BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH VIETLAND
Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành
: Nguyễn Hữu Lâm : A16105 : Tài chính
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH VIETLAND
Giảng viên hƣớng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành
: Th.s Nguyễn Hồng Nga : Nguyễn Hữu Lâm : A16105 : Tài chính
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, e xin trân trọng gửi lừi cảm ơn tới các thầy giáo,
cô giáo trường Đại học Thăng Long, đặc biệt là cô giáo Th.s Nguyễn Hồng Nga đã nhiệt tình hướng dẫn e trong suốt quá trình thực hiện. Em cũng xin cảm ơn các thầy
giáo, cô giáo trong nhà trường đã truyền đạt cho e rất nhiều kiến thưc bổ ích để thực
hiện khóa luận và cũng có hành trang vững chắc cho sự nghiệp tương lai.
Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hữu Lâm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiên và
có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và
được trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Hữu Lâm
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ................................................................................... 1
1.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp ........... 1
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp ........................................................ 1
1.1.2. Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp ...................................................... 1
1.1.3. Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp ................................................... 4
1.2. Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính Doanh nghiệp .............................. 5
1.2.1. Thông tin chung ..................................................................................................... 5
1.2.2. Thông tin theo ngành kinh tế ................................................................................. 5
1.2.3. Thông tin kế toán ................................................................................................... 5
1.3. Trình tự phân tích tài chính doanh nghiệp .......................................................... 9
1.4. Phƣơng pháp phân tích tài chính Doanh nghiệp ................................................. 9
1.4.1. Phương pháp so sánh ............................................................................................ 9
1.4.2. Phương pháp phân tích tỷ số ............................................................................... 10
1.4.3. Phân tích tài chính theo phương pháp Dupont ................................................... 10
1.5. Nội dung phân tích tình hình tài chính Doanh nghiệp ...................................... 11
1.5.1. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh .............................................. 11
1.5.2. Phân tích tình hình biến động của tài sản và nguồn vốn .................................... 13
1.5.3. Phân tích khả năng thanh toán ............................................................................ 13
1.5.4. Phân tích khả năng quản lý nợ ............................................................................ 15
1.5.5. Phân tích khả năng quản lý tài sản ..................................................................... 16
1.5.6. Phân tích khả năng sinh lời của Doanh nghiệp .................................................. 19
1.6. Các nhân tố ảnh hƣởng tới chất lƣợng phân tích tài chính .............................. 21
1.6.1. Chất lượng thông tin sử dụng .............................................................................. 21
1.6.2. Trình độ cán bộ phân tích ................................................................................... 21
1.6.3. Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành .............................................................. 22
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY TNHH VIETLAND .................................................................................. 23
2.1. Tổng quan về công ty TNHH Vietland ............................................................... 23
2.1.1. Vài nét về công ty TNHH Vietland ...................................................................... 23
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH Vietland ............................ 23
2.1.3. Lĩnh vực kinh doanh của công ty TNHH Vietland .............................................. 23
2.1.4. Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH Vietland ....................................................... 25
2.1.5. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận .............................................................. 25
2.2. Phân tích tình hình tài chính của công ty TNHH Vietland .............................. 27
2.2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ........................................... 27
2.2.2. Phân tích tình hình biến động về tài sản – nguồn vốn của công ty ..................... 31
2.2.3. Phân tích khả năng thanh toán của công ty ........................................................ 39
2.2.4. Phân tích khả năng quản lí nợ của công ty ......................................................... 42
2.2.5. Phân tích khả năng quản lý tài sản của công ty .................................................. 44
2.2.6. Phân tích các chỉ tiêu sinh lời của công ty .......................................................... 50
2.2.7. Đánh giá chung thực trạng tài chính của Công ty TNHH Vietland .................... 56
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
TẠI CÔNG TY TNHH VIETLAND.......................................................................... 59
3.1. Định hƣớng phát triển của Công ty TNHH Vietland trong thời gian tới ....... 59
3.1.1. Hướng phát triển của thị trường bất động sản Việt Nam trong những năm tới . 59
3.1.2. Định hướng phát triển của Công ty TNHH Vietland .......................................... 59
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tình hình tài chính của Công ty
TNHH VietLand. ......................................................................................................... 60
3.2.1. Những yêu cầu cơ bản khi xây dựng giải pháp nâng cao tình hình tài chính. .... 60
3.2.2. Những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao tình hình tài chính của Công ty TNHH
Vietland. ......................................................................................................................... 61
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt
Tên đầy đủ
TNHH LNST TS CSH BQ SXKD
Trách nhiệm hữu hạn Lợi nhuận sau thuế Tài sản Chủ sỡ hữu Bình quân Sản xuất kinh doanh
STT a) b) c) d) e) f)
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
1) Lý do chọn đề tài: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành đầu
tư hay sản xuất họ đều mong muốn đồng tiền của họ bỏ ra sẽ mang lại lợi nhuận cao
nhất. Bên cạnh những lợi thế sẵn có thì nội lực tài chính của doanh nghiệp là cơ sở cho hàng loạt các chính sách đưa doanh nghiệp đến thành công. Việc phân tích tình hình
tài chính sẽ giúp các doanh nghiệp xác định đầy đủ và đúng đắn nguyên nhân mức độ
ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp mình và Công ty
TNHH VietLand cũng không nằm ngoài điều kiện này.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định
bao gồm: vốn lưu động, vốn cố định. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổ chức, huy
động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về
tài chính, tín dụng và chấp hành luật pháp. Vì vậy để kinh doanh đạt hiệu quả mong
muốn, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải phân tích hoạt động kinh doanh của
mình, đồng thời dự đoán điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, vạch ra chiến lược
phù hợp. Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp thấy rõ thực trạng tài chính hiện tại, xác định đầy đủ và đúng đắn
nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính. Từ đó có giải
pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính.
Phân tích tình hình tài chính chính là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà
quản trị, nhà đầu tư, nhà cho vay... mỗi đối tượng quan tâm đến tài chính doanh nghiệp
trên góc độ khác nhau để phục vụ cho lĩnh vực quản lý, đầu tư của họ. Chính vì vậy,
phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là công việc làm thường xuyên không thể
thiếu trong quản lý tài chính doanh nghiệp, nó có ý nghĩa thực tiễn và là chiến lược lâu
dài. Chính vì tầm quan trọng đó em chọn đề tài “PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH VIETLAND” để làm khóa luận tốt nghiệp.
2) Mục tiêu nghiên cứu Bất kỳ hoạt động kinh doanh trong các điều kiện khác nhau như thế nào đi nữa cũng còn tiềm ẩn những khả năng tiềm tàng chưa phát hiện được, chỉ thông qua phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp mới có thể phát hiện để kinh doanh có hiệu quả. Chính vì lẽ đó mà mục tiêu nghiên cứu của đề tài Phân tích tình hình tài chính tại Công ty TNHH Vietland là để đánh giá sức mạnh tài chính, hiệu quả hoạt động kinh
doanh và những hạn chế còn tồn tại của Công ty. Qua việc nghiên cứu đề tài em có thể vận dụng những kiến thức đã được học vào thực tiễn, tiến hành xem xét, tổng hợp phân tích các số liệu, các báo cáo tài chính được Công ty cung cấp, từ các cơ sở đó
đánh giá tình hình tài chính của Công ty. Trên thực tế đó em mạnh dạn đề xuất một số
giải pháp với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự phát triển chung của cả
doanh nghiệp.
3) Nội dung nghiên cứu Dựa vào các báo cáo tài chính: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh,
các báo biểu kế toán chúng ta sẽ tiến hành: Đánh giá khái quát về tình hình tài chính
của doanh nghiệp và phân tích tình hình biến động và mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảo cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh.
Từ đó ta có thể đánh giá được mặt mạnh, mặt yếu cũng như các nhân tố ảnh
hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đưa ra những giải pháp
để cải thiện những vấn đề, khó khăn mà Công ty TNHH Vietland gặp phải.
4) Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu qua các báo cáo và tài liệu của cơ
quan thực tập.
- Phương pháp xử lý số liệu để thực hiện đề tài đã tiến hành thu thập tài liệu từ
các báo cáo tài chính của doanh nghiệp như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh, các báo biểu kế toán, sẽ tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh các số
liệu để đạt được mục tiêu nghiên cứu. Sau đó tiến hành phân tích các số liệu thực tế
thông qua các báo cáo, tài liệu của cơ quan thực tập.
So sánh, phân tích, tổng hợp các biến số biến động qua các năm, qua đó có thể thấy thực trạng doanh nghiệp trong những năm qua, trong hiện tại và cả những định
hướng trong tương lai
5) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận tiến hành phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH Vietland
trong ba năm: 2011, 2012, 2013
6) Kết cấu bài khóa luận Bài khóa luận gồm 3 chương như sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp.
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tài chính tại Công ty TNHH Vietland. Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động tài chính
của Công ty TNHH Vietland.
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và
các công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức
độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của
doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định
quản lý phù hợp.
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá sản
tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá
khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh
nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những
dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp
trong tương lai. Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính - một
trong các hướng dự đoán doanh nghiệp. Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo
nhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với
mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích (trong hay ngoài doanh nghiệp).
1.1.2. Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài
chính doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng
trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Do vậy sẽ có
nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh
nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng... kể cả các cơ quan Nhà nước và người
làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau.
Đối với nhà quản lí:
Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa. Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán
nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý doanh nghiệp phải giải
quyết ba vấn đề quan trọng sau đây:
1
Thứ nhất: Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình sản xuất
kinh doanh lựa chọn. Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.
Thứ hai: Nguồn vốn tài trợ là nguồn nào?
Thứ ba: Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế
nào?
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanh nghiệp, nhưng đó là những vấn đề quan trọng nhất. Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở
để đề ra cách thức giải quyết ba vấn đề đó.
Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính và dựa
trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các quyết định vì lợi ích của cổ đông của doanh nghiệp. Các quyết định và hoạt động của nhà quản lý tài chính đều
nhằm vào các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp: đó là sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnh
tranh và chiếm được thị phần tối đa trên thương trường, tối thiểu hoá chi phí, tối đa
hoá lợi nhuận và tăng trưởng thu nhập một cách vững chắc. Doanh nghiệp chỉ có thể
hoạt động tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà quản
lý được đưa ra là đúng đắn. Muốn vậy, họ phải thực hiện phân tích tài chính doanh
nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp là những người có nhiều lợi thế
để thực hiện phân tích tài chính một cách tốt nhất.
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả năng thanh
toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi, nhà quản
lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng
của doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó, họ có thể định hướng cho giám đốc tài chính
cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ
phần và lập kế hoạch dự báo tài chính. Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để
kiểm soát các hoạt động quản lý.
Đối với các nhà đầu tư: Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro. Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của các doanh nghiệp.
Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu tư và nguồn tài trợ. Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển vọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó
đưa ra những quyết định phù hợp. Các nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất có một điều kiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương. Bên cạnh đó,
chính sách phân phối cổ tức và cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề
được các nhà đầu tư hết sức coi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ. Ta
2
biết rằng thu nhập của cổ đông bao gồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần giá
trị tăng thêm của cổ phiếu trên thị trường. Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và vốn chủ sở hữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh nghiệp tăng vốn đầu tư
vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS). Hơn nữa các cổ đông
chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy mô doanh nghiệp khi quyền lợi của họ ít nhất không
bị ảnh hưởng. Bởi vậy, các yếu tố như tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu
trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu
quả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân
tích tài chính.
Đối với các chủ nợ:
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thực hiện
nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của doanh nghiệp thì phân
tích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng thương mại cho
doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được xem
xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn. Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn,
người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp,
nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ khi đến hạn trả. Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả
năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng
sinh lời này.
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ chủ
yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ chú ý đặc biệt đến số
lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ
ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ
sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro. Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay.
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không, họ
cần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và trong thời gian sắp tới.
3
Đối với người lao động:
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính
của doanh nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có
tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động. Ngoài ra
trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định. Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi
và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp.
Đối với các cơ quan quản lí Nhà nước:
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh
doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách,
chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình
thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng...
Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích
các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống các
phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc
độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách
chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và
đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp.
1.1.3. Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp
Với ý nghĩa quan trọng như trên, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài chính
là việc cung cấp những thông tin chính xác về mọi mặt tài chính của doanh nghiệp,
bao gồm:
Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn, tình hình nguồn vốn Đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình kinh doanh và kết
quả tài chính của hoạt động kinh doanh, tình hình thanh toán.
Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hoá của các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biện pháp có hiệu quả để khắc phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực tiềm tàng của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh.
4
1.2. Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính Doanh nghiệp
Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp cho việc ra quyết định về mặt tài chính và giúp cho việc dự kiến kết quả tương lai của doanh
nghiệp nên thông tin sử dụng để phân tích tài chính không chỉ giới hạn trong phạm vi
nghiên cứu các báo cáo tài chính mà phải mở rộng sang các lĩnh vực: các thông tin
chung về kinh tế, thuế, tiền tệ; các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1. Thông tin chung
Đây là các thông tin về tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp trong năm. Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh
tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động của giá cả các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, từ đó tác động đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Khi các tác động diễn ra theo chiều hướng có lợi, hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận tăng và nhờ đó kết quả
kinh doanh trong năm là khả quan. Tuy nhiên khi những biến động của tình hình kinh
tế là bất lợi, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì
vậy để có được sự đánh giá khách quan và chính xác về tình hình hoạt động của doanh
nghiệp, chúng ta phải xem xét cả thông tin kinh tế bên ngoài có liên quan.
1.2.2. Thông tin theo ngành kinh tế
Nội dung nghiên cứu trong phạm vi ngành kinh tế là việc đặt sự phát triển của
doanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành kinh doanh.
Đặc điểm của ngành kinh doanh liên quan tới: Tính chất của các sản phẩm. Quy trình kỹ thuật áp dụng. Cơ cấu sản xuất-kinh doanh: công nghiệp hay dịch vụ, công nghiệp nặng hoặc công nghiệp nhẹ, những cơ cấu sản xuất này có tác động đến khả
năng sinh lời, vòng quay vốn dự trữ... Nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế.
Việc kết hợp các thông tin theo ngành kinh tế cùng với thông tin chung và các thông tin liên quan khác sẽ đem lại một cái nhìn tổng quát và chính xác nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thể đánh giá, kết luận chính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.2.3. Thông tin kế toán
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm rõ mục tiêu của dự đoán tài chính. Từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, thông tin
số lượng đến thông tin giá trị đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra nhận xét, kết
luận sát thực. Tuy nhiên, thông tin kế toán là nguồn thông tin đặc biệt cần thiết. Nó
5
được phản ánh đầy đủ trong các báo cáo kế toán của doanh nghiệp. Phân tích tài chính
được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán.Các báo cáo tài chính gồm có:
1.2.3.1. Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của một
doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là một báo cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, dưới
hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản. Xét về bản chất, bảng
cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công
nợ phải trả (nguồn vốn).
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là bảng cân
đối kế toán. Qua đó ta có thể nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quát tình hình tài
chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh
tế, tài chính của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán gồm 2 phần: tài sản và nguồn vốn.
Trong đó:
Tài sản = Nguồn vốn
Hay: Tài sản = Vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
- Phần tài sản: Bao gồm có tài sản lưu động và tài sản cố định. Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu dài
gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai.
Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần tài sản cho phép đánh giá tổng quát về quy
mô vốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
- Phần nguồn vốn: Bao gồm công nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, phản ánh
các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp. Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể
hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp
vốn (Nhà nước, ngân hàng, cổ đông, các bên liên doanh...). Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bên phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh, về số tài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ (với người lao động, với nhà cung cấp, với Nhà nước...).
Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sản hiện có, căn cứ vào đó có thể biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồng thời phần nguồn
vốn cũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán:
Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua
các chỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn.
6
Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp: tài sản
lưu động, tài sản cố định.
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và các
khoản phải trả.
Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp.
1.2.3.2. Báo cáo kết quả kinh doanh
Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài
chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh. Khác với bảng
cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của vốn
trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
đồng thời cũng giúp cho nhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi
bán hàng hoá, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành
doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh: lãi
hay lỗ trong năm. Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời
kỳ nhất định. Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng
các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Biểu mẫu “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” có 3 phần:
Phần I: Lãi, lỗ. Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn
giảm.
Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu, lợi
nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp. Do
đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho ta đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳ doanh nghiệp kinh doanh có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn là bao nhiêu. Từ đó tính được tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trong tương lai.
Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, ta biết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không. Nếu số thuế còn phải
nộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là không khả quan.
Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta có
những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
7
1.2.3.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh
nghiệp. Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của cải (tài sản) và nguồn
gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí
phát sinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh
nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp. Những luồng vào ra của tiền và
các khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động
sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động bất thường.
- Dòng tiền từ hoạt động sản xuất, kinh doanh: Là các dòng tiền ra và vào trực
tiếp liên quan đến thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh được ghi nhận trên bảng
thu nhập.
- Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: Là các dòng tiền vào ra liên quan đến việc mua
và thanh lí các tài sản sản xuất kinh doanh do Công ty sử dụng hoặc đầu tư vào các
chứng khoán của Công ty khác. Dòng tiền ra phản ánh các khoản đầu tư tiền mặt toàn
bộ để có được các tài sản này. Dòng tiền vào chỉ được ghi nhận khi nhận được tiền từ
việc thanh lí các tài sản đầu tư trước.
- Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Bao gồm dòng tiền ra và vào liên quan đến
các nghiệp vụ tiền tệ với các chủ thể ngoài doanh nghiệp (từ các chủ sở hữu và chủ nợ)
tài trợ cho doanh nghiệp và các hoạt động của doanh nghiệp. Dòng tiền vào ghi nhận
các hoạt động tài chính nhận tiền từ chủ sở hữu vốn và chủ nợ. Dòng tiền ra ngược lại.
Các hoạt động đó gồm:
Tác dụng của việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp cho nhà quản trị một số thông tin quan trọng
như là:
Lượng tiền mặt có được hiện tại là do đâu; Tiền được sử dụng chủ yếu cho những hoạt động nào; Sự khác biệt giữa lợi nhuận và lượng tiền mặt hiện có.
Căn cứ vào Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, kết hợp với các thông tin trên các Báo cáo tài chính khác, nhà quản trị có thể nắm được tình hình sử dụng tiền, dự báo lượng tiền cần thiết để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có các phương án phù
hợp như vay vốn hoặc cho vay để tăng hiệu quả sử dụng tiền.
8
1.3. Trình tự phân tích tài chính doanh nghiệp
- Thu thập thông tin Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết
minh thực trạng sử dụng tài chính của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tài
chính. Nó bao gồm những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những
thông tin kế toán và những thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị ...trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính
doanh nghiệp, là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy, phân tích tài
chính trong thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp.
- Xử lý thông tin Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập
được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng
dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích
đó đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất
định nhằm tính toán so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyờn nhân các kết quả đó
đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.
- Dự đoán và quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết
để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra quyết định tài chính. Có thể nói, mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra quyết định tài chính. Đối với chủ doanh
nghiệp phân tích tài chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt
động của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của doanh nghiệp, tăng trưởng, phát
triển, tối đa hoá lợi nhuận. Đối với người cho vay và đầu tư vào xí nghiệp sẽ đưa ra
các quyết định về tài trợ và đầu tư; đối với nhà quản lý sẽ đưa ra các quyết định về
quản lý doanh nghiệp.
1.4. Phƣơng pháp phân tích tài chính Doanh nghiệp
1.4.1. Phương pháp so sánh
Là phương pháp thường được sử dụng trong phân tích tài chính; tuỳ thuộc vào mục tiêu phân tích mà có thể so sánh theo các cách khác nhau. So sánh giữa thực tế với kế hoạch để thấy được tình hình thực hiện kế hoạch của Doanh nghiệp, so sánh số liệu năm phân tích với các năm trước đó để thấy được mức độ tăng giảm, xu hướng phát triển của Doanh nghiệp , so sánh số liệu giữa Doanh nghiệp với các Doanh nghiệp cùng ngành hoặc với số liệu trung bình ngành để thấy được vị trí, sức mạnh của Doanh
nghiệp .
Khi phân tích thì có thể phân tích theo chiều ngang cũng như chiều dọc. Phân
tích theo chiều ngang là so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối của một chỉ tiêu cụ
thể nào đó qua nhiều thời kỳ, qua đó ta sẽ thấy được xu hướng biến động của một chỉ
9
tiêu nào đó, là cơ sở để đánh giá được tình hình tốt lên hay xấu đi, là cơ sở để dự đoán
chỉ tiêu đó. Phân tích theo chiều dọc là xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong chỉ tiêu tổng thể, từ đó chúng ta thấy được mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu đến chỉ tiêu
tổng thể hoặc là mức độ lớn nhỏ của từng chỉ tiêu trong chỉ tiêu tổng thể.
1.4.2. Phương pháp phân tích tỷ số
Phân tích tỷ số là kỹ thuật phân tích căn bản và quan trọng nhất của phân tích tài chính. Phân tích các tỷ số tài chính liên quan đến việc xác định và sử dụng các tỷ số tài
chính để đo lường và đánh giá tình hình và hoạt động tài chính của Doanh nghiệp .
Dựa vào các báo cáo tài chính thì ta có nhiều tỷ số khác nhau; dựa vào nguồn số
liệu để xác định các tỷ số thì ta có các tỷ số sau: các tỷ số được xác định từ bảng cân đối kế toán, các tỷ số được xác định từ báo cáo kết quả kinh doanh, các tỷ số đước xác
định từ số liệu của cả hai bảng.
