ngân hàng trung ương và tuân thủ các qui định của luật Ngân hàng. Một Ngân hàng chỉ được huy động một số vốn gấp 20
lần số vốn tự có. Điều đó có nghĩa là nếu vốn tự có càng lớn, khả năng được phép huy
động vốn càng cao, và Ngân hàng càng dễ dàng hơn trong việc thực hiện các hoạt
động kinh doanh của mình.
Ta biết Ngân hàng cho vay bằng nguồn vốn huy động của mình. Mà hoạt
động cho vay của Ngân hàng ngày càng được tăng cường, số lượng và chất lượng cho
vay càng lớn khi mà nguồn vốn của Ngân hàng phải lớn mạnh. khi nguồn vốn của
Ngân hàng tăng trưởng đều đặn, hợp lý thì Ngân hàng có thêm nhiều tiền cho khách
hàng vay, điều đó cũng có nghĩa là hoạt động cho vay của Ngân hàng được tăng cường và mở rộng. Còn nếu lượng vốn ít thì không đủ tiền cho khách hàng vay, Ngân hàng sẽ
bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư, lợi nhuận của Ngân hàng sẽ không cao và việc tăng cường
hoạt động cho vay sẽ bị hạn chế. Nhưng nếu vốn quá nhiều, Ngân hàng cho vay ít so
với lượng vốn huy động (hệ số sử dụng vốn thấp) thì sẽ gây ra hiện tượng tồn đọng vốn. Lượng vốn tồn đọng này không sinh lời và lãi suất phải trả cho nó sẽ làm giảm lợi
nhuận của Ngân hàng.
- Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với một
khách hàng, kỳ hạn của khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí, phương thức cho
vay, hướng giải quyết phần khách hàng vay vượt giới hạn, xử lý các khoản vay có vấn
đề...tất cả các yếu tố đó có tác dụng trực tiếp và mạnh mẽ đến việc mở rộng cho vay của Ngân hàng. Nếu như tất cả những yếu tố thuộc chính sách tín dụng đúng đắn, hợp
lý, linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của khách hàng về vốn thì Ngân hàng
đó sẽ thành công trong việc tăng cường hoạt động cho vay, nhưng vẫn đảm bảo được
chất lượng tín dụng. Ngược lại, những yếu tố này bất hợp lý, cứng nhắc, không theo
sát tình hình thực tế sẽ dẫn đến khó khăn trong việc tăng cường hoạt động cho vay của
mình.
Ngân hàng càng đa dạng hoá các mức lãi suất phù hợp với từng loại khách
hàng, từng kỳ hạn cho vay và chính sách khách hàng hấp dẫn thì càng thu hút được
khách hàng, thực tốt mục tiêu mở rộng hoạt động cho vay. Nhưng nếu lãi suất không phù hợp quá cao hay quá thấp, không có lãi suất ưu đãi thì sẽ không thu hút được nhiều khách hàng và như vậy sẽ hạn chế hoạt động cho vay của Ngân hàng.
- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo:
Yếu tố này có vai trò khá quan trọng. Thực tế chứng minh, nhiều Ngân hàng thương mại tuy có được những nguồn lực khan hiếm và giá trị mà đối thủ cạnh tranh không có như trụ sở khang trang đặt ở vùng tập trung nhiều khách hàng, vốn tự có lớn, thu nhận được nhiều cán bộ giỏi. Song do cán bộ điều hành lãnh đạo không sắc sảo,
12
nhạy bén, không nắm bắt, điều chỉnh hoạt động Ngân hàng theo kịp các tín hiệu thông tin, không sử dụng nhân viên đúng sở trường,... dẫn đến lãng phí các nguồn lực Ngân
hàng mình có, giảm hiệu quả chi phí, tất nhiên hạ thấp đi hoạt động cho vay của Ngân
hàng .
Năng lực lãnh đạo của những người điều hành ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng. Nó thể ở các mặt sau:
Khả năng chuyên môn: có được khả năng này, người lãnh đạo sẽ dễ dàng hơn trong công tác quản lý và điều hành, vì kiến thức và kinh nghiện của
nhà lãnh đạo luôn tạo được uy tín tuyệt đối không chỉ với cấp dưới mà nhiều khi đối với cả đối thủ cạnh tranh.
Khả năng phân tích và phán đoán: dự đoán chính xác những thay đổi trong môi trường kinh doanh tương lai từ đó hoạch định chính xác các chiến lược, xác định các chính sách, kế hoạch kinh doanh phù hợp.
Khả năng, nghệ thuật đối nhân xử thế: là khả năng giao tiếp cũng như khả năng tổ chức nhân sự trong mối quan hệ không chỉ đối với nhân viên, đồng
nghiệp, cấp trên, khách hàng. Nó còn gồm những khĩ năng khác về lãnh
đạo, tổ chức phỏng đoán, quyết toán công việc.
- Chất lượng nhân sự và cơ sở vật chất thiết bị:
Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên Ngân hàng
chính là hình ảnh của Ngân hàng. Cho nên những kiến thức, kinh nghiệm, chuyên môn
của mình, nhân viên Ngân hàng có thể làm tăng thêm giá trị dịch vụ. Đa số các ý
tưởng cải tiến hoạt động kinh doanh được đề xuất bởi nhân viên Ngân hàng.
Cơ sở vật chất thiết bị cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngân hàng.
Nếu cơ sở vật chất thiết bị mà lạc hậu thì các công việc của ngân hàng sẽ được xử lý
kém, chậm chạp; các hoạt động của ngân hàng được thực hiện khó khăn. Điều đó làm
cho Ngân hàng tụt hậu, kém phát triển, không thu hút được nhiều khách hàng sẽ làm hạn chế hoạt động cho vay. Ngược lại việc trang bị đầy đủ các thiết bị tiến phù hợp với
phạm vi và quy mô hoạt động, phục vụ kịp thời các nhu cầu khách hàng với chi phí cả
hai bên đều có thể chấp nhận được sẽ giúp Ngân hàng tăng cường khả năng cạnh
tranh, thực hiện tốt mục tiêu tăng cường hoạt động cho vay.
- Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng:
Ngân hàng muốn tồn tại, phát triển thì phải có phương hướng, chiến lược kinh doanh. Chiến lược kinh doanh càng phù hợp thì hoạt động cho vay ngày càng được mở rộng. Trên cơ sở các quyết định, chính sách của cấp trên, thông tin về khách hàng, về đối thủ khách hàng, xác định vị thế của Ngân hàng trên địa bàn hoạt động; Ngân hàng phải xác định nên tăng cường hoạt động cho vay hợp lý, nên chú trọng hơn vào những
hướng nào có hiệu quả, tìm hiểu thêm những lĩnh vực mới tiềm năng giúp mở rộng
13
hoạt cho vay của Ngân hàng.
- Đối thủ cạnh tranh:
Các Ngân hàng thương mại hoạt động trong môi trường có nhiều đối thủ cạnh
tranh. Cạnh tranh là một động lực tốt để Ngân hàng ngày càng hoàn thiện, vì để ngày càng phát triển thì Ngân hàng luôn phải cố gắng không để mình tụt hậu so với đối thủ
cạnh tranh và phải nâng cao, tăng cường các hoạt động của mình vượt đối thủ cạnh
tranh. Tuy nhiên, khách hàng có sự lựa chọn của mình khi gửi tiền, sử dụng dịch vụ và
vay tiền của Ngân hàng nào có lợi cho họ. Nếu như đối thủ cạnh tranh mà chiềm ưu
thế hơn so với Ngân hàng thì sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn Ngân hàng thậm chí khách hàng của Ngân hàng cũng chuyển sang đối thủ cạnh tranh. Do đó để mở rộng
hoạt động cho vay thì việc nghiên cứu tìm hiểu đối thủ cạnh tranh để ngày càng chiếm
ưu thế hơn là vô cùng quan trọng.
- Môi trường chính trị - xã hội:
Môi trường chính trị - xã hội tạo nên sự ổn định trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Nền kinh tế cần có sự ổn định xã hội là nên tảng thu hút các nhà đầu tư, tạo môi
trưởng phát triển hơn cho DNV&N. Sự bất ổn về chính trị tác động đến các khoản vay,
tác động đến những khoản vay thông qua tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh
của các DNV&N, từ đó làm hiệu quả cho vay giảm.
- Hệ thống pháp luật:
Nếu những quy định của pháp luật không rõ ràng, không đồng bộ, có nhiều kẽ hở thì sẽ rất khó khăn cho Ngân hàng trong các hoạt động nói chung và hoạt động cho
vay nói riêng. Với những văn bản pháp luật đầy đủ rõ ràng, đồng bộ sẽ tạo điều kiện
cho Ngân hàng yên tâm hoạt động kinh doanh, cạnh tranh trong lĩnh vực cho vay. Đây
là cơ sở pháp lý để Ngân hàng khiếu lại, tố cáo khi có tranh chấp xảy ra. Điều đó giúp
Ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay .
Sự thay đổi những chủ chương chính sách về Ngân hàng cũng gây ảnh hưởng
đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, chính sách xuất
nhập khẩu một cách đột ngột gây sáo chộn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp không tiêu thụ hết được sản phẩm hay chưa có phương án kinh doanh mới dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi.
Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp còn nhiếu sơ hở. Nhà nước cho phép nhiều doanh nghiệp được sản xuất kinh doanh với nhiều chức năng, nhiệm vụ vượt quá trình độ, năng lực quản lý dẫn đến rủi ro, thua lỗ, làm giảm chất lượng tín dụng.
Do đó hệ thống pháp luật cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngân
14
hàng thương mại.
Ngoài ra, phía DNV&N cũng góp phần vào việc nâng cao hiệu quả cho vay như: - Quy mô vốn và năng lực tài chính của DNV&N:
Các DNV&N thường có quy mô và năng lực tài chính không lớn nên không có quá nhiều khả năng tăng quy mô vốn chủ sở hữu. Cũng do sự hạn hẹp về vốn nên
DNV&N cũng không có sự đầu tư hợp lý, có xu hướng đầu tư vào tài sản cố định nên
thiếu vốn lưu động để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Việc đánh giá khả năng tài
chính đối với doanh nghiệp khi cho vay là quy trình tất yếu. Tuy nhiên, nó sẽ khiến
cho DNV&N có năng lực tài chính yếu kém sẽ khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng. Hay nếu ngân hàng cấp vốn thì sẽ gặp nhiều rủi ro.
Tuy nhiên những doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường giúp các doanh nghiệp
thích nghi với những biến động thì trường hơn là doanh nghiệp lớn. Các DNV&N
thuận lợi hơn trong việc thay đổi hướng sản xuất kinh doanh để phù hợp với nhu cầu thị trường.
Nhìn chung, vốn chủ sở hữu và tiềm lực tài chính của doanh nghiệp đủ lớn sẽ
tạo điều kiện chắc chắn hơn giúp các DNV&N tránh được nguy cơ phá sản do mất khả
năng thanh toán các khoản nợ vay ngân hàng, hạn chế mức thấp nhất tổn thất với ngân
hàng.
- Trình độ quản lý của DNV&N:
Hoạt động quản lý và điều hành là một trong những hoạt động dẫn đến thành công của doanh nghiệp. Khi xem xét cho vay, ngân hàng cũng cần phải xem xét kỹ
lưỡng trình độ quản lý của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, trình độ quản lý của các
DNV&N còn thấp, không được đào tạo bài bản và hệ thống nên luôn tiềm ẩn rủi ro khi
cho các doanh nghiệp vay vốn, làm giảm hiệu quả cho vay của ngân hàng.
- Phương án sản xuất kinh doanh:
Đây luôn là nhân tố đầu tiên mà ngân hàng xem xét khi cho doanh nghiệp vay
vốn. Phương án kinh doanh có khả thi cao thì mới tạo ra được lợi nhuận lớn, ít rủi ro
và khả năng trả nợ của doanh nghiệp được đảm bảo. Khách hàng luôn cần đảm bảo
việc sử dụng vốn vay đúng mục đích. Như vậy, nếu phương án vay vốn của khách hàng là khả thi và khách hàng sử dụng đúng mục đích thì hiệu quả cho vay sẽ được đảm bảo.
- Uy tín của các DNV&N:
Nếu doanh nghiệp đã có quan hệ và uy tín lâu dài với ngân hàng thì ngân hàng
sẽ đảm bảo hơn về việc thu hồi gốc và lãi, đảm bảo chất lượng khoản vay.
Đạo đức, uy tín khách hàng luôn có ảnh hưởng tới độ xác thực trong thông tin cung cấp cho cán bộ thẩm định của ngân hàng, tác động tới quyết định cho vay của
15
ngân hàng từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay của ngân hàng.
Ngoài các yếu tố trên còn rất nhiều yếu tố từ phía DNV&N ảnh hưởng tới hiệu
quả cho vay của ngân hàng như: vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, tính nghiêm
túc của doanh nghiệp trong việc thực hiện các chế độ kế toán hiện hành, tài sản đảm bảo cho vay có tính hợp lý...Nhìn chung, khi đã cấp vốn vay cho doanh nghiệp thì việc
đảm bảo an toàn của khoản vốn đó không chỉ phụ thuộc vào sự giám sát của ngân hàng
16
mà còn phụ thuộc vào chính khách hàng của ngân hàng.
Kết luận chƣơng:
Chương 1 đã cho chúng ta hiểu thêm về hoạt động cho vay với những hình thức
cho vay đa dạng ở các NHTM hiện nay. Ngoài ra còn có những chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả cho vay đối với DNV&N. Có thể nói chương này sẽ là cơ sở, nền tảng để tìm
hiểu sâu hơn về hiệu quả cho vay đối với DNV&N tại Ngân hàng An Bình-chi nhánh
17
Hà Nội.
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH – CHI NHÁNH HÀ NỘI
2.1 Khái quát chung về Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần An Bình
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
a. Vài nét về ngân hàng
Với bề dày kinh nghiệm 20 năm họat động trên thị trường tài chính ngân hàng
Việt Nam, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBANK) được đánh giá là một trong những
ngân hàng có sự phát triển bền vững và ổn định. ABBANK được thành lập vào ngày 13/05/1993, với tên gọi ban đầu là Ngân hàng TMCP nông thôn An Bình. Từ khi được nâng cấp thành ngân hàng quy mô đô thị (giai đoạn 2002 – 2004), ABBANK đã có
những bước tiến khá dài với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng.Giai đoạn 2005 – 2011 là giai đoạn ABBANK có sự bứt phá mạnh mẽ nhất với sự thay đổi cả về chất và lượng.
Định hướng kinh doanh theo quan điểm thận trọng, bởi vậy các chỉ tiêu tài
chính của ABBANK luôn tăng trưởng ổn định, các chỉ tiêu đảm bảo an toàn đều được
giữ vững. Bên cạnh đó, cùng sự sát cánh và hỗ trợ của các cổ đông là các tập đoàn
kinh tế lớn trong và ngoài nước như: Tập đoàn Điện lực Việt Nam – EVN, Công ty cổ
phần xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội – Geleximco, Maybank - ngân hàng lớn nhất
Malaysia, và Tổ chức tài chính quốc tế - IFC(trực thuộc Ngân hàng Thế giới),
ABBANK có nguồn lực tài chính vững mạnh và cơ cấu quản trị theo những thông lệ
quốc tế tốt nhất, và phát triển mạnh mẽ như một ngân hàng bán lẻ đa năng. Với vốn
điều lệ gần 4.800 tỷ đồng và mạng lưới lên tới 144 điểm giao dịch, ABBANK tự tin
phục vụ hơn 400.000 khách hàng cá nhânvà gần 17.000 khách hàng doanh nghiệp
tại 29 tỉnh thành trên toàn quốc. Các nhóm khách hàng mục tiêu hiện nay của
ABBANK bao gồm: nhóm khách hàng doanh nghiệp, nhóm khách hàng cá nhân và
nhóm khách hàng điện lực. Đối với khách hàng doanh nghiệp, ABBANK sẽ cung ứng
các sản phẩm - dịch vụ tài chính ngân hàng trọn gói, đáp ứng nhiều nhu cầu đa dạng
của khách hàng như: tài trợ (nhập khẩu/ xuất khẩu, dự án đầu tư, tài trợ thương mại…); cho vay (bổ sung vốn kinh doanh trả góp, cầm cố hàng hóa…); bảo lãnh; thanh toán quốc tế và các sản phẩm tiền gửi (tài khoản thanh toán, tiền gửi rút vốn linh hoạt, tiền gửi ký quỹ v.v…).
