häc viÖn chÝnh trÞ quèc gia hå chÝ minh vâ m¹nh s¬n PH¦¥NG THøC L·NH §¹O C¤NG T¸C C¸N Bé
CñA C¸C TØNH ñY ë B¾C TRUNG Bé
GIAI §O¹N HIÖN NAY
luËn ¸n tiÕn sÜ khoa häc chÝnh trÞ
Hµ néi - 2015
häc viÖn chÝnh trÞ quèc gia hå chÝ minh
vâ m¹nh s¬n
PH¦¥NG THøC L·NH §¹O C¤NG T¸C C¸N Bé
CñA C¸C TØNH ñY ë B¾C TRUNG Bé
GIAI §O¹N HIÖN NAY
Chuyên ngành : Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước
: 62 31 02 03 Mã số
luËn ¸n tiÕn sÜ khoa häc chÝnh trÞ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Thị Thông
PGS.TS Nguyễn Văn Giang
Hµ néi - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án
là trung thực. Những kết luận khoa học của luận
án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Võ Mạnh Sơn
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
6
Chương 1: PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA CÁC
TỈNH UỶ Ở BẮC TRUNG BỘ HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN
30
1.1. Các tỉnh, tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ 30
1.2. Công tác cán bộ và phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của
các tỉnh ủy vùng Bắc Trung Bộ - khái niệm, nội dung 47
Chương 2: ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
CÁN BỘ CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở BẮC TRUNG BỘ - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, VẤN ĐỀ ĐẶT RA
68
2.1. Thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở
Bắc Trung Bộ 68
2.2. Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ - thực trạng, nguyên nhân, vấn đề đặt ra 89
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG
THỨC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở
BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2030
115
3.1. Dự báo những nhân tố tác động và phương hướng đổi mới phương
thức lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ở Bắc Trung Bộ 115
3.2. Giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của
các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ 120
KẾT LUẬN
154
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
156
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
157
PHỤ LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
HĐND : Hội đồng nhân dân
HTCT : Hệ thống chính trị
PTLĐ : Phương thức lãnh đạo
MTTQ : Mặt trận Tổ quốc
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
V.I. Lênin, người thầy vĩ đại của phong trào cách mạng vô sản thế giới
đã khẳng định: "Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền
thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh
tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo
phong trào…" [55, tr. 473]. Đối với cách mạng vô sản, một cuộc cách mạng
khó khăn, gian khổ và triệt để nhất trong lịch sử phát triển nhân loại dưới sự
lãnh đạo của đảng cộng sản, nhằm lật đổ chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng chủ
nghĩa xã hội (CNXH) và từng bước tiến đến chủ nghĩa cộng sản, việc tạo ra
đội ngũ cán bộ có chất lượng, bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách
mạng là vấn đề đặc biệt quan trọng luôn được các đảng cộng sản quan tâm.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, giáo dục và rèn luyện Đảng
ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc vai trò đặc biệt quan trọng của
cán bộ đối với thắng lợi của cách mạng nước ta và luôn giành trí tuệ, sức lực
tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về cán bộ và công tác cán bộ, đạt được kết
quả to lớn. Người khẳng định: "Cán bộ là gốc của mọi công việc" [76, tr. 269];
"Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [76, tr. 273].
Điều này, chủ yếu do và được quyết định bởi công tác cán bộ của Đảng.
Trong công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tìm và chỉ ra cho
Đảng cách thức, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành công tác cán bộ.
Nhờ đó, công tác cán bộ của Đảng đạt kết quả to lớn. Đội ngũ cán bộ của
Đảng ngày càng trưởng thành, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác. Cách thức, phương pháp lãnh đạo công tác cán bộ hay phương
thức lãnh đạo (PTLĐ) công tác cán bộ là một nội dung rất quan trọng trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ. Phương thức ấy, phải luôn
được đổi mới phù hợp với điều kiện hoạt động của Đảng và yêu cầu của
nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ.
Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH) đất nước, hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng ta khẳng định: "Cán
2
bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh
của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây
dựng Đảng" [21, tr. 66]. Thành tựu đổi mới to lớn và có ý nghĩa lịch sử đã
minh chứng điều đó. Công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
cũng đặt ra vấn đề to lớn, cấp bách phải giải quyết là phải có đội ngũ cán bộ
nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương
nói riêng ngang tầm và đáp ứng tốt yêu cầu công cuộc đổi. Đây là một trong
ba vấn đề cấp bách được Nghị quyết Trung ương 4, Khóa XI "Một số vấn đề
cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay" chỉ ra. Không giải quyết tốt
vấn đề này, thì việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của các
ngành, địa phương và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đạt kết quả thấp và
mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
vào năm 2020 khó thành hiện thực. Để có đội ngũ cán bộ ngang tầm và đáp
ứng tốt yêu cầu công cuộc đổi, phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán
bộ, trong đó đổi mới PTLĐ của Đảng nói chung và của các cấp ủy đảng nói
riêng đối với công tác cán bộ là một bộ phận đặc biệt quan trọng: "Đổi mới
mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ" [35, tr. 273].
Việc đổi mới PTLĐ của Đảng đối với công tác cán bộ được diễn ra ở
các ngành, các cấp, trong đó, cấp tỉnh là cấp có vị trí và vai trò đặc biệt quan
trọng. Đó là cấp dưới trực tiếp của Trung ương, trực tiếp triển khai thực hiện
các chủ trương và quyết định của Đảng về công tác cán bộ và đổi mới PTLĐ
của Đảng đối với công tác cán bộ, với nhiệm vụ trọng tâm là đổi mới PTLĐ
của cấp ủy cấp tỉnh đối với công tác cán bộ và trực tiếp chỉ đạo thực hiện đổi
mới PTLĐ đối với công tác cán bộ của số lượng lớn cấp ủy trực thuộc và cấp
ủy cơ sở. Việc đổi mới PTLĐ của các cấp ủy trực thuộc và cấp ủy cơ sở đối
với công tác cán bộ phụ thuộc rất lớn vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cấp
tỉnh, đặc biệt là việc đổi mới PTLĐ của cấp ủy cấp tỉnh đối với công tác cán
bộ. Nghiên cứu, tìm giải pháp đổi mới có kết quả PTLĐ của cấp ủy cấp tỉnh
đối với công tác cán bộ thực sự là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Khu vực Bắc Trung Bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế là khu vực chiến lược, có vị trí, vai
3
trò rất quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh. Trong những
năm qua, các tỉnh ủy đã quan tâm tìm các giải pháp đổi mới công tác cán bộ,
trong đó có đổi mới PTLĐ đối với công tác cán bộ, đạt kết quả quan trọng.
Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH, hội nhập quốc tế hiện nay, đội ngũ cán bộ trong khu vực chưa
thực sự đáp ứng tốt yêu cầu. Hạn chế cơ bản của đội ngũ này biểu hiện trên
các mặt: Trình độ nhận thức chính trị, năng lực tổ chức quản lý, năng lực chỉ
đạo hoạt động thực tiễn còn hạn chế; nhiều cán bộ được đề bạt, bổ sung vào
những cương vị chủ chốt, nhưng chưa qua bồi dưỡng, đào tạo cơ bản về
chuyên môn và lý luận chính trị... Vì vậy, khi xử lý công việc còn biểu hiện
tùy tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa, không đúng với đường lối, lập trường quan
điểm giai cấp của Đảng.
Phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với công tác cán bộ vẫn còn
nhiều hạn chế, yếu kém, còn chậm trễ và lúng túng. Việc xây dựng các quy định,
quy chế để cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ; Đảng thống nhất lãnh đạo
công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ còn chưa được quan tâm; vai trò
người đứng đầu trong công tác cán bộ còn chưa thể hiện rõ. Việc giám sát trong
công tác cán bộ còn nhiều lúng túng, vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ)
trong công việc này ở nhiều nơi còn chưa rõ và chưa được phát huy mạnh mẽ;
việc phát hiện người có đức, có tài, người ngoài Đảng để quy hoạch, đào tạo,
bố trí, sử dụng còn chưa có quy định cụ thể và kết quả thấp; còn lẫn lộn về
trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân trong công tác cán bộ...
Nghiên cứu tìm các giải pháp khả thi, phát huy những ưu điểm, khắc
phục khuyết điểm nêu trên, đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở
Bắc Trung Bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vùng này đáp ứng yêu cầu
công cuộc đổi mới ở các tỉnh là vấn đề cấp thiết.
Để góp phần giải quyết vấn đề cấp thiết nêu trên, nghiên cứu sinh
chọn vấn đề: "Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ giai đoạn hiện nay" để thực hiện đề tài luận án tiến sĩ khoa học
chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước.
4
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về PTLĐ công tác
cán bộ của tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ, luận án đề xuất những giải pháp
chủ yếu đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đến
năm 2030.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài
luận án.
- Làm rõ những vấn đề lý luận về PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh
ủy ở Bắc Trung Bộ.
- Đánh giá đúng thực trạng PTLĐ công tác cán bộ các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ từ năm 2005 đến nay, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân, vấn đề
đặt ra.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp khả thi nhằm đổi mới PTLĐ công
tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ giai đoạn hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy khu vực
Bắc Trung Bộ trong giai đoạn từ 2005 đến nay, phương hướng đổi mới PTLĐ
công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đến năm 2030.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn
- Cơ sở lý luận: Luận án được xây dựng dựa trên những quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về Đảng và xây dựng Đảng, về công tác cán bộ và PTLĐ
của Đảng.
5
- Cơ sở thực tiễn: Luận án được nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn PTLĐ
công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ; các báo cáo sơ kết, tổng kết công
tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ, những số liệu điều tra, khảo sát thực tế.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu bằng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin và các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, liên ngành, như: tổng kết
thực tiễn; lịch sử - lôgíc; phân tích - tổng hợp, thống kê, so sánh; chuyên gia.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Khái niệm, nội dung PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ.
- Đề xuất các giải pháp có tính đột phá để đổi mới PTLĐ công tác cán bộ
của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ trong những năm tới là: tăng cường phân công,
phân cấp trong quản lý và sử dụng cán bộ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của
các tổ chức, người đứng đầu các tổ chức của hệ thống chính trị (HTCT) trong
công tác cán bộ; hoàn thiện các quy chế công tác cán bộ và thực hiện tốt chủ
trương lấy phiếu tín nhiệm cán bộ; bầu cử có số dư; mở rộng thi tuyển cán bộ
lãnh đạo, quản lý trong tỉnh.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo
cho lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ.
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài cũng có thể dùng làm tài liệu tham
khảo phục vụ học tập, nghiên cứu về môn Xây dựng Đảng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài,
kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương, 6 tiết.
6
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về công tác cán bộ và đổi
mới công tác cán bộ. Trong những công trình đó, một số công trình đã đề cập
đến những nội dung của PTLĐ của các cấp ủy đảng đối với công tác cán bộ.
Sau đây là những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án:
1. Các công trình khoa học trong nước
1.1. Sách
* PGS, TS Nguyễn Phú Trọng - PGS, TS Trần Xuân Sầm (Chủ biên),
(2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
Cuốn sách đã đề cập đến cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chuẩn
cán bộ; những kinh nghiệm xây dựng tiêu chuẩn cán bộ của Đảng phù hợp với
từng giai đoạn cách mạng; đánh giá cán bộ các cấp và những quan điểm,
phương hướng chung trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó có
nội dung liên quan đến PTLĐ công tác cán bộ của Đảng là: Tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện các quy chế, quy trình công tác cán bộ, thực hiện tiêu chuẩn hóa
cán bộ; nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, quản lý cán bộ.
Cuốn sách chủ yếu luận bàn và kiến nghị xây dựng tiêu chuẩn cho cán
bộ đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang, trong đó những nội dung nêu trên
mới được đề cập ở những điểm chung. Tuy nhiên, cuốn sách có giá trị tham
khảo tốt cho luận án.
* Thang Văn Phúc - Nguyễn Minh Phương (2005), Cơ sở lý luận và thực
tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Các tác giả nghiên cứu, đánh giá về thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức
và thể chế quản lý cán bộ, công chức hiện nay, kinh nghiệm xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức của một số nước trên thế giới. Một nội dung quan trọng được
trình bày là tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, trong đó có phân tích quan
điểm của Người về vai trò, phương pháp đánh giá cán bộ; phân tích nội dung,
7
các quan điểm và nguyên tắc đổi mới cán bộ và công tác cán bộ của Đảng ta.
Đây là những nội dung liên quan đến PTLĐ của Đảng đối với công tác cán bộ.
* PGS, TS Bùi Đình Phong (2006), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
và công tác cán bộ, Nxb Lao động, Hà Nội.
Cuốn sách đi sâu phân tích qua trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về cán bộ và công tác cán bộ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, tác giả nhấn
mạnh vai trò, vị trí cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, yêu cầu của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đối với cán bộ cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác
cán bộ của Đảng, tác giả nhấn mạnh các nội dung về hiểu biết cán bộ, cách
dùng, cách đối xử với cán bộ, huấn luyện cán bộ.
Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác cán bộ trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Cuốn sách đề cập yêu cầu đặt ra đối
với công tác cán bộ trong thời kỳ CNH, HĐH; đổi mới quan niệm về hệ quy
chiếu tiêu chuẩn cán bộ trong tình hình mới; nâng cao hiệu quả chính sách cán
bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Những nội dung trong cuốn
sách có giá trị tham khảo quan trọng đối với luận án.
* PGS, TS Trương Thị Thông, TS Lê Kim Việt (Đồng chủ biên) (2008),
Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
Cuốn sách đã chỉ rõ nguồn gốc hình thành bệnh quan liêu trong công
tác cán bộ, ảnh hưởng, tác hại của bệnh quan liêu tới công tác cán bộ trong
điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Cuốn sách đi sâu nghiên cứu,
phân tích thực trạng bệnh quan liêu trong công tác cán bộ biểu hiện trong
tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trong kiểm tra, đánh giá, bố trí, sắp
xếp, quản lý; thực hiện chính sách đối với công tác cán bộ.
Từ sự phân tích nêu trên, cuốn sách nêu một số biện pháp và kiến nghị
chủ yếu để phòng chống bệnh quan liêu trong công tác cán bộ: Xây dựng và
hoàn chỉnh đồng bộ hệ thống cơ chế, quy chế, quy định về công tác cán bộ, thực
hiện dân chủ hóa, công khai hóa trong công tác cán bộ; tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát nhằm phòng ngừa bệnh quan liêu, kiên quyết đấu tranh loại
trừ những hiện tượng quan liêu, tiêu cực trong công tác cán bộ; đổi mới PTLĐ
8
của Đảng, xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn các chủ thể trong công tác cán bộ;
đẩy mạnh cải cách hành chính, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao
chất lượng, hiệu quả của các cơ quan tham mưu về công tác cán bộ; phát huy
vai trò của các đoàn thể nhân dân, dựa vào dân để quản lý, kiểm tra, giám sát
cán bộ và công tác cán bộ nhằm phòng ngừa, khắc phục bệnh quan liêu trong
công tác cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ
sở Đảng, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, giáo dục quan điểm quần chúng,
xây dựng tác phong làm việc khoa học, sâu sát thực tế cho cán bộ, đảng viên.
Nội dung của cuốn sách có giá trị tham khảo tốt trong việc nghiên cứu
phương pháp thực hiện sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ.
* Trịnh Cư - TS Nguyễn Duy Hùng - PGS, TS Lê Văn Yên (2009), Kinh
nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nội dung cuốn sách "Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung
Quốc" được biên soạn chủ yếu dựa vào sách, báo và tạp chí của Trung Quốc,
bố cục theo từng vấn đề mang tính tổng quát giúp bạn đọc có tài liệu nghiên
cứu, tham khảo kinh nghiệm về công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ
của Trung Quốc trong thời gian gần đây.
Tập thể tác giả của cuốn sách đã chỉ ra, cán bộ lãnh đạo phải hội tụ 12 yếu
tố cơ bản. Trung Quốc đã tiến hành cải cách công tác cán bộ đảng, chính
quyền ở các nội dung: Cải cách công tác tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, hoàn
thiện chế độ sát hạch cán bộ; thúc đẩy việc luân chuyển cán bộ; tăng cường
giám sát cán bộ lãnh đạo và giám sát công tác tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ;
hoàn thiện một bước chế độ nhân viên công vụ nhà nước và chế độ thẩm
phán, kiểm sát viên; hoàn thiện chế độ bồi dưỡng, đào tạo cán bộ; cải cách
chế độ tiền lương và phúc lợi xã hội.
Những nội dung nêu trên đều liên quan đến PTLĐ của đảng đối với
công tác cán bộ. Tuy nhiên, những điểm đó còn dừng lại ở những điểm chung,
chưa chỉ ra cụ thể đối với cấp ủy cấp tỉnh.
* PGS, TS Trần Đình Hoan (chủ biên) (2008), Đánh giá, quy hoạch,
luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9
Các tác giả đã phân tích cơ sở phương pháp luận và những yêu cầu
của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đối với công tác đánh giá, quy hoạch,
luân chuyển cán bộ ở nước ta. Đồng thời, làm sáng tỏ cơ sở khoa học của
công tác đánh giá cán bộ; quy hoạch cán bộ; luân chuyển cán bộ lãnh đạo,
quản lý. Trong đó, nêu lên quan niệm, yêu cầu, nguyên tắc, quy trình đánh giá
cán bộ lãnh đạo, quản lý; đưa ra được một số bài học kinh nghiệm về công tác
cán bộ của Đảng ta nói chung và đánh giá cán bộ nói riêng; phân tích thực
trạng công tác đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý qua hai thời kỳ: thời kỳ
1945-1985 và từ 1986 đến nay. Đồng thời, tập thể tác giả của cuốn sách đã
đưa ra 6 quan điểm và 7 giải pháp chung nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả
công tác đánh giá, quy hoạch và luân chuyển cán bộ. Trong những giải pháp
nêu trên, đáng quan tâm là quy trình đánh giá, quy hoạch và luân chuyển cán
bộ lãnh đạo, quản lý. Những điểm này còn dừng lại ở tầm vĩ mô, chưa cụ thể
đối với cấp ủy cấp tỉnh, song là tài liệu có giá trị tốt cho luận án.
* TS Ngô Huy Tiếp (Chủ biên) (2008), Đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với trí thức nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Điểm quan trọng của nội dung cuốn sách là nêu ra được quan niệm PTLĐ
của Đảng đối với đội ngũ trí thức, đổi mới PTLĐ của Đảng đối với đội ngũ trí
thức nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Từ thực tiễn phân tích thực
trạng đội ngũ trí thức nước ta hiện nay, cuốn sách đã nêu lên phương hướng,
mục tiêu, những giải pháp cơ bản đổi mới PTLĐ của Đảng đối với đội ngũ trí
thức. Trong đó, nhấn mạnh việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong các
tập thể trí thức; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong lĩnh lực khoa
học có tâm, có tầm; đổi mới chính sách giáo dục, đào tạo trí thức; xây dựng
chính sách đãi ngộ và tôn vinh những trí thức có đóng góp tích cực cho công
cuộc xây dựng đất nước. Nội dung của cuốn sách có giá trị tham khảo tốt cho
luận án, nhất là hướng tiếp cận xây dựng quan niệm và các giải pháp thực hiện.
* PGS, TS Nguyễn Thế Thắng (Chủ biên) (2011), Vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh vào xây dựng phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý
ở nước ta hiện nay, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
10
Cuốn sách nêu khái niệm về phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo
quản lý, tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo
quản lý. Từ việc phân tích thực trạng, cuốn sách nêu quan điểm của Đảng ta trong
việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc của cán bộ lãnh
đạo quản lý và việc vận dụng tư tưởng của Người trong xây dựng phong cách
cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta hiện nay, tập trung là, xây dựng mục tiêu,
phương hướng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc vào xây
dựng phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta hiện
nay; nội dung phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo quản lý theo tư tưởng
Hồ Chí Minh cần xây dựng ở nước ta hiện nay; một số khuyến nghị về giải pháp
xây dựng phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta.
Nội dung của cuốn sách có giá trị tham khảo tốt, nhất là trong việc xây
dựng các giải pháp thực hiện gắn với nội dung luận án nghiên cứu.
* TS Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác
cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
Cuốn sách gồm 03 chương, đi sâu phân tích tầm quan trọng của việc xây
dựng đội ngũ cán bộ; quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; đổi mới mạnh mẽ PTLĐ của Đảng đối với công
tác cán bộ.Trên cơ sở phân tích các nội dung này, cuốn sách đề cập việc tiếp tục
đổi mới đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ, nhấn mạnh việc tập trung thực
hiện có chất lượng, hiệu quả từng khâu, sự đổi mới mang tính đột phá, tạo bước
chuyển căn bản về công tác cán bộ trong giai đoạn hiện nay: Xây dựng tiêu chuẩn
cán bộ; đánh giá cán bộ; quy hoạch cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng; luân chuyển; lựa
chọn, bổ nhiệm; giáo dục, quản lý; chính sách đãi ngộ cán bộ. Đồng thời, cuốn
sách đề cập việc nghiên cứu khoa học, xây dựng tổ chức và con người làm công
tác tổ chức cán bộ với việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học tổ chức, công tác tổ
chức và con người làm công tác tổ chức, cán bộ của Đảng giai đoạn hiện nay.
Cuốn sách không đề cập sâu đến phương pháp, cách thức tiến hành
các khâu công tác cán bộ, song là tài liệu tham khảo tốt để tiếp tục nghiên cứu
đề tài mà luận án thực hiện.
11
1.2. Đề tài khoa học
* PGS, TS Trần Văn Phòng (Chủ nhiệm) (2007), Nâng cao năng lực tổng
kết thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng
sông Hồng, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Đề tài làm rõ năng lực tổng kết thực tiễn và vai trò của nó đối với hoạt
động của lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, khẳng định năng lực tổng kết thực tiễn có
vai trò to lớn đối với hoạt động của lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, giúp đội ngũ này
tổng kết thực tiễn một cách đúng đắn, có hiệu quả, góp phần làm cho hoạt động
lãnh đạo có hiệu quả cao. Đề tài phân tích làm rõ thực trạng năng lực tổng kết
thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng và
những vấn đề đặt ra từ thực trạng này. Đề tài đã làm rõ được những mặt mạnh
trong năng lực tổng kết thực tiễn của đội ngũ này: Nhận thức ngày càng sâu sắc
về vai trò của tổng kết thực tiễn đối với hiệu quả của lãnh đạo, quản lý; có ý thức
trong nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo
đức cách mạng, rèn luyện bản thân, lăn lộn với cuộc sống; ý thức được sự cần
thiết của tổng kết thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý... Tuy nhiên, về năng
lực tổng kết thực tiễn mới chỉ dừng lại ở nhận thức, kết quả thu được còn nhiều
hạn chế: Một số cán bộ chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về tổng kết thực tiễn,
còn biểu hiện xa cơ sở, xa thực tế, tổng kết thực tiễn còn chậm so với yêu cầu...
Từ thực trạng về tổng kết thực tiễn của đội ngũ này, những vấn đề đặt
ra là: Thứ nhất, nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn cho lãnh đạo chủ chốt
cấp tỉnh gắn với rèn luyện đạo đức cách mạng cho họ. Thứ hai, phải gắn liền
với dân chủ hóa đời sống xã hội trong vùng. Thứ ba, gắn với phát triển kinh tế
xã hội, nâng cao dân trí cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Những gợi ý từ đề
tài có giá trị tham khảo tốt cho luận án.
* TS Nguyễn Văn Lý (Chủ nhiệm) (2010), Nâng cao năng lực tư duy
lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số
Tây Nguyên (Qua khảo sát Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk), Đề tài khoa học cấp
bộ, Học viện Chính trị - hành chính khu vực III
Các tác giả nêu khái niệm về vai trò năng lực tư duy lý luận và vai trò
của nó trong hoạt động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người
12
dân tộc thiểu số. Từ đó đánh giá thực trạng và yêu cầu nâng cao năng lực tư duy
lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số
ở Tây Nguyên hiện nay. Bên cạnh mặt mạnh (sự nhạy cảm chính trị, bản lĩnh
chính trị vững vàng, có kinh nghiệm...), đội ngũ này còn nhiều hạn chế, bất
cập: Tư duy còn kinh nghiệm, cảm tính, còn biểu hiện giáo điều, máy móc, giản
đơn; tư duy logic còn yếu, trình độ khái quát, trừu tượng hóa không cao; năng
lực tổ chức thực tiễn, khả năng áp dụng lý luận vào thực tiễn còn hạn chế.
Đề tài đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội
ngũ cán bộ này: Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội; bồi dưỡng,nâng cao
trình độ cho đội ngũ cán bộ; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển năng lực
tư duy lý luận; tăng cường rèn luyện đạo đức cách mạng; thực hiện tốt nguyên
tắc tập trung dân chủ; chú trọng công tác cán bộ, nhất là hoàn thiện chính sách
đối với cán bộ dân tộc thiểu số.
Nội dung đề tài đề cập có giá trị tham khảo tốt cho đề tài luận án thực
hiện trong việc định ra PTLĐ công tác cán bộ đặc thù: Cán bộ dân tộc thiểu số.
* TS Ngô Mạnh Hà (Chủ nhiệm) (2004), Đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với các cơ quan báo chí ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa
học cấp bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Từ việc đánh giá thực trạng báo chí và PTLĐ của Đảng đối với các cơ
quan báo chí nước ta trong thời gian qua, các tác giả đề xuất phương hướng,
giải pháp chủ yếu đổi mới PTLĐ của Đảng đối với các cơ quan báo chí nhằm
thúc đẩy báo chí tiếp tục phát triển, thực sự xứng đáng là cơ quan thông tin,
tuyên truyền của Đảng và nhà nước, đóng góp có hiệu quả hơn cho xã hội.
Những giải pháp đổi mới PTLĐ của Đảng đối với báo chí được đề cập
sâu cần được tập trung thực hiện có hiệu quả là tiếp tục đổi mới việc ra nghị
quyết lãnh đạo của Đảng về hoạt động của các cơ quan báo chí; tăng cường,
nâng cao chất lượng, hiệu quả đội ngũ cán bộ làm công tác báo chí; nâng cao
chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với hoạt động của các cơ
quan báo chí.
Nội dung đề cập trong đề tài này là gợi ý tốt trong việc xây dựng khái
niệm, nội dung PTLĐ của Đảng đối với công tác cán bộ mà luận án thực hiện.
13
* TS Lương Khắc Hiếu (Chủ nhiệm) (2004), Những giải pháp hữu
hiệu ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán
bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện báo chí và
tuyên truyền.
Dựa trên đánh giá tình hình suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ
cán bộ, đảng viên nước ta, đề tài đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm
ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái đó. Những giải pháp được các tác giả đề cập
sâu là: Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục của Đảng đối với cán
bộ, đảng viên, nhấn mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh; nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, tổ chức Đảng
trong giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên, trách nhiệm của các tổ chức trong
HTCT trong giáo dục cán bộ, đảng viên. Những nội dung đưa ra trong đề tài
có giá trị tham khảo tốt cho luận án.
* PGS, TS Nguyễn Văn Biều (Chủ nhiệm) (2005), Chất lượng tự phê
bình và phê bình của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp quận thành phố Hà Nội giai
đoạn hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Đề tài đã tập trung đánh giá, phân tích thực trạng chất lượng tự phê
bình và phê bình của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp quận trên địa bàn thành phố
Hà Nội trong thời gian từ 1990 đến 2005. Bên cạnh những mặt mạnh, các tác
giả đi sâu phân tích những hạn chế cần tập trung khắc phục: Trong điều kiện
kinh tế thị trường, những mặt trái của nó tác động mạnh đến đội ngũ cán bộ,
nhất là tại các thành phố lớn, khu đô thị tập trung; khi bài toán về lợi ích giữa
tập thể và cá nhân chưa được giải quyết thỏa đáng..., công tác tự phê bình và
phê bình đặt ra nhiều vấn đề cần được nhìn nhận khách quan, có hướng giải
quyết. Những hạn chế nổi lên là trong sinh hoạt có một bộ phận ngại va chạm,
né tránh, không dám phê bình, không thẳng thắn tự phê bình vì sợ ảnh hưởng
đến lợi ích của mình. Các tác giả đề cập một số giải pháp khắc phục yếu kém,
nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp
quận, tập trung là: Nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng,
tinh thần tiền phong gương mẫu, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh rong
phê bình và tự phê bình; đổi mới, nâng cao chất lượng đánh giá tổ chức, cán
14
bộ lãnh đạo, quản lý; siết chặt kỷ cương, tăng cường trách nhiệm trong đấu
tranh tự phê bình và phê bình. Nội dung mà đề tài nêu ra là nguồn tư liệu tốt
để luận án kế thừa.
1.3. Luận án, luận văn
* Nguyễn Thái Sơn (2002), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận án tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành
xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Luận án nghiên cứu và đưa ra khái niệm cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và xác
định rõ vị trí, vai trò, chức năng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh;
đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và công tác xây dựng
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng. Từ đó, chỉ ra
những nguyên nhân của những ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế và rút ra 5 kinh
nghiệm về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở đồng bằng sông Hồng.
Luận án phân tích đặc điểm, vai trò, vị trí, yêu cầu CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và những vấn đề đặt ra
cần giải quyết; xác định tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh nói
chung và tiêu chuẩn từng chức danh cán bộ. Đồng thời, đề xuất 6 giải pháp có
giá trị về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh ở đồng bằng
sông Hồng đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước. Trong đó, có các nội dung
về nguyên tắc, quy trình xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh
vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Đây là công trình khoa học góp phần vào thực hiện mục tiêu, nhiệm
vụ của luận án. Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vào luận bàn về nguyên tắc,
quy trình xây dựng đội ngũ cán bộ này, song là tài liệu tham khảo có giá trị
trong thực hiện luận án.
* Huỳnh Văn Long (2003), Xây dựng đội ngũ bí thư huyện ủy, chủ
tịch ủy ban nhân dân huyện ở đồng bằng sông Cửu Long ngang tầm đòi hỏi
của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận án tiến sĩ khoa học
chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh.
15
Luận án phân tích thực trạng đánh giá đội ngũ bí thư huyện ủy, chủ
tịch Ủy ban nhân dân (UBND) huyện vùng đồng bằng sông Cửu Long từ
1996 đến 2003. Trong đó, tác giả khẳng định: Trên cơ sở đổi mới quan điểm
đánh giá đội ngũ bí thư huyện ủy, chủ tịch UBND huyện, tỉnh ủy các tỉnh
vùng đồng bằng sông Cửu Long đã đánh giá đội ngũ này không đơn thuần căn
cứ vào quá trình công tác, học vị, lý lịch, thành phần xuất thân, vị thế xã hội,
mà chủ yếu căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ; vào hiệu quả thực hiện nhiệm vụ
được giao; đồng thời còn căn cứ vào mức độ tín nhiệm của nhân dân. Ban tổ
chức tỉnh ủy các tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy ở cơ sở nơi cán bộ
sinh hoạt và bản thân từng đồng chí tự đánh giá; lãnh đạo chặt chẽ, nghiêm
túc quy chế đánh giá, bảo đảm chế độ tự phê bình và phê bình, nguyên tắc tập
trung dân chủ, công khai, kết luận rõ ràng theo đa số.
Luận án đã trình bày tiêu chuẩn chức danh bí thư huyện ủy, chủ tịch
UBND huyện trong thời kỳ mới. Luận án nhấn mạnh một số tiêu chuẩn về
bản lĩnh chính trị, qua lời nói và việc làm cụ thể trên cương vị đứng đầu
huyện ủy và UBND huyện; kiên định đường lối đổi mới theo đúng mục tiêu
đã định và thể hiện gương mẫu bằng hành động cụ thể của bản thân, gia đình,
thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Trung ương và của
tỉnh trên địa bàn huyện. Có ý chí, quyết tâm và năng lực làm giàu cho huyện,
biến ý chí đó thành ý chí của đảng bộ và nhân dân huyện. Có tầm nhận thức
sâu sắc đối với những diễn biến chính trị, có tinh thần cảnh giác cao, nhanh
nhạy giải quyết mọi tình huống chính trị…
Luận án khẳng định và đề xuất những vấn đề có tính nguyên tắc và
quy trình xây dựng đội ngũ bí thư huyện ủy, chủ tịch UBND huyện ở đồng
bằng sông Cửu Long.
Những nội dung nêu trên còn chưa được làm sâu sắc và cụ thể, vẫn
còn dừng lại ở những điểm chung, song là tài liệu có giá trị tham khảo tốt.
* Cao Khoa Bảng (2012), Chất lượng đội ngũ cán bộ diện Ban thường
vụ Thành ủy Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ khoa
học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
16
Tác giả đi sâu phân tích chất lượng cán bộ diện Ban thường vụ Thành
ủy Hà Nội quản lý, nêu rõ thực trạng, đánh giá đúng nguyên nhân của thực
trạng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ diện Ban thường vụ
Thành ủy quản lý.
Luận án nêu những phương hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ diện Ban thường vụ Thành ủy Hà nội quản lý trong giai
đoạn hiện nay:
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức trong HTCT, của đội
ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân thủ đô về công tác nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ diện Ban thường vụ Thành ủy quản lý.
Tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện tiêu chuẩn, chức danh cán bộ,
các quy chế, quy trình về công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ diện Ban
thường vụ Thành ủy Hà Nội quản lý.
Đổi mới đồng bộ một số khâu cơ bản của công tác cán bộ để nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ diện Ban thường vụ Thành ủy quản lý.
Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao phẩm chất,
đạo đức lối sống, gắn với việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của đội ngũ cán bộ diện Ban thường vụ
Thành ủy quản lý.
Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, quản lý, bảo vệ đội
ngũ cán bộ diện Ban thường vụ Thành ủy quản lý; đẩy mạnh đấu tranh phòng
chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm chống lãng phí.
Xây dựng, sửa đổi bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách đối với
cán bộ diện Ban thường vụ Thành ủy quản lý.
Đổi mới mạnh mẽ PTLĐ của Thành ủy đối với công tác cán bộ và
quản lý đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ diện Ban thường vụ Thành ủy
quản lý.
Mặc dù luận án đề cập sâu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
nhưng những giá trị của luận án là tài liệu tham khảo tốt cho đề tài.
* Trần Quang Cảnh (2012), Đổi mới phương thức lãnh đạo của huyện
ủy ở đồng bằng sông Hồng đối với chính quyền huyện giai đoạn hiện nay,
17
Luận án Tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản
Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới PTLĐ của huyện ủy ở đồng bằng sông Hồng đối với chính quyền huyện giai đoạn hiện nay; thực trạng việc đổi mới PTLĐ của huyện ủy ở đồng bằng sông Hồng đối với chính quyền huyện trong những năm qua, đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới PTLĐ của huyện ủy ở đồng bằng sông Hồng đối với chính quyền huyện đến năm 2020.
Nội dung của luận án có giá trị tham khảo tốt đối với nghiên cứu sinh, luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy vùng Bắc Trung Bộ đối với công tác cán bộ giai đoạn hiện nay.
* Hồ Xuân Đoàn (2007), Đánh giá đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị quản lý trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Một là, tác giả đã nêu và phân tích các quan niệm, quan điểm, tiêu chí, quy trình đánh giá đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị quản lý, trong đó có viện dẫn những quan điểm của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và các quy định của Đảng về đánh giá cán bộ. Tác giả đã luận giải khá tốt về nội dung, tiêu chí, phương pháp, quy trình đánh giá đội ngũ cán bộ này dựa trên những quy định chung của Đảng và sự cụ thể hóa của Tỉnh ủy Quảng Trị. Hai là, tác giả đã phân tích thực trạng đánh giá đội ngũ cán bộ chủ chốt diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị quản lý từ 2001 - 2006 trên những nội dung: Chủ trương của tỉnh về đánh giá đội ngũ cán bộ chủ chốt; tình hình và kết quả thực hiện đánh giá đội ngũ cán bộ chủ chốt; ưu điểm, khuyết điểm cơ bản trong đánh giá đội ngũ cán bộ chủ chốt của tỉnh. Từ đó, chỉ ra những nguyên nhân của ưu điểm, nguyên nhân của khuyết điểm và rút ra 05 kinh nghiệm bước đầu trong đánh giá đội ngũ cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý. Ba là, tác giả đã đưa ra những dự báo về tình hình, nhiệm vụ của Tỉnh liên quan đến công tác đánh giá đội ngũ cán bộ chủ chốt diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và phương hướng, yêu cầu của công tác này. Từ đó đề xuất và phân tích 06 giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đánh giá đội ngũ cán bộ này.
18
Tuy nhiên, với phạm vi khảo sát tại một tỉnh với nhiều đặc thù và chỉ có đội ngũ cán bộ chủ chốt diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý nên những giải pháp đề xuất đều mang tính đặc thù của địa phương. Những khía cạnh về PTLĐ của Tỉnh ủy Quảng Trị đối với công tác cán bộ chưa được phân tích sâu sắc.
* Nguyễn Thị Hoàn Xuân (2010), Chất lượng đội ngũ cán bộ các Ban Tổ chức huyện, thị, thành ủy tỉnh Kiên Giang giai đoạn hiện nay, luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, luận văn làm rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ các ban tổ chức các huyện, thị, thành ủy ở tỉnh Kiên Giang; xây dựng quan niệm, tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ các ban tổ chức các huyện, thị, thành ủy ở tỉnh Kiên Giang giai đoạn hiện nay; phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ các ban tổ chức các huyện, thị, thành ủy ở tỉnh Kiên Giang dựa trên các tiêu chí được xác định, chỉ rõ nguyên nhân và kinh nghiệm; đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ban tổ chức các huyện, thị, thành ủy ở tỉnh Kiên Giang giai đoạn hiện nay.
Luận văn có giá trị tham khảo để tác giả luận giải vấn đề nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu và đội ngũ cán bộ trong các cơ quan tham mưu về công tác cán bộ.
* Nguyễn Xuân Hưng (2011), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đối với chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay, luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở phân tích một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn, luận văn đã luận giải có cơ sở khoa học về PTLĐ của Đảng và đổi mới PTLĐ của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đối với chính quyền tỉnh; khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới PTLĐ của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đối với chính quyền tỉnh đến năm 2020.
Luận văn đã góp phần làm rõ khái niệm, các yếu tố ảnh hưởng đến PTLĐ và đổi mới PTLĐ của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đối với chính quyền tỉnh hiện nay, có giá trị tham khảo tốt cho luận án.
19
* Dương Quang Thanh (2014), Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ
của các huyện ủy ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ
khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Luận văn đi sâu phân tích, luận giải quan niệm về PTLĐ công tác cán
bộ của các huyện ủy ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay; đánh giá thực
trạng đội ngũ cán bộ, PTLĐ công tác cán bộ của các huyện ủy ở tỉnh Bắc
Giang từ năm 2006 đến nay; chỉ ra nguyên nhân và kinh nghiệm của PTLĐ
công tác cán bộ của các huyện ủy.
Trên cơ sở làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan, luận
văn đề xuất các giải pháp góp phần tiếp tục đổi mới PTLĐ công tác cán bộ
của các huyện ủy ở tỉnh Bắc Giang đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai
đoạn hiện nay, góp phần xây dựng tỉnh Bắc Giang phát triển toàn diện.
Những nội dung nêu trên có những khía cạnh thuộc về PTLĐ của
Đảng đối với công tác cán bộ. Tuy nhiên, do phạm vi và đối tượng nghiên cứu
là đội ngũ cán bộ diện các huyện ủy quản lý ở tỉnh Bắc Giang, do đó, khách
thể nghiên cứu hoàn toàn khác nhau. Luận án trân trọng kế thừa những nội
dung có liên quan để làm cơ sở nghiên cứu về đổi mới PTLĐ công tác cán bộ
của các tỉnh ủy ở vùng Bắc Trung Bộ.
Như vậy, đã có nhiều những công trình khoa học nghiên cứu về công
tác cán bộ, một số công trình nghiên cứu về đánh giá cán bộ trong giai đoạn
hiện nay với những nội dung phong phú. Các công trình đó đã góp phần làm
rõ vị trí, vai trò của đánh giá cán bộ; nêu lên quan niệm về đánh giá cán bộ và
nội dung, quy trình, nguyên tắc đánh giá cán bộ, phân tích khái quát thực
trạng đánh giá cán bộ ở những phạm vi khác nhau và đề xuất các giải pháp
nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ... Những kết quả nghiên cứu đó có giá trị
tham khảo tốt để đánh giá đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ huyện
diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý.
Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một
cách có hệ thống về PTLĐ của các tỉnh ủy khu vực Bắc Trung Bộ, PTLĐ
công tác cán bộ của các tỉnh ủy khu vực Bắc Trung Bộ, một khu vực có nhiều
20
nét đặc thù. Thực tiễn quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH vùng Bắc Trung Bộ
hiện nay rất cần có những công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, hệ
thống về PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy vùng Bắc Trung Bộ. Luận án
trân trọng kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố
có liên quan để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của luận án.
1.4. Bài báo khoa học
* Lê Đức Bình (2002), Vài suy nghĩ về dân chủ hóa công tác cán bộ,
Báo Nhân dân ngày 9-02-2002.
Tác giả phân tích về tính dân chủ trong công tác cán bộ, nêu suy nghĩ
về quá trình thực hiện các khâu về công tác cán bộ theo hướng mở rộng dân
chủ. Bài viết có giá trị tham khảo tốt cho luận án.
* Trần Đình Hoan (2002), Luân chuyển cán bộ, khâu đột phá nhằm
xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ngang tầm thời kỳ phát triển mới,
Tạp chí Cộng sản, số 7/2002.
Tác giả nêu bật ý nghĩa quan trọng của luân chuyển cán bộ trong quá
trình đổi mới công tác tác cán bộ của Đảng, phân tích thực trạng đội ngũ cán
bộ, xác định khâu đột phá trong công tác cán bộ, gắn với đổi mới PTLĐ của
Đảng. Những yêu cầu đặt ra về xây dựng đội ngũ cán bộ trước đòi hỏi của
thực tiễn là đích hướng tới trong thực hiện công tác luân chuyển cán bộ. Nội
dung bài viết này có giá trị tham khảo đối với đề tài của luận án.
* Nguyễn Quốc Hiệp (2003), Một số phương pháp đánh giá, tuyển
chọn, đề bạt cán bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7-2003.
Trên cơ sở khái quát thực trạng về đánh giá, tuyển chọn, đề bạt cán bộ,
tác giả đề xuất các phương pháp thực hiện các nội dung này trong quá trình
đổi mới công tác cán bộ trước yêu cầu CNH, HĐH đất nước. Tuy nhiên, bài viết
mới chỉ dừng lại ở phương pháp gắn với một số khâu của công tác cán bộ.
* Trương Quốc Bảo (2011), Về chính sách đối với cán bộ luân chuyển,
Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5/2011.
Tác giả nêu những kết quả đạt được trong chính sách cán bộ thời gian
qua trên cơ sở sự nỗ lực đổi mới công tác cán bộ của Đảng, trong đó đề cập
đến chính sách đối với cán bộ luân chuyển. Để cán bộ luân chuyển hoàn thành
21
tốt nhiệm vụ của mình, tác giả đề nghị phải có sự đổi mới tốt hơn nữa về
chính sách đối với đối tượng cán bộ này, tập trung là những ưu đãi về điều
kiện cơ sở vật chất đảm bảo công tác. Gợi ý này giúp người thực hiện đề tài
có cái nhìn tổng quát khi nghiên cứu.
* Trương Thị Bạch Yến (2011), Về khâu yếu nhất trong công tác cán
bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 9/2011.
Bài viết đi sâu phân tích nguyên nhân thực trạng về khâu yếu nhất
trong công tác cán bộ: Đánh giá cán bộ. Tác giả đã đề cập nhiều nguyên nhân,
trong đó tập trung là còn nặng về tình cảm, có biểu hiện nể nang, né tránh, bị
các lợi ích chi phối…Bài viết cho rằng, nếu không thực hiện tốt công tác đánh
giá cán bộ sẽ dẫn đến việc thực hiện các khâu khác trong công tác cán bộ kém
hiệu quả. Từ đó, đề xuất các giải pháp theo hướng khách quan, công bằng,
công tâm trong đánh giá cán bộ.
* Phúc Sơn (2011), Chú trọng ba khâu đánh giá, quy hoạch, luân
chuyển, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 10/2011.
Tác giả khái quát về các khâu trong công tác cán bộ, có cái nhìn tổng
quát về những kết quả chính đạt được trong việc thực hiện các khâu về công tác
cán bộ thời gian qua, những hạn chế càn khắc phục. Tác giả đi sâu phân tích ba
khâu đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ và nêu ý kiến cá nhân về các giải
pháp nâng cao hiệu quả thực hiện ba khâu này. Trong đó, nêu bật tầm quan
trọng, sự logic của các khâu: Đánh giá cán bộ là tiền đề quan trọng cho sử dụng,
quy hoạch cán bộ; quy hoạch cán bộ là điều kiện phải có để thực hiện luân chuyển
cán bộ. Sự khách quan, công bằng trên cơ sở quy chế, quy định, đổi mới cách thức
tổ chức thực hiện là đề xuất chủ yếu của bài viết khi thực hiện các khâu này.
* Nguyễn Phú Trọng (2011), Tiếp tục tham mưu đổi mới, kiện toàn tổ
chức bộ máy, thực hiện tốt hơn nữa nguyên tắc tập trung dân chủ trong công
tác tổ chức và cán bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 12/2011.
Bài viết phân tích thực trạng tổ chức bộ máy, tình hình thực hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức cán bộ của nước ta trong thời gian
qua, nhấn mạnh những điểm yếu, những vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết.
Tác giả đã đề cập các giải pháp cần tập trung thực hiện: Đề cao nguyên tắc
22
tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, trách nhiệm của người
đứng đầu, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên… trong việc củng cố, kiện
toàn tổ chức bộ máy. Nội dung của bài viết có nhiều gợi ý khi thực hiện đề tài.
* Trần Thanh Bình (2012), Công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ ở
Thừa Thiên - Huế, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 1+2/2012.
Bài viết đề cập đến những nỗ lực trong công tác quy hoạch, luân
chuyển cán bộ ở Thừa Thiên - Huế, nêu lên những kết quả đạt được bước đầu:
Trên cơ sở có nhiều cố gắng của các cấp ủy đảng, đã thực hiện tốt hơn công
tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ so với trước. Tuy nhiên, công tác luân
chuyển, quy hoạch vẫn còn hạn chế, bất cập: Sự quan tâm thực sự của các cấp
ủy đối với công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ chưa tốt, còn biểu hiện
nhầm lẫn giữa luân chuyển và điều động cán bộ làm mất đi tính chất của luân
chuyển. Tác giả đề cập nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch,
luân chuyển cán bộ, trong đó nhấn mạnh yếu tố chất lượng cán bộ trước khi
làm công tác quy hoạch, thực hiện luân chuyển phải trên cơ sở quy hoạch cán
bộ. Đây là tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài.
* Bùi Đức Lại (2012), Vai trò của bí thư cấp ủy trong công tác cán
bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 3/2012.
Tác giả nêu bật vai trò của người đứng đầu trong công tác cán bộ trên
cơ sở phân tích những quy định, trách nhiệm của bí thư cấp ủy theo nguyên
tắc tập trung dân chủ. Để người đứng đầu cấp ủy khẳng định được vai trò của
mình, theo tác giả cần tập trung thực hiện tốt nguyên tắc tập trung, dân chủ,
nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong xây dựng đội ngũ cán bộ.
* Đỗ Ngọc Ninh - Nguyễn Văn Giang (2014), Nâng cao đạo đức cách
mạng nhằm giữ vững bản lĩnh chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng, Niên
giám khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Các tác giả nêu quan niệm bản lĩnh chính trị và vai trò mang tính quyết
định của Đảng trong sự nghiệp cách mạng suốt hơn 80 năm qua. Các tác giả xác
định việc nâng cao đạo đức cách mạng nhằm giữ vững bản lĩnh chính trị và vai
trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay là việc rất quan trọng. Muốn
vậy, trong điều kiện hiện nay cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung:
23
Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, cách mạng cho đội ngũ
cán bộ, đảng viên; xây dựng ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách
mạng cho từng cán bộ, đảng viên; kiện toàn đội ngũ cán bộ chủ chốt của tổ
chức đảng, các cơ quan, đơn vị thực sự là gương sáng cho đội ngũ cán bộ, đảng
viên noi theo. Nội dung của bài viết có một số nội dung đề tài được kế thừa.
* Đỗ Xuân Tuất (2014), Quan điểm của Đảng về phòng chống suy
thoái phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên thời kỳ
đổi mới, Niên giám khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Tác giả đã dày công nghiên cứu, hệ thống các quan điểm về phòng
chống suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng
viên từ khi Đảng ta tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay. Trong đó nêu bật
các quan điểm tại Hội nghị Trung ương 6 (Lần 2), khóa VIII "Về xây dựng và
chỉnh đốn Đảng"; Nghị quyết trung ương 4, khóa XI "Một số vấn đề cấp bách
về xây dựng Đảng hiện nay". Từ đó đề xuất, kiến nghị các cấp ủy Đảng tập
trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng này.