Dựa vào mục tiêu phân tích thì có thể chia thành các tỷ số sau: Các tỷ số thể hiện
khả năng thanh toán, các tỷ số về cơ cấu tài sản và đòn bẩy tài chính, các tỷ số về khả
năng hoạt động , các tỷ số về khả năng sinh lợi và các tỷ số giá thị trường.
1.4.3. Phân tích tài chính theo phương pháp Dupont
Phân tích Dupont là kỹ thuật phân tích bằng cách chia tỷ số ROA và ROE thành
những bộ phận có mối quan hệ với nhau để đánh giá tác động của từng bộ phận lên kết
quả sau cùng. Đây là kỹ thuật mà các nhà quản lý trong nội bộ Doanh nghiệp thường sử dụng để thấy được tình hình tài chính và quyết định xem nên cải thiện tình hình tài
chính của Doanh nghiệp như thế nào.
- Phương trình thứ nhất thể hiện mối liên hệ giữa doanh lợi tổng tài sản (ROA),
doanh lợi doanh thu và hiệu suất sử dụng tổng tài sản như sau:
LNST Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần = x ROA = Tổng tài sản BQ Doanh thu thuần Tổng tài sản BQ
- Phương trình thứ hai thể hiện mối quan hệ giữa doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) với doanh lợi doanh thu, hiệu suất sử dụng tài sản và hệ số nhân vốn chủ sở
hữu theo phương trình sau:
LNST D thu thuần Tổng TS BQ ROE = ( ) x ( ) x ( ) D thu thuần Tổng TS BQ Vốn CSH BQ
Hay:
10
ROE = ROS x x EM Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
ROE = ROA x EM
Với EM là hệ số nhân vốn
1.5. Nội dung phân tích tình hình tài chính Doanh nghiệp
1.5.1. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh là đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và
mối quan hệ qua lại giữa các số liệu biểu hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp bằng các phương pháp khoa học. Qua đó nhằm thấy được chất lượng hoạt động, nguồn năng lực sản xuất tiềm tàng, trên cơ sở đó đề ra những phương án
mới và biện pháp khai thác có hiệu quả.
Thông qua bảng báo cáo kết quả kinh doanh thì chúng ta sẽ thấy được phần nào
về mức độ hoạt động của Doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động sử dụng vốn của Doanh
nghiệp, khả năng quản lý các mặt của Doanh nghiệp. Để có được điều này thì ta phải
so sánh sự biến động của các chỉ tiêu qua nhiều kỳ khác nhau; tính tỷ trọng của một số
chỉ tiêu trong doanh thu thuần hoạt động bán hàng, đồng thời so sánh chúng qua các
năm.
1.5.1.1. Chỉ tiêu doanh thu
Doanh thu là tổng giá trị của các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đã thu được
hoặc sẽ thu được trong kỳ kinh doanh thu phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh,
hoạt động tài chính và các hoạt động không thường xuyên khác của doanh nghiệp.
Theo nguồn hình thành, doanh thu của doanh nghiệp gồm các bộ phận cấu thành
sau:
+ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Đó là tổng số tiền thu được hoặc sẽ
thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng
hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm
ngoài giá bán (nếu có) trong một hoặc nhiều kỳ kinh doanh như: dịch vụ vận tải, dịch vụ gia công, cho thuê tài sản cố định,…
+ Doanh thu thuần: Là toàn bộ số tiền bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ sau khi trừ đi các khoản giảm trừ (chiết khấu hàng hóa, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu) và được khách hàng chấp nhận thanh toán.
+ Doanh thu hoạt động tài chính: Phản ánh các khoản doanh thu phát sinh từ hoạt
động tài chính như: tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và hoạt động tài chính tài chính khác của doanh nghiệp.
11
+ Thu nhập khác: Phản ánh các phản thu nhập, doanh thu ngoài hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng, các khoản được ngân sách nhà Nước hoàn lại,…
1.5.1.2. Chỉ tiêu chi phí
Chi phí là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật
hóa phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Có nhiều loại chi phí, tuy nhiên trong phạm vi của đề tài chỉ xem xét sự biến động của các loại chi phí sau:
+ Giá vốn hàng bán: Là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để
hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định.
+ Chi phí bán hàng: Gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên bán hàng, tiếp
thị, đóng gói sản phẩm, khấu hao TSCĐ, bao bì, chi phí vật liệu, chi phí mua ngoài,
chi phí bảo quản, quảng cáo,…
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những chi phí chi ra có liên quan đến việc tổ
chức, quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí quản lý gồm nhiều
loại: chi phí nhân viên quản lý, chi phí dụng cụ, quảng cáo,…
+ Chi phí tài chính: Là các khoản thu nhập thuộc hoạt động tài chính của doanh
nghiệp, gồm: hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán, ngắn hạn và dài hạn; thu lãi tiền
gửi, tiền cho vay; lãi bán ngoại tệ,…
+ Chi phí khác: là các khoản thu nhập từ các hoạt động ngoài hoạt động kinh
doanh chính và hoạt động tài chính của doanh nghiệp như thu về nhượng bán, thanh lý
tài sản cố định; thu tiền phạt vi phạm hợp đồng; thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa
sổ; thu tiền bảo hiểm bồi thường,…
1.5.1.3. Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận của doanh nghiệp là số chênh lệch giữa các khoản doanh thu về so với
các khoản chi phí bỏ ra. Theo nguồn hình thành, lợi nhuận của doanh nghiệp gồm các
bộ phận cấu thành sau:
+ Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Là lợi nhuận thu được do tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính: Là phần chênh lệch giữa thu và chi
trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
+ Lợi nhuận thu được từ các hoạt động khác: Là khoản lợi nhuận mà doanh
nghiệp thu được ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh, mang tính chất không thường xuyên hay nói cách khác là khoản chênh lệch giữa thu và chi từ các hoạt động khác
của doanh nghiệp.
12
1.5.2. Phân tích tình hình biến động của tài sản và nguồn vốn
1.5.2.1. Phân tích cơ cấu và biến động tài sản
Tổng vốn của Doanh nghiệp bao gồm vốn lưu động và vốn cố định, ta cũng biết
vốn nhiều hay ít, tăng hay giảm nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả KD và tình hình
tài chính của Doanh nghiệp. Phân tích sự biến động và tình hình phân bổ vốn là để
đánh giá việc sử dụng vốn của Doanh nghiệp có hợp lý hay không. Để làm được điều này ta làm như sau:
- Thứ nhất, phân tích sự biến động của từng chỉ tiêu tài sản qua các năm cả về số
tuyệt đối và số tương đối. Trong quá trình đó thì chúng ta còn xem xét sự biến động
của từng chỉ tiêu là do nguyên nhân nào, thông qua việc phân tích này thì chúng ta sẽ nhận thức được tác động của từng loại tài sản đối với quá trình kinh doanh và tình hình
tài chính của Doanh nghiệp .
- Thứ hai, xem xét cơ cấu vốn có hợp lý hay không, cơ cấu vốn tác động như thế
nào đến quá trình kinh doanh; để làm điều này thì chúng ta phải tính tỷ trọng của từng
chỉ tiêu trong tổng tài sản, tỷ trọng của các chỉ tiêu thuộc tài sản ngắn hạn trong tổng
tài sản ngắn hạn, tương tự cho tài sản dài hạn. Sau đó so sánh chúng qua nhiều thời kỳ
khác nhau để thấy được sự biến động của cơ cấu vốn, khi đánh giá việc phân bổ vốn
có hợp lý hay không ta nên xem xét đặc điểm ngành nghề và kết quả kinh doanh của
Doanh nghiệp .
1.5.2.2. Phân tích cơ cấu và biến động của nguồn vốn
Tình hình nguồn vốn của Doanh nghiệp được thể hiện qua cơ cấu và sự biến
động về nguồn vốn của Doanh nghiệp. Cơ cấu vốn là tỷ trọng của từng loại nguồn vốn
trong tổng số nguồn vốn; thông qua cơ cấu nguồn vốn thì chúng ta sẽ đánh giá được
huớng tài trợ của Doanh nghiệp, mức độ rủi ro từ chính sách tài chính đó, ta cũng thấy
được về khả năng tự chủ hay phụ thuộc về mặt tài chính của Doanh nghiệp . Thứ hai,
thông qua sự biến động của các chỉ tiêu phần nguồn vốn thì ta sẽ thấy được tình hình
huy động các nguồn vốn cho hoạt động SXKD của Doanh nghiệp, nó cho thấy được
tính chủ động trong chính sách tài chính hay do sự bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra. Bằng việc so sánh sự biến động cả về số tuyệt đối và tương đối của các chi tiêu phần nguồn vốn, tính tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổng nguồn vốn, tỷ trọng của từng chỉ tiêu thuộc nợ phải trả trong tổng nợ phải trả, tương tự cho vốn chủ sở hữu; sau đó so sánh chúng qua nhiều năm khác nhau để thấy được cơ cấu và sự biến động nguồn vốn của Doanh nghiệp .
1.5.3. Phân tích khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đúng thời
hạn mà không gặp phải bất kỳ một khó khăn nào; một Doanh nghiệp được coi là mất
khả năng thanh toán khi không thanh toán được các khoản nợ tới hạn. Khả năng thanh
13
toán được đo lường bằng mức độ thanh khoản, tức là mức độ dễ dàng và nhanh chóng
để chuyển một tài sản thành tiền mà không làm giảm đáng kể giá trị của tài sản đó. Thông qua các tỷ số khả năng thanh toán sẽ cho chúng ta thấy thực trạng tài chính của
Doanh nghiệp. Một Doanh nghiệp đang hoạt động có lãi, vẫn gặp phải vấn đề về khả
năng thanh toán là bình thường nếu như việc kiểm soát các khoản phải trả kém, không
thu được tiền khách hàng, hàng tồn kho nhiều. Tóm lại, muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì Doanh nghiệp cần có khả năng sinh lợi và khả năng thanh toán tốt.
1.5.3.1. Khả năng thanh toán ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn được dùng để đánh giá khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả. Hệ số này cho biết, bình quân một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là những
khoản nợ mà Doanh nghiệp phải thanh toán trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh
doanh. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản
phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác. Hệ số này càng cao hơn một
thì được đánh giá là khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cao, tuy nhiên chúng ta còn
nhận thức rõ bản chất vì sao nó cao thì mới có sự đánh giá chính xác. Khả năng thanh
toán ngắn hạn cao có thể là quá nhiều các khoản phải thu mà có nguy cơ không thu hồi
được hay Doanh nghiệp quá dễ dãi trong chính sách tín dụng thương mại đối với
khách hàng; cũng có thể là hàng tồn kho quá nhiều, trong đó có nhiều hàng kém phẩm chất, yếu kém trong khâu tiêu thụ; tồn kho nguyên vật liệu quá nhiều do sự yếu kém
trong quản trị hàng tồn kho,.. Tuy nhiên, nếu hệ số này nhỏ hơn một thì chứng tỏ khả
năng thanh toán nợ ngắn hạn của Doanh nghiệp kém, vì nợ ngắn hạn nhiều hơn so với
tài sản ngắn hạn, muốn đảm bảo thanh toán thì Doanh nghiệp phải bán tài sản dài hạn
có tính thanh khoản cao để thanh toán nợ ngắn hạn.
Tài sản ngắn hạn Hệ số thanh toán ngắn = hạn Tổng số nợ ngắn hạn
1.5.3.2. Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán của một Doanh nghiệp được đo lường bằng mức độ thanh
khoản của các loại tài sản; tính thanh khoản của một loại tài sản là khả năng nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mà không làm giảm đáng kể giá trị của tài sản đó. Vì hàng tồn kho của Doanh nghiệp ít nhất phải qua quá trình tiêu thụ mới có thể chuyển thành tiền, chưa nói là không tiêu thụ được, hàng ứ đọng kém phẩm chất, vì vậy tính
thanh khoản của nó thấp. Để đánh giá khắt khe hơn về khả năng thanh toán của Doanh nghiệp ta sử dụng tỷ số thanh khoản nhanh; tỷ số này cho biết bình quân một đồng nợ
ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn nhưng không bao gồm
hàng tồn kho.
14
Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho = Hệ số thanh toán nhanh Tổng số nợ ngắn hạn
1.5.3.3. Hệ số thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán bằng tiền cho biết Doanh nghiệp có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền để sẵn sàng thanh toán tức thời cho một đồng nợ ngắn hạn. Tỷ lệ thanh toán bằng
tiền càng lớn thì khả năng thanh toán nợ đến hạn của Doanh nghiệp càng cao; tuy
nhiên, hệ số này cao quá cũng không tốt, vì ta biết tiền nó không tự sinh lời được.
Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền Hệ số thanh toán = tức thời Tổng số nợ ngắn hạn
1.5.4. Phân tích khả năng quản lý nợ
1.5.4.1. Tỷ số nợ trên tổng tài sản
Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay.
Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Tỷ số này mà quá nhỏ,
chứng tỏ doanh nghiệp vay ít. Điều này có thể hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ
tài chính cao. Song nó cũng có thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy
tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức đi vay. Ngược lại, tỷ số
này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để
có vốn kinh doanh. Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn.
Tỷ số này (thường tính bằng %) được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm
cả nợ ngắn hạn lẫn nợ dài hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá
trị tổng tài sản trong cùng kỳ. Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp. Công thức tính như sau:
Tổng nợ Tỷ số nợ trên tài sản = x 100% Tổng tài sản
1.5.4.2. Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu. Tỷ
số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ; có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp. Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả
tiết kiệm thuế. Khi dùng tỷ số này để đánh giá cần so sánh tỷ số của một doanh nghiệp cá biệt nào đó với tỷ số bình quân của toàn ngành.
Tỷ số này (thường tính bằng %) được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm
cả nợ ngắn hạn lẫn nợ dài hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá
trị vốn chủ sở hữu trong cùng kỳ. Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp. Công thức tính như sau:
15
Tổng nợ Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = x 100% Giá trị vốn chủ sở hữu
1.5.4.3. Tỷ số khả năng trả lãi
Khi nói rằng Doanh nghiệp sử dụng vốn vay có hiệu quả thì ít nhất việc sử dụng
vốn vay của Doanh nghiệp phải tạo ra lợi nhuận đủ để trả cho chi phí lãi vay. Xuất
phát từ ý nghĩa đó, thông qua đánh giá hệ số khả năng thanh toán lãi vay thì ta thấy được mức độ hiệu quả của việc sử dụng đòn bẩy tài chính của Doanh nghiệp , khả
năng chi trả lãi vay của Doanh nghiệp. Nếu tỷ số này càng cao hơn một thì các chủ sở
hữu sẽ có lợi, tuy nhiên nếu lợi nhuận tạo ra không đủ để trả lãi vay thì các chủ sở hữu phải gánh chịu hậu quả của việc sử dụng nợ này.
EBIT Tỷ số khả năng = trả lãi Chi phí lãi vay
1.5.5. Phân tích khả năng quản lý tài sản
Tính hiệu quả của một hoạt động được xác định bằng kết quả đầu ra trên kết quả
đầu vào của nó, như vậy ta không thể căn cứ vào kết quả đạt được mà đánh giá hoạt
động đó là có hiệu quả. Nếu kết quả đầu ra trên một lượng đầu vào xác định càng lớn
thì càng hiệu quả. Do đó, một Doanh nghiệp đầu tư vào tài sản của mình (nguồn lực
đầu vào) để tạo ra doanh thu và lợi nhuận (kết quả đầu ra), Doanh nghiệp nào càng tạo
ra nhiều doanh thu và lợi nhuận từ một khoản đầu tư vào tài sản thì Doanh nghiệp đó
hoạt động càng có hiệu quả. Thông qua việc phân tích các tỷ số thể hiện khả năng hoạt
động ta sẽ thấy được mức độ khai thác các nguồn lực đầu vào của Doanh nghiệp , từ
đó chúng ta sẽ đánh giá được việc quản lý và sử dụng vốn của Doanh nghiệp có hợp
lý, tiết kiệm và hiệu quả hay không.
1.5.5.1. Phân tích khả năng luân chuyển hàng tồn kho
Sự hình thành hàng tồn kho là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình luân chuyển
vốn của Doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào ngành nghề của Doanh nghiệp mà mức độ tồn kho nhiều hay ít, cũng như chủng loại tồn kho là khác nhau. Thông thường thì hàng tồn kho sẽ bao gồm các loại sau: nguyên vật liệu, công cụ - dụng cụ, thành phẩm, sản phẩm dở dang, hàng hoá,... Để đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng hàng tồn kho trong việc tạo ra doanh thu thì ta sử dụng chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho và số ngày
một vòng quay hàng tồn kho.
a) Vòng quay hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho thể hiện rằng trong kỳ thì Doanh nghiệp đã xuất hàng
được mấy lần, như vậy nếu số vòng quay hàng tồn kho càng lớn thì chứng tỏ rằng hiệu
quả sử dụng hàng tồn kho càng cao. Và ngược lai, nếu số vòng quay hàng tồn kho
16
càng nhỏ thì có thể rằng Doanh nghiệp đang đầu tư quá nhiều vào hàng tồn kho hoặc
hàng tồn kho của Doanh nghiệp khó có khả năng luân chuyển.
Giá vốn hàng bán Vòng quay hàng = tồn kho Hàng tồn kho BQ
b) Số ngày một vòng quay hàng tồn kho Số ngày một vòng quay hàng tồn kho cho biết trung bình thì bao nhiêu ngày
Doanh nghiệp xuất hàng một lần. Như vậy ta thấy, nếu số ngày trung bình một lần
xuất hàng càng nhỏ thì chứng tỏ tốc độ luân chuyển hàng tồn kho cao, hiệu quả sử
dụng hàng tồn kho càng lớn và ngược lai.
Số ngày trong kỳ Số ngày một vòng = quay hàng tồn kho Số vòng quay hàng tồn kho
1.5.5.2. Phân tích tốc độ luân chuyển khoản phải thu
Trong chu trình luân chuyển vốn lưu động của Doanh nghiệp , bắt đầu từ Tiền -
Hàng tồn kho - Khoản phải thu - Tiền; như vậy ta thấy rằng, nếu Doanh nghiệp sử
dụng hiệu quả hàng tồn kho trong khi hiệu quả sử dụng vốn lưu động thấp là chuyện
bình thường. Điều này muốn nói lên rằng, nếu như Doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào
khoản phải thu, có nhiều khoản phải thu đã quá hạn, trong khi mức độ hoạt động của
Doanh nghiệp lớn, lớn hơn tốc độ thu tiền về thì bắt buộc Doanh nghiệp phải huy động
nguồn vốn khác để đầu tư vào hàng tồn kho chứ không phải tiền trong chu trình. Trong
trường hợp này thì rõ ràng là hiệu quả sử dụng vốn của Doanh nghiệp thấp, biểu hiện
tình hình tài chính không lành mạnh, khả năng thanh toán chắc chắn sẽ khó khăn. Như
vậy, hiệu quả sử dụng các khoản phải thu là góp phần cho hiệu quả sử dụng vốn lưu
động của Doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả sử dụng các khoản phải thu thì ta sử
dụng các tỷ số như vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân.
a) Vòng quay các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu thể hiện trong kỳ Doanh nghiệp đã thu tiền được
mấy lần từ doanh thu bán chịu của mình. Như vậy, thông qua số vòng quay các khoản phải thu thì ta sẽ thấy được tốc độ thu hồi nợ của Doanh nghiệp, số vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì chứng tỏ tộc độ thu hồi nợ của Doanh nghiệp càng cao, giảm bớt vốn bị chiếm dụng, đảm bảo khả năng thanh toán bằng tiền, tái đầu tư vào hoạt động SXKD, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Ngược lại, nếu số vòng quay khoản phải thu nhỏ thì cho thấy khả năng thu hồi nợ của Doanh nghiệp thấp hoặc
tốc độ thu hồi nợ nhỏ hơn so với tốc độ tăng doanh thu bán chịu, điều này làm cho khả năng thanh toán bằng tiền thấp, có nguy cơ không thu hồi được nợ và hiệu quả sử dụng vốn thấp.
17
Doanh thu thuần Số vòng quay khoản = phải thu Khoản phải thu BQ
Để đánh giá chính xác số vòng quay các khoản phải thu thì ta nên sử dụng tổng doanh thu bán chịu của Doanh nghiệp, tuy nhiên đối với Doanh nghiệp chuyên xuất khẩu thì phần lớn là các khoản phải thu nên việc sử dụng doanh thu thuần cũng rất chính xác.
b) Kỳ thu tiền bình quân Tương tự như số vòng quay các khoản phải thu, kỳ thu tiền bình quân cũng được
dùng để đánh giá tốc độ thu hồi nợ của Doanh nghiệp ; kỳ thu tiền bình quân phản ánh
rằng bình quân bao nhiêu ngày thì Doanh nghiệp thu được tiền một lần. Như vậy, nếu số ngày thu tiền bình quân càng nhỏ thì chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của Doanh nghiệp
cao, và ngược lai.
Số ngày trong kỳ Kỳ thu tiền = bình quân Số vòng quay các khoản phải thu
1.5.5.3. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
của Doanh nghiệp, hệ số hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cho biết bình quân một
đồng tài sản ngắn hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần hay là trong kỳ thì
vốn lưu động quay được mấy lần. Nếu hệ số này càng lớn thì chứng tỏ hiệu quả sử
dụng vốn lưu động của Doanh nghiệp cao, thể hiện Doanh nghiệp đã đầu tư hợp lý vào
vật tư đầu vào, hàng hoá, thành phẩm tiêu thụ nhanh, tốc độ thu hồi nợ của Doanh
nghiệp nhanh, giảm nợ phải thu, tồn quỹ tiền mặt thấp. Ngược lại, nếu hệ số này nhỏ
thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Doanh nghiệp thấp, chính sách tồn kho
không hợp lý, có thể là sản phẩm không tiêu thụ được, nợ phải thu cao, tồn quỹ tiền
mặt nhiều.
