intTypePromotion=1
ADSENSE

lâm nghiệp cộng đồng ở miền trung việt nam - phần 2

Chia sẻ: Ro Ong Kloi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:105

101
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

phần 2 của trình bày nội dung từ chương 3 đến chương 5 của cuốn sách về việc cộng đồng tham gia bảo vệ rừng sau giao đất giao rừng, phân tích xung đột và chia sẻ lợi ích trong quản lý rừng cộng đồng, đánh giá sự thay đổi tài nguyên rừng giao cho cộng đồng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: lâm nghiệp cộng đồng ở miền trung việt nam - phần 2

Chương 3<br /> PHÂN TÍCH CẤU TRÚC QUẢN LÝ,<br /> MÂU THUẪN VÀ CHIA SẺ LỢI ÍCH<br /> TRONG QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG<br /> <br /> Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên (Co-management of<br /> Natural Resources). Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên là một<br /> cách tiếp cận đa nguyên để quản lý tài nguyên thiên nhiên bằng<br /> cách kết hợp nhiều đối tác với nhiều vai trò, với mục đích cuối<br /> cùng là bảo vệ môi trường, quản lý bền vững tài nguyên thiên<br /> nhiên và phân chia đồng đều những quyền lợi và trách nhiệm<br /> liên quan đến tài nguyên;<br /> <br /> 3.1. Cơ sở lý luận về quản lý rừng dựa vào cộng đồng<br /> <br /> 2) Quản lý tài nguyên bền vững dựa trên Hệ sinh thái<br /> (Ecosystem Management).<br /> <br /> 3.1.1. Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên<br /> <br /> Theo Grumbine (1994) thì “Quản lý hệ sinh thái liên kết các<br /> kiến thức khoa học về mối quan hệ sinh thái trong một khuôn<br /> khổ giá trị kinh tế và xã hội nhằm hướng tới mục tiêu chung là<br /> bảo vệ sự toàn vẹn của hệ sinh thái trong thời gian dài”.<br /> <br /> Rừng tự nhiên là một dạng tài nguyên thiên nhiên, phương<br /> pháp tiếp cận trong quản lý tài nguyên rừng tương tự phương<br /> pháp tiếp cận quản lý tài nguyên thiên nhiên. Quản lý nguồn tài<br /> nguyên thiên nhiên là một khái niệm tương đối rộng và đa lĩnh<br /> vực. Trong lĩnh vực lâm nghiệp thì quản lý tài nguyên thiên<br /> nhiên tập trung vào 3 hợp phần quan trọng là quản lý tài nguyên<br /> rừng, quản lý tài nguyên nước và quản lý tài nguyên đất lâm<br /> nghiệp; trong đó quản lý tài nguyên rừng là một hợp phần quan<br /> trọng, vì đây là nguồn tài nguyên đang bị tác động mạnh.<br /> Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong quản lý nguồn tài<br /> nguyên thiên nhiên, sau đây là một vài cách tiếp cận cơ bản:<br /> 1) Quản lý tài nguyên bền vững dựa vào cộng đồng<br /> Quản lý tài nguyên tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng<br /> đồng (Community based natural resources management). Quản<br /> lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng là chiến lược toàn<br /> diện nhằm xác định những vấn đề mang tính nhiều mặt ảnh<br /> hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường thông qua sự<br /> tham gia tích cực và có ý nghĩa của những cộng đồng địa<br /> phương.<br /> 172<br /> <br /> Hội Sinh thái của Mỹ (1995) hiểu là: “Quản lý hệ sinh thái<br /> là sự quản lý có mục đích rõ ràng, được thực hiện bằng những<br /> chính sách, nghị định, thực tiễn và thích ứng với việc quan trắc,<br /> nghiên cứu dựa trên những hiểu biết về tương tác và quá trình<br /> sinh thái cần thiết để duy trì thành phần, cấu trúc và chức năng<br /> của hệ sinh thái”.<br /> Bộ Quản lý đất đai của Mỹ (1994) quan niệm “Quản lý hệ<br /> sinh thái là sự liên kết các nguyên tắc sinh thái, kinh tế và xã hội<br /> để quản lý các hệ sinh học và vật lý bằng cách bảo vệ tính bền<br /> vững sinh thái dài hạn, đa dạng thiên nhiên, và sản lượng của<br /> cảnh quan”.<br /> Bộ Lâm nghiệp của Mỹ (Thomas, 1996) quan niệm là:<br /> “Quản lý hệ sinh thái là sự liên kết các yếu tố sinh thái, kinh tế<br /> và xã hội để duy trì và nâng cao chất lượng môi trường nhằm<br /> đáp ứng nhu cầu trong hiện tại và tương lai”.<br /> 173<br /> <br /> Hội nghị các bên lần thứ 5 thực hiện Công ước đa dạng sinh<br /> học đã đưa ra định nghĩa sau: “Tiếp cận hệ sinh thái được định<br /> nghĩa như là một chiến lược để quản lý đất, nước và tài nguyên<br /> hữu sinh nhằm thúc đẩy bảo tồn và sử dụng bền vững một cách<br /> hài hòa” (Smith and Maltby, 2003).<br /> Một số nguyên tắc cơ bản trong quản lý rừng dựa trên quản<br /> lý hệ sinh thái do hội nghị Khoa học Quốc tế về phát triển cách<br /> tiếp cận Hệ sinh thái tổ chức tại Cộng hoà Liên bang Đức đưa ra<br /> năm 2002:<br /> <br /> Nguyên tắc 7. Quản lý hệ sinh thái phải xem xét những giá<br /> trị, trở ngại và cơ hội kinh tế thích đáng, bao gồm: Giảm những<br /> tác động thị trường ảnh hưởng có hại lên ĐDSH; Đặt thứ tự cho<br /> những động cơ nhằm khuyến khích bảo tồn và sử dụng bền<br /> vững ĐDSH; Xem xét những chi phí và lợi ích trong mức độ<br /> khả thi.<br /> Nguyên tắc 8. Tiếp cận dựa trên HST phải được thực hiện<br /> trong một quy mô không gian và thời gian phù hợp với mục đích<br /> có tính đến tác động lên các hệ sinh thái lân cận.<br /> <br /> Nguyên tắc 1. Mục đích quản lý đất, nước và tài nguyên hữu<br /> sinh là vấn đề lựa chọn xã hội, bao hàm tất cả các thành phần có<br /> liên quan của xã hội.<br /> <br /> Nguyên tắc 9. Quản lý hệ sinh thái cần đặt mục tiêu dài hạn<br /> khi thừa nhận quy mô thời gian và hiệu ứng chậm thay đổi đặc<br /> trưng cho các quá trình của HST đó.<br /> <br /> Nguyên tắc 2. Cách tiếp cận HST phải tìm kiếm sự hài hòa<br /> thích hợp và sự liên kết giữa bảo tồn và sử dụng bền vững đa<br /> dạng sinh học, cũng như sự chia sẻ công bằng lợi ích.<br /> <br /> Nguyên tắc 10. Quản lý hệ sinh thái nên chấp nhận chiến<br /> lược quản lý mang tính thích nghi khi thừa nhận động lực cố<br /> hữu về sự thay đổi và không rõ ràng của hệ sinh thái.<br /> <br /> Nguyên tắc 3. Quản lý hệ sinh thái phải đảm bảo cung cấp<br /> bền vững những sản phẩm và dịch vụ của hệ sinh thái.<br /> <br /> 3.1.2. Quản lý rừng đa phương diện<br /> <br /> Nguyên tắc 4. Để có thể duy trì được sản phẩm và dịch vụ<br /> của hệ sinh thái, bảo tồn cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái<br /> phải là một mục tiêu ưu tiên.<br /> Nguyên tắc 5. Quản lý hệ sinh thái phải được phân quyền<br /> đến cấp quản lý thích hợp thấp nhất nhưng có tính đến mối liên<br /> kết với các cấp khác.<br /> Nguyên tắc 6. Quyết định quản lý phải được dựa trên tất cả<br /> các dạng thông tin có liên quan, bao gồm cả tri thức khoa học,<br /> cũng như kiến thức địa phương và bản địa, những đổi mới và<br /> thực tiễn.<br /> <br /> 174<br /> <br /> Có ba phương diện nói đến trong quản lý rừng đó là:<br /> phương diện khoa học kỹ thuật quen thuộc với các cán bộ có<br /> nghiệp vụ lâm nghiệp; phương diện tổ chức, cơ cấu là lĩnh vực<br /> của các nhà quản lý; phương diện bản địa là lĩnh vực của người<br /> địa phương trong quản lý bảo vệ rừng.<br /> Về mặt khoa học kỹ thuật: Tổng quan của Jessup và<br /> Peluso, 1986 đã nêu rõ việc quản lý rừng gồm việc điều tiết ánh<br /> sáng và độ tàn che, cách xử lý để nuôi dưỡng cây cá thể và các<br /> loài có giá trị và giảm số lượng những cây không cần thiết, dây<br /> leo, bụi rậm, diệt cây ngoài mục đích, làm giàu và tuyển chọn.<br /> Quản lý gồm việc ấn định mục tiêu quản lý, kiểm tra sản lượng,<br /> lập kế hoạch điều chế, chọn luân kỳ chặt hạ, làm đường, xây<br /> 175<br /> <br /> dựng cơ sở hạ tầng, xác định ranh giới, dự báo năng suất, kiểm<br /> tra chi phí, lập sổ sách hàng năm và tổ chức các công tác lâm<br /> sinh.<br /> Về mặt tổ chức, quản lý rừng: Tổ chức, quản lý rừng có<br /> nghĩa là một sự kết hợp giữa biện pháp tổ chức với cách sắp xếp<br /> kỹ thuật mà người sử dụng trong các dự án là người bảo trợ, nói<br /> chung đã thỏa thuận. Đưa yếu tố “tổ chức” vào chúng ta nhấn<br /> mạnh tới bối cảnh xã hội của quản lý, vốn là điều quan trọng<br /> nhưng thường bị bỏ qua trong các tài liệu bàn về kỹ thuật lâm<br /> nghiệp. Fisher đã định nghĩa quản lý rừng có dựa vào cả kỹ<br /> thuật và tổ chức là “ một tập hợp các cách bố trí kỹ thuật và xã<br /> hội gắn với quản lý rừng, trong đó có bảo vệ, thu hoạch và phân<br /> phối sản phẩm” (Brokensha và Cactro,1987).<br /> Về quản lý bản địa: Một định nghĩa bao trùm đầy đủ hơn<br /> đề cập đến các phương thức quản lý của người bản địa. Đó là<br /> những phương thức đặc biệt “không kỹ thuật, không khoa học”<br /> và thường “không có tính tổ chức cao” theo một số người,<br /> nhưng đó lại là một cách tổ chức, một tấm gương phản ánh rõ cơ<br /> cấu xã hội của một nhóm người có liên quan, họ không chấp<br /> nhận sự tồn tại và tầm quan trọng của các phương thức quản lý<br /> này. Cụ thể về phương diện bản địa, quản lý rừng được xem như<br /> là những phương thức thu hoạch, sử dụng, chăm sóc, tái sinh và<br /> cải thiện tài nguyên cây rừng và các tài nguyên khác gắn với<br /> chúng như động vật rừng, nước, lâm sản ngoài gỗ...mà nông dân<br /> mong muốn đạt tới những năng suất bền vững trong thời gian<br /> dài. Việc sử dụng linh hoạt khái niệm đó là cần thiết cho các<br /> cộng đồng đã quản lý rừng theo các phương thức khác nhau.<br /> Như vậy, quản lý rừng được định nghĩa gồm ba phương<br /> diện: đó là một loạt các sắp xếp tổ chức, kỹ thuật và bản địa dựa<br /> 176<br /> <br /> trên các yếu tố khoa học và dân gian liên quan đến tổ chức kiểm<br /> tra quyền hưởng thụ và phân bổ lợi ích của các hệ sinh thái<br /> rừng. Chúng gồm những cây riêng lẻ, đám cây trồng, khu rừng<br /> trồng, rừng tự nhiên cùng với các sản phẩm gắn với chúng như<br /> đặc sản chim, thú cũng như các khả năng sinh lợi khác về nông<br /> lâm nghiệp.<br /> Trước thời kỳ năm 1945 Việt Nam chưa có hình thức sở hữu<br /> nhà nước về tài nguyên rừng. Rừng và đất rừng lúc đó thuộc sở<br /> hữu tư nhân và cộng đồng thôn bản. Tài nguyên lúc đó còn<br /> phong phú, nhu cầu con người chưa vượt quá sự tái tạo của rừng<br /> do mật độ dân số thấp, giao thông, đi lại khó khăn, nạn khai thác<br /> trong giai đoạn này còn hạn chế do nhu cầu mua bán, xuất khẩu<br /> chưa phát triển, từ đó đã cho kết quả độ che phủ rừng lên đến<br /> 43%, điều đáng nói hình thức quản lý rừng theo hương ước,<br /> thôn bản tồn tại trong một thời gian dài.<br /> Sau cải cách ruộng đất giai đoạn (1954 - 1993) Nhà nước<br /> khẳng định quyền sở hữu về rừng trong Luật Bảo vệ và Phát<br /> triển rừng đã được Quốc hội thông qua ngày 12/8/1991, trong đó<br /> gồm một số nội dung cơ bản liên quan đến quản lý tài nguyên<br /> rừng.<br /> Nhà nước thống nhất quản lý rừng và đất rừng. Nhà nước<br /> giao rừng và đất rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để quản<br /> lý bảo vệ, phát triển và sử dụng ổn định lâu dài theo quy hoạch,<br /> kế hoạch của nhà nước. Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu,<br /> rừng được phân thành các loại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và<br /> rừng sản xuất. Việc quyết định giao đất trồng rừng, giao rừng<br /> trên cơ sở kế hoạch bảo vệ phát triển rừng và sử dụng rừng, đất<br /> trồng rừng trên cơ sở đã được các cơ quan quản lý nhà nước có<br /> thẩm quyền phê duyệt. Trong đó gắn với quyền lợi và nghĩa vụ<br /> 177<br /> <br /> trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được nhà nước<br /> giao.<br /> Ngoài ra nhà nước đã ban hành nhiều chính sách liên quan<br /> đến quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Tại Quyết định<br /> 1171-QĐ về Quy chế quản lý các loại rừng: Sản xuất, phòng hộ,<br /> đặc dụng ngày 30/12/1986. Rừng và đất rừng ở Việt Nam được<br /> thống nhất chia làm 3 loại: Sản xuất, phòng hộ và đặc dụng.<br /> Trong quy định này ghi rõ cơ chế quản lý, quy hoạch 3 loại<br /> rừng, chức năng nhiệm vụ của từng loại rừng trong phát triển<br /> kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường trong cả nước.<br /> 3.1.3. Quan điểm về quản lý rừng cộng đồng<br /> Các hình thức quản lý rừng trực tiếp bởi cộng đồng đã xuất<br /> hiện từ lâu đời trong các cộng đồng dân tộc khác nhau ở Việt<br /> Nam. Truyền thống quản lý rừng của họ được thể hiện ở những<br /> lệ tục giữ rừng, trồng cây, xây dựng hương ước, luật tục bảo vệ<br /> rừng, bảo vệ cây cối của nhiều làng xã. Hiện nay quản lý rừng<br /> cộng đồng có thể hiểu như một phương thức tiếp cận hệ thống<br /> dựa trên ba phương diện: phương diện khoa học kỹ, phương<br /> diện tổ chức và phương diện bản địa, trong đó chú trọng đến tri<br /> thức bản địa của các cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng.<br /> Từ ngữ “cộng đồng” theo thực tế xã hội nước ta có thể được<br /> định nghĩa một cách chung nhất là: “Cộng đồng bao gồm toàn<br /> thể những người sống thành một xã hội có những điểm giống<br /> nhau và có các mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau”. Như<br /> vậy, tính chất giống nhau về một điểm hoặc một số điểm nào đó<br /> là yếu tố hình thành nên những quan hệ cộng đồng trong xã hội.<br /> Có nhiều loại cộng đồng khác nhau: cộng đồng sắc tộc, cộng<br /> đồng làng, xã (thôn, bản), cộng đồng tôn giáo... Sự gắn bó của<br /> 178<br /> <br /> một cộng đồng thường thể hiện qua các lệ tục, các quy ước<br /> thành văn bản hoặc không thành văn bản nhiều hơn là thể hiện<br /> bằng một hình thức tổ chức của một pháp nhân kinh tế (Đỗ<br /> Hồng Quân và Tô Đình Mai, 2000).<br /> Về mặt pháp lý, “Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ<br /> gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn,<br /> phum, sóc hoặc đơn vị tương đương” (Điều 2, Luật Bảo vệ và<br /> Phát triển rừng 2004). Do đó, để quản lý tài nguyên rừng một<br /> cách hiệu quả và bền vững, không thể bỏ qua việc phát huy vai<br /> trò của cộng đồng người dân sống gần rừng trong việc quản lý,<br /> bảo vệ và phát triển rừng. Phát huy vai trò tham gia của các<br /> cộng đồng trong việc quản lý nguồn tài nguyên này vừa mang ý<br /> nghĩa phát huy truyền thống dân tộc vừa có thể tạo ra một cách<br /> quản lý rừng có hiệu quả và bền vững hơn.<br /> Thuật ngữ “Quản lý rừng cộng đồng” (QLRCĐ) đã được<br /> FAO định nghĩa như sau: “QLRCĐ diễn tả hàng loạt các hoạt<br /> động gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và<br /> việc phân chia lợi ích các sản phẩm này”. Theo Đỗ Hồng Quân<br /> và Tô Đình Mai (2000), QLRCĐ ở Việt Nam có hai nội dung<br /> phù hợp với định nghĩa trên, đó là: Thứ nhất, rừng thuộc quyền<br /> sử dụng chung của cộng đồng, do các thành viên của cộng đồng<br /> cùng tham gia quản lý và kinh doanh. Thứ hai, rừng không<br /> thuộc quyền sở hữu của cộng đồng, nhưng các thành viên của<br /> cộng đồng vẫn cùng tham gia quản lý các khu rừng đó. Như vậy,<br /> các cộng đồng vẫn gắn bó chặt chẽ với rừng trong các vấn đề:<br /> tạo việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hoặc hưởng thụ<br /> những lợi ích không thể tính toán của rừng (như bảo vệ nguồn<br /> nước, tín ngưỡng, di tích, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng...).<br /> <br /> 179<br /> <br /> Thuật ngữ “các bộ phận cơ bản của cấu trúc tổ chức quản lý<br /> rừng” phải được nhìn nhận trên quan điểm chung là rừng và đất<br /> lâm nghiệp do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao<br /> rừng và đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cộng đồng, hộ gia đình,<br /> cá nhân sử dụng ổn định lâu dài theo quy định của pháp luật.<br /> Mặt khác Nhà nước hình thành nên các cơ quan chuyên ngành<br /> quản lý Nhà nước về lâm nghiệp từ trung ương đến các địa<br /> phương nhằm giúp Nhà nước triển khai thực hiện chủ trương về<br /> giao rừng, quản lý rừng và phát triển lâm nghiệp. Từ những<br /> quan điểm đó chúng ta thấy rằng quản lý rừng bao gồm hai bộ<br /> phận cơ bản là chủ rừng và cơ quan quản lý nhà nước về rừng.<br /> Bất kỳ phương thức quản lý rừng nào cũng đều có hai bộ phận<br /> cơ bản đó.<br /> Đối với phương thức quản lý rừng truyền thống, rừng do<br /> Nhà nước trực tiếp quản lý, bộ phận quản lý Nhà nước bao gồm<br /> các cấp chính quyền và tổ chức quản lý Nhà nước về lâm nghiệp<br /> từ trung ương đến địa phương. Bộ phận chủ rừng thường là các<br /> Tổng công ty kinh doanh lâm nghiệp, Liên hiệp các xí nghiệp,<br /> các Lâm trường, các Vườn quốc gia, khu bảo tồn, các tổ chức<br /> lực lượng vũ trang, các tổ chức xã hội…<br /> Phương thức quản lý rừng nhân dân có cấu trúc hai bộ phận<br /> chính như trên đó là chủ rừng và các cơ quan quản lý Nhà nước.<br /> Chủ rừng ở đây là các cộng đồng, nhóm hộ, hộ gia đình, cá nhân<br /> được Nhà nước giao rừng và đất lâm nghiệp để quản lý sử dụng<br /> lâu dài theo quy định của pháp luật.<br /> Từ nhận thức đó, nghiên cứu cấu trúc quản lý rừng là nghiên<br /> cứu cả bộ phận chủ rừng và bộ phận quản lý Nhà nước. Trong<br /> phương thức quản lý rừng nhân dân trên cơ sở tiếp cận “bên<br /> trong và bên ngoài” chúng ta có thể quan niệm chủ rừng (cộng<br /> 180<br /> <br /> đồng, hộ gia đình, cá nhân) là bộ phận bên trong, bộ phận nội<br /> tại. Các cơ quan quản lý Nhà nước là bộ phận bên ngoài. Theo<br /> cách tiếp cận về vai trò của các bên, bộ phận chủ rừng còn gọi là<br /> bộ phận chủ thể quản lý rừng. Trong phạm vi đề tài này, thống<br /> nhất từ gọi chung cho bộ phận chủ rừng là bộ phận chủ thể, các<br /> cơ quan Nhà nước liên quan được gọi là bộ phận quản lý Nhà<br /> nước. Cả bộ phận chủ thể và bộ phận quản lý Nhà nước trong<br /> phương thức quản lý rừng nhân dân đều có vai trò quan trọng<br /> ảnh hưởng đến kết quả quản lý rừng. Bộ phận chủ thể có nhiệm<br /> vụ trực tiếp thực hiện quản lý rừng như bảo vệ chống chặt phá,<br /> phòng chống cháy rừng, nuôi dưỡng rừng, làm giàu rừng và<br /> được hưởng các lợi ích từ rừng mang lại theo quy định của Nhà<br /> nước. Bộ phận quản lý Nhà nước có nhiệm vụ thiết lập, xây<br /> dựng, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát bộ phận chủ thể.<br /> <br /> Chủ rừng<br /> <br /> QLNN<br /> <br /> Sơ đồ 3.1. Quan hệ trong quản lý rừng truyền thống<br /> <br /> Chủ rừng<br /> <br /> QLNN<br /> <br /> Sơ đồ 3.2. Quan hệ trong quản lý rừng nhân dân<br /> Hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về hai bộ<br /> phận này, những người có khuynh hướng coi trọng quản lý rừng<br /> 181<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2