2. Các công trình khoa học nước ngoài có liên quan
2.1. Sách
* Lý Quang Diệu (1994), Tuyển 40 năm chính luận của Lý Quang Diệu,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Theo tác giả, Singapo là một nước điển hình trong các nước ASEAN
về tinh thần coi trọng nhân tài, có chính sách hữu hiệu trong phát triển và sử
dụng nhân tài. Theo Lý Quang Diệu (Người giữ chức vụ thủ tướng 38 năm),
chế độ Singapo thực hành là chế độ trọng dụng nhân tài. Một trong những
thành công nhất của Singapo là phát hiện, tập hợp, sử dụng 300 nhân tài của
đất nước theo nguyên tắc "người có thực tài điều hành công việc". Theo ông,
nếu 300 người này bất ngờ chết, thì Singapo khó tránh khỏi tan vỡ. Ông phê
phán chế độ quản lý công chức chỉ dựa trên thâm niên công tác để tuần tự
tăng lương, thăng chức. Năm 1965, chỉ sau vài năm nước này độc lập, ông đã
tuyên bố sửa đổi chính sách nhân sự của chính phủ:
Chỉ có những nhân tài đầy đủ tinh lực, cương nghị, giàu tài năng, sẵn sàng toàn tâm, toàn ý lấy biểu hiện công tác để giành tiến thủ
24
mới có thể được cất nhắc, còn với những người tham nhũng xấu xa, đặc biệt là những người vốn không có năng lực nhưng trái lại cho rằng họ thi cử đạt mức, có được một học vị tốt... do đó được quyền hưởng thái bình, dương dương tự đắc, làm việc lười biếng, gặm nhấm thời gian, cho rằng sớm muộn cũng được thăng cấp. Tôi muốn bảo họ rằng đừng có mơ tưởng như thế [13].
Một kinh nghiệm mà ông Lý Quang Diệu thường nhắc đi, nhắc lại là: "biết dùng nhân tài là bí quyết thành công". Ông rút ra kết luận gần như quy luật trong công tác cán bộ là: "Khi một nhân vật có năng lực đảm nhiệm một trọng trách, họ sẽ tập hợp những người có năng lực khác thành một đội ngũ hợp tác chặt chẽ với nhau. Ngược lại, lãnh tụ xấu sẽ đuổi người tốt, không cho họ giữ những chức vụ quan trọng" [13].
* Đảng Cộng sản Trung Quốc (2001), Toàn thư công tác đảng vụ, Nxb nghiên cứu Trung Quốc, Bắc Kinh (Bản dịch Tiếng Việt của Ban Tổ chức Trung ương).
Trong bộ sách này, vấn đề quy hoạch cán bộ được đặt ra trong một số nội dung xây dựng cán bộ dự bị, sắp xếp tài nguyên cán bộ... Một trong những đặc điểm trong công tác cán bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc là thích ứng nhanh với cuộc sống, hành động quyết liệt, coi trọng hiệu quả thực tiễn. Thực hiện kế hoạch xây dựng đội ngũ lãnh đạo thế hệ thứ năm, Đảng Cộng sản Trung Quốc sắp xếp, rà soát nguồn tài nguyên cán bộ, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong và ngoài nước. Trung Quốc tiến hành cải cách mạnh mẽ công tác tổ chức cán bộ được gọi là chế độ nhân sự cán bộ. Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Trung Quốc được tập trung vào ba nhiệm vụ chính là sắp xếp tài nguyên cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ dự bị và xây dựng tập thể lãnh đạo có hạt nhân. Trong công tác cán bộ, khâu quan trọng nhất là đánh giá, khảo sát, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Trung Quốc nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác tiến cử cán bộ một cách dân chủ, rộng mở, song chủ yếu là tiến cử, giới thiệu trước khi bổ nhiệm (chúng ta gọi là công tác nhân sự), chứ không phải tiến cử vào nguồn quy hoạch. Đáng chú ý là, Trung Quốc đã xây dựng khá rõ ràng, chi tiết về tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, nhưng không có quy định cứng về bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo phải căn cứ vào tiêu chuẩn đã được quy hoạch. Khó khăn nổi
25
lên trong công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý của Trung quốc hiện nay là sự hạn hẹp của đối tượng và nguồn quy hoạch, dấn tới tình trạng khép kín, chất lượng quy hoạch bị hạn chế. Trung Quốc đang tích cực tìm kiếm các chính sách, giải pháp nhằm thu hút nhân tài trẻ, kể cả người làm trong khu vực kinh tế tư nhân và có yếu tố nước ngoài vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng.
* Mã Linh - Lý Minh (2004), Hồ Cẩm Đào, con đường phía trước,
Nxb Lao động, Hà Nội.
Theo hai tác giả, Trung Quốc đã sớm phát hiện và tạo điều kiện cho một
tài năng trẻ tuổi thăng tiến vượt cấp - trường hợp Hồ Cẩm Đào, tổng bí thư, chủ
tịch nước. Con đường đi đến đỉnh cao quyền lực của ông do nhiều yếu tố tạo nên:
Tài năng, sự phấn đấu, thời thế, sự sớm phát hiện, tiến cử, nâng đỡ, dìu dắt của
một số lãnh đạo thế hệ trước. Tài năng của Hồ Cẩm Đào có điều kiện phát triển
thuận lợi vì có đường lối cán bộ "4 hóa" của Đặng Tiểu Bình (cách mạng hóa,
trẻ hóa, tri thức hóa, chuyên môn hóa). Từ năm 1979, Đặng Tiểu Bình cho rằng,
nhiệm vụ đặt ra trước các đồng chí lão thành chính là cần tuyển chọn, đề bạt
người trẻ tuổi một cách có ý thức, chọn một số đồng chí trẻ tuổi có sức khỏe tốt
để kế cận. Ông nhiều lần chỉ thị, những cán bộ đặc biệt xuất sắc, cần cho họ bậc
thang tương đối dễ dàng hơn, để họ lên một cách vượt cấp. Nhiều nhà lãnh đạo
của Trung Quốc như Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo nhờ vào truyền thống "cán bộ
lãnh đạo phải biết phát hiện và tiến cử người tài để đem lại lợi ích cho quốc gia".
* Triệu Gia Kỳ - Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy Bắc Kinh (2004),
Tăng cường xây dựng Đảng ủy địa phương, phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân
lãnh đạo, Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng cộng sản
Trung Quốc, Xây dựng đảng cầm quyền, kinh nghiệm của Việt Nam, kinh
nghiệm của Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tác giả đã phân tích công tác xây dựng Đảng, phát huy đầy đủ vai trò
hạt nhân lãnh đạo của Thành ủy Bắc Kinh, tạo nên sự đảm bảo chính trị, tư
tưởng và tổ chức vững chắc cho sự phát triển liên tục, nhanh chóng, hài hòa
và lành mạnh của kinh tế, xã hội thành phố, chỉ ra những kinh nghiệm:
Kiên trì bao quát toàn cục, điều hòa các mặt, phát huy đầy đủ vai trò
hạt nhân lãnh đạo của Đảng ủy địa phương, gồm: kiện toàn và hoàn thiện thể
26
chế lãnh đạo để Đảng ủy địa phương phát huy vai trò hạt nhân; quán triệt và
thực hiện tốt đường lối, phương châm và chính sách của Trung ương Đảng;
kiên trì lập Đảng vì công, cầm quyền vì dân.
Nắm chắc nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thiết thực đảm đương trách nhiệm thúc đẩy kinh tế, xã hội địa phương phát triển toàn diện, hài hòa và bền vững, gồm: Luôn luôn coi phát triển là chức trách hàng đầu của Đảng ủy địa phương; ưu tiên hóa môi trường phát triển, đẩy mạnh sáng tạo về thể chế; kiên trì giải quyết tốt mối quan hệ giữa cải cách, phát triển và ổn định.
Thiết thực tăng cường xây dựng bản thân mình, không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình độ cầm quyền, gồm: quán triệt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, kiện toàn và hoàn thiện hơn nữa cơ chế nghị sự và ra quyết sách của Đảng ủy địa phương.
Trong đó, các giải pháp và kinh nghiệm về xây dựng cán bộ lãnh đạo địa phương như: thích ứng tình hình mới, đón đầu thách thức mới, ra sức tăng cường xây dựng ban lãnh đạo và đội ngũ cán bộ; đi vào cơ sở, đi sâu vào quần chúng, không ngừng tăng cường việc xây dựng tác phong của ban lãnh đạo và cán bộ cơ sở... có những điểm liên quan đến PTLĐ của Đảng Cộng sản Trung quốc đối với công tác cán bộ.
* Tôn Hiểu Quần - Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2004), Tăng cường xây dựng ban lãnh đạo, cố gắng hình thành tầng lớp lãnh đạo hăng hái, sôi nổi, phấn đấu thành đạt, Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng cộng sản Trung Quốc, Xây dựng đảng cầm quyền, kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Những giải pháp xây dựng tập thể và cá nhân ban lãnh đạo, có giá trị tham khảo đối với luận án, gồm: Coi trọng việc lấy chủ nghĩa Mác-Lênin để vũ trang nhận thức cho cán bộ lãnh đạo; coi trọng nâng cao trình độ và năng lực công tác của ban lãnh đạo và cán bộ trong thực tiễn; kiên trì tiêu chuẩn chọn người, dùng người một cách khoa học, xác lập định hướng công tác cán bộ đúng đắn; đi sâu cải cách chế độ lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo Đảng và chính quyền các cấp; thiết thực tăng cường giám sát đối với cán bộ lãnh đạo. Đây là những nội dung có giá trị tham khảo tốt đối với luận án.
27
2.2. Luận văn, bài báo khoa học
* Thong Chăn Khổng Phun Khăm (2005), Công tác quy hoạch cán bộ
thuộc diện Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào quản lý trong giai
đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Tác giả luận giải những cơ sở lý luận của công tác quy hoạch cán bộ
diện Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào quản lý. Đó là những người
đóng vai trò chủ chốt trong cơ quan Đảng, nhà nước, cơ quan đoàn thể ở trung
ương và địa phương, có vai trò chi phối việc chấp hành chủ trương, nghị
quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước thông qua lãnh đạo thực
hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng trong cả nước.
Tác giả xác định đây là khâu trọng yếu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về
số lượng, có phẩm chất, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị trong
giai đoạn mới; thúc đẩy, tạo điều kiện, cơ hội cho cán bộ phát huy khả năng
của mình, góp phần vào quá trình phát triển chung của đất nước.
Luận văn đánh giá rõ thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân, phân tích thuận
lợi, khó khăn ảnh hưởng đến công tác quy hoạch cán bộ diện Trung ương
quản lý ở Lào. Các giải pháp được đề cập là: Nâng cao nhận thức về công tác
quy hoạch cán bộ thuộc diện Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào quản
lý; tăng cường sự lãnh đạo thống nhất, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ
đối với công tác quy hoạch cán bộ; rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ; cụ thể
hóa tiêu chuẩn các chức danh lãnh đạo, quản lý; lập phương án quản lý quy
hoạch; kiểm tra đánh giá, bổ sung, hoàn chỉnh quy hoạch cán bộ; nâng cao vai
trò của đội ngũ tham mưu… Tác giả nhấn mạnh, quy hoạch cán bộ là sự vận
động không ngừng, phải thường xuyên điều chỉnh, bổ sung để luôn chủ động
đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị.
* Dao Bua La Phon (2008), Đánh giá cán bộ diện Ban Thường vụ
Tỉnh ủy quản lý ở tỉnh Chăm Pa Xắc, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành
Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh.
28
Những kết quả nghiên cứu tác giả liên quan đến luận án gồm: Tác giả trình bày quan niệm, vai trò và đặc điểm của cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở tỉnh Chăm Pa Xắc trong giai đoạn hiện nay. Quan niệm, quan điểm, nội dung, tiêu chí, quy trình đánh giá cán bộ diện ban thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Chăm Pa Xắc quản lý trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Lào, tác giả đã đưa ra quan niệm của riêng mình về đánh giá đội ngũ cán bộ ở đây.
Về nội dung và tiêu chí đánh giá cán bộ, theo tác giả, nội dung đánh giá cán bộ là tổng thể các mặt về phẩm chất, năng lực và tố chất của người cán bộ cần được xem xét, kết luận trong đánh giá. Nội dung đó được cụ thể hóa thành các mặt chi tiết để đánh giá là các tiêu chí đánh giá cán bộ.
Thực trạng đánh giá cán bộ diện ban thường vụ Tỉnh ủy Chăm Pa Xắc
từ 2003 - 2007.
Dự báo tình hình liên quan đến công tác đánh giá cán bộ diện ban
thường vụ Tỉnh ủy Chăm Pa Xắc quản lý.
Một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt việc đánh giá cán bộ diện ban thường vụ Tỉnh ủy Chăm Pa Xắc quản lý giai đoạn hiện nay: Thống nhất và nâng cao nhận thức về đánh giá cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Chăm Pa Xắc quản lý; cụ thể hóa tiêu chuẩn các chức danh cán bộ diện ban thường vụ Tỉnh ủy Chăm Pa Xắc quản lý; cụ thể hóa và thực hiện đúng quy trình đánh giá cán bộ diện ban thường vụ Tỉnh ủy Chăm Pa Xắc quản lý; phát huy vai trò của các tổ chức, người đứng đầu các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân trong đánh giá cán bộ diện ban thường vụ Tỉnh ủy Chăm Pa Xắc quản lý đồng thời coi trọng việc tự đánh giá của bản thân cán bộ; gắn kết quả đánh giá với quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, luân chuyển và quản lý cán bộ diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý; củng cố và nâng cao chất lượng cơ quan tham mưu về công tác cán bộ của Tỉnh ủy; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương về công tác cán bộ và đánh giá cán bộ diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý.
Xuất phát từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả luận văn chỉ nghiên cứu, đánh giá thực trạng đánh giá cán bộ diện ban thường vụ
29
Tỉnh ủy tỉnh Chăm Pa Xắc và dự báo tình hình liên quan đến công tác đánh giá cán bộ diện Ban thường vụ Tỉnh ủy của địa phương quản lý, đồng thời trình bày một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt việc đánh giá cán bộ diện ban thường vụ Tỉnh ủy Chăm Pa Xắc quản lý giai đoạn hiện nay. Trong đó, có một số điểm thuộc về PTLĐ của Tỉnh ủy Chăm Pa Xắc đối với công tác cán bộ.
* Unkẹo Sipasợt (2009), Công tác tổ chức cán bộ cấp tỉnh ở Cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào hiện nay, Tạp chí xây dựng Đảng điện tử, 24/8/2009.
Bài viết khẳng định yếu tố quyết định để tổ chức thực hiện thắng lợi
đường lối, chính sách chính là công tác tổ chức, cán bộ. Đào tạo cán bộ lãnh
đạo và quản lý trong cơ chế thị trường vừa phải có tinh thần đổi mới, vừa phải
giữ vững những vấn đề nguyên tắc như: phải quán triệt quan điểm giai cấp,
tạo sự bình đẳng về cơ hội cho tài năng nảy nở và phát huy, nhất là đối với
cán bộ xuất thân công nhân, con em công nhân, gia đình có công với cách
mạng, dân tộc thiểu số, phụ nữ. Trong điều kiện mở cửa, hội nhập quốc tế,
khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão phải nâng cao chất lượng đào
tạo trong nước, vừa phải quan tâm việc đưa cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài…
Bài viết đều cho thấy sự nhất quán trong việc tuân thủ các khâu của công tác
cán bộ, điều này thể hiện tính tương đồng quan điểm của đảng cầm quyền ở
Lào và ở Việt Nam trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ.
* *
*
Như vậy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về công tác cán
bộ, công tác nhân sự với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Các công trình khoa
học này đã đi sâu phân tích những khía cạnh khác nhau của công tác cán bộ,
công tác nhân sự, hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ thực tài, có đạo đức, hết
lòng chăm lo cho sự phát triển của đất nước. Ở một chừng mực nhất định, các
công trình khoa học đã đề cập đến phương thức thực hiện công tác cán bộ,
công tác nhân sự, vấn đề mà luận án đang hướng tới. Tuy nhiên, đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về PTLĐ của tỉnh ủy đối
với công tác cán bộ. Tác giả trân trọng kế thừa các công trình nghiên cứu
khoa học đã nêu nhằm thực hiện tốt đề tài của mình.
30
Chương 1
PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CÁN BỘ
CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở BẮC TRUNG BỘ HIỆN NAY -
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. CÁC TỈNH, TỈNH ỦY Ở BẮC TRUNG BỘ
1.1.1. Khái quát về các tỉnh ở Bắc Trung Bộ
1.1.1.1. Khái quát đặc điểm lịch sử, tự nhiên
Bắc Trung Bộ là phần phía Bắc của miền Trung Việt Nam có địa bàn từ
Nam dãy núi Tam Điệp tới Bắc đèo Hải Vân. Theo Nghị quyết số 39-NQ/TW
ngày 16-8-2004 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm
quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2010,
định hướng đến năm 2020; Quyết định số 113/2005/QĐ-TTg ngày 20-5-2005
về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số
39-NQ/TW của Bộ Chính trị; Quyết định số 61/2008/QĐ-TTg ngày 09-5-2008
về Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội dải ven biển Miền Trung Việt
Nam đến năm 2020, thì khu vực Bắc Trung Bộ bao gồm 06 tỉnh: Thanh Hóa,
Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.
Bắc Trung Bộ là nơi cư trú của 25 dân tộc khác nhau (Thái, Mường,
Tày, Mông, Bru Vân Kiều…) sinh sống dọc theo dãy Trường Sơn. Cư dân
phân bố không đều từ Đông sang Tây. Người Kinh sinh sống chủ yếu ở đồng
bằng ven biển và vùng trung du.
Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Bắc Trung Bộ
và duyên hải miền Trung là vùng có dân số đứng thứ hai trong toàn quốc
(18.835.485 người); trong đó Thanh Hóa và Nghệ An nằm trong số 05 tỉnh,
thành phố có dân số đông nhất cả nước: Tỉnh Thanh Hóa với 3.400.239 người;
tỉnh Nghệ An với 2.913.055 người.
Tính đến nay, dân số khu vực Bắc Trung Bộ khoảng gần 11 triệu người
(theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 là 10.090.400 người).
Bắc Trung Bộ cùng với duyên hải Miền Trung có tỷ lệ người biết chữ
khá cao (97,5%), cao hơn tỷ lệ trung bình cả nước (95,62%). Trình độ học
31
vấn của lực lượng lao động trong toàn vùng đạt mức khá, xấp xỉ mức trung
bình của cả nước. Đáng chú ý là số người lao động tốt nghiệp trung học cơ sở
trở lên chiếm 48,3% tổng số người lao động.
Khu vực Bắc Trung Bộ có diện tích tự nhiên là 51.511km2 trong đó Quảng Trị là tỉnh có diện tích nhỏ nhất (4.760,1 km2), Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất (16.487 km2). Hệ thực vật vùng Bắc Trung Bộ rất đa dạng và phong phú, có 194 họ, 723 chi, 1.438 loài, 200 loài cây cho gỗ, 150 loài thuốc, 70 loài
cây cảnh với nhiều loại thực vật quý hiếm như: lim, lát, sến, táu, chò, gụ biển,
kiền kiền, kim giao, pơmu, cẩm lai, bách xanh, phỉ ba mùi, gụ mật, giáng
hương, mun, nghiến, bách hợp sa nhân, thảo quả trong đó có nhiều loại nằm
trong sách đỏ của Việt Nam và thế giới. Hệ động vật vùng Bắc Trung Bộ có
nhiều loại, có 669 loài thuộc 11 họ, 35 bộ như: hổ, báo, hươu, nai, khỉ, voọc
và các loại bò sát thân mềm, thân giáp trong đó có nhiều loại có trong sách đỏ
của Việt Nam và thế giới như Sao La và Mang lớn. Tài nguyên, khoáng sản ở
các tỉnh khá phong phú: toàn bộ trữ lượng Crômit; 80% trữ lượng thiếc; 60%
trữ lượng sắt; 40% trữ lượng đá vôi xi măng của cả nước nằm ở vùng này.
Bắc Trung Bộ là vùng khí hậu khắc nghiệt, lắm nắng, hạn hán và
nhiều bão, mưa, lũ nên kinh tế tăng trưởng chậm, đời sống nhân dân còn
nhiều khó khăn.
Bắc Trung Bộ nằm kề bên vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng
Nam Trung Bộ, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường sắt, đường bộ; nhiều
đường ô tô hướng Đông Tây (quốc lộ 7, 8, 9 và 29) nối nước Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào với Biển Đông. Có hệ thống sân bay (Thọ Xuân, Vinh, Đồng Hới,
Phú Bài), bến cảng (Nghi Sơn, Cửa Lò, Cửa Hội, Vũng Áng, Sơn Dương, Cửa
Gianh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Thuận An...) tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng giao
lưu phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh, các vùng trong nước và quốc tế.
Đây là vùng lãnh thổ có địa hình khá độc đáo, kéo dài trên nhiều vĩ
độ, như một hành lang giao thông hẹp chính giữa đất nước (nơi hẹp nhất dưới
50km - tại Quảng Bình). Bắc Trung Bộ hình thành ba vùng rõ rệt: Vùng đồng
bằng ven biển, vùng Trung du và vùng miền núi. Vùng đồng bằng ven biển có
mật độ dân cư khá đông, nghề nghiệp chính của cư dân là kết hợp nông ngư
32
nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thủy, hải sản và dịch vụ du lịch. Vùng trung du,
miền núi chủ yếu là thuần nông, đời sống nhân dân người dân chủ yếu dựa
vào nông - lâm nghiệp, song thường xuyên bị thiệt hại bởi thiên tai.
Trong những năm qua, các tỉnh có những tiến bộ vượt bậc về kinh tế - xã
hội, có điều kiện đầu tư cho cơ sở hạ tầng, song do địa hình phức tạp nên nhìn
chung cơ sở hạ tầng ở các tỉnh chưa được cải thiện đáng kể. Các tuyến đường
chính là huyết mạch giao thông của cả nước và trong vùng như quốc lộ 1A,
Đường Hồ Chí Minh thường xuyên bị mưa lũ bào mòn, xói lở, nên thường
xuyên ách tắc giao thông.
1.1.1.2. Về kinh tế
Trong những năm gần đây, tình hình phát triển kinh tế của vùng đã có
những chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình cho giai
đoạn 5 năm (2005 - 2010) đạt 10,78%/năm, cao hơn mức trung bình của cả
nước. Trong đó, tốc độ tăng trưởng trung bình của khối công nghiệp xây dựng
của vùng là 16,09%/năm, khối nông nghiệp là 2,91%/năm và khối dịch vụ là
11,64%/năm. Cơ cấu thành phần kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tăng
mạnh kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tỷ trọng các thành
phần kinh tế nhà nước (trung ương và địa phương), kinh tế tập thể giảm.
Thế mạnh về phát triển kinh tế - xã hội vùng này là nghề truyền thống
trong khai thác và nuôi trồng thủy, hải sản truyền thống, trồng cây công nghiệp
như lạc, cói, mía, dâu tằm, dứa..., trong những năm gần đây cây chè, cao su, cà phê,
ca cao, hồ tiêu...phát triển khá mạnh; sản xuất vật liệu xây dựng, nhất là xi măng,
gạch, ngói... Chăn nuôi gia súc cũng là thế mạnh của các tỉnh trong vùng. Đàn
gia súc đa dạng phong phú với số lượng lớn như: trâu, bò, lợn, dê, hươu, gà, vịt...
Toàn vùng có 3.436,86 ngàn ha, đất có rừng, 1.633,0 ngàn ha rừng có
trữ lượng gỗ 134.737 triệu m3 và nhiều loại cây khác.
Ở các tỉnh đã từng bước hình thành các vùng chuyên canh về sản xuất,
phát triển công nghiệp và dịch vụ, các khu kinh tế, khu đô thị mới như: Nghi
Sơn, Lam Sơn (Thanh Hóa), Hoàng Mai, Nghĩa Đàn (Nghệ An), Vũng Áng
(Hà Tĩnh), Lao Bảo (Quảng Trị), Chân Mây (Thừa Thiến Huế). Tuy nhiên, do
nhiều nguyên nhân, nên nhìn việc thu hút và hiệu quả đầu tư chưa cao.
33
Bắc Trung Bộ có khoảng 670 km bờ biển, 23 cửa sông, nhiều bãi tắm
đẹp như Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Nhật Lệ, Cửa Tùng, Thuận An, Lăng
Cô, nhiều đầm phá, thềm lục địa rộng nhiều tài nguyên. Ngoài ra ở các tỉnh
còn có nhiều lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa và lành mạnh.
Đây là tiềm năng và thế mạnh về phát triển kinh tế biển và du lịch.
1.1.1.3. Về văn hóa - xã hội
Người dân khu vực Bắc Trung Bộ mang đậm nét đặc trưng của dân
tộc Việt Nam: Nhân hậu, giản dị, trung thực, cần cù, thông minh, hiếu học và
học giỏi, yêu quê hương đất nước, dũng cảm kiên cường, bất khuất, v.v.. Tuy
vậy, do những đòi hỏi khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và vị trí địa chính trị
khu vực này từng là ranh giới phân tranh giữa các thế lực phong kiến trước
đây. Đặc biệt, nơi đây đã từng là tuyến lửa trong cuộc kháng chiến chống đế
quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Những đặc
trưng giá trị nêu trên được nhân lên, sâu đậm và có những điểm nổi trội thành
nét văn hóa, truyền thống của nhân dân ở các tỉnh Bắc Trung Bộ. Đó là không
ngại khó khăn, gian khổ, thách thức quyết liệt, căm ghét cao độ thực dân đế
quốc, phong kiến và các thói hư, tật xấu, kiên cường trong chống ngoại xâm
một mực kiên trung, một lòng theo Đảng làm cách mạng, luôn tin tưởng tuyệt
đối vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của cách mạng, thực hiện thành
công chủ trương, đường lối của Đảng, ham học, cầu tiến bộ, tôn sư trọng đạo.
Dù khó khăn gian khổ, đói, chiến tranh ác liệt việc học tập vẫn được các cấp
ủy đảng, đội ngũ cán bộ quan tâm và duy trì. Người dân vùng này tính cố kết
cộng đồng rất cao, luôn đoàn kết, đùm bọc sẻ chia và giúp đỡ nhau trong khó
khăn hoạn nạn, cương trực, thẳng thắn không dung thứ những thói hư, tật xấu,
hiền hậu, thủy chung với bạn bè đồng chí...
Trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng
CNXH ngày nay, mặc dù còn nhiều khó khăn, song nhân dân vùng này đang
từng ngày, từng giờ kiên trì vượt mọi khó khăn, thử thách; nỗ lực vươn lên để
thoát khỏi đói nghèo và phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng vùng này thành
vùng phát triển cao, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và giàu
mạnh. Những kết quả đáng ghi nhận về phát triển kinh tế - xã hội của các
34
tỉnh, những dự án kinh tế trọng điểm, lớn đã, đang triển khai và phát huy tác
dụng là những minh chứng điển hình.
Tuy nhiên, bên cạnh những đức tính nổi trội về văn hóa - xã hội cư dân
vùng Bắc Trung Bộ vẫn còn những đức tính cản trở không nhỏ sự vươn lên của
cộng đồng và thành tựu đẩy mạnh CNH, HĐH. Những đức tính ấy, còn tác động
vào các tổ chức đảng gây khó khăn nhất định cho công tác cán bộ, công tác đảng
viên và việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng...
Đó là, tư tưởng cục bộ bản vị, gia tộc, dòng họ, hẹp hòi, bảo thủ, trì trệ cộng với
cách tư duy, phong cách làm việc của người sản xuất nhỏ. manh mún theo kiểu
kinh tế tự túc, tự cấp, quan hệ khép kín, một số người thẳng thắn, bộc trực đến
mức quá đà dễ gây phản cảm... Do phải sống trong điều kiện môi trường khí hậu
khắc nghiệt, cộng với việc nơi đây luôn là tuyến lửa của các cuộc chiến tranh tàn
khốc trong lịch sử, con người khu vực Bắc Trung Bộ thiếu sự mềm dẻo cần thiết
để hòa nhập trong cơ chế thị trường hiện nay. Ngoài ra, do ảnh hưởng bởi cơ chế
tập trung, quan liêu bao cấp kéo dài trước đây ở các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh,
Nghệ An, Thanh Hóa nên một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn có
thái độ thụ động, trông chờ và ỷ lại vào cấp trên, hạn chế, kìm hãm việc phát
huy tinh thần chủ động sáng tạo trong công cuộc đổi mới. Những đặc điểm hạn
chế nêu trên có ảnh hưởng nhiều mặt đến công tác cán bộ và phương thức lãnh
đạo công tác cán bộ của các tỉnh uỷ vùng này, như dễ xảy ra xu hướng cục bộ
địa phương, chủ trương có tính cực đoan, thiếu tầm nhìn trong công tác cán bộ…
1.1.1.4. Về quốc phòng, an ninh
Bắc Trung Bộ là địa bàn chiến lược quan trọng trong các cuộc kháng
chiến chống các thế lực xâm lược. Cùng với sự ra đời của quân đội cách mạng
dưới sự lãnh đạo của Đảng, năm 1944, Quân khu 4 được thành lập bao gồm
các tỉnh Bắc Trung Bộ. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, Quân
khu 4 là địa bàn chiến lược, góp phần quan trọng cùng cả nước làm nên
những chiến công chói lọi trong lịch sử dân tộc, hoàn thành sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH, các tỉnh Bắc Trung Bộ có thuận lợi cơ bản là: Tình
35
hình an ninh, chính trị - xã hội trên địa bàn cơ bản ổn định, kinh tế xã hội có
bước phát triển mới, quốc phòng - an ninh được củng cố, tăng cường.
Bên cạnh những thuận lợi, những khó khăn đặt ra là: Tình hình thế
giới tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp mới tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, khó
lường, những diễn biến bá quyền của Trung Quốc trên biển Đông làm cho
tình hình ngày càng phức tạp. Trên địa bàn, bọn cơ hội, chống đối chính trị tiếp
tục cấu kết với các thế lực thù địch trong và ngoài nước đẩy mạnh chiến lược
"diễn biến hòa bình" thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" để chống phá ta
ngày càng quyết liệt hơn. An ninh nông thôn, an ninh tôn giáo, tuyến biên giới
phía Tây, vùng biển, đảo trải dài các tỉnh Bắc Trung Bộ tiềm ẩn nhiều nhân tố
gây mất ổn định, nhất là từ khi Trung Quốc hạ đặt dàn khoan trái phép trong
vùng đặc quyền kinh tế của nước ta; đời sống nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực
lượng vũ trang còn gặp nhiều khó khăn; tình hình tranh chấp đất đai, buôn
lậu, di cư tự do vẫn tiếp tục xảy ra... tác động trực tiếp đến công tác lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh của các cấp ủy vùng này.
Các tỉnh Bắc Trung Bộ có đường biên giới dài giáp Lào với nhiều cửa
khẩu, là trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch, nổi lên là: Các thế lực
thù địch âm mưu "chuyển biên giới Việt - Lào thành biên giới nóng" với hoạt
động vượt biên, di dịch cư tự do, vận chuyển, buôn bán, trao đổi vũ khí... Số
chức sắc tôn giáo cực đoan kích động đòi lại đất đai, cơ sở cũ…, xuyên tạc, vu
cáo chính quyền vi phạm tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Các thế lực thù
địch và bọn phản động tăng cường tuyên truyền nói xấu cán bộ lãnh đạo các cấp,
kích động khiếu kiện đông người, dài ngày làm mất ổn định chính trị ở một số
nơi. Công tác quản lý người nước ngoài, quản lý các khu kinh tế, khu công nghiệp
rất khó khăn, tiềm ẩn nguy cơ địch lợi dụng chống phá, tạo điểm nóng. Những
nhân tố đó tác động gây khó khăn không nhỏ cho hoạt động lãnh đạo, quản lý
của cấp ủy, chính quyền các cấp ở vùng này, trong đó có công tác cán bộ.
Tóm lại, những đặc điểm của các tỉnh Bắc Trung bộ nêu trên có cả
những yếu tố thuận lợi và bất lợi cho công tác cán bộ và phương thức lãnh đạo
của các tỉnh uỷ. Những yếu tố tác động tích cực đó là tính hăng hái thực hiện các
chủ trương của Đảng trong đó có chủ trương về công tác cán bộ và phương thức
36
lãnh đạo công tác cán bộ với tinh thần luôn phát huy truyền thống cách mạng
của vùng đất kiên cường; sự tích cực tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ của
các tầng lớp nhân dân theo tinh thần cách mạng cao; sự phấn đấu tích cực của
đội ngũ cán bộ… Nhưng mặt khác, những đặc điểm đó cũng có ảnh hưởng
tiêu cực đối với vấn đề cán bộ, như xu hướng cục bộ địa phương, chủ trương
có tính cực đoan, thiếu tầm nhìn trong công tác cán bộ… do đó, trong lãnh
đạo công tác cán bộ, các tỉnh uỷ vùng này cần chú ý đề phòng và khắc phục.
1.1.2. Tỉnh ủy các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
1.1.2.1. Khái quát về các đảng bộ tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ
Khu vực Bắc Trung Bộ gồm có 6 đảng bộ tỉnh với 5.536 tổ chức cơ sở
đảng và 599.521 đảng viên. Trong đó:
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa có 27 đảng bộ huyện, thị, thành (01 đảng bộ
thành phố, 02 đảng bộ thị xã, 24 đảng bộ huyện) và 6 đảng bộ trực thuộc, với
1.737 tổ chức cơ sở đảng và 200.477 đảng viên.
Đảng bộ tỉnh Nghệ An có 21 đảng bộ huyện, thị, thành (01 đảng bộ
thành phố, 03 đảng bộ thị xã, 16 đảng bộ huyện) và 7 đảng bộ trực thuộc, với
1.603 tổ chức cơ sở đảng và 174.510 đảng viên.
Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh có 12 đảng bộ huyện, thị, thành (01 đảng bộ
thành phố, 01 đảng bộ thị xã, 10 đảng bộ huyện) và 5 đảng bộ trực thuộc, với
713 tổ chức cơ sở đảng và 87.767 đảng viên.
Đảng bộ tỉnh Quảng Bình có 08 đảng bộ huyện, thị, thành (01 đảng bộ
thành phố, 01 đảng bộ thị xã, 06 đảng bộ huyện) và 6 đảng bộ trực thuộc, với
611 tổ chức cơ sở đảng và 61.627 đảng viên.
Đảng bộ tỉnh Quảng Trị có 10 đảng bộ huyện, thị, thành (01 đảng bộ
thành phố, 01 đảng bộ thị xã, 08 đảng bộ huyện) và 5 đảng bộ trực thuộc, với
513 tổ chức cơ sở đảng và 41.084 đảng viên.
Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế có 9 đảng bộ huyện, thị, thành (01 đảng
bộ thành phố, 02 đảng bộ thị xã, 06 đảng bộ huyện) và 6 đảng bộ trực thuộc,
với 517 tổ chức cơ sở đảng và 38.142 đảng viên (Phụ lục 7).
Nhiệm vụ của các đảng bộ tỉnh là lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng và
37
công tác xây dựng nội bộ Đảng; lãnh đạo chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, xã hội, xã hội - nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh. Mỗi lĩnh vực đời sống xã hội, mỗi tổ chức có chức năng, nhiệm vụ có những điểm khác nhau và có đặc điểm khác nhau nên sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh cũng có những điểm khác nhau đối với từng lĩnh vực, từng tổ chức. Hơn nữa, từng tổ chức kinh tế, xã hội, xã hội - nghề nghiệp có quy mô, tính chất hoạt động khác nhau nên tỉnh ủy phân cấp lãnh đạo cho các cấp ủy trong tỉnh một cách phù hợp và các cấp ủy cũng xác định nội dung và PTLĐ phù hợp đối với từng tổ chức một cách thiết thực và đem lại hiệu quả.
Trong những năm qua, bên cạnh những thuận lợi do thành quả của công cuộc đổi mới đất nước đem lại, tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, duy trì nền nếp sinh hoạt và công tác theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và của các tỉnh ủy, phát huy được tinh thần chủ động, tích cực của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Nội dung lãnh đạo của các đảng bộ tỉnh đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và điều kiện cụ thể ở địa phương. PTLĐ của các đảng bộ tỉnh từng bước được đổi mới. Đảng bộ các tỉnh ở Bắc Trung Bộ luôn coi trọng lãnh đạo HTCT, thường xuyên đổi mới nội dung và PTLĐ đối với chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Nội dung lãnh đạo bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và của các tỉnh ủy về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.
1.1.2.2. Tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ - chức năng, nhiệm vụ,
trách nhiệm, quyền hạn, vai trò và đặc điểm
Tỉnh ủy là gọi tắt của ban chấp hành đảng bộ tỉnh trực thuộc Trung
ương. Điểm 1, Điều 9 Điều lệ Đảng quy định:
Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy) [37, tr. 17].
Điều 19, Điều lệ Đảng cũng quy định: "Cấp ủy tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương (gọi tắt là tỉnh ủy, thành ủy)" [37, tr. 33].
38
Như vậy, cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
giữa hai kỳ đại hội là tỉnh ủy, chức năng của tỉnh ủy ở các tỉnh vùng này là lãnh
đạo, đề xuất với Trung ương các giải pháp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính
trị tại địa phương. Sự lãnh đạo này là lãnh đạo chính trị, tức là tỉnh ủy ra các nghị
quyết, quyết định, tổ chức quán triệt, cụ thể hóa và lãnh đạo tổ chức thực hiện,
tiến hành công tác kiểm tra, giám sát để nghị quyết, quyết định được thực hiện.
Theo quy định của Điều lệ Đảng, đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương do cấp ủy cùng cấp triệu tập thường lệ năm năm một
lần; đại hội thảo luận văn kiện của cấp ủy cấp trên; đánh giá kết quả thực hiện
nghị quyết nhiệm kỳ vừa qua; quyết định nhiệm vụ nhiệm kỳ tới và bầu cấp ủy
(tỉnh ủy, thành ủy). Hội nghị tỉnh ủy, thành ủy bầu ban thường vụ; bầu bí thư và
phó bí thư trong số ủy viên thường vụ; bầu ủy ban kiểm tra; bầu chủ nhiệm ủy
ban kiểm tra trong số ủy viên ủy ban kiểm tra. Số lượng ủy viên ban thường vụ
và ủy viên ủy ban kiểm tra do cấp ủy quyết định theo hướng dẫn của Ban
Chấp hành Trung ương. Ban thường vụ lãnh đạo và kiểm tra, giám sát việc thực
hiện nghị quyết của đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cùng cấp và
cấp trên; quyết định những vấn đề về chủ trương, tổ chức, cán bộ; quyết định
triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của cấp ủy. Thường trực cấp ủy gồm
bí thư, các phó bí thư, chỉ đạo kiểm tra thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy,
của ban thường vụ và cấp ủy cấp trên; giải quyết công việc hằng ngày của đảng
bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của ban thường vụ.
Từ những điều nêu trên có thể thấy, tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
có chức năng, nhiệm vụ sau đây:
* Chức năng của tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo thực hiện các nghị quyết của Đại hội đại
biểu toàn quốc của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, nghị quyết
đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh.
Đại hội đại biểu tỉnh ra nghị quyết lãnh đạo cho cả nhiệm kỳ. Tỉnh ủy
là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội của đảng bộ, có chức năng triển khai
thực hiện, kiểm tra, giám sát bảo đảm cho nghị quyết của đại hội đại biểu
được thực hiện đúng đắn, hiệu quả.
39
Tỉnh ủy quán triệt, cụ thể hóa và lãnh đạo toàn đảng bộ tổ chức thực
hiện các nghị quyết, chỉ thị đó trên địa bàn tỉnh.
Tỉnh ủy lãnh đạo toàn diện đối với tất cả các tổ chức trong HTCT, các
lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh. Sự lãnh đạo của tỉnh ủy đảm
bảo cho các tổ chức trong HTCT và các lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa
bàn tỉnh hoạt động và phát triển theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; đảm bảo cho tổ chức đảng, chính quyền,
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân được xây dựng trong sạch, vững mạnh,
hoạt động có hiệu quả.
Tỉnh ủy còn có chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của tất cả các
tổ chức đảng và đảng viên của đảng bộ tỉnh, song tập trung vào kiểm tra, giám
sát các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc và những đảng viên là cán bộ diện ban
thường vụ đảng ủy quản lý và những nơi có vấn đề đặc biệt phức tạp.
* Nhiệm vụ của tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Lãnh đạo, quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu
toàn quốc, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, các chỉ thị, nghị
quyết của Bộ Chính trị… trên địa bàn tỉnh.
Quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh trong
nhiệm kỳ.
Lãnh đạo các tổ chức trong HTCT tỉnh {Hội đồng nhân dân (HĐND),
UBND, các cơ quan tư pháp, MTTQ, các đoàn thể nhân dân} thực hiện đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ trương, chỉ
thị, nghị quyết tỉnh ủy về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh...
Lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội, trên địa bàn tỉnh.
Lãnh đạo và tiến hành công tác xây dựng đảng bộ tỉnh; lãnh đạo công
tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ,. nhất là cán bộ diện ban thường vụ tỉnh
ủy quản lý.
Lãnh đạo các huyện, thị, thành ủy và các đảng ủy trực thuộc thực hiện
nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh; chủ trương, chỉ thị, nghị quyết tỉnh ủy.
Lãnh đạo các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, các đơn vị
sự nghiệp của tỉnh ủy thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ.
40
Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên trong đảng bộ tỉnh, trước hết là các tổ chức đảng trực thuộc, các đảng viên là cán bộ diện ban thường vụ quản lý trở lên.
Chuẩn bị và tổ chức đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh. * Trách nhiệm, quyền hạn của tỉnh ủy ở các tỉnh ở Bắc Trung Bộ Căn cứ Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI); Quy định 51-QĐ/TW ngày 14-7-2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nhiệm vụ và quan hệ công tác của thường trực tỉnh ủy, thành ủy; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 16-6-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh ủy, thành ủy với các đảng đoàn, ban cán sự đảng trực thuộc, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn cụ thể của ban chấp hành đảng bộ tỉnh, ban thường vụ tỉnh ủy và thường trực tỉnh ủy, ban chấp hành đảng bộ các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ được Đại hội đại biểu đảng bộ các tỉnh bầu ra, gọi tắt là tỉnh ủy, là cơ quan lãnh đạo của các đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội. Trong tỉnh ủy có ban thường vụ tỉnh ủy, là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ họp ban chấp hành đảng bộ tỉnh. Ngoài ra còn có thường trực tỉnh ủy, giải quyết công việc hàng ngày của tỉnh ủy. Tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy có trách nhiệm, quyền hạn sau đây:
- Trách nhiệm, quyền hạn của ban chấp hành Thứ nhất, quyết định chương trình làm việc toàn khóa (hoặc nửa khóa) của tỉnh ủy; chương trình kiểm tra, giám sát của tỉnh ủy; quy chế làm việc của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy, thường trực tỉnh ủy và quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra tỉnh ủy.
Thứ hai, quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các nghị quyết của Trung ương và nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh; cụ thể hóa thành các đề án, chương trình, kế hoạch để thực hiện trên các ngành, lĩnh vực và các địa phương trong tỉnh.
Thứ ba, định hướng xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách; quyết định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 10 năm; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm và hằng năm.
41
Thứ tư, cho ý kiến đối với một số chương trình, danh mục dự án lớn quan
trọng và các cơ chế để tổ chức thực hiện theo đề nghị của ban thường vụ tỉnh ủy.
Thứ năm, định hướng công tác xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng,
tổ chức cán bộ, công tác dân vận và xây dựng HTCT.
Thứ sáu, lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát; quyết định thi
hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên hoặc đề nghị cấp trên thi hành
kỷ luật theo quy định của Điều lệ Đảng.
Thứ bẩy, về công tác tổ chức cán bộ:
Lãnh đạo công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp ở
địa phương;
Quyết định phương án thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn
vị hành chính cấp huyện, trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định;
Quyết định cơ cấu, số lượng, ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban
thường vụ, ủy viên ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, và chủ nhiệm ủy ban kiểm tra
tỉnh ủy; trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhân sự giới thiệu ứng cử các chức
danh bí thư, phó bí thư tỉnh ủy; chủ tịch HĐND tỉnh, chủ tịch UBND tỉnh,
nhân sự bổ sung ủy viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh; giới thiệu người ứng
cử hoặc người được đề nghị chỉ định bổ sung ủy viên ban chấp hành đảng bộ
tỉnh; giới thiệu chức danh chủ tịch HĐND tỉnh, chủ tịch UBND tỉnh để
HĐND tỉnh bầu; tham gia ý kiến về nhân sự phó chủ tịch HĐND, phó chủ
tịch UBND tỉnh trước khi ban thường vụ tỉnh ủy quyết định, giới thiệu để
HĐND tỉnh bầu.
Thứ tám, xem xét, góp ý đối với báo cáo kiểm điểm công tác lãnh
đạo, chỉ đạo của ban thường vụ tỉnh ủy và báo cáo kiểm điểm trách nhiệm của
tập thể thường trực tỉnh ủy hằng năm. Xem xét báo cáo hằng năm, báo cáo
cuối nhiệm kỳ, báo cáo bất thường của ủy ban kiểm tra tỉnh ủy.
Thứ chín, chuẩn bị và triệu tập đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ
tiếp theo.
Thứ mười, thảo luận và cho ý kiến về những công việc khác theo đề
nghị của ban thường vụ tỉnh ủy.
42
- Trách nhiệm, quyền hạn của ban thường vụ tỉnh ủy
Ban thường vụ tỉnh ủy chịu trách nhiệm trước ban chấp hành đảng bộ
tỉnh, lãnh đạo mọi mặt công tác của đảng bộ giữa hai kỳ hội nghị ban chấp
hành, có trách nhiệm, quyền hạn:
Thứ nhất, cho ý kiến về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và các
giải pháp chủ yếu trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 10 năm; kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm, hằng năm và kế hoạch ngân sách
hằng năm để trình ban chấp hành đảng bộ tỉnh.
Thứ hai, lãnh đạo đẩy mạnh xã hội hóa, nâng cao chất lượng, hiệu quả
các hoạt động khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, văn hóa - xã hội, y tế,
thể dục thể thao.
Thứ ba, định hướng về công tác quốc phòng - an ninh; công tác cải
cách hành chính; phòng, chống tham nhũng; công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo của công dân và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Cho chủ trương xử lý
các vấn đề đột xuất, bất ngờ liên quan đến an ninh trật tự; đến vấn đề tôn giáo,
dân tộc; thiên tai, dịch bệnh...
Thứ tư, lãnh đạo đổi mới và nâng cao chất lượng công tác chính trị tư
tưởng, công tác cán bộ, công tác dân vận và xây dựng HTCT; công tác kiểm
tra, giám sát và kỷ luật Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn
của Trung ương.
Thứ năm, quyết định về công tác tổ chức cán bộ:
Về tổ chức bộ máy
Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể và giải tán các tổ
chức đảng, các cơ quan tham mưu, đơn vị trực thuộc tỉnh ủy theo nghị quyết,
quy định của Trung ương;
Quyết định chủ trương, sáp nhập, chia tách, giải thể các cơ quan quản
lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh và đơn vị hành chính xã, phường, thị
trấn theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cấp có thẩm quyền;
Quyết định khen thưởng, kỷ luật các tổ chức đảng và đảng viên theo
quy định của Điều lệ Đảng.
43
Về công tác cán bộ
Nhận xét, đánh giá, phân công công tác, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng,
bổ sung, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ
luật, nghỉ hưu và thực hiện chính sách đối với các chức danh cán bộ diện tỉnh
ủy và ban thường vụ tỉnh ủy quản lý;
Chuẩn bị nhân sự để ban chấp hành đảng bộ tỉnh xem xét, đề nghị Bộ
Chính trị, Ban Bí thư giới thiệu nhân sự: ứng cử chức danh bí thư, phó bí thư
tỉnh ủy, chủ tịch HĐND tỉnh, chủ tịch UBND tỉnh, chỉ định bổ sung ủy viên
ban chấp hành đảng bộ tỉnh; giới thiệu nhân sự bầu bổ sung ủy viên ban
thường vụ tỉnh ủy;
Đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư bố trí, phân công công tác, nhận xét,
đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu và thực hiện
chính sách đối với các chức danh cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản
lý về công tác tại địa phương;
Quyết định kiểm tra công tác cán bộ ở các ngành, các cấp, các thành
viên trong HTCT của tỉnh;
Chuẩn y ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, chủ nhiệm,
phó chủ nhiệm, ủy viên ủy ban kiểm tra huyện, thị, thành ủy và đảng ủy trực
thuộc; khi cần thiết chỉ định bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ, ủy viên
ban chấp hành huyện, thị thành ủy và đảng ủy trực thuộc;
Chỉ định đảng đoàn, ban cán sự đảng và bí thư đảng đoàn, bí thư ban
cán sự đảng một số cơ quan nhà nước, MTTQ và các đoàn thể cấp tỉnh;
Tham gia ý kiến với ban cán sự đảng, đảng đoàn các cơ quan Trung
ương về bố trí, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo là cấp trưởng, cấp phó của tổ chức
theo ngành dọc công tác và sinh hoạt đảng tại địa phương;
Tham gia ý kiến với Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung
ương, Đảng ủy Quân khu 4 và Đảng ủy Bộ Tư lệnh bộ đội Biên phòng về chỉ
huy trưởng, phó chỉ huy trưởng, chính ủy, phó chính ủy quân sự, bộ đội biên
phòng tỉnh, giám đốc, phó giám đốc công an tỉnh;
Xét đề nghị khen thưởng từ Huân chương Lao động hạng Ba trở lên đối
với tập thể, cá nhân có thành tích theo quy định của Luật Thi đua - Khen thưởng;
44
Thứ sáu, lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể nhân dân tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
* Vai trò của tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Thứ nhất, tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ có vai trò quyết định việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng; nghị quyết đại hội đại biểu của đảng bộ tỉnh; nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh và công tác xây dựng Đảng của đảng bộ tỉnh.