Doanh thu thuần = Hiệu suất sử dụng TSNH TSNH Bình quân
1.5.5.4. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Doanh nghiệp, hệ số hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn cho biết bình quân một đồng tài sản dài hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Từ đó đánh giá được hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Doanh nghiệp. Nếu hệ số này càng lớn thì chứng tỏ hiệu
quả sử dụng sử dụng tài sản dài hạn của Doanh nghiệp cao, thể hiện doanh nghiệp đã
sử dụng tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các tài sản cố định khác
một cách hiệu quả để tạo ra doanh thu thuần. Mặt khác, nếu hệ số này nhỏ thì hiệu quả
sử dụng tài sản dài hạn của Doanh nghiệp là thấp, cách sử dụng tài sản dài hạn, các
khoản đầu tư tài chính và các tài sản dài hạn khác là chưa hợp lí.
18
Doanh thu thuần = Hiệu suất sử dụng TSDH TSDH Bình quân
1.5.5.5. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định phản ánh mức độ sử dụng tài sản cố định để tạo ra doanh thu cũng như mức độ đầu tư vào tài sản cố định. Tỷ số này nói lên một đồng
nguyên giá tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu.
Doanh thu thuần Hiệu suất sử = dụng TSCĐ Nguyên giá TSCĐ BQ
1.5.5.6. Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản
Đây là chỉ tiêu phản ánh một cách toàn diện về hiệu quả sử dụng vốn của Doanh
nghiệp, nó cho ta thấy tính hợp lý trong việc phân bổ vốn, trình độ quản lý vốn của
Doanh nghiệp. Tỷ số này cho thấy, bình quân một đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu, nếu tỷ số này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao, góp phần
làm tăng lợi nhuận cho Doanh nghiệp. Nếu tỷ số này quá cao thì chứng tỏ rằng Doanh
nghiệp đang sử dụng hết công suất các nguồn lực đầu vào của mình, vì vậy khó mà
tăng thêm nếu không đầu tư thêm vốn.
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng = tổng tài sản Tổng tài sản BQ
1.5.6. Phân tích khả năng sinh lời của Doanh nghiệp
Đối với Doanh nghiệp thì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, nhưng lợi nhuận
không phải là chỉ tiêu để chúng ta đánh giá hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư - sản
xuất - tiêu thụ, khả năng quản lý các mặt của Doanh nghiệp. Muốn đánh giá được tính
hiệu quả của quá trình trên thì chúng ta cần xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với
các yếu tố tạo ra lợi nhuận như doanh thu, vốn,...Khả năng sinh lợi là kết quả của các
quyết định của Doanh nghiệp, như quyết định đầu tư, quyết định nguồn tài trợ, trình độ
quản lý tất cả các hoạt động trong Doanh nghiệp. Để đánh giá khả năng sinh lời ta căn
cứ vào các tỷ số sau:
1.5.6.1. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần (ROS)
Tỷ số này cho biết bình quân một đồng doanh thu thuần thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ số này cao hay thấp là phụ thuộc vào tình hình tiêu thụ sản phẩm, giá cả của sản phẩm, chiến lược tiêu thụ của Doanh nghiệp, khả năng quản lý các loại chi phí của Doanh nghiệp như chi phí sản xuất, chi phí quản lý Doanh nghiệp, chi phí bán hàng.
Lợi nhuận sau thuế ROS = Doanh thu thuần
19
1.5.6.2. Tỷ suất doanh lợi tổng tài sản (ROA )
Tỷ suất doanh lợi tổng tài sản cho biết bình quân một đồng vốn đầu tư vào Doanh nghiệp thì tạo ra được bao nhiêu đồng lơi nhuận sau thuế, đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu
quả hoạt động đầu tư của Doanh nghiệp .
Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản BQ
hay
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần ROA = X Doanh thu thuần Tổng tài sản BQ
Thông qua phương trình này thì nhà quản lý sẽ thấy rằng ROA phụ thuộc vào hai yếu tố đó là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần (ROS) và hiệu suất sử
dụng tổng tài sản của Công ty. Thông qua phương trình này thì sẽ giúp cho nhà quản
lý có cách để tăng ROA đó là: tăng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu có được hoặc tăng
khả năng làm ra doanh thu trên tài sản của Doanh nghiệp .
1.5.6.3. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Đối với chủ sở hũu thì tỷ số quan trọng nhất đối với họ là doanh lợi vốn chủ sở
hữu, tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu; tỷ số này cho biết bình
quân một đồng vốn chủ sở hữu thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Mong muốn của các chủ sở hữu là làm cho tỷ số này càng cao càng tốt, khả năng sinh
lời của vốn chủ sở hữu cao hay thấp phụ thuộc vào tính hiệu quả của việc sử dụng vốn
và mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của Doanh nghiệp . Trong trường hợp việc sử
dụng vốn của Doanh nghiệp là hiệu quả, đồng thời mức độ tài trợ bằng nợ cao thì lúc
đó doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ rất cao. Ngược lại, nếu việc sử dụng vốn không hiệu
quả đến mức lợi nhuận không đủ chi trả lãi vay thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính
trong trường hợp này là gây tổn thất cho chủ sở hữu, thậm chí là mất khả năng chi trả.
Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu BQ
hay
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Tổng tài sản BQ ROE = x x Doanh thu thuần Tổng tài sản BQ Vốn CSH BQ
ROE = ROS x x EM Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
ROE = ROA x EM
Với EM là hệ số nhân vốn
20
Thông qua phương trình trên thì các nhà quản lý sẽ có ba chỉ tiêu để tăng chỉ tiêu
ROE như sau: Thứ nhất, tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu; muốn làm điều này thì phải có cách để quản lý chi phí, tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu và đạt tốc độ tăng lợi
nhuận lớn lơn tốc độ tăng doanh thu. Thứ hai, tăng tốc độ luân chuyển tài sản; muốn
làm được điều này thì doanh nghiệp phải tìm cách tăng doanh thu, dự trữ tài sản hợp
lý. Thứ ba, giảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu, có nghĩa là doanh nghiệp phải đảm bảo tốc độ tăng vốn chủ sở hữu nhỏ hơn tốc độ tăng tài sản. Đồng thời thông qua phân tích chỉ số
Dupont thì cổ đông sẽ thấy là có lợi hơn khi giảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu và ngược lại.
1.6. Các nhân tố ảnh hƣởng tới chất lƣợng phân tích tài chính
Phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng khác nhau, ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư, tài trợ. Tuy nhiên, phân tích tài chính chỉ thực sự
phát huy tác dụng khi nó phản ánh một cách trung thực tình trạng tài chính doanh
nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong ngành. Muốn vậy,
thông tin sử dụng trong phân tích phải chính xác, có độ tin cậy cao, cán bộ phân tích
có trình độ chuyên môn giỏi. Ngoài ra, sự tồn tại của hệ thống chỉ tiêu trung bình
ngành cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính.
1.6.1. Chất lượng thông tin sử dụng
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tài chính, bởi
một khi thông tin sử dụng không chính xác, không phù hợp thì kết quả mà phân tích tài chính đem lại chỉ là hình thức, không có ý nghĩa gì. Vì vậy, có thể nói thông tin sử
dụng trong phân tích tài chính là nền tảng của phân tích tài chính.
Từ những thông tin bên trong trực tiếp phản ánh tài chính doanh nghiệp đến
những thông tin bên ngoài liên quan đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp,
người phân tích có thể thấy được tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện
tại và dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai.
Tình hình nền kinh tế trong và ngoài nước không ngừng biến động, tác động
hàng ngày đến điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn nữa, tiền lại có giá trị theo
thời gian, một đồng tiền hôm nay có giá trị khác một đồng tiền trong tương lai. Do đó, tính kịp thời, giá trị dự đoán là đặc điểm cần thiết làm nên sự phù hợp của thông tin. Thiếu đi sự phù hợp và chính xác, thông tin không còn độ tin cậy và điều này tất yếu ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.6.2. Trình độ cán bộ phân tích
Có được thông tin phù hợp và chính xác nhưng tập hợp và xử lý thông tin đó như
thế nào để đưa lại kết quả phân tích tài chính có chất lượng cao lại là điều không đơn giản. Nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ thực hiện phân tích. Từ các thông
tin thu thập được, các cán bộ phân tích phải tính toán các chỉ tiêu, thiết lập các bảng
biểu. Tuy nhiên, đó chỉ là những con số và nếu chúng đứng riêng lẻ thì tự chúng sẽ
21
không nói lên điều gì. Nhiệm vụ của người phân tích là phải gắn kết, tạo lập mối liên
hệ giữa các chỉ tiêu, kết hợp với các thông tin về điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp để lý giải tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định thế mạnh, điểm
yếu cũng như nguyên nhân dẫn đến điểm yếu trên. Hay nói cách khác, cán bộ phân
tích là người làm cho các con số “biết nói”. Chính tầm quan trọng và sự phức tạp của
phân tích tài chính đòi hỏi cán bộ phân tích phải có trình độ chuyên môn cao.
1.6.3. Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành
Phân tích tài chính sẽ trở nên đầy đủ và có ý nghĩa hơn nếu có sự tồn tại của hệ
thống chỉ tiêu trung bình ngành. Đây là cơ sở tham chiếu quan trọng khi tiến hành
phân tích. Người ta chỉ có thể nói các tỷ lệ tài chính của một doanh nghiệp là cao hay thấp, tốt hay xấu khi đem so sánh với các tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệp khác có
đặc điểm và điều kiện sản xuất kinh doanh tương tự mà đại diện ở đây là chỉ tiêu trung
bình ngành. Thông qua đối chiếu với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản lý
tài chính biết được vị thế của doanh nghiệp mình từ đó đánh giá được thực trạng tài
chính doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.
22
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY TNHH VIETLAND
2.1. Tổng quan về công ty TNHH Vietland 2.1.1. Vài nét về công ty TNHH Vietland
Tên đầy đủ : Công ty trách nhiệm hữu hạn VIETLAND
Tên giao dịch tiếng Anh Tên viết tắt : Vietland Co.Ltd : VNHOME
Mã số thuế : 0102741913
Trụ sở chính : Số 93 Linh Lang, Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội
Email : info@vietland.com.vn. Lĩnh vực mà Công ty đang hoạt động là Dịch vụ tư vấn môi giới, định giá, quản
lý bất động sản và các dịch vụ về nhà đất và Các dịch vụ cho nhà ở và văn phòng làm
việc.
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH Vietland
Công ty TNHH Vietland có nguồn gốc từ Công ty cổ phần đầu tư và phát triển cơ
sở hạ tầng Việt Nam, được thành lập năm 2010 bởi các nhân sự đã từng làm việc tại
Công ty cổ phần đầu tư và phát triền cơ sở hạ tầng Việt Nam. Mục tiêu của các thành
viên sáng lập là từng bước tạo dựng một thương hiệu mạnh trong lĩnh vực xây dựng cơ
sở hạ tầng và bất động sản cho đất nước.
Là một doanh nghiệp có vốn 100% là tư nhân, Công ty TNHH Vietland có đầy
đủ tư cách pháp nhân, có con dấu, được mở tài khoản tại ngân hàng trong và ngoài
nước theo quy định của Nhà nước. Tuy nhiên, Công ty đã gặp phải rất nhiều khó khăn
trong việc xây dựng và phát triển Công ty. Khi mới thành lập, đứng trước khó khăn
chung của nền kinh tế nước nhà, Công ty TNHH Vietland đã gặp rất nhiều thách thức,
nhưng với sự ủng hộ mạnh mẽ của các thành viên sáng lập, năng lực tài chính vững
chắc, đội ngũ nhân viên có chuyên môn cao, đoàn kết, năng động, sáng tạo, làm việc
có kỷ luật, phát huy hết tiềm lực của bản thân, có ý chí vượt mọi khó khăn đã từng
bước đưa Công ty thành một doanh nghiệp mạnh, bền vững trong lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tàng và bất động sản.
2.1.3. Lĩnh vực kinh doanh của công ty TNHH Vietland
Các ngành nghề mà Công ty đã tham gia là: - Tư vấn về cho thuê bất động sản - Tư vấn, đầu tư các khu đô thị, khu công nghiệp, công trình kỹ thuật hạ tầng
đô thị, dân dụng, các công trình công cộng, vui chơi giải trí.
- Dịch vụ vận hành, khai thác các khu đô thị, khu công nghiệp, khu văn phòng,
làm việc, khách sạn, nhà ở, nhà hàng, trung tâm thương mại, siêu thị.
23
- Tư vấn đầu tư, lập dự án, quản lý dự án (không bao gồm tư vấn pháp luật và
tài chính, dịch vụ tư vấn bất dộng sản).
- Tư vấn đầu tư, lập dự án, quản lý dự án đầu tư (không bao gồm tư vấn tài
chính, pháp luật, tài chính, kế toán, kiểm toán và chứng khoán).
- Sản xuất, mua bán vật liệu xây dựng, xuất nhập khẩu thiết bị, vật liệu xây
dựng.
- Kinh doanh dịch vụ bất động sản như: tư vấn, quảng cáo, quản lý bất động sản, sàn giao dịch bất động sản, môi giới, định giá và đấu giá bất động sản.
- Quy hoạch, thiết kế và kiến trúc công trình. - Lắp đặt hệ thống điện, hệ thống xây dựng và hoàn thiện các công trình xây
dựng.
Ngoài ra Công ty còn có đủ khả năng tham gia một số các ngành nghề khác đó
là: Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp,
khu đô thị, san lấp mặt bằng, xử lý nền móng công trình, dịch vụ trang trí nội ngoại
thất. Xây dựng các công trình giao thông, cầu, đường, sân bay, thủy lợi, cảng, công
trình thủy điện, nhiệt điện, đường dây và trạm biến thế đến 500KV, các công trình hạ
tầng kỹ thuật, xã hội, khu đô thị, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, công trình
ngầm, các công trình văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí, công trình du lịch, khách sạn
và các loại công trình công cộng. Mua bán, lắp đặt, sửa chữa, bảo hành điều hòa không khí, điện lạnh, thiết bị phòng chống cháy nổ, thang máy.
Tuy nhiên, hiện nay ngành nghề đem lại doanh thu chính cho Công ty là từ tư
vấn cho thuê bất động sản và thi công các công trình tại Miền Bắc và các tỉnh thành
lân cận.
24
2.1.4. Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH Vietland
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Viet land
Hội đồng thành viên
Giám đốc
Tổng giám đốc
toán
Phòng kế Phòng Hạ Phòng
Phòng Đầu tư - Kinh doanh tầng Hành chính Phòng Kỹ thuật –Dự án
(Nguồn: Phòng hành chính)
2.1.5. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
2.1.5.1. Hội đồng thành viên
Hội đồng thành viên là các thành viên sáng lập của Công ty TNHH Vietland,
theo luật doanh nghiệp và quy chế của Công ty thì hội đồng thành viên có các quyền và trách nhiệm cụ thể như sau: là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty. Hội đồng
thành viên là tổ chức chỉ định người đại diện theo uỷ quyền tham gia Hội đồng thành
viên. Điều lệ Công ty quy định cụ thể định kỳ họp Hội đồng thành viên, nhưng ít nhất
mỗi năm phải họp một lần. Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh
hằng năm của Công ty, quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ, quyết định thời điểm và
phương thức huy động thêm vốn và các quyền cùng nghĩa vụ khác được quy định tại
điều lệ Công ty.
2.1.5.2. Tổng giám đốc
Tổng giám đốc: là người đại diện pháp lý của Công ty, điều hành hoạt động hàng ngày của Công ty và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao, là người chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh và làm tròn nghĩa vụ với nhà nước.
2.1.5.3. Giám đốc
Giám đốc: giám đốc giúp việc cho Tổng giám đốc trong công tác tổ chức và là
người trực tiếp điều hành chỉ đạo các công tác thi công các hạng mục, các dự án đầu tư. Đầu tư mang lại lợi nhuận và tổ chức thi công đúng hồ sơ thiết kế, đảm bảo chất
lượng, an toàn lao động, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường. chịu trách nhiệm
toàn bộ vấn đề thi công của công trình và là người phụ trách thi công.
25
2.1.5.4. Phòng đầu tư kinh doanh
Trực thuộc sự quản lý của Ban giám đốc, phụ trách về các mặt quản trị công trình, marketing, phát triển dự án: Nghiên cứu tính khả thi và lập báo cáo đầu tư, báo
cáo nghiên cứu khả thi các dự án đầu tư của Công ty, tư vấn và giám sát thực hiện dự
án đầu tư nhằm đảm bảo dự án được thực hiện đúng theo báo cáo đầu tư hay báo cáo
nghiên cứu khả thi, khảo sát, điều tra và nghiên cứu thị trường phục vụ các dự án đầu tư, các công việc đầu tư và kinh doanh hiện tại..
2.1.5.5. Phòng hạ tầng
Quản lý về hạ tầng kĩ thuật khu đô thị, cầu, đường, khu công nghiệp, phối hợp
với các phòng ban trong Công ty để quản lý, khai thác và cung cấp các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật, khai thác, sử dụng, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa các công trình hạ tầng kỹ
thuật thuộc về trách nhiệm của Công ty.
2.1.5.6. Phòng kỹ thuật dự án
Quản lý về mặt kỹ thuật, thi công xây dựng, quản lý tiến dộ và chất lượng, quản
lý chi phí xây dựng đối với các dự án do Công ty làm chủ đầu tư và những gói thầu do
Công ty ký hợp đồng. Kiểm tra theo dõi, đôn đốc, hỗ trợ các Ban quản lý dự án do
Công ty thành lập và các đơn vị thi công xây lắp trực thuộc Công ty. Thiết kế các bản
vẽ cho các dự án mà Công ty đầu tư, hoặc dịch vụ Công ty cung cấp. Bảo trì các công
trình thuộc trách nhiệm của Công ty.
2.1.5.7. Phòng hành chính
Tham mưu cho ban giám đốc về các mặt: Xây dựng bộ máy quản lý, hệ thống tổ
chức sản xuất kinh doanh của Công ty. Xây dựng kế hoạch phát triển lực lượng lao
động là cán bộ viên chức, chuyên viên, kỹ sư, nhân viên cho Công ty.Giám sát việc
thực hiện các nội dung, quy chế, các chế độ chính sách của nhà nước về lao động, xây
dựng tổ chức công đoàn Công ty. Thực hiện các công tác văn thư, phân phối lưu trữ
giấy tờ, đánh máy, in ấn các tài liệu của Công ty.
2.1.5.8. Phòng kế toán
Quản lý tài sản Công ty, có kế hoạch thu chi tài chính, cập nhập chứng từ, thực
hiện tốt các chế độ chính sách về tài chính, bảo hiểm, thuế, tiền lương của Nhà nước.
Giám sát, kiểm tra việc sử dụng các loại vật tư, theo dõi chặt chẽ chính xác vốn và nguồn vốn của Công ty, theo dõi công nợ và thường xuyên theo dõi đôn đốc để thanh toán công nợ.
Lập các hóa đơn, chứng từ, phân tích hoạt động kinh tế mỗi năm một lần trước
Ban Giám đốc.
Nhận xét: Công ty có một bộ máy quản lý vững chắc, phù hợp với ngành nghề
kinh doanh của Công ty, đội ngũ nhân viên có năng lực, kinh nghiệm lâu năm. Qua
việc bố trí các phòng ban phụ trách có thể thấy Công ty đang thực hiện theo quy trình
26
chuyên môn hóa, mỗi phòng ban phụ trách công việc theo từng lĩnh vực nhưng không
vì vậy mà mất đi sự gắn kết của tập thể trong Công ty TNHH Vietland. Bởi vậy, Công ty tuy chưa hoạt động thực sự hiệu quả nhưng chắc chắn sẽ tiến xa hơn nữa trong thời
gian tới.
