intTypePromotion=3

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, KỸ NĂNG SỬ DỤNG ORESOL

Chia sẻ: Nguyễn Thắng | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:22

0
160
lượt xem
23
download

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, KỸ NĂNG SỬ DỤNG ORESOL

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khảo sát kiến thức, thái độ, và quan sát kỹ năng sử dụng ORS ở 85 bà mẹ có con bị bệnh TCC. Phương pháp. Nghiên cứu tiến cứu cắt ngang từ 85 bà mẹ có con bị bệnh TCC tại Khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2007 bằng bộ câu hỏi điều tra và quan sát theo bảng kiểm.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, KỸ NĂNG SỬ DỤNG ORESOL

  1. KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, KỸ NĂNG SỬ DỤNG ORESOL TÓM TẮT Mục tiêu. Khảo sát kiến thức, thái độ, và quan sát kỹ năng sử dụng ORS ở 85 bà mẹ có con bị bệnh TCC. Phương pháp. Nghiên cứu tiến cứu cắt ngang từ 85 bà mẹ có con bị bệnh TCC tại Khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2007 bằng bộ câu hỏi điều tra và quan sát theo bảng kiểm. Kết quả. Nghiên cứu cho thấy: (1) 58,8% các bà mẹ biết một phần tác dụng của ORS, 41,2% biết được 2 loại gói ORS có bán ở các hiệu thuốc, 72,9% không biết thành phần gói ORS và 21,2% biết sai lượng dịch ORS cho trẻ uống khi đang TCC; (2) 57,6% các bà mẹ biết đúng loại dịch thay thế ORS, nhưng có tới 65,9% không biết cách cho trẻ ăn thêm khi trẻ đang bị TCC; (3) 69,4% các bà mẹ dự trữ sẵn ORS ở nhà, 88,2% cho rằng ORS tốt cho con của họ và
  2. 94,1% chấp nhận sử dụng ORS nếu con của họ bị TCC lần sau; (4) 92,9% có kiểm tra ORS trước khi pha, là 58,6% pha ORS đúng quy trình, có 89,4% các bà mẹ cho uống ORS đúng; (5) Trong số các bà mẹ pha ORS sai có 100% các bà mẹ chia nhỏ gói ORS ra để pha nhiều lần Kết luận. Kết quả nghiên cứu này cho thấy: cần tiếp tục chương trình CDD, tập trung vào thông tin về tác dụng ORS và cách nuôi dưỡng trẻ khi tiêu chảy và cách pha ORS đúng quy cách để tránh những tai biến điều trị đáng tiếc. Từ chủ: Bà mẹ, kiến thức, kỹ năng, thái độ, tiêu chảy cấp, oresol. ABSTRACT KNOWLEDGE, ATTITUDE AND SKILL OF UTILIZATION OF ORS IN MOTHERS OF CHILDREN WITH ACUTE DIARRHEA ADMITTED IN BACH MAI HOSPITAL Phan Thi Cam Hang, Nguyen Van Bang * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 11 – Supplement of No 4 - 2007: 88 – 93 Objective. To assess knowledge, attitude and skill of mothers taking care their children suffering from acute diarrhea by managing ORS.
  3. Population and methods. This cross-sectional study was carried out on a population of 85 young mothers. * Bộ môn Nhi, ĐHYHN Results. The study showed that: (1) 58.8% of mothers were aware of usefulness of ORS, 41.2% were aware of at least 2 kinds of ORS packet existing in the pharmacy, 72.9% ignored the composition of ORS packet and 21.2% ignored correct amount of ORS necessary to rehydrate a child with acute diarrhea. (2) 57.6% of mothers had appropriate knowledge on other solutions possible to use in case of shortage or lack of ORS; however, up to 65.9% lacked knowledge on adequate feeding a child with acute diarrhea. (3) 69.4% of mothers got ORS packets at home, 88,2% considered that ORS was helpful in diarreal children and 94.1% thinked of using ORS again if their child suffered from diarrhea. (4) 92.9% of mothers checked the quality of ORS packet before using, 58.6% knew how to prepare correctly solution from the ORS packet, 89.4% of mothers knew how to rehydrate correctly their child by ORS. (5) 100% of 29 mothers, who did not know to prepare correctly the solution, devided the content of ORS packet into several preparations.
  4. Conclusion. Results from the study suggest that it’s primary and crutial to maintain the program of Control of Diarrheal Disease focussing on improvement of knowledge and skills of mothers in ORS usage during taking care of their children with acute diarrhea. Key-words: Acute diarrhea, attitude, knowledge, skill, oresol, mothers. ĐẶT VẤN ĐỀ Tiêu chảy cấp (TCC) vẫn là một trong những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất, là gánh nặng kinh tế xã hội đối với nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng gần 1 tỷ trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu chảy cấp. Trung bình mỗi trẻ mắc 1,3 lượt/năm, trong đó có hơn 3 triệu trẻ tử vong(Error! Reference source not found.). Liệu pháp điều trị phục hồi dịch và điện giải để điều trị và dự phòng mất nước do tiêu chảy đã được hướng dẫn và tuyên truyền rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam(Error! Reference source not found.-9). Ở nước ta hiện nay, 90% trẻ em dưới 5 tuổi được bảo vệ bởi chương trình này(6,7,10). Hiệu quả của liệu pháp này phụ thuộc vào sự hiểu biết và nhất là sự chấp nhận và kỹ năng sử dụng dung dịch oresol (ORS) của người mẹ hoặc của người chăm sóc trẻ. Vì vậy, việc nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành của bà mẹ trong việc sử dụng ORS đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc điều trị tiêu chảy ở trẻ. Đã có
  5. khá nhiều nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ trong dự phòng và điều trị trẻ tiêu chảy ở Việt Nam(1-7), nhưng chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu đánh giá riêng về kiến thức, thái độ và kỹ năng của các bà mẹ trong việc sử dụng ORS để bù dịch và điện giải cho trẻ TCC. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm (1) khảo sát kiến thức và thái độ của các bà mẹ có con bị tiêu chảy cấp đối với việc sử dụng ORS, (2) đánh giá kỹ năng sử dụng ORS của các bà mẹ khi trẻ đang bị tiêu chảy cấp được điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP Đối tượng nghiên cứu Là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị TCC vào điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1 đến tháng 5-2007. Khảo sát kiến thức và thái độ trong việc sử dụng ORS của bà mẹ bằng nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang, dựa vào bộ câu hỏi được xây dựng theo mục tiêu nghiên cứu(1,Error! Reference source not found.,6) . Đánh giá kỹ năng sử dụng ORS của các bà mẹ được dựa vào các bảng kiểm đã được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam và trên thế giới(1,7,8-10). Xử lí số liệu theo phần mềm Epi Info 6.0 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
  6. Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 1 đến tháng 5-2007 có 85 trẻ dưới 5 tuổi bị TCC vào điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai trong đó 56 trẻ trai (66%), 43 trẻ (50,6%) dưới 12 tháng, 30 (35,3%) từ 12 -24 tháng, 39 trẻ mất nước độ A (46%), 45 trẻ độ B (53% và 1 trẻ mất nước độ C. Đặc điểm của các đối tượng nghiên cứu được trình bày trong bảng 1. Bảng 1 Đặc điểm cơ bản của 85 bà mẹ có con TCC trong nhóm nghiên cứu Phân Tỷ Đặc n loại lệ % điểm 30 58 68,2 Tuổi tuổi mẹ >30 27 31,8 tuổi Phổ Trình 25 29,4 độ văn hóa thông
  7. mẹ Trung học, cao 24 28,2 đẳng Đại 36 42,2 học, trên đại học Lao động gián tiếp (trí 56 65,9 Nghề thức, văn nghiệp mẹ phòng) Nghề 29 34,1 khác Kết quả khảo sát về kiến thức, thái độ và kỹ năng sử dụng ORS của các bà mẹ được trình bày trong các bảng 2,3,4. Những sai sót chủ yếu trong việc sử dụng ORS của các bà mẹ trình bày trong bảng 5. Bảng 6 trình bày kết quả đánh giá một số yếu tố liên quan đến kỹ năng sử dụng ORS của các bà mẹ.