Tỉnh ủy là cơ quan tiếp nhận đường lối, chủ trương của Đảng qua các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng; trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng, tỉnh ủy, thành ủy quán triệt, cụ thể hóa thành nghị quyết, chỉ thị, chính sách trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đây là nhân tố rất quan trọng bảo đảm cho đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng được thực hiện. Tỉnh ủy đề ra chủ trương, nghị quyết xác định các giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh ở địa phương và lãnh đạo tổ chức thực hiện; tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương... Sự phát triển mọi mặt của tỉnh phụ thuộc rất lớn vào sự lãnh đạo của tỉnh ủy. Thứ hai, tỉnh ủy ở các tỉnh ở Bắc Trung Bộ có vai trò quan trọng đối
với hoạt động của các huyện, thị, thành ủy, các đơn vị trực thuộc tỉnh ủy.
Tỉnh ủy ở các tỉnh ở Bắc Trung Bộ là cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các huyện, thị, thành ủy, đảng ủy trực thuộc, có vai trò, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ, kiểm tra cấp ủy huyện, thị xã, thành phố và các đảng bộ trực thuộc tỉnh ủy, có vai trò và ảnh hưởng lớn đến tổ chức, hoạt động của các tổ chức đó. Trong nhiều trường hợp, vai trò của tỉnh ủy được thể hiện và phát huy đã trở thành nhân tố quyết định sự vươn lên, vững mạnh của một số cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc.
Thứ ba, tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ có vai trò to lớn đối với xây dựng và hoạt động có hiệu quả của chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân, các lực lượng vũ trang địa phương.
Chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân, các lực lượng vũ trang
địa phương được xây dựng vững mạnh, hoạt động có hiệu quả vì đất nước và
45
nhân dân, trước hết là nhân dân địa phương, phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị của địa phương khi được định hướng chính trị đúng đắn. Trong điều
kiện Đảng duy nhất cầm quyền, điều này chỉ có thể được thực hiện bởi tỉnh ủy
ở từng tỉnh. Đây là chức năng, nhiệm vụ và là trách nhiệm của các tỉnh ủy, là
điều thể hiện rõ và khẳng định vai trò của tỉnh ủy.
* Đặc điểm của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ
Thứ nhất, tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ được kế thừa truyền thống
cách mạng và đức tính cần cù, sáng tạo, tiết kiệm, tận tụy với công việc của các
thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân trong các thời kỳ cách mạng trước đây.
Các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ là một trong những cái nôi của cách
mạng. Các tổ chức đảng khu vực này có truyền thống cách mạng hào hùng, đã
sớm lãnh đạo nhân dân vùng lên đánh đổ đế quốc xâm lược và bọn tay sai.
Đây là nơi diễn ra nhiều cuộc chiến đấu quyết liệt giữa nhân dân ta dưới sự
lãnh đạo của Đảng với các thế lực xâm lược, hiếu chiến tàn bạo. Các tỉnh ủy ở
vùng này được tôi luyện và trưởng thành từng bước trong thời chiến. Trong
thời bình, lãnh đạo xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, các thế hệ cán bộ,
đảng viên, nhân dân và nhất là các tỉnh ủy viên ở các tỉnh vùng này đã nêu
tấm gương cần cù, hiếu học, sáng tạo, tiết kiệm, vượt qua khó khăn, gian khổ
lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
đạt kết quả đáng khích lệ. Những truyền thống đó là gia tài quý giá cho các
tỉnh ủy vùng này trong hoạt động lãnh đạo xây dựng Đảng và lãnh đạo thực
hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh hiện nay.
Thứ hai, tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ hoạt động trong môi trường
tự nhiên khó khăn, khắc nghiệt, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn so với
nhiều vùng, miền khác ở nước ta.
Bên cạnh một số thuận lợi, môi trường hoạt động của các tỉnh ủy còn
gặp nhiều khó khăn, khắc nghiệt nhất so với các vùng, miền ở nước ta. Đó là
thiên nhiên rất khắc nghiệt, bão, lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra, cơ sở hạ
tầng thấp kém, xuống cấp; phong tục, tập quán lạc hậu ở nhiều nơi có xu
hướng gia tăng, nhất là ở vùng núi; điều kiện đi lại giữa miền tây và miền
đông mỗi tỉnh còn nhiều khó khăn; những phức tạp ở vùng biên giới, tệ nạn
46
xã hội, các hoạt động phá hoại của các thế lực phản động ẩn nấp ở vùng biên
giới; những phức tạp, căng thẳng về tranh chấp chủ quyền biển đảo nước ta
tác động trực tiếp đến hoạt động của các tỉnh ủy...
Thứ ba, cơ cấu, trình độ mọi mặt và năng lực công tác của đội ngũ
tỉnh ủy viên đã được nâng lên một bước.
Số lượng tỉnh ủy viên ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, nhìn chung ổn định theo số lượng được phê duyệt khi đại hội đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ vừa qua. Ngoài ra, ở một số tỉnh, có một số cán bộ được Trung ương Đảng quyết định luân chuyển về tỉnh công tác và một số tỉnh ủy viên được cấp trên điều động lên Trung ương nhận nhiệm vụ. Bởi vậy, nhìn chung số lượng tỉnh ủy viên ở các tỉnh vùng này trong nhiệm kỳ hiện tại là ổn định.
Cơ cấu giới tính, dân tộc của tỉnh ủy được cải thiện đáng kể. Trong tổng số 354 tỉnh ủy viên của đảng bộ các tỉnh nhiệm kỳ 2010 -2015, có 43 đồng chí là nữ, chiếm trên 12%; có 136 đồng chí là người dân tộc thiểu số, chiếm 30%. Trên cơ sở những thành tựu của công cuộc đổi mới, sự phát triển của sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của Đảng và truyền thống hiếu học, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ nói chung, của đội ngũ tỉnh ủy viên các tỉnh Bắc Trung Bộ nói riêng nâng cao khá rõ. Hiện đã có 83 đồng chí tỉnh ủy viên có trình độ trên đại học, chiếm hơn 23 %, số còn lại có trình độ cao đẳng và đại học; tất cả cán bộ có trình độ cao cấp và cử nhân lý luận chính trị (Phụ lục 8). Năng lực tổ chức thực tiễn được nâng lên, tất cả tỉnh ủy viên đều hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Một số đồng chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; nhiều tỉnh ủy viên được tái cử nhiệm kỳ thứ hai.
Thứ tư, đối tượng lãnh đạo của tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đa
dạng, có nhiều thế mạnh, song cũng có nhiều hạn chế, yếu kém.
Khu vực Bắc Trung Bộ có số lượng tổ chức đảng và đảng viên tương đối cao, trình độ mọi mặt vào loại cao so với nhiều nơi khác trong cả nước, có nhiệt tình cách mạng, chịu đựng và vượt qua gian khổ, tin tưởng tuyết đối vào sự lãnh đạo của Đảng. Nhân dân vùng này chịu thương, chịu khó, tiết kiệm, có tinh thần đoàn kết, đồng cam, cộng khổ…
Tuy nhiên, đối tượng lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng Bắc Trung Bộ
cũng còn nhiều khó khăn, hạn chế: Đời sống vật chất của đội ngũ cán bộ,
47
đảng viên còn nhiều khó khăn; một bộ phận đảng viên, kể các cán bộ các cấp
thiếu vươn lên trong học tập nâng cao trình độ, nói và làm còn chưa thống
nhất; chưa gương mẫu rèn luyện giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của bản
thân và gia đình dẫn tới sa sút ý chí chiến đấu, vi phạm kỷ luật; quan hệ huyết
thống dòng họ, tư tưởng gia trưởng, phong kiến trọng nam, khinh nữ còn khá
nặng; còn có biểu hiện gây phiền hà, sách nhiễu dân, còn tình trạng cán bộ
đảng viên tham nhũng, lãng phí, bị thi hành kỷ luật đảng và pháp luật Nhà
nước. Đặc biệt, những biểu hiện say sưa với quá khứ, với những chiến công
của thời kỳ cách mạng trước, ở những mức độ khác nhau còn biểu hiện ở
không ít cán bộ, đảng viên. Tình trạng này, một mặt, hạn chế phát triển tư duy
tìm tòi giải pháp thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương đạt kết quả cao,
mặt khác, dễ có những cách nhìn, cách đánh giá chưa chuẩn xác về những yếu
kém trong Đảng, chính quyền và nhất là đối với thế hệ trẻ, cản trở việc tìm sự
đồng thuận thế hệ và việc giải pháp khả thi trong cổ vũ động viên thế hệ trẻ
vươn lên. Có lẽ đây là một nguyên nhân đáng quan tâm để lý giải một thực tế
là: Trong các cuộc kháng chiến, ở những nơi chiến tranh ác liệt, nhân dân và
thế hệ trẻ kiên cường, bất khuất lập nhiều chiến công hiển hách thì hiện nay
thường là những nơi chậm phát triển, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.
Bên cạnh những mặt tích cực, trong không ít người dân vùng này, còn có
biểu hiện của tư tưởng bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Điều này gây khó khăn
không nhỏ đối với sự lãnh đạo của các tỉnh ủy trong thực hiện sự nghiệp đổi mới.
1.2. CÔNG TÁC CÁN BỘ VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
CÁN BỘ CỦA CÁC TỈNH ỦY VÙNG BẮC TRUNG BỘ - KHÁI NIỆM, NỘI DUNG
1.2.1. Công tác cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ - khái niệm, vai trò
1.2.1.1. Khái niệm về cán bộ và công tác cán bộ ở các tỉnh Bắc
Trung Bộ
* Khái niệm về cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ thuộc phạm vi tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc
Trung Bộ lãnh đạo bao gồm nhiều loại cán bộ lãnh đạo, quản lý của tổ chức
đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, đơn vị sự
nghiệp công, doanh nghiệp nhà nước và do nhiều cấp, nhiều tổ chức quản lý
48
từ tỉnh đến cơ sở. Toàn bộ các loại cán bộ các cấp đó tạo thành đội ngũ cán
bộ của các tỉnh. Chất lượng của đội ngũ cán bộ các tỉnh Bắc Trung Bộ phụ
thuộc vào ba yếu tố chủ yếu là số lượng; cơ cấu; phẩm chất chính trị, đạo đức,
trình độ, năng lực, phong cách của đội ngũ cán bộ.
* Khái niệm công tác cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Để xây dựng đội ngũ cán bộ của các tỉnh ở Bắc Trung Bộ, cấp ủy, tổ
chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở các
tỉnh phải tiến hành đồng bộ các mặt công tác: xây dựng tiêu chuẩn cán bộ;
tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, đánh giá, bổ nhiệm,
quản lý, thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ… Toàn bộ các mặt công
tác này tạo thành nội dung công tác cán bộ của của tỉnh. Như vậy, công tác
cán bộ của các tỉnh Bắc Trung Bộ là toàn bộ các hoạt động của cấp ủy, tổ
chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở để
tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bố trí sử dụng cán bộ…
nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tỉnh.
Công tác cán bộ của các tỉnh ở Bắc Trung Bộ có nhiều nội dung,
nhiệm vụ nhưng tập trung ở thực hiện các khâu công tác, như: quy hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, đánh giá, bổ nhiệm, quản lý, thực hiện chính
sách cán bộ… để xây dựng đội ngũ cán bộ theo mục tiêu đã xác định.
Công tác cán bộ của tỉnh là nhiệm vụ của cả HTCT dưới sự lãnh đạo
của đảng bộ tỉnh, trong đó trực tiếp, thường xuyên là tỉnh ủy, nhằm xây dựng
đội ngũ cán bộ cho HTCT các cấp trong tỉnh. Chủ thể chịu trách nhiệm cao
nhất về công tác cán bộ của tỉnh là đảng bộ tỉnh. Chính quyền vừa xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước, vừa thực hiện các nhiệm vụ xây dựng
đội ngũ cán bộ của các tổ chức khác trong HTCT và tạo nguồn nhân lực cho
sự phát triển toàn xã hội. MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội vừa có trách
nhiệm xây dựng đội ngũ cán bộ của mình vừa tham gia xây dựng đội ngũ cán
bộ của Đảng nói chung.
1.2.1.2. Vai trò của công tác cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã luận bàn và chỉ rõ vai trò đặc biệt quan trọng của công tác cán bộ.
49
Luận điểm nổi tiếng của V.I. Lênin: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào
giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của
mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức
và lãnh đạo phong trào" [55, tr. 473]. Việc đào tạo cán bộ, theo V.I. Lênin có
vai trò đặc biệt quan trọng, bao gồm cả đào tạo, bồi dưỡng ở trường và quan
trọng hơn là trong thực tiễn, được tiến hành thường xuyên, liên tục. V.I. Lênin
cũng chỉ rõ việc lựa chọn và bố trí cán bộ là một khâu rất trọng yếu của công
tác cán bộ và nhiệm vụ quan trọng của Đảng. Nếu không lựa chọn và bố trí
đúng cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý thì chỉ thị, nghị quyết đúng đắn
của Đảng không được thực hiện, thậm chí sẽ trở thành "mớ giấy lộn".
Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luận chứng một cách khoa học
vai trò đặc biệt quan trọng của cán bộ, từ đó, khẳng định vai trò của công tác
cán bộ: "Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng" [76, tr. 269]. Huấn
luyện cán bộ bao gồm nhiều việc từ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, luân chuyển
quản lý cán bộ, đến khen thưởng động viên, khuyến khích cán bộ tự phê bình,
phê bình... đó là những công việc rất quan trọng và là các khâu của công tác
cán bộ, có vai trò rất quan trọng tạo nên đội ngũ cán bộ có chất lượng tốt đáp
ứng yêu cầu của cách mạng.
Trong công cuộc đổi mới Đảng ta luôn khẳng định vai trò to lớn của
công tác cán bộ. Đó là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, "đổi
mới tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém trong các khâu của công tác
cán bộ" [36, tr. 261], tạo nên đội ngũ cán bộ bảo đảm thực hiện thắng lợi mục
tiêu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới.
Từ luận giải trên, có thể thấy vai trò của công tác cán bộ ở các tỉnh
Bắc Trung Bộ được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Một là, công tác cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là nhân tố quyết định
tạo nên đội ngũ cán bộ ở các tỉnh có chất lượng tốt bảo đảm thực hiện thắng
lợi đường lối đổi mới của Đảng trên địa bàn tỉnh và nhiệm vụ chính trị của
địa phương.
Muốn có đội ngũ cán bộ ở các tỉnh có chất lượng tốt phải thực hiện tốt
công tác cán bộ, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ. Thực tế cho thấy, nguyên
50
nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém của đội ngũ cán bộ ở các tỉnh
thuộc về những hạn chế yếu kém trong công tác cán bộ của các tỉnh. Đây
chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân của tình trạng kinh tế - xã hội
phát triển chậm, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc
phòng ở các địa phương không được đảm bảo và tăng cường.
Hai là, công tác cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là một bộ phận rất
quan trọng của công tác xây dựng Đảng của đảng bộ ở các tỉnh vùng này, bảo
đảm cho các cấp ủy có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao hoàn thành tốt
chức năng, nhiệm vụ.
Ba là, công tác cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là nhân tố quyết định
việc xây dựng tổ chức bộ máy và hoạt động có hiệu quả của các tổ chức trong
HTCT ở địa phương.
Trong điều kiện đảng cầm quyền, Đảng có chức năng, nhiệm vụ và
trách nhiệm lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, cán bộ của cả HTCT. Đối với
tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, trách nhiệm, nhiệm vụ lãnh đạo lãnh đạo
xây dựng tổ chức bộ máy, cán bộ của HTCT của địa phương. Các tổ chức này
chỉ có thể trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu quả khi công tác tổ chức,
cán bộ của các tỉnh ủy đối với các tổ chức trong HTCT địa phương có chất
lượng tốt. Chính vì vai trò quan trọng đó, Đảng đã khẳng định nguyên tắc
"Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo
nguyên tắc tập trung dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức
và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị" [35, tr. 241].
1.2.1.3. Tỉnh ủy lãnh đạo công tác cán bộ
Tỉnh uỷ lãnh đạo công tác cán bộ là việc tỉnh ủy đề ra các chủ trương,
quyết định về công tác cán bộ trên địa bàn tỉnh; tổ chức thực hiện các chủ
trương, quyết định đó và kiểm tra, giám sát thực hiện, nhằm thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ công tác cán bộ của tỉnh.
* Đối tượng chịu sự lãnh đạo của tỉnh ủy trong công tác cán bộ gồm:
Cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới: Các huyện ủy - đảng ủy cơ sở; cấp ủy
các ngành; Ban cán sự đảng UBND tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án
nhân dân tỉnh; các đảng đoàn…
51
Chính quyền các cấp, trực tiếp là chính quyền tỉnh
Mặt trận và các đoàn thể.
Mỗi đối tượng lãnh đạo, mỗi loại cán bộ, tỉnh ủy có nội dung, PTLĐ
các mặt công tác cán bộ khác nhau: Đối với cán bộ diện ban thường vụ tỉnh
ủy quản lý: tỉnh ủy vừa trực tiếp tiến hành, vừa lãnh đạo các cấp ủy, tổ chức
đảng có liên quan tham gia; đối với cán bộ không thuộc diện ban thường vụ
thì tỉnh ủy chỉ lãnh đạo.
* Nội dung tỉnh ủy lãnh đạo công tác cán bộ bao gồm các vấn đề
chủ yếu:
Lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước và của nghị quyết của đại hội đảng bộ tỉnh về công tác cán bộ
Đây là nội dung lãnh đạo quan trọng về công tác cán bộ của tỉnh ủy.
Các nội dung lãnh đạo khác về cán bộ phải trên cơ sở nội dung lãnh đạo này.
Việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước về
công tác cán bộ, việc xây dựng nội dung về công tác cán bộ được Đại hội
đảng bộ tỉnh thông qua là nhiệm vụ rất quan trọng trong định hướng xây dựng
đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực thực hiện nhiệm vụ với đòi hỏi
ngày càng cao. Trong điều kiện hiện nay, việc lãnh đạo cụ thể hóa các chủ
trương, nghị quyết để xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm đòi hỏi thực tế
CNH, HĐH, hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế đang là vấn đề đặt ra khá
nóng bỏng, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của tỉnh ủy.
Lãnh đạo chính quyền thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng
về công tác cán bộ trong tỉnh
Việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về công tác cán
bộ và những chủ trương của đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh, của tỉnh ủy về công
tác cán bộ thành các văn bản pháp quy, thành chương trình, kế hoạch thực
hiện của chính quyền là vấn đề tất yếu và rất quan trọng trong điều kiện đảng
cầm quyền hiện nay. Những định hướng trong xây dựng đội ngũ cán bộ trên
địa bàn tỉnh, nhất là định hướng đổi mới công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu đặt
ra là vấn đề căn cốt cần được chính quyền thể chế hóa, hiện thực hóa để chủ
trương về công tác cán bộ đi vào cuộc sống. Thực tiễn cho thấy, vấn đề đặt ra
52
là làm thế nào để các chủ trương về công tác cán bộ của Trung ương, của tỉnh
sớm được thể chế hóa, kịp thời đáp ứng yêu cầu đặt ra về công tác lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị. Yêu cầu này đòi hỏi tỉnh ủy phải thực
hiện thật tốt nội dung lãnh đạo chính quyền tỉnh thể chế hóa chủ trương,
chính sách của Đảng về công tác cán bộ trong tỉnh.
Lãnh đạo việc thực hiện các khâu công tác cán bộ
Các khâu công tác cán bộ là những nội dung công việc trực tiếp xây
dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh. Do đó, để lãnh đạo tốt công tác cán bộ thì các
tỉnh ủy phải tập trung lãnh đạo thực hiện đầy đủ các khâu công tác cán bộ trên
địa bàn tỉnh. Trong lãnh đạo thực hiện các khâu công tác cán bộ hiện nay, các
tỉnh ủy cần chú trọng lãnh đạo việc đổi mới nhận thức, phương pháp, cách
thức thực hiện các khâu của công tác cán bộ. Việc đổi mới trong đánh giá cán
bộ cần được coi trọng, tránh đánh giá hình thức, nặng về cảm tính; coi trọng
công tác quy hoạch cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp. Nâng cao chất
lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ theo hướng thực tế,
tính đến hiệu quả trong đào tạo, rèn luyện cán bộ. Trong điều động, bố trí, sử
dụng cán bộ, quản lý, thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ, tiếp tục
lãnh đạo để thực hiện có chất lượng các quy định của Trung ương, của tỉnh
theo hướng khách quan, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của đội ngũ cán bộ.
Lãnh đạo công tác cán bộ của chính quyền và các tổ chức trong
HTCT của tỉnh
Tỉnh ủy có trách nhiệm quan trọng là lãnh đạo thực hiện công tác cán
bộ của chính quyền và các tổ chức trong HTCT thông qua việc định hướng
xây dựng đội ngũ cán bộ của các tổ chức này. Công tác cán bộ được tỉnh ủy
thống nhất chỉ đạo bằng nghị quyết, kết luận…, chỉ đạo chính quyền, các tổ
chức trong HTCT thực hiện. Chính quyền, các tổ chức trong HTCT, trên cơ
sở định hướng của tỉnh ủy, căn cứ luật định, quy định, điều lệ của tổ chức
mình sẽ cụ thể hóa việc xây dựng đội ngũ cán bộ phù hợp.
Lãnh đạo công tác cán bộ của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới
Việc lãnh đạo công tác cán bộ cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới của tỉnh ủy
là việc lãnh đạo trực tiếp theo hệ thống. Thông qua nghị quyết, kết luận, quy chế,
53
quy định, hướng dẫn…, tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng ở
các cấp có phẩm chất chính trị, có năng lực, trình độ thực hiện nhiệm vụ được
giao. Việc tỉnh ủy lãnh đạo cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới xây dựng đội ngũ cán
bộ hiện nay đòi hỏi phải có những đổi mới mạnh mẽ trước yêu cầu thực tế đặt ra.
1.2.2. Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy ở các tỉnh
Bắc Trung Bộ - khái niệm, nội dung và những vấn đề chủ yếu về đổi mới
phương thức lãnh đạo công tác cán bộ
1.2.2.1. Khái niệm phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh
ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
* Khái niệm phương thức lãnh đạo của Đảng
Theo Đại Từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, "phương thức"
là phương pháp và hình thức tiến hành, "phương pháp" là cách thức tiến hành
để có hiệu quả cao [104, tr. 1351-1352]. Nói cách khác, "phương thức" là hình
thức, phương pháp hay cách thức tiến hành công việc để có hiệu quả cao.
Nếu phương thức tiến hành công việc được xác định đúng đắn, phù
hợp với công việc, sẽ đem lại hiệu quả cao; ngược lại, nếu phương thức tiến
hành công việc được xác định không đúng đắn, phù hợp thì hiệu quả đạt được
sẽ thấp, thậm chí không đạt hiệu quả. Bởi vậy, phải xuất phát từ công việc để
lựa chọn phương thức thực hiện. Xem nhẹ, hoặc bỏ qua điều này sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả công việc.
Khái niệm phương thức lãnh đạo của Đảng chính thức được sử dụng
lần đầu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa VI (3-1989).
Sau đó, vấn đề này được Đảng và được một số nhà khoa học, cán bộ hoạt
động thực tiễn quan tâm nghiên cứu và ngày càng sáng tỏ.
Đồng chí Đào Duy Tùng, nguyên ủy viên Bộ Chính trị khóa VII, cho
rằng: PTLĐ của Đảng "là hệ thống phương pháp, hình thức, biện pháp mà
Đảng vận dụng để tác động vào các lực lượng, các tổ chức nhằm đạt được nội
dung lãnh đạo". Theo đồng chí Lê Huy Ngọ, nguyên Phó Trưởng Ban
Thường trực Ban Tổ chức Trung ương Đảng: PTLĐ của Đảng "là hệ thống
các hình thức, các phương pháp Đảng vận dụng để tác động vào hệ thống
chính trị - xã hội nhằm đạt được mục tiêu nội dung lãnh đạo của Đảng".
54
Tác giả Trần Đình Nghiêm trong sách Đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng, xuất bản năm 2002, đã định nghĩa:
Phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các hình thức, phương
pháp, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác mà
Đảng sử dụng trong việc hoạch định đường lối để tác động vào các
tổ chức, con người trong hệ thống chính trị và cả xã hội nhằm làm
cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được thực hiện có
hiệu quả cao nhất trong cuộc sống [78, tr. 201].
Các định nghĩa này đều tiếp cận theo hướng khái quát hóa, trừu tượng
hóa khái niệm PTLĐ của Đảng mà không đi theo hướng chỉ ra những cách
thức lãnh đạo cụ thể của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH ở nước ta do Đại hội VII (1991) đã tiếp cận khái niệm
PTLĐ của Đảng theo hướng chỉ ra khá đầy đủ, chi tiết những cách thức lãnh
đạo của Đảng:
Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng
về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền,
thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương
mẫu của Đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ
năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo
chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của
các tổ chức khác trong hệ thống chính trị [18, tr. 21].
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng đã bổ sung
thêm một điểm quan trọng của khái niệm "phương thức lãnh đạo của Đảng":
Đảng "lãnh đạo thông qua tổ chức đảng chứ không chỉ thông qua cá nhân
đảng viên" [19, tr. 63].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh:
Tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc của Đảng theo hướng
thực sự dân chủ, kỷ cương, thiết thực, sâu sát cơ sở, sâu sát quần
chúng; làm việc có chương trình, kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm,
nói đi đối với làm. Đổi mới cách ra nghị quyết, văn kiện và báo cáo
phải ngắn gọn, thiết thực, cụ thể; đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu
55
quả của hội nghị. Cấp ủy dành nhiều thời gian tổ chức, chỉ đạo, kiểm
tra, tổng kết việc thực hiện nghị quyết; chỉ đạo hoạt động của Nhà
nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân... Xây dựng và thực hiện
chế độ báo cáo xin ý kiến... Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải báo cáo,
xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương về hoạt động của mình giữa
hai kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương [26, tr. 310-311].
Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
(bổ sung, phát triển năm 2011) do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã
trình bày rõ thêm việc Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên
hoạt động trong các tổ chức của HTCT:
Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng lớn về
chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, giáo dục,
thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành
động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác
cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có
đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo
của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng
viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị [38, tr. 88-89].
Từ những khái niệm đã phân tích trên có thể thấy: Phương thức lãnh đạo
của Đảng là hệ thống các hình thức, phương pháp mà Đảng sử dụng để tác động
vào đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện tốt các nội dung lãnh đạo của Đảng.
Phương thức lãnh đạo của Đảng có quan hệ biện chứng với nội dung
lãnh đạo, nếu nội dung lãnh đạo của Đảng (trong đó có công tác cán bộ) được
thể hiện trong cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng thì
phương thức lãnh đạo là cách thức mà Đảng thực hiện nội dung lãnh đạo và là
yếu tố quan trọng bảo đảm cho đường lối được thực hiện trong cuộc sống.
Khi nhiệm vụ cách mạng và nội dung lãnh đạo thay đổi thì phương thức lãnh
đạo của Đảng phải cũng phải có những thay đổi phù hợp.
Từ quan niệm này và quan điểm của Đảng, cho thấy PTLĐ của Đảng
bao gồm những hình thức, phương pháp chủ yếu sau:
56
Thứ nhất, Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng
lớn về chính sách và chủ trương lớn các lĩnh vực của đời sống xã hội; về tổ
chức, hoạt động của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ hai, Đảng lãnh đạo bằng bằng công tác tuyên truyền, giáo dục,
thuyết phục, vận động nhân dân thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng và
chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thứ ba, Đảng lãnh đạo bằng công tác tổ chức, cán bộ. Là đảng cầm
quyền, Đảng xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà nước, các tổ chức
chính trị - xã hội phù hợp để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời,
với nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ
cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt
động trong các cơ quan lãnh đạo của HTCT, Đảng thông qua chính đội ngũ
cán bộ đó mà lãnh đạo các tổ chức trong HTCT và các tổ chức xã hội khác.
Thứ tư, Đảng lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức
đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính
trị - xã hội, các lĩnh vực đời sống của xã hội; lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan
chức năng của các tổ chức này tiến hành thanh tra, kiểm soát, kiểm tra hoạt
động của các cơ quan và cán bộ, công chức của các tổ chức đó.
Thứ năm, Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên.
Thứ sáu, Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt
động trong các tổ chức của HTCT, các tổ chức kinh tế, xã hội…
* Khái niệm phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ
Đảng lãnh đạo công tác cán bộ là lãnh đạo một lĩnh vực trọng yếu. Từ
khái niệm về PTLĐ nói chung của Đảng, ta có thể quan niệm: Phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ là hệ thống các hình thức, phương
pháp, quy chế, quy trình, lề lối làm việc... mà Đảng sử dụng để thực hiện sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ.
Hệ thống các hình thức, phương pháp, quy trình, quy chế, chương
trình kế hoạch, lề lối làm việc trong PTLĐ công tác cán bộ của Đảng có thể
khái quát thành những hình thức, phương pháp sau:
57
Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng cương lĩnh, chiến lược, các nghị
quyết, quyết định, định hướng về chính sách và chủ trương công tác cán bộ;
bằng quy trình, quy chế, chương trình kế hoạch công tác cán bộ.
Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng công tác tuyên truyền, giáo dục,
thuyết phục tổ chức đảng, đảng viên thực hiện chiến lược, nghị quyết, quyết
định, định hướng về chính sách và chủ trương công tác cán bộ;
Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng công tác tổ chức;
Đảng lãnh đạo công tác cán bộ thông qua công tác kiểm tra, giám sát
tổ chức đảng, đảng viên trong việc thực hiện chiến lược, nghị quyết, quyết
định, định hướng về chính sách và chủ trương công tác cán bộ;
Đảng lãnh đạo công tác cán bộ thông qua hành động gương mẫu của
đảng viên trong việc thực hiện chiến lược, nghị quyết, quyết định, định hướng
về chính sách và chủ trương công tác cán bộ của đảng viên;
* Khái niệm phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy ở
các tỉnh Bắc Trung Bộ
Từ những quan niệm về PTLĐ của Đảng, PTLĐ của Đảng đối với công
tác cán bộ, có thể quan niệm: Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh
ủy là hệ thống các hình thức, phương pháp, quy chế, quy trình, lề lối làm
việc... mà tỉnh ủy sử dụng để thực hiện sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với công
tác cán bộ của đảng bộ.
Là một bộ phận trong hệ thống các tỉnh ủy, phương thức lãnh đạo công
tác cán bộ của tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ được hiểu theo khái niệm
phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy nêu trên.
1.2.2.2. Nội dung của phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của
tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ
gồm các hình thức, phương pháp chủ yếu sau đây:
- Lãnh đạo bằng chủ trương, nghị quyết, chiến lược, quy chế, quy định
về công tác cán bộ.
Đây là PTLĐ quan trọng nhất, đồng thời là PTLĐ đặc trưng của Đảng
đối với công tác cán bộ. Do vậy, tùy theo từng nội dung cần lãnh đạo, đối
58
tượng lãnh đạo cụ thể và yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong từng thời kỳ, các tỉnh
ủy ở Bắc Trung Bộ xây dựng chủ trương, nghị quyết, chỉ thị và các định
hướng lớn lãnh đạo công tác cán bộ. Trong đó, nêu quan điểm, tư tưởng chủ
đạo, chỉ ra mục tiêu cần đạt tới, phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm
xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng cán bộ.
Trong quá trình đề ra chủ trương, nghị quyết, chỉ thị và các định
hướng lớn lãnh đạo công tác cán bộ, căn cứ vào nội dung cũng như tầm quan
trọng của vấn đề cần giải quyết để xác định tổ chức nào có đủ thẩm quyền ban
hành nghị quyết, chỉ thị lãnh đạo công tác cán bộ (Đại hội đại biểu đảng bộ
tỉnh, ban chấp hành đảng bộ tỉnh, ban thường vụ tỉnh ủy, thường trực tỉnh ủy).
Điều này, bên cạnh căn cứ vào tính chất của vấn đề còn phải căn cứ vào các
quy định phân cấp quản lý cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ, phù hợp
với quy định chung của Trung ương.
Do vị trí hàng đầu của PTLĐ này, nên yêu cầu đặt ra mang tính
nguyên tắc đó là các nghị quyết, chỉ thị và các định hướng lớn về công tác cán
bộ phải thực sự là những định hướng giá trị đúng đắn, sang suốt, phù hợp quy
luật khách quan, không trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, hệ thống pháp luật
của Nhà nước và điều quan trọng hơn là sát, phù hợp với thực tiễn công tác
cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ.
Tuy nhiên, trong tỉnh ủy có ba cơ cấu có thẩm quyền khác nhau nên
phạm vi, cách thức ra chủ trương, quyết định về công tác cán bộ của mỗi cơ
cấu này có khác nhau:
Ban chấp hành đảng bộ tỉnh
Chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư việc lãnh đạo, chỉ
đạo, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách, quyết định của
Trung ương về cán bộ, công tác cán bộ tại địa phương; ra nghị quyết thực
hiện công tác cán bộ trên địa bàn tỉnh.
Trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhân sự giới thiệu ứng cử các chức
danh bí thư tỉnh ủy, chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND tỉnh; nhân sự bổ sung
ban chấp hành đảng bộ tỉnh.
59
Căn cứ quy định của Trung ương, quyết định số lượng ủy viên Ban
thường vụ, ủy viên ủy ban kiểm tra tỉnh ủy.
Bầu ủy viên ban thường vụ, bí thư, phó bí thư tỉnh ủy; bần ủy viên ủy
ban kiểm tra, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra tỉnh ủy.
Giới thiệu người ứng cử hoặc người được đề nghị chỉ định vào ban
chấp hành đảng bộ tỉnh.
Giới thiệu chức danh chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND tỉnh để HĐND
bầu; tham gia ý kiến về nhân sự phó chủ tịch HĐND, phó chủ tịch UBND
tỉnh trước khi ban thường vụ tỉnh ủy quyết định giới thiệu để HĐND bầu.
Quyết định kiểm tra công tác cán bộ tại địa phương.
Ban thường vụ tỉnh ủy
Quyết định phân công công tác đối với các đồng chí ủy viên ban
thường vụ, ủy viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh.
Trên cơ sở đề nghị của bí thư tỉnh ủy, thường trực tỉnh ủy, thảo luận
và quyết định:
Tuyển chọn, bố trí, phân công công tác; giới thiệu ứng cử, chỉ định;
quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm,
miễn nhiệm; khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu, thực hiện chính sách với các
chức danh ủy viên ban thường vụ, trưởng ban, phó trưởng ban tỉnh ủy và
tương đương; phó chủ tịch hội đồng nhân, phó chủ tịch UBND tỉnh; bí thư,
phó bí thư, ủy viên ban thường vụ huyện, thị, thành ủy và tương đương; bí
thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ đảng ủy khối trực thuộc; giám đốc,
phó giám đốc sở và tương đương; chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND huyện, thị,
thành phố thuộc tỉnh và tương đương; chủ tịch, phó chủ tịch, cấp trưởng, phó
trong ban chấp hành các đoàn thể cấp tỉnh.
Chuẩn bị nhân sự để tỉnh ủy xem xét, đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư
giới thiệu nhân sự ứng cử các chức danh bí thư, phó bí thư tỉnh ủy; chủ tịch
HĐND, UBND; giới thiệu nhân sự bổ sung tỉnh ủy viên; giới thiệu bầu bổ
sung ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy.
Đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bố trí, phân công công tác, nhận
xét, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu, thực
60
hiện chính sách đối với các chức danh cán bộ công tác tại địa phương thuộc
quyền trực tiếp quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Quyết định phân cấp quản lý cán bộ đối với các ban cán sự đảng, đảng
đoàn các cơ quan, ban, ngành cấp tỉnh, đối với cấp ủy cấp huyện và tương đương.
Quyết định kiểm tra công tác cán bộ của các cấp ủy, tổ chức đảng
trong phạm vi phụ trách.
Chuẩn y ban chấp hành, bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ các
đảng ủy trực thuộc; chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, ủy viên ủy ban kiểm tra đảng
ủy trực thuộc. chỉ định hoặc ủy quyền cho thường trực tỉnh ủy bổ sung ủy
viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ đảng ủy trực thuộc, khi cần thiết
chỉ định bí thư ban chấp hành đảng bộ trực thuộc.
Chỉ định đảng đoàn, ban cán sự đảng một số cơ quan nhà nước, mặt
trận, đoàn thể cấp tỉnh.
Tham gia ý kiến với ban cán sự đảng đoàn các cơ quan Trung ương về
bố trí, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo của tổ chức theo ngành dọc công tác và sinh
hoạt đảng tại địa phương; tham gia ý kiến với Đảng ủy quân sự Trung ương,
Đảng ủy công an Trung ương về chỉ huy trưởng, phó chỉ huy trưởng bộ chỉ
huy quân sự, bộ đội biên phòng tỉnh; giám đốc, phó giám đốc công an tỉnh.
Thường trực tỉnh ủy
Chuẩn bị các nội dung liên quan đến công tác cán bộ trình ban thường
vụ tỉnh ủy xem xét, quyết định; hoặc cho ý kiến trước khi trình ban chấp hành
tỉnh ủy xem xét, quyết định.
Thực hiện các nội dung lãnh đạo thực hiện công tác cán bộ do ban
thường vụ tỉnh ủy ủy quyền.
- Lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục
tổ chức đảng, đảng viên để thực hiện nghị quyết, chủ trương về công tác cán bộ.
Tuyên truyền, thuyết phục khơi dậy và huy động tiềm năng, trí tuệ,
kinh nghiệm, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, hướng vào xây dựng đội ngũ cán
bộ là một nội dung tích cực, có tác dụng to lớn để các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ
lãnh đạo công tác cán bộ, phát huy sức mạnh đội ngũ cán bộ, đảng viên tổ
61
chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị và các định
hướng lớn của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ về công tác cán bộ.
- Lãnh đạo thông qua phân công, phân cấp quản lý cán bộ, phát huy
vai trò quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh; vai trò, trách nhiệm của các tổ
chức, người đứng đầu các tổ chức trong HTCT của tỉnh.
Phương thức lãnh đạo này xuất phát từ quan điểm của Đảng về công
tác cán bộ, trong đó cán bộ và công tác cán bộ luôn giữ vai trò "then chốt"
trong xây dựng HTCT. Vì nắm cán bộ và công tác cán bộ chính là nắm nhân
tố con người trong tổ chức. Tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể mạnh
hay yếu phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ trong Đảng, chính quyền và
các đoàn thể, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt. Nắm chắc công tác cán bộ, giải
quyết tốt các khâu cán bộ, đó là điều kiện cơ bản có ý nghĩa quyết định nhất
trong xây dựng củng cố tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể.
Từ việc nắm chắc công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ trong Đảng và
giới thiệu cán bộ ứng cử tham gia cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, các đoàn
thể, Đảng chi phối và điều khiển hoạt động của chính quyền, đoàn thể theo
định hướng chính trị của Đảng.
- Lãnh đạo công tác cán bộ bằng công tác tổ chức, xây dựng tổ chức
và đội ngũ cán bộ làm công tác cán bộ.
Thông qua thiết kế các cơ cấu tổ chức, tỉnh ủy lãnh đạo công tác cán
bộ các cấp ủy đảng, các ngành, các cấp trong tỉnh như thông qua ban cán sự
đảng UBND tỉnh để lãnh đạo công tác cán bộ của UBND, thông qua ban
thường vụ tỉnh đoàn, đảng đoàn MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội để lãnh
đạo công tác cán bộ của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; thông qua việc xây
dựng các quy chế, quy định, lề lối làm việc của cán bộ để lãnh đạo công tác
cán bộ. Việc xây dựng các tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác cán bộ góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy.
- Lãnh đạo thông qua vai trò của tổ chức đảng, vai trò tiền phong
gương mẫu của đội ngũ đảng viên.
Phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đối với công
tác cán bộ bằng vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên trong cơ
62
quan chính quyền, đoàn thể, nhất là đảng viên giữ các cương vị lãnh đạo trong
bộ máy chính quyền làm theo và thực hiện tốt định hướng chính trị theo chủ
trương, đường lối của Đảng.
Đối với bộ máy chính quyền và các đoàn thể, các vị trí lãnh đạo đều
do đảng viên nắm giữ. Vì vậy, việc tăng cường giáo dục, rèn luyện đảng viên,
nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; nâng cao năng lực lãnh đạo,
khả năng vận động quần chúng, năng lực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được
giao chính là nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ công chức nhà nhà
nước, đoàn thể. Thông qua đội ngũ đảng viên trong các cơ quan nhà nước, đoàn
thể triển khai toàn diện hiện thực hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng.
- Lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát
Kiểm tra là một chức năng lãnh đạo của Đảng nhằm đánh giá đúng đắn
kết quả việc tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng,
những ưu điểm, khuyết điểm, những khó khăn, vướng mắc khi triển khai thực
hiện những vấn đề về công tác cán bộ, từ đó có điều chỉnh, bổ sung kịp thời.
Hoạt động kiểm tra, giám sát của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đối với
công tác cán bộ của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể, đặc biệt thông qua kiểm
tra các cá nhân đảng viên giữ những trọng trách trong chính quyền, đoàn thể. Việc
kiểm tra của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên giữ trọng trách trong bộ
máy chính quyền, đoàn thể phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, đảm bảo cho
Đảng nắm vững bộ máy nhà nước, đoàn thể chấp hành sự lãnh đạo của Đảng.
* Trên cơ sở nội dung PTLĐ công tác cán bộ nói chung, khi thực hiện
sự lãnh đạo công tác cán bộ đối với từng loại tổ chức sẽ có hình thức, phương
pháp lãnh đạo đặc thù:
Đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ diện tỉnh ủy quản lý, tỉnh ủy
vừa chỉ đạo vừa trực tiếp quyết định các nội dung quản lý, thực hiện quản lý
cán bộ theo phân cấp của Trung ương. Cán bộ diện tỉnh ủy quản lý có số lượng
không nhiều so với các loại cán bộ khác, đây được xác định là lớp "cán bộ tinh
hoa" trên địa bàn tỉnh, có trọng trách lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
chính trị của tỉnh. Một mặt, tỉnh ủy trực tiếp lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ
này vững mạnh, đáp ứng yêu cầu đặt ra về thực hiện nhiệm vụ chính trị của
63
địa phương; mặt khác, thực hiện quản lý đội ngũ này theo chỉ đạo, quy định
của Trung ương, trước hết là theo tinh thần Quyết định 67 của Bộ Chính trị.
Đối với công tác cán bộ chính quyền tỉnh, tỉnh ủy lãnh đạo thông qua
đảng đoàn HĐND tỉnh và ban cán sự đảng UBND tỉnh. Đội ngũ cán bộ chính
quyền trên địa bàn tỉnh có số lượng tương đối lớn, căn cứ vào nhu cầu thực tế,
định biên, sự định hướng, chỉ đạo của Trung ương, tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng
đội ngũ cán bộ theo hướng đủ về số lượng, phù hợp chuyên môn được đào tạo,
có kinh nghiệm thực tiễn, thích ứng với điều kiện đổi mới và hội nhập hiện nay.
Sự lãnh đạo của tỉnh ủy thông qua việc lãnh đạo trực tiếp đảng đoàn HĐND,
ban cán sự UBND trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ chính quyền đủ mạnh,
thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh.
Đối với công tác cán bộ thuộc trách nhiệm các huyện, thị, thành ủy trực
thuộc, tỉnh ủy lãnh đạo bằng nghị quyết, chủ trương, quy chế, quy định, quyết
định. Với đội ngũ cán bộ có số lượng lớn này, xuất phát từ yêu cầu xây dựng đội
ngũ cán bộ đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH tại cơ sở, tỉnh ủy phải định hướng từ
tiêu chuẩn chuyên môn, trình độ lý luận, cơ cấu, định biên cán bộ, đến định
hướng đánh giá, bổ nhiệm, luân chuyển, thực hiện chính sách với đội ngũ cán
bộ. Thực tế cho thấy, việc định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ trong HTCT cấp
huyện, thị và cơ sở năng động, sáng tạo, thích ứng với cơ chế thị trường đang
trở nên là vấn đề bức thiết cần được đặc biệt quan tâm trong điều kiện hiện nay.
Đối với các cơ quan nội chính, các ngành có đặc thù, tỉnh ủy lãnh đạo
công tác cán bộ bằng cơ chế hiệp y, hiệp quản. Hoạt động của khối nội chính
và một số ngành có tính đặc thù theo sự chỉ đạo quản lý về chuyên môn và
nhân sự theo hệ thống dọc từ Trung ương, tỉnh ủy cùng chịu trách nhiệm về
quản lý, nhận xét cán bộ định kỳ theo quy định, có ý kiến nhận xét về cán bộ
trước khi bổ nhiệm.
Đối với công tác cán bộ của cơ quan MTTQ và các đoàn thể chính trị -
xã hội, tỉnh ủy lãnh đạo thông qua đảng đoàn MTTQ và các đoàn thể cấp tỉnh
(Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, tỉnh ủy lãnh đạo thông qua ban
thường vụ tỉnh đoàn). Hoạt động của đội ngũ cán bộ cơ quan MTTQ và các
đoàn thể chính trị - xã hội có tác động lớn đến công tác vận động các tầng lớp
64
nhân dân trên địa bàn tỉnh. Việc xây dựng đội ngũ này có năng lực, kinh
nghiệm thực hiện nhiệm vụ dân vận đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH là
yêu cầu khách quan đòi hỏi sự định hướng xây dựng của tỉnh ủy thông qua tổ
chức Đảng của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Đối với cán bộ Đảng do bầu cử, cán bộ Đảng bầu cử các cấp trên địa
bàn tỉnh bao gồm cán bộ bầu cử tại cấp tỉnh, huyện, thị và tương đương; xã,
phường và tương đương được bầu thông qua đại hội hoặc hội nghị. Đối với đối
tượng cán bộ này, tỉnh ủy lãnh đạo bằng điều lệ Đảng, quy chế bầu cử trong Đảng,
bằng các quy định của Đảng. Cán bộ bầu cử trong nhiệm kỳ 2015-2020, việc
bầu cử tại đại hội Đảng các cấp thực hiện theo Quy chế bầu cử trong Đảng
kèm theo Quyết định 244/QĐ-TW, ngày 9 tháng 6 năm 2014 của Ban chấp
hành Trung ương. Các quy định về quản lý, kỷ luật cán bộ do bầu cử có quy
định riêng và nhiều điểm chung với cán bộ lãnh đạo quản lý nói chung.
Đối với cán bộ chính quyền do bầu cử như đại biểu Quốc hội, đại biểu
HĐND tỉnh, tỉnh ủy lãnh đạo thông qua các quy định của pháp luật, các quy
định của cơ quan bầu cử. Với đội ngũ cán bộ này, trên cơ sở cơ cấu và định
hướng của tỉnh ủy, thực hiện bầu cử theo Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức
HĐND và UBND. Các quy chế, quy định của pháp luật đối với việc bầu cử và
quản lý đội ngũ cán bộ này thường xuyên được điều chỉnh, thay đổi cho phù
hợp với điều kiện thực tế trong lộ trình đổi mới hoạt động của Quốc hội và
HĐND các cấp hiện nay.
Đối với cán bộ bổ nhiệm, cán bộ bổ nhiệm các cấp trên địa bàn tỉnh
bao gồm cả cán bộ trong các cơ quan của Đảng, nhà nước, MTTQ và các
đoàn thể chính trị - xã hội ở cấp tỉnh. Với đội ngũ này, tỉnh ủy lãnh đạo thông
qua quy chế giới thiệu cán bộ ứng cử và bổ nhiệm cán bộ. Cũng như đối với
cán bộ do bầu cử, có những điểm chung trong lãnh đạo, quản lý đối với cán
bộ, nhất là cán bộ thuộc diện tỉnh ủy quản lý, huyện, thị, thành ủy quản lý.
Bên cạnh đó, cũng có những điểm riêng trong lãnh đạo, quản lý đối với cán
bộ bổ nhiệm (chủ yếu là trong các cơ quan thuộc hệ thống nhà nước).
Đối với tuyển dụng cán bộ, tỉnh ủy lãnh đạo thông qua thông báo, quy
định… về tuyển dụng cán bộ đối với các cơ quan của Đảng, MTTQ, các đoàn
65
thể chính trị - xã hội, định hướng trong chỉ đạo tiếp nhận cán bộ đối với các
cơ quan nhà nước; lãnh đạo thông qua quy chế thi tuyển cán bộ.
