intTypePromotion=1
ADSENSE

Kỷ yếu hội thảo khoa học và đào tạo năm học 2011-2012 (Khoa học cơ bản)

Chia sẻ: Trần Dự Trữ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:77

97
lượt xem
11
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kỷ yếu hội thảo khoa học và đào tạo năm học 2011-2012 (Khoa học cơ bản) ghi nhận những thành tích chính của giảng viên trong khoa về các lĩnh vực giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, gồm có: Báo cáo tổng kết hoạt động Khoa học, Đào tạo của khoa trong năm học 2011 - 2012 và phương hướng hoạt động giai đoạn 2011 - 2015, 2 báo cáo tham luận về công tác nghiên cứu khoa học và 9 báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu khoa học. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung tài liệu để nắm bắt nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kỷ yếu hội thảo khoa học và đào tạo năm học 2011-2012 (Khoa học cơ bản)

  1. BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO NĂM HỌC 2011-2012 KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN Tp. Hồ Chí Minh, 25/12/2011
  2. MỞ ĐẦU Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh đào tạo đa ngành/nghề, đa cấp từ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng đến đại học và trong tương lai gần sẽ đào tạo sau đại học, là trường đại học duy nhất ở Việt Nam đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực công nghệ thực phẩm, là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và triển khai tiến bộ khoa học – kỹ thuật có uy tín và chất lượng cao. Khoa Khoa học cơ bản là một trong 13 khoa/trung tâm đào tạo của trường, có chức năng – nhiệm vụ quản lý và tổ chức giảng dạy các môn học/học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương, tổ chức các hoạt động khoa học - công nghệ đối với giảng viên trong khoa. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học – Đào tạo năm học 2011–2012 của khoa Khoa học cơ bản ghi nhận những thành tích chính của giảng viên trong khoa về các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, gồm có: Báo cáo tổng kết hoạt động Khoa học – Đào tạo của khoa trong năm học 2011–2012 và phương hướng hoạt động giai đoạn 2011–2015, 2 báo cáo tham luận về công tác nghiên cứu khoa học và 9 báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu khoa học. Kỷ yếu là tài liệu cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho các bạn đồng nghiệp. Chúng tôi chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và các đơn vị liên quan trong trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho Hội thảo Khoa học – Đào tạo năm học 2011–2012 của khoa Khoa học cơ bản thành công tốt đẹp và sự ra đời của Kỷ yếu này. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến nhận xét của bạn đọc đối với Kỷ yếu này. BAN CHƯƠNG TRÌNH
  3. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................................1 MỤC LỤC......................................................................................................................2 PHẦN 1. BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC – ĐÀO TẠO VÀ CÁC THAM LUẬN ......................................................................................................3 1. Nguyễn Văn Kính, BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC – ĐÀO TẠO NĂM HỌC 2011-2012, PHƯƠNG HƯƠNG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC – ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN 2011-2015................................................................................................................................. 