  8. Bảng 2. Kiến thức sử dụng ORS của 85 bà mẹ trong nhóm nghiên cứu Kiến Phân Tỷ n thức loại lệ % Biết 1 12 14,1 loại Biết 2 35 41,2 Biết loại loại ORS Biết 3 6 7,1 loại Không 32 37,6 biết Biết Đúng 0 0 thành phần hoàn toàn gói ORS Đúng 22 25,9 một phần Sai 1 1,2
  9. Kiến Phân Tỷ n thức loại lệ % Không 62 72,9 biết Đúng 12 14,1 hoàn toàn Biết Đúng 48 56,5 lượng ORS một phần trẻ cho Sai 18 21,2 uống Không 7 8,2 biết Biết Đúng 29 34,1 tiếp tục cho ăn Sai 56 65,9 hoặc bú sữa mẹ
  10. Bảng 3. Thái độ của 85 bà mẹ đối với việc sử dụng ORS khi trẻ bị TCC Thái Phân Tỷ n loại lệ% độ Có Có 59 69,4 sẵn ORS ở Không 26 30,6 nhà Tốt 75 88,2 Chưa Đánh 5 5,9 tác tốt giá dụng điều Không 0 0 trị TCC tốt bằng ORS Không 5 5,9 biết Tiếp Chấp sử tục dùng 80 94,1 nhận dụng ORS ORS
  11. khi trẻ bị Chưa 4 4,7 lần biết TCC sau Không 1* 1,2 dùng nữa Bảng 4. Kỹ năng sử dụng ORS của 70 bà mẹ có con TCC được quan sát Kỹ Phân Tỷ n loại lệ% năng Kiểm Có 65 92,9 tra gói ORS trước khi Không 5 7,1 pha Nhận Biết 23 35,4 biết chất ≥2 biểu hiện lượng gói Biết 1 40 61,5 ORS biểu hiện
  12. Không 2 3,1 biết Đúng Theo 41 58,6 đúng quy trình pha Sai 29 41,4 ORS Đúng 36 42,4 hoàn toàn Cho uống ORS Đúng 41 48,2 đúng cách một phần Sai 8 9,4 Bảng 5. Các sai sót trong cách pha và cho uống ORS của 29 bà mẹ Kỹ Phân Tỷ n năng sai loại lệ % Khi Không 4 13,8 pha ORS rửa tay
  13. Kỹ Phân Tỷ n năng sai loại lệ % Không 1 3,4 dụng tráng cụ Đo lượng nước 7 24,1 không chính xác Không pha cả gói 29 100 ORS trong 1 lần pha Không 6 20,7 đậy nắp bình Dùng 1 3,4 quá 24 giờ
  14. Kỹ Phân Tỷ n năng sai loại lệ % Chọn 13 26,5 dụng cụ sai Xử trí Khi sai khi trẻ trẻ cho 17 34,7 chịu không uống uống ORS Xử trí sai khi trẻ 20 40,8 nôn Bảng 6. Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng sử dụng ORS của các bà mẹ Các yếu tố ảnh Sử dụng ORS đúng hưởng
  15. Cho Kiểm Pha uống tra (n=65) (n=70) (n=85) 30 14/43 27/47 24/58 Tuổi tuổi mẹ >30 9/22 14/23 12/27 tuổi Lao 19/48 33/50* 26/56 động gián Nghề tiếp mẹ Nghề 4/17 8/20 10/29 khác Phổ 1/13* 6/15 11/25 Học thông vấn mẹ CĐ, 22/52 35/55 35/60 ĐH
  16. Lần 21/59 35/63 32/78 đầu Lần điều trị Lần 2/6 6/7 4/7 thứ 2 Lần 11/32 22/41 23/48 Lần đầu TCC Lần 12/33 19/29 13/37 thứ 2 * p