1.2.2.3. Những vấn đề chủ yếu về đổi mới phương thức lãnh đạo
công tác cán bộ của các tỉnh ủy Bắc Trung Bộ
Công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đang đặt ra vấn đề lớn, cấp bách là phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đây là một trong ba vấn đề cấp bách được Nghị quyết Trung ương 4, Khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" chỉ ra. Không giải quyết tốt vấn đề này, thì việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, địa phương và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đạt kết quả thấp và mục tiêu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại khó thành hiện thực.
Để có đội ngũ cán bộ ngang tầm yêu cầu công cuộc đổi, Đảng ta chủ trương phải đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, trong đó đổi mới PTLĐ của Đảng đối với công tác cán bộ có tầm quan đặc biệt. Hội nghị lần thứ Chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X năm 2009 đã yêu cầu toàn Đảng phải: "Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ" [35, tr. 273].
Việc đổi mới PTLĐ của Đảng đối với công tác cán bộ được diễn ra ở các ngành, các cấp, trong đó, cấp tỉnh là cấp có vị trí và vai trò quan trọng. Đó là cấp dưới trực tiếp của Trung ương, trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương và quyết định của Đảng về công tác cán bộ và đổi mới PTLĐ của Đảng đối với công tác cán bộ, với nhiệm vụ trọng tâm là đổi mới PTLĐ của cấp ủy cấp tỉnh đối với công tác cán bộ và trực tiếp chỉ đạo thực hiện đổi mới PTLĐ đối với công tác cán bộ của số lượng lớn cấp ủy trực thuộc và cấp ủy cơ sở. Việc đổi mới PTLĐ của các cấp ủy trực thuộc và cấp ủy cơ sở đối với công tác cán bộ phụ thuộc rất lớn vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cấp tỉnh, đặc biệt là việc đổi mới PTLĐ của cấp ủy cấp tỉnh đối với công tác cán bộ.
* Quan niệm về đổi mới phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của
tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, "đổi mới" là thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước: đổi mới cách làm ăn; cuộc sống có đổi mới [104, tr. 657].
66
Từ khái niệm đổi mới và khái niệm PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy ở
các tỉnh Bắc Trung Bộ, có thể quan niệm: Đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của
tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là làm thay đổi từng phần hoặc toàn bộ nội
dung nào đó của PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy theo hướng tiến bộ, phù hợp
hơn, bảo đảm cho sự lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy đạt kết quả tốt hơn.
Chủ thể đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc
Trung Bộ là tỉnh ủy, các cấp ủy đảng trong tỉnh, song chủ yếu nhất là tỉnh ủy.
Lực lượng tham gia vào việc đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy
ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là các tổ chức trong HTCT và nhân dân trong tỉnh.
* Nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh
ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Đổi mới việc xây dựng và đề ra các chủ trương, nghị quyết, quyết
định, quan điểm, nguyên tắc về các khâu của công tác cán bộ và toàn bộ công
tác cán bộ.
Đổi mới việc xây dựng, cụ thể hóa và ban hành các quy chế, quy định,
quy trình về thực hiện các khâu của công tác cán bộ.
Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp công tác tư tưởng, quán
triệt chủ trương, nghị quyết của tỉnh ủy về công tác cán bộ.
Phân cấp mạnh mẽ việc quản lý cán bộ quản lý cán bộ và thực hiện
các khâu của công tác cán bộ cho các cấp ủy trực thuộc và cơ sở dưới sự chỉ
đạo, nhất trí của cấp trên và đổi mới việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.
Đổi mới hình thức, phương pháp phát huy vai trò của các tổ chức
trong HTCT và nhân dân tham gia vào công tác cán bộ
Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức
đảng trong đảng bộ tỉnh về công tác cán bộ.
Đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và chất
lượng hoạt động của các cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ.
Tiểu kết chương 1
Lãnh đạo công tác cán bộ là nhiệm vụ trọng yếu của Đảng Cộng sản
Việt Nam cầm quyền, nói chung và của cấp ủy đảng các cấp.
67
Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy là hệ thống các hình
thức, phương pháp, quy chế, quy trình, phong cách, lề lối làm việc... mà tỉnh ủy
sử dụng để thực hiện sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với công tác cán bộ của đảng bộ.
Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy gồm các hình
thức, phương pháp chủ yếu: Lãnh đạo bằng chủ trương, nghị quyết, chiến
lược, quy chế, quy định về công tác cán bộ; lãnh đạo bằng công tác tuyên
truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục tổ chức đảng, đảng viên để thực hiện
nghị quyết, chủ trương về công tác cán bộ; lãnh đạo thông qua phân công,
phân cấp quản lý cán bộ, phát huy vai trò quản lý nhà nước của chính quyền
tỉnh; vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, người đứng đầu các tổ chức trong
HTCT của tỉnh; lãnh đạo bằng công tác tổ chức, xây dựng các tổ chức và đội
ngũ cán bộ làm công tác cán bộ; lãnh đạo thông qua vai trò của tổ chức đảng,
vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên; lãnh đạo bằng công tác
kiểm tra, giám sát. Trên cơ sở nội dung PTLĐ công tác cán bộ nói chung, khi
thực hiện sự lãnh đạo công tác cán bộ đối với từng loại tổ chức sẽ có hình
thức, phương pháp lãnh đạo đặc thù cho phù hợp.
Đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
là làm thay đổi từng phần hoặc toàn bộ nội dung nào đó của PTLĐ công tác
cán bộ của tỉnh ủy theo hướng tiến bộ, phù hợp hơn, bảo đảm cho sự lãnh đạo
công tác cán bộ của tỉnh ủy đạt kết quả tốt hơn.
Để đổi mới phương thức thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy ở
các tỉnh Bắc Trung Bộ đạt kết quả phải nắm vững và thực hiện tốt những vấn
đề lý luận và thực tiễn nêu trên, nhất là nội dung công tác cán bộ, nội dung
của phương thức thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy; nội dung đổi mới
phương thức thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy ở các tỉnh vùng này.
68
Chương 2
CÔNG TÁC CÁN BỘ VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở BẮC TRUNG BỘ -
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA
CÁC TỈNH ỦY Ở BẮC TRUNG BỘ
2.1.1. Thực trạng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở các tỉnh
Bắc Trung Bộ
* Về số lượng
Trong những nhiệm kỳ gần đây, đội ngũ cán bộ của HTCT ở các tỉnh
Bắc Trung Bộ không ngừng được tăng cường nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ của thời kỳ mới.
Nhiệm kỳ 2010-2015, đội ngũ cán bộ của HTCT từ cấp tỉnh đến cơ sở ở
các tỉnh Bắc Trung Bộ là 420.719 người, tăng 103.122 cán bộ so với nhiệm kỳ
2005-2010. Trong đó, số lượng cán bộ của hệ thống chính trị ở tỉnh Thanh Hóa
là đông nhất với 124.046 cán bộ, ít nhất là Thừa Thiên Huế với 42.051 cán bộ
(Phụ lục 15).
Với số lượng cán bộ của hệ thống chính trị ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
hiện tại cơ bản đáp ứng sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, chất
lượng hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân thuộc hệ thống chính
trị ở các tỉnh Bắc Trung Bộ.
* Về cơ cấu
Cơ cấu đội ngũ cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đã có chuyển
biến tích cực cả về cơ cấu độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn bước đầu
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
Cơ cấu độ tuổi
Tính đến 31-12-2014, cán bộ của hệ thống chính trị ở các tỉnh Bắc
Trung Bộ có tuổi đời dưới 40 là 83.030 đồng chí (chiếm 19,74%), từ 41 đến
50 có 251.460 đồng chí (chiếm 59,77%), từ 51 đến 60 có 86.229 đồng chí
(20,49%) (Phụ lục 15).
69
Như vậy, cơ cấu độ tuổi của đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị ở các
tỉnh Bắc trung Bộ so với các nhiệm kỳ trước hiện tại đã có xu hướng phát
triển tích cực, có tính chuyển giao, kế thừa hợp lý giữa 03 độ tuổi, trong đó,
độ tuổi từ 41 đến 50 chiếm tỷ lệ cao nhất. Dự báo trong những năm tới, về cơ
bản, đội ngũ cán bộ hiện nay tương đối ổn định, không có biến động lớn, là
điều kiện góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính
trị của các địa phương.
Về cơ cấu giới tính:
Tính đến tháng 31-12-2014, đội ngũ cán bộ nữ trong hệ thống chính
trị ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là 162.542 đồng chí (chiếm 38,63%). So với
nhiệm kỳ 2005-2010, số lượng cán bộ nữ trong hệ thống chính trị ở các tỉnh
Bắc Trung Bộ đã tăng tương đối nhanh, gần 9,25%.
Như đã phân tích ở Chương 1, với đặc tính vùng, số lượng cán bộ nữ
chiếm trên 38,63% trong tổng số cán bộ của HTCT các tỉnh cho thấy cơ cấu
giới tính đã có chuyển biến tích cực, đáng ghi nhận trong công tác cán bộ ở
các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Về cơ cấu dân tộc
Bắc Trung Bộ là khu vực có đông đồng báo dân tộc sinh sống, cư trú,
vì vậy, công tác cán bộ của các tỉnh ủy Bắc Trung Bộ luôn cố gắng cơ cấu
thành phần cán bộ là người dân tộc thiểu số.
Hiện nay, trong HTCTcác tỉnh Bắc Trung Bộ có 55.421 cán bộ là
người dân tộc thiểu số (chiếm 13,17%), đây là một điều kiện thuận lợi cho sự
lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy đảng, chính quyền và hoạt động của MTTQ
và các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương.
Bên cạnh đó, từ thực tiễn, có thể thấy, Bắc Trung Bộ là vùng có đông
đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng ở nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị, nhất là
phía Tây, khu vực miền núi của các tỉnh, cán bộ là người dân tộc thiểu số tỷ lệ thấp.
* Về chất lượng đội ngũ cán bộ
Về phẩm chất chính trị
Đội ngũ cán bộ hiện nay của hệ thống chính trị ở các tỉnh Bắc Trung
Bộ hầu hết trưởng thành trong công cuộc xây dựng CNXH, một số đã trải qua
70
và tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, góp phần vào thắng lợi to
lớn của toàn Đảng, toàn dân. Đặc biệt, là đội ngũ cán bộ này đã được rèn
luyện thử thách qua gần 30 năm đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Đội ngũ này đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo,
quản lý của mình, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tín nhiệm, được các
cấp ủy lựa chọn và giao trọng trách; có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập
trường kiên định, luôn trung thành tuyệt đối và kiên định chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, kiên định mục
tiêu và con đường XHCN.
Đa số cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đã xác định và thể
hiện rõ trách nhiệm của mình đối với sự phát triển mọi mặt của địa phương,
cơ quan, đơn vị, xác định động cơ phục vụ nhân dân, phục vụ tổ chức. Từ xác
định rõ trách nhiệm của mình, từng cán bộ đã chủ động cùng cấp ủy địa
phương, cơ quan, đơn vị tìm giải pháp thực hiện các mục tiêu phát triển, thực
hiện nhiệm vụ chính trị.
Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa gương
mẫu, chưa nhìn thẳng vào sự thật để tự phê bình và phê bình, còn nể nang, né
tránh, không nói thẳng, nói thật với đồng chí, đồng nghiệp…
Về phẩm chất đạo đức, lối sống
Đa số cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc Trung Bộ có phẩm chất đạo
đức trong sáng, lối sống lành mạnh. Nhiều cán bộ tự giác, cố gắng phấn đấu,
rèn luyện đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tích cực
và kiên quyết đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hết
lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Đội ngũ cán bộ này đã kế thừa và phát huy
tốt phẩm chất đạo đức của người dân Bắc Trung Bộ cần cù, sáng tạo, tiết
kiệm, giản dị, hết lòng và thủy chung với bè, bạn, luôn đặt lợi ích của nhân
dân, của đất nước lên trên.
Phần lớn cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc Trung Bộ có ý thức tổ chức
kỷ luật, thể hiện ở việc chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy
các cấp, và những quy định, quy chế của địa phương, cơ quan, đơn vị. Nhiều
71
tấm gương về ý thức tổ chức, kỷ luật để cán bộ, công chức và nhân dân noi theo.
Phần lớn gương mẫu chấp hành và chấp hành tốt Quy định 76 của Bộ Chính
trị về đảng viên đang học tập, công tác giữ mối liên hệ với cấp ủy, tổ chức
đảng nơi cư trú, thực hiện nghĩa vụ công dân và các quy định nơi cư trú. Nhiều
Gia đình cán bộ là những tấm gương về chấp hành pháp luật, đường lối, chủ
trương của Đảng và các quy chế, quy định của địa phương, cơ quan, đơn vị.
Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc Trung
Bộ có biểu hiện cơ hội, thực dụng, kèn cựa, địa vị, cục bộ, tham nhũng, tiêu
cực, lãng phí… ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, làm giảm niềm tin trong quần
chúng. Nhận thức chính trị, trách nhiệm cá nhân của một bộ phận cán bộ còn
hạn chế, bảo thủ, trì trệ, thỏa mãn, trông chờ, ỷ lại, thiếu kiên quyết và quyết
liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nên hiệu quả công tác chưa cao.
Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Hiện nay, trong số 420.719 cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc Trung
Bộ, có 905 đồng chí có trình độ chuyên môn sau đại học (chiếm 0,2%),
324.367 đồng chí có trình độ chuyên môn đại học và cao đẳng (chiếm 77,1%),
còn lại là 95.547 đồng chí có trình độ từ trung cấp trở xuống (chiếm 22,7%).
Như vậy, qua phân loại về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội
ngũ cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc trung Bộ, có thể thấy, số cán bộ có trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ đại học, cao đẳng chiếm đại đa số (77,1%), có
trình độ cần thiết để đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã
hội như kinh tế, văn hóa, quản lý xã hội, đảm nhận tốt hoạt động lãnh đạo,
quản lý trên cương vị công tác và chức trách, nhiệm vụ được giao. Số cán bộ
có trình độ cao (trên đại học) còn thấp (0,2%), chủ yếu tập trung tại các cơ
quan thuộc hệ thống chính trị cấp tỉnh, đây là đội ngũ cán bộ tinh túy, chắt lọc
của các tỉnh, cần có cơ chế, chính sách, đặc biệt là công tác cán bộ nhằm phát
huy được năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ này. Số cán bộ còn lại có trình
độ từ trung cấp trở xuống vẫn còn chiếm tỷ lệ cao (22,7%), chủ yếu tập trung
ở HTCT cơ sở. Trong thời gian tới, tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ cần nghiên
cứu, tìm giải pháp để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán
bộ này, phấn đấu tỷ lệ cán bộ có trình độ trung cấp trở xuống ngày càng giảm.
72
Thực tiễn ở các tỉnh Bắc Trung Bộ cho thấy, cơ cấu trình độ chuyên môn
nghiệp vụ đang phát triển theo xu hướng giảm mạnh cán bộ có trình độ
chuyên môn trung cấp và cao đẳng, tăng nhanh cán bộ có trình độ đại học
chuyên môn, trình độ thạc sĩ, tiến sĩ đã hình thành trong đội ngũ cán bộ chủ
chốt các cấp, ý thức về phấn đấu học tập để đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ về
chuyên môn, nghiệp vụ trở thành xu hướng tốt trong đội ngũ cán bộ.
Bên cạnh đó, số cán bộ chưa được đào tạo cơ bản về lãnh đạo, quản lý
trong những lĩnh vực đặc thù mà bản thân đảm nhận còn nhiều; việc cập nhật,
bồi dưỡng kiến thức, nhất là kiến thức quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, tin
học và ngoại ngữ, chưa được tiến hành thường xuyên. Một bộ phận cán bộ có
tâm lý học để có bằng cấp, chưa chú ý đến chất lượng học tập, chưa gắn việc
học tập với hoạt động, rèn luyện trong thực tiễn, nên bằng cấp tuy đủ chuẩn
nhưng khả năng tư duy, dự báo, năng lực tổ chức, chỉ đạo thực tiễn còn nhiều
hạn chế, nhất là ở khu vực còn nhiều khó khăn như các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Về năng lực lãnh đạo, quản lý
Nhìn chung năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ ở các tỉnh
Bắc Trung Bộ đã được nâng lên, thể hiện ở năng lực tiếp thu, vận dụng và cụ
thể hóa nghị quyết của Đảng, của cấp ủy các cấp vào thực tiễn địa phương, cơ
quan, đơn vị để lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Đội ngũ cán bộ đã dần dần hình
thành phong cách tư duy mới, phong cách lãnh đạo, quản lý khoa học.
Đội ngũ cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc Trung Bộ hiện nay nhìn
chung có năng lực chuyên môn tốt. Trong đội ngũ cán bộ có sự kết hợp, đan
xen giữa các thế hệ cán bộ. Một số cán bộ trưởng thành trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, đây là những cán bộ có kinh nghiệm, từng trải
trong chỉ đạo, xây dựng và phát động phong trào quần chúng, có uy tín, trong
lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng trong
thời kỳ đổi mới. Số cán bộ trưởng thành trước những năm đổi mới chiếm số
đông là những đồng chí tiếp thu được kinh nghiệm của lớp cán bộ đi trước,
đồng thời có sự tiếp cận một cách cơ bản những tiến bộ khoa học kỹ thuật
hiện đại. Số cán bộ trưởng thành trong thời kỳ đổi mới, là những cán bộ có
điều kiện tiếp cận, tiếp thu, được những tiến bộ của khoa học kỹ thuật tiên
73
tiến trên thế giới, là những trí thức, có tính xung kích đột phá của tuổi trẻ. Số
cán bộ trẻ đang từng bước hình thành bản lĩnh chính trị, và sự tích lũy kinh
nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; được rèn luyện và có sự dìu dắt,
giáo dục, uốn nắn của các thế hệ cán bộ cách mạng đi trước, những cán bộ đó
đang vươn lên mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
Đội ngũ cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đã trải qua thực
tiễn, đa số có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kinh nghiệm, có uy tín với cơ
sở, nhất là khi giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh thì bình tĩnh, khéo
léo, ít bi quan, chán nản, nóng vội. Số ít cán bộ chưa trải qua nhiều trong thực
tiễn, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, có hệ thống, họ khá nhanh nhạy
tiếp cận cái mới, năng động, sáng tạo trong công việc.
Về kinh nghiệm và phong cách lãnh đạo, quản lý
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc Trung Bộ có
kinh nghiệm trong lãnh đạo, quản lý và xử lý công việc. Những cán bộ tuổi
cao đã tiếp thu kiến thức mới từ cán bộ trẻ để củng cố, phát huy kinh nghiệm
của mình và đã mạnh dạn bỏ đi những kinh nghiệm không còn phù hợp trong
điều kiện hiện nay và cũng không có biểu hiện áp đặt kinh nghiệm cũ cho cán
bộ trẻ. Những cán bộ trẻ đã tiếp thu và phát huy những kinh nghiệm phong
phú của nhóm cán bộ tuổi cao, vận dụng những kinh nghiệm đó phù hợp với
điều kiện hiện nay. Vì thế, sự phát triển mọi mặt của các tỉnh ở Bắc Trung Bộ
trong thời gian qua tương đối nhanh, nhiều yếu tố bảo đảm sự phát triển bền vững.
Về trình độ lý luận chính trị
Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở các tỉnh Bắc Trung Bộ có
trình độ lý luận chính trị ngày càng cao. Theo thống kê, tuyệt đại đa số cán bộ
có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên, trong đó: Cán bộ có trình độ
lý luận chính trị Cao cấp, Cử nhân là 5.262 đồng chí (chiếm 1,25%), chủ yếu
tập trung trong đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị ở các tỉnh Bắc
Trung Bộ; cán bộ có trình độ trung cấp lý luận là 415.457, chiếm đại đa số
(chiếm 98,74%); số cán bộ có trình độ sơ cấp lý luận còn không đáng kể.
Những ưu điểm, tiến bộ và hạn chế của đội ngũ cán bộ trong HTCT
các tỉnh Bắc Trung Bộ nêu trên trước hết và chủ yếu là do công tác cán bộ.
74
2.1.2. Thực trạng công tác cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
2.1.2.1. Ưu điểm
* Về công tác quy hoạch cán bộ
Công tác quy hoạch cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đã có sự
đổi mới cả về nội dung và cách làm, do đó đã đạt được kết quả bước đầu theo
hướng mở rộng dân chủ, từng bước công khai hóa, tiêu chuẩn hóa, theo một quy
trình chặt chẽ, phát huy được trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong xây
dựng quy hoạch; đã có sự kế thừa, đồng thời có bước phát triển, tạo nguồn cán
bộ, góp phần khắc phục dần tình trạng bị động, lúng túng trong công tác cán bộ.
Đội ngũ cán bộ trong quy hoạch nói chung bảo đảm tiêu chuẩn theo quy
định. Các tỉnh ủy đã định kỳ đánh giá cán bộ trong quy hoạch, xem xét điều
chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ cho sát với nhu cầu phát triển của từng tỉnh
bước đầu đã gắn kết quy hoạch cán bộ với các khâu khác trong công tác cán bộ.
Số lượng nguồn cấp ủy đưa vào quy hoạch đạt tỷ lệ từ 1,5 đến 2 lần,
các chức danh chủ chốt từ 2 đến 3 nguồn; chất lượng nguồn quy hoạch qua
đào tạo của các cấp đều cao hơn đương nhiệm; tỷ lệ cán bộ nguồn là nữ, trẻ,
người dân tộc thiểu số được nâng lên. Ban thường vụ tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc
Trung Bộ đã tổ chức hội nghị chủ chốt, hội nghị ban chấp hành để lấy phiếu
giới thiệu nguồn quy hoạch ban chấp hành, ban thường vụ tỉnh ủy và các chức
danh chủ chốt 2 giai đoạn 2010-2015 và 2015-2020; tổ chức hội nghị ban
chấp hành rà soát, giới thiệu, bổ sung nguồn quy hoạch A3 làm cơ sở để quyết
định nguồn quy hoạch A1 nhiệm kỳ 2010-2015.
Trong nhiệm kỳ 2010-2015 các tỉnh ủy đã ban hành quy định về quy
hoạch cán bộ gắn với thực tiễn địa phương, cụ thể:
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Quy
định số 02-QĐ/TU ngày 18-5-2012 "về xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo,
quản lý nhiệm kỳ 2015-2020 và định hướng nhiệm kỳ 2020-2025" với phương
châm vừa "mở" vừa "động" và "liên thông" trên địa bàn tỉnh. Đề án tạo nguồn
cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2020 - 2025, trên cơ sở phát hiện, giới
thiệu của các huyện, thị, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, các sở ban,
ngành, đoàn thể cấp tỉnh, đã tổ chức sơ tuyển, tổ chức học ngoại ngữ cho gần
75
300 học viên và thi tuyển với 248 học viên và dự kiến lựa chọn 100 học viên
xuất sắc tổ chức học theo Đề án.
Ở Đảng bộ tỉnh Nghệ An, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành
Hướng dẫn số 08-HD/TU ngày 24-12-2012 và Đề án xây dựng quy hoạch cán
bộ lãnh đạo quản lý cấp tỉnh giai đoạn 2015 - 2020, chỉ đạo cấp trên cơ sở và
các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh bổ sung quy hoạch 2010 - 2015, xây
dựng quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2015-2020 với 216 lượt cán bộ được quy
hoạch vào ban chấp hành, ban thường vụ và các chức danh chủ chốt của tỉnh,
bảo đảm giãn cách 3 độ tuổi, chất lượng được nâng lên, cơ cấu cơ bản đạt yêu
cầu (quy hoạch cấp ủy 140 đồng chí, trong đó 12,1% dưới 40 tuổi, 18,6% nữ,
13,6% dân tộc thiểu số, 100% có trình độ chuyên môn đại học trở lên, trong
đó có 33,5% trên đại học, 98,6% có trình độ cao cấp, cử nhân chính trị) [2].
Trên cơ sở hướng dẫn, quy định của Trung ương, của tỉnh, các cấp,
các ngành, các đơn vị trực thuộc tỉnh ủy đã khẩn trương thực hiện việc rà
soát, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý nhiệm kỳ 2010-2015 và xây
dựng quy hoạch nhiệm kỳ 2015-2020. Nghệ An đã rà soát, bổ sung quy hoạch
của 28 đảng bộ trực thuộc, các sở, ban, ngành, MTTQ, đoàn thể cấp tỉnh với
2.708 lượt cán bộ bổ sung, số lượng, chất lượng, cơ cấu bảo đảm theo đúng
hướng dẫn cấp trên, đồng thời tham mưu phê duyệt quy hoạch cán bộ đối với
những đơn vị bổ sung sau khi sửa đổi quy định về phân cấp quản lý cán bộ.
Riêng về quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy,
các chức danh cán bộ chủ chốt của các Tỉnh đã hoàn thành trong quý I-2013
để trình Ban Tổ chức Trung ương phê duyệt [2].
Ở Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, qua quá trình tổ chức thực hiện, công tác
quy hoạch đội ngũ cán bộ diện Tỉnh ủy Quảng Trị quản lý giai đoạn 2010-
2015 tổng cộng có 651 đồng chí, trong đó, nữ có 94 đồng chí, chiếm tỷ lệ
14,5%; dân tộc 12 đồng chí, chiếm tỷ lệ 1,8%. Trong đó, cấp tỉnh: 382 đồng chí;
cấp huyện: 269 đồng chí. Độ tuổi bình quân: Quy hoạch cấp tỉnh: 47.6 tuổi;
quy hoạch cấp huyện: 44,7 tuổi. Trong đó: dưới 40 tuổi: 107 đồng chí, chiếm
tỷ lệ 16,4%; từ 40 - 50 tuổi: 386 đồng chí, chiếm tỷ lệ 59,2%; trên 50 tuổi:
158 đồng chí, chiếm tỷ lệ 24,2%. Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: 06 đồng
76
chí có trình độ tiến sĩ (0,9%); 54 đồng chí có trình độ thạc sĩ (8,3%); 521
đồng chí có trình độ đại học (80%); 20 đồng chí có trình độ cao đẳng (3%);
23 đồng chí có trình độ trung cấp (3,5%); số còn lại là sơ cấp và chưa qua đào
tạo. Về trình độ lý luận chính trị: 521 đồng chí có trình độ cao cấp, cử nhân
chính trị (80%); 96 đồng chí có trình độ trung cấp chính trị (14,7%); số còn
lại là sơ cấp hoặc chưa được đào tạo và lý luận chính trị [15].
Nhìn chung, công tác quy hoạch cán bộ của HTCT được các tỉnh ủy ở
Bắc Trung Bộ chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc, bảo đảm đúng quy trình và
yêu cầu theo các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và các tỉnh Bắc Trung Bộ.
* Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ của tỉnh, của các trường chính trị tỉnh và các trung tâm bồi
dưỡng chính trị cấp huyện; phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ trong công tác
đào tạo bồi dưỡng cán bộ; phối hợp với các trường đại học trong và ngoài
nước mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng các chuyên ngành. Với sự chỉ đạo sâu sát
của tỉnh ủy, công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc
Trung Bộ đã tạo ra được ý thức học tập thường xuyên của cán bộ, đáp ứng
việc chuẩn hóa, từng bước nâng cao trình độ, năng lực công tác cho cán bộ
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng địa phương.
Ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, trên cơ sở quy hoạch, tỉnh ủy đã xác định
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải xuất phát từ nhu cầu quy hoạch và yêu
cầu chuẩn hóa, trẻ hóa đội ngũ cán bộ; việc đào tạo cán bộ diện tỉnh ủy quản lý
được đặc biệt quan tâm. Từ năm 2005 đến nay, Ban Tổ chức Tỉnh ủy đã phối
hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức 17 lớp cao cấp lý luận
tại chức với 1.727 lượt cán bộ cả đương chức và trong quy hoạch diện tỉnh ủy
quản lý; cử 07 đồng chí đi học lớp cử nhân chính trị tập trung tại Học viện; 242
lượt cán bộ đi học các lớp bồi dưỡng; 346 lượt cán bộ đi bồi dưỡng kiến thức
quốc phòng tại Học viện Quốc phòng và học quân sự tại Quân khu IV. Tỉnh
cũng đã cử đi đào tạo 74 thạc sĩ và 4 tiến sĩ, cử 6 đồng chí khảo sát nghiên cứu
thực tế ở nước ngoài theo Đề án 165 của Ban Tổ chức Trung ương (Phụ lục 12).
77
Ở Đảng bộ tỉnh Nghệ An, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU
"về chương trình phát triển nguồn nhân lực, trên cơ sở đó Tỉnh ủy đã xây dựng
nội dung, kế hoạch thực hiện Đề án 02-ĐA/TU về "đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ
sở, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ", Đề án số 2392-ĐA/TU ngày
30-5-2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đồng thời hướng dẫn, chỉ đạo các
huyện, thành, thị ủy, đảng ủy trực thuộc, sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh chủ
động xây dựng kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ của từng địa phương, cơ quan,
đơn vị. Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp được chú trọng cả
về số lượng và chất lượng, chỉ tính riêng từ đầu nhiệm kỳ 2010-2015 đến nay,
tỉnh đã cử 710 lượt cán bộ đi học cao cấp và cử nhân lý luận chính trị, 103
lượt cán bộ hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ, trên 50 lượt cán bộ đi học
bồi dưỡng kiến thức quốc phòng tại Học viện Quốc phòng và học quân sự tại
Quân khu IV. Công tác đào tạo, bồi dưỡng góp phần nâng cao trình độ của
đội ngũ cán bộ ở các cấp, các ngành nhất là đội ngũ cấp ủy (Phụ lục 12).
Các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ cơ bản thống nhất nội dung, chương trình
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ diện tỉnh ủy quản lý, gồm: Chương trình
bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh; Chương trình bồi dưỡng cập nhật
kiến thức mới về tư tưởng Hồ Chí Minh, thế giới đương đại, chủ nghĩa tư bản
hiện đại...; Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ về các lĩnh vực tuyên giáo, tổ
chức, kiểm tra, dân vận, quản lý nhà nước...; Chương trình bồi dưỡng tin học,
ngoại ngữ...Hình thức, phương pháp bồi dưỡng ngày càng phong phú, đa dạng
đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực tiễn.
* Về công tác luân chuyển cán bộ
Trên cơ sở Nghị quyết 11 và sự chỉ đạo của Trung ương, các tỉnh ủy ở
Bắc Trung Bộ đã kịp thời xây dựng, ban hành các kế hoạch triển khai thực
hiện sâu rộng đến các cấp ủy, chính quyền các cấp và tổ chức thực hiện luân
chuyển cán bộ ở cả ba cấp, trong đó quan trọng nhất vẫn là đội ngũ cán bộ
diện tỉnh ủy quản lý. Các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ coi đây là khâu hết sức
quan trọng, mang ý nghĩa đột phá trong công tác cán bộ của các cấp ủy trong
giai đoạn hiện nay. Nội dung của kế hoạch thực hiện luân chuyển cán bộ diện
tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, đã thể hiện rõ những nội dung chủ
78
yếu như: Mục đích, yêu cầu; nội dung từng công việc; tổ chức thực hiện có
phân công các thành viên trong thường vụ, các cơ quan, đơn vị thực hiện.
Việc đánh giá cán bộ diện tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, trước, trong và sau luân chuyển được các tỉnh ủy thực hiện thường xuyên. Các cơ quan, đơn vị và cấp ủy nơi cán bộ luân chuyển đều tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt và mời cán bộ theo dõi hoặc lãnh đạo ban tổ chức tỉnh ủy tham dự để đánh giá đội ngũ cán bộ diện tỉnh ủy quản lý, trong đó có cán bộ được luân chuyển. Hội nghị tiến hành đánh giá từng cán bộ, thảo luận, phân tích một cách dân chủ, thẳng thắn, khách quan về ưu, khuyết điểm của cán bộ. Qua kết quả đánh giá cán bộ diện tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh Bắc Trung Bộ được luân chuyển từ năm 2005 đến nay cho thấy, 100% cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó đa số cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, không có cán bộ nào vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật.
Sau khi hết thời hạn luân chuyển, ban thường vụ tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ chỉ đạo ban tổ chức tỉnh ủy rà soát quy hoạch và xem xét đánh giá cả quá trình cán bộ được luân chuyển và tham mưu cho ban thường vụ tỉnh ủy tiến hành các thủ tục và quyết định bổ nhiệm cán bộ sau luân chuyển vào vị trí công tác theo quy hoạch. Hiện nay, số cán bộ diện tỉnh ủy quản lý các tỉnh Bắc Trung Bộ được luân chuyển, sau khi hết thời hạn luân chuyển đều được bố trí ở vị trí công tác cao hơn, một số đồng chí được chuyển ngang sang vị trí khác phù hợp hơn; còn lại khoảng 10% số cán mặc dù thời hạn luân chuyển kéo dài nhưng chưa bố trí được vị trí công tác mới.
* Về công tác đánh giá cán bộ Nhận thức được đánh giá cán bộ là khâu quan trọng nhưng rất khó khăn, phức tạp và tế nhị, nhạy cảm, phức tạp, các tỉnh ủy luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công việc này. Trên cơ sở quy chế phân cấp cán bộ, quy chế làm việc và các hướng dẫn của tỉnh ủy, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đều đã xây dựng quy chế đánh giá cán bộ với mục đích, yêu cầu chung như sau:
Một là, làm rõ ưu điểm, khuyết điểm về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ và triển vọng phát triển của cán bộ. Thông qua đánh giá, khích lệ những cán bộ tận tâm, sáng tạo trong công việc, đồng thời chỉ ra lộ trình, bước đi để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm.
79
Hai là, làm căn cứ để tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân
chuyển, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ
luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ.
Ba là, bảo đảm tính khách quan, toàn diện, trên cơ sở tự phê bình và
phê bình, nguyên tắc tập trung dân chủ; công khai, mở rộng đối tượng để lấy
ý kiến nhận xét, đánh giá.
Bốn là, phát huy đầy đủ trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong nhận
xét, đánh giá. Đánh giá cá nhân gắn với đánh giá tập thể lãnh đạo quản lý,
nhất là người đứng đầu; lấy kết quả, hiệu quả công tác và uy tín làm thước đo
chủ yếu trong đánh giá, khắc phục bệnh thành tích, cục bộ, nể nang, né tránh.
Việc đánh giá cán bộ cán bộ của HTCT ở các tỉnh Bắc Trung Bộ được
duy trì nề nếp, thực hiện đánh giá cán bộ theo đúng định kỳ hàng năm, theo
nhiệm kỳ và đánh giá trước khi bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, luân chuyển, điều
động, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ
luật đối với cán bộ. Việc đánh giá đã bám sát quy định, quy trình. Ban tổ chức
tỉnh ủy đã giúp các tỉnh ủy chỉ đạo thực hiện đầy đủ các nội dung, yêu cầu
đánh giá cán bộ. Đối với một số cán bộ có những vấn đề cần làm rõ, các ban
thường vụ tỉnh ủy có gợi ý kiểm điểm sâu hơn và chỉ đạo các cấp ủy, lãnh đạo
cơ quan, đơn vị kiểm điểm kỹ hơn, đã có văn bản thông báo về đánh giá cán bộ.
* Về công tác bổ nhiệm cán bộ
Nhìn chung, công tác lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ được các tỉnh ủy ở
Bắc Trung Bộ thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, bảo đảm, công tâm, dân chủ,
khách quan theo đúng các nguyên tắc:
Một là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ
cán bộ;
Hai là, cấp ủy, tổ chức đảng và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị có
thẩm quyền xem xét, quyết định một cách dân chủ trên cơ sở phát huy đầy đủ
trách nhiệm và quyền hạn của từng thành viên, nhất là người đứng đầu;
Ba là, phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; phẩm
chất đạo đức, năng lực, sở trường và thành tích của cán bộ để quyết định; bảo
đảm sự ổn định, kế thừa và phát triển đội ngũ cán bộ.
80
Trong công tác lựa chọn, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, nói chung
các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã thực hiện tốt việc chuẩn bị nhiều phương án
nhân sự để lựa chọn bổ nhiệm, điều động, giới thiệu cán bộ ứng cử. Việc bổ
nhiệm, điều động, giới thiệu cán bộ ứng cử được căn cứ vào quy hoạch cán bộ
và biểu quyết bằng phiếu kín. Cán bộ được bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử cơ
bản đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn nghiệp vụ, được trẻ hóa và luôn tích cực
phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các cấp, các ngành thực hiện
nghiêm túc chế độ bổ nhiệm cán bộ có thời hạn, bổ nhiệm lại cán bộ.
Kết quả, từ năm 2005 đến nay, ban tổ chức các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ
đã tham mưu để ban thường vụ tỉnh ủy quyết định việc bổ nhiệm 784 đồng chí
giữ chức vụ trưởng, phó sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; bổ nhiệm lại 586 đồng
chí; hiệp y để các ngành trực thuộc ngành Trung ương đóng tại địa phương bổ
nhiệm 384 đồng chí. Các tỉnh ủy cũng đã lãnh đạo, chỉ đạo bố trí sắp xếp cán bộ ở
một số sở, ban, ngành cấp tỉnh theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP của Chính phủ;
ban thường vụ và UBND cấp huyện bố trí lại các phòng của UBND theo Nghị
định số 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ. Ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Tỉnh ủy đã
thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quy trình nhân sự các chức danh ở các đảng
bộ trực thuộc theo hướng chủ động xử lý, bố trí lại những cán bộ địa phương,
đơn vị, ban, ngành, đoàn thể bị kỷ luật, hoặc không đáp ứng yêu cầu của nhiệm
vụ. Nhiệm kỳ 2005-2010, Tỉnh ủy Nghệ An đã tham mưu xếp loại 274 cán bộ
thuộc diện Tỉnh ủy quản lý, gồm: 65 tỉnh ủy viên, 177 cán bộ chủ chốt huyện,
thành, thị, đảng ủy trực thuộc, sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và thông báo
cho tổ chức, cán bộ nơi công tác (Báo cáo Tổng kết công tác tổ chức xây dựng
Đảng năm 2010); chỉ đạo và thực hiện nghiêm túc Quy định 314-QĐ/TU ngày
26-5-2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tuyển dụng, tiếp nhận và điều
động cán bộ, công chức cơ quan Đảng, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội.
* Về công tác quản lý cán bộ
Trong thời gian qua, công tác quản lý cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ thường xuyên được tăng cường. Các tỉnh ủy thường xuyên kiểm tra,
giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc về công tác cán bộ, nhất là công
tác đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, thực hiện chính sách cán bộ; thực hiện
81
nghiêm túc quy chế quản lý cán bộ về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống;
thực hiện chức trách, nhiệm vụ, ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành phân công
nhiệm vụ... qua đó nắm chắc cán bộ, có kế hoạch sử dụng cán bộ lâu dài, khen
thưởng kịp thời cán bộ có thành tích và xử lý cán bộ vi phạm.
* Về thực hiện chính sách cán bộ
Trong những năm qua, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện chế độ,
chính sách đối với cán bộ nói chung của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đạt được
một số kết quả. Căn cứ quy định, hướng dẫn của Trung ương, các tỉnh ủy đã có
nhiều quy định, hướng dẫn về việc nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ;
về chế độ khen thưởng đối với tổ chức đảng và đảng viên; về chế độ bảo vệ và
chăm sóc sức khỏe cán bộ; về tổ chức lễ tang đối với cán bộ và thân nhân cán bộ
từ trần... UBND các tỉnh Bắc Trung Bộ cụ thể hóa bằng các quyết định về hỗ trợ
kinh phí cho người đi học; chế độ thù lao cho giảng viên kiêm chức, báo cáo
viên; có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cán bộ được điều động đến công tác tại
các huyện miền núi, các xã vùng cao, đặc biệt khó khăn. Thực hiện Nghị quyết
số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ, Tỉnh ủy Thanh Hóa,
Tỉnh ủy Nghệ An, Tỉnh ủy Quảng Bình đã có chính sách hỗ trợ kinh phí cho
cán bộ được luân chuyển, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ yên tâm công tác.
Các tỉnh ủy đã chú trọng quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của
đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ diện các tỉnh ủy quản lý. Đã thực
hiện đúng các quy định, chế độ của Trung ương, của tỉnh đối với cán bộ về
tiền lương, điều kiện công tác, học tập, khen thưởng, kỷ luật, chế độ phụ cấp.
Các tỉnh ủy đã thường xuyên quan tâm chăm sóc sức khỏe đối với cán bộ
đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu, tổ chức tham quan, nghỉ dưỡng sức đối
với cán bộ diện các tỉnh ủy quản lý. Việc khuyến khích vật chất và tinh thần
đã góp phần động viên cán bộ phấn khởi, tích cực học tập, công tác, rèn luyện
về mọi mặt, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Từ năm 2005 đến nay, qua tổng hợp báo cáo tổng kết công tác xây
dựng Đảng của ban tổ chức các tỉnh ủy, đã cho thấy tỉnh ủy các tỉnh Bắc
Trung Bộ đã lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành thực hiện nâng lương thường
xuyên cho gần 9.873 cán bộ, công chức, nâng lương trước thời hạn cho 3.136
82
cán bộ công chức; nâng ngạch lương cho 3.609 cán bộ công chức; xếp phụ
cấp kiêm nhiệm, ưu đãi nghề cho 3.105 cán bộ, công chức. Xét duyệt, tổ chức
cho 4.707 chuyên viên đi thi chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp, kết quả
75% đạt yêu cầu. Tỉnh ủy Thanh Hóa từ năm 2009 đã chủ trương nâng lương
và các loại phụ cấp cho cán bộ diện Tỉnh ủy quản lý. Trên cơ sở kinh phí
được phân bổ, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện tốt chính sách đối với các đối
tượng được phân cấp, phối hợp với các cấp thực hiện tốt chính sách đối với
cán bộ diện Tỉnh ủy quản lý đương chức và nghỉ hưu.
2.1.2.2. Hạn chế, khuyết điểm
* Về công tác quy hoạch cán bộ
Bên cạnh những ưu điểm đáng ghi nhận, công tác quy hoạch cán bộ
nói chung và quy hoạch đội ngũ cán bộ diện tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh Bắc
Trung Bộ nói riêng còn có số hạn chế:
Nhận thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác quy
hoạch cán bộ một số cơ quan, đơn vị ở một số tỉnh Bắc Trung Bộ còn chưa
tốt, dân chủ còn mang tính hình thức. Những vấn đề quan trọng không được
thảo luận kỹ để kết luận hoặc khi lấy ý kiến đưa vào quy hoạch không sử
dụng hình thức bỏ phiếu kín, theo đa số.
Nhiều tỉnh tiến hành quy hoạch cán bộ chậm so với yêu cầu, chậm rà
soát, điều chỉnh bổ sung hàng năm. Phạm vi, đối tượng, chức danh quy hoạch
chưa rộng, mới tập trung quy hoạch cấp ủy Đảng, các chức danh, nhiều chức
danh cơ quan chuyên môn, cán bộ lãnh đạo khối doanh nghiệp, sự nghiệp nhà
nước chưa được quy hoạch đầy đủ. Có tỉnh quy hoạch còn nặng tính "xếp
hàng", tính "mở" thấp, chủ yếu khép kín trong địa phương, cơ quan, đơn vị,
chưa có tính đột phá. Ở một số nơi, chất lượng nhân sự quy hoạch còn hạn chế.
Theo thống kê quý 4 năm 2014, 6 tỉnh Bắc Trung Bộ, trên cơ sở 2.951 cán bộ
thuộc các chức danh do tỉnh ủy quản lý, mới làm xong quy hoạch A2, chuẩn
bị cho Đại hội đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015 - 2020.
Việc xây dựng cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ diện tỉnh ủy quản lý trong
quy hoạch làm chưa tốt. Đánh giá cán bộ trong quá trình quy hoạch thực hiện
chưa đầy đủ, còn tư tưởng đơn giản. Một số tỉnh Bắc Trung Bộ thực hiện chưa
83
thật nghiêm, có lúc chưa thật chặt chẽ. Nội dung, quy trình đánh giá cán bộ quy
hoạch chưa thật cụ thể, có lúc còn thiếu thống nhất. Đánh giá cán bộ hàng năm
không được chỉ đạo chặt chẽ. Chưa coi trọng việc lấy ý kiến của tập thể cấp ủy
nơi cán bộ cư trú theo quy định để làm căn cứ tham khảo khi đánh giá cán bộ.
Chưa thực hiện thành nền nếp việc đánh giá cán bộ bằng văn bản và cấp có thẩm
quyền đánh giá, thông báo kết quả cho người được đánh giá biết để phát huy
những ưu điểm, khắc phục những tồn tại, hạn chế, đề ra phương hướng phấn đấu.
Nhìn chung, quy hoạch cán bộ diện tỉnh ủy quản lý nhìn chung chưa đáp
ứng với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh Bắc Trung Bộ
qua từng thời kỳ, còn bị khép kín trong nội bộ địa phương, cơ quan, đơn vị, nên
chất lượng chưa cao; nguồn cán bộ trẻ theo quy định mới đạt 7,5%, cán bộ nữ
mới đạt 6,7%, cán bộ dân tộc thiểu số mới đạt 8,8%, tính khả thi thấp; việc thẩm
định, phê duyệt, công khai, quản lý và thực hiện quy hoạch cán bộ còn hạn chế.
* Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Công tác xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chưa đồng bộ, thiếu
khoa học, chưa gắn với quy hoạch cán bộ và việc sử dụng cán bộ sau đào tạo,
bồi dưỡng. Trong thực hiện thiếu sự kiểm tra, đôn đốc, đánh giá, tổng kết, rút
kinh nghiệm. Sự phối hợp giữa bộ phận quản lý đào tạo, bồi dưỡng của ban tổ
chức tỉnh ủy, sở nội vụ với trường chính trị ở các tỉnh Bắc Trung Bộ có việc
chưa tốt. Ở một số đảng bộ tỉnh chưa nhận thức đầy đủ vị trí, tầm quan trọng
của công tác bồi dưỡng cán bộ nên cử cán bộ đi học tập chưa xuất phát từ yêu
cầu, nhiệm vụ đơn vị hoặc cử cán bộ đi học không đúng đối tượng, thậm chí
còn bị động trong việc lựa chọn cán bộ đi học khi có yêu cầu. Theo thống kê,
việc bồi dưỡng cán bộ còn lệch so với yêu cầu là 18,4%.
Nội dung bồi dưỡng còn thiếu nhiều kiến thức và kỹ năng cần thiết đối
với từng chức danh cán bộ. Nội dung trong một số chương trình chất lượng
chưa cao, chưa bám sát yêu cầu thực tiễn, chưa kịp thời bổ sung, chỉnh lý. Nội
dung trong chương trình bồi dưỡng về quản lý nhà nước còn nhiều điểm trùng
lặp. Bồi dưỡng chuyên ngành, chuyên đề nhiều khi còn gặp khó khăn về xây
dựng nội dung. Chương trình cập nhật kiến thức mới nặng về lý luận chính trị,
phổ biến chỉ thị, nghị quyết. Chương trình nghiệp vụ còn dàn trải, nhiều lý
84
thuyết, thiếu phần kỹ năng xử lý các tình huống điển hình trong thực tế. Theo
đáng giá của Trường chính trị tỉnh Thanh Hóa, có đến 33,6% học viên được
hỏi đánh giá nội dung các chương trình bồi dưỡng theo chức danh lãnh đạo,
quản lý trong HTCT ở tỉnh chưa thiết thực, hợp lý.
Có nhiều lớp tập trung thời gian dài, nội dung dàn trải, trùng lắp, nặng
về lý thuyết gây tâm lý chán nản cho người học. Đã kết hợp đào tạo với một
số hình thức bồi dưỡng nhưng thực tế đạt hiệu quả chưa cao. Phương pháp
giảng dạy và học tập chủ yếu vẫn theo lối truyền thống, chưa phát huy được
vai trò tích cực, chủ động của người học. Người học vẫn bị áp đặt tiếp nhận
kiến thức mang nặng về lý thuyết và khó có thể áp dụng trong thực tiễn công
tác. Qua khảo sát ở các trường chính trị trong khu vực, vẫn còn 67% số giờ
giảng theo phương pháp truyền thống.
Nhìn chung, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và cán
bộ diện tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh Bắc Trung Bộ chưa cao; việc đào tạo có biểu
hiện chạy theo số lượng, đào tạo tại chức nhiều hơn đào tạo tập trung; bồi dưỡng,
cập nhật kiến thức mới, các kỹ năng lãnh đạo, quản lý vẫn là khâu yếu.
* Về công tác luân chuyển cán bộ
Ở một số đảng bộ tỉnh, nhận thức của một bộ phận cán bộ và tổ chức
đảng đối với công tác luân chuyển chưa đúng đắn, còn nhầm lẫn giữa luân
chuyển và điều động cán bộ. Những nơi thiếu cán bộ, cán bộ chủ chốt yếu
kém về trình độ năng lực, thậm chí có dấu hiệu mất đoàn kết nhưng cũng
không muốn cán bộ nơi khác luân chuyển đến. Một số cấp ủy nơi cán bộ luân
chuyển không thực sự "hợp tác" trong việc giúp đỡ, tạo điều kiện, rèn luyện
cán bộ luân chuyển đến. Tổ chức đảng nơi cán bộ đi luân chuyển cũng chưa
thực sự chú trọng theo dõi, đánh giá, tạo điều kiện về mọi mặt để động viên
cán bộ của mình rèn luyện tốt để trở thành lãnh đạo của ngành mình, đơn vị
mình trong tương lai sau khi luân chuyển.
Công tác luân chuyển cán bộ diện tỉnh ủy quản lý ở một số tỉnh Bắc
Trung Bộ triển khai thực hiện còn chậm, chưa mạnh mẽ, quyết liệt, số lượng
luân chuyển chưa nhiều. Tính từ 2005 đến năm 2013, cả 6 tỉnh Bắc Trung Bộ
chỉ luân chuyển được 810 cán bộ, Thanh Hóa có số lượng lớn nhất là 196 cán
85
bộ, tỉnh ít nhất là Quảng Trị có 93 cán bộ. Việc triển khai có lúc, có nơi còn
mang tính phong trào. Luân chuyển một số trường hợp chưa hoàn toàn dựa
trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ. Việc xây
dựng kế hoạch luân chuyển tiến hành chậm, nhất là các đơn vị trực thuộc.
Việc triển khai công tác luân chuyển cán bộ cho các chức danh diện
tỉnh ủy quản lý ở một số tỉnh còn chưa được tiến hành một cách đồng bộ. Có
lúc, có nơi đánh giá cán bộ luân chuyển chưa thực sự khách quan, chưa khoa
học, chưa thật công tâm, chưa căn cứ vào tiêu chuẩn và kết quả của thực hiện
nhiệm vụ chính trị được giao. Công tác luân chuyển cán bộ chưa đặt trong
mối quan hệ với các khâu khác trong công tác cán bộ.
Công tác luân chuyển cán bộ diện tỉnh ủy quản lý ở một số tỉnh vẫn
còn tình trạng cục bộ, khép kín. Việc luân chuyển chưa được nghiên cứu một
cách toàn diện, nên còn chưa hợp lý (về thời điểm, số lượng, vị trí luân
chuyển, điều kiện ăn ở, nhà công vụ). Chưa kết hợp chặt chẽ giữa hai yếu tố
tài và đức trong việc bố trí luân chuyển, sử dụng cán bộ.
Chính sách, chế độ chưa thỏa đáng, chưa có một quy định chung tạo
điều kiện làm việc và sinh hoạt thuận lợi cho cán bộ được điều động đến nơi
công tác mới.
* Về công tác đánh giá cán bộ
Nhận thức và quán triệt chủ trương, quan điểm, yêu cầu của Trung
ương, của cấp trên về đánh giá cán bộ còn hạn chế, chưa thật thống nhất. Hiểu
đánh giá cán bộ còn nặng nề, cứng nhắc, siêu hình... Dẫn đến có biểu hiện vừa
lúng túng, vừa xem nhẹ các yêu cầu, quy định trong đánh giá cán bộ ở một số
cán bộ diện tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh Bắc Trung Bộ. Chậm cụ thể hóa quy
chế của Bộ Chính trị thành quy chế, quy định cụ thể của ban thường vụ tỉnh
ủy để áp dụng và thực hiện đồng bộ trong toàn tỉnh và cán bộ diện tỉnh ủy
quản lý ở các tỉnh Bắc Trung Bộ. Các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo mới giải
quyết từng yêu cầu, từng đợt cụ thể. Trong chỉ đạo thực hiện còn thiếu kiên
quyết, kiên trì, liên tục. Có lúc các quan điểm đánh giá cán bộ chưa được cụ
thể hóa thành các nguyên tắc, cơ chế để thực hiện một cách triệt để, dẫn đến
đánh giá cán bộ hàng năm thực hiện chưa thật tốt.
86
Về nội dung, nhất là nội dung đánh giá cán bộ diện tỉnh ủy quản lý, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ chưa chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hiện đối với các đơn vị trực thuộc tỉnh, nơi cán bộ diện tỉnh ủy quản lý công tác còn hạn chế. Nhiều cơ quan, đơn vị trực thuộc, một số cán bộ diện tỉnh ủy quản lý thực hiện chưa đầy đủ theo quy định, yêu cầu của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ, nhất là đánh giá hàng năm, đơn giản trong thực hiện quy trình, thủ tục... Ở một số đơn vị, việc tham gia của cán bộ, công chức, của các tập thể chưa đảm bảo yêu cầu, tư tưởng "dĩ hòa vi quý" còn khá nặng; có tình trạng khoán cho cơ quan tham mưu về công tác cán bộ, do đó dẫn tới đánh giá chưa sát đúng, còn cảm tính, chủ quan. Theo thống kê, có tới 97,3% cán bộ trong HTCT ở Bắc Trung Bộ hằng năm được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Việc cụ thể hóa tiêu chuẩn cụ thể đối với từng chức danh cán bộ diện tỉnh ủy quản lý làm chưa tốt, do đó đánh giá thường chung chung, không sâu. Còn tình trạng thiếu dân chủ hoặc dân chủ hình thức; sự tham gia của quần chúng chưa đầy đủ. Tình trạng né tránh đối với cấp trên còn khá phổ biến. Nhiều đơn vị, trách nhiệm người đứng đầu chưa phát huy hết, hoặc giản đơn, buông lỏng, hoặc né tránh... Việc công khai, trao đổi kết quả và kết luận đánh giá cán bộ đối với cán bộ diện tỉnh ủy quản lý chưa được thực hiện đầy đủ. Công tác đánh giá cán bộ thực hiện chưa trở thành nề nếp, kết quả đánh giá cán bộ chưa được quản lý, sử dụng một cách thống nhất, có lúc chưa gắn với việc đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, sử dụng cán bộ, do đó hiệu quả còn thấp. Hàng năm, ở các tỉnh Bắc Trung Bộ chưa có đánh giá tổng thể cán bộ diện tỉnh ủy quản lý. Nhìn chung, đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, còn có biểu hiện nể nang, né tránh, chưa nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá chưa thực sự công tâm, khách quan, dân chủ, công khai. Tiêu chí đánh giá cán bộ còn chưa đủ rõ. Kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ ở một số đảng bộ tỉnh Bắc Trung Bộ chưa gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Số cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ diện tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh Bắc Trung Bộ được đánh giá tốt tuy chiếm tỷ lệ cao, song phong trào của địa phương, đơn vị còn nhiều hạn chế.
* Về công tác bổ nhiệm cán bộ Quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại và giới thiệu cán bộ ứng cử chưa thực sự phát huy và mở rộng dân chủ, vẫn có địa phương, đơn vị tiến hành bổ
87
nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử chưa đảm bảo tiêu chuẩn. Chưa kiên quyết bố trí, sắp xếp lại những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ hoặc yếu kém về phẩm chất, năng lực, uy tín thấp.
Xuất hiện tình trạng nể nang, tình cảm trong công tác lựa chọn, bổ
nhiệm cán bộ, như tại một số đảng bộ huyện ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh bổ nhiệm
cán bộ lái xe không có chuyên môn, nghiệp vụ lãnh đạo, quản lý làm phó
chánh văn phòng huyện ủy, điều đó thể hiện sự lãnh đạo của tỉnh ủy các tỉnh
đối với công tác cán bộ còn buông lỏng, quy trình không chặt chẽ.
* Về công tác quản lý cán bộ
Công tác quản lý cán bộ diện tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
nhìn chung còn nhiều hạn chế, bất cập.
Các tỉnh ở Bắc Trung Bộ mới quan tâm quản lý cán bộ ở cơ quan công
tác, chưa thực hiện được việc quản lý các mối quan hệ xã hội của cán bộ và
việc chấp hành chính sách, pháp luật của cán bộ ở nơi cư trú. Do chưa làm tốt
công tác quản lý cán bộ nên chưa phát hiện, điều chuyển cán bộ để khắc phục
tình trạng các địa phương, đơn vị thiếu cán bộ giỏi, có năng lực thực sự; tình
trạng không đồng bộ trong cơ cấu đội ngũ cán bộ ở một số tỉnh.
Chưa kịp thời phát hiện một số cán bộ năng lực quản lý, điều hành và
thực thi nhiệm vụ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và chưa thích ứng với cơ chế
quản lý mới; tinh thần trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo còn hạn chế. Một
bộ phận cán bộ, kế cả cán bộ diện tỉnh ủy quản lý yếu về phẩm chất, năng lực,
còn tư tưởng buông xuôi, tính chiến đấu giảm sút; một số ít có biểu hiện bất
mãn, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng, nói và làm trái quan điểm, đường lối,
vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Tình trạng tiêu cực, tham
nhũng, lãng phí, tuy có nhiều biện pháp phòng ngừa, nhưng chưa được ngăn
chặn, đẩy lùi, nhất là ở các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, tài chính...
* Về thực hiện chính sách cán bộ
Việc nghiên cứu chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ nói chung, cán
bộ diện tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh Bắc Trung Bộ nhìn chung chưa cơ bản, toàn
diện, thường là chạy theo giải quyết những vấn đề bức xúc trước mắt, các văn
bản còn thiếu tính đồng bộ.
88
Chính sách phục vụ cho việc luân chuyển, điều động cán bộ chưa hợp
lý, kịp thời và có sự vận dụng trong thực hiện chính sách khác nhau giữa các
địa phương, đơn vị.
Chính sách đãi ngộ vật chất và động viên tinh thần còn hạn chế, bất hợp
lý. Để quá lâu tình trạng bất hợp lý trong chính sách tiền lương và các chế độ đãi
ngộ khác (khen thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ hưu, thôi việc,
nhà ở...), thiếu công bằng và không thống nhất và đồng bộ, chưa tạo được động
lực và phát huy tài năng, chưa khuyến khích những cán bộ công tác ở những
vùng khó khăn, chưa chú ý thỏa đáng những cán bộ về hưu. Chưa quản lý được
việc thực hiện chế độ, chính sách thu nhập trong một số lĩnh vực ở một số ngành.
Một số địa phương do yêu cầu thực tế bức xúc đã đưa ra những chính sách riêng
biệt về thu hút và đãi ngộ (hỗ trợ tiền thuê nhà, phụ cấp thêm các loại khác ngoài
lương...) để điều chỉnh một phần những bất hợp lý nói trên nhưng lại làm cho
chính sách chung trở nên chắp vá, thiếu nhất quán, không mang lại hiệu quả.
Nhìn chung, việc xây dựng, thực hiện các chính sách, nhất là chính
sách thu hút, đãi ngộ đối với cán bộ, công chức còn chậm; một số chế độ,
chính sách không còn phù hợp, nhưng chưa được thay thế, nên không theo kịp
với yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới.
2.1.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế và khuyết điểm của công
tác cán bộ các tỉnh Bắc Trung Bộ
* Nguyên nhân chủ quan:
Một là, tư tưởng khép kín, cục bộ, địa phương trong công tác cán bộ
vẫn còn tồn tại, đặc biệt phổ biến đối với những địa phương, cơ quan, đơn vị
miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phía Tây của các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Hai là, việc quán triệt các quan điểm chỉ đạo về công tác cán bộ ở
nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị ở các tỉnh Bắc Trung Bộ chưa thống nhất
dẫn đến thiếu đồng bộ, thiếu tầm nhìn chiến lược, chưa có nhiều giải pháp đột
phá trong công tác cán bộ, nhất là đối với cán bộ trẻ.
Ba là, một số cán bộ, công chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu ý chí rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu vươn lên để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao; tinh thần tự phê bình và phê bình còn yếu; công tác kiểm
89
tra việc thực thi nhiệm vụ, công vụ đối với cán bộ, công chức và kiểm tra công tác cán bộ chưa thường xuyên, nên chưa kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh những yếu kém, khuyết điểm và xử lý vi phạm.
Bốn là, năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là cán bộ trong các cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ còn hạn chế về năng lực tham mưu, đề xuất còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
* Nguyên nhân khách quan: Một là, kinh tế các tỉnh Bắc Trung Bộ trong những năm qua dù đã rất nỗ lực vươn lên, nhưng khách quan hiện vẫn ở tình trạng phát triển chậm, chưa tương xứng với thế mạnh, tiềm năng của các địa phương, chủ yếu do tư duy, tầm nhìn chiến lược của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý còn tương đối hạn chế và chậm đổi mới.
Hai là, các mặt trái cơ chế thị trường và khó khăn trong điều kiện kinh tế - xã hội đã tác động, biến đổi tiêu cực trong nhận thức và hành động của một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Ba là, một số chính sách về công tác cán bộ đã lạc hậu, song chưa được kịp thời bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Bốn là, một số văn bản, quy định của Trung ương về công tác cán bộ do tính chất mang tính đường lối, đôi lúc còn chung chung, chưa sát thực tế, nên nhiều văn bản không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương. Chính vì vậy, nhiều chủ trương, chính sách đã ban hành, nhưng cấp trên hướng dẫn chưa kịp thời, nên khó khăn cho các tỉnh trong quá trình tổ chức thực hiện.
2.2. PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA CÁC TỈNH
ỦY Ở BẮC TRUNG BỘ - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.2.1. Thực trạng phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các
tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ 2.2.1.1. Ưu điểm * Về lãnh đạo bằng chủ trương, nghị quyết, chiến lược, quy chế,
quy định về công tác cán bộ
Trong những năm qua, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã vận dụng đường lối, chủ trương, nghị quyết, quy định, hướng dẫn của Trung ương, xây dựng
90
hệ thống văn bản và thực hiện các khâu của công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tế của từng tỉnh.
Trên cơ sở quán triệt sâu sắc, đầy đủ 05 quan điểm đã được xác định
tại Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước do Hội nghị
Trung ương 3 (khóa VIII) thông qua và 06 quan điểm, mục tiêu, các nhiệm vụ và
giải pháp lớn đã được xác định tại Kết luận số 37-KL/TW ngày 02-02-2009
của Hội nghị Trung ương 9 (khóa X) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược
cán bộ từ nay đến năm 2020; xuất phát từ thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ và dự báo
tình hình phát triển kinh tế - xã hội, việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo
diện tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh Bắc Trung Bộ quán triệt các quan điểm như:
Một là, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, "là
gốc của mọi công việc", "công tác cán bộ là công việc gốc của Đảng", đầu tư
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung và cán bộ lãnh đạo,
quản lý nói riêng lả đầu tư cho sự phát triển.
Hai là, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo
công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; phát huy vai trò, trách nhiệm của
các cấp, các ngành trong công tác cán bộ mà trước hết là trách nhiệm của cấp
ủy, người đứng đầu các tổ chức trong HTCT, trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ
của sự nghiệp CNH, HĐH.
Ba là, thực hiện tốt các khâu trong công tác cán bộ, trong đó: Xây
dựng tiêu chuẩn, cơ cấu cán bộ là nền tảng; quản lý, đánh giá cán bộ là cơ sở;
quy hoạch cán bộ là trọng yếu; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là giải pháp quan
trọng hàng đầu; luân chuyển cán bộ là đột phá; bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ
ứng cử có ý nghĩa quan trọng.
Trên cơ sở các quan điểm trên, các tỉnh ủy đã ban hành các chủ
trương, nghị quyết lãnh đạo cụ thể đối với công tác cán bộ. Giai đoạn từ năm
2005 tới 12-2013, 06 tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã ban hành số lượng văn bản
chủ yếu như sau: 14 nghị quyết, 15 chỉ thị, 45 quy chế, 663 quyết định, 84 quy
định về công tác cán bộ. Các nghị quyết về công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở
Bắc Trung Bộ là định hướng rất quan trọng; xác định rõ mục tiêu, quan điểm,
tư tưởng lãnh đạo, những chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, thiết thực
91
đối với đối với công tác cán bộ; bảo đảm cho công tác cán bộ của các tỉnh ủy
đúng với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước và chủ trương, nghị quyết của các tỉnh ủy, thể hiện đầy đủ sự
lãnh đạo về công tác cán bộ của tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ đối với HTCT.
Từ 2005 đến nay, sau mỗi kỳ đại hội đảng bộ các cấp, các tỉnh ủy ở
Bắc Trung Bộ đã xây dựng và ban hành được các chủ trương, nghị quyết về
công tác cán bộ nhằm cụ thể hóa nghị quyết đại hội đảng bộ cấp mình và cấp
trên; trong đó, các tỉnh ủy đã tập trung, quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng
kế hoạch đánh giá cán bộ, quy hoạch cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ…
Trên cơ sở chủ trương, đường lối, quan điểm của Trung ương, các tỉnh
ủy đã kịp thời ban hành các văn bản theo thẩm quyền được phân cấp và phù hợp
với tình hình, điều kiện của tỉnh. Nhiều tỉnh ở Bắc Trung Bộ đã xây dựng và ban
hành các đề án, nghị quyết về công tác tổ chức, cán bộ, như Tỉnh ủy Thanh Hóa
đã ban hành Quyết định số 483-QĐ/TU về "Quy định phân công, phân cấp
quản lý tổ chức bộ máy và cán bộ"; Quyết định số 485-QĐ/TU về "Quy chế
bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử"; Quyết định số 488-QĐ/TU
ngày 05-6-2012 về "Quy chế đánh giá tập thể lãnh đạo, quản lý" và Quyết
định 489-QĐ/TU về "Quy chế đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý" theo tinh
thần Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 12-3-2012 của Ban Chấp hành đảng bộ
tỉnh. Tỉnh ủy Nghệ An đã ban hành Quyết định số 4279-QĐ/TU về ban hành
Quy định về phân cấp quản lý cán bộ; Quyết định số 4358-QĐ/TU về ban
hành Quy chế bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm,
cho thôi giữ chức vụ, điều động, luân chuyển cán bộ; Quyết định số 4875-QĐ/TU
về việc ban hành Quy chế đánh giá cán bộ, công chức; đề án luân chuyển cán
bộ trong đó bố trí cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện không phải là người địa
phương nhằm chuẩn bị một bước cho nhân sự Đại hội đảng nhiệm kỳ 2015-
2020 (trên 60%). Tỉnh ủy Hà Tĩnh ban hành Quy định 821-QĐ/TU về một số
chính sách, chế độ đối với cán bộ diện Tỉnh ủy quản lý
Trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ, các tỉnh ủy đặc biệt coi trọng
phương châm: chỉ xây dựng và ban hành các nghị quyết để lãnh đạo công tác
cán bộ khi thấy thật cần thiết; những nghị quyết của các khóa trước vẫn còn
92
phù hợp thì không xây dựng nghị quyết mới, chỉ tiến hành kiểm tra, tổng kết
và ban hành kết luận để tiếp tục tổ chức thực hiện.
Công tác xây dựng và ban hành nghị quyết về công tác cán bộ của ban
chấp hành, ban thường vụ các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã được chuẩn bị và tổ
chức thực hiện chặt chẽ hơn, các quy trình từ khâu khảo sát, đánh giá tình hình
công tác cán bộ, đến việc phân công cơ quan soạn thảo, lấy ý kiến tham gia đóng
góp, tổ chức hội nghị, trình ban chấp hành, ban thường vụ thảo luận, thông qua,
ban hành và tổ chức thực hiện. Nhìn chung, những nghị quyết về công tác cán
bộ đã ban hành trong các nhiệm kỳ từ 2005 đến nay của các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ thật sự là những định hướng chính trị quan trọng, góp phần đổi mới
công tác cán bộ và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tại mỗi địa phương.
Sau khi đã ban hành nghị quyết, chỉ thị về công tác cán bộ, các tỉnh ủy
ở Bắc Trung Bộ đã lãnh đạo các cơ quan liên quan, các cấp ủy trực thuộc rút
ngắn thời gian cụ thể hóa, thể chế hóa (nghị quyết của HĐND, các chương trình,
kế hoạch của UBND về công tác cán bộ...) để tổ chức thực hiện thống nhất.
Các tỉnh ủy đã thực hiện nghiêm túc quy chế tỉnh ủy lãnh đạo công tác
cán bộ của chính quyền tỉnh thông qua đảng đoàn HĐND tỉnh và ban cán sự
đảng UBND tỉnh. Cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh, chất lượng quản lý,
điều hành của chính quyền, phụ thuộc một cách quyết định vào chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt. Vì vậy, trong quá
trình lãnh đạo củng cố, phát huy vai trò của chính quyền, các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ đã đặc biệt quan tâm lãnh đạo công tác cán bộ của chính quyền tỉnh
thông qua đảng đoàn HĐND tỉnh và ban cán sự đảng UBND tỉnh đủ sức đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hiện nay.
Nắm vững quan điểm, nguyên tắc của Đảng trong công tác cán bộ, các
tỉnh ủy đã cụ thể hóa quy chế công tác cán bộ cho phù hợp với đặc điểm của
từng tỉnh; nắm chắc điểm mạnh, yếu của từng cán bộ và cả đội ngũ cán bộ;
làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; bố trí sử dụng đúng
cán bộ theo hướng trọng nhân tài, phát huy nhân tài vì lợi ích chung; phải
quan tâm chăm sóc đời sống cán bộ, thực hiện tốt chính sách cán bộ... Các
tỉnh ủy mà trực tiếp là ban thường vụ tỉnh ủy đã dành nhiều thời gian cho hoạt
93
động lãnh đạo kiện toàn tổ chức bộ máy, sắp xếp cán bộ chính quyền nhằm
từng bước hoàn thiện bộ máy chính quyền trong sạch, vững mạnh, đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ chính trị. Thành tựu nổi bật trong công tác tổ chức bộ
máy và cán bộ của tỉnh ủy được thể hiện thông qua đảng đoàn HĐND tỉnh và
ban cán sự đảng UBND tỉnh:
Đối với đảng đoàn HĐND tỉnh: Các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã chú
trọng lãnh đạo kiện toàn HĐND đồng bộ về tổ chức và nhân sự. Tại các kỳ
bầu cử đại biểu HĐND, Tỉnh ủy có văn bản chỉ đạo khá cụ thể về yêu cầu, nội
dung công việc. Ban thường vụ các tỉnh ủy đã yêu cầu các đảng đoàn HĐND
tỉnh thông qua cuộc bầu cử mà tiếp tục củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu lực
và hiệu quả hoạt động của HĐND và UBND tỉnh, góp phần hoàn thành thắng
lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội
ở địa phương. Về nhân sự, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ rất coi trọng việc xem
xét, giới thiệu nhân sự ứng cử đại biểu HĐND tỉnh; xem xét và cử cán bộ,
đảng viên đại diện cho đảng bộ ứng cử đại biểu HĐND để giữ các chức vụ
thường trực HĐND, các ban của HĐND, các thành viên UBND; giới thiệu
cán bộ chủ chốt của tỉnh ủy ứng cử các chức danh chủ chốt của HĐND tỉnh.
Trên cơ sở nghị quyết và hướng dẫn của Trung ương, tỉnh ủy giới thiệu bí thư
hoặc phó bí thư thường trực ứng cử chức vụ chủ tịch HĐND; giới thiệu ủy
viên ban thường vụ hoặc tỉnh ủy viên ứng cử chức vụ phó chủ tịch HĐND;
giới thiệu ủy viên ban thường vụ, tỉnh ủy viên hoặc cán bộ trong diện ban
thường vụ tỉnh ủy quản lý ứng cử ủy viên thường trực và các ban của HĐND
tỉnh. Ban thường vụ các tỉnh ủy đã chủ động, kịp thời chú ý thành lập đảng
đoàn HĐND ngay sau khi có kết quả bầu cử các chức vụ lãnh đạo HĐND; kịp
thời củng cố, kiện toàn và bổ sung nhân sự đảng đoàn khi có sự thay đổi.
Đối với ban cán sự UBND tỉnh: Các tỉnh ủy lãnh đạo công tác cán bộ
UBND tỉnh. Tỉnh ủy rất coi trọng cơ cấu tổ chức, nhân sự các thành viên
UBND tỉnh (cơ cấu tổ chức thường theo hướng dẫn từ cơ quan có thẩm quyền
Trung ương), chú ý lựa chọn các nhân sự chủ chốt của UBND. Theo quy định
trong Đảng, nhân sự ứng cử chủ tịch UBND tỉnh phải do tỉnh ủy xem xét giới
thiệu (tỉnh ủy phải báo cáo và có sự đồng ý của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành
94
Trung ương Đảng thì mới chính thức giới thiệu đến HĐND tỉnh). Tỉnh ủy
giao cho ban thường vụ tỉnh ủy xem xét giới thiệu một số ủy viên ban thường
vụ tỉnh ủy và tỉnh ủy viên ứng cử các chức danh phó chủ tịch và ủy viên UBND.
Song song với việc cử cấp ủy viên có năng lực nắm giữ các chức vụ chủ chốt
trong cơ quan hành pháp, ban thường vụ tỉnh ủy còn thiết lập tổ chức đảng
(ban cán sự đảng) trong cơ quan này. Thành phần ban cán sự đảng bao gồm:
Phó bí thư tỉnh ủy - chủ tịch UBND, giữ chức bí thư ban cán sự đảng; ủy viên
ban thường vụ, phó chủ tịch trực, phó bí thư; các phó chủ tịch UBND tỉnh.
Đối với các cơ quan nội chính, các ngành đặc thù, các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ thông qua cơ chế hiệp y, hiệp quản đối với công tác cán bộ đã chăm
lo xây dựng đội ngũ cán bộ các cơ quan nội chính, các cơ quan đặc thù thuộc
ngành dọc Trung ương bảo đảm chất lượng lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với
các mặt công tác của các cơ quan hiệp quản trên địa bàn. Các tỉnh ủy đã xác
định, thông qua quy chế hiệp y, hiệp quản trong công tác cán bộ để phát huy
trách nhiệm của tỉnh ủy, coi cán bộ diện hiệp y, hiệp quản là cán bộ của
HTCT tỉnh, có vai trò quan trọng trong công tác nội chính và các lĩnh vực đặc
thù theo sự phân công của Đảng, không có sự phân biệt về đối xử. Các tỉnh ủy
đã thống nhất, phối hợp quản lý theo ngành dọc của cơ quan hiệp quản cấp
trên để lãnh đạo công tác cán bộ các cơ quan này từ khâu quy hoạch, đào tạo,
bồi dưỡng, sử dụng, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm và thực hiện chính sách
cán bộ, tăng cường quản lý đội ngũ cán bộ theo phân cấp quản lý cán bộ.
Đối với công tác cán bộ trong cơ quan Ủy ban MTTQ và các đoàn thể
chính trị - xã hội, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ thống nhất lãnh đạo công tác
cán bộ thông qua đảng đoàn MTTQ và các đoàn thể cấp tỉnh (trừ Đoàn thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh). Các tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo bằng các chỉ
thị, nghị quyết, quyết định, chủ trương định hướng về tổ chức cán bộ đối với
Mặt trận và các đoàn thể cấp tỉnh thông qua đảng đoàn MTTQ và các đoàn
thể cấp tỉnh. Xây dựng tổ chức Mặt trận và các đoàn thể vững mạnh cả về số
lượng và chất lượng. Công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, khách quan,
tôn trọng tính độc lập về tổ chức của Mặt trận và các đoàn thể, đúng pháp luật
và hiệu quả. Trên cơ sở thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công
95
tác và cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của Mặt trận và các đoàn thể, các tỉnh
ủy phát huy được tính tự chủ, sáng tạo và trách nhiệm của Mặt trận và các
đoàn thể trong việc xây dựng nội dung, đổi mới tổ chức và cán bộ phù hợp
với tình hình và nhiệm vụ mới. Ở mỗi kỳ đại hội MTTQ và các đoàn thể cấp
tỉnh, các tỉnh ủy luôn quan tâm lãnh đạo công tác cán bộ thông qua đảng đoàn
bằng các thông tri lãnh đạo đại hội, giúp cho MTTQ và các đoàn thể xây dựng
hướng dẫn về công tác nhân sự cho đại hội hiệp thương các chức danh chủ
chốt của MTTQ và các đoàn thể cấp tỉnh. Quy định rõ các tiêu chuẩn về chủ
tịch, phó chủ tịch, ủy viên thường trực MTTQ và các đoàn thể cấp tỉnh.
* Về lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục,
thuyết phục tổ chức đảng, đảng viên thực hiện chủ trương về công tác cán bộ
Công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục chính quyền
và các đoàn thể có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự lãnh đạo của các tỉnh
ủy ở Bắc Trung Bộ đối với công tác cán bộ. Nhận thức được điều đó, các tỉnh
ủy đã thường xuyên quan tâm tới công tác tuyên truyền, vận động, thuyết
phục để thực hiện các nghị quyết, chủ trương về công tác cán bộ.
Trước hết, các tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt việc tổ chức học
tập, quán triệt quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, các nghị quyết, chỉ
thị, đề án, chương trình của tỉnh ủy về công tác cán bộ tới đội ngũ cán bộ,
đảng viên trong HTCT. Đây là công việc có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, vì
các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh từ nghị quyết đại hội đại
biểu toàn quốc của Đảng, nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh, cũng như
các chủ trương, nghị quyết chuyên đề của Trung ương, của tỉnh được tổ chức
thực hiện thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do vậy, các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hiệu quả việc tổ chức quán triệt
những nội dung quan trọng, cốt yếu, cơ bản, nhất là quan điểm, tư tưởng chỉ
đạo, mục tiêu và những giải pháp chủ yếu của từng nghị quyết, chỉ thị. Sau
quán triệt, theo phân công, phân cấp, các chương trình, kế hoạch được ban
hành để tổ chức thực hiện ở địa phương, trong đó xác định mục tiêu, giải
pháp, thời gian và trách nhiệm của những tập thể, cá nhân liên quan trong
thực hiện nghị quyết; các cơ quan, đơn vị, địa phương, chính quyền, các tổ
96
chức trong HTCT cần phải có chương trình, kế hoạch vận động nhân dân tùy
theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức để xác định mục tiêu, giải pháp, thời
gian tổ chức tuyên truyền trong nhân dân.
Các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã có nhiều biện pháp đổi mới và nâng
cao chất lượng sinh hoạt tư tưởng của các tổ chức đảng từ tỉnh đến chi bộ; đề
cao trách nhiệm của cấp ủy, bí thư cấp ủy trong việc lắng nghe tâm tư, nguyện
vọng để giải đáp kịp thời những vướng mắc về tư tưởng trong cán bộ, đảng
viên liên quan đến các nội dung của công tác cán bộ, và thống nhất thực hiện
các chủ trương, nghị quyết về công tác cán bộ. Đấu tranh khắc phục những
biểu hiện phai nhạt lý tưởng, cơ hội, chạy theo lợi ích cá nhân trong khi thực
hiện các nội dung liên quan đến cán bộ. Điển hình như Đảng bộ tỉnh Nghệ An
có chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện không phải người
địa phương, nhờ công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, đến
nay, để chuẩn bị một bước nhân sự đại hội đảng nhiệm kỳ 2015-2020, Nghệ
An đã thực hiện luân chuyển, bố trí trên 60% cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp
huyện không phải người địa phương.
Thông qua công tác lãnh đạo, chỉ đạo, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã
tăng cường sơ kết, tổng kết thực tiễn công tác cán bộ, gắn lý luận với thực
tiễn công tác cán bộ tại địa phương mình, kịp thời làm sáng tỏ và giải đáp
thỏa đáng những vấn đề nảy sinh trong công tác cán bộ, trên cơ sở đó, làm
tiền đề để có những chủ trương, đề án về công tác cán bộ, cụ thể hóa những
kinh nghiệm hay, cách làm mới, đồng thời tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế,
chính sách, tạo động lực, hiệu quả việc thực hiện công tác cán bộ.
Ngoài ra, các tỉnh ủy còn phát huy khá tốt vai trò của MTTQ và các
đoàn thể nhân dân tham gia giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động
của cán bộ. Qua đó góp phần quan trọng cùng cấp ủy, tổ chức đảng hoạt lý
đội ngũ cán bộ. Tiến hành công việc đó đã được các đoàn thể và nhân dân
phấn khởi, đồng tình ủng hộ và tham gia có hiệu quả. Bởi vì, hoạt động của
cán bộ, ở địa phương liên quan trực tiếp đến đời sống mọi mặt của mỗi người
dân. Những biểu hiện không đúng khi MTTQ và các đoàn thể nhân dân tham
gia công việc này đã được uốn nắn kịp thời.
97
* Về lãnh đạo qua phân công, phân cấp quản lý cán bộ, phát huy vai trò quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh; vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị của tỉnh
Các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ lãnh đạo công tác cán bộ thông qua phân công, phân cấp quản lý cán bộ, với phương châm quản lý cán bộ là nhiệm vụ trực tiếp của các cấp ủy đảng, của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, là việc làm hằng ngày, gắn với việc thực hiện các chủ trương, kế hoạch công tác.
Các tỉnh ủy đã phân cấp quản lý cán bộ, phân định về trách nhiệm và quyền hạn của mỗi tổ chức ở các cấp, các ngành trong HTCT của tỉnh và người đứng đầu tổ chức đó về công tác cán bộ. Cơ bản các tỉnh Bắc Trung Bộ đã thực hiện cấp ủy, người đứng đầu tổ chức cấp trên phân quyền cho cấp ủy, người đứng đầu tổ chức cấp dưới theo hướng xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm trong một số vấn đề thuộc về chính sách, chế độ cụ thể. Đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ và công tác cán bộ. Kết hợp tốt giữa các khâu công việc trong công tác cán bộ và giữa công tác cán bộ với các công tác khác, bảo đảm mở rộng phân cấp quản lý đi đôi với tăng cường kiểm tra công tác cán bộ.
Các tỉnh ủy đã xác định thực hiện tốt việc phân cấp quản lý cán bộ một cách hợp lý sẽ là một biện pháp có hiệu quả nhằm khắc phục tình trạng bao biện, bị động của một số cấp ủy đảng, người đứng đầu tổ chức trong công tác cán bộ và bảo đảm cho công tác quản lý cán bộ bám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Để thực hiện tốt nội dung này, Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế xác định cần khắc phục cả hai khuynh hướng: Thiếu tin tưởng ở khả năng quản lý cán bộ của cấp dưới; hoặc ngược lại, giao ngay việc khi cấp dưới chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ mới được giao.
Các tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh ủy về nội dung quản lý, hình thức quản lý, và định kỳ kiểm tra các hoạt động đó. Thông qua các báo cáo định kỳ, đột xuất của các cấp ủy trực thuộc, các ban tham mưu và sự phản ánh của các đoàn thể và nhân dân, các tỉnh huyện đã nắm chắc đội ngũ cán bộ thuộc trách nhiệm quản lý của mình. Đối với những trường hợp được cấp dưới báo cáo đột xuất, được nhân dân phản ánh, các tỉnh ủy đã chỉ đạo đồng chí ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy phụ trách, phối hợp với các ban tham mưu và cấp ủy cấp dưới làm rõ và kết luận.
98
Trong việc thực hiện phương thức quản lý cán bộ, nhận thức rõ tầm
quan trọng của việc quản lý cán bộ, các tỉnh ủy đã chỉ đạo, tổ chức quán triệt
cho cơ quan tham mưu về công tác cán bộ hiểu rõ, nắm chắc những quy định
về việc quản lý cán bộ, công chức theo Điều lệ Đảng, Quyết định số 67-QĐ/TW
ngày 04-7-2007 của Bộ Chính trị ban hành "Quy định về phân cấp quản lý
cán bộ"; Luật cán bộ, công chức; các quyết định về phân cấp quản lý cán bộ
của các tỉnh; từ đó, trong thời gian qua các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã thực
hiện tốt việc quản lý cán bộ đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác bố trí, sắp xếp
cán bộ; do đó, chất lượng hoạt động của cán bộ diện tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh
Bắc Trung Bộ từng bước được nâng lên, công tác quy hoạch cán bộ có sự tiến
bộ đảm bảo cho sự kế thừa lâu dài, ổn định.
Trong việc phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; xây dựng
và nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện quy chế làm việc, quy chế quản lý
cán bộ, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ nhận thức rõ vai trò của người đứng đầu rất
quan trọng, đôi khi còn mang tính quyết định đối với sự vững mạnh của tổ chức,
thể hiện trong công tác quản lý cán bộ dưới quyền, từ việc bố trí, sử dụng vào
các chức danh cụ thể đến khen thưởng, kỷ luật, xét lương, nâng ngạch… (trừ
một số rất ít chức danh thuộc quyền quản lý của cấp ủy cấp trên nhưng ý kiến
nhận xét, kiến nghị với cấp ủy cấp trên của người đứng đầu cơ quan, đơn vị sở
tại về cán bộ đó vẫn rất quan trọng). Vì vậy, ở một số đảng bộ tỉnh ở Bắc Trung
Bộ, có lúc, có nơi khi để xảy ra tình trạng năng lực không tương xứng với
cương vị và chức trách được giao dẫn cán bộ thuộc quyền buông lỏng nguyên
tắc, kỷ cương, kỷ luật, nền nếp sinh hoạt, chế độ công tác, làm mất dân chủ nội
bộ... tại cơ quan, đơn vị, thì người đứng đầu phải liên đới chịu trách nhiệm.
Xây dựng và nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện hệ thống quy
chế của cấp ủy các cấp là một trong những biện pháp thiết thực được các tỉnh
ủy ở Bắc Trung Bộ thực hiện để nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy
đảng, bảo đảm cho hoạt động của cấp ủy, từng thành viên được thống nhất
trong việc thực hiện công tác cán bộ; phát huy được vai trò hạt nhân chính trị,
lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công tác cán bộ. Các tỉnh ủy đã cụ thể hóa những
nguyên tắc, quy định của Trung ương thành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
99
nguyên tắc, chế độ công tác, các mối quan hệ và cách thức giải quyết các mối
quan hệ trong việc thực hiện công tác cán bộ phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ,
điều kiện cụ thể của các đảng bộ tỉnh ở Bắc Trung Bộ. Các tỉnh ủy đã nhận
thức rõ sự khác nhau về cấp độ quản lý cán bộ giữa cấp chỉ đạo chiến lược với
cấp trực tiếp triển khai, do đó, cấp dưới không thể chỉ mô phỏng chung chung
quy định của cấp trên mà cần phải cụ thể hóa quy định về phân cấp quản lý
cán bộ của từng tỉnh thành quy chế về phân cấp quản lý cán bộ ở cấp mình
nhằm mục tiêu quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ... nắm chắc từng cán bộ, cả về
đức, tài và tình trạng sức khỏe, thường xuyên kiểm tra, kịp thời bổ sung hoặc
uốn nắn những sai sót trong quá trình tổ chức thực hiện các quy chế.
* Về lãnh đạo bằng công tác tổ chức, xây dựng tổ chức và đội ngũ
cán bộ làm công tác cán bộ
Công tác tổ chức - cán bộ được các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đặc biệt
quan tâm, cụ thể:
Về công tác tổ chức: Việc kiện toàn, sắp xếp, tổ chức bộ máy các cơ
quan Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội từ tỉnh đến
cơ sở theo hướng tinh gọn, hiệu quả, nâng cao chất lượng hoạt động theo chủ
trương của Trung ương; chủ trương thí điểm bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch
UBND được thực hiện thí điểm ở cả 6 tỉnh Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa: 11 đơn vị
cấp xã; Quảng Trị: 1 đơn vị cấp huyện, 11 đơn vị cấp xã; Hà Tĩnh: 16 xã...);
Đã triển khai thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND (Quảng Trị: 07 huyện,
13 phường); các xã biên giới đều được tăng cường cán bộ, chiến sĩ biên phòng
về làm phó bí thư đảng ủy.
Về công tác cán bộ: Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đối
với công tác cán bộ không ngừng được đổi mới; quy chế bổ nhiệm cán bộ và
giới thiệu cán bộ ứng cử được bổ sung, sửa đổi phù hợp hơn; phân cấp quản lý tổ
chức, bộ máy, cán bộ được đẩy mạnh; công tác quy hoạch, đánh giá, luân
chuyển, đề bạt, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động và giải quyết chế độ chính
sách đối với cán bộ được các tỉnh ủy sửa đổi, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ yên
tâm công tác. Quy hoạch cán bộ đã được thực hiện nghiêm túc hơn ở các cấp,
các ngành, chất lượng nguồn cán bộ quy hoạch được nâng lên. Kết quả quy
100
hoạch cán bộ đã tạo cơ sở xây dựng và thực hiện tốt hơn kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, luân chuyển cán bộ, bố trí, đề bạt cán bộ. Đã quan tâm hơn trong
tạo nguồn, quy hoạch, đề bạt cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ
trẻ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, quản lý nhà nước và chuyên
môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành được đẩy mạnh. Chính
sách cán bộ được chú trọng. Quản lý cán bộ tiếp tục có những đổi mới về
phương pháp và nội dung. Ban thường vụ tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ đã từng
bước cụ thể hóa, thể chế hóa nguyên tắc quản lý cán bộ của Đảng bằng các quy
định và quy chế cụ thể. Công tác cán bộ được tiến hành ngày càng bảo đảm đúng
quy trình, công khai, dân chủ, chặt chẽ hơn, phát huy vai trò của các tổ chức,
người đứng đầu các tổ chức trong HTCT. Đã phân cấp mạnh hơn công tác
quản lý cán bộ theo hướng tăng trách nhiệm và quyền hạn cho cấp dưới. Chất
lượng đội ngũ cán bộ được nâng lên. Nhiều chủ trương, giải pháp lớn của Trung
ương về công tác cán bộ đã được cụ thể hóa thành quy định, kế hoạch để thực
hiện; nội dung, phương pháp có mặt đổi mới, tiến bộ; nhất là vấn đề đào tạo
và đào tạo lại, kể cả đào tạo ở nước ngoài để từng bước chuẩn hóa đội ngũ.
Căn cứ chủ trương, hướng dẫn của Trung ương, các tỉnh ủy Bắc Trung
Bộ cũng đã chủ động xây dựng kế hoạch về việc lấy phiếu tín nhiệm các chức
danh cán bộ lãnh đạo các sở, ban, ngành khối nhà nước; chỉ đạo, đôn đốc thực
hiện và tổng hợp, báo cáo đánh giá bước đầu về kết quả lấy phiếu tín nhiệm,
chờ chủ trương, điều chỉnh, hướng dẫn của Trung ương để thực hiện thường
xuyên, nề nếp, tạo căn cứ để đánh giá cán bộ.
* Về lãnh đạo thông qua vai trò của tổ chức đảng, vai trò tiền phong
gương mẫu của đội ngũ đảng viên
Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đối với công tác cán bộ
trước hết là trách nhiệm của tỉnh ủy, nhất là ban thường vụ tỉnh ủy đã thống nhất
chỉ đạo và kiểm tra các cấp ủy trực thuộc để thực hiện tốt công tác cán bộ, tập
trung vào các công việc như: chỉ đạo, tổ chức quán triệt các quan điểm, đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cán bộ và công
tác cán bộ; hướng dẫn xây dựng kế hoạch, chương trình công tác cán bộ; hướng
dẫn xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ, phê duyệt quy hoạch và hướng dẫn
101
triển khai thực hiện quy hoạch; hướng dẫn đánh giá, tuyển chọn, và làm quy
trình bổ nhiệm cán bộ diện tỉnh ủy quản lý quản lý; xem xét, kết luận về đánh giá
cán bộ, xem xét về khen thưởng, kỷ luật cán bộ; thực hiện chính sách cán bộ,
hướng dẫn sơ kết, tổng kết về công tác cán bộ nói chung, việc nâng cao chất
lượng cán bộ diện tỉnh ủy quản lý nói riêng; tạo điều kiện thuận lợi để đưa cán
bộ đi đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước và nước ngoài; tổ chức các lớp bồi dưỡng
ngắn ngày tại tỉnh cho cán bộ diện tỉnh ủy quản lý và cán bộ trong diện quy hoạch.
Việc phối hợp các cơ quan cấp tỉnh gồm: các ban xây dựng Đảng của
tỉnh ủy, các sở, ban, ngành, địa phương, Mặt trận, đoàn thể và các cơ quan
liên quan trong việc thực hiện công tác cán bộ là rất cần thiết. Các cơ quan đã
làm tốt chức năng tham mưu cho tỉnh ủy về nội dung, phương pháp, PTLĐ
công tác cán bộ; hướng dẫn về nghiệp vụ cho cán bộ, tiến hành kiểm tra, giám
sát theo chức trách nhiệm vụ của mình dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với
các hoạt động của cán bộ diện tỉnh ủy quản lý; tạo điều kiện thuận lợi thuộc
lĩnh vực phụ trách của ban, ngành, đoàn thể để các cơ quan chuyên trách và
cán bộ diện tỉnh ủy quản lý hoàn thành nhiệm vụ. Các tỉnh ủy đã lãnh đạo các
ban ngành, cơ quan, mặt trận, đoàn thể, các tổ chức có liên quan cấp tỉnh
trong việc phối hợp, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp ủy trực
thuộc trong việc thực hiện các nội dung của công tác cán bộ.
Trong việc thực hiện công tác cán bộ, đa số cán bộ diện tỉnh ủy quản lý ở
các tỉnh Bắc Trung Bộ đã thể hiện rõ tính đảng, tính lãnh đạo, kiên quyết bảo vệ
chủ trương của Đảng, triển khai công việc đúng quan điểm, chủ trương của Đảng,
của tỉnh ủy. Đối với công tác cán bộ, đội ngũ cán bộ diện tỉnh ủy quản lý đều đã
lãnh đạo các cơ quan, tổ chức trong HTCT của tỉnh, tiến hành tốt công tác cán
bộ của cơ quan, tổ chức và đóng góp tích cực vào công tác cán bộ của tỉnh ủy.
Các tỉnh ủy cũng quan tâm lãnh đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
giáo dục, xây dựng đạo đức, lối sống của mỗi đảng viên, công chức nhà nước,
cán bộ đoàn thể. Thực hiện Quy định 101-QĐ/TW của Trung ương về "trách
nhiệm, nêu gương cán bộ đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp
theo chức năng nhiệm vụ được giao", các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đều đã xây
dựng hướng dẫn thực hiện Quy định 101-QĐ/TW, tập trung lãnh đạo đẩy
102
mạnh thực hiện việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"
một cách thiết thực. Việc gương mẫu về đạo đức, lối sống cũng như ý thức
trách nhiệm cao trước công việc được giao của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý có tác dụng mạnh mẽ đối với đội ngũ cán bộ, công chức dưới quyền và có
sức lan tỏa trong toàn xã hội.
* Về lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát
Ngay từ đầu mỗi nhiệm kỳ, các tỉnh ủy đều xây dựng chương trình, kế
hoạch, kiểm tra, giám sát của nhiệm kỳ, trong đó có việc thực hiện các nội
dung của công tác cán bộ. Nội dung kiểm tra hướng vào việc quán triệt, cụ thể
hóa và lãnh đạo thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Trung
ương, các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy và của
cấp ủy về công tác cán bộ trong việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức và
sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách trong công tác cán bộ. Đối tượng được xác định kiểm tra là
cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy thuộc cả khối đảng, chính quyền và các đoàn thể;
đảng viên là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong HTCT của tỉnh.
Thực hiện chương trình kiểm tra toàn khóa của tỉnh ủy, ban thường vụ
tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đã chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra toàn
khóa, kiểm tra hàng năm và kiểm tra đột xuất đối với việc thực hiện công tác
cán bộ của chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn. Nội
dung kiểm tra, giám sát về công tác cán bộ trên một số lĩnh vực nhạy cảm, dễ
phát sinh tiêu cực như: Thực hiện chức trách của cấp ủy viên; lĩnh vực đất
đai, đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý tài chính - ngân sách; đền bù, giải phóng
mặt bằng; thực hiện chính sách xã hội…
Từ năm 2005 đến tháng 12-2013, qua tổng hợp báo cáo của ủy ban
kiểm tra tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ, riêng về kiểm tra liên quan đến công
tác cán bộ, đã kiểm tra 146.061 lượt tổ chức đảng, 781.824 lượt đảng viên;
giám sát 52.752 tổ chức đảng, 62.544 đảng viên. Qua kiểm tra, đã kết luận
1.248 tổ chức đảng, 18.504 đảng viên có vi phạm, thi hành kỷ luật 192 tổ
chức đảng, 11.352 đảng viên, giải quyết 121 đơn thư tố cáo tổ chức đảng,
2.043 đơn thư tố cáo đảng viên.
103
Hoạt động kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ luật trong Đảng đã giúp cấp ủy các cấp đánh giá đúng tình hình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác cán bộ của các tổ chức đảng, làm rõ trách nhiệm của tập thể cấp ủy và cấp ủy viên, cán bộ chủ chốt, nhất là những nơi có vấn đề phức tạp; góp phần giữ nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, đảm bảo sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác.
2.2.1.2. Khuyết điểm, hạn chế * Về lãnh đạo bằng chủ trương, nghị quyết, quy chế, quy định về
công tác cán bộ
Trong những năm qua, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã quan tâm tương đối thỏa đáng tới việc xây dựng và bổ sung quy chế làm việc của tỉnh ủy cho phù hợp với tình hình mới và đặc điểm của mỗi địa phương. Tuy nhiên, trong việc tổ chức thực hiện đã nhận thấy một số tồn tại trong việc xây dựng quy chế làm việc và chương trình làm việc của một số tỉnh ủy có chỗ còn chưa thật sự khoa học; việc điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi quy chế làm việc ở một số tỉnh ủy chưa thật sự nghiêm túc; việc phân công, phân nhiệm chưa rõ ràng nên hiệu quả công tác chưa cao. Do đó, tình trạng buông lỏng lãnh đạo có lúc, có việc chưa thực sự được khắc phục triệt để.
Các tỉnh ủy chưa xây dựng được nhiều nghị quyết chuyên đề riêng của tỉnh ủy về công tác cán bộ, hầu như chỉ khi Trung ương có nghị quyết, thì các tỉnh ủy cũng ban hành nghị quyết đó. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII, các tỉnh ủy đã xây dựng chiến lược cán bộ, nhưng chất lượng chưa thật cao, đôi chỗ còn hình thức. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về "Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị" nhưng việc xây dựng các quy chế, chương trình, đề án về công tác cán bộ chưa thực sự "đổi mới".
Các nghị quyết của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ về công tác cán bộ còn chung chung, nên khi lãnh đạo cơ quan chính quyền, đoàn thể làm công tác cán bộ dẫn đến không cụ thể, rõ ràng, thậm chí khiến chính quyền, đoàn thể lúng túng, phải trao đổi lại nhiều nội dung. Tình trạng lúng túng nhất mà các cơ quan chính quyền, các đoàn thể thường gặp vẫn là làm sao để vừa thực
104
hiện đúng chủ trương của cấp ủy, vừa thực hiện đúng các quy định của Nhà nước, luật pháp và điều lệ của đoàn thể, khi có một số quy định của Đảng và của Nhà nước chưa thật thống nhất, đồng bộ.
Trong việc thực hiện quy chế tỉnh ủy lãnh đạo công tác cán bộ của chính quyền tỉnh thông qua đảng đoàn HĐND tỉnh và ban cán sự đảng UBND tỉnh còn nhiều bất cập, hạn chế: Công tác cán bộ của chính quyền nhiều địa phương ở Bắc Trung Bộ mang tính hình thức, dựa dẫm, thụ động. UBND tỉnh là cơ quan chấp hành, thừa hành đúng với nghĩa đen của nó. Nhiều quy định, quy chế về công tác cán bộ của HĐND, UBND tỉnh là bản sao của tỉnh ủy và ban thường vụ tỉnh ủy; việc bố trí nhân sự theo chỉ đạo của tỉnh ủy vào trong cơ quan HĐND và UBND là một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến HĐND, UBND trở thành cơ quan hình thức. Lãnh đạo HĐND, các ban HĐND và khoảng 85% đại biểu HĐND là cán bộ chủ chốt của tỉnh ủy, vô hình chung: HĐND, UBND tỉnh là tỉnh ủy thu nhỏ. Trên thực tế, cơ cấu này làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước "nhất thể hóa". Cấp ủy nắm cả quyền hành pháp và tư pháp ở địa phương và chính thực trạng đó đã tạo ra thứ "quyền lực tuyệt đối". Đây là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng thụ động của HĐND và UBND ở địa phương.
Đối với các cơ quan nội chính, các ngành đặc thù, việc thực hiện quy chế tỉnh ủy lãnh đạo công tác cán bộ bằng cơ chế hiệp y, hiệp quản đối với công tác cán bộ còn nhiều khó khăn, có lúc, có nơi còn hình thức, nhất là trong công tác bổ nhiệm cán bộ. Do đặc thù các cơ quan nội chính và các ngành có cơ cấu tổ chức ngành dọc, trực thuộc cấp trên, quyết định về công tác cán bộ chủ yếu xuất phát từ ý chí, sự lãnh đạo của ngành dọc cấp trên, nên cơ chế hiệp y, hiệp quản có lúc, có nơi trở nên hình thức, biến thành một dạng "hợp thức hóa " cho đúng quy định quản lý cán bộ. Dẫn đến tình trạng, có lúc, có nơi, tỉnh ủy thụ động trong lãnh đạo công tác cán bộ của các cơ quan này. Tâm lý xem nhẹ đánh giá cán bộ của tỉnh ủy, tuyệt đối hóa ý kiến của ngành dọc cấp trên ngày càng phổ biến.
Đối với cơ quan Ủy ban MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội, tỉnh
ủy lãnh đạo công tác cán bộ thông qua đảng đoàn MTTQ và các đoàn thể cấp
tỉnh (trừ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh) cũng còn nhiều bất cập.
105
Việc tỉnh ủy ban hành các chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo công tác cán bộ của
MTTQ và các đoàn thể, có lúc, có nơi còn chưa kịp thời. Vấn đề hết sức quan
trọng để nâng cao chất lượng hoạt động của MTTQ là bố trí những cán bộ từng
trải trong công tác, có uy tín, kinh nghiệm thực tiễn song chưa được nhiều tỉnh
ủy coi trọng. Vẫn còn tình trạng, tỉnh ủy một số địa phương ở Bắc Trung Bộ
bố trí cán bộ năng lực yếu, cán bộ "già", "chờ hưu", cá biệt cán bộ chủ chốt bị
kỷ luật điều chuyển làm công tác mặt trận và các đoàn thể, làm cho chất
lượng hoạt động của MTTQ và các đoàn thể ở một số địa phương không cao.
* Về lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết
phục để thực hiện nghị quyết, chủ trương về công tác cán bộ
Công tác lãnh đạo của các tỉnh ủy trong tuyên truyền, vận động, thuyết
phục tổ chức đảng, đảng viên trong HTCT để thực hiện các nghị quyết, chủ
trương về công tác cán bộ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong việc chấp hành các nghị
quyết, chủ trương về công tác cán bộ ở một số đảng bộ tỉnh chậm được đổi
mới. Việc nắm bắt dư luận xã hội, dư luận trong cơ quan, tổ chức, dự báo
định hướng tư tưởng khi thực hiện những nội dung của công tác cán bộ, nhất
là những cơ quan, đơn vị, địa phương phức tạp, nhạy cảm chưa kịp thời.
Cán bộ, đảng viên chưa có nhiều đề xuất, kiến nghị về những vấn đề
bức xúc trong công tác cán bộ. Nhiều đồng chí thực hiện chế độ thông tin, báo
cáo chưa nghiêm, chưa phản ánh và đề xuất kịp thời những biện pháp giải
quyết những vấn đề nổi cộm, phát sinh đột xuất trong công tác cán bộ thuộc
chức năng, nhiệm vụ được giao.
Trong khi thực hiện các nghị quyết, chủ trương về công tác cán bộ,
trước những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, cũng như khi có tình hình diễn
biến phức tạp, ban chấp hành, ban thường vụ, cán bộ diện tỉnh ủy quản lý ở các
tỉnh Bắc Trung Bộ có lúc, có nơi còn chưa phát huy được trí tuệ tập thể, phát huy
dân chủ trong thảo luận; khi có ý kiến khác nhau thì lại thiếu lắng nghe, thiếu
thống nhất trong nhận thức, hành động và trong chỉ đạo thực hiện, đây là hạn
chế của công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục của trước hết là tỉnh ủy,
cấp ủy các cấp khi thực hiện các chủ trương, nghị quyết về công tác cán bộ.
106
Sự phối hợp và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong
HTCT đối với công tác cán bộ có lúc, có việc còn lúng túng, thiếu đồng bộ.
Thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội của MTTQ còn khó khăn,
nhất là liên quan đến công tác cán bộ.
* Về lãnh đạo thông qua phân công, phân cấp quản lý cán bộ, phát
huy vai trò quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh; vai trò, trách nhiệm
của các tổ chức, người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị của tỉnh
Tuy có nhiều tiến bộ, nhưng sự lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy
ở Bắc Trung Bộ thông qua phân công, phân cấp quản lý cán bộ, phát huy vai trò
quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh, có lúc, có nơi vẫn còn nhiều tồn tại:
Việc đổi mới phương pháp công tác, thực hiện quy chế làm việc,
chương trình công tác của ban chấp hành, ban thường vụ tỉnh ủy các tỉnh Bắc
Trung Bộ tuy đã có cố gắng nhưng nhìn chung vẫn chưa thật sự đổi mới. Việc
tuân thủ triệt để nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao tinh thần trách nhiệm,
phát huy tính chủ động, sáng tạo của mỗi cá nhân, đồng thời coi trọng phát
huy trí tuệ tập thể trong thảo luận, quyết định những vấn đề phức tạp, bảo
đảm đoàn kết thống nhất, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương và nguyên tắc trong
công tác cán bộ, có lúc, có nơi còn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.
Các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã có các quy định về phân công, phân
cấp quản lý cán bộ theo hướng giao quyền nhiều hơn cho cấp dưới và cơ sở,
nhưng nhìn chung còn chung chung và nhiều bất cập, dẫn đến có nơi, có việc,
tuy đã phân công, phân cấp, nhưng vẫn phải xin ý kiến, xin chỉ đạo… gây khó
khăn cho việc thực hiện các nội dung của công tác cán bộ.
* Về lãnh đạo bằng công tác tổ chức, xây dựng tổ chức và đội ngũ
cán bộ làm công tác cán bộ
Việc thực hiện nề nếp, chế độ thông tin, báo cáo ở một số tổ chức
đảng còn thiếu nghiêm túc. Sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với công tác cán bộ
tuy đã có nhiều đột phá, nhưng nhìn chung đội ngũ cán bộ diện tỉnh ủy quản
lý vẫn còn thiếu nhiều cán bộ quản lý, quản trị sản xuất kinh doanh, cán bộ
khoa học, kỹ thuật và chuyên gia giỏi trên các lĩnh vực trọng yếu của tỉnh.
Công tác tổ chức cán bộ có mặt còn hạn chế, nhất là chính sách thu hút, đào
107
tạo cán bộ. Nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý
đội ngũ cán bộ chưa được thực hiện đầy đủ ở một số cấp ủy và lãnh đạo cơ
quan. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa thực sự gắn với công tác quy
hoạch, sử dụng cán bộ. Thực hiện công tác luân chuyển cán bộ chưa thường
xuyên, hiệu quả. Thiếu giải pháp đột phá trong việc phát hiện, đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý; việc quy hoạch cán bộ chưa toàn diện. Việc trẻ
hóa, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ còn chậm; thực hiện chưa tốt việc thu hút cán
bộ giỏi và thay thế số cán bộ, công chức yếu kém về trách nhiệm và năng lực.
Nhận thức của một số ít cán bộ và lãnh đạo cơ quan tham mưu về công
tác cán bộ chưa quan tâm đúng mức, nên việc soạn thảo nội dung trong quy chế
còn chung chung, chưa cụ thể theo tình hình địa phương. Cán bộ, công chức các
cơ quan tham mưu về công tác cán bộ đôi khi chưa thực hiện tốt quy trình ra quy
chế và còn chậm trong sửa đổi, bổ sung. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện quy
chế còn cứng nhắc, chưa linh hoạt. Việc bố trí cán bộ phụ trách nhiệm vụ đôi
khi chưa rõ ràng, chồng chéo. Cán bộ, công chức nào làm tốt nhiệm vụ được
phân công, nhanh nhạy thì lại giao phụ trách nhiều phần việc và ngược lại,
người không làm tốt thì giao ít việc, điều này, gây không ít khó khăn trong
việc thực thi nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu về công tác cán bộ.
* Về lãnh đạo thông qua vai trò của tổ chức đảng, vai trò tiền phong
gương mẫu của đội ngũ đảng viên
Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đối với công tác cán bộ
thông qua vai trò của tổ chức đảng, đảng viên, đoàn viên, hội viên trong các
tổ chức thuộc HTCT còn nhiều bất cập.
Việc thực hiện quy chế làm việc của ban chấp hành và quy chế làm việc
của cơ quan chính quyền, đoàn thể cũng như trong mỗi chỉ thị, nghị quyết, quyết
định… của cấp ủy và chính quyền đều phân công rõ trách nhiệm cụ thể cho các
đồng chí cấp ủy, ủy viên, tuy vậy, việc đề cao trách nhiệm cá nhân và sự gương
mẫu của một số cấp ủy viên (kể cả các đồng chí thường vụ cấp ủy) chưa đồng
đều, đôi khi có các cấp ủy viên không thực sự đề cao trách nhiệm cá nhân, phấn
đấu tới mức cao nhất để hoàn thành nhiệm vụ được giao; làm cho hiệu quả của
các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy thấp và chậm đi vào cuộc sống. Tinh thần
108
trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao, tính tiên phong, gương mẫu của một
số cán bộ, đảng viên chưa cao, chưa thường xuyên bám sát cơ sở để chỉ đạo.
Tình trạng thiếu tinh thần trách nhiệm, tiên phong gương mẫu của cấp
ủy viên đã làm hạn chế chất lượng các quyết định lãnh đạo của tập thể cấp ủy,
ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng công tác cán bộ.
* Về lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát
Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với công tác cán bộ thông qua công
tác kiểm tra, giám sát ở một số tổ chức đảng còn buông lỏng, mang tính hình
thức; tính chiến đấu, tính giáo dục trong kiểm tra, giám sát chưa cao; hiệu quả
kiểm tra, giám sát có mặt còn hạn chế.
Chưa thực sự chủ động và thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra,
giám sát để phát hiện, biểu dương, nhân rộng các nhân tố điển hình. Việc
tham mưu cho tỉnh ủy của một số ủy ban kiểm tra ở Bắc Trung Bộ trong thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm
liên quan đến cán bộ và công tác cán bộ còn thiếu chủ động.
Chất lượng và hiệu quả một số cuộc kiểm tra, giám sát đạt thấp; còn
có nhiều khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên liên quan đến
công tác cán bộ chưa được kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm túc. Công tác
kiểm tra đối với người đứng đầu các tổ chức trong HTCT trong việc thực hiện
công tác cán bộ chưa được chú trọng đúng mức.
2.2.2. Nguyên nhân, vấn đề đặt ra
2.2.2.1. Nguyên nhân của thực trạng
* Nguyên nhân của ưu điểm
- Trước hết, đó là sự đổi mới tư duy của Đảng về "đảng cầm quyền".
Từ khi Đảng ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới (từ Đại hội lần thứ VI,
năm 1986 đến nay), Nghị quyết của Đảng qua các kỳ Đại hội và Nghị quyết
Trung 2, Trung ương 8 (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 3, Trung ương 7
(khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X), Đảng ta đã từng bước phát
triển hệ thống quan điểm, lý luận, các nguyên tắc cơ bản về PTLĐ của Đảng
trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng
Nhà nước pháp quyền. Bằng những quan điểm lý luận đổi mới, Đảng ta đã
109
đúc kết thành nguyên tắc hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ.
Đó là những căn cứ lý luận khoa học định hướng cho các tỉnh ủy ở Bắc Trung
Bộ xác định và thực hiện đúng PTLĐ công tác cán bộ.
Thứ hai, trong những năm qua, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã nâng
cao nhận thức về phương thức lãnh đạo nói chung, trong đó có phương thức
lãnh đạo công tác cán bộ. Sau khi có Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về
"Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ
thống chính trị", các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã nắm bắt được chủ trương lớn
của Đảng về đổi mới PTLĐ, chủ động xây dựng các kế hoạch nghiên cứu,
quán triệt, tuyên truyền và tổ chức thực hiện nghị quyết trong toàn đảng bộ
tỉnh; ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, hàng năm có
tiến hành kiểm tra, đánh giá, sơ kết để chỉ đạo và tổ chức thực hiện tiếp. Cùng
với đó, các tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc điều chỉnh, bổ sung quy
chế làm việc, các văn bản về công tác tổ chức và cán bộ theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương 5 (khóa X).
Có thể khẳng định, sự lãnh đạo, chỉ đạo tích cực, kiên quyết của các
tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ cũng là nguyên nhân quan trọng để PTLĐ công tác
cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ có những tiến bộ trong những năm qua.
Thứ ba, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong
đổi mới phương thức lãnh đạo, thường xuyên tổng kết, sơ kết, rút kinh nghiệm
tiến hành công tác cán bộ. Đây là yếu tố đã giúp các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ
thường xuyên điều chỉnh PTLĐ công tác cán bộ, kịp thời khắc phục nhiều
thiếu sót trong cách lãnh đạo công tác cán bộ.
Thứ tư, trình độ, năng lực của đội ngũ cấp ủy viên, nhất là các tỉnh ủy
viên, cán bộ tham mưu trong công tác cán bộ đã được nâng cao một bước. Với
những thành tựu của công cuộc đổi mới và xây dựng Đảng, công tác đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy viên cấp tỉnh, cấp huyện có đổi mới, đem lại thành quả
lớn là trình độ, năng lực của đội ngũ cấp ủy viên, nhất là các tỉnh ủy viên, cán
bộ tham mưu trong công tác cán bộ đã được nâng cao rõ rệt, đủ sức quán triệt và
tổ chức thực hiện đúng các chủ trương, quan điểm của Trung ương Đảng về
công tác cán bộ, về đổi mới PTLĐ nói chung, PTLĐ công tác cán bộ nói riêng.
110
* Nguyên nhân của khuyết điểm Một là, Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là hoàn cảnh rất mới mẻ, còn nhiều khó khăn, phức tạp cả về lý luận và thực tiễn, nhất là trong một lĩnh vực nhạy cảm như công tác cán bộ, vì vậy, PTLĐ của Đảng nói chung và PTLĐ của Đảng đối với công tác cán bộ cũng đứng trước nhiều vấn đề mới còn đang tìm tòi lời giải. Tình trạng đó dẫn đến không ít những lúng túng, khó khăn trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ, trong thực hiện các khâu công tác cán bộ.
Hai là, những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường đang tác động rất mạnh đến đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chúng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng tác động nhiều đến yêu cầu đổi mới sự lãnh đạo của Đảng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trong đó, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của ta đang trong quá trình tiếp cận, học hỏi để nâng cao hiểu biết về kinh tế thị trường; đang từng bước tham gia vào quá trình lãnh đạo nền kinh tế từ tập trung, quan liêu, bao cấp thành nền kinh tế thị trường với đầy đủ các yếu tố cấu thành của nó. Mặt khác, mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đến mọi tổ chức và công dân, làm tha hóa một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tư tưởng thực dụng xuất hiện, khuynh hướng vì tiền, chạy theo đồng tiền đã để lại những di hại, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, quản lý, lãnh đạo mà cả trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống, nhân cách con người. Thực tế ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, có lúc, có nơi cũng không tránh khỏi sự tác động này, bên cạnh đa số đội ngũ cán bộ giữ được phẩm chất đạo đức lối sống, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, thì cũng có những cán bộ công chức nhà nước vi phạm, thậm chí vi phạm pháp luật hình sự bị truy tố, xét xử. Đó là những vấn đề đặt ra đang tác động tiêu cực đến nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng như lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ hiện nay. Tình trạng tiêu cực trong công tác cán bộ như: chạy chức, chạy quyền, chủ nghĩa cơ hội, tư duy nhiệm kỳ… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi đang ảnh hưởng xấu đến công tác cán bộ, trong đó có PTLĐ công tác cán bộ. Tính cục bộ, lợi dụng
111
chức vụ, quyền hạn, nể nang thiếu dân chủ trong công tác cán bộ còn xảy ra ở nơi này, nơi kia làm biến dạng sự thực hiện các chủ trương lãnh đạo về công tác cán bộ, do vậy có nơi chưa thực sự lựa chọn được những cán bộ có đủ năng lực và uy tín bố trí vào các vị trí chủ chốt của HTCT và gây tư tưởng không tốt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Ba là, nhận thức của cán bộ, đảng viên trong các đảng bộ tỉnh ở Bắc Trung Bộ, kể cả đội ngũ cán bộ diện tỉnh ủy quản lý về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ còn giản đơn và chưa thật đầy đủ; chưa nhận thức sâu sắc về chức năng, nhiệm vụ của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy, cấp ủy các cấp liên quan đến công tác cán bộ. Do vậy, trong thực tế vẫn diễn ra tình trạng có việc, có lúc buông lỏng sự lãnh đạo. Ngược lại, có lúc vẫn xảy ra tình trạng chồng chéo trong công tác cán bộ. Cả hai khuynh hướng trên ít nhiều cũng làm suy giảm năng lực lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ.
Bốn là, trình độ tham mưu của các cơ quan tham mưu về công tác cán bộ cho các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ lãnh đạo công tác cán bộ còn hạn chế. Do đặc thù cán bộ chuyên trách công tác Đảng, nhiều cán bộ, chuyên viên cơ quan tham mưu về công tác cán bộ chuyên trách quá lâu; khá nhiều đồng chí chưa có điều kiện tham gia công tác ở cơ sở, do vậy sự hiểu biết thực tiễn về công tác cán bộ ở cơ sở còn hạn chế, nên ảnh hưởng nhiều đến khả năng tham mưu, đề xuất với tỉnh ủy trong lãnh đạo công tác cán bộ.
2.1.2.2. Vấn đề đặt ra Thực trạng PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ
vừa qua, đang đặt ra một số vấn đề sau:
Một là, thực hiện tốt được nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong HTCT. Đây là vấn đề chi phối toàn bộ PTLĐ công tác cán bộ nhưng cũng rất khó hiện nay. Thực chất đây là một mặt của quan hệ giữa dân chủ và tập trung trong công tác cán bộ. Với PTLĐ hiện nay, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ lãnh đạo khá chặt chẽ công tác cán bộ, bảo đảm được yêu cầu Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, việc phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức của HTCT trong công tác
112
cán bộ còn nhiều vấn đề đặt ra, như: Có nơi các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong HTCT thụ động, cảm thấy không có quyền hạn, trách nhiệm chủ động trong công tác cán bộ do mọi việc tỉnh ủy sắp xếp, quyết định hết; vừa có nơi tỉnh ủy buông lỏng lãnh đạo công tác cán bộ của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong HTCT, nhất là cán bộ chính quyền. Không ít trường hợp thỏa thuận phân chia bí thư đề xuất cán bộ của khối Đảng, đoàn thể, còn chủ tịch đề xuất cán bộ chính quyền dẫn đến vi phạm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đánh mất vai trò của cấp ủy trong công tác cán bộ. Tình trạng không quy được trách nhiệm khi có sai lầm, khuyết điểm trong công tác cán bộ đã kéo dài và phổ biến đang gây nhiều bức xúc trong Đảng và nhân dân.
Các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ nói riêng đã có nhiều đổi mới PTLĐ công tác cán bộ theo hướng dân chủ nhưng nhìn chung vẫn thiếu cơ chế, chính sách cụ thể để thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ. Các cuộc bầu cử trong Đảng và bầu cử cán bộ chính quyền bị mất tính hấp dẫn chính trị, gây tình trạng thờ ơ chính trị trong đảng viên, cử tri, thể hiện ở hiện tượng bỏ phiếu giúp hoặc không tham gia bỏ phiếu... Tình trạng này có nguyên nhân ở cách chỉ đạo bầu cử hiện nay gây cảm giác "cử" là chính, "bầu" là phụ, mọi sự đã được sắp xếp, an bài ở hậu trường trước khi bầu cử, không còn tranh cử hay cạnh tranh thật sự nữa. Bởi vậy, việc vừa bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng, vừa đổi mới, tạo ra cơ chế, chính sách cụ thể để thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ đang là vấn đề bức xúc, có ý nghĩa chiến lược cần nhìn thẳng vào thực tế để có giải pháp đúng đắn.
Hai là, ngăn chặn tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ, như: chạy chức, chạy quyền; cục bộ, "hậu duệ"… tác động xấu đến PTLĐ công tác cán bộ hiện nay.
Còn tình trạng tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, cục bộ, chủ nghĩa thân quên thì không thể nói đến dân chủ trong công tác cán bộ được, và toàn bộ PTLĐ công tác cán bộ của Đảng sẽ bị biến dạng. Vừa qua đã có những tìm tòi đổi mới cách tuyển chọn cán bộ, cách đổi mới bầu cử trong Đảng theo hướng tăng dân chủ trực tiếp; áp dụng lấy phiếu tín nhiệm để bổ nhiệm; lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo các cấp, kê khai tài sản... nhưng chưa
113
có hiệu quả rõ rệt. Vấn đề đặt ra là phải hoàn thiện PTLĐ, xây dựng các cơ chế, thiết chế, quy chế công tác cán bộ như thế nào để bịt kín các sơ hở, vô hiệu hóa các các tác động tiêu cực vào công tác cán bộ, chặn đứng các tiêu cực đã bộ lộ vừa qua đang gây bức xúc trong Đảng và nhân dân.
Ba là, đổi mới PTLĐ và cách làm công tác cán bộ để vừa tuyển chọn,
sử dụng được người tài vừa phát hiện, thay thế kịp thời những cán bộ yếu kém.
Trong công tác cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ cũng ở trong tình trạng thiếu cơ chế, chính sách cụ thể để phát hiện và sử dụng người tài; chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức, thay thế cán bộ yếu kém. Những yếu kém này có nguyên nhân từ những bất cập trong quy chế công tác cán bộ, trong thói quen cách làm, cách lãnh đạo công tác cán bộ đã lạc hậu.
Bốn là, đảm bảo công tác cán bộ không phụ thuộc vào tư duy nhiệm
kỳ và sự chi phối của người đứng đầu.
Tình trạng công tác cán bộ thiếu tầm nhìn xa cũng xảy ra với các tỉnh Bắc Trung Bộ thể hiện ở tình trạng hẫng hụt cán bộ; tình trạng cơ cấu độ tuổi, trình độ không hợp lý, vừa thừa vừa thiếu cán bộ… Trong nguyên nhân của tình trạng này có yếu tố PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy còn chịu sự tác động tiêu cực của tư duy nhiệm kỳ và sự chi phối của người đứng đầu. Hầu như các tỉnh ủy chỉ tập trung cho công tác cán bộ của nhiệm kỳ hiện tại hay liền kề mà ít chú ý đến chuẩn bị cán bộ cho một chiến lược dài hơi. Trong công tác cán bộ của các tỉnh cũng thường có hiện tượng phụ thuộc quá nhiều vào sự chi phối của người đứng đầu. Nếu bí thư tỉnh ủy là người quan tâm đến mặt công tác cán bộ nào thì mặt công tác đó nổi lên; nếu bí thư tỉnh ủy là người dân chủ, công tâm thì công tác cán bộ dân chủ, công bằng; ngược lại, bí thư tỉnh ủy là người độc đoán, cục bộ, thiếu công tâm thì công tác cán bộ tích tụ nhiều vấn đề. Tuy vai trò của người đứng đầu rất quan trọng nhưng nếu có PTLĐ đúng, khoa học, được thể chế hóa tốt có thể hạn chế được những tác động tiêu cực của tư duy nhiệm kỳ và phong cách làm việc không khoa học của người đứng đầu. Năm là, thi tuyển công chức một cách nghiêm túc
Việc thi tuyển công chức đã được thực hiện thời gian gần đây trong
khâu tuyển chọn cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ theo quy định của Trung
114
ương. Thực tế cho thấy, việc thi tuyển công chức còn nhiều hạn chế: Thi
tuyển còn biểu hiện hình thức, thí sinh dự thi cốt "tráng men" cho có bằng để
vào cơ quan. Mặt khác, việc thi công chức vẫn nặng về quan hệ, phần lớn là
con em cán bộ…, vì vậy "sân chơi" này chưa thực sự công bằng cho các thí
sinh thi tuyển. Việc chọn được người thực tài, có năng lực thực hiện nhiệm vụ
chưa được coi trọng. Thi tuyển công chức theo đúng nghĩa đang là vấn đề đặt
ra hiện nay.
Tiểu kết chương 2
Trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ năm 2005 đến nay các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ đã luôn quan tâm đến PTLĐ của tỉnh ủy, trong đó có PTLĐ công tác
cán bộ của tỉnh ủy. Các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã quan tâm xác định, hoàn thiện
và thực hiện tốt PTLĐ đối với công tác cán bộ, nhờ đó, chất lượng, hiệu quả lãnh
đạo của các tỉnh ủy đối với công tác cán bộ được nâng lên một bước, góp phần
quan trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ - nhân
tố quyết định thành tựu công cuộc đổi mới ở các tỉnh này những năm qua.
Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu đổi mới công tác cán bộ để xây dựng
đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế hiện nay, PTLĐ công tác cán bộ của các
tỉnh ủy khu vực Bắc Trung Bộ vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập. Việc xây
dựng các quy định, quy chế để cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng
thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ còn chưa được
quan tâm; vai trò người đứng đầu trong công tác cán bộ còn chưa thể hiện rõ.
Việc giám sát trong công tác cán bộ còn nhiều lúng túng, vai trò của MTTQ
trong công việc này ở nhiều nơi còn chưa rõ và chưa được phát huy mạnh mẽ;
việc phát hiện người có đức, có tài cả đảng viên và người ngoài Đảng để quy
hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng còn chưa có quy định cụ thể và kết quả thấp;
còn lẫn lộn về trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân trong công tác cán bộ...
Thực trạng PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy khu vực Bắc Trung
Bộ có cả nguyên nhân khách quan, chủ quan và đặt ra nhiều vấn đề cần được
quan tâm giải quyết để thật sự đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy
khu vực Bắc Trung Bộ.
115
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2030
3.1. DỰ BÁO NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI
MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA CÁC TỈNH Ở BẮC
TRUNG BỘ
3.1.1. Dự báo những nhân tố tác động Trong thời gian tới, việc đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ sẽ chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà trong đó vừa có thuận lợi vừa có thể có khó khăn, thách thức, như:
Yêu cầu của việc đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, nhất là đổi mới chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đổi mới HTCT trong thời gian tới sẽ đòi hỏi Đảng phải đẩy mạnh nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận, ban hành thêm các quyết sách đẩy mạnh đổi mới PTLĐ nói chung, PTLĐ công tác cán bộ nói riêng để xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đổi mới HTCT, bảo đảm Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo, thực hiện được nguyên tắc: "Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị". Tình hình và yêu cầu đó sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy các tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ phải coi trọng đẩy mạnh đổi mới PTLĐ công tác cán bộ hơn nữa, nhất là vấn đề lãnh đạo chặt công tác cán bộ nhưng phải tăng cường phân công, phân cấp, phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong HTCT, khắc phục xu hướng làm thay, lấn sân, bao biện của tổ chức đảng trong công tác cán bộ. Trình độ dân trí, dân chủ của nhân dân, cán bộ, đảng viên ngày càng nâng cao đòi hỏi phải đổi mới công tác cán bộ, nhất là đổi mới PTLĐ công tác cán bộ theo hướng mở rộng và thật sự dân chủ, đảm bảo thực hiện nguyên tắc nhân dân là người chủ quyền lực Nhà nước, đảng viên là người chủ quyền lực trong Đảng. Xu hướng này vừa là cơ hội thúc đẩy các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ
116
đổi mới PTLĐ công tác cán bộ, vừa đặt ra yêu cầu nghiêm túc phải khắc phục những bất cập trong PTLĐ công tác cán bộ như cách chỉ đạo theo lối áp đặt, dân chủ hình thức trong công tác cán bộ còn xảy ra trong không ít trường hợp vừa qua. Trong thời gian qua, mặc dù có nhiều khó khăn, thách thức, song với tinh thần đoàn kết, quyết tâm cao, Đảng bộ và nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ đã nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Kinh tế tuy có gặp khó khăn nhưng vẫn phát triển khá; các lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội được tăng cường. Nhiều cơ chế, chính sách mới của các tỉnh được ban hành, đang phát huy hiệu quả, hướng tới mục tiêu vì con người, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, được dư luận đánh giá cao và được nhân dân đồng tình ủng hộ. Những thành tựu của công cuộc đổi mới đó sẽ tạo thêm những điều kiện thuận lợi cho công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ và đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ trong thời gian tới. Đặc biệt, qua quá trình đổi mới Đảng ta nói chung, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ nói riêng đã tích lũy được kinh nghiệm đổi mới PTLĐ, đổi mới công tác cán bộ, đồng thời, trình độ, năng lực lãnh đạo của đội ngũ tỉnh ủy viên, đội ngũ cán bộ tham mưu của cấp ủy các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã được nâng cao hơn. Đây sẽ là yếu tố thuận lợi rất quan trọng cho đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ trong thời gian sắp tới. Tuy nhiên, việc đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ sẽ còn gặp những khó khăn, thách thức từ thói quen trong cách nghĩ, cách lãnh đạo công tác cán bộ theo lối bao biện làm thay hay áp đặt, thiếu dân chủ đã ăn sâu trong không ít cán bộ lãnh đạo; từ tâm lý xã hội của người Việt Nam hay nể nang, nặng tình, nặng quan hệ thân quen, dòng họ, quê hương...
Trong thời gian tới, tình trạng tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm sẽ còn diễn biến phức tạp và tác động khó lường đến công tác cán bộ. Thậm chí tình trạng hối lộ, chạy chức, chạy quyền sẽ có thể tác động tiêu cực đến PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ.
Mặt khác, những vấn đề lý luận chưa được làm rõ trong đổi mới PTLĐ của Đảng, trong đổi mới HTCT, trong xây dựng Đảng trong điều kiện mới cũng sẽ là những trở ngại cho đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ.
117
3.1.2. Mục tiêu Đổi mới và hoàn thiện PTLĐ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đối với công tác cán bộ góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương; giữ vững vai trò lãnh đạo của các tỉnh ủy, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với công tác cán bộ; tạo bước chuyển biến mới trong công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, bảo đảm tính kế thừa giữa các thế hệ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của đất nước nói chung và các tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ nói riêng.
Một số mục tiêu cụ thể: Nâng cao chất lượng việc xây dựng, cụ thể hóa, triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, chủ trương, nghị quyết lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy, cấp ủy các cấp.
Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, tập trung là quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành của tỉnh; rà soát, sắp xếp, điều chỉnh quy hoạch phù hợp điều kiện thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Thực hiện có chất lượng Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành, nhằm tạo điều kiện rèn luyện, bồi dưỡng, thử thách cán bộ, nhất là cán bộ trẻ; làm tốt công tác điều động, luân chuyển cán bộ.
Thí điểm ở một số đơn vị cấp huyện nếu đủ điều kiện chủ trương bí thư đồng thời là chủ tịch UBND; triển khai thực hiện tốt Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính Phủ về chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã, chính sách thu hút người có trình độ đại học về xã công tác.
Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tập trung bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm giải quyết những tình huống cụ thể ở cơ sở.
Thực hiện tốt công tác cán bộ theo phân cấp, xây dựng đội ngũ cán bộ của các tỉnh Bắc Trung Bộ vững vàng về chính trị, có phẩm chất đạo đức cách mạng, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ năng lực; bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, được bố trí hợp lý; trẻ hóa đội ngũ cán bộ, kết hợp ba độ tuổi hợp lý, bảo đảm tính kế thừa, phát triển theo quy định của Trung ương, phấn đấu 100% cán bộ diện tỉnh ủy quản lý có trình độ chuyên môn đại học trở lên, lý luận chính trị cử nhân, cao cấp.
118
Rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh chính sách đối với cán bộ, bảo đảm công bằng, hợp lý, tạo động lực thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của cán bộ, thu hút người tài về huyện, thị công tác.
3.1.3. Phương hướng Tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ cần tiếp tục đổi mới PTLĐ đối với
công tác cán bộ, theo những phương hướng:
Thứ nhất, quán triệt, tổ chức thực hiện có hiệu quả, cụ thể hóa quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong HTCT của tỉnh.
Cụ thể hóa quan điểm thành các quy chế, quy định cụ thể trong công tác cán bộ; rà soát, bổ sung các quy chế, quy định. Trong các quy chế, quy định, cần xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể; các mối quan hệ, cơ quan và cá nhân chủ trì, chịu trách nhiệm đối với từng công việc trong công tác cán bộ.
Cùng với việc cải tiến việc quán triệt, triển khai học tập nghị quyết của Đảng bảo đảm thiết thực, hiệu quả, coi trọng cụ thể hóa và thể chế hóa nghị quyết thành các chương trình, kế hoạch, các cơ chế, chính sách, các giải pháp cụ thể trong tổ chức thực hiện.
Thứ hai, PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ chú ý tính đồng bộ, toàn diện, trọng tâm, trọng điểm trong tất cả các khâu của công tác cán bộ.
Công tác đánh giá cán bộ thực hiện theo Quyết định số 50-QĐ/TW ngày 03-5-1999 của Bộ Chính trị, thực hiện có nền nếp, thường xuyên theo định kỳ hằng năm, trước khi kết thúc nhiệm kỳ hoặc luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ.
Thực hiện nghiêm túc chủ trương của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về lấy phiếu tín nhiệm hằng năm đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Trong đó, đánh giá cán bộ theo hướng dân chủ, công tâm, khách quan và trên cơ sở hệ thống tiêu chí cụ thể theo quy định.
Công tác quy hoạch cán bộ tiếp tục quán triệt và thực hiện theo Nghị quyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị; tập trung chỉ đạo thực hiện tốt việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ theo Hướng dẫn số 22-HD/BTCTW
119
của Ban Tổ chức Trung ương về thực hiện Nghị quyết 42-NQ/TW; nâng cao chất lượng cán bộ trong quy hoạch, nhất là trình độ chuyên môn và lý luận chính trị; tăng tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số trong quy hoạch cán bộ của các cấp (cán bộ trẻ khoảng 20%; cán bộ nữ từ 20- 25%; cán bộ người dân tộc 10-12%). Gắn công tác quy hoạch với đào tạo bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ trong quy hoạch.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tiếp tục mở rộng, đa dạng hóa các loại hình đào tạo phù hợp với tình hình thực tiễn tại mỗi địa phương; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo yêu cầu tiêu chuẩn chức danh cán bộ. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng hướng vào thiết thực, phù hợp với yêu cầu đối với từng loại cán bộ; quan tâm bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ.
Công tác luân chuyển cán bộ tiếp tục thực hiện theo Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25-01-2002 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý, bảo đảm đáp ứng được yêu cầu rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng để bổ sung nguồn cán bộ cho HTCT của các tỉnh; khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín cán bộ trong các ngành, địa phương, đơn vị.
Thực hiện nghiêm túc quy chế tuyển chọn cán bộ, bảo đảm dân chủ, khách quan, công tâm, phù hợp chuyên môn nghiệp vụ và chuyên ngành đào tạo. Chú trọng tuyển chọn cán bộ trẻ, sinh viên được đào tạo cơ bản, có triển vọng vào các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân ở các cấp.
Việc bầu cử, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ đảm bảo thực sự dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, phù hợp với năng lực, sở trường và chuyên môn được đào tạo; thực hiện tốt việc chuẩn bị nhiều phương án nhân sự để lựa chọn bố nhiệm, luân chuyển và giới thiệu cán bộ ứng cử.
Thực hiện đầy đủ, đúng chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đội
ngũ cán bộ đương chức và nghỉ hưu.
Thứ ba, PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ bám sát yêu cầu thực tế, gắn với nhiệm vụ chính trị, tình hình đội ngũ cán bộ của địa phương.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh các quy chế, quy định, quy trình về công tác cán bộ, từ các khâu phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng... đến bảo vệ, chăm sóc sức khỏe và thực hiện chính sách cán bộ
120
theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, khoa học, phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế nhằm bảo đảm thực hiện thống nhất ở từng địa phương.
Rà soát, bổ sung quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ; tiếp tục cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ chuyên môn nghiệp vụ ở các cơ quan trong HTCT
của tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Chỉ đạo
xây dựng cơ cấu công chức, bố trí sắp xếp cán bộ, công chức phù hợp với
chuyên ngành đào tạo, nhằm phát huy tốt khả năng chuyên môn; có biện pháp
nâng cao chất lượng cán bộ, đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Thứ tư, PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ gắn
với đổi mới phương thức tiến hành công tác cán bộ của cơ quan chính quyền,
đoàn thể, phát huy vai trò, trách nhiệm của cả HTCT trong tỉnh.
Các tỉnh ủy lãnh đạo các cơ quan chính quyền, đoàn thể: Rà soát, hoàn
thiện cơ chế, quy chế, quy định về công tác cán bộ bảo đảm vừa phải phù hợp
với PTLĐ của tỉnh ủy đối với công tác cán bộ, vừa phải phù hợp với các quy
định của Nhà nước và đoàn thể. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cơ
quan chính quyền, đoàn thể trong sạch, vững mạnh, có đủ phẩm chất và năng
lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Chú ý xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các doanh
nghiệp, cán bộ trong lực lượng vũ trang, trong các cơ quan hiệp quản từ tỉnh đến
cơ sở, góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự, tạo điều kiện thuận
lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
3.2. GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CÁN
BỘ CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở BẮC TRUNG BỘ
3.2.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tỉnh ủy, các cấp
ủy đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ đối
với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ hiện nay
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu:
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các
định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên
truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng
121
hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo
công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng
viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ
quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ
chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống
chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người
đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và
hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ
động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống
chính trị [38, tr. 88-89].
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của tỉnh ủy, các cấp ủy đảng, đội
ngũ cán bộ, đảng viên các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ là phải làm cho mọi
cán bộ, đảng viên hiểu rõ tầm quan trọng của việc đổi mới PTLĐ của Đảng về
công tác cán bộ. Đặc biệt cần làm cho các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ, các cấp ủy
cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc về bản chất, nội dung, vai trò của việc đổi
mới PTLĐ của Đảng đối với công tác cán bộ.
Trước hết, tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ là cơ quan trực tiếp thực
hiện vai trò lãnh đạo công tác cán bộ là một nội dung quan trọng trong PTLĐ
của tỉnh ủy. PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ là
việc các huyện ủy đề ra và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách cán bộ.
Trong hoạt động lãnh đạo của tỉnh ủy thì nội dung lãnh đạo công tác cán bộ là
một nội dung then chốt, vì công tác cán bộ luôn là vấn đề quan trọng, thường
xuyên, phức tạp và rất nhạy cảm. Công tác cán bộ có chất lượng hay không ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng lãnh đạo của tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của tỉnh ủy, thì trước hết là nâng cao
nhận thức, trách nhiệm của các đồng chí ủy viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh
phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của PTLĐ của tỉnh ủy đối với công tác
cán bộ, tuân thủ theo đúng quan điểm của Đảng, đề cao trách nhiệm trong xây
dựng, cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Trung ương và
thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế về công tác cán
bộ do tỉnh ủy đã đề ra.
122
Thứ hai, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của tỉnh ủy phải gắn với việc
nâng cao nhận thức cho đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên trong HTCT của
tỉnh về PTLĐ của tỉnh ủy đối với công tác cán bộ. Vì, chủ trương, nghị quyết
của Trung ương, của tỉnh ủy về công tác cán bộ là quan trọng, nhưng để chủ
trương, nghị quyết đi vào cuộc sống, đem lại kết quả tốt phụ thuộc vào ý thức,
trách nhiệm của đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên trong HTCT của tỉnh.
Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy viên về PTLĐ của
tỉnh ủy đối với công tác cán bộ cần nâng cao nhận thức về chủ trương, đường
lối, nghị quyết, chỉ thị, những hình thức, biện pháp, quy trình công tác cán bộ
gắn với nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp với từng loại đối
tượng. Với cấp ủy viên, cán bộ tổ chức phải thông qua quá trình học tập và
công tác thực tiễn để nâng cao nhận thức về PTLĐ của Đảng đối với công tác
cán bộ, đồng thời tự nghiên cứu tìm hiểu qua các nghị quyết, chỉ thị của
Trung ương, của tỉnh ủy, các tài liệu chuyên khảo, sách, báo.
Đối với đảng viên cần có kế hoạch tuyên truyền giáo dục chuyên đề về
PTLĐ của Đảng, PTLĐ công tác cán bộ, học tập các nghị quyết, chỉ thị của
Trung ương, của tỉnh ủy... Trong quá trình quán triệt nâng cao nhận thức cho cán
bộ, đảng viên phải gắn với việc liên hệ, kiểm điểm về nhận thức ở mọi cấp ủy, tổ
chức đảng; liên hệ, chỉ rõ những việc đã làm đúng và chưa đúng, nguyên nhân
chủ quan của việc thực hiện chưa tốt hoặc cố tình vi phạm các nguyên tắc tổ
chức sinh hoạt đảng, các quan điểm, nguyên tắc, quy trình, quy chế công tác cán
bộ thời gian vừa qua; xác định những biện pháp khắc phục cụ thể, thiết thực, bảo
đảm sự thống nhất ý chí và hành động của tổ chức đảng. Đối với những tổ chức
và cá nhân vi phạm nghiêm trọng phải được xử lý kỷ luật nghiêm và có biện
pháp kịp thời để chấn chỉnh, uốn nắn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.
Công tác cán bộ là một việc hệ trọng, có tác động ảnh hưởng đến tổ
chức, đến sự phát triển của địa phương; là một hoạt động có tính tổ chức cao, là
trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức, của những cá nhân có liên quan. Đồng thời
nó là một việc khó, phức tạp, nhạy cảm. Mặt khác, như trên đã trình bày, một
trong những hạn chế, tồn tại và cũng là kinh nghiệm được rút ra là chúng ta chưa
có được sự thống nhất về nhận thức, chưa tạo được sự nhất trí cao trong đổi mới
123
PTLĐ công tác cán bộ nói chung. Do đó, phải nắm vững các quan điểm, chủ
trương, nội dung, phương pháp về công tác cán bộ. Cho nên việc thống nhất nhận
thức về đổi mới PTLĐ của Đảng nói chung, của tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ
nói riêng là một giải pháp có tính nguyên tắc trong việc nâng cao chất lượng
công tác cán bộ ở các tỉnh Bắc Trung Bộ hiện nay. Muốn vậy, ban thường vụ
tỉnh ủy, các cơ quan tỉnh mưu phải thường xuyên tiến hành công tác tuyên truyền,
giáo dục, quán triệt đến cán bộ, đảng viên với những nội dung về PTLĐ công
tác cán bộ của tỉnh ủy, cấp ủy các cấp theo những nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, phải làm rõ tầm quan trọng của việc bảo đảm sự lãnh đạo của
tỉnh ủy đối với công tác cán bộ, đồng thời đổi mới tư duy, mạnh dạn đổi mới
cách làm công tác cán bộ.
Tầm quan trọng này vừa do vai trò tỉnh ủy, của cấp ủy các cấp, vừa do
vai trò của đội ngũ cán bộ trong HTCT của tỉnh quy định. Việc bảo đảm sự
lãnh đạo của tỉnh ủy, cấp ủy các cấp đối với công tác cán bộ góp phần khắc
phục tư tưởng đơn giản, coi nhẹ, thiếu nghiêm túc trong chỉ đạo và thực hiện
các nội dung của công tác cán bộ. Trong mối quan hệ giữa tổ chức đảng và
cán bộ, đảng viên cần phải thống nhất nhận thức rằng cán bộ phục vụ tổ chức;
cán bộ là cán bộ của tổ chức, không có cán bộ ngoài tổ chức. Làm cán bộ là
một vinh dự lớn, là sự phát triển, tiến bộ của cá nhân, ít nhất là về mặt tinh
thần, nhưng điều lớn hơn: đó là một bổn phận, trách nhiệm nặng nề. Điều đó
dẫn đến yêu cầu tự nhiên là cán bộ phải chịu sự quản lý, giám sát, kiểm tra,
sắp xếp, bố trí của Đảng, của tổ chức, của nhân dân.
Hai là, phải khắc phục tình trạng nhận thức chưa đầy đủ về mục đích,
yêu cầu của công tác cán bộ và việc bảo đảm sự lãnh đạo của tỉnh ủy, cấp ủy
các cấp về công tác cán bộ.
Qua tuyên truyền, giáo dục, quán triệt cần giải quyết khắc phục tình trạng
nhận thức chưa đầy đủ về mục đích, yêu cầu về PTLĐ công tác cán bộ; hiểu
PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy, của cấp ủy các cấp còn phiến diện, nặng nề,
nhấn mạnh quá mức đến tính phức tạp, nhạy cảm... trong công tác cán bộ, mà
chưa thấy được tính tích cực trong công tác cán bộ; khắc phục thái độ dè dặt, né
tránh, "dĩ hòa vi quý", siêu hình trong công tác cán bộ, coi những ý kiến tham
124
gia nhận xét, đánh giá đối với cán bộ như là những cái gì "nhất thành bất biến",
mà không thấy được tính tương đối về những phẩm chất, năng lực của cán bộ. Ba là, trong tuyên truyền, trước hết, cần chỉ rõ những tác động, tác
dụng trực tiếp của việc đổi mới PTLĐ công tác cán bộ
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của tỉnh ủy, các cấp ủy đảng đối với việc đổi mới PTLĐ công tác cán bộ gắn với đổi mới thực hiện các nội dung công tác cán bộ, từ việc đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ, cũng như giúp đỡ cán bộ trong quá trình phấn đấu, rèn luyện; làm rõ ý nghĩa của toàn bộ các nội dung, các khâu trong công tác cán bộ như là một quá trình "điều khiển từ xa" việc hình thành, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Thật vậy, đây là một quá trình tự giáo dục và giáo dục, thông qua đó, hình thành, xác lập hệ giá trị của người cán bộ trong xã hội, trong tổ chức và chính ở mỗi người cán bộ (mà hệ thống các tiêu chuẩn cán bộ là một biểu hiện cụ thể). Nói cách khác, thông qua việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của của cán bộ, đảng viên về PTLĐ của tỉnh ủy, các cấp ủy đảng đối với công tác cán bộ góp phần và tạo điều kiện cho người cán bộ, đảng viên hoàn thiện nhân cách của mình.
Bốn là, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cần
làm rõ vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, đảng viên.
Đây là đối tượng chịu sự tác động của PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy, cấp ủy các cấp. Cán bộ, đảng viên vừa có trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng, vừa gắn với quyền lợi của tập thể và cả cá nhân mình trong đó, nhất là phục vụ trong công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, bởi việc lựa chọn đúng cán bộ không chỉ đảm bảo sự phát triển của tập thể, mà ngay cả những cá nhân, cán bộ, đảng viên, công chức trong cơ quan đơn vị cũng được hưởng... đặc biệt trường hợp những cán bộ đó là cán bộ chủ chốt, cán bộ đứng đầu.
Kiên quyết phê phán tình trạng níu kéo cách làm công tác cán bộ như
cũ, không muốn, không dám đổi mới PTLĐ công tác cán bộ.
3.2.2. Tăng cường phân công, phân cấp trong quản lý và sử dụng cán bộ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, tập thể lãnh đạo, các tổ chức, người đứng đầu trong công tác cán bộ
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: "Đảng cần phải chăm lo cho cán bộ, cho cả hệ thống chính trị trên tất cả
125
các lĩnh vực, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị trong công tác cán bộ " [20, tr. 45]. PTLĐ đối với công tác cán bộ của tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ phải gắn với việc tăng cường phân công, phân cấp trong quản lý và sử dụng cán bộ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức, người đứng đầu các tổ chức của HTCT trong công tác cán bộ.
Thứ nhất, trong việc phân công, phân cấp trong quản lý và sử dụng
cán bộ
Quản lý cán bộ là một khâu rất quan trọng của công tác cán bộ, quan hệ mật thiết với các khâu khác của công tác cán bộ, nhất là các khâu tuyển chọn, bố trí, điều động, luân chuyển cán bộ, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bổ nhiệm, miền nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, thực hiện chế độ, chính sách cán bộ, kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, giải quyết khiếu nại, tố cáo về cán bộ. Quản lý tốt cán bộ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các khâu nêu trên của công tác cán bộ đạt chất lượng, hiệu quả. Ngược lại, các khâu của công tác cán bộ được thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý cán bộ đạt chất lượng hiểu quả, tạo nên chất lượng chung của công tác cán bộ. Quản lý cán bộ là quản lý con người, song những con người này là những cán bộ các ngành, các cấp từ trung ương đến cơ sở. Đó là nhân tố quyết định thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị. Hoạt động và quan hệ của cán bộ rất đa dạng, phong phú, trong khi đó đòi hỏi đối với quản lý cán bộ là toàn diện, cụ thể, chính xác và kịp thời. Điều này cho thấy công tác quản lý cán bộ rất đa dạng, phức tạp, nhất là trong điều kiện hiện nay hoạt động và các mối quan hệ của cán bộ rất đa dạng, phong phú. Cán bộ chịu tác động nhiều chiều cả những các tác động tích cực và tiêu cực của kinh tế thị trường, mở cửa, kể cả sự cám dỗ về vật chất, sự tấn công về tinh thần, tư tưởng của các phần tử xấu.
Trên thực tế công tác quản lý cán bộ của các cấp ủy trong thời gian qua đã có tiến bộ, đạt được kết quả quan trọng, góp phần đáng kể vào kết quả của công tác cán bộ. Tuy nhiên, công tác quản lý cán bộ cũng bộc lộ không ít hạn chế, bất cập. Bên cạnh những hạn chế bất cập về nhiều mặt, phải kể đến việc buông lỏng quản lý, hoặc không thấy rõ trách nhiệm, nội dung quản lý
126
cán bộ của nhiều cấp ủy, hoặc chồng chéo trong hoạt động quản lý cán bộ của các cơ quan quản lý cán bộ… Điều này chủ yếu do sự phân cấp quản lý cán bộ chưa được coi trọng, chưa được quy định và hướng dẫn cụ thể.
Để khắc phụ tình trạng nêu trên, từng bước đưa công tác quản lý cán
bộ vào nền nếp, nâng cao chất lượng công tác cán bộ rất cần có quy định cụ
thể về phân cấp quản lý cán bộ. Để đáp ứng yêu cầu đó, ngày 04-7-2007 Bộ
Chính trị khóa X đã ra Quyết định số 67-QĐ/TW ban hành quy định về phân
cấp quản lý cán bộ. Quy định này đã xác định rõ nội dung quản lý cán bộ.
Việc phân công, phân cấp cần được thực hiện linh hoạt, sáng tạo; khắc phục
tình trạng biểu hiện nặng về phương thức này xem nhẹ phương thức khác.
Việc quản lý cán bộ ngoài việc thông qua nhiệm vụ được phân công, cần phải
đi sâu vào nội dung của công tác quản lý cán bộ.
Nâng cao trách nhiệm quản lý cán bộ cần phân cấp rõ trách nhiệm
quản lý cán bộ, tránh tình trạng trên tưởng dưới quản, dưới tưởng trên quản.
Một mặt, phải tổ chức thực hiện tốt các hình thức, biện pháp quản lý cán bộ,
công chức hiện có, đồng thời phải khuyến khích tìm tòi, đổi mới các hình
thức, biện pháp quản lý cán bộ cho phù hợp, hiệu quả. Từ tỉnh ủy đến cấp ủy
các cấp thường xuyên phổ biến, nhắc nhở, kiểm tra cán bộ, công chức thực
hiện các quy định về quản lý đảng viên.
Công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ cần có sự phối hợp
với các tổ chức trong HTCT của tỉnh, để thực hiện một cách có hiệu quả,
tránh chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Hoạt động lãnh đạo công
tác cán bộ của các tỉnh ủy không thể tách rời độc lập với các cơ quan, tổ chức
khác của HTCT của tỉnh.
Để nâng cao chất lượng công tác cán bộ của tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc
Trung Bộ cần có quy chế phối hợp hoạt động giữa tỉnh ủy, mà trực tiếp là cơ
quan tham mưu của tỉnh ủy về công tác cán bộ (ban tổ chức tỉnh ủy) với tổ
chức chính quyền, cơ quan đảng, mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội của
tỉnh theo hướng:
Một là, xây dựng quy chế phối hợp hoạt động giữa ban tổ chức tỉnh ủy
với UBND tỉnh.
127
UBND tỉnh là tổ chức chính quyền nhà nước có chức năng, nhiệm vụ
chỉ đạo, điều hành các cơ quan quản lý nhà nước trong tỉnh tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh - quốc phòng, công
tác đối ngoại và công tác tổ chức - cán bộ khối nhà nước trong tỉnh.
Đối với công tác cán bộ - theo phân cấp quản lý cán bộ, ban thường vụ
tỉnh ủy thống nhất quản lý và quyết định các chức danh lãnh đạo, quản lý cơ
quan, đơn vị, địa phương của HTCT, trong đó có khối nhà nước - như trưởng,
phó các sở, ban, ngành thuộc UBND tỉnh; chủ tịch, phó chủ tịch UBND,
HĐND cấp huyện. Khi có yêu cầu bổ sung cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cơ
quan, đơn vị trực thuộc, UBND tỉnh phối hợp với ban tổ chức tỉnh ủy lập hồ
sơ cán bộ để trình ban thường vụ tỉnh ủy quyết định, sau đó UBND ký các
quyết định bổ nhiệm hoặc chuẩn y. Do phân cấp quản lý cán bộ, UBND có
nội dung quản lý về tổ chức - cán bộ thuộc khối nhà nước, nên có liên quan
trực tiếp đến hoạt động của ban tổ chức tỉnh ủy.
Để giúp ban thường vụ tỉnh ủy quyết định các công tác cán bộ trong toàn
bộ HTCT trong tỉnh, ban tổ chức tỉnh ủy và UBND tỉnh ở các tỉnh Bắc Trung
Bộ cần xây dựng quy chế phối hợp hoạt động theo các yêu cầu, nội dung sau:
Thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và
quản lý đội ngũ cán bộ. Mọi chủ trương, chính sách về công tác cán bộ do ban
thương vụ tỉnh ủy trực tiếp xem xét, thảo luận và quyết định thông qua.
UBND tỉnh là cơ quan có trách nhiệm cụ thể hóa bằng cách ban hành các
quyết định bổ nhiệm hoặc chuẩn y đối với tổ chức, cán bộ khối nhà nước.
Quy chế phối hợp hoạt động phải đảm bảo thể hiện rõ ràng trách
nhiệm, nhiệm vụ của ban tổ chức tỉnh ủy và UBND tỉnh, tránh trùng lắp và
chồng chéo nhiệm vụ, không rõ ràng về trách nhiệm. Quy chế phải thể hiện
thật rõ mối quan hệ công tác giữa tập thể lãnh đạo, thủ trưởng cơ quan các ban tổ
chức tỉnh ủy với tập thể và người đúng đầu UBND; quy định trách nhiệm,
nhiệm vụ của từng tổ chức và cá nhân trong quá trình phối hợp hoạt động.
Trên cơ sở rà soát, chức năng nhiệm vụ của mỗi cơ quan, xây dựng và dần hoàn thiện những quy định cụ thể hoạt động của ban tổ chức tỉnh ủy và UBND tỉnh trong việc phối hợp thực hiện các nhiệm vụ đánh giá, lựa chọn,
128
quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và giải quyết chính sách cho đội ngũ cán bộ, đảng viên do tỉnh ủy quản lý nói chung và cán bộ thuộc khối nhà nước nói riêng.
Quy chế phải đảm bảo thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước về công tác tổ chức - cán bộ. Quy chế phối hợp hoạt động phải được thường xuyên đối chiếu, kiểm nghiệm trong thực tiễn công tác để phát hiện những vấn đề chưa đúng hoặc trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước và các quy định của Trung ương, kịp thời điều chỉnh, bổ sung để sự phối hợp, tổ chức thực hiện công tác tổ chức, cán bộ giữa ban tổ chức tỉnh ủy và UBND đi vào nền nếp, khoa học, nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu lực quản lý của từng cơ quan. Hai là, xây dựng quy chế phối hợp với các cơ quan đảng. Xây dựng quy chế phối hợp với văn phòng tỉnh ủy. Văn phòng tỉnh ủy có chức năng, nhiệm vụ cơ bản giúp ban thường vụ và thường trực tỉnh ủy, tổ chức, điều hành công tác theo các chương trình, kế hoạch; truyền tải các ý kiến chỉ đạo của ban thường vụ, thường trực tỉnh ủy đến các cơ quan có liên quan... Do đó, cần xây dựng quy chế phối hợp giữa văn phòng tỉnh ủy trong vấn đề trao đổi thông tin hoạt động công tác tổ chức xây dựng Đảng của ban thường vụ và thường trực tỉnh ủy với ban tổ chức tỉnh uỷ, đảm bảo cơ chế phối hợp nhịp nhàng giữa ban tổ chức tỉnh ủy và văn phòng tỉnh ủy trong các hoạt động có liên quan đến kế hoạch, chương trình công tác cán bộ.
Xây dựng quy chế phối hợp với Ban Tuyên giáo tỉnh ủy. Ban Tuyên giáo tỉnh ủy có chức năng tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra về công tác tư tưởng, văn hóa, giáo dục trong đảng bộ, đồng thời là cơ quan theo dõi, quản lý việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thuộc khối văn hóa, tư tưởng của HTCT. Xây dựng quy chế phối hợp với cơ quan ban tuyên giáo tỉnh ủy nhằm giúp cho công tác nhận xét, đánh giá về mặt tư tưởng và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cán bộ khối văn hóa, tư tưởng của HTCT thuộc diện tỉnh ủy quản lý, giúp cấp ủy nắm chắc về mặt tư tưởng và tình hình thực hiện nhiệm vụ của cán bộ trước khi quyết định bố trí, sử dụng cán bộ.
Xây dựng quy chế phối hợp với ủy ban kiểm tra tỉnh ủy. Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy là cơ quan kiểm tra của cấp ủy có nhiệm vụ kiểm tra các tổ chức
129
đảng và cán bộ, đảng viên thuộc diện tỉnh ủy quản lý, chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng. Xây dựng quy chế phối hợp giữa ban tổ chức tỉnh ủy với ủy ban kiểm tra tỉnh ủy nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của ủy ban kiểm tra trong công tác bổ nhiệm, quản lý, khen thưởng, kỷ luật cán bộ diện tỉnh ủy quản lý. Quy chế cần thể hiện rõ ràng nhiệm vụ ban tổ chức tỉnh ủy trong việc cung cấp các tư liệu, hồ sơ cán bộ; ủy ban kiểm tra có trách nhiệm cho ý kiến nhận xét, đánh giá về việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; về tư cách đảng viên; về việc thực hiện các quy định của Trung ương đối với đảng viên (quy định về những điều đảng viên không được làm; quy định về kết hôn, kết thông gia với người nước ngoài, quy định chế độ tham quan, học tập ở nước ngoài...) của cán bộ, đảng viên, giúp cho cấp ủy nắm chắc tư cách đảng viên của cán bộ trước khi bố trí, sử dụng cán bộ.
Xây dựng quy chế phối hợp với ban dân vận tỉnh ủy. Ban dân vận là cơ quan tham mưu của cấp ủy về công tác vận động quần chúng, đồng thời là cơ quan quản lý, theo dõi việc thực hiện, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trong tỉnh. Xây dựng quy chế phối hợp hoạt động giữa ban tổ chức tỉnh ủy với ban dân vận nhằm phát huy vai trò trách nhiệm của ban dân vận trong công tác nhận xét, đánh giá tình hình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cán bộ thuộc khối mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội diện cấp ủy quản lý; giúp cấp ủy có thêm cơ sở quan trọng để quyết định việc bố trí, sử dụng cán bộ khối đoàn thể chính trị - xã hội như: Ủy ban MTTQ, hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên, liên đoàn lao động.
Ba là, xây dựng quy chế phối hợp với cơ quan MTTQ, các đoàn thể
chính trị - xã hội.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: "Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ" [26, tr. 135]. Cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng, tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ cần chỉ đạo ban tổ chức tỉnh ủy xây dựng quy chế phối hợp hoạt động với cơ quan MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội về công tác tổ chức, cán bộ.
130
Đối với các đảng bộ tỉnh ở Bắc Trung Bộ, việc xây dựng quy chế phối
hợp giữa ban tổ chức tỉnh ủy với MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội nhằm
phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của MTTQ, quyền làm chủ của
nhân dân trong việc tham gia xây dựng các chủ trương, chính sách tổ chức
xây dựng Đảng của cấp ủy, góp phần hoàn thiện các chủ trương và chính sách
để phù hợp với thực tiễn ở địa phương. Đồng thời qua các hoạt động giám sát,
phản biện mà nâng cao vai trò của Mặt trận và các tổ chức chính trị, xã hội
trong việc phát huy khối đại đoàn kết, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy...
Quy chế phối hợp giữa ban tổ chức tỉnh ủy với MTTQ và các tổ chức
chính trị - xã hội tập trung vào việc xây dựng cơ chế phản biện, giám sát của
Mặt trận, tổ chức chính trị, xã hội đối với công tác xây dựng các đề án tổ
chức, cán bộ của ban tổ chức tỉnh ủy như: quy trình, thủ tục giám sát, phản
biện; quyền và trách nhiệm trong công tác giám sát, phản biện; những nội
dung cần phải giám sát, phản biện; cơ chế phối hợp trao đổi thông tin; thời
hạn thực hiện công tác giám sát, phản biện... của Mặt trận và các tổ chức
chính trị, xã hội để góp phần hoàn thiện các đề án tổ chức - cán bộ trước khi
trình ban chấp hành đảng bộ tỉnh, ban thường vụ tỉnh ủy quyết định.
Thứ hai, xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, tập thể lãnh đạo, người
đứng đầu trong công tác cán bộ
Việc xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu các
tổ chức của HTCT trong công tác cán bộ cần được các tỉnh ủy ở Bắc Trung
Bộ xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay.
Trong hoạt động lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc
Trung Bộ đều có các quy định về chức năng, nhiệm vụ của tỉnh ủy, ban
thường vụ tỉnh ủy, cấp ủy các cấp, nhưng việc cụ thể nó trong các quy chế
hoạt động giữa tỉnh ủy với người đứng đầu các tổ chức của HTCT trong công
tác cán bộ còn ít được đề cập, hoặc nêu còn chung chung. Chế độ "tập thể
lãnh đạo, cá nhân phụ trách" trên thực tế có nơi còn hình thức, do chưa xác
định thật rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân dẫn đến
sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm; tạo kẽ hở cho cách làm việc
131
tắc trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực - nhất là của người đứng đầu - một
cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm.
Việc xác định thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân người đứng đầu các
tổ chức của HTCT trong công tác cán bộ cần bảo đảm đúng nguyên tắc dân
chủ, công khai và quyền hạn đến đâu thì trách nhiệm đến đó. Tăng cường chế
độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu, là biện pháp thiết thực để
thực hiện "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách".
Một là, đối với tỉnh ủy.
Các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ cần cụ thể hóa nhiệm vụ của các thành
viên trong thường trực tỉnh ủy, trước hết là của bí thư tỉnh ủy. Theo phân công,
phân cấp quản lý cán bộ, thẩm quyền và trách nhiệm của bí thư là: ký ban hành
các quyết định sau khi tập thể lãnh đạo đã biểu quyết thông qua nhằm giải quyết
các công việc hằng ngày của tỉnh ủy; dự thảo nội dung cho các kỳ họp của ban
thường vụ tỉnh ủy, của ban chấp hành đảng bộ tỉnh, báo cáo kiểm điểm trong
mỗi kỳ họp ban chấp hành, ban thường vụ tỉnh ủy. Khi thực hiện nhiệm vụ chủ
trì xây dựng kế hoạch, triển khai việc thực hiện nghị quyết nói chung và về công
tác cán bộ nói riêng, bí thư tỉnh ủy đồng thời phải xác định quyền đề xuất với
ban thường vụ các phương án để tập thể bàn bạc, lựa chọn và chịu trách nhiệm
cá nhân nếu đề xuất đó thiếu khách quan, công tâm. Việc thí điểm giao quyền
cho bí thư giới thiệu để bầu ủy viên ban thường vụ cũng là một trong những
việc làm thiết thực để thực hiện trao quyền và trách nhiệm cụ thể hơn cho bí
thư. Tuy vậy, không thể "dồn" tất cả mọi việc cho bí thư, mà mỗi ủy viên ban
thường vụ cần được giao nhiệm vụ thực hiện công việc cụ thể. Nếu tập thể
ban chấp hành, ban thường vụ ban hành quyết định sai lầm đến mức phải kỷ
luật thì không chỉ xử lý kỷ luật tập thể, mà phải đồng thời kỷ luật từng thành
viên (trừ những đồng chí từng có ý kiến không tán thành). Có như vậy mới
khắc phục được tình trạng nể nang, né tránh, thấy đúng không dám bảo vệ,
thấy sai không dám đấu tranh đang tồn tại ở không ít tổ chức đảng hiện nay.
Các tỉnh ủy giữ đúng vai trò định hướng trong công tác cán bộ, không
làm thay các tổ chức trong HTCT tỉnh, tôn trọng và phát huy quyền hạn và trách
nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong HTCT. Vì đây là
132
mối quan hệ giữa các tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong các tổ chức thuộc
HTCT. Tổ chức đảng quyết định các vấn đề về cán bộ và công tác cán bộ thuộc
phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên; không
quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước, các tổ chức
chính trị - xã hội. Nghị quyết của cấp ủy đảng về cán bộ và công tác cán bộ có
hiệu lực trong toàn bộ hệ thống tổ chức đảng trực thuộc mà đảng viên ở bất cứ
cương vị nào cũng phải chấp hành, triển khai thực hiện trên lĩnh vực công tác
của từng cơ quan, tổ chức. PTLĐ công tác cán bộ của các huyện ủy còn cần
xác định rõ hơn mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo và phục tùng, nhằm tránh tệ
quan liêu, độc đoán, bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo; biểu hiện
vô tổ chức, vô kỷ luật, thoát ly sự lãnh đạo của cấp ủy, của người đứng đầu
cấp ủy. Người đứng đầu cấp ủy trong mối quan hệ với cấp ủy vừa là sự phục
tùng sự phân công của cấp ủy, vừa là người được thay mặt cấp ủy, ban thường
vụ chỉ đạo các tổ chức đảng trực thuộc thực hiện nghị quyết của cấp ủy, có
quyền quyết định các công việc liên quan đến công tác cán bộ theo đúng thẩm
quyền, đúng nguyên tắc, trình tự quy định của Đảng, không được quyền ban
hành những quyết định trái với chủ trương, đường lối của Đảng, nghị quyết
của tập thể cấp ủy; không được chỉ đạo theo quan điểm cá nhân, lợi dụng
danh nghĩa cấp ủy đảng để ép thủ trưởng cơ quan, đơn vị phải thực hiện.
Người đứng đầu trong các tổ chức của HTCT thuộc tỉnh có trách nhiệm
tổ chức thực hiện các quyết định về công tác cán bộ của cấp ủy với tư cách là
cấp ủy viên, đảng viên, nói và làm theo nghị quyết của Đảng, của cấp ủy, kể cả
khi ý kiến của mình khác với nghị quyết của cấp ủy. Tuy nhiên, trong trường
hợp cấp ủy quyết định trái với quy định của Đảng, Nhà nước thì phải kiên quyết
bảo lưu ý kiến và vẫn chấp hành quyết định, đồng thời báo cáo lên cấp ủy và cơ
quan quản lý cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo. Để phát huy dân chủ và tăng
trách nhiệm của người đứng đầu, Đảng ta chủ trương thí điểm giao quyền cho
cấp trưởng lựa chọn, giới thiệu, đề cử cấp phó trên cơ sở tăng cường xây
dựng, thực hiện quy chế, quy trình dân chủ và tăng cường sự kiểm tra, hướng
dẫn của cấp trên, sự giám sát của nhân dân và chất vấn trong mỗi kỳ họp cấp ủy.
133
Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ
trong thời gian tới cần thực hiện quy chế hóa, quy trình hóa các mối quan hệ
giữa cấp ủy đảng với người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Cần cải cách thủ tục
hành chính trên địa bàn theo hướng quy chế hóa, quy trình hóa các mối quan
hệ của cấp ủy với các tổ chức, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu các tổ chức
nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội. Quy chế làm việc của các tỉnh ủy là
văn bản do tỉnh ủy ban hành (thường là ngay sau đại hội) nhằm cụ thể hóa các
nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư thành chế độ hoạt động của tỉnh ủy. Nội dung quy chế
thường là xác định rõ vai trò, nhiệm vụ trên từng mặt công tác của tỉnh ủy,
trong đó có công tác cán bộ, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cấp ủy
và từng cấp ủy viên, cũng như mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với chính quyền,
các đoàn thể chính trị - xã hội.
Tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ cần tập trung chỉ đạo các cấp ủy
đảng trực thuộc xây dựng chương trình làm việc khoa học, thiết thực, qua đó
đổi mới lề lối làm việc, cải tiến, nâng cao chất lượng công tác và phát huy vai
trò, trách nhiệm của từng thành viên trong cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Quy trình
công tác cũng là một nội dung quan trọng trong cụ thể hóa quy chế làm việc
của cấp ủy. Đó là các văn bản quy định lề lối làm việc trên nhiều lĩnh vực
khác nhau và nhiều nội dung khác nhau như: quy trình xây dựng và triển khai
thực hiện nghị quyết; quy trình công tác đánh giá, lấy phiếu tín nhiệm, bổ
nhiệm, quy hoạch, đào tạo cán bộ; quy trình về công tác kiểm tra, giám sát…
Quy trình công tác cần xác định rõ người chịu trách nhiệm chính, người tham
gia, cách thức tiến hành, hiệu quả công việc và thời gian hoàn thành. Đối với
những vấn đề lớn cần có sự lãnh đạo của cấp ủy thì phải xây dựng quy trình
do thủ trưởng đơn vị đề xuất với cấp ủy, ban thường vụ hay thường trực cấp
ủy để tranh thủ tập thể lãnh đạo trước khi ban hành quyết định hoặc đề nghị
cấp trên ban hành quyết định theo thẩm quyền. Cấp ủy là người ban hành quy
chế, phải có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện, nếu xét
thấy cần thì kịp thời bổ sung, sửa đổi, không nhất thiết phải chờ hết nhiệm kỳ.
134
Hai là, đối với người đứng đấu các tổ chức trong HTCT.
Vai trò lãnh đạo của thủ trưởng, người đứng đầu các tổ chức trong HTCT
trong công tác cán bộ được thể hiện thông qua các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo
nhằm đạt được các yêu cầu, mục tiêu và kết quả công tác cán bộ. Do vậy vai
trò lãnh đạo, chỉ đạo của thủ trưởng, người đứng đầu có ảnh hưởng vô cùng
quan trọng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ.
Thủ trưởng, người đứng đầu các tổ chức của HTCT chỉ đạo căn cứ các
nghị quyết của tỉnh ủy, của cấp ủy cấp trên và tình hình thực tiễn, đề ra các
chương trình, kế hoạch công tác cán bộ, thể hiện đúng đắn nguyên tắc: Đảng
thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên
tắc tập trung dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và
người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị. Tránh tình trạng "khoán
trắng" cho ban tổ chức cấp ủy ở các khâu đánh giá, tuyển chọn, qui hoạch,
đào tạo, sử dụng bố trí cán bộ... mà thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên
của thủ trưởng, người đứng đầu các cơ quan đơn vị, của cấp ủy, dẫn đến tình
trạng buông lỏng sự lãnh đạo của cấp ủy đối với công tác cán bộ.
Xác định rõ ràng và tăng cường trách nhiệm, quyền hạn của người
đứng đầu trong công tác cán bộ chính là một việc làm cần thiết để đề cao vai
trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao tính pháp lý đối với công tác cán bộ trong
điều kiện nhà nước pháp quyền.
Trước mắt, cần thực hiện một số cải tiến về vấn đề này như sau:
Thứ nhất, thực hiện phân công, phân cấp mạnh hơn về quản lý cán bộ,
tạo điều kiện cho các tổ chức và người đứng đầu cấp dưới thực hiện quyền về
cán bộ tương thích với trách nhiệm được giao. Cấp trên nên tập trung quản lý
người đứng đầu cấp dưới, phối hợp với cấp dưới quản lý cấp phó. Các chức
danh khác giao hẳn cấp dưới quyết định theo luật và quy chế. Trung ương và
cấp trên giữ quyền kiểm tra, quyền chuẩn y và không chuẩn y, xử lý sai phạm.
Đối với các chức danh bầu thì đổi mới các thủ tục giới thiệu, thẩm
định (của cấp ủy cũ, của cấp trên…) mở rộng dân chủ bầu cử, thực hiện giới
thiệu nhiều người, có tính chất định hướng, tôn trọng quyền ứng cử (tiến tới
tranh cử), quyền lựa chọn của người bỏ phiếu.
135
Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thông qua cá nhân đảng viên được giới thiệu để được bầu giữ cương vị đứng đầu tổ chức nhà nước. Đây chính là điểm quan trọng nhất để thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
Theo hướng này có thể thực hiện một số cải tiến như sau: Trong tất cả các tổ chức thực hiện chế độ người đứng đầu không thành
lập ban cán sự.
Tổ chức đảng có thẩm quyền sau khi lựa chọn giới thiệu đảng viên để được bầu giữ trách nhiệm lãnh đạo tổ chức nhà nước thì đồng thời được giao trách nhiệm cùng với bí thư cấp ủy trực tiếp chỉ đạo công tác chuẩn bị giới thiệu cấp phó.
Sau khi thay đổi người đứng đầu, người đứng đầu mới có trách nhiệm và có quyền đề nghị thay đổi cấp phó và người đứng đầu cấp dưới thuộc quyền nếu thấy cần.
Ngày nay, trong hệ thống chức danh và chế độ lương đã phân biệt được rõ ranh giới lãnh đạo và công chức thường (thông qua "hệ số chức vụ" trong thang bảng lương) đã có điều kiện khách quan để thực hiện thuận lợi hơn việc điều chuyển, làm cho đội ngũ cán bộ vận động linh hoạt hơn, có lên có xuống, một vấn đề rất thông thường trong các thể chế hiện nay trên thế giới.
Thứ ba, xác lập tư cách người đứng đầu của bí thư cấp ủy. Đảng thực hiện nguyên tắc lãnh đạo tập thể. Tuy nhiên, sau khi được bầu theo quy định thì vị trí đứng đầu của bí thư là một thực tế khách quan không thể bỏ qua, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Cần giao cho bí thư thẩm quyền nói chung rộng rãi hơn - trong đó có thẩm quyền về cán bộ - tương xứng với chức năng, nhiệm vụ, tầm quan trọng của chức danh này. Vừa qua, chúng ta có một số cải tiến theo hướng này (ví dụ giới thiệu bí thư làm chủ tịch HĐND, bí thư kiêm giám đốc doanh nghiệp…), nhưng nói chung vẫn là những vấn đề chi tiết, chưa có một cái nhìn khái quát về vấn đề này. Việc thí điểm đại hội cơ sở bầu bí thư cũng là một chủ trương đổi mới theo hướng này.
Thứ tư, tăng cường pháp chế quản lý cán bộ. Cần xúc tiến sớm xây dựng các luật, quy phạm về quyền, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức đối với công tác cán bộ.
136
Thực hiện quản lý cán bộ theo luật. Thay thế ngay người đứng đầu
không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm quy chế công tác, đạo đức nghề nghiệp.
3.2.3. Hoàn thiện các quy chế công tác cán bộ và thực hiện tốt chủ
trương lấy phiếu tín nhiệm cán bộ; bầu cử có số dư; mở rộng thi tuyển cán
bộ lãnh đạo, quản lý trong tỉnh
3.2.3.1. Cụ thể hóa, hoàn thiện các quy chế, quy trình thực hiện các
khâu công tác cán bộ
* Trong đánh giá cán bộ
Trước hết, tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ cần khách quan nhìn nhận
đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ,
chất lượng công tác cán bộ, chất lượng sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với công
tác cán bộ. Vì vậy, trong công tác đánh giá cán bộ, tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc
Trung Bộ cần tập trung vào ba vấn đề:
Một là, trước khi đánh giá cán bộ cần thống nhất quan điểm. Việc đánh
giá cán bộ phải khách quan, công tâm; phải dựa vào tiêu chuẩn cán bộ và mức độ
đạt được các tiêu chí; lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ
được giao làm thước đo để đánh giá. Đánh giá cán bộ trước khi bổ nhiệm, bầu cử
và hết nhiệm kỳ phải chú trọng đến tính lịch sử, toàn diện, cụ thể, phát triển; đề
cao vai trò của người đứng đầu trong việc nhận xét, đánh giá cán bộ dưới quyền.
Hai là, trong quá trình đánh giá cán bộ. Không đánh giá cán bộ một
cách cảm tính, chủ quan; mọi phẩm chất, bằng cấp, danh hiệu, chức vụ, tài
năng và cống hiến phải được kiểm nghiệm qua thực tiễn, phải dựa vào MTTQ
và các đoàn thể nhân dân để đánh giá cán bộ.
Ban hành tiêu chí đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của
các huyện, thị, thành ủy, đảng ủy trực thuộc, các ban cán sự đảng, đảng đoàn; rà
soát tiêu chí xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của UBND các huyện, thị, thành
phố, các sở, cơ quan ngang sở... làm cơ sở cho việc đánh giá tập thể và cán bộ.
Ban hành tiêu chí đánh giá cán bộ; rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành
trình tự, thủ tục đánh giá cán bộ hằng năm, đánh giá cán bộ trước khi bổ
nhiệm, trước khi bầu cử và hết nhiệm kỳ theo hướng mở rộng dân chủ, mở
rộng đối tượng tham gia.
137
Ba là, sau khi đánh giá cán bộ. Sau khi đánh giá, xếp loại cán bộ phải
được công bố công khai trong ban chấp hành đảng bộ; công khai đến cán hộ
chủ chốt, trưởng, phó các phòng, ban, đoàn thể chính trị trong cơ quan; đơn
vị. Trong thời gian 10 ngày, kể từ ngày công bố. nếu không có vấn đề gì thì
cấp có thấm quyền công nhận kết quả, nếu có vấn đề nảy sinh phải được xem
xét kiểm tra lại, cấp ủy cấp trên trực tiếp giải quyết và quyết định.
* Trong quy hoạch cán bộ
Quy hoạch cán bộ để xây dựng, tạo nguồn đội ngũ cán bộ kế cận và
các nhiệm kỳ tiếp theo, để tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy các tỉnh Bắc
Trung Bộ đối với công tác cán bộ, cần tập trung thực hiện việc đổi mới nội
dung, hình thức, phương pháp quy hoạch cán bộ.
Một là, trước khi quy hoạch cán bộ cần xác định quan điểm nâng cao
chất lượng công tác qui hoạch cán bộ, theo hướng: Chủ động, có tầm nhìn xa,
đáp ứng cả trước mắt và lâu dài, khắc phục hiện tượng cục bộ, khép kín trong qui
hoạch; xây dựng qui hoạch cán bộ đảm bảo tính liên thông ở tất cả các ngành, các
cấp từ tỉnh đến cơ sở, không phân biệt cán bộ các cơ quan Trung ương trên địa
bàn và các cơ quan của tỉnh, cấp dưới nói chung phải có độ tuổi trẻ hơn cấp trên,
nguồn qui hoạch mới phải có độ tuổi trẻ hơn cán bộ đương chức, bảo đảm ba độ
tuổi; các sở, ban, ngành cấp tỉnh nói chung trong quy hoạch lãnh đạo phải có
người dân tộc thiểu số, có cán bộ nữ; các huyện miền núi phải có tỉ lệ hợp lý
cán bộ là người dân tộc Kinh. Rà soát và ban hành trình tự, nội dung, phương
pháp qui hoạch cán bộ theo hướng mở rộng dân chủ và đối tượng tham gia.
Hai là, trong quá trình thực hiện quy hoạch cán bộ. Tỉnh ủy các tỉnh
Bắc Trung Bộ phải chú trọng tạo nguồn cán bộ cho qui hoạch, bao gồm: thu
hút nhân tài; tiếp nhận, tuyển dụng những cán bộ có kết quả học tập tốt trong
quá trình đào tạo, bồi dưỡng; những cán bộ hoạt động trong thực tiễn có thành
tích xuất sắc trên tất cả các lĩnh vực; những học sinh, sinh viên học tập xuất
sắc, có khả năng trở thành lãnh đạo, quản lý.
Ba là, sau khi có kết quả quy hoạch cán bộ. Trước khi cấp có thẩm
quyền phê duyệt, thì kết quả qui hoạch cán bộ cần được công khai trong hội
nghị cán bộ chủ chốt, trong cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Trong thời gian
138
10 ngày, kể từ ngày công bố, nếu không có vấn đề gì thì phê duyệt qui hoạch,
nếu có vấn đề thì xem xét, kết luận. Qui hoạch cán bộ phải được tiến hành, rà
soát hằng năm ngay sau năm đại hội nhiệm kỳ. Ban thường vụ tỉnh ủy sẽ xem
xét tổng thể và phê duyệt qui hoạch cho từng ngành và từng huyện, thị, thành
phố theo phân cấp quản lý cán bộ.
Có cơ chế phát hiện người có đức, có tài cả đảng viên và người ngoài
Đảng để quy hoạch vào vị trí lãnh đạo các cấp.
* Trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Một là, chủ động xác định quan điểm, phương hướng công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần ưu tiên đào tạo
cán bộ đã được quy hoạch và theo chức danh cán bộ. Các cơ quan, đơn vị
phải tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ trong quy hoạch được đi đào tạo, bồi
dưỡng. Mặt khác trong điều kiện hiện nay, việc đào tạo, bồi dưỡng cập nhật
kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong HTCT là vấn đề cần
được quan tâm. Xác định công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là việc làm
thường xuyên nên việc xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ
cần được quan tâm theo hướng không bị lạc hậu, thiết thực với từng loại cán bộ.
Hai là, xây dựng, hoàn thiện quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của
tỉnh. Việc xây dựng, hoàn thiện quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần lưu ý
cần căn cứ quy định chung của Trung ương: Đào tạo nguồn cán bộ lãnh đạo,
quản lý của tỉnh cho giai đoạn 2020 đến 2030, tuổi đời dưới 35 tuổi, đã tốt
nghiệp đại học chính qui loại khá trở lên, có khả năng, năng lực lãnh đạo,
quản lý, có sức khỏe tốt, được tuyển chọn để đào tạo lập trung ở nước ngoài,
trình độ thạc sĩ hoặc tiến sĩ, sau đó về nước học tập trung tại Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, đưa đi rèn luyện trong thực tiễn, tùy theo kết quả
học tập và khả năng của cán bộ để bố trí, sắp xếp phù hợp.
Ban tổ chức tỉnh ủy phối hợp với sở nội vụ các tỉnh Bắc Trung Bộ cần
xây dựng kế hoạch đào tạo hằng năm. Cán bộ trong nguồn qui hoạch phải chủ
động và có ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện để đạt kết quả cao. Cán bộ
trong nguồn qui hoạch cấp tỉnh, cấp huyện dưới 40 tuổi phải đi học chính trị
tập trung tại các trường ở Trung ương và địa phương theo phân cấp.
139
Hằng năm, ban thường vụ tỉnh ủy, ban thường vụ cấp huyện tổ chức bồi
dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ thuộc diện quản lý, coi việc học tập để cập
nhật kiến thức là bắt buộc đối với cán bộ. Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng về
chuyên môn, lý luận chính trị, cần chú trọng kỹ năng lãnh đạo, quản lý, phù hợp
vị trí, chức danh công tác. Xây dựng chế độ tự học tập, rèn luyện của cán bộ.
Ba là, cụ thể hóa chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; sử dụng cán
bộ; đãi ngộ cán bộ… Đào tạo, bồi dưỡng trên cơ sở quy hoạch cán bộ, gắn
với sử dụng cán bộ. Cần xác định rõ chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với
mỗi loại cán bộ căn cứ vào sở trường, năng lực thực tế của cán bộ sao cho có
hiệu quả, tránh gây lãng phí trong thực hiện nhiệm vụ này. Chính sách sử
dụng cán bộ trước hết phải trên cơ sở nhu cầu thực tế thực hiện nhiệm vụ để
bố trí, sắp xếp cho phù hợp, gắn với đãi ngộ cán bộ hợp lý. Thực tế cho thấy,
việc sử dụng cán bộ hiện nay còn nhiều bất cập, "vừa thừa, vừa thiếu", cơ cấu,
bố trí cán bộ không phù hợp chuyên ngành đào tạo đã gây ra lãng phí chất
xám rất lớn. Việc sắp xếp cán bộ trên cơ sở các mối quan hệ và những tác
động khác đã làm mất tính khách quan của công tác này. Khắc phục tình trạng
này đang là vấn đề cần được quan tâm.
* Về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại và giới thiệu cán bộ ứng cử
Việc bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử phải xuất phát từ nhu
cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; phải căn cứ vào tiêu chuẩn, vị trí công tác để
lựa chọn, đề xuất cán bộ phù hợp, đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài.
Rà soát, ban hành qui định về trình tự, thủ tục bổ nhiệm mới cán bộ
theo hướng:
Đối với các chức danh giám đốc, phó giám đốc các sở, cơ quan ngang
sở, cơ quan thuộc UBND tỉnh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy làm quy trình nhân sự tại
các cơ quan, đơn vị theo hướng mở rộng dân chủ để lựa chọn 02 ứng viên.
Các cơ quan liên quan nêu quan điểm của mình về từng ứng viên và đề xuất
nhân sự bổ nhiệm. Các ứng viên được trình bày đề án của mình trước Ban
Thường vụ Tỉnh ủy. Ban Tổ chức Tỉnh ủy tập hợp đầy đủ các thông tin, nhận
xét, đánh giá, đề xuất rõ nguồn nhân sự bổ nhiệm trình Ban Thường vụ Tỉnh
ủy. Ban Thường vụ tỉnh ủy, căn cứ qui trình do Ban Tổ chức tiến hành, các
140
thông tin có liên quan và đề án của các ứng viên, tiến hành thảo luận tập thể
và bỏ phiếu kín, ứng viên nào đạt quá nửa tổng số Ủy viên Ban Thường vụ
Tỉnh ủy tán thành sẽ được bổ nhiệm.
Trước khi bổ nhiệm được công bố công khai tại cơ quan, đơn vị trong
thời hạn 10 ngày, hết thời hạn trên, không có ý kiến gì khác, Ban Thường vụ
Tỉnh ủy sẽ thông báo để Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm; nếu có đơn thư thì xem
xét, kết luận, nếu có vấn đề thì không bổ nhiệm, nghiêm trọng thì phải xử lý
theo qui định của Điều lệ Đảng và pháp luật (không xem xét giải quyết những
đơn thư theo quy định của Trung ương không thuộc trường, hợp giải quyết).
Những cán bộ trẻ ưu tú, có thành tích xuất sắc, có triển vọng phát
triển; những cán bộ xung phong đảm nhận nhiệm vụ ở vùng khó khăn, gian
khổ, những công việc hiểm nguy, đòi hỏi sự hy sinh, vất vả cao,.. công việc
có kết quả tốt, quần chúng tín nhiệm thì có thể bổ nhiệm vượt cấp.
Đối với bổ nhiệm lại cán bộ, quy trình tương tự như bổ nhiệm mới,
nhưng không phải trình bày đề án trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Trước khi bổ
nhiệm lại cũng phải công khai tại cơ quan, đơn vị 10 ngày, nếu không có vấn đề
gì thì ra qụyết định bổ nhiệm lại, nếu có vấn đề thì phải xem xét, kết luận, nếu
không đủ tiêu chuẩn, không bổ nhiệm lại và phải xử lý hoặc bố trí, sắp xếp lại.
Đối với các chức danh bầu cử: Việc bầu cử trong cơ quan Đảng, cơ
quan nhà nước, đoàn thể phải tuân theo Điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước và
điều lệ các tổ chức.
* Trong điều động, luân chuyển cán bộ
Việc điều động cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ
chính trị của tỉnh và thực tế cán bộ của địa phương, đơn vị. Có thể điều động
cán bộ lãnh đạo, quản lý từ các sở, ban, ngành cấp tỉnh đến các huyện, từ
huyện về xã và ngược lại hoặc có thề điều động từ ngành này sang ngành
khác, từ địa phương này sang địa phương khác. Cán bộ cấp trưởng giữ chức
vụ 2 nhiệm kỳ liên tục thì phải điều động sang vị trí công tác khác.
Việc luân chuyển cán bộ phải theo qui hoạch cán bộ và kế hoạch luân chuyển cả nhiệm kỳ, kế hoạch từng năm. Cán bộ quy hoạch lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và lãnh đạo HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Ban Thường
141
vụ Tỉnh ủy, nói chung phải luân chuyển về giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp huyện. Đồng thời, thực hiện luân chuyển từ địa phương này sang địa phương khác, từ ngành này sang ngành khác. Thời gian luân chuyển tối thiếu là 3 năm.
Tuyệt đối tránh tổ chức, cá nhân lợi dụng chủ trương điều động, luân chuyển để đưa những cán bộ không ủng hộ mình đi nơi khác, hoặc không chấp hành việc điều động, luân chuyển cán bộ đến và cán bộ đi. Điều động, luân chuyển cán bộ phải tăng cường, đoàn kết thống nhất và giữ ổn định cơ quan, đơn vị, địa phương. Trên cơ sở tiến hành thí điểm một số huyện, thị, tổ chức sơ kết, rút kinh nghiệm để tiếp tục triển khai thực hiện.
Thí điểm giao quyền cho bí thư cấp ủy lựa chọn, giới thiệu để bầu cử ủy viên thường vụ cấp ủy; cấp trưởng có trách nhiệm lựa chọn giới thiệu để bổ nhiệm cấp phó.
* Thực hiện chính sách cán bộ Tiếp tục rà soát, bổ sung các chính sách hiện hành đối với cán bộ như: chế độ thăm hỏi, khám chữa bệnh, nghỉ dưỡng, tang lễ...; rà soát, bổ sung chính sách đưa sinh viên tốt nghiệp đại học về xã công tác; chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; thi đua khen thưởng..., nghiên cứu tổng kết việc giao quyền tự chủ về tài chính, nhân sự theo Nghị định 43-CP và Nghị định 130-CP của Chính phủ, xây dựng cơ chế, chính sách theo hướng người có đóng góp, có thành tích, cống hiến phải có thu nhập cao hơn.
Lồng ghép các chương trình, dự án để đầu tư nhà ở, hoặc phòng công vụ cho cán bộ điều động, luân chuyển. Nghiên cứu chính sách phụ cấp cho cán bộ điều động, luân chuyển, nhất là đến những vùng có nhiều khó khăn; phụ cấp kiêm nhiệm cho bí thư đồng thời là chủ tịch UBND.
Các đồng chí nguyên Bí thư, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, UBND tỉnh, ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, khi được tặng huy hiệu Đảng, sẽ do Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức trao tặng tại trụ sở Tỉnh ủy, theo nghi thức trang trọng.
Các huyện, thị, thành ủy duy trì việc định kỳ hằng năm thông báo tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng HTCT với các đồng chí nguyên là lãnh đạo của địa phương, khi cần thiết, xin ý kiến bằng các hình thức phù hợp.
142
Hằng năm trong dự toán ngân sách các cấp phải bố trí kinh phí đảm
bảo cho các khâu của công tác cán bộ.
* Về công tác kiểm tra, giám sát cán bộ và công tác cán bộ
Kiểm tra, giám sát cán bộ và công tác cán bộ là nhiệm vụ trọng tâm,
thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là ban thường vụ và thường
trực cấp ủy. Cấp ủy, tổ chức đảng có trách nhiệm xây dựng chương trình, kế
hoạch thường xuyên và đột xuất kiểm tra, giám sát cán bộ và công tác cán bộ.
Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát đối với cán
bộ yà công tác cán bộ. Chú trọng kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên trong
việc thực hiện Điều lệ Đảng, các nguyên tắc, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; xử
lý nghiêm những tập thể và cá nhân vi phạm nguyên tắc, quy định của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ. Kết hợp chặt chẽ giữa
kiểm tra của Đảng với thanh tra của Nhà nước, giữa tự kiểm tra của mỗi cấp
ủy với kiểm tra của tổ chức đảng cấp trên.
Xây dựng quy chế do MTTQ, các đoàn thể nhân dân tham gia nhận xét,
đánh giá, phê bình tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trong công tác cán bộ.
3.2.3.2. Thực hiện tốt chủ trương lấy phiếu tín nhiệm cán bộ; bầu
cử có số dư; mở rộng thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý
Đây là những chủ trương lớn nhằm từng bước đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ, do đó, các tỉnh ủy ở Bắc Trung
Bộ cần đặc biệt quan tâm quán triệt và tổ chức thực hiện tốt để đổi mới
phương thức lãnh đạo đối với công tác cán bộ ở địa phương
* Thực hiện tốt chủ trương lấy phiếu tín nhiệm cán bộ lãnh đạo,
quản lý
Thực tế cho thấy, việc thực hiện bước đầu lấy phiếu tín nhiệm lãnh
đạo, quản lý trong hai năm qua cũng còn vấn đề phải rút kinh nghiệm. Đây là
vấn đề mới, còn đang trong quá trình hoàn thiện, vì vậy các tỉnh ủy ở Bắc
Trung Bộ cần chủ động thực hiện, tập trung vào một số nhiệm vụ:
Thứ nhất, trên cơ sở chỉ đạo của Trung ương, triển khai nghiêm túc,
đầy đủ, khách quan các nội dung lấy phiếu tín nhiệm theo quy định. Thực tế
cho thấy, vẫn còn e ngại trong việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm trong cán bộ
143
lãnh đạo, quản lý, thậm chí còn có tư tưởng không muốn tổ chức thực hiện
chủ trương này trong một bộ phận cán bộ… Việc triển khai nhất quán, tạo
đồng thuận trong đội ngũ cán bộ về nhiệm vụ quan trọng này đang là vấn đề
cần tập trung thực hiện.
Thứ hai, trên cơ sở xác định đây là nội dung quan trọng để đánh giá cán
bộ cả về đạo đức và khả năng hoàn thành nhiệm vụ, cần xác định rõ hướng bố
trí, sắp xếp, sử dụng cán bộ một cách hợp lý, loại khỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý những người không có đủ uy tín, không có khả năng hoàn thành nhiệm
vụ được giao.
Thứ ba, kiên quyết bố trí, sắp xếp lại hoặc cho thôi giữ chức vụ đối
với những cán bộ 2 năm liên tục không hoàn thành nhiệm vụ, để cơ quan, đơn
vị trì trệ kéo dài, hoặc để mất đoàn kết nội bộ, xảy ra tiêu cực, tham nhũng
nghiêm trọng (không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác). Muốn vậy cần
chủ động xây dựng quy chế miễn nhiệm, từ chức phù hợp để thay thế
kịp thời những cán bộ năng lực, phẩm chất yếu kém, vi phạm kỷ luật,
không hoàn thành nhiệm vụ, mất uy tín.
* Thực hiện nghiêm túc quy định bầu cử có số dư
Căn cứ vào các quy định của Trung ương, nhất là Quy chế bầu cử
trong Đảng, chuẩn bị số dư để bầu các cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ các cấp,
trước hết là ban chấp hành, ban thường vụ; tiếp tục thực hiện chủ trương mở
rộng việc đại hội đảng bộ cơ sở bầu trực tiếp ban thường vụ, các phó bí thư và
bí thư; đại hội đảng bộ cấp huyện bầu trực tiếp bí thư huyện ủy.
Nghiên cứu cơ chế bầu cử một số chức danh có số dư, lựa chọn 2 ứng
viên đủ tiêu chuẩn để đại hội xem xét bầu cử cạnh tranh, ứng viên nào đạt trên
50% số đại biểu có mặt tại đại hội thì trúng cử.
Sơ kết, rút kinh nghiệm mô hình thí điểm bí thư đồng thời là chủ tịch
UBND xã, phường, thị trấn để nhân rộng, đồng thời tăng cường kiểm tra,
giám sát ngăn chặn sự lạm quyền, độc đoán; nghiên cứu làm thí điểm ở một
số huyện, thị.
Thực hiện thí điểm chế độ thực tập và tập sự lãnh đạo, quản lý trước
khi bổ nhiệm chính thức.
144
* Mở rộng thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý
Đối với một số chức danh có thể áp dụng cơ chế thi tuyển công khai,
dân chủ cho nhiều người được tham gia, như xây dựng phương án thi tuyển cạnh tranh các chức vụ trưởng, phó phòng thuộc sở, ban, ngành, MTTQ, đoàn thể cấp tỉnh và cấp huyện. Thí điểm xây dựng phương án thi tuyển giám đốc,
phó giám đốc sở, ngành cấp tỉnh. Thi tuyển công khai, dân chủ là biện pháp
nhằm lựa chọn được nhiều cán bộ có chất lượng đồng đều nhau. Đây là biện
pháp được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước và bước đầu đã được thực hiện ở
nước ta. Tổ chức các cuộc thi lựa chọn cán bộ lãnh đạo quản lý, có thể là cuộc
thi trực tiếp giữa các nguồn cán bộ đã có trong quy hoạch và cả cán bộ khác
chưa trong quy hoạch. Trước hết, nên thực hiện thí điểm ở một số địa phương
và giới hạn ở một số chức vụ như giám đốc các sở, lãnh đạo các ngành, các
công ty nhà nước, sau đó tổng kết, rút kinh nghiệm, rồi mới nhân rộng trong
phạm vi tỉnh và nâng cấp các chức danh cần thi chọn.
Kết quả rõ nhất của việc thực hiện thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản
lý của các cơ quan, đơn vị là đòi hỏi người tham gia dự tuyển phải thâm nhập
thực tế để nghiên cứu, tìm hiểu tình hình của cơ quan, đơn vị, nắm bắt những
thuận lợi, khó khăn và hạn chế. Qua đó, mới có cơ sở để phân tích, đánh giá
đầy đủ thực trạng cũng như xây dựng phương án, chương trình hoạt động, xác
định nhiệm vụ, đề ra các giải pháp khắc phục hạn chế, yếu kém và định
hướng phát triển của cơ quan, đơn vị một cách khoa học và hợp lý. Tuy nhiên,
để thi tuyển không trở thành hình thức, không phạm nhiều sai sót, khuyết
điểm thì thi tuyển phải đảm bảo những yêu cầu: một là, nội dung thi tuyển
phải phù hợp với công việc cần tuyển; hai là, mức độ khó hoặc dễ của nội
dung thi tuyển tùy thuộc vào nhu cầu cán bộ cần tuyển và phải giữ được bí
mật tuyệt đối; ba là, phải có cơ chế đánh giá người được tuyển chọn thật sự
khách quan, công bằng; bốn là, nhu cầu cần tuyển chọn cán bộ phải được
thông báo công khai, rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng như:
đài phát thanh, đài truyền hình, báo chí hoặc niêm yết thông báo ở những nơi
công cộng để mọi người dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn đều có cơ hội ngang
nhau tham gia thi tuyển.
145
3.2.4. Xây dựng ban tổ chức tỉnh ủy thực sự vững mạnh, tham mưu, tổ chức thực hiện có hiệu quả việc đổi mới phương thức lãnh đạo của tỉnh ủy đối với công tác cán bộ
* Kiện toàn tổ chức bộ máy ban tổ chức tỉnh ủy theo hướng tinh
gọn, chất lượng
Kiện toàn tổ chức bộ máy ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ là các hoạt động tác động vào cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ nhằm đạt được mục tiêu tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao.
Việc kiện toàn tổ chức bộ máy ban tổ chức tỉnh ủy theo hướng tinh gọn, tập trung vào việc xác định rõ lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của ban chấp hành đảng bộ tỉnh, ban thường vụ tỉnh ủy, thường trực tỉnh ủy; giữa lãnh đạo ban và các vị trí công tác thật sự rõ ràng, tránh quy định chung chung, dễ dẫn tới tình trạng chồng chéo, phân tán, chia cắt trong thực hiện nhiệm vụ, gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động có tính liên tục và hệ thống của tổ chức bộ máy, ảnh hưởng đến PTLĐ công tác cán bộ của tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ.
Theo Quy định 219-QĐ/TW, ngày 27-12-2013 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy, ban tổ chức tỉnh ủy là cơ quan tham mưu của tỉnh ủy mà trực tiếp, thường xuyên là ban thường vụ và thường trực tỉnh ủy về công tác tổ chức xây dựng đảng gồm: tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của HTCT trong tỉnh; là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của tỉnh ủy. Để xây dựng ban tổ chức tỉnh ủy thực sự vững mạnh, đủ sức thực hiện có hiệu quả việc đổi mới PTLĐ của Đảng đối với công tác cán bộ cần kiện toàn tổ chức bộ máy ban tổ chức tỉnh ủy theo hướng tinh gọn, chất lượng, cụ thể:
Về nhiệm vụ: Ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ nghiên cứu, đề xuất tham mưu xây dựng nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy về công tác tổ chức xây dựng Đảng; cụ thể hóa chủ trương, chính sách, giải pháp về công tác tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ. Xây dựng đề án về tổ chức,
146
cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ đảng thuộc thẩm quyền quyết định của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy. Tham mưu về công tác cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy quản lý. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ở các cơ quan đảng, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương theo phân cấp quản lý. Sơ kết, tổng kết về công tác tổ chức xây dựng Đảng.
Về hướng dẫn, kiểm tra, giám sát: Ban tổ chức tỉnh ủy hướng dẫn, kiểm
tra, giám sát công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ, thi hành
Điều lệ Đảng đối với các cấp ủy, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, các
tổ chức có liên quan trực thuộc tỉnh ủy theo phân cấp. Chủ trì, phối hợp với các
cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy xây dựng kế hoạch kiểm
tra, giám sát; đồng thời tham mưu cho cấp ủy thực hiện kiểm tra, giám sát công
tác tổ chức xây dựng đảng của các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc. Nghiệp vụ
công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ cho đội ngũ cán bộ
làm công tác tổ chức của các tổ chức đảng trực thuộc tỉnh ủy. Thực hiện phân
công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức, viên chức theo quy
định của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy. Công tác phát triển đảng viên, quản lý hồ
sơ cán bộ, công chức, viên chức, hồ sơ đảng viên, cơ sở dữ liệu đảng viên, giới
thiệu sinh hoạt đảng, xét tặng huy hiệu Đảng, cấp phát thẻ đảng viên, giải quyết
khiếu nại, xóa tên đảng viên và vấn đề đảng tịch cho đảng viên trong đảng bộ.
Về thẩm định, thẩm tra: Ban tổ chức tỉnh ủy thẩm định, thẩm tra các
đề án, văn bản về tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên,
bảo vệ chính trị nội bộ của cấp ủy cấp dưới, các đoàn thể chính trị - xã hội, cơ
quan trực thuộc tỉnh ủy trước khi trình thường trực, ban thường vụ và tỉnh ủy.
Tham gia thẩm định đề án, văn bản về tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức,
viên chức của HĐND, UBND, các sở, ban, ngành và các cơ quan trong tỉnh
theo phân cấp. Thẩm định và trình ban thường vụ tỉnh ủy nhân sự dự kiến quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động,
luân chuyển, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách cán
bộ theo phân cấp quản lý. Thẩm tra, xác minh đối với cán bộ, công chức, viên
chức, đảng viên có vấn đề về chính trị theo quy định.
147
Ban tổ chức tỉnh ủy phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc tỉnh ủy trong công tác xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ; với sở nội vụ và các sở, ban, ngành liên quan trong việc thực hiện, thể chế hóa các nghị quyết, quyết định của Đảng về lĩnh vực tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, bảo vệ chính trị nội bộ theo phân công, phân cấp. Chủ trì phối hợp với các ban đảng, MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh hướng dẫn xây dựng và kiểm tra thực hiện quy chế làm việc, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế của cơ quan đảng, MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện và các đảng ủy trực thuộc. Chủ trì tham mưu, đề xuất chế độ, chính sách, khen thưởng và kỷ luật theo quy định của pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức công tác tại các cơ quan đảng, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội. Là cơ quan thường trực về công tác thi đua, khen thưởng, tuyển dụng, nâng ngạch, xếp lương đối với cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh ủy theo phân cấp.
Ngoài ra, ban tổ chức tỉnh ủy thực hiện một số nhiệm vụ do ban thường vụ, thường trực tỉnh ủy giao: Giúp tỉnh ủy hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác quy hoạch cán bộ; thẩm định và tham mưu cho ban thường vụ tỉnh ủy phê duyệt quy hoạch các chức danh cán bộ thuộc diện tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy quản lý; đồng thời tham mưu thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng gắn với quy hoạch đội ngũ cán bộ của đảng bộ theo phân cấp. Thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ thuộc diện tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy quản lý; cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ở khối đảng, đoàn thể ở địa phương. Phối hợp với ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh thực hiện việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe đối với cán bộ diện tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy quản lý. Quản lý hồ sơ cán bộ diện tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy quản lý và cán bộ, đảng viên có vấn đề về chính trị theo quy định của Bộ Chính trị. Tham mưu, giải quyết các vấn đề về đảng tịch; giải quyết hoặc phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo các vấn đề về chính trị của cán bộ thuộc diện tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy quản lý. Được cử cán bộ dự các cuộc họp, hội nghị bàn về công tác xây dựng Đảng thuộc lĩnh vực tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của các sở, ban, ngành, ban cán sự đảng, đảng đoàn, cấp ủy trực thuộc, các cơ quan liên quan. Thực hiện
148
thống kê cơ bản về công tác tổ chức, cán bộ; công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên ở địa phương để báo cáo ban thường vụ tỉnh ủy, Ban Tổ chức Trung ương theo định kỳ và báo cáo đột xuất khi có yêu cầu. Thực hiện các công việc khác khi được ban thường vụ, thường trực tỉnh ủy giao.
Thực tiễn tại các đảng bộ tỉnh ở Bắc Trung Bộ cho thấy, các tỉnh ủy đều đã xây dựng được quy chế làm việc, quy chế phối hợp giữa các cơ quan lãnh đạo của tỉnh ủy, giữa tỉnh ủy với các ban xây dựng Đảng, trong đó có ban tổ chức tỉnh ủy - là cơ quan tham mưu của tỉnh ủy về công tác tổ chức - cán bộ.
Ban tổ chức tỉnh ủy ở các tỉnh Bắc Trung Bộ cần tiến hành rà soát, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của lãnh đạo ban và từng vị trí công tác, điều cần thiết là phải xem xét điều chỉnh, sắp xếp cán bộ để phù hợp với cơ cấu tổ chức, từ đó phân công, bố trí cán bộ để tiến hành điều chỉnh, sắp xếp cán bộ thật sự khoa học, hợp lý. Công tác điều chỉnh, sắp xếp cán bộ để phù hợp với cơ cấu tổ chức được thực hiện trước hết ở bộ phận lãnh đạo cơ quan các ban tổ chức tỉnh ủy nhằm tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng độ ngũ cán bộ. Các ban tổ chức tỉnh ủy cần có sự điều chỉnh lại theo hướng: Trưởng ban phụ trách chung và trực tiếp phụ trách công tác tổ chức - cán bộ và chính sách cán bộ; một phó trưởng ban phụ trách công tác tổ chức cơ sở đảng, đảng viên và công tác hành chính cơ quan; một phó trưởng ban phụ trách công tác bảo vệ chính trị nội bộ; một phó trưởng ban phụ trách tổ chức chính quyền (kiêm chức giám đốc sở nội vụ tỉnh). Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương chung của Đảng, Nhà nước ta là giảm cấp phó, tăng cường trách nhiệm, quyền hạn cho người đứng đầu cơ quan ở các cấp.
Để nâng cao chất lượng hoạt động của các ban tổ chức tỉnh ủy, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ, cần đẩy mạnh công tác tinh giản biên chế phù hợp với tình hình của địa phương. Qua công tác rà soát cơ cấu tổ chức, điều chỉnh, sắp xếp cán bộ, biên chế ở mỗi cơ quan ban tổ chức tỉnh ủy cần thiết để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao hiện nay và dự nguồn đến năm 2020. Theo quy định số 219-QĐ/TW của Ban Bí thư, biên chế chung của ban tổ chức tỉnh ủy từ 25-35 người. Trung ương đã cho phép Ban Tổ chức Tỉnh ủy Thanh Hóa, Nghệ An từ 35-45 người. Trường hợp đặc biệt như cán bộ quá tuổi chờ giải quyết chế độ thì có thể bố
149
trí vượt số lượng nêu trên khi có ý kiến chỉ đạo của tỉnh ủy. Để thực hiện được việc định biên này, cần giải quyết một số vấn đề cụ thể sau:
Thứ nhất, đối với dạng cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ. Đối với người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động (có thời hạn hoặc không thời hạn), qua đánh giá, phân loại cuối năm nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì chấm dứt hợp đồng lao động và giải quyết chế độ, chính sách theo Luật Lao động hiện hành.
Đối với cán bộ trong biên chế nếu qua 2 năm công tác liên tiếp đánh giá là không hoàn thành nhiệm vụ thì kiên quyết thực hiện tinh giản biên chế và thực hiện chế độ, chính sách theo Nghị định 132/2007/NĐ-CP ngày 8-8-2008 của Chính phủ về việc ban hành chế độ, chính sách tinh giản biên chế (giai đoạn 2007-2011) hoặc theo Nghị định số 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
Thứ hai, đối với cán bộ, công chức không đạt chuẩn. Mạnh dạn tinh giản biên chế những cán bộ chưa tốt nghiệp phổ thông trung học và xem xét từng trường hợp cụ thể có thể tinh giảm số cán bộ chưa đạt chuẩn về chuyên môn, nhất là số cán bộ lớn tuổi, sức khỏe hạn chế và không còn triển vọng, khả năng đào tạo để chuẩn hóa. Ban tổ chức các tỉnh ở Bắc Trung Bộ cần xây dựng biên chế phù hợp, đồng bộ có dự kiến hàng năm, mỗi nhiệm kỳ Đại hội.
* Xây dựng quy chế làm việc Xây dựng quy chế làm việc là một trong những nội dung quan trọng để tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ thực sự vững mạnh, đủ sức thực hiện có hiệu quả việc đổi mới PTLĐ của Đảng đối với công tác cán bộ.
Việc xây dựng quy chế làm việc của tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ là một trong những nội dung công tác cơ bản nhằm xây dựng các tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy thực sự vững mạnh, đủ sức thực hiện có hiệu quả việc đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ đối với công tác cán bộ, thể hiện ở những điểm sau:
Một là, quy chế làm việc là công cụ đảm bảo thực hiện tốt chế độ công tác, thẩm quyền và trách nhiệm của tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy, phát huy tối đa hiệu quả hoạt động trong công tác cán bộ.
Hai là, quy chế cũng là cơ sở đảm bảo cho việc phát huy dân chủ trong nội bộ cơ quan tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy. Việc xây dựng quy chế sẽ là
150
điều kiện, cơ sở cho phát huy dân chủ nội bộ, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy, hiệu quả tham mưu của ban tổ chức tỉnh ủy cho sự lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy.
Ba là, quy chế làm việc có tác dụng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thông qua tác động lên nhận thức của đội ngũ cán bộ về trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy, kể cả cán bộ lãnh đạo và cán bộ, công chức chuyên môn, tùy thuộc chức danh, vị trí công tác mà đảm nhận những công việc nhất định. Mỗi thành viên đều phải có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện tốt phần việc của mình (bao gồm nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý, nhiệm vụ chuyên môn) và góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ chung của cơ quan. Trách nhiệm, nghĩa vụ của đội ngũ cán bộ phải được cụ thể hóa bằng các quy định rõ ràng và có cơ chế mang tính bắt buộc thực thi nghiêm túc, tất cả điều này phải được thể hiện rõ ràng trong quy chế làm việc. Khi đội ngũ cán bộ nhận thức rõ hơn về trách nhiệm, nghĩa vụ của mình sẽ tạo ra lề lối, thói quen làm việc nghiêm túc, trách nhiệm đối với công việc được phân công phụ trách.
Bốn là, quy chế làm việc là công cụ có tác dụng điều chỉnh các mối quan hệ công tác trong và ngoài cơ quan tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy. Chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy, của cá nhân cán bộ, công chức cần được phân định rõ ràng, cụ thể để tránh chồng chéo, nhầm lẫn giữa các vị trí công tác khác nhau, góp phần điều chỉnh có hiệu quả các mối quan hệ công tác của tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy trong việc nâng cao hiệu quả lãnh đạo công tác cán bộ.
Quy chế làm việc là các quy định chung và cụ thể được ban hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy điều chỉnh toàn bộ các nội dung công tác cán bộ của tỉnh, bảo đảm cho tổ chức bộ máy hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao.
Quy chế làm việc của ban chấp hành đảng bộ tỉnh, ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ phải quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban chấp hành đảng bộ tỉnh, ban thương vụ tỉnh ủy, thường trực tỉnh ủy và từng đồng chí ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, bí thư và các phó bí thư tỉnh ủy.
151
Quy chế làm việc của ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ phải quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lãnh đạo ban, lãnh đạo các phòng chuyên môn và của cán bộ, công chức ban tổ chức tỉnh ủy; chế độ làm việc của lãnh đạo ban, lãnh đạo các phòng chuyên môn và của cán bộ, công chức; phân công rõ ràng nội dung công việc và chế độ trách nhiệm của từng chức danh và vị trí công tác; xác định rõ mối quan hệ công tác trong nội bộ và với cấp, ngành ngoài cơ quan; xác định rõ chế độ hội họp, công tác cơ sở, học tập...
Việc xây dựng, ban hành và thực hiện quy chế làm việc của tỉnh ủy, ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ cần đảm bảo tính công khai, dân chủ khi xây dựng, ban hành và thực hiện; đảm bảo tính khoa học và tính khả thi.
* Xây dựng lề lối làm việc khoa học Lề lối làm việc là cách thức tổ chức thực hiện công việc một cách nền nếp, ổn định, mang đặc điểm riêng của một tổ chức bộ máy và con người cụ thể. Lề lối làm việc phụ thuộc vào các yếu tố: Cơ cấu tổ chức bộ máy; chức năng, nhiệm vụ; điều kiện làm việc; phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực, sở trường... của từng cán bộ. Lề lối làm việc thể hiện tính khoa học của công tác tổ chức quản lý, phản ánh lối làm việc "thủ công" hay tiên tiến, hiện đại của cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Ban tổ chức tỉnh ủy là cơ quan tham mưu, đồng thời là cơ quan nghiệp vụ công tác tổ chức xây dựng Đảng ở các đảng bộ tỉnh ở Bắc Trung Bộ, nên tất yếu phải xây dựng lề lối làm việc phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới. Xây dựng lề lối làm việc ở các ban tổ chức tỉnh ủy trước hết cần cải tiến sinh hoạt nội bộ cơ quan: đảm bảo thực hiện, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; thực hiện nghiêm chế độ tự phê bình và phê bình trong đội ngũ cán bộ, nhất là, đối với lãnh đạo Ban, chống hiện tượng nể nang, né tránh, phê bình theo kiểu "nói suông", "nói xuôi". Trước mắt, cần khắc phục lối làm việc quan liêu, xa rời thực tế; giảm bớt, rút ngắn các cuộc họp không cần thiết; lãnh đạo Ban và cán bộ chuyên môn có kế hoạch công tác cơ sở cụ thể. Lãnh đạo Ban cần bớt giải quyết những công việc hành chính sự vụ, hội họp để dành nhiều thời gian thâm nhập cơ sở, kịp thời rút kinh nghiệm thực tiễn công tác tổ chức xây dựng Đảng. Các đội ngũ cán bộ cơ quan có kế hoạch tự học tập nâng cao trình độ mọi mặt (chính trị, chuyên môn, vi tính, ngoại ngữ...).
152
Xây dựng lề lối làm việc khoa học, hiện đại là công tác được thực hiện
thường xuyên, liên tục nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của ban,
cũng chính là nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh
ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ.
3.2.5. Tăng cường sự lãnh đạo, sự giúp đỡ của các ban, ngành Trung
ương đối với các tỉnh ủy khu vực Bắc Trung Bộ về đổi mới phương thức
lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy
Tăng cường sự lãnh đạo, sự giúp đỡ của các ban, ngành Trung ương
đối với các tỉnh ủy khu vực Bắc Trung Bộ đối với việc đổi mới PTLĐ công
tác cán bộ của các tỉnh ủy, trước hết là vai trò đặc biệt quan trọng trong lãnh
đạo, chỉ đạo của Trung ương, nhất là của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và trực
tiếp, thường xuyên là hướng dẫn, chỉ đạo của Ban Tổ chức Trung ương.
Các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ là cấp ủy trực thuộc Trung ương, việc chấp
hành sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương là việc thực hiện nguyên tắc tổ chức
của Đảng: Nguyên tắc tập trung dân chủ, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương
phục tùng Trung ương trong khâu "then chốt của then chốt" là công tác cán bộ,
lĩnh vực liên quan đến vận mệnh của cán bộ và tác động trực tiếp đến việc nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ tỉnh ở Bắc Trung Bộ,
bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ của HTCT dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Việc tăng cường sự lãnh đạo, sự giúp đỡ của các ban, ngành Trung
ương đối với các tỉnh ủy khu vực Bắc Trung Bộ đối với việc đổi mới PTLĐ
công tác cán bộ của các tỉnh ủy, được thể hiện ở những nội dung sau:
Một là, chủ trương về công tác cán bộ do Trung ương quy định, ban
hành, được thực hiện thống nhất trong Đảng.
Chủ trương về công tác cán bộ được Trung ương quy định, ban hành,
thực hiện thống nhất trong hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ
sở. Tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung Bộ - cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ
đại hội đảng bộ tỉnh - là cấp dưới trực tiếp của Trung ương, nên sư chấp hành
của cấp ủy tỉnh thể hiện ở việc quán triệt, xây dựng, cụ thể hóa, triển khai các
chủ trương về công tác cán bộ của Trung ương phù hợp với thực tiễn tại đảng
bộ tỉnh.
153
Để thống nhất trong nhận thức, triển khai thực hiện các chủ trương,
nghị quyết về công tác cán bộ của Trung ương, tỉnh ủy các tỉnh ở Bắc Trung
Bộ mở các hội nghị quán triệt chủ trương, nghị quyết về công tác cán bộ của
Trung ương với các đối tượng, nội dung, hình thức quán triệt khác nhau. Trên
cơ sở đó, tỉnh ủy xây dựng kế hoạch, hướng dẫn tổ chức đảng trực thuộc triển
khai, cụ thể hóa phù hợp với đặc điểm, tình hình tại đảng bộ, nhưng phải giữ
vững các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, nếu có vấn đề cần thảo luận,
thống nhất thì báo cáo Trung ương xin ý kiến chỉ đạo.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương đặt ra đòi hỏi
những chủ trương về công tác cán bộ phải có yêu cầu cao về tính khoa học và
thực tiễn.
Tính khoa học thể hiện trong những chủ trương về công tác cán bộ ở việc
phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; thể hiện trong việc tích
hợp công tác cán bộ với các khoa học liên quan, nhất là khoa học về con người.
Tính thực tiễn thể hiện trong những chủ trương về công tác cán bộ phải
bảo đảm sự thống nhất cao và có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn. Thông qua
báo cáo về công tác tổ chức xây dựng Đảng của các tỉnh ủy báo cáo lên Trung
ương (qua Ban Tổ chức Trung ương) hàng tháng, hàng quý, hàng năm, sơ kết
giữa nhiệm kỳ, tổng kết nhiệm kỳ, báo cáo kiểm điểm của tỉnh ủy, các báo cáo
chuyên đề theo chỉ đạo của Trung ương... Qua đó, Trung ương đánh giá kết quả
thực hiện công tác cán bộ của các đảng bộ tỉnh để có sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều
chỉnh chủ trương, đường lối, hướng dẫn về công tác cán bộ sát với tình hình thực
tiễn tại các đảng bộ. Đồng thời, trên cơ sở việc thực hiện các chủ trương của Trung
ương về công tác cán bộ, các tỉnh ủy qua đánh giá kết quả thực hiện có quyền
đề xuất, kiến nghị Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo, điều chỉnh sát với thực tiễn
hơn, khắc phục tình trạng còn nhiều chồng chéo, nhiều điểm chưa rành mạch.
Ba là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương đối với công
tác cán bộ gắn với việc kiểm tra việc thực hiện công tác cán bộ của các tỉnh
ủy; việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, điều chỉnh bổ sung các quy định,
phương pháp, quy trình công tác cán bộ, góp phần tăng cường vai trò lãnh
đạo, chỉ đạo của Trung ương đối với các tỉnh ủy về công tác cán bộ.
154
KẾT LUẬN
1. Trong mọi thời kỳ cách mạng PTLĐ của Đảng nói chung và của các
tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ nói riêng đối với công tác cán bộ có vai trò đặc biệt
quan trọng bảo đảm cho đường lối, nghị quyết của Đảng, của các tỉnh ủy về
công tác cán bộ được thực hiện thắng lợi, tạo nên đội ngũ cán bộ có chất
lượng tốt - nhân tố quyết định thắng lợi nhiệm vụ cách mạng.
2. Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy hệ thống các hình
thức, phương pháp, quy chế, quy trình, phong cách, lề lối làm việc... mà tỉnh ủy
sử dụng để thực hiện sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với công tác cán bộ của đảng
bộ. PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy gồm các hình thức, phương pháp chủ
yếu: lãnh đạo bằng chủ trương, nghị quyết, chiến lược, chương trình, quy chế,
quy định về công tác cán bộ; lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, vận động,
giáo dục, thuyết phục tổ chức đảng, đảng viên để thực hiện nghị quyết, chủ
trương về công tác cán bộ; lãnh đạo thông qua phân công, phân cấp quản lý cán
bộ, phát huy vai trò quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh; vai trò, trách nhiệm
của các tổ chức, người đứng đầu các tổ chức trong HTCT của tỉnh; lãnh đạo bằng
công tác tổ chức, xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác cán bộ; lãnh
đạo thông qua vai trò của tổ chức đảng, vai trò tiền phong gương mẫu của đội
ngũ đảng viên; lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát. Trên cơ sở nội dung
PTLĐ công tác cán bộ nói chung, khi thực hiện sự lãnh đạo công tác cán bộ đối
với từng loại tổ chức sẽ có hình thức, phương pháp lãnh đạo đặc thù cho phù hợp.
3. Trong những năm qua, các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ đã coi trọng
việc xác định và hoàn thiện PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy và đã đạt
kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào sự tiến bộ của công tác cán bộ và tạo
nên đội ngũ cán bộ của các tỉnh có chất lượng, đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi
mới ở địa phương.
Tuy nhiên, PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy vẫn còn nhiều hạn chế,
yếu kém, còn chậm trễ và lúng túng. Việc xây dựng các quy định, quy chế để cụ
thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ
và quản lý đội ngũ cán bộ còn chưa được quan tâm; vai trò người đứng đầu trong
155
công tác cán bộ còn chưa thể hiện rõ. Việc giám sát trong công tác cán bộ còn
nhiều lúng túng, vai trò của MTTQ trong công việc này ở nhiều nơi còn chưa rõ
và chưa được phát huy mạnh mẽ; việc phát hiện người có đức, có tài cả đảng
viên và người ngoài Đảng để quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng còn chưa có
quy định cụ thể và kết quả thấp; còn lẫn lộn về trách nhiệm giữa tập thể và cá
nhân trong công tác cán bộ... Những hạn chế trong PTLĐ công tác cán bộ của
các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ có cả nguyên nhân khách quan nhưng trước hết là
các nguyên nhân chủ quan và đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết.
4. Đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ trong
thời gian tới cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp: Thứ nhất, nâng cao nhận
thức, trách nhiệm của các tỉnh ủy, các cấp ủy đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên
các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ đối với đổi mới PTLĐ của Đảng về công tác cán
bộ hiện nay; thứ hai, tăng cường phân công, phân cấp trong quản lý và sử dụng
cán bộ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, tập thể lãnh đạo, các tổ
chức, người đứng đầu trong công tác cán bộ; thứ ba, hoàn thiện các quy chế
công tác cán bộ và thực hiện tốt chủ trương lấy phiếu tín nhiệm cán bộ, bầu
cử có số dư, mở rộng thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tỉnh; thứ tư, xây
dựng các ban tổ chức tỉnh ủy thực sự vững mạnh, tham mưu, tổ chức thực
hiện có hiệu quả việc đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy đối với công tác cán bộ; thứ
năm, tăng cường sự lãnh đạo, sự giúp đỡ của các ban, ngành Trung ương đối
với các tỉnh ủy khu vực Bắc Trung Bộ về đổi mới PTLĐ công tác cán bộ của
các tỉnh ủy.
5. Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ và đổi mới PTLĐ công tác
cán bộ của Đảng nói chung, của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ hiện nay là vấn đề
hệ trọng nhưng mới mẻ, khó khăn, đang rất cần được tổ chức nghiên cứu sâu
rộng hơn. Kết quả nghiên cứu của luận án chỉ là một phần rất nhỏ. Do trình độ
của bản thân còn nhiều hạn chế, bất cập nên luận án khó tránh khỏi những thiếu
sót. Tác giả luận án rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy,
cô giáo, các nhà khoa học, cán bộ hoạt động thực tiễn và các đồng nghiệp.
156
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Võ Mạnh Sơn (2012), "Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
giảng viên lý luận chính trị của trường chính trị tỉnh và các trung tâm bồi
dưỡng chính trị cấp huyện ở Thanh Hóa hiện nay", Giáo dục lý luận,
3(180), tr. 9-12.
2. Võ Mạnh Sơn (2012), "Đổi mới phương thức giáo dục, đào tạo lý luận
chính trị cho đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn ở Thanh Hóa hiện nay",
Văn hóa doanh nhân, (7), tr. 27-29
3. Võ Mạnh Sơn (2013), "Phòng, chống tham nhũng trong hoạt động khoáng
sản phải bắt đầu từ việc hoàn thiện chính sách", Nội chính, (3), tr. 52-56. 4. Võ Mạnh Sơn (2014), "Vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường
trên địa bàn thị xã Sầm Sơn hiện nay", Tập san Nghiên cứu lý luận và thực
tiễn, (16), tr. 22-25
5. Võ Mạnh Sơn (2014), "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã ở Thanh Hóa giai đoạn hiện nay", Quản lý nhà nước, (220), tr. 92-96. 6. Võ Mạnh Sơn (2014), "Nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã ở Bắc Trung Bộ giai đoạn hiện nay", Quản lý nhà nước,
(226), tr. 84-87.
7. Võ Mạnh Sơn (2015), "Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng ở Thanh Hóa
hiện nay", Lịch sử Đảng, (290), tr. 73-77.
8. Võ Mạnh Sơn (2015), "Giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo trong
công tác cán bộ của các tỉnh ủy Bắc Trung Bộ", Xây dựng Đảng điện tử,
ngày 30/5/2015.
9. Võ Mạnh Sơn (2015), ”Về phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các
tỉnh ủy khu vực Bắc Trung Bộ”, Quản lý nhà nước, (234), tr. 69-71.
157
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Văn Ân, Lê Xuân Bá (2006), Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
2. Ban Tổ chức Tỉnh ủy Nghệ An (2013), Báo cáo tổng kết công tác tổ
chức xây dựng Đảng năm 2013, Nghệ An.
3. Ban Tổ chức Trung ương (2008), 339 tình huống trong công tác tổ chức
xây dựng Đảng, Hà Nội
4. Cao Văn Bảng (2012), Chất lượng đội ngũ cán bộ diện Ban thường vụ Thành ủy Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ
khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt
Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
5. Trương Quốc Bảo (2011), "Về chính sách đối với cán bộ luân chuyển",
Xây dựng Đảng, (5).
6. Nguyễn Văn Biều (Chủ nhiệm) (2005), Chất lượng tự phê bình và phê bình của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp quận thành phố Hà Nội giai
đoạn hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
7. Lê Đức Bình (2002), "Vài suy nghĩ về dân chủ hóa công tác cán bộ",
Báo Nhân dân, ngày 9/02/2002.
8. Trần Thanh Bình (2012), "Công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ ở
Thừa Thiên - Huế", Xây dựng Đảng, (1+2).
9. Trần Quang Cảnh (2012), Đổi mới phương thức lãnh đạo của huyện ủy ở đồng bằng sông Hồng đối với chính quyền huyện giai đoạn hiện
nay, Luận án Tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh.
10. Nguyễn Văn Chi (2005), "Công tác kiểm tra qua 20 năm đổi mới", Tạp
chí Cộng sản, (23).
158
11. Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng và Lê Văn Yên (2009), Kinh nghiệm xây
dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Lê Văn Cường (Chủ biên) (2010), Xử lý tình huống trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội.
13. Lý Quang Diệu (1994), Tuyển 40 năm chính luận của Lý Quang Diệu,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Nguyễn Thị Doan (2002), "Một số vấn đề cần lưu ý khi thực hiện công
tác kiểm tra, kỷ luật đảng", Tạp chí Cộng sản, (16).
15. Nguyễn Thị Doan (Chủ biên) (2006), Đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XIV trình Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, Quảng Trị.
17. Đảng Cộng sản Trung Quốc (2001), Toàn thư công tác đảng vụ, Nxb nghiên cứu Trung Quốc, Bắc Kinh (Bản dịch tiếng Việt của Ban Tổ chức Trung ương).
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội. 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc
giữa nhiệm kỳ khóa VII, (Lưu hành nội bộ), Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Quyết định số 10-QĐ/TW ngày 25/9/2001 của Ban Bí thư hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng, Hà Nội.
159
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm, Hà Nội. 25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Quy định hướng dẫn cụ thể thi hành
Điều lệ Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Quyết định số 25-QĐ/TW ngày 24/11/2006 của Bộ Chính trị hướng dẫn thực hiện các quy định về
công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và
Chương VIII Điều lệ Đảng khóa X, Hà Nội.
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban
Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 30/7/2007 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của
Đảng, Hà Nội.
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15/10/2007
của Bộ Chính trị quy định về xử lý đảng viên vi phạm, Hà Nội.
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 53, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
33. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 54, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
34. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban
Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
35. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban
Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
36. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
37. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
160
38. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
39. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban
Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Hồ Xuân Đoàn (2007), Đánh giá đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị quản lý trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
41. Hà Hữu Đức (2006), "Vận dụng lý luận của Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật đảng trong điều kiện mới", Kiểm tra, (3). 42. Lê Văn Giảng (Chủ biên) (2008), Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giám sát của Ủy ban Kiểm tra các cấp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 43. Ngô Mạnh Hà (Chủ nhiệm) (2004), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan báo chí ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
44. Thu Hà (2005), "Thực hiện dân chủ trong thi hành kỷ luật của Đảng sau
gần 20 năm đổi mới", Kiểm tra, (9).
45. Nguyễn Quốc Hiệp (2003), "Một số phương pháp đánh giá, tuyển chọn,
đề bạt cán bộ", Xây dựng Đảng, (7).
46. Lương Khắc Hiếu (Chủ nhiệm), (2004), Những giải pháp hữu hiệu ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện báo chí và tuyên truyền.
47. Phạm Văn Hóa (2007), "Để gương mẫu trong chấp hành kỷ luật đảng",
Kiểm tra, (10).
48. Trần Đình Hoan (2002), "Luân chuyển cán bộ, khâu đột phá nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ngang tầm thời kỳ phát triển mới", Tạp chí Cộng sản, (7).
49. Trần Đình Hoan (chủ biên) (2008), Đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
161
50. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2010), Đảng Cộng sản Việt Nam 80 năm xây dựng và phát triển, Nxb Chính trị -
Hành chính, Hà Nội.
51. Học viện Xây dựng Đảng - Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2011), Tài liệu phục vụ môn học Xây dựng Đảng, Nxb Chính
trị - Hành chính, Hà Nội.
52. Nguyễn Xuân Hưng (2011), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đối với chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện
nay, luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh.
53. Triệu Gia Kỳ (2004), "Tăng cường xây dựng Đảng ủy địa phương, phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân lãnh đạo", Hội thảo lý luận giữa Đảng
Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc: Xây dựng đảng
cầm quyền, kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung
Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
54. Bùi Đức Lại (2012), "Vai trò của bí thư cấp ủy trong công tác cán bộ",
Xây dựng Đảng, (3).
55. V.I. Lênin (1974), Toàn tập, tập 4, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 56. V.I. Lênin (1975), Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 57. V.I. Lênin (1979), Toàn tập, tập 8, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 58. V.I. Lênin (2005), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 59. V.I. Lênin (1979), Toàn tập, tập 10, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 60. V.I. Lênin (1981), Toàn tập, tập 28, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 61. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 62. V.I. Lênin (1977), Toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 63. V.I. Lênin (1977), Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 64. V.I. Lênin (1977), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 65. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 66. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 67. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
162
68. Mã Linh, Lý Minh (2004), Hồ Cẩm Đào, con đường phía trước, Nxb Lao
động, Hà Nội.
69. Huỳnh Văn Long (2003), Xây dựng đội ngũ bí thư huyện ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân huyện ở đồng bằng sông Cửu Long ngang tầm đòi
hỏi của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận án
tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản
Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
70. Lê Văn Lý (Chủ biên) (1999), Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước ta, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
71. Nguyễn Văn Lý (Chủ nhiệm) (2010), Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu
số Tây Nguyên (Qua khảo sát Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk), Đề tài
khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị - hành chính khu vực III.
72. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
73. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
74. Nguyễn Văn Mạnh (2010), Giáo trình Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
75. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 76. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 77. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 78. Trần Đình Nghiêm (chủ biên), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
79. Đỗ Ngọc Ninh, Nguyễn Văn Giang (2014), Nâng cao đạo đức cách mạng nhằm giữ vững bản lĩnh chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng,
Niên giám khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
80. Bùi Đình Phong (2006), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác
cán bộ, Nxb Lao động, Hà Nội.
163
81. Trần Văn Phòng (Chủ nhiệm), (2007), Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng
sông Hồng, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh.
82. Nguyễn Trọng Phúc (2006), Các Đại hội đại biểu toàn quốc và các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-
2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
83. Thang Văn Phúc (2006), "Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa", Tạp chí Cộng sản, (9).
84. Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 85. Vũ Văn Phúc, Trần Thị Minh Châu (2001), Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
86. Tôn Hiểu Quần (2004), "Tăng cường xây dựng ban lãnh đạo, cố gắng hình thành tầng lớp lãnh đạo hăng hái, sôi nổi, phấn đấu thành đạt",
Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản
Trung Quốc: Xây dựng đảng cầm quyền, kinh nghiệm của Việt Nam,
kinh nghiệm của Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
87. Nguyễn Thái Sơn (2002), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận án tiến sĩ khoa học chính
trị, chuyên ngành xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
88. Phúc Sơn (2011), "Chú trọng ba khâu đánh giá, quy hoạch, luân chuyển",
Tạp chí Xây dựng Đảng, (10).
89. Nguyễn Thế Thắng (Chủ biên) (2011), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
nước ta hiện nay, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
164
90. Phạm Tất Thắng (2013), Tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin về công tác tổ chức và vấn đề vận dụng của Đảng ta hiện nay, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
91. Dương Quang Thanh (2014), Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các huyện ủy ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay, Luận văn
thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản
Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
92. Trương Thị Thông, Lê Kim Việt (Đồng chủ biên) (2008), Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay", Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
93. Ngô Huy Tiếp (Chủ biên) (2008), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với trí thức nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
94. Ngô Huy Tiếp (2014), Tư tưởng của Lênin về xây dựng Đảng, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
95. Ngô Huy Tiếp (2014), Tư tưởng của V.I. Lênin về xây dựng Đảng, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
96. Nguyễn Phú Trọng (2011), "Tiếp tục tham mưu đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, thực hiện tốt hơn nữa nguyên tắc tập trung dân chủ
trong công tác tổ chức và cán bộ", Xây dựng Đảng, (12). 97. Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (Chủ biên) (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
98. Trần Thiên Tú (2011), Vấn đề nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở Bắc Trung Bộ, Luận văn thạc sĩ
Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
99. Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
100. Đỗ Xuân Tuất (2014), Quan điểm của Đảng về phòng chống suy thoái phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên thời
165
kỳ đổi mới, Niên giám khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh.
101. Viện Xây dựng Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2007), Tập bài giảng Hệ thống chính trị và nghiệp vụ công tác tổ chức, Hà Nội. 102. Viện Xây dựng Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1999),
Giáo trình Xây dựng Đảng, Hà Nội.
103. Nguyễn Thị Hoàn Xuân (2010), Chất lượng đội ngũ cán bộ các Ban Tổ chức huyện, thị, thành ủy tỉnh Kiên Giang giai đoạn hiện nay, luận
văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng
sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. 104. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội.
105. Nguyễn Xuân Yêm, Nguyễn Hòa Bình, Bùi Minh Thanh (2007), Phòng chống tham nhũng ở Việt Nam và thế giới, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội.
106. Trương Thị Bạch Yến (2011), "Về khâu yếu nhất trong công tác cán bộ",
Xây dựng Đảng, (9).
PHỤ LỤC Phụ lục 1
BẢN ĐỒ VÙNG BẮC TRUNG BỘ
Phụ lục 2
DÂN SỐ, MẬT ĐỘ DÂN SỐ, TỶ LỆ TĂNG TỰ NHIÊN CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ
2010
2011
2012
Dân số (người)
Dân số (người)
Dân số (người)
Mật độ dân số (ng/km2)
Mật độ dân số (ng/km2)
Mật độ dân số (ng/km2)
Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số (‰)
Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số (‰)
Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số (‰)
10.104.122
8,85
10.146.374
9,86
10.198.955
190
192
10,70
189
Tổng cộng 6 tỉnh
6,7
3.414.168
306
7,9
3.426.551
308
8,20
306
Thanh Hóa
3.405.917
12,9
2.941.801
178
11,5
2.951.985
179
12,50
177
Nghệ An
2.928.717
5,91
1.229.197
203
7,8
1.238.830
207
11,07
204
Hà Tĩnh
1.227.673
11,24
853.401
105
10,9
85.7924
106
11,71
105
Quảng Bình
849.271
11,40
604.671
127
9,8
608.142
128
9,60
127
Quảng Trị
601.665
11,62
1.103.136
219
11,3
1.115.523
221
11,14
215
Thừa Thiên Huế
1.090.879
265
268
9,90
263
86.927.700
10,30
87.840.000
10,20
88.772.900
Cả nước
Tỷ trọng Bắc Trung Bộ
11,55
11,49
11,62
So với cả nước (%)
Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 3
TỔNG SẢN PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN (GDP) THEO GIÁ HIỆN HÀNH CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ
2010
2011
2012
Tổng sản phẩm trên địa bàn
Tổng sản phẩm trên địa bàn
Tổng sản phẩm trên địa bàn
(tỷ đồng)
(tỷ đồng)
(tỷ đồng)
Trong đó
Trong đó
Trong đó
GDP bình quân đầu người (triệu đồng)
GDP bình quân đầu người (triệu đồng)
GDP bình quân đầu người (triệu đồng)
Dịch vụ
Dịch vụ
Dịch vụ
Tổng số Nông lâm thủy sản
Tổng số Nông lâm thủy sản
Tổng số Nông lâm thủy sản
Công nghiệp xây dựng
Công nghiệp xây dựng
Công nghiệp xây dựng
150,774
36743
54430.2
59600.8
15,2
190189
46348
65764
78077
19,1
217468
50323
76281
90864
21,9
Tổng cộng 6 tỉnh
Thanh Hóa
51,393
12,405
21,303
17,685
15,1
64,716
15689
22869
26158
19,0
71,943
16406
26101
29436
21.0
Nghệ An
41,307
11,539
12,405
17,363
14,1
52,218
14162
17086
20970
17,8
59,812
15933
19112
24767
20,3
Hà Tỉnh
16,129
4,685
5,133
6,311
13,1
20,938
6505
8255
6178
17,0
24,823
6416
9404
9003
20,0
Quảng Bình
12,399
2,703
4,637
5,059
14,6
15,372
5798
6335
3239
18,0
17,478
3801
6350
7327
20,4
Quảng Trị
9,873
2,842
3,493
3,538
16,4
12,649
4670
4342
3637
20,9
14341
3875
5345
5121
23,6
3443
22,0
29071
3892
9969
15210
Thừa Thiên Huế
19,673
2,569
7,459
9,645
18,0
24,296
8836
12017
26,1
1,980,914
407,647
814,065
759,202
22,79 2,779,900
558,200 1,053,500 1,168,200
31.65 3,245,400
638,300 1,253,600 1,353,500
36.56
Cả nước
Tỷ trọng Bắc Trung Bộ
7.6
9.0
6.7
7.9
6.8
8.3
6.2
6.7
6.7
7.9
6.1
6.7
so với cả nước (%)
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh Bắc Trung Bộ
Phụ lục 4
MỘT SỐ CHỈ TIÊU BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ - NĂM 2011 - 2012
Sản lượng lương thực (kg)
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa (USD)
Thu ngân sách trên địa bàn (triệu đồn)
Chi ngân sách trên địa bàn (triệu đồng)
Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá thị trường (triệu đồng)
2011
2012
2011
2012
2011
2012
2011
2012
2011
2012
113.04
131.37
21.52
25.03
38.07
41.39
2187.47
2298.67
933.914
1078.84
Tổng cộng 6 tỉnh
Thanh Hóa
18.82
20.92
2.93
3.39
5.24
4.84
486.3788 480.5932 115.4015 186.5755
Nghệ An
16.91
20.26
2.14
1.93
4.40
4.94
368.7608 396.5186 76.48376 70.79982
Hà Tỉnh
16.35
20.18
5.52
7.43
7.81
7.91
395.9927 404.6479 77.28623 79.98798
Quảng Bình
18.01
20.37
3.36
3.45
7.51
7.84
310.2586 330.9808 186.3134 163.1846
Quảng Trị
20.92
23.58
2.42
3.88
8.12
9.77
364.7736 411.7015 133.9571 157.8579
Thừa Thiên Huế
22.02
26.06
5.15
4.96
4.99
6.08
261.305 274.2274 344.4725 420.4306
Nguồn: Văn phòng Ủy ban nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 5
TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP THEO NHÓM NGÀNH CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ
Năm 2012
Trong đó
Tổng số
Nông lâm thủy sản
Công nghiệp xây dựng
Dịch vụ
3.2
8.7
13.1
8.2
Bình quân 6 tỉnh
Thanh Hóa
3.4
9.1
12.5
9.0
Nghệ An
3.5
6.6
5.0
10.0
Hà Tĩnh
1.5
13.4
38.6
2.9
Quảng Bình
4.0
6.1
7.7
6.3
Quảng Trị
4.7
7.4
8.7
8.0
Thừa Thiên Huế
2.3
9.3
6.0
13.2
2.7
5.2
5.8
5.9
Cả nước
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 6
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ
2010
2011
2012
Đầu tư trong năm
Đầu tư trong năm
Đầu tư trong năm
ĐTNN còn hiệu lực có đến cuối năm
ĐTNN còn hiệu lực có đến cuối năm
ĐTNN còn hiệu lực có đến cuối năm
Số dự án
Số dự án
Số dự án
Số dự án
Số dự án
Số dự án
Vốn đăng ký (triệu USD)
Vốn đăng ký (triệu USD)
Vốn đăng ký (triệu USD)
Vốn đăng ký (triệu USD)
Vốn đăng ký (triệu USD)
Vốn đăng ký (triệu USD)
11533
232 19195.68
31
283.8
281
19524.6
17
97.409
207
21114
34
Tổng cộng 6 tỉnh
56
14
7052
Thanh Hóa
47
5
71.3
7107
55
2
44
7150
29
1343
9
1342.68
Nghệ An
79
4
36.2
1378.88
83
4
49
1674
36
10085
5
8303
Hà Tỉnh
22
15
128
8431
37
6
26
10239
26
-
-
Quảng Bình
12
-
16
60
-
67.6895
-
-
5
35
-
-
Quảng Trị
2
6.3
15
63
3
3
2
16
68
6.4
70
42
3
67
1948
Thừa Thiên Huế
6
49
2435
4
75
2477
0.01
969
18595
12213
192900
1091
11558
13664
197927
1287
16348
14522
210522
Cả nước
Tỷ trọng Bắc Trung Bộ
3.5
62.0
1.9
10.0
2.8
2.5
2.1
9.9
1.3
1.4
10.0
.6
so với cả nước (%)
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 7
THỐNG KÊ CