Lạm phát và tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân tại khu vực duyên hải Nam Trung bộ

Chia sẻ: Danh Tuong Vi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
5
lượt xem
0
download

Lạm phát và tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân tại khu vực duyên hải Nam Trung bộ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của lạm phát tới tình trạng nghèo đối với cộng đồng ngư dân nghề khai thác ven bờ tại các địa phương ven biển khu vực Nam Trung bộ. Trên cơ sở phân tích sự biến động về chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 để xác định mức chuẩn nghèo và thu nhập thực tế của hộ gia đình ngư dân tại khu vực này để tính toán các chỉ số đo lường nghèo đói, như tỉ lệ đếm đầu người, khoảng cách nghèo và độ sâu của tình trạng nghèo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lạm phát và tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân tại khu vực duyên hải Nam Trung bộ

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn<br /> <br /> Soá 3/2011<br /> <br /> THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC<br /> <br /> LẠM PHÁT VÀ TÌNH TRẠNG NGHÈO CỦA HỘ GIA ĐÌNH NGƯ DÂN<br /> TẠI KHU VỰC DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ<br /> INFLATION AND POVERTY STATUS OF HOUSEHOLD FISHERMEN<br /> IN SOUTHERN COASTAL CENTRAL AREAS<br /> Phạm Hồng Mạnh<br /> Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang<br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của lạm phát tới tình trạng nghèo đối với cộng đồng ngư<br /> dân nghề khai thác ven bờ tại các địa phương ven biển khu vực Nam Trung bộ. Trên cơ sở phân tích sự biến<br /> động về chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 để xác định mức chuẩn nghèo và thu<br /> nhập thực tế của hộ gia đình ngư dân tại khu vực này để tính toán các chỉ số đo lường nghèo đói, như tỉ lệ đếm<br /> đầu người, khoảng cách nghèo và độ sâu của tình trạng nghèo. Kết quả phân tích cho thấy lạm phát là nguyên<br /> nhân gây ra sự biến động về tình trạng nghèo đối với hộ gia đình ngư dân hoạt động trong nghề khai thác ven<br /> bờ tại khu vực Nam Trung bộ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm kìm chế lạm phát và<br /> hỗ trợ những ngư dân nghèo tại khu vực này.<br /> Từ khóa: lạm phát, ngư dân, nghèo, nghề khai thác ven bờ<br /> ASTRACTS<br /> This study aimed to evaluate the effect of inflation to the poor condition of the fisheries communities<br /> inshore fishing in coastal locals South Central region. Based on analysis of the variation in Consumer Price<br /> Index (CPI) in Vietnam period 2006 - 2010 to determine the actual poverty line and actual income of the<br /> fishermen households in this region to calculate the indicators measuring poverty, such as: head count ratio,<br /> poverty gap and depth of poverty. Analysis results show that inflation is the cause of the variation in poverty<br /> status for fisheries communities inshore fishing in South Central areas. On that basis, the study suggests some<br /> solutions to curb inflation and support the poor fishermen in this area.<br /> Keywords: inflation, poverty, fishermen, inshore fishing.