Kinh tế học cổ điển
Trường phái Kinh tế học cổ điển hay Kinh tế chính trị cổ điển là mt trong
những xu hướng tư tưởng kinh tế tiến bộ, đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử phát
triển các luận thuyết kinh tế. Nhiều quan điểm chủ đạo của trường phái này vn
còn lưu giữ ý nghĩa đến tận ngày nay. Xu hướng tư tưởng của trường phái cổ điển
bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 17 và phát trin mnh mvào thế kỷ 18 đến nửa cuối
thế kỷ 19.
Mc lc
1 Nhng người sáng lập
2 Phương pháp luận
3 Nhng đặc đim riêng biệt
4 Các giai đoạn phát triển
5 Các nguyên lý cơ bản
6 Xem thêm
7 Nguồn tham khảo
Những người ng lập
Người đại diện đầu tiên và được xem là ông tổ ca kinh tế cổ đin là William Petty
(1623 – 1687), người Anh. Những công trình khoa học của ông chuyên vlĩnh vực
thuế, hải quanthng kê. Là người được K. Marx đánh giá cao qua các phát
minh khoa học kinh tế.
Những tên tuổi ln của trường phái này gồm Adam Smith (1723-1790), David
Ricardo (1772-1823), Thomas Malthus (1766-1834), John Stuart Mill (1806-1873).
Quan đim về khoa học kinh tế của họ, giống như các nhà nghiên cứu trước đó, là
khoa học về sự giàu có và cách thức nhân rộng của cải lên.
Phương pháp luận
Trường phái cổ điển đối lập với chủ nghĩa trọng thương trên nhiều phương diện,
trong đó sự khác biệt biểu hiện ở phương pháp luận và đối tượng nội dung các lun
thuyết. Thực tiễn giai đoạn phát triển kinh tế công xưởng lên ng nghiệp hóa th
hiện sự trỗi dậy của lực lượng doanh nghip hoạt động trong sản xuất ng nghip,
đẩy hoạt động buôn bán và cho vay vào hàng thứ yếu. Với lý do đó đối tượng nội
dung ca nghiên cứu kinh tế học chuyển từ lĩnh vực giao thương sang lĩnh vực sản
xuất. Phương pháp nghiên cứu dựa trên vic đề xuất các định đề thu nhận từ các
quy luật sản xuất có thể quan sát.thể nói, trường phái cổ điển biến kinh tế
chính tr thành một môn khoa học thực sự, nghiên cu những vn đề kinh tế về
cạnh tranh tự do.
Đóng góp quan trọng của trường phái là đặt phm trù lao độnglực lượng khởi
tạo nền kinh tế, và phạm trù giá trị kinh tế – sự biu hin của giá tr chung, vào
trung tâm của nghiên cứu kinh tế; đã đề ra ý tưởng tự do kinh tế; nhiều tác phẩm
khoa học về các vấn đề giá trị thng, lợi nhuận, thuế, đa tô được trình bày.
Chính ttrường phái này đã sản sinh ra môn khoa học kinh tế.
Những đặc điểm riêng bit
1. Không công nhận chính sách bảo hộ mu dịch của nhà nước và c trng
phân tích các vấn đề của lĩnh vực sản xuất trong stách biệt khỏi lĩnh vực
giao thương; đề xuất và áp dụng các pơng pháp nghiên cứu tiến bộ như
phương pháp nguyên nhân-hậu quả, suy diễn, quy nạp, logic trừu tượng. Tuy
nhiên, việc đặt ra sự đối nghịch giữa hai lĩnh vực sản xuất và giao thương đã
làm cho các nhà kinh tế học cổ điển đánh giá không đầy đủ những liên quan
mật thiết giữa hai lĩnh vực đó, trong đó có ảnh hưởng của các yếu tố giao
thương lên quá trình sn xuất.
2. Dựa trên phương pháp phân tích nguyên nhân-hu quả, tính toánc chỉ số
kinh tế trung bình, các nhà “cđiển” tìmch làm sáng tỏ cơ cấu hình thành
giá tr hàng hóa. Họ cho rằng dao động ca giá c trên th trường không liên
quan đếnbản chất tự nhiên” của tin và s lượng của chúng, mà liên quan
đến các chi phí sn xuất, hay nói cách khác, đến số lượng lao động bỏ ra.
3. Phm trù giá tr vào thời đó được đánh giá là mu chốt của phân tích kinh tế,
là gốc rễ để nảy mầm các phạm trù khác. Vấn đề giá trị hàm cha các câu
hỏi như sau: giá trị biểu hiện giống như mt hiện tượng và các dạng thức ca
nó thế nào? Cơ sở, nguồn gốc hay nguyên nhân nào ca giá trị? Giá tr
đại lượng hay không và cách xác định đại lượng đó như thế nào? Cái
thể dùng để đo giá trị? Giá tr thực hiện chức năng nào trong lý thuyết kinh
tế? Ngoài ra, việc đơn gin hóa phân tích và hệ thống hóa đã làm cho khoa
học kinh tế hướng đến phát minh các quy luật mang tính cơ học, tương tự
như trong vật lý học, nghĩa là không tính đến các yếu tố m lý, đạo đức, luật
pháp và các yếu tố xã hi khác.
4. ng trưởng kinh tế và phồn thịnh xã hội được cho là không phải dựa vào
nguyên tắc xuất siêu, mà là sự năng động và cân bằng trạng thái nn kinh tế
quốc gia. Trong vn đề này các nhà “cổ điển không vn dụng các pơng
pháp phân tích toán học hay mô hình toán học để có thể chọn ra phương án
tối ưu trong số các phương án về tình trạng kinh tế. Trường phái cổ điển cho
rằng cân bằng trong kinh tế là có thể đạt được một cách tự động theo quy
luật thị trường ca Jean-Baptiste Say
5. Tlâu tiền tệ được cho là của con người tạo ra một cách chủ ý. Đến giai
đoạn ca trường phái cổ điển tin tệ được cho là một dạng hàng hóa tách biệt
từ trong thế giới hàng hóa, và chúng không thể bị thay thế bởi những thỏa
thuận giữa mọi người. Tuy nhiên, chức ng ca tin chỉ được đánh giá là
phương tiện trao đổi mang tính k thuật.
Các giai đoạn phát triển
Vấn đề xác định giai đoạn phát triển trường phái cổ điển được xem xét từ lâu. Thi
điểm mở đầu của trường phái này được chấp nhận theo quan đim ca K. Marx
dường như kng y tranh cãi trong gii nghiên cứu lịch sử kinh tế. Tuy nhiên
thời điểm kết tc của nó thì Marx ch hạn chế bằng những tác phẩm của A. Smith
và D. Ricardo. Các lun thuyết của các nhà nghiên cu tiếp theo không được Marx
công nhn là thuộc v trường phái này, và Marx gọi đó là Kinh tế chính tr tầm
thường, mà nhng người đứng đầu của khuynh hướng này là Th. Malthus và J. B.
Say. Quan đim trên của Marx không được hưởng ứng bởic nhà nghiên cứu
khác, ví d như J. K. Gelbreyt – giáo sư trường đại học tổng hợp Harvard. Ông cho
rằng ý tưởng của Smith và Ricardo vẫn còn tiếp tục phát triển đến tận giữa thế k
19 với những tác phm nổi tiếng ca J. S. Mill [1]. Ý kiến này được các nhà nghiên
cứu lịch sử tư tưởng kinh tế Ben Celigmen, P. Samuelson và M. Blaug công nhận.
Dựa vào những đặc điểm chung, đúc kết từ các luận thuyết của các nhà nghiên cứu
tiêu biu,thể xem cách phân chia giai đoạn phát triển của trường phái y như
sau: [2]
Giai đoạn 1: Từ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18, bắt đầu bằng những tác phẩm
lý luận của U. Pettyngưi Anh, và P. Buagilberngười Pháp, với những
ý tưởng đối lập chủ nghĩa trọng thương. Đó là những người đầu tiên tìm
cách gii thích nguồn gốc giá tr ca hàng hóa và dch vụ (bằng cách xác
định lượng thời gian lao động và công lao động đã b ra trong sn xuất). Họ
đã khng định ý nghĩa tiên quyết của nguyên tắc tự do đối với hoạt động
kinh tế trong chính lĩnh vực sản xuất vật chất.
Tiếp theo đó là sự xuất hiện ch nghĩa trọng nôngmột khuynh hướng thuộc về
trường phái cổ điển mà đứng đầu là Francois QuesnayAnne-Robert-Jacques
Turgotvới những phê phán sâu sắc và đầy luận chứng đi với chủ nghĩa trọng
thương, kéo dài trong 1/3 khong giữa thế kỷ 18.
Trong giai đoạn đầu tiên này chưa có nhà kinh tế học đại diện nào có được luận
đầy đủ về phát trin hiệu qu sản xuất trong công nghiệp và ctrong nông nghiệp.
Giai đoạn 2: kéo dài trong 1/3 khoảng cuối thế kỷ 18, là giai đoạn gắn liền
với tên tuổi của nhà kinh tế học đại Adam Smith vi tác phẩmSự giàu có
của các dân tộc” (1776), đã đưa Kinh tế chính trị đến mức hoàn chỉnh của
một môn khoa học. Những khái niệm con người kinh tế” và “bàn tay vô
hình” đã thuyết phục được nhiều thế hệ nghiên cu kinh tế. Đến tận những
năm 30 của thế kỷ 20 nhiều nhà kinh tế học còn tin vào sự đúng đắn của
quan điểm laisez fairekhông có can thiệp nhà nước vào tự do cạnh tranh.
Những lun thuyết của A. Smith đã trở thành cơ sở để xuất hiện các
thuyết hiện đại về hàng hóa, tiền tệ, tiền công lao động, lợi nhun, tư bản,
lao động sn xuất và các phạm trù khác.