
LĂNG PHẠM ĐÔN NGHỊ, DẤU ẤN NGHỆ THUẬT
ĐIÊU KHẮC ĐÁ THẾ KỶ XVIII

Việc xây lăng mộ là một
truyền thống lâu đời trong
nghệ thuật kiến trúc cổ Việt
Nam. Nếu lăng mộ từ thời Lê
Sơ về trước dường như chỉ có
vua hay các bà hoàng mới
được xây lăng, rất hãn hữu
mới có lăng đại thần (như
lăng Trần Thủ Độ), thì sang
thời Hậu Lê lại có chiều
hướng phát triển ngược lại.
Giai đoạn này, trong hệ thống
quản lý quốc gia bên cạnh
vua Lê lại có thêm chúa
Trịnh, đáng ra sẽ có cả hệ
thống lăng mộ của vua Lê và
chúa Trịnh. Nhưng thực tế các lăng mộ còn lại đến ngày nay với niên đại thời Hậu

Lê có số lượng rất ít. Một vài lăng có quy mô hơn cả như lăng chúa Trịnh Doanh
(Nga Mi, Thanh Hóa - thế kỷ XVIII) lại càng hiếm: Và trên một cơ sở nào đó quy
mô của lăng mộ này có phần tương tự hoặc lớn hơn không nhiều so với các lăng
quan lại. Điều này được các nhà nghiên cứu giải thích trên quan điểm lịch sử đất
nước trong hoàn cảnh chiến tranh nội chiến, và bởi sự tiếm quyền lẫn nhau trong
xã hội, Vua Lê thì bù nhìn và chúa Trịnh nắm quyền thế. Các thế lực này không thể
quan tâm một cách sâu sắc đến việc xây lăng mộ cho chính bản thân mình. Hơn
nữa việc trả thù cá nhân của các triều đại tiếp sau khiến rất có thể vua chúa có lăng
nhưng cũng không thể tồn tại đến bây giờ, hoặc xây lăng nhưng lại ẩn danh như
trường hợp lăng chúa Trịnh Doanh, nhưng phải lấy tên bà Thái phi Ngọc Diệm
(1,tr241). Mặt khác các quan đại thần nắm giữ quyền lực trong tay, để củng cố cho
địa vị của mình đã tự mình xây dựng lăng mộ cho bản thân tại quê hương bản
quán. Có lẽ ở thế kỷ XVIII, việc xây cất lăng mộ đã trở thành phong trào. Nó cũng
giống như việc cúng tiền để xây đình, chùa, đặt làm tượng hậu để thờ, ý nghĩa của
việc lưu danh hậu thế đã khiến người ta không dè xẻn tiền của. Vậy nên các lăng
Quận Công xuất hiện chiếm một số lượng lớn như: lăng Phạm Mẫn Trực (Hà Tây -
1713), lăng quận Thạc (Thanh Hóa - 1716), lăng Dinh Hương (Bắc Giang - 1729),
lăng họ Đỗ (Bắc Ninh - 1734), lăng Phạm Đôn Nghị (Hà Tây - xây 1734 sửa
1754), lăng Phú Đa (Vĩnh Phúc - 1767), lăng Nguyễn Diễn (Bắc Ninh - 1769), lăng

Phạm Huy Đĩnh (Thái Bình - 1772) v.v... Các lăng này có phong cách và qui mô ít
nhiều tương đồng.
Lăng Phạm Đôn Nghị, có lẽ cũng không nằm ngoài những mô thức chung cho việc
xây cất lăng mộ thế kỷ XVIII, nhưng so với rất nhiều lăng hiện tồn, nó lại nằm
trong số ít các lăng còn nguyên vẹn các giá trị về nghệ thuật cũng như kiến trúc
Quần thể lăng Phạm Đôn Nghị có hướng Tây Nam, rộng khoảng 400 m2, còn nếu
tính riêng khu sinh phần và mộ với tường đá ong cao 2m bao quanh thì nó rộng
160 m2, chiếm một bãi đất rộng ở đầu nâng tạo một không gian thoáng đãng. Nét
tĩnh mịch phủ mầu thời gian trên lăng nhưng không hoang sơ chìm vào trong quên
lãng như ở những lăng khác, mà lăng Phạm Đôn Nghị được con cháu thay nhau
trông coi, nhang khói. Bên trong cổng là một khoảng sân rộng có nhiều cây xanh
quanh năm xào xạc tạo cho không gian lăng mộ lúc nào cũng yên tĩnh và trầm
lặng.
Quận công Phạm Đôn Nghị một là võ quan từng đi kinh lý giữ yên cõi bờ và bình
định những cuộc nổi dậy. ông cũng là người giàu có, nhiều thế lực, nhưng đã có
công dồn tiền của xây dựng quê hương, giúp đỡ dân làng. Đồng thời ông cũng
giành một phần của cải công sức cho dòng họ và xây dựng nơi yên nghỉ cho bản
thân Phạm Đôn Nghị là người đã ghi công lớn trong việc trấn giữ vùng Lao Bảo,
Quảng Trị, nên vào thời bấy giờ được phong tước Quận Công, do vậy lăng của ông

cũng được dân làng gọi là ông Quận. Theo lời kể của các bô lão ở làng thì trước
đây toàn bộ tường bao xây quanh lăng đều bằng đá ong, cao gần 2m. Nhưng hiện
nay tường đá ong này không còn mà được xây lại bằng gạch, chỉ cổng bên trái
bằng đá là còn dấu vết đá ong cũ, cổng bên phải được tôn tạo thêm bằng đá ong
mới. Gần đây, dòng họ Phạm xây thêm một toà nhà 5 gian làm nơi thờ.
Bước qua gian thờ mới xây, người đến thăm sẽ phải sửng sốt khi bắt gặp toàn bộ
khu lăng tẩm kết thành một khối kiến trúc cũng được bao bọc bằng một bức tường
đá ong dày gần 1m. Khu mộ được xây rất kiên cố nên trải qua 3 thế kỷ dường như
vẫn giữ được nét kiến trúc ban đầu. Lăng mang nhiều nét uy nghi diễm lệ và mang
đậm những dấu tích và ý nghĩa lịch sử cũng như giá trị văn hóa nghệ thuật. Cổng
vào lăng được làm bằng đá, phía trên cổng được lợp ngói bằng đá ong, hai bên trụ
có chạm khắc câu đối. Toàn bộ bốn bức tường bao quanh khu mộ được xây dựng
bằng đá ong gần như còn nguyên vẹn.
Đôi chó đá được tạc ở hai bên cổng như một qui cách chung nhằm bảo vệ trật tự trị
an ngày đêm canh chừng. Đôi chó được tạc mập mạp ngồi phủ phục trên bệ, cổ đeo
chuông nhạc với vòng nhạc tròn thể hiện kỹ thuật chạm nổi với trình độ cao. Qua
cổng tới khu sinh phần đồng thời là nơi thờ chính. Trung tâm đặt một hương án lớn
trước một nhà chứa sập thờ, hai bên là hai đẳng thờ đặt trước hai nhà bia. Hương
án phía trên ngai, được chạm hình rồng mây, phía dưới là đồ án hoa văn hoa thị