<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> <br /> chiều hướng tích cực… Tuy nhiên, trong những<br /> <br /> Trải qua hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã<br /> <br /> năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, cùng<br /> <br /> đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều<br /> <br /> với nới lỏng các chính sách vĩ mô như chính<br /> <br /> lĩnh vực kinh tế - xã hội. Từ năm 1990 - 2009, tốc<br /> <br /> sách tiền tệ, v.v… đã làm cho chỉ số giá tiêu<br /> <br /> độ tăng trưởng kinh tế liên tục trung bình ở mức<br /> <br /> dùng tăng cao. Đặc biệt, từ cuối năm 2010 và<br /> <br /> 7,44%/năm, năm 2010 tốc độ tăng trưởng GDP<br /> <br /> rõ nhất từ đầu năm 2011, tình hình kinh tế thế<br /> <br /> ước đạt 6,78% [1], [19]. Tỉ lệ nghèo đói đã giảm<br /> <br /> giới diễn biến phức tạp, lạm phát tăng, giá dầu<br /> <br /> đáng kể từ 60% năm 1990 xuống còn 9,45% vào<br /> <br /> thô, giá nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản<br /> <br /> năm 2010 [16], cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo<br /> <br /> xuất, giá lương thực, thực phẩm trên thị trường<br /> <br /> 138 ❖ TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG<br /> <br /> Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn<br /> <br /> Soá 3/2011<br /> <br /> thế giới tiếp tục xu hướng tăng cao. Cùng với<br /> <br /> kinh tế. Tỷ lệ lạm phát có nghĩa là tỷ lệ tăng của<br /> <br /> thiên tai, thời tiết bất lợi đã ảnh hưởng xấu đến<br /> <br /> mức giá cả nói chung trong nền kinh tế trong một<br /> <br /> sản xuất và đời sống của người dân; một số mặt<br /> <br /> khoảng thời gian nhất định. Một trong những<br /> <br /> hàng là đầu vào quan trọng của sản xuất như<br /> <br /> thước đo phổ biến nhất về sự gia tăng mức giá<br /> <br /> điện, xăng dầu vẫn chưa thực hiện đầy đủ theo<br /> <br /> cả nói chung đó là chỉ số giá tiêu dùng [18].<br /> <br /> cơ chế giá thị trường buộc phải điều chỉnh tăng,<br /> <br /> Chỉ số giá tiêu dùng là tỷ số phản ảnh giá<br /> <br /> v.v… [20]. Điều này vừa tác động xấu đến việc<br /> <br /> cả của một rổ hàng hóa chọn lựa qua các năm<br /> <br /> ổn định môi trường kinh tế vĩ mô phục vụ cho<br /> <br /> khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa đó<br /> <br /> quá trình tăng trưởng, vừa ảnh hưởng tới phúc<br /> <br /> trong một năm được chọn là năm gốc. Tuy chỉ số<br /> <br /> lợi của hộ gia đình. Tăng trưởng kinh tế và nâng<br /> <br /> giá tiêu dùng không hoàn toàn phản ảnh chính<br /> <br /> cao thu nhập cho cộng đồng dân cư là mục tiêu<br /> <br /> xác mức độ lạm phát do chỉ số này chỉ phản ảnh<br /> <br /> của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, do vậy tập<br /> <br /> sự gia tăng trong giá cả các hàng hóa tiêu dùng<br /> <br /> trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,<br /> <br /> trong khi lạm phát không những chỉ phản ảnh sự<br /> <br /> bảo đảm an sinh xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ<br /> <br /> thay đổi giá cả các hàng hóa tiêu dùng mà còn là<br /> <br /> xuyên suốt trong các chính sách của Chính phủ.<br /> <br /> sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa khác<br /> <br /> Từ nhiều năm qua, vấn đề lạm phát và tình<br /> <br /> mà người tiêu dùng không trực tiếp mua hoặc<br /> <br /> trạng nghèo đã có nhiều tổ chức và nhà nghiên<br /> <br /> không được đưa vào tính toán. Mặc dù vậy, giá<br /> <br /> cứu đề cập tới dưới nhiều khía cạnh và góc độ<br /> <br /> tiêu dùng là một thước đo của lạm phát, giá tiêu<br /> <br /> khác nhau, như: ADB [7], Nguyen Viet Cuong<br /> <br /> dùng tăng cao, một điều tất yếu sẽ dẫn đến lạm<br /> <br /> [8], Hyun H. Son và đồng nghiệp [11], William<br /> <br /> phát [6], [18].<br /> <br /> Easterly [12], hay của Siyanbola Tomori và đồng<br /> <br /> Lạm phát có thể tác động tiêu cực tới tăng<br /> <br /> nghiệp v.v… Những nghiên cứu này đã tạo nền<br /> <br /> trưởng kinh tế [17], [18] như: dấu hiệu bất ổn<br /> <br /> tảng cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận trong<br /> <br /> kinh tế vĩ mô; tăng sự không chắc chắn của các<br /> <br /> việc nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và<br /> <br /> hoạt động đầu tư; lạm phát làm thay đổi giá cả<br /> <br /> tình trạng nghèo.<br /> <br /> tương đối, làm méo mó quá trình phân bổ nguồn<br /> <br /> Để đánh giá sự ảnh hưởng của lạm phát tới<br /> <br /> lực; lạm phát còn được xem như là một loại thuế<br /> <br /> tình trạng nghèo của hộ gia đình tại Việt Nam,<br /> <br /> đánh vào nền kinh tế. Bên cạnh đó, lạm phát<br /> <br /> trong bài viết này, tác giả tập trung xem xét tác<br /> <br /> tăng cao và kéo dài sẽ có những ảnh hưởng tiêu<br /> <br /> động của lạm phát tới tình trạng nghèo của hộ<br /> <br /> cực đến toàn bộ nền kinh tế. Những tác động<br /> <br /> gia đình ngư dân tại khu vực Nam Trung bộ để<br /> <br /> chủ yếu bao gồm: Giá cả tăng mạnh sẽ làm tăng<br /> <br /> tìm kiếm những bằng chứng thực nghiệm và đề<br /> <br /> chi phí sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khả<br /> <br /> xuất một số gợi ý chính sách nhằm kìm chế lạm<br /> <br /> năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và toàn<br /> <br /> phát để giúp người nghèo ổn định cuộc sống<br /> <br /> bộ nền kinh tế. Lạm phát cao làm giảm giá trị<br /> <br /> trong bối cảnh gia tăng lạm phát nhanh như hiện<br /> <br /> đồng tiền trong nước. Người dân ngày càng lo<br /> <br /> nay.<br /> <br /> lắng về việc sức mua trong tương lai của họ bị<br /> <br /> II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT<br /> 1. Lạm phát và ảnh hưởng của lạm phát<br /> <br /> giảm xuống và mức sống của họ cũng vì vậy<br /> mà kém đi. Lạm phát cao khuyến khích các hoạt<br /> động đầu tư mang tính đầu cơ trục lợi hơn là<br /> <br /> Khái niệm về lạm phát được hiểu như là sự<br /> <br /> đầu tư vào các hoạt động sản xuất. Lạm phát<br /> <br /> gia tăng liên tục của giá cả nói chung trong nền<br /> <br /> cao đặc biệt ảnh hưởng xấu đến những người<br /> TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG ❖ 139<br /> <br /> Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn<br /> <br /> Soá 3/2011<br /> <br /> có thu nhập không tăng kịp mức tăng của giá cả,<br /> <br /> Tuy nhiên, trong những năm qua đặc biệt<br /> <br /> đặc biệt là những người sống bằng thu nhập cố<br /> <br /> là giai đoạn 2006 - 2010, sự tăng trưởng kinh tế<br /> <br /> định như là những người hưởng lương hưu hay<br /> <br /> nhanh đã làm cho các biến số vĩ mô có những<br /> <br /> công chức. Phúc lợi và mức sống của họ sẽ bị<br /> <br /> thay đổi lớn, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao đã<br /> <br /> giảm đi.<br /> <br /> làm cho chuẩn nghèo tuyệt đối không còn phù<br /> <br /> 2. Nghèo đói - phương pháp tiếp cận và đo<br /> <br /> hợp trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của<br /> <br /> lường<br /> Theo Ngân hàng Thế giới (WB) nghèo là<br /> tình trạng không có khả năng có mức sống tối<br /> <br /> hộ gia đình [15], [18], [20]. Điều này, một lần<br /> nữa Chính phủ phải có chỉ thị điều chỉnh chuẩn<br /> nghèo mới để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội<br /> <br /> thiểu. Với cách đánh giá này thì điểm khởi đầu<br /> <br /> hiện nay. Theo Quyết định của Thủ Tướng Chính<br /> <br /> để xác định ranh giới đói nghèo là nhu cầu kcalo<br /> <br /> phủ số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn<br /> <br /> (năng lượng) tối thiểu được dùng cho mỗi người<br /> <br /> hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn<br /> <br /> mỗi ngày [13].<br /> <br /> 2011 - 2015, mức chuẩn nghèo áp dụng cho giai<br /> <br /> Tại Việt Nam, khái niệm về đói nghèo được<br /> <br /> đoạn 2011 - 2015: ở khu vực nông thôn những<br /> <br /> sử dụng chính thức trong chiến lược giảm<br /> <br /> hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/<br /> <br /> nghèo của Chính phủ trên cơ sở khái niệm được<br /> <br /> người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở<br /> <br /> đưa ra tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy<br /> <br /> xuống là hộ nghèo; khu vực thành thị, những hộ<br /> <br /> Ban Kinh tế - Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình<br /> <br /> có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/<br /> <br /> Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan vào tháng<br /> <br /> người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở<br /> <br /> 09 năm 1993 và được các quốc gia trong khu<br /> <br /> xuống là hộ nghèo [4].<br /> <br /> vực thống nhất, đó là: “Nghèo là tình trạng một<br /> bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn<br /> các nhu cầu cơ bản của con người mà những<br /> nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo<br /> trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục<br /> tập quán của địa phương” [2].<br /> Để phục vụ cho các chiến lược phát triển<br /> kinh tế xã hội, Chính phủ đã xây dựng chuẩn<br /> nghèo tuyệt đối cho từng giai đoạn. Kể từ 1993<br /> đến nay Chính phủ đã 6 lần điều chỉnh mức<br /> chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo đã được điều chỉnh<br /> năm lần vào các năm 1993, 1997, 1998, 2001,<br /> 2005 [15]. Chuẩn nghèo được áp dụng cho giai<br /> <br /> Để đo lường tình trạng nghèo, các nhà<br /> nghiên cứu sử dụng một số chỉ tiêu thống kê<br /> phản ánh quy mô, mức độ và tính nghiêm trọng<br /> của nghèo đói [14]. Những chỉ tiêu thống kê này<br /> bao gồm (i) chỉ số đếm đầu người (headcount<br /> index) - xác định tỷ lệ nghèo đói theo số lượng<br /> trong dân số, (ii) khoảng cách nghèo đói (poverty<br /> gap) - xác định độ sâu của nghèo đói và (iii) bình<br /> phương khoảng cách nghèo đói, phản ánh phân<br /> phối trong thu nhập giữa các nhóm nghèo - xác<br /> định tính nghiêm trọng của nghèo đói. Trong đó:<br /> Chỉ số đếm đầu người (Headcount index)<br /> <br /> =<br /> <br /> đoạn 2006 - 2010 đối với khu vực nông thôn,<br /> <br /> (1)<br /> <br /> những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000<br /> <br /> Trong đó:<br /> <br /> đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)<br /> <br /> n là quy mô dân số (tổng số người trong dân số)<br /> <br /> trở xuống là hộ nghèo, còn ở khu vực thành thị<br /> <br /> q là số người dưới chuẩn nghèo<br /> <br /> những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000<br /> đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/<br /> năm) trở xuống là hộ nghèo [3].<br /> <br /> 140 ❖ TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG<br /> <br /> - Khoảng cách nghèo đói (Poverty gap)<br /> Nếu gọi<br /> <br /> là thu nhập trung bình của người<br /> <br /> nghèo, và z là chuẩn nghèo thì I = z -<br /> <br /> là khoản<br /> <br /> Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn<br /> <br /> Soá 3/2011<br /> <br /> thu nhập thiếu hụt trung bình. Chỉ tiêu này đo lường mức tiền thiếu hụt cần gia tăng từ mức nghèo<br /> đến mức chuẩn nghèo. Hạn chế chủ yếu của chỉ số khoảng cách nghèo đói là thất bại trong việc<br /> phản ánh số lượng người nghèo trong tổng dân số.<br /> Mức độ nghiêm trọng của nghèo đói (Bình phương khoảng cách nghèo đói)<br /> Chỉ số này đo lường khoảng cách từ mức nghèo đến mức chuẩn nghèo cùng với sự bất bình<br /> đẳng giữa các nhóm nghèo.<br /> Foster, Greer và Thorbecke [9] đã tìm ra một công thức để đo lường sự nghèo đói bao gồm sự<br /> thay đổi trong tổng số người nghèo, thay đổi trong tình trạng thiếu hụt thu nhập và sự nhạy cảm của<br /> nghèo đói như sau:<br /> hay<br /> Trong đó:<br /> <br /> (2)<br /> <br /> α> 0<br /> n : là tổng số hộ nghèo trong cộng đồng dân cư<br /> q : là số hộ nghèo dưới mức chuẩn nghèo<br /> gi : là khoảng cách nghèo đói của hộ gia đình thứ i<br /> <br /> yi : là thu nhập của hộ nghèo thứ i<br /> z : là chuẩn nghèo<br /> Khi α<br /> <br /> > 0 thì P0 chính là chỉ số đếm đầu người (Headcount index). Chỉ số này phổ biến nhất<br /> <br /> và dễ tính nhưng không phản ảnh mức độ nghiêm trọng từ thu nhập (chi tiêu) của người nghèo so<br /> với ngưỡng nghèo.<br /> =<br /> Khi α<br /> <br /> (3)<br /> <br /> = 1, P1 là chỉ số đo lường khoảng cách nghèo đói (Poverty gap)<br /> (4)<br /> <br /> =<br /> <br /> Chỉ số này cho biết sự thiếu hụt trung bình trong chi tiêu của các hộ nghèo so với ngưỡng nghèo<br /> và nó biểu hiện như mức trung bình của tất cả mọi người trong tổng thể. Có thể xem đây là chi phí<br /> tối thiểu để xóa bỏ nghèo đói trong giả định mọi khoản chi chuyển nhượng đều đến đúng đối tượng.<br /> Tuy nhiên trong thực tế việc chuyển giao thường có hao hụt và chi phí hành chính cho nên chi phí<br /> thực tế để xóa bỏ nghèo đói thường là bội số của khoảng cách nghèo đói trung bình.<br /> <br /> Khi α = 2, P2 là chỉ số đo lường mức độ nghiêm trọng của nghèo đói. Đây là chỉ số khoảng cách<br /> <br /> đói nghèo bình phương (Squared poverty gap index) hay chỉ số nhạy cảm nghèo (Sensitive gap ratio<br /> of poverty). Chỉ số này thể hiện mức độ nghiêm trọng (hay cường độ) của nghèo đói và làm tăng<br /> thêm trọng số cho nhóm người nghèo nhất trong số những người nghèo.<br /> =<br /> <br /> (5)<br /> <br /> α là đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa những người nghèo.<br /> TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG ❖ 141<br /> <br /> Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn<br /> <br /> Soá 3/2011<br /> <br /> III. ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN TÌNH TRẠNG NGHÈO CỦA HỘ GIA ĐÌNH: BẰNG CHỨNG<br /> THỰC NGHIỆM TẠI KHU VỰC NAM TRUNG BỘ<br /> 1. Tình hình lạm phát của Việt Nam giai đoạn từ 2000 đến nay<br /> Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010 đã có sự gia tăng nhanh chóng.<br /> Ngoại trừ năm 2000, chỉ số CPI của Việt Nam giảm 1,6% so với năm 1999 thì từ năm 2001 đến nay,<br /> chỉ số CPI đã tăng liên tục. Đặc biệt trong năm 2008, chỉ số CPI đã tăng tới 23% so với năm 2007<br /> [23]. Đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng cao nhất giai đoạn 2000 - 2010, trong đó tăng cao nhất<br /> là các mặt hàng về lương thực - thực phẩm. Diễn biến về chỉ số giá tiêu dùng được thể hiện qua<br /> Hình 1.<br /> <br /> CPI (%)<br /> <br /> Hình 1. Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010<br /> Nguồn: Tổng Cục Thống Kê [23]<br /> <br /> Trong 3 tháng đầu năm 2011, những tác<br /> <br /> tăng 1,74% so với thời điểm cuối năm 2010,<br /> <br /> động bất lợi của thị trường thế giới đã làm cho<br /> <br /> tháng 2/2011 tiếp tục tăng cao ở mức 2,69%<br /> <br /> chỉ số CPI của Việt Nam tiếp tục có những diễn<br /> <br /> so với tháng 01/2011 và tăng 4,77% so với<br /> <br /> biễn phức tạp. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 đã<br /> <br /> tháng 12 năm 2010; trong đó tăng mạnh nhất<br /> <br /> 142 ❖ TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản