intTypePromotion=1

Liên quan giữa nồng độ testosteron huyết tương với thời gian mắc bệnh, glucose máu và HbA1c ở bệnh nhân nam đái tháo đường týp 2

Chia sẻ: ĐInh ĐInh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
11
lượt xem
2
download

Liên quan giữa nồng độ testosteron huyết tương với thời gian mắc bệnh, glucose máu và HbA1c ở bệnh nhân nam đái tháo đường týp 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tình trạng giảm nồng độ các hormon sinh dục mà đại diện và chủ yếu ở nam giới là giảm testosteron được chứng minh là tương đối thường gặp ở các bệnh nhân mắc bệnh mạn tính. Trên đối tượng nam đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2, giảm testosteron được giải thích bởi sự phối hợp nhiều cơ chế bệnh sinh. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu mối liên quan của nồng độ testosteron với thời gian mắc bệnh, glucose máu lúc đói và HbA1c ở bệnh nhân nam đái tháo đường týp 2.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Liên quan giữa nồng độ testosteron huyết tương với thời gian mắc bệnh, glucose máu và HbA1c ở bệnh nhân nam đái tháo đường týp 2

  1. nghiên cứu khoa học LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ TESTOSTERON HUYẾT TƯƠNG VỚI THỜI GIAN MẮC BỆNH, GLUCOSE MÁU VÀ HbA1c Ở BỆNH NHÂN NAM ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 Nguyễn Thị Phi Nga*, Hồ Thị Lê**, Phạm Cao Kỳ* *Bệnh viện Quân Y 103, ** Học viện Quân Y TÓM TẮT Mục tiêu: Tìm hiểu mối liên quan của nồng độ testosteron với thời gian mắc bệnh, glucose máu lúc đói và HbA1c ở bệnh nhân nam đái tháo đường týp 2. Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 90 bệnh nhân nam ĐTĐ týp 2 và 37 nam giới bình thường. Kết quả: Có liên quan giữa nồng độ testosteron với thời gian mắc bệnh đái tháo đường. Có tương quan nghịch giữa nồng độ testosteron bệnh nhân nam ĐTĐ týp 2 với HbA1c (r = -0,235, p < 0,05). Chưa thấy tương quan có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ testosteron huyết tương với glucose máu lúc đói. Từ khóa: Đái tháo đường týp 2, nồng độ testosteron huyết tương. I. ĐẶT VẤN ĐỀ II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tình trạng giảm nồng độ các hormon sinh 1. Đối tượng nghiên cứu dục mà đại diện và chủ yếu ở nam giới là giảm Gồm 127 nam giới, chia làm hai nhóm: testosteron được chứng minh là tương đối thường Nhóm bệnh (gồm 90 bệnh nhân nam ĐTĐ týp gặp ở các bệnh nhân mắc bệnh mạn tính. Trên 2 điều trị tại Khoa Khớp - Nội tiết Bệnh viện Quân Y đối tượng nam đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2, giảm 103 từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015). testosteron được giải thích bởi sự phối hợp nhiều cơ chế bệnh sinh. Sự giảm nồng độ testosteron Nhóm chứng (gồm 37 nam giới bình thường dẫn đến nhiều hậu quả như suy sinh dục hay đến khám sức khỏe định kỳ tại Bệnh viện 103). làm trầm trọng các biểu hiện của bệnh đái tháo - Tiêu chuẩn chọn nhóm bệnh: đường. Ngược lại, các đặc trưng trên đối tượng Các bệnh nhân ĐTĐ týp 2 đồng ý tham gia nam đái tháo đường như thời gian mắc bệnh hay nghiên cứu. ĐTĐ được chẩn đoán theo tiêu chuẩn mức độ kiểm soát bệnh cũng ảnh hưởng đến nồng của Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ 1997 và WHO độ testosteron. Đã có nhiều nghiên cứu đơn lẻ về công nhận 1998. Chẩn đoán týp 2 dựa vào một số nồng độ testosteron trên đối tượng nam đái tháo tiêu chuẩn của WHO (1985) có vận dụng cho phù đường, tuy nhiên mối liên quan với các đặc trưng hợp với điều kiện Việt Nam. trên của bệnh thì chưa rõ. Do vậy, chúng tôi tiến - Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng: hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu: Tìm hiểu mối liên quan của nồng độ testosteron với thời Các nam giới bình thường, có độ tuổi tương gian mắc bệnh, glucose và HbA1c ở bệnh nhân đương nhóm bệnh. nam đái tháo đường týp 2. - Tiêu chuẩn loại trừ: Tạp chí 272 Nội khoa Việt Nam Tài liệu Hội nghị Khoa học Nội khoa Toàn quốc lần IX
  2. nghiên cứu khoa học Nhóm nghiên cứu: Đánh giá theo mục tiêu kiểm soát glucose + Mắc các rối loạn về chức năng sinh dục máu lúc đói theo WHO (2002), dựa vào chỉ số (không do ĐTĐ). glucose máu lúc đói và HbA1c. + Bệnh nhân đang dùng các thuốc ảnh hưởng Bảng 2.2. Tiêu chuẩn đánh giá kiểm soát đến nồng độ testosteron. glucose máu, HbA1c + Bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính: suy Chấp nhận thận mạn (không do ĐTĐ), suy gan mạn, bệnh đa Chỉ tiêu Tốt Kém được u tủy xương, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hội chứng kém hấp thu. Glucose máu 4,4 - 6,1 6,1 - ≤ 7,0 > 7,0 lúc đói (mmol/l) + Bệnh nhân không thu thập đủ số liệu hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu. HbA1c (%) < 6,5 6,5 ≤ - ≤ 7,5 > 7,5 Nhóm chứng: Các trường hợp dùng thuốc 2.2.4. Nồng độ testosteron toàn phần huyết ảnh hưởng đến nồng độ testosteron hoặc không tương đồng ý tham gia nghiên cứu. - Phương pháp định lượng: Sử dụng nguyên 2. Phương pháp nghiên cứu lý miễn dịch men định lượng vi chất (Microparticle enzym immuno assay - MEIA) trên hệ thống máy 2.1. Thiết kế nghiên cứu xét nghiệm sinh hóa miễn dịch tự động Architect Phương pháp nghiên cứu tiến cứu, mô tả CI16000 (Abbott) tại Khoa Sinh hóa Bệnh viện 103. cắt ngang, có so sánh giữa nhóm nghiên cứu và - Tiêu chuẩn bất thường nồng độ testosteron (T) nhóm chứng. Được đánh giá là bệnh lý khi nồng độ 2.2. Các biến số dùng trong nghiên cứu testosteron huyết tương của nhóm bệnh lớn 2.2.1. Tuổi: hơn (tăng) hoặc nhỏ hơn (giảm) so với nồng độ Tuổi bệnh nhân là tuổi tại thời điểm nhập viện. testosteron trung bình huyết tương của nhóm chứng cộng hoặc trừ 1 lần độ lệch chuẩn (tăng: 2.2.2. Thời gian mắc bệnh (TGMB) đái tháo testosteron > + SD, giảm: testosteron < – SD). đường: Đơn vị tính bằng năm, chia thành 2 nhóm: < 2.3. Xử lý số liệu 5 năm, ≥ 5 năm. Số liệu nghiên cứu được xử lý theo phương 2.2.3. Tiêu chuẩn đánh giá mức độ kiểm soát pháp thống kê y học bằng phần mềm SPSS 16.0 glucose máu: và Microsoft Excel 2007. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Bảng 1. Đặc điểm tuổi và nồng độ testosteron huyết tương nhóm nghiên cứu Nhóm ĐTĐ Nhóm chứng Chỉ tiêu p (n = 90) (n = 37) Tuổi trung bình (năm) 62,19 ± 10,29 58,38 ± 11,15 > 0,05 Trung bình 4,54 ± 1,99 5,53 ± 2,35 < 0,05 Testosteron (ng/ml) Cao nhất 10,09 11,68 Thấp nhất 0,13 1,19 Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của bệnh nhân là 62,19 ± 10,29. Kết quả này cũng tương tự với tuổi trung bình ở bệnh nhân ĐTĐ trong nghiên cứu của các tác giả Lê Thanh Toàn (61,1 ± 19,9) [3] và Ngô Thị Thu Trang (62,8 ± 11,2) [4]. Có thể nhận thấy các nghiên cứu đều kết luận tuổi mắc Tạp chí Tài liệu Hội nghị Khoa học Nội khoa Toàn quốc lần IX Nội khoa Việt Nam 273
  3. nghiên cứu khoa học bệnh tương đối cao. Điều này phù hợp với đặc cũng giảm thấp. điểm bệnh ĐTĐ týp 2, khi tuổi cao là yếu tố nguy Nhiều tác giả nghiên cứu nồng độ testosteron cơ của bệnh. trên bệnh nhân nam đái tháo đường cũng cho Nồng độ testosteron huyết tương ở nhóm kết quả tương tự. Như nghiên cứu tiến hành trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2 trong nghiên cứu này là 1089 bệnh nhân nam ĐTĐ týp 2 điều trị tại Trung 4,54 ± 1,99 ng/ml, giảm so với nhóm chứng (5,53 tâm ĐTĐ ở Amman, Jordan của tác giả Ayman A ± 2,35 ng/ml) có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. AI Hayek và cộng sự (2009) rút ra kết luận rằng Một số cơ chế được chứng minh cho sự 36,5% bệnh nhân có giảm testosteron huyết giảm nồng độ testosteron ở bệnh nhân ĐTĐ gồm tương, 29% có biểu hiện của hội chứng suy sinh có suy giảm tuyến sinh dục (do giảm lưu lượng dục nam [5]. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Quýnh máu nuôi dưỡng, rối loạn hoạt động thần kinh chi và cs (2007) ghi nhận nồng độ testosteron huyết phối, căng thẳng kéo dài do bệnh mạn tính…) dẫn tương ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 giảm so với nhóm đến giảm hoạt động của các nhóm tế bào của tinh chứng (9,7 ± 3,74 ng/ml so với 10,4 ± 3,42 ng/ml) hoàn, trong đó có tế bào Legdig, làm giảm sản [2]. Một nghiên cứu tại Bệnh viện Y Dược Huế của sinh testosteron. Đồng thời, sự tăng đường máu Nguyễn Thị Bạch Oanh và cộng sự (2011) kết luận còn gây giảm kích thích tiết LH, dẫn đến giảm tổng rằng nồng độ testosteron trung bình của nhóm hợp testosteron của tế bào Leydig. Ngoài ra, còn bệnh nhân ĐTĐ týp 2 (4,5 ± 1,59 ng/ml) giảm so do sự giảm tổng hợp và tăng tiêu hủy Lipid trong với nhóm chứng (5,27 ± 1,59 ng/ml) có ý nghĩa khi testosteron là một steroid hormon, được tổng thống kê với p < 0,05 [1]. hợp phần lớn từ cholesterol. Ở bệnh nhân ĐTĐ, Có thể thấy rằng kết quả này cùng với các quá trình tổng hợp và tiêu hủy lipid bị rối loạn dẫn nghiên cứu kể trên đều cho thấy sự giảm nồng độ đến giảm tổng hợp testosteron. Như vậy, ở bệnh testosteron huyết tương ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2. nhân ĐTĐ, hàm lượng testosteron huyết tương Testosteron còn được coi là một chỉ dấu để tiên sẽ giảm thấp và cả globulin gắn hormon sinh dục lượng bệnh nhân ĐTĐ týp 2. Bảng 2. Đặc điểm thời gian mắc bệnh, mức độ kiểm soát glucose máu, HbA1c Chỉ tiêu Số lượng Tỉ lệ (%) < 5 năm 52 57,8 Thời gian mắc bệnh ≥ 5 năm 38 42,2 (năm) Trung bình 4,9 ± 4,5 Tốt/Chấp nhận được (≤ 7) 17 18,9 Kiếm soát glucose máu Kém (> 7) 73 81,1 lúc đói (mmol/l) Trung bình 11,77 ± 5,81 Tốt (< 6,5) 14 15,6 Chấp nhận được (6,5 - 7,5) 12 13,3 Kiểm soát HbA1c (%) Kém (> 7,5) 64 71,1 Trung bình 9,05 ± 2,26 Thời gian mắc bệnh trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 4,9 ± 4,5 năm, phần lớn bệnh nhân mắc bệnh trong vòng 5 năm. Kết quả này cũng tương tự với nhận định của các tác giả Lingxu và cs (5,17 ± 3,5 năm) [10], Ngô Thị Thu Trang (5,3 ± 4,3 năm; 52,7% bệnh nhân mắc bệnh < 5 năm). Trong các tiêu chí đánh giá kiểm soát ĐTĐ theo Hội Nội tiết đái tháo đường Việt Nam 2009, chúng tôi chọn 2 chỉ tiêu là glucose máu và HbA1c. Đa số các nghiên cứu trong và ngoài nước đều kết luận việc Tạp chí 274 Nội khoa Việt Nam Tài liệu Hội nghị Khoa học Nội khoa Toàn quốc lần IX
  4. nghiên cứu khoa học kiểm soát các chỉ tiêu này ở đối tượng bệnh nhân Nghiên cứu của chúng tôi cũng có kết quả nhập viện còn kém. Tại Hoa Kỳ có 64% BN ĐTĐ tương tự, với các nồng độ glucose máu và HbA1c có HbA1c > 7,5; còn con số này ở châu Á là 79%. trung bình lần lượt là 11,77 ± 5,81 mmol/l và 9,05 Tác giả Lê Thanh Toàn kết luận 20,5% số bệnh ± 2,26 (%) với 18,9% bệnh nhân kiểm soát tốt/ nhân ĐTĐ týp 2 có mức glucose máu tốt/chấp chấp nhận được chỉ tiêu glucose máu lúc đói trong nhận được và 79,5% kém [3], trong khi nghiên cứu khi 81,1% số bệnh nhân kiểm soát kém. Ngoài ra, của Ngô Thị Thu Trang cho thấy tỉ lệ BN có mức tỉ lệ bệnh nhân có mức HbA1c kiểm soát kém là glucose máu lúc đói tốt/chấp nhận được chiếm 71,1%. Như vậy, các nghiên cứu đều cho thấy việc 20%, thấp hơn so với nhóm kiểm soát kém (80%), kiểm soát bệnh ở phần lớn bệnh nhân còn kém. tỉ lệ nhóm có mức HbA1c kiểm soát kém là 70%, Điều này có thể do hiểu biết về bệnh, việc tuân nồng độ glucose máu trung bình là 12,15 ± 6,17 thủ điều trị và theo dõi của bệnh nhân còn hạn mmol/l, nồng độ HbA1c trung bình là 9,69 ± 2,80% chế. Đây cũng là một nguyên nhân chủ yếu đòi hỏi [4]. bệnh nhân đi khám và nhập viện. 2. Liên quan giữa nồng độ testosteron huyết tương với thời gian mắc bệnh và mức độ kiểm soát bệnh ở bệnh nhân nam đái tháo đường týp 2 Bảng 3. Liên quan giữa nồng độ testosteron với thời gian mắc ĐTĐ Thời gian mắc ĐTĐ (năm) Chỉ tiêu p < 5 (n = 52) ≥ 5 (n = 38) Nồng độ testosteron (ng/ml) 4,96 ± 1,92 3,96 ± 1,97 < 0,05 Giảm testosteron [n (%)] 8 (15,4) 13 (34,2) < 0,05 Thời gian mắc ĐTĐ được coi là một trong những yếu tố thúc đẩy sự xuất hiện và mức độ trầm trọng của các biến chứng. Kết quả của chúng tôi cho thấy có liên quan giữa nồng độ testosteron huyết tương với thời gian mắc bệnh. Cụ thể, nhóm bệnh nhân có thời gian mắc bệnh ≥ 5 năm có nồng độ testosteron giảm thấp và tỉ lệ giảm testosteron cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có thời gian này < 5 năm (3,96 ± 1,97 ng/ml so với 4,96 ± 1,92 ng/ml; và 34,2% so với 15,4%; p < 0,05). Nghiên cứu của Ayman A.và cs trên 1089 nam ĐTĐ týp 2 tại trung tâm điều trị ĐTĐ Amma, Jordan trong 1 năm cũng cho nhận định tương tự khi thấy nồng độ testosteron thấp hơn và tỉ lệ giảm testosteron cao hơn ở nhóm có thời gian ĐTĐ ≥ 10 năm so với nhóm có thời gian mắc bệnh < 10 năm, có ý nghĩa thống kê (p = 0,005) [5]. Tuy nhiên, tác giả Ganesh HK khi nghiên cứu trên 100 nam ĐTĐ týp 2 tại Ấn Độ lại kết luận tình trạng suy sinh dục không có liên quan với thời gian mắc bệnh [7]. Thời gian mắc ĐTĐ càng dài, tác động của tình trạng glucose máu cao càng nhiều lên chức năng tuyến sinh dục, cũng như giải phẫu mạch máu, thần kinh chi phối hoạt động tuyến sinh dục dẫn đến giảm sản xuất testosteron. Tuy nhiên, nếu kiểm soát tốt bệnh, có thể khống chế được sự xuất hiện các biến chứng cũng như sự suy giảm chức năng sinh dục theo thời gian. Bảng 4. Phương trình tương quan giữa nồng độ testosteron huyết tương với glucose máu lúc đói và HbA1c Chỉ tiêu Phương trình r p Glucose máu lúc đói T = -0,035 * Glucose + 4,951 -0,102 > 0,05 (mmol/l) HbA1c (%) T = -0,207 * HbA1c + 6,415 -0,235 < 0,05 Tạp chí Tài liệu Hội nghị Khoa học Nội khoa Toàn quốc lần IX Nội khoa Việt Nam 275
  5. nghiên cứu khoa học Biểu đồ 1. Tương quan giữa nồng độ testosteron với nồng độ HbA1c Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá HbA1c. Nghiên cứu của chúng tôi thấy có tương tương quan giữa nồng độ glucose máu và HbA1c quan giữa nồng độ testosteron với HbA1c mà với nồng độ testosteron huyết tương. Kết quả cho chưa thấy liên quan giữa mức độ kiểm soát nồng thấy Có tương quan nghịch, mức độ yếu giữa nồng độ glucose máu với testosteron, có thể do xét độ testosteron với nồng độ HbA1c, r = - 0,235, p < nghiệm glucose máu tại một thời điểm phụ thuộc 0,05. Chưa thấy tương quan có ý nghĩa thống kê vào nhiều yếu tố như chế độ ăn ngày hôm trước, giữa nồng độ testosteron huyết tương với glucose đồng thời glucose máu cũng chưa phản ánh chính máu lúc đói. xác và ổn định thực trạng kiểm soát bệnh trong Các tác giả khác cũng cho thấy có liên quan thời gian dài bằng HbA1c. Tuy nhiên, kiểm soát tốt giữa testosteron huyết tương với glucose máu và ĐTĐ vẫn là mục tiêu hàng đầu trong điều trị bệnh, giúp ngăn chặn các biến chứng mạn tính trong HbA1c. Grosman nhận định có tương quan nghịch đó có suy sinh dục. Ngược lại, testosteron cũng giữa nồng độ testosteron huyết tương với nồng tác động lên việc cải thiện nồng độ HbA1c ở bệnh độ glucose máu (r = -0,11; p = 0,005) khi nghiên nhân ĐTĐ. Boyanov nghiên cứu hiệu quả của liệu cứu rối loạn chuyển hóa ở nam trưởng thành [8]. pháp testosteron trong 3 tháng trên 48 bệnh nhân Nghiên cứu nguy cơ bệnh tim mạch trên 50 nam nam ĐTĐ týp 2, kết quả cho thấy HbA1c giảm giới của Simon và cs cho thấy nhóm nam giới có 1,8% (p < 0,05). Nghiên cứu khác của tác giả giảm testosteron huyết tương có nồng độ glucose Kapoor cũng nhận định bổ sung testosteron cho máu lúc đói và glucose máu sau ăn 2 giờ cao hơn bệnh nhân nam ĐTĐ týp 2 giúp HbA1c giảm được nhóm có testosteron bình thường (p < 0,04 và p 0,4% (p = 0,03) [9]. < 0,02 tương ứng) [11]. Ayman A và cs cũng kết luận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,009) IV. KẾT LUẬN về nồng độ testosteron, tỉ lệ bệnh nhân giảm Nhóm bệnh nhân nam ĐTĐ týp 2 có thời gian testosteron giữa nhóm có mức HbA1c tốt/chấp mắc bệnh ≥ 5 năm có nồng độ testosteron thấp nhận được so với nhóm có chỉ số này ở mức kém hơn và tỉ lệ giảm testosteron cao hơn có ý nghĩa khi nghiên cứu 1089 bệnh nhân nam ĐTĐ týp 2 thống kê so với nhóm mắc bệnh < 5 năm (3,96 ± [5]. Một nghiên cứu khác trên 255 bệnh nhân nam 1,97 ng/ml so với 4,96 ± 1,92 ng/ml và 34,2% so ĐTĐ týp 2 của Fukui M và cs cũng cho kết quả có với 15,4%; p < 0,05). Có tương quan nghịch giữa tương quan nghịch giữa testosteron huyết tương nồng độ testosteron bệnh nhân nam ĐTĐ týp 2 với HbA1c (r = -0,278, p < 0,0001) [6]. với HbA1c (r = -0,235, p < 0,05). Chưa thấy tương Như vậy, nồng độ testosteron huyết tương có quan có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ testosteron liên quan với mức độ kiểm soát glucose máu và huyết tương với glucose máu lúc đói. Tạp chí 276 Nội khoa Việt Nam Tài liệu Hội nghị Khoa học Nội khoa Toàn quốc lần IX
  6. nghiên cứu khoa học TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thị Bạch Oanh, Nguyễn Hải Thủy, glycated albumin to glycated hemoglobin in men Nguyễn Cửu Lợi (2012), “Nồng độ Testosterone ở with type 2 diabetes”, Diabetes Care. 31(3), pp. bệnh nhân đái tháo đường típ 2”, Tạp chí Nội tiết 397-401. – Đái tháo đường. 6/2012 (Kỷ yếu toàn văn các đề 7. Ganesh H K., H. A. Vijaya Sarathi, J. George tài khoa học – Hội nghị Nội tiết và Đái tháo đường et al. (2009), “Prevalence of hypogonadism in Toàn quốc lần thứ IV), pp. 317 – 324. patients with type 2 diabetes mellitus in an Asian 2. Nguyễn Văn Quýnh, Trần Đình Thắng, Indian study group”, Endocr Pract. 15(6), pp. 513-20. Nguyễn Xuân Hiệp (2007), “Nghiên cứu nồng độ 8. Grosman H., M. Rosales, B. Fabre et al. Testosteron ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2”, (2014), “Association between testosterone levels Báo cáo toàn văn các đề tài khoa học: Hội nghị and the metabolic syndrome in adult men”, Aging khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và Male. 17(3), pp. 161-5. chuyển hóa lần thứ 3. 3. Lê Thanh Toàn (2011), Nghiên cứu mật 9. Hugh Jones T. (2010), “Effects of độ xương, tỷ lệ loãng xương ở bệnh nhân đái testosterone on Type 2 diabetes and components tháo đường điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy bằng of the metabolic syndrome”, Journal of Diabetes. phương pháp DEXA, Học viện Quân Y. 2(3), pp. 146-156. 4. Ngô Thị Thu Trang (2013), Nghiên cứu mật 10. Ling Xu, Mei Cheng, Xiangqun Liu et độ xương, tỉ lệ loãng xương ở bệnh nhân nữ, đái al. (2006), “Bone mineral density and its Related tháo đường týp 2, Học viện Quân y. Factors in Elderly Male Chinese Patients with 5. Al Hayek A., Y. S. Khader, S. Jafal et al. Type 2 Diabetes”, Archives of Medical Research. (2013), “Prevalence of low testosterone levels in 38, pp. 259-264. men with type 2 diabetes mellitus: a cross-sectional 11. Simon D., MA Charles, K Nahoul et study”, J Family Community Med. 20(3), pp. 179-86. al. (1997), “Association between plasma total 6. Fukui M., M Tanaka, G Hasegawa et al. testosterone and cardiovascular risk factors in (2008), “Association between serum bioavailable healthy adult men: The Telecom Study”, J Clin testosterone concentration and the ratio of Endocrinol Metab. 82(1), pp. 682-5. ABSTRACT THE CORRELATION BETWEEN CONCENTRATION OF PLASMA TESTOSTERONE AND DURATION OF DIABETES, GLUCOSE AND HbA1c LEVELS IN MALE PATIENTS WITH TYPE 2 DIABETES Objective: To evaluate the relationship between plasma testosterone levels and duration of diabetes, levels of fasting glucose and HbA1c in male patients with type 2 diabetes. Method: Prospective, cross-sectional study conducted in 90 male patients with type 2 diabetes and 37 heathy males. Results: There was a relation between plasma testosterone level with duration of diabetes. There was a negative correlation between plasma testosterone level with HbA1c (r = -0.235, p < 0.05). The correlation between concentration of plasma testosteron and fasting glucose level was not statistically significant. Keywords: type 2 diabetes, concentration of plasma testosterone. Tạp chí Tài liệu Hội nghị Khoa học Nội khoa Toàn quốc lần IX Nội khoa Việt Nam 277
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2