intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Kiến thức và thực hành về dinh dưỡng của bệnh nhân bệnh mạn tính không lây tại huyện Bình Chánh - TP.HCM

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
21
lượt xem
3
download

Kiến thức và thực hành về dinh dưỡng của bệnh nhân bệnh mạn tính không lây tại huyện Bình Chánh - TP.HCM

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài này được tiến hành để khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về dinh dưỡng của các bệnh nhân mắc đái tháo đường và tăng huyết áp, 2 bệnh mạn tính không lây phổ biến trong cộng đồng. Nghiên cứu tiến hành 100 đối tượng từ 45 tuổi trở lên được phỏng vấn về kiến thức và chế độ dinh dưỡng, cách chế biến món ăn cũng như diễn biến bệnh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kiến thức và thực hành về dinh dưỡng của bệnh nhân bệnh mạn tính không lây tại huyện Bình Chánh - TP.HCM

Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014<br /> <br />  <br /> <br /> KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ DINH DƯỠNG CỦA BỆNH NHÂN <br /> BỆNH MẠN TÍNH KHÔNG LÂY TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH‐TP. HCM <br /> Lê Thị Hoàng Liễu* <br /> <br /> TÓM TẮT <br /> Dinh dưỡng không chỉ đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa các bệnh mạn tính không lây mà còn hỗ <br /> trợ quá trình điều trị giúp kiểm soát tốt bệnh, đẩy lùi diễn tiến bệnh và các biến chứng.  <br /> Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về dinh dưỡng của các bệnh nhân mắc đái <br /> tháo đường và tăng huyết áp, 2 bệnh mạn tính không lây phổ biến trong cộng đồng.  <br /> Phương pháp: 100 đối tượng từ 45 tuổi trở lên được phỏng vấn về kiến thức và chế độ dinh dưỡng, cách <br /> chế biến món ăn cũng như diễn biến bệnh.  <br /> Kết quả: Kiến thức hiểu biết về dinh dưỡng cho bệnh nhân bệnh tiểu đường và cao huyết áp vẫn còn thấp <br /> trong cộng đồng. Hầu hết bệnh nhân chưa chú trọng chế độ ăn phù hợp bệnh lý, điều này có thể dẫn đến kết quả <br /> điều trị chưa ổn định, tiến triển bệnh nhanh hơn và tăng nguy cơ biến chứng. Bàn luận: Dinh dưỡng cho bệnh <br /> nhân tiểu đường cao huyết áp thực hiện tốt khi bệnh nhân đang điều trị tại các bệnh viện có khoa dinh dưỡng‐ <br /> tiết chế, bệnh nhân được thực hiện khẩu phần ăn theo bệnh lý, nhưng khi bệnh nhân điều trị tại gia đình thì hầu <br /> như thiếu hụt sự quan tâm thực hiện chế độ ăn điều trị vì nhiều lý do: thói quen gia đình, kinh tế gia đình, mức <br /> độ nhận thức của bệnh nhân,…  <br /> Kết  luận: Cần tăng cường công tác truyền thông giáo dục dinh dưỡng trực tiếp để bệnh nhân nâng cao <br /> nhận thức và thực hành chế độ ăn bệnh lý, để kiểm soát tốt các bệnh mạn tính không lây khi điều trị tại gia đình.  <br /> Từ khóa: Bệnh mạn tính không lây, chế độ ăn bệnh lý, kiến thức, thực hành, huyện Bình Chánh. <br /> <br /> ABSTRACT <br /> KNOWLEDGE AND PRACTICE OF NUTRITION OF NCD PATIENTS IN BINH CHANH DISTRICT, <br /> HCMC <br /> Le Thi Hoang Lieu * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 30 – 34 <br /> Introduction:  Nutrition plays an important role not only in the prevention of non‐communicable chronic <br /> diseases, but also in the treatment of disease, to delay disease process and complications.  <br /> Objectives:  To  investigate  the  knowledge  and  practice  of  nutrition  in  patients  with  type  2  diabetes  and <br /> hypertension, the two common chronic non‐communicable diseases in the community.  <br /> Methods: 100 subjects from 45 years and older were interviewed about knowledge and nutrition, the food <br /> processing as well as disease progression.  <br /> Results:  Nutrition  knowledge  of  patients  with  diabetes  and  high  blood  pressure  is  still  low  in  the <br /> community. Most patients have not know appropriate diet therapy, this may lead to unstable treatment outcome, <br /> faster disease progression and complications. Diet therapy could be easily applied when patients are being treated <br /> in  the  hospital.  However,  when  the  patients  are  treated  at  home,  they  lack  of  sufficient  diet  control  because  of <br /> many reasons: family dietary pattern and practice, economic status, awareness of the patients... <br /> Conclusion: We should provide direct nutrition education for patients to improve knowledge and practice of <br /> diet therapy, for better control of non‐communicable chronic patients who are being treated at home. <br /> * Bệnh viện huyện Bình Chánh <br /> Tác giả liên lạc: Ths.BS Lê Thị Hoàng Liễu,   <br /> <br /> 30<br /> <br /> ĐT: 0908303596 <br /> <br /> Email: gatlieu@yahoo.com <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2014 <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br />  <br /> Keywords: Chronic non‐communicable diseases, diet therapy, knowledge, practice, Binh Chanh district. <br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ <br /> Các bệnh mạn tính không lây liên quan đến <br /> dinh  dưỡng  đang  có  chiều  hướng  gia  tăng <br /> nhanh chóng tại TP. HCM. Theo số liệu khảo sát <br /> của Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM, tình trạng <br /> tăng triglyceride máu và tăng huyết áp ‐ những <br /> nguy  cơ  đối  với  bệnh  tim  mạch  chiếm  tỉ  lệ  cao <br /> đáng lo ngại, lần lượt khoảng 38,7% và 37,7% ở <br /> người trưởng thành(1). Tỷ lệ đái tháo đường tăng <br /> gần gấp đôi trong vòng 7 năm (7% năm 2008 so <br /> với 3,8% năm 2001)(2). <br /> <br /> tiến hành từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2013. Vì <br /> lý  do  nguồn  lực,  nghiên  cứu  này  chỉ  tập  trung <br /> vào người dân có bệnh tiểu đường và huyết áp <br /> đang điều trị tại nhà với mục tiêu cụ thể là đánh <br /> giá  kiến  thức  và  thực  hành  về  dinh  dưỡng  của <br /> người  dân  cho  bệnh  đái  tháo  đường  và  tăng <br /> huyết áp.  <br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU <br /> Đối tương nghiên cứu  <br /> Người  dân  trong  độ  tuổi  từ  45  tuổi  đến  70 <br /> tuổi đang điều trị bệnh tiểu đường, huyết áp tại <br /> nhà, đủ năng lực hành vi trả lời các câu hỏi của <br /> phỏng vấn viên. <br /> <br /> Sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh mạn <br /> tính không lây có liên quan chặt chẽ đến những <br /> thay đổi về thói quen ăn uống và vận động theo <br /> Phương pháp nghiên cứu <br /> một chiều hướng không có lợi, chủ yếu do nhận <br /> Nghiên cứu định tính, mô tả cắt ngang. <br /> thức  về  dinh  dưỡng  hợp  lý  của  cộng  đồng  còn <br /> Cỡ mẫu: 100 người. <br /> thấp.  Hậu  quả  là,  không  chỉ  gây  ra  gánh  nặng <br /> bệnh  tật,  mà  còn  là  gánh  nặng  biến  chứng,  di <br /> Đối  tượng:  người  dân  tại  các  hộ  gia  đình <br /> chứng,… ảnh hưởng tuổi thọ và chất lượng cuộc <br /> được chọn ngẩu nhiên. Tại mỗi hộ gia đình chọn <br /> sống nếu bệnh không được điều trị và kiểm soát <br /> một hoặc nhiều đối tượng từ 45 tuổi trở lên trả <br /> tốt(3).  Phần  lớn  bệnh  nhân  ở  giai  đoạn  sớm <br /> lời  phỏng  vấn  bằng  bộ  câu  hỏi  được  soạn  sẵn. <br /> thường được quản lý tại nhà, chính vì vậy hiểu <br /> Người  được  phỏng  vấn  có  thể  là  chủ  hộ  hoặc <br /> biết và thực hành của bệnh nhân, đặc biệt về chế <br /> thành  viên  trong  gia  đình,  ưu  tiên  đối  tượng <br /> độ  dinh  dưỡng  và  luyện  tập  tại  nhà,  hết  sức <br /> đang điều trị bệnh tiểu đường, cao huyết áp tại <br /> quan  trọng  trong  việc  kiểm  soát  bệnh,  hỗ  trợ <br /> gia đình mà không mắc các bệnh tâm thần, câm, <br /> điều  trị.  Để  trả  lời  câu  hỏi  bệnh  nhân  đái  tháo <br /> điếc hoặc các bệnh ảnh hưởng đến kết quả trả lời <br /> đường,  tăng  huyết  áp,  khi  điều  trị  tại  gia  đình, <br /> các câu hỏi. <br /> họ thực hiện dinh dưỡng, bửa ăn hàng ngày như <br /> KẾT QUẢ  <br /> thế  nào,  vì  sao  họ  đang  điều  trị  nhưng  không <br /> Đặc điểm của đối tượng khảo sát được trình <br /> giảm,  có  liên  quan  đến  dinh  dưỡng  không,  tác <br /> bày  tại  bảng  1.  Toàn  bộ  đối  tượng  khảo  sát  là <br /> giả  thực  hiện  đề  tài  nghiên  cứu  “KIẾN  THỨC <br /> dân  tộc  Kinh  (100%),  trong  đó  đông  nhất  ở <br /> VÀ  THỰC  HÀNH  VỀ  DINH  DƯỠNG  CỦA <br /> nhóm tuổi > 60 (45%), giới nam (82%) và bệnh lý <br /> BỆNH  NHÂN  BỆNH  MẠN  TÍNH  KHÔNG <br /> đái tháo đường/ cao huyết áp đơn thuần (77%).  <br /> LÂY  TẠI  HUYỆN  BÌNH  CHÁNH‐TP.  HCM” <br /> Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng khảo sát phân bố theo nhóm tuổi, dân tộc, giới và loại bệnh lý <br /> Tuổi n (%)<br /> Đặc điểm<br /> Dân tộc<br /> Giới<br /> Loại bệnh<br /> <br /> 45-50 tuổi<br /> <br /> 51-55 tuổi<br /> <br /> 56-60 tuổi<br /> <br /> > 60 tuổi<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> Kinh<br /> Khác<br /> <br /> 23 (23%)<br /> <br /> 17 (17%)<br /> <br /> 15 (15%)<br /> <br /> 45 (45%)<br /> <br /> 100 (100%)<br /> <br /> 0 (0)<br /> <br /> 0 (0)<br /> <br /> 0 (0)<br /> <br /> 0 (0)<br /> <br /> 0 (0)<br /> <br /> Nam<br /> Nữ<br /> Đái tháo đường/ cao huyết áp<br /> <br /> 4 (4%)<br /> 19 (19%)<br /> 17 (17%)<br /> <br /> 1 (1%)<br /> 16 (16%)<br /> 12 (12%)<br /> <br /> 1 (1%)<br /> 14 (14%)<br /> 10 (10%)<br /> <br /> 12 (12%)<br /> 33 (33%)<br /> 38 (38%)<br /> <br /> 18 (16%)<br /> 82 (82%)<br /> 77 (77%)<br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2014 <br /> <br /> 31<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014<br /> <br />  <br /> Tuổi n (%)<br /> Đặc điểm<br /> <br /> 45-50 tuổi<br /> <br /> 51-55 tuổi<br /> <br /> 56-60 tuổi<br /> <br /> > 60 tuổi<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> 6 (6%)<br /> <br /> 5 (5%)<br /> <br /> 5 (5%)<br /> <br /> 7 (7%)<br /> <br /> 23 (23%)<br /> <br /> Đái tháo đường/ cao huyết áp kèm<br /> theo bệnh khác (thoái hóa khớp gối,<br /> đau dạ dày, bệnh thận …)<br /> <br /> cao  huyết  áp,  dẫn  đến  việc  hiểu  sai,  ăn  uống <br /> Kiến thức, hiểu biết về dinh dưỡng cho bệnh <br /> không phù hợp với người bệnh.  <br /> đái tháo đường và cao huyết áp của bệnh nhân <br /> được  trình  bày  tại  bảng  2.Trong  số  đối  tượng <br /> Bảng 2: Kiến thức hiểu biết về dinh dưỡng cho bệnh <br /> được phỏng vấn có đến 48% không biết về dinh <br /> đái tháo đường và cao huyết áp  <br /> dưỡng  cho  bệnh  nhân  đái  tháo  đường  và  cao <br /> 45-50 51-55 56-60 >60<br /> n Tỷ lệ%<br /> Không<br /> biết<br /> 11<br /> 7<br /> 11<br /> 19<br /> 48<br /> 48<br /> huyết áp, 49% biết ít và chỉ có 3% biết tương đối <br /> Biết it<br /> 12<br /> 10<br /> 2<br /> 25<br /> 49<br /> 49<br /> đầy  đủ.  Điều  này  cho  thấy  những  người  bệnh <br /> Biết tương đối<br /> 0<br /> 0<br /> 2<br /> 1<br /> 3<br /> 3<br /> đang được điều trị tại gia đình chưa có kiến thức <br /> đầy đủ<br /> về đinh dưỡng hay nói cách khác là thực phẩm, <br /> khẩu phần ăn cho người bệnh đái tháo đường và <br /> Bảng 3: Cách thức chế biến thức ăn cho người bệnh đái tháo đường và cao huyết áp  <br /> Tuổi<br /> Chế biến thức ăn cho người bệnh<br /> Chế biến thức ăn chung cả gia đình<br /> Chế biến thức ăn chung, xong để riêng nêm gia vị<br /> Chế biến thức ăn riêng<br /> <br /> 45-50<br /> <br /> 51-55<br /> <br /> 56-60<br /> <br /> >60<br /> <br /> n<br /> <br /> Tỷ lệ (%)<br /> <br /> 13<br /> 10<br /> 0<br /> <br /> 13<br /> 4<br /> 0<br /> <br /> 7<br /> 8<br /> 0<br /> <br /> 34<br /> 11<br /> 0<br /> <br /> 67<br /> 33<br /> 0<br /> <br /> 67<br /> 33<br /> 0<br /> <br /> một  tỷ  lệ  khá  cao  trong  nghiên  cứu  này.  Chế <br /> Cách thức chế biến thức ăn cho người bệnh <br /> biến  thức  ăn  chung  cho  cả  gia  đình  xong,  múc <br /> đái tháo đường và cao huyết áp được trình bày <br /> riêng ra nêm gia vị cho người bệnh chiếm 33%, <br /> tại bảng 3. Trong 100 người được phỏng vấn về <br /> không  có  chế  biến  riêng  hay  làm  riêng  khẩu <br /> cách  thức  chế  biến  thức  ăn  cho  người  bệnh  đái <br /> phần cho người bệnh.. <br /> tháo đường và cao huyết áp có 67 người cho