intTypePromotion=1

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx - Phần Chín: Thế kỷ XVII & XVIII

Chia sẻ: Nguyễn Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:42

0
101
lượt xem
28
download

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx - Phần Chín: Thế kỷ XVII & XVIII

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thế kỷ thứ XVII và XVIII, đặc biệt là thế kỷ thứ XVII, là thời gian hình thành của giai cấp tư sản Âu Tây - xuất hiện từ thế kỷ XVI nhưng chưa thành hình hẳn hoi, mới mạnh ở bên Ý còn đại bộ phận Âu Tây thì còn phôi thai. Sau khi những bọn con buôn, cướp biển, tìm ra những đất mới ở Mỹ, Á, Phi, cướp được nhiều của cải của các dân tộc ít phát triển hơn mang về, thì tư sản Âu Tây phát triển mạnh mẽ. Đó là yếu tố quyết...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx - Phần Chín: Thế kỷ XVII & XVIII

  1. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx Phần Chín: Thế kỷ XVII & XVIII Thế kỷ thứ XVII và XVIII, đặc biệt là thế kỷ thứ XVII, là thời gian hình thành của giai cấp tư sản Âu Tây - xuất hiện từ thế kỷ XVI nhưng chưa thành hình hẳn hoi, mới mạnh ở bên Ý còn đại bộ phận Âu Tây thì còn phôi thai. Sau khi những bọn con buôn, cướp biển, tìm ra những đất mới ở Mỹ, Á, Phi, cướp được nhiều của cải của các dân tộc ít phát triển hơn mang về, thì tư sản Âu Tây phát triển mạnh mẽ. Đó là yếu tố quyết định sự tăng cường bóc lột nhân dân Âu Tây. Do đó, cuối thế kỷ thứ XVI, chế độ tư sản phát triển ở toàn bộ phương Tây (Pháp, Hà Lan, Anh). Nước Đức bấy giờ đứng ngoài hệ thống buôn bán, Ý cũng thế, vì đường buôn bán không theo đường cũ Cận Đông - Bắc Ý - Nam Đức - Bắc Đức mà vòng qua Đại Tây Dương, và làm giàu những nước có cửa biển ở Đại Tây Dương: Pháp, Anh, Ý, Hà Lan, Thụy Điển. Y-pha-nho bấy giờ cướp được nhiều của nhất, nhưng không xây dựng tư bản được vì vào thẳng nhà Vua - phân phát cho quý tộc, mua hàng của tư sản láng giềng chứ không phát triển công nghiệp trong nước, nên tư bản phát triển chủ yếu ở Pháp, Hà Lan, Anh. Trong thời gian ấy, giai cấp tư sản thành hình, lấn vào chính quyền, xây dựng chế độ quân chủ độc đoán và chuẩn bị cho cuộc cách mạng tư sản. Tùy tương quan lực lượng giữa tư sản và quý tộc bấy giờ trong mỗi nước mà phong trào tư tưởng chống Giáo hội, xây dựng một hệ thống lý tính khoa học có tính chất quyết liệt hoặc dung h òa với tư tưởng tôn giáo. Ở Anh: quyết liệt, ở Pháp: dung hòa. I - TƯ TƯỞNG TƯ SẢN Ở ANH Ở Anh, giai cấp tư sản phát triển rất mạnh nhờ nghề cướp biển, buôn bán với lục địa Âu Tây, và xây dựng một nền công nghiệp mới trong nước, đặc biệt là công
  2. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx nghệ dệt và than mỏ. Ở đây phong trào chống truyền thống kinh viện chủ nghĩa có tính chất quyết liệt. Phủ định cả tư tưởng Cổ đại (Platon, Aristote) và theo truyền thống duy danh ở Anh đời Trung Cổ (William Occam [01], Roger Bacon [02]). Triết học Anh phát triển theo duy vật kinh nghiệm chủ nghĩa. Đặc biệt l à Francis Bacon [03] viết Novum organum (Công cụ mới) để đặt một phong trào khoa học mới, tên này xuất phát từ tên một bộ sách cũ của Aristote là Organon. Nhưng về nội dung và hình thức đều chống lại Aristote, đề cao kinh nghiệm chủ nghĩa, nói rằng lý tính hình thức là cái biến hình và xuyên tạc sự thật, chỉ có kinh nghiệm cho ta biết đúng. Nhưng kinh nghiệm thì linh tinh, làm thế nào để hệ thống hóa thành khoa học? Theo Aristote, dùng phương pháp quy nạp. Đối lập với phương pháp suy luận hình thức của Aristote đi từ những mệnh đề (đại thể xuống mệnh đề biệt thể - xuống mệnh đề cá thể: từ lý tính đến thực tế), quy nạp của F. Bacon đi từ cá thể lên đại thể