
130
KHƠI DẬY TÌNH YÊU DI SẢN VĂN HÓA TRONG
TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÀ ĐẠI HỌC
CN.Đinh A Ngưi
32
Tóm tắt:
Tây Nguyên là một trong những vùng văn hóa lớn của nước ta, được hình thành từ
hàng nghìn năm về trước với những giá trị phong phú, đặc sắc. Phát triển bền vững Tây
Nguyên không thể không chú trọng bảo tồn và phát triển văn hóa. Chính vì thế để thế hệ trẻ
ngày nay có ý thức bảo vệ, giữ gìn những nét đẹp trong truyền thống văn hóa Tây Nguyên
nói riêng và văn hóa Việt Nam, nhiều tỉnh, thành phố đã kết hợp cùng các trường học đưa
những bài giảng, hoạt động văn hóa thú vị, bổ ích về văn hóa vật thể, phi vật thể của địa
phương vào chương trình học.
Từ khoá: Khơi dậy tình yêu, di sn văn hóa, phổ thông, đại học
1. Giá trị đặc sắc của văn hóa Tây Nguyên
Các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có một nền văn hóa bản địa phong phú và đa dạng,
với văn hóa chữ viết, trang phục, âm nhạc dân gian, văn hóa ẩm thực độc đáo. Tây Nguyên
có nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể hết sức quý giá, như: đàn đá, cồng chiêng cùng
các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian, sinh hoạt cộng đồng phong phú và kho tàng văn học
dân gian đặc sắc. Hiện nay, Tây Nguyên là nơi còn lưu giữ được nhiều di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể, vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị thẩm mỹ độc đáo như: nhà rông, nhà dài,
đàn đá, tượng nhà mồ, các lễ hội và kho tàng văn học dân gian với những bản trường ca,
truyện cổ, truyện ngụ ngôn, lời nói vần, những làn điệu dân ca đậm đà bản sắc lưu truyền qua
nhiều thế hệ. Một trong những di sản nổi tiếng là không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Cồng chiêng được sử dụng trong nhiều nghi lễ, tín ngưỡng quan trọng, được xem là
ngôn ngữ giao tiếp hàng đầu của con người với thần thánh và thế giới siêu nhiên. Cồng chiêng
Tây Nguyên không chỉ có sức hấp dẫn đặc biệt ở sự đa dạng, độc đáo của kỹ thuật diễn tấu
mà còn biểu tượng cho cuộc sống của cộng đồng các dân tộc bản địa, bắt nguồn từ sự tổng
hòa các giá trị văn hóa đa dạng, như: giá trị biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hóa vùng; giá
trị biểu thị đặc trưng văn hóa tộc người hoặc nhóm tộc người; giá trị phản ánh đa chiều; giá
trị nghệ thuật; giá trị sử dụng đa dạng; giá trị vật chất; giá trị biểu thị sự giàu sang và quyền
uy; giá thị tinh thần; giá trị cố kết cộng đồng và giá trị lịch sử.
Văn hóa Tây Nguyên rất phong phú, đa dạng, gắn kết chặt chẽ với bản, làng và đặc
trưng luật tục, lễ hội đặc sắc trong không gian rừng đại ngàn mênh mông. Các lễ hội truyền
thống ở Tây Nguyên biểu thị những quan niệm về con người, trở thành những hội vui với sự
tham gia của toàn thể cộng đồng, thậm chí cả các dòng tộc khác hoặc các buôn lân cận, như
lễ cúng bến nước, lễ ăn cơm mới, lễ cưới cho người trẻ, lễ mừng thọ người già, lễ bỏ mả…
32
. Trung tâm Văn hoá và Thông tin huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

131
Mỗi hội lễ là một tổng thể nguyên hợp, tiêu biểu cho đời sống văn hóa cổ truyền các dân tộc
thiểu số Tây Nguyên, cho nền văn minh nương rẫy.