biết <br /> ăn  chung  bình  thường,  chiếm  tỷ  lệ  67%  đây  là <br /> Bảng 4: Các nguồn thông tin cung cấp kiến thức về dinh dưỡng <br /> Nguồn cung cấp thông tin<br /> <br /> Nam<br /> <br /> Nữ<br /> <br /> n<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> <br /> Ti vi<br /> Phát thanh truyền thanh<br /> Báo viết<br /> Tờ rơi,áp phích<br /> Cán bộ y tế<br /> Họp đoàn thể<br /> Người thân<br /> Qua người bán thức ăn<br /> <br /> 18<br /> 11<br /> 13<br /> 3<br /> 7<br /> 1<br /> <br /> 75<br /> 52<br /> 48<br /> 11<br /> 35<br /> 18<br /> 9<br /> 9<br /> <br /> 93<br /> 63<br /> 61<br /> 14<br /> 42<br /> 19<br /> 9<br /> 9<br /> <br /> 93%<br /> 63%<br /> 61%<br /> 14%<br /> 93%<br /> 19%<br /> 9%<br /> 9%<br /> <br /> 6<br /> <br /> Các  nguồn  thông  tin  cung  cấp  kiến  thức  về <br /> dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường và <br /> cao huyết áp được trình bày tại bảng 4. 93% đối <br /> tượng  nhận  thông  tin  dinh  dưỡng  cho  người <br /> bệnh đái tháo đường và cao huyết áp qua ti vi; <br /> 63% qua phát thanh; 61% qua báo viết; 42% qua <br /> cán  bộ  y  tế;  và  27%  qua  người  bán  thực  phẩm. <br /> Kết quả này cho chúng ta thấy kiến thức người <br /> dân  có  được  chủ  yếu  qua  ti  vi  kế  tiếp  qua  đài <br /> <br /> 32<br /> <br /> phát  thanh,  báo  và  cán  bộ  y  tế.  Điều  này  phù <br /> hợp  với  đánh  giá  của  nhiều  nhà  nghiên  cứu  là <br /> truyền thông đại chúng cung cấp kiến thức cho <br /> người  dân  nhiều  hơn  so  với  truyền  thông  trực <br /> tiếp, trong khi truyền thông trực tiếp trong giáo <br /> dục sức khỏe cộng đồng làm thay đổi hành vi tốt <br /> hơn so với truyền thông đại chúng.  <br /> Về diễn tiến bệnh, trong 100 đối tượng khảo <br /> sát khi  theo dõi  đơn thuốc, sổ  khám  bệnh: 77% <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2014 <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br />  <br /> đang điều trị bệnh đái tháo đường/ cao huyết áp <br /> có trị số huyết áp không đạt kết quả ổn định lâu <br /> dài,  trị  số  đường  huyết  luôn  thay  đổi:  lúc  ổn <br /> định, lúc chỉ số đường huyết cao hoặc thấp quá. <br /> <br /> là trẻ em và phụ nữ mang thai, cho con bú. Qua <br /> quan sát 5 gia đình  <br /> <br /> BÀN LUẬN <br /> <br /> Gia đình 2: Bữa ăn trưa, chiều: lỗ tai heo kho <br /> tiêu, mắm bằm chưng hột vịt, canh súp nấu giò <br /> heo <br /> <br /> Kết  quả  nghiên  cứu  cho  thấy  mặc  dù  hiện <br /> nay đái tháo đường và cao huyết áp là một trong <br /> những bệnh mãn tính không lây phổ biến trong <br /> cộng đồng, nhưng kiến thức về dinh dưỡng của <br /> cộng đồng về những bệnh lý này còn rất nghèo <br /> nàn. 48% đối tượng khảo sát không biết và thậm <br /> chí còn thực hiện chế độ ăn cho người bệnh sai, <br /> ví  dụ  như  ăn  khoai  lang  trừ  cơm  cho  chỉ  số <br /> đường  ổn  định,  thay  thế  bằng  1kg  khoai  cho  1 <br /> ngày và có một số người lại cho rằng không ăn <br /> cơm,  thế  3  bữa  ăn  sáng,  trưa,  chiếu  bằng  1  kg <br /> bún tươi ăn với nước tương, điều này thật đáng <br /> lo  ngại,  vì  dinh  dưỡng  không  tốt  bệnh  sẽ  ngày <br /> nặng thêm, dễ dàng đưa đến những biến chứng <br /> nguy  hiểm,  số  người  biết  và  thực  hiện  khẩu <br /> phần ăn rất ít chỉ có 3%, nhưng cũng có những <br /> ngày không thực hiện như nhà có đám giỗ, tiệc <br /> cưới, thôi nôi, đầy tháng … <br /> Chế  biến  thức  ăn  thì  hầu  như  100%  trong <br /> mẩu  khảo  sát  không  có  chế  biến  riêng,  vấn  đề <br /> này có thể lệ thuộc rất nhiều về kinh tế gia đình, <br /> mô hình gia đình.  <br /> Về kinh tế: thường gia đình tiết kiệm chi phí <br /> sinh  hoạt,  vì  nếu  chế  biến  thức  ăn  theo  khẩu <br /> phần cho người bệnh mất thời gian, tốn thêm chi <br /> phí  mua  thực  phẩm,  nên  chọn  việc  chế  biến <br /> chung cả gia đình vừa thuận tiện vừa cân bằng <br /> chi  tiêu  trong  gia  đình,  trong  quan  sát  bữa  ăn <br /> của  gia  đình  người  bệnh,  tác  giả  nhận  thấy <br /> không  có  sự  phân  chia  người  bệnh  phải  kiêng <br /> khen  thức  ăn  này,  thức  ăn  kia,  chỉ  nhắc  người <br /> bệnh  ăn  lạt,  đừng  ăn  thêm  nước  chấm,  nhưng <br /> thức ăn người bệnh, không bệnh như nhau, điều <br /> này làm ảnh hưởng liên quan đến người bệnh và <br /> không bệnh, chế biến ăn cùng chế độ ăn, thì tốt <br /> cho  người  bệnh,  nhưng  làm  ảnh  hưởng  đến <br /> những thành viên khác trong gia đình, đặc biệt <br /> <br /> Gia đình 1: Bữa ăn trưa, chiều: ruột heo xào <br /> dưa chua, cá hấp chiên, canh cải nấu tôm khô. <br /> <br /> Gia đình 3: Bữa ăn trưa, chiều: Cá điêu hồng <br /> kho tương, canh rau ngót nấu thịt bầm <br /> Gia đình 4: Bữa ăn trưa, chiều: Hột vịt chiên, <br /> rau muống xào, cá trê kho  <br /> Gia đình 5: Bữa ăn trưa, chiều: Cá biển kho, <br /> canh chua, mắm thái. <br /> Về  mô  hình  gia  đình:  Nếu  người  bệnh  là <br /> người phụ nữ trong gia đình hạt nhân, vợ chồng <br /> con cái, thì việc tách khẩu phần ăn càng khó, vì <br /> người  bệnh  là  người  trực  tiếp  chế  biến  thức  ăn <br /> cho  cà  nhà,  là  người  quán  xuyến  chi  tiêu,  nên <br /> việc  nấu  ăn  chung,  nêm  thức  ăn  lạt  chút  để <br /> “giảm bệnh” hầu như những phụ nữ trong mẫu <br /> khảo  sát  đều  cho  như  thế.  Còn  nếu  là  ông  bà <br /> trong gia đình có con, cháu, thì lệ thuộc hẳn vào <br /> con  cháu,  nấu  gì  ăn  nấy,  ăn  ít  chút  cho  “  đỡ <br /> bệnh”.  Còn  nếu  người  bệnh  thuộc  về  gia  đình <br /> neo đơn thì lúc khỏe nấu cơm ăn, lúc mệt ăn mì <br /> gói hay ăn đỡ bánh qua bữa ăn sáng, trưa. <br /> Điều  trị  bệnh  tại  gia  đình  ngoài  việc  dùng <br /> thuốc,  dinh  dưỡng  đúng  cách  góp  phần  quan <br /> trọng giúp cho người bệnh có được chỉ số đường <br /> huyết  và  huyết  áp  ổn  định,  nhưng  trong  mẫu <br /> khảo sát, người bệnh cũng như người thân trong <br /> gia  đình  chưa  nhận  biết  được  tầm  quan  trọng <br /> của  thói  quen  ăn  uống  hàng  ngày  không  điều <br /> chỉnh  sẽ  làm  cho  bệnh  năng  hơn  và  đi  đến <br /> những tai biến liên quan rất dễ dàng và đôi lúc <br /> người  bệnh  mất  khả  năng  tự  chăm  sóc  điều <br /> khiển bản thân. <br /> <br /> KẾT LUẬN  <br /> Dinh dưỡng  cho  bệnh nhân tiểu  đường  cao <br /> huyết áp thực hiện tốt khi bệnh nhân đang điều <br /> trị  tại  các  bệnh  viện  có  khoa  dinh  dưỡng‐  tiết <br /> chế,  bệnh  nhân  được  thực  hiện  khẩu  phần  ăn <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2014 <br /> <br /> 33<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014<br /> <br />  <br /> theo  bệnh  lý,  nhưng  khi  bệnh  nhân  điều  trị  tại <br /> gia  đình,  thực  hiện  dinh  dưỡng  theo  thói  quen <br /> sở  thích  của  gia  đình,  thì  hầu  nhu  bệnh  nhân <br /> không  áp  dụng  theo  bệnh  lý  nữa,  mà  chỉ  theo <br /> thói quen và thuận tiện của gia đình. Điều này lệ <br /> thuộc  vào  kinh  tế,  sự  hiểu  biết  của  người  dân. <br /> Kiến  thức  hiểu  biết  về  dinh  dưỡng  cho  bệnh <br /> nhân bệnh tiểu đường và cao huyết áp vẫn còn <br /> thấp trong cộng đồng, điều này đã được chứng <br /> minh  qua  số  liệu  bệnh  nhân  mắc  bệnh  tiểu <br /> đường  và  cao  huyết  áp  theo  thời  gian  điều  trị <br /> không  đạt  ổn  định  mà  từ  giai  đoạn  nhẹ  dần <br /> chuyển  sang  nặng  và  đi  đến  những  kết  thúc <br /> nặng nề. Vì vậy, cần tăng cường công tác truyền <br /> thông  giáo  dục  dinh  dưỡng  trực  tiếp  để  bệnh <br /> nhân  nâng  cao  nhận  thức  và  thực  hành  chế  độ <br /> ăn  bệnh  lý, để kiểm soát  tốt  các  bệnh mạn tính <br /> không lây khi điều trị tại gia đình.  <br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO <br /> 1.<br /> <br /> Đỗ  Thị  Ngọc  Diệp,  Phan  Nguyễn  Thanh  Bình,  Trần  Quốc <br /> Cường và Lê Thị Kim Quí (2012). “Dịch tễ học bệnh rối loạn <br /> chuyển hóa tại TPHCM: xu hướng gia tăng và trẻ hóa”. Tạp <br /> chí Dinh dưỡng và Thực phẩm8 (3), tr.1‐6. <br /> <br /> 2.<br /> <br /> Đỗ  Thị  Ngọc  Diệp,  Phan  Nguyễn  Thanh  Bình,  Trần  Quốc <br /> Cường, Lê Thị Kim Quí và Lê Nguyễn Trung Đức Sơn (2012). <br /> “Dịch tễ học bệnh đái tháo đường tại TPHCM và một số yếu <br /> tố liên quan”. Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm8 (4), tr.73‐<br /> 79. <br /> <br /> 3.<br /> <br /> Ebrahim S, Pearce N, Smeeth L, Casas JP, Jaffar S, et al. (2013) <br /> “Tackling Non‐Communicable Diseases In Low‐ and Middle‐<br /> Income  Countries:  Is  the  Evidence  from  High‐Income <br /> Countries  All  We  Need?”  PLoS  Med  10(1):  e1001377. <br /> doi:10.1371/journal.pmed.1001377 <br /> <br />  <br /> Ngày nhận bài báo:    <br /> <br />  <br /> <br /> 20/10/2014 <br /> <br /> Ngày phản biện nhận xét bài báo:  <br /> <br /> 30/11/2014 <br /> <br /> Ngày bài báo được đăng:  <br /> <br /> 05/12/2014 <br /> <br />  <br /> <br />  <br /> <br />  <br /> <br /> 34<br /> <br />  <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2014 <br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản