224
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
KHUNG NĂNG LỰC SỐ DÀNH CHO CÁC NHÀ GIÁO DỤC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN TẠI VIỆT NAM
Trần Thị Kim Anh(1), Vũ Lâm Bình(2), Đoàn Thị Thu Thảo(3)
TÓM TẮT:
Bi vit ny nghiên cứu mt s công trình khoa học liên quan đn khi niệm nng lực s, vai
trò của nng lực s v quy trình xây dựng khung nng lực s trên th gii v ở Việt Nam. Đồng thời,
bi vit phân tích mt s khung nng lực s dnh cho cc nh gio dục trên th gii nh: (1) Khung
nng lực s dnh cho nh gio dục của UNESCO; (2) Khung nng lực s dnh cho nh gio dục
của Uỷ ban châu Âu. Đây l những khung nng lực s dnh cho đi tng nh gio dục của cc tổ
chức uy tín trên th gii đ đc nhiều lần sửa chữa, bổ sung v đc kim nghiệm bằng thực tiễn.
Dựa trên kt quả nghiên cứu, bi vit đa ra những đề xuất đ xây dựng mt khung nng lực s
dnh riêng cho giảng viên s phạm tại Việt Nam về cc lĩnh vực nh: (1) Hoạt đng gio dục nghề
nghiệp, (2) Pht trin chơng trình, (3) Hoạt đng dạy học, (4) Nghiên cứu khoa học, (5) Sử dụng
v pht trin ti nguyên s, v (6) Trao quyền cho ngời học. Những đề xuất trên hy vọng góp phần
xây dựng mt khung nng lực s khoa học v phù hp dnh cho giảng viên s phạm tại Việt Nam.
Từ đó bi vit mong mun góp phần đẩy mạnh chất lng giảng viên s phạm trong thời đại công
nghệ s hiện nay.
Từ khoá: Nng lực s, giảng viên s phạm, nh gio dục, khung nng lực s.
ABSTRACT:
This paper examines scholarly works related to the concept of digital competence, the role of
digital competence, and the process of developing digital competence frameworks globally and
in Vietnam. Furthermore, the study analyzes several digital competence frameworks designed for
educators worldwide, including (1) the UNESCO Digital Competence Framework for Teachers
and (2) the European Commission's Digital Competence Framework for Educators. These
frameworks, intended for educators from reputable international organizations, have undergone
multiple revisions, additions, and practical validation. Based on the research findings, the paper
proposes recommendations for developing a specific digital competence framework for pedagogical
1. Trường Đại học Đà Lạt. Email: anhttk@dlu.edu.vn
2. Trường Cao đẳng Đà Lạt. Email: vulambinh@cddl.edu.vn
3. Sở Nội vụ tỉnh Lâm Đồng. Email: thaodtt.ldg@gmail.com
225
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
lecturers in Vietnam, covering areas such as (1) professional educational activities, (2) curriculum
development, (3) teaching activities, (4) scientific research, (5) use and development of digital
resources, and (6) empowering learners. These proposals are expected to contribute to building
a scientific and appropriate digital competence framework for pedagogical lecturers in Vietnam,
thereby aiming to enhance the quality of pedagogical lecturers in the current digital age.
Keywords: Digital competency framework, pedagogical instructors, educators, digital
competencies, digital transformation.
1. Đặt vấn đề
Quyết định số 131/QĐ-TTg, ngày 25/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ xác định mục tiêu
tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai
đoạn 2022 - 2025 tận dụng tiến bộ công nghệ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong dạy học,
nâng cao chất lượng và cơ hội tiếp cận giáo dục, hiệu quả quản lý giáo dục; xây dựng nền giáo dục
mở thích ứng trên nền tảng số, góp phần phát triển Chính phủ số, kinh tế số hội số (Prime
Minister's Office, 2022). Quyết định trên đòi hỏi tất cả mọi nhân tố giáo dục phải sự thay đổi
và điều chỉnh phù hợp với giai đoạn cách mang số hiện nay. Trong đó, ngành đào tạo giáo viên nói
chung và giảng viên sư phạm không nằm ngoài xu hướng trên.
Với tư cách là công dân, các giảng viên sư phạm cần được trang bị những năng lực số để tham
gia vào xã hội, cả về mặt cá nhân và nghề nghiệp. Trên thực tế, nhiều nước và nhiều tổ chức đã xây
dựng những năng lực số dành cho nhà giáo dục phù hợp với sự thay đổi của hội hoặc đặc thù
riêng của nền giáo dục sở tại. Tuy nhiên, trong lĩnh vực giáo dục, nước ta chỉ mới có khung lực số
dành cho sinh viên do Trường Đại học Xã hội Nhân văn phối hợp Tập đoàn Meta xây dựng vào năm
2022. Giáo viên nói chung và đối tượng giảng viên sư phạm nói riêng - một đối tượng đóng vai trò
quan trọng trong quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một khung năng lực số
dành riêng cho mình.
