intTypePromotion=1
ADSENSE

Kinh tế tư nhân với công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Chia sẻ: AtaruMoroboshi _AtaruMoroboshi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

29
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết tập trung thể hiện những kết quả tích cực của kinh tế tư nhân Hải Phòng trong công tác đảm bảo an sinh xã hội như: tạo thêm nguồn lực cho quá trình thực hiện an sinh xã hội; trực tiếp tham gia giải quyết vấn đề làm, đào tạo nghề, nâng cao thu nhập cho người lao động; hỗ trợ công tác giảm nghèo bền vững; tham gia đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kinh tế tư nhân với công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng

  1. 502 KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - THỰC TRÄNG VÀ GIÂI PHÁP KINH TẾ TƯ NHÅN VỚI CÔNG TÁC ĐÂM BÂO AN SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÂI PHÒNG ThS. Nguyễn Ngọc Mạnh Đại học Y Dược Hải Phòng Tóm tắt. Bài viết tập trung thể hiện những kết quả tích cực của kinh tế tư nhân Hải Phòng trong công tác đảm bảo an sinh xã hội như: tạo thêm nguồn lực cho quá trình thực hiện an sinh xã hội; trực tiếp tham gia giải quyết vấn đề làm, đào tạo nghề, nâng cao thu nhập cho người lao động; hỗ trợ công tác giảm nghèo bền vững; tham gia đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân. Đồng thời, bài việc cũng chỉ ra những hạn chế, tồn tại và kiến nghị một số giải pháp. Từ khóa: kinh tế tư nhân, kinh tế tư nhân ở Hải Phòng, an sinh xã hội PRIVATE ECONOMY WITH THE DUTY OF ENSURING THE SOCIAL SECURITY IN HAI PHONG CITY Abstract. The article focuses on showing positive results of the private economy in Hai Phong in ensuring social security such as: creating more resources for the implementation of social security; directly participating in solving employment issues, vocational training, and raising incomes for employees; participating in sustainable poverty reduction; participating in ensuring essential basic public services, meeting the diverse needs of the people. At the same time, the article also points out the limitations and shortcomings and suggests some solutions. Keywords: private economy; private economy in Hai Phong city, social security I. ĐẶT VÇN ĐỀ Đảm bảo an sinh xã hội với các trụ cột chính như: giải quyết việc làm, bảo hiểm xã hội, giảm nghèo bền vững, trợ giúp xã hội và cung ứng các dịch vụ công thiết yếu (gồm: giáo dục, y tê, nhà ở, nước sạch, thông tin…) là mục tiêu lớn, quan trọng trong quá trình phát triển của Việt Nam nói chung cũng như của thành phố Hải Phòng nói riêng. Bởi vậy, Đại hội lần thứ XII (1/2016) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Mọi người dân đều có cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện” [3, tr.135,136]. Trong những năm gần đây, thành phố Hải Phòng đã có nhiều đổi mới trong cơ chế, chính sách, tạo ra bước đột phá về phát triển kinh tế, đồng thời nỗ lực thực hiện mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội ngày một tốt hơn. Một trong những yếu tố quan trọng để thực