Đặc biệt, ABBANK là một trong những ngân hàng đầu tiên thành lập riêng một Trung tâm dịch vụ khách hàng SME, với chức năng phục vụ chuyên biệt nhóm khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xác định đây chính là phân khúc khách hàng chiến
lược, ABBANK đã xây dựng gói giải pháp tài chính tối ưu cho SME và ra mắtTrung
tâm SME nhằm phục vụ riêng cho nhóm khách hàng này với sự tư vấn và hỗ trợ kinh
18
nghiệm từ cổ đông nước ngoài IFC vào năm 2012. Tại ABBANK, khách hàng SME sẽ
được tư vấn và cung cấp một gói sản phẩm bao gồm toàn bộ các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng từ tiền vay, bảo lãnh, tiền gửi đến các dịch vụ thanh toán quốc tế, quản lý
tiền tệ... Các sản phẩm trong mỗi “gói” sản phẩm được chọn lọc theo loại hình hoạt động của doanh nghiệp (kinh doanh trong nước hay xuất nhập khẩu; doanh nghiệp sản
xuất hay thương mại, dịch vụ; Nhà thầu…), sau đó sẽ được cấu trúc lại để phù hợp với
đặc điểm riêng của mỗi doanh nghiệp (tình hình tài chính, chu kỳ phát triển, phương
thức kinh doanh…) cùng với một mức giá trọn gói hợp lý giúp tối đa hóa hiệu quả tài
chính cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, ABBANK còn tiếp tục tham gia dự án SMEFP III do chính phủ Nhật Bản tài trợ, cũng như thường xuyên triển khai các gói ưu đãi
nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Đối với khách hàng cá nhân, ABBANK tự tin cung cấp tới khách hàng
nhanh chóng và đầy đủ chuỗi sản phẩm tiền gửi an toàn, hiệu quả và các sản phẩm cho vay tiêu dùng linh hoạt ( vay mua nhà, vay sản xuất kinh doanh, vay mua xe; vay
du học…), cùng các dịch vụ đa dạng (chuyển tiền trong và ngoài nước, thanh toán tiền
điện…). Đặc biệt, ABBANK chú trọng phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, phù
hợp với xu thế mới và gia tăng tiện ích cho khách hàng như Online Banking, SMS
Banking, Mobile Banking… Mới đây nhất, ABBANK đã đáp ứng những yêu cầu khắt
khe để được công nhận là thành viên chính thức của Tổ chức thẻ Quốc tế Visa, đánh
dấu bước phát triển lớn của ABBANK về công nghệ và mở rộng hoạt động trên thị trường thẻ.
Đối với nhóm khách hàng thuộc Tập đoàn Điện lực và các đơn vị thành viên,
với lợi thế am hiểu chuyên sâu ngành điện, thấu hiểu khách hàng, ABBANK đã nghiên
cứu và triển khai nhiều sản phẩm tối ưu dành riêng cho khách hàng điện lực: Thu hộ
tiền điện, Quản lý dòng tiền, Thu xếp vốn cho các dự án truyền tải điện, Gói sản phẩm
dành cho Nhà thầu Điện lực…
Với định hướng phát triển trở thành một ngân hàng bán lẻ, định vị sự khác biệt
của ABBANK trên thị trường tài chính là một ngân hàng thân thiện với cộng đồng.
Thái độ phục vụ thân thiện, chuyên nghiệp và tận tâm của đội ngũ nhân viên là tiêu chí và là kim chỉ nam cho hoạt động của ABBANK. Chọn phương châm kinh doanh là “Trao giải pháp – Nhận nụ cười”, ABBANK mong muốn trở thành địa chỉ tin cậy, mang đến những giải pháp tài chính hiệu quả và nhận được nụ cười, sự hài lòng của khách hàng sau mỗi lần giao dịch.
Hiện tại, trải qua 20 năm, ABBANK đã thực sự xây dựng và khẳng định niềm tin vững chắc vào tiềm năng cũng như sự phát triển của mình trên thị trường tài chính Việt Nam. Hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ của ABBANK đã được khẳng
19
định qua kết quả nghiên cứu của Công ty nghiên cứu thị trường Định hướng FTA (Thành viên của Hiệp hội Nghiên cứu Thị trường Mỹ MRA) năm 2011: "100% khách
hàng cá nhân và 90% khách hàng doanh nghiệp hài lòng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ
của ABBANK".
Trụ sở giao dịch của ABBank đặt tại 101 Láng Hạ, Quận Đống Đa, Hà Nội.
b. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Giám đốc
Phó Giám đốc
Phòng
Phòng kế toán
Phòng điện
Phòng quản
Phòng thanh
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức ABBank – CN Hà Nội
toán
hành chính và
và ngân quỹ
lý rủi ro
toán quốc tế
Phòng quan hệ
quản lý nhân sự (Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
khách hàng
Nhiệm vụ của các phòng, ban:
- Giám đốc: Điều hành và chịu trách nhiệm mọi hoạt động của ABBank – CN
Hà Nội trước ABBank hội sở.
- Phó Giám đốc: Giải quyết những vấn đề nảy sinh trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh mà Giám đốc giao. Thay mặt giám đốc giải quyết mọi vấn đề
khi giám đốc đi vắng.
- Phòng hành chính và quản lý nhân sự:
Phỏng vấn tuyển dụng nhân viên và thực hiện hợp đồng lao động theo kế
hoạch ABBank hội sở duyệt hàng năm.
Lập kế hoạch, chương trình đào tạo nhân viên và quan hệ với trung tâm đào
tạo ABBank.
Tổng hợp kế hoạch của từng phòng ban. Soạn thảo các văn bản, thông báo, công văn ,..tiếp nhận và phân công các công văn từ ABBank hội sở, Ngân hàng Nhà nước và các nơi khác gửi đến. Gửi các công văn từ những phòng ban đến cơ quan và lưu trữ văn thư.
- Phòng quản lý rủi ro:
Tham mưu cho Giám đốc chi nhánh về công tác quản lý rủi ro của chi nhánh. Quản lý giám sát thực hiện các danh mục cho vay đầu tư, đảm bảo tuân thủ
20
các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng, dự án, đề nghị cấp tín dụng.
Thực hiện chức năng đánh giá quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt động
ngân hàng theo hướng dẫn của ABBank.
- Phòng thanh toán quốc tế: Thực hiện về nghiệp vụ thanh toán xuất nhập
khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh theo quy định của ABBank.
- Phòng quan hệ khách hàng: chia làm 2 phòng:
Quan hệ khách hàng là doanh nghiệp: là nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là doanh nghiệp để khai thác vốn bằng Việt Nam đồng hoặc ngoại tệ. Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý
các sản phẩm tín dụng.Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán
sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho doanh nghiệp.
Quan hệ khách hàng là cá nhân: là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là cá nhân để khai thác vốn bằng Việt Nam đồng hoặc
ngoại tệ. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng là cá nhân.
- Phòng kế toán và ngân quỹ:
Thực hiện nghiệp vụ quản lý toàn kho quỹ, quản lý tiền mặt theo quy định
của NHNN và ABBank. Ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm các điểm giao
dịch trong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp.
Thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng, các nghiệp vụ và các
công việc liên quan tới công tác tài chính, chi tiêu nội bộ tại chi nhánh.Cung cấp
các nghiệp vụ ngân hàng liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, xử lý hạch
toán các giao dịch. Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên
máy, quản lý tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của nhà nước
và ABBank. Thực hiện nghiệp vụ tư vấn cho khách hàng đế khách hàng sử dụng
sản phẩm của ngân hàng. - Phòng điện toán:
Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống điện toán tại chi nhánh.
Bảo trì, bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống máy
21
tính tại chi nhánh.
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của ABBank – CN Hà Nội
a. Quy trình cho vay đối với doanh nghiệp
Quyết định/
Tiếp cận khách hàng/ lập hồ sơ đề
Thẩm định
phê duyệt tín
dụng
nghị cấp tín dụng
Sơ đồ 2.2. Quy trình cho vay doanh nghiệp của ABBank – CN Hà Nội
Thủ tục và giải
Giám sát, thanh lý tín dụng và quản lý
ngân
nợ có vấn đề
tín dụng
(Nguồn: Phòng quan hệ khách hàng doanh nghiệp – ABBank – CN Hà Nội)
Bƣớc 1. Tiếp cận khách hàng/ lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng Đối tượng thực hiên: chuyên viên quan hệ khách hàng doanh
nghiệp/chuyên viên hỗ trợ khách hàng.
Nội dung thực hiện: chuyên viên quan hệ khách hàng/ chuyên viên hỗ trợ tiếp
nhận hồ sơ, tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng và hướng dẫn khách hàng lập
và cung cấp đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thiết theo quy định.
Bƣớc 2. Thẩm định tín dụng
Đối tượng thực hiện: chuyên viên quan hệ khách hàng /các cấp đựơc giao
nhiệm vụ thẩm định tín dụng.
Nội dung thực hiện:
Sau khi tiếp cận khách hàng và thu thập các thông tin cần thiết, chuyên viên
quan hệ khách hàng tiến hàng thẩm định nội dung sau:
- Tư cách pháp lý, uy tín của khách hàng - Năng lực hoạt động kinh doanh và tài chính của khách hàng - Phương án kinh doanh/dự án đầu tư, mục đích sử dụng vốn vay và khả năng
trả nợ của khách hàng.
- Các nguồn vốn tự có, vốn vay khác tham gia vào dự án của khách hàng. - Tài sản bảo đảm nợ vay. - Các vấn đề rủi ro có thể phát sinh và biện pháp quản lý.
Buớc 3. Quyết định/phê duyệt tín dụng
Các cấp phê duyệt thực hiện xem xét, phê duyệt cấp tín dụng trong thẩm quyền phề duyệt được Tổng Giám Đốc/ Hội đồng quản trị ABBank uỷ quyền từng thời
22
kì.
Trường hợp từ chối cấp tín dụng, chuyên viên quan hệ khách hàng lập thông
báo từ chối cấp tín dụng gửi khách hàng.
Các hồ sơ tín dụng phải trình Hội đồng quản trị: thực hiện theo quy trình phê duyệt các khoản cấp tín dụng trên 10% vốn điều lệ và các đối tượng hạn chế theo quy
định của luật của tổ chức tín dụng.
Bƣớc 4. Thủ tục và giải ngân
Đối tượng thực hiện: chuyên viên quản lý tín dụng, chuyên viên quan hệ
khách hàng có trách nhiệm hỗ trỡ trong việc hoàn thành hồ sơ tín dụng theo đúng phê duyệt cấp tín dụng và các quyệt định của ABBank.
Nội dung thực hiện: - Thực hiện theo quy trình giải ngân của ABBank quyết định trong từng thời
kì.
- Trường hợp từ chối: sẽ lập thông báo từ chối cấp tín dụng gửi đến khách
hàng.
Bƣớc 5. Giám sát, thanh lý tín dụng và quản lý nợ có vấn đề
Sau khi giải ngân, chuyên viên quan hệ khách hàng phải thường xuyên theo
dõi khoản cấp tín dụng, kiểm tra tình hình sử dụng vốn, đôn đốc, nhắc nợ khách hàng,
yêu cầu khách hàng thực hiện các điều kiện giải ngân theo phê duyệt.
Định kì thực hiện đánh giá khoản cấp tín dụng, kịp thời phát hiện các dấu hiệu
có thể dẫn đến rủi ro trong việc trả nợ của khách hàng để có biện pháp xử lý kịp thời.
Chuyên viên quản lý tín dụng phối hợp với chuyên viên quan hệ khách hàng
trong việc theo dõi thực hiện các điều kiện phê duyệt, bổ sung chứng từ/hồ sơ, thông
báo nhắc nợ khách hàng.
Chuyên viên giám sát tín dụng thực hiện giám sát tín dụng theo quyết định của
ABBank.
b. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng ABBank – CN Hà Nội chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ và mục tiêu
23
chính là lợi nhuận. Một ngân hàng có thể tồn tại và phát triển thì phải có lợi nhuận. Để gia tăng lợi nhuận ngân hàng phải quản lý tốt các khoản mục tài sản đó, thường xuyên đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm đồng thời cũng cần phải tiết kiệm chi phí. Khi lợi nhuận tăng, ngân hàng có điều kiện trích dự phòng rủi ro và bổ sung vào nguồn vốn tự có của mình. Vì vậy dưới sự lãnh đạo của ban giám đốc và sự phối hợp giữa các phòng ban ngân hàng đã có thành quả đáng khích lệ. Sau đây là bảng kết quả hoạt động kinh doanh của ABBank tại chi nhánh Hà Nội:
Bảng 2.1. Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng
ĐVT: tỷ đồng
2011/2010
2012/2011
Chỉ tiêu
2010
2011
2012
Số tiền %
Số tiền %
8.742
62.969
165.994 54.227
620 103.025 164
1.Tổng thu nhập
-Thu từ tín dụng
8.352
59.302
160.444 50.950
610 101.142 171
-Thu ngoài tín dụng
390
3.667
5.550
3.277
840
1883
51
2.748
19.448
128.061 16.700
607 108.613 558
2.Tổng chi phí
-Chi từ tín dụng
2.048
17.746
124.243 15.698
766 106.497 600
-Chi ngoài tín dụng
700
1.702
3.818
1.002
143
2.116 124
1.146
4.953
12.210
3.807
332
7.257 147
3.Lợi nhuận sau thuế
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Qua bảng trên ta thấy thu nhập của ngân hàng qua các năm đều đạt tốc độ tăng
trưởng cao. Năm 2010 tổng thu nhập là 8.742 tỷ đồng trong đó thu từ tín dụng đạt mức
8.352 tỷ đồng chiếm 96% tổng thu nhập còn lại là thu ngoài tín dụng đạt mức 390 tỷ
đồng chiếm 4% tổng thu nhập. Ta thấy rằng trong năm 2010 hoạt động thu từ tín dụng
đạt mức tăng cao hơn so với thu ngoài tín dụng 7.962 tỷ đồng. Nhưng đến năm 2011
ngân hàng đạt tốc độ tăng trưởng khá cao với tổng thu nhập là 62.969 tỷ đồng tăng
54.227 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 620% so với năm 2010. Trong đó thu từ hoạt
động tín dụng đạt 59.302 tỷ đồng chiếm 94% tổng thu nhập, tăng 50.950 tỷ đồng
tương đương với tỷ lệ là 610% so với năm 2010. Mặt khác năm 2010 là năm tăng
trưởng cao của Việt Nam khi gia nhập WTO vào năm 2007, cùng với sự tăng trưởng
của nên kinh tế thì nhu cầu tín dụng cũng được đẩy cao. Nhu cầu vay vốn để mở rộng
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không ngừng tăng lên, các doanh nghiệp
tăng cường mở rộng đầu tư làm cho nhu cầu tín dụng ngày càng cao từ đó hoạt động
tín dụng của ngân hàng cũng tăng đáng kể. Năm 2012 tốc độ tăng trưởng của ngân
hàng giảm so với năm 2011: tương đương với tỷ lệ là 164% nhưng tổng thu nhập lại
tăng lên đáng kể đạt mức 165.994 tỷ đồng tăng 103.025 triệu đồng so với năm 2011. Cùng với hoạt động tín dụng thì hoạt động ngoài tín dụng cũng khá nổi bật. Năm 2011 thu nhập ngoài tín dụng đạt mức 3.667 tỷ đồng chiếm 5,8% tổng thu nhập, tăng 3.277 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 840% so với năm 2010. Nhưng đến năm 2012 thu ngoài tín dụng đạt mức 5.550 tỷ đồng chiếm 3,3% tổng thu nhập, tăng 1883 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 51% so với năm 2011. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng
này là vì: ngân hàng bắt đầu tập trung vào các hoạt động ngoài tín dụng như mở rộng
nhiều sản phẩm dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng sau khi mục tiêu tăng
24
trưởng về hoạt động tín dụng khá cao.
Bên cạnh việc tốc độ tăng trưởng cao về thu nhập thì tổng chi phí qua các năm
của ngân hàng đều tăng cao. Cụ thể như sau: Năm 2010 tổng chi phí ở mức 2.748 tỷ
đồng trong đó chi từ tín dụng đạt mức 2.048 tỷ đồng chiếm 74,5% tổng chi phí, còn lại là chi ngoài tín dụng đạt mức 700 tỷ đồng chiếm 25,5% tổng chi phí. Sang năm 2011
tổng chi phí tăng khá cao đạt mức 19.448 tỷ đồng tăng 16.700 tỷ đồng và chiếm tỷ
trọng là 607% so với năm 2010. Trong đó chi từ tín dụng đạt mức 17.746 tỷ đồng
chiếm 91,2% tổng chi phí, còn lại là chi ngoài tín dụng đạt mức 1.702 tỷ đồng chiếm
8,8% tổng chi phí. Tổng chi phí năm 2012 tăng mạnh đạt mức 128.061 tỷ đồng tăng 108.613 tỷ đồng và chiếm tỷ trọng là 558% so với năm 2011, trong đó chi từ tín dụng
đạt mức 124.243 tỷ đồng chiếm 97% tổng chi phí, còn lại là chi ngoài tín dụng đạt
mức 3.818 tỷ đồng chiếm 3% tổng chi phí. Do đâu có sự tăng trưởng mạnh về chi phí
như vậy là vì thu nhập từ hoạt động tín dụng là chủ yếu nên các chi phí cho hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của ngân hàng. Lý giải của việc chi phí
tăng cao như vậy là do mục tiêu tăng thu nhập của ngân hàng cao. Mặt khác năm 2012,
thị trường Việt Nam xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh do vậy ngân hàng phải đưa ra
nhiều hình thức cạnh tranh nên ngân hàng đã tăng lãi suất huy động để thu hút vốn của
những người có khoản vốn nhàn rỗi. Bên cạnh đó ngân hàng cũng đầu tư vào cơ sở vật
chất như: xây dựng trang thiết bị hiện đại, cây ATM...và đa đạng hóa các sản phẩm,
dịch vụ như: home-banking, phone-banking, kinh doanh vàng, ngoại tệ, dịch vụ thanh toán bảo lãnh...Đặc biệt năm 2011 ngân hàng dự định mở thêm phòng giao dịch ở
Quận Đống Đa và Quận Hoàng Mai.
Về tình hình lợi nhuận sau thuế của ngân hàng cũng tăng đều qua các năm: Năm
2010 do biến động của nền kinh tế nên lợi nhuận chỉ ở mức 1.146 tỷ đồng. Nhưng đến
năm 2011 lợi nhuận của ngân hàng đã tăng lên 3.807 tỷ đồng và chiếm tỷ trọng là
332% đạt mức là 4.953 tỷ đồng. Năm 2012 lợi nhuận ngân hàng tăng lên đáng kể đạt
mức 12.210 tỷ đồng tăng 7.257 tỷ đồng và chiếm tỷ trọng là 147% so với năm 2011.
Mặc dù tổng thu nhập năm 2012 tăng khá cao nhưng Ngân hàng cũng đã bỏ ra một
khoản chi phí lớn nên lợi nhuận sau thuế thu về không được cao. Ngân hàng cần có những biện pháp, chính sách phù hợp nhằm giảm bớt chi phí trong hoạt động tín dụng của mình.
25
Nhìn chung, xu hướng phát triển của ngân hàng khá ổn định, đặc biệt năm 2012 có sự biến động kinh tế nên có ảnh hưởng tới lợi nhuận sau thuế của ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng cũng đã đứng vững được trong thời kì đầy biến động như vậy. Đây có thể coi là bước khởi đầu thành công và là cơ sở cho việc xác định mục tiêu kinh doanh tiếp theo của ngân hàng trong thời gian tới.
2.1.3 Tình hình huy động vốn của ngân hàng trong giai đoạn 2010-2012
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng đối với bất kỳ
ngân hàng nào. Cho vay được coi là hoạt động sinh lời, do đó các ngân hàng luôn tìm mọi cách để huy động khối lượng tiền lớn từ ngoài xã hội. Do chi nhánh ABBank Hà
Nội có vị trí kinh doanh ở nơi gần 100 tổ chức tín dụng trong và ngoài nước hoạt động
nên chịu được sự cạnh tranh khốc liệt, mặt khác khi đi vào hoạt động cũng gặp khó
khăn về tổng nguồn vốn, tài sản còn ít, cán bộ còn nhiều thiếu sót, khách hàng ít.
Nhưng chỉ sau vài năm hoạt động ngân hàng đã có biện pháp và phương hướng hợp lý để huy động vốn từ các thành phần kinh tế. Quy mô của lượng vốn huy động được thể
hiện như sau:
Bảng 2.2. Tình hình huy động vốn của ngân hàng trong giai đoạn 2010-2012
ĐVT: tỷ đồng
2011/2010 2012/2011
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Số tiền % Số tiền %
Tổng huy động vốn 25.952 26.591 33.238 639 2 6.647 25
1.Từ tổ chức kinh tế 16.322 17.724 21.623 1.402 9 3.899 22
2.Khu vực dân cư 9.630 8.867 11.615 (763) (8) 2.748 31
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Nhìn chung việc huy động vốn của ABBank – Cn Hà Nội vẫn giữ vững được
mức tăng trưởng. Vào năm 2010, nền kinh tế có nhiều biến động và gặp khó khăn
nhưng việc huy động vốn vẫn được đẩy cao đạt 25.952 tỷ đồng, trong đó huy động từ
tổ chức kinh tế là 16.322 tỷ đồng chiếm 62,9% tổng huy động vốn, còn lại là khu vưc
dân cư là 9.630 tỷ đồng chiếm 37,1% tổng huy động vốn. Có được kết quả này là nhờ
ABBank – Cn Hà Nội đã có được sự tin tưởng và ủng hộ của tất cả các khách hàng và
đối tác trong nước. Sang năm 2011, ABBank – CN Hà Nội đã từng bước ổn định và
tiếp tục phát triển nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và khu vực dân cư nên
tổng nguồn vốn huy động là 26.591 tỷ đồng tăng 639 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 2% so với năm 2010. Trong đó, huy động từ tổ chức kinh tế là 17.724 tỷ đồng chiếm 66,6% tồng huy động vốn và tăng 1.402 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 9% . Có được thành quả này là nhờ những nỗ lực không ngừng tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng. Trong năm qua, ABBank đã xây dựng nhiều chương trình và sản phẩm huy động như sau: tiền gửi lĩnh lãi trả trước, chứng chỉ tiền gửi, hợp đồng dịch vụ thu hộ...đã góp phần củng cố mối quan hệ với khách hàng của ABBank – CN Hà Nội, từ đó việc huy động vốn cũng được đẩy cao. Còn lại là huy động từ khu vực dân cư là 8.867 tỷ
26
đồng chiếm 33,4% tổng huy động vốn nhưng lại giảm 763 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 8% so với năm 2010. Năm 2011 này ngân hàng phải đối mặt với diễn biến thị
trường khá phức tạp sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại làm cho
việc huy động vốn cũng trở nên khó khăn hơn vì vậy mà việc huy động vốn từ khu vực
dân cư của ngân hàng có sự sụt giảm như vậy. Năm 2012 là năm mà ngân hàng phải đối mặt với nhiều áp lực như: sức ép của lãi suất, tỷ giá, lạm phát trong nước và quốc
tế...Các chính sách thắt chặt tiền tệ để kiểm soát lạm phát và nâng cao tiêu chuẩn hoạt
đông do vậy việc huy động của ngân hàng cũng gặp không ít thử thách. Trong bối
cảnh đó ABBank – CN Hà Nội đã luôn có những chính sách phù hợp, bám sát thị
trường, đảm bảo tính cạnh tranh do vậy và việc huy động vốn trong năm 2012 được đánh giá rất là tốt so với những năm trước đấy. Thêm vào đó có ngân hàng đã nhận
được sự giúp đỡ từ phía ngân hàng Maybank của Malaysia làm cho tổng nguồn vốn
huy động năm này cao hơn các năm trước đó. Cụ thể là: tổng huy động vốn 33.238 tỷ
đồng tăng 6.647 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 25% so với năm 2011. Trong đó, huy động từ khu vực dân cư là 11.615 tỷ đồng chiếm 35% tổng huy động vốn và tăng
2.748 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 31% so năm 2011. Còn lại là huy động từ tổ
chức kinh tế đạt mức 21.623 tỷ đồng chiếm 65% tổng vốn huy động và tăng 3.899 tỷ
đồng tương đương với tỷ lệ là 22% so với năm 2011. Có sự tăng lên như vậy cũng là
nhờ ABBank – CN Hà Nội luôn luôn duy trì các mối quan hệ tốt với các đối tác trong
nước và ngoài nước, luôn có những chế độ hậu mãi phù hợp với nhu cầu của từng
khách hàng. Với việc thực hiện các chính sách hợp lý, mở thêm các dịch vụ sản phẩm mới đã đem lại cho ABBank – CN Hà Nội nói riêng và ABBank nói chung cơ hội
tăng thêm sự nhận biết thương hiệu của ABBank trong nơi trên cả nước.
2.1.4 Tình hình cho vay chung của ABBank – CN Hà Nội
a. Tình hình cho vay chung
Bảng 2.3. Tình hình cho vay doanh nghiệp của ngân hàng.
ĐVT: tỷ đồng
2011/2010 2012/2011 Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Số tiền % Số tiền %
23.081 24.587 31.960 1.506 7 7.373 30 Doanh số cho vay
3.062 3.462 6.321 400 13 2.859 83 Doanh số thu nợ
20.019 21.125 25.639 1.106 6 4.514 21 Dƣ nợ
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy sự phát triển của tín dụng doanh nghiệp ở ngân hàng trong những năm qua tương đối tốt. Doanh số cho vay liên tục tăng qua các năm với tốc độ tăng trưởng cao. Cụ thể là: Năm 2010 doanh số cho vay đạt mức
27
23.081 tỷ đồng. Đến năm 2011, ngân hàng đã từng bước khẳng định mình và dần dần có nhiều cơ hội trong việc cho vay doanh nghiệp nên năm này doanh số cho vay đạt
mức 24.587 tỷ đồng tăng 1.506 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 7% so với năm 2010.
Năm 2012 thì tốc độ cho vay tăng khá nhẹ đạt mức 31.960 tỷ đồng tăng 7.373 tỷ đồng
tương đương với tỷ lệ là 30% so với năm 2011. Ngoài ra, ngân hàng còn liên kết với Maybanking – Ngân hàng lớn nhất Malaysia và Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp Hà
Nội nên ngân hàng đã có những khoản đầu tư vào việc cho vay. Có thể nói năm 2012
là năm đầy thách thức đối với hoạt động cho vay của ngành ngân hàng. Sự suy giảm
của nền kinh tế trong nước và thế giới đã làm giảm khả năng hấp thụ vốn của doanh
nghiệp. Do vậy ABBank không ngừng nghiên cứu và triển khai các giải pháp tài chính nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng theo biến động của thị trường. Đối với
các DNV&N, ngân hàng đã thực hiện chiến lược phân khúc khách hàng với nhiều gói
dịch vụ khác nhau để hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được hơn với nguồn vốn của
ngân hàng. Vì vậy trong năm 2012 vừa qua ngân hàng đã hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn nên doanh số cho vay năm này cũng tăng hơn các năm
trước (2010 và 2011). Đối với công tác thu nợ, tuy chưa phù hợp với doanh số cho vay
nhưng đối với một chi nhánh như vậy thì kết quả đó cũng rất khả quan. Qua số liệu
trên thì doanh số thu nợ năm 2010 là 3.062 tỷ đồng. Năm 2011 doanh số thu nợ tăng
lên là 3.462 tỷ đồng tăng 400 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 13% so với năm 2010.
Lý giải cho việc tăng trên là do doanh số cho vay tăng và công tác thu nợ của ngân
hàng cũng đạt hiệu quả, những khoản nợ của năm trước cũng đã được thu hồi được. Đến năm 2012, có nhiều chuyển biến trong nền kinh tế mà do đó doanh số thu nợ cũng
tăng đạt mức 6.321 tỷ đồng tăng 2.859 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 83% so với
năm 2011. Về phần dư nợ của ngân hàng cũng tăng qua các năm, điều này cho thấy
khả năng mở rộng phạm vi hoạt động của ngân hàng đang tiến triển rất tốt, chiếm được
thị phần khách hàng cho mình. Ta có thể thấy: Năm 2010 dư nợ là 20.019 tỷ đồng. Do
những khoản nợ của năm trước (2009) đến nay đã thu hồi được nên phần dư nợ của
ngân hàng cũng là kết quả khả quan và là tiền đề cho những năm tiếp theo. Năm 2011
dư nợ đạt mức 21.125 tỷ đồng tăng 1.106 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 6% so với
năm 2010. Năm 2012 dư nợ đạt mức 25.639 tỷ đồng tăng 4.514 ty đồng tương đương với tỷ lệ là 21% so với năm 2011. Tiếp tục với định hướng phát triển tín dụng trên nguyên tắc đảm bảo tính cạnh tranh, an toàn và hiệu quả, ngân hàng đã tập trung vào tái câu trúc tín dụng, rà soát lại danh mục sản phẩm. Do đó đến cuối năm 2012, danh mục tín dụng của ngân hàng cũng đã được cải thiện, loại bỏ những khoản vay không hiệu quả, thu hồi được vốn vay, một số khoản nợ điều chỉnh lại đề phù hợp với biến động thị trường. Vì vậy mà phần dư nợ cũng được cải thiện đáng kể qua các năm.
Ta có thể thấy DSCV của ngân hàng tăng qua các năm, nhất là vào năm 2012
28
DSCV được đẩy mạnh do sự biển chuyển có nền kinh tế và có sự hỗ trợ của ngân hàng để giúp các doanh nghiệp vượt qua được tình hình khó khăn của thị trường từ đó các
DNV&N đi vay vốn nhiều để mở rộng quy mô sản xuất nhằm phát triển nền kinh tế,
ổn định đời sống xã hội. Cùng với đó là công tác thu nợ cũng được thực hiện tốt, cộng
với những khoản nợ tồn của các thời điểm trước khách hàng đã thanh toán hết làm cho DSTN tăng qua các năm.Về phần dư nợ cũng tăng qua các năm, đáng chú ý là vào thời
điểm năm 2012
b. Doanh số cho vay của ngân hàng
- Cho vay theo thời hạn:
Bảng 2.4. Tình hình cho vay theo thời hạn
ĐVT: tỷ đồng
2011/2010 2012/2011 Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Số tiền % Số tiền %
Doanh số cho vay 23.081 24.587 31.960 1.506 7 7.373 30
1.Ngắn hạn 12.570 13.784 20.530 1.214 10 6.746 50
2.Trung và dài hạn 10.511 10.803 11.430 292 3 627 6
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Qua số liệu ở bảng trên ta thấy doanh số cho vay (DSCV) của ngân hàng đề tăng
trưởng đều qua các năm. Cụ thể như sau: Năm 2010 DSCV ở mức 23.081 tỷ đồng .