Từ những vấn đề trên, bài báo nghiên cứu về bản chất của năng lực số, vai trò quan trọng của
nó đối với các nhà giáo dục, phân tích một số khung năng lực số cho các nhà giáo dục và từ đó phát
triển khung năng lực số dành cho giảng viên sư phạm.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Khi niệm nng lực s
Khái niệm năng lực số đã hình thành trong khoảng hơn 20 năm và thường được sử dụng cùng
lúc với các khái niệm như kỹ năng số, năng lực thông tin, năng lực truyền thông hay năng lực học
thuật. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về năng lực số, điểm chung của các định nghĩa nhấn mạnh
việc khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng về công nghệ sử dụng công nghệ trong thực hành nghề
nghiệp của mình. Năng lực số khả năng sử dụng tự tin, nghiêm túc trách nhiệm khi đưa công
nghệ số để học tập, làm việc và tham gia xã hội; năng lực số bao gồm các năng lực vượt ra khỏi các
năng lực công nghệ thông tin - truyền thông (CNTT - TT). Bao gồm: kiến thức kết quả của sự hấp
thụ thông tin lý thuyết hoặc thực tế bằng cách học, kiến thức là tập hợp các sự kiện, nguyên tắc, lý
226
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
thuyết và thực hành có liên quan đến lĩnh vực công việc, nghiên cứu; Kỹ năng là khả năng áp dụng
kiến thức và sử dụng hiểu biết để hoàn thành các nhiệm vụ giải quyết vấn đề, thể là kỹ năng
nhận thức, kỹ năng thực hành; Thái độ động thúc đẩy sự thực thi, gồm các giá trị, cảm hứng
và ưu tiên (Bianchi, 2022).
UNESCO định nghĩa năng lực số khả năng truy cập, quản lý, hiểu, kết hợp, giao tiếp, đánh
giá và sáng tạo thông tin một cách an toàn và phù hợp thông qua công nghệ số để phục vụ cho các
công việc từ đơn giản đến phức tạp cũng như khởi nghiệp. Năng lực số là tổng hợp của năng lực sử
dụng máy tính, năng lực CNTT, năng lực thông tin năng lực truyền thông. Đây cũng định nghĩa
chính được sử dụng làm nền tảng định hướng cho phát triển khung năng lực số (UNESCO, 2018).
Theo Prensky (2001), người ta thường chia năng lực số thành ba nhóm chính:
Năng lực công cụ: Là khả năng sử dụng thành thạo các công cụ công nghệ như máy tính, phần
mềm, ứng dụng.
Năng lực thông tin: khả năng tìm kiếm, đánh giá, sử dụng tạo ra thông tin một cách hiệu quả.
Năng lực giao tiếp: Là khả năng sử dụng công nghệ để giao tiếp và hợp tác với người khác.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khác có thể đưa ra những phân loại khác nhau, nhưng đều nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp cả kiến thức, kỹ năng và thái độ trong việc định nghĩa năng
lực số.
2.1.2. Vai trò của nng lực s vi giảng viên s phạm
Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyen cộng sự (2023) cho thấy năng lực số tác động sâu rộng
mọi mặt của đời sống, trong đó không thể thiếu yếu tố giáo dục. Trong thời đại công nghệ số, năng
lực số đóng vai trò quan trọng đối với giảng viên phạm. Giáo viên nói chung giảng viên
phạm nói riêng cần có năng lực số để:
- Thiết kế thực hiện các hoạt động giảng dạy hiệu quả: Giảng viên có thể sử dụng CNTT -
TT để tạo bài giảng sinh động bằng các phương tiện dạy học ảo, thu hút học sinh (Makiyah, 2020).
- Nghiên cứu và cập nhật kiến thức: Giảng viên có thể sử dụng CNTT để truy cập các nguồn tài
liệu nghiên cứu mới nhất, tham gia các khoá học trực tuyến và cập nhật kiến thức chuyên môn của
mình (UNICEF, 2022).
- Giao tiếp cộng tác với đồng nghiệp, phụ huynh học sinh: Giảng viên thể sử dụng
CNTT để giao tiếp với đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh một cách hiệu quả, chia sẻ thông tin và
xây dựng cộng đồng học tập (UNESCO, 2018).
2.1.3. Quy trình xây dựng khung nng lực s
Theo Uỷ ban châu Âu Anusca Ferrari (2013), để xây dựng khung năng lực số cần bảy bước sau:
1. Lập bản đồ khái niệm về năng lực số, trong đó các khái niệm chính được thảo luận tinh
chỉnh (Ala-Mutka, 2010);
2. Thu thập các nghiên cứu điển hình, trong khuôn khổ và sáng kiến năng lực số hiện tại được
thu thập và phân tích (Ferrari, 2012);
227
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
3. Tham vấn trực tuyến với các bên liên quan, trong đó ý kiến của các chuyên gia về các thành
phần cơ bản của năng lực số được thu thập và cấu trúc (Janssen & Stoyanov, 2012);
4. Hội thảo chuyên gia để tinh chỉnh đầu vào đầu tiên của tham vấn trực tuyến xác nhận
phương pháp tiếp cận sơ bộ;
5. Dự thảo đề xuất cho khuôn khổ khái niệm, trong đó ba điểm trước đó được hợp nhất xây dựng;
6. Tham vấn nhiều bên liên quan, trong đó đạt được sự đồng thuận và các tả được tinh chỉnh
(bao gồm phỏng vấn, phổ biến và hội thảo);
7. Đề xuất cuối cùng tiếp theo, tính đến phản hồi nhận được từ các bên liên quan (báo cáo
hiện tại).
Như vậy, để xây dựng quy trình khung năng lực số, chúng ta có thể thấy cần có khung lý thuyết
làm sở, kết hợp với các nghiên cứu thực tiễn như nghiên cứu điển hình, lấy ý kiến chuyên gia
nhiều lần. Từ cơ sở quy trình trên, đối chiếu với thực tế Việt Nam, chúng ta thể thấy rằng bên cạnh
những bước trên, khi xây dựng khung năng lực số ở Việt Nam cần căn cứ vào hành lang pháp lý
các văn bản liên quan đến quy định năng lực nghề nghiệp của giảng viên Việt Nam.
2.2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu các công trình khoa học liên quan đến năng lực số, vai trò của
năng lực số, và phân tích những khung năng lực số dành cho các nhà giáo dục trên thế giới từ đó đề
xuất xây dựng khung năng lực số cho giảng viên sư phạm.
Phơng php nghiên cứu: Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu luận để phân
tích, so sánh những sở luận liên quan đến năng lực số từ đó xây dựng cơ sở luận cho bài viết.
Đồng thời bài viết nghiên cứu, phân tích những khung năng lực số liên quan đến các nhà giáo dục
trên thế giới để đề xuất xây dựng khung năng lực số cho giảng viên sư phạm Việt Nam.
3. Kết quả và đánh giá
3.1. Khung năng lực số dành cho giáo viên trên thế giới
Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng khung năng lực số dành cho sinh viên - Năng lực số - Khung
năng lực số dành cho sinh viên của Trường Đại học hội Nhân văn; nhưng chúng ta chưa
một khung năng lực số dành cho nhà giáo dục nói chung và giảng viên sư phạm nói riêng. Trên thế
giới có nhiều khung năng lực số được đưa ra cho các nhà giáo dục như Khung năng lực CNTT dành
cho giáo viên của UNESCO; DigComp 2.2, DigCompEdu Selfie for Teachers của Liên minh châu
Âu, của Chương trình nghị sự 2030 về Phát triển bền vững đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc;
Khung năng lực giáo dục toàn cầu trong kỷ nguyên số của Profuturo; Khung năng lực số chung cho
giáo viên của Tây Ban Nha, Khung phát triển chuyên môn của Nam Phi; Khung năng lực số chuyên
nghiệp dành cho giáo viên của Na Uy,… Dưới đây, bài viết sẽ phân tích khung năng lực số của
UNESCO và Uỷ ban châu Âu. Đây là hai khung năng lực đều hướng tới đối tượng là nhà giáo dục.
Trong khi Khung năng lực của UNESCO mang tính toàn cầu, và được xây dựng mới mục đích cung
cấp và hỗ trợ các quốc gia thành viên UNESCO trong xây dựng các tiêu chuẩn năng lực số cho giáo
viên; thì khung năng lực số của châu Âu là khung năng lực khoa học, được xây dựng từ rất sớm nên
độ tin cậy cao và được áp dụng trên phạm vi liên minh châu Âu.
228
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
a. Khung nng lực s dnh cho nh gio dục của UNESCO
Khung năng lực số dành cho nhà giáo dục (DigCompEdu) của UNESCO phiên bản thứ ba
khung năng lực khoa học liên kết hợp lý giữa năng lực nghề nghiệp và năng lực số, bao trọn những
năng lực số cần thiết cho giáo viên. Khung năng lực này có những điểm phù hợp và chưa phù hợp
với đối tượng là giảng viên sư phạm ở Việt Nam.
UNESCO đưa ra ba phiên bản khung năng lực vào năm 2008, 2011, 2018 dành cho nhà giáo dục
trên phạm vi toàn thế giới. Khung năng lực số phiên bản 2018 gồm sáu lĩnh vực bao gồm (1) Hiểu
biết về CNTT trong chính sách giáo dục, (2) Phát triển và đánh giá chương trình, (3) Phương pháp
dạy học, (4) Ứng dụng kỹ năng số, (5) Tổ chức và quản lý, (6) Nâng cao chuyên môn nghề giáo và
18 năng lực (UNESCO, 2018).
Đầu tiên, khung năng lực UNESCO là khung năng lực khoa học. Điều này thể hiện ở sự phân
tầng mức độ năng lực sáu lĩnh vực. Các mức độ của năng lực lần lượt là (1) thu nhận kiến thức,
(2) vận dụng kiến thức và (3) sáng tạo kiến thức. Mức độ thu nhận kiến thức đòi hỏi nhà giáo dục
khả năng: (1) xác định rõ cách thức các thực tiễn giảng dạy của mình phù hợp và hỗ trợ chính sách
của trường/quốc gia, (2) phân tích các tiêu chuẩn chương trình đào tạo xác định cách sử dụng
CNTT để hỗ trợ đạt được các tiêu chuẩn đó một cách phạm, (3) lựa chọn CNTT phù hợp để hỗ
trợ các phương pháp dạy học cụ thể, (4) xác định chức năng của các thành phần phần cứng
các ứng dụng phần mềm văn phòng thông dụng, đồng thời có khả năng sử dụng chúng, (5) tổ chức
môi trường vật chất để đảm bảo công nghệ hỗ trợ các phương pháp học tập khác nhau một cách bao
quát (6) sử dụng CNTT để hỗ trợ phát triển chuyên môn của bản thân. Mức độ vận dụng kiến
thức yêu cầu các nhà giáo dục (1) thiết kế, điều chỉnh và thực hiện các phương pháp giảng dạy hỗ
trợ các chính sách của trường/quốc gia, các cam kết quốc tế (ví dụ: Công ước của Liên Hợp Quốc)
các ưu tiên hội; (2) tích hợp CNTT vào nội dung môn học, quá trình dạy học và đánh giá, đồng
thời tạo ra một môi trường học tập tăng cường bằng CNTT thuận lợi, nơi học sinh được hỗ trợ bởi
CNTT thể hiện thành thạo các tiêu chuẩn chương trình học; (3) thiết kế các hoạt động học tập dự án
được hỗ trợ bởi CNTT và sử dụng CNTT để hỗ trợ học sinh tạo ra, thực hiện và theo dõi kế hoạch
dự án cũng như giải quyết các vấn đề phức tạp; (4) kết hợp các công cụ và tài nguyên kỹ thuật số đa
dạng để tạo ra một môi trường học tập số tích hợp nhằm hỗ trợ tư duy cấp cao và kỹ năng giải quyết
vấn đề của học sinh; (5) sử dụng linh hoạt các công cụ kỹ thuật số để tạo điều kiện cho học tập hợp
tác, quản lý học sinh và các đối tác học tập khác, cũng như quản lý quá trình học tập; và (6) sử dụng
công nghệ để tương tác với mạng lưới chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ phát triển chuyên môn của bản
thân. Mức độ sáng tạo kiến thức gồm những năng lực sau: (1) phê bình các chính sách giáo dục của
trường quốc gia, đề xuất sửa đổi, thiết kế cải tiến dự đoán tác động của những thay đổi này;
(2) xác định cách tốt nhất để kết hợp học tập lấy học sinh làm trung tâm và học tập hợp tác để đảm
bảo thành thạo các tiêu chuẩn chương trình học đa ngành; (3) khuyến khích sự tự quản của học sinh
trong học tập lấy học sinh làm trung tâm học tập hợp tác; (4) xây dựng các nhóm học tập sử
dụng các công cụ kỹ thuật số để hỗ trợ học tập thường xuyên; (5) đảm nhận vai trò lãnh đạo trong
việc xây dựng chiến lược công nghệ cho trường học để biến thành một tổ chức học tập; (6)
liên tục phát triển, thử nghiệm, đào tạo, đổi mới và chia sẻ những thực tiễn tốt nhất để xác định cách
trường học có thể được phục vụ tốt nhất bởi công nghệ.