bằng phương pháp làm những bảng ghi kinh nghiệm (có 3 bảng: bảng có, bảng không có, và bảng biến chuyển: bảng có ghi trường hợp có một hiện tượng; bảng không có ghi những trường hợp không có mặt một hiện tượng nào; bảng biến chuyển ghi trường hợp hiện tượng biến chuyển). So sánh những bảng này, ta quy nạp lên quy luật phổ cập, liên hệ với hiện tượng. Chúng ta thấy hiện tượng luôn luôn đi với nó. Do đó chỉ ghi chép kinh nghiệm thôi, nhưng nếu có phương pháp ta sẽ quy nạp được quy luật. Đây là tư tưởng duy vật dựa vào thực tế khách quan mà xây dựng khoa học, nhưng nó máy móc thô sơ, không đề cao được vai trò cần thiết của lý luận, đặc biệt là Bacon không chú ý đúng mức đến vai trò của toán pháp trong khoa học tự nhiên. Vai trò này có được đề cao với Thomas Hobbes [04]. Ông này đứng hẳn trên lập trường duy vật mà đồng thời nhìn thấy sự cần dùng toán pháp trong khoa học và cả trong triết học nữa. Về phần chính trị học thì đặt một lý thuyết mới biện chính quyền tuyệt đối của nhà Vua, nhưng không dựa vào quyền Thượng đế, phá bỏ lý
  3. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx luận thần bí trước mà chỉ dựa vào lợi ích xã hội - là một biến chuyển lớn (người là một con sói đối với người, sẵn sàng ăn thịt nhau - cần một quyền tuyệt đối để bảo vệ trật tự trong xã hội). Hobbes đại biểu cho nhân sinh quan tư sản thành hình, mới bắt đầu nắm xã hội, chưa đủ sức xây dựng một chế độ cộng hòa mà chỉ xây dựng trên một cơ sở độc tài. Bacon và Hobbes là nguồn gốc của tư tưởng duy vật máy móc cận đại nhưng có tính chất khoa học; trái với Bruno [05] hoặc tư tưởng duy vật Trung Cổ nhiều biện chứng pháp hơn nhưng thiếu khoa học. II - TƯ TƯỞNG TƯ SẢN PHÁP: DESCARTES [06] Là một trong những người quan trọng nhất của tư tưởng tiến bộ Âu Tây, René Descartes làm nguồn cho 2 truyền thống đối lập: - Khoa học toán lý duy vật máy móc, phát triển nhiều vào thế kỷ thứ XVII, XVIII. Đó là một đặc tính của tư tưởng tư sản. - Tư tưởng phân tích tâm lý và duy tâm chủ quan (lấy ý thức cá nhân làm thực thể tuyệt đối, khác duy tâm khách quan lấy ý chí siêu nhiên hay Thượng đế làm tuyệt đối). Hai hướng này phát triển song song trong thế kỷ XVII, XVIII và sau này nữa, bây giờ vẫn còn duy trì - có thể nói Descartes một phần nào đấy làm nguồn gốc cho cả hệ thống tư tưởng tư sản với 2 hướng trên. Ông tiêu biểu cho những ưu và khuyết điểm của tư tưởng tư sản.
  4. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx Ưu điểm: đòi hỏi một khoa học toàn bộ, triệt để lý tính, tuyệt đối chắc chắn, tin tưởng tuyệt đối ở loài người và ở từng cá nhân con người đủ lý trí để xây dựng khoa học, tiêu biểu cho tinh thần khoa học. Nó còn có tác dụng tinh thần nữa là làm cho con người phấn khởi. Khuyết điểm: Lý tính ấy ghi một cách trừu tượng, thực tế thì không hoàn toàn tách rời kinh nghiệm, nhưng đứng về nguyên tắc nó không cần kinh nghiệm. Đứng về chân lý, nó không phụ thuộc kinh nghiệm. Hệ thống khoa học tồn tại trên cơ sở lý tính của nó (về nguyên tắc là tách rời kinh nghiệm); về chủ quan chỉ nhằm lý tính cá nhân của mỗi người, không trông thấy cơ sở lịch sử xã hội của tư tưởng cá nhân. Do 2 khuyết điểm này, nó thành máy móc - không nắm được quy luật biến chuyển mà chỉ nắm được quy luật máy móc (vì nắm được biến chuyển thì về khách quan phải gắn vào kinh nghiệm, và về chủ quan phải đứng trong biến chuyển đó). Mấy ưu và khuyết này (đặc tính của tư tưởng tư sản) đạt một mức rất cao trong tư tưởng Descartes - Descartes là một nguồn của tư tưởng tư sản. Sở dĩ như thế vì Descartes lại là đại biểu tư tưởng của giai cấp tư sản Pháp trong thế kỷ thứ XVII, đấu tranh không phải để nắm chính quyền thực tế, mà để tham gia chính quyền với sự câu kết với phong kiến, hình thức quân chủ tuyệt đối, quân chủ độc đoán, để bảo đảm quyền lợi kinh tế và pháp lý, nhưng chưa nhằm quyền lợi chính trị tuyệt đối. (Đầu thế kỷ thứ XVII, Marie de Médicis [07] nhiếp chính thay Louis XIII [08] đã triệu tập États généraux [09], đặt thuế mới, bọn kia kêu nài, đưa những đề nghị lung tung, đòi giải tán một hội nghị toàn quốc có đại
  5. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx biểu tư sản mà không ai nói gì, vì đòi hỏi chính trị của tư sản hữu hạn). Chế độ quân chủ bấy giờ xây dựng trên sự thăng bằng quyền lợi đôi bên (tư sản và quý tộc), bảo đảm quyền áp bức bóc lột phong kiến (đối với nông nô) và tư sản (đối với công nhân), nhưng không được quyền chính trị, cả hai bên chỉ có quyền tham gia chính quyền dưới hình thức bộ máy quan liêu của nhà Vua (trạng thái thăng bằng này Marx gọi là Bonapartisme). Descartes là đại biểu cho tình trạng thăng bằng này: Bảo đảm quyền làm ăn, thể hiện về tư tưởng là bảo đảm phát triển khoa học (vì khoa học đối với họ là phát triển sản xuất), và trong phạm vi này nó phải đánh đổ tư tưởng Trung Cổ, và trong mức độ này nó đề cao lý tính, nhưng nó lại không tin tưởng nó, nó không quan niệm rằng khoa học đó chỉ dựa trên cơ sở của người ta (quy nạp trên kinh nghiệm) mà còn của một cái gì bảo đảm cao hơn là Thượng đế (phản ánh của Vua trong xã hội). Trong tác phẩm Descartes có 2 phần: + Xây dựng khoa học mới - sau này nhiều kết quả. + Biện chính khoa học mới ấy trên cơ sở siêu hình: sự tồn tại của Thượng đế và sự bất diệt của linh hồn. Hệ thống của Descartes có 5 điểm chính: 1) Hoài nghi theo phương pháp (doute méthodique);
  6. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx 2) Sự tồn tại tuyệt đối của tinh thần, linh hồn, bản ngã; 3) Do sự tồn tại tuyệt đối của linh hồn thì phải có Thượng đế; 4) Vì có Thượng đế nên chúng ta mới tin tưởng được ở lý tính và ở khoa học; 5) Do có Thượng đế ta có thể tin tưởng vào sự tồn tại của vật thể. * 1 - Hoài nghi theo phương pháp (doute méthodique) Muốn đạt một chân lý tuyệt đối, chúng ta phải hoài nghi, thậm chí phủ định tất cả cái gì có thể hoài nghi được mới nắm chắc chắn: + Tất cả nhận thức thuộc cảm tính (thậm chí có thể so sánh với giấc mơ, kinh nghiệm cho biết nhận thức cảm tính nhiều khi sai); + Cái gì thuộc lý tính thậm chí toán pháp mà ta nắm vững nhưng vẫn có thể hoài nghi được, vì ta có thể giả sử có một ông Thần Ác làm ta mỗi lần tính đều sai lầm.
  7. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx 2 - Sự tồn tại tuyệt đối của tinh thần, linh hồn, bản ngã Đến mức ấy thì chỉ có bản ngã là có thực dù có ông Thần Ác «Tôi tư tưởng vậy tôi có». Ta đạt được một chân lý tuyệt đối: tồn tại của tinh thần trong phạm vi tinh thần (không có gì chứng tỏ có vật thể). Tôi tư tưởng trong hiện tại thì hiện tại của tôi không thể phủ định được. Do đó, cái tồn tại chủ quan hiện sống và chỉ trong phạm vi tư tưởng thôi. 3 - Sự tồn tại tuyệt đối của linh hồn thì phải có Thượng đế Từ ý thức chủ quan hiện tại này mà đi tới được hệ thống khoa học. Phân tích nội dung ý thức thì trong ý thức ấy có một ý niệm đặc biệt, ý niệm một thực thể vô hạn: Thượng đế. «Tôi» là một chủ thể hữu hạn lại có thể có ý niệm về một cái vô hạn. Cái đó chứng tỏ có thực thể vô hạn. Thượng đế có thực in trong chúng ta một cái dấu, đó là ý niệm một thực thể vô hạn. 4) Vì có Thượng dế nên chúng ta mới tin tướng được ở lý tính và ở khoa học Do đó, ta có thể tin tưởng ở lý tính được. Thượng đế là thực thể tốt tuyệt đối, vậy không phải ông Thần Ác, do đó, tôi có thể tin tưởng được toán pháp, được hệ thống công thức toán lý.