4 2. Hoàng Văn Huệ, NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – MỘT SỐ SUY NGẪM.............................7 3. Hoàng Văn Huệ, MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG SINH VIÊN ........................................................................................................................................11 PHẦN 2. BÁO CÁO CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC....................14 1. Nguyễn Văn Kính, VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH LAVRENTIEV GIẢI GẦN ĐÚNG MỘT LỚP PHƯƠNG TRÌNH PHI TUYẾN ĐẶT KHÔNG CHỈNH .......................................15 2. Nguyễn Thành Long, Lê Thị Phương Ngọc, XẤP XỈ TUYẾN TÍNH VÀ KHAI TRIỂN TIỆM CẬN CỦA NGHIỆM THEO NHIỀU THAM SỐ BÉ CHO MỘT PHƯƠNG TRÌNH SÓNG KIRCHHOFF PHI TUYẾN VỚI ĐIỀU KIỆN BIÊN HỖN HỢP KHÔNG THUẦN NHẤT .......................................................................................................................................21 3. Nguyễn Văn Ý, VỀ MỘT PHƯƠNG TRÌNH NHIỆT PHI TUYẾN LIÊN KẾT VỚI ĐIỀU KIỆN BIÊN DIRICHLET – ROBIN.........................................................................................29 4. Đinh Vinh Hiển, ỨNG DỤNG VI PHÂN NGẪU NHIÊN ĐỊNH GIÁ QUYỀN CHỌN NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM.........................................................................................................33 5. Nguyễn Quốc Tiến, CÁC LIE IDEAL TRONG VÀNH CHIA ............................................43 6. Đào Thị Trang, MỘT SỐ TÍNH CHẤT CỦA VÀNH NỬA NGUYÊN TỐ .........................50 7. Lê Hữu Kỳ Sơn, PHƯƠNG TRÌNH SÓNG PHI TUYẾN VỚI ĐIỀU KIỆN BIÊN PHI TUYẾN.....................................................................................................................................57 8. Dương Hoàng Kiệt, Lê Thị Thùy Trang, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN HỌC PHẦN TOÁN CAO CẤP A1 CHO CÁC HỆ ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG CHÍNH QUI ........................................................................................63 9. Trang Huỳnh Đăng Khoa, HƯỚNG ĐI MỚI TRONG CÔNG NGHỆ LÊN MEN: ỨNG DỤNG LASER CÔNG SUẤT THẤP TRONG QUÁ TRÌNH LÊN MEN..................................71 2  
  4. PHẦN 1 BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC – ĐÀO TẠO VÀ CÁC THAM LUẬN 3
  5. Hội thảo Khoa học và Đào tạo năm học 2011-2012, Khoa Khoa học Cơ bản, Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, 25/12/2011, trang 4-6. BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC – ĐÀO TẠO NĂM 2011-2012 PHƯƠNG HƯƠNG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC – ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN 2011-2015 Nguyễn Văn Kính Khoa Khoa học cơ bản Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh 140 Lê Trọng Tấn, Q. Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh Email: nvkinh@cntp.edu.vn I. Tổng kết hoạt động khoa học-đào tạo năm học 2011-2012 1. Đặc điểm tình hình Năm học 2011-2012, khoa Khoa học cơ bản có 19 giảng viên, chia thành 2 bộ môn: bộ môn Toán gồm 12 giảng viên (1 phó giáo sư, 2 tiến sĩ, 6 thạc sĩ, 2 đang học cao học và 1 cử nhân), bộ môn Vật lý gồm 7 giảng viên (1 tiến sĩ, 5 đang học cao học và 1 cử nhân). Thuận lợi: Khoa có Kế hoạch hoạt động khoa học công nghệ năm học 2011-2012, đội ngũ giảng viên của khoa có tiềm lực nghiên cứu khoa học. Khó khăn: Chưa có kinh phí hoạt động khoa học công nghệ, chưa đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) các cấp tại trường; khối lượng giảng dạy của giảng viên nhiều nên có ít thời gian dành cho NCKH, Khoa chưa có ngành đào tạo. 2. Nội dung hoạt động khoa học - đào tạo năm học 2011-2012 a) Về nghiệp vụ chuyên môn - Hướng dẫn đề tài NCKH của sinh viên: Hướng dẫn sinh viên làm tiểu luận, chưa hướng dẫn sinh viên làm các đề tài NCKH tham gia dự thi các cấp cao hơn. - Hướng dẫn trên 10 luận văn thạc sĩ và 2 NCS tại các cơ sở đào tạo khác. - Tổ chức thi Olympic cấp trường năm 2011 các môn Toán và Vật lý. - Bồi dưỡng sinh viên dự thi Olympic toàn quốc năm 2012 các môn Toán và Vật lý. - Tổ chức dự giờ tất cả các thầy, cô giáo trong khoa trong học kỳ 1 và tham gia Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường trong học kỳ 2. Tất cả các thầy, cô giáo trong khoa đều đăng ký thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy. 4   
