Lạm bàn " Chữ Tâm trong thư pháp "
Trong chuyến đi gặp gỡ các nhà thư pháp tại thành phố H Chí Minh,
tôi có may mắn được trao đổi trực tiếp với các nhà thư pháp về nhiều
vấn đề xung quanh việc phát triển thư pháp Việt. Nhà nghiên cứu văn
học, thư pháp Vũ Thụy Đăng Lan đã tặng tôi cuốn sách “Chữ tâm
trong thư pháp” mà chị là tác giả.Tôi đã đọc nó khá kỹ với tâm trạng
thích thú.
Có thể còn nhiu điều tôi chưa hiểu thấu đáo do trình độ tiếp thu có
hạn. Tuy nhiên, khi kết hợp những điều đã đọc được với những vấn đề
trao đổi trong những cuộc giao lưu với các nhà thư pháp trong thành
phố Hồ Chí Minh, tôi đã hiểu sâu sắc hơn nhiều điều.Nhân dịp này, tôi
muốn bày tỏ những suy nghĩ xung quanh chữ “Tâm” trên cơ sở những
gì mà tôi đã “mắt thấy tai nghe” để quí vị tham khảo. Tôi chỉ muốn coi
đây là những ý kiếnnhân sau khi đọc cuốn sách và sau chuyến đi
thực tế trong thành phố Hồ C Minh, tháng tư vừa qua, tuyệt nhiên
không h có ý phê bình tác phẩm.
Chữ Tâm
Tác giả Vũ Thụy Đăng Lan viết “…chữ Tâm luôn được tồn tại trong
thư pháp, tách rời chữ Tâm không còn là thư pháp nữa.” “…Viết thư
pháp nếu bạn có nét chữ đẹp rồng bay phượng múa bạn sẽ chinh phục
được lòng người. Còn việc “giữ được lòng người hay không chính là
cái tâm trong thư pháp.” Tác giả rất có lý nếu như hiểu chữ Tâm ở đây
là “ChínhTâm”, nhưng nếu là “Tà Tâm” thì kết quả sẽ hoàn toàn ngược
lại.Vì vậy khi đọc tác phẩm đó, tôi luôn hiểu rằng chữ Tâm mà tác gi
nói đến luôn là Chính Tâm. Tôi cũng hiểu rằng trong tác phẩm của
mình, tác giả chỉ muốn đề cập đến Chữ Tâm trong thư pháp. Chắc tác
giả cũng như tôi đều hiểu rằng không chỉ trong thư pháp mới cần có
chữ Tâm. Chữ Tâm luôn luôn cần trong bất kỳ hoạt đng nào của con
người, đúng như lời Phật Thích Ca dạy “Nhất thiết duy Tâm tạo”. Ch
có điều chữ Tâm mà Đức Phật nói ở đây bao gồm cả Chính Tâm và Tà
Tâm.Trong phong trào tpháp Việt, không thiếu những dẫn chứng
đáng buồn xung quanh chữ Tâm. Có không ít người luôn lấy chiêu bài
“Chính Tâm” ngụy trang cho cái “Tà Tâm” của mình để hành động,
nhằm đầu cơ trục lợi. Trong thư pháp Việt cũng đã xuất hiện khá nhiều
hiện tượng như vậy. Một trong nhng ví dụ đó là hiện tượng người ta
dng “Thư pháp Truyện Kiều và Tuyên ngôn Độc lập” thành “k lục”
thư pháp. Công phẫn trước những hành động tà tâm trong thư pháp, nhà
thư pháp hosỹ Lê Quốc Việt đã viết một bức thư pháp treo giữa ph
Ông Đồ xuân Canh Dần với dòng chữ “THƯ PHÁP CHÉM GIÓ LỪA
ĐẢO”.
Bất kỳ con người bình thường nào cũng đều có tâm và ý thc được cái
tâm đó. Tuy nhiên, cái Tâm không phải là “vô hướng” mà là “có
hướng”. Cái Tâm xuất phát từ bản thân mình, nhưng hướng vào đâu
mới là điều quan trọng. Một tác phẩm muốn cảm hóa được người
thưởng thức ch khi được thực hiện bởi nhân tâm trong sáng – chính
tâm. Những tác phẩm xuất phát từ tà tâm có thể nhất thời đánh lừa
được công chúng, nhưng sớm muộn công chúng nhận ra. Khi các nhà
thư pháp sử dụng đến tà tâm cũng là khi họ gặp bế tắc trong sáng tác,
tc là h bắt đầu đi vào ngõ ct. Hậu quả của hành động đó sẽ dẫn họ
đến thất bại. Thực tế đã có những người thất bại rồi đó!
Có một điều cần nhấn mạnh thêm: “chữ Tâm” chỉ là điều kiện CẦN mà
chưa ĐỦ quyết định thành công trong sáng tác. Vậyể thành công
trong nghệ thuật, tác giả còn cần gì nữa. Đó là NĂNG LC của tác giả.
Quá nhn mạnh vào chữ Tâm có thể làm cho một số người nghĩ chỉ cần
có tâm sẽ thành công và sinh ra ảo tưởng về khả năng của mình. Có
“Tâm” rồi, để có thể thể hiện cái “Tâm” đó tác giả phải có năng lực. Có
thể có những những người không được đào tạo một cách bài bản nhưng
do có năng khiếu bẩm sinh nên vn thành công. Năng khiếu cũng chỉ là
thuận lợi ban đầu, nếu không học tập và rèn luyện sẽ không thể đáp ứng
được trình độ thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của công chúng,
thậm chí một chút tài năng non nớt có thể dần dần bị thui chột. Như
vậy, chữ Tâm không chỉ cần thiết khi trình hiện, sáng tác, mà nó luôn
luôn cn thiết trong mọi hoạt đông học tập rèn luyện, ứng xử…Không
coi trọng điều đó, người ta dễ bị lạc lối, phạm sai lầm và dẫn đến thất
bại. Đúng như T. Man nói “Thiên tài có thể đặt nền móng, nhưng hoàn
tất công việc phải lao động kiên nhẫn”, hay như Edison khẳng định
“Thiên tài chỉ có một phần linh cảm, còn chính mươi chín phần trăm là
mồ hôi nước mắt”. Daniel Goleman cho rằng: “Người không phải là
thánh, chẳng ai hoàn m. Nhưng phải là người có căn bản. Cái gốc đó
nằm ở tính cách, ở lương tri, và nếu có tài năng thì phải là tài năng có
lương tri, là trí tuệ có tâm hồn”. Có lương tri, có tâm hồn sẽ làm con
người sống và hành động có trách nhiêm hơn với cộng đồng.
Người có Chính Tâm phải là người có trách nhiệm
Ý thức trách nhiệm trong hoạt động thư pháp thhiện muôn màu
muôn vẻ. Để cho xã hội ngày càng tt đẹp, con người luôn phải có ý
thức trách nhiệm trong mọi hành vi của mình. Cái Tâm trong sáng luôn
luôn gắn liền với ý thức trách nhiệm. Không có ý thức trách nhiệm thì
đừng bao giờ nói mình có cáim trong sáng được.
Nhà thư pháp có thiện tâm chắc chắn không bao giờ ctình đưa ra xã
hội những sản phẩm tùy tiện, cẩu thả và phản cảm.( Tôi nhấn mạnh
chữ cố tình bởi vì có thể có những người trình làng nhng sản phẩm
“giả cầy”, phản cảm…không phải do họ có tà tâm mà do “lực bất tòng
tâm”). Đọc đến đây, có thể có người cho rằng “biết rồi ! khổ lắm! nói
mãi!” và có thể “mắng” vào mặt tôi vì làm rác tai thiên hạ. Nhưng nếu
người ta nhìn lại những gì mà một số nhà thư pháp đã trình hiện một
cách phản cảm thì sẽ lượng thứ cho tôi. Hai trong trong số những “vết
nhơ” điển hình của thư pháp Việt, đó là “k lục”thư pháp “Truyện
Kiều” và “Tuyên ngôn Độc lập”. Đó là những vết nhơ về “Lương tâm
và Trách nhiệm” của người cầm bút. (xin xem bài viết “K lục Thư