Đến năm 2011 DSCV đã tăng đạt mức 24.587 tỷ đồng tăng 1.506 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 7% so với năm 2010. Là do ngân hàng đẩy mạnh công tác cho vay
với nhiều chính sách ưu đãi và nhiều hình thức cho vay để thu hút khách hàng. Năm
2012 DSCV tăng lên 7.373 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 30% đạt mức là 31.960 tỷ
đồng so với năm 2011. Năm này ngân hàng có nhiều chính sách ưu đãi cho các doanh
nghiệp vay nhiều hơn để mở rộng sản xuất kinh doanh chủ yếu vào các lĩnh vực sản
xuất, đầu tư, xuất nhập khẩu...tạo cơ hội cho các doanh nghiệp và tạo nên một nền kinh
tế sôi động. Cộng thêm với sự hỗ trợ của Maybanking – Ngân hàng lớn nhất Malaysia
nên việc đầu tư cho vay cũng được đẩy mạnh.
Năm 2011 và 2012 sự chênh lệnh về doanh số cho vay theo thời hạn tín dụng
không lớn lắm. Ta có thể thấy:
- Về ngắn hạn: Năm 2011 là 13.784 tỷ đồng chiếm 56% doanh số cho vay và tăng 1.214 tỷ đồng so với năm 2010. Sang đến năm 2012 xu hướng tập trung cho ngắn hạn tăng mạnh làm cho con số này tăng đáng kể đạt mức 20.530 tỷ đồng chiếm 64,2% doanh số cho vay, tăng 6.746 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 50% so với năm 2011.
29
- Về trung và dài hạn: Năm 2011 là 10.511 tỷ đồng chiếm 45,5% doanh số cho vay, tăng 292 tỷ đồng và chiếm tỷ trọng là 3% so với năm 2010. Năm 2012 khoản cho vay trung và dài hạn tăng nhẹ ở mức 11.430 tỷ đồng nhưng chỉ
chiếm 35,7% doanh số cho vay, có tăng hơn năm 2011 là 627 tỷ đồng tương
đương với tỷ lệ là 6%.
Nguyên nhân có sự chênh lệch này là vì biến động lãi suất trên thị trường, chính sách của Ngân hàng Nhà nước nên cả khách hàng lẫn ngân hàng đều tập trung vào tín
dụng ngắn hạn để hạn chế rủi ro và để dễ thay đổi chiến lược kinh doanh trong thời
gian thay đổi chính sách lãi suất. Mặt khác các doanh nghiệp đi vay chủ yếu là vay bổ
sung vốn, mua dây chuyền sản xuất nên thường vay với hình thức ngắn hạn dẫn đến có
sự chênh lệch giữa cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn là như vậy.
- Cho vay theo đối tượng khách hàng
Bảng 2.5. Tình hình cho vay theo đối tượng khách hàng
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 % 2011 % 2012 %
1. Khách hàng cá nhân 10.481 45,4 11.027 44,8 13596 42,5
2. KH doanh nghiệp 12.600 54,6 13.560 55,2 18.364 57,5
Tổng doanh số cho vay 23.081 100,00 24.587 100,00 31.960 100,00
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Nhìn chung DSCV của từng đối tượng kinh tế qua các năm đều biến động theo
chiều hướng đi lên. Năm 2010, ngân hàng chưa cho vay nhiều đối với khách hàng cá
nhân ở mức là 10.481 tỷ đồng chiếm 45,4% tổng doanh số cho vay, đối với khách
hàng là doanh nghiệp ở mức 12.600 tỷ đồng chiếm 54,6% tổng DSCV. Ta có thế thấy
rằng trong thời gian này hoạt động ngân hàng tập trung cho vay đối với loại hình
khách hàng là cá nhân, bởi vì loại hình này vay vốn ít, thời gian ngắn nên hạn chế và
phân tán được rủi ro. Đối với loại hình khách hàng là doanh nghiệp đặc biệt là
DNV&N thì ngân hàng hạn chế cho vay bởi vì loại hình này khá phức tạp. Đến năm
2011 giá trị cho vay ở các đối tượng kinh tế có sự thay đổi rõ rệt: đối với khách hàng
là cá nhân cho vay ở mức 11.027 tỷ đồng chiếm 44,8% tổng DSCV và tăng 546 tỷ đồng so với năm 2010, còn lại là khách hàng là doanh nghiệp ở mức 13.560 tỷ đồng chiếm 55,2% tồng DSCV và tăng 960 tỷ đồng so với năm 2010. Năm 2012, DSCV tập trung nhiều ở loại hình khách hàng là doanh nghiệp đạt mức 18.364 tỷ đồng chiếm 57,5% tổng DSCV và tăng 4.804 tỷ đồng so với năm 2010, tiếp theo là loại hình khách
hàng cá nhân đạt mức 13.596 tỷ đồng chiếm 42,5% tổng DSCV và tăng 2.569 tỷ đồng so với năm 2011. Có thể nói trong năm 2011 và năm 2012 DSCV tập trung chủ yếu vào loại hình khách hàng doanh nghiệp đặc biệt là DNV&N, sau đó là loại hình khách hàng cá nhân.
Năm 2012, nhờ có sự hỗ trợ của ngân hàng có những chính sách, ưu đãi lãi suất
30
phù hợp với biến động thị trường nên nguồn vốn các doanh nghiệp cần để sản xuất
kinh doanh tương đối lớn nên làm cho nhu cầu về vốn của thành phần kinh tế này tăng
mạnh. Tại sao ngân hàng lại tập trung cho vay đối với loại hình doanh nghiệp là vì khả
năng thu hồi vốn cao và nhanh hơn. Mặt khác cơ sở hạ tầng cũng như trình độ năng lực kinh doanh của loại hình hình tốt hơn so với các loại hình khác. DSCV đối với loại
hình khách hàng doanh nghiệp cũng tăng qua các năm là do sự khuyến khích từ chính
sách của nhà nước làm cho số lượng khách hàng cũng tăng, tuy nhiên đây chỉ là loại
hình kinh tế nhỏ nên cũng chưa chiếm được tỷ trọng cao trong thành phần kinh tế.
c. Tình hình thu nợ của ngân hàng
Thu nợ là công tác thực hiện song song với việc cho vay và không kém phần
quan trọng. Đối với NHTM nói chung và ABBank – CN Hà Nội nói riêng thì yếu tố để
cho một ngân hàng tồn tại được đó là lợi nhuận từ việc kinh doanh và cho vay doanh
nghiệp. Do đó để đảm bảo công tác thu hồi nợ một cách nhanh chóng, có hiệu quả và hạn chế những khoản nợ xấu, nợ khó đòi, nợ có khả năng mất vồn...thì việc thu hồi nợ
luôn được quan tâm hàng đầu.
Doanh số thu nợ phản ánh khả năng đánh giá khách quan của cán bộ tín dụng
đồng thời phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Qua đó ta cùng tìm
hiểu kết quả thu nợ trong 3 năm sau:
- Thu nợ theo thời hạn của ngân hàng
Bảng 2.6. Tình hình thu nợ của ngân hàng theo thời hạn ĐVT: tỷ đồng
2011/2010 2012/2011 Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Số tiền % Số tiền %
Doanh số thu nợ 3.062 3.462 6.321 400 13 2.859 83
1.Ngắn hạn 895 1.096 2.908 201 22 1.812 165
2.Trung và dài hạn 2.167 2.366 3.413 199 9 1.047 44
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Qua bảng số liệu này ta thấy tình hình thu nợ của ngân hàng đều tăng qua các năm. Năm 2010, doanh số thu nợ (DSTN) của trung và dài hạn là 2.167 tỷ đồng cao hơn so với ngắn hạn là 1.272 tỷ đồng. Nguyên nhân là do các khoản nợ trung và dài hạn của năm trước(2009) đã đến hạn trả và khách hàng đã thanh toán nên có phần chênh lệch như vậy. Sang đến năm 2011 các khoản thu nợ ngắn hạn có chiều hướng đi lên đạt mức 1.096 tỷ đồng chiếm 31,6% doanh số thu nợ, tăng 201 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 22% so với năm 2010. Về trung và dài hạn là 2.366 tỷ đồng chiếm 68,4% doanh số thu nợ, tăng 199 tỷ đồng và chiếm tỷ trọng là 9% so với năm 2010. Lý
31
giải cho tình hình này là các khoản cho vay trung và dài hạn đa số chưa đến hạn thu nợ nên giá trị thu hồi thấp hơn so với khoản cho vay ngắn hạn. Và cũng là do DSCV ngắn
hạn cao hơn dẫn đến DSTN của các thời hạn cũng cao hơn. Năm 2012, DSTN về
ngắn hạn ở mức 2.908 tỷ đồng chiếm 46% doanh số thu nợ, tăng 1.812 tỷ đồng tương
đương với tỷ lệ là 165% so với năm 2011. Về trung và dài hạn ở mức 3.413 tỷ đồng chiếm 54% doanh số thu nợ, tăng 1.047 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 44% so với
năm 2011. Trong 2 năm 2011 và 2012 đã có những thay đổi giữa khoản thu nợ ngắn
hạn và trung, dài hạn là do năm 2012 các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực dài hạn
gặp khó khăn hơn các doanh nghiệp đầu tư ngắn hạn cho nên việc thu hồi nợ cũng trở
nên khó khăn hơn. Cũng như DSCV thì DSTN cũng tập trung các lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, đầu tư nên những lĩnh vực trên là khách hàng mục tiêu của ngân.
- Thu nợ của ngân hàng theo đối tượng khách hàng
Bảng 2.7. Tình hình thu nợ của ngân hàng theo đối tượng khách hàng
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 % 2011 % 2012 %
1.Khách hàng cá nhân 663 21,7 2.003 57,9 1.943 30,7
2.KH doanh nghiệp 2.399 78,3 1.459 42,1 4.378 69,3
Tổng doanh số thu nợ 3.062 100,00 3.462 100,00 6.321 100,00
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Nhìn vào số liệu ở bảng trên ta thấy: Năm 2010, DSTN của ngân hàng tập trung
vào loại hình khách hàng doanh nghiệp, chú ý ở đây là thu nợ đối với khách hàng
doanh nghiệp ở mức 2.399 tỷ đồng chiếm 78,3% tổng DSTN nguyên nhân là vì DSCV
ở loại hình năm 2010 là cao nên công tác thu nợ cũng được đẩy cao. Còn lại là khách
hàng cá nhân ở mức 663 tỷ đồng chiếm 21,7% tổng DSTN. Năm 2011, DSTN của
ngân hàng lại tập trung vào khách hàng cá nhân ở mức 2.003 tỷ đồng chiếm 57,9%
tổng DSTN, có thể nói loại hình này đạt tỷ trong cao nhất trong các loại hình thuộc
thành phần kinh tế. DSTN đối với loại hình khách hàng doanh nghiệp ở mức 1.459 tỷ
đồng chiếm 42,1%,. Qua đó ta thấy rằng tình hình thu nợ đối với khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp rất hiệu quả. Nguyên nhân là do DSCV đối với hai loại hình này khá cao và hoạt động kinh doanh của các khách hàng cá nhân đạt nhiều hiệu quả cho nên việc trả nợ đúng thời hạn là điều tất yếu còn đối với khách hàng doanh nghiệp họ phải đối mặt với liên tục biến động thị trường như tỷ lệ lạm phát tăng cao, tỷ
giá, lãi suất ngân hàng...làm cho việc trả nợ cũng như công tác thu hồi nợ của ngân hàng gặp khó khăn hơn. Đối với năm 2012, tình hình thu nợ của khách hàng doanh nghiệp khả quan hơn một chút ở mức 4.378 tỷ đồng chiếm 69,3% tồng thu nợ. Tiếp theo là khách hàng cá nhân chiếm 30,7% tổng DSTN và đạt mức 1.943 tỷ đồng.
32
Nguyên nhân dẫn đến tình hình trên là do các khách hàng cá nhân và khách hàng
doanh nghiệp vay vốn ngân hàng chủ yêu là vay ngắn hạn, mức độ rủi ro thấp nên khả
năng thu hồi vốn là cao và thu nợ cũng đạt hiệu quả.
d. Tình hình dư nợ
Dư nợ là khoản vay của khách hàng qua các năm mà chưa đến thời điểm thanh
toán hoặc đến thời điểm thanh toán mà khách hàng không có khả năng trả nợ do những
nguyên nhân khách quan hay chủ quan. Dư nợ là hiệu của DSCV với DSTN, nó cho
biết tình hình hoạt động của ngân hàng có đạt hiệu quả hay không đồng thời cho biết
số nợ mà ngân hàng còn phải thu khách hàng. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, doanh số cho vay cùng với mức độ cho vay là yếu tố để đánh giá mức độ cho vay và từ
đó có thể dự đoán được triển vọng trong tương lai. Do vậy, việc phân tích dư nợ cho
vay là một trong số các công tác tín dụng quan trọng của ngân hàng.
- Dư nợ của ngân hàng theo thời hạn
Bảng 2.8. Tình hình dư nợ của ngân hàng theo thời hạn
ĐVT: tỷ đồng
2011/2010 2012/2011 Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Số tiến % Số tiền %
Dƣ nợ 20.019 21.125 25.639 1.106 6 4.514 21
1.Ngắn hạn 11.675 12.688 17.622 1.013 9 4.934 40
2.Trung và dài hạn 8.344 8.437 8.017 93 1 (420) (5)
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Dư nợ của ngân hàng liên tục biến động từ 2010 đến 2012. Vào năm 2010, dư nợ
đạt 20.019 tỷ đồng, trong đó ngắn hạn đạt 11.675 tỷ đồng chiếm 58,3% dư nợ, trung và
dài hạn đạt 8.344 tỷ đồng chiếm 41,7% dư nợ. Năm 2011, dư nợ đạt 21.125 tỷ đồng
tăng 1.106 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 6% so với năm 2010. Trong đó ngắn hạn
đạt 12.688 tỷ đồng chiếm 60% dư nợ tăng 1.013 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ 9% so
với năm 2010, dư nợ trung và dài hạn đạt 8.437 tỷ đồng chiếm 40% dư nợ tăng 93 tỷ
đồng tương đương với tỷ lệ 1% so với năm 2010. Năm 2012, dư nợ đạt 25.639 tỷ đồng tăng 4.514 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 21% so với năm 2011. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 17.622 tỷ đồng chiếm 68,7% dư nợ, tăng 4.934 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 40% so với năm 2011. Còn dư nợ trung và dài hạn đạt mức 8.017 tỷ đồng chiếm 31,3% dư nợ, giảm 420 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 5% so với năm 2011. Nguyên nhân có sự sụt giảm như vậy là vì những khoản chưa thu được ở năm 2011 thì đến năm 2012 khách hàng đã giả làm cho phần thu nợ tăng do đó dư nợ trung và dài hạn năm 2012 thấp hơn năm 2011. Tuy nhiên cũng chưa thể nói rằng hiệu quả cho vay
33
của ngân hàng tốt còn phải kết hợp với chỉ tiêu khác để có thể kết luận được. Có thể thấy năm 2011 và năm 2012 công tác thu nợ trong ngắn hạn, trung và dài hạn đang
được ngân hàng quan tâm và được cán bộ tín dụng giám sát chặt chẽ. Một phần là do
các khoản vay dài hạn đã đến hạn trả và khách hàng đã trả hết gốc và lãi cho ngân
hàng.
Qua đó tình hình dư nợ ngắn hạn, trung và dài hạn có sự biến động qua các năm
và có thể làm ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng của ngân hàng. Ngân hàng vẫn tập
trung chủ yếu cho vay ngắn hạn để tránh rủi ro và những khoản vay ngắn hạn đó chưa
hết kì hạn, ngân hàng mới chỉ thu hồi được những khoản ngắn hạn từ năm trước đó
cho nên phần dư nợ tăng hơn trung và dài hạn. Thêm vào đó những khoản ngân hàng cho vay trung và dài hạn đã được khách hàng thanh toán cả gốc và lãi do vay mà phần
dư nợ giảm so với ngắn hạn. Do vậy ngân hàng cần phải có chính sách tín dụng để
quản lý tốt hơn và tạo được sự cân bằng tín dụng.
- Dư nợ của ngân hàng theo đối tượng khách hàng
Bảng 2.9. Tình hình dư nợ của ngân hàng theo đối tượng khách hàng
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 % 2011 % 2012 %
1.Khách hàng cá nhân 9.818 49 9.024 42,7 11.653 45,4
2.KH doanh nghiệp 10.201 51 12.101 57,3 13.986 54,6
Tổng dƣ nợ 20.019 100,00 21.125 100,00 25.639 100,00
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Tình hình dư nợ phụ thuộc vào DSCV và DSTN. Năm 2010, tổng dư nợ là
20.019 tỷ đồng, trong đó loại hình khách hàng cá nhân là 9.818 tỷ đồng chiếm 49%
tổng dư nợ, còn lại là khách hàng doanh nghiệp ở mức 10.201 tỷ đồng chiếm 51% tổng
dư nợ. Do công tác thu nợ đối với khách hàng doanh nghiệp đặc biệt là DNV&N được
giám sát chặt chẽ hơn và cũng được các cán bộ tín dụng thực hiện hiệu quả do vậy mà
thu nợ đối với doanh nghiệp năm 2010 thực hiên tương đối tốt cho nên phần dư nợ của
khách hàng doanh nghiệp có nhỉnh hơn so với khách hàng cá nhân. Sang năm 2011, tổng dư nợ là 21.125 tỷ đồng, trong đó khách hàng doanh nghiệp là 12.101 tỷ đồng chiếm 57,3% tổng dư nợ, còn lại là khách hàng cá nhân 9.024 tỷ đồng chiếm 42,7% tổng dư nợ. Do thu nợ của khách hàng doanh nghiệp năm 2010 chưa thu hồi và đã đến hạn trả nên làm cho phần dư nợ tăng hơn so với năm 2010 là 1.900 tỷ đồng. Đến năm
2012, tổng dư nợ là 25.639 tỷ đồng, trong đó khách hàng cá nhân là 11.653 tỷ đồng chiếm 45,4% tổng dư nợ, còn lại là khách hàng doanh nghiệp ở mức 13.986 tỷ đồng chiếm 54,6% tổng dư nợ. Năm này DSTN của khách hàng cá nhân tăng 2.632 tỷ đồng so với năm 2011 và dư nợ khách hàng doanh nghiệp tăng 1.885 tỷ đồng so với năm
34
2011.
2.3 Thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.3.1 Tình hình cho vay của ngân hàng đối với DNV&N
2.3.1.1 Doanh số cho vay đối với DNV&N
Đối với cho vay khách hàng là doanh nghiệp còn chia ra: cho vay DNV&N và
cho vay DN lớn
Bảng 2.10. Tình hình doanh số cho vay DNV&N của ngân hàng giai đoạn 2010-
2012
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011
Số tiền % Số tiền %
KH doanh nghiệp 12.600 13.560 18.364 960 8 4.804 35
1.DNV&N 8.400 9.040 12.243 640 7 3.203 35
2.DN lớn 4.200 4.520 6.121 320 8 1.601 35
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy rằng cho doanh số cho vay DNV&N chiếm
phần lớn trong cho vay doanh nghiệp. Năm 2010, cho vay DNV&N là 8.400 tỷ đồng
chiếm 66,7% cho vay khách hàng doanh nghiệp. Còn lại là cho vay doanh nghiệp lớn
là 4.200 tỷ đồng chiếm 33,3% cho vay khách hàng doanh nghiệp. Năm 2011, cho vay DNV&N tăng lên đạt mức 9.040 tỷ đồng chiếm 66,7% cho vay khách hàng doanh
nghiệp và tăng 640 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 7% so với năm 2010, cho vay
doanh nghiệp lớn đạt mức 4.520 tỷ đồng tăng 320 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 8%
so với năm 2010. Năm này, các DNV&N đi vay vốn nhiều hơn để sản xuất kinh
doanh, mua thêm tài sản cố định để đầu tư, mở rộng kinh doanh nên cho vay đối với
loại hình này tăng hơn so với doanh nghiệp lớn. Thêm nữa là có những doanh nghiệp
vay vốn để thanh toán tiền hàng trong thời gian ngắn nhằm đáp ứng kịp việc lưu thông
hàng hóa trên thị trường nên doanh nghiệp cần nguồn vốn của ngân hàng nhưng chủ
yêu là vay trong ngắn hạn. Năm 2012, doanh số cho vay DNV&N đạt mức 12.243 tỷ đồng tăng 3.203 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 35% so với năm 2011. Còn lại là cho vay doanh nghiệp lớn ở mức 6.121 tỷ đồng tăng 1.601 tỷ đồng tương đương với 35% so với năm 2011. Do năm 2012 là năm kinh tế khó khăn nên các doanh nghiệp lớn vẫn giữ vững chiến lược kinh doanh của mình, đầu tư kinh doanh có phần khiêm nhường hơn với DNV&N. Ngược lại, DNV&N lại cần có nguồn vốn của ngân hàng để đầu tư, đổi mới ngành nghề kinh doanh nên ngân hàng cho vay nhiều hơn để khuyến khích doanh nghiệp phát triển, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vì vậy mà phần cho
35
vay đối với DNV&N cao hơn các DN lớn.
Nói chung cho vay DNV&N vẫn chiếm thị phần lớn trong khách hàng doanh
nghiệp vì theo cơ cấu của nền kinh tế thì số lượng DNV&N chiếm phần lớn. Thêm vào
đó nền kinh tế có xu hướng mở cửa nên nhu cầu vay vốn của các DNV&N này càng tăng chính vì vậy mà cho vay đối với loại hình tương đối cao.
- Doanh số cho vay DNV&N theo thời hạn
Bảng 2.11. Tình hình cho vay DNV&N theo thời hạn
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011
Số tiền % Số tiền %
Cho vay DNV&N 8.400 9.040 12.243 640 7 3.203 35
1.Trung và dài hạn 5.600 6.027 8.162 427 8 2.135 35
2.Ngắn hạn 2.800 3.013 4.081 213 8 1.608 35
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Qua số liệu bảng trên ta có thể thấy rằng DSCV đối với DNV&N tăng đều qua
các năm. Cụ thể như sau: Năm 2010, cho vay đối với DNV&N là 8.400 tỷ đồng. Trong
đó vay trung và dài hạn là 5.600 tỷ đồng, còn lại là cho vay ngắn hạn đạt mức 2.800 tỷ
đồng. Năm 2011, cho vay DNV&N đạt mức 9.040 tỷ đồng tăng 640 tỷ đồng tương
đương với tỷ lệ là 7% so với năm 2010. Trong đó, vay trung và dài hạn là 6.027 tỷ đồng tăng 427 tỷ đồng tương đướng với tỷ lệ là 8% so với năm 2010, còn lại là vay
ngắn hạn đạt mức 3.013 tỷ đồng tăng 213 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 8% so với
năm 2010. Năm này, số lượng DNV&N tăng lên và ngân hàng cũng mở rộng nhiều
hình thức cho vay nên thu hút được khách hàng làm cho DSCV đối với DNV&N cao
hơn năm trước. Đặc biệt, các DNV&N chủ yếu vay ở thời hạn dài (từ 1-5 năm) do lĩnh
vực đầu tư kéo dài như: nhà thầu, xây dựng..., vì vậy mà cho vay trung và dài hạn cao
hơn cho vay ngắn hạn. Năm 2012, cho vay đạt mức 12.243 tỷ đồng tăng 3.203 tỷ đồng
tương đương với tỷ lệ là 35% so với năm 2011. Trong đó, cho vay trung và dài hạn đạt
mức 8.162 tỷ đổng tăng 2.135 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 35%, còn lại là cho vay ngắn hạn đạt mức 4.081 tỷ đồng tăng 1.608 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 35% so với năm 2011. Có thể nói năm 2012 là năm đầy biến động của nên kinh tế thị trường nhưng ngân hàng đã tạo điều kiện cho các DNV&N vay vốn để tiếp tục đầu tư vào sản xuất kinh doanh của mình. Thêm vào đó là một số doanh nghiệp cần vốn để thay đổi lĩnh vực kinh doanh để phù hợp với biến động thị trường và chủ yếu vay dài hạn. Từ đó mà cho vay DNV&N trong dài hạn năm 2012 cao hơn so với năm 2011.
Nhìn một cách tổng quát thì cho vay doanh nghiệp nói chung và cho vay doanh
36
nghiệp vừa và nhỏ nói riêng tại ABBank – CN Hà Nội đều tăng qua các năm. Ngân hàng chủ yếu cho vay đối với DNV&N hơn là những doanh nghiệp lớn. Vì những
doanh nghiệp này cần hỗ trợ vốn nhiều hơn để kinh doanh, tiềm lực tài chính có nhiều
hạn chế hơn là những doanh nghiệp lớn. Cộng thêm là việc các DNV&N được thành
lập ngày một nhiều luôn cần vốn của ngân hàng để hỗ trợ cho việc đầu tư, kinh doanh của mình. Mặt khác những doanh nghiệp này chủ yếu vay những món vay với thời hạn
dài từ 1 đến 5 năm tùy theo kế hoạch kinh doanh của từng doanh nghiệp nên cho vay
trung và dài hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với cho vay ngắn hạn của ngân hàng. Tuy
nhiên, theo tình hình cho vay chung thì cho vay ngắn hạn lại tăng hơn là do ngân hàng
còn cho khách hàng cá nhân vay mà họ lại chỉ vay ngắn hạn và thành phần này vay cũng tương đối nhiều hơn doanh nghiệp nên tạo ra sự chênh lệch như vậy. Ngân hàng
cần điều chỉnh mức độ cho vay đối với hai loại hình nhằm tạo ra sự cân bằng tín dụng.
Từ đó ngân hàng có thể kiểm soát và đảm bảo an toàn các khoản vay một cách tốt
nhất.
2.3.1.2 Thu nợ của ngân hàng đối với DNV&N.
Bảng 2.12. Tình hình thu nợ của ngân hàng đối với DNV&N của ngân hàng
trong giai đoạn 2010-2012
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011
Số tiền % Số tiền %
KH doanh nghiệp 2.399 1.459 4.378 (940) (39) 2.919 200
1.DNV&N 1.896 905 2.790 (991) (52) 1.885 208
2.DN lớn 503 554 1.588 51 10 1.034 186
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Tình hình thu nợ đối với DNV&N tăng giảm qua các năm. Năm 2010, thu nợ đối
với khách hàng doanh nghiệp là 2.399 tỷ đồng. Trong đó, thu nợ đối với DNV&N là
1.896 tỷ đồng chiếm 79% thu nợ khách hàng doanh nghiệp, còn lại là doanh nghiệp
lớn chiếm 21% thu nợ khách hàng doanh nghiệp. Sang năm 2011, thu nợ của khách
hàng doanh nghiệp là 1.459 tỷ đồng giảm 940 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ 39% so với năm 2010. Trong đó, thu nợ đối với DNV&N là 905 tỷ đồng giảm 991 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 52% so với năm 2010, còn lại là thu nợ đối với doanh nghiệp lớn ở mức 554 tỷ đồng tăng 51 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 10% so với năm 2010. Nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm và tăng lên của năm 2011 so với năm 2010 là vì: năm này các doanh nghiệp kinh doanh không gặp được thuận lợi bởi sự thay đổi của chính sách nhà nước như: hàng rào thuế quan, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng biến động....nên ảnh hưởng tới việc đầu tư của các doanh nghiệp nên doanh nghiệp chưa trả
37
được gốc và lãi cho ngân hàng vì vậy mà công tác thu nợ của ngân hàng chưa đạt được hiệu quả. Mặt khác các khoản nợ chưa đến kì hạn trả nên ngân hàng chưa thu được nợ.
Ngược lại, phía doanh nghiệp lớn họ đầu tư thận trọng hơn nên phần thu nợ đối với
loại hình này có phần khả quan hơn. Ngân hàng nên giám sát chặt chẽ kế hoạch kinh
doanh, đầu tư của doanh nghiệp để đảm bảo an toàn cho các khoản vay. Đến năm 2012, thu nợ của khách hàng doanh nghiệp là 4.378 tỷ đồng tăng 2.919 tỷ đồng tương
đương với tỷ lệ là 200% so với năm 2011. Trong đó, thu nợ đối với DNV&N là 2.790
tỷ đồng tăng 1.885 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 208% so với năm 2011, còn lại là
thu nợ đối với doanh nghiệp lớn ở mức 1.588 tỷ đồng tăng 1.034 tỷ đồng tương đương
với 186% so với năm 2011. Có sự tăng lên như vậy là do các khoản vay mà khách hàng chưa trả được ở năm trước, năm nay khách hàng đã thanh toán. Đối với DNV&N
thì họ phải trả được các món vay đến kì hạn trả thì ngân hàng mới cho vay tiếp, có
doanh nghiệp trả nợ bằng cách cầm cố tài sản hoặc thế chấp tài sản vì vậy mà phần thu
nợ năm nay tăng hơn so với năm 2011. Mặt khác là các cán bộ tín dụng của ngân hàng nhất là cán bộ phòng Quan hệ khách hàng doanh nghiệp đã thực hiện tốt trách nhiệm
và nhiệm vụ của mình làm cho phần thu nợ năm qua tăng lên như vậy.
Có thể thấy rằng, tình hình thu nợ đối với doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp
vừa và nhỏ đang được ngân hàng thực hiện chặt chẽ. Công tác thu nợ của ngân hàng
cũng đang dần được đẩy cao, phần thu nợ đối với các loại hình có biến động nhưng chỉ
ở mức nhẹ. DSCV đối với DNV&N cao nên phần thu nợ đối với loại hình tăng lên cho
thấy ngân hàng đang đảm bảo an toàn nguồn vốn của mình và giám sát chặt chẽ các món vay.
- Thu nợ của ngân hàng đối với DNV&N theo thời hạn
Bảng 2.13. Tình hình thu nợ của ngân hàng đối với DNV&N theo thời hạn
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011
Số tiền % Số tiền %
Thu nợ DNV&N 1.896 905 2.790 (991) (52) 1.885 208
1.Trung và dài han 1.265 510 1.964 (755) (60) 1.454 285
2.Ngắn hạn 631 395 826 (236) (37) 431 109
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng thu nợ đối với DNV&N biến động qua các năm. Năm 2010, thu nợ trung và dài hạn là 1.265 tỷ đồng chiếm 66,7% thu nợ DNV&N, còn lại là thu nợ ngắn hạn là 631 tỷ đồng chiếm 33,3% thu nợ DNV&N. Năm 2011, tình hình thu nợ của ngân hàng chưa thực sự đạt hiệu quả. Trong đó, thu nợ trung và dài hạn là 510 tỷ đồng giảm 755 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 60% so với
38
năm 2010, còn lại là ngắn hạn là 395 tỷ đồng giảm 236 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 37% so với năm 2010. Có thể thấy rằng DSCV vay đối với DNV&N cao mà thu nợ
thì lại giảm so với năm 2010 như vậy thì ngân hàng nên chú ý hơn vào công tác thu nợ
của mình đặc biệt là những khoan vay trung và dài hạn. Nên xiết chặt các khoản vay
hơn để đảm bảo an toàn nguồn vốn của mình. Bên cạnh đó, doanh nghiệp đầu tư kinh doanh tập trung vào vay dài hạn cộng với việc đầu tư kinh doanh không có lãi nên làm
cho phần thu nợ của ngân hàng gặp khó khăn hơn. Cộng thêm các khoản vay dài hạn
chưa được thu hồi nên các DNV&N chưa thanh khoản được cho ngân hàng. Đến năm
2012, thu nợ ngắn hạn là 826 tỷ đồng tăng 431 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 109%
so với năm 2011, còn lại là thu nợ trung và dài hạn là 1.964 tỷ đồng tăng 1.454 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 285% so với năm 2011. Do còn nhiều thiếu xót khiến cho
phần thu nợ không đạt hiệu quả ở năm trước thì năm nay ngân hàng đã có nhiều kinh
nghiệm hơn trong công tác thu nợ. Công tác thu nợ có chiều hướng đi lên, các doanh
nghiệp đã bắt đầu thanh toán dần các món vay của mình và các món vay dài hạn của các năm trước cũng đến kì hạn trả vì vậy năm này phần thu nợ có khả quan hơn so với
năm trước đó.
2.3.1.3 Dư nợ của ngân hàng đối với DNV&N
Bảng 2.14. Tình hình dư nợ của ngân hàng đối với DNV&N trong giai đoạn
2010-2012
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011
Số tiền % Số tiền %
KH doanh nghiệp 10.201 12.101 13.986 1.900 19 1.885 16
6.504 8.135 9.453 1.631 25 1.318 16 1.DNV&N
3.697 3.966 4.533 269 7 567 14 2.DN lớn
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Qua số liệu bảng trên cho thấy dư nợ đối DNV&N tăng lên qua các năm. Năm
2010, dư nợ DNV&N là 6.504 tỷ đồng chiếm 64% dư nợ khách hàng doanh nghiệp,
còn lại là dư nợ đối với DN lớn là 3.697 tỷ đồng chiếm 36% dư nợ khách hàng doanh nghiệp. Năm 2011, dư nợ KH doanh nghiệp là 12.101 tỷ đồng tăng 1.900 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 19% so với năm 2010. Trong đó, dư nợ DNV&N là 8.135 tỷ đồng chiếm 67% dư nợ khách hàng doanh nghiệp và tăng 1.631 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 25% so với năm 2010, còn lại là dư nợ DN lớn là 3.966 tỷ đồng chiếm 33% dư nợ khách hàng doanh nghiệp và tăng 269 tỷ đồng tương đương với 7% so với năm 2010. Có sự tăng lên như vậy là do: DSCV đối với DNV&N cao nhưng công tác thu nợ năm này chưa được khả quan cho nên phần dư nợ tăng cao hơn so với năm 2010.
39
Thêm vào đó là những món vay trung và dài hạn mà doanh nghiệp vay chưa đến ngày đáo hạn nên ngân hàng chưa thể thu hồi được gốc vay của mình. Đến năm 2012, dư nợ
khách hàng doanh nghiệp là 13.986 tỷ đồng tăng 1.885 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ
là 16% so với năm 2011. Trong đó, dư nợ đối với DNV&N là 9.453 tỷ đồng chiếm
68% dư nợ khách hàng doanh nghiệp và tăng 1.318 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ 16% so với năm 2011. Còn lại là dư nợ DN lớn là 4.533 tỷ đồng chiếm 32% dư nợ
khách hàng doanh nghiệp và tăng 567 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 14% so với
năm 2011. Nguyên nhân là vì những tháng cuối năm 2012 các DNV&N đề xuất vay
vốn của ngân hàng và thông qua quy trình cho vay ngân hàng đã giải ngân cho doanh
nghiệp. Do có những khoản vay vào những tháng cuối năm như vậy mà lại là vay dài hạn 1-2 năm nên việc thu hồi nợ chưa thể thực hiện cho nên dư nợ năm này cao hơn
năm trước là vì thế.
Có thể nói, tổng dư nợ khách hàng doanh nghiệp trong 3 năm qua đều tăng, cho
thấy ngân hàng đang thực hiện tốt các chính sách ưu đãi và có những chiến lược hợp lý để hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện mục đích kinh doanh của mình. Nhưng cũng
chưa thể nói rằng hoạt động tín dụng của ngân hàng là hiệu quả vì còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác. Các doanh nghiệp đi vay nhiều hơn mà lại tập trung vay ở trung và
dài hạn nên ngân hàng vẫn chưa thể thu hồi được nợ từ khách hàng đặc biệt là
DNV&N từ đó dẫn đến phần dư nợ tăng lên qua các năm. Nhưng chính sách ngân
hàng đưa ra để các DNV&N tiếp cận được nguồn vốn hơn, nhằm đạt được hiệu quả
kinh tế của mình cũng đưa nên kinh tế phát triển hơn, tiến gần hơn đến giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa và cũng góp phần làm cho nên kinh tế trở nên sôi động hơn
không còn ảm đạm nữa.
- Dư nợ của ngân hàng đối với DNV&N theo thời hạn
Bảng 2.15. Tình hình dư nợ đối với DNV&N theo thời hạn
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011
Số tiền % Số tiền %
Dƣ nợ DNV&N 6.504 8.135 9.453 1.631 25 1.318 16
1.Trung và dài hạn 4.335 5.517 6.198 1.182 27 681 12
2.Ngắn hạn 2.169 2.618 3.255 449 21 637 24
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Nhìn vào bảng trên ta thấy tình hình dư nợ đối với DNV&N qua các năm vẫn tập trung vào trung và dài hạn. Năm 2010, dư nợ trung và dài hạn là 4.335 tỷ đồng chiếm 66,7% dư nợ DNV&N, còn lại là dư nợ ngắn hạn 2.169 tỷ đồng chiếm 33,3% dư nợ DNV&N. Năm 2011, dư nợ trung và dài hạn là 5.517 tỷ đồng chiếm 68% dư nợ
40
DNV&N và tăng 1.182 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 27% so với năm 2010. Còn lại là dư nợ ngắn hạn ở mức 2.618 tỷ đồng chiếm 32% dư nợ DNV&N và tăng 449 tỷ
đồng tương đương với tỷ lệ là 21% so với năm 2010. Nguyên nhân là vì năm này, các
DNV&N có nhu cầu vay vốn cao từ đó hoạt động cho vay ngân hàng ngày càng mở
rộng và các khoản vay chủ yếu là dài hạn nên chưa đến hạn thu hồi nợ làm cho phần dư nợ tăng lên như vậy. Năm 2012, dư nợ trung và dài hạn là 6.198 tỷ đồng chiếm
65% dư nợ DNV&N và tăng 681 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ 12% so với năm 2011.
Còn lại là dư nợ ngắn hạn ở mức 3.255 tỷ đồng chiếm 35% dư nợ DNV&N và tăng
637 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ 24% so với năm 2011. Sang đến năm 2012 thì nền
kinh tế thị trường gặp nhiều khó khăn nhưng ngân hàng vẫn có những chính sách cho vay DNV&N phù hợp và các DNV&N mới thành lập cũng được ngân hàng hỗ trợ vốn
vay. Bên cạnh đó các khoản vay dài hạn chưa đến ngày đáo hạn và cũng có những
khoản vay chưa thanh khoản được mặc dù đã đến kì hạn trả nợ vì vậy mà dư nợ năm
2012 cao hơn năm 2011. Tuy nhiên ngân hàng nên có biện pháp chặt chẽ hơn đối với quy trình cho vay và xiết chặt những khoản vay chưa thu hồi được.
Nói chung dư nợ đối với DNV&N tăng trong 3 năm qua. Một phần là do các
khoản vay dài hạn chưa đến ngày đáo hạn cộng thêm với một số khoản vay đến hạn
nhưng khách hàng chưa thể thanh khoản được làm cho phần dư nợ qua các năm tăng
lên. Mặt khác là ngân hàng cho vay nhiều hơn để giúp đỡ các DNV&N cũng như đưa
nền kinh tế phát triển.
2.3.2 Dựa trên chỉ tiêu định lượng
- Hệ số thu nợ
Thể hiện sự so sánh giữa số tiền ngân hàng thu nợ đối với số tiền mà ngân hàng
cho doanh nghiệp vay. Nó được tính như sau:
Hệ số thu nợ (%)=(DSTN/DSCV)x100%
Bảng 2.16. Hệ số thu nợ của ngân hàng đối với DNV&N trong giai đoạn 2010-
2012
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012
1.896 905 2790 Doanh số thu nợ
8.400 9.040 12.243 Doanh số cho vay
22 10 23 Hệ số thu nợ(%)
Có thể thấy rằng chỉ tiêu DSTN/DSCV đối với DNV&N tăng giảm qua các năm. Năm 2010 hệ số thu nợ là 22%, năm 2011 hệ số thu nợ là 10% sang đến năm 2012 hệ số này là 23%. Chỉ số này của ngân hàng biến động qua các năm. Năm 2011 hệ số này giảm 10% so với năm trước điều này chứng tỏ hoạt động của ngân hàng chưa được tốt,
công tác thu nợ chưa được ổn định chưa thực sự sát xao các khoản vay và các khoản
41
vay ngân hàng cho vay chưa thực sự đúng đắn. Thấy rằng năm này, các khoản cho vay
doanh nghiệp đặc biệt là DNV&N chưa được ngân hàng cho vay hợp lý, các khoản
ngân hàng cho vay nhưng phần thu nợ lại không được tốt. Chính vì vậy mà năm 2011,
hoạt động cho vay của ngân hàng chưa thực sự đạt được hiệu quả và đạt đến con số khả quan. Rút kinh nghiệm năm trước đó ngân hàng chưa thực hiện tốt nhiệm vụ của
mình thì sang đến năm 2012 hệ số thu nợ đã tăng lên 13% so với năm 2011. Năm này,
các khoản vay của ngân hàng đã đến ngày đáo hạn, công tác thu nợ gặp nhiều thuận lợi
vì vậy hệ số thu nợ tăng lên như vậy. Các món vay ngân hàng bỏ ra cũng được thu hồi
một cách khả quan và đem lại kết quả tín dụng cho ngân hàng. ABBanhk – CN Hà Nội nên phát huy điều này và có những chính sách điều chỉnh sao cho phù hợp với tình
hình kinh tế. Tuy kết quả cũng chưa được như mong đợi của chi nhánh nhưng qua
những nỗ lực cố gắng của các cán bộ tín dụng và nhờ có sự hướng dẫn của Ban lãnh
đạo ngân hàng phần nào cũng đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường ngân hàng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển hơn.
Nhìn chung hiệu quả cho vay của ngân hàng trong 3 năm qua biến động theo
từng năm. Có thể là do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khiến cho tình
hình cho vay của ngân hàng biến động như vây. Nhưng ngân hàng cũng đang dẫn lấy
lại được sự cân bằng tín dụng, cho vay có thận trọng hơn và cũng đang thực hiện chặt
chẽ công tác thu nợ của mình. Ngân hàng nên có chiến lược cho vay hợp lý sao cho
đảm bảo an toàn các khoản vay mà vẫn thu hút khách hàng đặc biệt là các DNV&N.
- Thu nhập của ngân hàng từ hoạt động cho vay DNV&N
Bảng 2.17. Tình hình thu nhập của ngân hàng đối với DNV&N trong giai đoạn
2010-2012
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011
Số tiền % Số tiền %
Thu nhập từ cho vay KH 5.760 44.078 132.795 38.318 665 88.717 201
doanh nghiệp
1.DNV&N 4.032 35.262 106.236 31.230 774 70.974 201
2.DN lớn 1.728 8.816 26.559 7.088 410 17.743 201
(Nguồn: Báo cáo tín dụng của ngân hàng)
Nhìn vào số liệu bảng trên cho thấy thu nhập của ngân hàng từ hoạt động cho vay đối với DNV&N tăng qua các năm. Năm 2010 thu nhập từ khách hàng doanh nghiệp là 5.760 tỷ đồng, trong đó DNV&N là 4.032 tỷ đồng chiếm 70% tồng thu nhập từ khách hàng doanh nghiệp, còn lại là DN lớn là 1.728 tỷ đồng chiếm 30% tổng thu
42
nhập từ khách hàng DN. Sang đến năm 2011, thu nhập từ khách hàng DN là 44.078 tỷ đồng tăng 38.318 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 665% so với năm 2010. Trong đó,
DNV&N là 35.262 tỷ đồng chiếm 80% tổng thu nhập từ khách hàng DN và tăng
31.230 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 774% so với năm 2010. Còn lại là DN lớn ở
mức 8.816 tỷ đồng chiếm 20% tổng thu nhập từ khách hàng DN và tăng 7.088 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là 410% so với năm 2010. Lý giải cho điều này là doanh thu từ
hoạt động cho vay tăng cộng thêm một số khoản phí mà doanh nghiệp phải trả cho
ngân hàng nên thu nhập năm này có khả quan hơn năm trước. Đến năm 2012, thu nhập
từ khách hàng DN là 132.795 tỷ đồng tăng 88.717 tỷ đồng tương đương với tỷ lệ là
201% so với năm 2011. Trong đó, thu từ DNV&N là 106.236 tỷ đồng chiếm 80% tổng thu nhập từ khách hàng DN, còn lại là DN lớn ở mức 26.559 tỷ đồng chiếm 20% tổng
thu nhập từ khách hàng DN. Thu nhập từ hoạt động cho vay DNV&N năm 2012 có
tiến triển hơn năm 2011.
Nói chung thu nhập của ngân hàng trong 3 năm đều tăng. Điều này chứng tỏ ngân hàng đang từng bước đẩy mạnh hoạt động cho vay doanh nghiệp của mình, nhất
là trong thời điểm kinh tế biến động, ngân hàng luôn có những chính sách phù hợp để
cứu giúp các doanh nghiệp, giúp cho họ vượt lên và góp phần tạo ra nên kinh tế sôi
động hơn.
2.3.3 Dựa trên chỉ tiêu định tính
Đối với những món vay lớn hay nhỏ thì ngân hàng luôn tuân thủ đúng theo cơ sở
pháp lý, nguyên tắc mà NHNN đưa ra. Thực hiện theo đúng tiến trình quy định cho vay đối với DNV&N: giám sát tốc độ sản xuất kinh doanh của DNV&N và đảm bảo
trả đủ gốc và lãi khi đáo hạn. Tuy nhiên, do biến động kinh tế nên ngân hàng đã có
những chính sách điều chỉnh lãi suất, mở thêm nhiều hình thức cho vay để doanh
nghiệp có thể tiếp cận dễ dàng hơn đến nguồn vốn dư thừa đó, nhưng năm 2011 công
tác thu nợ của ngân hàng chưa được tốt, chất lượng cho vay của ngân hàng không đạt
được hiệu quả vì thế mà có sự suy giảm đối với năm 2010. Do vậy, sang đến năm 2012
ngân hàng đã rút kinh nghiệm từ việc quản lý không tốt công tác thu nợ nên năm nay
ngân hàng triển khai quy trình cho vay sát sao hơn, theo sát các DNV&N vay vốn
nhằm đảm bảo an toàn các khoản mà ngân hàng cho vay.
Do biến động kinh tế mà ngân hàng đã có những chính sách phù hợp để cứu các DNV&N nên phần nào đó ngân hàng cũng tăng được tính cạnh tranh của mình trên thị trường. Dần hướng tới mục tiêu mà ngân hàng đề ra là trở thành 1 trong 10 ngân hàng hàng đầu Việt Nam. Qua đó mà ngân hàng cũng đáp ứng được nhu cầu vay vốn của ngân hàng, các DNV&N được tài trợ vốn kịp thời để tiếp tục việc đầu tư, sản xuất kinh doanh của mình. Do vậy mà ngân hàng cũng đã đóng góp một phần vào việc thúc đẩy nền kinh tế xã hội
43
Nói chung, trong 3 năm qua (2010-2011) hoạt động cho vay của ngân hàng tương đối ổn định nhưng có sự biến động nhẹ vào năm 2011. Nhưng năm sau đó thì hoạt
động cho vay ngân hàng đối với DNV&N cũng đạt được kết quả khả quan hơn. Ngân
hàng nên tiếp tục phát huy và có những biến pháp phòng ngừa rủi ro với những khoản
nợ khó đòi chưa thu hồi được. Ngân hàng nên có những hình thức cho vay phù hợp theo từng đối tượng và có sự điều chỉnh để cân bằng được lượng tín dụng lưu ngoài thị
trường.
2.4 Đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.4.1 Những mặt đạt đƣợc
Qua những số liệu thực tế và những phân tích cơ bản về tình hình hoạt động cho vay của ngân hàng An Bình – CN Hà Nội đối với DNV&N trong ba năm (2010-2012),
chi nhánh đã đạt được những kết quả sau:
Thứ nhất, tất cả hoạt động, quy trình tín dụng của ABBank – CN Hà Nội đều
được đánh giá và kiểm soát nội bộ là phù hợp với các quy trình tín dụng theo quy định của các luật và của các ngân hàng. Tuy đây chỉ là đánh giá mang tính định tính về hiệu
quả cho vay nhưng nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả cho
vay. Thực hiện đúng quy trình là bước đầu tiên để đảm bảo hiệu quả khoản vay cũng
như tìm ra được rủi ro của khoản vay.
Thứ hai, dư nợ cho vay DNV&N tăng trong 3 năm trên (2010-2011). Dư nợ cho
vay tập trung chủ yếu ở cho vay trung và dài hạn, vay ngắn hạn cũng tăng lên đáng kể.
ABBank – CN Hà Nội cũng đã trở thành một địa chỉ tin cậy cho khách hàng và quy mô khách hàng ngày càng được mở rộng.
Thứ ba, sự gia tăng của quy mô của hoạt động cho vay DNV&N đã cho thấy
được chính sách và phát triển chiến lược hợp lý, phù hợp với tình hình của chi nhánh
và tình hình phát triển nói chung.
Thứ tư, hoạt động hỗ trợ lãi suất cho các DNV&N thu được kết quả khả quan.
Chi nhánh không chạy việc tăng quy mô từ nguồn lãi suất thấp mà làm ảnh hưởng tới
hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng. Các khoản vay thuộc đối tượng hỗ trợ vẫn
được đảm bảo thẩm định theo đúng quy trình và đến nay chưa có khoản nợ quá hạn
nào.
2.4.2 Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân
Mặc dù đạt được những kết quả đáng khích lệ trong hoạt động cho vay nhưng bên cạnh đó ABBank – CN Hà Nội còn có những vấn đề cần khắc phục và đưa ra biện pháp giải quyết hợp lý. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, hình thức cho vay chưa đa dạng và còn rườm rà. Các DNV&N phần lớn vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu cho vay của ngân hàng nên ngân hàng vẫn chủ yếu tập trung cho vay từng lần và cho vay theo hạn mức tín dụng nhưng hiện nay các
44
DNV&N vay theo loại hình thức này lại chiếm tỷ lệ nhỏ. Nguyên nhân là vì:
- Năng lực tài chính của các DNV&N vẫn còn yếu kém, tình trạng thất thoát vốn vẫn xảy ra làm doanh nghiệp luôn trong tình trạng xấu gây ra nhiều khó khăn
khi tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng.
- Tài sản đảm bảo của DNV&N thường không có hoặc không đủ đảm bảo cho
khoản vay. - Uy tín thấp Cùng với đó các thủ tục cho vay còn rườm rà, thời gian giải ngân của ngân hàng
còn quá dài, đôi khi lại không vay được vốn gây lãng phí tiền của ngân hàng và doanh nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, còn quá nhiều thủ tục không cần thiết gây
khó khăn cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.
- Môi trường đầu tư thiếu tính an toàn và ổn định khiến các nhà đầu tư giảm nhu
cầu vay vốn do không mạnh dạn mở rộng sản xuất
- Các ngân hàng còn thận trọng trong quá trình cho vay nên cần nhiều giấy tờ
chứng minh đảm bảo tài sản để tránh rủi ro.
- Chưa có cơ quan đánh giá và xếp hạng doanh nghiệp để làm cơ sở cho ngân
hàng đưa ra quyết định cho vay.
Vì vậy chi nhánh cần biết tận dụng những ưu điểm của từng loại hình cho vay để
tiếp cận thị trường đến từng khách hàng nhiều hơn nữa. Từ đó, nâng cao dư nợ cho vay cũng như đáp ứng được nguồn vốn tài trợ cho từng đối tượng khách hàng một cách
thích hợp.
Thứ hai, hệ thống thông tin khách hàng được coi là yếu tố giúp cho ngân hàng
tăng cao doanh số cho vay và doanh số thu nợ trong những năm về sau. Tuy nhiên, cán
bộ thẩm định vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập thông tin khách hàng.
Do bộ phận công nghệ thông tin trong ngân hàng vẫn còn non trẻ, chưa xây dựng được
một hệ thống thông tin khách hàng hoàn thiện đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về nghiệp
vụ. Cán bộ thẩm định vẫn còn thiếu xót trong chuyên môn đánh giá hiệu quả các
khoản vay và tình hình tài chính của khách hàng.
Do đó, ABBank – CN Hà Nội cần đầu tư cho đội ngũ phát triển hệ thống thông tin, đồng thời đào tạo về chuyên môn thẩm định cho vay DNV&N của các cán bộ tín dụng một cách bài bản và chuyên nghiệp.
Thứ ba, doanh số cho vay DNV&N vẫn còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu vốn mạnh mẽ của các doanh nghiệp. Do các doanh nghiệp không có nhiều lợi thế để có thể vay vốn tại ngân hàng, đặc biệt ở thời điểm hiện tại khi các quy định về đảm bảo tiền vay và thẩm định dự án càng chặt chẽ thì DNV&N lại càng có ít cơ hội cạnh
45
tranh với các doanh nghiệp lớn.
Ngoài ra, nguốn vốn dành cho vay đối với DNV&N chưa có quỹ riêng, đặc biệt
là cho vay trung và dài hạn của chi nhánh còn nhiều hạn chế trong khi nhu cầu đầu tư
để phát triển của doanh nghiệp ngày một tăng. Điều này gây ra sự mất cân bằng trong việc cung ứng vốn cho các DNV&N.
Kết luận chƣơng:
Hoạt động cho vay của ngân hàng tương đối ổn định nhưng có biến động nhẹ vào
năm 2011 do công tác thu nợ chưa được thực hiện tốt. Đến năm 2012 ngân hàng đã đẩy mạnh nguyên tắc cho vay, giám sát chặt chẽ hơn các khoản cho DN&N vay. Cụ
thể, DSCV luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao, bên cạnh đó công tác thu nợ cũng đang
được nâng cao với sự giám sát chặt chẽ của cán bô tín dụng ngân hàng. Đạt được điều
này ngân hàng đã thực hiện chính sách cho vay hợp lý, an toàn, thực hiện tốt công tác kiểm tra và thẩm định, giám sát chặt chẽ mọi khoản vay của khách hàng. Dư nợ trong
3 năm qua cũng tăng với tốc độ vừa phải, giá trị dư nợ qua các năm thấp hơn so với
DSCV chứng tỏ hiệu quả cho vay với khách hàng là doanh nghiệp cũng rất khả quan.
Đối với chỉ tiêu định tính và định lượng dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay
của ngân hàng thì cũng cho thấy được hiệu quả hoạt động của ngân hàng đang đạt đến
những con số khả quan. Ngân hàng nên phát huy và có nhiều chính sách ưu đãi phù
46
hớp với từng loại hình cho vay để ngân hàng có thể thực hiện được mục tiêu của mình là “ 1 trong 10 ngân hàng hàng đầu Việt Nam”.
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG AN BÌNH – CN HÀ NỘI
3.1 Định hƣớng hoạt động cho vay DNV&N của ABBank – CN Hà Nội trong
những năm tới.
3.1.1 Định hƣớng chung
Để đáp ứng những thay đổi của môi trường kinh doanh trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng khác đang diễn ra quyết liệt. Ban
lãnh đạo ABBank – CN Hà Nội đã đề ra những định hướng mở rộng và phát triển hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng đối với DNV&N nói riêng. Bám sát định hướng hoạt động kinh doanh chung của ngành, định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa
phương và nhu cầu của thị trường. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động cho vay trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế, với tất cả các thành phần kinh tế và dân cư.
Đa dạng hóa đối tượng khách hàng cho vay, loại hình cho vay, sản phẩm cho vay, đảm
bảo giữ vững và phát triển thị phần, thị trường tăng cường khả năng cạnh tranh. Mở
rộng tăng trưởng dư nợ trên cơ sở kiểm soát chất lượng cho vay, góp phần thực hiện
thực định hướng phát triển kinh tế xã hội.
3.1.2 Định hƣớng phát triển hoạt động cho vay đối với DNV&N
DNV&N là bộ phận quan trọng cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, phát triển lâu dài và hợp tác trong môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Vì vậy ABBank – CN Hà Nội cũng như Chính phủ, các Bộ, Ngành đã tạo điều kiện
cho các DNV&N thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng, nhằm phát huy
tối đa mọi nguồn lực có sự kết hợp với các nguồn lực bên ngoài để phục vụ cho đầu tư
phát triển kinh tế - xã hội. DNV&N trong những năm qua liên tục phát triển về số
lượng, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số DNV&N. Do đó ngân hàng nên mở rộng về số
lượng thì chất lượng hoạt động cho vay của các DNV&N cũng không ngừng được
nâng cao, các lĩnh vực hoạt động của DN phù hợp với định hướng phát triển kinh tế
của Hà Nội.
Ngân hàng cần có những chính sách tiền tệ, điều chỉnh lãi suất phù hợp với biến động của nền kinh tế thị trường như hiện nay. Cần có những hình thức cho vay đa dạng cùng với đó là quy trình cho vay nên ngắn gọn nhưng vẫn tuân thủ đúng theo nguyên tắc cho vay của NHNN. Có như vậy thì hoạt động cho vay đối với DNV&N mới được phát triển nhằm giúp cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn dư thừa của ngân hàng được dễ dàng đồng thời cũng giúp cho ngân hàng quảng bá hình
ảnh của mình tiến gần hơn với mục tiêu là “ trở thành 1 trong 10 ngân hàng hàng đầu
47
Việt Nam”.
3.1.3 Chiến lƣợc của chi nhánh
Trở thành một ngân hàng thân thiện, hoạt động chuyên nghiệp, cung cấp các giải
pháp tài chính linh hoạt, hiệu quả và an toàn.
Xây dựng các sản phẩm đặc thù và riêng biệt, xây dựng thương hiệu tốt và có uy
tin.
Xây dựng đội ngũ nhân viên, chuyên gia tư vấn và đầu tư tinh nhuệ, có trình độ
chuyên môn cao, kĩ thuật giao tiếp tốt.
Để thực hiện một cách cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay thì chi nhánh ABBank Hà Nội đã lên kế hoạch cho những mục tiêu sắp tới và cam kết đạt
được trong năm 2014.
Bảng 3.1. Mục tiêu kinh doanh của ABBank – CN Hà Nội trong năm 2014
STT
MỤC TIÊU
1.
MỤC TIÊU VỀ KINH DOANH/CÔNG VIỆC
- Lợi nhuận trước thuế: 37,6 tỷ đồng
- Thu phí dịch vụ: 5 tỷ đồng, trong đó + KHDN: 1,5 tỷ đồng + KHCN: 3,5 tỷ đồng
- Nợ quá hạn: + KHDN: <=0,3%
+ KHCN: <=1%
2.
MỤC TIÊU HƢỚNG ĐẾN KHÁCH HÀNG
- Đáp ứng nhu cầu hợp lý của khách hàng bên ngoài: + Không quá khiếu nại của 12 khách hàng trong năm.
+ Thời gian giải quyết khiếu nại của khách hàng trong vòng 1 ngày kể từ khi nhận được thông tin khiếu nại.
- Đảm bảo chất lượng dịch vụ khách hàng: Điểm tổng kết năm được đo lường từ việc đánh giá chất lượng dịch vụ (MS) tại đơn vị đat 85 điểm.
3.
MỤC TIÊU XÂY DỰNG/ÁP DỤNG QUY TRÌNH NỘI BỘ CỦA ĐƠN VỊ VÀ CỦA NGÂN HÀNG
- Mức độ áp dụng ISO: đạt từ 85% trở lên - Mức độ áp dụng 5S: đạt từ 85% trở lên
4.
MỤC TIÊU ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN
- 100% nhân viên được đào tạo về chuyên môn trước khi đảm nhiệm công
việc
- Đảm bảo đào tạo 100% quy trình nội bộ cho nhân viên tại đơn vị - Đảm bảo mỗi vị trí quản lý có 1 nhân sự thừa kế - Tham gia đào tạo 100% các khóa CORE – banking T24 cho các chi nhánh,
48
(Nguồn: Kế hoạch hoạt động của chi nhánh ABBank Hà Nội)
3.2 Những để xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng An Bình – Cn Hà Nội.
Từ khi chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước, hệ thống NHTM đã khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường. Thật vậy,
thông qua hoạt động của các NHTM, nhà nước có thể điều tiết nền kinh tế quốc gia
như thực hiện các chính sách tiền tệ quốc gia, giảm hay tăng lượng tiền trong lưu
thông, điều chỉnh mức cung cầu ngoại tệ, ổn định giá....thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển của đất nước, hệ thống NHTM luôn luôn củng cố và hoàn thiện, trong đó có NH TMCP An Bình – CN Hà Nội.
Hưởng ứng phong trào khôi phục và củng cố hệ thống NHTM Việt Nam, yêu cầu chi
nhánh đặt ra và luôn nâng cao hiệu quả hoạt động để tồn tại một cách bền vững và lâu
dài. Để thực hiện điều này, ABBank – CN Hà Nội cần có một số biện pháp cụ thể sau:
3.2.1 Tăng cƣờng công tác tiếp thị.
Để hoạt động cho vay đến với phần lớn các DNV&N trên thành phố Hà Nội,
ngân hàng cần có chiến lược Marketing bằng hình thức quảng cáo trên các trang báo,
đài, phương tiện thông tin đại chúng. Trong chiến lược Marketing khâu đóng vai trò
quan trọng là nghệ thuật giao tiếp của cán bộ tín dụng, vì nó sẽ ảnh hưởng đến sự lựa
chọn và nhìn nhận của khách hàng. Vì vậy cần phải lựa chọn đội ngũ tiếp thị vừa có
ngoại hình tốt, vừa có khả năng giao tiếp, am tường nghiệp vụ kĩ thuật. Bộ phận này sẽ chịu trách nhiệm phân tích thông tin về phía khách hàng giúp cán bộ tín dụng ra quyết
định cho vay.
3.2.2 Cải tiến quy trình cho vay
Nếu có thể cán bộ tín dụng cần rút ngắn thời gian từ khi khách hàng đến nộp đơn
xin vay đến lúc được giải ngân càng ngắn càng tốt. Bởi trong kinh doanh thời điểm
thuận lợi để đầu tư kịp thời thường mang lại lợi nhuận cao nhất cho khách hàng. Như
vậy, việc rút ngắn thời gian tối đa đi kèm với những thủ tục đơn giản, nhanh gọn
nhưng vẫn đảm bảo tính pháp lý chặt chẽ sẽ có tác động rất lớn trong tâm lý khách
hàng khi đến giao dịch với ngân hàng.
Cải cách quy trình về thủ tục thẩm định, về hạn chế chi phí, thủ tục cho vay cải
cách theo hướng:
Món càng lớn thủ tục càng chặt
Món càng nhỏ thủ tục càng gọn nhẹ
3.2.3 Mở rộng hình thức tín dụng
Chi nhánh cần phải mở rộng các hình thức thế chấp, cầm cố và thu chi hộ. Điều này không những giúp cho chi nhánh cạnh tranh với các ngân hàng khác mà còn thu
hút ngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng, tạo uy tín vững chắc cho ngân
49
hàng.
3.2.4 Tăng cƣờng công tác thẩm định và kiểm tra giám sát các khoản tín dụng đã
cấp
- Tăng cường công tác thẩm định:
Là công tác quan trọng của cán bộ tín dụng, giữ vị trí quyết định đến chất lượng
tín dụng và khả năng phòng ngừa rủi ro.
Trong hoạt động tín dụng việc đánh giá đúng khả năng trả nợ của khách hàng
để xác định đúng mức tín dụng và thời hạn hợp lý để từ đó hạn chế rủi ro là một vấn
đề vô cùng phức tạp.
Việc thẩm định uy tín của khách hàng, được xem là yếu tố quan trọng nhất
trong quan hệ tín dụng. Đặc biệt khi đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn,
ngân hàng cần phải nắm rõ nguồn trả nợ chính tức là lợi nhuận của phương án xin vay
và các nguồn khác mà khách hàng có thể cam kết để trả nợ cho ngân hàng khi nguồn nợ chính có sự cố đồng thời xem xét những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra.
Khi quyết định cho vay không nên coi tài sản thế chấp, cầm cố là chỗ dựa an
toàn. Trước hết cần phải xác định rõ quan điểm trước khi cho vay là nguồn trả nợ của
khách hàng phải là thu nhập tử dự án vay. Vì mục đích cung cấp tín dụng của ngân
hàng là giúp khách hàng có vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mang
lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp, cho ngân hàng, cho xã hội.
Do vậy yếu tố quyết định đến việc cho vay là hiệu quả của dự án chứ không phải là tài sản thế chấp, cầm cố. Việc phát mãi tài sản thế chấp, cầm cố là biện pháp
cuối cùng để thu nợ nhằm bảo toàn vốn khi không còn khả năng nào khác. Bởi nó sẽ
làm ảnh hưởng không tốt tới tâm lý khách hàng và mối quan hệ của khách hàng đối
với ngân hàng. Trong điều kiện nước ta hiện nay hệ thống pháp lý còn thiếu chặt chẽ,
tính pháp lý của tài sản dùng để thế chấp còn chưa đủ chuẩn hóa thì việc phát mại tài
sản là không đơn giản.
- Kiểm tra giám sát các khoản tín dụng đã cấp: là nhiệm vụ cơ bản của ngân hàng. Mặc dù quản lý tốt sẽ không giải quyết được các khoản vay có vấn đề, nhưng
50
thường các khoản vay tốt sẽ có vấn đề nếu việc giám sát không được quan tâm. Ngân hàng giám sát chặt chẽ các khoản vay để có những thông tin kịp thời của người vay, cũng như tuân thủ các điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng. Tùy theo thời gian cho vay mà cán bộ tín dụng tiến hành những cuộc khảo sát nhằm xem xét lại mối quan hệ với khách hàng. Nắm bắt toàn bộ thông tin của khách hàng là điều kiện cần thiết để thu hút thêm những khách hàng tin cậy và sàng lọc những khách hàng không thiện chí.
3.2.5 Đa dạng hóa phƣơng thức xử lý nợ quá hạn
Do mục tiêu của ngân hàng không chỉ là lợi nhuận mà còn thúc đẩy nên kinh tế
phát triển. Chính vì vậy ở bất kể hoàn cành nào trên nguyên tắc của ngân hàng không bao giờ dồn con nợ vào bước đường cùng (phá sản) mà ngân hàng luôn tìm cách giúp
đỡ, tạo điều kiện cho họ đứng dậy tìm về thị trường. Đây là biện pháp hợp lý nhất để
xử lý một khoản nợ tín dụng đã trở thành nợ khó đòi.
3.2.6 Giải pháp về lãi suất
Xây dựng chính sách lãi suất phù hợp với từng khách hàng. Lãi suất của mỗi khoản vay là nguồn thu của mỗi ngân hàng nhưng lại là chi phí đối với khách hàng.
Thực tế cho thấy có sự trái ngược về lợi ích và mong muốn về lãi suất giữa ngân hàng
và khách hàng. Khách hàng luôn mong muốn được vay với lãi suất thấp nhất có thể
làm giảm chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó ngân hàng cần một mức lãi suất thỏa đáng để bù đắp chi phí huy động vốn và mang lại lợi ích cho ngân
hàng. Do đó, xây dựng chính sách lãi suất phù hợp và phù hợp quy chế nhà nước là rất
cần thiết. Để làm tốt công tác này đòi hỏi một khâu quan trọng của hoạt động cho vay
là định giá tiền vay, làm sao lãi suất đặt giá ở một mức giá phù hợp và phù hợp với thị
trường, thu hút khách hàng và đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng.
3.2.7 Gia tăng tiện ích cho khách hàng
Thông qua các sản phẩm, dịch vụ với 2 định hướng chính: Phát triển sản phẩm ứng dụng công nghệ hiện đại mới, giúp tăng tiện ích sử dụng và thuận tiện cho khách
hàng khi giao dịch. Phát triển theo gói sản phẩm tích hợp, đáp ứng nhu cầu trọn gói và
hiệu quả về mặt chi phí cho khách hàng.
Nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua việc hoàn thiện chính sách khách hàng,
đa dạng hóa kênh phân phối, trong đó, chú trọng đầu tư nâng cấp, mở rộng các kênh
bán hàng phi vật lý ( Internet Banking, Phonebanking...)
3.2.8 Nâng cao chất lƣợng đỗi ngũ công nhân viên
Thường xuyên tổ chức bồi dưỡng để nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ công nhân
viên nói riêng và toàn thể nhân viên nói chung. Trang bị thêm những kiến thức về kinh tế, kĩ thuật, marketing....để từ đó bộ máy tổ chức có thể đương đầu và cạnh tranh với cơ chế thị trường.
51
Vấn đề quyền lợi và trách nhiệm của cán bộ nhân viên cũng cần được xem xét hợp lý. Trách nhiệm và công tác của bộ phận này rất nặng nề, chi nhánh cần có những chính sách đãi ngỗ hợp lý như: chế độ lương bổng, điều kiện làm việc...có như vậy ngân hàng mới giữ được những cán bộ giỏi trách được những tiêu cực trong hoạt động tín dụng.
3.2.9 Kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phƣơng
Phối hợp với các cấp ủy, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, tuyên truyền
hướng dẫn khách hàng về thủ tục vay vốn và sử dụng vốn có hiêu quả. Sự phối hợp này càng chặt chẽ bao nhiêu thì kết quả đạt được càng thiết thực bấy nhiêu.
3.3 Một số kiến nghị 3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các bộ liên ngành
Hoạt động tín dụng của NHTM hay bất kể hoạt động nào đều chịu sự tác động
của chính sách nhà nứơc. Qua phân tích và đánh giá trên, để tạo điều kiện cho DNV&N cũng như tạo điều kiện cho NHTM CP An Bình – CN Hà Nội, Nhà nứơc và
các bộ liên quan cần có những chính sách thiết thực hơn nữa, nhất là chính sách tín
dụng. Sau đây là một số kiến nghị với nhà nước và các bộ ngành liên quan:
- Nhà nuớc cần cụ thể hoá chương trình phát triển DNV&N bằng các chính sách hỗ trợ cụ thể về tài chính, thuế, lao động... đi kèm với sự đồng bộ, kịp
thời, của các văn bản huớng dẫn.
- Nhà nước cần xác lập và hoàn thiện môi trường pháp lý đầy đủ cho hoạt động của ngân hàng. Triển khai thực hiện tốt thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo,
cập nhật, và cung cấp các thông tin về giao dịch một cách thuận tiện nhất. Chỉ
đạo các cơ quan chức năng giúp đỡ các ngân hàng trong việc hoàn thiện thủ
tục thế chấp tài sản, vay vốn ngân hàng cũng như xử lý tài sản thế chấp khi khách hàng không trả được nợ.
- Các cấp, các ngành cần nhanh chóng hoàn thiện nhanh đề án quy hoạch, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất, sở hữu nhà cho các cá nhân, các tổ chức
để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thế chấp ngân hàng.
- Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ và quản lý các DNV&N hoạt động theo đúng các quy định pháp luật hiện hành. Cần nghiên cứu để đưa ra chế độ
phù hợp với thực tế DNV&N hiện nay. Tổng cục thuế cần có những biện pháp
cương quyết và hữu ích hơn trong công tác quản lý tài chính, hoá đơn cũng
như việc chấp hành luật thuế của các DNV&N.
3.3.2 Kiến nghị với NHTM An Bình – CN Hà Nội
Mở rộng hơn nữa quy mô của ngân hàng tại những khu vực tiềm năng, phát triển
thêm nhiều phòng giao dịch.
52
Đẩy mạnh công tác tiếp thị, tìm kiếm khách hàng mới, đồng thời luôn giữ mối quan hệ với các khách hàng cũ, khách hàng uy tín. Định kì tổ chức hội nghị khách hàng, phát thư góp ý cho khách hàng để từ đó phát huy ưu điểm và khắc phục những điểm chưa tốt.
Tiếp tục đào tạo, nâng cao bồi dưỡng trình độ cán bộ nhân viên, nêu cao tinh thần
trách nhiệm, ý thức kỷ luật, thường xuyên đổi mới phong cách phục vụ, tận tuỵ vì
công việc, vì khách hàng.
Trong xu thế hội nhập như hiện nay, các doanh nghiệp trong nước sẽ có khả năng
yếu đi và các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng mạnh lên. Do vậy ngân hàng cần
mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp nước ngoài.
3.3.3 Kiến nghị với hội sở ABBank
Mạnh dạn phân quyền cho các ngân hàng như quyền mua sắm tài sản phục vụ hoạt động kinh doanh, tăng hạn mức phán quyết cho vay đối với mỗi ngân hàng của
chi nhánh. Do ngày nay, kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu vay vốn ngày càng tăng,
mức vay vốn của mỗi khách hàng ngày càng lớn nếu NHTM An Bình vẫn chỉ duy trì
mức vốn vay là 3 tỉ đồng như trước đây thì gầy nhiều hạn chế cho Ngân hàng chi nhánh. Hiện nay, số món vay trên 3 tỉ đồng của mỗi ngân hàng chi nhánh ngày càng
nhiều do mục đích sản xuất kinh doanh của DNV&N ngày càng tăng nên khi chi
nhánh xin ý kiến của hội sở thì sẽ mất rất nhiều thời gian chờ đợi của khách hàng và có
thể họ sẽ chuyển sang xin vay có ngân hàng khác, trong khi ngân hàng chi nhánh đánh
giá hiệu quả của món vay là rất tốt.
Ngân hàng cần phải đầu tư nhiều hơn vào việc nâng cấp phần mềm mấy vi tính
53
để giảm các lỗi về kĩ thuật để giảm thời gian chờ đợi lâu của khách hàng.
Kết luận chƣơng:
Qua phân tích ở chương 2, thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay của ngân
hàng có những mặt đạt được song vẫn còn nhiều hạn chế cần có những biện pháp giải quyết hiệu quả. Do vậy, chương 3 đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động cho vay đối với DNV&N tại chi nhánh ABBank Hà Nội nói riêng và Hội sở
ABBank nói chung. Những giải pháp về tăng cường công tác tiếp thị, tiến quy trình
cho vay, mở rộng hình thức tín dụng, tăng cường công tác thẩm định và kiểm tra giám
sát các khoản tín dụng đã cấp, đa dạng hóa phương thức xử lý nợ quá hạn, nâng cao chất lượng đỗi ngũ công nhân viên và kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương.
Các giải pháp này có liên quan tới nhau nên cần được ngân hàng áp dụng một cách
54
đồng thời và cũng cần có sự giúp đỡ của Chính phủ và các bộ nghành liên quan.
KẾT LUẬN
Sự xuất hiện của ngân hàng là cần thiết và hoạt động kinh doanh của ngân hàng
là một lĩnh vực hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thực hiện chính
sách tiền tệ quốc gia, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đẩy mạnh công
nghiệp hiện đại hóa đất nước. Chi nhánh ABBank Hà Nội không ngừng phát triển, đổi mới nhằm thích nghi với những biến động thị trường cũng như phối hợp đồng bộ với hệ thống ngân hàng quốc gia.
Qua phân tích cho ta thấy được kết quả hoạt động của ngân hàng ABBank – CN
Hà Nội đã hoạt động khá tốt về việc cho vay và thu nợ, đem lại lợi nhuận cho ngân
hàng với mức lợi nhuận của năm sau cao hơn năm trước. Bên cạnh đó ngân hàng cũng
đã làm tốt nhiệm vụ của cấp trên giao và làm đúng vai trò của mình đối với chính sách
phát triển của Nhà nước.
Đạt được kết quả trên phần lớn là do sự đóng góp tích cực của cán bộ công nhân
viên trong ngân hàng, ý thức trách nhiệm của mình, nội bộ đoàn kết nhất trí tạo nên
sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ngoài ra không thể không nói
đến sự giúp đỡ nhiệt tình của các ban nghành lãnh đạo, đoàn thể, chính quyền địa
phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ của
mình trong việc cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế.
Qua quá trình tìm hiểu thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay đối với DNV&N
cho thấy dư nợ của ngân hàng tăng lên đáng kể tuy chưa chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
dư nợ của toàn chi nhánh. Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế, nên bài luận của em
còn nhiều thiếu xót và tính toàn diện, rất mong được sự thông cảm và góp ý của thầy
cô.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Thùy Linh và ban lãnh đạo nhân viên phòng quan hệ khách hàng doanh nghiệp của chi nhánh ABBank Hà Nội đã
chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành bài luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 12 tháng 2 năm 2014 Sinh viên
55
Nguyễn Thị An Giang
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS. Mai Văn Bạn, Giáo trình NHTM, ĐH Thăng Long, NXB Tài Chính,
2009
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình NHTM, Học viện Ngân hàng, NXB
Thống Kê, 2009
3. Báo cáo tín dụng của NHTM ABBank – CN Hà Nội năm 2010 - 2012 4. Các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng, Luật Ngân hàng
Nhà nước số 46/2010/QH12
56
5. Trang web của NHTM ABBank và Ngân hàng Nhà nước
57