2.2. Phân tích tình hình tài chính của công ty TNHH Vietland
2.2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
27
Bảng 2.1: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty TNHH Vietland giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: VNĐ
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Tuyệt đối Tuyệt đối Chênh lệch 2013-2012 Tƣơng đối (%) Chênh lệch 2012-2011 Tƣơng đối (%)
2.829.080.023 796.010.085 267.178.899 2.033.069.938 255,41 528.831.186 197,93
- -
- -
- - - - - 2.829.080.023 89.220.740 2.739.859.283 3.667.998 - - -
255,41 244,20 82,39
285.222 - 285.222 - - 0 813.338 0 813.338 (64,93) (64,93)
0 528.831.186 197,93 0 528.831.186 197,93 (100) (60.421.544) 0 0 0 775.443.666 237,58 (339,98) (307.034.024) (25.432) (340,71) (306.220.686) (25.365)
- - 0
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Các khoản giảm trừ doanh thu Doanh thu thuần Giá vốn hàng bán Lợi nhuận gộp Doanh thu hoạt động tài chính Chi phí tài chính - Chi phí lãi vay Chi phí bán hàng Chi phí quản lý doanh nghiệp Lợi nhuận thuần Thu nhập khác Chi phí khác Lợi nhuận khác Lợi nhuận kế toán trƣớc thuế Thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi nhuận sau thuế 0 796.010.085 267.178.899 2.033.069.938 89.220.740 796.010.085 267.178.899 1.943.849.198 3.667.998 60.421.544 0 - 0 - 0 - 907.782.591 2.009.619.448 1.101.836.857 326.393.191 1.207.252 1.039.734.605 (528.116) 0 (528.116) 1.207.252 1.039.206.489 0 1.207.252 1.039.206.489 733.907.833 (305.826.772) 813.338 - 813.338 734.193.055 (305.013.434) - 734.193.055 (305.013.434) (340,71) (305.918.873) (33.787)
(Nguồn: Phòng kế toán)
28
Từ bảng báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty TNHH VietLand ta có biểu đồ
về Doanh Thu – Chi phí - Lợi nhuân của Doanh nghiệp trong giai đoạn 2011 – 2013:
Doanh thu
2829080023
3,000,000,000
Tổng chi phí
2,500,000,000
2094886968
Lợi nhuận
2,000,000,000
1,500,000,000
1101023519
796010085
1,000,000,000
734193055
267178899
266273460
500,000,000
1207252
0
2013
2012
2011
-305013434
-500,000,000
Biểu đồ 2.1: Doanh Thu – Chi phí – Lợi nhuận giai đoạn 2011 - 2013
Nhận xét:
Dựa vào bảng 2.1 có thể nhận thấy rằng doanh thu thuần của công ty qua 3 năm có
xu hướng tăng từ 267.178.899 đồng năm 2011 lên đến 796.010.085 đồng vào năm
2012 và lên tới 2.829.080.023 đồng năm 2013 tăng 255,41% trong năm 2013 và
197,93% trong năm 2012. Xu hướng tăng của doanh thu qua các năm là do nhu cầu về
xây dựng, thi công các công trình ngày càng tăng qua các năm. Nguyên nhân là do thị
trường bất động sản trong thời gian qua đang ấm dần lên, đi kèm với đó là các chính
sách hỗ trợ của nhà nước như các gói hỗ trợ bất động sản, nới lỏng tín dụng... đã giúp
cho nền kinh tế nói chung và ngành xây dựng nói riêng gặp nhiều thuận lợi. Bên cạnh
đó, việc chuyển đổi từ thi công xây dựng sang thiết kế, tư vấn giám sát cũng đã giúp
công ty dần tạo được chỗ đứng và vị thế của mình với các đối tác, doanh thu đã liên tục tăng qua các năm nhờ các hợp đồng tư vấn được ký kết với các khách hàng. Trong năm 2013, công ty đã ký kết được hợp đồng tư vấn xây dựng và thiết kế cho Trường mầm non Phú Lương 2 tại Thành phố Hà Nội, và thi công lắp đặt dàn thép chịu lực cho một nhà xưởng tại Hà Nội đánh dấu sự quay trở lại của công ty trong lĩnh vực thi công công trình.
Về giá vốn hàng bán: Trong các năm 2012 và 2011 công ty TNHH Vietland không tham gia đấu thầu xây dựng cơ sở hạ tầng trong năm nên đã không phát sinh chi phí giá vốn hàng bán. Nguyên nhân do đây là thời kỳ nền kinh tế còn đang gặp nhiều khó
khăn, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trong ngành xây
29
dựng nói riêng gặp rất nhiều trở ngại, các công trình tiếp tục thi công thì ít mà số đơn
vị xây dựng lại nhiều đã dẫn đến khó khăn trong việc đấu thầu xây dựng, vì vậy ban lãnh đạo công ty TNHH Vietland đã quyết định xoay sang hướng trọng tâm là thiết kế
xây dựng cho các đơn vị, cá nhân. Nhờ vậy mà doanh thu thuần của công ty liên tục
tăng qua các năm mà giá vốn hàng bán của công ty không phát sinh do các chi phí đã
được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp (các chi phí này chủ yếu là lương trả cho cán bộ công nhân viên). Tuy nhiên đến năm 2013, công ty đã dần quay lại thi công cho
các đơn vị khác, trong năm 2013 công ty đã thực hiện thiết kế và thi công lắp đặt dàn
thép chịu lực cho một nhà xưởng tại Hà Nội, nhờ đó giúp công ty dần quay trở lại
trong bối cảnh kinh tế có nhiều khởi sắc.
Về doanh thu tài hoạt động tài chính: đây là nguồn doanh thu công ty có được từ
chiết khấu thanh toán của công ty với các đơn vị nhà cung cấp, năm 2011, với lượng
tiền của mình, công ty luôn chủ trương thanh toán sớm cho các nhà cung cấp để được
hưởng chiết khấu thanh toán cùng với đó là lãi tiền gửi tại các ngân hàng, nên trong
năm này doanh thu hoạt động tài chính của công ty đạt giá trị cao là 60.421.544 đồng.
Đến năm 2012, công ty không thực hiện chủ trương thanh toán sớm cho các nhà cung
cấp, đồng thời rút tiền gửi tại các ngân hàng về nhập quỹ để có sự chủ động trong
thanh toán nên đã làm cho doanh thu tài chính của công ty là 0 đồng giảm 60.421.544
đồng tương đương 100%. Sang đến năm 2013, công ty TNHH Vietland nhận thấy việc duy trì tiền mặt tại quỹ sẽ làm ảnh hưởng đến doanh thu hoạt động tài chính của công
ty, cùng với đó là các chi phí trong quản lý, bảo quản phát sinh cao nên ban lãnh đạo
công ty đã gửi một phần tiền vào hệ thống ngân hàng nên đã giúp doanh thu hoạt động
tài chính của công ty tăng lên 3.667.998 đồng.
Về chi phí tài chính: do công ty hiện nay vẫn chủ động được nguồn vốn của mình
nên để tiết giảm các chi phí trong kinh doanh thì công ty đã không sử dụng nguồn vốn
vay từ bên ngoài nên đã làm cho chi phí tài chính của công ty là 0 đồng trong các năm
qua. Đặc biệt một trong những nguyên nhân là do tại thời điểm 2011-2012 các chi phí
lãi vay và điều kiện cho vay đã khắt khe hơn so với trước nên để tiết giảm các chi phí thì ban lãnh đạo công ty đã cắt giảm các chi phí không cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh.
Về chi phí quản lý kinh doanh của công ty: Cùng với sự tăng trưởng mạnh của doanh thu qua các thời kỳ chi phí hoạt động cũng tăng mạnh qua các năm. Chi phí hoạt động tăng mạnh nhất vào năm 2012 đặc biệt là chi phí quản lý doanh nghiệp đã tăng
mạnh trong năm 2012, 2013 tốc độ tăng tương ứng là 237,58% và 82,39%. Nguyên nhân chủ yếu là do trong năm 2012 các chi phí đầu vào của công ty như chi phí trả
lương nhân viên, chi phí quản lý kinh doanh đều tăng mạnh, đặc biệt là năm 2012 là
năm công ty bắt đầu mở rộng bộ máy của công ty nhằm tìm kiếm nhiều hợp đồng tư
30
vấn hơn nữa, tuy nhiên do là năm đầu tiên mở rộng quy mô về nhân viên một cách đột
ngột, các nhân viên mới chưa hoạt động hiệu quả đã làm cho chi phí trong quản lý kinh doanh bị tăng cao nhưng không đem lại mức doanh thu tương ứng với các chi phí
bỏ ra. Đến năm 2013 sau khi rút ra một số kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh thì
ban lãnh đạo công ty đã có các hoạt động đúng đắn khi tiếp tục duy trì việc mở rộng
quy mô nhưng đã có sự chắt lọc trong chất lượng nên đã giúp công ty có được mức doanh thu cao hơn so với mức tăng của chi phí đem lại.
Về thuế thu nhập doanh nghiệp: Ta thấy 3 năm 2011, 2012, 2013 doanh nghiệp đã
không phải nộp 1 đồng thuế nào. Trong năm 2012, lợi nhuận kế toán trước thuế của
doanh nghiệp bị âm 305.013.434 đồng nên trong năm này doanh nghiệp miễn thuế. Năm 2011 và 2013, tuy làm ăn có lãi, đặc biệt năm 2013 lãi 734.193.055 đồng nhưng
Công ty vẫn không phải nộp thuế do khoản mục lợi nhuận sau thuế chưa phân phối của
Doanh nghiệp vẫn âm trong cả 2 năm này.
Về lợi nhuận sau thuế: Qua biểu đồ 2.1 có thể thấy lợi nhuận sau thuế của công
ty có sự biến đổi trái chiều trong giai đoạn 2011-2013. Năm 2011, lợi nhuận của công
ty chỉ là 1.207.252 đồng, nhưng sang đến năm 2012 công ty không có lợi nhuận mà bị
âm 305.013.434 đồng do hoạt động kém hiệu quả cụ thể là các chi phí trong quản lý
kinh doanh đã tăng 775.443.666 đồng tương đương với 237,58%, tuy nhiên năm 2013
lợi nhuận sau thuế của công ty đã đạt giá trị là 734.193.055 đồng do hiệu quả của việc mở rộng quy mô nhân sự mới phát huy được tác dụng trong năm nay.
Kết luận: Qua báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2011-2013 có thể thấy công
ty đang dần đạt được những kết quả khả quan so với trước, hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh đã có bước cải thiện so với những năm trước đó, việc mở rộng nhân
sự đã phát huy được hiệu quả, các hợp đồng tư vấn xây dựng, thiết kế đã đem lại
nguồn doanh thu cao hơn từ đó giúp cho doanh thu thuần tăng đáng kể. Trong bối cảnh
hiện nay của nền kinh tế nói chung và ngành xây dựng nói riêng hiện nay vẫn chưa
thực sự khởi sắc thì hiệu quả của công ty là rất đáng ngưỡng mộ.
2.2.2. Phân tích tình hình biến động về tài sản – nguồn vốn của công ty
31
Bảng 2.2: Bảng cân đối kế toán của Công ty TNHH Vietland giai đoạn 2011-2013
ĐVT : Đồng
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Tuyệt đối Tuyệt đối
Chênh lệch 2013-2012 Tƣơng đối (%)
Chênh lệch 2012-2011 Tƣơng đối (%) (8,14) 11,37 (452.030.922) 5.679.598.439 5.099.706.351 5.551.737.273 579.892.088
5.496.016.636 5.036.411.595 5.441.487.870 459.605.041 9,13 (405.076.275) (7,44)
0 38.500 50.928.400 (38.500) (100) (50.889.900) (99,92)
50.928.400 -
- - 166.210.908 17.370.895 11.000 27.500 44.148.276 19.107.980 (11.000) (27.500) 44.148.276 122.062.632 (1.737.085) 15.172.727 (100) (100) 276,48 (9,09) (50.917.400) 27.500 0 3.935.253 (99,98) 0 25,94
2.198.168 3.935.253 - (1.737.085) (44,14) 3.935.253
0 140.212.743
15.172.727 347.079.351 191.878.229 191.878.229 206.444.000 (14.565.771) 155.201.122 15.172.727 152.765.392 42.486.609 42.486.609 61.223.247 (18.736.638) 110.278.783 (12.920.635) 12.901.855
Tài sản A-Tài sản ngắn hạn I. Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền III. Các khoản phải thu ngắn hạn 1. Phải thu của khách hàng 2. Trả trước cho người bán IV. Hàng tồn kho V. Tài sản ngắn hạn khác 1. Thuế và các khoản phải thu Nhà Nước 4. Tài sản ngắn hạn khác B- Tài sản dài hạn I. Tài sản cố định 1. Tài sản cố định hữu hình - Nguyên giá - Giá trị hao mòn lũy kế IV. Tài sản dài hạn khác Tổng tài sản
0 15.172.727 12.552.649 194.313.959 (349.206) 149.391.620 (349.206) 149.391.620 12.571.429 145.220.753 4.170.867 44.922.339 6.026.677.790 5.252.471.743 5.564.289.922 774.206.047 0 127,20 351,62 351,62 237,20 (22,26) 40,74 14,74 (311.818.179) 0 1117 42.835.815 (12266) 42.835.815 (12266) 387 48.651.818 (5.816.003) 45,01 97.376.928 754,75 (5,60) Nguồn vốn
32
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Tuyệt đối Tuyệt đối
44.494.202 44.494.202 - - 41.656.000 4.481.210 4.481.210 - - - 11.285.955 11.285.955 - - - Chênh lệch 2013-2012 Tƣơng đối (%) 892,91 892,91 40.012.992 40.012.992 0 0 41.656.000 Chênh lệch 2012-2011 Tƣơng đối (%) (60,29) (60,29) (6.804.745) (6.804.745) 0 0 0
- - 11.285.955 0 (11.285.955) (100)
- - - 0 0
- 2.838.202 4.481.210 (1.643.008) (36,66) 4.481.210
- - - -
0 5.982.183.588 5.247.990.533 5.553.003.967 734.193.055 5.982.183.588 5.247.990.533 5.553.003.967 734.193.055 0 6.000.000.000 6.000.000.000 6.000.000.000 0 13,99 (305.013.434) 13,99 (305.013.434) 0 0 - (5,49) (5,49) 0
(17.816.412) (752.009.467) (446.996.033) 734.193.055 (97,63) (305.013.434) 68,24
6.026.677.790 5.252.471.743 5.564.289.922 774.206.047 14,74 (311.818.179) (5,60) A- Nợ phải trả I. Nợ ngắn hạn 1. Vay và nợ ngắn hạn 2. Phải trả cho người bán 3. Người mua trả tiền trước 4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước 5. Phải trả người lao động 8. Các khoản phải trả phải nộp khác II. Nợ dài hạn B- Vốn chủ sở hữu I. Vốn chủ sở hữu 1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 10. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối Tổng nguồn vốn
(Nguồn: Phòng kế toán)
33
2.2.2.1. Phân tích tình hình biến động và cơ cấu tài sản của công ty
Qua bảng 2.2, ta thấy được tài sản của công ty chủ yếu là tài sản ngắn hạn, Doanh nghiệp luôn duy trì dự trữ tiền và các khoản tương đương tiền ở mức rất lớn.
Tổng tài sản của doanh nghiệp có sự tăng giảm qua trong các năm 2011, 2012, 2013,
năm 2012 tổng tài sản của doanh nghiệp giảm từ 5.564.289.922 đồng xuống còn
5.252.471.743 đồng giảm 311.818.179 đồng tương đương giảm 5,6%. Đến năm 2013 thì tổng tài sản của doanh nghiệp tăng từ 5.252.471.743 đồng lên mức 6.026.677.790
đồng tương đương với mức tăng 14,74%. Để làm rõ được mức tăng giảm qua các năm
của Doanh nghiệp, ta tiến hành phân tích các khoản mục của tài sản trong bảng 2.2:
Về tài sản ngắn hạn Có thể thấy tổng tài sản ngắn hạn của công ty TNHH Vietland đã có sự sụt giảm
trong năm 2012 khi giảm nhẹ xuống còn 5.099.706.351 đồng từ 5.551.737.273 đồng
trong năm 2011, giảm 452.030.922 đồng tương đương với 8,14%. Đến năm 2013 thì
tài sản ngắn hạn của công ty đã tăng lên 5.679.598.439 đồng tăng 579.892.088 đồng
tương đương với 11,37%, nguyên nhân là do sự biến động của các khoản mục sau:
- Tiền và các khoản tương đương tiền của công ty duy trì ở mức rất lớn, các năm
đều trên 5 tỷ đồng và có sự biến động nhẹ qua các năm 2011-2013: Năm 2013 là
5.496.016.636 đồng, tăng 459.601.041 đồng, tương đương tăng 9,13% so với năm
2012. Việc tăng một lượng tiền mặt trong năm 2013 như vậy là do trong năm này, công ty đã ký kết được với các khách hàng nhiều hơn các hợp đồng tư vấn nhờ đó mà
đã giúp công ty đạt được những kết quả khả quan trong hoạt động kinh doanh, lượng
tiền thu về từ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là lớn hơn so với lượng tiền chi
ra cho các hoạt động của công ty, nhờ đó mà giúp công ty có được lượng tiền lớn
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, khả năng nắm bắt các cơ hội cũng như nâng cao
được khả năng thanh toán của công ty. Tuy nhiên việc duy trì lượng tiền lớn sẽ ảnh
hưởng đến các chi phí cơ hội, đặc biệt là các chi phí trong việc nắm giữ tiền mặt mà
không được tái đầu tư sẽ gây lãng phí lớn. Vì vậy ban lãnh đạo công ty cần phải cân
nhắc lượng tiền phù hợp với mô hình kinh doanh của mình.
- Khoản phải thu: Khoản này đã giảm qua các năm điều này hoàn toàn trái ngược với mức tăng trưởng của doanh thu thuần và ngày càng chiếm tỷ trọng bé hơn trong tổng tài sản ngắn hạn (giảm từ 50.928.400 đồng năm 2011 xuống còn 0 đồng năm 2013). Khoản phải thu giảm và doanh thu thuần tăng hàng năm cho thấy Công ty đã thắt chặt tín dụng hơn, từ đó giữ được sự ổn định của công ty trong thời gian ngắn.
Ban lãnh đạo công ty nhận định rằng nếu để khách hàng nợ quá nhiều sẽ khiến công ty có thể gặp những rủi ro nhất định. Hơn thế nữa những khoản vốn chưa thu hồi được sẽ
trở thành những khoản vốn chết tạm thời, công ty sẽ không thể dùng khoản vốn đó để
tái đầu tư một cách có hiệu quả nhất và buộc phải đi huy động nguồn vốn khác để bù
34
đắp cho hoạt động sản xuất kinh doanh, như vậy sẽ làm tăng chi phí tài chính và áp lực
về huy động vốn của công ty. Tuy nhiên, việc thắt chặt tín dụng sẽ ảnh hưởng đến quan hệ làm ăn với các đối tác lâu năm và có thể đánh mất các khách hàng này vì vậy
để có thể đưa ra những nhận định chính xác hơn thì ta cần phải tính toán và xem xét
đến vòng quay khoản phải thu khách hàng bình quân.
- Hàng tồn kho: Hàng tồn kho của doanh nghiệp duy trì ở mức 44.148.276 đồng trong 2 năm 2011 và 2012, năm 2013 hàng tồn kho của doanh nghiệp là 166.210.908
tăng 122.062.632 đồng tương đương 276%. Tuy dịch vụ của công ty chủ yếu hiện nay
là tư vấn xây dựng công trình nhưng công ty vẫn dự trữ một số trang thiết bị nhằm
phục vụ công tác khảo sát tư vấn, vì vậy Công ty ngày càng phải dự trữ một lượng hàng tồn kho là các loại trang thiết bị để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách
hàng, năm 2013 công ty đã tăng lượng dự trữ này lên cao nhằm đáp ứng được việc
khảo sát các công trình để nâng cao hiệu quả tư vấn. Tuy nhiên dự trữ một lượng hàng
tồn kho nhiều hơn đồng nghĩa với việc Công ty phải chịu nhiều chi phí lưu kho hơn,
hơn nữa những mặt hàng của Công ty đều là các mặt hàng dịch vụ nên hàng tồn kho
không chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của công ty.
- Tài sản ngắn hạn khác: Tài sản ngắn hạn khác đã tăng từ 15.172.727 đồng
trong năm 2011 lên 19.107.980 đồng trong năm 2012 tăng 3.935.253 đồng tương
đương với 25,94%. Nguyên nhân của mức tăng này là do trong năm 2012 thực hiện chủ trương giảm thuế cho các đơn vị vừa và nhỏ nên công ty đã được giảm thuế cho
những năm trước đó, nên đã làm phát sinh tăng giá trị của khoản mục thuế và các
khoản mục phải thu nhà nước, bên cạnh đó do công ty đang mở rộng bộ máy nhân sự
nên từ đó đã tích cực đưa các nhân viên đi công tác nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh để gia tăng doanh thu trong năm 2012, từ đó khoản mục tạm ứng cho nhân viên
vẫn giữ nguyên trong năm 2012 và năm 2013. Đến năm 2013 tài sản ngắn hạn khác đã
giảm nhẹ 1.737.085 đồng xuống còn 17.370.895 đồng tương đương giảm 9,09% là do
sự giảm nhẹ của khoản mục phải thu từ nhà nước.
Về tài sản dài hạn: Trong khoản mục tài sản dài hạn có thể nhận thấy có khoản mục tài sản cố định và tài sản dài hạn khác là có số dư. Các khoản mục bất động sản đầu tư và các khoản đầu tư tài chính của doanh nghiệp không tồn tại. Qua bảng phân tích tình hình biến động tài sản – nguồn vốn, khoản mục tài sản dài hạn của Công ty có xu hướng tăng trong 3 năm, để giải thích xu hướng này, ta đi tiến hành phân tích các khoản mục nhỏ
trong phần tài sản dài hạn của Công ty :
- Tài sản cố định: Tài sản cố định của Doanh nghiệp tăng dần trong 3 năm, mục
này chỉ có tài sản cố định hữu hình. Tài sản cố định hữu hình tăng 42.486.609 đồng
trong năm 2012 lên 191.878.229 đồng trong năm 2013 tăng 149.391.620 đồng tương
35
đương với 351,62%. Nguyên nhân là do Công ty tiếp tục đầu tư thêm nhiều tài sản cố
định và sữa chữa nâng cấp máy móc, thiết bị để tiếp tục mở rộng qui mô kinh doanh, giúp công ty nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cụ thể trong năm 2013 công ty đã
bổ sung thêm các dàn máy tính nhằm phục vụ cho việc thiết kế và tư vấn xây dựng.
- Tài sản dài hạn khác: Tài sản dài hạn khác của Công ty là các khoản ký quỹ
cho mục đích thực hiện các hợp đồng dịch vụ trong năm. Năm 2012 tài sản dài hạn khác tăng so với năm 2011 với số tiền 97.376.928 đồng tương đương với 754,75%.
