HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN VĂN LỰC

Khu ñy TrÞ - Thiªn - HuÕ

trong cuéc kh¸ng chiÕn chèng Mü, cøu n íc

tõ n¨m 1966 ®Õn n¨m 1975

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2016

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN VĂN LỰC

Khu ñy TrÞ - Thiªn - HuÕ

trong cuéc kh¸ng chiÕn chèng Mü, cøu n íc

tõ n¨m 1966 ®Õn n¨m 1975

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Mã số: 62 22 03 15

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:

1. PGS,TS. Nguyễn Trọng Phúc

2. PGS,TS. Trịnh Thị Hồng Hạnh

HÀ NỘI - 2016

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng

tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có

nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả luận án Trần Văn Lực

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

........................................................................................................ 1

Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ

TÀI LUẬN ÁN.................................................................................. 7

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ................................ 7

1.2. Những vấn đề luận án kế thừa và những vấn đề đặt ra luận án cần

tập trung nghiên cứu ............................................................................ 20

Chƣơng 2: KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ THÀNH LẬP, LÃNH ĐẠO KHÁNG

CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC TỪ NĂM 1966 ĐẾN NĂM 1968 .... 23

2.1. Thành lập và kiện toàn tổ chức Khu ủy Trị - Thiên - Huế ................... 23

2.2. Khu ủy Trị - Thiên - Huế lãnh đạo kháng chiến từ năm 1966 đến

năm 1968 ............................................................................................. 38

Chƣơng 3: KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ LÃNH

ĐẠO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC TỪ NĂM 1969

ĐẾN NĂM 1975 .............................................................................. 67

3.1. Củng cố tổ chức và lực lƣợng, lãnh đạo khôi phục thế trận, chủ

động tiến công, giải phóng Quảng Trị (1969-1972) ........................... 67

3.2. Phát triển tổ chức, lãnh đạo xây dựng vùng giải phóng, Tổng tiến

công và nổi dậy ở Trị - Thiên - Huế (1973-1975) ............................... 92

Chƣơng 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ..................................................... 111

4.1. Nhận xét .............................................................................................. 111

4.2. Một số kinh nghiệm ............................................................................ 126

KẾT LUẬN .................................................................................................... 149

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ................................................................ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 152

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ban Chấp hành BCH

BCT Bộ Chính trị

CQVNCH Chính quyền Việt Nam Cộng hòa

CTND Chiến tranh nhân dân

CNXH Chủ nghĩa xã hội

CHMNVN Cộng hòa miền Nam Việt Nam

KCCMCN Kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc

LLCM Lực lƣợng cách mạng

LSQSVN Lịch sử Quân sự Việt Nam

MTDTGP Mặt trận dân tộc giải phóng

QĐND Quân đội nhân dân

QĐVNCH Quân đội Việt Nam Cộng hòa

QGP Quân Giải phóng

QUTW Quân ủy Trung ƣơng

TTH Trị - Thiên - Huế

VNDCCH Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

XHCN Xã hội chủ nghĩa

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (KCCMCN) của dân tộc Việt

Nam lùi xa vào lịch sử hơn bốn thập niên nhƣng luôn in đậm trong trang sử

vàng của dân tộc và luôn ngời sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đó là

thắng lợi của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, của chủ nghĩa anh hùng cách

mạng, của sự đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, của các lực lƣợng vũ trang

nhân dân… và trên hết là thắng lợi của đƣờng lối, phƣơng pháp cách mạng

đúng đắn của Đảng.

Một trong những nét độc đáo, sáng tạo trong đƣờng lối cách mạng của

Đảng là lãnh đạo công tác xây dựng tổ chức Đảng ở các địa phƣơng, các

chiến trƣờng phù hợp với thực tiễn cuộc KCCMCN. Việc Bộ Chính trị (BCT)

quyết định tổ chức lại, thành lập mới nhiều tổ chức của Đảng, trong đó có

Khu ủy Trị - Thiên - Huế (TTH) cũng không ngoài mục đích nêu trên.

Theo quy định của Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), Việt Nam bị chia

cắt làm hai miền, Vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời. Đối với Việt

Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), TTH nằm ở phía Nam Vĩ tuyến 17, trở

thành “đầu cầu” chiến lƣợc nối liền hai miền Nam - Bắc; địa bàn trực tiếp bảo

vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ vùng giải phóng Trung, Hạ

Lào; bàn đạp tiến công địch ở TTH và điểm xuất phát để tiến công vào miền

Nam; là hành lang chiến lƣợc của ba nƣớc Đông Dƣơng. Đối với đế quốc Mỹ

và chính quyền Việt Nam Cộng hòa (CQVNCH), TTH là địa bàn tổ chức

phòng ngự, ngăn chặn sự chi viện sức ngƣời sức của từ miền Bắc đối với

miền Nam, Lào và Campuchia; ngăn chặn sự tiến công, ảnh hƣởng của miền

Bắc đối với chế độ của đế quốc Mỹ ở miền Nam; là bình phong, “lá chắn”

vững chắc cho căn cứ Đà Nẵng; làm bàn đạp để uy hiếp, tiến công xâm lƣợc

miền Bắc, trƣớc hết là phía Nam Quân khu IV và vùng giải phóng Trung, Hạ

Lào; luôn coi trọng và tăng cƣờng xây dựng TTH thành khu vực trọng điểm.

2

Trong cuộc KCCMCN, TTH là địa bàn tiền tiêu, một hƣớng chiến lƣợc

quan trọng về quân sự và chính trị; vừa là chiến trƣờng tác chiến của các binh

đoàn chủ lực, vừa là chiến trƣờng chiến tranh nhân dân (CTND) địa phƣơng.

Có thời điểm, TTH “đƣợc chọn làm hƣớng tiến công chủ yếu trong một số

cuộc tiến công chiến lƣợc của toàn Miền; vừa có nhiệm vụ tiêu diệt, thu hút,

kiềm chế quân chủ lực cơ động của Mỹ - ngụy, vừa có nhiệm vụ giành dân,

giành quyền làm chủ trên cả ba vùng chiến lƣợc” [125, tr.20]. Chiến trƣờng

TTH thực sự là nơi diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt của hai chế độ, hai lực

lƣợng cách mạng (LLCM) và phản cách mạng.

Hơn mƣời năm đầu của cuộc KCCMCN (từ tháng 3-1955 đến tháng 4-

1966), Quảng Trị và Thừa Thiên đƣợc tổ chức thành Liên Tỉnh ủy Bắc (Liên

Tỉnh ủy Trị - Thiên), trực thuộc Khu ủy V. Trong thời gian này, Liên Tỉnh ủy

Trị - Thiên thực hiện nhiệm vụ “khu đệm”, hạn chế đấu tranh vũ trang, kết

quả đấu tranh thấp so với toàn miền Nam. Khi đế quốc Mỹ triển khai chiến

lƣợc “Chiến tranh cục bộ”, cuộc KCCMCN gay go, ác liệt hơn, chiến trƣờng

TTH cũng “nóng bỏng” hơn. Tuy nhiên, cơ quan lãnh đạo Liên Tỉnh ủy Trị -

Thiên lại bộc lộ nhiều khuyết điểm, khó đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ mới.

Đến giữa năm 1966, thực hiện chủ trƣơng mới của Trung ƣơng Đảng, ở

chiến trƣờng TTH có sự thay đổi lớn về tổ chức. Bộ Chính trị quyết định

thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế; đồng thời Quân ủy Trung ƣơng (QUTW)

quyết định thành lập Quân khu Trị - Thiên - Huế vào tháng 4-1966. Khu ủy

TTH đặt dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của BCT và QUTW (khi đƣợc BCT ủy

nhiệm). Quân Khu ủy do “Khu ủy trực tiếp lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo, chỉ

huy về mọi mặt của Quân ủy Trung ƣơng” [218, tr.328].

Suốt 9 năm hoạt động, Khu ủy TTH thể hiện rõ quá trình kiện toàn, xây

dựng, phát triển về tổ chức và lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiều nhiệm vụ

quan trọng của CTND ở địa phƣơng, phối hợp chặt chẽ cùng các đơn vị vũ

trang chủ lực của Trung ƣơng tiến công địch, giành thắng lợi lớn trong chiến

dịch Đƣờng 9 - Khe Sanh năm 1968; Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân

3

1968 ở Huế; chiến dịch phản công Đƣờng 9 - Nam Lào năm 1971; chiến dịch

tiến công chiến lƣợc Trị - Thiên năm 1972, giải phóng tỉnh Quảng Trị; Tổng

tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn TTH, góp phần

trực tiếp vào đánh thắng các chiến lƣợc chiến tranh mà đế quốc Mỹ và

CQVNCH đã tiến hành ở miền Nam Việt Nam từ năm 1966 đến năm 1975.

Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về tổ chức và quá trình Khu

ủy lãnh đạo CTND ở chiến trƣờng TTH, một trong những chiến trƣờng phức

tạp, ác liệt nhất là cần thiết, góp phần tổng kết sâu sắc hơn về cuộc

KCCMCN; góp phần tổng kết công tác xây dựng Đảng; tổng kết một số kinh

nghiệm có ý nghĩa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Vì

vậy, tác giả chọn vấn đề Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến

chống Mỹ, cứu nước từ năm 1966 đến năm 1975 làm đề tài luận án tiến sĩ

lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Làm rõ quá trình thành lập, xây dựng tổ chức và lãnh đạo CTND của

Khu ủy TTH trong cuộc KCCMCN từ năm 1966 đến năm 1975; những thành

công, hạn chế và tổng kết một số kinh nghiệm.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát tình hình và chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng về cuộc

KCCMCN từ năm 1965 đến năm 1975.

- Phân tích đặc điểm chiến trƣờng TTH trong cuộc KCCMCN, nhất là

từ năm 1965 khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, thực hiện chiến lƣợc

“Chiến tranh cục bộ”;

- Nêu rõ yêu cầu khách quan thành lập, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ

chức của Khu ủy TTH;

- Trình bày quá trình kiện toàn, xây dựng, phát triển về tổ chức và quá

trình lãnh đạo toàn diện cuộc KCCMCN của Khu ủy từ năm 1966 đến năm

1975 trên địa bàn TTH;

4

- Đánh giá thành công, hạn chế và tổng kết một số kinh nghiệm từ quá

trình thành lập, xây dựng Khu ủy; quá trình lãnh đạo cuộc KCCMCN của

Khu ủy từ năm 1966 đến năm 1975.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu sự thành lập Khu ủy TTH; quá trình xây dựng tổ

chức và quá trình lãnh đạo CTND của Khu ủy TTH trong cuộc KCCMCN từ

năm 1966 đến năm 1975.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung khoa học: Luận án nghiên cứu sự thành lập; quá trình

kiện toàn, xây dựng, phát triển tổ chức của Khu ủy TTH; quá trình Khu ủy

lãnh đạo nhân dân địa phƣơng tiến hành KCCMCN. Do nguồn tƣ liệu lƣu trữ

và các nguồn tài liệu khác về công tác tổ chức, xây dựng Khu ủy ít, không

liên tục theo trình tự thời gian nên dung lƣợng phần xây dựng tổ chức của

Khu ủy trong luận án chỉ trình bày ở mức độ nhất định, mà tập trung nhấn

mạnh nhiều hơn về quá trình Khu ủy lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ: đấu

tranh quân sự, đấu tranh chính trị và công tác vận động quần chúng, đấu tranh

binh vận, công tác xây dựng Đảng, công tác phát triển kinh tế và xây dựng

vùng giải phóng ở địa bàn TTH.

- Về không gian: Sự lãnh đạo của Khu ủy trên địa bàn TTH bao gồm

hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế, trải dài từ phía Nam sông

Bến Hải (Vĩ tuyến 17) - Vĩnh Linh (Quảng Trị) đến phía Bắc đèo Hải Vân

(Phú Lộc - Thừa Thiên Huế);

- Về thời gian: Từ tháng 4-1966 (Khu ủy TTH thành lập) đến tháng 4-

1975 (Khu ủy TTH giải thể).

4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

4.1. Cơ sở lý luận

Luận án đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của những nguyên lý cơ

bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của

5

Đảng về CTND, về vai trò của quần chúng nhân dân đối với lịch sử, về công

tác xây dựng Đảng.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phƣơng pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ

tƣởng Hồ Chí Minh, tác giả chủ yếu sử dụng phƣơng pháp lịch sử, phƣơng

pháp lôgic nhằm tái hiện về Khu ủy TTH trong cuộc KCCMCN từ năm 1966

đến năm 1975. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng kết hợp với các phƣơng pháp

khác: phƣơng pháp điền dã, phƣơng pháp nghiên cứu văn bản học, phƣơng

pháp phân tích - tổng hợp, phƣơng pháp chứng minh, phƣơng pháp so sánh…

để nghiên cứu làm rõ nội dung đề cập ở mỗi chƣơng của luận án.

5. Nguồn tƣ liệu

Luận án đƣợc nghiên cứu và luận giải trên cơ sở tiếp cận nhiều nguồn

tƣ liệu:

- Các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí

Minh bàn về chiến tranh nhân dân, về vai trò của quần chúng nhân dân trong

lịch sử và về công tác xây dựng Đảng;

- Các nghị quyết, chỉ thị, điện văn, báo cáo của Trung ƣơng Đảng,

QUTW, Khu ủy, Quân Khu ủy TTH, các đảng bộ địa phƣơng đƣợc lƣu trữ tại

Cục Lƣu trữ văn phòng Trung ƣơng Đảng, kho lƣu trữ của Viện Lịch sử

Đảng, kho lƣu trữ của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (LSQSVN), Phòng lƣu

trữ của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế và Tỉnh ủy Quảng Trị;

- Các công trình nghiên cứu về cuộc KCCMCN nói chung và ở TTH

nói riêng, nhất là giai đoạn 1966-1975 của các cơ quan nghiên cứu, các ban

ngành đoàn thể từ Trung ƣơng đến các địa phƣơng và của các nhà khoa học,

nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc;

- Các bài viết, hồi ký của một số tƣớng lĩnh, đồng chí lãnh đạo, lão

thành cách mạng, nhân chứng lịch sử về cuộc KCCMCN trên chiến trƣờng

TTH từ năm 1966 đến năm 1975.

6

Tác giả đã nghiên cứu toàn diện, sâu sắc và kế thừa có chọn lọc các

nguồn tƣ liệu trên trong quá trình thực hiện đề tài luận án.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án

6.1. Ý nghĩa khoa học

- Luận án góp phần tái hiện có hệ thống quá trình hình thành, xây dựng

tổ chức và lãnh đạo CTND ở địa phƣơng của Khu ủy TTH trong cuộc

KCCMCN giai đoạn 1966-1975;

- Góp phần tổng kết sâu sắc hơn cuộc KCCMCN nói chung và công tác

xây dựng Đảng nói riêng ở TTH - một địa bàn trọng yếu, ác liệt;

- Bƣớc đầu nêu lên một số nhận xét và tổng kết một số kinh nghiệm từ

quá trình ra đời, xây dựng tổ chức, lãnh đạo CTND của Khu ủy TTH từ năm

1966 đến năm 1975 để vận dụng vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

XHCN hiện nay trên địa bàn TTH.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu, giảng

dạy Lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, Lịch sử Đảng bộ của

hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế nói riêng.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình đã công bố của tác

giả có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội

dung luận án gồm 4 chƣơng, 8 tiết.

7

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Khu ủy TTH là một trong những tổ chức Đảng cấp khu đặc biệt, trực

thuộc Trung ƣơng Đảng, lãnh đạo địa bàn TTH từ năm 1966 đến năm 1975.

Có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến Khu ủy TTH với nhiều cấp độ và

từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, trong đó, có thể chia thành các nhóm:

1.1.1. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc

1.1.1.1. Nhóm công trình tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học

[83] và Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học

[84] của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc BCT là hai công trình

lớn tổng kết về 21 năm KCCMCN (1954-1975) và 30 chiến tranh cách mạng

Việt Nam (1945-1975) về các mặt: nguyên nhân chiến tranh; tình hình và chủ

trƣơng, đƣờng lối chiến lƣợc; xây dựng lực lƣợng; xác định phƣơng châm,

phƣơng pháp đấu tranh; xây dựng hậu phƣơng và vùng giải phóng; công tác

xây dựng Đảng; thắng lợi và bài học kinh nghiệm. Các công trình này là cơ sở

để các cấp ủy Đảng đối chiếu, so sánh với thực tiễn địa phƣơng mình.

Các công trình: Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước [110] của Đại

tƣớng Văn Tiến Dũng; Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1954-1975), tập II

[221] của Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh;

Lịch sử biên niên xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975)

[145] và Lịch sử xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975)

[147] của Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;…

đã tổng kết sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc KCCMCN. Trong đó, tập trung

vào một số nội dung: về đƣờng lối chiến lƣợc, sách lƣợc, về xây dựng Đảng

và tổ chức lực lƣợng, về phƣơng pháp đấu tranh giải phóng miền Nam, về ý

nghĩa thắng lợi và bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo cách mạng

8

Việt Nam của Đảng. Ở các công trình này, chiến trƣờng TTH và Khu ủy TTH

đƣợc đề cập trong tổng thể chung của cách mạng toàn miền Nam.

Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Tập IV: “Cuộc

đụng đầu lịch sử” [96]; Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975,

Tập V: “Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968” [97]; Lịch sử kháng chiến

chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Tập VI, “Thắng Mỹ trên chiến trƣờng ba

nƣớc Đông Dƣơng” [98]; Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-

1975, Tập VII, “Thắng lợi quyết định năm 1972” [99]; Lịch sử kháng chiến

chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Tập VIII, “Toàn thắng” [100] của Viện

LSQSVN đã đánh giá toàn diện, có hệ thống về cuộc KCCMCN. Ở tập IV,

tập trung lý giải sâu sắc về nguyên nhân của cuộc chiến tranh, về tƣơng quan

lực lƣợng, về những khó khăn mà lực lƣợng cách mạng phải đối diện và làm

nổi bật mâu thuẫn cơ bản của thời đại đƣợc biểu hiện ở cuộc chiến này; tập V

trực tiếp bàn về quá trình chuẩn bị thực lực và chỉ đạo Tổng tiến công và nổi

dậy Mậu Thân 1968 của Trung ƣơng Đảng, QUTW và các cấp ủy Đảng địa

phƣơng; tập VI làm rõ sự phối, kết hợp trong chiến đấu và những thắng lợi

chung của ba nƣớc Việt Nam - Lào - Campuchia; tập VII trình bày thắng lợi

có tính chất quyết định, bƣớc ngoặt của nhân dân cả nƣớc trong năm 1972,

buộc đế quốc Mỹ phải chấp nhận ký Hiệp định Pari; tập VIII bàn về những

thắng lợi cuối cùng của Quân Giải phóng (QGP), kết thúc cuộc kháng chiến,

giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đây là bộ sách nghiên cứu về cuộc

KCCMCN, trong đó đề cập đến thực tiễn chiến trƣờng TTH và sự lãnh đạo

của Khu ủy TTH ở mức độ nhất định.

Các công trình: Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975, tập

2 [92]; Mấy vấn đề chỉ đạo chiến lược trong 30 năm chiến tranh giải phóng

(1945-1975) [93]; Lịch sử quân sự Việt Nam, Tập 11, “Cuộc kháng chiến

chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-1975)” [95] của Viện LSQSVN nghiên cứu:

đƣờng lối, nghệ thuật quân sự, thắng lợi quân sự, những kinh nghiệm trong

chỉ đạo chiến tranh,… của Trung ƣơng Đảng, QUTW về cuộc KCCMCN,

trong đó có chiến trƣờng TTH và Khu ủy TTH.

9

Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam [104] của đồng chí

Trƣờng Chinh; Về chiến tranh nhân dân Việt Nam [109] và Dưới lá cờ vẻ

vang của Đảng vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những

thắng lợi mới [108] của đồng chí Lê Duẩn; Chiến tranh giải phóng dân tộc và

chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, [131] của Đại tƣớng Võ Nguyên Giáp, tập trung

nghiên cứu lý luận, chỉ đạo thực tiễn cách mạng Việt Nam, trong đó làm rõ

vai trò lãnh đạo thực hiện đồng thời hai chiến lƣợc cách mạng, vai trò của

CTND, của lực lƣợng vũ trang,… trong cuộc KCCMCN.

Công trình Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, quyển II

(1954-1975) [139] của tác giả Trần Hậu chủ biên, phục dựng hoàn cảnh lịch

sử, sự ra đời, mục đích, cƣơng lĩnh hoạt động của các hình thức mặt trận dân

tộc thống nhất trên phạm vi cả nƣớc giai đoạn 1954-1975, trong đó đề cập đến

Mặt trận dân tộc giải phóng (MTDTGP) miền Nam Việt Nam, Liên minh lực

lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam nói chung và ở TTH nói riêng.

Cuốn Vành đai diệt Mỹ ở chiến trường miền Nam (1965-1973) [136]

của tác giả Trịnh Thị Hồng Hạnh, góp phần tái hiện bối cảnh lịch sử, chủ

trƣơng của Trung ƣơng Đảng và các cấp ủy địa phƣơng; sự ra đời và hoạt

động của vành đai diệt Mỹ; đúc rút một số kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo,

chỉ đạo xây dựng, hoạt động vành đai diệt Mỹ của Đảng.

Cuốn Tết Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến

chống Mỹ, cứu nước [152] của tác giả Hồ Khang, tái hiện bối cảnh lịch sử,

thế, lực, thời giữa QGP và quân Mỹ - QĐVNCH; chủ trƣơng, kết quả, ý

nghĩa, bài học kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân

1968, trong đó có thắng lợi chiếm và giữ thành phố Huế 25 ngày.

Bàn về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 có cuốn Tổng

tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 - Giá trị lịch sử [146] của Viện Lịch sử

Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tập hợp 31 phân tích về sự

lãnh đạo của Trung ƣơng Đảng, về sự đấu tranh của nhân dân, về kết quả và ý

nghĩa trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968.

10

Bàn về chiến thắng của chiến dịch tiến công Đƣờng 9 - Khe Sanh năm

1968 có các bài: Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh xuân hè 1968 một thành

công về chỉ đạo chiến lược của ta [149] của tác giả Trần Hữu Huy; Tướng

Oét-mo-len và trận Khe Sanh [159] của tác giả Lê Kim, phân tích rõ mục tiêu,

nhiệm vụ và thắng lợi của VNDCCH về chiến lƣợc, thất bại của đế quốc Mỹ

về nhìn nhận, đánh giá tình hình trong chiến dịch Đƣờng 9 - Khe Sanh.

Bài báo Công tác xây dựng Đảng ở miền Nam (1973-1975) [137] của

tác giả Trịnh Thị Hồng Hạnh phản ánh tình hình cách mạng miền Nam sau

Hiệp định Pari (1-1973), chủ trƣơng, kết quả và một số đánh giá về công tác

xây dựng Đảng ở miền Nam (1973-1975) của Trung ƣơng Đảng.

Về Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 có các bài: Những quyết

sách của Đảng trong đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng miền Nam,

thống nhất đất nước [175] của tác giả Nguyễn Trọng Phúc; Sự chỉ đạo của Bộ

Chính trị trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 [142] của

tác giả Vũ Quang Hiển. Các công trình này dƣới cách tiếp cận khác nhau

nhƣng đều tập trung làm rõ sự chỉ đạo sâu sát, liên tục, từng bƣớc, kịp thời và

đúng đắn của Trung ƣơng Đảng và QUTW để dẫn đến thắng lợi toàn vẹn của

mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, trong đó có TTH.

Luận án tiến sĩ lịch sử: Khu phi quân sự Vĩ tuyến 17 trong cuộc kháng

chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1954-1967 [144] của tác giả Hoàng

Chí Hiếu, làm rõ sự lãnh đạo của Trung ƣơng Đảng, đảng bộ địa phƣơng

trong việc đề ra chủ trƣơng, đƣờng lối, biện pháp tổ chức, chỉ đạo thực hiện

đấu tranh của quân và dân đôi bờ giới tuyến từ năm 1954 đến năm 1967;

Luận án tiến sĩ lịch sử: Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo thực hiện

nhiệm vụ hậu phương từ năm 1964 đến năm 1975 [143] của tác giả Trần Nhƣ

Hiền, phục dựng quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phƣơng của Đảng

bộ Quảng Bình; khẳng định những đóng góp của Đảng bộ, quân và dân

Quảng Bình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, dốc sức

chi viện cho miền Nam những năm 1964-1975, trong đó có sự chi viện cho

chiến trƣờng TTH.

11

Luận văn cao học lịch sử: Vùng giải phóng Quảng Trị trong kháng

chiến chống Mỹ, cứu nước (1972-1975) [191] của tác giả Lê Thị Thu Thanh,

phản ánh bối cảnh lịch sử, quá trình xây dựng vùng giải phóng Quảng Trị từ

khi tỉnh Quảng Trị đƣợc giải phóng (01-5-1972) đến ngày 19-3-1975; đánh

giá thành tựu, hạn chế, ý nghĩa lịch sử và tổng kết một số kinh nghiệm từ thực

tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng vùng giải phóng Quảng Trị.

Cuốn tiểu thuyết lịch sử Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 [138] của nhà

báo Trần Mai Hạnh, cung cấp nhiều tƣ liệu đƣợc xem là “tuyệt mật” từ “phía

bên kia” trong thời gian diễn ra sự sụp đổ của CQVNCH, trong đó có sự kiện

địch rút chạy ở TTH những ngày từ 19 đến 26-3-1975.

Về công tác xây dựng Đảng, có các công trình tiêu biểu: Cuốn Lịch sử

công tác xây dựng Đảng (1930-2011) [172] của tác giả Nguyễn Trọng Phúc,

trình bày hệ thống lịch sử công tác xây dựng Đảng từ khi Đảng đƣợc thành

lập đến năm 2011, góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công

tác xây dựng Đảng. Công trình cung cấp cơ sở lý luận chung, chủ trƣơng,

đƣờng lối của Trung ƣơng Đảng về công tác xây dựng Đảng, trong đó đề cập

đến Khu ủy TTH.

Cuốn Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-

2000) [218] của Nguyễn Hữu Tri, Nguyễn Thị Phƣơng Hồng (đồng chủ biên),

trình bày khái quát và có hệ thống về công tác tổ chức của Đảng từ năm 1930

đến năm 2000, trong đó có nhắc đến quá trình thay đổi từ Liên Tỉnh ủy Trị -

Thiên (sau năm 1954) đến khi thành lập Khu ủy TTH vào tháng 4-1966.

1.1.1.2. Nhóm công trình trực tiếp nghiên cứu về chiến trường Trị -

Thiên - Huế và Khu ủy Trị - Thiên - Huế

Cuốn Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-

1975) [168] của tác giả Võ Văn Minh chủ biên, nghiên cứu có hệ thống về

lịch sử cuộc KCCMCN của Quân khu IV. Công trình chỉ rõ nhiệm vụ chiến

lƣợc của Quân khu IV sau tháng 7-1954 là cùng lúc làm cả hai nhiệm vụ

chiến lƣợc của cách mạng Việt Nam. TTH vừa làm nhiệm vụ giải phóng miền

Nam, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc XHCN, trực tiếp là Quân khu IV.

12

Các tỉnh phía Bắc Quân khu vừa làm nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ miền Bắc

XHCN, vừa làm nhiệm vụ hậu phƣơng cho cách mạng miền Nam, trực tiếp là

TTH. Xuất phát từ nhiệm vụ đó, giai đoạn 1954-1964, quân và dân Quân khu

IV đã khắc phục hậu quả chiến tranh, cải cách ruộng đất, chống cƣỡng ép di

cƣ, tiến hành cải tạo XHCN, từng bƣớc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Ở TTH là thời kỳ giữ gìn lực lƣợng, tập trung đánh bại các âm mƣu “tố cộng,

diệt cộng”, “bình định” của Mỹ - Diệm; chuẩn bị mọi mặt tiến lên đồng khởi

ở miền núi, nông thôn đồng bằng. Bốn năm tiếp theo (1965-1968), cả tiền

tuyến và hậu phƣơng của Quân khu đã trở thành địa bàn đọ sức quyết liệt với

chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Sự ra đời Khu ủy, Quân

khu TTH và Mặt trận Đƣờng 9 - Bắc Quảng Trị, tạo nên thế và lực mới có lợi

cho VNDCCH trên toàn bộ chiến trƣờng miền Nam. Tiếp đó, các tác giả chỉ

rõ những thành tựu nổi bật của Quân khu IV trong việc xây dựng CNXH, bảo

vệ miền Bắc, chi viện cho tiền tuyến miền Nam, trực tiếp là TTH, góp phần

dẫn đến thắng lợi hoàn toàn của cuộc KCCMCN xâm lƣợc.

Quân khu 5 - Thắng lợi và những bài học trong kháng chiến chống Mỹ

[154] và Nam Trung Bộ kháng chiến 1945-1975 [148] của Hội đồng Biên

soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến là những công trình phục dựng khái

quát cuộc KCCMCN trên địa bàn các tỉnh thuộc khu V và Nam Trung Bộ.

Trong các công trình này, chủ trƣơng của Đảng về lãnh đạo CTND tại các

tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế đƣợc trình bày khái lƣợc cùng với sự lãnh

đạo của các tỉnh, thành khác trên địa bàn khu V và Nam Trung Bộ.

Ban Tổng kết chiến tranh chiến trƣờng Trị - Thiên - Huế trực thuộc Bộ

Quốc phòng biên soạn cuốn: Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng

chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng (Dự thảo) - Lƣu hành nội bộ [85]. Đây là

công trình nghiên cứu đƣợc Trung ƣơng Đảng, QUTW và Bộ Quốc phòng trực

tiếp chỉ đạo biên soạn, bàn sâu về chiến trƣờng TTH trong cuộc KCCMCN.

Công trình là kết quả nghiên cứu của tập thể các tƣớng lĩnh quân đội, các cán

bộ nguyên là lãnh đạo Đảng, Chính quyền của khu TTH và trực tiếp tham gia

chiến đấu tại chiến trƣờng TTH. Trên cơ sở quan điểm CTND của Đảng và

13

xuất phát từ đặc điểm cơ bản nhất của chiến trƣờng TTH, tập thể tác giả trình

bày diễn biến lớn bao gồm cả đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của hai

lực lƣợng, ba thứ quân, trên ba vùng chiến lƣợc; những hoạt động lớn của Mặt

trận Đƣờng 9 - Bắc Quảng Trị để làm rõ mối quan hệ giữa hai mặt trận (Mặt

trận Đƣờng 9 - Bắc Quảng Trị và Mặt trận Trị - Thiên - Huế).

Cuốn Lịch sử Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (1966-1973) [94] của

Viện LSQSVN, tái hiện, luận giải có hệ thống về lịch sử ra đời, trƣởng thành,

chiến đấu của Mặt trận Đƣờng 9 - Bắc Quảng Trị (Mặt trận B5). Tập thể tác

giả chỉ rõ, qua gần tám năm (từ tháng 6-1966 đến tháng 1-1973), dƣới sự lãnh

đạo của Đảng, trực tiếp là QUTW, Mặt trận B5 đã vƣợt qua khó khăn, gian

khổ, chiến đấu mƣu trí, dũng cảm, lập nên chiến công to lớn, trong đó có

những chiến thắng có ý nghĩa chiến lƣợc quan trọng: Chiến dịch Đƣờng 9 -

Khe Sanh năm 1968, chiến dịch phản công Đƣờng 9 - Nam Lào năm 1971,

chiến dịch tiến công Trị - Thiên, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị năm

1972, góp phần buộc đế quốc Mỹ phải ký kết hiệp định Pari (27-1-1973), rút

hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Các công trình: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh Xuân Hè

1968 (Lưu hành nội bộ) [89]; Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm

1972 [90] của Viện LSQSVN, tập trung làm rõ hoàn cảnh lịch sử, âm mƣu

của Mỹ, chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng, QUTW và các cấp ủy Đảng địa

phƣơng, mối tƣơng quan lực lƣợng, quá trình đấu tranh anh dũng, kiên cƣờng

và chiến thắng của QGP trong các chiến dịch Đƣờng 9 - Khe Sanh năm 1968,

đòn tiến công chiến lƣợc Trị - Thiên, giải phóng tỉnh Quảng Trị năm 1972.

Ban Chấp hành (BCH) Đảng bộ Thừa Thiên Huế chỉ đạo biên soạn công

trình: Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Thừa Thiên - Huế gồm ba tập, phục dựng sự thành

lập Đảng bộ và quá trình Đảng bộ lãnh đạo nhân dân đấu tranh cách mạng,

trong đó có cuốn Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên - Huế (1945-1975), tập 2 [79].

Cuốn sách trình bày quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế

đối với cuộc KCCMCN; đánh giá ý nghĩa và đúc rút một số bài học lịch sử

phục vụ cho giai đoạn cách mạng hiện nay.

14

Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thừa Thiên Huế biên soạn cuốn:

Thừa Thiên - Huế kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) [125]. Đây là

công trình nghiên cứu có nhiều tƣ liệu, dựng lại lịch sử đấu tranh cách mạng

“tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cƣờng” của quân và dân Thừa Thiên Huế

dƣới sự lãnh đạo của Trung ƣơng Đảng, QUTW và Khu ủy TTH.

Dƣới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, các công trình: Lịch sử

công tác tuyên giáo của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1930-2005) [214];

Lịch sử công tác xây dựng Đảng về tổ chức của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên

Huế (1930-2010) [217] phản ánh quá trình ra đời, xây dựng, trƣởng thành về

công tác tuyên giáo, công tác tổ chức của Đảng bộ Thừa Thiên Huế, trong đó

đề cập đến Khu ủy giai đoạn 1966-1975.

Cuốn Lịch sử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế (1930-

2010) [216] của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế phản ánh lịch sử ra đời, phát triển,

đấu tranh cách mạng vẻ vang của Mặt trận Tổ quốc tỉnh qua các thời kỳ, tôn

vinh sự cống hiến to lớn của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo,

rút ra bài học kinh nghiệm về công tác tập hợp, vận động quần chúng, nhằm

khơi dậy truyền thống cách mạng vẻ vang, nâng cao lòng tự hào về Mặt trận

Dân tộc thống nhất Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế xuất bản cuốn Tổng kết công tác binh vận

trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) [211], phản ánh quá

trình lãnh đạo của Trung ƣơng Đảng, Khu ủy TTH và Tỉnh ủy Thừa Thiên

Huế đối với công tác binh vận, những thành công và hạn chế, ý nghĩa và bài

học trong công tác binh vận của Đảng.

Thừa Thiên - Huế tiến công - nổi dậy - anh dũng - kiên cường Xuân

1968 [212] của Tiểu Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng trực thuộc Tỉnh ủy Thừa

Thiên Huế là công trình nghiên cứu về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết

Mậu Thân 1968 tại Huế, trong đó đánh giá về tình hình chung của QGP và

quân Mỹ - QĐVNCH, về quá trình chuẩn bị của QGP, về diễn biến, kết quả, ý

nghĩa và bài học kinh nghiệm.

15

Thành ủy Huế, Huyện ủy A Lƣới, Huyện ủy Nam Đông, Huyện ủy

Phong Điền, Huyện ủy Phú Lộc, Huyện ủy Hƣơng Trà, Huyện ủy Phú Vang

xuất bản các công trình: Sơ thảo Lịch sử Đảng bộ Thành phố Huế (1945-1975),

tập 2 [201]; Lịch sử Đảng bộ thành phố Huế 1930-2000 [59], Lịch sử Đảng

bộ huyện A Lưới [3]; Lịch sử Đảng bộ huyện Nam Đông (1945-2000) [8];

Lịch sử Đảng bộ huyện Phong Điền (1930-1995) [9]; Lịch sử Đảng bộ huyện

Phú Lộc (1930-1975) [10]; Lịch sử Đảng bộ huyện Hương Trà (1930-1975)

[7]; Đảng bộ huyện Phú Vang - 65 năm đấu tranh và xây dựng (1930-1995)

[11] phản ánh quá trình ra đời, phát triển, lãnh đạo kháng chiến của Thành ủy

Huế, các Huyện ủy và tinh thần đoàn kết, đấu tranh anh dũng, kiên cƣờng của

quần chúng nhân dân. Trong các công trình trên đều phản ánh giai đoạn lịch

sử đấu tranh từ năm 1966 đến năm 1975 dƣới sự lãnh đạo của Khu ủy TTH.

Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Quảng Trị chỉ đạo biên soạn công trình

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Trị gồm ba tập phản ánh quá trình ra đời và quá

trình Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền,

thực hiện hai nhiệm vụ chiến lƣợc: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và

cách mạng XHCN. Trong đó, cuốn Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị (1945-1975),

tập 2 [68] tập trung trình bày quá trình lãnh đạo của Tỉnh ủy Quảng Trị tiến

hành đồng thời hai chiến lƣợc cách mạng: cách mạng XHCN và cách mạng dân

tộc dân chủ nhân dân (1954-1975). Giai đoạn 1965-1975 đƣợc phục dựng qua

ba chƣơng (giai đoạn từ giữa năm 1965 đến cuối năm 1968, giai đoạn từ cuối

năm 1968 đến tháng 1-1973, giai đoạn từ tháng 1-1973 đến ngày 30-4-1975)

với 250 trang tƣơng đối toàn diện, có hệ thống về quá trình đấu tranh của quân

và dân toàn tỉnh (kể cả khu vực Vĩnh Linh). Đồng thời, qua công trình này, tập

thể các nhà nghiên cứu đã đánh giá ý nghĩa và đúc rút một số bài học cơ bản

phục vụ cho giai đoạn cách mạng hiện nay.

Để phục dựng lịch sử đấu tranh của quân và dân tỉnh Quảng Trị, Đảng

ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị xuất bản cuốn Quảng Trị kháng chiến

chống Mỹ cứu nước (1954-1975) [126]. Công trình có nhiều tƣ liệu, số liệu về

16

các trận đánh, các chiến dịch, về xây dựng lực lƣợng cách mạng, về công tác

xây dựng Đảng, về quá trình xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội...

Các công trình: Lịch sử công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị

(1930-2005) [205] của Ban Dân vận Tỉnh ủy Quảng Trị; Lịch sử Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị (1930-2005) [228] của Ủy ban Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị đều tập trung phản ánh lịch sử công tác vận

động quần chúng nhân dân đấu tranh cách mạng từ năm 1930 đến năm 2005,

quá trình ra đời, tập hợp lực lƣợng và thành quả đấu tranh của các hình thức

Mặt trận dân tộc thống nhất tỉnh Quảng Trị từ năm 1930 đến năm 2005.

Nhóm công trình này đều khẳng định vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy

Đảng về đoàn kết, tập hợp nhân dân tỉnh Quảng Trị đấu tranh cách mạng,

khẳng định vai trò, sức mạnh, khả năng đấu tranh của quần chúng nhân dân

và những thành quả mà nhân dân giành đƣợc trong quá trình đấu tranh đó.

Thị ủy Đông Hà, Thị ủy Quảng Trị, Huyện ủy Cam Lộ, Huyện ủy Gio

Linh, Huyện ủy Hải Lăng, Huyện ủy Triệu Phong xuất bản các công trình:

Lịch sử Đảng bộ thị xã Đông Hà (1930-1999) [60]; Lịch sử Đảng bộ thị xã

Quảng Trị (1930-1995) [61]; Lịch sử Đảng bộ huyện Cam Lộ (1930-2000)

[4]; Lịch sử Đảng bộ huyện Gio Linh (1930-1975) [5]; Lịch sử Đảng bộ huyện

Hải Lăng (1930-1975) [6]; Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Phong (1930-1975)

[12] phản ánh bối cảnh ra đời, quá trình hoạt động của các Đảng bộ thị xã,

Đảng bộ huyện thuộc Tỉnh ủy Quảng Trị trong suốt tiến trình cách mạng từ

đấu tranh giành chính quyền đến tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực

dân Pháp (1945-1954) và đế quốc Mỹ (1954-1975) xâm lƣợc.

Công trình Lịch sử Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Linh 1930-1975 [204]

của Thƣờng vụ Huyện ủy Vĩnh Linh, tái hiện lịch sử đấu tranh hào hùng của

Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Linh, nhất là giai đoạn 1954-1975, khi Vĩnh Linh

trở thành đặc khu trực thuộc Trung ƣơng, là tiền đồn của miền Bắc XHCN,

hậu phƣơng trực tiếp của miền Nam, của chiến trƣờng TTH; chỉ rõ mối quan

hệ mật thiết giữa Đảng bộ Vĩnh Linh với Khu ủy TTH thông qua sự hỗ trợ,

17

giúp đỡ, tham gia trực tiếp của quân dân Vĩnh Linh trong các chiến dịch ở

chiến trƣờng TTH, góp phần giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị.

Bài viết Huế: 25 ngày đêm [176] và Về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy

Tết Mậu Thân 1968 ở Trị Thiên - Huế [177] của Thƣợng tƣớng Trần Văn

Quang, nguyên Thứ trƣởng Bộ Quốc phòng, Bí thƣ Khu ủy Trị - Thiên - Huế

làm rõ quá trình Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 tại thành phố Huế về

các mặt nhƣ: tình hình chung của hai bên, chủ trƣơng của QUTW và Khu ủy,

những thành công và những hạn chế trong tổng công kích đợt 1.

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu

Thân 1968, Thành ủy Huế xuất bản cuốn Huế Xuân 68 và nhân dịp kỷ niệm

40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Tỉnh ủy Thừa

Thiên Huế xuất bản cuốn Thừa Thiên Huế tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên

cường [208]. Hai công trình trên tập hợp nhiều bài viết của các tác giả là lão

thành cách mạng, cán bộ chủ chốt đã từng lãnh đạo, tham gia trực tiếp trong

chiến thắng Xuân 1968, các nhà lãnh đạo, lực lƣợng vũ trang, các nhà nghiên

cứu lịch sử. Nội dung các bài viết phản ánh, tái hiện chân thực về thế trận

CTND; nêu lên những thuận lợi, khó khăn từ bƣớc chuẩn bị cho đến quá trình

diễn ra 25 ngày đêm đánh chiếm và làm chủ thành phố Huế “tấn công, nổi

dậy, anh dũng, kiên cƣờng”; ghi nhận những đóng góp của các anh hùng liệt

sĩ, cán bộ chiến sĩ, quân và dân Thừa Thiên Huế cùng cả nƣớc đã chiến đấu,

anh dũng hy sinh, làm nên một chiến thắng oanh liệt. Tiêu biểu trong hai công

trình trên là các bài: “Chiến công và những bài học từ cuộc tiến công Xuân

Mậu Thân - 1968 tại Huế” của Thƣợng tƣớng Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí

thƣ Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa VIII; “Phương châm, phương

hướng tiến công nổi dậy Huế - Xuân 1968” của Thƣợng tƣớng Trần Văn

Quang; “Đất nước vào xuân” của Thiếu tƣớng Lê Chƣởng, nguyên Phó Bí

thƣ Khu ủy Trị - Thiên - Huế;“Huế Xuân 68” của tác giả Lê Minh, nguyên

Phó Bí thƣ Khu ủy Trị - Thiên - Huế; “Chuẩn bị thế trận” của tác giả Nguyễn

Vạn; “Về những người chiến thắng” của tác giả Trần Anh Liên; “Mấy vấn đề

về Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân tại chiến trường Trị -

18

Thiên - Huế” của Trung tƣớng Đặng Kinh; “Một vài kỷ niệm vào Huế” của

Đại tá Thân Trọng Một. Trong công trình này, qua bài viết “Sự thú nhận của

Mỹ - ngụy và bình luận của phương Tây” của tác giả Đoàn Thị Thanh Huyền,

cung cấp nhiều thông tin về sự đánh giá của đế quốc Mỹ và CQVNCH về sự

kiện Tết Mậu Thân năm 1968.

Cuốn Trị - Thiên - Huế Xuân 1975 [128], Trung tƣớng Lê Tự Đồng,

nguyên Bí thƣ Khu ủy Trị - Thiên - Huế đề cập có hệ thống về tình hình chiến

trƣờng TTH trƣớc mùa Xuân năm 1975, về chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng,

QUTW, Khu ủy và Quân khu TTH, về diễn biến, kết quả, ý nghĩa, bài học

kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 ở TTH;

khẳng định vai trò của Khu ủy trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa

Xuân 1975 ở chiến trƣờng TTH.

Năm 2005, nhân dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng quê hƣơng, Tỉnh ủy

Thừa Thiên Huế xuất bản cuốn hồi ký Thừa Thiên Huế Xuân 1975 [213] bao

gồm các bài viết của nhiều nhà cách mạng lão thành, trực tiếp tham gia Tổng

tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 tại Thừa Thiên Huế, phản ánh những nội

dung “đa chiều” về chiến thắng oanh liệt đó của quân dân địa phƣơng. Trong

đó, có các bài tiêu biểu: “Mở đường chiến dịch” của Đại tá Nguyễn Hoa,

nguyên Chủ nhiệm công binh Quân khu IV, “Quê hương giải phóng chủ động

ổn định chính trị trong tình hình mới” của tác giả Nguyễn Đình Bảy, nguyên

Trƣởng ban An ninh khu Trị - Thiên - Huế,...

Bài viết Đôi nét về Khu Trị - Thiên - Huế trong kháng chiến chống Mỹ,

cứu nước [161] của tác giả Trần Văn Lợi, giới thiệu khái quát về sự ra đời

Khu ủy; nhiệm vụ của chiến trƣờng và quá trình đấu tranh của nhân dân TTH

từ tháng 4-1966 đến kết thúc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968.

Các bài: Khu ủy Trị Thiên - Huế trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy

Tết Mậu Thân 1968 [141] của tác giả Vũ Quang Hiển và Vũ Tất Đạt; Cuộc tiến

công và nổi dậy mùa Xuân 1968 ở Huế - Mấy vấn đề bàn luận [140] của tác

giả Vũ Quang Hiển; Huế tấn công nổi dậy - 30 năm nhìn lại [126] của tác giả

Tô Vĩnh Hà,… tập trung phân tích về sự lãnh đạo của Khu ủy TTH, về kết

19

quả và ý nghĩa trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở chiến

trƣờng TTH, đặc biệt là thành phố Huế.

Về đòn tiến công chiến lƣợc TTH năm 1972, nhất là về chiến dịch tiến

công giải phóng Quảng Trị, một số tác giả tập trung nghiên cứu về các mặt: sự

lãnh của Đảng ủy các cấp; sự chiến đấu đoàn kết, kiên cƣờng của quân và dân

địa phƣơng; thắng lợi và ý nghĩa lịch sử, đặc biệt là ý nghĩa đối với mặt trận

ngoại giao. Tiêu biểu là các bài: Cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972 –

Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử [173] của tác giả Nguyễn Trọng Phúc; Từ tiến

công Quảng Trị đến Hội nghị Pari hai trận tuyến - một mục tiêu chiến lược

[134] của tác giả Nguyễn Mạnh Hà; Sự kiện giải phóng Quảng Trị [203] của

tác giả Nguyễn Huy Thục, Mở hướng tiến công chiến lược Trị - Thiên 1972,

quyết định đúng đắn, sáng tạo của Quân ủy Trung ương [2] của tác giả Lê

Thanh Bài, Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và bước ngoặt trên bàn đàm

phán Hội nghị Paris [153] của tác giả Hồ Khang và Hồ Hoàng Thái; Giải

phóng Quảng Trị và cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ - Thắng lợi bước ngoặt

trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước [105] của Thƣợng tƣớng

Nguyễn Thành Cung; Cuộc tiến công Xuân - Hè 1972 và chiến thắng Quảng

Trị với cuộc đàm phán Paris [151] của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Huỳnh;

Chiến dịch Trị Thiên (1972) - qua ý kiến của một nhân chứng lịch sử [129]

của Trung tƣớng Lê Tự Đồng…

1.1.2. Các công trình nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài về

chiến tranh ở Việt Nam

Các công trình: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về

Việt Nam [189] của Robert S.McNamara, nguyên Bộ trƣởng Bộ Quốc phòng

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; Hồi ký của Linđơn Giônxơn [160], nguyên Tổng

thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; Hồi ký Richard Nixon [188], nguyên Tổng

thống Hợp chủng quốc Hoa; Việt Nam - Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày

[162] của nhà sử học Mỹ Maicơn Máclia; Sự lừa dối hào nhoáng [169] của

tác giả Neil Sheehan; Tết [107] của tác giả Don Oberdoifer; Những bí mật về

chiến tranh Việt Nam (Hồi ức về Việt Nam và hồ sơ Lầu Năm Góc) [106] của

20

tác giả Daniel Ellsberg; Cuộc chiến tranh dài ngày nhất nước Mỹ [133] của

tác giả George C.Herring; Cuộc thử thách [130] của nhà nghiên cứu

Đêvơrisớt Panmơ; Giải phẫu một cuộc chiến tranh [132] của nhà sử học Mỹ

Gabrriel Kolko; Những bí mật của cuộc chiến tranh Việt Nam [171] của tác

giả Philíp B.Davítsơn, Tường trình của một quân nhân [226] của tƣớng

William C.Westmoreland, nguyên là Tƣ lệnh Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ

(MACV) ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965-1968, Vietnam - Why we

fought [229] của hai tác giả Dorothy and Thomas Hoobler, The 25 - year war

[230] của tƣớng General Bruce Palmer, Valley of decision - The siege of Khe

Sanh [231] của hai nhà sử học Mỹ John Prados and Ray W. Stubbe, The

hidden history of the Vietnam war [232] của tác giả John Prados,... đều có

những luận giải khá xác đáng về quá trình xâm lƣợc của Hoa Kỳ vào Việt

Nam; âm mƣu, thủ đoạn, toan tính đầy tham vọng cũng nhƣ nỗ lực khổng lồ

về huy động nguồn lực con ngƣời, tiền bạc, phƣơng tiện, vũ khí chiến tranh

và sự thất bại của giới cầm quyền Mỹ, của quân đội Mỹ và một số nƣớc đồng

minh trong cuộc chiến tranh xâm lƣợc Việt Nam trải qua 4 chiến lƣợc chiến

tranh mang tính toàn cầu với 5 đời tổng thống Mỹ; những lời “thú nhận” của

giới cầm quyền Mỹ; nguyên nhân khiến đế quốc Mỹ thất bại và những bài học

về cuộc chiến tranh xâm lƣợc miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ...

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN KẾ THỪA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

LUẬN ÁN CẦN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU

1.2.1. Những vấn đề luận án kế thừa từ các công trình đã xuất bản

liên quan

* Dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, các công trình liên quan

đến đề tài luận án đã:

- Làm rõ những vấn đề chung về các chiến lƣợc chiến tranh, kế hoạch,

hành động của đế quốc Mỹ - CQVNCH; nguyên nhân thất bại và bài học về

chiến tranh Việt Nam của đế quốc Mỹ;

- Những vấn đề chung về sự lãnh đạo cuộc KCCMCN của Đảng bao

gồm: xác định đƣờng lối chiến lƣợc, sách lƣợc; xây dựng lực lƣợng; xác định

21

phƣơng pháp cách mạng; xây dựng căn cứ địa kháng chiến và vùng giải

phóng; công tác xây dựng Đảng và phát huy vai trò, sự chủ động, sáng tạo,

linh hoạt của các đảng bộ địa phƣơng; thắng lợi toàn diện; ý nghĩa lịch sử và

bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo chiến tranh cách mạng của Đảng, trong

đó đề cập tới chiến trƣờng TTH;

- Khái quát vị trí, vai trò chiến lƣợc của chiến trƣờng TTH; phản ánh

một số khía cạnh về tổ chức, lãnh đạo của Khu ủy TTH trong cuộc KCCMCN

từ năm 1966 đến năm 1975.

- Tập trung nghiên cứu sâu về lịch sử quân sự, nghệ thuật quân sự, đấu

tranh vũ trang, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm của các trận

đánh, các chiến dịch lớn ở chiến trƣờng TTH;

- Nghiên cứu về vai trò, hoạt động của các Đảng bộ cấp tỉnh, thành phố,

thị xã, huyện và các ban ngành, đoàn thể ở Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.

* Trên cơ sở kết quả nêu trên của các công trình liên quan, luận án có

thể kế thừa những vấn đề sau:

- Phƣơng pháp luận nghiên cứu vấn đề lãnh đạo của tổ chức Đảng đặc

thù, khảo cứu tài liệu và so sánh với các tổ chức Đảng khác;

- Những vấn đề lý luận về công tác xây dựng Đảng, về CTND, về vai

trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong cuộc KCCMCN: Tuân thủ nguyên tắc

xây dựng Đảng và yêu cầu thực tiễn chiến trƣờng, quá trình phát triển về tổ

chức và lãnh đạo cách mạng toàn diện của Khu ủy đối với cuộc KCCMCN tại

chiến trƣờng TTH;

- Những kết quả nghiên cứu, tài liệu tham khảo ban đầu về chiến

trƣờng TTH và Khu ủy TTH, nhất là ở lĩnh vực quân sự.

Những công trình trên tƣơng đối đa dạng, phong phú và đã đề cập đến

một số khía cạnh về tổ chức và hoạt động của Khu ủy TTH, là nguồn tài liệu

tham khảo cho tác giả khi nghiên cứu đề tài luận án này. Tuy nhiên, đến nay

vẫn chƣa có công trình nghiên cứu chuyên biệt, hệ thống, toàn diện về quá

trình ra đời, xây dựng, kiện toàn tổ chức và quá trình lãnh đạo của Khu ủy

TTH, làm nổi bật sự chỉ đạo đúng đắn của Trung ƣơng Đảng trong công tác

22

xây dựng Đảng, sự sáng tạo của cấp ủy địa phƣơng trong quá trình lãnh đạo

kháng chiến. Yêu cầu tổng kết về vai trò lãnh đạo của Đảng trong cuộc

KCCMCN nói chung, vai trò của các cấp bộ Đảng ở các địa phƣơng nói riêng

đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu chuyên khảo, sâu sắc, hệ thống.

1.2.2. Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung nghiên cứu

- Nêu rõ đặc điểm, vai trò, vị trí, nhiệm vụ của chiến trƣờng TTH trong

cuộc KCCMCN; âm mƣu, thủ đoạn chống phá của đế quốc Mỹ - CQVNCH

đối với khu TTH, nhất là giai đoạn 1965-1975 trên tất cả các phƣơng diện;

- Trình bày có hệ thống về yêu cầu và quá trình thành lập; nguyên tắc

tổ chức, hoạt động; cơ cấu tổ chức; chức năng, nhiệm vụ và quá trình xây

dựng, phát triển về tổ chức của Khu ủy TTH;

- Làm rõ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Khu ủy đối với địa

bàn TTH giai đoạn 1966-1975;

- Đánh giá thành công, hạn chế và tổng kết một số kinh nghiệm từ quá

trình thành lập, xây dựng và lãnh đạo, chỉ đạo của Khu ủy TTH từ năm 1966

đến năm 1975.

23

Chƣơng 2

KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ THÀNH LẬP,

LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC

TỪ NĂM 1966 ĐẾN NĂM 1968

2.1. THÀNH LẬP VÀ KIỆN TOÀN TỔ CHỨC KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ

2.1.1. Đặc điểm chiến trƣờng Trị - Thiên - Huế và yêu cầu thành

lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế

2.1.1.1. Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và

truyền thống cách mạng ở Trị - Thiên - Huế

Trị - Thiên - Huế trong cuộc KCCMCN gồm hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế có diện tích khoảng 10.300 km2 (Thừa Thiên Huế: 5.600 km2, Quảng Trị: 4.700 km2) [85, tr.11-12]. Mỹ và CQVNCH gọi là Khu

Chiến thuật 11, thuộc Vùng I Chiến thuật. Địa bàn TTH trải dài từ phía Nam

sông Bến Hải (Vĩ tuyến 17) đến phía Bắc đèo Hải Vân; phía Bắc giáp Vĩnh

Linh; phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam và

thành phố Đà Nẵng); phía Đông giáp biển Đông; phía Tây có chung đƣờng

biên giới với hai tỉnh (Xavanakhet, Xalavan) của nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân

dân Lào. Trị - Thiên - Huế có chiều dài tính theo quốc lộ 1A từ Bắc vào Nam

khoảng 160 km, chiều rộng từ Đông sang Tây tính trung bình khoảng 70 km.

Địa hình TTH chia làm ba vùng rõ rệt: rừng núi, nông thôn đồng bằng

và đô thị ven biển. Vùng rừng núi chiếm ¾ diện tích với nhiều núi cao, rừng

già hiểm trở là chiến lũy tự nhiên án ngữ miền Tây; có nhiều thung lũng là

căn cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế

quốc Mỹ: chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị), chiến khu Hòa Mỹ, Dƣơng Hòa

(Thừa Thiên Huế). Vùng nông thôn đồng bằng diện tích hẹp có các tuyến làng

mạc chạy dài theo bờ biển, nhiều sông ngòi, mƣơng, lạch, đầm, hồ, phá xen

kẽ chia cắt dọc ngang, là nơi dân cƣ đông đúc, tập trung sức ngƣời, sức của,

các đầu mối giao thông thủy bộ và là bàn đạp để phát triển phong trào cách

mạng vào thành phố. Nông thôn đồng bằng là vùng chiến lƣợc quan trọng đối

24

với cả hai bên. Vùng đô thị là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, nơi tập

trung các cơ quan đầu não của Mỹ - chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đặc

biệt Huế là thành phố lớn thứ ba của miền Nam, có vị trí quan trọng về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Huế có diện tích rộng hơn 90 km2, với

khoảng 15 vạn dân; nằm trên trục đƣờng giao thông chính (Đƣờng số 1); xung

quanh thành phố có các sông ngòi bao bọc, tạo ra những khoảng ngăn cách

giữa vùng ven và thành phố, từ ngoài vào có rất nhiều cầu cống. Trong chiến

tranh, Huế là một trong những trung tâm cai trị lớn của đế quốc Mỹ -

CQVNCH về mọi mặt; nơi đặt nhiều cơ quan đầu não của CIA, đảng phái

phản động, tập hợp bọn gián điệp, phản động quốc tế; chi phối hoạt động của

các lực lƣợng địch nhằm đối phó với phong trào cách mạng miền Trung, làm

cho tình hình chính trị, xã hội ở thành phố Huế luôn phức tạp. Vùng giáp ranh

là khu vực nối liền vùng núi, đồng bằng và đô thị, giữ vị trí đặc biệt về quân

sự, nơi diễn ra tranh chấp thƣờng xuyên, quyết liệt giữa hai bên.

Trị - Thiên - Huế có Đƣờng số 1 và đƣờng sắt chạy từ Bắc vào Nam;

Đƣờng số 9 - con đƣờng chiến lƣợc quan trọng nối liền Việt Nam - Lào, cả

VNDCCH và đế quốc Mỹ - CQVNCH đều muốn giành quyền kiểm soát con

đƣờng này… Đặc biệt, đƣờng Hồ Chí Minh thuộc tuyến vận tải chiến lƣợc

559 chạy dọc theo dãy Trƣờng Sơn, xuyên qua miền Tây TTH, nối liền hậu

phƣơng lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam. Đế quốc Mỹ và

CQVNCH xem đây là một trong những mục tiêu chiến lƣợc, tập trung đánh

phá thƣờng xuyên, quyết liệt…

Vào những năm 60 của thế kỷ XX, TTH là nơi có trình độ sản xuất

kinh tế thấp, ruộng đất cằn cỗi. Hơn 80% dân số sống bằng nghề nông nhƣng

lƣơng thực thƣờng không đủ, một số sống bằng nghề đánh cá và tiểu thƣơng.

Dân số TTH có khoảng hơn 80 vạn dân (Thừa Thiên khoảng hơn 50 vạn;

Quảng Trị khoảng 30 vạn) [212, tr.31] bao gồm đại bộ phận là ngƣời Kinh, có

khoảng 35.000 ngƣời là đồng bào các dân tộc ít ngƣời nhƣ Vân Kiều, Tà Ôi,

Cơ Tu,… sống rải rác dọc Trƣờng Sơn giáp biên giới Việt - Lào. Về xã hội,

vấn đề nổi bật nhất là tôn giáo. Tiếp theo thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay

25

sai ra sức lợi dụng, khuyến khích và phát triển nhiều tổ chức tôn giáo (Phật

giáo, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành…) và nhiều tổ chức đảng phái chính trị

phản động gắn liền với tôn giáo. Nhƣng chính tinh thần dân tộc và ý thức giác

ngộ chính trị của nhân dân đã đánh bại quân địch ngay trên lĩnh vực tôn giáo

mà chúng đang ra sức lợi dụng.

Nhân dân TTH từ miền ngƣợc đến miền xuôi, từ ven biển đến thành

phố giàu truyền thống cách mạng, kiên cƣờng anh dũng, có tinh thần yêu

nƣớc nồng nàn và lòng căm thù giặc sâu sắc. Cuối thế kỷ XIX, TTH là “cái

nôi” của phong trào Cần Vƣơng, nhân dân địa phƣơng dốc lòng “phò vua, cứu

nƣớc”, vùng núi Tân Sở (Cam Lộ - Quảng Trị) trở thành căn cứ địa, cơ quan

đầu não để vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lãnh đạo cuộc kháng chiến

chống thực dân Pháp. Đầu thế kỷ XX, Huế giữ “một vị trí quan trọng trong

phong trào yêu nƣớc theo xu hƣớng duy tân” [216, tr.44]. Huế là địa bàn hoạt

động của Duy Tân hội, của phong trào Đông Du, phong trào chống thuế với

sự tham gia của học sinh Nguyễn Sinh Cung vào năm 1908… Đặc biệt là

cuộc vận động yêu nƣớc của Thái Phiên và Trần Cao Vân đối với vua Duy

Tân nhằm phát động cuộc đấu tranh chống Pháp trên toàn Trung Kỳ vào năm

1916. Dù không thành công nhƣng “thể hiện tình thần yêu nƣớc quả cảm và

tinh thần đoàn kết đấu tranh của các tầng lớp nhân dân đến các sĩ phu, học

sinh, trí thức và vua quan nhà Nguyễn lúc bấy giờ” [216, tr.45].

Dƣới sự lãnh đạo của Đảng, trải qua 15 năm đấu tranh, nhân dân TTH,

đoàn kết thống nhất, tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945 thành

công ở địa phƣơng. Từ năm 1945 đến năm 1954, quân dân TTH sát cánh cùng

Quảng Bình kiên cƣờng kháng chiến chống thực dân Pháp trên một chiến

trƣờng quyết liệt “Bình - Trị - Thiên khói lửa”, góp phần làm nên chiến thắng

Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp

phải ký kết Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954).

2.1.1.2. Đặc điểm chiến trường và yêu cầu thành lập Khu ủy

Sau Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm

hai miền, Vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời. Huyện Vĩnh Linh

26

(Quảng Trị) ở phía Bắc Vĩ tuyến 17 trở thành Đặc khu Vĩnh Linh trực thuộc

Trung ƣơng, địa đầu của miền Bắc. Trị - Thiên - Huế trở thành địa đầu của

miền Nam, tiếp giáp miền Bắc có nhiệm vụ vừa giải phóng miền Nam, vừa

bảo vệ miền Bắc. Do đặc điểm về tự nhiên, xã hội, trong cuộc KCCMCN,

TTH có vị trí chiến lƣợc quan trọng về quân sự và chính trị. Đối với LLCM,

TTH là “đầu cầu” nối liền hai miền Nam - Bắc; địa bàn trực tiếp bảo vệ miền

Bắc XHCN, trƣớc hết là phía Nam khu IV, bảo vệ vùng giải phóng của Lào;

bàn đạp để tiến công ở chiến trƣờng TTH và điểm xuất phát để tấn công vào

miền Nam; hành lang chiến lƣợc của ba nƣớc Đông Dƣơng. Vì vậy, TTH là

chiến trƣờng vừa làm nhiệm vụ của địa phƣơng, vừa làm nhiệm vụ của cả

nƣớc, vừa làm nhiệm vụ quốc tế. Đối với Mỹ và CQVNCH, TTH là địa bàn

tổ chức phòng ngự, ngăn chặn sự chi viện sức ngƣời sức của từ miền Bắc, từ

các nƣớc XHCN anh em vào miền Nam, Lào và Campuchia; là “con đê” để

ngăn chặn “làn sóng đỏ” từ miền Bắc vào miền Nam; là bình phong, “lá chắn”

vững chắc cho căn cứ phía Nam đèo Hải Vân; làm bàn đạp để có thể “lấp

sông Bến Hải, Bắc tiến” khi cần thiết. Vì thế, kẻ thù luôn coi trọng và tăng

cƣờng xây dựng địa bàn TTH thành khu vực trọng điểm, kiên cố, vững chắc.

Từ vị trí chiến lƣợc nêu trên, chiến trƣờng TTH có đặc trƣng sau: vừa

là tiền tuyến, vừa là hậu phƣơng; “là nơi đọ sức quyết liệt giữa lực lƣợng của

hai miền, hai chế độ, cuộc chiến đấu sẽ diễn ra quyết liệt, phức tạp và có tác

động lớn đến cục diện chung trên toàn Miền và trong cả nƣớc” [50, tr.3]; vừa

có nhiệm vụ tiêu diệt, thu hút, kiềm chế quân chủ lực cơ động của Mỹ và

CQVNCH, thực hiện phối hợp chiến trƣờng, vừa có nhiệm vụ giành dân,

giành quyền làm chủ của nhân dân trên cả ba vùng chiến lƣợc.

Với âm mƣu biến TTH thành tuyến đầu “chống Cộng”, ngăn chặn làn

sóng cách mạng lan xuống Đông Nam Á, trong những năm 1954-1965, đế

quốc Mỹ và CQVNCH triển khai nhiều biện pháp đánh phá phong trào cách

mạng, gây tổn thất lớn cho LLCM. Đầu năm 1955, Khu ủy Liên khu IV chỉ

rõ: “Nhiệm vụ trƣớc mắt của Trị - Thiên là phát động quần chúng nông thôn

và thành thị đấu tranh đòi địch phải triệt để thi hành hiệp định Giơnevơ, đấu

27

tranh theo phƣơng châm “có lý có tình, có lợi và đúng mức” [85, tr.29-30] và

xác định: “Trị - Thiên là “khu đệm” giữa hai miền” [85, tr.30]. Giữa lúc Tỉnh

ủy Quảng Trị và Thừa Thiên đang triển khai quán triệt Nghị quyết 15 (1959)

của Trung ƣơng Đảng thì tiếp tục nhận đƣợc sự chỉ đạo từ cấp trên: “Trị -

Thiên là “khu đệm” tiếp giáp miền Bắc XHCN và trong điều kiện tình hình

quốc tế lúc bấy giờ, để tránh những ảnh hƣởng không có lợi về chính trị và

đối ngoại trong phe ta cũng nhƣ đối với địch, nên hoạt động quân sự ở Trị -

Thiên phải hạn chế, không rầm rộ, có mức độ” [85, tr.53]. Nhận thức về sách

lƣợc “khu đệm” và hạn chế đấu tranh vũ trang đã ảnh hƣởng nhiều đến sự chỉ

đạo phong trào TTH trong những năm 1960-1964, nhất là những hoạt động về

quân sự.

Đến giữa năm 1965, chiến lƣợc “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam căn

bản bị thất bại, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lƣợc “Chiến tranh

cục bộ”, “tiến hành một cuộc chiến tranh trên bộ với quy mô lớn nhất” [125,

tr.71]. Ngày 17-7-1965, Tổng thống Mỹ Johnson đã chuẩn y kế hoạch chiến

lƣợc ba giai đoạn của tƣớng Westmoreland, ồ ạt đƣa hàng chục vạn quân Mỹ

và quân đồng minh vào miền Nam. Ngay khi vào miền Nam, Mỹ mở nhiều

cuộc hành quân nhằm “tìm diệt” chủ lực QGP và “bình định” các vùng nông

thôn quan trọng; ổn định, tăng cƣờng hiệu lực chính quyền và QĐVNCH; mở

rộng cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nhằm

phá hoại công cuộc xây dựng CNXH, làm suy yếu căn cứ địa cách mạng của

cả nƣớc, ngăn chặn sự chi viện từ Bắc vào Nam, cô lập đè bẹp cách mạng

miền Nam. Thực hiện chiến lƣợc này nhằm tạo nên sự chuyển biến chiến lƣợc

có lợi cho Mỹ; ngăn ngừa sự sụp đổ của CQVNCH; xoay chuyển tình thế,

giành quyền chủ động trên chiến trƣờng.

Để thực hiện chiến lƣợc này, đế quốc Mỹ nhanh chóng triển khai lực

lƣợng chiến đấu Mỹ (44 tiểu đoàn) và quân các nƣớc đồng minh (Nam Triều

Tiên, Niu Dilân, Ôxtrâylia, Thái Lan, Philíppin) vào miền Nam Việt Nam,

nhanh chóng chuẩn bị cho cuộc phản công quy mô lớn trong mùa khô 1965-

1966. Từ tháng 7 đến cuối năm 1965, các đơn vị quân Mỹ và hàng vạn tấn

28

phƣơng tiện, vũ khí chiến tranh hiện đại ồ ạt đổ vào miền Nam, tổng số quân

Mỹ và tay sai đến cuối tháng 12-1965 có 726.772 ngƣời, trong đó có 184.314

lính Mỹ gồm 3 sƣ đoàn, 6 lữ đoàn và 2 trung đoàn, gấp 2,5 lần số quân Mỹ

đóng trên toàn chiến trƣờng Mỹ Latinh [91, tr.111-112]; huy động lực lƣợng

lớn không lực, các đơn vị tinh nhuệ của quân đội Mỹ và một hệ thống chỉ

huy, yểm trợ gồm các trung tâm thông tin, sân bay, quân cảng, kho tàng,

đƣờng giao thông… Cuộc KCCMCN của nhân dân Việt Nam đứng trƣớc thử

thách nghiêm trọng.

Trên chiến trƣờng TTH, có một sƣ đoàn chủ lực của QĐVNCH, 25 đại

đội bảo an, hàng trăm trung đội dân vệ, khoảng 2000 quân Mỹ [168, tr.117],

làm nhiệm vụ xây dựng căn cứ, kho tàng ở sân bay Phú Bài và thị xã Quảng

Trị, chuẩn bị triển khai các đơn vị chiến đấu của Mỹ và làm chỗ dựa cho

QĐVNCH ở vùng giới tuyến. Quân đội VNCH gồm 8 tiểu đoàn bộ binh, 3

tiểu đoàn pháo, 4 chi đoàn đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn công binh, 2 đại đội hải

thuyền, 23 đại đội bảo an, 100 trung đội dân vệ, 3 tiểu đoàn cảnh sát, 34 đoàn

bình định [125, tr.139]. Mỹ tập trung xây dựng hệ thống sân bay (Tà Cơn,

Đông Hà, Ái Tử (Quảng Trị), A Lƣới, Tây Lộc, Tân Mỹ, Phú Bài (Thừa

Thiên Huế)) và các quân cảng (Đông Hà, Mỹ Thủy (Quảng Trị), Tân Mỹ

(Thừa Thiên Huế)). Trƣớc việc Mỹ đƣa quân trực tiếp tham chiến, tình hình

tƣ tƣởng, tổ chức của cán bộ, đảng viên có sự thay đổi. Sự lãnh đạo, chỉ đạo

của Đảng bộ địa phƣơng chƣa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; một số cán bộ lãnh

đạo có tƣ tƣởng hữu khuynh, ảnh hƣởng đến công tác lãnh đạo, nói chung.

Trƣớc tình hình chiến tranh lan rộng, BCH Trung ƣơng Đảng họp Hội

nghị lần thứ 11 (3-1965) và lần thứ 12 (12-1965), đánh giá tình hình, đề ra

nhiệm vụ mới lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đoàn kết chặt chẽ,

quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc,

thống nhất nƣớc nhà. Trung ƣơng Đảng nhận định:

Mặc dầu đế quốc Mỹ đƣa vào miền Nam hàng chục vạn quân đội

viễn chinh, lực lƣợng so sánh giữa ta và địch không thay đổi lớn.

Tuy cuộc chiến tranh ngày càng trở nên gay go, ác liệt, nhƣng nhân

29

dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ

động trên chiến trƣờng, có lực lƣợng và điều kiện để đánh bại âm

mƣu trƣớc mắt và lâu dài của địch [114, tr.633].

Phƣơng châm chiến lƣợc chung là “đấu tranh quân sự kết hợp với đấu

tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công” [114, tr.339].

Để thể hiện rõ quyết tâm trên của Trung ƣơng Đảng, trong phát biểu bế

mạc Hội nghị lần thứ 12 (12-1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Mỹ

là một nƣớc đế quốc lớn nhất, giàu nhất, mạnh nhất trong phe đế quốc chủ

nghĩa. Nƣớc ta chỉ có hơn 30 triệu dân, lại nghèo, nhƣng chúng ta dám đánh

đế quốc Mỹ và nhất định đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lƣợc” [166, tr.692].

Cùng với việc chỉ đạo về chính trị, tƣ tƣởng trên, BCT ban hành Nghị

quyết số 123-NQ/TW ngày 7-5-1965 Về việc chuyển hướng công tác tổ chức

trong tình hình và nhiệm vụ mới để lãnh đạo công tác tổ chức, đáp ứng yêu

cầu của thực tiễn cuộc KCCMCN.

Thực hiện chủ trƣơng của Đảng, trong chiến đấu chống cuộc phản công

mùa khô thứ nhất (1965-1966) của quân Mỹ, quân dân miền Nam, với thế

trận CTND chặn đánh kẻ thù quyết liệt trên mọi hƣớng, tiến công khắp nơi.

Tháng 4-1966, BCT và QUTW xem xét kết quả trên toàn Miền, đánh giá

QGP miền Nam thắng lớn, bƣớc đầu làm thất bại chiến lƣợc “tìm diệt” của

quân Mỹ và QĐVNCH. Tuy nhiên, sự trƣởng thành về mọi mặt của các chiến

trƣờng, các mặt trận không đều. Tại chiến trƣờng Nam Bộ, cả hai mũi tiến

công của đối phƣơng vào chiến khu D, chiến khu Dƣơng Minh Châu và

hƣớng Đông Nam Sài Gòn đều bị LLCM miền Nam chặn đánh quyết liệt. Tại

khu V, bộ đội phục kích, tập kích và chống càn thắng lớn ở Phú Yên và Bắc

Bình Định, gây nhiều thiệt hại cho quân Mỹ… Trong khi đó, ở TTH, mặc dù

kẻ thù không tập trung “tìm diệt” lớn nhƣ ở các chiến trƣờng Nam Bộ và khu

V nhƣng việc chỉ đạo sử dụng lực lƣợng ba thứ quân tác chiến trên ba vùng

chiến lƣợc phối hợp với toàn Miền không đều, chiến trƣờng còn khá “yên

ắng”. Trong mùa khô 1965-1966, ở TTH không diễn ra trận đánh lớn nào vào

30

các căn cứ của kẻ thù. Hầu hết bộ đội chủ lực (Trung đoàn 9, Trung đoàn 57,

Tiểu đoàn 806…) đứng chân ở các vùng giáp ranh Thừa Thiên không chủ

động tiến công. Nhiều đơn vị lực lƣợng vũ trang và các đoàn thể cách mạng

không nhận đƣợc chỉ thị phát động quần chúng đấu tranh đánh quân Mỹ và

QĐVNCH, làm cho tình hình chiến trƣờng TTH ngày càng có chiều hƣớng

suy giảm. Do đó, đế quốc Mỹ chƣa phải đối phó lớn với QGP ở TTH, mà tập

trung lực lƣợng càn quét đánh phá ác liệt các tỉnh đồng bằng khu V, Đông

Nam Bộ, gây nhiều tổn thất cho phong trào cách mạng ở những nơi này.

Từ đặc điểm và tình hình của chiến trƣờng, để thực hiện thắng lợi

nhiệm vụ do Trung ƣơng Đảng và QUTW, TTH cần giải quyết ba vấn đề lớn:

Một là, tiếp tục giáo dục nâng cao tƣ tƣởng tiến công cho quân và dân;

phát động, tổ chức tốt CTND với nội dung chủ yếu: kết hợp đấu tranh “hai

chân, ba mũi, ba vùng, ba thứ quân”; kết hợp tốt phƣơng thức tác chiến của

CTND địa phƣơng với phƣơng thức tác chiến của lực lƣợng chủ lực nhằm

phát huy sức mạnh tiến công tổng hợp, đƣa CTND ở TTH phát triển cao hơn.

Đây là điều kiện mấu chốt để hoàn thành nhiệm vụ quân sự của địa phƣơng;

giam giữ, thu hút chủ lực quân Mỹ và QĐVNCH, buộc chúng phải đối phó

với chiến trƣờng TTH, thực hiện phối hợp tốt với chiến trƣờng toàn Miền.

Hai là, trên cơ sở nhận thức về quy luật phát triển của chiến tranh, phải

chủ động, tích cực chuẩn bị tốt các điều kiện cho chiến trƣờng, sẵn sàng mở

rộng quy mô, phối hợp tác chiến với các lực lƣợng chủ lực của Trung ƣơng

khi QGP chủ trƣơng mở các chiến dịch lớn ở chiến trƣờng TTH.

Ba là, kết hợp tốt giữa hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam (trên

địa phƣơng mình) với bảo vệ miền Bắc (trực tiếp là phía Nam Quân khu IV);

kết hợp tốt giữa hoàn thành nhiệm vụ quân sự địa phƣơng với hoàn thành

nhiệm vụ phối hợp chiến trƣờng toàn miền Nam, bảo vệ đƣờng hành lang

chiến lƣợc 559 qua TTH.

Do đó, yêu cầu bức thiết đặt ra ở TTH là phải có một cấp ủy đảng độc

lập, đủ tầm lãnh đạo phong trào cách mạng địa phƣơng, đặt dƣới sự lãnh đạo

31

trực tiếp của Trung ƣơng Đảng để thuận lợi cho việc đƣa TTH thành chiến

trƣờng chính, hƣớng tiến công chiến lƣợc nhằm “chia lửa” cho miền Nam và

ngăn chặn ý đồ đƣa chiến tranh ra miền Bắc của đế quốc Mỹ.

2.1.2. Thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế và kiện toàn tổ chức

2.1.2.1. Thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế

Sau tháng 7-1954, miền Bắc đƣợc giải phóng từ sông Bến Hải (Vĩnh

Linh - Quảng Trị) trở ra, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh gian khổ với đế

quốc Mỹ và CQVNCH để giành thắng lợi hoàn toàn. Về công tác xây dựng

Đảng ở miền Nam, ngày 6-9-1954, BCT ra chỉ thị về tình hình mới nêu rõ sự

cần thiết phải sắp xếp cán bộ, bố trí lực lƣợng, bảo đảm vừa che giấu đƣợc lực

lƣợng, vừa có thể hoạt động để thực hiện chủ trƣơng, chính sách của Đảng.

Từ đó, Trung ƣơng Đảng chủ trƣơng:

Tổ chức Đảng phải bí mật. Tổ chức Đảng cần trong sạch, nghiêm mật,

vững mạnh… Các cơ quan lãnh đạo phải chắc, gọn gàng, bí mật... Ở

Liên khu V, giữ Khu ủy và thành lập ba Liên Tỉnh ủy. Thừa Thiên,

Quảng Trị (bộ phận Pháp tạm đóng quân) tạm thời giao cho Khu ủy IV

phụ trách; nhƣng sau này giao thông liên lạc lại bình thƣờng thì sẽ giao

lại cho Khu ủy V trực tiếp lãnh đạo [111, tr.280-281].

Sau Hiệp định Giơnevơ, cơ quan lãnh đạo trực tiếp Liên Tỉnh ủy Trị -

Thiên là Liên Khu ủy IV nhƣng chỉ mang tính chất “tạm thời”. Ban Thƣờng

vụ Liên Khu ủy IV chỉ định Tỉnh ủy Thừa Thiên gồm 7 Tỉnh ủy viên: Lê

Minh làm Bí thƣ, Ngô Lén làm Phó Bí thƣ, Nguyễn Minh Đạt làm Ủy viên

Thƣờng vụ và các ủy viên: Lê Cƣơng, Nguyễn Minh Phƣơng, Lê Tự Lập,

Trần Hàn [79, tr.14]; Tỉnh ủy Quảng Trị gồm 5 Tỉnh ủy viên: Trƣơng Chí

Công làm Bí thƣ, Hoàng Đức Sản, Phan Văn Khánh làm Ủy viên Thƣờng vụ

và các ủy viên: Nguyễn Tào, Phan Trọng Tịnh [68, tr.21]. Gần một năm sau,

Trung ƣơng Đảng nhận thấy để công tác lãnh đạo phù hợp với nhiệm vụ mới,

lúc này TTH đã trở thành “đầu cầu” của miền Nam, cần phải tách Liên Tỉnh

ủy Trị - Thiên ra khỏi Khu ủy IV để sáp nhập vào Khu ủy V. Thực hiện chủ

32

trƣơng trên, ngày 30-3-1955, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng ra Nghị quyết số

10/NQ-TW “Về việc sáp nhập 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên vào Liên Khu

V”; đồng thời, Trung ƣơng quyết định chia khu V thành bốn liên tỉnh: Liên

tỉnh 1 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam); liên tỉnh 2 (Quảng Ngãi, Bình

Định, Phú Yên); liên tỉnh 3 (Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên,

Đồng Nai Thƣợng); liên tỉnh 4 (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk). Tỉnh ủy Quảng

Trị, Thừa Thiên thuộc Liên tỉnh 1 (Liên tỉnh Bắc) trực thuộc Liên Khu ủy V,

do ông Nguyễn Văn Quảng (Nguyễn Húng), Ủy viên Thƣờng vụ Liên Khu ủy

V làm Bí thƣ, sau đó ông Lê Minh thay ông Nguyễn Húng làm Bí thƣ. Ở

Thừa Thiên, tháng 11-1957, Thƣờng vụ Khu ủy V quyết định cử ông Lê

Cƣơng làm Quyền Bí thƣ Tỉnh ủy [79, tr.37]; đầu năm 1958, ông Nguyễn

Minh Phƣơng đƣợc giao Quyền Bí thƣ Tỉnh ủy [79, tr.40]; đến tháng 7-1959,

ông Ngô Lén (Hà) đƣợc bầu làm Bí thƣ Tỉnh ủy [217, tr.127]. Ngày 17-6-

1961, Phân khu quân sự Trị - Thiên (Phân khu Bắc) ra đời, trực thuộc khu V

do ông Hoàng Giang làm chỉ huy trƣởng lực lƣợng vũ trang. Tháng 7-1961,

BCT quyết định tổ chức lại chiến trƣờng Nam Trung Bộ, tách Liên khu V

thành hai khu (Khu V trực thuộc Trung ƣơng Đảng gồm: Quảng Trị, Thừa

Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Kon Tum và Gia Lai;

khu VI trực thuộc Trung ƣơng Cục miền Nam gồm: Khánh Hòa, Ninh Thuận,

Bình Thuận, Đắk Lắk, Tuyên Đức và Lâm Đồng), lập Bộ Tƣ lệnh khu thay

Ban quân sự. Từ tháng 3-1955 đến tháng 4-1966, Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên

chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ Khu ủy V.

Từ năm 1955, dƣới chính sách “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ - Diệm,

cuộc đấu tranh của nhân dân ở miền Nam nói chung và TTH nói riêng “trải

qua những năm tháng khó khăn, ác liệt,… chịu những tổn thất nặng nề chƣa

từng có” [83, tr.39]. Kết thúc “tố cộng, diệt cộng” đợt 2 (đầu năm 1956), số

đảng viên còn lại của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên “chƣa đến 100 đồng chí, các

huyện ủy, xã ủy không còn, các đồng chí tỉnh ủy viên, huyện ủy viên, một số

hy sinh, một số bị địch bắt, số còn lại tập trung ở miền núi và các cơ quan

33

tỉnh” [217, tr.125]; ở Quảng Trị, đến cuối năm 1957, toàn Đảng bộ “chỉ còn

lại 306 cán bộ, đảng viên, trong đó 5 huyện, thị xã ở đồng bằng có 35 đảng

viên, sinh hoạt trong 6 chi bộ (Triệu Phong: 3 chi bộ; Gio Linh: 3 chi bộ) và

71 đảng viên đơn tuyến” [68, tr.52]. Tổ chức Đảng và phong trào cách mạng

ở TTH bị tổn thất, khó khăn nghiêm trọng.

Quán triệt chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng, Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên

lãnh đạo, chỉ đạo Tỉnh ủy Quảng Trị và Tỉnh ủy Thừa Thiên từng bƣớc củng

cố tổ chức, đề ra chủ trƣơng đấu tranh mới, sát hợp với tình hình thực tiễn,

nhất là ở vùng rừng núi miền Tây Trị - Thiên. Dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của

Liên Tỉnh ủy, quân dân TTH với khát vọng độc lập, thống nhất Tổ quốc, luôn

đoàn kết đấu tranh đòi đế quốc Mỹ và CQVNCH thi hành Hiệp định Giơnevơ

bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo. Tiêu biểu là những cuộc đấu tranh,

biểu tình xuống đƣờng liên tục của tất cả các tầng lớp nhân dân, nhất là ở

thành phố Huế; cao trào “đồng khởi” của các dân tộc miền núi năm 1960. Đến

cuối năm 1960, “đại bộ phận miền núi Thừa Thiên, 10 xã Nam Đƣờng 9

(Quảng Trị), 5 xã thuộc quận Ba Lòng và xã Hải Phú thuộc huyện Hải Lăng

đƣợc giải phóng” [128, tr.17], hình thành căn cứ địa miền núi rộng lớn.

Tiếp sau đồng khởi miền núi là “đồng khởi” ở đồng bằng TTH. Từ

tháng 7-1964 đến tháng 2-1965, quân dân địa phƣơng giải phóng gần 30 vạn

dân, phá kìm kẹp của QĐVNCH ở 479 thôn, 138 xã, xây dựng và phát triển

mạnh cơ sở và lực lƣợng cách mạng ở đồng bằng (riêng Quảng Trị có 126 chi

bộ với 1.017 đảng viên, 64 chi đoàn với 453 đoàn viên) [128, tr.17]. Thắng lợi

này giáng một đòn nặng nề vào quốc sách “ấp chiến lƣợc” của đế quốc Mỹ,

tạo cơ sở, điều kiện thuận lợi để TTH tiếp tục đấu tranh trong giai đoạn sau.

Tuy nhiên, so với yêu cầu và khả năng, thắng lợi đó còn nhiều hạn chế: củng

cố vùng nông thôn đồng bằng chƣa vững chắc, chƣa mở rộng ra vùng phụ cận

thành phố; trình độ xây dựng và tác chiến của bộ đội chủ lực phân khu, tỉnh

còn thấp, chƣa thể tổ chức các trận đánh tiêu diệt lớn…

Trong thời gian hơn 11 năm này, Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên vƣợt qua

khó khăn, thực hiện tốt nhiệm vụ “khu đệm”. Khi đế quốc Mỹ triển khai chiến

34

lƣợc “Chiến tranh cục bộ”, cuộc KCCMCN đối diện với thử thách mới, chiến

trƣờng TTH trở nên “nóng bỏng”, ác liệt hơn. Sự lãnh đạo của Khu ủy Liên

khu V đối với Đảng bộ địa phƣơng TTH có thời điểm không sát sao, nhất là

khi phải tập trung đối phó với hƣớng tiến công chiến lƣợc của quân Mỹ vào

đồng bằng khu V. Mặt khác, chiến trƣờng TTH có thuận lợi là giáp với miền

Bắc XHCN, gần Trung ƣơng Đảng.

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của cuộc KCCMCN, tháng 4-1966,

Bộ Chính trị quyết định tách Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên ra khỏi Khu ủy V,

thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế [185]; đồng thời Quân ủy Trung ƣơng

quyết định tách Phân khu quân sự Trị - Thiên ra khỏi Quân khu V, thành lập

Quân khu Trị - Thiên - Huế (Mặt trận B4) [185]. Đây là quyết định đúng đắn,

phù hợp với thực tiễn của địa phƣơng, là điều kiện tiên quyết để đƣa cuộc

KCCMCN ở TTH phát triển mạnh hơn.

Khi mới thành lập, cơ quan Khu ủy đóng tại miền Tây Thừa Thiên (nay

là huyện A Lƣới, tỉnh Thừa Thiên Huế). Đến tháng 8-1966, Khu ủy chuyển

trụ sở về địa đạo Động Chuối - vùng núi phía Tây của chiến khu Hòa Mỹ.

2.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động

Bộ Chính trị quy định chức năng, nhiệm vụ của Khu ủy TTH. Khi

thành lập, BCT giao nhiệm vụ cho Khu ủy kiện toàn tổ chức, sắp xếp lại thế

chiến lƣợc của chiến trƣờng, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác, đặc biệt là

vấn đề phát động quần chúng nhân dân ở TTH để tiến hành kháng chiến nhằm

tạo nên một hƣớng tấn công mới của LLCM vào nơi yếu của quân Mỹ và

QĐVNCH, làm đảo lộn thế bố trí chiến lƣợc của đối phƣơng trên chiến

trƣờng miền Nam, đƣa phong trào cách mạng ở TTH phát triển ngang bằng và

phối hợp đắc lực với chiến trƣờng khác toàn Miền.

Đến năm 1968, BCT ban hành Nghị quyết số 183-NQ/TW Về việc kiện

toàn tổ chức và lãnh đạo của Khu ủy Trị - Thiên - Huế, trong đó khẳng định

lại: “Khu ủy TTH có trách nhiệm lãnh đạo và chỉ đạo toàn diện các mặt công

tác quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, công tác xây dựng Đảng và công tác

quần chúng trong khu” [117, tr.479]. “Khu ủy xây dựng và chỉ đạo hoạt động

35

của các Ban cán sự Đảng các địa phƣơng về các mặt quân sự, chính trị, kinh

tế, văn hóa, xây dựng Đảng và công tác quần chúng, đảm bảo cho toàn Đảng

bộ trong khu hoàn thành mọi nhiệm vụ đã đề ra” [117, tr.479].

Khu ủy quy định quy chế chỉ đạo, quan hệ giữa Khu ủy với các cấp ủy

trực thuộc khác nhƣ: Tỉnh ủy Thừa Thiên, Tỉnh ủy Quảng Trị, Thành ủy Huế,

Quân khu ủy TTH. Khu ủy trực tiếp chỉ đạo công tác của Quân khu ủy TTH,

“đảm bảo kết hợp toàn diện các mặt hoạt động của Đảng, hoàn thành nhiệm

vụ quân sự của chiến trƣờng” [117, tr.479].

Khu uỷ TTH xác định mối quan hệ phối hợp, ngang cấp với các tổ chức

Đảng khác: Với Đoàn ủy 559, “phối hợp chặt chẽ, thƣờng xuyên liên hệ với

nhau…, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển tiếp tế cho khu và các

nhiệm vụ vận chuyển tiếp tế khác” [117, tr.480]; với Đảng ủy Mặt trận B5,

“vừa là quan hệ phối hợp giữa hai chiến trƣờng…; vừa là quan hệ giữa các

đơn vị chủ lực của Mặt trận B5 với các cấp ủy địa phƣơng thuộc quyền lãnh

đạo của Khu ủy [117, tr.480]; Tỉnh ủy Quảng Bình và Khu ủy Vĩnh Linh,

“đảm bảo tiếp tế vận chuyển, công tác dân công và tiếp đón, săn sóc thƣơng

bệnh binh” [117, tr.481] cho khu TTH, nhƣng khi cần thiết, “Khu ủy Trị -

Thiên đƣợc trực tiếp liên hệ với Tỉnh ủy Quảng Bình và Khu ủy Vĩnh Linh để

bàn bạc mọi việc và đề ra các yêu cầu” [117, tr.481]; với Khu ủy V, là quan hệ

ngang cấp, cùng phối hợp với nhau trong các hoạt động quân sự và các công

tác khác vì cả hai Khu ủy đều trực thuộc Trung ƣơng Đảng và chiến trƣờng

TTH nối liền với chiến trƣờng khu V…

Bộ Chính trị “trực tiếp lãnh đạo Khu ủy về các chủ trƣơng công tác lớn,

chỉ thị cho Khu ủy về các nhiệm vụ chiến lƣợc và có tính chất toàn diện”

[117, tr.479]. Trong quá trình triển khai, thực hiện các Nghị quyết của Bộ

Chính trị, “Khu ủy chịu sự chỉ đạo của QUTW về mặt quân sự; về các mặt

công tác khác, Khu ủy chịu sự chỉ đạo của Ban Bí thƣ” [117, tr. 479].

2.1.2.3. Kiện toàn tổ chức

Bộ Chính trị quy định: “Khu ủy sẽ nghiên cứu và quyết định việc kiện

toàn theo nguyên tắc gọn, nhẹ, thiết thực, phù hợp với tình hình” [117,

36

tr.480]. Bộ máy giúp việc cho Khu ủy bao gồm Văn phòng Khu ủy và một số

ban chuyên môn: Ban Tổ chức, Ban Tuyên huấn, Ban Kiểm tra Đảng, Ban An

ninh, Ban Dân vận, Ban Binh vận, Ban Giao liên, Ban Kinh tế, Ban Thi đua

khen thƣởng, Hội đồng tiền phƣơng… Các tổ chức trên đƣợc Thƣờng vụ Khu

ủy chỉ đạo xây dựng trong từng giai đoạn cho phù hợp với nhiệm vụ của chiến

trƣờng TTH. Riêng lĩnh vực quân sự thành lập Quân Khu ủy trực thuộc Khu

ủy. Quân Khu ủy có các Đảng ủy bộ phận: Đảng ủy Cục Tham mƣu, Đảng ủy

Cục Chính trị, Đảng ủy Cục Hận cần và các tổ chức đảng trực thuộc khác. Để

cho các Ban cán sự Đảng đủ năng lực làm tròn nhiệm vụ, Khu ủy phải thƣờng

xuyên nghiên cứu để xây dựng và “kiện toàn tổ chức cho các ban cán sự đó và

giao chức trách, nhiệm vụ một cách rõ ràng chu đáo” [117, tr.479-480].

Khi thành lập (4-1966), Khu ủy TTH gồm các Khu ủy viên: Thiếu

tƣớng Đặng Thí, Nguyễn Húng (Nguyễn Văn Quảng), Thiếu tƣớng Lê

Chƣởng (Lê Trung Tín), Đại tá Đặng Kinh, Trƣơng Chí Công, Hồ Tú Nam

(Nguyễn Văn Thanh), Hồ Sĩ Thản (Hồ Sĩ Thành), Lê Hành (Lê Xích, Hồ Văn

Hành), Nguyễn Vạn, Trần Anh Liên (Trần Văn). Đến giữa năm 1966, Trung

ƣơng Đảng chỉ định bổ sung Thiếu tƣớng Trần Văn Quang (Bảy Tiến), ông

Lê Minh vào Khu ủy. Đến năm 1967, Khu ủy đƣợc bổ sung các Khu ủy viên:

Vũ Nam Long (Khoa), Lê Tự Nhiên (Hƣng), Vũ Soạn, Cao Văn Khánh, Vũ

Thắng (Khu ủy viên dự khuyết), Nguyễn Chi (Khu ủy viên dự khuyết). Tháng

8-1968, BCT tăng cƣờng cho Khu ủy các Khu ủy viên: Hoàng Anh, Hoàng

Sâm, Nguyễn Quyết và Nguyễn Thế Lâm.

Thiếu tƣớng Đặng Thí đƣợc BCT chỉ định làm Bí thƣ Khu ủy từ tháng

4-1966 đến tháng 6-1966. Từ tháng 6-1966, Thiếu tƣớng Trần Văn Quang

(Bảy Tiến), Ủy viên dự khuyết BCH Trung ƣơng Đảng khóa III, Tƣ lệnh

Quân khu IV đƣợc Trung ƣơng Đảng giao nhiệm làm Bí thƣ Khu ủy, kiêm Tƣ

lệnh Quân khu, Bí thƣ Quân Khu ủy TTH. Thiếu tƣớng Lê Chƣởng, Ủy viên

Thƣờng vụ Khu ủy Liên khu V làm Phó Bí thƣ Khu ủy, kiêm Chính ủy Quân

khu, Phó Bí thƣ Quân Khu ủy. Ông Nguyễn Húng, Ủy viên Thƣờng vụ Khu

ủy Liên khu V làm Phó Bí thƣ Khu ủy. Đến tháng 8-1966, ông Lê Minh,

37

nguyên Ủy viên Thƣờng vụ Liên Khu ủy IV, Liên Khu ủy V, Bí thƣ Tỉnh ủy

Thừa Thiên Huế, Bí thƣ Liên tỉnh TTH làm Phó Bí thƣ Khu ủy, kiêm Trƣởng

Ban an ninh khu thay ông Nguyễn Húng nhận nhiệm vụ mới.

Khu ủy trực tiếp lãnh đạo Tỉnh ủy Thừa Thiên, Tỉnh ủy Quảng Trị,

Thành ủy Huế, Quân Khu ủy TTH và Đảng ủy các Ban chuyên môn của Khu

ủy. Tỉnh ủy Thừa Thiên gồm 13 Tỉnh ủy viên do ông Nguyễn Vạn - Khu ủy

viên làm Bí thƣ Tỉnh ủy; ông Vũ Thắng - Khu ủy viên dự khuyết làm Phó Bí

thƣ Tỉnh ủy kiêm Chính trị viên Tỉnh đội, Bí thƣ Đảng ủy quân sự tỉnh; ông

Nguyễn Chi - Khu ủy viên dự khuyết, Ủy viên Thƣờng vụ Tỉnh ủy, kiêm Tỉnh

đội trƣởng. Tỉnh ủy Quảng Trị đƣợc thiết lập lại gồm 15 Tỉnh ủy viên do ông

Trƣơng Chí Công - Thƣờng vụ Khu ủy làm Bí thƣ Tỉnh ủy; ông Vũ Soạn -

Khu ủy viên làm Phó Bí thƣ Tỉnh ủy; các ông: Lê Bổ, Nguyễn Văn Lƣơng,

Nguyễn Khởi làm Ủy viên Thƣờng vụ. Thành ủy Huế có 9 Thành ủy viên do

ông Trần Anh Liên - Khu ủy viên làm Bí thƣ Thành ủy; ông Nguyễn Thạch

(Bƣơng), Ủy viên Thƣờng vụ Tỉnh ủy, Chính trị viên Thành đội; ông Thân

Trọng Một, Thành ủy viên, Thành đội trƣởng Thành đội Huế [125, tr.160].

Quân Khu ủy TTH do Thiếu tƣớng Trần Văn Quang làm Bí thƣ, Thiếu tƣớng

Lê Chƣởng làm Phó Bí thƣ.

Từ khi thành lập đến tháng 8-1967, Khu ủy TTH chú trọng xây dựng tổ

chức chặt chẽ từ cấp Khu ủy đến cấp Tỉnh ủy - Thành ủy, Huyện ủy (Thị ủy,

Quận ủy, Đảng ủy miền núi), Đảng ủy xã (Đảng ủy phƣờng, Đảng ủy thị trấn,

Chi ủy xã). Cấp Tỉnh ủy, Thành ủy bao gồm các tổ chức: Tỉnh ủy Quảng Trị,

Tỉnh ủy Thừa Thiên, Thành ủy Huế, lúc này Thành ủy Huế ngang cấp với

Tỉnh ủy. Tỉnh ủy Quảng Trị có các Đảng ủy trực thuộc: Thị ủy Đông Hà, Thị

ủy Quảng Trị, Huyện ủy Gio Linh, Huyện ủy Cam Lộ, Huyện ủy Triệu

Phong, Huyện ủy Hải Lăng, Đảng ủy miền núi Quảng Trị gồm các Đảng ủy:

Ba Lòng, Bắc Hƣớng Hóa, Nam Hƣớng Hóa. Tỉnh ủy Thừa Thiên có các

Đảng ủy trực thuộc: Huyện ủy Phong Điền, Huyện ủy Quảng Điền, Huyện ủy

Hƣơng Trà, Huyện ủy Hƣơng Thủy, Huyện ủy Phú Lộc, Huyện ủy Phú Vang,

Đảng ủy miền núi Thừa Thiên bao gồm: Quận ủy 1, Quận ủy 3, Quận ủy 4

38

(Hiện nay, các quận này là huyện Nam Đông và huyện A Lƣới của tỉnh Thừa

Thiên Huế). Thành ủy Huế có các Đảng ủy trực thuộc: Quận ủy Hữu Ngạn,

Quận ủy Tả Ngạn và Quận ủy Thành Nội. Dƣới Huyện ủy (Thị ủy, Quận ủy)

là các Đảng ủy xã (Đảng ủy phƣờng, Đảng ủy thị trấn, Chi ủy xã). Quân Khu

ủy đƣợc tổ chức theo ngành dọc bên Quân đội nhƣng chịu sự lãnh đạo, quản

lý của Khu ủy TTH. Quân Khu ủy có các Đảng ủy trực thuộc: Đảng ủy Cục

Tham mƣu, Đảng ủy Cục Chính trị và Đảng ủy Cục Hậu cần.

Thành lập Khu ủy TTH xuất phát từ yêu cầu thực tiễn ở chiến trƣờng

và trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc tổ chức Đảng nhằm lãnh đạo thành công

cuộc KCCMCN, thể hiện tính linh hoạt, sáng tạo của Trung ƣơng Đảng và

các cấp ủy Đảng ở địa phƣơng.

2.2. KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN TỪ NĂM

1966 ĐẾN NĂM 1968

2.2.1. Khu ủy lãnh đạo chống kế hoạch “bình định” của đế quốc

Mỹ từ năm 1966 đến năm 1967

2.2.1.1. Chủ trương của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương

Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ”, phong trào

cách mạng thế giới đang ở thế tiến công, nhiều nƣớc tiếp tục ủng hộ cuộc

kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Ở miền Bắc, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất

đạt và vƣợt các mục tiêu về kinh tế, văn hóa, tiếp tục chi viện sức ngƣời, sức

của cho cách mạng miền Nam. Ở miền Nam, vƣợt qua khó khăn trong những

năm 1961-1962, từ năm 1963, cuộc đấu tranh của quân và dân miền Nam có

bƣớc phát triển mới. Đồng thời, cách mạng miền Nam cũng đứng trƣớc khó

khăn mới. Sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng trở nên gay gắt,

không có lợi cho cách mạng Việt Nam. Việc đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh,

thực hiện chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ”, đƣa quân trực tiếp xâm lƣợc miền

Nam làm cho tƣơng quan lực lƣợng thay đổi, có lợi cho đế quốc Mỹ và

CQVNCH. Dân tộc Việt Nam đứng trƣớc cuộc đụng đầu lịch sử mới.

Thực hiện Nghị quyết 11 (3-1965) và 12 (12-1965) của Trung ƣơng

Đảng, quân và dân miền Nam trên thế trận nhân dân vững chắc, với phƣơng

39

châm: “Kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, chen vào

giữa địch mà đánh, luồn sâu vào hậu phƣơng địch mà đánh” [83, tr.63], liên

tục phản công, giành chiến thắng trong chiến dịch mùa khô lần thứ nhất

(1965-1966), tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân Mỹ và tay

sai; Mỹ không thực hiện đƣợc các mục tiêu đề ra cho cuộc phản công lần thứ

nhất; quyền chủ động chiến trƣờng thuộc về LLCM miền Nam.

Mùa mƣa năm 1966, đế quốc Mỹ đƣa thêm nhiều quân cùng hàng vạn

tấn vũ khí, phƣơng tiện chiến tranh tiếp tục đổ bộ vào miền Nam; tăng cƣờng

ném bom, bắn phá làng mạc; đẩy mạnh “bình định” gom dân, triển khai lực

lƣợng, chuẩn bị phản công chiến lƣợc lần thứ hai.

Ở chiến trƣờng TTH, sau mùa khô 1965-1966, BCT nhận định, phong

trào tuy đạt đƣợc một số thắng lợi, góp phần làm thất bại các mục tiêu của Mỹ

và CQVNCH nhƣng mới chỉ là bƣớc đầu. So với đà phát triển chung của toàn

miền Nam, phong trào TTH phát triển chậm, trong khi ở đây đối phƣơng yếu

hơn các chiến trƣờng khác. Nghị quyết Thƣờng trực QUTW ngày 26-4-1966

nêu rõ: “Quân ủy Trung ƣơng hoan nghênh những thành tích mà quân dân Trị

- Thiên đã thu đƣợc trong cuộc chiến tranh chống Mỹ và tay sai. Tuy nhiên,

so với đà phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng trên cả chiến trƣờng miền

Nam thì phong trào Trị - Thiên còn nhiều nhƣợc điểm, tiến triển chậm” [185].

Từ đó, Quân ủy Trung ƣơng xác định nhiệm vụ của chiến trƣờng TTH:

Đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị, phát động chiến tranh du

kích, đẩy mạnh chiến tranh rộng khắp và đến trình độ ngày càng

cao, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, giải phóng phần lớn vùng nông

thôn đồng bằng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở Huế và các đô thị

khác, củng cố và mở rộng vùng giải phóng ở rừng núi và giáp ranh,

cắt đứt đƣờng giao thông chiến lƣợc của địch, xây dựng đƣờng hành

lang của ta, giành thắng lợi lớn về mọi mặt, tạo nên một tình thế mới

trên chiến trƣờng Trị - Thiên, phối hợp tốt với các chiến trƣờng khác

40

trong mọi tình huống (kể cả tình huống đế quốc Mỹ mở rộng chiến

tranh ra Trung và Hạ Lào), để thực hiện quyết tâm chiến lƣợc của

Trung ƣơng [185].

Tháng 6-1966, QUTW quyết định mở Mặt trận Đƣờng 9 - Bắc Quảng

Trị (Mặt trận B5) nhằm:

Tạo nên một hƣớng tiến công mới của ta vào nơi yếu của địch trên

chiến trƣờng miền Nam, buộc địch phải phân tán lực lƣợng lên rừng

núi, thực hiện tiêu diệt đối với quân cơ động chiến lƣợc của địch bằng

lực lƣợng chủ lực mạnh của ta ở miền Bắc, tạo điều kiện cho các chiến

trƣờng khác, trực tiếp nhất là vùng đồng bằng Trị - Thiên, làm cho

địch bị động càng bị động hơn, ngăn chặn âm mƣu của chúng mở rộng

chiến tranh ra miền Bắc, đặc biệt là vùng Quân khu 4 [186].

Sự thành lập đồng thời Mặt trận B4 và B5 là “một quyết định chiến

lƣợc kịp thời, táo bạo và khoa học dựa trên cơ sở đánh giá chính xác về khả

năng của ta và địch” [110, tr.95], là một trong những “quyết định xuất sắc về

chỉ đạo chiến lƣợc” [150, tr.56] của Đảng. Quân Giải phóng đẩy mạnh tiến

công trên chiến trƣờng TTH là một điều bất ngờ đối với Mỹ, làm đảo lộn thế

bố trí chiến lƣợc của chúng. Gần hai sƣ đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đang thực

hiện nhiệm vụ bình định đồng bằng sông Cửu Long, tiến hành các cuộc phản

công chiến lƣợc, phải đƣa ra bổ sung cho vùng núi TTH; Mỹ muốn tập trung

lực lƣợng tiến công ở Nam Bộ nhƣng lại phải phân tán phòng ngự ở TTH để

đối phó với lực lƣợng chủ lực của miền Bắc và phong trào CTND địa phƣơng.

Cuộc kháng chiến diễn ra ngày càng quyết liệt, để khẳng định niềm tin

và quyết tâm đánh thắng Mỹ, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời

kêu gọi lịch sử, khẳng định chân lý:“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”:

Chúng có thể đƣa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để

đẩy mạnh chiến tranh xâm lƣợc ở miền Nam Việt Nam (…). Chiến

tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà

Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá,

41

song nhân dân việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc

lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nƣớc

ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn [167, tr.131].

Lời kêu gọi nhƣ lời hịch, thúc giục quân dân cả nƣớc quyết đánh quyết

thắng giặc Mỹ xâm lƣợc. Trên toàn miền Nam, LLCM giành đƣợc những

thắng lợi quan trọng sau gần hai năm trực tiếp đƣơng đầu với quân Mỹ, quân

đồng minh và QĐVNCH. Tuy đế quốc Mỹ gặp nhiều tổn thất nhƣng chƣa

chịu từ bỏ chiến tranh xâm lƣợc ở miền Nam, tiếp tục leo thang chiến tranh

phá hoại miền Bắc. Nghị quyết BCT (11-1966), một lần nữa khẳng định quyết

tâm chiến lƣợc của Trung ƣơng Đảng trong Hội nghị lần thứ 12 và nêu rõ

nhiệm vụ của chung của nhân dân: “Phải động viên lực lƣợng cả nƣớc, kiên

quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lƣợc của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình

huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng

dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nƣớc, tiến đến hòa bình thống nhất nƣớc

nhà” [116, tr.502]. Đồng thời, Nghị quyết khẳng định lại phƣơng châm đấu

tranh của quân dân miền Nam là “quân sự kết hợp đấu tranh chính trị, triệt để

lợi dụng ba mũi giáp công (đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và công tác

binh vận)” [116, tr.504].

Chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng, QUTW và tinh thần quyết đánh,

quyết thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cơ sở, động lực và nguồn sức mạnh

để Đảng bộ và quân dân TTH vững vàng trên trận tuyến đánh Mỹ, quyết tâm

thực hiện tốt nhiệm vụ Trung ƣơng.

2.2.1.2. Lãnh đạo chống kế hoạch “bình định” (1966-1967)

Quán triệt chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng, các Nghị quyết của

Thƣờng trực QUTW và tƣ tƣởng Không có gì quý hơn độc lập, tự do của Chủ

tịch Hồ Chí Minh, ngay từ khi thành lập, Khu ủy TTH đã khẩn trƣơng lãnh

đạo phong trào cách mạng bƣớc vào trận chiến mới quyết liệt với kẻ thù.

Ngày 6-6-1966, Khu ủy ra chỉ thị “Tiếp tục đẩy mạnh phong trào đấu

tranh chống Mỹ, Thiệu - Kỳ”, trong đó đánh giá về phong trào đấu tranh

chống Mỹ, Thiệu - Kỳ ở Huế và thị xã Quảng Trị mấy tháng đầu năm 1966

42

“diễn ra một cách liên tục và đang ngày càng phát triển lên cao” [13, tr.1], đây

“thực chất là phong trào quần chúng cách mạng rộng lớn ở đô thị; lực lƣợng

và động cơ chủ yếu của phong trào là quần chúng nhân dân” [13, tr.1].

Khu ủy nêu mục tiêu đấu tranh đối với phong trào đô thị: Tập trung lực

lƣợng, tranh thủ thời cơ lôi kéo và làm tan rã QĐVNCH (cụ thể là sƣ đoàn 1);

tiếp tục phá thế kìm kẹp ở vùng ngoại ô và trong thành phố, mở rộng vùng

giải phóng ở nông thôn, xây dựng cơ sở quần chúng vững chắc ở thành phố,

làm rối loạn hậu phƣơng CQVNCH, giành quyền lãnh đạo đƣa phong trào

TTH nói chung và phong trào Huế nói riêng tiến lên một bƣớc mới; đẩy mạnh

tổ chức vũ trang, đánh du kích ở vùng ngoại ô và trong thành phố.

Để thực hiện mục tiêu trên, Khu ủy chủ trƣơng: “Phải cố duy trì và phát

triển phong trào đô thị lên một cách khẩn trƣơng, mạnh dạn tiếp sức và tăng

cƣờng lực lƣợng cho phong trào đó” [13, tr.2], làm cho quần chúng ở đô thị

hiểu rằng họ đấu tranh không lẻ loi, không bị cô lập mà luôn có chỗ dựa vững

vàng để họ tiến hành đấu tranh tích cực và quyết liệt hơn. Phƣơng châm đấu

tranh: “Hai chân, ba mũi giáp công (đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và

binh vận). Phát huy đến cao độ các hình thức hội thảo, mít tinh, biểu tình,

đình công, bãi thị, bãi khóa, bất hợp tác với Mỹ và bọn tay sai” [13, tr.2].

Đồng thời, Khu ủy cũng xác định nhiệm vụ đối với phong trào nông

thôn: tăng cƣờng hoạt động vũ trang và đấu tranh chính trị để có thể hỗ trợ

một cách thiết thực phong trào đô thị.

Thực hiện chủ trƣơng của BCT, của QUTW, của Khu ủy, tháng 6-

1966, Thƣờng vụ Tỉnh ủy Quảng Trị họp và quyết định: “Phải liên tục tiến

công địch, tiêu diệt dân vệ, bảo an, ngụy quyền thôn, xã; kiên quyết diệt trừ ác

ôn, tề, điệp, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm và bình định có trọng

điểm của địch để mở rộng vùng giải phóng, nâng cao thế làm chủ của quần

chúng nhân dân” [68, tr.220-221].

Cùng thời gian đó, Tỉnh ủy Thừa Thiên họp và chủ trƣơng: phát động

quần chúng đấu tranh phá thế kìm kẹp của QĐVNCH với nhiều hình thức

thích hợp; kiên quyết đánh bại các cuộc hành quân càn quét “bình định”; đẩy

43

mạnh chiến tranh du kích; củng cố, tăng cƣờng sức mạnh của các vành đai

diệt Mỹ: Phú Bài, Sơn - An - Nguyên (Phong Điền - Thừa Thiên Huế).

Nội dung Nghị quyết, Chỉ thị trên là đƣờng lối đấu tranh trong những

tháng đầu Khu ủy mới thành lập, dẫn dắt quân và dân TTH giành những thắng

lợi nhất định, góp phần vào thắng lợi chung trên toàn miền Nam.

Sau gần nửa năm đấu tranh, tình hình chiến trƣờng TTH thay đổi lớn,

Khu ủy tiến hành Hội nghị lần thứ 2 (10-1966) để đề ra chủ trƣơng mới. Hội

nghị phân tích tình hình và dự đoán: “Sau thất bại trong kế hoạch mùa khô

năm trƣớc, địch đang chuẩn bị và sẽ thực hiện kế hoạch phản công mùa khô

năm 1966-1967… Trên chiến trƣờng Trị - Thiên địch đang lo củng cố phía

Bắc Đƣờng số 9 để đối phó với các cuộc tấn công của ta” [15, tr.4].

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng, Khu ủy

đề ra nhiệm vụ: “Tiếp tục tiến công, tiêu diệt và tiêu hao nhiều sinh lực địch,

phát triển lực lƣợng về mọi mặt, đưa Trị - Thiên lên thành chiến trường quan

trọng, phối hợp đắc lực với chiến trƣờng khác, tạo điều kiện và thời cơ giành

thắng lợi to lớn ở Trị - Thiên, góp phần đánh bại chiến tranh xâm lƣợc của

Mỹ và tay sai [15, tr.4-5]. Từ đó, Hội nghị chủ trƣơng những công tác lớn:

Trong đấu tranh vũ trang, tiêu diệt nhiều sinh lực địch; mở rộng vùng

giải phóng; phát triển rộng rãi chiến tranh du kích, xây dựng thôn xã chiến

đấu; phát triển đánh giao thông, phá hoại tiếp tế; giữ vững và xây dựng các

đƣờng hành lang từ miền núi về đồng bằng; phối hợp ba thứ quân và ba mũi

giáp công; phát huy sáng kiến của mỗi ngƣời trong đánh giặc.

Nhận thức đúng vai trò và khả năng đấu tranh chính trị của quần chúng;

có khẩu hiệu, hình thức đấu tranh thích hợp; giác ngộ quần chúng, tổ chức tốt

lực lƣợng; tăng cƣờng lãnh đạo đấu tranh chính trị của các cấp ủy đảng.

Phƣơng châm đấu tranh binh vận: “Toàn dân và toàn quân làm công tác

binh địch vận” [15, tr.10]; kết hợp việc tuyên truyền rộng rãi tinh thần yêu

nƣớc chống Mỹ với những khẩu hiệu thiết thân đến quyền lợi của binh lính và

gia đình họ; tổ chức cơ sở cách mạng trong CQVNCH; vận động binh lính và

sĩ quan, kết hợp chặt chẽ binh vận với đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang.

44

Ở nông thôn đồng bằng, củng cố và mở rộng vùng giải phóng, liên tục

tuyên truyền cho quần chúng biết phân rõ hai chiến tuyến, căm thù Mỹ cao

độ, tin tƣởng vào sức mạnh của mình, kiên quyết đứng dậy đấu tranh; khi tiêu

diệt đƣợc bộ máy kìm kẹp phải nhanh chóng xây dựng quyền làm chủ của

nhân dân; tiếp tục phát triển các tổ chức quần chúng, động viên nhân dân

tham gia kháng chiến, phục vụ tiền tuyến.

Ở thành phố, làm địch rối loạn về chính trị, quân sự, tiêu hao cơ sở vật

chất, phƣơng tiện chỉ huy, tiến tới làm cho thành phố vô chính phủ, giành

quyền làm chủ từng phần cho nhân dân; bao vây chặt thành phố, cắt đứt

đƣờng giao thông, xây dựng các bàn đạp tiến công ở ngoại ô thành phố, chia

cắt QĐVNCH, buộc đối phƣơng luôn ở vào thế thủ; xây dựng cơ sở bí mật,

tập hợp lực lƣợng chính trị, phát triển đội ngũ cán bộ, chuẩn bị chiến trƣờng,

sẵn sàng phối hợp với toàn miền Nam, giành những thắng lợi quyết định.

Ở miền núi, “tích cực bảo vệ miền núi đã giải phóng, tiếp tục đánh địch

ở vùng chƣa đƣợc giải phóng, ổn định sinh hoạt của nhân dân, đẩy mạnh sản

xuất phục vụ chiến đấu làm cho rừng núi trở thành hậu phƣơng vững chắc của

cuộc kháng chiến ở Trị - Thiên” [15, tr.16]. Để thực hiện nhiệm vụ đó, phải

đẩy mạnh chiến tranh du kích; tích cực vận động nhân dân bám đất bám rẫy;

tích cực đào hầm hố phòng không; tăng cƣờng công tác vệ sinh phòng bệnh;

giáo dục và động viên nhân dân phục vụ tiền tuyến; ra sức bồi dƣỡng cán bộ.

Đối với công tác xây dựng Đảng, Khu ủy cho rằng, muốn đƣa chiến

trƣờng TTH lên thành một chiến trƣờng quan trọng, phải: “Xây dựng Đảng bộ

khu TTH thành một Đảng bộ kiên cƣờng về tƣ tƣởng, lớn mạnh về tổ chức,

trong sạch nội bộ, liên hệ chặt chẽ với quần chúng” [15, tr.19], “phát triển số

lƣợng, nâng cao chất lƣợng, kiện toàn cấp ủy, giáo dục và đào tạo cán bộ, giữ

vững nguyên tắc sinh hoạt Đảng” [15, tr.19].

Trƣớc sự phát triển của CTND ở TTH, từ cuối năm 1966, trong năm

1967, đế quốc Mỹ tăng cƣờng thêm quân, đƣa gần 2 sƣ đoàn thủy quân lục

chiến và một số đơn vị cơ động chiến lƣợc của QĐVNCH [85, tr.126] ra để

đối phó. Với sự tăng quân gấp nhiều lần năm 1966, Mỹ bố trí thành thế trận

45

mới, quân Mỹ đóng vòng ngoài làm nhiệm vụ phòng thủ, tập trung QĐVNCH

vào vòng trong, thực hiện nhiệm vụ bình định, địch đặc biệt coi trọng tuyến

phòng ngự Đƣờng 9. Tháng 9-1967, Mỹ lập hàng rào điện tử McNamara, tăng

cƣờng lực lƣợng B52, pháo hạm để bảo vệ phòng tuyến phòng ngự.

Tháng 5-1967, Khu ủy triệu tập Hội nghị mở rộng, chỉ rõ nhiệm vụ

trƣớc mắt của quân dân TTH: “Tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh bại mọi

cuộc phản công và kế hoạch bình định lấn chiếm, mở rộng, làm chủ đại bộ

phận nông thôn, phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh đấu tranh chính trị,

binh vận, phát triển lực lƣợng về mọi mặt để giành những thắng lợi lớn hơn,

phối hợp với chiến trƣờng khác [17, tr.10-11].

Dƣới sự lãnh đạo của Khu ủy, sau hơn một năm, quân dân TTH giành

đƣợc một số thắng lợi nhất định, CTND phát triển rộng khắp trên cả ba vùng

chiến lƣợc với cả ba mũi giáp công.

Với quyết tâm biến Đƣờng 9 thành “mồ chôn giặc Mỹ” và tạo thời cơ

cho quân dân TTH làm tan rã QĐVNCH, QGP mở một chiến dịch lớn dài

ngày trên Mặt trận Đƣờng 9. Sau gần chín tháng tiến công, đánh 5 trận hợp

đồng binh chủng từ cấp trung đoàn trở lên, 16 trận cấp tiểu đoàn, 7 trận tập

kích hỏa lực lớn cấp trung đoàn, diệt gọn 6 tiểu đoàn địch và làm rã 5 tiểu

đoàn ngụy [85, tr.128]. Thắng lợi của Mặt trận Đƣờng 9 tiêu diệt một bộ phận

quân Mỹ; thu hút, kiềm giữ chặt lực lƣợng lớn quân Mỹ, buộc đối phƣơng

càng phải phân tán lực lƣợng để đối phó với mặt trận chủ lực quan trọng này;

thực hiện tốt nhiệm vụ phối hợp chiến trƣờng.

Đối với TTH, đây là điều kiện thuận lợi, yếu tố quan trọng để quân và

dân TTH hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trong năm 1967 cũng nhƣ các năm

sau. Từ tháng 10-1966 đến tháng 10-1967, QGP đã “tiêu diệt 48.285 tên địch,

trong đó có 27.396 tên Mỹ, phá hủy và phá hỏng 1.335 xe cơ giới (có 362 xe

tăng và xe bọc thép), 136 pháo các loại, bắn rơi và hỏng 461 máy bay, bắn

chìm và hỏng 31 tàu thuyền chiến đấu, đánh sập, hỏng 50 chiếc cầu” [50,

tr.30]. Việc xây dựng lực lƣợng ba thứ quân có nhiều tiến bộ. Bộ đội chủ lực

phát triển về số lƣợng (từ 3 tiểu đoàn lên 20 tiểu đoàn), trình độ tác chiến tiến

46

bộ (đã có những trận đánh tiêu diệt gọn các cứ điểm lớn của địch nhƣ La

Vang, Tứ Hạ…). Bộ đội địa phƣơng, nhất là phong trào du kích phát triển một

bƣớc mới cả về số lƣợng, chất lƣợng: 74 xã có thể tham gia chiến đấu (năm

1966 có 54 xã), có hơn 1.900 du kích, gần 17.000 dân quân, mỗi huyện có từ

1 đến 2 đại đội bộ đội địa phƣơng [50, tr.30]; có nhiều kinh nghiệm hơn trong

đấu tranh bảo vệ dân, bảo vệ vùng giải phóng, nhất là việc luồn sâu vào vùng

địch để diệt ác và vận động quần chúng làm cách mạng.

Quân dân TTH giành thắng lợi trên cả hai mặt trận (B4 và B5), bƣớc

đầu thực hiện sự phối hợp tốt giữa mặt trận chủ lực và mặt trận CTND địa

phƣơng, thu hút, kìm giữ đƣợc lực lƣợng quan trọng quân cơ động của Mỹ;

tiêu hao một bộ phận sinh lực kẻ thù, giải phóng phần lớn nông thôn đồng

bằng; chiến tranh du kích phát triển, bộ đội trƣởng thành hơn. Cuộc chiến

tranh của quân dân TTH đang vƣơn lên phía trƣớc với tƣ tƣởng, lực lƣợng và

phƣơng thức mới. Tuy vậy, ở TTH vẫn bộc lộ nhƣợc điểm: trình độ tác chiến

của chủ lực chỉ ở mức độ đánh tập kích, phục kích, chống càn, chƣa phải ở

trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng; phong trào chiến tranh du kích phát

triển chƣa đều, chƣa mạnh, chƣa làm chủ đƣợc những địa bàn trọng yếu.

Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng đòi các quyền dân sinh,

dân chủ phát triển, nhất là phong trào chống bắt lính, trốn lính diễn ra ở nhiều

nơi; lực lƣợng cơ sở nội thành, nội thị phát triển tƣơng đối đều: phong trào

đấu tranh của sinh viên Huế, tăng ni, phật tử, tiểu tƣ sản, học sinh, sinh viên,

công chức, công nhân, binh sỹ, sỹ quan CQVNCH, tiểu thƣơng, tiểu chủ, tƣ

sản dân tộc... Từ trong phong trào, nhiều tổ chức yêu nƣớc ra đời: “Lực lƣợng

nhân dân tranh thủ cách mạng” (của giới Phật giáo), “Hội đồng sinh viên

tranh thủ cách mạng” (của Tổng hội sinh viên Huế), “Lực lƣợng giáo chức

tranh thủ dân chủ” (của giáo chức Huế)… Ở thành phố Huế, xây dựng đƣợc

1.000 cơ sở mật ở nội thành, hàng ngàn cơ sở ở các xã ngoại thành và 40 đội,

tổ làm nhiệm vụ phát động quần chúng [216, tr.283].

Ở vùng nông thôn đồng bằng, lực lƣợng vũ trang và chính trị kết hợp đấu

tranh, bảo vệ và mở rộng thêm vùng giải phóng, “chiếm 1/2 số thôn, 1/3 số dân”

47

[50, tr.31]. So với năm 1966, “số xã làm chủ ở trình độ cao có 38 xã, tăng 19 xã,

số xã làm chủ có mức độ là 24 xã, số xã tranh chấp là 23, tăng 12 xã” [50, tr.31].

Ở các xã, thôn giải phóng dƣới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng địa phƣơng đều

thành lập MTDTGP và các đoàn thể nhân dân, trong đó có chính quyền tự quản

(Chính quyền tự quản xã có các bộ phận: xã đội, an ninh, kinh tế - tài chính, văn

hóa - xã hội. Ủy ban nhân dân tự quản xã có 5 ủy viên: Bí thƣ Đảng bộ, Chi bộ

làm Chủ tịch; Bí thƣ Nông hội Giải phóng là Phó Chủ tịch; xã đội trƣởng là Ủy

viên phụ trách quân sự và một số ủy viên khác. Ban tự quản thôn gồm có 3

ngƣời: Tổ trƣởng Đảng hoặc cán bộ Nông hội làm Trƣởng ban; Thôn đội trƣởng

và cán sự phụ nữ làm ủy viên). Ở miền núi, khắc phục nạn đói, từng bƣớc ổn

định đời sống, củng cố niềm tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng. Ở

Quảng Trị, tính riêng Đoàn 7, nhân dân vùng đồng bằng và miền biển Triệu Hải

đóng góp 1.242,5 tấn gạo, ở Nam Hƣớng Hóa, đồng bào các dân tộc Vân Kiều,

Pa-cô đóng góp 200 tấn gạo, 2 triệu bụi sắn (trung bình mỗi bụi thu hoạch đƣợc

từ 1,5 đến 2 kg sắn củ) [205, tr.191]; ở Thừa Thiên, nhân dân các huyện đồng

bằng góp 3.000 tấn gạo, các quận miền núi góp 1.000 tấn gạo, riêng huyện

Phong Điền đóng góp 1.290 tấn gạo [79, tr.149].

Công tác binh vận phát triển mạnh, phục vụ đắc lực cho đấu tranh quân

sự và chính trị. Cơ sở binh vận các xã ven Huế và nội thành, thông qua nội

tuyến nắm rõ tình hình, tạo thế cho các đơn vị đặc công tiến vào các căn cứ

lớn. Cơ sở binh vận và nhân dân hai tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị đã tuyên

truyền chiến thắng, vận động, kêu gọi cảnh sát, bảo an, dân vệ nới lỏng kiểm

soát đƣờng ra vào thành phố, thị xã, đƣờng đồng bằng, đƣờng lên miền núi.

Một số cơ sở nội tuyến trong công chức đã mua các nhu yếu phẩm gửi ra

vùng giải phóng nhƣ thuốc, dụng cụ y tế, giấy, mực in, vải may cờ…

Về công tác xây dựng Đảng, các cấp ủy Đảng luôn chú trọng công tác

xây dựng Đảng, tập trung xây dựng đƣợc cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ cốt

cán ở nhiều vùng. Tổ chức đảng thành phố và các huyện tạo thành hệ thống từ

thôn (ấp), phƣờng (xã) đến các quận, các huyện và toàn thành phố. Cơ sở

đảng ngày càng bám sâu trong các tổ chức quần chúng. Đến cuối năm 1967,

48

trong số hàng nghìn cơ sở bí mật của thành phố thì nhân dân lao động chiếm

51%, đảng viên chiếm 13%, đoàn viên chiếm 11,5%, tự vệ mật chiếm 10,34%

[201, tr.115]. Hầu hết các xã ngoại thành đều có tổ chức cơ sở đảng; chi bộ

Lao Thừa Phủ cũng ra đời. Ở vùng nông thôn, giáp ranh và rừng núi, công tác

xây dựng Đảng phát triển mạnh. Chi bộ Đảng ở các địa phƣơng, đảng viên

trong giáo chức, học sinh, sinh viên, công nhân lao động tuyên truyền vận

động quần chúng đấu tranh. Nhiều đảng viên giữ vị trí quan trọng trong các tổ

chức: Ban cán sự giáo chức, Ban đại diện sinh viên, BCH các nghiệp đoàn…

Thắng lợi về mọi mặt trên chiến trƣờng TTH có ý nghĩa lớn, góp phần

tích cực cùng toàn miền Nam giữ vững, củng cố thế chủ động chiến lƣợc, đẩy

quân Mỹ lún sâu vào thế phòng ngự, đánh bại thời kỳ đầu cuộc phản công

chiến lƣợc mùa khô lần thứ hai của Mỹ đang diễn ra trên toàn Miền, đồng thời

cải biến một bƣớc quan trọng tình hình TTH. Thắng lợi này đúng nhƣ đánh

giá của Trung ƣơng Cục miền Nam: “Chiến trƣờng Trị - Thiên mở ra đã có

tác dụng thu hút địch mạnh, làm cho chúng thêm bị động lúng túng” [116,

tr.493), là “một thắng lợi có tầm quan trọng chiến lƣợc của ta” [116, tr.494].

Tình hình hai năm 1966-1967, phong trào TTH có bƣớc phát triển mới,

toàn diện trên cả hai chiến trƣờng, ba vùng chiến lƣợc, làm thay đổi cục diện,

đƣa TTH tiến kịp với chiến trƣờng toàn Miền, góp phần đánh thắng hai cuộc

phản công chiến lƣợc của Mỹ. Điểm nổi bật là thế và lực của QGP ngày càng

mạnh, CTND đi từ rừng núi về đồng bằng, tiến vào thành phố. Bƣớc phát

triển mới đó tạo tiền đề trực tiếp cho quân dân TTH tiến lên thực hiện cuộc

tiến công lớn đánh vào thành phố để giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định.

2.2.2. Sắp xếp lại tổ chức, lãnh đạo Tổng tiến công và nổi dậy Tết

Mậu Thân 1968 ở Trị - Thiên - Huế

2.2.2.1. Sắp xếp lại tổ chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới

Giữa năm 1967, thế và lực của QGP trên chiến trƣờng miền Nam đã

lớn mạnh. Tháng 7-1967, Trung ƣơng Đảng nhận định có khả năng diễn ra

trận đánh lớn ở Huế. Tháng 8-1967, Bộ Chính trị chỉ thị cho Khu ủy củng cố

tổ chức, chuẩn bị mọi mặt để tiến công và nổi dậy lớn ở TTH.

49

Thực hiện chủ trƣơng của Trung ƣơng, tháng 8-1967, Khu ủy quyết

định giải thể Tỉnh ủy Thừa Thiên và Tỉnh ủy Quảng Trị; thành lập Đảng ủy

miền Tây Trị - Thiên, Thành ủy Huế, Đảng ủy các Mặt trận (còn gọi là Đoàn)

và Huyện ủy trực thuộc Khu ủy để tập trung lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ

quân sự. Đảng ủy miền Tây Trị - Thiên bao gồm các quận miền núi (Thừa

Thiên) và huyện Hƣớng Hóa (Quảng Trị) do ông Lê Hành - Khu ủy viên làm

Bí thƣ Đảng ủy, ông Cu Pàng làm Chỉ huy trƣởng lực lƣợng vũ trang; huyện

Phú Lộc cùng Trung đoàn 4 và đại đội vũ trang huyện là Đoàn 4 (Mặt trận

Phú Lộc) do ông Nguyễn Chi - Khu ủy viên dự khuyết làm Bí thƣ Đảng ủy,

ông Lê Cƣơng - Bí thƣ Huyện ủy Phú Lộc làm Phó Bí thƣ Đảng ủy; Thành

phố Huế gồm 3 quận nội thành (Hữu Ngạn, Tả Ngạn, Thành Nội), 3 huyện

ngoại thành (Hƣơng Trà, Hƣơng Thủy, Phú Vang) và Thành đội Huế đặt dƣới

sự lãnh đạo của Thành ủy Huế (Đoàn 5 - Mặt trận Huế) do ông Lê Minh - Phó

Bí thƣ Khu ủy làm Bí thƣ Thành ủy, ông Trần Anh Liên, Khu ủy viên - Phó

Bí thƣ Thƣờng trực Thành ủy, ông Nguyễn Vạn - Khu ủy viên làm Phó Bí thƣ

Thành ủy; phía Nam Quảng Trị là Đoàn 7 - Mặt trận Nam Quảng Trị.

Riêng Huyện ủy Phong Điền và Huyện ủy Quảng Điền, cuối năm 1967

chƣa lập mặt trận (Đoàn) mà trực thuộc Khu ủy. Huyện ủy Phong Điền do

ông Lê Sáu làm Bí thƣ, Huyện ủy Quảng Điền do ông Nguyễn Kim làm Bí

thƣ. Sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Đảng ủy Đoàn 6 gồm

hai huyện Phong - Quảng đƣợc thành lập do ông Vũ Thắng - Khu ủy viên dự

khuyết làm Bí thƣ Đảng ủy; các ông: Lê Sáu, Phan Ngô, Trần Hữu Nam làm

Thƣờng vụ Đảng ủy; các ông: Nguyễn Trọng Dần, Huỳnh An, Nguyễn Quang

Cải, Nguyễn Văn Đệ, Hoàng Hữu Hán đều là Đảng ủy viên [125, tr.174-175].

Từ tháng 8-1967, sau khi giải thể Tỉnh ủy Quảng Trị và Tỉnh ủy Thừa

Thiên, Khu ủy gồm có các đơn vị trực thuộc: Quân Khu ủy Trị - Thiên - Huế,

Thành ủy Huế - Đoàn 5 (Quận ủy Hữu Ngạn, Quận ủy Tả Ngạn, Quận ủy

Thành Nội, Huyện ủy Hƣơng Trà, Huyện ủy Hƣơng Thủy, Huyện ủy Phú

Vang), Đảng ủy miền Tây Trị - Thiên (Đảng ủy miền núi Thừa Thiên và

Đảng ủy miền núi Quảng Trị), Đoàn ủy 4 - Huyện ủy Phú Lộc, Đoàn ủy 6

50

(gồm Huyện ủy Phong Điền và Huyện ủy Quảng Điền), Đoàn ủy 7 (gồm

Huyện ủy Triệu Phong, Huyện ủy Hải Lăng, Thị ủy Quảng Trị và Thị ủy

Đông Hà). Riêng Gio Linh và Cam Lộ chỉ thành lập Ban cán sự Đảng, không

thành lập Đoàn ủy vì thuộc địa bàn hoạt động của Mặt trận Đƣờng 9 - Bắc

Quảng Trị (Mặt trận B4), do QUTW trực tiếp chỉ đạo. Dƣới Đoàn ủy là các

Huyện ủy (Quận ủy, Thị ủy), dƣới Huyện ủy (Quận ủy, Thị ủy) là Đảng ủy xã

(Đảng ủy phƣờng, Đảng ủy thị trấn, Chi ủy xã).

Chủ trƣơng giải thể cấp Tỉnh ủy, thành lập các Mặt trận (các Đoàn) bao

gồm huyện, một số huyện trực thuộc Khu ủy để phù hợp với nhiệm vụ chính

lúc này là ƣu tiên phát triển về quân sự và đấu tranh vũ trang.

Từ tháng 8-1966, trụ sở của Khu ủy đóng ở Động Chuối, phía Tây của

chiến khu Hòa Mỹ. Từ giữa năm 1967, khu vực này bị quân Mỹ và tay sai

liên tục tấn công, lùng sục, yêu cầu phải chuyển cơ quan chỉ huy của Khu ủy

đến địa điểm mới, an toàn hơn. Khu ủy họp phân tích kỹ những thuận lợi, khó

khăn và thống nhất chọn vùng núi Khe Trái thuộc xã Hƣơng Vân - huyện

Hƣơng Trà - tỉnh Thừa Thiên (nay là phƣờng Hƣơng Vân, thị xã Hƣơng Trà,

tỉnh Thừa Thiên Huế) để xây dựng địa đạo, làm căn cứ địa cách mạng. Tháng

8-1967, Khu ủy giao cho ông Lê Minh - Phó Bí thƣ Khu ủy, Bí thƣ Thành ủy

Huế cùng Đại tá Đặng Kinh - Thƣờng vụ Khu ủy, Phó Tƣ lệnh Quân khu

TTH phụ trách chỉ đạo đào địa đạo. Địa đạo Khu ủy TTH (Địa đạo Khe Trái)

là một kiểu trụ sở của Bộ chỉ huy chiến dịch, một kiểu “cơ quan” đƣợc xây

dựng ở vùng rừng núi để Khu ủy, Quân Khu ủy, Thành ủy Huế ở, hội họp chỉ

huy Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 trên chiến trƣờng TTH.

Công tác xây dựng tổ chức của Đảng đƣợc Khu ủy đặc biệt quan tâm.

Tại Hội nghị lần thứ 4 diễn ra từ ngày 23-10 đến ngày 7-11-1967, Khu ủy đề

ra chủ trƣơng: “Tăng cƣờng lực lƣợng lãnh đạo của Đảng ở cấp huyện, tùy

theo địa bàn, dân số, phong trào của từng địa phƣơng mà có thể bổ sung

Huyện ủy cho đủ từ 13 đến 17 hoặc 19 đồng chí” [17, tr.13], “chú ý hơn nữa

việc xây dựng chi bộ thôn và Đảng ủy xã nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của

51

Đảng đều khắp, nhƣng đồng thời cũng phải đề phòng phân tán lực lƣợng lãnh

đạo của Đảng” [17, tr.13]. Về công tác cán bộ, “hết sức coi trọng việc bồi

dƣỡng tƣ tƣởng, nghiệp vụ và phƣơng pháp công tác” để nâng cao phẩm chất

và năng lực cho cán bộ, đảng viên. Công tác phát triển đảng viên phải diễn ra

thƣờng xuyên, liên tục và phải dựa trên cơ sở “phong trào đấu tranh vũ trang,

chính trị, binh vận, sản xuất và phục vụ tiền tuyến” [17, tr.13].

Để phát huy vai trò lãnh đạo CTND trong giai đoạn mới, Hội nghị Khu

ủy đã phân công lại nhiệm vụ cho các đồng chí ủy viên của Khu ủy. Thiếu

tƣớng Bảy Tiến (Trần Văn Quang), Bí thƣ Khu ủy, phụ trách chung; Thiếu

tƣớng Tín (Lê Chƣởng), Phó Bí thƣ Khu ủy, phụ trách quân sự và tuyên

truyền; Tƣ Minh, Phó Bí thƣ Khu ủy, kiêm Bí thƣ Thành ủy Huế, phụ trách an

ninh; Nam Long, Thƣờng vụ Khu ủy, phụ trách quân sự; đồng chí Công,

Thƣờng vụ Khu ủy, phụ trách tổ chức và dân vận; Đại tá Đặng Kinh, Thƣờng

vụ Khu ủy, phụ trách quân sự và tham gia Ban kiểm tra; đồng chí Nam (Hồ

Tú Nam), phụ trách quân sự và binh vận, Thƣờng trực Quân Khu ủy; đồng chí

Nguyễn Vạn và đồng chí Văn (Trần Anh Liên), tham gia Thành ủy Huế làm

Phó Bí thƣ; đồng chí Thản (Hồ Sĩ Thản) và đồng chí Thắng, phụ trách Đảng

ủy Mặt trận Nam Quảng Trị; đồng chí Soạn (Vũ Soạn), làm Bí thƣ Ban cán sự

phía Bắc; đồng chí Chi (Nguyễn Chi), làm Bí thƣ Ban cán sự phía Nam; đồng

chí Hành (Lê Hành), làm Bí thƣ Đảng ủy miền Tây Trị - Thiên [17, tr.14].

Đến đầu năm 1968, công tác tổ chức của Khu ủy đã có nhiều chuyển

biến tích cực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của chiến trƣờng TTH.

2.2.2.2. Lãnh đạo Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968

Thắng lợi của quân dân miền Nam trƣớc hai cuộc phản công chiến lƣợc

mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, làm thất bại một bƣớc quan trọng chƣơng

trình “bình định” của Mỹ và CQVNCH, khiến Mỹ “bị một đòn phủ đầu

choáng váng hết sức bất ngờ” [116, tr.89], lâm vào thế bị động. Tuy không

đạt mục tiêu nhƣng Mỹ vẫn còn binh lực mạnh và chƣa muốn xuống thang

chiến tranh. Quân và dân miền Nam cần tiếp tục tổ chức những hoạt động,

52

những cuộc tiến công quy mô lớn, giáng đòn mạnh hơn vào ý chí xâm lƣợc

của kẻ thù, kéo Mỹ xuống thang chiến tranh, tạo điều kiện đấu tranh ngoại

giao, buộc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc và rút quân khỏi miền Nam.

Thực hiện mục tiêu trên, Hội nghị BCT (4-1967) họp, chủ trƣơng: tiếp

tục phát huy thắng lợi trong thời gian qua, chuẩn bị mọi mặt tiến lên giành

thắng lợi mới. Tháng 6-1967, BCT tiếp tục thảo luận kỹ dự thảo kế hoạch

chiến lƣợc Đông - Xuân 1967-1968 và nhận định, về phía ta “thế và lực đang

có những tiến bộ, cho phép ta trên cơ sở phƣơng châm đánh lâu dài, đẩy mạnh

nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong một

thời gian tƣơng đối ngắn” [221, tr.384-385]. Tháng 10-1967, BCT họp bàn cụ

thể hơn về chủ trƣơng và kế hoạch chiến lƣợc Đông - Xuân - Hè 1967-1968,

quyết định lựa chọn phƣơng án tiến công mới, bất ngờ, đó là đồng loạt đánh

mạnh vào các đô thị trên toàn miền Nam.

Đầu tháng 10-1967, QUTW chỉ thị cho Khu ủy và Quân khu TTH: “Tổ

chức chuẩn bị đánh vào Huế. Làm kế hoạch ra Bộ báo cáo và nhận lệnh cụ

thể” [125, tr.177]. Khu ủy tổ chức họp Hội nghị lần thứ tƣ (11-1967) để

nghiên cứu chỉ thị của QUTW, bàn kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy đánh

chiếm Huế, giải phóng TTH. Sau khi phân tích tình hình năm 1967, Khu ủy

quyết định: “Tích cực chuẩn bị mọi mặt tiến lên tổng công kích, tổng khởi

nghĩa giành thắng lợi to lớn trong năm 1968” [17, tr.4] và chủ trƣơng: “Liên

tục tiến công, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền, tiêu diệt, tiêu

hao một bộ phận quan trọng quân Mỹ, chiếm lĩnh những vùng nông thôn

xung yếu; phối hợp với các chiến trƣờng khác tiến lên tổng công kích, tổng

khởi nghĩa, giải phóng TTH, giành chính quyền về tay nhân dân” [17, tr.4].

Khu ủy dự kiến, chiến dịch đƣợc tiến hành theo 2 bƣớc: Bƣớc 1 (Đông

- Xuân 1967-1968), đẩy mạnh tiến công, vừa đánh vừa mở rộng vùng giải

phóng, tăng cƣờng lực lƣợng mọi mặt,… nhằm chuyển biến tình hình, tạo thời

cơ chín muồi cho QGP công kích và khởi nghĩa. Bƣớc 2, trên cơ sở bƣớc 1,

đến mùa Hè 1968, phối hợp cùng toàn miền Nam thực hiện Tổng tiến công và

53

nổi dậy đồng loạt. Về hƣớng tiến công, Khu ủy quyết định lấy Huế làm trọng

điểm; các mặt trận Quảng Trị, Phú Lộc là hƣớng phối hợp quan trọng. Chủ

trƣơng tổng công kích, tổng khởi nghĩa ở TTH thể hiện tinh thần chủ động,

mạnh dạn, bám sát thực tiễn chiến trƣờng của Khu ủy.

Giữa lúc Thành ủy Huế, Đoàn 4 và Đoàn 6 đang khẩn trƣơng chuẩn bị

thực hiện kế hoạch tiến công nổi dậy của Khu ủy, ngày 19-11-1967, Khu ủy,

Quân Khu ủy nhận đƣợc chỉ thị của BCT và mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng

về cuộc Tổng tiến công, nổi dậy trên toàn miền Nam. Mệnh lệnh xác định:

“Chiến trƣờng Trị - Thiên - Huế là một trong hai chiến trường trọng điểm của

toàn Miền, hƣớng Đƣờng 9 do chủ lực Bộ có nhiệm vụ thu hút, phân tán lực

lƣợng cơ động chiến lƣợc của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn Miền”

[85, tr.138]. Nhiệm vụ của TTH: “Tiến hành hành tổng tiến công và nổi dậy

đánh chiếm thành phố Huế và các thị xã, thị trấn, đánh tiêu diệt và làm tan rã

ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng nông thôn, thiết lập chính quyền cách

mạng, tiêu diệt và tiêu hao nhiều quân Mỹ, giữ vững chính quyền cách mạng”

[85, tr.138]. Thời gian bắt đầu vào tết Mậu Thân năm 1968 (31-1-1968).

So với kế hoạch của Khu ủy, chỉ thị của Trung ƣơng khẩn trƣơng hơn

về thời gian và yêu cầu chiến lƣợc cao hơn: hai vấn đề công kích và khởi

nghĩa đƣợc coi trọng ngang nhau. Vì thời gian sớm so với dự kiến ban đầu, lại

chƣa đƣợc tăng cƣờng lực lƣợng nên Khu ủy, Quân Khu ủy quyết định sử

dụng lực lƣợng hiện có để thực hiện kế hoạch. Ngày 3-12-1967, Thƣờng vụ

Khu ủy họp quán triệt chủ trƣơng mới và kết luận: TTH có nhiệm vụ tận dụng

thuận lợi do Mặt trận B5 tạo nên, tiến hành công kích và khởi nghĩa đánh

chiếm thành phố Huế; tiêu diệt và làm tan rã QĐVNCH, thiết lập chính quyền

cách mạng, làm chủ toàn bộ nông thôn, quận, tỉnh, thành phố; phối hợp với

Mặt trận B5 tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, đánh quân ứng chiến cơ động,

đánh tê liệt hậu cứ, cắt giao thông, giữ vững và phát triển thắng lợi.

Trọng điểm của chiến trƣờng đƣợc Thƣờng vụ Khu ủy xác định là

thành phố Huế, phía Nam Quảng Trị và Phú Lộc là các hƣớng phối hợp trực

54

tiếp. Các hƣớng này nghi binh, thu hút đánh lạc hƣớng địch, đặc biệt hƣớng

Phú Lộc tiến công trƣớc (7-1-1968) nhằm đánh phá đƣờng giao thông, cắt đứt

Đƣờng số 1, phá kìm kẹp, mở rộng vùng giải phóng.

Phương châm chỉ đạo: Coi trọng công kích và khởi nghĩa; phát huy

mạnh mẽ vai trò của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phƣơng, dân quân du kích; tiến

công, nổi dậy đồng loạt cả ở thành phố và nông thôn; phối hợp chặt chẽ giữa

Huế và Đƣờng 9, giữa Huế và hai hƣớng Nam Quảng Trị và Phú Lộc.

Tư tưởng chỉ đạo tác chiến: Phát huy tinh thần dũng cảm, mƣu trí, chủ

động, linh hoạt, quyết đoán, bí mật, bất ngờ; đánh nhanh, phát triển nhanh,

tiến công, truy kích đến cùng; đồng loạt, kiên quyết, liên tục, hiệp đồng chặt

chẽ, phối hợp đều; lấy tiêu diệt QĐVNCH làm chính; kết hợp chặt chẽ tiến

công và nổi dậy; tiến công quân sự, chính trị, binh vận; kết hợp ba thứ quân.

Khu ủy TTH thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch công kích và khởi nghĩa

gồm: Tƣ lệnh Lê Minh - Phó Bí thƣ Khu ủy; Chính ủy Lê Chƣởng - Phó Bí

thƣ Khu ủy; Phó Tƣ lệnh Nam Long - Ủy viên Thƣờng vụ Khu ủy; Phó Tƣ

lệnh kiêm tham mƣu trƣởng Đặng Kinh - Ủy viên Thƣờng vụ Khu ủy. Ngày

15-12-1967, Thƣờng vụ Khu ủy họp thông qua kế hoạch, thống nhất đồng loạt

Tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào 2 giờ 30 ngày 31-1-1968; lấy thành phố

Huế là nơi phát lệnh đầu tiên, ƣu tiên nổ súng trƣớc là bộ đội đặc công đánh

đồn Mang Cá; các bộ phận khác căn cứ vào thời gian nổ súng và cự ly tập kết

để định kế hoạch hành quân tiếp cận mục tiêu.

Thực hiện Nghị quyết của Thƣờng vụ Khu ủy, Hội nghị Thành ủy Huế

(1-1968) xác định quyết tâm: “Tin tƣởng, đoàn kết nhất trí chung quanh quyết

tâm, ý đồ của Thƣờng vụ Khu ủy”, “Đảng bộ Thành phố ta tin tƣởng chắc

chắn sẽ động viên đƣợc nhân dân và lực lƣợng vũ trang phấn đấu vƣợt qua

mọi khó khăn gian khổ hoàn thành nghĩa vụ của mình” [79, tr.147].

Tháng 1-1968, Hội nghị BCH Trung ƣơng Đảng lần thứ 14 khóa III

thông qua Nghị quyết của BCT quyết định thực hiện Tổng công kích - Tổng

khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định cho cuộc KCCMCN. Đây là quyết

55

tâm đúng đắn, táo bạo, mạnh dạn và sáng tạo của Đảng. Hội nghị chỉ rõ: Cuộc

kháng chiến của quân dân Việt Nam “đang đứng trƣớc triển vọng và thời cơ

chiến lƣợc lớn” [117, tr.47], “cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng

của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi

dậy giành thắng lợi quyết định” [117, tr.50].

Khu ủy đã quán triệt, cụ thể hóa chủ trƣơng tổng công kích, tổng khởi

nghĩa của Trung ƣơng Đảng, QUTW chủ động, linh hoạt, sáng tạo vào tình

hình thực tế ở chiến trƣờng TTH, giành thắng lợi lớn.

Trong lúc LLCM đang khẩn trƣơng chuẩn bị triển khai tiến công, đế

quốc Mỹ cũng tích cực chuẩn bị đối phó. Đến tháng 1-1968, đế quốc Mỹ tăng

viện ra TTH 12 tiểu đoàn quân chiến đấu, nâng tổng số quân Mỹ từ 15 lên 25

tiểu đoàn, QĐVNCH từ 16 lên 18 tiểu đoàn với quân số chiến đấu 77.000 tên

(có 49.000 lính Mỹ); có 12 tiểu đoàn pháo, 12 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 7 tiểu

đoàn công binh, 140 máy bay các loại, chủ yếu là máy bay lên thẳng [85,

tr.143]. Ngoài ra, Mỹ còn điều một bộ phận lớn quân “kỵ binh bay” đến Phú

Bài nhằm chuẩn bị cho toàn bộ sƣ đoàn tinh nhuệ nhất của Mỹ ra TTH và cử

tƣớng Abram - Phó Tƣ lệnh ở miền Nam ra chỉ huy toàn bộ quân Mỹ ở TTH.

Trên toàn miền Nam, Mỹ và CQVNCH coi trọng chiến trƣờng TTH, bố

trí ở đây hơn 1/3 lực lƣợng cơ động, tập trung chủ yếu ở Mặt trận B5. Mặt

trận này trở thành nơi thu hút một bộ phận quan trọng sinh lực địch, vào thời

điểm cao của năm 1968, “thu hút đến 40% lực lƣợng chiến đấu cơ động của

quân Mỹ trên toàn bộ chiến trƣờng miền Nam” [232, tr.170]. Mặc dù luôn tập

trung một lực lƣợng quân lớn nhƣ vậy, nhƣng địa hình Mặt trận Đƣờng 9 -

Bắc Quảng Trị chủ yếu là đồi núi đã làm cho sức chiến đấu, khả năng cơ động

của quân Mỹ bị hạn chế. Theo tƣớng Bruce Palmer thì “ngay từ đầu khi quân

Mỹ đến Việt Nam, những cơ sở hậu cần của Mỹ chủ yếu đƣợc tập trung ở

những khu vực xa phía Bắc Việt Nam Cộng hòa” [230, tr.182]. Nhận thấy khó

khăn này, Westmoreland tìm cách khắc phục bằng việc xây dựng các cơ sở

phục vụ hậu cần ngay tại chiến tuyến phía Bắc (sân bay Ái Tử và các bến

56

cảng dọc sông Cửa Việt). Nhƣ vậy, hƣớng Huế và Phú Lộc tuy Mỹ có chú

trọng nhƣng vẫn là nơi sơ hở nhất, kế hoạch của QGP đƣợc giữ bí mật.

Về QGP, ngoài lực lƣợng tại chiến trƣờng, Bộ Quốc phòng điều động

lực lƣợng lớn ở Mặt trận B5 vào tăng cƣờng cho Quân khu TTH. Thắng lợi ở

Mặt trận B5 và Quân khu trong năm 1967, cùng với kết quả của công tác

chuẩn bị tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tổng tiến công, tổng công kích.

Thực hiện chủ trƣơng của BCT, ngày 6-12-1967, Bộ Quốc phòng quyết

định thành lập Bộ Tƣ lệnh chiến dịch Đƣờng 9 - Khe Sanh do Thiếu tƣớng

Trần Quý Hai, Phó Tổng tham mƣu trƣởng QĐND Việt Nam làm Tƣ lệnh;

đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.

Phƣơng án tác chiến: Cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực, mà chiến

trƣờng chính là Đƣờng 9 - Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lƣợng chiến

lƣợc của địch, một đòn tiến công chiến lƣợc đánh vào thị xã, thành phố quy

mô trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng nông thôn và đô

thị, mở đầu cho tổng công kích - tổng khởi nghĩa, lấy chiến trƣờng chính là

Sài Gòn, Nam Bộ, TTH, trọng tâm là Sài Gòn, Huế và các thành phố lớn.

Khe Sanh là một thung lũng thuộc miền núi phía Tây Quảng Trị. Tại

đây, QGP có điều kiện phát huy thế mạnh của mình, hạn chế tối đa sức mạnh

chiến đấu của quân Mỹ (nhất là hỏa lực và cơ giới); Khe Sanh lại là căn cứ

quân sự mang tính chất chiến lƣợc của Mỹ. Tƣớng Westmoreland đánh giá,

Khe Sanh có một vị trí quan trọng nhằm chống lại sự chi viện của Bắc Việt

vào miền Nam và đã cho xây dựng một “mỏ neo” ở đây, với hy vọng “ngày

nào đó sẽ tiến hành một cuộc hành quân lớn vào lãnh thổ Lào” [149, tr.25].

Chiến dịch Đƣờng 9 - Khe Sanh diễn ra từ ngày 20-1-1968. Mục tiêu

chính của trận đánh Khe Sanh: tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch,

chủ yếu là quân Mỹ; đòn nghi binh chiến lƣợc, thu hút sự đối phó của quân

Mỹ, tạo nên sự bất ngờ cho đòn tiến công của QGP vào hầu khắp các đô thị

trên toàn miền Nam; thu hút, giam chân một bộ phận lớn lực lƣợng chiến đấu

cơ động, phƣơng tiện chiến tranh của quân Mỹ; hiệp đồng chặt chẽ với chiến

57

trƣờng toàn miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho TTH tiến công và nổi dậy

(chủ yếu là Huế), giải phóng nông thôn đồng bằng.

Cuối năm 1967, khi phát hiện sự di chuyển của QGP gần căn cứ Khe

Sanh, Westmoreland dự báo về một cuộc tiến công lớn của Việt Cộng tại đây.

Trong buổi gặp tƣớng Wheeler - Chủ tịch hội đồng Tham mƣu trƣởng liên

quân Mỹ, tháng 12-1967, Westmoreland khẳng định: “Mục tiêu chủ yếu của

Cộng sản là đánh chiếm Khe Sanh, biến Khe Sanh thành một Điện Biên Phủ

thứ hai” [159, tr.21]; ông ta còn muốn một trận quyết định với Cộng sản ở

Khe Sanh, làm một “Điện Biên Phủ đảo ngƣợc” và “dìm các sƣ đoàn cộng sản

dƣới một thác bom và đạn cối” [169, tr.836].

Đêm 20-1-1968, QGP nổ súng tiến công Khe Sanh. Cuộc tiến công lập

tức thu hút sự chú ý của cả nƣớc Mỹ. Tổng thống Mỹ Johnson lo lắng đến

mức cho xây dựng một mô hình Khe Sanh trong Nhà Trắng và bắt các tƣớng

lĩnh của mình cam kết rằng sẽ gắng giữ Khe Sanh dù bất kỳ điều gì xảy ra.

Ông giận giữ: “Tôi không muốn có bất kỳ một Điện Biên Phủ chết tiệt nào

hết” [190, tr.58]. Phản ánh sự chú ý này, nhà báo Neil Sheehan cho biết: “Các

nhà báo tập trung ở nơi tổng chỉ huy cắm cờ hiệu. Cả nƣớc đang theo dõi”

[169, tr.840]. Bình luận về chiến sự ở Khe Sanh tác động đến nƣớc Mỹ, nhà

sử học Mỹ Maicơn Máclia viết: “Bản tin lúc 6h chiều đã trở thành cuộc chiến

trong phòng khách mỗi gia đình Mỹ. Các hình ảnh nhƣ thế tạo ra cảm nghĩ

chung: Khe Sanh không phải là thung lũng cần có tự do mà là sự điên rồ to

lớn nhất của một thế hệ già nua nắm giữ quyền lực” [162, tr.149]. Việc ám

ảnh về một “Điện Biên Phủ” mới ở Khe Sanh của Mỹ là có thực, chính điều

này đã khiến toàn bộ hệ thống tình báo Mỹ ở miền Nam và cơ quan chỉ đạo

chiến tranh phía Mỹ phán đoán sai lệch ý đồ và mục tiêu của QGP.

Trong khi nƣớc Mỹ dồn tâm trí, lực lƣợng vào Khe Sanh, đêm giao

thừa Tết Mậu Thân, QGP mở cuộc tiến công và nổi dậy vào hầu hết các đô thị

miền Nam. Đòn sấm sét này làm rung chuyển nƣớc Mỹ. Westmoreland hoàn

toàn bất ngờ vì ông luôn nghĩ: “Trận Điện Biên Phủ của Hoa Kỳ là căn cứ

Khe Sanh… Nhƣng trận Điện Biên Phủ thật sự là cuộc tổng tiến công vào dịp

58

Tết Mậu Thân” [110, tr.205]. Quân dân TTH làm đƣợc “kỳ tích” đó, một

phần quan trọng là bởi chiến dịch nghi binh Đƣờng 9 - Khe Sanh. Nhiều nhà

nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đều đánh giá trận Khe Sanh là “đòn nghi binh

vĩ đại”, “cái bẫy Khe Sanh” trên chiến trƣờng miền Nam. Rõ ràng, việc đánh

giá cao tình hình chiến sự ở Đường 9 - Khe Sanh là một sai lầm chiến lược

của Mỹ và nó “chứng tỏ trí tuệ Việt Nam trong điều hành chiến tranh cách

mạng đã vƣợt lên trên trí tuệ của các tƣớng lĩnh Hoa Kỳ” [159, tr.93].

Thực hiện chủ trƣơng của các cấp ủy Đảng, phối hợp có hiệu quả với

chiến dịch Đƣờng 9 - Khe Sanh, theo kế hoạch đã định, cuộc Tổng tiến công,

tổng khởi nghĩa ở Mặt trận Huế và các mặt trận trên toàn bộ chiến trƣờng

TTH nổ ra lúc 2 giờ 33 phút ngày 31-1-1968 [19, tr.2] bảo đảm đúng thời gian

hiệp đồng với các chiến trƣờng khác trong toàn miền Nam.

Quân Giải phóng vừa đánh quân Mỹ và tay sai phản kích nhỏ, vừa phát

động quần chúng nổi dậy. Phối hợp với lực lƣợng vũ trang, an ninh, các tầng

lớp nhân dân từ lao động, tiểu thƣơng, học sinh, sinh viên đến các nhân sĩ, trí

thức, đồng bào các tôn giáo đã nổi dậy diệt ác, trừ gian, chỉ đƣờng cho bộ đội,

bắt ác ôn, chiếm lĩnh các công sở, tham gia tự vệ, nô nức tòng quân, tiếp tế

nuôi quân, tải thƣơng, lập bệnh xá cứu chữa thƣơng binh, vận động binh lính

ra hàng, đào giao thông hào, lập chƣớng ngại vật bảo vệ thành phố, đập tan

CQVNCH. Sáng ngày 31-1-1968, LLCM đánh chiếm hầu hết các mục tiêu

chủ yếu bên trong và vòng ngoài thành phố, làm chủ phần lớn thành phố. Tiến

công và nổi dậy đã có sự kết hợp ở mức độ nhất định.

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 thắng lợi, Liên minh các

lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ở thành phố Huế đƣợc

thành lập theo tinh thần Nghị quyết 14 (1-1968) của Trung ƣơng Đảng chủ

trƣơng “thành lập Mặt trận thứ hai” [117, tr.60] ở miền Nam và theo “Điện

mật của Bộ Chính trị” (21-1-1968), “Mặt trận thứ hai lấy tên là “Liên minh

Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình”” [117, tr.164]. Đây là Liên minh cấp tỉnh,

thành ra đời đầu tiên gồm những nhân sĩ, sinh viên, chức sắc tôn giáo yêu

nƣớc nhằm tập hợp rộng rãi quần chúng hình thành một mặt trận yêu nƣớc,

59

yêu hòa bình, chống Mỹ và tay sai. Vào 8 giờ ngày 31-1-1968, lá cờ của Liên

minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình thành phố Huế tung bay trên

đỉnh Cột Cờ trƣớc mặt Ngọ Môn nhƣng đến tháng 4-1968, Liên minh các lực

lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam mới chính thức thành lập. Dƣới

sự lãnh đạo của Khu ủy, Thành ủy Huế, MTDTGP Thành phố Huế đã cùng

Liên minh thành lập chính quyền và đoàn thể cách mạng các cấp. Ủy ban

nhân dân cách mạng Thừa Thiên Huế đƣợc thành lập - chính quyền cách

mạng cấp tỉnh, thành đầu tiên ở miền Nam trong KCCMCN do giáo sƣ Lê

Văn Hảo làm Chủ tịch và bà Nguyễn Đình Chi làm Phó Chủ tịch, đã cổ vũ

nhân dân toàn tỉnh, toàn khu, toàn miền Nam chiến đấu và chiến thắng.

Trƣớc sự tấn công bất ngờ và quyết liệt của QGP ở Huế làm cho quân

Mỹ và QĐVNCH rối loạn, tan rã, “các cơ quan quân sự đều bị cô lập không

thể tiếp cứu lẫn nhau” [202, tr.327]. Hãng AP (ngày 2-2-1968) của Mỹ đƣa

tin: “Thành phố hoàn toàn rối ren. Việt cộng kiểm soát hầu hết thành phố.

Hình nhƣ cần phải có nhiều quân tiếp viện cho Huế. Máy bay lên thẳng và

máy bay chiến đấu bay nhằng nhịt trên trời” [202, tr.327]. Từ ngày 8-2-1968,

đế quốc Mỹ huy động lực lƣợng dự bị từ Sài Gòn ra cùng với việc rút một số

quân ở Mặt trận B5 về để phản kích, giải vây cho Huế, nâng tổng số quân Mỹ

và QĐVNCH tại Huế lên 23 tiểu đoàn. Trận chiến diễn ra quyết liệt trên

đƣờng phố An Hòa, cửa Chánh Tây, chợ Đông Ba, sân bay Tây Lộc, ga Huế...

Đêm ngày 15-2-1968, QUTW điện cho mặt trận Huế: “Phải giữ Thành

Nội vì lợi ích của toàn Miền và của bản thân Trị - Thiên” [141, tr.77]. Do so

sánh lực lƣợng, sự phối hợp các chiến trƣờng của QGP chƣa làm thay đổi cục

diện chiến trƣờng trên toàn Miền; bộ máy, lực lƣợng, phƣơng tiện chiến tranh

của quân Mỹ và QĐVNCH còn lớn, QGP chiến đấu dài ngày ở thành phố gặp

nhiều khó khăn, tổn thất nên ngày 24-2-1968, QGP rút khỏi Huế [50, tr.35]

sau 25 ngày đêm tiến công và nổi dậy làm chủ thành phố. Với thắng lợi đó,

một tác giả ngƣời Mỹ viết: “Cố đô Huế là thành phố duy nhất mà cộng sản đã

giữ tƣơng đối lâu dài đủ để bắt đầu thay đổi hệ thống xã hội chính trị. Đối với

ngƣời Việt Nam, Huế là trái tim của ngƣời Việt Nam” [202, tr.332-333] và

60

Báo Gramma của Đảng Cộng sản Cuba đánh giá: “Có một cái tên đang thu

hút sự chú ý của toàn thế giới, đó là thành phố Huế. Huế đang đi vào lịch sử

của các thành phố anh hùng,… là một trang sử hiển hách trong cuộc chiến

tranh của nhân dân Việt Nam [215, tr.273].

Trên thực tế, để đi tới quyết định rút quân ra khỏi thành phố Huế, Khu

ủy, Bộ Tƣ lệnh Quân khu và Ban Chỉ đạo chiến dịch phải trải qua nhiều lần

cân nhắc, suy nghĩ trƣớc yêu cầu chiến lƣợc chung trên toàn miền Nam và

khả năng thực tế ở chiến trƣờng TTH. Quyết định rút quân đã đảm bảo an

toàn, giữ gìn lực lƣợng, bảo vệ thƣơng binh và cán bộ địa phƣơng, thể hiện

tính chủ động, bám sát tình hình thực tiễn của Khu ủy.

Ở ba huyện ngoại thành (Hƣơng Trà, Hƣơng Thuỷ, Phú Vang) và các

hƣớng khác, quân và dân cũng đã phối hợp có hiệu quả với Mặt trận Huế.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy oanh liệt ở thành phố Huế và các huyện

huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Lộc là thắng lợi lớn, toàn diện về quân

sự và chính trị, có ý nghĩa chiến lƣợc. Các cấp ủy Đảng và quân dân Thừa

Thiên Huế hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Trung ƣơng và Khu ủy giao,

góp phần làm thất bại chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí

xâm lƣợc của đế quốc Mỹ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Huế: tiêu diệt

một bộ phận quan trọng trong sinh lực quân Mỹ, phá hủy nhiều phƣơng tiện

chiến tranh: Tổng số quân Mỹ và QĐVNCH bị diệt, bắt sống, ra hàng là

23.703 ngƣời, trong đó có 7.812 lính Mỹ và hàng trăm sĩ quan; bắn rơi, phá

hủy 255 máy bay; bắn cháy, phá hủy 553 xe cơ giới, 56 khẩu pháo [19, tr.3];

tiêu diệt và làm tan rã phần lớn bộ máy cai trị của CQVNCH; vùng giải phóng

nông thôn mở rộng thêm 254 thôn với 211.023 dân. Cộng với số thôn giải

phóng trƣớc là 754 thôn, đƣa vùng giải phóng toàn khu lên 4/5 số thôn và 2/3

số dân [19, tr.4]; lực lƣợng cách mạng phát triển nhanh, hàng ngàn thanh niên

tòng quân, đi thanh niên xung phong, vào du kích tự vệ, bộ đội địa phƣơng

huyện và du kích tăng lên nhanh chóng; các đoàn thể quần chúng cách mạng

phát triển rộng khắp, chính quyền cách mạng đƣợc thành lập ở các thôn, xã

giải phóng, Ủy ban nhân dân cách mạng một số huyện, thành phố và tỉnh

61

Thừa Thiên thành lập; Liên minh các lực lƣợng dân tộc dân chủ và hòa bình

Việt Nam ở thành phố Huế ra đời; chính quyền cách mạng chăm lo đời sống

cho quần chúng... Thắng lợi đó là một thực tế mà các sử gia Mỹ cũng thừa

nhận. G.Kahin và J.Lewis, các tác giả của cuốn “Nƣớc Mỹ ở Việt Nam”

khẳng định: “Chúng ta đã tổn thất rất nhiều ở Huế. Cuộc chiến đấu ở Huế

(của Quân Giải phóng - TG) là mạnh mẽ nhất” [135, tr.15].

Sau thất bại nặng nề, toàn diện trong Tết Mậu Thân 1968, đế quốc Mỹ

điều động nhiều lực lƣợng và phƣơng tiện chiến tranh ra TTH, liên tục mở các

cuộc hành quân phản kích để đẩy chủ lực của QGP ra khỏi đồng bằng và đánh

phá ác liệt vùng giải phóng. Quân Giải phóng bị tổn thất, gặp nhiều khó khăn:

cơ sở cách mạng ở các huyện đồng bằng và nội thành Huế bị phá vỡ; lực

lƣợng vũ trang bị đẩy khỏi vùng giáp ranh, nhiều đơn vị phải rút lên miền

Tây, thậm chí bật sang phía Tây Trƣờng Sơn, có đơn vị phải ra miền Bắc.

Đầu tháng 4-1968, BCT họp đánh giá tình hình Tổng tiến công và nổi

dậy đợt 1, quyết định mở tiếp đợt 2. Ý đồ chiến lƣợc của BCT trong đợt này

là vây hãm Khe Sanh, kìm chân và tiêu diệt kẻ thù ở Đƣờng 9, TTH, Tây

Nguyên. Trọng điểm tiến công là Sài Gòn - Gia Định, điểm tiến công quan

trọng là Huế - Đà Nẵng. Thời gian hoạt động thống nhất toàn Miền từ ngày 4-

5 đến hết tháng 6-1968. Ngày 4-4-1968, Bộ Tổng Tƣ lệnh chỉ thị cho Quân

khu TTH chuẩn bị đánh vào Huế đợt 2 và xác định: “Đánh Huế là một yêu

cầu quan trọng trong kế hoạch phối hợp chung với toàn Miền” [85, tr.157].

Mặc dù chiến trƣờng đang gặp nhiều khó khăn nhƣng vì yêu cầu phối

hợp với toàn Miền và chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cấp trên, ngày 12-4-

1968, Thƣờng vụ Khu ủy họp đề ra kế hoạch tiếp tục đánh vào thành phố Huế

đợt 2: các địa phƣơng sử dụng lực lƣợng tại chỗ vừa tăng cƣờng tập kích,

phục kích, vừa đánh phá “bình định”, tạo điều kiện đƣa lực lƣợng tăng cƣờng

cho Huế thực hiện tiến công và nổi dậy; các đơn vị đặc công tập kích các căn

cứ ở phía Nam Huế, mở đƣờng đƣa lực lƣợng vào nội thành.

Thực hiện kế hoạch của Khu ủy, trong tháng 4 và tháng 5-1968, cuộc

chiến đấu của quân và dân TTH giành giữ nông thôn đồng bằng diễn ra quyết

62

liệt. Chiến tranh du kích và phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng

chống triệt phá làng mạc, chống khủng bố thanh lọc, chống tập trung dân phát

triển; một bộ phận bộ đội chủ lực, bộ đội địa phƣơng huyện và lực lƣợng của

thành đội Huế bám đồng bằng đánh trả hàng trăm cuộc càn quét của đối

phƣơng. Ở miền núi, QGP đánh bại cuộc hành quân lớn của quân Mỹ, buộc

kẻ thù phải rút bỏ ở A Lƣới ngày 16-5-1968. Ngày 2-6-1968, Mỹ tuyên bố rút

khỏi Khe Sanh, “mọi toan tính hòng cắt đứt tuyến chi viện chiến lƣợc của đối

phƣơng của Mỹ không thực hiện đƣợc” [149, tr.27]. Bộ trƣởng Quốc phòng

Mỹ Mc Namara phải thừa nhận rằng: Cho dù có đƣa thêm bao nhiêu lính Mỹ

sang Việt Nam đi chăng nữa thì “quân Mỹ cũng không bao giờ đủ số lƣợng để

kiểm soát đƣợc toàn bộ đất đai trong cùng một thời gian” [229, tr.88]. Chiến

thắng này khẳng định vai trò chỉ đạo chiến tranh cách mạng đúng đắn, sáng

tạo của Trung ƣơng Đảng; đóng góp nhiều kinh nghiệm thiết thực, quý giá

cho công tác chỉ đạo các chiến dịch tiếp theo, sử gia Mỹ John Prados cũng

cho rằng “nếu không có những kinh nghiệm thu đƣợc ở Khe Sanh thì Bắc

Việt Nam chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn rất lớn trong thời gian sau” [231,

tr.518]; thể hiện rõ vai trò của Khu ủy TTH trong chỉ đạo xây dựng lực lƣợng,

phát triển thế và lực của địa phƣơng, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du

kích, trực tiếp là các huyện Hƣớng Hóa, Gio Linh, Cam Lộ, phối hợp có hiệu

quả với Mặt trận Đƣờng 9 - Bắc Quảng Trị tham gia chiến dịch Khe Sanh.

Quân Giải phóng đánh đều khắp nhƣng quy mô nhỏ, bộ đội chủ lực

chƣa đánh những trận lớn. Đến cuối tháng 5-1968, bộ đội chủ lực, bộ đội địa

phƣơng và kể cả một số dân quân du kích đều dần dần bị bật khỏi đồng bằng,

rút lên rừng để củng cố lực lƣợng. Từ đây, tình hình chiến trƣờng TTH cũng

nhƣ toàn miền Nam gặp khó khăn lớn và kéo dài.

Tháng 8-1968, BCT họp quyết định về tiến hành đợt 3 tổng công kích,

tổng khởi nghĩa. Nhiệm vụ của Mặt trận B5 và TTH: Tiếp tục tác chiến phối

hợp, thu hút giam chân địch; thời gian nổ súng vào ngày 17-8-1968, kết thúc

vào ngày 28-9-1968.

63

Cùng thời gian này, Khu ủy có sự thay đổi về tổ chức. Nghị quyết số

183-NQ/TW Về việc kiện toàn tổ chức và lãnh đạo của Khu ủy Trị - Thiên -

Huế, ngày 16-10-1968 của BCT phân công nhiệm vụ: “Đồng chí Hoàng Anh

sẽ làm Bí thƣ Khu ủy (đồng chí Trần Văn Quang hiện Bí thƣ, sẽ làm Phó Bí

thƣ), hai đồng chí Hoàng Sâm và Nguyễn Quyết làm Ủy viên Thƣờng vụ. Các

đồng chí khác hiện tham gia Khu ủy và tham gia Ban Thƣờng vụ Khu ủy giữ

nhƣ cũ” [117, tr.479]. Đồng thời, Nghị quyết này cũng khẳng định lại và bổ

sung thêm về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Khu ủy TTH.

Trên thực tế, ở TTH, đến tháng 8-1968, đế quốc Mỹ đã phân tuyến,

kiểm soát đồng bằng, ngăn chặn vùng giáp ranh, liên tục đánh phá và uy hiếp

căn cứ vùng rừng núi của quân dân TTH; mùa mƣa lũ đến, địa hình rừng núi

bị chia cắt, việc tiếp tế hậu cần của LLCM càng trở nên khó khăn.

Cuối tháng 8-1968, Khu ủy họp dƣới sự chủ trì của Bí thƣ Hoàng Anh,

đánh giá tình hình, xác định nhiệm vụ và phƣơng châm hành động. Hội nghị

quyết định: Không tiếp tục tổng công kích, tổng khởi nghĩa, mà đẩy mạnh tiêu

hao, tiêu diệt từng bộ phận quân Mỹ và QĐVNCH, giữ gìn và xây dựng lại cơ

sở, xây dựng lại thế ba vùng liên hoàn, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu

tranh chính trị nhằm từng bƣớc vƣợt qua khó khăn, khôi phục lại thế và lực

của QGP. Hội nghị cho rằng: cần triển khai ngay thế đứng mới ở miền núi,

phát động phong trào sản xuất, tự túc, phấn đấu trồng 15 triệu gốc sắn để

chống đói; ở đồng bằng và thành phố, khẩn trƣơng tập hợp, phát triển lực

lƣợng mới, chuyển dần sang đấu tranh chính trị, kết hợp với đấu tranh quân

sự từng bƣớc phá kế hoạch “bình định”. Đây là chủ trương đúng, sát hợp với

tình hình thực tiễn, khắc phục một phần những sai lầm, khuyết điểm trong chỉ

đạo tổng công kích, tổng khởi nghĩa đợt 2 và 3; tạo điều kiện để quân dân

TTH từng bƣớc vƣợt qua khó khăn, khôi phục lại phong trào cách mạng.

Thắng lợi của Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Huế có

ý nghĩa chiến lƣợc của quân và dân TTH dƣới sự lãnh đạo của Khu ủy; đánh

dấu bƣớc phát triển quan trọng đối với phong trào cách mạng ở địa phƣơng,

góp phần cùng toàn miền Nam đánh thắng chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ”,

64

buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, Tổng thống Johnson công khai tuyên

bố vào đêm 31-3-1968 ba điểm: “1.Đơn phƣơng ngừng đánh phá miền Bắc từ

vĩ tuyến 20 trở ra; 2.Nhận đàm phán ta tại Hội nghị Pari; 3.Không ra tranh cử

Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai [83, tr.72], tạo nên bƣớc ngoặt lịch sử của cuộc

KCCMCN. Thắng lợi đó làm “rung chuyển Lầu Năm Góc”, kẻ thù kinh

hoàng, các nƣớc trên thế giới ngƣỡng mộ, quân dân TTH xứng đáng vinh dự

đón nhận tám chữ vàng của Trung ƣơng Cục miền Nam và MTDTGP miền

Nam trao tặng: “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”, ghi thêm thành

tích vào truyền thống vẻ vang của quân dân TTH trong sự nghiệp KCCMCN.

Trong lãnh đạo Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Huế,

vai trò của Khu ủy thể hiện: Nắm chắc tình hình thực tiễn chiến trƣờng; chủ

động đề ra kế hoạch đánh vào thành phố Huế sớm và kịp thời điều chỉnh, bổ

sung kế hoạch theo mệnh lệnh của Trung ƣơng; khắc phục mọi khó khăn về

thời gian, về lực lƣợng, về công tác chuẩn bị, kiên quyết chấp hành mệnh lệnh

đúng thời gian, đúng mục tiêu; lực lƣợng cách mạng phát triển nhanh, phát

huy đƣợc vai trò “nổi dậy của quần chúng kết hợp với tổng tiến công đạt hiệu

quả cao nhất” [146, tr.77], phối hợp đấu tranh có hiệu quả với bộ đội chủ lực

của Trung ƣơng; kiên quyết bám trụ, chiếm giữ Huế 25 ngày đêm; chủ động

rút lui khỏi Huế đúng thời điểm, bảo toàn lực lƣợng; giành thắng lợi to lớn,

hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đƣa Thừa Thiên Huế trở thành một trong ba lá

cờ đầu về phong trào đấu tranh du kích trên toàn miền Nam, đƣa chiến trƣờng

Trị - Thiên - Huế “từ một chiến trƣờng phát triển chậm nhất, đã phát triển

nhanh chóng và tiến kịp với các chiến trƣờng khác” [85, tr.160].

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 trên toàn miền

Nam nói chung và ở TTH nói riêng, QGP đã giành đƣợc những thắng lợi lớn,

mà lớn nhất là đánh bại đƣợc ý chí xâm lƣợc của đế quốc Mỹ, tạo nên bƣớc

ngoặt quyết định của chiến tranh, nhƣng sau đó chuyển chậm, chủ trƣơng tiếp

tục các đợt tiến công vào đô thị khi không còn điều kiện là sai lầm về chỉ đạo

chiến lƣợc, để quân Mỹ và QĐVNCH gây cho QGP nhiều khó khăn, tổn thất

[88], “chủ quan trong việc đánh giá tình hình,… đề ra yêu cầu chƣa thật sát

65

với tình hình thực tế,… không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm

ngay,…chậm thấy những cố gắng mới của địch, những khó khăn của ta,

không đánh giá hết âm mƣu của địch” [122, tr.215-216] nên để mất đất, mất

dân. Ở chiến trƣờng TTH bộc lộ một số khuyết điểm: Một số cán bộ chƣa

nhận thức rõ tiến công và nổi dậy là một giai đoạn chiến lƣợc, không chiếm

giữ những mục tiêu chính (Quảng Trị) hoặc cho chiếm giữ thành phố là dứt

điểm luôn (Huế) nên không khẩn trƣơng trong việc trừng trị phản động gian

ác, chuyển chiến lợi phẩm ra ngoài; đánh giá tình hình về cơ bản là đúng

nhƣng từng lúc từng nơi chƣa rõ ràng, chƣa thấy hết chỗ yếu, chỗ rệu rã của

đối phƣơng, bỏ lỡ thời cơ, có nơi chƣa thấy rõ sự ngoan cố, dã man của quân

Mỹ và QĐVNCH nên chƣa bảo vệ tốt tính mạng, tài sản của nhân dân, của bộ

đội; đánh giá quá cao yếu tố chính trị, tinh thần, chƣa đánh giá đúng vai trò

quyết định trong chiến tranh là tiêu diệt quân đội chủ lực; một số cán bộ, đảng

viên bộc lộ tƣ tƣởng hữu khuynh, mệt mỏi, thiếu kiên quyết, thiếu chủ

động…; tổ chức chỉ đạo, chỉ huy còn nhiều hạn chế trong việc thông tin liên

lạc, nắm tình hình chiến trƣờng, vận dụng chiến thuật, cách đánh; chỉ có một

phƣơng án giành toàn thắng mà không tính đến các khả năng, tình huống

khác… Đặc biệt là sau một tuần lễ chiến đấu trong thành phố, khi thấy không

thể giành toàn thắng đã không kịp thời lãnh đạo thay đổi hƣớng và phƣơng

châm tiến công. Về vấn đề này, tháng 3-1986, Thƣợng tƣớng Trần Văn

Quang, nguyên Bí thƣ Khu ủy, Tƣ lệnh Quân khu TTH đã phát biểu: “Chúng

tôi đã không sáng suốt, không kịp thời đề ra nhiệm vụ, phƣơng châm, biện

pháp phù hợp với tình hình, không có can đảm để phản ánh mà lại chấp hành

mệnh lệnh một cách thụ động, làm cho tình hình càng khó khăn thêm” [215,

tr.48]. Đầu tháng 3-1968, Hội nghị Khu ủy bất thƣờng nghiêm túc đánh giá

kết quả tiến công nổi dậy đợt 1, trong đó khẳng định: “Trong quá trình thực

hiện tiến công nổi dậy ở TTH có nơi tiêu hao tiêu diệt địch chƣa nhiều, chƣa

gọn, có nơi lực lƣợng vũ trang chiếm giữ ở địa bàn xung yếu, trong hậu cứ

địch không lâu, có nơi quần chúng nổi dậy chậm” [19, tr.4-5] nhƣng nhìn

chung toàn cục thì cuộc Tổng tiến công nổi dậy đã thu đƣợc thắng lợi lớn nhƣ

66

đánh giá của Bộ Chính trị: “Mặc dù có những khuyết điểm, cuộc Tổng tiến

công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 vẫn giữ một vị trí to lớn trong kháng

chiến chống Mỹ” [88].