Văn hóa truyền thống Tây Nguyên có một vai trò tác động, chi phối quan trọng đối với
kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng tại Tây Nguyên. Tạo nên đặc trưng văn hóa Việt Nam
“thống nhất trong đa dạng”. Hiện nay, văn hóa Tây Nguyên đang bị biến đổi không ngừng và
đứng trước nguy cơ thách thức. Nhận diện thực trạng văn hóa Tây Nguyên sẽ góp phần bổ
sung, lý giải những quan điểm bảo tồn, phát huy văn hóa Tây nguyên không chỉ có ý nghĩa
về mặt lý thuyết mà còn có giá trị về thực tiễn.
Trước hết, chúng ta phải nhận diện yếu tố tạo nên không gian văn hóa Tây Nguyên.
Yếu tố thứ nhất là văn hóa Tây Nguyên được cấu thành với không gian văn hóa làng trong đó
có con người, nhà ở, nhà cộng đồng, vật dụng sinh hoạt, văn hoá vật thể và văn hóa phi vật
thể. Yếu tố thứ hai là đất sản xuất (đất rừng canh tác) và đất phi nông nghiệp (khu săn bắn,
đánh bắt thủy sản, bãi chăn thả gia sức…). Yếu tố thứ ba là khu rừng thiêng (gồm có khu mộ
địa, bến nước, rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ). Yếu tố thứ tư là hệ thống các nguyên tắc
điều hành xã hội, quản trị cộng đồng (luật tục).
Về cấu trúc văn hóa Tây Nguyên: Theo UNESCO, “văn hóa là một phức hệ – tổng hợp
các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm.., khắc họa nên bản sắc của
một cộng đồng. Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống,
những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng”.
Như vậy ta có thể thấy rằng, văn hóa Tây Nguyên là toàn bộ sản phẩm do cộng đồng sáng
tạo, thể hiện dưới dạng những đối tượng vật thể (hữu hình) và phi vật thể (vô hình) mang tính
biểu tượng, được lan tỏa và trao truyền từ đời này sang đời khác.
2. Đa dạng cách tiếp cận
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng có câu: “Dân ta phải biết sử ta - Cho tường gốc tích nước
nhà Việt Nam”. Câu nói ấy được Hồ Chủ tịch viết trong cuốn “Lịch sử nước ta” (năm 1942),
cho thấy tầm quan trọng của văn hóa, lịch sử đối với mỗi người dân.
Nếu như sách sử ghi lại những cội nguồn, những sự kiện quan trọng của dân tộc bằng
ngôn ngữ, thì di sản văn hóa là những minh chứng lịch sử, bảo tồn nét đẹp truyền thống, tinh
hoa mà ông cha đã để lại từ ngàn đời nay. Không chỉ Việt Nam, mỗi quốc gia, dân tộc trên
thế giới đều tự hào về các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và luôn cố gắng lưu truyền cho
thế hệ sau.
Hiện nay, Việt Nam có hàng trăm di sản văn hóa tại 63 tỉnh thành, trong đó có 15 di
sản văn hóa phi vật thể và 5 di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận. Mỗi di sản đều
có nét đẹp độc đáo riêng biệt. Đây là một lợi thế, cho việc đưa di sản văn hóa vào chương
trình giáo dục. Đặc biệt, nhiều học sinh ngày nay còn mơ hồ khi được hỏi về những danh lam,
thắng cảnh, di tích lịch sử, truyền thống tốt đẹp của chính quê hương mình.
Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện và chỉ đạo trong chương trình giáo dục phổ thông
2018, mỗi một tỉnh/ thành phố sẽ có chương trình Giáo dục địa phương được đưa vào giảng
dạy giúp học sinh trang bị những hiểu biết cơ bản về văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội,

132
môi trường, hướng nghiệp, giáo dục quốc phòng - an ninh... Qua đó, học sinh hiểu biết thêm
về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh phù hợp với lứa tuổi, góp phần nâng cao phẩm chất, năng
lực của người học, hiệu quả đổi mới dạy và học.
Ở nhiều tỉnh, thành phố đã tổ chức các chương trình, đề án thiết thực nhằm nâng cao
kiến thức của học sinh về di sản văn hóa, đặc biệt là các di sản ở trong địa phương. Như ở
tỉnh Hội An, sau 7 năm biên soạn và thử nghiệm, đầu niên học 2022, một bộ giáo trình giáo
dục di sản văn hóa địa phương đã được các em học sinh tại phố cổ Hội An học. Được biết, bộ
tài liệu này dày 160 trang, nội dung được thiết kế hai phần chính. Phần 1 tập trung giới thiệu
chung về bộ tài liệu, phần 2 dành cho nội dung chi tiết về 10 chủ đề học tập. Học sinh sẽ được
học hai chủ đề liên quan về di sản văn hóa Hội An như đình, chùa, hội quán, nhà thờ tộc, lăng,
nhà cổ, làng nghề và một số loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian ở phố cổ...
Còn hiện nay, để giúp học sinh có cái nhìn thực tế về di sản văn hóa của địa phương.
Các cơ quan, phòng, ban, trung tâm về du lịch đã phối hợp với ngành giáo dục để tổ chức
giảng dạy, đưa học sinh đi dã ngoại, tham quan các địa điểm văn hóa của địa phương và ở
những tỉnh thành khác. Mới đây nhất, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết
định số 1113/QĐ-BVHTTDL về việc tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên
môn, nâng cao nghiệp vụ về công tác thuyết minh, giới thiệu, diễn giải và xây dựng chương
trình giáo dục di sản văn hóa, truyền thống cho học sinh, sinh viên. Vào năm 2021, Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Công văn số 3089 về đẩy mạnh công tác chuyển đổi số
và xây dựng chương trình phối hợp với ngành giáo dục và đào tạo trong hoạt động bảo tàng.
Riêng ở địa phương huyện Kbang từ khi đi học Đại học về bản thân luôn trăn trở làm
sao để duy trì và bảo tồn văn hóa Tây Nguyên nói chung và văn hóa của đồng bào Bahnar nói
riêng có sự kế thừa, phát huy và duy trì trong cuộc sống của cộng đồng, để làm được việc đó
A Ngưi đã cố gắng tập hợp, huy động nghệ nhân cùng tham gia xây dựng với mình, rồi từ đó
hình thành các đội nhóm; vấn đề khó khăn hơn là làm sao giữ lửa cho bà con để duy trì. Chính
từ sự trăn trở đó bản thân đã cố gắng xây dựng homestay mục đích là hướng tới bảo tồn văn
hóa của chính mình, ở đó tạo nên một không gian sống để có thể giới thiệu cho du khách thập
phương về tham quan, học tập, trải nghiệm. Ngoài làm các gói dịch vụ phục vụ tour cho
khách, bản thân còn xây dựng riêng chương trình để phục vụ cho các trường trên địa bàn
huyện và các huyện lân cận về học tập, trải nghiệm; phục vụ cho các em từ mầm non đến các
bạn học sinh, sinh viên Đại học.
Sau những lần các bạn về trải nghiệm các hoạt động văn hóa tại Homestay như: Đan
lát, tạc tượng, dệt vải, học đánh chiêng, múa xoang, nghe kể sử thi, học nấu ăn các món ăn
truyền thống của đồng bào Bahnar, nhận thấy các em rất thích thú, hào hứng và tiếp cận hăng
say nên năm 2018-2019 Homestay đã chủ động liên hệ với Trường THPT Nội Trú Đông Gia
Lai để tổ chức chương trình đưa hoạt động cồng chiêng vào nhà trường; Từ năm 2020 đến
nay hoạt động đó đã đi vào hoạt động, nhà trường sắp xếp nguồn kinh phí mua sắm bộ cồng
chiêng, nhạc cụ dân tộc, lên lịch cho các em sinh hoạt 3 buổi trong tuần, bên Homestay chịu
trách nhiệm cho nghệ nhân về chỉ dạy cho các em học đánh chiêng, chơi đàn tơ rưng, krông
put, múa xoang. Ngoài học đánh chiêng, múa xoang bên Homestay còn thiết kế cho các em
trải nghiệm các hoạt động khác, như học dệt vải, tách bông, kéo sợi, học chỉnh chiêng và thiết

133
kế cho các em có những buổi giã ngoại thiết thực và hiệu quả. Sau bao nhiêu năm xây dựng
và đồng hành cùng các trường và địa phương đến nay A Ngưi Homestay không chỉ là một
điểm đến du lịch mà còn là nơi tái hiện lại những trải nghiệm văn hóa độc đáo của Tây
Nguyên, khiến bất kỳ ai ghé thăm cũng phải trầm trồ và nhớ mãi. Một trong những hoạt động
đặc sắc không thể bỏ qua khi đến với A Ngưi Homestay chính là việc tái hiện lại những buổi
biểu diễn cồng chiêng truyền thống - bản sắc văn hóa đặc trưng của người dân Tây Nguyên.
Những tiết mục cồng chiêng không chỉ là màn trình diễn nghệ thuật mà còn là cách để truyền
đạt câu chuyện và tâm hồn của dân tộc thông qua từng nhịp đập, giai điệu.Không dừng lại ở
đó, du khách còn có cơ hội được lắng nghe các nghệ nhân và già làng lâu năm kể chuyện sử
thi, những câu chuyện được lưu truyền hàng thế hệ qua miệng lưỡi của người dân bản địa.
Những buổi kể chuyện diễn ra trong không gian ấm cúng của homestay, giúp du khách không
chỉ hiểu thêm về lịch sử, văn hóa mà còn cảm nhận được sự kính trọng và giữ gìn truyền thống
của cộng đồng nơi đây..Qua những hoạt động mà bản thân đã làm thì bản thân tôi nhận thấy
hầu hết ở các địa phương còn rất nhiều hạn chế, lúng túng và chưa quan tâm đúng mức. Chúng
ta cần Truyền “lửa” đam mê cho học sinh.
Hiện nay, việc giáo dục di sản văn hóa tại các trường học vẫn còn nhiều hạn chế. Như
trong một bài báo khoa học mang tên “Di sản và vấn đề giáo dục di sản cho học sinh Trung
học phổ thông” đăng trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ vào năm 2019, cho số
liệu, 50% các trường vẫn dạy học về di sản văn hóa ở trên lớp, vì vậy các bài giảng vẫn chưa
thật sự hấp dẫn. Còn các hình thức như trò chơi học tập, dạy học ngoài trời,... có khả năng
phát huy tính độc lập, sáng tạo của học sinh thì ít được sử dụng. Bên cạnh, các phương tiện
dạy học được sử dụng nhiều nhất là phim ảnh (50%); sách giáo khoa và số liệu thống kê
(20%).
Trong bài báo khoa học cũng chỉ ra, có không ít trường học đã thực hiện những mô
hình và phương pháp tiếp cận di sản văn hóa mang lại hiệu quả giáo dục cao đối với học sinh.
Học sinh rất phấn khởi và nhiệt tình tham gia vào các hoạt động trên lớp và trải nghiệm ngoài
lớp học. Ở một số tỉnh miền núi, nhiều học sinh người dân tộc thiểu số, từ chỗ rất rụt rè, ít nói
đã trở nên tự tin trong giao tiếp, trao đổi và trình bày ý kiến với bạn học, thầy cô giáo. Kết
quả mà các trường thu được, chính là học sinh không chỉ có thêm vốn kiến thức về văn hóa,
lịch sử, mà còn phát triển kỹ năng mềm, tăng cường khả năng sáng tạo.