  6. - Bồi dưỡng 2 giảng viên tập sự. b) Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ - Đề tài cấp trường: Không có. - Đề tài, dự án cấp Bộ, Tỉnh, Thành và tương đương: Không có. - Đề tài, dự án cấp Nhà nước: Chủ trì 1 đề tài NAFOSTED (đăng ký ở cơ sở đào tạo khác). - Chuyển giao công nghệ, ứng dụng KHCN: Không có. - Tham gia Hội đồng nghiệm thu, đánh giá hoạt động KHCN các cấp. - Tham gia Hội đồng nghiệm thu, đánh giá các hoạt động khoa học công nghệ. c) Nhiệm vụ khoa học công nghệ trong giáo dục và đào tạo - Biên soạn các giáo trình: Toán cao cấp A1-C1, Toán cao cấp A2-C2, Toán cao cấp A3- C3, Vật lý đại cương 1, Vật lý đại cương 2, Bài tập Vật lý đại cương, Logic học và Phương pháp nghiên cứu khoa học. - Bổ sung, cập nhật ngân hàng đề thi trắc nghiệm khách quan của các học phần Toán cao cấp A1, A2, A3, C1, C2, C3, Xác suất thống kê, Phương pháp tính, Vật lý đại cương 1, 2 với số lượng trên 500 câu/học phần. - Chủ trì xây dựng chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ chuyên ngành “Cơ sở toán học cho tin học” - Xây dựng tất cả các đề cương học phần do khoa quản lý. - Chế tạo một số mô hình học cụ, đồ dùng dạy học (bộ môn Vật lý). - 2 bài báo đăng trên tập chí chuyên ngành ở ngoài nước. - Trên 10 bài báo đăng trên các tập san, kỷ yếu. - Tham gia các hội thảo, hội nghị quốc tế. - Tham gia các hội thảo, hội nghị trong nước. - Tổ chức sinh hoạt chuyên môn giảng dạy/khoa học 2 tuần 1 lần. 3. Đánh giá tình hình thực hiện hoạt động khoa học – đào tạo năm học 2011-2012 Các hoạt động khoa học – đào tạo năm học 2011 – 2012 của khoa bước đầu có chuyển biến tích cực về nội dung, đảm bảo khối lượng giờ hoạt động khoa học công nghệ cho từng giảng viên theo Quy chế hoạt động khoa học công nghệ của trường. II. Phương hướng hoạt động khoa học –đào tạo giai đoạn 2011-2015 1. Về nghiệp vụ chuyên môn - Hướng dẫn sinh viên NCKH: 5 đề tài/năm. 5   
  7. - Hướng dẫn luận văn thạc sĩ: 5 học viên/năm. - Hướng dẫn nghiên cứu sinh: 2 NCS. - Hàng năm đều tổ chức thi Olympic cấp trường các môn Toán và Vật lý và bồi dưỡng sinh viên dự thi Olympic toàn quốc năm 2012 các môn Toán và Vật lý. - Hàng năm đều tổ chức dự giờ tất cả các thầy, cô giáo trong khoa ở học kỳ 1 và tham gia Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường ở học kỳ 2; tổ chức cho các thầy, cô giáo trong khoa cải tiến phương pháp giảng dạy; tổ chức bồi dưỡng giảng viên tập sự. - Tạo điều kiện thuận lợi để thầy, cô giáo trong khoa học cao học, NCS. 2. Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ - Đảm bảo 100% giảng viên tham gia NCKH thuộc các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng. - Đăng ký 2 đề tài NCKH các cấp/năm. - Mỗi năm có 5 bài báo đăng trên các tập san, kỷ yếu, tạp chí khoa học chuyên ngành trong hoặc ngoài nước. 3. Nhiệm vụ khoa học công nghệ trong giáo dục và đào tạo - Biên soạn tất cả các giáo trình của các học phần do khoa quản lý ở trình độ cao đẳng, đại học. - Hàng năm đều thực hiện cải tiến phương pháp giảng dạy, phấn đấu đến năm học 2012- 2013 tất cả các học phần do khoa quản lý đều có bài giảng điện tử. - Đăng cai tổ chức thi Olympic Toán học sinh viên toàn quốc năm 2013. - Đăng cai tổ chức một số hội nghị, hội thảo chuyên ngành cấp quốc gia. - Tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên tham gia các hội nghị, hội thảo trong nước, quốc tế. Phấn đấu đến năm 2015, khoa có 40% giảng viên đạt trình độ tiến sĩ và 60% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ. 6   