  2. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - VÇN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 503 hiện tốt đảm bảo an sinh xã hội là huy động mọi nguồn lực trong xã hội, sự đóng góp của mọi thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân và chính sự phát triển của kinh tế tư nhân Hải Phòng trong thời gian qua là nền tảng, cơ sở góp phần vào quá trình đảm bảo an sinh xã hội ở thành phố Hải Phòng. II. NỘI DUNG 1. Những kết quả đạt được 1.1. Kinh tế tư nhân động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nguồn lực đảm bảo an sinh xã hội. Với sự quyết tâm cùng nhiều chủ trương, chính sách sáng tạo mang tính đột phá đã làm cho kinh tế Hải Phòng trong những thời gian qua có nhiều chuyển biến tính cực. Trong đó, thành phần kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò, vị thế của mình trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Sự phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân đã và đang trở thành động lực quan trọng của kinh tế thành phố. Doanh nghiệp tư nhân Hải Phòng đã có bước phát triển mạnh về cả số lượng, quy mô đầu tư, mở rộng lĩnh vực hoạt động, nâng cao trình độ công nghệ, cải thiện chất lượng, sức cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ, nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đóng góp một phần đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Bảng 1. Số lượng các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2012 đến năm 2017 2012 2014 2015 2016 Sơ bộ 2017 Tổng số 7.985 8.795 8.804 10.084 12.552 Tổng 143 143 137 124 111 Nhà Trung ương 106 107 102 92 81 nước Địa phương 37 36 35 32 30 Tổng 7.610 8.393 8.390 9.660 12.092 Tập thể 324 333 322 293 290 Tư nhân 321 306 292 281 300 Ngoài Cty hợp danh 8 12 11 10 13 Nhà Cty TNHH 4.339 4.906 4.985 5.967 7.691 nước Cty cổ phần có 66 55 49 40 43 vốn Nhà nước Cty cổ phần không có vốn 2.552 2.781 2.731 3.069 3.755 Nhà nước
  3. 504 KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - THỰC TRÄNG VÀ GIÂI PHÁP Tổng 232 259 277 300 349 Đầu 100% vốn nước 178 200 220 243 289 tư nước ngoài ngoài Liên doanh với 54 59 57 57 60 nước ngoài (Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2017) Trong 5 năm từ năm 2012 đến năm 2017, số lượng các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng có sự tăng trưởng vượt bậc. Từ 7.985 doanh nghiệp lên 12.552 doanh nghiệp năm, tăng 4.567 doanh nghiệp, tăng 1,6 lần. Ngoại trừ các doanh nghiệp nhà nước giảm xuống từ 143 doanh nghiệp xuống còn 111 doanh nghiệp, còn lại các doanh nghiệp của kinh tế ngoài Nhà nước và Đầu tư nước ngoài đều tăng lên. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 117 doanh nghiệp từ 232 lên 349 doanh nghiệp. Kinh tế Ngoài nhà nước tăng 4.482 doanh nghiệp từ 7.610 lên 12.092 doanh nghiệp. Điều này cho thấy những chính sách về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; cải cách hành chính; hỗ trợ doanh nghiệp của thành phố đã có những tác động tích cực. Bảng 2: Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố Hải Phòng theo loại hình kinh tế 2012 2014 2015 2016 Sơ bộ 2017 Tổng số 96.437,8 115.357,2 127.007,4 145.160,6 165.763,9 Nhà nước 24.398,8 30.658,3 33.402,9 37.886,9 42.767,1 Tổng 50.683,4 58.393,2 60.508,2 66.106,1 72.389,4 Ngoài Tập thể 1.398,3 1.637,2 1.678,3 1.306,4 1.160,3 Nhà nước Tư nhân 24.500,6 28.564,5 34.038,0 43.185,3 52.912,1 Cá thể 24.784,5 28.191,5 24.791,4 21.614,4 18.316,9 ĐT nước ngoài 14.967,2 18.583,7 24.661,6 31.948,1 40.196,0 Thuế sản phầm trừ trợ 6.388,4 7.722,0 8.434,7 9.219,5 10.411,4 cấp sản phầm (Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2017) Với sự phát triển của các doanh nghiệp đã thúc đẩy sự tăng trưởng của tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố. Từ năm 2012 đến năm 2017, quy mô của tổng sản phẩm toàn thành phố tăng 1,7 lần (từ 96.437,8 tỷ đồng lên 165.763,9 tỷ đồng) trong đó, thành phần kinh tế Đầu tư nước ngoài tăng mạnh nhất với 2,7 lần; thành phần kinh tế Nhà nước tăng 1,8 lần; kinh tế ngoài Nhà nước tăng 1,4 lần (nhưng khu vực tư nhân tăng: 2,1 lần).
  4. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - VÇN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 505 Nếu xét về cơ cấu đóng góp (tính riêng năm 2017), thành phần kinh tế Ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với 72.389,4 tỷ đồng (chiếm 44%), tiếp đến là thành phần kinh tế Nhà nước với mức đóng góp 42.767,1 tỷ đồng (chiếm 26%) và thành phần kinh tế Đầu tư nước ngoài đóng góp 40.196,0 tỷ đồng (chiếm 24%). Trong thành phần kinh tế Ngoài Nhà nước (gồm: Tập thể, Tư nhân, Cá thể), kinh tế tư nhân có tỷ trọng lớn nhất với 52.912,1/72.389,4 tỷ đồng (chiếm 73%), lớn hơn rất nhiều so với kinh tế tập thể và cá thể. Nếu so với tổng sản phẩm của các thành phần kinh tế, kinh tế tư nhân chiếm gần 32% (lớn hơn thành phần kinh tế Nhà nước và Đầu tư nước ngoài). Sự tăng trưởng kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng đã tạo ra nguồn thu cho ngân sách thành phố liên tục tăng và ổn định. Chính nguồn thu cho ngân sách được đảm bảo mà công tác đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn thành phố Hải Phòng được duy trì và cải thiện. Điều đó được thể hiện, nguồn lực dành cho các lĩnh vực giáo dục, y tế, đảm bảo xã hội tăng theo hàng năm. Bảng 3: Ngân sách chi cho một sỗ lĩnh vực của an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2012 - 2017 Đơn vị 2012 2014 2015 2016 2017 Tổng chi Ngân Tỷ đồng 16.466,0 21.685,9 23.237,6 26.818,3 25.162,3 sách thành phố. Trong đó: % 100 100 100 100 100 Chi sư nghiệp Tỷ đồng 2.002,1 3.096,7 3.275,5 3.326,9 3.177,6 giáo dục, đào tạo % 12,16 14,28 14,10 12,41 12,63 Chi sự nghiệp y Tỷ đồng 517,9 774,9 828,9 868,4 679,5 tế, dân số, KHHGĐ % 3,15 3,57 3,57 3,24 2,70 Chi sự nghiệp Tỷ đồng 560,8 748,9 803,4 853,8 1.141,1 đảm bảo xã hội % 3,41 3,45 3,46 3,18 4,54 (Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng 2017) Năm 2017, tổng chi ngân sách của thành phố là 25.162,3 tỷ đồng tăng 9696,3 tỷ đồng so với 16466 tỷ đồng năm 2012, tăng 1,5 lần. Trong đó, chi cho giao dục tăng 1,6 lần từ 2.002,1 tỷ đồng lên 3.177,6; chiếm 12,63% tổng chi ngân sách của thành phố, riêng 2 năm 2014, 2015 chiếm hơn 14% chi ngân sách của thành phố. Chi cho giáo dục luôn chiếm tỷ lệ chi cao nhất trong các khoản chi của thành phố, chính yếu tố này đã góp phần vào những thành công của giáo dục Hải Phòng trong thời gian qua. Chi cho sự nghiệp đảm bảo xã hội có mức tăng nhanh nhất, tăng 2 lần từ 560,8 tỷ đồng lên 1.141,1 tỷ đồng năm (chiếm 4,54%) nguồn chi của thành phố. Chi cho đảm bảo xã hội là các khoản chi thực
  5. 506 KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - THỰC TRÄNG VÀ GIÂI PHÁP hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, chi lương hưu, trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, chi hoạt hoạt động của cơ sở trợ giúp xã hội… Với kết quả này, thành phố Hải Phòng được đánh giá là thành công “kép” trong quá trình phát triển vừa tăng trưởng kinh tế nhanh vừa đảm bảo an sinh xã hội cho người dân. Cùng với đó, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được thực hiện có kết quả tích cực. Trong giai đoạn 2011 - 2015, ngân sách của thành phố Hải Phòng chi cho giảm nghèo bền vững là hơn 1.212 tỷ đồng cùng với đó là sự hỗ trợ của các doanh nghiệp, đoàn thể, người dân là hơn 198 tỷ động đồng [12]. Điều này đã góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo của thành phố từ 6,55% (năm 2010) xuống còn 1,53% (năm 2015) [12], nếu tính theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều, năm 2017 còn 1,6% (giảm 0,5% so với năm 2016) [2]. Ngoài ra, trong những năm gần đây, bên cạnh sự phát triển các khu công nghiệp Đình Vũ, Tràng Duệ, VSIP… Hải Phòng còn thu hút được các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn trong nước đến đầu tư như: Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Sungroup, Tập đoàn Him Lam… Trong đó, dự án tổ hợp sản xuất ô tô Vinfast thực hiện tại đảo Cát Hải, tổng vốn đầu tư đăng ký là 70.337 tỷ đồng; dự án sản xuất điện thoại Vinsmart vốn đầu tư 1.500 tỷ đồng [5]… Điều này tạo ra sức bật mới cho tăng trưởng kinh tế góp phần quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; làm thay đổi diện mạo, hình ảnh của thành phố. Từ đó, tạo ra sức hút hấp dẫn đối với các nhà đầu tư cũng như nguồn lao động có chất lượng cao từ nơi khác đến làm việc và sinh sống. 1.2. Kinh tế tư nhân góp phần giải quyết việc làm, đào tạo nghề, tăng thu nhập cho người lao động. Tính đến năm 2017, dân số Hải Phòng hơn 2 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là hơn 1,2 triệu người (chiếm 61% dân số). Hằng năm, Hải Phòng còn được bổ sung hàng vạn người trong độ tuổi lao động di cư từ các vùng lần cận tới tìm kiếm việc làm. Cùng với đó là quá trình đẩy mạnh chuyển đổi mô hình kinh tế, sắp xếp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng… Chính những yếu tố này tạo ra áp lực lớn đối với quá trình giải quyết việc làm trên địa bàn thành phố. Bảng 4: Dân số và tình hình lao động thành phố Hải Phòng từ năm 2011đến năm 2017 Chỉ tiêu Đơn vị 2011 2013 2015 2017 Dân số Người 1.857.800 1.922.154 1.963.315 2.000.960 Dân số trong tuổi lao động Người 1.238.021 1.245.204 1.235.841 1.223.620 Tỷ lệ thất nghiệp thành thị % 5 4,8 4 3,98 Tỷ lệ lao động qua đào tạo % 72 74 75 78 Đào tạo nghề % 45 51 53 55,5 Trong đó: Đào tạo có chứng % - - 30,3 32 chỉ 3 tháng trở lên (Nguồn:[13])
  6. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - VÇN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 507 Vượt qua những khó khăn, áp lực nêu trên, trong thời gian qua vấn đề giải quyết việc làm của thành phố đã đạt được những kết quả tích cực. Giai đoạn 2010 - 2017, thành phố giải quyết việc làm cho 401.785 lượt người [13]; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm liên tục qua các năm, từ 5% năm 2011 xuống còn 3,89% năm 2017; tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2017 đạt 78% trong đó, đào tạo nghề là 55,% [2]; đào tạo có chứng chỉ 3 tháng trở lên đạt 32% [13]. Những kết quả tích cực đó, có sự đóng góp không nhỏ của thành phần kinh tế tư nhân. Với đặc điểm là khu vực kinh tế năng động, linh hoạt; hoạt động trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề; đa dạng về quy mô, trình độ… đây là những lợi của thành phần kinh tế này, chính điều đó đã tạo ra được sức hút lớn đối với lao động. Do đó, thành phần kinh tế tư nhân đang dần khẳng định vị trí, vai trò của mình trong việc thu hút lao động, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động trên địa bàn thành phố. Bảng 5: Lao động đang làm việc phần theo loại hình kinh tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2012 đến năm 2017 Nhà nước Ngoài Nhà nước Đầu tư nước ngoài Năm Tổng số Người % Người % Người % 2012 1.050.822 132.880 12,6 865.609 82,4 52.333 5,0 2014 1.085.578 119.302 11,0 907.543 83,6 58.733 5,4 2015 1.090.355 132.151 12,1 883.830 81,1 74.374 6,8 2016 1.097.920 129.208 11,8 874.656 79,7 95.056 8,5 2017 1.095.260 134.228 12,2 847.297 77,4 113.735 10,4 (Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2017) Trong bối cảnh, các doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn thành phố Hải Phòng đang trong quá trình tái cơ cấu, số lượng các doanh nghiệp giảm xuống. Năm 2011 có 134 doanh nghiệp, nhà nước đến năm 2017 giảm xuống còn 111 doanh nghiệp [9]. Chính điều này đã ảnh hưởng đến việc thu hút lao động, giải quyết việc làm trên địa bàn thành phố. Từ năm 2012 đến năm 2017, lao động làm việc trong thành phần kinh tế nhà nước chỉ chiếm 11 - 12% lao động có việc làm. Trong khi đó, khu vực đầu tư nước ngoài có sự phát triển về số lượng doanh nghiệp và số lao động, tuy nhiên vẫn còn khiêm tốt. Năm 2012, thành phần kinh tế này giải quyết việc làm cho 52.333 người chiếm 5% lao động có việc làm, đến năm 2018 giải quyết việc làm cho 113.735 người chiếm 10,4% lao động có việc làm. Bởi vậy, vấn đề giải quyết việc làm được đặt nặng lên thành phần kinh tế ngoài nhà nước nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng. Đối với thành phần kinh tế ngoài nhà nước, tuy có giảm xuống về cả số lượng lao động và tỷ trong những vẫn chiếm trên 75% số lao động có việc làm. Trong đó kinh tế tư nhân có sự tăng trưởng vượt bậc. Trong 10 năm (từ năm 2005 đến năm 2015) lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân gia tăng cả số lượng và tỷ trọng với độc độ khá nhanh. Tính đến năm 2015, tỷ trọng lao động làm việc thuộc thành phần kinh tế tư nhân chiếm 23,3% so với khu
  7. 508 KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - THỰC TRÄNG VÀ GIÂI PHÁP vực ngoài nhà nước và chiếm 19,7% lao động có việc làm toàn thành phố [8]. Đến năm 2018, có 244.962 người làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân, chiếm 21,39% tổng số lao động thành phố, chiếm 50,05% tổng lao động khu vực doanh nghiệp [9]. Thu nhập bình quân năm 2011 là 3,06 triệu đồng/người/ tháng đến năm 2018 tăng lên 6,22 triệu đồng/người/tháng [9]. Đó là những đóng góp hết sức tích cực của kinh tế tư nhân trong bối cảnh kinh tế nhà nước đang gặp nhiều khó khăn và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mới bắt đầu có sự phát triển. Bên cạnh vấn đề giải quyết việc làm, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao có sự tham gia đáng kể của hệ thống các trường cao đẳng, trung cấp nghề ngoài công lập. Tính đến năm 2018, trên địa bàn thành phố có 22 cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục trên tổng số 59 cơ sở (chiếm 37,%) [13]. Trong số 22 cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục có 3 trường cao đẳng, 01 trường trung cấp với 13 nghề được xếp vào chương trình đào tạo nghệ trọng điểm (5 nghề đào tạo trình độ quốc tế, 3 nghề trình độ khu vực và 7 nghề trình độ quốc gia). Bảng 6: Các trường đào tạo nghề trọng điểm ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hải Phòng Quy mô Cấp độ Trường Nghề trọng điểm tuyển sinh/năm được cấp đào tạo CĐ TC SC Điều khiển tàu biển 150 50 130 Quốc tế Khai thác máy tàu thủy 150 30 130 Trường CĐ Bách Nghệ Công nghệ chế tạo vỏ tàu 15 0 0 Khu vực thủy Điện tàu thủy 30 0 0 Điều khiển tàu biển 30 0 0 Quốc tế Khai thác máy tàu biển 30 0 0 Trường CĐ Duyên Hải Khu vực Điện công nghiệp 30 0 0 Cắt gọt kim loại 0 0 0 Quốc gia Hàn 30 0 0 Quốc tế Thiết kế thời trang 0 0 70 Trường CĐ Công nghệ Quốc gia Kỷ thuật chế biến món ăn 0 0 70 Bách khoa Hà Nội May thời trang 0 0 100 Trường TC Du Lịch Quốc gia Kỹ thuật chế biến món ăn 0 70 300 Thăng Long Tổng 465 150 800 (Nguồn: [13])
  8. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - VÇN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 509 So với các tỉnh Duyên hải Bắc bộ, Hải Phòng có hệ thống các trường đào tạo nghề ngoài công lập phát triển nhất về cả số lượng lớn, đa dạng ngành nghề đào tạo. Một số trường ngoài công lập với sự năng động, nhạy bén nắm bắt được nhu cầu của thị trường, của xã hội hoạt động có hiệu quả, đóng góp tích cực vào quá trình đào tạo nhân lực có chất lượng cho thành phố Hải Phòng. 1.3. Kinh tế tư nhân tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ công thiết yếu (giáo dục, y tế) Đảm bảo cho người dân được tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu là những hoạt động đầu tiên và cơ bản nhất trong công tác đảm bảo an sinh xã hội. Trong quá trình đảm bảo cho người dân được tiếp cận các loại hình dịch vụ quan trọng này, tư duy của Đảng về phương thức cung ứng đã có sự thay đổi quan trọng. Từ chỗ xem đây là những dịch vụ công đơn thuần thuộc về vai trò của Nhà nước chuyên sang hướng Nhà nước và xã hội cùng làm với hình thức xã hội hóa, đồng thời gắn với sự phát triển của kinh tế thị trường. Đại hội XII (2016) của Đảng đã chỉ rõ: “Thực hiện cơ chế thị trường và đẩy mạnh xã hội hóa đối với những hàng hóa, dịch vụ công” [3, tr.276]. Trên