Lấy ví dụ, ở tỉnh Điện Biên, sau 10 năm thực hiện Đề án dạy tiếng dân tộc Thái,
H’Mông cho học sinh tiểu học và THCS, toàn tỉnh có hàng chục nghìn học sinh bậc tiểu học,
THCS được đọc thông viết thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Như Trường tiểu học
và THCS Sam Mứn (xã Sam Mứn, huyện Ðiện Biên) đã tổ chức cho 753 học sinh ở 40 lớp
học tiếng dân tộc Thái. Qua việc học tiếng dân tộc Thái, H’Mông trong trường học giúp các
em hiểu thêm về xã hội, tự nhiên, con người và phong tục tập quán dân tộc Thái, H’Mông
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam… Hằng năm, tỷ lệ học sinh tiểu học ở tỉnh Điện Biên
hoàn thành chương trình môn học tiếng Thái đạt từ 98,6% đến 99,3%, tiếng H’Mông đạt từ
97,8% đến 99,2%; học sinh THCS hoàn thành chương trình môn học tiếng Thái đạt từ 98,8%
trở lên, và tiếng H’Mông lên tới 99,3%.

134
Việc đưa di sản văn hóa vào chương trình giáo dục, mục đích cuối cùng để thế hệ trẻ
không lãng quên những nét đẹp văn hóa của dân tộc. Mỗi học sinh là nguồn lực để phát triển
đất nước trong tương lai, vì vậy, các em phải vận dụng, sáng tạo và kết hợp các yếu tố truyền
thống, hiện đại để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam đa dạng, phù hợp với sự phát triển của
thời đại.
3. Giải pháp phát triển bền vững văn hóa Tây Nguyên
Là địa bàn chiến lược đặc biệt trọng yếu về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng và
môi trường sinh thái của đất nước, sự ổn định và phát triển bền vững của Tây Nguyên do đó
việc đưa Giáo dục văn hóa – nghệ thuật dân tộc vào trường học đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển, phát huy và bảo tồn chung. Bởi vậy, để phát triển bền vững cần tập trung thực
hiện một số giải pháp sau:
Một là, Nhà nước cần phải có chính sách về việc nhanh chóng phục hồi rừng; xử lý
nghiêm các hành vi phá hoại rừng. Đây là cơ sở quan trọng cho việc ứng phó với biến đổi khí
hậu cũng như góp phần ổn định xã hội, gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của đất và người
Tây Nguyên.
Hai là, cần có chính sách đặc thù để gắn giáo dục với văn hóa Tây Nguyên, nâng cao
ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ Tây Nguyên - những
chủ nhân tương lai của vùng đất đỏ bazan. Đưa vào chương trình giáo dục phổ thông các vấn
đề về văn hóa dân tộc; giải pháp về giáo dục được coi là tiên phong và là yếu tố then chốt,
quyết định đến sự phát triển bền vững của Tây Nguyên.
Ba là, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa sự phát triển của tôn giáo và việc bảo tồn, phát
huy các giá trị văn hóa của các tộc người ở Tây Nguyên vì tôn giáo và tâm linh là một nét đặc
trưng, ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Tây Nguyên. Hiện nay, sự phát triển ồ ạt của tôn giáo,
tín ngưỡng như là một tín hiệu phức hợp. Chúng ta cần phải xem xét có chiều sâu tình hình
xã hội, không thể thờ ơ hay quy kết giản đơn. Mặt khác cũng cần nhìn nhận, khuyến khích
mặt tích cực của một số tôn giáo ở Tây Nguyên, hướng tới mục tiêu chung trong phát triển
kinh tế - xã hội.
Bốn là, có những cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển du lịch văn hóa bản làng, du
lịch sinh thái, đưa việc giữ gìn và phát triển bền vững văn hóa Tây Nguyên, nhất là văn hóa
cồng chiêng vào trong cuộc sống, để các giá trị văn hóa đặc sắc, đa dạng được phát huy và
vững bền.