  8. Hội thảo Khoa học và Đào tạo năm học 2011-2012, Khoa Khoa học Cơ bản, Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, 25/12/2011, trang 7-10. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – MỘT SỐ SUY NGẪM Hoàng Văn Huệ Khoa Khoa học cơ bản Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. Hồ Chí Minh E-mail: huehv@cntp.edu.vn Để xây dựng một xã hội tri thức – trách nhiệm thuộc về những nhà đào tạo tri thức. Việc chuẩn bị cho quá trình đào tạo gồm nhiều thành phần, song thành phần quan trọng nhất hiện nay và trong tương lai phát triển phải kể đến tri thức với hai quá trình song hành và bổ sung cho nhau: Quá trình tích luỹ tri thức và quá trình phát triển tri thức. Nếu quá trình học tập là quá trình tích luỹ tri thức thì nghiên cứu khoa học, tìm lời giải cho các bài toán khoa học và thực tiễn là quá trình phát triển các tri thức mới. Vì vậy học tập và nghiên cứu khoa học là hai quá trình song hành không thể thiếu được đối với các nhà khoa học đặc biệt là các cán bộ trẻ hiện nay. Một điều rất đáng chú ý là các giảng viên trẻ hiện nay rất ham học hỏi và cũng rất nhiệt huyết, thể hiện qua số lượng các công trình nghiên cứu khoa học tăng lên hàng năm, tuy nhiên chất lượng thực tế lại không nhiều. Phần lớn các công trình nghiên cứu không thể công bố trong các hội nghị khoa học hay trên các tạp chí khoa học uy tín quốc tế - đây là một tiêu chí đánh giá chất lượng hết sức quan trọng của cộng đồng khoa học thế giới. Có rất nhiều nguyên nhân, song theo tôi có một số nguyên nhân cơ bản sau: Nguyên nhân chủ quan: a/ Chúng ta chưa có một định hướng nghiên cứu cụ thể, vì vậy các cán bộ nghiên cứu thường không biết bắt đầu từ đâu nên lúng túng trong việc nghiên cứu, chưa biết kế thừa và tiếp cận các kết quả nghiên cứu của cộng đồng khoa học. 7
  9. b/ Đa số các cán bộ trẻ chưa được trang bị tốt về phương pháp nghiên cứu khoa học một cách đầy đủ và chưa tích luỹ đủ các kiến thức và lý luận căn bản của ngành khoa học mà mình nghiên cứu, chưa biết phạm vi và những vấn đề nghiên cứu chính mà ngành và thực tiễn đang đặt ra cho nhà nghiên cứu. c/ Hạn chế về ngoại ngữ Nguyên nhân khách quan: Tuy nhiên hiện nay không tiếp cận được các công trình nghiên cứu trên thế giới là rào cản khách quan chính. Đa số chúng ta chưa cập nhật các kết quả nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực ngành cũng như liên ngành. Thực tế cho thấy để có các công trình nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc cần phải có sự đầu tư nghiêm túc cho tài liệu, hệ thống thông tin, và các trang thiết bị nghiên cứu. Ngoài ra cần tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu trẻ tham dự hội thảo khoa học quốc tế - một kênh giao lưu quan trọng để thiết lập mối quan hệ nghiên cứu trao đổi khoa học. Hiện nay có một số người cho rằng chỉ cần nghiên cứu thực tiễn mà không cần lý thuyết? Tuy nhiên thực tiễn phản ánh điều gì nếu không có một cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu khoa học vững vàng. Phải hiểu rằng để giải quyết những bài toán thực tiễn không chỉ đơn thuần vận dụng một lý thuyết mà thường phải vận dụng một tập hợp các lý thuyết. Trên thế giới các nhà nghiên cứu đều bắt đầu công việc nghiên cứu từ nghiên cứu lý thuyết rồi từ những vấn đề rút ra ở nghiên cứu lý thuyết sẽ đi vào nghiên cứu thực tiễn. Đây chính là vấn đề kế thừa các kết quả nghiên cứu trước và tìm ra điểm yếu hay những vấn đề còn tồn đọng để làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo. Một nguyên nhân nữa là đội ngũ giảng viên chúng ta còn yếu, cơ sở vật chất còn nghèo nàn và công tác quản lý khoa học chưa hiệu quả. Thực tế có khoảng 50% giảng viên đại học chưa tham gia nghiên cứu khoa học, trong khi đội ngũ cán bộ nghiên cứu còn thiếu khả năng giải quyết các vấn đề của thực tiễn. Trang thiết bị của nhiều chuyên ngành khoa học có công nghệ còn lạc hậu, đa số mới chỉ dừng lại ở các thiết bị phục vụ thực tập môn học. Các chuyên ngành còn thiếu sự liên kết, nhiều công trình khoa học chưa gắn bó chặt chẽ với đào tạo, nhất là đào tạo sau đại học. Thời 8
  10. gian lên lớp quá nhiều khiến giảng viên khó có thể tham gia nghiên cứu khoa học và các hoạt động bồi dưỡng khác. Vì vậy để đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học ở các chuyên ngành cần phải đề xuất nhiều giải pháp liên quan đến việc phát huy tiềm lực khoa học công nghệ ở từng chuyên ngành, tăng cường trao đổi học thuật ở mức liên ngành, đổi mới công tác quản lý hoạt động và đổi mới các định hướng nghiên cứu. Trong nghiên cứu khoa học, thì nghiên cứu ứng dụng hay nghiên cứu lý thuyết cơ bản đều được đề cao. Tuy nhiên nếu những người chuyên nghiên cứu lý thuyết kết hợp được với nghiên cứu ứng dụng thì có tính thực tế hơn. Triển khai nghiên cứu ứng dụng là mục tiêu của các công trình nghiên cứu khoa học hiện nay. Bên cạnh đó, mối liên hệ giữa các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp cần phải được gắn kết chặt chẽ. Không chỉ có doanh nghiệp tìm đến nhà khoa học mà nhà khoa học phải chủ động tìm đến doanh nghiệp để tìm những sản phẩm nghiên cứu cho mình. Riêng về phía nhà trường, muốn các công trình nghiên cứu có hiệu quả ứng dụng, trước hết cần phải nhân rộng hơn phong trào nghiên cứu khoa học theo chiều sâu, làm sao để số lượng đề tài có chất lượng ngày càng nhiều. Muốn vậy nhà trường vừa phải tạo động cơ, vừa bắt buộc giảng viên phải nghiên cứu khoa học. Vừa phải có cơ chế khuyến khích, vừa phải có biện pháp bắt buộc cụ thể đối với người không nghiên cứu. Những người làm nghiên cứu khoa học phải biết dấn thân vì mục tiêu khám phá, truyền bá và phổ biến sự thật. Một công trình nghiên cứu khoa học chỉ hoàn tất khi kết quả nghiên cứu được công bố trên các tập san khoa học có đồng nghiệp bình duyệt và phản biện nghiêm túc. Ở đây tôi muốn nói tới tính minh bạch của nghiên cứu khoa học vì nó chẳng những là một yêu cầu khoa học mà còn là một khía cạnh để phân biệt khoa học với phi khoa học. Khoa học, nhà khoa học, nghiên cứu, trí thức… không phải là những phù hiệu mà ai muốn mang vào ngực thì mang, mà phải là những việc làm thực tiễn, những sáng kiến hay những sáng kiến mới. Muốn có sáng kiến mới và làm nghiên cứu thực tiễn, nhà khoa học phải làm việc một cách gian khổ, bất vụ lợi, có khi rất lâu dài. Có 9
  11. thể ví nhà khoa học như là một cái đỉnh chót vót của sự chính trực, công bằng và hợp lý. Những cái đỉnh này nó trơn và dễ bị trượt, người ta cần phải có sự cố gắng tột bực mới đến gần hay đứng trên đó được và càng phải cố gắng hơn để ở được cái vị trí đó. 10
  12. Hội thảo Khoa học và Đào tạo năm học 2011-2012, Khoa Khoa học Cơ bản, Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, 25/12/2011, trang 11-13. MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG SINH VIÊN Hoàng Văn Huệ Khoa Khoa học cơ bản Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. Hồ Chí Minh E-mail: huehv@cntp.edu.vn Chất lượng và số lượng các nghiên cứu khoa học trong sinh viên gần đây đã trở thành chủ đề được đề cập nhiều trên nhiều diễn đàn công luận. Tuy nhiên, số lượng đề tài ngày càng tăng nhưng khả năng ứng dụng của các đề tài còn hạn chế. Nói chung, có thể tìm thấy rất nhiều các ý kiến tranh luận với các câu hỏi khác nhau Điểm khởi đầu của các tranh luận là thống nhất các khái niệm cơ bản. Do vậy, để đánh giá tình hình “nghiên cứu khoa học trong sinh viên” chúng ta cần bắt đầu xem xét từ các khái niệm căn bản: Thế nào là nghiên cứu khoa học nói chung? Nghiên cứu khoa học trong sinh viên có gì khác biệt? Mục tiêu chính của hoạt động này trong sinh viên là gì? Trả lời thống nhất được các câu hỏi này chúng ta sẽ có cái nhìn cụ thể hơn về vấn đề đang đề cập. Mục tiêu chính của nghiên cứu khoa học trong sinh viên là trang bị cho sinh viên các kiến thức, kĩ năng nghiên cứu khoa học độc lập để hỗ trợ cho hoạt động học tập và chuẩn bị cho các dự án thật sau khi tốt nghiệp. Do vậy, khi tiếp cận nghiên cứu khoa học trong sinh viên mục tiêu nên đặt nhiều trọng số vào hoạt động nghiên cứu hay quá trình tiến hành nghiên cứu (phát hiện vấn đề, xây dựng đề cương, tổ chức thực hiện, phương pháp thực hiện, phương pháp tìm kiếm tài liệu, thu thập thông tin, các phương pháp thí nghiệm, quan sát, phân tích số liệu, thử nghiệm kết quả, viết báo cáo, trình bày báo cao..) chứ không nên đặt nặng vào kết quả nghiên cứu/sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu. Chính vì vậy khi đánh giá tình hình nghiên cứu khoa học 11
  13. trong sinh viên, cái chúng ta cần đánh giá đầu tiên chính là chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học hay khả năng nghiên cứu của sinh viên nói chung trong việc hình thành các ý tưởng và triển khai (một phần hay toàn bộ) quá trình nghiên cứu một cách khoa học từ ngay trong hoạt động đào tạo hàng ngày. Từ cách tiếp cận này, hiện trạng nghiên cứu khoa học của sinh viên không thể được đánh đồng với số lượng hoặc chất lượng các đề tài nghiên cứu các cấp. Để đánh giá một cách cơ bản và toàn diện, chúng ta cần đánh giá ngay từ trong hoạt động đào tạo và phương pháp đào tạo của từng chương trình đào tạo, từng môn học. Chương trình đào tạo có được cấu tạo hợp lý để hỗ trợ phát triển kĩ năng và kiến thức nghiên cứu cho sinh viên hay không? Sinh viên có được khuyến khích, dành thời gian và điều kiện để tiếp cận các nguồn thông tin nghiên cứu mới hay không? Chất lượng thư viện, internet, phòng thí nghiệm thế nào? Trong từng môn học sinh viên có được hướng dẫn và yêu cầu thực hiện các đồ án môn học mang tính nghiên cứu hay không? Quan hệ nghiên cứu giữa giảng viên và sinh viên thế nào? Rõ ràng là nếu được cấu trúc tốt, nghiên cứu khoa học trong sinh viên không có gì xa vời, nó nằm ngay trong hoạt động đào tạo của ngành. Nó bắt đầu từ việc nhỏ như sinh viên tự tìm đọc tài liệu, tham khảo các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học, trao đổi với nhau (và với giảng viên) ở các diễn đàn chính thức và không chính thức đến việc thực hiện các đồ án môn học, luận văn tốt nghiệp hay cao hơn là các đề tài nghiên cứu độc lập. Thực tiễn cho thấy sinh viên học được rất nhiều từ việc thực hiện các đồ án môn học như sử dụng thư viện, internet, tìm, đọc và tổng kết các tài liệu, xác định các vấn đề, phương pháp thực hiện, làm việc nhóm, trình bày và bảo vệ…. Một đồ án môn học hay một luận văn tốt nghiệp có thể chưa hoàn thiện về mặt giải pháp những thể hiện được sự đầu tư lớn của sinh viên vào việc tìm tòi, vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học thì cũng đã có thể xem là đạt được mục tiêu đề ra. Vì cái lẽ quan trọng nhất của bậc học này là việc sinh viên độc lập vận dụng và thực hiện hoàn chỉnh một quy trình nghiên cứu khoa học, thấy được những trở ngại, những khó khăn và xử lý các khó khăn đó. Tất nhiên trong điều kiện còn nhiều hạn chế của nhà trường hiện nay, nghiên cứu khoa học trong sinh viên chủ yếu dừng lại ở 12
  14. mức đồ án các môn học song cũng đã có rất nhiều những khó khăn như thiếu tài liệu, khả năng ngoại ngữ của sinh viên, năng lực hướng dẫn nghiên cứu của giảng viên, trang thiết bị nghiên cứu… Tuy nhiên trở ngại lớn nhất thường thấy là ở chỗ sinh viên hiện nay chưa được trang bị tốt về phương pháp nghiên cứu nên hầu hết đều loay hoay không biết bắt đầu từ đâu, làm gì và làm như thế nào, kết quả đạt được ra sao?... Hơn nữa, chương trình học hiện nay khá nặng với rất nhiều môn học nhưng lại rất hiếm các môn học về phương pháp nghiên cứu chuyên ngành – một kĩ năng quan trọng của những người lao động tri thức. Có lẽ cần thêm vào các môn học hoặc chuyên đề (bắt buộc hoặc tự chọn) về phương pháp nghiên cứu chuyên ngành để không chỉ nâng cao năng lực nghiên cứu của sinh viên mà còn hỗ trợ tốt cho việc tiếp thu các môn học khác. Một phương pháp nhằm đẩy mạnh giao lưu nghiên cứu trong nội bộ trường và giữa các chuyên ngành là các hội thảo chuyên môn mini được tổ chức hàng tuần hay hàng tháng mở rộng cho mọi thành phần (giảng viên, sinh viên, những người quan tâm…) – với nội dung là việc báo cáo các hướng nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, dự án nghiên cứu, hay trao đổi, bình luận các bài báo khoa học với báo cáo viên có thể là bất cứ ai. Các hội thảo này đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành các môi trưòng nghiên cứu, trao đổi chuyên môn. Nó cũng là cơ hội cho sinh viên tích luỹ kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu từ những người đi trước, cũng như tham gia các dự án nghiên cứu do các giảng viên thực hiện. Cuối cùng, nói như trên không có nghĩa là chúng ta coi nhẹ việc đánh giá các kết quả tìm được trong nghiên cứu khoa học của sinh viên. Một số sinh viên xuất sắc vẫn có thể thực hiện những nghiên cứu hoàn chỉnh với kết quả thực sự có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Đây là nhóm đối tượng tài năng cần có những đầu tư đặc biệt để thăng hoa trên bình diện số đông khi đó nghiên cứu khoa học trong sinh viên sẽ mang lại những hiệu quả xã hội cao hơn. 13
  15. PHẦN 2 BÁO CÁO CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 14
  16. Hội thảo Khoa học và Đào tạo năm học 2011-2012, Khoa Khoa học Cơ bản, Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, 25/12/2011, trang 15-20. VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH LAVRENTIEV GIẢI GẦN ĐÚNG MỘT LỚP PHƯƠNG TRÌNH PHI TUYẾN ĐẶT KHÔNG CHỈNH Nguyễn Văn Kính Khoa Khoa học cơ bản Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. Hồ Chí Minh 140 Lê Trọng Tấn, Q. Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh Email: nvkinh@cntp.edu.vn 1. Mở đầu Như chúng ta đã biết, có rất nhiều bài toán trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, trong toán học dẫn đến cần tìm nghiệm gần đúng của phương trình toán tử loại I F (x ) = y 0 , (1) trong đó F : X → Y là toán tử tác động từ không gian Banach X vào không gian Banach Y , y 0 cho trước thuộc Y và x 0 là nghiệm của (1). Trên thực tế, ta không biết chính xác y0 mà chỉ biết giá trị gần đúng yδ , thỏa mãn yδ − y 0 < δ, 0 < δ → 0. (2) Nói chung, bài toán tìm nghiệm của (1) là đặt không chỉnh (ill-posed) theo nghĩa Hadamard. Do đó, thông thường người ta sử dụng một phương pháp điều chỉnh đặc biệt tìm nghiệm gần đúng của (1) theo dữ kiện gần đúng đã biết yδ được xác định bởi (2). Nếu F là toán tử tuyến tính liên tục, người ta thường sử dụng phương pháp điều chỉnh Tikhonov để tìm nghiệm gần đúng x αδ của (1), là nghiệm cực tiểu của phiếm hàm Tikhonov 15
  17. 2 2 J α,δ (x ) = F (x ) − yδ + α x − x* , trong đó x * là một tiên nghiệm của (1) và α > 0 là tham số điều chỉnh. Đến nay, lý thuyết các bài toán đặt không chỉnh tuyến tính đã đạt được kết quả gần như hoàn chỉnh (xem [1], [2], [3]). Tuy nhiên, phương pháp giải các bài toán phi tuyến đặt không chỉnh còn nhiều vấn đề mở (xem [4], [5]). Báo cáo này, chúng tôi trình bày phương pháp điều chỉnh Lavrentiev tìm nghiệm gần đúng của (1), với F : X → X là toán tử phi tuyến từ không gian Banach thực phản xạ X vào chính nó, với không gian liên hợp X * lồi chặt, F khả vi Fréchet trong một lân cận của điểm x 0 và có tính chất accretive (F (x 2 ) − F (x 1 ),U (x 2 ) −U (x 1 )) ≥ 0, ∀x 1, x 2 ∈ X , (3) trong đó, U : X → X * là ánh xạ đối ngẫu của không gian Banach X và ký hiệu (z, f ) là giá trị của phiếm hàm tuyến tính bị chặn f ∈ X * tại điểm z ∈ X . Nghiệm điều chỉnh của phương trình (1), ứng với dữ kiện gần đúng yδ được xác định bởi (2), theo phương pháp Lavrentiev là nghiệm của phương trình F (x ) + α(x − x * ) = yδ , (4) trong đó 0 < α → 0 là tham số điều chỉnh. Sau đây, chúng tôi trình bày một số kết quả nghiên cứu gần đây (trích [6]). 2. Phương pháp điều chỉnh Lavrentiev với tham số chọn trước nghiệm Định lý 1. [6] Với các giả thiết đã cho ở mục 1, phương trình (4) tồn tại duy δ nhất nghiệm x αδ trong hình cầu Br (x 0 ) tâm x 0 bán kính r = || x * − x 0 || + . α Định lý 2. [6] Với các giả thiết đã cho ở mục 1. Gọi x α là nghiệm duy nhất của phương trình F (x ) + α(x − x * ) = y 0 . Khi đó, ta có δ || x αδ − x α || ≤ (5) α 16
  18. và || x α − x 0 || ≤ || x * − x 0 || . (6) Từ (6) ta thấy x α ∈ Br (x 0 ) là hình cầu tâm x 0 , bán kính r = || x * − x 0 || . Để có đánh giá mạnh hơn (6), ta cần giả thiết thêm về điều kiện nguồn và về toán tử phi tuyến F , cụ thể như sau. Định lý 3. [6] Giả sử các điều kiện sau được thỏa mãn: (a) Tồn tại w ∈ X sao cho x * − x 0 = F ′(x 0 )w ; (b) Đạo hàm Fréchet F ′(⋅) thỏa điều kiện Lipschitz địa phương trong hình cầu Br (x 0 ), với bán kính r = || x * − x 0 ||, tức là tồn tại một hằng số L > 0 sao cho || F ′(x ) − F ′(x 0 ) || ≤ L || x − x 0 ||, ∀x ∈ Br (x 0 ). Khi đó, ta có ⎛ L ⎞ || x α − x 0 || ≤ ⎜⎜|| w || + || w ||2 ⎟⎟⎟ α. ⎜⎝ 2 ⎠⎟ Định lý 4. [6] Giả sử các điều kiện sau được thỏa mãn: (a’) Tồn tại w ∈ X sao cho x * − x 0 = F ′(x 0 )p w, p ∈ (0, 1]; (b’) Tồn tại hằng số k0 ≥ 0 , z ∈ X và k(x , x 0 , z ) ∈ X sao cho [F ′(x ) − F ′(x 0 )](z ) = F ′(x 0 )k(x , x 0 , z ), ∀x ∈ Br (x 0 ), và || k (x , x 0, z ) || ≤ k 0 || z ||, ∀x ∈ Br (x 0 ), trong đó r = || x * − x 0 || . Khi đó, ta có đánh giá || x α − x 0 || ≤ (1 + k0 ) α p . (7) Hệ quả: Từ (5) và (7), với tham số chọn trước α = k (δ / || w ||)1/ p +1 , ta có đánh giá bậc tối ưu || x αδ − x 0 || ≤ c || w ||1/ p +1 δ p / p +1 , 17
  19. với c = c(k ) là hằng số không phụ thuộc vào δ, α, || w || . 3. Phương pháp điều chỉnh Lavrentiev với tham số chọn sau nghiệm Phương pháp điều chỉnh với tham số chọn trước nghiệm (chọn tiên nghiệm), tốc độ hội tụ của nghiệm điều chỉnh đến nghiệm chính xác, nói chung chậm tùy ý. Tuy nhiên, nếu thực hiện chọn tham số sau nghiệm thì có thể cải thiện được tốc độ hội tụ của nghiệm điều chỉnh. Trong mục này, chúng tôi đưa ra một quy chọn tham số α sau nghiệm như sau ρ(α) := || α(F ′(x αδ ) + αI )−1[F (x αδ ) − yδ ] || = C δ, (8) trong đó x αδ là nghiệm của phương trình (4), C > 1 là hằng số. Bổ đề. Với các giả thiết đã ở mục 1. Nếu tiên nghiệm x * thỏa điều kiện || F (x * ) − yδ || > C δ, thì phương trình (8) có nghiệm α = α(δ ), với C −1 α ≥ α0 := δ. || x * − x 0 || Định lý 5. [6] Với các giả thiết đã ở mục 1, (a’) và (b’) với k0 < 1 và δ r = || x * − x 0 || + . Giả sử α = α(δ ) chọn theo quy tắc (8). Khi đó, ta có α 1 p δ p +1 p +1 || x − x 0 || ≤ c p || w || α δ , với hằng số c p không phụ thuộc vào δ và w , được xác định như sau p 1 ⎛C + 1 ⎞⎟p +1 ⎛⎜(1 + k )3 ⎞⎟p +1 c p = 2(1 + k0 )⎜⎜⎜ ⎟⎟ + ⎜⎜ 0 ⎟⎟ . ⎟ ⎝⎜1 − k0 ⎠ ⎜⎝ C − 1 ⎠⎟⎟ Định lý 6. [6] Với các giả thiết đã cho ở mục 1, (a), (b) với δ r = || x * − x 0 || + . Giả sử α = α(δ ) chọn theo quy tắc (8) với α 18
  20. ⎛ L || w || L2 || w ||2 L3 || w ||3 ⎞⎟ ⎜ C > 1 + L || w || ⎜⎜1 + + + ⎟⎟ ⎜⎝ 2 2 8 ⎠⎟ và hằng số Lipschitz L đủ nhỏ sao cho 2 ⎛ L || w || L2 || w ||2 ⎞⎟ ⎜ c0 := 2L || w || ⎜⎜1 + ⎜⎝ + ⎟⎟⎟ < 1. 2 4 ⎠ Khi đó, tồn tại hằng số C 0 không phụ thuộc vào δ sao cho 1 || x αδ − x 0 || ≤ C 0δ 2 . 4. Ví dụ áp dụng Trong mục này, chúng ta nêu một ví dụ để minh họa các giả thiết đã cho ở mục 1 và mục 2. Xét phương trình Volterra loại 1 trong không gian Hilbert thực X = L2 (0,T ) , với T < ∞ t F (x )(t ) = ∫ x (t − τ )x (τ )d τ = y (t ), t ∈ (0,T ). 0 0 Trong L2 (0,T ) ta xét tích vô hướng có trọng e −2σt T ∫e −2 σt 〈x , y 〉σ = x (t )y(t )dt, 0 chuẩn có trọng e −2σt tương ứng với tích vô hướng trên là 1 ⎛T ⎞⎟2 ⎜⎜ −2σt 2 || x ||σ = ⎜ ∫ e x (t )dt ⎟⎟⎟ . ⎜⎝ 0 ⎠⎟ Nhận xét: Chuẩn || ⋅ ||σ và chuẩn thông thường trong L2 (0,T ) là tương đương. Hơn nữa, đối với chuẩn || ⋅ ||σ toán tử F khả vi Fréchet và thỏa mãn các giả thiết cho ở mục 1 và các điều kiện nguồn cho ở mục 2 (xem [7], [8]). 19
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2