intTypePromotion=1

Liên quan giữa nồng độ testosteron huyết tương với mật độ xương ở bệnh nhân nam đái tháo đường týp 2

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
42
lượt xem
2
download

Liên quan giữa nồng độ testosteron huyết tương với mật độ xương ở bệnh nhân nam đái tháo đường týp 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm khảo sát nồng độ testosteron huyết tương, mật độ xương (MĐX) và mối liên quan giữa nồng độ testosteron với MĐX ở bệnh nhân (BN) nam đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2. Mời các bạn cùng tham khảo nội chung chi tiết của tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Liên quan giữa nồng độ testosteron huyết tương với mật độ xương ở bệnh nhân nam đái tháo đường týp 2

TẠP CHÍ Y - DƢỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 1-2016<br /> <br /> LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ TESTOSTERON HUYẾT TƢƠNG<br /> VỚI MẬT ĐỘ XƢƠNG Ở BỆNH NHÂN NAM<br /> ĐÁI THÁO ĐƢỜNG TÝP 2<br /> Nguyễn Thị Phi Nga*; Hồ Thị Lê**<br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: khảo sát nồng độ testosteron huyết tương, mật độ xương (MĐX) và mối liên quan<br /> giữa nồng độ testosteron với MĐX ở bệnh nhân (BN) nam đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2. Đối<br /> tượng và phương pháp: tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 106 BN nam ĐTĐ týp 2 và 35 nam giới<br /> bình thường. Kết quả và kết luận: nồng độ testosteron huyết tương ở nhóm bệnh thấp hơn<br /> nhóm chứng (4,50 ± 2,03 ng/ml so với 5,50 ± 2,59 ng/ml; p < 0,05). MĐX trung bình tại cột sống<br /> thắt lưng (CSTL) và cổ xương đùi (CXĐ) của nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng (0,919 ± 0,118<br /> 2<br /> 2<br /> 2<br /> 2<br /> g/cm so với 0,962 ± 0,809 g/cm ; p < 0,05 và 0,902 ± 0,126 g/cm so với 0,953 ± 0,094 g/cm ;<br /> p < 0,05). Có tương quan thuận giữa MĐX CXĐ với nồng độ testosteron huyết tương<br /> (r = 0,224, p < 0,05). Chưa thấy có tương quan có ý nghĩa thống kê giữa MĐX CSTL với nồng<br /> độ testosteron.<br /> * Từ khóa: Đái tháo đường týp 2; Nồng độ testosteron; Mật độ xương.<br /> <br /> The Correlation between Concentration of Plasma Testosterone<br /> and Bone Mineral Density in Male Patients with type 2 Diabetes<br /> Summary<br /> Objectives: To evaluate the concentration of plasma testosterone, bone mineral density<br /> (BMD) and the relationships between plasma testosterone levels and BMD in male patients with<br /> type 2 diabetes. Method: Prospective, cross-sectional study was conducted on 106 male<br /> patients with type 2 diabetes and 35 healthy males. Results and conclusion: The concentration<br /> of plasma testosterone in type 2 diabetic male patients was lower than that in normal males<br /> (4.50 ± 2.03 ng/ml vs 5.50 ± 2.59 ng/ml; p < 0.05). Lumbar spine BMD and femoral neck BMD in<br /> diabetic patients was lower than that in normal males (0.919 ± 0.118 g/cm2 vs 0.962 ± 0.809<br /> g/cm2; p < 0.05 and 0.902 ± 0.126 g/cm2 vs 0.953 ± 0.094 g/cm2; p < 0.05). There was a<br /> positive correlation between plasma testosterone level with femoral neck BMD (r = 0.224, p < 0.05).