Năm 2012 Công ty bắt đầu mở rộng các dịch vụ mới dẫn đến các khoản ký quỹ tăng
lớn so với năm 2011. Năm 2013 tài sản dài hạn khác của công ty tăng 44.922.339
VND so với năm 2012 tương đương 40,74% việc tăng này thấp so với năm 2012 do việc mở rộng sản xuất kinh doanh và chuyển địa điểm văn phòng từ năm 2012. Đến
năm 2013, cơ bản đã hoàn thành mở rộng dịch vụ so với năm 2012. Do vậy tỷ lệ tăng
của năm 2013 thấp hơn so với năm 2012.
Từ bảng 2.2 ta có biểu đồ về cơ cấu tài sản của công ty TNHH Vietland:
100%
90%
99,8%
97,1%
94,2%
80%
70%
60%
50%
Tài sản ngắn hạn
40%
Tài sản dài hạn
30%
20%
10%
0%
2011
2012
2013
Tài sản ngắn hạn
5551737273
5099706351
5679598439
Tài sản dài hạn
12552649
152765392
347079351
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu tài sản công ty TNHH Vietland
Nhìn vào biểu đồ 2.2, ta có thế thấy được tài sản ngắn hạn chiếm tỉ trọng rất lớn trên tổng tài sản của Công ty, năm 2011 là chiếm 99,8% và giảm nhẹ xuống 97,1% năm 2012 và 94,2% vào năm 2013. Như đã nói trên, sở dĩ có tỉ trọng như vậy là do khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền của Công ty luôn duy trì ở mức cao, thường xuyên ở mức trên 5 tỷ đồng. Ngành nghề chính của Doanh
nghiệp trong thời gian này dịch vụ môi giới cho thuê bất động sản và tư vấn thiết kế nên công nợ của Công ty là rất nhỏ và luôn phải duy trì một khoản tiền nhất
định để thể đủ khả năng, tiềm lực tham gia đầu thầu công trình. Như đã nói ở
trên, Công ty đã thắt chặt chính sách tín dụng nên các khoản thu ngắn hạn đã về
36
mức 0 đồng ở năm 2013. Những điều này đã dẫn đến việc dòng tiền ổn định qua
các năm 2011 đến năm 2013. Trong 2 năm 2012 và năm 2013, tỉ trọng tài sản dài hạn gia tăng, năm 2011 khoản mục này chiếm tỉ trọng rất nhỏ, chỉ 0,2%, năm
2012 con số này là 2,9% và năm 2013 là 5,8%. Trong năm 2012, Công ty chuyển
địa điểm văn phòng và mở rộng quy mô của mình nên đã đầu tư vào các thiết bị
văn phòng mới và các thiết bị phục vụ việc tư vấn thiết kế ngoài ra các khoản kí quỹ cho mục đích thực hiện hợp đồng cũng tăng lên đã làm tổng tài sản dài hạn
của doanh nghiệp tăng lên trong năm 2012 và 2013.
2.2.2.2. Phân tích tình hình biến động và cơ cấu của nguồn vốn của công ty
Từ bảng 2.2 ta có biểu đồ về cơ cấu nguồn vốn của công ty TNHH Vietland:
99,26%
99,91%
99.79%
100% 90% 80% 70% 60% 50% 40% 30% 20% 10% 0%
2013
2012
2011
VCSH
5982183588.0
5247990533.0
5553003967.0
Nợ phải trả
44494202.0
4481210.0
11285955.0
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn vốn Công ty TNHH Vietland
Cùng với sự đầu tư ngày càng lớn mạnh của công ty thì nguồn vốn của công ty
cũng tăng trưởng mạnh qua các năm từ năm 2011 đến năm 2013. Tuy nhiên có thể
nhận thấy rằng, công ty Vietland chủ yếu sử dụng vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản
với tỷ trọng vốn chủ sở hữu chiếm trung bình trong tổng nguồn vốn qua 3 năm ở mức
cao luôn duy trì ở mức trên 99%, điều này làm cho uy tín tài chính của công ty trên thị trường lên cao, rủi ro tài chính thấp, khả năng tự chủ tài chính cao vì công ty chủ yếu là sử dụng nguồn vốn nội bộ bên trong, ít phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài, tuy nhiên chi phí sử dụng vốn của công ty cao, công ty ít sử dụng đòn bẩy tài chính, điều này gây ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu.
Về nợ phải trả: Trong cơ cấu nợ phải trả của công ty thì công ty chỉ sử dụng nguồn nợ ngắn hạn, trong khoản nợ phải trả thì nợ dài hạn bằng 0, đặc biệt công ty chủ yếu sử dụng nguồn
vốn ứng trước của khách hàng để tài trợ cho tài sản. Nguồn vốn tín dụng này đã tăng
dần vào năm 2013 mặc dù trước đó giá trị của khoản mục này đều là 0 đồng.
37
- Vay nợ ngắn hạn và dài hạn: Do trong giai đoạn 2011-2013 công ty không sử
dụng nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng nên vay nợ của công ty là bằng 0 đồng qua các năm qua. Nguyên nhân là do hiện nay với nguồn vốn chủ sở hữu của mình
công ty vẫn có thể cung cấp đầy đủ cho các hoạt động kinh doanh cũng như đầu tư,
thêm vào đó, thời điểm năm 2011-2013 các công ty đều khó khăn trong việc tiếp cận
vốn cũng như lãi suất ngân hàng tăng cao nên đã làm ảnh hưởng đến quyết định sử dụng đòn bẩy tài chính của ban lãnh đạo công ty. Tuy nhiên, hiện nay công ty nên sử
dụng đòn bẩy tài chính do các doanh nghiệp đều đang đứng trước cơ hội mới, nền kinh
tế đang dần có sự biến đổi.
- Khoản mục người mua trả tiền trước: Khoản mục này đã tăng thêm 41.656.000 đồng trong năm 2013, so với cả 2 năm trước đó là 0 đồng thì đã tăng thêm 100%. Với
việc sử dụng khoản mục người mua trả tiền trước, công ty không phải trả chi phí lãi
vay vì vậy giảm bớt gánh nặng về chi phí lãi vay. Hơn nữa, việc sử dụng khoản mục
người mua trả tiền trước còn tạo mối quan hệ giữa công ty và khách hàng. Mặt khác,
đáp ứng được nhu cầu vốn tạm thời cho công ty, hơn nữa nguồn vốn tín dụng có mức
độ linh hoạt cao nên công ty dễ dàng thu hẹp hoặc mở rộng hơn so với các nguồn vốn
vay khác. Tuy nhiên do khoản mục người mua trả tiền trước có thời gian đáo hạn ngắn
nên công ty chịu áp lực về cung cấp dịch vụ rất lớn và rủi ro khi không đáp ứng được
chất lượng của các khách hàng đó.
- Thuế và các khoản phải nộp nhà nước: Khoản mục này trong năm 2011 là
11.285.955 đồng, so với cả 2 năm sau đó đều ở mức 0 đồng thì khoản mục này đã
giảm 100%, điều này đã thể hiện việc công ty đã thực hiện rất tốt nghĩa vụ nộp ngân
sách cho Nhà nước.
- Các khoản phải trả phải nộp khác: Khoản mục này trong năm 2011 là 0 đồng
và năm 2012 tăng lên 4.481.210 đồng tương ứng tăng 100% và năm 2013 giảm xuống
còn 2.838.202 đồng. Điều này cho ta thấy doanh nghiệp đã thực hiện tốt nghĩa vụ của
mình đã thanh toán gần hết tiền bảo hiểm cho cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp
và tài sản chờ giải quyết và doanh thu chưa thực hiện của doanh nghiệp luôn duy trì ở mức 0 đồng.
Về vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sỡ hữu của Công ty TNHH Vietland luôn được duy trì ở mức trên 5 tỷ trong 3 năm 2011- 2013. Năm 2011 con số này là 5.553.003.967 đồng, năm 2012 vốn chủ sở hữu của Công ty giảm xuống còn 5.247.990.553 đồng giảm 305.013.434 đồng
tương ứng với mức giảm 5,49%. Năm 2013 vốn chủ sở hữu tăng 13,99% so với năm 2012 lên mức 5.982.183.588. Để giải thích cho việc tăng giảm vốn chủ sở hữu của
doanh nghiệp, ta tiến hành phân tích các khoản mục nhỏ thuộc Vốn chủ sở hữu.
38
Về khoản mục lợi nhuận sau thuế chưa phân phối của doanh nghiệp: Lợi nhuận
sau thuế của Công ty năm 2011 là 1.207.252 đồng và lỗ lũy kế đến ngày 31/12/2011 là 448.203.285 đồng, tuy công ty có lãi năm 2011 nhưng do những năm trước lỗ lũy kế
của Công ty lớn. Năm 2011 Công ty có lãi nhưng số lãi nhỏ do Công ty bắt đầu triển
khai các dịch vụ mới nhưng chưa hiệu quả dẫn đến có lãi nhưng số lãi nhỏ. Năm 2012,
Công ty lỗ 305.013.434 đồng, trong đó chi phí năm 2012 của Công ty là 1.101.836.857 đồng tăng 3,38 lần so với năm 2011. Việc tỷ lệ tăng doanh thu nhỏ hơn tỷ lệ tăng chi
phí dẫn đến công ty lỗ trong năm 2012, dẫn đến lỗ lũy kế của Công ty đến ngày
31/12/2012 là -752.009.467 đồng. Ngoài ra các chi phí để xúc tiến các hợp đồng
nhưng hợp đồng không thành công dẫn đến các chi phí của Công ty tăng trong năm 2012. Năm 2013 Công ty triển khai các dịch vụ mới và kí kết được một số hợp đồng
xây dựng cũng như ra tăng tiếp thị thị trường dẫn đến doanh thu tăng 2,5 lần, trong khi
đó việc cắt giảm các chi phí làm cho chi phí công ty chỉ tăng 1,8 lần so với năm 2012.
Việc tăng doanh thu và giảm chi phí trong năm 2013 dẫn đến công ty có lãi sau thuế
là 734.193.055 đồng và gần như đã đủ bù đắp khoản lỗ lũy kế của các năm trước làm
khoản này chỉ còn -17.816.412 đồng.
Trong vốn chủ sở hữu của công ty, công ty chủ yếu sử dụng vốn đầu tư của chủ
sở hữu và nguồn lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư. Nguồn vốn đầu tư của chủ sở hữu
của doanh nghiệp hàng năm đều duy trì ở mức 6 tỷ đồng. Việc sử dụng vốn đầu tư chủ sở hữu lớn như vậy là để đầu tư mở rộng quy mô, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh công ty huy động vốn tự có.
Tóm lại, trong chính sách quản lý vốn của công ty có thể nhận thấy rằng công ty
luôn có xu hướng sử dụng nguồn vốn dài hạn nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn, điều này
giúp công ty giảm áp lực về thanh toán và rủi ro thanh toán ở mức thấp. Tuy nhiên
trên thực tế, với việc sử dụng nguồn vốn dài hạn lớn thì chi phí sử dụng vốn của công
ty cao, điều này làm giảm khả năng sinh lời của công ty. Mặt khác, qua phân tích ở
trên cũng nhận thấy rằng xu hướng qua 3 năm của công ty đều nghiêng về việc sử
dụng vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản, điều này giúp công ty tăng trưởng bền vững hơn, tuy nhiên tận dụng ít đòn bẩy tài chính và ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu.
2.2.3. Phân tích khả năng thanh toán của công ty
39
Bảng 2.4: Chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán của
Công ty TNHH VIETLAND
ĐVT: Lần
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011
127,65 1.138 491,92 (1.010) 646,10 1. Khả năng thanh toán ngắn hạn
123,91 1.128 488,00 (1.004) 640,16 2. Khả năng thanh toán nhanh
123,52 1.123 482,15 (1.000) 641,75 3. Khả năng thanh toán tức thời
Dựa vào bảng và biểu đồ đánh giá khả năng thanh toán của công ty có thể thấy
hiện nay, công ty TNHH Vietland đã có được khả năng thanh toán là rất tốt nhờ việc
duy trì giá trị nợ ngắn hạn thấp, bên cạnh đó thì việc duy trì lượng tiền có giá trị lớn
cũng đã giúp cho công ty đạt được hiệu quả trong kinh doanh nói chung cũng như tạo
sự ổn định trong kinh doanh nói riêng.
2.2.3.1. Khả năng thanh toán ngắn hạn
Khả năng thanh toán ngắn hạn: Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn được
bảo đảm bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Khả năng thanh toán ngắn hạn của công
ty ở mức rất cao cho thấy Công ty hầu như không gặp rủi ro về thanh toán nợ ngắn
hạn. Khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty có xu hướng tăng dần từ năm 2011
đến 2012 điều này là do sự sụt giảm của tài sản ngắn hạn thấp hơn nhiều so với sự sụt
giảm của nợ ngắn hạn. Khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty từ năm 2012 đến
năm 2013 lại có xu hướng giảm từ mức 1.138 lần xuống còn 127 lần. Tuy nhiên như
phân tích ở phần cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của công ty thì mức tăng tài sản
ngắn hạn của công ty chủ yếu là tiền mặt trong khi đó mức tăng nợ ngắn hạn là khoản
người mua trả tiền trước (khoản nợ này có thời gian đáo hạn ngắn) vì vậy nếu công ty
không cung cấp dịch vụ kịp thời, và thu nợ khách hàng nhanh chóng thì sẽ làm công ty mất khả năng thanh toán tuy trường hợp này là rất nhỏ. Để đánh giá chính xác hơn khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty, cần xem xét khả năng thanh toán
nhanh và khả năng thanh toán tức thời.
2.2.3.2. Khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh : Là chỉ tiêu đánh giá được khả năng thanh toán của
công ty một cách chặt chẽ hơn. Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn của Công ty
được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn khi không tính đến yếu tố hàng tồn kho. Ở đây, lượng hàng tồn kho bị loại trừ ra vì hàng tồn kho được coi là loại tài sản có tính thanh khoản thấp hơn cả trong tài sản ngắn hạn. Bởi vậy việc thanh toán sẽ
40
được đảm bảo bởi các khoản tiền, phải thu và các tài sản ngắn hạn khác. Khả năng
thanh toán nhanh của công ty tăng giảm liên tục qua 3 năm, cụ thể:
Năm 2011, khả năng thanh toán nhanh là bằng 488 lần, khả năng thanh toán của
công ty vẫn là cao do giá trị của tài sản ngắn hạn trừ đi hàng tồn kho vẫn lớn hơn gấp
nhiều lần giá trị của khoản nợ ngắn hạn.
Năm 2012, khả năng thanh toán nhanh của công ty là 1.128 lần có nghĩa là cứ 1 đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bằng 1.128 đồng tài sản ngắn hạn không tính hàng
tồn kho, năm 2012 công ty có khoản mục phải trả là phải trả khác nên đã làm cho khả
năng thanh toán nhanh được xác định, tuy nhiên khoản mục này là lớn nên có thể thấy
công ty hoàn toàn có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn này.
Năm 2013, khả năng thanh toán nhanh của công ty của công ty bị giảm xuống
còn 123,91 lần so với 1128 lần của năm 2012 thì đây là mức giảm lớn. Nguyên nhân là
do công ty đã có khoản mục trả trước của khách hàng là tăng nhẹ từ đó đã ảnh hưởng
đến khả năng thanh toán của công ty, tuy nhiên công ty vẫn có đầy đủ khả năng thanh
toán cho các khoản nợ này.
Như vậy, qua phân tích hệ số thanh toán nhanh của công ty có thể nhận thấy rằng
sự thay đổi tăng giảm của hệ số thanh toán nhanh của công ty là do sự thay đồi liên tục
của nợ ngắn hạn trong 3 năm từ 2011 đến năm 2013 và sự thay đổi mạnh của hàng tồn
kho trong năm 2013 từ mức 44.148.276 đồng lên mức 166.210.908 đồng. Tuy nhiên, hệ số thanh toán nhanh của công ty luôn lớn hơn 1 gấp nhiều lần điều này chứng tỏ
rằng công ty đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần bán hàng
tồn kho, rủi ro thanh toán của công ty có thể đánh giá ở mức thấp.
2.2.3.3. Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tức thời của công ty cũng tăng giảm qua các năm và đạt
mức cao nhất vào năm 2012 là 1.123 lần và giảm xuống 123 lần năm 2013. Khả năng
thanh toán tức thời thể hiện khả năng có thể thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn
của công ty bằng tiền mặt hay những khoản tương đương tiền. Ta thấy khả năng thanh
toán tức thời của công ty giảm mạnh trong năm 2013 thực tế là do công ty tăng giá trị của khoản mục người mua trả tiền trước lên, tuy nhiên mức tăng này là rất nhỏ so với quy mô của lượng tiền mặt của công ty. Như vậy rủi ro thanh toán của công ty có thể đánh giá ở mức thấp.
Tóm lại, khả năng thanh toán tức thời của công ty trong cả 3 năm mang tính chất không ổn định lúc tăng, lúc giảm và phụ thuộc nhiều vào quyết định duy trì hai khoản
mục tiền và các khoản tương đương tiền và các khoản nợ phải trả, tuy nhiên có thể nhận thấy rằng khả năng thanh toán tức thời của công ty vẫn ở mức cao, rủi ro thanh
toán ở mức thấp khi khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh của
công ty vẫn ở mức trung bình lớn hơn 1 nhiều lần. Tuy nhiên nếu xét về cơ cấu nợ
41
ngắn hạn của công ty chủ yếu là khoản trả trước của người bán thì tiền và các khoản
tương đương tiền cũng như khoản tiền gửi ngân hàng ngắn hạn vẫn đủ để chi trả cho các khoản nợ tích lũy và khoản phải trả người bán nếu đến hạn nên rủi ro thanh toán
của công ty ở mức rất thấp.
Qua bảng 2.4, ta thấy khả năng thanh toán tức thời của Công ty nhỏ hơn một chút
so với khả năng thanh toán nhanh. Điều này là do trong tài sản ngắn hạn của Công ty thì khoản tiền và các khoản tương đương tiền luôn chiếm tỉ trọng rất lớn trong tổng tài
sản của doanh nghiệp
2.2.4. Phân tích khả năng quản lí nợ của công ty
2.2.4.1. Tỷ số nợ trên tổng tài sản
Bảng 2.5: Tỷ số nợ trên tổng tài sản
Đơn vị tính : VNĐ
ĐVT
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Chỉ tiêu
Chênh lệch 2012-2013
Chênh lệch 2011-2012
Tổng nợ Đồng
44.494.202
4.481.210
11.285.955
40.012.992
(6.804.745)
Đồng 6.026.677.790 5.252.471.743 5.564.289.922 774.206.047 (311.818.179)
%
0,74
0,09
0,20
0,65
(0,11)
Tổng tài sản Tỷ số nợ trên tài sản
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán)
Hệ số này cho biết trong 100 đồng tài sản của Công ty thì bao nhiêu đồng được
huy động từ nợ, năm 2011 là 0,20 đồng, năm 2012 hệ số này giảm xuống còn 0,09
đồng và năm 2013 tăng mạnh lên mức 0,74 đồng. Năm 2012 hệ số này là 0,09%, giảm
0,11% so với năm 2011 do tốc độ giảm của tổng tài sản thấp hơn tốc độ giảm của nợ
ngắn hạn, đối với năm gần đây nhất là 2013 thì hệ số này là 0,74%, tăng 0,65% so với
năm 2011 do tốc độ tăng của tổng tài sản thấp hơn tốc độ tăng của nợ ngắn hạn. Hệ số
nợ trong những năm gần đây đều ở mức thấp phản ánh Công ty không sử dụng nhiều
nợ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều này giúp Công ty không phải chịu nhiều gánh nặng phải trả nợ, giúp Công ty có thể tập trung hơn vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên hệ số này thấp khiến việc sử dụng đòn bẩy tài chính của Công ty bị hạn chế, cũng như việc không tiết kiệm được một khoản tiền từ lá chắn
thuế mang lại.
2.2.4.2. Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
42
Bảng 2.6: Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Đơn vị tính: VNĐ
Chỉ tiêu ĐVT
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Chênh lệch 2013-2012
Chênh lệch 2012-2011
Tổng nợ Đồng
44.494.202
4.481.210
11.285.955
40.012.992
(6.804.745)
Đồng
5.982.183.588
5.247.990.533 5.553.003.967 734.193.055
(305.013.434)
%
0,74
0,09
0,20
0,65
(0,11)
Vốn chủ sở hữu Tỷ số nợ trên VCSH
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán)
Nhìn bảng 2.6, ta thấy tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu của Công ty TNHH Vietland
bằng với tỷ số nợ trên tổng tài sản, trong 3 năm 2011, 2012, 2013 vốn chủ sở hữu của
doanh nghiệp chiếm tỉ trọng rất lớn trong toàn bộ nguồn vốn của doanh nghiệp, luôn duy trì trên mức 99%, khoản mục nợ phải trả luôn duy trì ở mức rất thấp điều này cho
chúng ta thấy doanh nghiệp không phải chịu nhiều gánh nặng phải trả nợ.
Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu. Tỷ
số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ; có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp. Dựa vào bảng 2.6 có thể thấy: Năm
2011 chỉ số này là 0,2%, đến năm 2012 đã giảm xuống còn 0,09% và đến năm 2013
thì đã tăng lên 0,74%. Nguyên nhân của sự tăng giảm là do sự biến động về vốn chủ sở
hữu và nợ phải trả trong giai đoạn 2011-2013, cụ thể như sau:
Năm 2011-2012: Nợ phải trả đã giảm từ 11.285.955 đồng xuống còn 4.481.210
đồng giảm 6.804.745 đồng tương đương với 60,29%, bên cạnh đó thì vốn chủ sở hữu
lại giảm 305.013.434 đồng tương đương với 5,49%. Từ đó đã làm tỷ số nợ trên vốn
chủ sở hữu giảm 0,11%. Từ đó có thể thấy khả năng phụ thuộc vào các khoản nợ của
công ty là đang giảm dần, tuy nhiên đây cũng là điểm trừ của công ty do không có
được áp lực trong kinh doanh, từ đó đã làm cho kết quả kinh doanh năm 2012 là kém
hơn so với trước
Năm 2012-2013: Nợ phải trả đã tăng thêm 44.494.202 đồng tăng 40.012.992 đồng tương đương với 892,91%, trong khi đó thì vốn chủ sở hữu lại chỉ tăng thêm 734.193.055 đồng tương đương với 13,99%, từ đó đã làm tăng sự phụ thuộc của công ty vào nguồn vốn đi chiếm dụng từ bên ngoài, tuy nhiên việc chiếm dụng vốn này chưa ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh vì nó vẫn còn chiếm giá trị rất nhỏ so với vốn chủ sở hữu.
2.2.4.3. Tỷ số khả năng trả lãi
Doanh nghiệp trong năm 3 năm 2011, 2012 và 2013 khoản mục vay ngắn hạn, vay và nợ dài hạn, chi phí lãi vay luôn duy trì ở mức 0 đồng, điều này cho ta thấy toàn bộ khoản lợi nhuận thu được Công ty được sử dụng cho các mục đích tài đầu tư chứ
43
không phải trả lãi vay. Điều này cho ta thấy Doanh nghiệp không phải chịu gánh nặng
về trả lãi vay và các khoản nợ nhưng nó phản ánh việc Doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy tài chính cũng như tạo lợi thế lá chắn thuế cho doanh nghiệp do phần lãi
vay được coi là chi phí hợp lí trong và được miễn giảm thuế Doanh nghiệp.
2.2.5. Phân tích khả năng quản lý tài sản của công ty
2.2.5.1. Phân tích khả năng luân chuyển hàng tồn kho
Bảng 2.7: Vòng quay hàng tồn kho
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011
- - - Đồng 89.220.740 -
Đồng 105.179.592 44.148.276 44.148.276 61.031.316 0
- - - Lần 0,85 -
- - - Ngày 429 -
Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho BQ Vòng quay hàng tồn kho Số ngày một vòng quay hàng tồn kho (Nguồn: Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh)
Hàng tồn kho của doanh nghiệp duy trì ở mức 44.148.276 đồng trong 2 năm 2011
và 2012, năm 2013 hàng tồn kho của doanh nghiệp là 166.210.908 tăng 122.062.632
đồng tương đương 276%. Tuy dịch vụ của công ty chủ yếu hiện nay là tư vấn xây
dựng công trình nhưng công ty vấn dự trữ một số trang thiết bị nhằm phục vụ công tác
khảo sát tư vấn, vì vậy Công ty ngày càng phải dự trữ một lượng hàng tồn kho là các
loại trang thiết bị để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, năm 2013 công ty đã tăng lượng dự trữ này lên cao nhằm đáp ứng được việc khảo sát các công trình để nâng cao hiệu quả tư vấn. Để có sự đánh giá về tính hiệu quả của việc sử dụng hàng tồn kho, ta tiến hành phân tích các chỉ số sau:
a) Vòng quay hàng tồn kho Trong năm 2011 và năm 2012, Doanh nghiệp chuyển hướng từ xây dựng công
trình sang môi giới và cho thuê bất động sản nên khoản mục giá vốn hàng bán của Doanh nghiệp về mức 0 và hàng tồn kho của doanh nghiệp duy trì ở mức 44.148.276
đồng trong 2 năm này. Trong năm 2013, doanh nghiệp quay lại với việc thi công công
trình nên hàng tồn kho của doanh nghiệp tăng lên mức 166.210.908 đồng và giá vốn
44
hàng bán tăng lên mức 89.220.740 đồng, doanh nghiệp đã có sự thấy đổi nhưng hệ số
vòng quay hàng tồn kho ở năm 2013 chỉ là 0,85 lần, con số này cho thấy hiệu quả việc sử dụng hàng tồn kho của doanh nghiệp là không tốt.
b) Số ngày một vòng quay hàng tồn kho Trong năm 2013, số ngày của một vòng quay hàng tồn kho lên đến mức 429
ngày. Đây là con số rất lớn thể hiện việc quay vòng hàng tồn kho của Công ty còn rất chậm.
Tóm lại: Việc giá vốn hàng bán trong năm 2011 và năm 2012 bằng 0 và trong
năm 2013 số dư của mục này còn thấp so với hàng tồn kho đã dẫn đến việc vòng quay
hàng tồn kho thấp và số ngày một vòng quay hàng tồn kho của doanh nghiệp cao thể hiện hiệu quả sử dụng hàng tồn kho của doanh nghiệp là không tốt, tuy hàng tồn kho
của doanh nghiệp là các trang thiết bị nhằm phục vụ việc khảo sát tư vấn mang tính
chất ngành nghề kinh doanh nhưng doanh nghiệp vẫn cần phải có nhưng biện pháp để
đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doạnh để tăng tính hiệu quả sử dụng của hàng tồn kho.
2.2.5.2. Phân tích tốc độ luân chuyển các khoản phải thu
Bảng 2.8: Số vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân
Chỉ tiêu
ĐVT Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011
Chênh lệch 2013-2012
Chênh lệch 2012-2011
Đồng 2.829.080.023 796.010.085 267.178.899 2.033.069.938 528.831.186
19.250
25.483.450
32.194.382
(25.464.200)
(6.710.932)
Đồng
Lần
146.965,2
31,24
8,29
146.933
22,95
Ngày
0,0025
11,52
43,38
(11,6775)
(31,86)
Doanh thu thuần Khoản phải thu BQ Số vòng quay các khoản phải thu Kỳ thu tiền bình quân
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán và Báo cáo hoạt động SXKD)
Qua bảng 2.8, ta thấy vòng quay các khoản phải thu tăng qua các năm, trong năm 2011 vòng quay khoản phải thu chỉ là 8,29 lần, năm 2012 vòng quay đã tăng lên mức 31,24 lần và tăng mạnh trong năm 2013 lên mức 146.965,2 lần. Kỳ thu tiền bình
quân cũng được cải thiện một cách đáng kể ở năm 2011 là 43,38 ngày nhưng ở năm 2013 số ngày chỉ còn là 0,0025 ngày. Sở dĩ có được điều này là do khoản phải thu khách hàng đã giảm qua các năm, năm 2011 khoản mục phải thu là 50.928.400 đồng nhưng năm 2012 chỉ còn là 38.500 đồng và đặc biệt năm 2013 khoản mục này giảm
xuống còn 0 đồng. Doanh thu thuần của Doanh nghiệp tăng mạnh qua các năm, năm
2012 tăng 528.831.186 đồng tương ứng với mức tăng 197,93% so với năm 2011 và
năm 2013 tăng 2.033.069.938 đồng tương ứng với mức tăng 255,41%, điều này càng
làm cho số vòng quay các khoản phải thu tăng mạnh và kỳ thu tiền bình quân của
45
Doanh nghiệp giảm xuống. Số vòng quay các khoản phải thu cao đi liền với kỳ thu
tiền bình quân của doanh nghiệp thấp đó là một tín hiệu đáng mừng đối với doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp tốc độ thu hồi nợ của Doanh nghiệp là cao, giảm bớt
được phần vốn bị chiếm dụng, đảm bảo được khả năng thanh toán bằng tiền, Doanh
nghiệp có thể tái đầu tư vào các hoạt động SXKD, góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn. Tuy nhiêu, việc thắt chặt tín dụng này có thể sẽ ảnh hưởng đến quan hệ làm ăn với các đôi tác lâu năm và có thể đánh mất các khách hàng này.
2.2.5.1. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Bảng 2.9: Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu ĐVT
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Chênh lệch 2013-2012
Chênh lệch 2012-2011
2.829.080.023
796.010.085
267.178.899 2.033.069.938
528.831.186
Đồng
5.389.652.395
5.325.721.812
4.107.422.591
63.930.583
1.218.299.221
Đồng
Lần
0,52
0,15
0,07
0,37
0,08
Doanh thu thuần TSNH BQ HSSD TSNH
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán và Báo cáo hoạt động SXKD)
Qua bảng 2.9, có thể nhận thấy hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp chưa được được cao. Có thể thấy 3 năm gần đây nhất từ năm 2011 đến năm
2013 hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty có xu hướng tăng qua các năm,
điều này chủ yếu là sự gia tăng đầu tư vào tài sản ngắn hạn của công ty và khoản mục
doanh thu của công ty trong kỳ lại có mức tăng mạnh, dẫn đến vòng quay của tài sản
ngắn hạn tăng lên, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn tăng. Năm 2011 hiệu suất sử
dụng tài sản ngắn hạn của Công ty là 0,07 lần, có nghĩa là Doanh nghiệp đầu tư 100
đồng vào tài sản ngắn hạn thì sẽ thu được 7 đồng doanh thu thuần. Năm 2012 con số
này được nâng lên mức 0,15 lần tăng 0,08 lần so với năm 2011 và tăng mạnh trong
năm 2013 lên mức 0,52 lần tăng 0,37 lần so với năm 2012. Nguyên nhân chủ yếu là do
công ty đã có sự đầu tư hiệu quả và các khoản mục tài sản ngắn hạn, vì vậy đã tạo mức tăng đầu tư tương xứng với mức độ tạo ra doanh thu của tài sản từ đó làm cho hiệu suất sử dụng tài sản tăng. Tuy nhiên hệ số sử dụng tài sản ngắn hạn của Doanh nghiệp chưa được cao là do khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền của Doanh nghiệp chiếm 1 tỷ trọng rất lớn trong tài sản của doanh nghiệp, điều này làm cho hệ số sử dụng tài sản ngắn hạn của Doanh nghiệp thấp do khoản mục này không trực tiếp tham gia việc tạo doanh thu. Vì vậy, công ty cần có nhưng chính sách hợp lí sử dụng tài sản
ngắn hạn để làm tăng doanh thu cho doanh nghiệp từ đó tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty.
2.2.5.1. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
46
Bảng 2.10: Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Chỉ tiêu
ĐVT
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Chênh lệch 2013-2012
Chênh lệch 2012-2011
Đồng
2.829.080.023 796.010.085 267.178.899 2.033.069.938 528.831.186
Đồng
249.922.371,5 82.659.020,5 11.411.301,5
167.263.351
71.247.719
Lần
11,31 9,63 23,41 1,68 (13,78)
Doanh thu thuần TSDH BQ HSSD TSDH
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán và Báo cáo hoạt động SXKD) Ta thấy hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn của Doanh nghiệp cao điều này chứng tỏ Doanh nghiệp đã sử dụng tài sản dài hạn một cách hợp lí, ngoài ra hiệu suất sử dụng
tài sản dài hạn của Doanh nghiệp cao cũng là do giá trị khỏan mục tài sản dài hạn của
Doanh nghiệp khá thấp. Trong năm năm 2011 đến năm 2012 có xu hướng giảm, tức là
một đồng tài sản dài hạn đã tạo ra ít đồng doanh thu thuần hơn, năm 2011 thì 1 đồng
tài sản dài hạn công ty bỏ ra sẽ thu lại được 23,41 đồng doanh thu thuần nhưng trong
năm 2012 cứ 1 đồng đầu tư vào tài sản dài hạn thì công ty chỉ thu lại được có 9,63
đồng doanh thu thuần, con số này đã giảm 13,78 lần điều này thể hiện khả năng quản
lý tài sản của công ty giảm. Nguyên nhân chủ yếu của sự sụt giảm về hiệu suất sử
dụng tài sản dài hạn là do trong năm nay 2012 doanh nghiệp chuyển địa điểm kinh
doanh sản xuất và mở rộng thêm quy mô về nhân sự lẫn ban quản lí nên trong năm
2012 Doanh nghiệp đầu tư vào các thiết bị văn phòng mới trong các năm đó khiến cho
mức tăng đầu tư tài sản cố định gia tăng lớn dẫn đến mức đầu tư tăng lên. Do các nhân
viên mới chưa nắm bắt được hiệu quả trong kinh doanh, từ đó khả năng khai thác tài
sản thấp, nên hiệu suất sử dụng tài sản cố định nói riêng và hiệu suất sử dụng tài sản
dài hạn nói chung giảm trong giai đoạn 2011 và 2012. Đến năm 2013, nhờ có sự thay
đổi trong hoạt động kinh doanh và quản lý nên hiệu suất sử dụng TSDH đã tăng lên,
một phần do doanh thu của công ty đã tăng thêm 2.033.069.938 đồng tương đương với 255,41% đã giúp cho hiệu suất sử dụng TSDH tăng lên cao so với năm trước.
2.2.5.2. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Bảng 2.11: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Chỉ tiêu
ĐVT
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Chênh lệch 2013-2012
Chênh lệch 2012-2011
Đồng
2.829.080.023 796.010.085 267.178.899 2.033.069.938 528.831.186
Đồng
133.838.623,5
36.902.338
12.571.429
96.936.285,5
24.330.909
Doanh thu thuần NG TSCĐ BQ
47
Chỉ tiêu
ĐVT
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Chênh lệch 2013-2012
Chênh lệch 2012-2011
Lần
216,5
21,57
21,25
194,93
0,32
HSSD TSCĐ
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán và Báo cáo hoạt động SXKD) Qua bảng 2.11, thấy trong hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Doanh nghiệp
rất cao và tăng qua các năm và đặc biệt là tăng mạnh trong năm 2013
Năm 2012, hệ số này là 21,57 lần tăng 0,32 lần sau với năm 2011, trong năm
2012 Doanh nghiệp bỏ 1 đồng vào tài sản cố định thì thu được 21,57 đồng. Trong giai đoạn này do doanh nghiệp chuyển hướng kinh doanh và có sự di chuyển địa điểm công ty nên có sự gia tăng trong tài sản cố định, năm 2011 tài sản cố định là 12.571.429
đồng và tăng lên mức 61.223.247 đồng tương ứng với mức tăng 387%. Ta thấy chỉ số hiệu suất sử dụng TSCĐ của Doanh nghiệp tăng là do trong năm 2012 doanh thu thuần
tăng mạnh từ mức 267.178.899 đồng lên mức 796.010.085 đồng, điều này đã làm cho
hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp trong năm 2012 có sự tăng nhẹ so
với năm 2011.
Năm 2013, hệ số này đã tăng vượt bậc từ mức 21,57 lần lên mức 216,5 lần
tương ứng với mức tăng 903,7%, trong năm 2013 cứ 1 đồng doanh nghiệp đầu tư vào
tài sản cố định thì doanh nghiệp thu được 216,5 đồng doanh thu thuần. Trong năm
2013, Công ty có sự chuyển hướng kinh doanh nên đã đầu tư thêm vào tài sản cố định,
đồng thời trong năm này Doanh nghiệp đã kí kết được một số hợp đồng xây dựng, điều
đó đã lí giải cho việc doanh thu thuần của doanh nghiệp đã tăng mạnh từ mức
796.010.085 đồng lên mức 2.829.080.023 đồng tương ứng với mức tăng 255,41%
trong năm 2013.
Có thế thấy Công ty đã có những chính sách sử dụng tài sản cố định hợp lí nhưng
ta thấy tỉ trọng tài sản cố định vẫn còn khá nhỏ so với tổng tài sản của doanh nghiệp,
doanh nghiệp cần có những giải pháp tăng tài sản cố định lên một cách hợp lí nhằm
làm tăng doanh thu thuần.
2.2.5.3. Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản
Bảng 2.12: Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản
Chỉ tiêu ĐVT
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Chênh lệch 2013-2012
Chênh lệch 2012-2011
Đồng
2.829.080.023
796.010.085
267.178.899 2.033.069.938 528.831.186
Doanh thu thuần
TTS BQ Đồng
5.639.574.767
5.408.380.833
4.566.622.597
231.193.934
841.758.236
Lần
0,5
0,15
0,058
0,35
0,092
HSSD TTS
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán và Báo cáo hoạt động SXKD)
48
Nhìn vào bảng 2.12 có thể thấy được hiệu suất sử dụng tài sản đang có xu hướng
tăng trong các năm tiếp theo và cao nhất vào năm 2013. Bên cạnh đó thì doanh thu thuần và tổng tài sản cũng đang có chiều hướng biến động theo chiều hướng tăng qua
các năm, điều này cho thấy rằng việc sử dụng tài sản của công ty bước đầu đã đạt được
hiệu quả như mong muốn. Cụ thể như sau:
Năm 2011-2012: Năm 2012 hiệu suất sử dụng tổng tài sản là 0,15 lần tương ứng với mức tăng 0,092 lần so với năm 2011. Ở đây có thể hiểu rằng trong năm 2012 một
đồng tài sản đưa vào hoạt động kinh doanh thì thu được 0,15 đồng doanh thu thuần.
Chỉ số này tăng vào năm 2012 do tốc độ tăng của doanh thu thuần đạt 297,9% trong
khi tài sản bình quân chỉ tăng thêm 18,43%. Chỉ số này tăng cho thấy năm 2012 Công ty đã sử dụng hiệu quả tài sản nhằm tạo ra doanh thu.
Năm 2012-2013: Trong giai đoạn này, do chủ động bắt kịp nhịp độ của thị
trường nên việc gia tăng sử dụng tài sản đã tiếp tục có hiệu quả, năm 2013 hiệu suất sử
dụng tổng tài sản đạt mức 0,5 lần, tức một đồng tài sản được đầu tư sẽ thu về được 0,5
đồng doanh thu thuần. Tiếp tục tăng so với năm 2012 là 0,35 lần. Nguyên nhân là năm
2013 doanh thu thuần đã tăng lên 255,41% trong khi tổng tài sản bình quân chỉ tăng
4,27% so với cùng kì năm 2012.
Tóm lại, qua các phân tích trên đây có thể nhận thấy rằng khả năng quản lý tài
sản của công ty trong ba năm gần đây từ năm 2011 đến 2013 là tốt dần lên, hiệu suất sử dụng tài sản của công ty đều tăng dần qua 3 năm, điều này dẫn đến hiệu suất sử
dụng tài sản đã tăng lên đạt 0,5 lần hay 1 đồng tài sản chỉ tạo ra được 0,5 đồng doanh
thu thuần. Tuy nhiên, Công ty vẫn cần chú trọng hơn đến mức đầu tư và kế hoạch đầu
tư vào tài sản ngắn hạn và dài hạn, khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền của
doanh nghiệp còn chiếm tỉ trọng rất lớn trên tổng tài sản, doanh nghiệp cần có sự thấy
đổi về khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền về mức tối ưu và đầu tư thêm
vào tài sản cố định đồng thời có các biện pháp hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy bán
hàng để tăng doanh thu trong kỳ và từ đó khai thác tối đa công suất của tài sản.
Tóm lại: Qua các phân tích chỉ số trên ta có thể thấy, Doanh nghiệp đã sử dụng tài sản cố định và tài sản dài hạn một cách hợp lí để tạo ra doanh thu cao. Tuy nhiên hệ số sử dụng tổng tài sản của Doanh nghiệp lại ở mức thấp, điều này là do Doanh nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn chưa hợp lí, trong tài sản ngắn hạn có khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền chiếm tỉ trọng lớn trong tổng tài sản của Doanh nghiệp, Doanh nghiệp cần có những chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
ngắn hạn cũng như đầu tư vào tài sản dài hạn và tài sản cố định để nhằm nâng cao doanh thu cho doanh nghiệp.
49
2.2.6. Phân tích các chỉ tiêu sinh lời của công ty Từ bảng cân đối kế toàn và báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty TNHH Vietland, ta có bảng thể hiện: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở
hữu và hệ số nhân vốn của Công ty TNHH Vietland.
50
Bảng 2.13: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu và hệ số nhân vốn của Công ty TNHH Vietland
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 ĐVT Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011
Lợi nhuận sau thuế 734.193.055 (305.013.434) 1.207.252 1.039.206.489 (340,71) Đồng
Doanh thu thuần 2.829.080.023 796.010.085 267.178.899 2.033.069.938 528.831.186 Đồng
5.639.574.767 5.408.380.833 4.566.622.597 231.193.934 841.758.236 Đồng TTS BQ
5.615.087.061 5.400.497.250 4.552.400.341 214.589.811 848.096.909 Đồng Vốn CSH BQ
Tỷ suất sinh lời
% 0,45 64,27 (38,77) 25,95 (38,32)
% 0,026 18,66 (5,67) 13,02 (5,64)
% 0,027 18,72 (5,68) 13,07 (5,65) Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE)
Hệ số nhân vốn
% EM 100,3 0,3 (0,2) 100,4 100,1
(Bảng cân đối kế toán và Báo cáo hoạt động SXKD)
51
Từ bảng 2.13, ta có biểu đồ thể hiện ROS, ROA, ROE của công ty TNHH Vietland
Biểu đồ 2.4: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu của
30
25.95
20
13.07
13.02
10
0.45
0.026
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
0
0.027
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
-5.65
-10
-5.64
-20
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
-30
-38.32
-40
-50
Công ty TNHH Vietland
Nhìn vào bảng và biểu đồ đánh giá về các chỉ tiêu sinh lời của Doanh nghiệp, ta
thấy trong năm 2011 các chỉ tiêu sinh lời của Doanh nghiệp đều ở mức rất thấp dưới
0,5% , điều này là do tình hình kinh tế của năm 2011 khá khó khăn, trị trường bất động
sản bị đóng băng, Doanh nghiệp không nhận được hợp đồng lớn nào dẫn đến doanh
thu của Doanh nghiệp thấp làm cho lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp không cao
dẫn đến việc các tỉ suất sinh lời của Doanh nghiệp ở mức rất thấp. Chính vì vậy trong
năm 2012, ban lãnh đạo của Công ty TNHH Vietland đã chuyển hướng kinh doanh từ
chủ yếu là thi công công trình sang hướng tư vấn thiết kế, môi giới và cho thuê bất
động sản. Trong năm 2012 doanh thu của doanh nghiệp tăng đáng kể. Tuy nhiên, để đáp ứng với việc chuyển hướng kinh doanh Doanh nghiệp đã thay đổi địa điểm kinh doanh sản xuất và mở rộng thêm quy mô nhân sự và ban quản lí doanh nghiệp tăng đầu tư vào các thiết bị văn phòng và các thiết bị phục vụ việc khảo sát thiết kế. Điều này đã làm tăng chi phí quản lý doanh nghiệp của năm 2012 tăng cao làm cho lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp bị âm nên các chỉ số về tỷ suất sinh lời của Doanh
nghiệp trong năm này đều mang dấu âm. Năm 2013, nền kinh tế có chút khởi sắc, Doanh nghiệp kí được một số hợp đồng lớn về xây dựng và bộ máy nhân sự của Doanh nghiệp hoạt động một các trơn tru làm cho doanh thu của Doanh nghiệp trong
52
năm 2013 tăng mạnh theo đó lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp cũng tăng theo. Để
làm rõ hơn điều này, ta tiền hành đi sâu vào các chỉ tiêu sinh lời của doanh nghiệp.
2.2.6.1. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu thuần thu về sẽ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế, chỉ tiêu này cũng cho nhà quản lý thấy được hiệu quả quản lý
chi phí và doanh thu trong kỳ. Trong năm 2011, tỷ suất sinh lời trên doanh thu của Doanh nghiệp ở mức rất thấp chỉ 0,5%, tức là nếu doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng doanh
thu thuần thì doanh nghiệp chỉ thu lại được 0,5 đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất sinh
lời trên doanh thu giảm trong năm 2012 và giảm xuống âm 38,32% và tiếp tục tăng
trở lại vào năm 2013 đạt giá trị 25,95%. Trong năm 2013 thì các chỉ tiêu đánh giá cần quan tâm đều tăng, trong khi năm 2012 cứ 100 đồng doanh thu thì lỗ 38,32 đồng lợi
nhuận thì đến năm 2013 đã có 25,95 đồng lợi nhuận. Để xem xét chính xác hơn
nguyên nhân tăng giảm của tỷ suất sinh lời trên doanh thu chúng ta xem xét tới một số
chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh có ảnh hưởng mạnh đến lợi nhuận sau thuế
bao gồm: Doanh thu thuần, Giá vốn hàng bán, Chi phí quản lý kinh doanh,…...Có thể
thấy trong năm 2011 Doanh thu thuần của doanh nghiệp là 267.178.899 đồng và doanh
thu từ hoạt động tài chính là 60.421.544 đồng, chi phi quản lý doanh nghiệp lại ở mức
326.393.191 đồng đã làm cho lợi nhuận sau thuế của Doanh nghiệp ở mức rất thấp chỉ
là 1.207.252 đồng. Chính vì điều này doanh nghiệp đã chuyển hướng kinh doanh làm cho doanh thu của Doanh nghiệp trong năm 2012 tăng, nhưng trong năm này doanh
nghiệp chuyển đổi mục đích kinh doanh sản xuất nên đã làm cho chi phí quản lý của
doanh nghiệp tăng mạnh, dù doanh thu của Doanh nghiệp đã tăng nhưng vẫn không
đáp ứng đủ chi phí quản lý doanh nghiệp dẫn đến việc lợi nhuận sau thuế của Doanh
nghiệp bị âm. Năm 2013, do kí được một hợp đồng xây dựng nên doanh thu của doanh
nghiệp trong năm 2013 đã tăng vượt bậc và đã đủ đáp ứng được chỉ phí quản lí doanh
nghiệp trong năm 2013, điều làm cho lợi nhuân sau thuế của Doanh nghiệp năm 2013
này là 734.193.005 đồng tăng 1.039.206.489 đồng so với năm 2012.
. Do mức biến động chi phí đầu vào đã ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty trong năm vừa qua. Từ đó có thể đánh giá rằng Công ty đang có được nguồn doanh thu tốt và có sự tăng trưởng qua các năm, khả năng quản lý các chi phí cũng tốt hơn nên đã làm tăng khả năng sinh lời trên doanh thu của Công ty. Tuy nhiên, Công ty cũng cần có sự quản lý chi phí tốt hơn do doanh thu thuần của Công ty đạt giá trị cao nhưng lợi nhuận ròng lại có giá trị rất thấp.
2.2.6.2. Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)
Là tỷ số đánh giá khả năng sinh lời từ việc khai thác tài sản của Công ty. Tỷ số
này cho ta thấy Doanh nghiệp trong năm 2011 doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng thì chỉ thu
lại được 0,026 đồng. Năm 2012 con số này bị giảm 5,67% xuống mức âm 5,64%, có
53
nghĩa là trong năm này doanh nghiệp không những không thu được đồng nào mà còn
bị mất đi 5,64 đồng.Năm 2013, Doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng sẽ thu được 13,02 đồng tương đương tăng 18,66 đồng so với năm 2012. Năm 2011, tổng tài sản bình quân của
Doanh nghiệp là 4.566.622.597 đồng và lợi nhuận sau thuế chỉ là 1.207.252 đồng làm
cho chỉ số này ở năm 2013 là rất thấp. Năm 2012, Doanh nghiệp chuyển địa điểm và
mở rộng qui mô của mình nên tổng tài sản của doanh nghiệp tăng lên, doanh thu trong năm 2012 cũng tăng nhưng không đáp ứng được chi phí quản lý doanh nghiệp nên đã
làm cho lợi nhuận sau thuế năm 2012 bị âm dẫn đến tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản bị
âm. Trong năm 2013 tài sản bình quân của Công ty tăng thêm 231.193.934 đồng và
lợi nhuận ròng lại tăng 1.039.206.489 đồng. Vậy có thể thấy rằng hiệu suất sử dụng tài sản của Doanh nghiệp được cải thiện mạnh mẽ trong năm 2013, nhưng Công ty vẫn
cần phải tìm cách nâng cao hiệu suất này khi để lợi nhuận tăng cao hơn với mức tăng
của tài sản.
Để có cái nhìn rõ hơn về tỷ suất sinh lời trên tài sản ta tiến hành phân tích
Dupont ROA:
Bảng 2.12 : Phân tích Dupont ROA
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011
ROS 25,95 (38,32) 64,27 (38,77) 0,45
50 15 35 9,2 5,8 HSSD TTS
ROA 13,02 (5,64) 0,026 18,66 (5,67)
Bảng 2.12 thể hiện cho ta thấy sự phụ thuộc của ROA vào ROS và hiệu quả sử dụng tổng tài sản. ROA của năm 2012 âm là do trong năm này Công ty kinh doanh
thua lỗ. Năm 2013 ROA tăng lên rõ rệt từ -5,64% lên mức 13,02%, có thể thấy ROA
tăng lên do ROS tăng vượt bậc trong năm 2013 và hiệu suất sử dụng tổng tài sản tăng từ 15% lên mức 50%. ROS trong năm 2013 có mức tăng mạnh như vậy là do lợi nhuận sau thuế của Công ty đã được cải thiện một cách rõ rệt từ -305.013.434 đồng lên mức
734.193.055 đồng, đây là nhân tố chính giúp giá trị của ROA được gia tăng. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản của doanh nghiệp cũng được cải thiện qua các năm, thể hiện sức sản xuất của tài sản được nâng cao, đây cũng là nhân tố tích cực giúp nhà quản trị tăng ROA. Vây để tăng ROA, các nhà quản trị cần tăng lãi ròng bằng cách tiết kiệm chi phí
quản lý doanh nghiệp và tăng doanh thu thuần của doanh nghiệp thông qua việc đẩy
mạnh các chiến dịch quảng bá sản phẩm cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm của
mình. Ngoài ra, Ban lãnh đạo còn có thể tăng giá bán sản phẩm của mình việc này sẽ
làm tăng doanh thu cho Công ty nhưng nó cũng có thể làm mất đi khách hàng của
54
Doanh nghiệp do giá của sản phẩm tăng lên làm cho khách hàng không còn thiện cảm,
vì vậy việc tăng giá bán sản phẩm cần phải có một chiến lược phù hợp với sản phẩm.
2.2.6.3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Nhìn vào bảng 2.17, ta thấy chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh
lời trên vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp có sự tương đương nhau. Trong bảng biến
động về tài sản – nguồn vốn, khoản mục nguồn vốn của doanh nghiệp ta thấy vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp chiếm tỉ trọng rất lớn trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
năm 2011 là 99,79%, năm 2012 là 99,91% và năm 2013 con số này là 99,26%
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho chúng ta biết hiệu quả của việc đầu tư
nguồn vốn chủ sở hữu trong hoạt động kinh doanh của một đơn vị. Chỉ số này chứng minh tính hiệu quả của đồng vốn chủ sở hữu góp vào Công ty, năm 2011 cứ 100 đồng
vốn bỏ ra thì chỉ thu được 0,027 đồng lợi nhuận, năm 2012 thì bị lỗ 5,65 đồng, năm
2013 thì thu được 13,07 đồng lợi nhuận. Tuy nhiên do vốn đầu tư của chủ sở hữu
không tăng (giữ nguyên trong 3 năm 2011, 2012, 2013) và lợi nhuận sau thuế chưa
phân phối của doanh nghiệp được cải thiện xuống còn -17.816.412 đồng trong năm
năm 2013, lợi nhuận ròng của doanh nghiệp trong năm 2013 tăng thêm 1.039.206.489
đồng nên đã giúp chỉ số này tăng thêm 18,72% trong năm 2013.
Để có cái nhìn rõ hơn về tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ta tiến hành phân
tích Dupont ROE:
Bảng 2.13 : Phân tích Dupont ROE
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011
13,02 (5,64) 0,026 18,66 (5,67) ROA
100,4 100,1 100,3 0,3 (0,2) EM
13,07 (5,65) 0,027 18,72 (5,68) ROE
Nhìn vào bảng 2.13, ta thấy có sự tương đương giữa ROA và ROE điều này được lí giải qua hệ số nhân vốn, hệ số này luôn duy trì ở mức khoảng 100% trong 3 năm 2011 là 100,3%, ở năm 2012 là 100,1% và năm 2013 con số này là 100,4%. Để tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu thì Ban giám đốc cần phải tăng ROA và EM. Ở mục trên đã đề cập đến cách tăng ROA. Để tăng EM thì doanh nghiệp cần phải giảm tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn, để làm được điều này thì
tăng tỉ trọng nợ phải trả bằng cách huy động vốn từ một số nguồn bên ngoài và bên trong Công ty, việc này sẽ làm tăng tổng tài sản của Công ty.
55
Nhận xét: Dựa vào bảng trên có thể thấy tỷ suất sinh lời đã tăng lên trong các
năm gần đây nhưng vẫn chưa đạt được mức cao nhất do hiệu quả trong kinh doanh còn kém, mức doanh thu và lợi nhuận chưa thực sự tương xứng với sự đầu tư của ban lãnh
đạo công ty. Vì vậy công ty cần phải có sự thay đổi trong quản lý để sự đầu tư của ban
lãnh đạo sẽ đem lại sự hài lòng cho các chủ đầu tư.
2.2.7. Đánh giá chung thực trạng tài chính của Công ty TNHH Vietland
2.2.7.1. Những kết quả đã đạt được
Năm 2012, ban giám đốc đã có quyết định chuyển ngành nghề kinh doanh của
doanh nghiệp từ nhận thi công công trình sang môi giới và cho thuê các bất động sản.
Đó là một quyết định sáng suốt của ban giám đốc. Điều này được thể hiện qua việc doanh thu của doanh nghiệp tăng qua các năm và đặc biệt tăng mạnh trong năm 2013.
Bên cạnh đó, Công ty không sử dụng các khoản vay dài hạn cũng như ngắn hạn,
điều này giúp Công ty không phải chịu áp lực trả lãi và trả nợ. Các chỉ tiêu khả năng
thanh toán của Công ty tuy có giảm trong giai đoạn 2012 – 2013 nhưng các hệ số này
vẫn duy trì ở mức rất cao, thể hiện Công ty vẫn đủ khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài
chính đúng thời hạn mà không gặp phải bất cứ khó khăn nào.
Tốc độ vòng quay các khoản phải thu của doanh nghiệp tăng mạnh trong 3 năm.
Điều này là do trong 3 năm này, Ban giám đốc đã thực hiện các chính sách thắt chặt
tín dụng của Công ty, khoản phải thu của Công ty giảm mạnh qua các năm, và đặc biệt năm 2013 khoản mục các khoản phải thu ngắn hạn của Công ty đã về mức 0 đồng.
Ta thấy lợi nhuận sau thuế của Công ty tại năm 2012 bị âm 305.013.434 đồng,
nhưng trong năm 2013 con số này đã tăng vượt bậc lên mức 734.193.055 đồng, chứng
tỏ Ban giám đốc của Công ty đã có nhưng chính sách và có kế hoạch phát triển cho
công ty một cách hợp lí. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định và tài sản dài hạn của công
ty luôn duy trì ở mức cao trong giai đoạn 2011 – 2013. Cho thấy Công ty đã sử dụng
những tài sản này một cách rất hiệu quả
Vốn chủ sở hữu của Công ty luôn chiếm tỷ trọng cao trong 3 năm 2011, 2012,
2013, điều này cho thấy sự tự chủ tài chính rất cao của Công ty TNHH Vietland.
Công ty đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật có bề dày kinh nghiệm, gắn bó tâm huyết với công việc, đây là nguồn lực chính để phát huy và huy động tốt để phục vụ sản xuất kinh doanh, Sự đoàn kết, trách nhiệm đã được ban giám đốc các phòng ban và cán bộ công nhân viên thống nhất và giữ vững đó là yếu tố quyết định để công ty vượt qua được khó khăn và thử thách để Công ty càng ngày càng lớn
mạnh và vững bước trên thương trường.
Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty tương đối gọn nhẹ và hoạt động hiệu quả với
quy mô của Công ty, điều này thể hiện ở cơ cấu và chức năng hoạt động của các phòng
ban ở Công ty, các phòng ban hoạt động một cách độc lập nhưng có mối quan hệ hoạt
56
động và phối hợp chặt chẽ với nhau. Ban giám đốc của Công ty cũng thường xuyên có
những cuộc kiểm tra, rà soát và đề ra những biện pháp kịp thời nhằm tập trung đẩy mạnh việc thực hiện kế hoạch của từng phòng ban cũng như kế hoạch của Công ty đã
đề ra.
Xuất phát từ thực trạng tài chính tại Công ty TNHH Vietland, ta nhận thấy khả
năng tài chính của Công ty lành mạnh, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được nâng cao qua các năm. Thị trường của Công ty luôn được mở rộng và
phát triển. Uy tín và vị thế cạnh tranh của Công ty trên thị trường ngày càng được
khẳng định. Thị trường của Công ty đã được mở rộng trên khắp địa bàn Hà Nội và một
số tỉnh thành lân cận.
2.2.7.2. Những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu
Doanh thu hàng năm của Công ty có tăng nhưng chí phí quản lý Doanh nghiệp
hàng năm của Công ty vẫn còn ở mức cao dẫn đến lợi nhuận sau thuế tuy có được cái
thiện nhưng vẫn còn thấp. Nguyên nhân là do ngành nghề chính của Công ty trong
năm 2011 là xây dựng công trình đã vấp phải sự cạnh tranh rất lớn từ các Doanh
nghiệp mới trên thị trường cũng như sự đi xuống của nền kinh tế nói chung và thị
trường bất động sản nói riêng, việc này đã làm cho nhu cầu về xây dựng bất động sản
giảm xuống một các rõ rệt. Ngoài ra giá của các loại nguyên vật liệu, vật tư, thiết bị,
phụ tùng máy móc các thiết bị phục vụ sản xuất liên tục tăng cao: Xăng dầu, điện,….và việc chuyển địa điểm trụ sở và mở rộng quy mô Công ty đã làm cho chi phí
quản lí doanh nghiệp của Công ty tăng cao trong năm 2012 và năm 2013.
Khoản nợ ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp luôn duy trì ở mức thấp, vốn chủ
sở hữu luôn duy trì ở mức tỉ trọng rất cao trên tổng nguồn vốn kinh doanh của Công ty
điều này chứng tỏ Công ty đã không sử dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính nhằm tăng
vốn hoạt động cho doanh nghiệp để làm tăng lợi nhuận sau thuế cũng như tạo ra một
áp lực cho Công ty để Công ty có những chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động.
Các chỉ tiêu quay vòng hàng tồn kho của doanh nghiệp vẫn còn ở mức thấp là do
phần lớn hàng tồn kho của Công ty là các trang thiết bị nhằm phục vụ việc khảo sát tư vấn mang tính chất ngành nghề kinh doanh nên vẫn tồn ở mức lớn và việc giá vốn hàng bán của Công ty ở mức thấp, năm 2011 và 2012 giá vốn hàng bán bằng 0 và con số này ở năm 2013 chỉ là 89.220.740 đồng và hàng tồn kho trong 2 năm 2011, 2012 duy trì ở mức 44.148.276 đồng năm 2013 tăng lên 166.210.908 đồng, tuy năm 2013 giá vốn hàng bán đã tăng nhưng việc hàng tồn kho tăng mạnh đã là cho vòng quay của
hàng tồn kho ở mức 0,85 và cần tới 429 ngày để hoàn thành một vòng quay hàng tồn kho.
Khoản mục tiền và khoản tương đương tiền của Công ty luôn duy trì ở mức rất
lớn cộng với việc tài sản cố định và tài sản dài hạn luôn ở mức thấp đã làm cho hiệu
57
suất sử dụng toàn bộ tài sản và hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn ở mức rất thấp.
Ngoài ra điều này còn làm cho các hệ số sinh lời trên tổng tài sản, tài sản ngắn hạn của Công ty trong các năm gần đây luôn ở mức thấp, nó được thế hiện qua một số chỉ tiêu
đã được tính toán ở Chương 2 (ROA, ROE, …..), nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là
một bài toán rất khó tìm ra lời giải nhưng Công ty không có một con đường lựa chọn
nào khác là tìm ra được đáp só và lời giải cho bài toán này nếu doanh nghiệp muốn phát triển.
58
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY TNHH VIETLAND.
3.1. Định hƣớng phát triển của Công ty TNHH Vietland trong thời gian tới 3.1.1. Hướng phát triển của thị trường bất động sản Việt Nam trong những năm tới Với sự vào cuộc tích cực của các Bộ, ngành có liên quan và các địa phương trong
việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ, thị trường bất động sản nói chung và thị trường nhà ở nói riêng trên địa bàn cả nước đã có
phản ứng tích cực, cơ cấu nguồn cung nhà ở đã bắt đầu có sự điều chỉnh phù hợp hơn
với nhu cầu của thị trường. Niềm tin của khách hàng đối với thị trường đang dần được
hồi phục. Phân khúc nhà ở xã hội và những căn hộ nhà ở thương mại có diện tích nhỏ được người dân quan tâm và đã có nhiều giao dịch thành công hơn trước.
Trong thời gian qua, có nhiều tín hiệu vui từ thị trường, trong đó có các giải pháp
tài chính từ phía ngân hàng, trong đó có gói 30 nghìn tỉ và gói 50 nghìn tỉ. Khác biệt
của hai gói này là: Gói 30 nghìn tỉ ưu đãi nhằm vào các sản phẩm nhà ở xã hội và là
chương trình của Chính phủ. Có 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước được giải ngân,
được tái cấp vốn 100% với lãi suất ưu đãi. Gói này tạo ra các hiệu ứng: thứ nhất, hình
thành thị phần nhà ở xã hội đúng với khả năng mua nhà của người dân; thứ hai, gói tín
dụng này góp phần kéo giá thành nhà ở xuống thấp, tạo cú hích đầu tiên và là đòn bẩy
để thị trường bất động sản Việt Nam thoát khỏi thời kì đóng băng. Còn gói 50 nghìn tỉ đồng là gói tín dụng thương mại trong sản xuất nhằm tạo ra hiệu ứng lớn nhắm vào các
dự án đang dở dang.
Đầu năm 2014, thị trường bất động sản tiếp tục có dấu hiệu khởi sắc, lượng giao
dịch tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, giá nhà có dấu hiệu chững lại, không
giảm liên tiếp như năm ngoái, thậm chí có dự án tăng giá nhẹ tại Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn Hà Nội có khoảng 2.300 giao dịch thành công
(riêng Quý I có trên 1.500 giao dịch, gấp gần 2 lần so với cùng kỳ năm 2013). Trong
đó, giao dịch tăng cao tại những dự án nhà ở thương mại có giá bán phù hợp, diện tích nhỏ, giao thông thuận lợi, đã bàn giao hoặc đang hoàn thiện. Một số dự án nhà thấp tầng có diện tích nhỏ, giá hợp lý (25-27 triệu đồng/m2) có lượng giao dịch cao. Một số dự án nhà ở thương mại có giá thấp, tuy xa trung tâm nhưng có tiến độ thi công đảm bảo và sắp bàn giao cũng có giao dịch tốt.
3.1.2. Định hướng phát triển của Công ty TNHH Vietland Trước những thuận lợi và khó khăn, để không ngừng nâng cao sức mạnh cạnh trạnh trên thương trường và xu thế phát triển của thị trường bất động sản Việt Nam,
Ban giám đốc của Công ty TNHH Vietland đã tập trung để xây dựng chiến lược phát
triển và kinh doanh của Công ty trong thời gian tới. Việc làm trọng tâm của Công ty
59
trong thời gian tới là xây dựng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực
quản lý, có trình độ chuyên môn, có khả năng đảm nhiệm, giải quyết được nhiều công việc, hiểu biết sâu về ngành nghề của Công ty,…..Ngoài ra Công ty còn cần tuyển
dụng người lao động mới đúng chuyên ngành và tuyển chọn đưa cán bộ đi đào tạo.
Dành sự quan tâm thích đáng về nhân lực và tài chính cho công tác khảo sát và nghiên
cứu thị trường, từ đó Công ty mới có thể hoạch định được các chính sách mới phù hợp với thị trường, phân tích và xác định chính xác được thị trường mục tiêu mà Công ty
nhắm đến trong hiện tại và trong tương lai, khả năng phát triển thị trường của Công ty
ra các tỉnh thành lân cận,….Từ đó xây dựng được chiến lược phát triển phù hợp, liên
kết với các đối tác nhằm nâng cấp và mở rộng hoạt động kinh doanh của Công ty.
Trên cơ sở của việc định hướng phát triển Công ty, để tồn tại và phát triển trong
điều kiện mới Ban giám đốc Công ty đã đề ra những định hướng và chiến lược cho
Công ty như sau:
Nâng cao uy tín trên thị trường của Công ty nhằm tạo lợi thế mở rộng thị trường, mở rộng các hoạt động liên doanh, liên kết nhằm nâng cao hiệu
quả sản xuất kính doanh của Công ty. Duy trì thường xuyên công tác
thanh kiểm tra hoạt động và hiệu quả hoạt động của các phòng ban trong
Công ty.
Thường xuyên kiểm tra qui trình tư vấn thiết kế, khảo sát các công trình
bất động sản, tiến độ thi công nhằm đảm bảo chất lượng công trình.
Thực hiện một số biện pháp nhằm đơn giản hóa thủ tục môi giới và cho thuê nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng giúp khách hàng
tiết kiệm thời gian và giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí.
Mục tiêu trong năm 2014 của Công ty:
Dự kiến doanh thu đạt mức: 3,9 tỷ đồng Dự kiến lợi nhuận đạt mức : 2,1 tỷ đồng Dự kiến thu nhập bình quân đạt mức: 6 triệu đồng/ người/ tháng
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tình hình tài chính của Công ty TNHH VietLand. 3.2.1. Những yêu cầu cơ bản khi xây dựng giải pháp nâng cao tình hình tài chính.
Giải pháp nâng cao khả năng tài chính phải dựa trên sự phân tích đầy đủ về thực trạng tài chính cho đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty thông qua bảng báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán.
Giải pháp nâng cao khả năng tài chính phải dựa trên những tiềm năng và thế mạnh thực tế của Công ty TNHH Vietland để các giải pháp này có thể đạt được
hiệu quả cao nhất.
60
Giải pháp nâng cao khả năng tài chính phải đảm bảo cho Công ty phát triển một cách bền vững, nâng cao được năng lực cạnh tranh trong điều kiện và tình hình mới của cơ chế thị trường.
3.2.2. Những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao tình hình tài chính của Công ty
TNHH Vietland.
3.2.2.1. Giải pháp nâng cao lợi nhuận sau thuế
Một số biện pháp cơ bản nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp: Tùy thuộc vào
từng doanh nghiệp, từng ngành nghề kinh doanh để áp dụng giải pháp nâng cao lợi
nhuận chứ không thể quan niệm một cách cứng nhắc rằng cứ giảm chi, tăng thu là
nâng cao lợi nhuận, đạt hiệu quả kinh doanh mà phải giảm chi và tăng thu một cách toàn diện sao cho tốc độ tăng của chi phí luôn thấp hơn tốc độ tăng của Doanh thu. Để
có được điều này thì Công ty cần phải thực hiện những biện pháp sau:
- Thứ nhất, Công ty cần đẩy mạnh Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của mình. Để làm được điều này thì Công ty cần phải tăng cường tìm hiểu thị
trường, bám sát, nắm bắt nhu cầu của khách hàng về thuê và thiết kế bất động
sản. Công ty cần tổ chức tốt công tác điều tra và nghiên cứu thị trường. Điều
này giúp Công ty nắm được thị trường đang cần những gì, sức mua của thị
trường như thế nào cũng như những đối thủ cạnh tranh của mình từ đó xây
dựng được kế hoạch kinh doanh cho Công ty mình. Công ty trong năm 2014 cần tập trung vào nghiên cứu thị trường văn phòng và căn hộ cho thuê ở một
số khu vực trung tâm nội thành Hà Nội, khu vực Mỹ Đình, Từ Liêm,.... và
vùng trung tâm của các tỉnh thành lân cận Hà Nội.
- Thứ hai, công tác điều tra và nghiên cứu thị trường trong Công ty chưa thực sự được coi trọng. Trong nền kinh tế hiện nay thì Công ty không thể coi nhẹ
công tác này. Công ty nên có kế hoạch nghiên cứu thị trường hoàn chỉnh,
công tác này phải trở thành hoạt động thường xuyên của Công ty trong thời
gian tới. Hàng tháng bộ phận nghiên cứu thị trường phải lập các báo cáo chi
tiết, chính xác về thị trường để Ban giám đốc có thể căn cứ vào đó đề ra kế hoạch kinh doanh có hiệu quả. Thông qua hoạt động thăm dò, Công ty cũng sẽ phân tích được thuận lợi, khó khăn của từng thị trường từ đó tìm ra giải pháp để phát triển và mở rộng thị trường từng vùng. Để làm được điều này Công ty nên thành lập bộ phận marketing tách riêng với phòng kinh doanh. Nhân viên phòng này nên được lựa chọn từ phòng kế hoạch và phòng kinh
doanh vì họ đã có sẵn kinh nghiệm và họ có sự am hiểu nhất định về thị trường của Công ty.
- Thứ ba là phát triển mạng lưới sản phẩm của Công ty, điều này hết sức quan trọng. Công ty có dịch vụ môi giới cho thuê bất động sản nên sản phẩm cần
61
phải có tính đa dạng và trải rộng, khách hàng có nhu cầu về bất động sản ở
khu vực nào thì Công ty cần phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về vị trí, giá thành cũng như đặc điểm về bất động sản mà khách hàng yêu cầu. - Công ty cũng cần phải dành một khoản tiền cho hoạt động quảng cáo. Việc quảng cáo bán hàng là hết sức quan trọng đối với Công ty. Ngoài ra việc lựa
chọn phương thức quảng cáo cũng hết sức quan trọng, quảng cáo cần phải đem đến cho khách hàng của mình đầy đủ các thông tin về sản phẩm của
mình. Hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng hình thức quảng cáo sản phẩm
của Công ty mình thông qua 2 kênh là báo giấy và qua một số các website.
Hoạt động quảng cáo hiện nay đã đem lại một số hiệu quả nhất định nhưng vẫn cần phải nâng cao. Trong năm 2014, Công ty cần tăng cường quảng cáo
thông qua một số website nổi tiếng, có lượng truy cập lớn như dantri.com,
vnexpress.net,…. Ngoài ra cần phải sử dụng một số biện pháp để tăng rank
cho website của chính Công ty nhằm làm cho người có nhu cầu có thể tìm
kiếm dễ dàng các sản phẩm của Doanh nghiệp khi họ có nhu cầu. Bênhcạnh
đó Công ty cũng nên sử dụng quảng cáo thông qua kênh radio, phát tờ rơi,….. - Công ty cũng cần phải hoàn thiện về dịch vụ trước và sau bán hàng đối với các sản phẩm mà công ty xây dựng, môi giới và hoàn thiện, cần phải có chế
độ bảo hành cũng như có chế độ kiểm tra, bảo dưỡng định kì với sản phẩm đã bàn giao cho khách hàng.
- Công ty cũng cần phải tổ chức lao động một cách khoa học, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả chi phí tiền lương. Công ty cần phải sắp xếp “Đúng người đúng
việc” từ đó mới có thể nâng cao được chất lượng giờ công, ngày công, phát
huy được sở trường của từng nhân viên từ đó đạt được hiệu quả lao động cao .
3.2.2.2. Giải pháp cân bằng tỷ trọng nguồn vốn
Quan phân tích ở chương 2 ta thấy cơ cấu vốn chủ sở hữu của công ty trong tổng
nguồn vốn của Công ty là rất cao, điều này cho thấy công ty chủ yếu đầu tư vào hoạt
động sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn tự có. Điều này thể hiện việc Công ty có khả năng tự chủ tài chính, không phải phụ thuộc và các cá nhân, tổ chức cho vay. Mặt khác điều này thể hiện công ty chưa linh hoạt trong việc sử dụng vốn từ hoạt động đi vay cũng như chưa sử dụng được công cụ đòn bẩy tài chính. Để khắc phục tình trạng này, Công ty cần thực hiện những biện pháp sau:
- Phân tích rõ nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn, mức độ rủi ro kinh doanh và
mục tiêu an toàn đặt ra cho doanh nghiệp, trên cơ sở đó xác định cơ cấu vốn tối ưu.
- Sử dụng các nguồn vốn vay từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Việc sử
dụng nguồn vốn này tác dụng tạo ra một áp lực nhất định tác động lên Công ty, thúc
đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Để làm được điều này thì
62
thi Doanh nghiệp cần phải có tình hình tài chính tốt và bắt buộc phải có những phương
án kinh doanh mang tính khả thi cao và đem lại lợi nhuận lớn. Công ty khi đã vay nợ thì phải sử dụng nợ một cách hợp lí, phát huy được tối đa hiệu quả sử dụng nợ nhằm
nâng cao hiệu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
- Tăng cường huy động vốn từ cán bộ công nhân nhân viên trong công ty. Đây
là một hình thức vay linh hoạt, dễ dàng, có chi phi huy động thấp và ổn định. Huy động nguồn vốn nội bộ một mặt có ý nghĩa kinh tế đối với doanh nghiệp, giúp công ty
có thêm vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác mang lại sự gắn
bó giữa công ty với cán bộ công nhân viên khi đặt lợi ích của họ trong lợi ích công ty,
khuyến khích tinh thần lao động của cán bộ công nhân viên. Tuy nhiên đây là hình thức đi vay không kỳ hạn do đó có một số hạn chế như sau: không sử dụng để tài trợ
cho nhu cầu vốn thường xuyên vì người cho vay có thể rút bất kì lúc nào, điều này có
thể gây áp lực thanh toán với Công ty. Công ty cần có những biện pháp thu hút nguồn
vốn như: tính thuận tiện trong thanh toán, lãi suất hấp dẫn và phải hợp lí.
3.2.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và sử dụng hàng
tồn kho tại Công ty.
Quản lý và sử dụng hàng tồn kho là công việc không thể thiếu đối với bất cứ một
Doanh nghiệp nào. Mục tiêu của việc quản lý và sử dụng hàng tồn kho là làm sao có
thể kiểm soát được một định mức dự trữ nguyên vật liệu, các nguyên vật liệu cần thiết khác vừa đủ để đáp ứng nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh và vừa tránh được
rủi ro và đặc biệt là đạt chi phí dự trữ thấp nhất. Qua phân tích ta thấy hàng tồn kho
trong 2 năm 2011 và 2012 giữ nguyên ở mức 44.148.276 đồng và năm 2013 tăng lên
mức 166.210.908 đồng. Thời gian của một vòng quay hàng tồn kho của Công ty trong
năm 2013 ở mức rất cao. Do vậy, trong thời gian tới Công ty cần đẩy nhanh tiến độ thi
công của các công trình xây dựng mà công ty đã nhận trong năm 2013, tiến hành bàn
giao và quyết toán với các chủ đầu tư cũng như các nhà thầu thi công, đẩy nhanh thời
gian của việc khảo sát các công trình cho thuê. Tránh ứ đọng hàng tồn kho và tăng
nhanh tốc độ luân chuyển của hàng tồn kho. Trong năm tới Công ty cần phải:
-
- Thực hiện một mức dự trữ nguyên vật liệu hợp lí và vừa đủ. Không nên để khoản mục hàng tồn kho của Công ty có mức tăng lớn hơn giá vốn hàng bán của Công ty qua các năm. Đẩy nhanh tiến độ thi công, khảo sát các công trình của Công ty, sớm bàn giao công trình, tránh tình trạng vốn bị ứ đọng, vốn luân chuyển bị chậm.
Càng nâng cao hơn nữa việc tăng vòng quay của hàng tồn kho sẽ góp phần tăng doanh thu cho Công ty.
63
Ngoài ra, Công ty cũng cần phải trích lập một khoản dự phòng giảm giá hàng
tồn kho để tránh các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh do các điều kiện khách quan tác động lên.
3.2.2.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng khoản tiền và các khoản tương
đương tiền tại Công ty
Có thể thấy các khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền của Công ty luôn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng tài sản của Công ty. Điều này chứng tỏ Công ty có
tiềm lực tài chính vững mạnh. Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn và Tài sản cố định của
công ty luôn được duy trì ở mức cao nhưng tỉ trọng của 2 loại tài sản này trên tổng tài
sản của Công ty lại rất thấp, Doanh nghiệp cần giảm bớt tỉ trọng của khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền xuống để đầu tư vào tài sản dài hạn và tài sản cố định
để tăng được hiệu quả sử dụng tổng tài sản của Công ty. Tuy nhiên khi đầu tư vào cần
phải lựa chọn, mua sắm thiết bị công nghệ hợp lý và lập kế hoạch, phương pháp để sử
dụng một cách hiệu quả. Các thiết bị được mua sắm cần phải có tính chất quan trọng
đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.
Ngoài ra thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày càng phát triển thì việc sử
dụng các chứng khoán là có thể áp dụng được. Tuy nhiên đối với một doanh nghiệp
hoạt động xây dựng và tư vấn bất động sản thì việc kinh doanh chứng khoán là hơi
mạo hiểm và cần phải có những chuyên gia tài chính. Nhưng với những loại chứng khoán có tính thanh khoản cao và độ rủi ro thấp như tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho
bạc thì việc nắm giữ nó lại là một lợi thế .
Cụ thể là thay vì dự trữ hoàn toàn bằng tiền mặt thì Công ty có thể nắm giữ một
phần chứng khoán này. Số tiền mặt trong ngân quỹ của Công ty không phải một lúc là
có thể dùng tất cả cho việc xuất quỹ mà có những khoản tiền nhàn rỗi mà Công ty
chưa dùng đến. Hơn nữa mức tiền dự trừ còn bao gồm cả mức dự trữ an toàn, có thể có
những kỳ hoạt động mà Công ty không cần dùng đến số tiền đó. Và số tiền mặt của
công ty không có khả năng sinh lời, thậm chí khả năng sinh lời còn âm do lạm phát
làm đồng tiền mất giá. Vậy nếu ta thay bằng việc dự trữ chứng khoán thì trong lúc ta chưa dùng đến khoản tiền thì khoản tiền đó được đầu tư và sinh lời, đem lại thu nhập từ hoạt động tài chính cho Công ty.
Việc đầu tư vào các loại chứng khoán nợ này là rất an toàn tuy khả năng sinh lời của các loại chứng khoán này là không cao, hơn nữa trong trường hợp Công ty cần đến tiền mặt ngay thì Công ty có thể đem các chứng khoán này đến ngân hàng để xin chiết
khấu rất dễ dàng, nhanh chóng và chi phí không cao. Tất nhiên việc dữ trữ bao nhiêu cũng phải dựa trên kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ việc sử dụng các chứng khoán thì Công ty có thể áp dụng xác định mức dự
trữ ngân quỹ theo mô hình Baumol. Với việc áp dụng mô hình này, doanh nghiệp
64
nghiệp sẽ làm giảm tối đa chi phí cho việc sử dụng tiền và các khoản tương đương
tiền, từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng khoản mục này tại công ty.
3.2.2.5. Giải pháp nâng cao trình độ cũng như đời sống của cán bộ công nhân viên
Đối với bối cảnh như hiện nay thì yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất,
quyết định trực tiếp đến năng lực hoạt động của công ty. Song song với việc đầu tư đổi mới trang thiết bị và ngành nghề thì trình độ người lao động phải tương xứng với sự
hiện đại của máy móc. Trong thời gian tới, công ty cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bồi
dưỡng cán bộ công nhân viên, đào tạo về mặt chuyên môn nghiệp vụ cũng như nâng
cao tay nghề và trình độ hiểu biết của những nhân viên phụ trách mảng kỹ thuật. Bên cạnh đó, cần có chế độ quan tâm, chăm sóc, động viên khen thưởng kịp thời những cá
nhân hoặc tập thể làm việc hiệu quả và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đồng
thời chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân viên để họ yên tâm công
tác.
Vừa rồi, em đã mạnh dạn đưa ra nhưng đóng góp, ý kiến của mình về một số giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở công ty TNHH Vietland
trong giai đoạn sắp tới. Hy vọng với sự lãnh đạo sáng suốt của Ban giám đốc cùng với
sự nỗ lực, quyết tâm và đoàn kết của toàn bộ công nhân viên trong công ty, những năm
tiếp theo công ty sẽ thu được nhiều kết quả cao hơn và khẳng định được vị thế của mình trên thị trường.
.
65
KẾT LUẬN
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu chính trước hết của các doanh nghiệp
hiện nay là làm sao có thể làm tối đa hóa lợi nhuận. Lợi nhuận không chỉ đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại mà nó còn là điều kiện để doanh nghiệp càng ngày càng
phát triển. Để có được lợi nhuận và loại nhuận ngày càng tăng thì doanh nghiệp từng
bước phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Là một công ty TNHH, Công ty TNHH Vietland đã vượt qua bao khó khăn, thử
thách để tồn tại và phát triển. Đây là một thành công lớn của Ban lãnh đạo và tập thể
cán bộ công nhân viên trong toàn bộ công ty. Bên cạnh những điều đã đạt được trong
thời gian qua, công ty cũng còn có nhưng khỏ khăn từ chính bản thân công ty cũng
như từ phía khách quan đem lại. Việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là yếu tố
tất yếu cho sự phát triển của các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc phân tích tình hình tài chính của Công ty là một công việc rất
quan trọng, là phương pháp chủ yếu để tìm ra các ưu nhược điểm trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời qua đây tìm ra các tiềm năng chưa được khai
thác để có biện pháp sử dụng các tiềm năng đó. Do nhận thức được vai trò và ý nghĩa
của công tác phân tích tài chính trong việc tồn tại và phát triển của Công ty nên trong
thời gian qua Công ty đã không ngừng tìm tòi phát huy nỗ lực để tìm hướng đi và phát
triển cho doanh nghiệp. Và thực tế cho thấy Công ty TNHH Vietland đã và đang đứng
vững, phát triển trên thị trường trong điều kiện cạnh tranh hết sức gay gắt. Điều này
chứng tỏ rằng Công ty TNHH Vietland đang hoạt động một cách có hiệu quả trong cơ
chế thị trường này. Tuy nhiên để có thể đứng vững và phát triển trong tương lại thì đòi
hỏi Công ty cần phải đưa ra được những biện pháp để nâng cao tình hình tài chính của
Công ty. Do thời gian và sự hiệu biết vẫn còn hạn chế nên trong khóa luận này mới chỉ
nghiên cứu và phân tích một số chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của Công ty
TNHH Vietland. Từ đó thấy được những nỗ lực, cố gắng cũng như thành tựu mà Công
ty đã đạt được, đồng thời trong khóa luận này cũng đã nêu lên được một số vẫn đề còn tồn tại và khó khắn của Công ty. Bằng những kiến thức đã tích lũy được thông qua quá trình học tập và những kinh nghiệp của bản thân em thông qua quá trình thực tập tại công ty e cũng xin đưa ra một số ý kiến về các giải pháp có thể áp dụng để cải thiện và nâng cao tình hình tài chính
của Công ty trong những năm tới.
Tuy nhiên do thời gian có hạn và hiểu biết còn hạn chế nên bài viết của e không
thể tránh khỏi sai sót. Em rất mong nhận được những ý kiến của thầy cô giáo, của cán
bộ công nhân viên Công ty TNHH Vietland để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
66
Em xin chân thành cảm ơn Cô giáo Th.s Nguyễn Hồng Nga đã hướng dẫn em tận
tình hướng dẫn em trong suốt thời gian em làm bài khóa luận này cũng như cung cấp tài liệu giúp em hoàn thành bài luận văn này một cách tốt nhất.
Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hữu Lâm
67
PHỤ LỤC
Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Vietland
năm 2010 Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Vietland
năm 2011
Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Vietland
năm 2012 Bảng cân đối kế toán của Công ty TNHH Vietland năm 2010
Bảng cân đối kế toán của Công ty TNHH Vietland năm 2011 Bảng cân đối kế toán của Công ty TNHH Vietland năm 2012
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội – 2008, Chủ biên:
PGS. TS. Nguyễn Đình Kiệm & TS. Bạch Đức Hiền.
2. Quản trị kinh doanh – GS.TS. Nguyễn Thành Độ - TS. Nguyễn Ngọc Huyền,
NXB Lao động – Xã Hội, Hà Nội 2009.
3. Giáo trình Khoa học Quản lý Tập II, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội-2002,
Chủ biên: TS. Đoàn Thị Thu Hà – TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền. 4. Một số luận văn của các bạn sinh viên trường Đại học Thăng Long.