tinh thần đó, vấn đề đảm bảo dịch vụ công cơ bản, thiết yếu cho người dân trên địa bàn thành phố Hải Phòng có nhiều chuyển biến tích cực khi có sự tham gia mạnh mẽ của thành phần kinh tế tư nhân đặc biết là đối với dịch vụ y tế và giáo dục. Về dịch vụ y tế. Song song với việc đầu tư cho hệ thống các cơ sở y tế công lập, các cơ sở y tế ngoài công lập được thành phố tạo điều kiện, khuyến khích phát triển. Đến năm 2016, Hải Phòng có hệ thống y tế ngoài công lập phát triển mạnh nhất vùng Duyên hải Bắc bộ với 4 bệnh viện ngoài công lập/30 bệnh viên công cập, (gồm: Bệnh viện Tâm Phúc; Bệnh viện Hồng Đức; Bệnh viện đa khoa Quốc tế Hải Phòng; Bệnh viện Quốc tế Green) với 355 giường kế hoạch, tỷ lệ giường bệnh ngoài công lập đạt 6,98% tổng số giường bệnh; 654 cơ sở hành nghề y, 17 phòng khám bệnh bảo hiểm, 190 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 975 cơ sở hành nghề dược, 02 cơ sở kinh doanh vắc xin - sinh phẩm và 119 cơ sở dịch vụ y tế [10]. Đến năm 2018, hệ thống bệnh viện ngoài công lập được bổ sung thêm Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec với tổng vốn đầu tư hơn 1.900 tỷ đồng [11], được trang bị hệ thống trang thiết bị y khoa hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia, bác sỹ chuyên môn cao, đạt trình độ chuẩn quốc tế. Với sự phát triển của hệ thống y tế tư nhân Hải Phòng, một mặt góp phần giảm tải cho hệ thống y tế công lập, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân trong vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bản thân. Đối với lĩnh vực giáo dục, có thể khẳng định Hải Phòng là một trung tâm giáo dục lớn của Việt Nam. Mạng lưới trường, lớp trên địa bàn thành phố phát triển đầy đủ, đồng bộ, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được đầu tư khang trang, hiện đại cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Bảng 7: Hệ thống các trường học thành phố Hải Phòng 2012 - 2014 - 2015 - 2016 - 2017 - Trường Loại hình 2013 2015 2016 2017 2018 Công lập 238 240 245 245 246 Mầm non Ngoài công lập 53 67 68 70 71
  9. 510 KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - THỰC TRÄNG VÀ GIÂI PHÁP Công lập 217 215 216 216 216 Tiểu học Ngoài công lập - - - - 2 Công lập 204 190 184 184 184 Trung học cơ sở Ngoài công lập - - - - - Công lập 40 41 40 40 40 Trung học phổ thông Ngoài công lập 16 16 17 17 20 Công lập 3 3 3 3 3 Đại học Ngoài công lập 1 1 1 1 1 (Nguồn: [13]) Trong hệ thống các trường học của thành phố, Mầm non và Trung học phổ thông là hai bậc học có sự tham gia tích cực nhất của loại hình ngoài công lập. Đối với giáo dục mầm non. Năm 2015, thành phổ Hải Phòng được công nhận hoàn thành việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi với tỷ lệ huy động trẻ em 5 tuổi đến trường đạt 99,6% [1]. Đạt được kế quả đó và duy trì trong tương lai, sự đóng góp của các trường mầm mon ngoài công lập có ý nghĩa quan trọng. Tính đến năm học 2017 - 2018, trường mầm non ngoài công lập tăng lên 71 trường (tăng 36 trường so với năm học 2012 - 2013 có 53 trường); số học sinh mầm non là 16.818/107.124 học sinh mầm non toàn thành phố (chiếm 15,7%). Đặc biệt, các trường mầm non tư thục tăng lên chủ yếu nằm trên địa bàn các quận, huyện có khu, cụm công nghiệp, nơi có đông lao động nhất là lao động nữ. Chính điều này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tìm kiếm việc làm, yên tâm làm việc mặt khác góp phần vào việc giải phóng phụ nữ. Đối với giáo dục phổ thông ngoài công lập, năm học 2012-2013 có 16 trường với 11.155/60.346 học sinh phổ thông toàn thành phố (chiếm 18,5%) đến năm học 2017 - 2018 có 20 trường với 10.526 /53.412 học sinh phổ thông toàn toàn thành phố (chiếm 19,7%). Tuy số học sinh có giảm xuống (do thực hiện chính sách dân số, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, dẫn đến số học sinh giảm xuống) nhưng số trường học và tỷ lệ học sinh phổ thông ngoài công lập tăng lên. Bên cạnh sự phát triển các trường phổ thông ngoài công lập mang tính phổ cập, giáo dục đại trà đã xuất hiện những trường tư thục liên cập, đạt chuẩn quốc tế về chương trình đào tạo cũng như cơ sở vật chất như: trường Quốc tế QSI, trường Quốc tế Gateway hay trường chất lượng cao Vinschool… Đối với Giáo dục Đại học, đến năm 2018, trên địa bàn thành phố có 4 trường Đại học trong đó có 1 trường tư thục - Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng (chuyển đổi từ Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) được thành lập khá sớm ở thành phố (vào năm 1997). Trong quá trình hoạt động, trường đã có những đóng góp quan trọng đối với công tác giáo dục và đào tạo cho thành phố. Tính đến năm 2019, trường đã đào tạo hơn 20.000 cử nhân, kỹ sư và thạc sỹ, là một trong 25 trường đại học Việt Nam có tỷ lệ sinh viên tốt
  10. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - VÇN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 511 nghiệp có việc làm sau 1 năm đạt 93,46% theo khảo sát của dự án Mekong, 84,5% theo khảo sát của nhà trường vào cuối năm 2016. [7] 2. Những tồn tại và hạn chế. Bên cạnh những đóng góp tích cực, trong công tác đảm bảo an sinh xã hội của thành phần kinh tế tư nhân ở Hải Phòng vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Điều đó được thể hiện trên một số mặt: Kinh tế tư nhân Hải Phòng chưa thực hiện tốt chế độ BHXH cho người lao động. Số người tham gia bảo hiểm còn thấp, đến năm 2015 mới chỉ có khoảng 24,41% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội [14], tình trạng nợ đọng, trốn đóng bảo hiểm xã hội còn diễn ra ở nhiều doanh nghiệp. Bảng 8: Tỷ lệ đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tại thành phố Hải Phòng từ năm 2012 đến năm 2016 Đơn vị 2012 2013 2014 2015 2016 Số đơn vị bắt buộc tham gia 13.747 14.529 15.018 15.729 16.542 BHXH Số đơn vị tham gia BHXH 4.262 4.579 5.006 5.563 6.214 bắt buộc Tỷ lệ đơn vị tham gia BHXH 31.,0% 31,38% 33,33% 35,37% 37,56% bắt buộc (Nguồn: [6] Tuy số lượng và tỷ lệ đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tăng từ 31% năm 2012 lên 37,56% năm 2016 nhưng vẫn còn hơn 60% vị chưa tham gia BHXH cho người lao động. Trình trạng nợ BHXH cũng diễn ra hết sức phổ biến, tính đến năm 2018 có 361 đơn vị, doanh nghiệp thường xuyên nợ BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, Bệnh nghề nghiệp kéo dài từ 3 tháng trở lên với số tiền 295,334 tỷ đồng [1], tập trung chủ yếu ở các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn... Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động, hạn chế đến công tác đảm bảo an sinh xã hội của thành phố. Trên lĩnh vực đào tạo nghề, nhìn chung các cơ sở dạy nghề ngoài công lập tuy nhiều, nhưng quy mô nhỏ, chủ yếu dạy các nghề ít phải đầu tư trang thiết bị, chi phí thấp, thiếu giáo viên nên chất lượng dạy nghề chưa cao, tuyển sinh nghề còn khó khăn. Trong việc đảm bảo các dịch vụ công vẫn còn nhiều bất cập. Các doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức tập trung đầu tư vào loại hình dịch vụ chính là giáo dục và y tế, trong khi đó vấn đề nhà ở cho người lao động, người thu nhập thấp vẫn còn ít dự án trong khi nhu cầu ngày càng tăng cao. Về dịch vụ y tế, một số bệnh viện tư mới thành lập, song cũng có một số bệnh viện giải thể hoặc chuyển thành phòng khám (Bệnh viện Hồng Phúc chuyển thành
  11. 512 KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - THỰC TRÄNG VÀ GIÂI PHÁP Phòng khám đa khoa, Bệnh viện Văn Cao giải thể). Số giường bệnh kế hoạch đăng ký của các bệnh viện tư nhân còn rất khiêm tốn. Tỷ lệ gường bệnh ngoài công lập trên tổng số giường bệnh đạt thấp. Các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân có yếu tố nước ngoài hoạt động không phép vẫn còn tồn tại. Về lĩnh vực giáo dục, giáo dục mầm non còn nhiều nhóm trẻ gia đình và các lớp mẫu giáo tư thục nhỏ, lẻ, tự phát, chất lượng chăm sóc, nuôi dạy không bảo đảm các yêu cầu tối thiểu, nguy cơ lớn về an toàn chất lượng, điều kiện chăm sóc trẻ không đảm bảo, thậm chí một số nơi gây ra tình trạng bạo hành đối với trẻ em. III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Sau gần 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế Hải Phòng có nhiều chuyển biến tích cực, trong đó kinh tế tư nhân có sự phát triển vượt bậc, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế và đóng góp tích cực vào quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sống cho người dân. Trong thời gian tới, để kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển, tham gia có hiệu quả hơn vào công tác đảm bảo an sinh xã hội, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau. Thứ nhất, tiếp tục cải thiện, tạo lập môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh có sức hấp dẫn, cạnh tranh cao tạo điều kiện, thúc đẩy các thành phần kinh tế nói chung, kinh tế tư nhân nói riêng phát triển. Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của an sinh xã hội; xây dựng ý thức tự giác của các doanh nghiệp tư nhân đối với vấn đề xã hội. Đặc biệt, nhấn mạnh đến trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp. Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về an sinh xã hội của các doanh nghiệp và kiên quyết sử lý các trường hợp vi phạm. Thứ tư, có cơ chế, chính sách riêng để khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào một số lĩnh vực của an sinh xã hội còn nhiều khó khăn như giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho người khuyết tật, trợ giúp xã hội, nhà ở xã hội…/. TÀI LIỆU THAM KHÂO 1. Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng (2018), Danh sách các đơn vị doanh nghiệp nợ BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, Bệnh nghề nghiệp kéo dài từ 3 tháng trở lên, truy cập 25/7/2018, từ https://bhxhhaiphong.vn 2. Cục thống kê thành phố Hải Phòng (2018), Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2017, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội 4. Ngô Quang Dũng (2015), “Hải Phòng đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi”, truy cập 17/7/2015, từ https://www.nhandan.com.vn. 5. Đoàn Minh Huệ (2019), Hải Phòng đã, đang trở thành điểm đến của nhiều nhà đầu tư, truy cập 25/01/2019, từ http://www.dangcongsan.vn
  12. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÅN Ở HÂI PHÒNG - VÇN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 513 6. Phan Thị Thanh Hương (2017), “Hoàn thiện quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Dân lập Hải Phòng 7. Hải Phong (2019), Trường Đại học dân lập Hải Phòng có tên gọi mới, truy cập 31/5/2019, từ https://laodong.vn 8. Nguyễn Mai Phương (2017), Nguồn lao động và sử dụng lao động ở thành phố Hải Phòng, Luận án Tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội 9. Thành ủy Hải Phòng, Báo cáo tình hình, kết quả 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011; thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, công tác xây dưng, chỉnh đốn Đảng của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng và Đại hội XV Đảng bộ thành phố. 10. Thành ủy Hải Phòng, Ban cán sự Đảng UBND thành phố: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy (Khóa XIII) về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới 11. Minh Tuấn (2018), Khai trương Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Hải Phòng, truy cập 09/7/2018, từ https://vietnamnet.vn 12. UBNDTP.Hải Phòng (2015), Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình triển khai và kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015. 13. UBNDTP.Hải Phòng: Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp thành phố Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 14. UBNDTP.Hải Phòng, Chỉ thị số 06/CT-UBND Về việc tăng cường thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, ngày 05/6/2015
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2