<br /> The correlation between concentration of plasma testosterone with lumbar spine BMD was not<br /> statistically significant.<br /> * Key words: Type 2 diabetes; Plasma testosterone; Bone Mneral density.<br /> <br /> * Bệnh viện Quân y 103<br /> ** Học viện Quân y<br /> Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thị Phi Nga (ngabv103@yahoo.com.vn)<br /> Ngày nhận bài: 29/09/2015; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 15/12/2015<br /> Ngày bài báo được đăng: 28/12/2015<br /> <br /> 97<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƢỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 1-2016<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Đái tháo đường týp 2 là một trong<br /> những bệnh nội tiết chuyển hóa được<br /> quan tâm hàng đầu do hay mắc, biến<br /> chứng nặng nề cũng như các tác động<br /> tiêu cực của bệnh đến tuổi thọ, đời sống<br /> hay kinh tế của BN và gia đình người<br /> bệnh. Cho đến nay, trên thế giới và tại<br /> Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về biến<br /> chứng của ĐTĐ. Trong đó, các biến<br /> chứng như loãng xương và suy giảm<br /> hormon sinh dục, chủ yếu và đại diện ở<br /> BN nam là testosteron, điều này không<br /> ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng,<br /> nhưng gây giảm chất lượng cuộc sống<br /> của người bệnh. Bên cạnh các yếu tố<br /> thuận lợi khác trên BN nam ĐTĐ, nồng độ<br /> testosteron giảm được cho là góp phần<br /> làm giảm MĐX, tăng nguy cơ loãng<br /> xương ở đối tượng này. Đã có nhiều<br /> công bố về lợi ích của việc sử dụng<br /> testosteron cho BN ĐTĐ. Ở Việt Nam<br /> cũng như nước ngoài có nhiều nghiên<br /> cứu đơn lẻ về testosteron, MĐX ở BN<br /> ĐTĐ. Để làm rõ hơn mối liên quan giữa<br /> testosteron, MĐX và ĐTĐ; chúng tôi tiến<br /> hành nghiên cứu đề tài với mục tiêu:<br /> Khảo sát nồng độ testosteron huyết<br /> tương, MĐX và tìm hiểu mối liên quan<br /> giữa nồng độ testosteron với MĐX ở BN<br /> nam ĐTĐ týp 2.<br /> ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tƣợng nghiên cứu.<br /> 141 BN nam chia hai nhóm:<br /> - Nhóm bệnh: 106 BN nam ĐTĐ týp 2,<br /> điều trị tại Khoa Khớp - Nội tiết, Bệnh viện<br /> Quân y 103 từ tháng 3 - 2014 đến 3 - 2015.<br /> - Nhóm chứng: 35 nam giới bình<br /> thường đến khám sức khỏe định kỳ tại<br /> Bệnh viện Quân y 103.<br /> 98<br /> <br /> * Tiêu chuẩn chọn nhóm bệnh:<br /> BN ĐTĐ týp 2 đồng ý tham gia nghiên<br /> cứu. ĐTĐ được chẩn đoán theo tiêu<br /> chuẩn của Hiệp hội ĐTĐ Mỹ (1997) và<br /> WHO công nhận 1998. Chẩn đoán ĐTĐ<br /> týp 2 dựa vào tiêu chuẩn của WHO<br /> (1985) có vận dụng cho phù hợp với điều<br /> kiện Việt Nam.<br /> * Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng: nam<br /> giới bình thường, có độ tuổi tương đương<br /> nhóm bệnh.<br /> * Tiêu chuẩn loại trừ:<br /> - Nhóm nghiên cứu:<br /> + Mắc các rối loạn về chức năng sinh<br /> dục (không do ĐTĐ) hoặc đang dùng các<br /> thuốc ảnh hưởng đến nồng độ<br /> testosteron và MĐX.<br /> + Mắc các bệnh mạn tính: suy thận<br /> mạn (không do ĐTĐ), suy gan mạn, bệnh<br /> đa u tủy xương, bệnh phổi tắc nghẽn mạn<br /> tính, hội chứng kém hấp thu.<br /> + Có tiền sử chấn thương cột sống,<br /> gãy CXĐ; dị dạng xương khớp.<br /> + Không thu thập đủ số liệu hoặc<br /> không đồng ý tham gia nghiên cứu.<br /> - Nhóm chứng:<br /> + Dùng thuốc ảnh hưởng đến nồng độ<br /> testosteron, MĐX.<br /> + Không đồng ý tham gia nghiên cứu.<br /> 2. Phƣơng pháp nghiên cứu.<br /> * Thiết kế nghiên cứu:<br /> Tiến cứu, mô tả cắt ngang, có so sánh<br /> giữa nhóm bệnh và nhóm chứng.<br /> * Các biến số dùng trong nghiên cứu:<br /> - Tiêu chuẩn đánh giá mức độ kiểm soát<br /> glucose máu: đánh giá theo mục tiêu kiểm<br /> soát glucose máu của WHO (2002), dựa<br /> vào chỉ số glucose máu lúc đói và HbA1c.<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƢỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 1-2016<br /> <br /> - Nồng độ testosteron toàn phần huyết<br /> tương:<br /> + Phương pháp định lượng: sử dụng<br /> nguyên lý miễn dịch men định lượng vi<br /> chất trên hệ thống máy xét nghiệm sinh<br /> hóa miễn dịch tự động Architect CI16000.<br /> + Tiêu chuẩn bất thường nồng độ<br /> testosterone: được đánh giá là bệnh lý khi<br /> nồng độ testosteron huyết tương của<br /> nhóm bệnh lớn hơn (tăng) hoặc nhỏ hơn<br /> (giảm) so với nồng độ testosteron trung<br /> bình huyết tương của nhóm chứng cộng<br /> hoặc trừ 1 lần độ lệch chuẩn (tăng:<br /> testosteron > X + SD, giảm: testosteron<br /> < X - SD).<br /> <br /> - Mật độ xương:<br /> + Phương pháp đo: sử dụng đo hấp<br /> thụ tia X năng lượng kép, tiến hành trên<br /> máy HOLOGIC QDR 4500. Đo ở vùng<br /> CSTL và CXĐ bên phải.<br /> + Tiêu chuẩn chẩn đoán giảm MĐX,<br /> loãng xương theo WHO (1994) dựa vào<br /> T-score: bình thường: T-score ≥ -1,0;<br /> giảm MĐX: -2,5 < T-score < -1,0; loãng<br /> xương: T-score ≤ -2,5; loãng xương<br /> nặng: T-score ≤ -2,5 kèm theo tiền sử gãy<br /> xương.<br /> * Xử lý số liệu:<br /> Số liệu nghiên cứu được xử lý theo<br /> phương pháp thống kê y học bằng phần<br /> mềm SPSS 16.0 và Microsoft Excel 2010.<br /> <br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN<br /> 1. Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu.<br /> Bảng 1: Đặc điểm tuổi của đối tượng nghiên cứu.<br /> Nhóm ĐTĐ (n = 106 )<br /> <br /> Nhóm chứng (n = 35 )<br /> <br /> < 50 [n (%)]<br /> <br /> 15 (14,2)<br /> <br /> 5 (14,2)<br /> <br /> 50 - 59 [n (%)]<br /> <br /> 25 (23,6)<br /> <br /> 9 (25,7)<br /> <br /> 60 - 69 [n (%)]<br /> <br /> 39 (36,8)<br /> <br /> 13 (37,1)<br /> <br /> Chỉ tiêu<br /> <br /> Tuổi<br /> (năm)<br /> <br /> ≥ 70 [n (%)]<br /> <br /> 27 (25,5)<br /> <br /> 8 (22,8)<br /> <br /> Trung bình<br /> <br /> 62,4 ± 10,7<br /> <br /> 62,2 ± 10,3<br /> <br /> p<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Tuổi trung bình giữa nhóm ĐTĐ và nhóm chứng khác biệt không có ý nghĩa thống<br /> kê. Trong nghiên cứu này, nhóm ĐTĐ ở độ tuổi 60 - 69 có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất,<br /> tuổi trung bình của BN 62,4 ± 10,7. Kết quả này phù hợp với tuổi hay mắc ĐTĐ týp 2<br /> và cũng tương tự với tuổi trung bình ở BN ĐTĐ trong nghiên cứu của Lê Thanh Toàn<br /> (61,1 ± 19,9) [2], Nguyễn Thị Phương Thùy (67,8 ± 7,2) [1].<br /> Bảng 2: Đặc điểm thời gian phát hiện bệnh và mức độ kiểm soát bệnh nhóm ĐTĐ.<br /> Số lƣợng<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> <br /> ≤1<br /> <br /> 36<br /> <br /> 34<br /> <br /> >1-≤5<br /> <br /> 33<br /> <br /> 31,1<br /> <br /> < 5 - ≤ 10<br /> <br /> 24<br /> <br /> 22,6<br /> <br /> > 10<br /> <br /> 13<br /> <br /> 12,3<br /> <br /> Chỉ tiêu<br /> <br /> Thời gian phát hiện bệnh (năm)<br /> <br /> Trung bình<br /> <br /> 4,7 ± 4,4<br /> <br /> 99<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƢỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 1-2016<br /> Kiếm soát glucose máu lúc đói<br /> (mmol/l)<br /> <br /> Tốt/chấp nhận được (≤ 7)<br /> <br /> 19<br /> <br /> Kém (> 7)<br /> <br /> 87<br /> <br /> Trung bình<br /> <br /> Kiểm soát HbA1c (%)<br /> <br /> 17,9<br /> 82,1<br /> 11,9 ± 5,7<br /> <br /> Tốt (< 6,5)<br /> <br /> 15<br /> <br /> 14,2<br /> <br /> Chấp nhận được (6,5 - 7,5)<br /> <br /> 16<br /> <br /> 15,1<br /> <br /> Kém (> 7,5)<br /> <br /> 75<br /> <br /> Trung bình<br /> <br /> Trong các tiêu chí đánh giá kiểm soát<br /> bệnh, chúng tôi chọn 2 chỉ tiêu là glucose<br /> máu và HbA1c. Đa số các nghiên cứu<br /> trong và ngoài nước đều kết luận việc<br /> kiểm soát các chỉ tiêu này ở BN nhập viện<br /> còn kém. Tại Hoa Kỳ, 64% BN ĐTĐ có<br /> HbA1c > 7,5; con số này ở châu Á là<br /> 79%. Nghiên cứu của Ngô Thị Thu Trang<br /> cho thấy tỷ lệ BN có mức glucose máu lúc<br /> đói tốt/chấp nhận được chiếm 20%, thấp<br /> hơn so với nhóm kiểm soát kém (80%), tỷ<br /> lệ nhóm có mức HbA1c kiểm soát kém<br /> <br /> 70,8<br /> 9,1 ± 2,3<br /> <br /> 70% [3]. Nghiên cứu của chúng tôi cũng<br /> có kết quả tương tự với 17,9% BN kiểm<br /> soát tốt/chấp nhận được chỉ tiêu glucose<br /> máu lúc đói, trong khi 82,1% BN kiểm<br /> soát kém. Ngoài ra, 70,8% BN có mức<br /> HbA1c kiểm soát kém. Như vậy, các<br /> nghiên cứu đều cho thấy việc kiểm soát<br /> bệnh ở phần lớn BN còn kém. Điều này<br /> có thể do hiểu biết về bệnh, việc tuân thủ<br /> điều trị và theo dõi BN còn hạn chế. Đây<br /> cũng là một nguyên nhân chủ yếu đòi hỏi<br /> BN đi khám và nhập viện.<br /> <br /> 2. Nồng độ testosteron của BN nam ĐTĐ týp 2.<br /> Bảng 3: Nồng độ testosteron của đối tượng nghiên cứu.<br /> Nhóm ĐTĐ (n = 106)<br /> <br /> Nhóm chứng (n = 35)<br /> <br /> p<br /> <br /> 4,50 ± 2,03<br /> <br /> 5,50 ± 2,59<br /> <br /> < 0,05<br /> <br /> Cao nhất<br /> <br /> 10,09<br /> <br /> 11,68<br /> <br /> Thấp nhất<br /> <br /> 0,13<br /> <br /> 1,19<br /> <br /> 24 (22,6)<br /> <br /> 2 (5,7)<br /> <br /> Testosteron (ng/ml)<br /> Trung bình<br /> <br /> Giảm testosteron [n (%)]<br /> <br /> Theo ghi nhận của chúng tôi, nồng độ<br /> testosteron ở nhóm BN ĐTĐ (4,50 ± 2,03<br /> ng/ml) giảm so với nhóm chứng (5,50 ±<br /> 2,59 ng/ml), p < 0,05. Tỷ lệ giảm<br /> testosteron của nhóm ĐTĐ cao hơn có ý<br /> nghĩa thống kê so với nhóm chứng<br /> (22,6% so với 5,7%, p < 0,05). Nhiều tác<br /> giả nghiên cứu về nồng độ testosteron<br /> trên BN nam ĐTĐ cũng có kết luận tương<br /> tự. Grossman và CS (2008) nghiên cứu<br /> trên 580 BN nam ĐTĐ týp 2 ở Australia<br /> kết luận: 43% BN ĐTĐ týp 2 giảm<br /> 100<br /> <br /> < 0,05<br /> <br /> testosteron toàn phần huyết tương (< 10<br /> nmol/l) [8]. Ở Việt Nam, một nghiên cứu<br /> tại Bệnh viện Y Dược Huế của Nguyễn<br /> Thị Bạch Oanh và CS (2011) cũng kết<br /> luận: nồng độ testosteron trung bình của<br /> nhóm BN ĐTĐ týp 2 (4,5 ± 1,59 ng/ml)<br /> giảm so với nhóm chứng (5,27 ± 1,59<br /> ng/ml), p < 0,05. Một số cơ chế được<br /> chứng minh cho giảm nồng độ<br /> testosteron ở BN ĐTĐ gồm: suy giảm<br /> tuyến sinh dục (do giảm lưu lượng máu<br /> nuôi dưỡng, rối loạn hoạt động thần kinh<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƢỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 1-2016<br /> <br /> chi phối, căng thẳng kéo dài do bệnh mạn<br /> tính…) dẫn đến giảm hoạt động của các<br /> nhóm tế bào tinh hoàn, trong đó có tế bào<br /> Legdig, làm giảm sản sinh testosteron.<br /> Đồng thời, đường máu tăng còn gây giảm<br /> kích thích tiết LH, dẫn đến giảm tổng hợp<br /> testosteron của tế bào Leydig. Ngoài ra,<br /> do giảm tổng hợp và tăng tiêu hủy lipid,<br /> <br /> trong khi testosteron là một steroid<br /> hormon được tổng hợp phần lớn từ<br /> cholesterol. Ở BN ĐTĐ, quá trình tổng<br /> hợp và tiêu hủy lipid bị rối loạn dẫn đến<br /> giảm tổng hợp testosteron. Như vậy, ở<br /> BN ĐTĐ, hàm lượng testosteron huyết<br /> tương sẽ giảm thấp do sự phối hợp các<br /> cơ chế trên.<br /> <br /> 3. MĐX, tỷ lệ loãng xƣơng ở BN nam ĐTĐ týp 2.<br /> Bảng 4: MĐX, tỷ lệ loãng xương ở BN nam ĐTĐ týp 2.<br /> Chỉ tiêu<br /> 2<br /> <br /> MĐX trung bình (g/cm )<br /> Toàn bộ<br /> CSTL<br /> <br /> Giảm MĐX, loãng xương [n (%)]<br /> T-score trung bình<br /> 2<br /> <br /> MĐX trung bình (g/cm )<br /> Toàn bộ<br /> CXĐ<br /> <br /> Giảm MĐX, loãng xương [n (%)]<br /> T-score trung bình<br /> <br /> ĐTĐ được cho là một trong những yếu<br /> tố thúc đẩy tình trạng giảm MĐX, loãng<br /> xương do các đặc điểm của đối tượng<br /> người bệnh như tuổi cao, lối sống tĩnh tại,<br /> dinh dưỡng không đầy đủ. Ngoài ra, tình<br /> trạng tăng glucose máu, kháng insulin,<br /> giảm IGF1 và sự xuất hiện các cytokine<br /> viêm, tác dụng của thuốc điều trị (TZD)<br /> hay biến chứng (suy thận) của ĐTĐ týp 2<br /> cũng làm tăng hủy xương, ức chế tạo xương.<br /> Trong nghiên cứu này, MĐX CSTL ở<br /> BN ĐTĐ là 0,919 ± 0,118 g/cm2, thấp hơn<br /> nhóm chứng (0,962 ± 0,809 g/cm2) có ý<br /> nghĩa thống kê với p < 0,05. MĐX tại vị trí<br /> CXĐ ở nhóm BN nam ĐTĐ là 0,902 ±<br /> 0,126 g/cm2, thấp hơn so với nhóm<br /> chứng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).<br /> T-score trung bình tại các vị trí của nhóm<br /> ĐTĐ cũng thấp hơn có ý nghĩa thống kê<br /> so với nhóm chứng.<br /> <br /> Nhóm ĐTĐ<br /> (n = 106)<br /> <br /> Nhóm chứng<br /> (n = 35)<br /> <br /> p<br /> <br /> 0,919 ± 0,118<br /> <br /> 0,962 ± 0,809<br /> <br /> < 0,05<br /> <br /> 64 (60,4)<br /> <br /> 16 (45,7)<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> -1,53 ± 1,12<br /> <br /> -1,18 ± 0,76<br /> <br /> < 0,05<br /> <br /> 0,902 ± 0,126<br /> <br /> 0,953 ± 0,094<br /> <br /> < 0,05<br /> <br /> 37 (34,9)<br /> <br /> 9 (25,7)<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> -0,81 ± 0,71<br /> <br /> -0,53 ± 0,61<br /> <br /> < 0,05<br /> <br /> Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước<br /> cũng kết luận MĐX ở BN ĐTĐ giảm hơn<br /> so với nhóm chứng. WH. Lida Kao và CS<br /> (Mỹ) (2003) nghiên cứu 600 BN ĐTĐ týp<br /> 2, kết quả: có hiện tượng giảm MĐX so<br /> với người bình thường [9]. Tại Hàn Quốc,<br /> Chenyuhua, Yan Zongxun thấy MĐX của<br /> BN bị ĐTĐ týp 2 lớn tuổi giảm hơn MĐX<br /> của người không bị ĐTĐ [11]. Ở Việt<br /> Nam, Lê Tiến Vượng kết luận MĐX ở<br /> nam giới ≥ 50 tuổi ĐTĐ týp 2 thấp hơn so<br /> với nhóm chứng [5].<br /> Tỷ lệ loãng xương CSTL và CXĐ trong<br /> nhóm BN ĐTĐ của chúng tôi có xu hướng<br /> cao hơn so với nhóm chứng, nhưng chưa<br /> có ý nghĩa thống kê. Kết quả này tương<br /> tự của Nguyễn Thị Phương Thùy: không<br /> có sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương cả ở<br /> CXĐ và CSTL giữa nhóm BN nam ĐTĐ<br /> và nhóm không ĐTĐ, p > 0,05 [1]. Tuy<br /> 101<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2