  8. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx 5) Do có Thượng đế ta có thể tin tưởng vào sự tồn tại của vật thể Thượng đế là tuyệt đối tốt thì chẳng những những cái tôi nắm được trong lý tính là có thật, mà những cái ta nắm được trong bản tính thì từng điểm nhỏ có thể sai nhưng nói chung là có được, nếu nó không có thì Thượng đế hóa ác quá. Tóm lại, phải dựa vào Thượng đế ta mới tin được những chân lý tuyệt đối của lý tính và chân lý tương đối của cảm tính. Hệ thống này đã làm cho tất cả thời đại bấy giờ, làm cho mọi tầng lớp đều say mê (bác học, nghệ sĩ, phòng trà, v. v... giáo, lương, ở Pháp, Anh, Hà Lan, v.v...) và không phải nhất thời mà ngày nay Descartes vẫn được nhiều nước xem là một bậc tiên sư cao nhất. Engels nói rằng ngày nay vẫn nhiều nhà bác học tên tuổi trong công việc thực nghiệm thì duy vật, nhưng trong tư tưởng thì duy tâm tuy không hệ thống như Descartes (Pasteur [10], Eddington [11], v. v...). Đó là tình trạng khá phổ biến của những bác học tư sản hiện tại, đặc biệt ở Anh Mỹ. Ý nghĩa hệ thống
  9. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx 1 - Hoài nghi kiến thức kinh nghiệm và kiến thức lý luận (hoài nghi 2 bước) Trong kinh nghiệm chúng ta có sai lầm, nhưng chỉ sai lầm chi tiết thôi; nhưng trên lập trường tư tưởng, tư sản nắm máy móc và lấy máy móc làm tuyệt đối thì kinh nghiệm không vững nữa, chỉ có sự suy luận máy móc là tuyệt đối, chỉ có sự biến chuyển của tiền vốn theo một quy luật máy móc là tuyệt đối. Tư sản nắm được điểm ấy mà phải phủ định điểm kia: vật chất. Vì vật chất là do người lao động và họ nắm vững. Cái có đối với tư bản là sự tính toán lời lãi của hắn chứ không phải sức sáng tạo của công nhân, và sự tính toán ấy là hợp lý và công lý nữa. Nhưng tại sao lại còn giả sử có ông Thần Ác, hoài nghi cả lý tính? Do vị trí đấu tranh của tư sản Pháp không đòi nắm giữ chính trị mà chỉ nhằm đối tượng tương đối: bảo đảm quyền làm ăn, duy trì nhà Vua và sức lực của nó, bấy giờ tư sản cũng đòi hỏi phải có ông Vua và còn có quyền Vua là còn có Thần Ác (không chắc bảo đảm làm ăn). Giai cấp tư sản Pháp bấy giờ chưa có sức bảo đảm quyền lợi của nó và tự nhận thấy chưa có sức, lại còn muốn phong kiến hóa (quân chủ tuyệt dối). 2) Nhưng đứng về cá nhân thì mỗi người tư bản bảo vệ quyền lợi mình đến cùng - quí tộc nhượng bộ để xây dựng một chế độ quan liêu. Đấu tranh kinh tế là đấu tranh giai cấp nhưng trong phạm vi nhằm quyền lợi cá nhân, nó nắm vững sự tồn tại của cá nhân. Nhưng với tồn tại cá nhân nó vẫn chưa bảo đảm được gì. Muốn
  10. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx bảo đảm được quyền lợi chung, trong đó có quyền lợi cá nhân, phải có một quyền tuyệt đối - trong xã hội là nhà Vua và trong tư tưởng là Thượng đế. Mà lý luận Descarts phản ánh rõ rệt và trung thành: «Không thể tôi là một thực thể hữu hạn tại sao có thể có một ý niệm vô hạn». Rõ ràng là giai cấp tư sản tự nhận chưa đủ sức. Nhưng một khi công nhận quyền tuyệt đối này thì hoạt động của tư bản là sự tính toán lời lãi, sắp xếp một cách máy móc trong công trường. Quyền Vua bảo đảm hoạt động kinh tế này và đồng thời nó cũng bảo đảm có một kết quả thực trong thế giới vật chất - vật chất là có thực và có thể lý luận được. Có quyền hoạt động và lao động thực tế cũng có lãi (trước không biết dựa vào đâu, nhưng khi có quyền nhà Vua thì tư bản được bảo đảm) (Trong tác phẩm Descartes thì những tư tưởng này có hệ thống vững chắc, nhưng trong các nhà bác học tư sản bấy giờ thì hướng này có tính chất tự phát). Đó là: - Phần tích cực trong tư tưởng Descartes là với cả một hệ thống huyền học bao gồm khoa học mới, Descartes đã đề cao khoa học toán lý và định nghĩa rõ ràng đối tượng cụ thể của toán lý. Ông đại biểu cho nhược điểm giai cấp tư sản Pháp với phương thức đấu tranh không triệt để của nó trong thế kỷ XVII - liên kết chặt duy tâm - duy vật (lập trường), nhưng về phần nội dung tư tưởng cũng đại biểu cho công trình xây dựng của tư sản Pháp và Âu Tây nói chung trong thời tiến bộ của nó (nội dung đấu tranh triệt để chống giáo hội, phong kiến; đối t ượng của toán lý là vật chất có thể tính toán được chứ không phải cái ta nhằm trong cảm tính với cái tính chung chung, triệt để gạt bỏ những tính chung chung li ên quan cảm giác và đặt rõ ràng sự tồn tại của vật chất với một nội dung hoàn toàn khoa học).
  11. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx Phần tiến bộ của Descartes là ở phần nội dung tuy hữu hạn (chưa quan niệm vật chất trong biến chuyển) nhưng rất chính xác. Bắt đầu từ Descartes, xuất hiện phát triển tư tưởng tiêu biểu cho tư tưởng tư sản trong lúc đang lên. Trong Descartes, ta thấy những mặt của tư tưởng tư sản - chống phong kiến, dựa vào nhân dân (kinh nghiệm và khoa học, duy vật) - có phần cấu kết phong kiến - yêu cầu xây dựng quân chủ độc đoán bảo đảm quyền kinh tế (chưa chính trị) - phát triển rõ trong Descartes. - Khẳng định giá trị khoa học hiện tại (cơ lý máy móc xây dựng một khái niệm lý tính mới (toán pháp) chống lại khoa học lý tính cũ xây dựng theo tính chất trừu tượng, sắp xếp theo giống loài) mà nó xây dựng theo đặc tính và quy luật một cách máy móc của sự vật. Nó giúp hiểu biết một cách chi tiết hơn sự sắp xếp cũ. Ta thấy trong Descartes quan niệm thế giới có tính chất lý tính đó (cơ học), nhưng mặt khác ta thấy yếu tố tiêu cực: con người - lý trí xây dựng, khoa học - tách rời hoàn toàn thế giới vật chất (là linh hồn bất diệt). Yếu tố đó phản ảnh sự yếu ớt của giai cấp tư sản (mới khẳng định được về phương diện tinh thần) - trở lại những quan niệm huyền học, tồn tại của Thượng đế và bất diệt của linh hồn. Sự tồn tại ấy là đặc tính của tư tưởng tư sản đang lên trong thế kỷ XVII, XVIII. Nhưng tùy hoàn cảnh mỗi nước, nó có những đặc sắc riêng phản ánh trong những hệ thống tư tưởng khác nhau nhưng thống nhất ở chỗ đều xuất phát từ khởi điểm là sự phân biệt hai yếu tố đó. Descartes khẳng định sự thống nhất nh ư một sự hiển nhiên, không cần biện chính do kinh nghiệm thực tế.
  12. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx III - NHỮNG HƯỚNG CHÍNH CỦA PHONG TRÀO SAU DESCARTES Huyền học và tâm lý học Huyền học phát triển ở lục địa Âu Tây với Spinoza [12] (Hà Lan: duy vật), Malebranche [13] (Pháp: duy tâm), Leibnitz [14] (Đức: duy tâm). Ở Anh, phát triển hướng tâm lý có: Locke [15] (duy vật), sống với cách mạng Anh, nhưng sau tư sản Anh hoàn toàn cấu kết với phong kiến; Berkeley [16]; và Hume [17] (duy tâm). Huyền học Là hướng đặt vấn đề thống nhất giữa linh hồn và cơ thể, liên quan với nó là vấn đề thống nhất tư tưởng và thực tại. Tâm lý học Đặt vấn đề: Từ đâu xuất phát sự hiểu biết (cũng là vấn đề quan hệ tư tưởng và thực tại nhưng đặt một cách gián tiếp, và đặt vấn đề trong tư tưởng đã do quá trình xây dựng sự hiểu biết, trong ý thức chủ quan thôi - ta sẽ biết cái đúng và cái sai, do đó giải quyết được vấn đề). Đây ta cũng thấy đặc điểm của lịch sử Anh so với Âu châu.
  13. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx Giai cấp tư sản Anh từ Phục hưng đã có một cơ sở vững chắc để cấu kết với phong kiến - quá trình tư sản hóa của nông nghiệp Anh (cấu kết trong sự sản xuất len) - phong kiến tư sản hóa trong sản xuất mục súc, cung cấp lông cừu - và nói chung phong kiến Anh tư sản hóa trong phương thức nông nghiệp của nó: địa chủ chia ruộng thành từng khối, tạo cho phú nông, bọn này khai thác theo lối tư sản. Nó có một sự cấu kết căn bản - vấn đề chính của giai cấp tư sản Anh là dàn xếp nội bộ, dàn xếp với phong kiến, căn bản là vấn đề chủ quan. Trái lại, ở lục địa ít có phong trào tư sản hóa nông nghiệp nên phong kiến và tư sản căn bản đối lập cho tới cách mạng tư sản - tư tưởng tư sản vẫn khẳng định sự tồn tại của ngoại giới. Trong những nước tư sản phát triển nhiều, các tư sản từ thế kỷ XVI đã thành công (Hà Lan) tư tưởng do chuyển lên mạnh - Spinoza là đại biểu. Trái lại. những nước phong kiến còn mạnh (Pháp và đặc biệt là Đức) phong trào tư tưởng lại hướng về duy tâm: tìm trong tinh thần một cách biện chính khoa học mới, lý tính mới xuất phát từ sự phát triển của sức sản xuất tư sản. A - Hướng huyền học 1 - SPINOZA: Trong lịch sử tư tưởng và lịch sử nói chung, tên của Spinoza tiêu biểu cho đấu tranh tư tưởng trong triết học cũ. Spinoza là một người rất yếu, sống
  14. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx bao giờ cũng cô độc, ăn uống rất ít để làm ít, thừa thời giờ thỉ xây dựng triết học. Sống nghề mài kính. Tên ông tiêu biểu cho một đạo đức trí thức đã tìm được trong đời sống tư tưởng và hoàn toàn tư tưởng, sống hoàn toàn vì lý tính, xây dựng được một hệ thống tư tưởng toàn bộ. Sử cũ nêu Spinoza như một trí thức anh hùng tìm được một hệ thống đã giải quyết được toàn bộ mọi vấn đề bằng lý tính. Tác phẩm của ông đặc biệt là trình bày theo kiểu toán pháp tất cả mọi vấn đề (thứ tự: định nghĩa - nguyên lý - suy luận ra những định lý theo kiểu kỷ hà, nội dung bao gồm toàn bộ các vấn đề: từ Thượng đế, đến nhân tâm, đến đời sống người thường, và đời sống hiền nhân. Vì tham vọng to tát và được thực hiện một cách chính xác như thế - trong lý luận theo kiểu kỷ hà - nên tên tuổi Spinoza được xem như một anh hùng, giải quyết toàn bộ mọi vấn đề bằng lý tính một người. Vấn đề chính mà Descartes để lại là quan hệ giữa linh hồn và cơ thể, liên quan vào đấy là quan hệ tư tưởng và thực tại. Vấn đề này theo hướng duy tâm (Malebranche - Leibnitz) chỉ giải quyết bằng Thượng đế. Theo Malebranche – Leibnitz, cứ mỗi chốc linh hồn và vật chất chia làm 2 nhưng vẫn đi đôi với nhau; cứ giây giây lại tạo lại linh hồn và vật chất một cách tương đương với nhau. Theo Leibnitz, không phải từng phút tạo lại, nhưng tạo một lần thôi nhưng rất khéo, khiến luôn đi đôi với nhau như 2 cái đồng hồ, 2 cái phát triển theo quy luật riêng và độc lập nhưng vẫn hòa nhịp. Đặc điểm của tư tưởng Spinoza là triệt để chống hướng ấy, và khẳng định sở dĩ có liên quan vì nó cùng một chất mà thể chất ấy xét về thực tính của nó có thể quan niệm hoặc l à
  15. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx tinh thần hoặc là vật chất, chỉ là hai cách tồn tại của cùng một thể chất, thể chất ấy chính là Thượng đế, và chính Thượng đế là tự nhiên - tự nhiên hóa Thượng Đế: thực thể tuyệt đối, trước kia người ta quan niệm là Thượng đế chính là tự nhiên; thực thể ấy xuất hiện dưới vô số hình thức mà hai trong đó là vật chất và tinh thần. Ở đây, chúng ta thấy yếu tố tiến bộ trong tư tưởng Spinoza và đồng thời thiếu sót của nó: nó đi đến một lập trường gần hoàn toàn duy vật, chấm dứt những tư tưởng cũ: đối lập tinh thần, vật chất. Thượng đế tự nhiên gạt bỏ những vấn đề của tư tưởng duy tâm cũ (làm sao cứu thế được linh hồn nếu nó khác vật chất). Spinoza khẳng định chỉ có một thế giới, trong đó căn bản có một thể chất thôi, không thể có vấn đề gì ngoài tự nhiên, ngoài đời sống thực tế. Nhưng mặt khác, quan hệ giữa hai bên lại là quan hệ máy móc: hai thuộc tính đó đi với nhau một cách song song, mọi hiện tượng hoặc trong tinh thần hoặc trong vật thể là những cách tồn tại của hai thuộc tính đó, và những thể thức đó phát triển song song với nhau, một tư tưởng là một hiện tượng tinh thần thì song song với nó có một vận dụng trong cơ thể - trong bộ óc chẳng hạn. Đứng về mặt quan hệ giữa tư tưởng và thực tại - tinh thần và vật chất - bất cứ một cái gì tồn tại trong thực tại thì nó đều có một cơ sở của nó. Một tư tưởng đúng hay sai đều có một lý do trong thực tại làm cơ sờ cho nó và tương đương với nó. Tư tưởng tức là một thể thức của linh hồn tương đương với một thể thức của vật chất. Spinoza không quan niệm được vật chất tiến triển tới một mức cao thì thành tinh thần mà quan niệm một cách máy móc: tồn tại song song, không thấy được quan hệ đúng giữa tư tưởng và thực tại, không giải quyết được liên quan giữa tinh thần và cơ thể, tư tưởng và thực tại (tư tưởng với cây - tư tưởng với vận động trong bộ óc). Spinoza không thấy đến một mức nào đấy mới đặt được vấn đề quan hệ giữa tư tưởng và thực tại, và nó được xây dựng trên một trình độ tổ chức nào đấy của cơ thể (đến mức nào đấy mới có và càng phát triển lên nó càng chặt
  16. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx chẽ). Đó là quan điểm máy móc của Spinoza, nhưng phần căn bản là ưu điểm của ông. Do đó ông đã gây nhiều ảnh hưởng trong lịch sử tư tưởng. Sự thống nhất giữa tinh thần và vật chất, căn bản nó là một chất, nên những vấn đề tinh thần cũng phải giải quyết trong thế giới vật chất. 2 - MALEBRANCHE tiếp tục Descartes vào thời đại giai cấp phát triển trên cơ sở tư sản quân chủ độc đoán đến trình độ cao nhất: Louis XIV. Trong tình cảnh ấy, hướng chính của giai cấp tư sản tham gia chính quyền dưới hình thức làm công cho nhà Vua bằng cách công nhận quyền tuyệt đối của nhà Vua. Vấn đề đảm bảo quyền lợi của giai cấp tư sản trong tư tưởng là vấn đề thống nhất linh hồn và cơ thể chỉ giải quyết được bằng cách công nhận quyền độc đoán của nhà Vua. Sự hoạt động luôn luôn của Thượng đế tạo tác kết hợp hai bên lại: ví dụ cơ thể ốm, tinh thần thấy âu sầu. Theo Malebranche, không có một ảnh hưởng trực tiếp từ cơ thể sang tinh thần, nhưng đó là nhờ sự luôn luôn tái lập và điều hòa của Thượng đế. Nó tiêu biểu rất rõ rệt cho chế độ quân chủ độc đoán của Pháp (Louis XIV [18]: «nhà nước là ta»). Tư tưởng này cũng thường, nhưng ở Tây Phương là một điều lạ vì phong kiến thường phân tán. 3 - LEIBNITZ. Ở Đức, vị trí phong kiến mạnh hơn nhiều, tư sản Đức rất yếu nên những khái niệm khoa học cơ lý mà giai cấp tư sản xây đựng được - trong Leibnitz - chỉ được bảo vệ với cương vị hình thức ngoại diện. Thế giới cơ lý mới xây dựng được với khoa học toán lý theo Leibnitz là chân lý, nhưng là chân lý ngoại diện; nhưng cản bản là tồn tại của tinh thần, vật chất là ngoại diện của tinh thần, tư tưởng phong kiến nặng, phủ định sự tồn tại của ngoại giới. Nó chỉ là ngoại diện. Nhưng ngoại diện này có, và có những quy luật quy định sự liên quan
  17. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx giữa ngoại diện và tinh thần. Sự liên quan do Thượng đế tạo ra nhưng chỉ một lần thôi. Tóm lại, vấn đề quan hệ giữa linh hồn và cơ thể xuất phát từ tình trạng đấu tranh không triệt để, từ sự yếu ớt của giai cấp tư sản Âu châu lục địa, một mặt nó không định khoa học có lý, khẳng định sự tồn tại của ngoại giới, vật chất có tính chất cơ lý. Nhưng đồng thời nó chưa quan niệm được bản thân nó cũng là một thực thể trong thế giới vật chất, vì nó còn vướng vít với những vấn đề cũ: bất diệt của linh hồn và tồn tại của Thượng đế. Vì trong căn bản nó còn cần đến giai cấp phong kiến, chưa giải quyết được mâu thuẫn với phong kiến. Chưa giải quyết được nhưng vẫn là mâu thuẫn căn bản, nên trong tinh thần giải pháp vẫn là giải pháp huyền học, cuối cùng phải gọi đến Thượng đế như trong thực tế cần đến quyền Vua. B - Hướng tâm lý ở Anh. Muốn biết xuất phát điểm của hướng tư tưởng này, ta cần phải xét qua những đặc điểm của lịch sử nước Anh hồi bấy giờ. Khác hẳn với các nước lục địa, ở Anh từ thời Phục hưng, giai cấp tư sản đã có cơ sở để câu kết với giai cấp phong kiến. Đó là quá trình tư sản hóa của kinh tế nông nghiệp Anh, nên ở cơ sở hai giai cấp đã cấu kết với nhau, đặc biệt trong ngành sản xuất len dạ. Phong kiến tư sản hóa nghề chăn nuôi. Dần dần bọn đại địa chủ
  18. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx chia ruộng ra từng khoảng lớn cho phú nông khai thác theo ph ương thức sản xuất. Do đó, cái thế giới kinh nghiệm căn bản đã có tính chất duy lý (có thể hiểu biết được cho giai cấp tư sản). Vấn đề là: làm sao từ kinh nghiệm tiến lên khoa học. - LOCKE nhận định rằng căn bản những hiểu biết của con người ta là phát sinh ở một quá trình cảm giác kết hợp với nhau, thí dụ cảm giác cái cây do nhiều cảm giác họp lại mà thành. Các cảm giác được kết hợp đó đã xây dựng cho ta sự hiểu biết đối tượng. Đồng thời, Locke khẳng định rằng cảm giác xuất phát từ thế giới khách quan rồi phản ánh vào tinh thần. Hiểu biết đó có giá trị, vì căn cứ vào thế giới khách quan, nhưng không có giá trị tuyệt đối vì kinh nghiệm hay thay đổi, cho nên người ta chỉ nắm được phần nào chân lý mà thôi chứ không nắm được toàn bộ. Tư tưởng đó, xét về mặt chính trị, là yêu cầu xây dựng một chính thể tương đối có công lý, không thể nào có một quyền tuyệt đối chuyên chế. Phải để cho nhân dân tự do lựa chọn tôn giáo. Quyền tự do cá nhân mà Locke đòi hỏi chính là quyền tự do mà giai cấp tư sản đòi hỏi để phát triển phương thức sản xuất của nó. - BERKELEY. Sau Locke, giai cấp tư sản thắng thế hẳn với hình thức câu kết với phong kiến, nên tư tưởng hoàn toàn chuyển về hướng duy tâm, không còn biện chính sự hiểu biết của con người chống lại một chế độ áp bức. Sự hiểu biết đó, trong phạm vi duy tâm cũng phải xuất từ chủ nghĩa kinh nghiệm của Locke, nhưng nó tách rời nội dung kinh nghiệm với thực tế khách quan. Tiêu biểu cho hướng đó là Berkeley. Ông này chủ trương rằng tất cả sự hiểu biết đều xây dựng trên cảm giác, nhưng đó chỉ là trạng thái chủ quan trong phạm vi ý thức thôi, vì theo ông, «cái mà tôi nắm được chỉ là nắm được trong ý thức». Ông đề ra một công thức hẳn hoi hoàn toàn chủ quan, và từ ngày ấy trở nên công thức của
  19. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx phong trào tư tưởng duy tâm cận đại: «Tồn tại là ở chỗ cảm giác được», chỉ có chủ quan chứ không có thực tế khách quan, làm sao các cảm giác ấy thành đối tượng được, đó không phải là do thực tế khách quan, mà là do các cảm giác được Thượng đế sắp xếp trong chủ quan chúng ta. Berkeley phủ nhận sự tồn tại của vật chất. Berkeley tiêu biểu cho một truyền thống duy tâm của giai cấp tư sản cận đại. Khác với truyền thống duy tâm Cổ đại, duy tâm của Berkeley dựa tr ên kinh nghiệm chủ nghĩa. Tư tưởng đó phản ánh rõ rệt sự phát triển của giai cấp tư sản: công nhận giá trị của kinh nghiệm, nhưng chúng vẫn dựa trên bóc lộc, mua bán nhân công tự do theo các quy luật lừa bịp, che đậy bởi hình thức tự do. Cho nên chúng căn bản vẫn phải dựa trên kinh nghiệm, nhưng là kinh nghiệm của giai cấp bóc lột: nắm phần hiểu biết có thể sử dụng được trong kinh nghiệm và gạt bỏ nguồn gốc của kinh nghiệm ấy, vì «không có Thượng đế làm sao sắp xếp được cảm giác có hệ thống như vậy». Tư tưởng của Berkeley sẽ đưa đến «chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán» sau này, chủ trương rằng kinh nghiệm không xuất phát từ thực tế khách quan mà chỉ là một cách sắp xếp theo chủ quan. * GHI CHÚ - Có 3 danh từ trong huyền học nói chung và đặc biệt trong thế kỷ XVII: thực thể (substance), thuộc tính và thể thức.
  20. Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx Ba danh từ ấy là sự quan hệ giữa những bộ phận trong mệnh đề. Thực thể là cái mà về cái ấy tôi nói, thuộc tính là cái mà tôi nói (ví dụ: cái bàn vuông), những cái mà tôi nói về một thực thể là căn bàn. Nếu dùng thuộc tính để chỉ những cái căn bản, thì những cái không căn bản tức là thuộc thể thức của vật ấy. Vấn đề đặt ra trong thế kỷ XVII: thực thể là gì? thuộc tính là gì? - Đứng về giai cấp phong kiến (về hình thức vẫn là giai cấp thống trị), tinh thần là thực thể, vật thể chỉ là ngoại diện - gắn liền với quyền lợi giai cấp. Quyền bóc lột của phong kiến dựa trên một hệ thống biện chính (Thượng đế ban ơn; dân chịu thống trị vì quyền lợi căn bản con người là tinh thần, chịu nhận là được cứu thế). Không những nhân sinh quan ấy liên quan với quyền lợi của chế độ phong kiến mà còn liên quan tới quá trình xây dựng phong kiến nữa (quá trình hình thành của Gia Tô. Trong các đạo Cổ đại, cứu thế chỉ cho dân tự do, nhưng trong Gia Tô mọi người đều bình đẳng - được cứu thế - trước Thượng đế, phản ánh sự bình đẳng hữu hạn và bề ngoài của chế độ phong kiến - chỉ có trong tinh thần thôi). - Lúc giai cấp tư sản lên, nó xây dựng một thế giới quan mới: thực thể không phải là linh hồn phụ thuộc Thượng đế mà là thế giới vật chất mà nó có thể tổ chức được trong phương thức sản xuất của nó (duy lý, tính toán được) Cuộc đấu tranh giai cấp phản ánh trong tư tưởng ở 2 cách quan niệm định nghĩa thực thể. Trước thời tư sản, vật chất và linh hồn lẫn lộn không phân biệt. Tới tư sản, với toán lý mới có quan niệm vật chất thuần túy có trọng l ượng, có khối, cứng, có vận động.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2