  17. cứu tại Nigeria có 1/3 số người được hỏi có sử dụng ORS và hơn 80% trong số đó biết thành phần gói ORS(8). Đa số các bà mẹ đều không trả lời chính xác lượng ORS cần cho uống là bao nhiêu, các câu trả lời hầu hết là 1,2 gói một ngày, 200-500ml mỗi ngày. Chỉ có 14,1% các bà mẹ biết đúng cần phải cho ntrẻ uống bao nhiều khi vẫn tiêu chảy cấp. Tỷ lệ này là rất thấp, tương đương như trong nghiên cứu ở Zimbabwe và Thái Lan(9). Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 57,6% các bà mẹ biết loại dịch thay thế ORS đúng như nước cháo muối, nước đường muối, nước lọc, nước hoa quả. Có 11,8% các bà mẹ biết sai như nước muối pha loãng, nước đường pha đậm đặc, nước quả hồng xiêm rang hay các loại nước chế biến từ các vị thuốc đông y có tác dụng cầm ỉa và 30,6% các bà mẹ không biết loại dịch thay thế ORS. Lâm Văn Thư (1998) nghiên c ứu tại Lạng Sơn thấy có 18,5% và Lê Nguyễn Ngọc (2000 tại Cao Bằng) thấy 34% biết dùng nước cháo muối tại nhà khi con bị tiêu chảy; Ngô Thị Thanh Hương (2004 tại Đak Lak), thấy 37,72% biết dùng dung dịch thay thế(6). Tuy tỷ lệ các bà mẹ biết dịch thay thế trong nghiên cứu của chung tôi có cao hơn các nghiên cứu tên đây, nhưng vẫn còn 30,6%) các bà mẹ chưa biết dịch thay thế trong nghiên cứu này cho thấy vẫn cần tiếp tục tuyên truyền giáo dục, thậm chí cần hướng dẫn các bà mẹ về các dung dịch thay thế ORS tại nhà cũng như cách pha chế
  18. các loại dịch đó đúng cách để chương trình phòng chống tiêu chảy cấp và điều trị mất nước đạt hiệu quả như mong muốn. Một trong những nguyên tắc quan trọng của điều trị TCC tại nhà đó là cho trẻ ăn nhiều thức ăn giàu dinh dưỡng để đề phòng suy dinh dưỡng. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 34,1% các bà mẹ trả lời đúng c ỏch cho trẻ ăn khi đang bị TCC. Đa số các bà mẹ đều cho con ăn ít hơn bình thường hoặc chỉ cho ăn cháo loãng. Nguyễn Thị Như Mai nghiên cứu năm 2006 tại viện Nhi Trung ương thấy tỉ lệ cho ăn đúng là 71,8%(Error! Reference source not found.) . Qua đó ta thấy việc tuyên truyền giáo dục bà mẹ cho trẻ ăn đúng cách khi bị TCC cần được tăng cường hơn nữa, bởi thói quen không cho trẻ ăn đủ chất khi bị TCC hoặc ăn ít hơn bình thường, thậm chí không cho ăn vì sợ trẻ đi ngoài nhiều hơn, đã làm giảm hiệu quả điều trị TCC Một trong những tiêu chí mà chúng tôi cho là để đánh giá thái độ của bà mẹ đối với việc sử dụng ORS đó là việc các bà mẹ có dự trữ sẵn ORS ở nhà. Kết quả cho thấy có 59 bà mẹ (69,4%) có sẵn ORS ở nhà. Khi được hỏi ORS có tốt cho trẻ khi bị TCC không, có 88,2% các bà mẹ trả lời ORS tốt, 5,9% trả lời ORS chưa tốt lắm và 5,9% trả lời không biết ORS có tốt không. Như vậy, việc nâng cao hiểu biết cho các bà mẹ là cần thiết để họ có kiến thức đầy đủ về ORS hơn, chấp nhận sử dụng thường xuyên hơn. Đa số các bà mẹ (94,1%) trả lời là sẽ tiếp tục dùng với các lí do như họ thấy ORS tốt hay các
  19. bác sĩ khuyên nên dùng. Có 4,7% các bà mẹ không biết sẽ dùng hay không với lí do chờ ý kiến của bác sĩ, hay nếu điều trị lần này khỏi thì lần sau sẽ dùng tiếp, chỉ có 1,2% các bà mẹ trả lời sẽ hỏi ý kiến bác sĩ trước mà không dùng ORS ngay. Qua đó ta thấy rằng việc điều trị tại bệnh viện có sự hướng dẫn của nhân viên y tế đem lại lòng tin cho các bà mẹ nen h? chấp nhận việc sử dụng ORS một cách dễ dàng hơn. Trong số các bà mẹ được phỏng vấn có 82,4% đã từng sử dụng ORS ít nhất là một lần. Kết quả này cao hơn kết quả của Ngô Thị Thanh Hương năm 2004 tại Đak Lak (56,2%) và của Bùi Thị Thúy Ái năm 2000 tại Thanh Xuân, Hà Nội (56,2%)(1,6). Khi quan sát 70 bà mẹ đã từng pha ORS, có 65 bà mẹ chiếm 92,9% có kiểm tra gói ORS trước khi pha, trong số các bà mẹ kiểm tra gói ORS có 35,4% các bà mẹ nhận biết từ 2 biểu hiện trở lên của gói ORS không đảm bảo chất lượng để bỏ gói ORS ấy đi không dùng. Có 61,5% các bà mẹ chỉ nhận biết được một biểu hiện và 3,1% dù có kiểm tra nhưng không nhận biết được. Đa số các bà mẹ đều biết không được dùng khi gói ORS đã quá hạn nhưng lại không biết cách phát hiện gói ORS thủng, rách từ trước, màu chất ORS thay đổi, chất ORS vón cục hay khi pha ra nếm thấy có vị khác lạ. Tỉ lệ các bà mẹ biết kiểm tra gói ORS trước khi pha ORS trong nghiên cứu này là tương đối cao.
  20. Trong số 70 bà mẹ được quan sat khi pha ORS, có 41 bà mẹ (58,6%) pha đúng tất cả các bước rửa tay và tráng dụng cụ pha, dụng cụ chứa, đồ dùng để uống trước khi pha ORS, đo lượng nước chính xác, dùng nước sôi để nguội, pha cả gói ORS trong một lần pha, đậy nắp b ình và dụng cụ chứa, chỉ dùng dung dịch đã pha trong 24 giờ. Tỉ lệ này tương đương với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Mai (2006) có 54,5% pha dung d ịch ORS đúng(7). nhưng cao hơn trong nghiên c ứu của Lưu Thị Minh Châu (2001) có 39% các bà mẹ pha dung dịch ORS đúng(4). Trong số 29 bà mẹ pha dung dịch ORS sai trong nghiên cứu của chúng tôi, có 100% các bà mẹ chia nhỏ gói ORS ra để pha nhiều lần. Mặc dù tỉ lệ này không cao (so với các bà mẹ biết cách pha đúng) nhưng chúng tôi cho rằng cần nâng cao trình độ hiểu biết của các bà mẹ hơn nữa để tránh tình trạng dù bà mẹ có biết dung dịch ORS nhưng lại không biết cách pha đúng liều lượng khiến cho trẻ bị rối loạn nước và điện giải, đặc biệt là ngộ độc muối rất nguy hiểm, khó điều trị do pha ORS quá đặc. Trong nghiên cứu của chúng tôi có trường hợp bệnh nhi Vũ Anh D. 15 tháng tuổi vào viện trong tình trạng mất nước nặng do mẹ cho uống nước quả hồng xiêm rang và nước đường đậm đặc. Kết quả điện giải đồ ngày đầu tiên vào viện của bệnh nhi đó như sau: Na+: 161 mmol/l, K+: 2,5 mmol/l, Cl-: 137mmol/l.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản