Kiến thức về thuốc và sức khỏe (Kỳ 7):
Khi nào cần nuốt nguyên viên thuốc?
Năm nay tôi 66 tuổi, bị thoái hóa các khớp và loãng xương nên thường
xuyên phải uống viatril-S. Ccách 4 tháng i lại uống 3 lọ (mỗi lọ 80 viên), mỗi
ngày uống 4 viên trước bữa ăn 15 phút theo chđịnh của bác sĩ. Xin hỏi tôi thể
mviên nhộng lấy bột bên trong uống và vứt vỏ đi được không? Nếu uống c
vỏ (viên nang) kéo dài như vậy có ảnh hưởng gì không?
Nguyễn Thị Thìn (Hà
Nội)
Viatril-S với hoạt chất chính
glucosamin được chỉ định điều trị
các bệnh thoái hóa xương khớp,
thoái hóa khớp nguyên phát th
phát như thoái khớp gối, khớp háng,
cột sống, khớp vai, viêm quanh
khớp, loãng xương, gãy xương teo khớp, viêm khớp mạn và cấp. Như vậy, thuốc
của bác đang uống đã được bác sĩ chỉ định rất đúng. Bác cứ yên m dùng thuốc và
tuân ththeo đúng chỉ dẫn trên.
Khi uống thuốc viên cần phải nuốt nguyên viên thuốc không nên mviên
nhộng ra lấy bột bên trong để uống. Tình trạng này sgây hao hụt dược chất, đôi
khi còn làm hỏng mục đích điều trị. Thực tế, khi nghiên cứu một dạng thuốc nào
đó các nhà dược học đã những nghiên cu, tính toán liều, đưa thuốc theo ý
muốn đến i cần tác dụng (giải phóng hoạt chất) để tránh các tương tác ảnh
hưởng đến hiệu lực của thuốc, tránh kích ứng. Đôi khi còn để che lấp mùi vkhó
chịu của thuốc nữa...
Như vậy nếu bệnh nhân ngại uống, thể dùng dạng thuốc tiêm (tác dụng
nhanh, ít hao hụt, nhưng không tiện sử dụng). Nếu ngại uống viên nang, th
dùng dạng bột gói (tan nhanh, nhưng dễ bị hao hụt, mùi vị...). Thành phần chủ
yếu nguyên liệu làm ra vnang là gelatin, không ảnh hưởng gì, không gây độc với
thể, thải trừ bình thường, không tích lũy. Tuy nhiên, ngoài dùng thuốc (hóa
trị liệu) bác nên phối hợp với nhiều phương pháp điều trị khác (vật lý trị liệu, phục
hồi chức năng, các thiết bị hỗ trợ) để tăng tác dụng và giảm lượng thuốc đưa vào
cơ thể.
Loạn dưỡng móng và thuốc trị
Gần đây, các móng tay của tôi cbị dày lên sần sùi, khi sinh hoạt rất
hay bđau. Đi khám làm xét nghim không nấm. Xin hỏi tôi mắc bệnh gì? Cách
chữa trị?
Thu Hu (Bình Định)
Qua t rất thể bạn bloạn dưỡng móng. Loạn dưỡng móng là một
bệnh hay gặp. Thường thì tnhiên các móng bdày lên, sn sùi, khô ráp. Svào
cứng i đau. Màu của móng trở nên vàng xỉn hoặc thâm đen. Khi bệnh nhân
cầm nắm hoặc các thao tác bằng tay chạm đến móng thì đau, nhất là khi ấn vào
đầu móng. Đôi khi có xước mang (bong tróc các vảy da khô) xung quanh
móng. Bệnh không do nấm gây nên. Nguyên nhân chính c của bệnh chưa được
biết rõ. Bệnh được cho là do rối loạn các yếu tố bên trong cơ thể.
Chăm sóc móng: Kiêng ngâm nước, xà phòng. Không cắt sát móng quá,
không giũa móng. Làm như vậy sẽ tạo nên các sang chấn m tăng nguy nhim
trùng bồi phụ. Không cần ăn kiêng gì.
Điều trị: Không có thuốc điều trị đặc hiệu. Bôi một trong các chế phẩm làm
mềm móng như: cream vitamin E, physiogel, lacticare... Ngày bôi nhiều lần, quan
trọng nhất là sau tm và sau rửa tay, chân. Các chế phẩm này bôi o dài. Để
chống viêm thì th bôi một trong các chế phẩm chứa corticoid hoạt phổ
mạnh như: dermovate, temproson, gentrison, diproson... Bôi ngày 2 lần trong 1-2
tuần. Nếu nhiễm trùng bồi phụ thì phải sdụng một đợt kháng sinh theo chỉ
định của bác sĩ chuyên khoa da liễu.
Tác dụng của nitroglycerin
Tôi năm nay 65 tuổi, thi thoảng xuất hiện những cơn đau thắt ngực, mỗi lần
như vậy tôi thường dùng một viên nitroglycerin 0,5mg ngậm dưới lưỡi thì đỡ. Tôi
nghe nói ngoài tác dụng điều trị cơn đau thắt ngực, thuốc còn được sử dụng trong
điều trị tăng huyết áp đúng không? Huyết áp tối đa của tôi thường dao động
quanh 120mmHg, dùng thuốc đó có bị ảnh hưởng gì không?
Hoàng Trọng Chanh (Bắc Giang)
Nitroglycerin một thuốc chống n đau thắt ngực và dẫn xuất của
nitrat. Thuốc dễ hấp thu qua đường tiêu hóa, tuy nhiên lại bị chuyển hóa qua gan
lần đầu nên sinh khả dụng thấp, vì vậy thường được sử dụng dưới dạng ngậm dưới
lưỡi. Nếu đặt dưới lưỡi, thuốc tác dụng ngay sau 1 - 2 phút đạt nồng độ tối
đa sau 4 phút. Ngoài dạng ngậm dưới lưỡi, thuốc còn dạng uống, dạng tiêm
hoặc dạng dùng ngoài da, tuy nhiên dùng các dạng thuốc này liều cao dễ dẫn đến
quen thuốc.
Nitroglycerin m giãn tất cả các trơn, nhưng không ảnh hưởng đến cơ
vân và cơ tim, đặc biệt tác dụng rất rõ trên cả động mạch và tĩnh mạch lớn nên làm
giảm lượng máu tĩnh mạch trở về, đồng thi làm giãn động mạch lớn, vì vậy làm
giảm sdụng ôxy cơ tim giảm công năng tim, làm giãn mạch vành m lưu
lượng vành tăng tạm thời. Bên cạnh đó, thuốc còn làm thay đổi phân phối máu cho
tim, tăng tuần hoàn ph cho vùng tim thiếu máu lợi cho vùng dưới nội m
mạc, thuốc còn chống kết tập tiểu cầu cản trở fibrrinogen m vào tiểu cầu để hình