*

* *

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc, nhất là từ khi đế quốc

Mỹ thực hiện chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ”, địa bàn TTH ngày càng có vị

trí quan trọng hơn đối với cả LLCM và đối phƣơng. Để đƣa chiến trƣờng

TTH phát triển tiến kịp và phối hợp, “chia lửa” với các chiến khác trên toàn

miền Nam, BCT và QUTW quyết định tách Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên ra khỏi

Khu ủy V để thành lập Khu ủy TTH trực thuộc Trung ƣơng. Đây là quyết

định đúng đắn, phù hợp và đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tiễn của địa phƣơng.

Từ khi thành lập (4-1966) đến cuối năm 1968, Khu ủy TTH đƣợc kiện toàn,

củng cố và xây dựng tổ chức đáp ứng yêu cầu của kháng chiến. Trải qua hai

năm rƣỡi trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, Khu ủy từng bƣớc trƣởng

thành về mọi mặt: xây dựng Đảng, xây dựng lực lƣợng vũ trang, xây dựng lực

lƣợng chính trị, xây dựng hậu phƣơng, phát triển nền kinh tế kháng chiến,…

đƣa cuộc kháng chiến ở TTH phát triển ngày càng mạnh mẽ theo kịp với các

chiến trƣờng khác, góp phần vào việc đánh thắng cuộc phản công chiến lƣợc

mùa khô 1966-1967 và thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu

Thân 1968 trên toàn miền Nam; góp phần đánh bại chiến lƣợc “Chiến tranh

cục bộ”, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, tuyên bố chấm dứt

không điều kiện đánh phá miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ

VNDCCH ở Hội nghị Pari, tạo nên bƣớc ngoặt lịch sử của cuộc KCCMCN.

Từ giữa năm 1968, chiến trƣờng TTH gặp nhiều khó khăn, đây cũng là

tình hình chung của toàn miền Nam. Nhiệm vụ cách mạng mới nặng nề đặt ra

đối với Khu ủy. Những thắng lợi trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu

Thân 1968 là cơ sở, động lực, củng cố niềm tin để Khu ủy và quân dân TTH

tiếp tục sự nghiệp KCCMCN, giải phóng quê hƣơng, góp phần giải phóng

miền Nam, thống nhất đất nƣớc.

67

Chƣơng 3

KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ XÂY DỰNG TỔ CHỨC

VÀ LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC

TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1975

3.1. CỦNG CỐ TỔ CHỨC VÀ LỰC LƯỢNG, LÃNH ĐẠO KHÔI PHỤC

THẾ TRẬN, CHỦ ĐỘNG TIẾN CÔNG, GIẢI PHÓNG QUẢNG TRỊ (1969-1972)

3.1.1. Củng cố tổ chức và lực lƣợng, lãnh đạo khôi phục thế trận,

từng bƣớc giành lại thế chủ động trên chiến trƣờng (1969-1970)

3.1.1.1. Tình hình và chủ trương của Đảng

Ngày 20-1-1969, Richard Nixon nhậm chức tổng thống, thừa nhận

nƣớc Mỹ đang gánh chịu những hậu quả nặng nề về cả kinh tế, quân sự và xã

hội bởi sự thất bại của chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam. Trong

những năm 1965-1968, “Mỹ mất 30 tỷ USD bình quân mỗi năm. Số lƣợng

hơn 100.000 lính Mỹ bị chết, bị mất tích và bị thƣơng” [216, tr.298] càng làm

cho nhiều ngƣời Mỹ nhận ra rằng chiến tranh xâm lƣợc ở Việt Nam là một tai

họa của nƣớc Mỹ. Phong trào cách mạng thế giới đang phát triển mạnh, tiếp

tục giúp đỡ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam. Khó khăn lớn nhất

là xu hƣớng hòa hoãn của các nƣớc lớn và mâu thuân Xô - Trung ngày càng

nghiêm trọng, ảnh hƣởng bất lợi cho Việt Nam.

Ngày 25-7-1969, tại đảo Guam trong một cuộc họp báo, Tổng thống

Mỹ chính thức ra đời chiến lƣợc toàn cầu mang tên “Học thuyết Níchxơn” với

ba nguyên tắc “trụ cột”: “cùng chia sẻ”, “sức mạnh của Mỹ” và “sẵn sàng

thƣơng lƣợng”; tiếp tục cuộc chiến tranh ở miền Nam bằng chiến lƣợc “Việt

Nam hóa chiến tranh”, “dùng ngƣời Việt Nam đánh ngƣời Việt Nam”. Từ

năm 1969, đế quốc Mỹ từng bƣớc rút quân, tiếp tục tăng cƣờng chiến tranh;

củng cố CQVNCH, xây dựng QĐVNCH đông và hiện đại; ráo riết thực hiện

chƣơng trình bình định; tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc nhằm cắt

nguồn chi viện cho miền Nam; tìm mọi cách thỏa hiệp với Trung Quốc, hòa

hoãn với Liên Xô hòng cắt giảm nguồn viện trợ chủ yếu của Việt Nam.

68

Ở miền Nam, tại vùng nông thôn, lợi dụng sai lầm của QGP chậm

chuyển hƣớng tiến công sau Tết Mậu Thân, quân Mỹ tiến hành các kế hoạch:

“Bình định cấp tốc”, “bình định đặc biệt”, “bình định bổ sung”, “phƣợng

hoàng”..., liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét, đóng thêm hàng nghìn

đồn bốt, chiếm lại hầu hết các vùng nông thôn đồng bằng; tập trung sức mạnh

quân sự tấn công vào nông thôn đồng bằng, coi đó là cuộc “chiến tranh giành

dân”, “chiến tranh hủy diệt” trên quy mô lớn với những biện pháp thâm độc,

gây nhiều khó khăn, tổn thất nặng nề cho lực lƣợng cách mạng miền Nam.

“Hầu hết các đơn vị chủ lực của ta hoặc phải rút ra miền Bắc củng cố, hoặc

chuyển sang bên kia biên giới, một vài đơn vị giải thể” [83, tr.77].

Tháng 3-1970, đế quốc Mỹ chủ mƣu tiến hành cuộc đảo chính ở

Campuchia lật đổ Chính phủ Vƣơng quốc trung lập do Hoàng thân Nôrôđôm

Xihanúc đứng đầu, thành lập chính quyền tay sai Lon Non. Tháng 4-1970, 10

vạn quân Mỹ và tay sai hành quân phối hợp với quân đội tay sai Lon Non tập

trung đánh chiếm vùng ngã ba biên giới giữa Việt Nam và Campuchia hòng

tiêu diệt chủ lực của QGP và cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam; Mỹ

tăng cƣờng chiến tranh ở Lào, mở cuộc hành quân lớn ra Đƣờng 9 - Nam Lào;

tổ chức nhiều đợt ném bom đánh phá các tỉnh phía Nam Quân khu IV.

Ở chiến trƣờng TTH, sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân

1968, đứng trƣớc thử thách mới. Mỹ tập trung phản kích chiếm lại thành phố,

thị trấn, đồng bằng, vùng giáp ranh, tiến sâu lên rừng núi, đánh phá kho tàng,

đẩy lực lƣợng chủ lực của QGP ra xa, ngăn chặn đƣờng hành lang chiến lƣợc.

Căn cứ miền núi - hậu phƣơng kháng chiến bị uy hiếp, thế liên hoàn ba vùng

chiến lƣợc gặp khó khăn. Mỹ coi TTH là một trong những chiến trƣờng quan

trọng, trọng điểm để thực hiện ba loại hình chiến tranh “giành dân”, “bóp

nghẹt” và “hủy diệt”; tăng cƣờng các đội quân gồm các phần tử chống cộng

“phƣợng hoàng”, “thiên nga”; tập trung lực lƣợng lớn quân Mỹ và QĐVNCH

liên tục mở các chiến dịch “bình định cấp tốc”, “bình định đặc biệt”, ngăn

chặn lực lƣợng của QGP, đánh phá miền núi và hành lang chiến lƣợc Bắc -

Nam; cƣớp bóc của cải của nhân dân, tiến hành thanh lọc, kiểm soát quần

69

chúng. Ở các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hƣơng Thủy, Phú Vang, Phú

Lộc có nơi quân Mỹ và tay sai tập trung trên 3 tiểu đoàn càn quét trong vòng

3 tháng liền. Cuối năm 1968, Mỹ dồn dân vào 24 khu tập trung, nhƣng đến

đầu năm 1969, chủ trƣơng đƣa dân về làng làm lá chắn ngăn chặn QGP tiến

công vào cơ quan đầu não của chúng ở địa phƣơng; đẩy mạnh chiến tranh

gián điệp, phát triển các đảng phái phản động, ráo riết chống phá cách mạng.

Trong Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, ngày

3-11-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hễ còn một tên xâm lƣợc trên

đất nƣớc ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi” [167, tr.512].

Năm 1969, Ngƣời gửi thƣ chúc mừng năm mới cho đồng bào chiến sĩ cả

nƣớc: “Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” [167,

tr.532]. Trong lời kêu gọi ngày 20-7-1969, Ngƣời nêu rõ quyết tâm đánh Mỹ:

Quân và dân cả nƣớc ta, “triệu ngƣời nhƣ một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng

cách mạng, không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, quyết kiên trì và đẩy mạnh

cuộc kháng chiến, quyết chiến quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết

sạch, đánh cho ngụy quân và ngụy quyền sụp đổ hết, giải phóng miền Nam,

bảo vệ miền Bắc” [167, tr.593], tiến tới hòa bình thống nhất nƣớc nhà.

Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mệnh lệnh thiêng liêng của

non sông đất nƣớc, nói lên ý chí quyết tâm đánh Mỹ của toàn Đảng, toàn quân

và toàn dân; là nguồn cổ vũ để quân dân TTH vƣợt qua thử thách, tiến lên

giành thắng lợi mới. Tinh thần của lời kêu gọi đánh Mỹ của Chủ tịch Hồ Chí

Minh thật đúng nhƣ phƣơng châm hành động của Ph.Ăngghen: “Chúng ta sẽ

đấu tranh và đổ máu của mình, sẽ dũng cảm nhìn vào những con mắt tàn khốc

của kẻ thù và chiến đấu đến hơi thở cuối cùng” [103, tr.335].

Trung ƣơng Đảng kịp thời chỉ đạo kháng chiến trƣớc việc đế quốc Mỹ

chuyển sang thực hiện chiến lƣợc “Việt Nam hoá chiến tranh”. Tháng 11-

1968, trong Chỉ thị gửi Đảng bộ miền Nam, BCT vạch rõ phƣơng hƣớng của

năm 1969 là “công kích và khởi nghĩa” vào mùa Xuân và mùa Hè. Ngày 10-

5-1969, BCT ra Nghị quyết về “Tình hình và nhiệm vụ” khẳng định: Tiếp tục

đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa, phát triển chiến lƣợc tiến công

70

một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đánh bại chiến lƣợc “Việt Nam hóa

chiến tranh” và âm mƣu kết thúc chiến tranh trên thế mạnh của Mỹ. Tháng 1-

1970, BCH Trung ƣơng Đảng họp Hội nghị lần thứ 18 nhằm kiểm điểm công

tác hai năm và đề ra nhiệm vụ: “Kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến,…

đánh bại âm mƣu kéo dài chiến tranh…, làm thất bại chiến lƣợc phòng ngự

của địch, tạo nên chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi

từng bƣớc đi đến giành thắng lợi quyết định [119, tr.117].

Nghị quyết đề ra phƣơng châm: “Đẩy mạnh tiến công toàn diện: kết

hợp tiến công về quân sự, chính trị và ngoại giao; kết hợp tiến công quân sự

và nổi dậy của quần chúng” [119, tr.118], tiến công quân Mỹ và QĐVNCH

trên cả ba vùng chiến lƣợc, lấy nông thôn đồng bằng làm hƣớng chính, làm

chuyển biến mạnh mẽ trong phong trào chiến tranh du kích ở địa phƣơng.

Bộ Chính trị chủ trƣơng về công tác xây dựng tổ chức Đảng: ở thành

thị, phải “đẩy mạnh việc phát triển đảng đi đôi với nâng cao chất lƣợng, xây

dựng chi bộ đồng thời phải kiên quyết tăng cƣờng bồi dƣỡng cán bộ, kiện

toàn cơ quan lãnh đạo, kiện toàn bộ tham mƣu tại chỗ” [119, tr.80], sự lãnh

đạo của các tổ chức Đảng “phải rất tích cực, chủ động, kiên quyết, linh hoạt”

[119, tr.80]; ở nông thôn, “phát triển, củng cố các đảng bộ cơ sở, nâng cao

chất lƣợng công tác của chi bộ, chi ủy để có thể lãnh đạo toàn diện” [119,

tr.82], chú trọng xây dựng, củng cố các đoàn thể quần chúng, “làm cho mỗi

đoàn thể có thể làm tốt chức năng giáo dục, tổ chức, huy động quần chúng

tham gia kháng chiến” [119, tr.83].

Tháng 5-1969, QUTW ra Chỉ thị về nhiệm vụ của Khu ủy TTH, trong

đó nhấn mạnh: “Động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phát huy những

thắng lợi đã giành đƣợc, tiếp tục khắc phục những khuyết điểm và nhƣợc

điểm, triển khai lực lƣợng của ta trên cả ba vùng, phát triển vững chắc thế tiến

công toàn diện và liên hoàn ở đồng bằng, giáp ranh và miền núi” [187, tr.3].

Phát huy sức mạnh tổng hợp của CTND để “tiêu diệt tiêu hao và kiềm giữ,

thu hút lực lƣợng của Mỹ - ngụy, tiến lên làm chủ rừng núi, đứng vững ở giáp

ranh, từng bƣớc làm chủ đồng bằng và thành phố, làm cho Trị - Thiên trở

71

thành bàn đạp vững mạnh của ta để tiến về phía Nam, phối hợp đắc lực với

các chiến trƣờng khác” [187, tr.3].

Quán triệt chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng, Khu ủy TTH triển khai

các Hội nghị Khu ủy (11-1968; 3-1969, 6-1969; 3-1970) để đề ra chủ trƣơng,

biện pháp thực hiện. Các Hội nghị trên đều đánh giá tình hình cách mạng

miền Nam nói chung và TTH nói riêng, từ đó xác định các nội dung cơ bản:

Nhiệm vụ chung, “Đánh bại chiến lƣợc “quét và giữ”, gây chuyển biến

hẳn mặt trận quân sự và chính trị ở TTH” [25, tr.6]; “giành lại quyền làm chủ

ở nông thôn và đô thị; xây dựng thế đứng vững chắc trên rừng núi, giành lại

giáp ranh” [26, tr.14]; “tấn công địch toàn diện, đánh bại kế hoạch phòng ngự

của chúng, bắt Mỹ phải rút nhanh, đánh đổ ngụy quân ngụy quyền, giải phóng

TTH, phát triển chiến trƣờng vào phía Nam, phối hợp với khu V tiếp tục đánh

địch, góp phần to lớn vào nhiệm vụ chiến lƣợc đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ

và tay sai” [26, tr.9].

Xác định lập trƣờng tƣ tƣởng kiên định, tin tƣởng tuyệt đối vào đƣờng

lối cách mạng và quyết tâm chiến lƣợc của Đảng; tiếp tục bồi dƣỡng, nâng

cao ý thức trách nhiệm chính trị, tinh thần tự giác chấp hành mệnh lệnh của

cấp trên; xây dựng tƣ tƣởng quyết chiến, quyết thắng, chống mọi biểu hiện do

dự, ngại khó, ngại khổ, ngại ác liệt, sợ hy sinh; xây dựng ý thức tự lực tự

cƣờng, tích cực, chủ động, độc lập, quyết đoán, không trông chờ, ỷ lại; dấy

lên phong trào với tinh thần “quyết chiến quyết thắng, đạp lên đầu thù mà xốc

tới, phát huy truyền thống anh dũng, kiên cƣờng, dám nghĩ, dám đánh, sẵn

sàng xả thân để hoàn thành cao nhiệm vụ” [27, tr.12].

Phát huy sức mạnh của ba thứ quân trên ba vùng chiến lƣợc (đẩy mạnh

đấu tranh của bộ đội chủ lực, phát triển mạnh hơn chiến tranh du kích, phát

huy tối đa sức mạnh của các đơn vị chủ lực cơ động); vừa đánh vừa xây dựng

lực lƣợng vũ trang ở Đoàn 4, Đoàn 6, Đoàn 7, miền núi và Thành đội; kết hợp

giữa đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn với đánh sâu, đánh hiểm; tăng cƣờng lãnh

đạo, chỉ đạo lực lƣợng vũ trang và đấu tranh vũ trang.

72

Liên tục phát động quần chúng đấu tranh chính trị chống đế quốc Mỹ

và CQVNCH với nhiều hình thức và quy mô thích hợp ở cả thành thị và nông

thôn; phát triển lực lƣợng rộng khắp và có trọng điểm; phối hợp với đấu tranh

vũ trang và binh vận, chuẩn bị về tƣ tƣởng và tổ chức, sẵn sàng nổi dậy vũ

trang khởi nghĩa đánh đổ quân Mỹ và tay sai, đánh bại ý chí xâm lƣợc của đế

quốc Mỹ, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.

Công tác hậu cần, kinh tế - tài chính: đảm bảo đời sống và bồi dƣỡng

sức dân; kiên quyết đấu tranh chống âm mƣu phá hoại đời sống nhân dân của

kẻ thù; làm cho dân đủ ăn, đảm bảo kháng chiến lâu dài không lệ thuộc kinh

tế Mỹ; quan tâm, chăm lo sản xuất và bảo vệ sản xuất…

Xây dựng đội ngũ cán bộ có lập trƣờng vững vàng, tƣ tƣởng tiến công

cao, có quan điểm quần chúng tốt, dám nghĩ, dám làm, dám hy sinh, dám xả

thân để hoàn thành nhiệm vụ, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh và kiên

quyết thực hiện nhiệm vụ của Đảng giao phó.

Tăng cường công tác xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt theo

phƣơng hƣớng: “Kiên định về lập trƣờng, kiên cƣờng về tƣ tƣởng, lớn mạnh

về tổ chức, trong sạch nội bộ, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, gƣơng mẫu và

đoàn kết” [25, tr.19]; chú ý kiện toàn tổ chức cơ sở Đảng ở thôn xóm, đƣờng

phố, xí nghiệp, các đơn vị đại đội, “xây dựng các chi bộ thành pháo đài vững

chắc bám trụ chặt trong trong quần chúng, bất cứ trong tình huống nào cũng

không bị đánh bật” [25, tr.20] và lãnh đạo quần chúng hoàn thành mọi nhiệm

vụ; “tăng cƣờng sự lãnh đạo của Khu ủy đối với Thành ủy Huế, Đảng ủy miền

Tây Trị - Thiên, kiện toàn các ban cán sự phụ trách các hƣớng theo nguyên

tắc gọn, nhẹ và tinh” [26, tr.22]; đối với Quân Khu ủy là cơ quan lãnh đạo của

Đảng trong quân đội cần “phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của mình về

quân sự, chính trị, hậu cần và công tác Đảng” [26, tr.22]; kiện toàn các cơ

quan giúp việc cho Khu ủy và phát huy vai trò của nó trong việc phục vụ sự

lãnh đạo của Khu ủy, giúp đỡ các huyện giải quyết khó khăn; tăng cƣờng sự

đoàn kết và nhất trí trong Đảng bộ, giữa các cấp, các ngành, “hết sức chăm lo

giữ gìn, vun đắp đoàn kết nội bộ” [30; tr.15].

73

Chủ trƣơng trên là cơ sở để Khu ủy lãnh đạo quân và dân TTH từng

bƣớc vƣợt qua giai đoạn khó khăn sau Tết Mậu Thân 1968, phát triển phong

trào đều khắp, từng bƣớc giành lại thế chủ động trên chiến trƣờng.

3.1.1.2. Quá trình lãnh đạo thực hiện của Khu ủy

Thực hiện chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng, QUTW và Nghị quyết

của các Hội nghị Khu ủy, Khu ủy ra các Chỉ thị quan trọng tập trung lãnh đạo

các đảng bộ trực thuộc và các cấp, các ngành: “Phát huy thắng lợi mùa hè,

tiếp tục tấn công địch mạnh mẽ, toàn diện, liên tục và rộng khắp, đánh bại âm

mƣu địch trong mùa mƣa, chuẩn bị mọi điều kiện tiến lên giành thắng lợi lớn

đông xuân 1969-1970” (22-8-1969); “Khẩn trƣơng đẩy mạnh tấn công toàn

diện, đánh bại âm mƣu và thủ đoạn bình định của địch, tạo thêm thế và lực

mới cùng toàn miền đánh bại kế hoạch “Việt Nam hóa” cuộc chiến tranh của

đế quốc Mỹ” (20-01-1970)…

Chấp hành chủ trƣơng của Khu ủy, Thành ủy Huế ban hành nhiều văn

bản nhằm thực hiện nhiệm vụ mới: Chỉ thị “Tăng cƣờng sự lãnh đạo của

Đảng, phát động quần chúng bảo vệ Đảng, bảo vệ nội bộ cơ quan, căn cứ” (6-

1969), Chỉ thị “Động viên mọi lực lƣợng, ra sức xây dựng căn cứ hậu phƣơng

vững chắc đảm bảo đánh thắng địch trong mọi tình huống” (13-2-1970)...

Đảng ủy miền Tây Trị - Thiên, Quân Khu ủy cũng ban hành các Nghị quyết,

Chỉ thị để triển khai, thực hiện chủ trƣơng của Khu ủy.

Trong khi quân và dân TTH đang tích cực chuẩn bị phong trào đấu

tranh mới, ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, một tổn thất lớn đối

với dân tộc ta. Trong bản Di chúc lịch sử, Ngƣời khẳng định, cuộc KCCMCN

của nhân dân Việt Nam dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa,

song nhất định thắng lợi hoàn toàn: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn

kéo dài. Đồng bào ta có thể hy sinh nhiều của, nhiều ngƣời. Dù sao chúng ta

phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn” [167, tr.623].

Để tƣởng nhớ và thực hiện Di chúc của Ngƣời, ở Thừa Thiên, phong

trào “đau thƣơng nhớ Bác” diễn ra khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn và

miền núi. Ngày 9-9-1969, Ủy ban MTDTGP TTH ra Bản Hiệu triệu, trong đó

74

nêu rõ: “Vĩnh biệt Bác kính yêu, toàn thể chúng ta biến đau thƣơng thành sức

mạnh, giữ trọn lời thề danh dự, quyết hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của mình,

cùng quân và dân cả nƣớc thực hiện bằng đƣợc lời Di chúc của Bác” [227].

Thực hiện chủ trƣơng trên, phong trào cách mạng ở TTH diễn ra sôi nổi

với nhiều nội dung và hình thức đấu tranh phong phú.

Khu ủy và Quân Khu ủy tập trung lãnh đạo khắc phục khó khăn, xây

dựng lại thế trận ở rừng núi, trực tiếp hỗ trợ phong trào đấu tranh ở đồng

bằng; chú trọng xây dựng, củng cố lực lƣợng vũ trang và đấu tranh vũ trang.

Từ tháng 1 đến tháng 3-1970, QGP đánh quân Mỹ và tay sai ở Tà Lƣơng,

Động Tranh và Đƣờng số 12; từ tháng 4 đến tháng 6-1970, đánh quân Mỹ ở

các điểm cao 935, 550, Dốc Mây, Tam Tanh và nhiều khu vực khác; từ tháng

6 đến tháng 8-1970, trong lúc Mỹ đang bị sa lầy ở Campuchia, các lực lƣợng

vũ trang TTH, Bắc Quảng Trị tranh thủ tiêu diệt, tiến công và sẵn sàng đánh

quân Mỹ và QĐVNCH khi chúng đánh phá đƣờng hành lang chiến lƣợc.

Trong thời gian này, Quân khu rút 1500 cán bộ, bộ đội chủ lực của khu

bổ sung cho các huyện, xã. Các lực lƣợng vũ trang Quân khu cùng với nhân

dân làm thất bại kế hoạch bình định của Mỹ và tay sai ở giáp ranh và đồng

bằng các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hƣơng Trà, Phú Lộc,… Chiến

tranh du kích phát triển ở nhiều nơi nhƣ: Thủy Phƣơng, Lộc Tiến, Lộc Sơn,

Phong Sơn… đẩy lùi quân Mỹ và QĐVNCH, từng bƣớc xây dựng lại thế

đứng chân của LLCM ở vùng đồng bằng và giáp ranh.

Phong trào đấu tranh chính trị chống gom dân, chống bình định, đòi trở

về làng cũ, chống bắt lính… diễn ra liên tục ở nhiều địa phƣơng nông thôn

thuộc các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hƣơng Trà, Hƣơng Thủy, Phú

Lộc…; chống bắt lính, đòi tự do, dân chủ với khẩu hiệu “Tự do hay là chết”;

đòi hòa bình; chống khủng bố; đòi chấm dứt chiến tranh; phát động phong

trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”…. diễn ra sôi nổi ở thành thị. Tháng 9-

1970, Đại hội sinh viên toàn miền Nam tổ chức tại Huế, ra Nghị quyết đấu

tranh đòi hòa bình, đòi Mỹ rút quân, đòi áo cơm, đòi quyền dân tộc tự quyết,

đòi bãi bỏ chế độ quân sự hóa học đƣờng. Đại hội quyết định phát động đợt

75

đấu tranh bảy ngày. Trong hai ngày đầu, tại Huế có 10.000 ngƣời xuống

đƣờng, có hàng trăm thƣơng binh, phế binh ngụy tham gia đấu tranh với khẩu

hiệu “Mỹ cút về nƣớc” đƣợc viết lên mặt đƣờng.

Phát triển kinh tế, xây dựng hậu phƣơng đạt nhiều thành tích. Ở miền

núi, cán bộ thƣờng xuyên động viên, đôn đốc, kiểm tra việc cứu đói và đẩy

mạnh sản xuất, hạn chế nạn đói cho nhân dân, sản xuất từng bƣớc phát triển.

Các cơ quan bộ đội bắt đầu có phong trào sản xuất tự túc. Ở đô thị và nông

thôn đồng bằng nêu cao khẩu hiệu “bám đồng, bám ruộng”, chống các chính

sách kinh tế phản động của kẻ thù, giành đƣợc một số kết quả nhất định.

Công tác xây dựng Đảng có nhiều tiến bộ, làm cho Khu uỷ vững vàng

và phát triển hơn. Cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần đoàn kết, đấu tranh

kiên cƣờng, anh dũng. Qua quá trình chiến đấu, đội ngũ của Đảng đƣợc củng

cố, bổ sung và phát triển thêm về chính trị, tƣ tƣởng, tổ chức. Cán bộ các cấp

thuộc sự lãnh đạo của Khu ủy đi sâu vào các thôn xã, xây dựng cơ sở chính

trị, tuyên truyền đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, kết nạp đảng

viên, đoàn viên, đƣa thanh niên ra vùng giải phóng bổ sung cho bộ đội huyện,

tỉnh. Ở hai huyện Gio Linh, Cam Lộ (Quảng Trị), các đoàn cán bộ chính trị

phát triển đƣợc 217 cơ sở, kết nạp 88 đảng viên, 38 đoàn viên, rút 100 thanh

niên bổ sung cho bộ độ tỉnh và huyện [85, tr.184]. Tính đến cuối năm 1970, ở

Quảng Trị, tổng số đảng viên của 5 huyện, thị xã ở vùng đồng bằng có 1.297

đảng viên (có 503 đảng viên hợp pháp) [68, tr.318], chƣa kể đảng viên ở miền

núi và trong lực lƣợng bộ đội đang tập trung ở mặt trận. Đảng bộ miền Tây

Trị - Thiên củng cố vững chắc hơn, tổ chức cơ sở Đảng đƣợc xây dựng ở

nhiều xã. Ở Nam Hƣớng Hóa (Quảng Trị) có 10 xã thành lập chi bộ thôn; có

1 xã thuộc Quận 1 (Thừa Thiên) thành lập Đảng bộ [57; tr.8]; các chi bộ ở

đồng bằng phát triển Đảng sâu trong lòng kẻ thù; chi bộ trong quân đội đƣợc

tăng cƣờng. Theo thống kê của Ban Tổ chức Khu ủy, về tổ chức cơ sở Đảng,

tháng 6-1969, có 281 thôn có đảng viên, 145 thôn có chi bộ, đến đầu năm

1970, có 442 thôn có đảng viên, 178 thôn có chi bộ, nâng tổng số chi bộ ở

đồng bằng lên 370 chi bộ, ở miền núi lên 113 chi bộ [86]. Về phát triển đảng,

76

số lƣợng đảng viên tăng nhanh, tháng 6-1969, toàn Đảng bộ khu có 14.564

đảng viên; tháng 9-1969, có 14.882 đảng viên, tháng 6-1970, có 17.062 đảng

viên [86]. Ảnh hƣởng và uy tín của Đảng phát huy sâu rộng không chỉ ở nông

thôn, rừng núi mà ở cả thành phố, không chỉ đối với quần chúng cơ bản mà

còn ảnh hƣởng tốt đối với trí thức và các tầng lớp nhân dân khác.

Trong hai năm 1969-1970, khu TTH giành nhiều thắng lợi quan trọng.

Ở miền núi, QGP tìm đƣợc phƣơng thức tác chiến của bộ đội chủ lực, làm

thất bại chiến thuật chốt điểm cao, nhảy cóc của kẻ thù; phát triển phong trào

quần chúng bắn rơi máy bay, đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”. Năm

1970, lực lƣợng vũ trang miền núi bắn rơi 71 chiếc máy bay, bắn bị thƣơng 18

chiếc [58, tr.10]; phong trào đánh biệt kích có nhiều tiến bộ; giải phóng hoàn

toàn miền núi, hỗ trợ phong trào đồng bằng và đô thị. Ở đồng bằng, đẩy lùi

một bƣớc kế hoạch “bình định”; từng bƣớc xây dựng các thôn có bốn nhân tố

cơ bản (có chi bộ; có các đoàn thể quần chúng hành động theo chủ trƣơng của

Đảng; có lực lƣợng du kích mật và chiến tranh du kích; có địa bàn đứng chân

và hành lang (căn cứ lõm)); tiêu diệt một số sinh lực và bộ máy kìm kẹp của

CQVNCH ở cấp xã, giữ vững và phát triển lực lƣợng tại chỗ trên nhiều thôn,

xã; mở hành lang từ miền núi, giáp ranh về đồng bằng, bƣớc đầu nối thế ba

vùng. Xây dựng lực lƣợng vũ trang tiến bộ trên một số mặt quan trọng nhƣ

trình độ chỉ hủy chiến dịch, chiến đấu, công tác quản lý bộ đội, công tác

Đảng, công tác chính trị, thực hiện tốt cuộc vận động nâng cao chất lƣợng

Đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh, nuôi dƣỡng thƣơng bệnh

binh... Công tác tổ chức chiến trƣờng, đảm bảo vật chất tiếp tục tiến hành, các

mặt công tác ở giáp ranh đang triển khai khẩn trƣơng hơn.

Cách mạng miền Nam từ giữa năm 1968 đến đầu năm 1970 lâm vào thế

“khó khăn, phức tạp mới, mất dân, thế và lực tiến công suy giảm” [83, tr.77]

do những sai lầm vì chậm chuyển hƣớng đấu tranh từ đô thị sang đồng bằng

sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Ở TTH, chiến tranh du

kích, đấu tranh chính trị, đánh phá bình định của địch ở đồng bằng còn yếu;

thế đứng ở giáp ranh đã xen kẽ với kẻ thù nhƣng chƣa vững, bảo đảm hậu cần

77

còn thấp; công tác tổ chức chiến trƣờng chậm, chƣa đạt yêu cầu; lực lƣợng vũ

trang ba thứ quân mất cân đối, lực lƣợng vũ trang quần chúng thôn, xã và bộ

đội địa phƣơng huyện bị tiêu hao nhiều, phát triển ít…

Năm 1970, tuy vẫn còn nhiều khó khăn nhƣng LLCM giành đƣợc thắng

lợi nhất định, bƣớc đầu tạo đƣợc thế tiến công ba vùng chiến lƣợc; chuyển

dần từ thế khó khăn, bị động trong thời kỳ cuối 1968 sang thế tiến công địch,

giữ vững niềm tin cho đảng viên và quần chúng, tạo đà tiếp tục phát triển tiến

công địch mạnh hơn trong những năm 1971-1972.

3.1.2. Kiện toàn tổ chức, lãnh đạo đấu tranh toàn diện, giải phóng

tỉnh Quảng Trị (1971-1972)

3.1.2.1. Kiện toàn tổ chức, lãnh đạo đấu tranh toàn diện, góp phần

đánh thắng chiến dịch Đường 9 - Nam Lào

Để cứu vãn tình thế thất bại, bế tắc của chiến lƣợc “Việt Nam hóa chiến

tranh”, đầu năm 1971, đế quốc Mỹ tiếp tục mở các cuộc hành quân lớn (“Lam

Sơn 719” đánh ra Đƣờng 9 - Nam Lào; “Toàn Thắng 01/71” từ Tây Ninh, Lộc

Ninh đánh lên Đông Bắc Campuchia; “Quang Trung 4” từ Tây Nguyên đánh

ra ngã ba biên giới) thực hiện âm mƣu quân sự mới; mở rộng chiến tranh ra

toàn Đông Dƣơng; tổ chức những cuộc phản kích lớn nhằm giành thắng lợi có

tính chất quyết định, chuyển biến cục diện chiến trƣờng, tạo thế ổn định cho

CQVNCH; rút thêm quân Mỹ về nƣớc để chứng minh tính khả thi của chiến

lƣợc “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Ở chiến trƣờng TTH, Mỹ thực hiện mục tiêu: triệt phá kho tàng dự trữ

chiến đấu; cắt đứt đƣờng hành lang vận chuyển chi viện từ Bắc vào Nam trên

đƣờng Hồ Chí Minh; lập tuyến ngăn chặn cuộc tiến công của QGP; thử thách

vai trò QĐVNCH trong cuộc thí nghiệm “Việt Nam hóa chiến tranh”; từng

bƣớc xuống thang chiến tranh, tiến công hạn chế ra phía Nam Quân khu IV,

tạo thế gây sức ép đối với Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm

thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CHMNVN) trên mặt trận ngoại giao.

Nắm đƣợc ý đồ và dự đoán đúng kế hoạch hành quân của đối phƣơng,

đầu tháng 8-1970, BCT và QUTW chỉ thị cho Khu ủy, Quân Khu ủy TTH và

78

Mặt trận B5 khẩn trƣơng xây dựng các phƣơng án tác chiến, mở chiến dịch

phản công quy mô, chính xác, quyết tâm đánh bại cuộc hành quân lớn của

quân Mỹ và tay sai. Mặt trận B5 chuẩn bị 3 phƣơng án: đánh quân Mỹ và tay

sai tiến công ra Nam Quân khu IV; phối hợp đánh quân Mỹ và tay sai hành

quân lên Đƣờng số 9 - Nam Lào; chủ động tiến công kẻ thù trên tuyến phòng

ngự theo kế hoạch mùa Xuân năm 1971. Bộ Chính trị cũng chỉ thị cho QUTW

và Bộ Quốc phòng: “Nhất thiết phải thắng địch trong chiến dịch này, dù có

phải động viên sức ngƣời, sức của và hy sinh nhƣ thế nào cũng phải quyết tâm

thắng lớn, vì đây là trận có ý nghĩa quyết định về chiến lƣợc” [125, tr.259].

Khu ủy TTH họp vào cuối tháng 11-1970 để quán triệt Nghị quyết của

BCT, Chỉ thị của QUTW, đánh giá tình hình, đề ra nhiệm vụ năm 1971:

Tiếp tục đẩy mạnh tấn công quân sự và chính trị, đánh bại một bƣớc

quan trọng kế hoạch bình định của địch; bảo vệ hậu phƣơng, bảo vệ

hành lang; làm chủ vững chắc vùng rừng núi, đứng chân vững chắc

ở giáp ranh, từng bƣớc làm chủ đồng bằng; chuẩn bị mọi mặt, tạo

điều kiện cho bộ đội chủ lực tấn công tiêu diệt địch; tạo thế vững

chắc giữa ba vùng, tiến tới giành thắng lợi lớn [31, tr.11-12].

Khu ủy xác định các công tác lớn: nâng cao nhận thức tƣ tƣởng chính

trị cho cán bộ, đảng viên, bộ đội và quần chúng, quán triệt sâu sắc đƣờng lối

CTND; xây dựng lực lƣợng vũ trang ba thứ quân ngày càng vững mạnh, từng

bƣớc tiêu diệt và làm lỏng thế kìm kẹp, đập vỡ từng bộ phận, phá tan từng

mảng, đẩy lùi quân Mỹ và QĐVNCH từng bƣớc, tiến tới đánh bại chiến lƣợc

bình định và “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ ở TTH, phối hợp tích cực

với các chiến trƣờng khác; xây dựng lực lƣợng chính trị rộng rãi và phát động

các phong trào đấu tranh mạnh mẽ trong nhân dân; sử dụng mọi hình thức,

mọi phƣơng tiện để tuyên truyền, làm tan rã quân Mỹ và QĐVNCH; xây

dựng hậu phƣơng tại chỗ, bảo đảm tự cấp tự túc, dân có đủ ăn và có đóng góp

cho cách mạng; chú trọng công tác xây dựng Đảng.

Ngày 30-1-1971, Mỹ tập trung 4.500 quân bao gồm tất cả các lực lƣợng

dự bị chiến lƣợc cùng với lực lƣợng cơ động của Quân khu I mở cuộc hành

79

quân “Lam Sơn 719” đánh ra Đƣờng 9 - Nam Lào. Bộ binh, thiết giáp của Mỹ

phối hợp tác chiến ở phía Nam, quân Mỹ trực tiếp chi viện hỏa lực pháo binh,

không quân và quân đội tay sai Lào phối hợp hoạt động ở phía Tây Đƣờng 9,

Mƣờng Noong. Đế quốc Mỹ dự định chỉ trong ngày thứ hai của cuộc hành

quân sẽ chiếm đƣợc Sêpôn, sau đó tiến về Xavanakhet, hình thành tuyến ngăn

chặn chia cắt Đông Dƣơng. Đây là nhận định sai lầm của đế quốc Mỹ.

Chấp hành Chỉ thị của QUTW, mệnh lệnh của Bộ Tổng Tƣ lệnh và

Khu ủy, Mặt trận B4 và Mặt trận B5 chuẩn bị tích cực từ mùa mƣa năm 1970

để có thể đánh quân Mỹ và QĐVNCH ở Đƣờng 9 - Nam Lào và vùng A Sầu,

A Lƣới (Thừa Thiên). Qua 52 ngày đêm (từ ngày 30-1 đến ngày 23-3-1971)

chiến đấu, QGP đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, giáng đòn quyết

định vào chiến lƣợc “Việt Nam hóa chiến tranh”; ý đồ cắt đứt tuyến vận

chuyển chiến lƣợc, bao vây, bóp nghẹt cách mạng miền Nam, hy vọng kết

thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ bị thất bại. Cuộc đấu tranh của ba nƣớc Đông

Dƣơng chuyển sang một bƣớc ngoặt mới, mở ra khả năng thực tế đi đến đánh

bại hoàn toàn chiến lƣợc “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Khu ủy đã lãnh đạo quân dân TTH hợp đồng chặt chẽ với các binh

đoàn chủ lực của Bộ Quốc phòng và lực lƣợng Đoàn 559, sát cánh cùng quân

dân Lào anh em, tích cực tiến công địch, góp phần xứng đáng vào thắng lợi ở

chiến dịch phản công Đƣờng 9 - Nam Lào. Sƣ đoàn 324 của Quân khu, 2 tiểu

đoàn tỉnh và một số đơn vị vũ trang các địa phƣơng của Quảng Trị có nhiều

đóng góp trong chiến dịch phản công Đƣờng 9 - Nam Lào. Sƣ đoàn 324 lập

thành tích lớn, diệt gần hết lữ đoàn 147, đánh quỵ trung đoàn 3, đánh thiệt hại

nặng lữ đoàn 258 của QĐVNCH, diệt 3.900 tên, bắn rơi và phá hủy 154 máy

bay, 150 xe, phá 45 khẩu pháo, thu 460 súng các loại [85, tr.192]. Bộ đội địa

phƣơng, dân quân du kích và quần chúng nhân dân ở các huyện Hƣớng Hóa,

Gio Linh, Cam Lộ phối hợp với bộ đội chủ lực đánh kẻ thù ở nhiều nơi.

Sau thất bại của cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, thế và lực của quân

Mỹ và QĐVNCH suy sụp và yếu dần. Để cứu vãn tình hình, trấn an tinh thần

binh lính và thăm dò tình hình lực lƣợng của QGP, Mỹ tổ chức các cuộc hành

80

quân lên miền Tây TTH và các buổi lễ ăn mừng “thắng lợi” giả tạo của cuộc

hành quân “Lam Sơn 719”; tiếp tục thực hiện âm mƣu, thủ đoạn bình địch

khốc liệt ở đồng bằng, ngăn chặn vùng giáp ranh; ra sức đôn quân, bắt lính để

bổ sung quân số; ráo riết hoạt động cho cuộc bầu cử tổng thống CQVNCH.

Các cuộc hành quân của quân Mỹ và tay sai đều bị QGP chặn đánh tiêu

hao, tiêu diệt làm cho đối phƣơng không thực hiện đƣợc kế hoạch đánh phá

hậu cứ. Qua năm tháng chiến đấu, số trận đánh của QGP và sinh lực quân Mỹ

và QĐVNCH bị tiêu diệt tăng gấp hai lần so với cùng kỳ năm 1970.

Nắm bắt tình hình đó, tháng 6-1971, Khu ủy và Đảng ủy Bộ Tƣ lệnh

Quân khu TTH mở hội nghị đánh giá tình hình, đề ra nhiệm vụ: tích cực làm

thay đổi tƣơng quan lực lƣợng ở đồng bằng, củng cố hậu phƣơng; tiếp tục đẩy

mạnh đấu tranh quân sự, chính trị; đẩy lùi một bƣớc kế hoạch “bình định”,

khôi phục thế chiến lƣợc ba vùng; tiếp tục đẩy mạnh công tác tổ chức chiến

trƣờng, củng cố hậu phƣơng miền núi; củng cố lực lƣợng vũ trang ba thứ

quân, chú trọng quân chủ lực.

Thực hiện chủ trƣơng của các cấp ủy Đảng, từ giữa năm 1971 phong

trào cách mạng toàn khu có nhiều tiến bộ: Đánh bại cuộc hành quân “Lam

Sơn 720” của quân Mỹ và QĐVNCH lên vùng A Vai - Tà Lƣơng; phong trào

đánh phá bình định đẩy mạnh hơn trƣớc; cuối năm 1971 đƣa số thôn tranh

chấp với kẻ thù lên 117/841 thôn, 472/841 thôn có cơ sở quần chúng; 40 xã ở

giáp ranh có trung bình 15 du kích bí mật và công khai ở mỗi xã [85, tr.196];

thực hiện tốt việc bồi dƣỡng tƣ tƣởng chính trị, tiếp tục thực hiện cuộc vận

động “Nâng cao chất lƣợng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí

Minh”; phân bố lại lực lƣợng vũ trang, tăng cƣờng bộ đội huyện và du kích

xã; chú trọng hơn việc làm đƣờng cơ giới 71, 72, 73 và đẩy mạnh sản xuất tự

túc; phong trào đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển mạnh, đặc biệt là ở thành

phố Huế.

Từ năm 1970 đến năm 1971, thực hiện Chỉ thị về phát động phong trào

đấu tranh đô thị của BCT, phong trào ở Huế diễn ra sôi nổi, rầm rộ với các

khẩu hiệu chính: “Hòa bình, hòa hợp dân tộc”, “Mỹ rút hết quân”, “Thiệu

81

phải từ chức”, “Ủng hộ 7 điểm của phái đoàn Chính phủ ta tại cuộc hội đàm ở

Pari”… Từ tháng 5 đến cuối tháng 12-1971, ở Huế diễn ra 66 cuộc đấu tranh

công khai với quy mô vừa và lớn, trong đó nhiều cuộc có tổ chức lãnh đạo và

huy động đƣợc 10 vạn lƣợt ngƣời tham gia [71, tr.191]. Các cuộc đấu tranh

diễn ra liên tục, hình thức phong phú từ tọa đàm, hội thảo, “hát cho đồng bào

tôi nghe”, míttinh, biểu tình, bãi khóa, bãi chợ… đến những hình thức quyết

liệt khác nhƣ chặn đánh xe Mỹ, phá phòng thông tin và tòa lãnh sự Mỹ…

Trong quá trình đấu tranh, MTDTGP và Liên minh các lực lƣợng dân tộc, dân

chủ và hòa bình khu TTH tiếp tục phát triển thêm các tổ chức cách mạng của

quần chúng: Phong trào phụ nữ đòi quyền sống (4-1971), Mặt trận nhân dân

tranh thủ hòa bình Thừa Thiên (5-1971), Ban Chỉ đạo sinh viên (7-1971),

Phong trào dân tộc tự quyết (7-1971), Ủy ban nhân dân chống gian lận bầu

cử (7-1971), Mặt trận văn hóa dân tộc miền Trung (8-1971)… Các tổ chức

yêu nƣớc này tích cực đấu tranh chống đế quốc Mỹ và CQVNCH, góp phần

vào thắng lợi chung của nhân dân TTH. Qua đấu tranh, QGP liên kết đƣợc

một mặt trận chống Mỹ - Thiệu rộng rãi, kể cả trong hàng ngũ kẻ thù, hậu

phƣơng của Mỹ - Thiệu ngày càng hỗn loạn.

Về công tác kiện toàn tổ chức, tháng 4-1971, Bí thƣ Khu ủy Hoàng Anh

đƣợc Trung ƣơng giao nhiệm vụ làm Phó Thủ tƣớng Chính phủ, Ban Bí thƣ

Trƣơng ƣơng Đảng chỉ định Thiếu tƣớng Trần Văn Quang - Phó Bí thƣ Khu

ủy lên làm Bí thƣ Khu ủy thay đồng chí Hoàng Anh.

Để phù hợp với tình hình thực tiễn của chiến trƣờng TTH và đáp ứng

yêu cầu của cách mạng trong mỗi tỉnh, căn cứ vào đề nghị của Khu ủy TTH,

tháng 6-1971, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng quyết thành lập lại Tỉnh ủy Thừa

Thiên Huế (trƣớc đây là Thừa Thiên) và Tỉnh ủy Quảng Trị; giải thể Đảng ủy

miền Tây Trị - Thiên và Đảng ủy các Đoàn (các Mặt trận). Thƣờng vụ Tỉnh

uỷ Thừa Thiên Huế gồm 7 đồng chí do ông Nguyễn Vạn - Khu ủy viên làm

Bí thƣ Tỉnh ủy; ba Phó Bí thƣ Tỉnh ủy: Vũ Thắng - Khu ủy viên dự khuyết,

Tống Hoàng Nguyên, Hoàng Lanh; ba ủy viên Thƣờng vụ: Nguyễn Chi, Lê

Sáu, Phan Nam [79, tr.189]. Thƣờng vụ Tỉnh ủy Quảng Trị gồm 6 đồng chí

82

do ông Hồ Sĩ Thành (Hồ Sĩ Thản) - Khu ủy viên làm Bí thƣ Tỉnh ủy; hai Phó

Bí thƣ Tỉnh ủy: Nguyễn Thủy, Nguyễn Đức Dũng; ba ủy viên Thƣờng vụ:

Nguyễn Thƣ, Nguyễn Văn Lƣơng, Vũ Bình [68, tr.327].

Từ tháng 6-1971, Khu ủy gồm có các tổ chức trực thuộc sau: Quân Khu

ủy Trị - Thiên - Huế, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, Tỉnh ủy Quảng Trị. Thành ủy

Huế trực thuộc Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế. Các cơ quan cấp dƣới Tỉnh ủy đƣợc

tổ chức nhƣ các giai đoạn trƣớc.

Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế và Tỉnh ủy Quảng Trị thành lập lại, đáp ứng

nguyện vọng của nhân dân, thể hiện sự thống nhất cao và sức mạnh chính trị

to lớn, tạo nên một chiến trƣờng liên hoàn ba vùng chiến lƣợc, huy động đƣợc

trí tuệ chỉ đạo, sức mạnh của CTND.

Trong năm 1971, Khu ủy lãnh đạo nhân dân khắc phục khó khăn, đẩy

mạnh hoạt động trên các mặt, vừa đánh quân Mỹ và QĐVNCH, vừa xây dựng

lực lƣợng, vừa tổ chức chiến trƣờng, bƣớc đầu hình thành thế chiến lƣợc mới

liên hoàn trên ba vùng, chiến trƣờng ngày càng ổn định và có đà tiến công.

Phong trào TTH còn nhƣợc điểm, nông thôn đồng bằng yếu cả về thế và lực,

thế làm chủ ở đồng bằng còn thấp, thế giáp ranh chƣa vững chắc; ba thứ quân

phối hợp yếu, lực lƣợng vũ trang quần chúng và bộ đội huyện chƣa mạnh;

miền núi chƣa phát huy hết sức mạnh của chủ lực.

Có đƣợc kết quả trên nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Khu ủy; sự kiên trì,

nỗ lực vƣợt bậc và sự hy sinh của quân dân TTH. Thành tích đó là cơ sở quan

trọng để quân dân TTH tiến lên giành thắng lợi lớn trong năm 1972.

3.1.2.2. Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong cuộc tiến công chiến lược

Xuân - Hè 1972, giải phóng tỉnh Quảng Trị

Năm 1972, LLCM bƣớc sang thời kỳ đấu tranh mới. Ở TTH, Mỹ từng

bƣớc rút quân nhƣng QĐVNCH còn nhiều: 2 sƣ đoàn; 2 lữ đoàn thủy quân

lục chiến, tƣơng đƣơng 27 tiểu đoàn bộ binh; 3 trung đoàn xe tăng thiết giáp

(584 xe, 95 xe tăng); 5 trung đoàn pháo (14 tiểu đoàn) với 285 khẩu pháo; 94

đại đội bảo an; 302 trung đội dân vệ; 5.100 cảnh sát; 144 đoàn bình định;

13.000 lính phòng vệ dân sự [85, tr.199]. Quân Mỹ và QĐVNCH tăng cƣờng

83

củng cố tuyến phòng ngự đề phòng QGP mở đợt tiến công lớn trong Đông -

Xuân; bình định đồng bằng và chủ quan phán đoán rằng trong năm 1972, ở

chiến trƣờng TTH, QGP chỉ đánh vừa nhằm giam chân, thu hút chủ lực của

chúng để phối hợp với chiến trƣờng chính ở Nam Bộ.

Với tầm nhìn chiến lƣợc, thấy rõ sự phát triển của cách mạng trên đà

thắng lợi ở cả ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, đế quốc Mỹ có chiều

hƣớng lún sâu vào thế bị động, lúng túng, tháng 5-1971, BCT nhận định: phát

triển thế tiến công chiến lƣợc mới trên toàn chiến trƣờng miền Nam, đánh bại

chiến lƣợc “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, chuẩn bị giành thắng lợi

quyết định trong năm 1972, tạo một bƣớc chuyển căn bản làm thay đổi hẳn

cục diện chiến tranh “buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng

thƣơng lƣợng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị kiên trì và đẩy mạnh

kháng chiến trong trƣờng hợp chiến tranh còn kéo dài” [221, tr.514]. Tháng 8-

1971, BCT ra Nghị quyết về mở cuộc tiến công chiến lƣợc năm 1972 trên các

hƣớng Đông Nam Bộ, TTH, Tây Nguyên và hình thành một cuộc tiến công

toàn Miền để tiêu diệt lớn quân Mỹ và QĐVNCH, mở rộng vùng giải phóng.

Miền Đông Nam Bộ đƣợc BCT xác định là hƣớng chủ yếu vì đánh Mỹ và tay

sai ở đây sẽ tác động mạnh đến Sài Gòn. Công tác chuẩn bị cho đợt hoạt động

quân sự lớn đƣợc gấp rút tiến hành.

Báo cáo của BCT tại Hội nghị lần thứ 20 của Trung ƣơng Đảng (2-

1972), sau khi đánh giá những thắng lợi của LLCM trên chiến trƣờng và

những thất bại, khó khăn của Mỹ, nêu rõ: “Nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nƣớc là

nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta lúc này” [121,

tr.37]. Bộ Chính trị chủ trƣơng, đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị trên

cả ba vùng chiến lƣợc ở miền Nam và đoàn kết, phối hợp chiến đấu chặt chẽ

với nhân dân hai nƣớc bạn (Lào, Campuchia), kiên quyết đánh bại chiến lƣợc

“Việt Nam hóa chiến tranh” và “Học thuyết Níchxơn”, “giành thắng lợi to

lớn, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh trên thế thua bằng một giải

pháp chính trị có lợi cho ta mà chúng phải có và có thể chấp nhận đƣợc” [121,

tr.144]. Hội nghị nêu rõ phải tiến công đối phƣơng bằng ba đòn chiến lƣợc:

84

“Đòn chiến lƣợc của bộ đội chủ lực trên những chiến trƣờng có lợi; đòn

chiến lƣợc tiến công và nổi dậy ở vùng nông thôn đồng bằng; đòn đấu tranh

cách mạng của quần chúng ở các thành thị”[121, tr.43]. Nhiệm vụ của đòn

chiến lược thứ nhất là “tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lƣợng quân

ngụy, phá vỡ từng bộ phận thế bố trí phòng ngự của địch, mở rộng vùng giải

phóng” [121, tr.43]; nhiệm vụ của đòn chiến lược thứ hai là “kết hợp tiến

công quân sự, chính trị và binh vận, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du

kích và phong trào nổi dậy của quần chúng… Cần ra sức tăng cƣờng lực

lƣợng ở cơ sở: các tổ chức đảng và tổ chức quần chúng, lực lƣợng du kích và

bộ đội địa phƣơng” [121, tr.43-44]; nhiệm vụ của đòn chiến lược thứ ba là

“phải động viên, tập trung và tổ chức quần chúng rộng rãi, nhanh chóng hình

thành đội quân chính trị đông đảo, kết hợp đấu tranh cách mạng của quần

chúng với việc khoét sâu và lợi dụng mâu thuẫn nội bộ địch” [173, tr.12].

Hội nghị nhấn mạnh: “Về thực chất, các đòn chiến lƣợc nói trên là nội dung

cụ thể của CTND ở miền Nam nƣớc ta trong tình hình mới” [121, tr.77]. Do

đó, phải “động viên toàn lực, cố gắng vƣợt bậc, kịp thời nắm vững thời cơ

thuận lợi và tạo nên thời cơ mới” [121, tr.143].

Từ việc phân tích tình hình quốc tế và trong nƣớc trong Báo cáo của

BCT (2-1972), Hội nghị Trung ƣơng 20 cho rằng: “Năm 1972 là năm hết sức

quan trọng trong cuộc đấu tranh giữa ta và địch trên cả ba mặt trận quân sự,

chính trị và ngoại giao. So sánh lực lƣợng và thế chiến lƣợc trên các chiến

trƣờng đang thay đổi ngày càng có lợi cho ta. Chúng ta đang đứng trƣớc thời

cơ thuận lợi để đƣa cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ” [121, 143].

Hội nghị Khu ủy (2-1972) nhận định: “Thế và lực của địch trong khu

suy yếu nhanh chóng và toàn diện”, “thế và lực của ta ở miền núi, nông thôn,

đồng bằng và thành thị, đã và đang phát triển nhanh” [50, tr.58], “tình thế

cách mạng trong khu có biến đổi về chất; những triệu chứng suy sụp và tan rã

của chế độ Mỹ - ngụy xuất hiện ngày càng nhiều, thời kỳ trực tiếp cho cuộc

tổng tiến công và nổi dậy đã bắt đầu” [50, tr.59]. Khu ủy chủ trƣơng: Động

viên toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân nỗ lực vƣợt bậc, tập trung mọi khả

85

năng, phối hợp với bộ đội chủ lực cấp trên, “tiêu diệt và làm tan rã một bộ

phận quan trọng sinh lực và phƣơng tiện chiến tranh, đánh vỡ từng mảng hệ

thống phòng ngự của địch, giành lại thế đứng chân thật vững chắc ở giáp

ranh, khống chế hậu cứ giao thông địch, đánh bại về cơ bản kế hoạch bình

định, tiến lên giải phóng đồng bằng” [50, tr.60]; xây dựng vành đai vũ trang

và chính trị ở vùng ven, phát động đấu tranh chính trị ở thành thị; xây dựng

lực lƣợng mọi mặt, phát triển thế kết hợp “hai chân”, “ba mũi”, “ba vùng”,

“ba thứ quân” vững chắc, làm chuyển mạnh so sánh lực lƣợng có lợi cho

QGP, thay đổi hẳn cục diện chiến trƣờng; “tích cực chuẩn bị phát triển thế tấn

công về phía Nam, nếu có điều kiện thuận lợi thì giải phóng TTH” [50, tr.60].

Đồng thời, Khu ủy cũng chú trọng đến công tác củng cố, xây dựng hậu

phƣơng, căn cứ địa cách mạng và vùng mới giải phóng; phát triển kinh tế, văn

hóa; ra sức xây dựng lực lƣợng toàn diện; đảm bảo an ninh; củng cố tổ chức,

tăng cƣờng lãnh đạo, nhất là tỉnh và huyện.

Ngày 11-3-1972, sau khi xem xét tình hình chiến trƣờng, Thƣờng vụ

QUTW quyết định tiến hành cuộc tiến công chiến lƣợc năm 1972, hƣớng chủ

yếu là chiến trƣờng TTH. Ngày 13-3-1972, Đảng ủy Bộ Tƣ lệnh chiến dịch

tiến công Trị - Thiên (lấy phiên hiệu là B702) đƣợc thành lập. Bộ Chính trị và

QUTW quyết định Bộ Tƣ lệnh chiến dịch gồm các ông: Lê Trọng Tấn, Tƣ

lệnh chiến dịch; Lê Quang Đạo, Chính ủy; các Phó Tƣ lệnh chiến dịch gồm:

Cao Văn Khánh, Giáp Văn Cƣơng, Doãn Tuế, Hồng Sơn, Lƣơng Nhân, Anh

Đệ; các Phó Chính ủy gồm: Hoàng Minh Thi, Lê Tự Đồng. Đảng ủy chiến

dịch do ông Lê Quang Đạo làm Bí thƣ. Tham gia Đảng ủy còn có Bí thƣ Tỉnh

ủy Quảng Trị. Đồng chí Văn Tiến Dũng đƣợc chỉ định là đại diện QUTW ở

hƣớng chiến lƣợc này [93, tr.14-15].

Bộ Chính trị và QUTW vạch ra phƣơng hƣớng tiến công chiến lƣợc,

quyết định lấy chiến trường TTH làm hướng tiến công quan trọng, về sau

chuyển thành hướng chủ yếu và triển khai thành một chiến dịch quy mô lớn,

một chiến dịch hợp đồng binh chủng - tổng hợp cả quân sự và chính trị.

Nhiệm vụ của chiến dịch tiến công TTH:

86

Tiêu diệt 2 sƣ đoàn, đánh thiệt hại 1 sƣ đoàn khác của địch; phối

hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng ở đồng bằng, đẩy

mạnh phong trào đô thị và công tác binh vận, tiêu diệt và làm tan rã

đại bộ phận lực lƣợng bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự, đánh bại kế

hoạch bình định; giải phóng phần lớn địa bàn TTH, có điều kiện thì

kiên quyết giải phóng hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế; tiêu

diệt, phân tán, giam chân, thu hút lực lƣợng địch, phối hợp với các

chiến trƣờng khác toàn miền Nam; đẩy địch lún sâu vào thế bị động,

tạo lợi thế trên bàn đàm phán ở Pari [134, tr.9].

Chấp hành mệnh lệnh của QUTW, Bộ Tƣ lệnh chủ trƣơng mở hai chiến

dịch kế tiếp, hƣớng chính là Mặt trận Quảng Trị, hƣớng phối hợp là Mặt trận

Thừa Thiên: Chiến dịch 1 tiêu diệt quân Mỹ và QĐVNCH, giải phóng Quảng

Trị; Chiến dịch 2 cùng Mặt trận B4 giải phóng Thừa Thiên Huế.

Khu ủy và Bộ Tƣ lệnh Quân khu động viên quân dân TTH, phối hợp

chặt chẽ với chủ lực Bộ Tổng Tƣ lệnh, phấn đấu đạt mức một (giải phóng

Quảng Trị) và tiến lên mức hai (giải phóng Thừa Thiên Huế). Ở chiến trƣờng

TTH, sang năm 1972, hình thành chiến dịch tổng hợp giữa đòn tiến công của

chủ lực Bộ Tổng Tƣ lệnh với đòn tiến công nổi dậy của CTND địa phƣơng.

Cuối tháng 3-1972, Thƣờng vụ Tỉnh ủy Quảng Trị mở Hội nghị tiếp

thu Nghị quyết Đảng ủy Bộ Tƣ lệnh chiến dịch TTH và quyết tâm:

Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của chủ lực phát huy cao độ đòn

nổi dậy của quần chúng, tiêu diệt và làm tan rã hệ thống kìm kẹp của

địch, hình thành mặt trận tiến công rộng khắp nhằm tiêu diệt, làm tan

rã lực lƣợng bảo an, dân vệ, ngụy quyền, từng bƣớc giải phóng đất đai,

tiến tới giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị [68, tr.340-341].

Khu ủy, Bộ Tƣ lệnh Quân khu TTH, một mặt chỉ thị cho các lực lượng

vũ trang Quảng Trị chủ động phối hợp, mặt khác chỉ đạo các lực lượng vũ

trang và nhân dân Thừa Thiên Huế tích cực đánh phá bình định của quân Mỹ

và QĐVNCH trên diện rộng, đẩy mạnh phong trào ở thành phố, phát triển

87

mạnh thế trận ba vùng để đón thời cơ. Khi thời cơ đến thì áp sát Huế, chia cắt

bao vây thành phố và các cụm còn lại của đối phƣơng.

Cuộc tiến công chiến lƣợc năm 1972 ở TTH diễn ra hai đợt (thực tế là

hai chiến dịch). Đợt thứ nhất (từ ngày 30-3 đến 26-6-1972), tiến công, giải

phóng tỉnh Quảng Trị, phát triển vào giải phóng tỉnh Thừa Thiên Huế. 11 giờ

ngày 30-3-1972, tiếng súng mở màn chiến dịch tiến công bắt đầu tại Quảng

Trị. Sau năm ngày, toàn bộ hệ thống phòng ngự vòng ngoài của quân Mỹ và

QĐVNCH ở Mặt trận Đƣờng 9 nhanh chóng bị phá vỡ, giải phóng hai huyện

Gio Linh và Cam Lộ. Ngày 27-4-1972, QGP tiến công bƣớc 2, tiêu diệt hoàn

toàn tập đoàn phòng ngự của kẻ thù ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang, thị xã

Quảng Trị. Ngày 01-5-1972, tỉnh Quảng Trị hoàn toàn giải phóng.

Ở Thừa Thiên Huế, bộ đội địa phƣơng tỉnh và lực lƣợng vũ trang huyện

Phú Lộc, tăng cƣờng đánh cắt giao thông trên Đƣờng số 1 (đoạn Nam Phú

Lộc); bộ đội địa phƣơng, du kích và cán bộ luồn sâu về đồng bằng, phát động

quần chúng nổi dậy đánh phá bình định, diệt ác ôn, giành quyền làm chủ, phá

hủy một phần thế kìm kẹp, nhất là ở hai huyện Phong Điền và Quảng Điền.

Kết thúc đợt thứ nhất, tỉnh Quảng Trị và ba xã thuộc huyện Phong Điền

(Thừa Thiên Huế) đƣợc giải phóng. Quảng Trị là tỉnh đầu tiên được hoàn

toàn giải phóng trong cuộc kháng chiến trƣờng kỳ chống lại đế quốc “sen

đầm quốc tế”, đƣợc xem là mạnh nhất vào thời điểm đó. Thắng lợi này buộc

đối phƣơng phải thừa nhận: “Quân Sài Gòn đã tháo lui rất hỗn độn khỏi các

căn cứ hỏa lực bố trí dọc theo khu phi quân sự… Một trung đoàn quân Sài

Gòn có chặn họ ở phía Bắc Quảng Trị nhƣng đã bị thiệt hại nặng. Thị xã này

thất thủ khi các binh sĩ phòng thủ kinh hoàng tháo chạy về hƣớng cửa ngõ

Huế” [130, tr.51]. “Cộng sản tấn công với tốc độ nhanh và chính xác. Quân

đội của họ đã đạt đƣợc một chiến thắng nhanh nhƣ chớp” [2, tr.18].

Đợt thứ 2 (từ ngày 28-6-1972 đến ngày 27-1-1973), đánh quân Mỹ và

QĐVNCH phản công chiếm lại vùng giải phóng Quảng Trị, tiến hành phòng

ngự tiêu hao, tiêu diệt kẻ thù, giữ vững vùng giải phóng. Trên mặt trận Quảng

Trị, bƣớc 1 (từ ngày 28-6 đến 16-9-1972), quân Mỹ và tay sai vƣợt sông Mỹ

88

Chánh mở cuộc phản công quy mô lớn (bao gồm 2 sƣ đoàn cơ động chiến

lƣợc) nhằm chiếm lại thị xã Quảng Trị - tạo thế về quân sự cho cuộc đàm

phán ở Pari; QGP giữ thị xã, liên tục phản công từ các hƣớng và hai bên sƣờn

phía Đông và phía Tây. Sau 81 ngày đêm QGP chiến đấu quyết liệt để giữ

vững vùng giải phóng và thị xã Quảng Trị, quân Mỹ và QĐVNCH thiệt hại

nặng nhƣng chiếm lại Thành cổ Quảng Trị và huyện Hải Lăng. Bƣớc 2 (từ

ngày 17-9-1972 đến 27-1-1973), kẻ thù tiếp tục lấn chiếm phía Đông và phía

Tây, vƣợt sông Nhan Biều - Ái Tử, lấn chiếm vùng giải phóng; QGP đánh bật

quân Mỹ ở Nhan Biều - Ái Tử, chặn ở hƣớng Tích Tƣờng - Nhƣ Lệ.

Trên mặt trận Thừa Thiên Huế, QGP tiến công làm chủ Động Tranh,

cao điểm 372, Sơn Na; đánh sâu vào các hậu cứ của Mỹ và CQVNCH ở đồn

Mang Cá, sân bay Tây Lộc, Phú Bài, gây cho đối phƣơng nhiều thiệt hại

nhƣng sức chiến đấu của QGP càng ngày càng giảm sút, không thực hiện

đƣợc kế hoạch đề ra.

Đợt 2 diễn ra 218 ngày đêm, lúc đầu QGP chủ trƣơng chuyển từ chiến

dịch tiến công sang chiến dịch phản công. Khi nhận thấy quân Mỹ và

QĐVNCH đang mạnh, QGP chuyển dần sang chiến dịch phòng ngự. Đây là

chủ trương đúng đắn, kịp thời. Nhờ đó, QGP có thể củng cố lực lƣợng, kiên

cƣờng đánh trả các cuộc tiến công của đối phƣơng, bảo vệ vùng giải phóng,

giữ vững thế trận. Sự kiện QGP rút khỏi Thành cổ “trên thực tế không ảnh

hƣởng nhiều đến thế trận ngay tại Trị - Thiên cũng nhƣ cục diện chiến trƣờng

trên toàn miền Nam giữa ta và địch” [134, tr.11]. Đế quốc Mỹ tuy đạt đƣợc

mục tiêu chiếm lại thị xã Quảng Trị nhƣng “không vì thế mà sức mạnh quân

sự của chúng tăng lên, không vì thế mà có thể thay đổi đƣợc thế trận, giành

đƣợc quyền chủ động chiến lƣợc trên chiến trƣờng” [134, tr.11] và cũng

không thể dựa vào đó để gây “sức ép” với Chính phủ VNDCCH và Chính phủ

Cách mạng lâm thời CHMNVN tại bàn đàm phán ở Pari.

Trong năm 1972, toàn khu TTH tập trung, ƣu tiên hàng đầu thực hiện

cuộc tiến công chiến lƣợc nhƣng ở các mặt hoạt động khác phối hợp cùng lĩnh

vực đấu tranh vũ trang cũng phát triển mạnh và đạt nhiều kết quả đáng kể.

89

Về công tác dân vận, đấu tranh chính trị, tháng 3-1972, Tỉnh ủy Thừa

Thiên Huế ra Chỉ thị về kế hoạch dân vận Xuân - Hè 1972, nêu rõ: “phát động

phong trào đấu tranh của quần chúng nổi dậy đánh phá bình định bằng ba mũi

giáp công nhằm phá lỏng, đến phá rã thế kìm kẹp của địch, từng bƣớc giành

quyền làm chủ của quần chúng” [72]. Trong tháng 4 và 5-1972, Ủy ban

MTDTGP tỉnh Thừa Thiên Huế đã phát động quần chúng ở 175 thôn trong

phạm vi 33 xã, khoảng 4 vạn dân [216, tr.319] bằng các hình thức vũ trang

tuyên truyền, mittinh, hội họp, gửi thƣ, tài liệu hoặc cán bộ bồi dƣỡng cơ sở.

Ở thành phố Huế, học sinh, sinh viên phổ biến nhiều tập san, báo chí có nội

dung binh vận. Đến cuối năm 1972, toàn tỉnh có 470 cuộc đấu tranh chính trị

lớn nhỏ với khoảng 55.000 lƣợt ngƣời tham gia [216, tr.321].

Ở Quảng Trị, trƣớc cuộc tiến công chiến lƣợc 1972, Ủy ban MTDTGP

tỉnh Quảng Trị gửi thƣ kêu gọi toàn thể đồng bào trong tỉnh: “Đoàn kết nhất

trí, trên dƣới một lòng, nhất hô bá ứng, gắn bó tình nghĩa xóm thôn, chuyện

cũ bỏ qua, cùng nhau “đấu cật chung lƣng”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy

nhào”” [228, tr.214-215]. Nhân dân Quảng Trị tích cực hƣởng ứng lời kêu

gọi, đóng góp xứng đáng vào chiến công giải phóng tỉnh nhà. Ngày 5-6-1972,

Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Quảng Trị gồm 13 đại biểu đƣợc thành lập:

Lê Bổ (Lê San) làm Chủ tịch; Nguyễn Thƣ (Nguyễn Sanh) làm Phó Chủ tịch;

11 ủy viên: Nguyễn Tập, Phan Văn Khánh, Hùng Sơn, Hoàng Phủ Ngọc

Tƣờng, Trần Phố, Lê Ngọc Uynh, Trần Quang Huy, Hồ Văn Lôi, Nguyễn

Hoành, Hồ Văn Xinh, Nguyễn Thị Bảo [68, tr.359].

Dƣới sự lãnh đạo của Khu ủy, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân cách mạng

tỉnh Quảng Trị động viên nhân dân tiếp tục chiến đấu, bảo vệ quê hƣơng, tổ

chức đời sống nhân dân. Sự kiện này có ý nghĩa lớn đối với đời sống chính trị

của nhân dân Quảng Trị nói riêng và toàn miền Nam nói chung vì đây là Ủy

ban nhân dân cách mạng đầu tiên ra đời ở miền Nam trong cuộc KCCMCN.

Công tác binh vận đạt nhiều kết quả tốt. Ở tỉnh Quảng Trị, trong chiến

đấu, QGP vận động Ban Chỉ huy liên quân biệt động của kẻ thù đầu hàng, dẫn

550 sĩ quan, binh lính về với lực lƣợng cách mạng; ở huyện Hải Lăng, trong

90

năm ngày vận động, kêu gọi 450 phòng vệ dân sự về nhà làm ăn, nộp lại 216

súng các loại, 150 dân vệ mang theo súng về với cách mạng; ở xã Hải Thƣợng

có mẹ vận động đƣợc một tiểu đoàn nộp súng cho cách mạng [228, tr.221]. Ở

tỉnh Thừa Thiên Huế, nhiều cơ sở nội tuyến phát triển mạnh, lôi kéo đƣợc

nhiều QĐVNCH quay súng về với cách mạng, tiêu biểu ở Ấp 5 - Phú Bài -

Hƣơng Thủy đã phát triển hơn 100 cơ sở nội tuyến; ở xã Mỹ Thủy (Hƣơng

Thủy) vận động cả tiểu đội phòng vệ trả súng về nhà làm ăn…

Thực hiện Chỉ thị về vấn đề đấu tranh lợi dụng kinh tế địch, xây dựng

kinh tế tự chủ của ta (cuối năm 1971) của Khu ủy và Chỉ thị tối khẩn số

20b/A200 ngày 23-4-1972 của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, công tác xây dựng

hậu phƣơng, phát triển kinh tế trong toàn Khu cũng phát triển mạnh mẽ, giành

đƣợc nhiều thành tựu, góp phần tích cực vào cuộc tấn công chiến lƣợc 1972.

Mối quan hệ giữa Khu ủy với Đoàn ủy 559, Khu ủy IV, Khu ủy Vĩnh

Linh, Tỉnh ủy Quảng Bình đƣợc tăng cƣờng. Cục vận tải thuộc Đoàn 559,

đoàn vận tải Quân khu IV, cùng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến

của khu vực Quảng Bình, Vĩnh Linh vận chuyển vƣợt cung 16.020 tấn hàng

phục vụ chiến dịch Trị - Thiên năm 1972. Tỉnh Quảng Bình “sử dụng 100%

lao động ngành thủy sản, hàng chục nghìn lao động nghề cá làm nhiệm vụ vận

tải quân sự trên các tuyến sông, biển, hàng chục nghìn thanh niên xung

phong, dân công và nhân dân các xã ven các tuyến đều lên mặt đƣờng”; hầu

hết nhà dân, đền chùa “trở thành kho tàng, bến, bãi” [168, tr.332].

Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, công tác xây dựng Đảng vẫn đƣợc

coi trọng. Cán bộ Đảng từ các cơ quan đóng ở miền núi về đồng bằng để kịp

thời chỉ đạo phong trào cách mạng. Trong các huyện, xã, các Đảng bộ, chi bộ

không ngừng chăm lo xây dựng, củng cố và phát triển lực lƣợng chính trị, vũ

trang, thực lực tại chỗ. Các cơ sở Đảng liên tục củng cố về tổ chức, chấn

chỉnh, uốn nắn những tƣ tƣởng lệch lạc của các bộ, đảng viên. Nhiều đồng chí

đoàn viên, thanh niên nhiệt tình, hăng say công tác, chiến đấu, có phẩm chất,

đạo đức tốt đƣợc đƣa vào đối tƣợng để kết nạp Đảng. Các tổ chức Đảng ngày

càng lớn mạnh về mọi mặt, vững vàng lãnh đạo phong trào cách mạng.

91

Trong cuộc tiến công chiến lƣợc năm 1972, chiến trƣờng TTH giành

đƣợc thắng lợi: Tiêu diệt sinh lực lớn về quân số và phƣơng tiện chiến tranh

của đối phƣơng; giữ vững vùng giải phóng ở tỉnh Quảng Trị và miền Tây tỉnh

Thừa Thiên Huế; bộ đội trƣởng thành đáng kể trong tổ chức chỉ huy chiến

dịch tổng hợp và tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Cuộc tiến công

còn hạn chế: Tổ chức chuẩn bị chiến trƣờng chƣa đầy đủ nhất là ở phía Tây

nên không tận dụng đƣợc thế hiểm từ phía Tây Nam đánh xuống để thực hiện

chia cắt quân Mỹ và tay sai; khi kẻ thù phản kích, QGP không sớm thay đổi

cách đánh cho phù hợp, nhập nhằng giữa phản công và phòng ngự nên không

giữ đƣợc toàn vẹn tỉnh Quảng Trị... Ở Thừa Thiên Huế, không thực hiện tốt

nhiệm vụ phối hợp tác chiến giữa các trận địa, chƣa giải phóng đƣợc tỉnh nhƣ

kế hoạch ban đầu; không lợi dụng đƣợc thời cơ đối phƣơng dao động sau thất

bại ở Quảng Trị để đấu tranh đƣa phong trào đồng bằng lên cao hơn.

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lƣợc Trị - Thiên năm 1972, cùng

với chiến thắng ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và chiến công của miền Bắc

trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai mà đỉnh cao là đánh bại cuộc tập

kích đƣờng không chiến lƣợc của Mỹ mang mật danh “Linebaker II” bằng

máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phƣơng trên miền Bắc (từ

ngày 18 đến ngày 30-12-1972), buộc đế quốc Mỹ phải trở lại bàn đàm phán,

ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (27-1-

1973) tại Pari, chấp nhận rút quân khỏi miền Nam. Sự kiện này làm thay đổi

cục diện chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, đánh dấu bƣớc ngoặt quan trọng

quyết định đến thắng lợi của cuộc KCCMCN của nhân dân Việt Nam.

Để góp phần vào thắng lợi trên, Khu ủy đã lãnh đạo xây dựng tổ chức

Đảng và LLCM ngày càng phát triển mạnh; phối hợp tác chiến hợp đồng binh

chủng quy mô lớn hiệu quả với bộ đội chủ lực, phát huy sức mạnh của nổi

dậy với tiến công trong chiến dịch Trị - Thiên; nhanh chóng xây dựng chính

quyền cách mạng, phát triển lực lƣợng vũ trang, lực lƣợng chính trị địa

phƣơng; tổ chức sơ tán hơn 8 vạn dân Quảng Trị ra Vĩnh Linh, Quảng Bình,

sau đó nhanh chóng đƣa về ổn định đời sống. Đảng bộ, chiến sĩ và nhân dân

92

TTH nói chung, Quảng Trị nói riêng đã đóng góp trí tuệ, sức ngƣời, sức của

to lớn vào cuộc tiến công chiến lƣợc Trị - Thiên năm 1972, nhất là sự kiện

giải phóng tỉnh Quảng Trị và cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ.

3.2. PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC, LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÙNG GIẢI

PHÓNG, TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY Ở TRỊ - THIÊN - HUẾ (1973-1975)

3.2.1. Phát triển tổ chức, lãnh đạo đấu tranh thi hành Hiệp định Pari

và xây dựng vùng giải phóng

3.2.1.1. Tình hình và chủ trương của Trung ương Đảng, Khu ủy sau

Hiệp định Pari

Sau Hiệp định Pari, ở miền Nam Việt Nam tồn tại hai vùng với hai

chính quyền quản lý. Sau khi Hiệp định có hiệu lực, đế quốc Mỹ âm mƣu phá

hoại Hiệp định để tiếp tục thực hiện chiến lƣợc “Việt Nam hóa chiến tranh”,

tăng cƣờng viện trợ quân sự cho QĐVNCH. Nhờ viện trợ của Mỹ, CQVNCH

không ngừng củng cố lực lƣợng, ngang nhiên phá hoại Hiệp định Pari; tổ

chức nhiều cuộc hành quân bình định, lấn chiếm, lập tuyến phòng thủ nhằm

đẩy lực lƣợng của QGP ra xa, hòng tiến tới xóa bỏ vùng giải phóng.

Về phía LLCM, phong trào chính trị còn yếu, các mũi tấn công chính

trị, quân sự, binh vận ở nhiều nơi chƣa đủ mạnh; vùng giải phóng chƣa củng

cố vững chắc; lực lƣợng vũ trang ba thứ quân phát triển chƣa cân đối, bộ đội

địa phƣơng và dân quân du kích còn yếu. “Trên bƣớc chuyển lớn của tình

hình, có nơi lừng chừng, hữu khuynh trong chủ trƣơng đối phó với địch, cho

nên chúng lấn chiếm đất, kìm kẹp thêm đƣợc dân” [122, tr.230-231], các cơ

sở cách mạng ở thành phố chƣa đƣợc củng cố, phát triển đúng mức...

Ở TTH, so sánh lực lƣợng giữa QGP và CQVNCH thay đổi sâu sắc.

Sau Hiệp định Pari, trên chiến trƣờng TTH hình thành hai khu vực: vùng giải

phóng bao gồm một phần đồng bằng Quảng Trị và miền Tây TTH chiếm 83%

diện tích với dân số 133.324 ngƣời (15% dân số) [92, tr.216], có rừng núi,

đồng bằng và đô thị, có hải cảng, sân bay và đƣờng giao thông chiến lƣợc

quan trọng, có lực lƣợng vũ trang hùng hậu (nhất là chủ lực) đƣợc triển khai

trên các khu vực và các hƣớng trọng yếu. Vùng CQVNCH tạm thời kiểm soát

93

bị thu hẹp, còn một phần đồng bằng Quảng Trị và đồng bằng Thừa Thiên Huế

(17% diện tích đất đai); quân số của QĐVNCH còn đông, bộ máy kìm kẹp

dầy đặc nhƣng nằm trong một địa hình chật hẹp và ở thế bất lợi. Mặt khác,

CQVNCH vẫn kiểm soát 85% dân số (gần 77 vạn dân, trong đó Quảng Trị

khoảng 17 vạn, Thừa Thiên Huế khoảng 60 vạn). Đối phƣơng ngày càng lâm

vào thế đi xuống, thế chống đỡ và suy yếu, còn thế của QGP là thế thắng, thế

tiến công, áp đảo, ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng.

Vị trí chiến trƣờng TTH trở nên quan trọng hơn về nhiều mặt: quân sự,

chính trị, ngoại giao, pháp lý... Quảng Trị là vùng giải phóng hoàn chỉnh nhất

của toàn miền Nam, tiếp giáp miền Bắc XHCN nơi đặt Chính phủ Cách mạng

lâm thời CHMNVN. Đƣờng hành lang chiến lƣợc chạy qua TTH giữ vai trò

quan trọng để có thể tranh thủ sự viện lớn nhất cho chiến trƣờng miền Nam và

cả Đông Dƣơng. TTH là khu vực có Ủy ban quốc tế và tổ chức của hai bên để

giám sát việc thi hành Hiệp định Pari; trở thành một vị trí trung tâm của toàn

miền Nam mà CQVNCH cũng phải thừa nhận về mặt pháp lý.

Trong tình hình đó, cả LLCM và CQVNCH đều coi trọng chiến trƣờng

TTH, tập trung mọi nỗ lực giành ƣu thế. Cuộc chiến đấu giữa hai bên tiếp tục

diễn ra gay go, quyết liệt. Đối phƣơng chủ trƣơng phá hoại, không thi hành

Hiệp định; LLCM vừa tiến công đánh bại mọi âm mƣu thủ đoạn mới của kẻ

thù, vừa xây dựng thế và lực, chuẩn bị điều kiện tiến lên giành toàn thắng.

Từ khi Hiệp định Pari có hiệu lực, Mỹ và CQVNCH tiếp tục thực hiện

chiến lƣợc “Việt Nam hóa chiến tranh” với một số biện pháp chủ yếu: phản

kích lấn chiếm vùng giải phóng, mở rộng vùng kiểm soát; thiết lập và củng cố

tuyến phòng thủ mới, phân tuyến, phân vùng để ngăn chặn đẩy lực lƣợng của

QGP; thực hiện kế hoạch bình định, thanh lọc và kìm kẹp nhân dân, đánh phá

cơ sở cách mạng, ổn định hậu phƣơng. Từ năm 1973 trở đi, hình thái cơ bản

trên chiến trƣờng TTH là CQVNCH cố lấn chiếm, LLCM chống lấn chiếm;

QĐVNCH bình định, QGP phá bình định để giữ vững và cải thiện thế trận.

Để tiếp tục đƣa cách mạng miền Nam tiến lên, Hội nghị Trung ƣơng

Đảng lần thứ 21 (10-1973) đề ra đƣờng lối cho cách mạng miền Nam trong

94

giai đoạn mới. Nghị quyết khẳng định: “Con đƣờng của cách mạng miền Nam

là con đƣờng bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm

vững thời cơ, giữ vững đƣờng lối chiến lƣợc tiến công và chỉ đạo linh hoạt để

đƣa cách mạng miền Nam tiến lên” [122, tr.232]. Nghị quyết nhấn mạnh

phƣơng hƣớng chủ động, tích cực, có lợi nhất cho sự nghiệp của cách mạng

cả nƣớc là giƣơng cao ngọn cờ hòa bình và chính nghĩa, kết hợp đấu tranh

chính trị, quân sự và ngoại giao, buộc địch phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp

định. “Vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực cách mạng

là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản trong giai đoạn mới” [122, tr.232]. “Chủ

động chuẩn bị sẵn sàng cho trƣờng hợp phải tiến hành chiến tranh cách mạng

trên khắp chiến trƣờng miền Nam để giành thắng lợi hoàn toàn” [122, tr.239].

Công tác xây dựng tổ chức Đảng đƣợc Nghị quyết chỉ rõ: “Tổ chức của

Đảng phải bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, toàn diện và thống nhất, đồng thời

bảo đảm sự lãnh đạo thật sự dân chủ, linh hoạt, kịp thời, không những ở khu,

tỉnh, thành, mà ở các cấp huyện và cơ sở nữa, làm cho các cấp đó giải quyết

sát những vấn đề của mình và kịp thời đối phó với địch”; “phải cải tiến tổ

chức, làm cho bộ máy thật gọn nhẹ, nhƣng có chất lƣợng” [122, tr.258-259].

Nghị quyết số 21 của Trung ƣơng Đảng là một trong những văn kiện

lịch sử quan trọng của Đảng trong cuộc KCCMCN, xác định rõ hơn con

đƣờng phát triển và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam, trực tiếp chỉ đạo

cách mạng giành thắng lợi trong giai đoạn kết thúc chiến tranh.

Tháng 3-1973, Bộ Tƣ lệnh QĐND giao nhiệm vụ cho Quân khu TTH:

Khẩn trƣơng triển khai các mặt hoạt động kết hợp giữa đấu tranh

quân sự, chính trị, pháp lý buộc địch phải nghiêm chỉnh chấp hành

triệt để Hiệp định, ngừng bắn ổn định tình hình. Khẩn trƣơng xúc

tiến triển khai kế hoạch phòng ngự, bảo vệ vững chắc vùng giải

phóng, cuối tháng 3 đầu tháng 4 hoàn thành về cơ bản, nếu địch lấn

chiếm thì nhanh chóng tiêu diệt, giữ vững khu giải phóng. Ổn định

tổ chức, bố trí lực lƣợng, nhanh chóng củng cố, chấn chỉnh, huấn

luyện nâng cao trình độ tác chiến của bộ đội [125, tr.291-292].

95

Quán triệt nhiệm vụ của Bộ Tƣ lệnh giao, Thƣờng vụ Quân Khu ủy họp

nhận định: “Tình hình hiện nay vẫn là tiếp tục xung đột vũ trang bộ phận,

diễn ra bằng hình thức lấn chiếm và chống lấn chiếm” [85, tr.223] và đề ra

nhiệm vụ: “Không chủ động tấn công địch về quân sự mà lấy phòng ngự tích

cực, giữ vững thế trận hiện nay là chính; phải chuẩn bị chu đáo để đánh trả

quân địch lấn chiếm một cách kiên quyết, đánh thật đau, tiêu diệt nhanh gọn,

và có điều kiện thì phát triển tấn công giành thắng lợi mới” [85, tr.223].

Tháng 5-1973, Thƣờng vụ Khu ủy nêu rõ nhiệm vụ trƣớc mắt của Đảng

bộ TTH: Nắm vững chiến lƣợc tiến công, đánh lùi kẻ thù từng bƣớc, giành

thắng lợi từng phần tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, chuyển sang lãnh đạo

đấu tranh chính trị là chính. Thƣờng vụ Khu ủy đề ra bốn công tác lớn: đẩy

mạnh phong trào đấu tranh chính trị; đặc biệt chú ý xây dựng lực lƣợng vũ

trang làm hậu thuẫn cho đấu tranh chính trị, sẵn sàng đánh bại các cuộc hành

quân lấn chiếm của QĐVNCH, kiên quyết bảo vệ vùng giải phóng; ra sức xây

dựng căn cứ, địa bàn cách mạng và vùng giải phóng; tăng cƣờng vai trò lãnh

đạo của Đảng cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới.

Chủ trƣơng trên chỉ ra phƣơng hƣớng hành động trƣớc mắt cho lực

lƣợng vũ trang, lực lƣợng chính trị, khắc phục kịp thời tƣ tƣởng chần chừ do

dự, ảo tƣởng của quân và dân TTH trƣớc bản chất ngoan cố, âm mƣu, thủ

đoạn xảo quyệt của kẻ thù nhƣng còn hạn chế là chƣa vạch rõ phƣơng hƣớng,

phƣơng châm đấu tranh chống bạo lực rõ ràng, dứt khoát và nhất quán trƣớc

hành động của địch tiếp tục chiến tranh, phá hoại Hiệp định Pari.

3.2.1.2. Quá trình thực hiện phát triển tổ chức, lãnh đạo đấu tranh thi

hành Hiệp định Pari và xây dựng vùng giải phóng

Thực hiện chủ trƣơng của Trƣơng ƣơng Đảng, Khu ủy và Quân Khu

ủy, phong trào cách mạng TTH từng bƣớc ổn định và phát triển.

Về đấu tranh thi hành Hiệp định Pari và xây dựng vùng giải phóng

Ở vùng địch tạm chiếm, Khu ủy phát động nhân dân tiến công

CQVNCH cả quân sự và chính trị nhằm phá âm mƣu bình định của chúng.

Các cơ sở đảng và tổ chức quần chúng dùng nhiều hình thức phong phú: tổ

96

chức hội thảo, nói chuyện về Hiệp định, míttinh, biểu tình, tuyên truyền vận

động quần chúng xuống đƣờng đấu tranh với khẩu hiệu “Hòa bình, độc lập,

dân chủ, cải thiện dân sinh và hòa hợp dân tộc”. Phong trào lôi cuốn các tầng

lớp nhân dân, kể cả một bộ phận binh sĩ, nhân viên cơ sở trong CQVNCH,

khơi dậy tƣ tƣởng muốn hòa bình, chán chiến tranh trong hàng ngũ kẻ thù. Ở

nhiều địa phƣơng vùng đồng bằng, nhân dân đấu tranh đòi về làng cũ, tự do đi

lại làm ăn, đòi quyền dân sinh, dân chủ và thả những ngƣời bị bắt, chống gài

mìn, phục kích, chống phân tuyến, phân vùng, chống gây chia rẽ hận thù.

Công tác binh vận đƣợc tăng cƣờng với nhiều hình thức khác nhau: in

hàng chục nghìn tập Hiệp định gửi đến binh lính; tổ chức phát thanh, kêu gọi

vào các chốt của địch ở tuyến giáp ranh, trực tiếp gặp gỡ sĩ quan, binh sĩ để

tuyên truyền nội dung Hiệp định và chính sách hòa hợp dân tộc; chỉ rõ thế

thắng của ta và thế thua không tránh khỏi của địch.

Ở Thừa Thiên Huế, việc tuyên truyền, phổ biến nội dung Hiệp định

Pari đƣợc tiến hành bằng nhiều phƣơng thức ở 69/78 xã gồm 270/424 ấp, với

khoảng 26 vạn dân; đòi bồi thƣờng tài sản do chiến tranh tàn phá với 699

cuộc, huy động 99.400 lƣợt ngƣời tham gia [216, tr.326-327]; đấu tranh đòi

trở về làng cũ diễn ra sôi nổi, liên tục; đấu tranh chống tập trung lúa, chống

thuế, chống đôn quân bắt lính, chống dồn dân rào làng; xây dựng mới 525 cơ

sở nội tuyến; cơ sở cũ tiếp tục hoạt động, xây dựng thêm nhiều cơ sở mới,

tổng số có 4.148 cơ sở bí mật, trong đó có 3.313 hội viên giải phóng, 598 du

kích an ninh mật và 140 đoàn viên thanh niên, 237 đảng viên trong 247 thôn

ấp; 61/78 xã và 247/424 ấp có cơ sở hoạt động công khai [216, tr.328].

Ở Quảng Trị, vùng CQVNCH chiếm đóng gồm huyện Hải Lăng, thị xã

Quảng Trị và 5 xã phía Nam của huyện Triệu Phong, Tỉnh ủy chủ trƣơng

thành lập Ban cán sự “phía trƣớc” (vùng tạm bị chiếm). Thực hiện chủ trƣơng

đó, lực lƣợng vào hoạt động “phía trƣớc” liên tục tăng lên. Cán bộ về địa bàn

nhanh chóng bám đất, bám dân hoạt động, móc nối xây dựng cơ sở, phát động

nhân dân đấu tranh với kẻ thù, đòi về làng cũ, đòi tự do đi lại làm ăn. Đến

97

cuối năm 1973, đầu năm 1974, các cán bộ huyện, xã thay nhau bám cơ sở ở

vùng sâu hoạt động, đã móc nối cơ sở ở 23/58 thôn của 14/19 xã [68, tr.403].

Do lực lƣợng tại chỗ của LLCM ít và yếu, đòn tiến công quân sự chƣa

mạnh, địa bàn đứng chân vùng giáp ranh còn nhiều khó khăn, sức mạnh đấu

tranh trên các vùng chiến lƣợc của ba thứ quân chƣa phát huy đều khắp nên

kết quả đấu tranh của LLCM chống phá bình định của QĐVNCH hạn chế.

Ở vùng giải phóng, thực hiện nghị quyết Khu ủy và Quân Khu ủy đề ra

đầu năm 1973, xây dựng vùng giải phóng vững mạnh toàn diện, trong đó

nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế đƣợc coi trọng, nhanh chóng khắc

phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống xã hội. Ở Quảng Trị là vùng giải

phóng hoàn chỉnh nhất của toàn miền Nam, nơi được Chính phủ Cách mạng

lâm thời CHMNVN chọn đặt trụ sở.

Ngày 6-5-1973, Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị tham gia lễ khởi công

xây dựng trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN ở thị trấn Cam Lộ,

huyện Cam Lộ. Việc xây dựng trụ sở làm việc của Chính phủ đƣợc tiến hành

khẩn trƣơng, nghiêm túc, an toàn và hoàn thành đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ

4 ngày thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN (6-6-1969 – 6-6-

1973). Sự ra đời trụ sở làm việc của Chính phủ có ý nghĩa lớn, khẳng định vị

thế chủ động của LLCM, tính hợp pháp quốc tế công khai trong vùng giải

phóng, nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo đối với sự nghiệp giải phóng miền

Nam, thống nhất Tổ quốc; biểu tƣợng cho tình cảm, khát vọng và lòng quyết

tâm của nhân dân miền Nam mong muốn thống nhất đất nƣớc; tập hợp đƣợc

mọi lực lƣợng dân chủ, yêu hòa bình vì cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân

tộc; tạo điều kiện cho bạn bè quốc tế đến thăm, làm việc ở vùng giải phóng.

Tại trụ sở của Chính phủ, ngày 5-6-1973, luật sƣ Nguyễn Hữu Thọ,

Chủ tịch Ủy ban Trung ƣơng MTDTGP miền Nam Việt Nam tiếp ông

Nguyễn Xiển, Trƣởng đoàn đại biểu Quốc hội Chính phủ VNDCCH. Cùng

thời gian, từ ngày 2 đến ngày 5-6-1973, tại trụ sở Chính phủ diễn ra trọng thể

lễ trình quốc thƣ của đại sứ 9 nƣớc (Liên Xô, Trung Quốc, Cộng hòa dân chủ

nhân dân Triều Tiên, Lào, Camphuchia, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan,

98

Hunggari, Angiêri) đến đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Cách mạng lâm

thời CHMNVN. Từ giữa năm 1973 đến cuối năm 1974, nhiều vị đại sứ của

các nƣớc đến trụ sở Chính phủ để trình Quốc thƣ lên Chủ tịch Nguyễn Hữu

Thọ. 45 đoàn khách quốc tế, 109 đoàn khách Trung ƣơng và các tỉnh, thành

phố trong cả nƣớc [68, tr.411] đến thăm Chính phủ, đặc biệt là đoàn đại biểu

Đảng Cộng sản và Chính phủ cách mạng Cuba do Phiđen Catxtrô dẫn đầu.

Tháng 9-1973, nhân dân Quảng Trị, đại biểu các lực lƣợng vũ trang, các cơ

quan, đoàn thể trong tỉnh tổ chức míttinh trọng thể chào mừng ông Phiđen

Catxtrô và các vị khách quý. Ông Phiđen Catxtrô bày tỏ niềm vui mừng khi

đến thăm vùng giải phóng miền Nam; ca ngợi những thắng lợi của nhân dân

Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập dân tộc; lên án âm

mƣu, thủ đoạn xâm lƣợc kiểu mới Mỹ ở Việt Nam; đi thăm nhiều đơn vị, cơ

quan sản xuất và chiến đấu, trong đó có căn cứ 241, Cửa Việt..., thắt chặt hơn

tình hữu nghị và đoàn kết giữa nhân dân hai nƣớc Việt Nam - Cuba.

Trong năm 1973, dƣới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân cách

mạng tỉnh, các huyện, thị trong tỉnh phục hóa đƣợc gần 6.000 ha ruộng đất,

đƣa diện tích gieo trồng lên 9.120 ha, tổng sản lƣợng lƣơng thực đạt 5.000 tấn

(có 1.400 tấn quy thóc) [68, tr.415]; đàn gia súc, gia cầm phát triển nhanh;

nghề cá đƣợc quan tâm hơn, khôi phục nghề làm muối; các ngành công

nghiệp, tiểu thủ công, tài chính, thƣơng nghiệp, giao thông, bƣu điện, văn hóa,

giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng đều dần ổn định và phát triển đáng kể.

Ở vùng giải phóng miền núi Thừa Thiên Huế, tiến hành đƣa dân về

vùng đất bằng, định canh, định cƣ, ổn định đời sống. Đến đầu năm 1974,

cơ bản chuyển xong về chỗ mới, tập trung vào bốn khu vực chính (Nam

Đông, Khe Tre, A So, A Lƣới); xây dựng gần 1.200 nhà; đồng bào bắt đầu

sản xuất sắn, khoai, ngô; cấp cho dân 243 tấn gạo, 97 tấn muối, 14.310 bộ

quần áo, 2.000 áo ấm, 3.114 chăn, 400 màn [228, tr.328]. Công tác vệ sinh

phòng bệnh tiến bộ, cấp 700 thùng thuốc; các xã có 42 lớp học gồm 2.500

ngƣời học, phong trào bình dân học vụ đẩy mạnh. Đời sống nhân dân cải

thiện một bƣớc.

99

Về công tác phát triển tổ chức và xây dựng Đảng

Khu ủy có sự thay đổi về công tác tổ chức, giữa năm 1973, Trung ƣơng

Đảng phân công ông Trần Hữu Dực làm Bí thƣ Khu ủy thay Thiếu tƣớng

Trần Văn Quang chuyển công tác lên Trung ƣơng; Thiếu tƣớng Lê Tự Đồng

làm Phó Bí thƣ Khu ủy. Sau gần một năm, ngày 6-3-1974, Ban Bí thƣ Trung

ƣơng Đảng ra Nghị quyết số 2156 NQ/TW Về việc phân công BCH Đảng bộ

khu Trị - Thiên - Huế, Thiếu tƣớng Lê Tự Đồng - Phó Bí thƣ Khu ủy làm Bí

thƣ Khu ủy thay ông Trần Hữu Dực để ông nhận nhiệm vụ Phó Thủ tƣớng

Chính phủ; ông Bùi Định (tức Nguyễn Hữu Mô) - Ủy viên Thƣờng vụ Khu ủy

làm Phó Bí thƣ Khu ủy; ông Lê Hành - Khu ủy viên, Chủ tịch Ủy ban

MTDTGP tỉnh Quảng Trị làm Bí thƣ Tỉnh ủy Quảng Trị thay ông Hồ Sĩ Thản

- Khu ủy viên, về Khu phụ trách công tác kinh tế và xây dựng căn cứ; ông Vũ

Thắng - Khu ủy viên dự khuyết, Phó Bí thƣ Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh đội

làm Bí thƣ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế thay ông Nguyễn Vạn lên làm Trƣởng

ban Dân vận Khu ủy [80]; ông Hoàng Lanh làm Phó Bí thƣ Tỉnh ủy; các ông:

Lê Sáu, Nguyễn Chi, Nguyễn Trung Chính làm Ủy viên Thƣờng vụ Tỉnh ủy.

Đến ngày 18-11-1974, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng ra Quyết định số

2302/QĐ/TW Về việc chỉ định bổ sung Phó Bí thư Khu ủy khu Trị - Thiên -

Huế, ông Nguyễn Văn Quảng (tức Nguyễn Húng) - Đại sứ nƣớc của

CHMNVN tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, về bổ sung vào Khu ủy TTH

và chỉ định ông Quảng làm Phó Bí thƣ của Khu ủy TTH [81].

Khu ủy TTH sau khi đƣợc kiện toàn về tổ chức đã chỉ đạo Tỉnh ủy

Quảng Trị, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế và các tổ chức Đảng cấp dƣới khác củng

cố, sắp xếp lại công tác tổ chức để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Để tăng cƣờng sự chỉ đạo của Tỉnh ủy đối với vùng tạm bị chiếm, Hội

nghị Tỉnh ủy Quảng Trị (12-1974) quyết định thành lập Đảng ủy chỉ đạo công

tác vùng bị tạm chiếm gồm các ông: Nguyễn Đức Dũng - Phó Bí thƣ Tỉnh ủy

làm Bí thƣ Đảng ủy; Nguyễn Thƣ - Ủy viên Thƣờng vụ Tỉnh ủy làm Phó Bí

thƣ Thƣờng trực Đảng ủy; Lƣơng Chí Hiền - Tỉnh ủy viên, Chính trị viên

Tỉnh đội làm ủy viên; Phạm Ngọc Vy - Tỉnh đội trƣởng làm ủy viên; Nguyễn

100

Minh Kỳ - Tỉnh ủy viên dự khuyết phụ trách thị xã Quảng Trị và thị xã Đông

Hà làm ủy viên. Cơ quan của Đảng ủy đóng ở Vực Tròn (phía Tây huyện Hải

Lăng) [68, tr.438-439].

Công tác phát triển Đảng luôn đƣợc coi trọng; phát triển đi đôi với

củng cố, vừa kết nạp mới những quần chúng ƣu tú, vừa kịp thời đƣa ra khỏi

Đảng những ngƣời thoái hóa, biến chất. Sau 2 năm 1973-1974, Đảng bộ

Quảng Trị phát triển thêm 1.322 đảng viên. Tổng số đảng viên của Quảng Trị

là 5.541 (vùng nông thôn đồng bằng: 2.363 đảng viên, miền núi: 881 đảng

viên, lực lƣợng vũ trang: 914 đảng viên, các cơ quan: 1.383 đảng viên), sinh

hoạt trong 108 tổ chức cơ sở Đảng [68, tr.425]. Hạn chế của công tác phát

triển Đảng ở Quảng Trị là phân bổ đảng viên tập trung ở vùng giải phóng, các

xã, phƣờng “tuyến trƣớc” không có đảng viên; ở vùng giải phóng, 23% số

thôn, bản chƣa có đảng viên hoạt động.

Dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy, hơn một năm chiến đấu và xây

dựng trên chiến trƣờng TTH sau Hiệp định Pari, thế và lực của LLCM nâng

lên một bƣớc. LLCM làm chủ vùng giáp ranh, giữ đƣợc vùng giải phóng,

buộc QĐVNCH lui về phòng ngự, thƣờng xuyên bị uy hiếp. Khó khăn lớn

nhất là CQVNCH còn kìm kẹp một bộ phận lớn nhân dân, thực hiện phân

tuyến, phân vùng, ngăn chặn nhân dân về vùng đồng bằng, làm cho lực lƣợng

của QGP ở vùng đồng bằng Thừa Thiên Huế và phía Nam Quảng Trị còn yếu.

3.2.2. Lãnh đạo Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975,

giải phóng Trị - Thiên - Huế

3.2.2.1. Lãnh đạo đẩy mạnh đấu tranh, chuẩn bị Tổng tiến công và

nổi dậy

Tháng 3-1974, sau một thời gian thực hiện Nghị quyết 21 của Trung

ƣơng Đảng, Hội nghị QUTW đề ra nhiệm vụ: Đẩy mạnh hoạt động quân sự,

giành dân, giành quyền làm chủ và đánh bại một bƣớc quan trọng kế hoạch

bình địch lấn chiếm của CQVNCH. Ngày 17-5-1974, QUTW quyết định tách

Quân đoàn 2 ra khỏi Quân khu TTH, trực thuộc Bộ Tổng Tƣ lệnh và chỉ rõ

nhiệm vụ của chiến trƣờng TTH: “Củng cố thế đứng vững chắc ở giáp ranh,

101

luồn sâu xuống đồng bằng xây dựng cơ sở chính trị vũ trang, làm lỏng kìm

kẹp, tiến lên phối hợp ba mũi tiến công tạo lại thế ba vùng, phá thế phân tuyến

của địch, giữ chân các sƣ đoàn cơ động của địch, phối hợp chiến trƣờng xây

dựng vùng giải phóng vững mạnh” [85, tr.229].

Chấp hành Nghị quyết của Trung ƣơng Đảng, QUTW và Khu ủy, các

đảng bộ tổ chức các Hội nghị triển khai, thực hiện nhiệm vụ cho phù hợp với

tình hình địa phƣơng. Tháng 4-1974, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế họp, chủ

trƣơng đẩy mạnh tiến công của lực lƣợng vũ trang, hƣớng về vùng giáp ranh

và đồng bằng, lấy đánh bình định và chống lấn chiếm làm trung tâm. Tháng

12-1974, Tỉnh ủy Quảng Trị họp, quyết tâm phát động đấu tranh, phá vỡ từng

mảng tuyến ngăn chặn, chia vùng của QĐVNCH, giành và giữ dân, giải

phóng đại bộ phận nông thôn đồng bằng còn bị đối phƣơng kiểm soát.

Hội nghị Quân Khu ủy tháng 4 và tháng 8-1974 đều xác định phải tập

trung thực hiện tốt ba nhiệm vụ quân sự chủ yếu: đánh phá bình định, chống

lấn chiếm, giành dân, giành quyền làm chủ, xây dựng thực lực ở đồng bằng;

tiếp tục xây dựng thế và lực mới, đặc biệt chú ý khâu tổ chức chiến trƣờng;

xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng vững mạnh toàn diện.

Năm 1974, QGP liên tiếp tiến công, QĐVNCH thiệt hại nặng, sức phản

kích giảm sút, khả năng lấn chiếm ít đi, hành động lấn chiếm chững lại. Một

số thủ đoạn ngăn chặn vùng giáp ranh của địch bƣớc đầu bị phá vỡ, buộc phải

co cụm lại, tạo sơ hở một số nơi, thuận lợi cho địa bàn và hành lang của

LLCM phát triển về vùng sâu. Hoạt động Xuân - Hè và Hè - Thu của QGP

giành đƣợc nhiều kết quả ở vùng giáp ranh, nhất là chiến thắng La Sơn - Mỏ

Tầu. Ở “phía sau” (vùng giải phóng), công tác tổ chức chiến trƣờng, công tác

đảm bảo hậu cần chuẩn bị khẩn trƣơng. Ở thành phố Huế, phong trào đấu

tranh chính trị ngày càng phát triển mạnh; nhân dân và sinh viên Huế đấu

tranh đòi địch thực hiện hòa bình, hòa giải dân tộc, tự do dân chủ, chống

Thiệu độc tài, tham nhũng ngày càng dâng cao, có tính quần chúng rộng rãi.

Để hỗ trợ đấu tranh chính trị ở Huế, thiết thực chuẩn bị mùa khô 1975,

tháng 9-1974, Khu ủy và Quân Khu ủy quyết định: “Mùa mƣa 1974 là một

102

mùa mƣa tiến công”. Cuối tháng 10-1974, trƣớc mâu thuẫn nội bộ của

CQVNCH ngày càng sâu sắc và cao trào đấu tranh chính trị sôi nổi ở Sài Gòn,

Huế, Đà Nẵng cùng các thành phố khác trong toàn miền Nam, theo chỉ thị của

Trung ƣơng, Thƣờng vụ Khu ủy họp và ra chỉ thị chuẩn bị hành động cho tình

hình mới nếu đế quốc Mỹ buộc phải lật đổ Tổng thống CQVNCH Nguyễn

Văn Thiệu, LLCM cần đẩy mạnh hoạt động tiến công mùa mƣa trên cả ba

vùng nhằm giành thắng lợi lớn nhất khi có thời cơ.

Thực hiện Nghị quyết của Thƣờng vụ Khu ủy, Bộ Tƣ lệnh Quân khu

xây dựng và triển khai kế hoạch tiến công mùa mƣa, trong đó có kế hoạch

giành quyền làm chủ đại bộ phận nông thôn đồng bằng; thúc đẩy cao trào đấu

tranh ở thành phố Huế (khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đổ); nếu có thời

cơ thuận lợi thì thực hiện tiến công lớn về quân sự, thực hiện chia cắt chiến

dịch cô lập thành phố Huế giành thắng lợi lớn nhất. Sau đó Mỹ vẫn giữ Tổng

thống Nguyễn Văn Thiệu, thời cơ Thiệu đổ không xảy ra trong mùa mƣa năm

1974 nhƣng kế hoạch này có giá trị quan trọng đối với quá trình đấu tranh

chuẩn bị bƣớc vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Trong 1974, dƣới sự chỉ đạo đúng đắn của Trung ƣơng Đảng, QUTW,

sự lãnh đạo của Khu ủy và Quân Khu ủy, chiến trƣờng TTH đạt đƣợc những

thành tích quan trọng và cơ bản, tạo niềm tin cho quân và dân, chuẩn bị thiết

thực cho cuộc đấu tranh vào mùa Xuân năm 1975.

3.2.2.2. Lãnh đạo thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng

hoàn toàn Trị - Thiên - Huế

Đến cuối năm 1974, cuộc KCCMCN của nhân dân miền Nam liên tiếp

giành nhiều thắng lợi quan trọng có ý nghĩa chiến lƣợc. Trên cơ sở phân tích

tình hình, nhận rõ thời cơ chiến lƣợc giành thắng lợi càng đến gần, Hội nghị

BCT họp (10-1974) cho rằng, QGP đang có thời cơ, phải biết nắm lấy để đƣa

sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn. Đế quốc Mỹ đã thua,

đang rút ra; QGP đang ở thế thắng so với QĐVNCH, “đây là thời cơ thuận lợi

nhất để nhân dân ta hoàn thành giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn

vẹn cho cách mạng dân tộc dân chủ... Ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào

103

khác” [123, tr.178-179]. Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Thời cơ này đòi hỏi phải

làm nhanh, làm gọn, làm triệt để, nhƣng phải khôn khéo” [123, tr.179].

Từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-1-1975, BCT họp đợt hai bàn về tình

hình, nhiệm vụ cuộc KCCMCN. Ngày 7-1-1975, BCT kết luận: “Nhiệm vụ

sắp tới của chúng ta là nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng

hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến

chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến

tới thống nhất Tổ quốc” [123, tr.192]. Bộ Chính trị đề ra kế hoạch tác chiến

trên các chiến trƣờng Nam Bộ, khu V - Tây Nguyên, Trị - Thiên. Miền Bắc

tiếp tục chi viện tối đa cho miền Nam; chủ động đối phó nếu đế quốc Mỹ và

CQVNCH đánh phá trở lại. Bộ Chính trị quyết tâm kết thúc cuộc KCCMCN

trong hai năm 1975-1976. Trong đó, Đảng xác định mục tiêu năm 1975 là làm

cho lực lƣợng ta lớn mạnh vƣợt bậc, mở nhiều đợt tiến công và nổi dậy làm

cho QĐVNCH suy yếu nhanh chóng. Mục tiêu năm 1976 là phát động tổng

công kích, tổng khởi nghĩa, đánh lớn, đánh mạnh, diệt gọn từng sƣ đoàn, đánh

Sài Gòn là chỗ hiểm yếu nhất, giành thắng lợi cuối cùng. Ngoài kế hoạch

chiến lƣợc cơ bản trên, BCT còn dự kiến một khả năng quan trọng khác:

“Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975” [124, tr.10].

Trải qua hai năm đấu tranh buộc CQVNCH thi hành Hiệp định Pari,

sau khi có Nghị quyết của BCT, QUTW chỉ rõ nhiệm vụ của TTH: “Đánh bại

về cơ bản bình định của địch, tạo ra ở Trị - Thiên một tình thế mới có ý nghĩa

quyết định để chuẩn bị cho giành thắng lợi trong năm 1976, giải phóng hoàn

toàn TTH” [128, tr.43]. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, QUTW cho rằng: TTH

phải tiến hành một chiến dịch tổng hợp nhằm tiêu diệt và làm tan rã một phần

quan trọng sức lực của QĐVNCH; tạo điều kiện đánh bại về cơ bản kế hoạch

bình định ở đồng bằng, giành phần lớn dân, giành lại quyền làm chủ; khi có

điều kiện, chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn nhất. Phải có kế hoạch “cơ

bản” và kế hoạch “thời cơ” để giành thắng lợi hoàn toàn.

Đầu tháng 12-1974, Khu ủy họp đề ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh tấn công

tổng hợp trên cả ba vùng, bằng ba mũi giáp công, tiêu diệt, tiêu hao lực lƣợng

104

địch, phá hẳn thế phân tuyến và đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của

địch, củng cố vùng giải phóng và xây dựng thế liên hoàn vững chắc giữa ba

vùng, làm thay đổi cục diện chiến trƣờng toàn khu [51, tr.10]. Đồng thời, Khu

ủy xác định: “Nếu có thời cơ đột xuất thì tận dụng có hiệu quả nhất, giành

thắng lợi một bƣớc nhảy vọt; phá thế phân tuyến và đánh bại về cơ bản kế

hoạch bình định của địch, giành dân, giành quyền làm chủ ở nông thôn đồng

bằng là nhiệm vụ trung tâm nhất” [51, tr.10-11].

Về nhiệm vụ quân sự, Quân Khu ủy và Bộ Tƣ lệnh Quân khu xác định:

Tranh thủ thời cơ thuận lợi năm 1975, đẩy mạnh tiến công, tiêu diệt

một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại về cơ bản kế hoạch

bình định ở TTH, phát động đấu tranh chính trị, đánh mạnh kho tàng

hậu cứ, triệt phá giao thông, tích cực sáng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp

thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn kể cả giải phóng Huế [128, tr.45].

Quân khu dự kiến trong năm 1975 sẽ mở hai chiến dịch tiến công ở

TTH: Chiến dịch Xuân - Hè và chiến dịch mùa Thu. Trong chiến dịch Xuân -

Hè, trọng điểm đánh phá bình định, giành dân là các huyện Phong Điền,

Quảng Điền phía Bắc Thừa Thiên Huế; trọng điểm quân sự và giành dân là

các huyện Hƣơng Thủy, Phú Vang, Phú Lộc phía Nam Thừa Thiên Huế.

Thực hiện quyết tâm và kế hoạch của Quân khu, chiến trƣờng TTH

hình thành hai mặt trận: đồng bằng và giáp ranh để hỗ trợ và thúc đẩy lẫn

nhau phát triển. Nhiệm vụ của mặt trận đồng bằng là trực tiếp phá bình định

của QĐVNCH và ở giáp ranh là tiêu hao tiêu diệt, thu hút và kiềm chế kẻ thù,

thiết thực hỗ trợ cho mặt trận đồng bằng. Để thống nhất lãnh đạo chỉ huy

chung toàn mặt trận TTH, ngày 8-2-1975, BCT ra Quyết định số 2328-

NQ/TW Về việc thành lập Đảng ủy Mặt trận Trị - Thiên, thành phần gồm có

một số đồng chí trong Khu ủy, Quân Khu ủy TTH và Đảng ủy Quân đoàn 2,

chỉ định Thiếu tƣớng Lê Tự Đồng, Bí thƣ Khu ủy kiêm Chính ủy Quân Khu

ủy làm Bí thƣ Đảng ủy Mặt trận. Quân khu TTH và Quân khu V phối hợp với

Mặt trận Tây Nguyên. Kế hoạch chiến dịch tiến công giải phóng hoàn toàn

Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đƣợc quyết định và thực hiện.

105

Thời gian mở chiến dịch thống nhất toàn miền Nam là ngày 5-3-1975.

Xuất phát từ tình hình thực tế của chiến trƣờng TTH và để phối hợp chặt chẽ

với chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Tƣ lệnh Quân khu và Bộ Tƣ lệnh Quân đoàn

2 thống nhất lấy ngày mở màn chiến dịch ở TTH là ngày 8-3-1975. Toàn bộ

kế hoạch đƣợc Hội nghị Đảng ủy Mặt trận nhất trí thông qua ngày 21-2-1975.

Trong khi TTH đang gấp rút thực hiện kế hoạch thì cục diện chiến

trƣờng miền Nam chuyển biến mau lẹ, ngày 5-3-1975, cuộc tiến công của

quân dân miền Nam đồng loạt nổ ra trên khắp chiến trƣờng. Để kịp thời phối

hợp với chiến trƣờng toàn Miền và chiến dịch Tây Nguyên, Thƣờng vụ Khu

ủy TTH và Đảng ủy Mặt trận Trị - Thiên quyết định chỉ đạo các lực lƣợng vũ

trang đẩy mạnh hoạt động đánh kẻ thù tạo thế, kết hợp với diễn tập nghi binh,

triển khai lực lƣợng về đồng bằng chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy.

Ngày 8-3-1975, chiến dịch Xuân - Hè năm 1975 ở TTH bắt đầu trên cả

tám huyện và vùng ven đô, QGP đồng loạt nổ súng tấn công QĐVNCH.

Trong lúc chiến trƣờng TTH đang sôi động, ở Tây Nguyên thắng lớn, giải

phóng Buôn Ma Thuột. Khi QĐVNCH rút khỏi Tây Nguyên, ngày 18-3-

1975, BCT hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975. Chấp hành

Nghị quyết của BCT, QUTW chỉ thị cho Bộ Tổng Tƣ lệnh khẩn trƣơng tổ

chức Chiến dịch Huế - Đà Nẵng (Tác giả luận án gọi theo sự tổng kết của Ban

Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng

chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, NXB Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1995) - một trong ba đòn quyết chiến chiến lƣợc của cuộc Tổng tiến

công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Ở TTH, do QGP thắng lớn, CQVNCH chủ trƣơng rút khỏi Quảng Trị

để co cụm bảo vệ Huế - Đà Nẵng. Ngày 17-3-1975, Thƣờng vụ Khu ủy và

Quân Khu ủy nhận định:

Địch ở TTH đang hoang mang, dao động mạnh, thời cơ mới xuất hiện,

nhân dân TTH cần khẩn trƣơng và mạnh bạo tiến công, dùng lực

lƣợng tại chỗ đánh mạnh vào tuyến phòng thủ của đối phƣơng, kết hợp

với thọc sâu chia cắt, phá thế co cụm của kẻ thù, giành thắng lợi lớn ở

106

đồng bằng, tiến tới bao vây và cô lập Huế, thời gian chậm nhất là ngày

19-3-1975, tất cả các lực lƣợng phải tiến công [168, tr.456].

Chủ trƣơng trên đƣợc truyền đạt nhanh xuống các cấp ủy, đơn vị, địa

phƣơng trên toàn chiến trƣờng. Đêm ngày 18-3-1975, tất cả lực lƣợng vũ

trang hƣớng Bắc đồng loạt nổ súng tiến công vào tuyến phòng thủ của

CQVNCH ở Quảng Trị, mở màn cho đợt hai của cuộc Tổng tiến công và nổi

dậy mùa Xuân năm 1975. Đúng 3 giờ ngày 19-3-1975, QGP làm chủ và cắm

cờ ở Thành cổ Quảng Trị, tiếp tục phát triển thế tiến công giải phóng các khu

vực còn lại của tỉnh Quảng Trị. Thắng lợi lớn của quân dân Quảng Trị buộc

QĐVNCH phải co cụm lớn trong thế bị động, khốn quẫn và hoang mang cực

độ. Thời cơ đã đến, khả năng giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên Huế xuất hiện.

Chiều ngày 19-3-1975, Bộ Tƣ lệnh Quân khu họp, đề ra kế hoạch giải

phóng Thừa Thiên Huế trình Thƣờng vụ Khu ủy và Quân Khu ủy thông qua.

Ngày 20-3-1975, Bộ Tổng Tƣ lệnh điện biểu dƣơng thành tích giải phóng thị

xã và phần đất còn lại của tỉnh Quảng Trị, đồng thời chỉ thị phải tiếp tục tiến

công, không đƣợc dừng lại. Ngay trong ngày 20-3-1975, Thƣờng vụ Khu ủy

và Quân Khu ủy họp quyết định:

Tranh thủ thời cơ, dốc toàn lực giải phóng thành phố Huế và toàn

tỉnh Thừa Thiên Huế bằng một cuộc tiến công tổng hợp, toàn diện,

lấy chia cắt và bao vây chiến dịch kết hợp với các mũi thọc sâu của

chủ lực làm biện pháp then chốt; sử dụng lực lƣợng vũ trang địa

phƣơng trực tiếp tiến công địch hỗ trợ và vận động quần chúng nổi

dậy giành dân và giữ dân, đƣa chiến dịch đến thắng lợi [168, tr.460].

Sáng 21-3-1975, chiến dịch tiến công giải phóng thành phố Huế và toàn

tỉnh Thừa Thiên Huế bắt đầu. Chiều ngày 21-3-1975, tuyến phòng ngự của

QĐVNCH ở phía Tây Đƣờng số 1 từ Lƣơng Điền đến Phú Lộc bị đập tan,

cửa ngõ xuống Đƣờng số 1 đƣợc khai thông. Phối hợp với quân sự, quần

chúng nhân dân nổi dậy tiến công hệ thống CQVNCH ở cơ sở, truy quét tàn

binh, thu vũ khí. Nhân dân các xã Quảng Lợi, Quảng Hòa, Quảng Đại (huyện

Quảng Điền) dẫn đƣờng cho bộ đội truy kích kẻ thù chạy ra cửa Thuận An.

107

Các đội vũ trang công tác đã phát động quần chúng nhiều xã của huyện

Hƣơng Trà và huyện Phong Điền nổi dậy giành chính quyền, truy lùng ác ôn,

kêu gọi ngƣời thân bỏ hàng ngũ QĐVNCH về với gia đình, dẫn đƣờng cho bộ

đội tiến công vào thành phố Huế. 6h30 phút ngày 26-3-1975, lá cờ chiến

thắng đƣợc các chiến sĩ giải phóng cắm trên cột cờ Phu Văn Lâu tung bay

trong gió, thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên Huế đƣợc giải phóng.

Ngày 28-3-1975, QUTW gửi điện biểu dƣơng các lực lƣợng tham gia

chiến dịch giải phóng TTH, trong đó khẳng định: “Việc đánh chiếm, giải

phóng thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên Huế là thắng lợi có ý nghĩa chiến

lƣợc lớn. Chiến công đó làm cho nhân dân cả nƣớc phấn khởi, làm cho địch

suy yếu thêm một bƣớc mới nghiêm trọng, góp phần làm rạng rỡ truyền thống

đấu tranh anh dũng, kiên cƣờng của quân và dân cả nƣớc” [168, tr.467].

Sau 22 ngày đêm cùng Quân đoàn 2 chiến đấu liên tục, khẩn trƣơng,

quân và dân TTH giành thắng lợi nhanh chóng và trọn vẹn. Thắng lợi này đập

tan lá chắn mạnh nhất của CQVNCH ở phía Bắc, tiêu diệt và làm tan rã toàn

bộ QĐVNCH ở đây, giành và giữ đƣợc tuyệt đại bộ phận nhân dân ở lại quê

hƣơng cùng với lực lƣợng vũ trang tiến công tiêu diệt kẻ thù, kịp thời đón số

dân bị cƣỡng ép di tản trở về quê hƣơng, thu hồi toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ

thuật, vũ khí, trang bị của đối phƣơng. Đây là thắng lợi lớn nhất, triệt để nhất

của quân và dân TTH, góp phần cùng toàn miền Nam và cả nƣớc đánh thắng

chiến lƣợc “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn

toàn trong cuộc KCCMCN, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trị - Thiên - Huế giải phóng nhƣng miền Nam vẫn đang tiếp tục đấu

tranh quyết liệt với kẻ thù. Đối với CQVNCH, mất TTH tức là mất hệ thống

phòng thủ tuyến đầu, mất lá chắn, bức bình phong từ phía Bắc che chở cho Đà

Nẵng và các tỉnh phía Nam; cửa ngõ đã mở toang nên Đà Nẵng, Chu Lai và

các căn cứ quan trọng khác của CQVNCH ở phía Nam trực tiếp bị uy hiếp.

Sau khi giải phóng TTH, thời cơ giải phóng Đà Nẵng xuất hiện.

Do tính chất gắn bó và mối quan hệ đặc biệt giữa Huế và Đà Nẵng, để

làm tròn nhiệm vụ giành thắng lợi toàn vẹn cho Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và

108

làm tròn nhiệm vụ đối với Tổ quốc trƣớc thời cơ lịch sử, Khu ủy xác định:

“Trị - Thiên - Huế trở thành hậu phƣơng trực tiếp để giải phóng miền Nam”.

Thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tổng Tƣ lệnh giao và Nghị quyết của Khu ủy,

ngày 27-3-1975, Đảng ủy Mặt trận Trị - Thiên, Bộ Tƣ lệnh Quân khu TTH và

Bộ Tƣ lệnh Quân đoàn 2 họp bàn và quyết định: Quân đoàn 2 nhanh chóng

tiến vào đánh chiếm Đà Nẵng. Sau khi kiểm điểm tình hình, nhận rõ thời cơ

thuận lợi, để kịp thời bảo đảm cơ động và tăng sức chiến đấu cho Quân đoàn

2, Bộ Tƣ lệnh Quân khu đặt vấn đề có tính nguyên tắc là không tiếc một thứ

gì để đảm bảo cho Quân đoàn 2 và tất cả cho nhiệm vụ giải phóng miền Nam.

Về lực lƣợng, điều trung đoàn 46 bộ binh, tiểu đoàn 403 pháo binh, trung

đoàn 4, trung đoàn 271 bộ binh và các đơn vị phục vụ bảo đảm chiến đấu bổ

sung cho Quân đoàn 2. Đạn pháo 130mm, ở trong kho đoàn 74 còn bao nhiêu

gạo đều giao hết cho quân đoàn; về chiến lợi phẩm thu đƣợc nhƣ ô tô, xe tăng,

pháo các loại… và tất cả những thứ gì cần cho nhiệm vụ tiến công, tiêu diệt,

giải phóng Đà Nẵng và giải phóng miền Nam đều giao cho Quân đoàn 2; về

lƣơng thực, giao cho quân đoàn 1.000 tấn gạo ở Phú Bài [85, tr.262-23].

Cùng với nhiệm vụ bảo đảm cơ động, tăng sức chiến đấu cho Quân

đoàn 2, chi viện cho các binh đoàn cơ động chiến lƣợc khác của Bộ Tổng Tƣ

lệnh cùng tiến vào giải phóng miền Nam, một nhiệm vụ khác quan trọng của

Khu ủy là chỉ đạo tiếp quản vùng mới giải phóng và quân quản thành phố

Huế. Nhiệm vụ này chỉ sau mấy ngày giải phóng đã đạt đƣợc kết quả tích cực:

nhanh chóng ổn định về tình hình mọi mặt; truy quét tàn binh, gián điệp mật

vụ, đảng phái phản động; xây dựng chính quyền cách mạng từ cấp xã đến

huyện, tỉnh; bảo đảm mọi sinh hoạt bình thƣờng và phòng dịch cho nhân dân;

huy động mọi lực lƣợng, phƣơng tiện đi đón và vận chuyển gần 32 vạn ngƣời

dân từ các nơi khác trở về quê cũ; tháo gỡ hàng vạn quả bom mìn, bảo vệ cầu

đƣờng giao thông vận tải; tuyển hơn 5.000 thanh niên cho lực lƣợng vũ trang

huyện, tỉnh; phát triển, xây dựng 13.30 du kích, 9.378 dân quân, hơn 1.200 tự

vệ; đến ngày 12-4-1975 đã xây dựng xong chính quyền cách mạng [128,

tr.114].… Những việc làm trên tuy là bƣớc đầu trong một thời gian ngắn

109

nhƣng có ý nghĩa quan trọng: nhanh chóng tiếp quản thành phố và các vùng

mới giải phóng, ổn định tình hình; bảo vệ, củng cố, xây dựng, phát triển vùng

mới giải phóng; là cơ sở vững chắc để TTH làm nhiệm vụ hậu phƣơng trực

tiếp cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Trị - Thiên - Huế đƣợc giải phóng, nhiệm vụ thiêng liêng, cao cả mà

Trung ƣơng Đảng và QUTW giao cho Khu ủy TTH đã hoàn thành xuất sắc.

Do điều kiện, hoàn cảnh mới sau giải phóng, vấn đề tổ chức và lãnh đạo của

các đảng bộ ở khu TTH cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực

tiễn. Bộ Chính trị quyết định giải thể Khu ủy Trị - Thiên - Huế và các ban,

ngành giúp việc cho Khu ủy vào ngày 15-4-1975 [213, tr.142]. Ngày 16-4-

1975, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng gửi bức điện số 157 cho Tỉnh ủy Thừa

Thiên Huế và Tỉnh ủy Quảng Trị, trong đó có đoạn: “Theo quyết định của Bộ

Chính trị, Khu ủy Trị Thiên đã giải thể, hai Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế và

Quảng Trị sẽ trực thuộc Trung ƣơng” [124, tr.113]. Khu ủy hoàn thành sứ

mệnh lịch sử sau 9 năm (1966-1975) xây dựng tổ chức và lãnh đạo CTND

trên một chiến trƣờng đặc biệt, một địa bàn tiền tiêu, trọng điểm, khốc liệt của

cuộc KCCMCN.

*

* *

Từ đầu năm 1969, đến giữa tháng 4-1975, Khu ủy TTH từng bƣớc

củng cố, xây dựng, phát triển tổ chức Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo quân, dân địa

phƣơng vƣợt qua khó khăn, gian khổ, ác liệt, hy sinh vẫn kiên quyết bám trụ

chiến trƣờng, kiên trì đấu tranh chống đế quốc Mỹ và CQVNCH, giành nhiều

thắng lợi lớn. Trong thời gian này, vai trò của Khu ủy thể hiện trên một số

điểm nổi bật: Nhanh chóng nhìn nhận sai lầm, khuyết điểm, khắc phục những

biểu hiện hữu khuynh, tập trung củng cố, xây dựng tổ chức Đảng và lực

lƣợng cách mạng bởi những khó khăn trên chiến trƣờng Trị - Thiên sau Tổng

tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968; giữ vững, củng cố căn cứ địa, liên

tục đấu tranh “giành dân” mở rộng vùng giải phóng và xây dựng vùng giải

phóng ngày càng vững mạnh, nhất là ở Quảng Trị sau Hiệp định Pari; chỉ đạo

110

quân dân địa phƣơng phối hợp có hiệu quả với lực lƣợng chủ lực của Trung

ƣơng mở các chiến dịch tác chiến hợp đồng binh chủng quy mô, phát huy

đƣợc sức mạnh của nổi dậy kết hợp với tiến công, đánh những trận tiêu diệt

lớn, giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lƣợc trong các thời điểm quan trọng của

cuộc chiến tranh nhƣ: chiến dịch phản công Đƣờng 9 - Nam Lào năm 1971,

cuộc tiến công chiến lƣợc Trị - Thiên năm 1972 và cuộc Tổng tiến công và

nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn hai tỉnh Quảng Trị và

Thừa Thiên Huế; chỉ đạo nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả việc tiếp quản thành

phố Huế, xây dựng bộ máy chính quyền cách mạng lâm thời các cấp của hai

tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế sau ngày giải phóng và trở thành hậu

phƣơng trực tiếp, góp phần giải phóng Đà Nẵng (29-3-1975), kết thúc chiến

dịch Huế - Đà Nẵng.

Bên cạnh những thành công trên, trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng tổ

chức và kháng chiến, Khu ủy cũng mắc khuyết điểm lớn: Sau cuộc Tổng tiến

công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, cùng với toàn miền Nam, ở Khu Trị -

Thiên - Huế gặp khó khăn kéo dài do sai lầm trong chỉ đạo chiến lƣợc, đánh

giá chƣa đúng về kẻ thù, chậm chuyển hƣớng đấu tranh cách mạng từ thành

phố sang nông thôn đồng bằng, để “mất đất, mất dân”; trong mấy tháng đầu

sau Hiệp định Pari, Khu ủy còn lúng túng, bị động, chƣa quán triệt chủ trƣơng

chủ động đối phó với hành động phá hoại Hiệp định, lấn chiếm và bình định

của CQVNCH; vai trò nổi dậy của quần chúng nhân dân địa phƣơng chƣa

mạnh, nhất là ở phía Nam Thừa Thiên Huế.

Dù có những hạn chế nhƣng từ năm 1969 đến năm 1975, Khu ủy TTH

đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo kháng

chiến tại một địa bàn trọng yếu, quyết liệt của Trung ƣơng Đảng và QUTW

giao, góp phần cùng toàn miền Nam và cả nƣớc đánh bại chiến lƣợc “Việt

Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, kết thúc cuộc

KCCMCN, thống nhất Tổ quốc.

111

Chƣơng 4

NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

4.1. NHẬN XÉT

4.1.1. Ƣu điểm

4.1.1.1. Thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế phù hợp với Điều lệ

Đảng và đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cuộc kháng chiến

Công tác xây dựng Đảng luôn là nhiệm vụ quan trọng để đƣa Đảng

xứng tầm lãnh đạo cách mạng. Đặc biệt, trong cuộc KCCMCN, nhiệm vụ này

càng thể hiện rõ hơn trong việc Trung ƣơng Đảng, BCT và QUTW quyết định

tổ chức lại, thành lập mới nhiều tổ chức nhƣ Trung ƣơng Cục miền Nam, các

khu tự trị, các liên khu, phân khu, khu và các liên tỉnh ủy, trong đó có sự ra

đời của Khu ủy TTH vào tháng 4-1966.

Điều 11 của Điều lệ Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản

Việt Nam) khóa III quy định về việc thành lập tổ chức đảng: “Tổ chức của

Đảng đƣợc lập ra theo đơn vị hành chính và đơn vị sản xuất hoặc công tác.

Thành lập một đảng bộ mới hoặc bãi bỏ một đảng bộ sẵn có đều phải do cấp

trên trực tiếp quyết định” [112, tr.790]. Tại Điều này, Đảng quy định thêm:

Trƣờng hợp đặc biệt và hạn chế, đƣợc Ban Chấp hành Trung ƣơng

ra quyết nghị thì mới đƣợc lập tổ chức khác của Đảng theo hệ thống

ngành dọc. Ở những khu vực quan trọng về kinh tế, chính trị v.v.

Ban Chấp hành Trung ƣơng có thể lập ra những tổ chức đặc biệt

của Đảng. Ban Chấp hành Trung ƣơng quy định quyền hạn và

nhiệm vụ của những tổ chức đặc biệt này” [112, tr.791].

Những quy định trên luôn đƣợc Đảng ủy các cấp vận dụng linh hoạt,

sáng tạo vào thực tiễn. Khi cả nƣớc bƣớc vào cuộc đọ sức quyết liệt để chống

chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, BCT ra Nghị quyết Về việc

chuyển hướng công tác tổ chức trong tình hình và nhiệm vụ mới (7-7-1965).

Nghị quyết nêu lên yêu cầu và phƣơng hƣớng chung về chuyển hƣớng công

tác tổ chức, trong đó khẳng định:

112

Những khó khăn mới do chiến tranh gây ra đòi hỏi chúng ta phải

nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm, phát huy tính chủ động

sáng tạo của địa phƣơng, của cán bộ đảng viên và quần chúng...

Cần chú trọng khắc phục và đề phòng khuynh hƣớng cục bộ, địa

phƣơng chủ nghĩa, phân tán tản mạn và những hiện tƣợng tập

trung quan liêu [114, tr.281-282].

Đồng thời, Nghị quyết nêu rõ yêu cầu, biệp pháp cụ thể về công tác tổ

chức để thực hiện trong điều kiện mới. Khi nói về việc phải cải tiến và kiện

toàn sự lãnh đạo của các tổ chức đảng, nhất là các cấp ủy địa phƣơng đối với

nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, BCT khẳng định phƣơng hƣớng chung là:

“Phải chú trọng yêu cầu về chất lƣợng, bảo đảm cho các cấp ủy, trƣớc hết là

Ban Thƣờng vụ có đủ khả năng lãnh đạo toàn diện và thật vững vàng, để có

thể đối phó kịp thời và kiên quyết với mọi tình huống có thể xảy ra” [114,

tr.287]. Đối với tất cả các cấp ủy khác, nhất là ở vùng ven biển, vùng biên

giới, các trọng điểm quân sự, chính trị, kinh tế… “nếu cấp ủy viên phụ trách

về quân sự, công an còn yếu hoặc thiếu thì cần đƣa những đồng chí có khả

năng về các mặt nói trên vào cấp ủy để bổ sung hoặc thay thế” [114, tr.288].

Với tinh thần đó, việc thành lập Khu ủy TTH (4-1966) là hoàn toàn phù

hợp với nguyên tắc tổ chức của Đảng, dựa trên cơ sở nội dung Điều lệ Đảng

và các Nghị quyết chuyên đề về công tác xây dựng Đảng, đúng với nguyên

tắc tập trung dân chủ của chính đảng vô sản kiểu mới, tạo ra sự thống nhất

cao và điều kiện cho Khu ủy TTH thực thi nhiệm vụ chủ động, thuận lợi hơn.

Khu ủy TTH đƣợc chế định rõ, chặt chẽ về nguyên tắc tổ chức và hoạt động.

Thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn, thời gian tồn tại của Khu ủy TTH do BCH

Trung ƣơng ấn định.

Trong cuộc KCCMCN, đặc biệt trong giai đoạn đế quốc Mỹ thực hiện

chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ”, TTH - vùng đất địa đầu giới tuyến, tiếp giáp

với miền Bắc XHCN ngày càng có vị trí chiến lƣợc, quan trọng đối với Chính

phủ VNDCCH.

113

Từ tháng 3-1955 đến tháng 4-1966, Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên thuộc

Liên tỉnh 1 trực thuộc Khu ủy V. Trong thời gian này, một mặt Trung ƣơng

xác định chiến trƣờng TTH là “khu đệm”, hạn chế đấu tranh vũ trang, tránh

việc tạo điều kiện để CQVNCH “lấp sông Bến Hải, tiến quân ra Bắc”; mặt

khác, Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên cách xa Khu ủy V, nhiều lúc chƣa đƣợc sự

quan tâm đúng mức, chỉ đạo kịp thời từ Khu ủy V và cơ quan lãnh đạo tại địa

phƣơng chƣa phát huy đƣợc nhiệm vụ, trách nhiệm, năng lực lãnh đạo của

mình. Đến năm 1965, khi đế quốc Mỹ phát động và triển khai chiến lƣợc

“Chiến tranh cục bộ” lan rộng khắp miền Nam, tình hình chiến trƣờng TTH

càng trở nên khó khăn hơn.

Cuối tháng 4-1966, trải qua gần một năm “tìm diệt” và “bình định”

trên toàn miền Nam, quân đội viễn chinh Mỹ chẳng những không thực hiện

đƣợc mục tiêu “đánh gãy xƣơng sống Việt cộng” mà còn bị quân, dân miền

Nam đánh trả quyết liệt trong mùa khô lần thứ nhất (1965-1966). Ở chiến

trƣờng TTH, mặc dù quân đội Mỹ và QĐVNCH không tập trung “tìm diệt”

lớn nhƣ ở các chiến trƣờng khác, phong trào cách mạng tuy có thu đƣợc

một số kết quả song còn tiến triển chậm. Do đó, Mỹ chƣa phải đối phó lớn

với QGP ở TTH, mà tập trung lực lƣợng càn quét đánh phá ác liệt các tỉnh

đồng bằng khu V, miền Đông Nam Bộ, gây nhiều tổn thất cho phong trào

cách mạng.

Trƣớc tình hình trên, để đƣa chiến trƣờng TTH phát triển tiến kịp và

phối hợp với các chiến trƣờng khác, góp phần “chia lửa”, ngăn chặn ý Mỹ

đƣa số quân lớn vào đồng bằng sông Cửu Long và chiến tranh trên bộ ra miền

Bắc, BCT và QUTW chủ trƣơng tách Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên ra khỏi Khu ủy

V để lập Khu ủy TTH (4-1966), trực thuộc Trung ƣơng là quyết định đúng

đắn, phù hợp với tình hình của địa phƣơng. Đây là điều kiện tiên quyết để đƣa

cuộc KCCMCN ở TTH lên bƣớc mới. Thực tiễn cuộc KCCMCN trên chiến

trƣờng thời gian tiếp theo đã chứng minh sự đúng đắn đó.

114

4.1.1.2. Khu ủy xây dựng tổ chức và có cơ chế hoạt động phù hợp, đáp

ứng yêu cầu lãnh đạo kháng chiến ở một địa bàn chiến lược

Từ khi thành lập đến khi giải thể, Khu ủy TTH luôn quan tâm đến công

tác củng cố, kiện toàn, phát triển tổ chức. Tại Hội nghị lần thứ hai (10-1967),

Khu ủy chủ trƣơng xây dựng Đảng bộ khu “thành một Đảng bộ lớn mạnh về

tổ chức” [15, tr.19], “phát triển số lƣợng, nâng cao chất lƣợng, kiện toàn cấp

ủy, giáo dục và đào tạo cán bộ” [16, tr.19].

Từ năm 1966 đến năm 1975, các tổ chức cấp dƣới Khu ủy có một số thay

đổi. Từ tháng 4-1966 đến tháng 8-1967, Khu ủy TTH xây dựng tổ chức từ cấp

Khu ủy đến cấp Tỉnh ủy (Thành ủy), cấp Huyện ủy (Thị ủy, Quận ủy), cấp

Đảng ủy xã (Đảng ủy phƣờng, Đảng ủy thị trấn, Chi ủy xã); Thành ủy Huế

ngang cấp với Tỉnh ủy Quảng Trị và Tỉnh ủy Thừa Thiên. Từ tháng 8-1967

đến tháng 6-1971, Trung ƣơng quyết định giải thể các Tỉnh ủy, Khu ủy TTH

xây dựng tổ chức từ cấp Khu ủy đến cấp Thành ủy (Đoàn - Mặt trận), cấp

Huyện ủy (Thị ủy, Quận ủy), cấp Đảng ủy xã (Đảng ủy phƣờng, Đảng ủy thị

trấn, Chi ủy xã). Từ tháng 6-1971 đến tháng 4-1975, Trung ƣơng quyết định lập

lại Tỉnh ủy Quảng Trị và Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, Khu ủy TTH xây dựng tổ

chức từ cấp Khu ủy đến cấp Tỉnh ủy, cấp Huyện ủy (Thành ủy, Thị ủy, Quận

ủy), cấp Đảng ủy xã (Đảng ủy phƣờng, Đảng ủy thị trấn, Chi ủy xã); Thành

ủy Huế trực thuộc Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế. Sự thay đổi trên để phù hợp với

yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử nhất định. Tuy nhiên, chủ trƣơng

giải thể cấp Tỉnh ủy những năm 1967-1971, vừa có những điểm hợp lý, vừa

gây ra nhiều xáo trộn trong tổ chức, “ảnh hƣởng không tốt đến tâm tƣ tình

cảm của cán bộ, đảng viên, đến đoàn kết nội bộ” [202, tr.108].

Tổ chức Đảng các cấp thƣờng xuyên đƣợc củng cố, kiện toàn, phát

triển, luôn nâng cao trình độ nhận thức và năng lực lãnh đạo, mang lại hiệu

quả cao trong lãnh đạo CTND ở địa bàn TTH.

Trải qua 9 năm xây dựng, phát triển về tổ chức, Khu ủy đạt đƣợc nhiều

thành tựu nổi bật, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một tổ chức Đảng mang

tính đặc thù ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, đúng theo quan điểm xây

115

dựng tổ chức Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mỗi cấp bộ của Đảng phải là

một cơ quan lãnh đạo vững chắc ở địa phƣơng, theo đúng đƣờng lối, chính

sách của Trung ƣơng [166, tr.28]. Với thắng lợi toàn diện và to lớn trong cuộc

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Đảng bộ Thành phố Huế đƣợc

Trung ƣơng Đảng biểu dƣơng: “Đảng bộ kiên cƣờng về tƣ tƣởng, vững mạnh

về tổ chức, trong sạch nội bộ, đoàn kết nhất trí” [215, tr.184].

Trung ƣơng Đảng quy định về bộ máy giúp việc của Khu ủy TTH:

“Khu ủy sẽ nghiên cứu và quyết định việc kiện toàn theo nguyên tắc gọn, nhẹ,

thiết thực, phù hợp với tình hình” [117, tr.480]. Bộ máy giúp việc cho Khu ủy

bao gồm Văn phòng Khu ủy, một số Ban chuyên môn (Tổ chức, Tuyên huấn,

Kiểm tra Đảng, Dân vận, Giao liên, Kinh tế, An ninh, Binh vận, Thi đua khen

thƣởng…), riêng lĩnh vực quân sự đã thành lập Quân khu TTH, Đảng ủy

Quân khu trực thuộc Khu ủy. Các ban trên đƣợc Thƣờng vụ Khu ủy chỉ đạo

xây dựng trong từng giai đoạn cho phù hợp với nhiệm vụ của chiến trƣờng

TTH. Trƣởng các Ban quan trọng là do Bí thƣ Khu ủy, Phó Bí thƣ Khu ủy,

Ủy viên Thƣờng vụ Khu ủy và các Khu ủy viên phụ trách. Cán bộ chuyên

trách, giúp việc cho Văn phòng Khu ủy và các Ban ít biến động về số lƣợng

và con ngƣời cụ thể.

Các đồng chí Khu ủy viên, Thƣờng vụ Khu ủy và Bí thƣ, Phó Bí thƣ

Khu ủy đều do Trung ƣơng chỉ định, giao nhiệm vụ. Số lƣợng các Khu ủy

viên thƣờng xuyên biến động tùy theo nhiệm vụ, yêu cầu luân chuyển cán bộ

của BCT và QUTW nhƣng thƣờng có từ 7 đến 17 Khu ủy viên. Trong 9 năm

hoạt động có tới 5 Bí thƣ Khu ủy. Sự thay đổi thƣờng xuyên ngƣời lãnh đạo

đứng đầu là một trong những khó khăn, làm hạn chế khả năng lãnh đạo thống

nhất, liên tục, sát thực tế của Khu ủy.

Sau khi thành lập, Khu ủy xây dựng quy chế làm việc trên cơ sở tuân

thủ Điều lệ Đảng khóa III và các Nghị quyết về xây dựng Đảng, nhiệm vụ của

BCT giao và phù hợp với thực tiễn cuộc kháng chiến. Theo đó, trách nhiệm

của mỗi đồng chí Khu ủy viên đƣợc phân định rõ ràng, phụ trách một địa bàn,

một Ban chuyên môn hoặc một mặt trận, một hƣớng tiến công chủ yếu trong

116

các trận đánh. Giữa các đồng chí Khu ủy viên luôn có sự phối hợp hoạt động,

giúp đỡ nhau trên cơ sở bám sát nhiệm vụ trọng tâm của Khu ủy trong cả thời

kỳ, từng giai đoạn, thời điểm cụ thể.

Trong lãnh đạo, Khu ủy luôn chú trọng xây dựng khối đoàn kết thống

nhất trong nội bộ Khu ủy và toàn Đảng bộ khu TTH, thực hiện phê bình và tự

phê bình, đề cao tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật của từng đồng chí, kịp

thời sửa chữa những khuyết điểm trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo. Ở mỗi

cuộc họp BCH và Thƣờng vụ, các đồng chí trong Khu ủy đều nêu cao tinh

thần và thái độ nghiêm túc trong nhìn nhận, đánh giá những việc đã làm và

những hạn chế, khuyết điểm. Với cách thức hoạt động đó, các đồng chí Khu

ủy viên phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc

Trung ƣơng Đảng giao phó.

Từ năm 1966 đến 1975, Khu ủy tiến hành họp 15 kỳ Hội nghị (2 hội

nghị/năm vào các năm 1966, 1967, 1969, 1970, 1971, 1974; 1 hội nghị/năm

vào các năm 1968, 1972, 1973), các Hội nghị Thƣờng vụ Khu ủy, Thƣờng vụ

Khu ủy mở rộng (khoảng 1 đến 2 tháng họp 1 lần) và Hội nghị Thƣờng vụ

Khu ủy bất thƣờng để kịp thời đánh giá thực tiễn, đề ra chủ trƣơng, biện pháp

thực hiện các nhiệm vụ trong khu. Năm 1974, thực hiện chủ trƣơng của Trung

ƣơng, Khu ủy TTH đã chuẩn bị về văn kiện, về công tác tổ chức, về nhân sự

tiến tới Đại hội Đảng bộ khu TTH vào tháng 12-1974 hoặc đầu năm 1975

nhƣng do cả nƣớc đang tập trung cao độ cho giai đoạn cuối của cuộc

KCCMCN nên Đại hội Đảng bộ khu TTH không diễn ra theo kế hoạch.

Cùng với sự thay đổi, phát triển ngày càng lớn mạnh của Khu ủy là sự

đóng góp công sức, trí tuệ của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Trung ƣơng

công tác tại chiến trƣờng TTH. Ngƣời có thời gian lãnh đạo Khu ủy lâu nhất

là Thƣợng tƣớng Trần Văn Quang (Bảy Tiến), Ủy viên dự khuyết BCH Trung

ƣơng Đảng khóa III, Thứ trƣởng Bộ Quốc phòng (1977-1978), Bí thƣ Khu ủy

kiêm Tƣ lệnh Quân Khu ủy TTH giai đoạn 1966-1968 và giai đoạn 1971-

1973, Phó Bí thƣ Khu ủy TTH giai đoạn 1968-1971. Tiếp đó là các ông:

Hoàng Anh, Ủy viên BCH Trung ƣơng Đảng khóa II, III, IV, Bí thƣ Trung

117

ƣơng Đảng (1958-1976), Phó Thủ tƣớng Chính phủ (1971-1976), Bí thƣ Khu

ủy giai đoạn 1968-1971; Trần Hữu Dực, Ủy viên BCH Trung ƣơng Đảng

khóa I, II, III, IV, Phó Thủ tƣớng Chính phủ (1974-1976), Bí thƣ Khu ủy giai

đoạn 1973-1974; Trung tƣớng Lê Tự Đồng, Bí thƣ Khu ủy giai đoạn 1974-

1975, Phó Bí thƣ Khu ủy giai đoạn 1973-1974 và nhiều cán bộ đảng, tƣớng

lĩnh quân đội khác: Đại tƣớng Nguyễn Quyết, Trung tƣớng Đặng Kinh, Thiếu

tƣớng Lê Chƣởng, Thiếu tƣớng Hoàng Sâm, Đại tá Vũ Nam Long, các đồng

chí Lê Minh, Nguyễn Húng (Nguyễn Văn Quảng), Bùi Định (Nguyễn Hữu

Mô), Trƣơng Chí Công, Vũ Soạn, Hồ Sĩ Thản, Hồ Tú Nam (Nguyễn Văn

Thanh), Trần Anh Liên, Lê Hành... Trong 9 năm, có 2 đồng chí Ủy viên

Thƣờng vụ Khu ủy đã hy sinh trong chiến đấu, đó là đồng chí Hoàng Sâm (hy

sinh năm 1968) và đồng chí Lê Tự Nhiên (hy sinh năm 1970).

Khu ủy TTH đã quán triệt, chấp hành tốt sự lãnh đạo của BCT, Ban Bí

thƣ và QUTW. Đồng thời, Khu ủy xác định và xử lý tốt mối quan hệ giữa

Khu ủy với các cấp ủy Đảng trực thuộc: Tỉnh ủy Thừa Thiên (từ năm 1971 là

Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế), Tỉnh ủy Quảng Trị, Thành ủy Huế, Quân Khu ủy

TTH, với chính quyền và tổ chức đoàn thể các cấp; mối quan hệ ngang cấp,

phối hợp giữa Khu ủy với các cấp ủy Đảng khác: Đoàn ủy 559, Đảng ủy Mặt

trận B5 (Đảng ủy Mặt trận Đƣờng 9 - Bắc Quảng Trị), Tỉnh ủy Quảng Bình,

Khu ủy Vĩnh Linh, Khu ủy V...

Khu ủy thƣờng xuyên quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Công tác

tƣ tƣởng đạt nhiều thành tựu. Thời kỳ chống chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ”,

khi quân Mỹ mới đổ bộ vào TTH, công tác tƣ tƣởng giải quyết vấn đề hữu

khuynh trong đánh giá sức mạnh và khả năng của Mỹ, sợ Mỹ, sợ ác liệt, sợ

khó khăn, tiếp tục ba mũi giáp công, giữ vững và từng bƣớc mở rộng vùng

giải phóng ở miền núi, nông thôn đồng bằng, chuẩn bị tiến vào làm chủ đô thị.

Thời kỳ chống chiến lƣợc “Việt Nam hóa chiến tranh”, công tác tƣ tƣởng

khắc phục những hoài nghi, dao động, bi quan trƣớc những khó khăn kể từ

sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở TTH, quán triệt vấn

đề chống bình định, giành dân, lấy dân làm gốc, tin tƣởng và dựa vào quần

118

chúng nhân dân. Công tác đào tạo, bồi dƣỡng, giao nhiệm vụ cho cán bộ đƣợc

đặt ra liên tục. Phát triển đảng viên đảm bảo cả số lƣợng và chất lƣợng. Theo

thống kê của Ban Tổ chức Khu ủy, tháng 6-1969 toàn Đảng bộ Khu có 14.564

đảng viên, đến tháng 8-1974, toàn Khu “có 15.416 đảng viên, trong đó lực

lƣợng vũ trang có 8.834 đảng viên, các cơ quan từ Khu trở xuống có 3.581

đảng viên, đảng viên thôn, xã (cả vùng giải phóng Quảng Trị) là 3.011 đảng

viên” [85, tr.232]. Đa số cán bộ, đảng viên của Khu ủy có phẩm chất đạo đức

tốt, anh dũng, kiên cƣờng trong chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp đấu

tranh giải phóng quê hƣơng, giải phóng dân tộc.

Việc thành lập Khu ủy TTH dựa trên cơ sở cải tổ, bổ sung tổ chức đảng

đã có trƣớc đó. Với tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động hợp lý, đúng nguyên

tắc tổ chức xây dựng của Đảng, thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến, tính

năng động đƣợc đề cao, Khu ủy hoạt động đạt hiệu quả cao trong lãnh đạo

phong trào cách mạng trên địa bàn theo quy định của Trung ƣơng Đảng.

4.1.1.3. Khu ủy lãnh đạo tổ chức thắng lợi chiến tranh nhân dân trên

địa bàn, góp phần bảo vệ đường hành lang chiến lược, bảo vệ miền Bắc và

phối hợp, giúp đỡ cách mạng Lào có hiệu quả

Cuộc KCCMCN của nhân dân Việt Nam trải qua 21 năm, trong đó 10

năm sau (1965-1975) tính chất gay go, ác liệt nhất, cuối cùng đã giành thắng

lợi. Đó là cuộc CTND cứu nƣớc vĩ đại, “dài ngày nhất, ác liệt nhất và phức

tạp nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam” [84, tr.33].

Thắng lợi của CTND ở chiến trƣờng TTH là một trong những đóng góp quan

trọng, góp phần quyết định đến thắng lợi của toàn miền Nam và cả nƣớc.

Thực hiện chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng và Khu ủy, lực lƣợng

chính trị và lực lƣợng vũ trang ở chiến trƣờng TTH ngày càng đựợc xây dựng

vững mạnh trên cả ba vùng chiến lƣợc (miền núi, đồng bằng và đô thị).

Từ khi Nghị quyết 15 của BCH Trung ƣơng Đảng về đƣờng lối cách

mạng miền Nam ra đời (1959), lực lƣợng vũ trang TTH từng bƣớc hình thành

và đấu tranh quân sự dần dần kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, binh

vận tạo nên thế trận “ba mũi giáp công”. Giữa năm 1966, Khu ủy, Quân khu

119

TTH, Mặt trận Đƣờng 9 - Bắc Quảng Trị thành lập, lực lƣợng vũ trang của

địa phƣơng ngày càng phát triển nhanh về số lƣợng và chất lƣợng. Đến tháng

8-1974, bộ đội chủ lực của Quân khu TTH có “3 trung đoàn bộ binh, 1 trung

đoàn pháo binh cơ giới, 1 trung đoàn cao xạ cơ giới, 1 trung đoàn công binh,

1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn bộ binh đánh giao thông, 1 tiểu đoàn vận tải

cơ giới” [47, tr.8]; “bộ đội địa phƣơng tỉnh có 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn

đặc công, bộ đội địa phƣơng huyện có 13 đại đội, 12 trung đội, 16 đội vũ

trang công tác” [47, tr.9]; lực lƣợng dân quân du kích ở các ấp, xã, huyện, tỉnh

phát triển ngày càng vững mạnh cả về số lƣợng và trình độ tác chiến, đấu

tranh với quân đội Mỹ và QĐVNCH.

Lực lƣợng vũ trang TTH lập chiến công lớn trong cuộc Tổng tiến công

và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, giành và giữ thành phố Huế 25 ngày đêm -

lâu nhất so với toàn miền Nam, có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện chiến

lƣợc chung của toàn miền Nam, tạo bƣớc ngoặt cho cuộc KCCMCN. Với

thành tích nổi bật đó, ngày 21-2-1968, Bộ Chỉ huy các lực lƣợng vũ trang giải

phóng miền Nam nhiệt liệt hoan nghênh và ghi nhớ công ơn của đồng bào và

các lực lƣợng vũ trang thành phố Huế đã hết lòng giúp đỡ bộ đội, phục vụ tiền

tuyến, cùng chiến đấu với các lực lƣợng vũ trang giải phóng. Ngày 1-3-1968,

Ủy ban Trung ƣơng MTDTGP miền Nam Việt Nam đã tuyên dƣơng công

trạng của toàn Miền, trong đó có quân dân TTH [215, tr.184]. Đƣợc tin từ tiền

tuyến báo về, để biểu dƣơng CTND ở Huế trong Tết Mậu Thân 1968, điển

hình là chiến công của 11 cô gái Sông Hƣơng (Tiểu đội nữ du kích thôn Vân

Thê, xã Thanh Thủy, huyện Hƣơng Thủy (nay là thị xã Hƣơng Thủy), tỉnh

Thừa Thiên Huế do Phạm Thị Liên làm Tiểu đội trƣởng), tháng 3-1968, Chủ

tịch Hồ Chí Minh gửi thƣ khen ngợi: “Dõng dạc tay cầm khẩu súng trƣờng,

Khôn ngoan dàn trận khắp trong phƣờng, Bác khen các cháu dân quân gái,

Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xƣơng” [167, tr.434].

Hội nghị chiến tranh du kích toàn Miền lần thứ 4 (10-1968) khẳng

định: “Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, phong trào chiến tranh

du kích đã góp phần xứng đáng và có một bƣớc phát triển mới mạnh mẽ,

120

phong phú” [217, tr.184]. Hội nghị đã chọn ba ngọn cờ đầu về phong trào đấu

tranh du kích trên toàn miền Nam: “Bến Tre - Anh dũng đồng khởi thắng Mỹ,

diệt ngụy. Trà Vinh - Toàn dân nổi dậy đoàn kết lập công. Thừa Thiên Huế -

Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường” [215, tr.185].

Xuất phát từ đặc điểm, thành phố Huế là trung tâm chính trị miền

Trung có nhiều tầng lớp nhân dân, Khu ủy lãnh đạo công tác mặt trận ở thành

thị thông qua các tổ chức yêu nƣớc, cách mạng của nhân dân, trong đó trí

thức, học sinh, sinh viên là “ngòi pháo”. MTDTGP miền Nam Việt Nam ở

TTH ngày càng tập hợp rộng rãi các thành viên, các cá nhân tham gia chống

giặc, cứu nƣớc, nhiều ngƣời thuộc tầng lớp quan lại, công chức cao cấp đã đi

theo cách mạng. Khu ủy theo dõi, vận động nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn

giáo ở Huế hình thành một mặt trận mới ở đô thị - Liên minh các lực lượng

dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ở thành phố Huế. Đây là tổ chức Liên

minh ra đời sớm nhất trên toàn miền Nam.

Các mặt trận, phong trào ở TTH tập hợp nhân dân theo tính chất đặc

thù: Hội trí thức yêu nƣớc, Hội phụ nữ đòi quyền sống, Mặt trận bảo vệ văn

hóa dân tộc, Hội bảo vệ học đƣờng, Mặt trận hòa bình, Ủy ban hòa hợp dân

tộc, Ủy ban chống tham nhũng, Đoàn sinh viên quyết tử, Đoàn nghĩa binh yêu

nƣớc, Tổng hội sinh viên, Đoàn thanh niên phật tử... để thực hiện khẩu hiệu

“Hòa bình, dân chủ, dân sinh, độc lập, thống nhất” mà Cƣơng lĩnh MTDTGP

miền Nam Việt Nam đã đề ra.

Do tính chất ác liệt của cuộc KCCMCN nên thời kỳ này ở TTH không

có những chiến khu có tính ổn định nhƣ Hòa Mỹ, Dƣơng Hòa trong kháng

chiến chống thực dân Pháp. Các cơ quan chỉ đạo, chỉ huy, các đơn vị, các

ngành công tác đều làm nhà dƣới những rừng cây, có địa thế thuận lợi để

tránh kẻ thù và tiện sinh hoạt. Trong 9 năm tồn tại, Khu ủy đã lãnh đạo xây

dựng nhiều địa điểm cơ quan, đơn vị đóng quân. Khi mới thành lập, cơ quan

Khu ủy đóng tại miền Tây Thừa Thiên (A Lƣới - Thừa Thiên Huế). Tháng 8-

1966, Khu ủy chuyển trụ sở về Động Chuối, vùng núi gần chiến khu Hòa Mỹ.

Từ tháng 8-1967, cơ quan Khu ủy đóng ở vùng núi Khe Trái (Hƣơng Vân -

121

Hƣơng Trà - Thừa Thiên Huế) để xây dựng Địa đạo Khe Trái, làm căn cứ địa

cách mạng. Tháng 5-1968, do Mỹ phát hiện ra địa đạo nên Khu ủy chuyển trụ

sở về lại miền núi A Lƣới. Sau khi ký Hiệp định Pari, vùng giải phóng Quảng

Trị có địa bàn lớn nhất, Khu ủy rời trụ sở từ dốc Cao Bồi (A Lƣới - Thừa

Thiên Huế) ra đóng tại xã Ba Nang (Đakrông - Quảng Trị).

Nhờ vào việc xây dựng LLCM và căn cứ địa ngày càng vững mạnh, Khu

ủy TTH lãnh đạo quân và dân địa phƣơng đẩy mạnh kháng chiến theo phƣơng

châm “hai chân”, “ba mũi giáp công”, “ba vùng chiến lƣợc”, góp phần cùng cả

nƣớc từng bƣớc đánh thắng các chiến lƣợc chiến tranh xâm lƣợc của đế quốc

Mỹ. Theo thống kê ban đầu “Báo cáo thành tích 18 năm đánh Mỹ của quân và

dân Trị - Thiên” trong Đại hội mừng công sau 18 năm đánh Mỹ của Khu ủy,

đến năm 1973, QGP đã diệt và bắt 460.994 tên lính đối phƣơng, trong đó có

154.861 lính Mỹ và đồng minh; bắn rơi và phá hủy 5.415 máy bay; thu và phá

hủy 11.295 xe quân sự (trong đó có 4.202 xe tăng và xe bọc thép); thu 2.102

khẩu pháo cối hạng nặng; đánh chìm và cháy 470 tàu, xuồng chiến đấu; phá

hủy 144 đầu tàu, toa xe lửa; đốt cháy nhiều kho bom đạn, xăng dầu và các

phƣơng tiện chiến tranh khác [43, tr.1] của quân Mỹ và QĐVNCH.

Hậu phƣơng miền núi TTH nghèo nhƣng là chỗ dựa vững chắc để xây

dựng lực lƣợng, phát triển căn cứ địa cách mạng. Hậu phƣơng tại chỗ ở nông

thôn đồng bằng cũng là chỗ dựa vững chắc cho lực lƣợng vũ trang. Nhân dân

hăng hái tham gia, phục vụ chiến đấu, giải quyết hậu cần tại chỗ, kịp thời, tạo

điều kiện thuận lợi cho bộ đội đánh chắc thắng kẻ thù. Xuất phát từ quan điểm

“trận địa xây dựng giữa lòng ngƣời”, Khu ủy TTH chú trọng lãnh đạo xây

dựng hậu phƣơng nhỏ trong vùng kiểm soát của CQVNCH. Sau khi giải

phóng TTH vào mùa Xuân năm 1975, Khu ủy chỉ đạo ngay việc giúp đỡ, tăng

cƣờng lực lƣợng vũ trang, vũ khí, thuốc men... cho Đà Nẵng và các tỉnh phía

Nam, tiếp thêm sức mạnh để các địa phƣơng bạn tiến lên thực hiện Tổng tiến

công và nổi dậy giành thắng lợi cuối cùng.

Tỉnh Quảng Trị có 208 km đƣờng biên giới với nƣớc Cộng hòa Dân

chủ nhân dân Lào, có Đƣờng 9 chiến lƣợc xuyên Á qua Lào nên đế quốc Mỹ

122

luôn xem Quảng Trị là bàn đạp tấn công, khống chế hoạt động của lực lƣợng

vũ trang cách mạng Lào và ngƣợc lại. Dƣới sự lãnh đạo của Khu ủy TTH,

Tỉnh ủy Quảng Trị sớm ý thức về tầm quan trọng của khối đoàn kết chiến đấu

Việt - Lào nói chung và với hai tỉnh Xavanakhet, Xalavan nói riêng. Nhân

dân các dân tộc huyện Hƣớng Hóa và nhân dân các bộ tộc Lào ở hai tỉnh nói

trên cùng chung sống hòa bình, hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau trên biên giới của

hai nƣớc. Quân dân TTH phối hợp, giúp đỡ nhân dân Lào trong việc chủ động

phản công chiến dịch Đƣờng 9 - Nam Lào năm 1971 và giành thắng lợi lớn.

Khu ủy TTH lãnh đạo quân dân địa phƣơng “kề vai sát cánh” đấu tranh

cùng bộ đội chủ lực, góp phần giành các chiến thắng: Chiến dịch Khe Sanh

năm 1968; Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở TTH, giải phóng

và làm chủ thành phố Huế trong 25 ngày đêm, góp phần cùng toàn miền Nam

đánh thắng chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ”, buộc đế quốc Mỹ phải xuống

thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari;

chiến dịch phản công Đƣờng 9 - Nam Lào năm 1971; cuộc tiến công chiến

lƣợc Trị - Thiên năm 1972 mà trọng điểm là cụm phòng ngự của quân Mỹ và

quân đội tay sai ở Quảng Trị, góp phần đánh thắng cơ bản chiến lƣợc “Việt

Nam hóa chiến tranh”, chấp nhận giải pháp hòa bình, ký kết Hiệp định Pari

(27-1-1973); cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng

hoàn toàn tỉnh Quảng Trị (19-3-1975) và tỉnh Thừa Thiên Huế (26-3-1975),

kết thúc vẻ vang, hào hùng 21 năm KCCMCN oanh liệt “anh dũng, kiên

cƣờng”, mở ra trang sử mới, thời kỳ phát triển mới cho vùng đất TTH.

4.1.2. Hạn chế

4.1.2.1. Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trên một số mặt chưa đáp

ứng được yêu cầu thực tiễn của cuộc kháng chiến

Từ khi ra đời, Khu ủy TTH tập trung chỉ đạo công tác chính trị tƣ

tƣởng và tổ chức cho cán bộ, đảng viên, bộ đội, nhân dân và đạt đƣợc nhiều

thành tựu nhƣng công tác này còn nhiều khiếm khuyết.

Tƣ tƣởng hữu khuynh tồn tại trong một thời gian dài, chậm khắc phục.

“Tƣ tƣởng của cán bộ, đảng viên có tình hình dao động, thiếu kiên định, ngán

123

lâu dài, ngại hy sinh gian khổ, ý thức tổ chức và kỷ luật thấp, cục bộ bản vị,

phiến diện và có nhiều biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân tiểu tƣ sản” [31, tr.6].

Công tác tổ chức lãnh đạo chƣa thật ổn định, chƣa phát huy hết sức

mạnh của tổ chức Đảng. “Tổ chức lãnh đạo của các cấp ủy địa phƣơng với

các đơn vị chủ lực chồng chéo nhau, quan hệ không rành mạch, ảnh hƣởng

đến đoàn kết nhất trí nội bộ” [75, tr.13].

Tháng 8-1967, giải thể Tỉnh ủy lập ra Đảng ủy miền Tây Trị - Thiên,

Đoàn 4, Đoàn 5, Đoàn 6 và Đoàn 7 trực thuộc Khu ủy. Mỗi Đoàn (Mặt trận)

phụ trách một khu vực. Riêng Đoàn 5, tức là Thành ủy Huế phụ trách thành

phố Huế và 3 huyện (Hƣơng Trà, Hƣơng Thủy, Phú Vang) nhƣng trong Tổng

tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã phân tán thành hai bộ phận Nam

sông Hƣơng và Bắc sông Hƣơng với hai Ban Chỉ huy mặt trận khác nhau, còn

Ban Thƣờng vụ Thành ủy Huế thì trở thành một bộ phận giúp việc cho

Thƣờng vụ Khu ủy TTH. Đảng ủy mặt trận toàn thành phố mới thành lập đã

giải tán, do đó trong suốt cuộc Tổng tiến công và nổi dậy không có cơ quan

lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất. “Đây là những chủ trƣơng không đúng, dẫn đến

hạn chế trong việc tổ chức lãnh đạo của các Đảng bộ trong một thời gian dài

làm giảm sút sức chiến đấu của Đảng bộ (khu), làm ảnh hƣởng không tốt đến

tâm tƣ, tình cảm cán bộ, đảng viên, đến đoàn kết nội bộ” [202, tr.107-108].

Công tác phát triển đảng viên không đều. Ở đồng bằng, những nơi đông

dân và vùng trọng yếu đảng viên ít, thậm chí có nơi không có, số lƣợng đảng

viên tập trung đông ở trong bộ đội và miền núi; chất lƣợng đảng viên chƣa

cao, sự hiểu biết về Đảng, về đƣờng lối của Đảng, về nguyên tắc tổ chức,

nguyên tắc sinh hoạt Đảng còn thấp.

Công tác cán bộ còn thiếu sót, cách bố trí sử dụng, giáo dục cán bộ

chƣa phù hợp với yêu cầu; quản lý cán bộ còn thiếu chặt chẽ, kỷ luật thiếu

nghiêm minh, phân công phụ trách không rõ ràng. “Trong cán bộ thƣờng có

tình hình không ổn định, hay dao động, xa rời quần chúng, xa chiến sĩ, quan

liêu, mệnh lệnh chủ quan, làm việc theo cách lấy thành tích, chƣa xác định

đầy đủ trách nhiệm đối với dân, đối với Đảng, đối với địa phƣơng” [85, tr.6].

124

Cán bộ, đảng viên thuộc Đảng bộ khu TTH đƣợc bổ sung từ nhiều địa

phƣơng, nhiều chiến trƣờng, nhiều quân khu khác nhau, quân Mỹ và

QĐVNCH lại liên tiếp đánh phá, nên đội ngũ cán bộ cốt cán và đảng viên có

kinh nghiệm tổn thất nhiều; cán bộ, đảng viên phần lớn không phải từ trong

nhân dân địa phƣơng mà ra nên không hiểu hết lịch sử, truyền thống của địa

phƣơng, điều đó cũng làm ảnh hƣởng xấu tới công tác tổ chức của Khu ủy.

Chi bộ nhiều nhƣng chƣa xây dựng đúng vai trò, chức năng lãnh đạo

của Đảng. Ở nhiều địa phƣơng, chi bộ chỉ là hình thức, thậm chí có chi bộ

nhƣ là một bộ phận phục vụ.

4.1.2.2. Trong công tác lãnh đạo, ở một số chủ trương, giải pháp,

Khu ủy còn chủ quan, bị động, chưa sát với tình hình chiến trường

Trong suốt quá trình hoạt động của mình, mặc dù luôn quán triệt đầy đủ

tinh thần chỉ đạo của BCT, QUTW và sự quan tâm của Trung ƣơng Cục miền

Nam nhƣng ở vị trí lãnh đạo một địa phƣơng, một chiến trƣờng quan trọng, ác

liệt, gian khổ, Khu ủy TTH còn một số khuyết điểm:

Ở các thời điểm sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 và

sau cuộc tiến công chiến lƣợc Trị - Thiên năm 1972, Khu ủy TTH “chƣa nắm

vững đƣờng lối, phƣơng châm, nguyên tắc, quy luật của chiến tranh lâu dài,

chiến tranh nhân dân, thế chiến lƣợc ba vùng và những biện pháp cơ bản của

cách mạng” [31, tr.7]. Do tƣ tƣởng tập trung làm một đợt, thiếu ý thức lâu dài,

chƣa hiểu rõ sức mạnh của LLCM là toàn dân đánh giặc nên dẫn đến chệch

phƣơng hƣớng tiến công; chƣa quán triệt sâu sắc và lâu dài phƣơng hƣớng

tiến công chủ yếu của QGP là vùng nông thôn đông ngƣời nhiều của, chƣa

nắm chắc vấn đề vận động nông dân, chƣa tích cực hỗ trợ cho nông thôn.

Xây dựng cơ sở và lực lƣợng chính trị, xu hƣớng lãnh đạo chủ yếu

trong nhiều năm là tập trung cho việc hoạt động từng đợt, tập trung giành

thắng lợi quyết định bằng một đợt tổng hợp chủ lực; trông chờ, ỷ lại vào bộ

đội chủ lực nên xem nhẹ vấn đề vận động quần chúng đấu tranh, vấn đề tổ

chức lực lƣợng chính trị. Cơ sở chính trị ở đồng bằng có nhiều bƣớc phát triển

tích cực nhƣng ở những vùng đông dân, vùng sát căn cứ, thành phố còn yếu.

125

Xem nhẹ vấn đề xây dựng lực lƣợng vũ trang ba thứ quân. Bộ đội chủ

lực tuy có nhiều tiến bộ nhƣng chƣa triển khai đƣợc đội hình thích hợp nhất

để đánh quân Mỹ và QĐVNCH; chƣa tiêu diệt, tiêu hao và làm tan rã bộ phận

lớn sinh lực kẻ thù; việc chuẩn bị đƣờng sá, cơ sở vật chất cho chiến trƣờng

chƣa theo kịp nhiệm vụ kháng chiến. Chiến tranh du kích chƣa phát triển rộng

và đều ở nông thôn, thành phố và giáp ranh, số lƣợng du kích, biệt động và

trinh sát vũ trang còn ít, chất lƣợng thấp...

Khu ủy thƣờng xuyên quan tâm vấn đề xây dựng hậu phƣơng, xây

dựng căn cứ địa kháng chiến nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tiễn

chiến trƣờng so với tiềm lực, thế mạnh của địa phƣơng TTH. Xây dựng, phát

triển kinh tế vùng rừng núi, vùng hậu cứ của CQVNCH và vùng giải phóng

còn chậm, nhiều lúc còn phải nhờ vào sự hỗ trợ của hậu phƣơng miền Bắc mà

trực tiếp là khu vực Vĩnh Linh, Thanh - Nghệ - Tĩnh và tỉnh Quảng Bình; chi

viện, giúp đỡ nƣớc Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào và chiến trƣờng miền

Nam chƣa nhiều. Trong cuộc KCCMCN chƣa xây dựng đƣợc căn cứ cách

mạng vững chắc và tƣơng đối an toàn; các vành đai diệt Mỹ thiết lập ít và

chƣa rộng, chủ yếu là Phú Bài và ba xã An - Sơn - Nguyên (Phong Điền -

Thừa Thiên Huế).

Khu ủy lãnh đạo còn chủ quan, chƣa sâu sát, chƣa kịp thời, biểu hiện ở

chỗ: không nhận thức hết âm mƣu thủ đoạn và sức mạnh, tiềm lực của đế

quốc Mỹ; không đánh giá đúng đắn những nhƣợc điểm của đối phƣơng; xa

dân, xa quân, xa rời thực tế, chƣa chịu tiếp thu những ý kiến từ cấp dƣới; các

Nghị quyết, Chỉ thị, kế hoạch đề ra chƣa sát đúng với phong trào..., điều đó

ảnh hƣởng không tốt tới phong trào chung của chiến trƣờng TTH.

Những hạn chế trên đƣợc Khu ủy TTH kiểm điểm, đánh giá, rút kinh

nghiệm nghiêm túc; kịp thời sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Thẳng thắn tự

phê bình và phê bình là vấn đề vừa mang tính nguyên tắc, vừa mang tính quy

luật trong xây dựng Đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch

Hồ Chí Minh nêu rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một

Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình,.. rồi tìm kiếm

126

mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Nhƣ thế là một Đảng tiến bộ, mạnh

dạn, chắc chắn, chân chính” [163, tr.301]. Nhờ đó, đã giúp Khu ủy lãnh đạo

CTND địa phƣơng ngày càng phát triển, giành nhiều thắng lợi lớn, hoàn thành

xuất sắc nhiệm vụ Trung ƣơng giao phó, xứng đáng với truyền thống “Bình -

Trị - Thiên khói lửa”, “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cƣờng”.

4.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM

4.2.1. Công tác xây dựng tổ chức và lãnh đạo kháng chiến phải phù

hợp với tình hình, đặc điểm, vị trí chiến lƣợc của chiến trƣờng

Chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng phải đƣợc hoạch định trên cơ sở lý

luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn.

Bất kỳ tổ chức Đảng nào, kể cả tổ chức cấp Khu ủy mang tính đặc thù nhƣ

Khu ủy TTH, muốn lãnh đạo cách mạng thành công, hoàn thành tốt nhiệm vụ

cũng cần phải quán triệt tinh thần phƣơng pháp luận đó.

Chiến trƣờng TTH là một chiến trƣờng nhỏ hẹp so với toàn miền Nam

và phần lớn tập trung trên một dải đồng bằng, kéo dài theo Đƣờng số 1 và ven

biển; vùng rừng núi hiểm trở gắn liền với vùng giải phóng của Lào, “nhƣng ở

đây dân ít và rất nghèo khổ” [26. tr.4]. Đặc biệt, TTH có Huế là thành phố

(đƣợc nâng cấp từ thị xã lên thành phố vào năm 1929) lớn thứ ba trên toàn

miền Nam; “một trung tâm chính trị, văn hóa đáng kể ở miền Nam, có bộ máy

thống trị tƣơng đối hoàn chỉnh của địch, đồng thời còn có những cơ sở sự

nghiệp và hành chính do ngụy quyền Trung ƣơng quản lý” [53, tr.1]; trung

tâm cai trị của đế quốc Mỹ và CQVNCH ở miền Trung; nơi tập hợp các phần

tử gián điệp, phản động quốc tế và cả miền Nam. Trong cuộc KCCMCN,

TTH là “địa đầu” của giới tuyến miền Nam, tiếp giáp miền Bắc XHCN; “cầu

nối” chiến lƣợc hai miền Bắc - Nam; địa bàn trực tiếp đƣơng đầu với kẻ thù

và bảo vệ miền Bắc (trƣớc hết là Đặc khu Vĩnh Linh và tỉnh Quảng Bình),

bảo vệ đƣờng hành lang chiến lƣợc 559 và vùng giải phóng Trung, Hạ Lào.

Âm mƣu của đế quốc Mỹ là tăng cƣờng lực lƣợng, phƣơng tiện, thủ

đoạn để bảo vệ lá chắn, duy trì chế độ thống trị miền Nam, làm bàn đạp tấn

công miền Bắc hòng thôn tính nƣớc Việt Nam; tập trung xây dựng, củng cố

127

thành phố Huế về mọi mặt, chi phối các hoạt động quân sự nhằm đối phó với

phong trào cách mạng miền Trung, trực tiếp là TTH. Quân Mỹ và QĐVNCH

đánh phá ác liệt phong trào cách mạng TTH nhằm ngăn chặn lực lƣợng vũ

trang từ miền Bắc vào, từ Trƣờng Sơn xuống, tiến hành bình định khốc liệt,

thống trị nhân dân. Đế quốc Mỹ xác định nếu mất TTH là nguy cơ lớn đối với

sự tồn tại của CQVNCH, vì thế, đối phƣơng cố bám giữ vùng đất TTH. Cuộc

chiến đấu giữa LLCM và lực lƣợng phản cách mạng ở đây ngày càng gay go,

gian khổ và ác liệt. Ngay từ cuối thập niên 50 của thế kỷ XX, đế quốc Mỹ và

CQVNCH dƣới thời Ngô Đình Diệm đã coi trọng TTH, đặt khu vực này là

Khu Chiến thuật 11 (Sở chỉ huy đóng tại thành phố Huế), thuộc Vùng I Chiến

thuật - Quân đoàn 1. Năm 1965, khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến lƣợc “Chiến

tranh cục bộ” trực tiếp đƣa quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh vào miền

Nam Việt Nam thì kẻ thù quan tâm đặc biệt tới khu vực này.

Đối với VNDCCH, Trung ƣơng Đảng chủ trƣơng chiến trƣờng TTH là

“khu đệm”, sau đó phát triển thành chiến trƣờng “thứ yếu” và cuối cùng xác

định là một trong những hƣớng chiến lƣợc quan trọng của cách mạng miền

Nam. Đến đầu năm 1966, cách mạng miền Nam đã giành thắng lợi bƣớc đầu

ở Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tƣờng (Quảng Ngãi), Plâyme, chiến tranh

du kích phát triển mạnh, những “vành đai du kích diệt Mỹ” hình thành ở Chu

Lai, Đà Nẵng, Củ Chi, đánh bại quân Mỹ và QĐVNCH trong mùa khô 1965-

1966, trong khi ở TTH, phong trào còn nhiều nhƣợc điểm: chiến tranh du kích

phát triển chậm; phong trào đấu tranh chính trị chƣa rộng khắp, nhất là ở đồng

bằng và đô thị; lực lƣợng, dân quân du kích và bộ đội địa phƣơng còn yếu…

Trƣớc tình hình đó, BCT quyết định thành lập Khu ủy TTH (4-1966);

QUTW thành lập Quân khu TTH (Mặt trận B4) vào tháng 4-1966 và Mặt trận

Đƣờng 9 - Bắc Quảng Trị (Mặt trận B5) vào tháng 6-1966. Việc thành lập

Mặt trận B4 và Mặt trận B5 với nhiệm vụ chính thu hút, giam chân quân Mỹ

và QĐVNCH; tiêu diệt một bộ phận quân của đối phƣơng; phối hợp với chiến

trƣờng toàn miền Nam, là một quyết định sâu sắc, táo bạo, tạo thế cho chiến

trƣờng TTH phát triển, một hƣớng tích cực để góp phần bảo vệ vững chắc

128

miền Bắc XHCN. Trị - Thiên - Huế từ một chiến trƣờng trở thành hai mặt trận

trên cùng một địa bàn chiến lƣợc, hỗ trợ chi viện cho nhau thực hiện mục

đích, nhiệm vụ chung. Tƣớng Bruce Palmer cũng phải thừa nhận rằng, việc

quân Bắc Việt Nam mở các cuộc tiến công ở khu vực phi quân sự đã gây ra

một sự chú ý đối với Mỹ. Điều đó, một lần nữa cho thấy: “Những mục đích

đƣợc xác định rõ ràng của họ (Bắc Việt Nam) luôn luôn bắt buộc các nƣớc

đồng minh phải chiến đấu (đánh) theo lối đánh của kẻ thù, tại những khu vực

do kẻ thù lựa chọn, trên lãnh thổ Nam Việt Nam” [230, tr.177].

Sau Hiệp định Pari, vùng giải phóng TTH chiếm 83% diện tích với

15% dân số [85, tr.21], tỉnh Quảng Trị trở thành vùng giải phóng hoàn chỉnh

nhất của miền Nam, tiếp giáp miền Bắc XHCN, nơi đƣợc Chính phủ Cách

mạng lâm thời CHMNVN chọn đặt trụ sở. Vị trí chiến trƣờng TTH trở nên

quan trọng hơn về cả quân sự, chính trị, ngoại giao và pháp lý. CQVNCH cố

gắng lấn chiếm vùng giải phóng, QGP kiên trì đấu tranh để giữ vững, củng

cố, phát triển và mở rộng vùng giải phóng. Cả LLCM và đối phƣơng đều xem

trọng chiến trƣờng TTH.

Khu ủy nhận thức rõ đặc điểm, vị trí chiến lƣợc của địa phƣơng, từ đó

đề ra chủ trƣơng xây dựng tổ chức và lãnh đạo kháng chiến thích hợp, kiên

quyết dựa vào thế trận, lực lƣợng sẵn có, tiếp tục xây dựng, bổ sung lực lƣợng

và thế trận mới, giữ vững và phát triển thế tiến công, đấu tranh “hai chân, ba

mũi, ba vùng” quyết liệt, liên tục và mạnh mẽ.

Trên thực tế, có những lúc lực lƣợng cách mạng nhìn nhận, đánh giá

chƣa đúng về vị trí, đặc điểm và tình hình chiến trƣờng, nhất là thời gian sau

cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đến đầu năm 1970 và sau

cuộc tiến công chiến lƣợc 1972 ở TTH, do đó chậm chuyển hƣớng, chƣa sắp

xếp, kiện toàn lại tổ chức kịp thời; chƣa xác định đúng nhiệm vụ, phƣơng

hƣớng đấu tranh dẫn đến “mất đất, mất dân”, gây tổn thất cho phong trào cách

mạng. Những khuyết điểm này nhanh chóng đƣợc Khu ủy nhìn nhận, khắc

phục, tiếp tục đề ra mục tiêu, nhiệm vụ để đƣa phong trào cách mạng ở địa

phƣơng từng bƣớc ổn định và phát triển.

129

Nhận thức đƣợc vị trí chiến lƣợc và nhiệm vụ đối với cả nƣớc, Khu ủy

TTH lãnh đạo quân dân địa phƣơng tận dụng yếu tố “Thiên thời, địa lợi, nhân

hòa” ở mỗi vùng, tìm ra thế mạnh để tiến công quân Mỹ và QĐVNCH, bảo vệ

lực lƣợng, phát huy sức mạnh của từng địa bàn để “đánh cho Mỹ cút, đánh

cho ngụy nhào”, giải phóng quê hƣơng. Dƣới sự lãnh đạo của Khu ủy, quân

và dân TTH anh dũng, kiên cƣờng vƣợt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh, liên

tục tiến công và chiến thắng, đƣa TTH từ một chiến trƣờng có phong trào thấp

trở thành một trong ba ngọn cờ đầu của CTND trên toàn miền Nam. Quân dân

TTH hiệp đồng chặt chẽ, tạo điều kiện để lực lƣợng chủ lực đứng chân phát

triển thế tiến công, từng bƣớc đánh thắng các kế hoạch “bình định” và các loại

hình chiến tranh mà Mỹ và CQVNCH thực hiện trên chiến trƣờng TTH.

4.2.2. Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ƣơng Đảng, phát huy tinh

thần chủ động, sáng tạo của Khu ủy

Khi tổng kết các cuộc cách mạng ở châu Âu, đặc biệt Công xã Pari

(1871), C.Mác khẳng định: “Sự thành công của phong trào công nhân trong

mỗi nƣớc chỉ có thể đƣợc bảo đảm bằng sức mạnh của sự thống nhất và sự tổ

chức” [102, tr.27]. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã đƣợc xây dựng theo những

nguyên lý tổ chức Đảng kiểu mới của Lênin: Đảng tổ chức và hoạt động theo

nguyên tắc tập trung dân chủ, cấp dưới phải phục tùng cấp trên. Nguyên tắc

trên luôn đƣợc Đảng tuân thủ, quy định trong Điều lệ Đảng, các Nghị quyết,

Chỉ thị và đƣợc thực thi nghiêm túc trong thực tiễn lãnh đạo cuộc KCCMCN.

Xuất phát từ yêu cầu tăng cƣờng lãnh đạo kháng chiến ở địa phƣơng,

Trung ƣơng Đảng quyết định thành lập Khu ủy TTH, trực thuộc BCT. Khu ủy

TTH là Khu ủy đặc thù, chỉ lãnh đạo tỉnh Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên Huế,

thậm chí trong một thời gian dài (1967-1971) - khi cấp Tỉnh ủy giải thể thì

Khu ủy trực tiếp lãnh đạo Đảng ủy các Đoàn (các Mặt trận), thực chất là Đảng

ủy liên huyện. Đây là sự vận dụng linh hoạt công tác tổ chức xây dựng Đảng

của địa phƣơng trong tình hình mới.

Khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ” ở miền

Nam, Đảng tiến hành Hội nghị Trung ƣơng lần thứ 11 (3-1965) và lần thứ 12

130

(12-1965) để phân tích tình hình; đánh giá đúng khả năng của LLCM và lực

lƣợng phản cách mạng; trên cơ sở đó, xác định và nêu cao hơn nữa quyết tâm

đánh thắng giặc Mỹ xâm lƣợc trong bất kỳ tình huống nào; nhận thức đúng

tiền đồ của cuộc chiến tranh giải phóng “ta nhất định thắng, địch nhất định

thua”. Trung ƣơng Đảng xác định phƣơng châm chiến lƣợc chung của cuộc

KCCMCN là “đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính”. Về phƣơng châm

đấu tranh, Đảng nêu rõ, tiếp tục kiên trì phƣơng châm đấu tranh quân sự với

đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công, ba vùng chiến lƣợc.

Tƣ tƣởng chỉ đạo đấu tranh ở miền Nam là giữ vững và phát triển thế tiến

công, kiên quyết tiến công và liên tục tiến công, tiếp tục đƣa phong trào cách

mạng miền Nam phát triển đi lên giành những thắng lợi mới.

Khu ủy luôn tin tƣởng, trung thành, quán triệt nghiêm túc đƣờng lối

cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đƣờng lối quân sự của Đảng trong cuộc

KCCMCN vào địa phƣơng mình phụ trách, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất,

thông suốt, liên tục và có hiệu quả của Trung ƣơng Đảng, thực hiện đúng sự

chỉ dẫn của V.I. Lênin: “Đảng Cộng sản phải là một tổ chức chặt chẽ thống

nhất từ Trung ƣơng đến địa phƣơng” [223, tr.210].

Khu ủy TTH thể hiện rõ vai trò lãnh đạo CTND ở địa phƣơng trong

cuộc KCCMCN, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà BCT và QUTW giao; đồng

thời, Khu ủy còn thể hiện rõ sự chủ động, sáng tạo, linh hoạt khi thực hiện

nhiệm vụ chiến lƣợc của Trung ƣơng thông qua việc đề ra các chủ trƣơng đấu

tranh cụ thể, sát hợp với tình hình địa phƣơng, đặc biệt là ở những thời điểm

ác liệt nhất, mang tính bƣớc ngoặt của cuộc kháng chiến.

Chấp hành nghiêm chỉnh sự lãnh đạo của Trung ƣơng Đảng, Khu ủy đã

vận dụng, phát triển nhiều vấn đề cơ bản của đƣờng lối KCCMCN trong giai

đoạn chống chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ” và chiến lƣợc “Việt Nam hóa

chiến tranh” vào thực tiễn địa phƣơng với tinh thần chủ động, linh hoạt, sáng

tạo: kết hợp ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phƣơng, dân quân du

kích); lực lƣợng chính trị quần chúng kết hợp chặt chẽ với lực lƣợng vũ trang

nhân dân (đấu tranh hai chân); đánh quân Mỹ và QĐVNCH trên cả ba vùng

131

chiến lƣợc (rừng núi, đồng bằng, đô thị), ở chiến trƣờng TTH còn chú trọng

đến vùng giáp ranh; đánh kẻ thù bằng ba mũi giáp công (đấu tranh chính trị,

quân sự, binh vận).

Đánh quân Mỹ và QĐVNCH trong thế trận CTND bằng lực lƣợng vũ

trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phƣơng và dân quân du kích) là

một lợi thế của LLCM, nhất là trong điều kiện ở miền Nam. Điều này cần

đƣợc các chiến trƣờng, địa phƣơng vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với

điều kiện thực tiễn nhằm phát huy sức mạnh lớn nhất của từng lực lƣợng và

sức mạnh tổng hợp của các lực lƣợng đó trong quá trình chiến đấu. Dƣới sự

lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, ở TTH, sau phong trào đồng khởi miền núi

năm 1960, từng bƣớc xây dựng lực lƣợng vũ trang ba thứ quân để thực hiện

nhiệm vụ “dùng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực của kẻ thù”. Lực lƣợng

vũ trang phát triển nhanh chóng, phối hợp đấu tranh với lực lƣợng chính trị đã

đƣợc phát triển ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến, tạo nên thế trận

đấu tranh “hai chân” vững chắc. Lúc đầu, LLCM đấu tranh với đối phƣơng

bằng lực lƣợng vũ trang chủ yếu diễn ra ở miền núi, giáp ranh, nhƣng sau mở

rộng xuống vùng nông thôn đồng bằng, tiến dần vào thành phố; đấu tranh

chính trị chủ yếu ở thành thị, phát triển dần về nông thôn, rừng núi; đấu tranh

binh vận ngày càng trở thành mũi tiến công quan trọng, đánh trực diện vào tƣ

tƣởng, ý chí chiến đấu của đối phƣơng. Tiến hành chiến tranh cách mạng theo

phƣơng châm “hai chân, ba mũi giáp công, ba vùng chiến lƣợc” ở chiến

trƣờng TTH, một mặt phản ánh đúng phƣơng châm chung đấu tranh của

Trung ƣơng Đảng, mặt khác, thể hiện nét riêng biệt, đặc thù của địa phƣơng.

Trên thực tế, có những thời điểm, Khu ủy chƣa quán triệt đầy đủ, sâu

sắc chủ trƣơng chiến lƣợc của Trung ƣơng Đảng; trông chờ vào lực lƣợng chủ

lực của Trung ƣơng, chƣa quan tâm phát triển LLCM ở địa phƣơng, chƣa

đánh giá đúng mức vị trí của vùng nông thôn, đồng bằng; còn thụ động, rập

khuôn khi triển khai và vận dụng Nghị quyết của Trung ƣơng vào địa bàn do

mình lãnh đạo. Chiến trƣờng TTH có vị trí, đặc điểm riêng so với các chiến

trƣờng khác trên toàn miền Nam nên không thể vận dụng cứng nhắc, máy

132

móc chủ trƣơng chung trên toàn miền Nam của Trung ƣơng vào địa phƣơng,

mà cần có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo.

Thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cuộc KCCMCN cho thấy, Khu ủy TTH

chấp hành triệt để chủ trƣơng chiến lƣợc của Trung ƣơng Đảng, đồng thời,

tùy tình hình để vận dụng chủ động, sáng tạo, biến quyết tâm chiến lƣợc của

Trung ƣơng thành kế hoạch và hành động cụ thể, giành thắng lợi nhanh hơn

và ít tổn thất hơn. Trong lãnh đạo CTND ở địa phƣơng, Khu ủy TTH đã “đề

cao trách nhiệm, gian khổ hy sinh bảo đảm sự lãnh đạo thông suốt của Trung

ƣơng Đảng, Bộ Chính trị trên toàn chiến trƣờng miền Nam” [172, tr.166].

4.2.3. Phối hợp đấu tranh chặt chẽ giữa lực lượng địa phương và lực

lượng của Trung ương, giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang

Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo. Để đƣờng lối của Đảng đi vào

thực tiễn của phong trào quần chúng, đòi hỏi ngƣời cách mạng phải phát huy

phƣơng pháp tiến hành cách mạng. Từ thực tiễn lãnh đạo chiến tranh cách

mạng Việt Nam, đồng chí Lê Duẩn chỉ rõ: “Kinh nghiệm cho thấy phong trào

cách mạng có khi dẫm chân tại chỗ, thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu

phƣơng hƣớng và mục tiêu rõ ràng mà chủ yếu vì thiếu phƣơng pháp cách

mạng thích hợp” [109, tr.33]. Phƣơng pháp cách mạng giải phóng dân tộc của

Đảng là sử dụng bạo lực cách mạng gồm lực lƣợng chính trị quần chúng và

lực lƣợng vũ trang nhân dân, tiến hành khởi nghĩa từng phần ở nông thôn và

từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp khởi nghĩa của

quần chúng với chiến tranh cách mạng, nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi

dậy… Thực tiễn KCCMCN ở TTH dƣới sự lãnh đạo của Khu ủy là một trong

những minh chứng tiêu biểu, tạo nên một kinh nghiệm lịch sử trong công tác

tổng kết kháng chiến trên phạm vi từng chiến trƣờng mang tính đặc thù.

Việc thành lập Quân khu TTH (B4) và mở Mặt trận Đƣờng 9 - Bắc

Quảng Trị (B5) vào giữa năm 1966 có ý nghĩa chiến lƣợc đối với toàn miền

Nam và cả nƣớc, là bƣớc phát triển quan trọng của cuộc KCCMCN trên chiến

trƣờng TTH; thể hiện “nghệ thuật” điều hành chiến tranh chủ động, sáng tạo

của Đảng ta, nhà sử học Mỹ Gabrriel Kolko đánh giá:

133

Ngoài những chiều cạnh về thể chất và về quân sự rất đặc biệt của Việt

Nam, kẻ thù đó của Mỹ còn có những vốn quý về chính trị và về tri

thức rất nguy hiểm cho Mỹ bởi vì phƣơng pháp luận sáng tạo của cách

mạng có thể áp dụng không phải chỉ ở Việt Nam mà còn khắp nơi

khác nữa. Mỹ đã chọn nhầm một nƣớc để thử lòng tin [132, tr.204].

Trị - Thiên - Huế từ một chiến trƣờng trở thành hai mặt trận trên cùng

một địa bàn chiến lƣợc, hỗ trợ chi viện cho nhau thực hiện mục đích, nhiệm

vụ chung. Đó là sự phối hợp, hỗ trợ giữa mặt trận phía sau (Quân khu TTH)

với mặt trận phía trƣớc (Đƣờng 9 - Bắc Quảng Trị), giữa mặt trận chủ lực

(B5) và mặt trận CTND địa phƣơng (B4). Từ đây, chiến trƣờng TTH có sự

biến đổi lớn: từ một chiến trƣờng “khu đệm” phát triển lên chiến trƣờng “thứ

yếu” và nay trở thành một trong những hƣớng chiến lƣợc “trọng yếu” của

toàn Miền; từ một chiến trƣờng cả LLCM và đối phƣơng chỉ sử dụng lực

lƣợng quân đội ít đã trở thành một chiến trƣờng có chủ lực lớn nhất và là nơi

đọ sức quyết liệt nhất của hai chế độ và hai thế lực.

Thực tiễn cuộc KCCMCN ở TTH, du kích và bộ đội địa phƣơng đƣợc

hình thành, trở thành lực lƣợng tác chiến nòng cốt của CTND, tạo hậu phƣơng

và chiến trƣờng tại chỗ để các đơn vị chủ lực đứng chân hoạt động trong các

trận đánh lớn, các chiến dịch quân sự, hình thành nên lực lƣợng ba thứ quân.

Khu ủy luôn coi sự kết hợp ba thứ quân, giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa

phƣơng là vấn đề sống còn để tiến hành KCCMCN ở địa phƣơng. Song cũng

có lúc, do tình hình khó khăn, lực lƣợng ba thứ quân không duy trì đƣợc, du

kích, bộ đội địa phƣơng bị đánh bật khỏi cơ sở, dân thiếu chỗ dựa, xuất hiện

tƣ tƣởng trông chờ chủ trƣơng và các hoạt động của quân chủ lực.

Trong lãnh đạo KCCMCN của Đảng, tƣ tƣởng chiến lƣợc tiến công và

kiềm chế địch luôn đƣợc thể hiện xuyên suốt, liên tục. Kiềm chế kẻ thù để tạo

điều kiện đẩy mạnh tiến công; tiến công “là cách thực hiện phƣơng châm

kiềm chế địch để đánh thắng chúng ở miền Nam tích cực nhất” [98, tr.95]. Để

thực hiện tƣ tƣởng đó, yêu cầu đặt ra là phải tiến hành bạo lực cách mạng,

134

“phải dựa vào hai lực lƣợng, lực lƣợng quân sự và lực lƣợng chính trị và bao

gồm hai loại hình đấu tranh: đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị và sự

kết hợp giữa hai loại hình ấy” [84, tr.249]. Tại Hội nghị lần thứ 20 (2-1972),

Đảng xác định: “Quy luật cơ bản của chiến tranh cách mạng ở nƣớc ta tác

động mạnh mẽ. Đó là quy luật nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy,

giành quyền làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ,

kết hợp chiến tranh với khởi nghĩa, khởi nghĩa với chiến tranh” [121, tr.47].

Quán triệt tƣ tƣởng chiến lƣợc và phƣơng pháp cách mạng của Trung

ƣơng Đảng, Khu ủy TTH đã vận dụng sáng tạo vào quá trình lãnh đạo CTND

ở địa phƣơng. Đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị là hình thức

bạo lực cơ bản và nội dung cơ bản của phƣơng pháp cách mạng miền Nam

nói chung và ở chiến trƣờng TTH nói riêng. Đó là hai mũi tiến công lợi hại,

hiệu quả, tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn. Ngoài ra, quân dân TTH còn đẩy

mạnh công tác đấu tranh binh vận, địch vận nhằm đánh vào tinh thần của

quân lính đối phƣơng. Cùng với toàn miền Nam, quá trình cách mạng ở TTH

phát triển thành một cuộc chiến tranh với quy mô ngày càng rộng lớn, tính

chất ngày càng gay go, quyết liệt, các chiến dịch, các trận đánh lớn mang tính

chất hợp đồng bình chủng diễn ra nhiều hơn, thì đấu tranh vũ trang ngày càng

tăng lên, giữ vai trò ngày càng quan trọng, chi phối và quyết định trong giai

đoạn cuối của cuộc KCCMCN.

Kinh nghiệm lịch sử chống ngoại xâm cho thấy, phải thắng đối phƣơng

về quân sự mới giành đƣợc thắng lợi cho kháng chiến. Đấu tranh vũ trang là

một hình thức đấu tranh cơ bản ở TTH có tác dụng quyết định trực tiếp trong

việc tiêu diệt kẻ thù, “đập tan mọi âm mƣu quân sự và chính trị của chúng”

[84, tr.252]. Song đấu tranh vũ trang luôn kết hợp chặt chẽ với đấu tranh

chính trị trên chiến trƣờng TTH nhằm giúp sức cho quần chúng nổi dậy, phá

thế kìm kẹp, giành và giữ quyền làm chủ cơ sở của nhân dân, góp phần thúc

đẩy cách mạng phát triển. Cùng với đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị của

quần chúng, nhất là ở thành phố Huế cũng là một hình thức đấu tranh cơ bản

có tác dụng quyết định đối với sự thắng lợi của CTND ở chiến trƣờng TTH.

135

Thắng lợi của chiến dịch Khe Sanh năm 1968, cuộc Tổng tiến công và

nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Huế, chiến dịch phản công Đƣờng 9 - Nam Lào

năm 1971, chiến dịch tiến công Trị - Thiên năm 1972, cuộc Tổng tiến công và

nổi dậy mùa Xuân năm 1975 ở TTH, đều là thắng lợi của sự phối hợp giữa bộ

đội chủ lực (Mặt trận B5 và các đơn vị vũ trang khác theo sự điều động của

Bộ Tổng Tƣ lệnh ở mỗi chiến dịch) với bộ đội địa phƣơng (Mặt trận B4), giữa

đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, giữa tiến công quân sự của các lực

lƣợng vũ trang phối hợp với sự nổi dậy của quần chúng nhân dân tạo nên sức

mạnh tổng hợp, đánh bại quân Mỹ và QĐVNCH ở chiến trƣờng TTH.

Từ năm 1849, Ph.Ăngghen đã viết: “Khởi nghĩa quần chúng, chiến

tranh cách mạng, các dội du kích ở khắp mọi nơi - đó là phƣơng thức duy nhất

nhờ đó mà một dân tộc nhỏ có thể chiến thắng đƣợc một dân tộc lớn, mà một

quân đội ít mạnh hơn có thể đối lập đƣợc với một quân đội mạnh hơn, và có

tổ chức tốt hơn” [1, tr.27]. Đây là một luận điểm mang tính quy luật về chiến

tranh cách mạng, đúng với thực tế lịch sử Việt Nam trong Tổng khởi nghĩa

giành chính quyền Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp

và đế quốc Mỹ xâm lƣợc (1945-1975), trong đó có chiến trƣờng TTH. Đầu

thập kỷ 90 của thế kỷ XX, giới nghiên cứu chiến lƣợc của Mỹ đã tổng kết:

Chiến lƣợc chiến tranh cách mạng phối hợp tổng thể hai hình thức

bạo lực mang tính nguyên tắc - xung đột vũ trang và xung đột chính

trị đƣợc ngƣời Việt Nam gọi là đấu tranh quân sự và đấu tranh

chính trị. Sự phối hợp này đã tạo nên một loại chiến tranh chƣa hề

thấy từ trƣớc tới nay, một cuộc chiến tranh trải ra trên vài mặt trận,

không phải là mặt trận địa lý, mà là các mặt trận có bài bản, tất cả

đều do một ngƣời có uy tín lãnh đạo, tất cả quyện chặt vào nhau để

nhằm một mục đích - giành sức mạnh dân tộc [171, tr.36-37].

Thực tiễn cuộc KCCMCN nói chung, ở TTH nói riêng đã thể hiện sinh

động, sáng tạo và hiệu quả sự phối hợp giữa lực lƣợng của Trung ƣơng và lực

lƣợng địa phƣơng, giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, tạo nên một

kinh nghiệm lịch sử trong chiến tranh cách mạng, đúng nhƣ nhận định của

136

đồng chí Lê Duẩn: “Phƣơng pháp cách mạng cốt nhằm chiến thắng kẻ thù của

cách mạng và làm sao để thắng địch một cách có lợi nhất, đƣa cách mạng tới

đích nhanh nhất. Ở đây, ngoài lòng dũng cảm, còn phải có sự khôn ngoan,

đây không phải chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật nữa” [109, tr.354].

4.2.4. Coi trọng công tác vận động quần chúng và xây dựng Mặt

trận dân tộc thống nhất

Sức mạnh của Đảng là ở khối đoàn kết nhất trí giữa Đảng và quần

chúng. Không đoàn kết đƣợc quần chúng, không dựa vào quần chúng thì

Đảng mất sức chiến đấu. Trong chiến tranh ác liệt, quần chúng đóng góp hàng

nghìn sáng kiến trên nhiều lĩnh vực, giải quyết đƣợc những khó khăn tƣởng

chừng không thể vƣợt qua nổi. Trên cơ sở kế thừa lý luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin, đúc kết kinh nghiệm từ lịch sử dựng nƣớc, giữ nƣớc của dân tộc và

quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

“Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá

nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và

phát huy lực lƣợng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân

phấn đấu dƣới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin” [165, tr.672].

Từ khi ra đời đến nay, Đảng luôn quán triệt tinh thần “lấy dân làm

gốc”, xác định rõ vai trò của nhân dân, luôn ra sức xây dựng khối đại đoàn kết

toàn dân, xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất và các tổ chức đoàn thể vững

mạnh để lãnh đạo, vận động, tập hợp quần chúng đấu tranh. Nhân dân Việt

Nam rất yêu nƣớc và anh hùng, song: “Tinh thần yêu nƣớc cũng nhƣ các thứ

của quý. Có khi đƣợc trƣng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ

thấy. Nhƣng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rƣơng, trong hòm” [164,

tr.38]. Vì vậy, nhiệm vụ của tổ chức Đảng và những ngƣời cách mạng là “làm

cho những của quý kín đáo ấy đều đƣợc đƣa ra trƣng bày” [164, tr.38], nghĩa

là “phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần

yêu nƣớc của tất cả mọi ngƣời đều đƣợc thực hành vào công việc yêu nƣớc”

[164, tr.38-39], phải coi trọng công tác vận động quần chúng, đấu tranh chính

trị và xây dựng khối đại đoàn kết trong nhân dân.

137

Trong cuộc KCCMCN, dân số TTH có khoảng hơn 80 vạn ngƣời

nhƣng nhân dân giàu truyền thống cách mạng, kiên cƣờng, anh dũng, có tinh

thần yêu nƣớc nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí, quyết tâm thống

nhất Tổ quốc mãnh liệt. Ở đây, vấn đề “giành dân”, “giành lực lƣợng” diễn ra

quyết liệt nhất so với các chiến trƣờng khác trên toàn miền Nam vì TTH là

“tuyến đầu” chống Mỹ, tiếp giáp với miền Bắc XHCN, chịu ảnh hƣởng mạnh

mẽ, trực tiếp hiện thực đời sống tự do, hạnh phúc của chế độ mới mang lại

trên quê hƣơng “Vĩnh Linh anh hùng” và “Quảng Bình quật khởi”.

Khu ủy luôn quán triệt tƣ tƣởng, bài học “lấy dân làm gốc”, thƣờng

xuyên chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, mà trƣớc hết là làm tốt

công tác vận động quần chúng nhân dân thông qua hoạt động của MTDTGP

TTH và Liên minh các lực lƣợng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ở

khu TTH và các tổ chức quần chúng khác.

Tháng 10-1959, Mặt trận dân tộc đoàn kết miền Tây Thừa Thiên ra đời

lãnh đạo phong trào đồng khởi miền núi Thừa Thiên (năm 1960). Sau khi

MTDTGP miền Nam Việt Nam đƣợc thành lập (12-1960), ngày 21-4-1961,

BCH Mặt trận đoàn kết dân tộc miền Tây Thừa Thiên chuyển thành Ủy ban

MTDTGP Thừa Thiên, tạo điều kiện mở rộng sự đoàn kết, tập hợp các tầng

lớp nhân dân yêu nƣớc, kiên quyết kháng chiến chống Mỹ và chính quyền tay

sai nhằm mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất đất nƣớc.

Tháng 4-1966, Khu ủy TTH đƣợc thành lập, MTDTGP khu TTH cũng

ra đời để kịp thời làm tốt công tác dân vận, tập hợp quần chúng nhân dân

tham gia phong trào chống Mỹ, cứu nƣớc. Phong trào đấu tranh chính trị phát

triển mạnh ở thành phố; đấu tranh vũ trang giành nhiều thắng lợi, các vành đai

diệt Mỹ đƣợc xây dựng xung quanh căn cứ Phú Bài và Đồng Lâm, đẩy lùi các

cuộc càn quét của Mỹ; vùng rừng núi phía Tây Thừa Thiên đƣợc giải phóng;

phong trào đấu tranh du kích, khởi nghĩa phá kìm, giành dân làm chủ các

vùng nông thôn phát triển mạnh mẽ…

Khi Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 giành thắng lợi, Liên minh

các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ra đời ở thành phố Huế.

138

Sự ra đời và hoạt động tích cực của Liên minh đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh

đánh giá “là một thắng lợi rực rỡ của lòng yêu nƣớc và sức mạnh toàn dân

đoàn kết chống Mỹ, cứu nƣớc” [167, tr.558]. Kể từ đây, MTDTGP khu TTH

đã sát cánh cùng với Liên minh thực hiện đại đoàn kết toàn dân đấu tranh

đánh thắng chiến lƣợc “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, giải

phóng hoàn toàn TTH vào mùa Xuân năm 1975.

Cuộc KCCMCN đã kết thúc hơn 40 năm, dân tộc Việt Nam giành

thắng lợi trọn vẹn, đất nƣớc sạch bóng quân thù, “giang sơn thu về một mối”,

tiến lên xây dựng CNXH. Có nhiều nhân tố góp phần làm nên trang sử vẻ

vang mùa Xuân năm 1975, trong đó phải kể đến sự đoàn kết toàn dân tập hợp

trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Việc xây dựng Mặt trận ở miền Nam, trong

đó có Mặt trận khu TTH là một sáng tạo và kỳ công của Đảng trong quá trình

kiến tạo khối đại đoàn kết toàn dân để chống Mỹ. Mặt trận dân tộc thống nhất

ở TTH trải qua 9 năm đấu tranh, hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà dân tộc và

địa phƣơng giao phó, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp KCCMCN, giải

phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, chứng minh sự lãnh đạo công tác xây

dựng khối đại đoàn kết của Khu ủy TTH là đúng đắn, sáng tạo. Từ bài học

của lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết là một

truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta” [167, tr.622]. Trong Di

chúc, Ngƣời căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ƣơng đến các chi bộ cần phải

giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng nhƣ giữ gìn con ngƣơi của mắt mình”

[167, tr.622]. Khu ủy TTH đã thực hiện nghiêm túc sự chỉ dạy đó của Ngƣời.

Thực tiễn quá trình lãnh đạo của Khu ủy TTH cho thấy, ở thời kỳ lịch

sử nào, Khu ủy cũng tin tƣởng và dựa vào sức mạnh của nhân dân, chú trọng

công tác xây dựng Mặt trận ngày càng vững mạnh. Khi nào Khu ủy biết dựa

vào nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thì đó là điều kiện, là cội nguồn

tạo nên sức mạnh, tạo nên mọi thắng lợi. Để công tác vận động quần chúng

nhân dân đạt kết quả tốt, Khu ủy luôn quán triệt quan điểm xây dựng mỗi tổ

chức Đảng phải là “một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt

139

chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy đƣợc trí tuệ và lực lƣợng vĩ

đại của quần chúng” [166, tr.28] nhƣ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

4.2.5. Xác định và phát huy hiệu quả mối quan hệ giữa Khu ủy với

các cấp ủy Đảng khác

Mặc dù tình hình chiến trƣờng TTH ác liệt, phức tạp, LLCM và các cơ

quan của Đảng có nhiều thay đổi, biến động nhƣng Khu ủy TTH vẫn luôn

tuân thủ quy định của BCT, Ban Bí thƣ và QUTW về việc xác định rõ, xử lý

tốt và phát huy hiệu quả mối quan hệ phục tùng, chấp hành với cấp trên, mối

quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo cấp dƣới và mối quan hệ mật thiết, phối hợp với

nhiều cấp ủy Đảng ngang cấp khác.

Về mối quan hệ giữa Khu ủy TTH với cấp trên, BCT trực tiếp lãnh đạo

Khu ủy TTH về các mặt công tác lớn, mang tính chiến lƣợc và toàn diện.

Trong quá trình thực hiện các Nghị quyết của BCT, QUTW chỉ đạo Khu ủy

về mặt quân sự, Ban Bí thƣ chỉ đạo Khu ủy về các mặt công tác khác. Trong

thực tiễn, Trung ƣơng Đảng luôn chỉ đạo sát sao, trực tiếp Khu ủy TTH về

mọi mặt và kịp thời, từ việc quyết định cơ cấu tổ chức, bộ máy, nhân sự, chức

năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động đến việc lãnh đạo ở từng giai đoạn, từng

thời điểm cụ thể. Ngƣợc lại, Khu ủy trong quá trình thực hiện chủ trƣơng của

Trung ƣơng, một mặt, tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh sự chỉ đạo của cấp

trên, đồng thời có vận dụng, bổ sung, sáng tạo cho phù hợp, sát hợp với thực

tiễn chiến trƣờng, mang lại hiệu quả cao trong quá trình lãnh đạo quân dân địa

phƣơng KCCMCN từ năm 1966 đến năm 1975.

Về mối quan hệ giữa Khu ủy TTH với cấp dưới, Khu ủy có trách nhiệm

“lãnh đạo và chỉ đạo toàn diện các mặt công tác quân sự, chính trị, kinh tế,

văn hóa, công tác xây dựng Đảng và công tác quần chúng trong khu” [117,

tr.479]. Khu ủy luôn thể hiện rõ vai trò lãnh đạo trực tiếp, sâu sát tình hình đối

với các Tỉnh ủy (Quảng Trị và Thừa Thiên Huế), Thành ủy Huế, Đảng ủy các

Mặt trận (Đoàn) và Quân Khu ủy TTH. Quân Khu ủy là một tổ chức Đảng

trong quân đội, vừa chịu sự lãnh đạo của Khu ủy, vừa chịu sự lãnh đạo của

QUTW, nhƣng phối hợp nhịp nhàng, không bị chồng chéo. Các Đảng ủy cấp

140

dƣới của Khu ủy luôn chấp hành nghiêm túc, hiệu quả sự lãnh đạo của Khu

ủy và trên cơ sở chủ trƣơng chung của Khu ủy để cụ thể hóa bằng các chủ

trƣơng, biện pháp thực hiện cho phù hợp với từng tỉnh, thành phố, thị xã,

quận, huyện, xã, phƣờng, thị trấn và các đơn vị khác.

Khu ủy TTH và Đoàn ủy 559 là quan hệ ngang cấp, phối hợp chặt chẽ,

thƣờng xuyên liên hệ với nhau, thông báo cho nhau tình hình và tiến hành

thực hiện các công tác cần thiết khác. Đoàn ủy 559 trực thuộc Trung ƣơng

nhƣng lại đóng quân trên địa bàn TTH. Trong quá trình kháng chiến, một

trong những nhiệm vụ quan trọng của chiến trƣờng TTH là bảo vệ đƣờng

hành lang chiến lƣợc 559. Đây là tuyến vận tải chiến lƣợc chạy dọc theo dãy

Trƣờng Sơn, xuyên qua miền Tây TTH, nối liền hậu phƣơng lớn miền Bắc,

khu IV với khu V và miền Nam. Lực lƣợng vũ trang của Quân khu TTH

thƣờng xuyên phối hợp với lực lƣợng vũ trang của Đoàn 559 để bảo vệ tuyến

hành lang và tham gia các trận đánh lớn cùng với lực lƣợng của Mặt trận B5.

Khu ủy TTH và Đảng ủy Mặt trận B5, vừa là quan hệ phối hợp giữa hai

chiến trƣờng, vừa là quan hệ giữa các đơn vị chủ lực của Mặt trận B5 với các

cấp ủy địa phƣơng thuộc quyền lãnh đạo của Khu ủy. Khu ủy TTH có mối

quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với Đảng ủy Mặt trận B5 trong việc phối

hợp mở các chiến dịch, các cuộc tiến công lớn (Chiến dịch Khe Sanh năm

1968, Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Chiến dịch Đƣờng 9 -

Khe Sanh năm 1971, cuộc tiến công chiến lƣợc năm 1972). Đến đầu năm

1973, để thống nhất về chỉ đạo trên chiến trƣờng TTH, Mặt trận B5 sáp nhập

cùng Quân khu Mặt trận B4 thành Quân khu TTH.

Khu ủy TTH với Tỉnh ủy Quảng Bình và Khu ủy Vĩnh Linh là quan hệ

phối hợp, quan hệ giữa tiền tuyến và hậu phƣơng. Khi Mặt trận B4 và B5 mở

ra đã “đặt vùng đất Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Vĩnh Linh

trở thành hậu phƣơng trực tiếp, trong đó Quảng Bình và Vĩnh Linh trở thành

hậu phƣơng chiến dịch” [168, tr. 162-163]. Chiến trƣờng TTH tiếp giáp miền

Bắc XHCN, có mối quan hệ tác chiến mật thiết với Đặc khu Vĩnh Linh và

tỉnh Quảng Bình. Một mặt, với tinh thần “Nam Quân khu 4 với Trị - Thiên là

141

một chiến trƣờng, Bắc Quảng Trị và Vĩnh Linh là một mặt trận”, nhân dân

Quảng Bình, Vĩnh Linh không tiếc công sức, của cải và tính mạng của mình,

“ăn cơm bờ Bắc, đánh giặc bờ Nam”, sát cánh chiến đấu cùng quân dân TTH

ruột thịt. Mặt khác, khi đế quốc Mỹ thực hiện cuộc chiến tranh leo thang ra

miền Bắc, đánh phá Vĩnh Linh, Quảng Bình ác liệt thì quân và dân TTH cũng

dốc sức đánh Mỹ để góp phần bảo vệ bảo vệ Vĩnh Linh và Quảng Bình.

Khu ủy TTH và Khu ủy V, trƣớc khi Khu ủy TTH ra đời, Liên Tỉnh ủy

Trị - Thiên trực thuộc Khu ủy V. Từ tháng 4-1966, quan hệ giữa Khu ủy TTH

với Khu ủy V là quan hệ ngang cấp, cùng phối hợp với nhau trong các hoạt

động quân sự và các công tác khác vì hai Khu ủy đều trực thuộc Trung ƣơng

Đảng và chiến trƣờng TTH nối liền với chiến trƣờng khu V. Với vị trí địa đầu

phía Bắc của chiến trƣờng miền Nam, TTH không chỉ là tiền tuyến mà còn trở

thành hậu phƣơng trực tiếp cho cuộc kháng chiến. Sau khi đƣợc giải phóng,

TTH giúp đỡ giải phóng Đà Nẵng và các tỉnh Nam Trung Bộ. Khu ủy nhận rõ

trách nhiệm: “TTH trở thành hậu phƣơng trực tiếp để giải phóng miền Nam”

và chủ trƣơng “không tiếc một thứ gì” vì nhiệm vụ giải phóng miền Nam.

Có thể xem mối quan hệ giữa Khu ủy TTH với Trung ương Cục miền

Nam là mối quan hệ đặc biệt, vừa phối hợp, vừa mang tính chất cấp trên

(Trung ƣơng Cục miền Nam) và cấp dƣới (Khu ủy). Tháng 3-1961, Trung

ƣơng Đảng có điện mật quy định: “Trung ƣơng Cục miền Nam là một bộ

phận của BCH Trung ương... Trung ƣơng Cục miền Nam đặt dƣới sự lãnh

đạo của BCH Trung ƣơng, thƣờng xuyên do BCT thay mặt chỉ đạo” [113,

tr.263-264]. Trên thực tế, trong một số vấn đề lớn, quan trọng, Khu ủy TTH

vẫn quán triệt chủ trƣơng của Trung ƣơng Cục miền Nam và thực hiện nhiệm

vụ báo cáo cho Trung ƣơng Cục miền Nam.

Việc xác định rõ và xử lý tƣơng đối tốt các mối quan hệ trên góp phần

giúp Khu ủy TTH lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phƣơng đúng hƣớng

và đạt hiệu quả cao nhất, tạo nên một kinh nghiệm trong quá trình xây dựng

tổ chức và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Khu ủy.

142

4.2.6. Thƣờng xuyên chú trọng công tác tƣ tƣởng, phát huy vai trò

của tổ chức Đảng đặc thù

Đảng đƣợc xây dựng theo những nguyên lý tổ chức Đảng kiểu mới của

chủ nghĩa Mác - Lênin, là một chỉnh thể thống nhất “hết sức có tổ chức”. Khu

ủy luôn quán triệt quan điểm Đảng - ngƣời tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi

của cách mạng Việt Nam nên địa phƣơng không ngừng chăm lo xây dựng

Đảng lớn mạnh về mọi mặt. Công tác xây dựng Đảng của Khu ủy đƣợc tiến

hành thƣờng xuyên, liên tục, toàn diện cả về chính trị, tƣ tƣởng, tổ chức, từ

trên xuống dƣới, từ Khu ủy đến cấp ủy các cấp và đến từng đảng viên.

Khi xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, Lênin nhấn mạnh:

“Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”

[223, tr.30], “Chỉ đảng nào đƣợc một lý luận tiền phong hƣớng dẫn thì mới có

khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong” [223, tr.32]. Thực hiện chỉ dẫn

của Lênin, trong quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phƣơng, Khu

ủy trên cơ sở quán triệt và tuân thủ sự chỉ đạo của Trung ƣơng Đảng, tổng kết

thực tiễn để đƣa ra những quyết định đúng đắn. Chính nhờ bám sát thực tiễn,

các cán bộ chủ chốt của Đảng ở TTH đã đƣa ra nhiều quyết sách đúng đắn,

giải quyết nhiều vấn đề mang tính chủ động, sáng tạo, phù hợp với tình hình

địa phƣơng, đặc biệt trong việc chỉ đạo các chiến dịch lớn.

Việc xác định đƣờng lối chính trị đúng đắn đã quyết định đến việc lãnh

đạo công tác tƣ tƣởng và tổ chức, giúp Khu ủy ngày càng phát triển vững

mạnh, lãnh đạo cuộc kháng chiến giành nhiều thắng lợi quan trọng, tiến tới

giải phóng hoàn toàn TTH vào mùa Xuân năm 1975.

Từ lý luận và thực tế cho thấy, trong những bƣớc chuyển, bƣớc ngoặt

của cách mạng, khi tình hình thuận lợi hoặc khó khăn, đó là thời điểm thƣờng

nảy sinh những vấn đề lớn về tƣ tƣởng. Khi thuận lợi, thời cơ là mặt nổi trội,

thƣờng phát sinh tƣ tƣởng nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, ham làm nhanh, làm

lớn, chủ quan, mất cảnh giác, lạc quan quá mức. Khi phải đối mặt với khó

khăn, thách thức, nhất là những khó khăn, thách thức chƣa nhận ra trƣớc đó

hoặc phát sinh mới, thƣờng nảy sinh tƣ tƣởng trì trệ, cố thủ, chậm chạp, chần

143

chừ, do dự, bi quan, chán nản, dao động, mất niềm tin, mất ý chí. Bất cứ tƣ

tƣởng của cán bộ, đảng viên, quân đội và quần chúng ảnh hƣởng theo hƣớng

nào đều không có lợi cho sự nghiệp cách mạng.

Trong tác phẩm Làm gì?, Lênin nhấn mạnh: “Chúng ta phải tích cực

tiến hành giáo dục chính trị cho giai cấp công nhân, cố gắng phát triển ý thức

chính trị của giai cấp công nhân” [223, tr.72]. Quán triệt tinh thần đó, trƣớc

tình hình cuộc KCCMCN diễn ra ngày càng quyết liệt, tháng 01-1067, BCT

nêu rõ:

Trong hoàn cảnh chiến đấu gay go, quyết liệt, phải đặc biệt chú ý

tăng cƣờng giáo dục và lãnh đạo tƣ tƣởng…, khắc phục mọi tƣ tƣởng

hữu khuynh, tiêu cực, cầu an, xây dựng cho mọi ngƣời có quyết tâm

chiến đấu cao để giành thắng lợi quyết định trong thời gian tƣơng đối

ngắn hoặc trong tình huống chiến tranh kéo dài [117, tr.168].

Trên toàn miền Nam, nhất là những địa bàn trực tiếp đối đầu với quân

Mỹ, những địa bàn mang tính chiến lƣợc quan trọng, các cấp ủy giáo dục

đảng viên và quần chúng quán triệt tinh thần đánh Mỹ trong bất cứ tình huống

nào. Cán bộ, đảng viên, bộ đội, du kích rèn luyện tinh thần cách mạng triệt để,

thƣờng xuyên nắm bắt thời sự và diễn biến của cuộc chiến để chống tƣ tƣởng

hữu khuynh nhƣ sợ Mỹ, sợ ác liệt, sợ khó khăn, ngại gian khổ, bi quan, dao

động, thiếu tin tƣởng quần chúng nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải dám nghĩ,

dám làm, dám gánh vác mọi nhiệm vụ, giữ vững quyết tâm chiến lƣợc, không

sợ hy sinh, tin tƣởng tuyệt đối vào Đảng và quần chúng, đề cao tinh thần

“bám dân”, “bám đất”, giữ vững phong trào. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo

kháng chiến của Khu ủy tại chiến trƣờng “tuyến đầu” là quá trình thử thách

thực tiễn, là quá trình đấu tranh tƣ tƣởng, khắc phục những hạn chế về tƣ

tƣởng của giai đoạn trƣớc xem TTH là “khu đệm”, “hạn chế đấu tranh vũ

trang”, góp phần củng cố tổ chức của Đảng, đƣa công tác xây dựng Đảng ở

Đảng bộ TTH ngày càng phát triển vững mạnh.

Thực tiễn lãnh đạo kháng chiến ở chiến trƣờng TTH từ năm 1966 đến

năm 1975 cho thấy, Khu ủy luôn đặt công tác tƣ tƣởng lên hàng đầu. Ngay

144

sau khi thành lập, tháng 10-1966, tại Hội nghị lần thứ hai, Khu ủy đề ra mục

tiêu xây dựng Đảng bộ khu “thành một Đảng bộ kiên cƣờng về tƣ tƣởng,…

trong sạch nội bộ, liên hệ chặt chẽ với quần chúng” [15, tr.19]. Để đạt mục

tiêu trên cần “hết sức xem trọng nâng cao lập trƣờng tƣ tƣởng của đảng viên”

[15, tr.24]. Trong suốt quá trình lãnh đạo kháng chiến, Khu ủy đều chú trọng

đến công tác tƣ tƣởng, xem đây là điều kiện quan trọng quyết định đến việc

thực hiện thắng lợi các chủ trƣơng, đƣờng lối của Trung ƣơng và của Khu ủy.

Nhờ đó, công tác tƣ tƣởng đạt nhiều thành tựu, phát huy đƣợc những thành

tích, ƣu điểm của Khu ủy; thƣờng xuyên đấu tranh giải quyết tƣ tƣởng hữu

khuynh biểu hiện qua các thời kỳ khác nhau; góp phần quan trọng vào những

thắng lợi lớn của Khu ủy trong cuộc KCCMCN từ năm 1966 đến năm 1975 ở

chiến trƣờng TTH.

Trên thế trận CTND vững chắc, kiên định tƣ tƣởng “giữ vững và phát

triển thế tiến công, kiên quyết tiến công và liên tục tiến công”, với phƣơng

châm “kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, chen vào giữa

địch mà đánh, luồn sâu vào hậu phƣơng địch mà đánh” [83, tr.63], quân và

dân toàn miền Nam nói chung và TTH nói riêng đã anh dũng, kiên cƣờng

chiến đấu và chiến thắng. Thực tế này làm cho nhiều lính Mỹ không còn tin

vào khả năng chiến thắng “Việt cộng” trong cuộc chiến tranh và nhiều cuộc

phản chiến của binh lính Mỹ đã diễn ra. Trong một bản báo cáo gửi Tổng

thống Mỹ Jonhson vào cuối năm 1966, Tƣớng Westmoreland thú nhận:

“Không có cách nào hợp lý để sớm chấm dứt chiến tranh... Tinh thần chiến

đấu của kẻ địch đã không bị bẻ gãy…, họ đã áp dụng chiến lƣợc quấy rối

chúng ta cho đến khi chúng ta phải rút ra… Họ tin là chúng ta chắc chắn sẽ

không thể chuyển hóa những chiến công của chúng ta ra “những thành

phẩm”” [189, tr.262].

Ở TTH, tuyến đầu của tiền tuyến lớn - một trong những chiến trƣờng

khốc liệt nhất, vai trò của công tác xây dựng tổ chức đảng trở nên quan trọng

hơn. Với mƣu đồ nhằm vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng, kẻ thù tập trung

mọi khả năng quét sạch toàn bộ cơ sở đảng ở nơi đây, tách dân ra khỏi Đảng.

145

Cao điểm của hành động khủng bố, đàn áp dã man của đế quốc Mỹ và

CQVNCH vào những năm 1968-1969. Trên thực tế, LLCM gặp khó khăn và

chịu tổn thất lớn. Thời kỳ này, những cán bộ, đảng viên vƣợt lên gian khổ, hy

sinh, quyết tâm “bám đất, bám dân”, nhen nhóm từng “ngọn lửa” nhỏ cách

mạng từ trong vùng địch kiểm soát. Từ những “ngọn lửa” nhỏ nhoi đó đã

bùng cháy thành núi lửa dữ dội, thiêu rụi quân thù, giải phóng quê hƣơng. Đó

chính là mối quan hệ sinh tồn, phát triển giữa Đảng với dân, giữa dân với

Đảng. Xây dựng, thay đổi, củng cố và bảo vệ hệ thống tổ chức Đảng là một

thành công lớn của Khu ủy, là nhân tố góp phần quyết định vào thắng lợi của

cuộc KCCMCN ở TTH.

Từ khi thành lập, Khu ủy TTH tiến hành củng cố, kiện toàn hệ thống tổ

chức Đảng ở các Đảng bộ Quảng Trị, Thừa Thiên, Thành phố Huế và Đảng

bộ Quân khu TTH. Trải qua 9 năm, công tác xây dựng tổ chức của Khu ủy

TTH đạt nhiều kết quả về mọi mặt: Ngay sau khi thành lập đã nhanh chóng

kiện toàn, ổn định mọi mặt về tổ chức để tập trung lãnh đạo CTND trên địa

bàn TTH theo quy định của Trung ƣơng; chấp hành, thực hiện nghiêm chỉnh

và có hiệu quả chủ trƣơng thành lập, giải thể, sáp nhập về tổ chức của Trung

ƣơng Đảng; thƣờng xuyên quan tâm việc củng cố, sắp xếp lại, phát triển các

tổ chức Đảng thuộc Khu ủy lãnh đạo cho phù hợp với tình hình mới của cuộc

kháng chiến; nhiều quần chúng có thành phần xuất thân tốt đƣợc đứng vào

hàng ngũ của Đảng; các cấp ủy đảng, các chi bộ đều tiến bộ rõ rệt trong việc

lãnh đạo đảng viên và quần chúng tham gia kháng chiến...

Khu ủy đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng bộ và chi bộ cơ sở theo tinh

thần “chi bộ 4 tốt”, “đảng bộ 4 tốt”, làm cho Đảng bộ, chi bộ có khả năng

lãnh đạo toàn diện, vững vàng, chủ động giải quyết những vấn đề cấp bách

trong tình huống chiến tranh ác liệt, gian khổ, thực hiện theo đúng quan điểm

của Lênin về vai trò của tổ chức đảng cơ sở, mỗi chi bộ là “điểm tựa để tiến

hành công tác tuyên truyền cổ động và tổ chức - thực hiện trong quần chúng”

[225, tr.447]. Khi bàn về nhiệm vụ, vai trò của tổ chức Đảng ở địa phƣơng có

146

căn cứ quân sự, đồng chí Lê Duẩn cho rằng “phải hết sức chú trọng tổ chức và

lãnh đạo quần chúng ở chung quanh các căn cứ Mỹ đấu tranh chính trị và làm

công tác binh vận đối với quân Mỹ nhằm hạn chế các cuộc càn quét, đánh phá

của địch, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân” [109, tr.255-256]. Trong

hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, chi bộ chính là tế bào của Đảng, “nền móng của

Đảng” nằm trong quần chúng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh ở cơ sở, thƣờng

xuyên đấu tranh trực diện với kẻ thù mọi lúc mọi nơi. Chi bộ tốt thì mọi việc

sẽ tốt, đó là “hạt nhân của CTND”. Đại tƣớng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh

vai trò của tổ chức cơ sở đảng: “Không có chi bộ mạnh, kiên cƣờng và tài giỏi

thì không thể có CTND phát triển mạnh mẽ và rộng khắp” [131, tr.407].

Trung ƣơng Đảng cho rằng, muốn xây dựng chi bộ vững chắc “phải bắt

đầu bằng xây dựng từng đảng viên trong chi bộ. Nâng cao trình độ chính trị

và tƣ tƣởng cho các đảng viên… Nâng cao trình độ tổ chức và năng lực công

tác từng đảng viên” [115, tr.429]. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản

(1948), Mác và Ăngghen đã phác họa về công các xây dựng đội ngũ đảng

viên vững mạnh: “Về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản

ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong

trào. Về mặt thực tiễn, những ngƣời cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong

các đảng công nhân ở tất cả các nƣớc, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong

trào tiến lên” [101, tr.614-615]. Khu ủy luôn quán triệt sâu sắc tinh thần đó

trong quá trình lãnh đạo công tác phát triển đảng, đảng viên không ngừng

tăng lên về số lƣợng và chất lƣợng. Khu ủy luôn chăm lo việc phát triển đảng

ở vùng dân tộc ít ngƣời, xây dựng nên tổ chức đảng ở miền núi nhằm đƣa

miền núi thành căn cứ địa vững mạnh, chỗ dựa vững chắc của cách mạng và

kháng chiến ở TTH.

Khi TTH giải phóng, Khu ủy kịp thời vạch ra kế hoạch xây dựng Đảng

với yêu cầu: “Phát triển đảng viên mới, phục hồi đảng viên bị bắt, bị đứt liên

lạc, nâng cao chất lƣợng đảng viên hiện có đi đôi với củng cố, phát triển và

nâng cao chất lƣợng lãnh đạo của tổ chức cơ sở, nhanh chóng phát triển đội

147

ngũ cán bộ mới, hình thành tổ chức bộ máy lãnh đạo tại chỗ, đáp ứng yêu cầu

nhiệm vụ mới” [52, tr.2]. Kế hoạch trên chỉ thực hiện trong thời gian ngắn

nhƣng Khu ủy đạt đƣợc một số kết quả nhất định, góp phần vào việc tiếp

quản, ổn định và tổ chức đời sống mới cho nhân dân.

Quá trình phát triển chiến tranh là quá trình phát triển của đảng bộ với

đội ngũ đảng viên đã đƣợc tôi luyện từ trong khói lửa của địa phƣơng cùng

với một đội ngũ hùng hậu đƣợc tăng cƣờng từ Quân khu IV, từ miền Bắc vào

tạo thành lực lƣợng lãnh đạo và chiến đấu có sức mạnh về tinh thần, ý chí, trí

tuệ, có năng lực toàn diện, đủ sức đƣơng đầu với mọi thử thách, giải quyết

nhiệm vụ ngày càng khó khăn, phức tạp, đƣa cuộc chiến đấu của chiến trƣờng

TTH từ phát triển chậm đến tiến kịp và có lúc còn là tiêu biểu của các chiến

trƣờng trên toàn miền Nam. Muốn có phong trào cách mạng tốt cần có những

cán bộ tốt và giỏi, thật đúng nhƣ đồng chí Lê Duẩn nhận định:

Làm cách mạng, phải có tri thức khoa học và tình cảm cách mạng.

Thiếu tri thức thì không có phƣơng hƣớng đúng, sẽ vấp phải sai

lầm, thất bại. Nhƣng chỉ có tri thức mà thiếu tình cảm cách mạng

trong sáng thì lừng chừng không dám làm, cuối cùng cũng rơi vào

chủ nghĩa cơ hội. Lãnh đạo cách mạng giỏi lắm chỉ có thể phán

đoán, dự kiến tình hình đƣợc 70-80%, nhƣng cứ làm đi rồi qua thực

tiễn mà tiếp tục tìm hiểu, bổ sung thêm [109, tr.177].

Lênin cho rằng, nếu Đảng không đoàn kết, dẫn đến chia rẽ, phe phái thì

sẽ sụp đổ, không ai có thể tiêu diệt đƣợc chúng ta, ngoài những sai lầm của

bản thân chúng ta. Hiểu rõ sự cảnh báo của Lênin, nhờ không ngừng tăng

cƣờng sự lãnh đạo thƣờng xuyên của Khu ủy TTH và phát huy vai trò tiền

phong, gƣơng mẫu, đoàn kết của cán bộ, đảng viên; củng cố khối đoàn kết

thống nhất giữa Đảng với quần chúng mà những năm chiến tranh ác liệt, hàng

triệu đảng viên, quần chúng ở TTH vì lý tƣởng của cách mạng, vì lòng yêu

nƣớc, thƣơng dân đã tự giác đối đầu với kẻ thù “kiên cƣờng chiến đấu, lãnh

148

đạo và tổ chức quần chúng, nhiều đồng chí hy sinh trong chiến đấu” [172,

tr.167] để góp phần tạo nên thắng lợi của quê hƣơng, của dân tộc.

*

* *

Chủ trƣơng thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể Khu ủy TTH là

quyết định của Trung ƣơng Đảng, đƣợc ghi trong Điều lệ Đảng, đúng với các

nguyên tắc tổ chức của chính đảng vô sản kiểu mới, đồng thời cũng xuất phát

từ tình hình thực tiễn, nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng ở chiến

trƣờng TTH. Hiện thực quá trình Khu ủy xây dựng tổ chức, lãnh đạo kháng

chiến ở TTH cho thấy, thành lập Khu ủy trong những điều kiện cần thiết là

một chủ trƣơng đúng đắn và sáng tạo của Đảng. Nhờ đó, Khu ủy đã lãnh đạo

quân và dân địa phƣơng đạt đƣợc nhiều thành tích trong cuộc KCCMCN, góp

phần đánh thắng các chiến lƣợc chiến tranh của đế quốc Mỹ, để lại nhiều kinh

nghiệm. Những kinh nghiệm này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, có thể

vận dụng vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

149

KẾT LUẬN

1. Trong quá trình lãnh đạo cuộc KCCMCN, căn cứ vào yêu cầu của

cuộc kháng chiến, Trung ƣơng Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng

sản Việt Nam) quyết định thành lập mới nhiều Khu ủy và Liên tỉnh ủy để lãnh

đạo phong trào kháng chiến ở các địa phƣơng. Chủ trƣơng này đƣợc ghi vào

Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9-1960) của

Đảng và Nghị quyết Về việc chuyển hướng công tác tổ chức trong tình hình

và nhiệm vụ mới ngày 7-7-1965 của Bộ Chính trị. Trên cơ sở đó, Khu ủy TTH

thành lập vào tháng 4-1966. Sự thành lập Khu ủy TTH xuất phát từ yêu cầu

thực tiễn ở chiến trƣờng TTH và trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc tổ chức Đảng

của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.

Trong quá trình hoạt động, lãnh đạo phong trào kháng chiến trên địa

bàn trọng yếu TTH, từ khi thành lập đến khi kết thúc nhiệm vụ, Khu ủy TTH

luôn chấp hành sự lãnh đạo của Trung ƣơng Đảng, của QUTW; luôn tin

tƣởng, trung thành, quán triệt nghiêm túc đƣờng lối cách mạng dân tộc dân

chủ nhân dân, đƣờng lối quân sự của Đảng trong KCCMCN vào địa phƣơng

mình phụ trách. Đồng thời, Khu ủy cũng luôn nêu cao tính độc lập, tự chủ và

vận dụng sáng tạo chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng trong việc đề ra các chủ

trƣơng đấu tranh cụ thể, sát hợp với tình hình địa phƣơng thông qua các Nghị

quyết, Chỉ thị của mình.

2. Khu ủy TTH tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động hợp lý, phù hợp,

đúng nguyên tắc tổ chức xây dựng của Đảng, thích hợp với hoàn cảnh kháng

chiến chống Mỹ, tính năng động đƣợc đề cao, phát huy tốt vai trò của Quân

khu ủy và các đảng bộ trực thuộc, đạt hiệu quả cao trong lãnh đạo phong trào

cách mạng trên địa bàn theo quy định của Trung ƣơng Đảng.

3. Khu ủy TTH là cơ quan lãnh đạo đặc biệt trực thuộc Trung ƣơng

Đảng, do BCT thành lập, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà BCT giao

cho trên phạm vi địa bàn cụ thể tại TTH (tỉnh Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên

Huế). Trong 9 năm xây dựng và hoạt động, Khu ủy TTH đã trực tiếp lãnh đạo

150

nhân dân địa phƣơng từng bƣớc đánh thắng các chƣơng trình bình định, các

chiến lƣợc chiến tranh mà đế quốc Mỹ và CQVNCH áp dụng trên toàn miền

Nam nói chung và ở TTH nói riêng đạt nhiều thắng lợi, góp phần hoàn thành

cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Nổi

bật là những thành công trong xây dựng, củng cố tổ chức Đảng, trong lãnh

đạo CTND, đáp ứng yêu cầu kháng chiến; từng bƣớc xây dựng lực lƣợng

kháng chiến, giữ vững quyền chủ động trên chiến trƣờng, góp phần cùng toàn

miền Nam đánh thắng các chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa

chiến tranh” của đế quốc Mỹ với các thắng lợi tiêu biểu: chiến dịch Khe Sanh

năm 1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chiến dịch

phản công Đƣờng 9 - Nam Lào năm 1971, cuộc tiến công chiến lƣợc Trị -

Thiên năm 1972, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975; góp

phần bảo vệ miền Bắc XHCN, làm nhiệm vụ hậu phƣơng trực tiếp cho chiến

trƣờng miền Nam và phối hợp, giúp đỡ cuộc kháng chiến của nƣớc Cộng hòa

Dân chủ nhân dân Lào.

4. Hiện thực quá trình thành lập, xây dựng tổ chức và lãnh đạo kháng

chiến của Khu ủy TTH để lại nhiều kinh nghiệm quý: Công tác xây dựng tổ

chức và lãnh đạo kháng chiến phải phù hợp với tình hình, đặc điểm, vị trí

chiến lƣợc của chiến trƣờng; quán triệt sự chỉ đạo của Trung ƣơng Đảng, phát

huy tinh thần chủ động, sáng tạo của Khu ủy; phối hợp đấu tranh chặt chẽ

giữa lực lƣợng địa phƣơng và lực lƣợng của Trung ƣơng, giữa đấu tranh chính

trị và đấu tranh vũ trang; coi trọng công tác vận động quần chúng và công tác

xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất; xác định và phát huy hiệu quả mối

quan hệ giữa Khu ủy với các cấp ủy Đảng khác; thƣờng xuyên chú trọng công

tác tƣ tƣởng, phát huy vai trò của tổ chức Đảng đặc thù. Những kinh nghiệm

này có giá trị lý luận đối với quá trình tổng kết KCCMCN nói chung, ở địa

phƣơng nói riêng; có giá trị thực tiễn đối với quá trình hoạch định đƣờng lối

xây dựng CNXH ở Quảng Trị và Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay.

151

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Trần Văn Lực (2011), “Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong kháng chiến chống

Mỹ, cứu nƣớc”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (2), tr.66-70.

2. Trần Văn Lực (Chủ nhiệm) (2012), “Khu ủy Trị - Thiên trong giai đoạn

1966-1968”, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Trƣờng Đại học Sƣ phạm -

Đại học Huế. Mã số T.12-XH-07.

3. Trần Văn Lực (Chủ nhiệm) (2013), “Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong giai

đoạn 1973-1975”, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Trƣờng Đại học Sƣ

phạm - Đại học Huế. Mã số T.13-XH-15.

4. Trần Văn Lực (2015), “Thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế, một chủ trƣơng

đúng đắn, sáng tạo của Đảng”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (12), tr.20-23.

5. Trần Văn Lực (2015), “Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong cuộc Tổng tiến

công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975”, in trong “Đại thắng mùa

Xuân 1975 - Sức mạnh đoàn kết thống nhất non sông” (Kỷ yếu Hội

thảo khoa học “Kỷ niệm 40 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam,

thống nhất đất nƣớc”), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,

NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội, tr.327-334.

6. Trần Văn Lực (2016), “Địa đạo Khe Trái”, Tạp chí Lịch sử quân sự,

(290), tr.62-63.

152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

1. Ăngghen - Lênin - Xtalin (1970), Bàn về chiến tranh nhân dân, NXB Sự

thật, Hà Nội.

2. Lê Thanh Bài (2012), “Mở hƣớng tiến công chiến lƣợc Trị - Thiên 1972,

quyết định đúng đắn, sáng tạo của Quân ủy Trung ƣơng”, Tạp chí

Lịch sử Đảng, (4), tr.14-19.

3. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện A Lƣới (1998), Lịch sử Đảng bộ huyện A

Lưới, NXB Thuận Hóa, Huế.

4. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Cam Lộ (2002), Lịch sử Đảng bộ huyện

Cam Lộ (1930-2000), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Gio Linh (1995), Lịch sử Đảng bộ huyện

Gio Linh (1930-1975), Quảng Trị.

6. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hải Lăng (1995), Lịch sử Đảng bộ huyện

Hải Lăng (1930-1975), Quảng Trị.

7. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hƣơng Trà (1999), Lịch sử Đảng bộ huyện

Hương Trà (1930-1975), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

8. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nam Đông (2003), Lịch sử Đảng bộ huyện

Nam Đông (1945-2000), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phong Điền (1999), Lịch sử Đảng bộ

huyện Phong Điền (1930-1995), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Lộc (1999), Lịch sử Đảng bộ huyện

Phú Lộc (1930-1955), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

11. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Vang (1999), Đảng bộ huyện Phú

Vang - 65 năm đấu tranh và xây dựng (1930-1995), NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

12. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Triệu Phong (1996), Lịch sử Đảng bộ

huyện Triệu Phong (1930-1975), Quảng Trị.

153

13. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1966), Chỉ thị tiếp tục đẩy

mạnh phong trào đấu tranh chống Mỹ, Thiệu - Kỳ, ngày 6-6-1966,

Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

14. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1966), Chỉ thị bổ sung về

việc “Tiếp tục đẩy mạnh phong trào đấu tranh chống Mỹ, Thiệu - Kỳ”,

ngày 21-6-1966, Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

15. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1966), Nghị quyết Hội

nghị Khu ủy Trị - Thiên - Huế lần thứ hai (họp từ ngày 18 đến ngày

24-10-1966), Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

16. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1967), Nghị quyết Hội

nghị Khu ủy Trị - Thiên - Huế mở rộng (tháng 5-1967), Tài liệu lƣu

trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

17. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1967), Nghị quyết Hội

nghị Khu ủy Trị - Thiên - Huế lần thứ tư (từ ngày 23-10 đến 7-11-

1967), Tài liệu Lƣu trữ tại Cục lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

18. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1967), Nghị quyết Hội

nghị Thường vụ Khu ủy Trị - Thiên - Huế (tháng 12-1967), Tài liệu

lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

19. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1968), Nghị quyết Hội

nghị Khu ủy bất thường (tháng 3-1968), Tài liệu lƣu trữ tại Viện

Lịch sử Đảng.

20. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1968), Chỉ thị về tăng

cường xây dựng và phát triển Đảng (5-1968), Tài liệu lƣu trữ tại

Tỉnh ủy Quảng Trị.

21. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1968), Về công tác tư

tưởng trong giai đoạn trước mắt, (5-1968), Tài liệu lƣu trữ tại Viện

Lịch sử Đảng.

154

22. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1968), Chỉ thị về việc ra

sức xây dựng củng cố chính quyền cách mạng các cấp theo kịp với

tình hình, ngày 1-6-1968, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Quảng Trị.

23. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1968), Bản kiểm điểm sự

lãnh đạo của Khu ủy Trị - Thiên - Huế (trong Hội nghị Khu ủy

thường kỳ tháng 11-1968), Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung

ƣơng Đảng.

24. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1968), Báo cáo ở Hội nghị

Khu ủy Trị - Thiên - Huế (11-1968), Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ

Trung ƣơng Đảng.

25. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1968), Nghị quyết Hội

nghị Khu ủy Trị - Thiên - Huế (11-1968), Tài liệu lƣu trữ tại Cục

Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

26. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1969), Nghị quyết Hội

nghị Khu ủy bất thường (từ 8-3 đến 13-3-1969), Tài liệu lƣu trữ tại

Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

27. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1969), Nghị quyết Hội

nghị Khu ủy Trị - Thiên - Huế (6-1969), Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu

trữ Trung ƣơng Đảng.

28. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1969), Chỉ thị động viên

mọi lực lượng, ra sức xây dựng miền núi thành căn cứ vững mạnh

về mọi mặt, ngày 4-12-1969, Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung

ƣơng Đảng.

29. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1970), Chỉ thị khẩn trương

đẩy mạnh tấn công toàn diện, đánh bại âm mưu và thủ đoạn bình

định của địch, tạo thêm thế và lực mới cùng toàn miền đánh bại kế

hoạch “Việt Nam hóa” cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ, ngày 20-

01-1970, Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

155

30. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1970), Nghị quyết Hội

nghị Khu ủy Trị - Thiên - Huế (3-1970), Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu

trữ Trung ƣơng Đảng.

31. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1970), Nghị quyết Hội

nghị Khu ủy Trị - Thiên - Huế (12-1970), Tài liệu lƣu trữ tại Cục

Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

32. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1971), Báo cáo tình hình

địch và ta trong năm 1971 tại Hội nghị Khu ủy, ngày 6-1-1971, Tài

liệu lƣu trữ tại Viện Lịch sử Đảng.

33. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1971), Nghị quyết Hội nghị

Khu ủy, tháng 5-1971, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

34. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1971), Chỉ thị về vấn đề

đấu tranh lợi dụng kinh tế địch, xấy dựng kinh tế tự chủ của ta, cuối

năm 1971, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

35. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1971), Đề cương Tổng kết

Hội nghị đồng bằng (từ ngày 10 đến 30-11-1971), Tài liệu lƣu trữ

tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

36. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1972), Chỉ thị phát động

cao trào thi đua tấn công nổi dậy, đánh bại chính sách “Việt Nam

hóa chiến tranh” của địch, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, ngày

29-3-1972, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

37. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1972), Chỉ thị về công tác

binh vận năm 1972, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

38. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1972), Nghị quyết Hội

nghị Thường vụ Khu ủy Trị - Thiên - Huế, ngày 3-9-1972, Tài liệu

lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

39. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1972), Nghị quyết Hội

nghị Thường vụ Khu ủy Trị - Thiên - Huế (Họp mở rộng), ngày 15-

10-1972, Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

156

40. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1973), Chỉ thị một số điểm

về tình hình, nhiệm vụ trước mắt (27-5-1973), Tài liệu lƣu trữ tại

Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

41. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1973), Chỉ thị về công tác

ở giáp ranh, ngày 31-8-1973, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa

Thiên Huế.

42. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1973), Chỉ thị về công tác

binh vận hiện nay (23-9-1973), Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa

Thiên Huế.

43. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1973), Thành tích và bài

học kinh nghiệm 18 năm đánh Mỹ của quân và dân Trị - Thiên, Tài

liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

44. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1974), Nghị quyết Hội

nghị Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1-1974), Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu

trữ Trung ƣơng Đảng.

45. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1974), Trích yếu Nghị

quyết của Thường vụ Khu ủy về việc “Đẩy mạnh sản xuất, tiết kiệm

giành thắng lợi vụ đông xuân và vụ sản xuất hè thu năm 1974”,

ngày 15-4-1974, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

46. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1974), Nghị quyết về

phương hướng xây dựng và phát triển kinh tế ở vùng giải phóng

đồng bằng và miền núi Trị - Thiên, tháng 7-1974, Tài liệu lƣu trữ tại

Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

47. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1974), Báo cáo tình hình

từ khi có Hiệp định Pari tới nay (8-1974), Tài liệu lƣu trữ tại Cục

Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

48. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1974), Nghị quyết về

công tác cán bộ, ngày 25-8-1974, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa

Thiên Huế.

157

49. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1974), Nghị quyết về phát

động cao trào quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, phá rã kềm kẹp bằng

ba mũi giáp công, giành dân, giành quyền làm chủ ở nông thôn

đồng bằng trong năm 1975, Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung

ƣơng Đảng.

50. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1974), Dự thảo Báo cáo

tại Đại hội Đảng bộ Khu Trị - Thiên - Huế năm 1975: “Mười tám

năm chiến đấu và chiến thắng của quân và dân Trị - Thiên - Huế”,

Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

51. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1974), Nghị quyết Hội

nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế

(từ ngày 3 đến 8-12-1974), Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung

ƣơng Đảng.

52. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1975), Kế hoạch xây dựng

Đảng vùng mới giải phóng, (22-3-1975), Tài liệu lƣu trữ tại Cục

Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

53. Ban Chấp hành Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (1975), Chỉ thị về công tác

tiếp quản thành phố Huế, ngày 24-3-1975, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh

ủy Thừa Thiên Huế.

54. Ban Chấp hành Đảng bộ miền Tây Trị - Thiên (1970), Nghị quyết Hội nghị

Đảng ủy miền Tây Trị - Thiên (tháng 4-1970), Tài liệu lƣu trữ tại

Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

55. Ban Chấp hành Đảng bộ miền Tây Trị - Thiên (1970), Nghị quyết Hội nghị

Đảng ủy miền Tây Trị - Thiên (tháng 10-1970), Tài liệu lƣu trữ tại

Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

56. Ban Chấp hành Đảng bộ miền Tây Trị - Thiên (1971), Nghị quyết Hội nghị

Đảng ủy miền Tây Trị - Thiên (tháng 4-1971), Tài liệu lƣu trữ tại

Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

158

57. Ban Chấp hành Đảng bộ miền Tây Trị - Thiên (1971), Tình hình xây dựng

Đảng bộ miền tây Trị - Thiên (8/1967-8/1971), (Báo cáo trong Hội

nghị Đảng ủy mở rộng trước lúc giải thể Đảng ủy miền Tây Trị -

Thiên), tháng 8-1971, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Quảng Trị.

58. Ban Chấp hành Đảng bộ miền Tây Trị - Thiên (1971), Báo cáo trong Hội

nghị Đảng ủy mở rộng, tháng 8-1971, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy

Quảng Trị.

59. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Huế (2010), Lịch sử Đảng bộ thành

phố Huế 1930-2000, NXB Thuận Hóa, Huế.

60. Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Đông Hà (2000), Lịch sử Đảng bộ thị xã

Đông Hà (1930-1999), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

61. Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Quảng Trị (1999), Lịch sử Đảng bộ thị xã

Quảng Trị (1930-1995), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

62. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1971), Dự thảo phương hướng,

nhiệm vụ, yêu cầu, phương châm, biện pháp đánh bại một bước

quan trọng kế hoạch bình định của địch ở nông thôn đồng bằng

trong năm 1972, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Quảng Trị.

63. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1972), Chỉ thị về việc thành lập

chính quyền các cấp, ngày 8-5-1972, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy

Quảng Trị.

64. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1972), Hội nghị Thường vụ tỉnh

ủy tháng 5 năm 1972, ngày 13-5-1972, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy

Quảng Trị.

65. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1973), Báo cáo tình hình năm

1973, ngày 01-12-1973, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Quảng Trị.

66. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1974), Báo cáo 6 tháng đầu năm

1974, ngày 23-4-1974, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Quảng Trị.

67. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1975), Tình hình xây dựng Đảng 20

năm qua, ngày 10-01-1975, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Quảng Trị.

159

68. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1996), Lịch sử Đảng bộ Quảng

Trị (1945-1975), Tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

69. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1972), Báo cáo tổng kết

công tác năm 1971, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

70. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1972), Chỉ thị về kế hoạch

dân vận Xuân - Hè 1972, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

71. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1972), Chỉ thị về công tác

tư tưởng trước tình hình nhiệm vụ khẩn cấp, ngày 20-10-1972, Tài

liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

72. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1972), Báo cáo tổng kết

công tác năm 1972 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 1973,

ngày 24-12-1972, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

73. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1973), Nghị quyết của Hội

nghị Tỉnh ủy mở rộng từ ngày 8 đến ngày 16-3-1973 về tình hình và

nhiệm vụ mới của Thừa Thiên Huế đến cuối năm 1973, Tài liệu lƣu

trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

74. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1973), Nghị quyết của Hội

nghị Thường vụ Tỉnh ủy mở rộng (tháng 12-1973), Tài liệu lƣu trữ

tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

75. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1974), Báo cáo kiểm điểm

một số vấn đề trong tình hình 18 năm chống Mỹ cứu nước của Thừa

Thiên Huế, tháng 3-1974, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

76. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1974), Nghị quyết của Hội

nghị Tỉnh ủy tháng 3-1974 về tình hình và phương hướng nhiệm vụ

năm 1974, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

77. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1974), Nghị quyết của Hội nghị

Tỉnh ủy tháng 12-1974, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

78. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1975), Báo cáo của

Thường vụ Tỉnh ủy trước Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Tỉnh

Đảng bộ tháng 6-1975, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

160

79. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1995), Lịch sử Đảng bộ Thừa

Thiên - Huế (1945-1975), Tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

80. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Lao động Việt Nam (1974), Nghị quyết

Về việc phân công Ban Chấp hành Đảng bộ Khu Trị - Thiên - Huế,

ngày 6-3-1974, Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

81. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Lao động Việt Nam (1974), Quyết định

Về việc chỉ định bổ sung Phó Bí thư Khu ủy khu Trị - Thiên - Huế,

ngày 18-11-1974, Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

82. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Lao động Việt Nam (1975), Nghị quyết

về việc thành lập Đảng ủy mặt trận Trị - Thiên, ngày 8-2-1975, Tài

liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

83. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết

cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

84. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến

tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

85. Ban Tổng kết chiến tranh Chiến trƣờng Trị - Thiên - Huế (1985), Chiến

trường Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

toàn thắng (Dự thảo) - Lƣu hành nội bộ, NXB Thuận Hóa, Huế.

86. Ban Tổ chức, Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1970), Thống kê tổ chức cơ sở

đảng và số lượng đảng viên của Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế (6-

1970), Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

87. Ban Tổ chức, Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1973), Dự thảo về củng cố, xây

dựng bộ máy cấp khu (3-1973), Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ

Trung ƣơng Đảng.

88. Bộ Chính trị (1994), Kết luận số 215-BBK/BCT ngày 6-5-1994 của Bộ

Chính trị về một số vấn đề về những thành công và hạn chế, khuyết

điểm của Đảng trong quá trình chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ,

Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

161

89. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1987), Chiến dịch tiến

công Đường số 9 - Khe Sanh xuân hè 1968 (Lưu hành nội bộ), Hà Nội.

90. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1987), Hướng tiến công

chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội.

91. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1991), Cuộc chiến tranh

xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Hà Nội.

92. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1995), Lịch sử nghệ thuật

chiến dịch Việt Nam 1945-1975, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

93. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1999), Mấy vấn đề chỉ

đạo chiến lược trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975),

NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

94. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2001), Lịch sử Mặt trận

Đường 9 - Bắc Quảng Trị (1966-1973), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

95. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2005), Lịch sử quân sự

Việt Nam, Tập 11, “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-

1975)”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

96. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2015), Lịch sử kháng

chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Tập IV: “Cuộc đụng đầu lịch

sử”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

97. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2015), Lịch sử kháng

chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Tập V: “Tổng tiến công và

nổi dậy năm 1968”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

98. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2015), Lịch sử kháng

chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Tập VI, “Thắng Mỹ trên chiến

trƣờng ba nƣớc Đông Dƣơng”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

99. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2015), Lịch sử kháng

chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Tập VII, “Thắng lợi quyết

định năm 1972”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

162

100. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2015), Lịch sử kháng

chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Tập VIII, “Toàn thắng”,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

101. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia,

Hà Nội.

102. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 16, NXB Chính trị quốc

gia, Hà Nội.

103. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 41, NXB Chính trị quốc

gia, Hà Nội.

104. Trƣờng Chinh (1975), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam,

Tập 2, NXB Sự thật, Hà Nội.

105. Nguyễn Thành Cung (2012), “Giải phóng Quảng Trị và cuộc chiến đấu bảo

vệ Thành cổ - Thắng lợi bƣớc ngoặt trong sự nghiệp kháng chiến

chống Mỹ, cứu nƣớc”, Tạp chí Lịch sử quân sự, (4), tr.8-14.

106. Daniel Ellsberg (2006), Những bí mật về chiến tranh Việt Nam (Hồi ức về

Việt Nam và hồ sơ Lầu Năm Góc), NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

107. Don Oberdoifer (1988), Tết, NXB Tổng hợp An Giang, An Giang.

108. Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do vì chủ nghĩa

xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới, NXB Sự thật, Hà Nội.

109. Lê Duẩn (1993), Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, NXB Chính trị quốc

gia, Hà Nội.

110. Văn Tiến Dũng (2005), Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, NXB

Quân đội nhân dân, Hà Nội.

111. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 15

(1954), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

112. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 21

(1960), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

113. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 22

(1961), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

163

114. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 26

(1965), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

115. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 27

(1966), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

116. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 28

(1967), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

117. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 29

(1968), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

118. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 30

(1969), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

119. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 31

(1970), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

120. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 32

(1971), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

121. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 33

(1972), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

122. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 34

(1973), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

123. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 35

(1974), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

124. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 36

(1975), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

125. Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thừa Thiên Huế (1999), Thừa Thiên -

Huế kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

126. Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị (1998), Quảng Trị kháng

chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), NXB Chính trị quốc gia,

Hà Nội.

164

127. Đảng ủy miền Tây Trị - Thiên (1967), Tổng kết tình hình xây dựng Đảng

năm 1967, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

128. Lê Tự Đồng (1983), Trị - Thiên - Huế Xuân 1975, NXB Quân đội nhân

dân, Hà Nội.

129. Lê Tự Đồng (2001), “Chiến dịch Trị Thiên (1972) - qua ý kiến của một

nhân chứng lịch sử”, Tạp chí Lịch sử quân sự, (6).

130. Đêvơrisớt Panmơ (1992), “Cuộc thử thách”, Tạp chí Lịch sử quân sự, (4).

131. Võ Nguyên Giáp (1979), Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh

bảo vệ Tổ quốc, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

132. Gabrriel Kolko (2003), Giải phẫu một cuộc chiến tranh, NXB Quân đội

nhân dân, Hà Nội.

133. George C.Herring (1998), Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của Mỹ, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

134. Nguyễn Mạnh Hà (2012), “Từ tiến công Quảng Trị đến Hội nghị Pari hai trận

tuyến - một mục tiêu chiến lƣợc”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (4), tr.8-13.

135. Tô Vĩnh Hà (1998), “Huế tấn công nổi dậy - 30 năm nhìn lại”, Tạp chí

Sông Hương, số Xuân Mậu Dần.

136. Trịnh Thị Hồng Hạnh (2014), Vành đai diệt Mỹ ở chiến trường miền

Nam (1965-1973), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

137. Trịnh Thị Hồng Hạnh (2014), “Công tác xây dựng Đảng ở miền Nam

(1973-1975)”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (3), tr.14-19.

138. Trần Mai Hạnh (2015), Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75, NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

139. Trần Hậu và cộng sự (2007), Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt

Nam, quyển II (1954-1975), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

140. Vũ Quang Hiển (2008), “Cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 ở Huế

- mấy vấn đề bàn luận”, trong Về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết

Mậu Thân 1968, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr.343-365.

165

141. Vũ Quang Hiển, Vũ Tất Đạt (2008), “Khu ủy Trị Thiên - Huế trong cuộc

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968”, Tạp chí Lịch sử

Đảng, (2), tr.73-78.

142. Vũ Quang Hiển (2015), “Sự chỉ đạo của Bộ Chính trị trong cuộc tổng

tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975”, Tạp chí Lịch sử Đảng,

(4), tr.15-22.

143. Trần Nhƣ Hiền (2016), Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo thực hiện

nhiệm vụ hậu phương từ năm 1964 đến năm 1975, Luận án tiến sĩ

lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

144. Hoàng Chí Hiếu (2012), Khu phi quân sự Vĩ tuyến 17 trong cuộc kháng

chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1954-1967, Luận án tiến sĩ

lịch sử, Trƣờng Đại học Sƣ phạm - Đại học Huế, Huế.

145. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng (2008),

Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam

(1954-1975), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

146. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng (2014),

Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 - Giá trị lịch sử, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

147. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng (2015),

Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975),

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

148. Hội đồng Biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến (1995), Nam

Trung Bộ kháng chiến 1945-1975, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

149. Trần Hữu Huy (2008), “Chiến dịch Đƣờng 9 - Khe Sanh Xuân Hè 1968

một thành công về chỉ đạo chiến lƣợc của ta”, Tạp chí Lịch sử

Đảng, (7), tr.24-21.

150. Trần Hữu Huy (2008), “Mặt trận Đƣờng 9 - Bắc Quảng Trị một trong

những chỉ đạo xuất sắc của Đảng thời kỳ chống Mỹ, cứu nƣớc”, Tạp

chí Lịch sử Đảng, (12), tr.51-56.

166

151. Nguyễn Khắc Huỳnh (2012), “Cuộc tiến công Xuân - Hè 1972 và chiến

thắng Quảng Trị với cuộc đàm phán Paris”, Tạp chí Lịch sử quân sự,

(4), tr.19-23.

152. Hồ Khang (2008), Tết Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt lớn của cuộc kháng

chiến chống mỹ, cứu nước, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

153. Hồ Khang và Hồ Hoàng Thái (2012), “Cuộc tiến công chiến lƣợc năm

1972 và bƣớc ngoặt trên bàn đàm phán Hội nghị Paris”, Tạp chí

Lịch sử quân sự, (3), tr.3-9.

154. Không rõ tên (1982), Quân khu 5 - Thắng lợi và những bài học trong

kháng chiến chống Mỹ, Tập 2, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

155. Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1968), Nghị quyết Thường vụ Khu ủy Trị - Thiên

(tháng 4-1968), Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

156. Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1968), Nghị quyết Hội nghị Thường vụ Khu ủy

mở rộng, ngày 25-5-1968, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Quảng Trị.

157. Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1968), Chỉ thị về đấu tranh chính trị ngày 10-

8-1968, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

158. Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1968), Chỉ thị về đẩy mạnh hơn nữa công tác

binh địch vận, đáp ứng tình hình nhiệm vụ mới, ngày 30-11-1968,

Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Quảng Trị.

159. Lê Kim (1998), “Tƣớng Oét-mo-len và trận Khe Sanh”, Tạp chí Lịch sử

quân sự, (3).

160. Linđơn Giônxơn (1972), Hồi ký của Linđơn Giônxơn, NXB Việt Nam

thông tấn xã, Hà Nội.

161. Trần Văn Lợi (2015), “Đôi nét về Khu Trị - Thiên - Huế trong kháng

chiến chống Mỹ, cứu nƣớc”, Tạp chí Lịch sử quân sự, (6), tr.31-33.

162. Maicơn Máclia (1990), Việt Nam - Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày,

NXB Sự thật, Hà Nội.

163. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

164. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

167

165. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

166. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 14, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

167. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 15, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

168. Võ Văn Minh và cộng sự (1994), Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến

chống Mỹ cứu nước (1954-1975), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

169. Neil Sheehan (2003), Sự lừa dối hào nhoáng, NXB Công an nhân dân,

Hà Nội.

170. Nhiều tác giả (2002), Di tích lịch sử văn hóa Thừa Thiên Huế, NXB

Thuận Hóa, Huế.

171. Philíp B.Davítsơn (1995), Những bí mật của cuộc chiến tranh Việt Nam,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

172. Nguyễn Trọng Phúc (2012), Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930-

2011), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

173. Nguyễn Trọng Phúc (2012), “Cuộc tiến công chiến lƣợc Xuân - Hè 1972 -

Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (2), tr.10-15.

174. Nguyễn Trọng Phúc (2015), “Hồ Chí Minh với kháng chiến chống Mỹ cứu

nƣớc oanh liệt và vẻ vang của dân tộc”, Đặc san Hồ Chí Minh học, (2),

tr.9-16.

175. Nguyễn Trọng Phúc (2015), “Những quyết sách của Đảng trong đại

thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất

nƣớc”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (4), tr.9-14.

176. Trần Văn Quang (1988), “Huế: 25 ngày đêm”, Tạp chí Lịch sử quân sự, (2).

177. Trần Văn Quang (1998), “Về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu

Thân - 1968 ở Trị - Thiên - Huế”, trong Thành ủy - Ủy ban nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử quân sự, Cuộc Tổng tiến công

và nổi dậy Mậu Thân - 1968, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

178. Quân Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1966), Báo cáo “Phát huy thành tích đã

đạt được, kiên quyết tiến lên giành thắng lợi to lớn hơn” ở Hội nghị

Quân khu ủy ngày 15-9-1966, Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung

ƣơng Đảng.

168

179. Quân khu Trị - Thiên - Huế (1967), Báo cáo tổng kết số 144 KT, Tài liệu

lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

180. Quân khu Trị - Thiên - Huế (1967), Báo cáo tình hình quân sự, chính trị

của địch từ tháng 9 năm 1966 đến tháng 9 năm 1967, Tài liệu lƣu

trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

181. Quân khu Trị - Thiên - Huế (1971), Báo cáo tình hình 6 tháng đầu năm ở

đồng bằng và giáp ranh, ngày 22-7-1971, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh

ủy Thừa Thiên Huế.

182. Quân Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1972), Nghị quyết Thường vụ Quân Khu

ủy mở rộng (8-1972), Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

183. Quân Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1972), Nghị quyết Thường vụ Quân Khu

ủy về tăng cường, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang tỉnh

Thừa Thiên vững mạnh toàn diện trước tình hình và nhiệm vụ mới,

ngày 25-12-1972, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

184. Quân Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1974), Nghị quyết Ban Chấp hành Đảng

bộ Quân khu Trị - Thiên, ngày 10-4-1974, Tài liệu lƣu trữ tại Cục

Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

185. Quân ủy Trung ƣơng (1966), Nghị quyết của Thường trực Quân ủy Trung

ương (26-4-1966), Tài liệu lƣu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

186. Quân ủy Trung ƣơng (1966), Nghị quyết của Thường trực Quân ủy

Trung ương về nhiệm vụ chiến trường Trị - Thiên tháng 4, 5, 6 năm

1966, Tài liệu lƣu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

187. Quân ủy Trung ƣơng (1969), Chỉ thị của Quân ủy Trung ương về nhiệm

vụ của Trị - Thiên trong giai đoạn mới, ngày 1-5-1969, Tài liệu lƣu

trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

188. Richard Nixon (2004), Hồi ký Richard Nixon, NXB Công an nhân dân,

Hà Nội, 2004.

189. Robert S.McNamara (1995), Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những

bài học về Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

169

190. Hồ Thái (lƣợc dịch, 2013), “Tết: Bƣớc ngoặt trong cuộc chiến tranh Việt

Nam”, Tạp chí Lịch sử quân sự, (5), tr.57-66.

191. Lê Thị Thu Thanh (2007), Vùng giải phóng Quảng Trị trong kháng

chiến chống Mỹ, cứu nước (1972-1975), Luận văn cao học lịch sử,

Trƣờng Đại học Sƣ phạm - Đại học Huế, Huế.

192. Thành ủy Huế (1967), Nghị quyết số 09 NQ/H, tháng 6-1967, Tài liệu

lƣu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

193. Thành ủy Huế (1968), Nghị quyết Hội nghị Thường vụ Thành ủy mở

rộng tháng 6-1968, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

194. Thành ủy Huế (1968), Chỉ thị về đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng

chuẩn bị khẩn trương cho cuộc vận động xây dựng chi bộ 4 tốt,

đảng viên 4 tốt, tháng 8-1968, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa

Thiên Huế.

195. Thành ủy Huế (1969), Chỉ thị Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát

động quần chúng bảo vệ Đảng, bảo vệ nội bộ cơ quan, căn cứ,

tháng 6-1969, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

196. Thành ủy Huế (1969), Chỉ thị về đợt sinh hoạt chính trị học tập và làm

theo Di chúc của Hồ Chủ tịch, ngày 10-10-1969, Tài liệu lƣu trữ tại

Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

197. Thành ủy Huế (1970), Chỉ thị Động viên mọi lực lượng, ra sức xây dựng căn

cứ hậu phương vững chắc đảm bảo đánh thắng địch trong mọi tình

huống, ngày 13-2-1970, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

198. Thành ủy Huế (1970), Chỉ thị Phát huy thắng lợi năm 1970, ra sức xây dựng

miền núi quận 4 thành căn cứ địa kháng chiến vững chắc và toàn diện,

quyết tâm giành thắng lợi to lớn hơn trong mùa xuân 1971, ngày 28-12-

1970, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

199. Thành ủy Huế (1971), Bản tóm tắt kiểm điểm tình hình và sự lãnh đạo

của Thành ủy Huế trong năm 1970, ngày 27-01-1971, Tài liệu lƣu

trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

170

200. Thành ủy Huế (1971), Chỉ thị phát động cao trào thi đua tăng gia sản

xuất tự túc và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ căn cứ, ngày 22-2-1971,

Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

201. Thành ủy Huế (1995), Sơ thảo Lịch sử Đảng bộ Thành phố Huế (1945-

1975), Tập 2, NXB Thuận Hóa, Huế.

202. Thành ủy Huế (2002), Huế Xuân 68, NXB Thuận Hóa, Huế.

203. Nguyễn Huy Thục (2012), “Sự kiện giải phóng Quảng Trị”, Tạp chí Lịch

sử quân sự, (2), tr.18-22.

204. Thƣờng vụ Huyện ủy Vĩnh Linh (1994), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân

Vĩnh Linh 1930-1975, Quảng Trị.

205. Tỉnh ủy Quảng Trị, Ban Dân vận (2007), Lịch sử công tác dân vận của Đảng

bộ tỉnh Quảng Trị (1930-2005), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

206. Tỉnh ủy Thừa Thiên (1966), Nghị quyết Hội nghị T20 từ ngày 25-11 đến

ngày 02-12-1966, Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

207. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1971), Chỉ thị tiếp tục xây dựng miền núi toàn

diện, vững chắc tạo cơ sở để xây dựng thành căn cứ địa cách mạng

hoàn chỉnh (8-1971), Tài liệu Lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

208. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1971), Nghị quyết về công tác tổ chức xây

dựng Đảng (12-1971), Tài liệu Lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

209. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1974), Báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện

Nghị quyết của trên và của Tỉnh ủy trong năm 1973, ngày 07-01-

1974, Tài liệu Lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

210. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1974), Báo cáo tình hình Thừa Thiên Huế từ tháng

3 đến tháng 12-1974, Tài liệu Lƣu trữ tại Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

211. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1998), Tổng kết công tác binh vận trong cuộc

kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), NXB Thuận Hóa, Huế.

212. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1998), Thừa Thiên - Huế tiến công - nổi dậy -

anh dũng - kiên cường Xuân 1968, NXB Thuận Hóa, Huế.

171

213. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2005), Thừa Thiên Huế Xuân 1975, NXB

Thuận Hóa, Huế.

214. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2008), Lịch sử công tác tuyên giáo của Đảng

bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1930-2005), NXB Thuận Hóa, Huế.

215. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2008), Thừa Thiên Huế tấn công, nổi dậy, anh

dũng, kiên cường, NXB Thuận Hóa, Huế.

216. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2010), Lịch sử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh

Thừa Thiên Huế (1930-2010), NXB Thuận Hóa, Huế.

217. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2015), Lịch sử công tác xây dựng Đảng về

tổ chức của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1930-2010), NXB

Thuận Hóa, Huế.

218. Nguyễn Hữu Tri, Nguyễn Thị Phƣơng Hồng và cộng sự (2005), Lịch sử

công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2000), NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

219. Trung ƣơng Cục miền Nam (1967), Chỉ thị “Khẩn trương đẩy mạnh đợt

đông xuân 1967-1968, phát triển thế tấn công toàn diện dồn dập trên

khắp các chiến trường, xốc tới giành lấy những thắng lợi quyết định”

ngày 13-10-1967, Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.

220. Trung ƣơng Cục miền Nam (1972), Thông tri “Ra sức xây dựng và củng

cố chính quyền cách mạng ở vùng làm chủ và vùng giải phóng trong

quá trình đẩy mạnh đồng khởi” (4-1972), Tài liệu lƣu trữ tại Tỉnh

ủy Thừa Thiên Huế.

221. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh

(1995), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1954-1975), Tập II, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

222. Việt Nam Thông tấn xã phát hành (1971), Tài liệu mật của Bộ Quốc

phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Tập II, Hà Nội.

223. V.I. Lênin (2005), Toàn tập, Tập 6, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

224. V.I. Lênin (2005), Toàn tập, Tập 11, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

225. V.I. Lênin (2005), Toàn tập, Tập 17, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

172

226. William.C.Westmoreland (1988), Tường trình của một quân nhân, NXB

Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

227. Ủy ban dân tộc giải phóng Trị - Thiên - Huế (1969), Bản hiệu triệu, ngày

09-09-1969, Tài liệu lƣu trữ tại Bảo tàng lịch sử và cách mạng Thừa

Thiên Huế.

228. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị (2006), Lịch sử Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị (1930-2005), NXB Thuận Hóa, Huế.

B. TÀI LIỆU TIẾNG ANH 229. Dorothy and Thomas Hoobler (1990), Vietnam - Why we fought, New York.

230. General Bruce Palmer, Jr (1984), The 25 - year war, The university Press

of Kentucky.

231. John Prados and Ray W. Stubbe (1991), Valley of decision - The siege of

Khe Sanh, Houghton Mifflin Company, New York.

232. John Prados (1995), The hidden history of the Vietnam war, Chicago.

173

PHỤ LỤC 1

Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên Huế

Nguồn: Dựa trên Bản đồ hành chính Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, Viện Địa lí - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

(Năm 2015)

174

PHỤ LỤC 2

Bản đồ hành chính Khu Trị - Thiên - Huế

trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-1975)

Nguồn: Dựa trên Bản đồ hành chính Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, Viện Địa lí - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

(Năm 2015)

175

PHỤ LỤC 3

CƠ CẤU TỔ CHỨC TỪ KHU ỦY ĐẾN CƠ SỞ (Từ tháng 4/1966 - tháng 8/1967)

KHU ỦY

Đảng ủy các cơ quan giúp việc

Quân Khu ủy

Tỉnh ủy, Thành ủy (Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế)

Các Đảng ủy trực thuộc (Cục Tham mƣu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần)

Thị ủy, Quận ủy, Huyện ủy và tƣơng đƣơng

Các Ban chuyên môn (Tổ chức, Tuyên huấn, Kiểm tra, Dân vận, Kinh tế, An ninh, Binh vận, Thi đua, …)

Đảng ủy xã, phƣờng, thị trấn và tƣơng đƣơng

Nguồn: Lập trên cơ sở cơ cấu tổ chức của Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1966-1975)

176

PHỤ LỤC 4

CƠ CẤU TỔ CHỨC TỪ KHU ỦY ĐẾN CƠ SỞ (Từ tháng 8/1967 - tháng 6/1971)

KHU ỦY

Đảng ủy các cơ quan giúp việc

Quân Khu ủy

Đoàn ủy - Mặt trận (4, 5, 6, 7) và Đảng ủy miền Tây Trị - Thiên

Các Đảng ủy trực thuộc (Cục Tham mƣu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần)

Thị ủy, Quận ủy, Huyện ủy và tƣơng đƣơng

Các Ban chuyên môn (Tổ chức, Tuyên huấn, Kiểm tra, Dân vận, Kinh tế, An ninh, Binh vận, Thi đua, …)

Đảng ủy xã, phƣờng, thị trấn và tƣơng đƣơng

Nguồn: Lập trên cơ sở cơ cấu tổ chức của Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1966-1975)

177

PHỤ LỤC 5

CƠ CẤU TỔ CHỨC TỪ KHU ỦY ĐẾN CƠ SỞ (Từ tháng 6/1971 - tháng 4/1975)

KHU ỦY

Đảng ủy các cơ quan giúp việc

Quân Khu ủy

Tỉnh ủy (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế)

Các Đảng ủy trực thuộc (Cục Tham mƣu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần)

Thành ủy, Thị ủy, Quận ủy, Huyện ủy và tƣơng đƣơng

Các Ban chuyên môn (Tổ chức, Tuyên huấn, Kiểm tra, Dân vận, Kinh tế, An ninh, Binh vận, Thi đua, …)

Đảng ủy xã, phƣờng, thị trấn và tƣơng đƣơng

Nguồn: Lập trên cơ sở cơ cấu tổ chức của Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1966-1975)

178

PHỤ LỤC 6

DANH SÁCH CÁC ĐỒNG CHÍ TRONG KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ (1966-1975)

STT

Họ và tên

1 Đặng Thí 2 Nguyễn Húng Chức vụ Bí thƣ Khu ủy Phó Bí thƣ Khu ủy

3 Lê Chƣởng (Lê Trung Tín) 4 Trần Văn Quang (Bảy Tiến)

5 Lê Minh (Tƣ Minh) 6 Trƣơng Chí Công 7 Đặng Kinh 8 Hồ Tú Nam (Nguyễn Thanh) 9 Nguyễn Vạn 10 Hồ Sĩ Thản (Hồ Sĩ Thành) 11 Trần Anh Liên (Trần Văn) 12 Lê Hành (Hồ Văn Hành) 13 Vũ Nam Long (Khoa) 14 Lê Tự Nhiên (Hƣng) 15 Vũ Soạn 16 Cao Văn Khánh 17 Hoàng Anh 18 Hoàng Sâm 19 Nguyễn Quyết 20 Nguyễn Thế Lâm 21 Bùi Định (Nguyễn Hữu Mô)

22 Trần Hữu Dực 23 Lê Tự Đồng

24 Vũ Thắng (Võ Phi Trắng) 25 Nguyễn Chi Phó Bí thƣ Khu ủy Bí thƣ Khu ủy Phó Bí thƣ Khu ủy Phó Bí thƣ Khu ủy Ủy viên Thƣờng vụ Ủy viên Thƣờng vụ Khu ủy viên Khu ủy viên Khu ủy viên Khu ủy viên Khu ủy viên Ủy viên Thƣờng vụ Ủy viên Thƣờng vụ Khu ủy viên Khu ủy viên Bí thƣ Khu ủy Ủy viên Thƣờng vụ Ủy viên Thƣờng vụ Khu ủy viên Ủy viên Thƣờng vụ Phó Bí thƣ Khu ủy Bí thƣ Khu ủy Phó Bí thƣ Khu ủy Bí thƣ Khu ủy Khu ủy viên dự khuyết Khu ủy viên dự khuyết Thời gian 4-6/1966 4-6/1966 1974-1975 1966-1971 1966-1968 1971-1973 1968-1971 1966-1973 1966-1969 1966-1968 1966-1975 1966-1975 1966-1975 1966-1975 1966-1975 1967-1973 1967-1970 1967-1975 1967-1974 1968-1971 8-12/1968 1968-1969 1968-1972 1970-1974 1974-1975 1973-1974 1972-1974 1974-1975 1967-1975 1967-1975

Nguồn: Lập trên cơ sở nghiên cứu các nguồn tƣ liệu về Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1966-1975)

179

PHỤ LỤC 7

NGHỊ QUYẾT

CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

Số 183-NQ/TW, ngày 16 tháng 10 năm 1968

Về việc kiện toàn tổ chức và lãnh đạo của

Khu uỷ Trị - Thiên - Huế

- Sau khi nghe báo cáo tình hình thực hiện các nghị quyết của Trung ƣơng

Đảng về các mặt quân sự, chính trị, công tác Đảng, công tác quần chúng ở Trị

- Thiên - Huế và nghe tình hình thi hành Chỉ thị tháng 9 năm 1967 của Ban Bí

thƣ Trung ƣơng Đảng về kiện toàn tổ chức của Khu uỷ Trị - Thiên - Huế;

- Để kiện toàn hơn nữa tổ chức và lãnh đạo của Khu uỷ Trị - Thiên - Huế,

đảm bảo đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ mới, sát với vị trí và đặc điểm của

chiến trƣờng;

BỘ CHÍNH TRỊ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƢƠNG ĐẢNG QUYẾT ĐỊNH:

- Theo đề nghị của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng và Quân uỷ Trung ƣơng;

1. Bổ sung vào Khu uỷ Trị - Thiên - Huế hiện nay các đồng chí:

- Hoàng Anh,

- Hoàng Sâm,

- Nguyễn Quyết.

Đồng chí Hoàng Anh sẽ làm Bí thƣ Khu uỷ (đồng chí Trần Văn Quang

hiện Bí thƣ, sẽ làm Phó Bí thƣ), hai đồng chí Hoàng Sâm và Nguyễn Quyết

làm Uỷ viên Thƣờng vụ. Các đồng chí khác hiện tham gia Khu uỷ và tham gia

Ban Thƣờng vụ Khu uỷ giữ nhƣ cũ.

2. Khu uỷ Trị - Thiên - Huế có trách nhiệm lãnh đạo và chỉ đạo toàn diện các

mặt công tác quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, công tác xây dựng Đảng và

công tác quần chúng trong khu.

180

Bộ Chính trị trực tiếp lãnh đạo Khu uỷ về các chủ trƣơng công tác lớn, chỉ

thị cho Khu uỷ về các nhiệm vụ chiến lƣợc và có tính chất toàn diện. Trong

quá trình thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị, Khu uỷ chịu sự chỉ đạo

của Quân uỷ Trung ƣơng về mặt quân sự; về các mặt công tác khác, Khu uỷ

chịu sự chỉ đạo của Ban Bí thƣ.

3. Nhƣ vậy, Khu uỷ một mặt trực tiếp chỉ đạo công tác của Đảng uỷ Bộ Tƣ

lệnh TTH, đảm bảo kết hợp toàn diện các mặt hoạt động của Đảng, hoàn

thành nhiệm vụ quân sự của chiến trƣờng. Mặt khác, Khu uỷ xây dựng và chỉ

đạo hoạt động của các Ban cán sự Đảng các địa phƣơng về các mặt quân sự,

chính trị, kinh tế, văn hoá, xây dựng Đảng và công tác quần chúng, đảm bảo

cho toàn Đảng bộ trong khu hoàn thành mọi nhiệm vụ đã đề ra.

Để cho các Ban cán sự Đảng hiện nay đủ năng lực làm tròn nhiệm vụ,

Khu uỷ sẽ nghiên cứu để kiện toàn tổ chức cho các ban cán sự đó và giao

chức trách, nhiệm vụ một cách rõ ràng chu đáo.

Về bộ máy giúp việc của Khu uỷ, Khu uỷ sẽ nghiên cứu và quyết định

việc kiện toàn theo nguyên tắc gọn, nhẹ, thiết thực, phù hợp với tình hình.

4. Về quan hệ giữa Khu uỷ Trị - Thiên - Huế với Đoàn 559, với Đảng uỷ mặt

trận B5 và với Quảng Bình, Vĩnh Linh:

- Khu uỷ và Đoàn uỷ 559 có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ, thƣờng xuyên

liên hệ với nhau, thông báo cho nhau các tình hình và tiến hành các công tác

cần thiết nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển tiếp tế cho khu và

các nhiệm vụ vận chuyển tiếp tế khác; bảo vệ các căn cứ, kho tàng và đƣờng

vận chuyển; củng cố các cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng nơi Đoàn uỷ 559

hoạt động.

- Quan hệ giữa Khu uỷ Trị - Thiên - Huế và Đảng uỷ mặt trận B5 vừa là

quan hệ phối hợp giữa hai chiến trƣờng để thực hiện nhiệm vụ tác chiến của

hai khối chủ lực theo nhƣ kế hoạch Bộ Tổng tƣ lệnh giao; lại vừa là quan hệ

181

giữa các đơn vị chủ lực của mặt trận B5 với các cấp uỷ địa phƣơng thuộc

quyền lãnh đạo của Khu uỷ Trị - Thiên - Huế, theo nhƣ Nghị quyết 123 ngày

7 tháng 7 năm 1965 của Bộ Chính trị. Hai bên phải liên hệ với nhau để quy

định những quan hệ cụ thể nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ.

- Quảng Bình, Vĩnh Linh là hậu phƣơng trực tiếp của chiến trƣờng Trị -

Thiên - Huế. Ngoài những nhiệm vụ phải làm thƣờng xuyên do Trung ƣơng

giao, nhƣ đảm bảo tiếp tế vận chuyển, công tác dân công và tiếp đón, săn sóc

thƣơng bệnh binh, v.v., khi cấp thiết Quảng Bình, Vĩnh Linh còn cần giúp

thêm những việc khác do Khu uỷ Trị - Thiên - Huế yêu cầu. Khu uỷ Trị -

Thiên - Huế đƣợc trực tiếp liên hệ với tỉnh uỷ Quảng Bình và Khu uỷ Vĩnh

Linh để bàn bạc mọi việc và đề ra các yêu cầu đột xuất khi cần thiết [117,

tr.478-481].

182

PHỤ LỤC 8

Nghị quyết về việc phân công BCH Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế,

ngày 6-3-1974 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng

Nguồn: Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng

183

PHỤ LỤC 9

Quyết định về việc chỉ định bổ sung Phó Bí thƣ Khu ủy Trị - Thiên - Huế,

ngày 18-11-1974 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng

Nguồn: Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng

184

PHỤ LỤC 10

Phân công nhiệm vụ cho các Khu ủy viên

tại Hội nghị Khu ủy Trị - Thiên - Huế lần thứ 4 (tháng 11-1967)

Nguồn: Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng

185

PHỤ LỤC 11

Trích Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của BCH Đảng bộ khu Trị - Thiên -

Huế, tháng 12-1974 (Đây là Nghị quyết Hội nghị cuối cùng của Khu ủy)

186

187

Nguồn: Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng

188

PHỤ LỤC 12

Thống kê tổ chức cơ sở Đảng

của Đảng bộ Khu ủy khu Trị - Thiên - Huế, tháng 6-1970

Nguồn: Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng

189

PHỤ LỤC 13

Thống kê số lƣợng đảng viên

của Đảng bộ Khu ủy khu Trị - Thiên - Huế, tháng 6-1970

Nguồn: Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng

190

PHỤ LỤC 14

Thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc

từ năm 1960 đến năm 1973 của quân và dân Trị - Thiên - Huế

Nguồn: Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng

191

PHỤ LỤC 15

Con dấu của Đảng bộ khu Trị - Thiên - Huế

và Đảng ủy Quân khu Trị - Thiên - Huế

Nguồn: Tài liệu lƣu trữ tại Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng

192

PHỤ LỤC 16

“HÀNG RÀO ĐIỆN TỬ MAC NA-MA-RA”

Tuyến “hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra” bắt đầu thiết lập từ những

tháng cuối năm 1966, chạy dọc theo đƣờng số 9, từ bờ biển kéo lên biên giới

Việt - Lào, qua Sê Pôn, Mƣờng Phìn, tổng chiều dài 100 ki-lô-mét, chiều rộng

30 ki-lô-mét. Đây là sáng kiến của Mac Na-ma-ra, Bộ trƣởng Quốc phòng Mỹ

và là công trình đồ sộ, thu hút nhiều tiền, vật tƣ - kỹ thuật và nhân lực của

nƣớc Mỹ.

Mac Na-ma-ra cho rằng, các chiến dịch ném bom mở rộng không có

khả năng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, cần có giải

pháp thay thế, đó là việc xây dựng một “hàng rào điện tử”, một cuộc “chiến

tranh điện tử”, một “chiến trƣờng tự động hóa” ngăn chặn triệt để nguồn tiếp

tế đối phƣơng.

Hàng rào đƣợc bố trí thành hai hệ thống chống xâm nhập: hệ thống

chống hành quân bộ và hệ thống chống hoạt động vận tải. Các nhà khoa học

Mỹ đã sáng tạo ra một hệ thống máy cảm ứng địa chấn, cảm ứng âm thanh,

đƣợc máy bay thả xuống khắp núi rừng, mệnh danh là những kẻ “gác đƣờng

tin cậy” và còn đƣợc gọi là “cây nhiệt đới” (loại thiết bị này đƣợc ngụy trang

nhƣ những mầm cây, dùng truyền bắt âm thanh và tiếng động. Có loại còn

truyền bắt cả mùi của mồ hôi ngƣời và nƣớc tiểu). Cộng vào đó là máy bay

tuần tra suốt 24 giờ trong ngày, máy bay C.130 còn thả hàng nghìn tấn hóa

chất trên các đoạn đƣờng để làm nhão đất, nhằm biến đƣờng giao thông thành

những suối bùn…

Cùng với hệ thống trinh sát, chỉ huy tối tân, là những loại vũ khí giết

ngƣời rất tinh vi.

193

- Bom WAARM là loại bom hình tròn, có rãnh. Các trái bom chứa

trong bom mẹ. Bom mẹ rơi, bom con tự quay lên cò và rải đều trên mặt đất.

Chỉ cần chạm nhẹ bom sẽ nổ và gây sát thƣơng.

- Bom MIG - bom mẹ, có 182 bom con; rơi xuống nổ ngay; có khả

năng sát thƣơng hàng trung đội.

- Bom BLU31 - đƣợc ném cắm sâu vào lòng đất, khi có tác động của xe

cơ giới, bom sẽ nổ và có sức công phá lớn.

- Bom PAVE PALIL, là loại bom có dù. Khi ném từ máy bay xuống,

bom nổ cách mặt đất sáu mét, tạo một áp suất lớn, quét sạch mọi vật dƣới mặt

đất trong diện tích 1.000 mét vuông.

- Bom răng rồng, bom túi, bom lá cây… để sát thƣơng ngƣời.

- Bom điện quang, tự quay đến mục tiêu để tăng khả năng sát thƣơng.

- Bom dẫn bằng “la-de” còn gọi là “bom khôn ngoan”…

Để xây dựng hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra, chính phủ Mỹ đã chi trên

một tỷ đô-la. Các phóng viên, báo chí Mỹ phô trƣơng đây là “Maginot

phƣơng Đông” - một chiến tuyến bất khả xâm phạm.

Thực tế lịch sử khẳng định: Không một thủ đoạn thâm độc, không một

loại binh khí kỹ thuật tối tân nào của địch có thể ngăn chặn đƣợc sức mạnh, ý

chí của con ngƣời Việt Nam quyết giành độc lập, tự do, thực hiện thống nhất

Tổ quốc. Tƣớng Mỹ, Tay-lo đã cay đắng thú nhận rằng: “Không có cách gì có

thể ngăn cản nổi sự thâm nhập ngày càng tăng của đối phƣơng”.

Hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra đã bị vô hiệu hóa bởi trí thông minh,

lòng quả cảm của những con ngƣời Việt Nam [168, tr.498-500].

194

PHỤ LỤC 17

VỀ VẤN ĐỀ “THẢM SÁT MẬU THÂN 1968” Ở HUẾ

Nói đến sự kiện Tết Mậu Thân 1968 ở Huế, Mỹ và CQVNCH luôn “khuếch đại”, “bôi đen” sự thật lịch sử về vấn đề mà chúng gọi là “thảm sát Mậu Thân” và “những hố chôn ngƣời tập thể” do chúng “phát hiện” và công kích, “kết án”, “buộc tội” cho lực lƣợng QGP. Đây là một vấn đề “nhạy cảm” trong chiến tranh. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến “hiện tƣợng” lịch sử nêu trên: Thứ nhất, bom đạn Mỹ ném ào ạt xuống thành phố trong các cuộc phản kích đã giết chết hàng nghìn dân thƣờng, QGP và kể cả các tù binh Mỹ, “bởi hễ thấy đám đông là chúng bắn không phân biệt” [202, tr.75]; thứ hai, khi QGP rút lui, địch phản kích quá mạnh, “trong số những ngƣời thuộc ngụy quân ngụy quyền bị bắt giữ, hoặc đã đƣợc phát súng khi ta vũ trang cho dân, thì chính số ngƣời đó cũng phản kích ta ngay tại chỗ” [202, tr.75], do đó “trong anh em quần chúng vũ trang của ta đã không ngăn nổi những hành động thiển cận trong tình hình đó” [202, tr.76], “không một chính phủ nào có thể kiểm soát nổi những hành động bộc phát do lòng căm thù của quần chúng từ lâu bị bức xúc, hoặc do một thứ ý thức dân tộc có tính chất tự phát ở nơi mỗi ngƣời” [202, tr.75]; thứ ba, quần chúng nhân dân trừng trị những ngƣời có tội ác, có “nợ máu” với nhân dân, đây là điều khó tránh khỏi trong một cuộc đấu tranh do quần chúng nổi dậy. Trong đó, những ngƣời chết do trúng bom đạn và sự tàn sát của quân Mỹ và tay sai là chủ yếu, những ngƣời có “nợ máu” bị quần chúng và lực lƣợng vũ trang tự phát tiêu diệt chiếm số ít. Tuy nhiên, với tinh thần phê bình và tự phê bình thẳng thắn, tính nhân văn cao cả của ngƣời cách mạng, trong bài viết “Huế - Xuân 1968” (9-1987), đồng chí Lê Minh, Phó Bí thƣ Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1966-1975), kiêm Bí thƣ Thành ủy Huế, kiêm Chỉ huy trƣởng chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 tại Huế, nghiêm túc đánh giá: “Rốt cuộc là đã có ngƣời bị xử oan trong chiến tranh” [202, tr.76] vì “trong khi luật pháp cách mạng chƣa hề có ý định xử họ vào tội chết” [202, tr.76]; đồng thời, đồng chí cho rằng: “Dù lý do thế nào thì trách nhiệm vẫn thuộc về lãnh đạo, trong đó có trách nhiệm của tôi” [202, tr.76] và “nhiệm vụ bây giờ của cách mạng là phải minh oan cho gia đình, con cái của những ngƣời đã chết” [202, tr.76].

195

PHỤ LỤC 18

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

ế u H

- n ê i h T

) 6 6 9 1 / 4

g n á h t (

- ị r T y ủ u h K a ủ c

y ủ u h K p ậ l

ộ b n á c

h n à h t ị

à v n ê i v

h g n

y ủ u h K

í

h c

i ộ H g n o r t

g n ồ đ c á C

196

PHỤ LỤC 19 VÀ 20

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

Thƣờng vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên và Thành ủy Huế (Năm 1966)

Thƣờng vụ Khu ủy Trị - Thiên - Huế (Năm 1968)

197

PHỤ LỤC 21

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

9 6 9 1 m ă n n ế đ 7 6 9 1 m ă n ừ t ế u H

- n ê i h T

- ị r T u h K n â u Q h n ệ l

ƣ T ộ B

198

PHỤ LỤC 22 VÀ 23

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

Bộ Chỉ huy Chiến dịch Huế Xuân 1968 (Từ trái sang phải: Đ/c Nam Long, Phó Tư lệnh; Đ/c Lê Minh, Tư lệnh; Đ/c Lê Chưởng, Chính ủy, Đ/c Đặng Kinh, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng)

Đồng chí Lê Chƣởng và các vị trong Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Thành phố Huế (Từ trái sang phải: Bà Nguyễn Đình Chi, giáo sư Lê Văn Hảo, Hòa thượng Thích Đôn Hậu, cụ Nguyễn Đóa)

199

PHỤ LỤC 24

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

Thƣ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

gửi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ Thừa Thiên (Năm 1968)

200

PHỤ LỤC 25

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

) 1 7 9 1 (

h c ạ o h ế k n à b p ọ h ế u H

o à L m a N

-

9

- n ê i h T

g n ờ ƣ Đ h c ị d n ế i h C o h c

- ị r T y ủ u h K n â u Q y u h

h C ộ B

201

PHỤ LỤC 26

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

) 5 7 9 1 ( ế u H

- n ê i h T

- ị r T g n ó h p

i ả i g h c ạ o h ế k n à b p ọ h ế u H

- n ê i h T

- ị r T h c ị d n ế i h C y u h

h C ộ B

202

PHỤ LỤC 27 VÀ 28

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

Quân Giải phóng tiến vào Ngọ Môn - Huế 1975

Quân Giải phóng tiếp quản Thành Phố Huế (1975)

203

PHỤ LỤC 29

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

Thƣợng tƣớng Trần Văn Quang (1917-2013) - Ủy viên dự khuyết

BCH Trung ƣơng Đảng khóa III, Thứ trƣởng Bộ Quốc phòng (1977-1978),

Bí thƣ Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1966-1968 và 1971-1973),

Phó Bí thƣ Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1968-1971)

204

PHỤ LỤC 30

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

Đồng chí Hoàng Anh (1912-2016), Ủy viên BCH Trung ƣơng Đảng

khóa II, III, IV, Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (1958-1976), Phó Thủ tƣớng

Chính phủ (1971-1976), Bí thƣ Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1968-1971)

205

PHỤ LỤC 31

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

Đồng chí Trần Hữu Dực (1910-1993) - Ủy viên BCH Trung ƣơng Đảng

khóa I, II, III, IV, Phó Thủ tƣớng Chính phủ (1974-1976),

Bí thƣ Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1973-1974)

206

PHỤ LỤC 32

Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tỉnh Thừa Thiên Huế

Trung tƣớng Lê Tự Đồng (1920-2011), Phó Bí thƣ Khu ủy, kiêm

Chính ủy, kiêm Bí thƣ Quân Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1972-1974),

Bí thƣ Khu ủy Trị - Thiên - Huế (1974-1975)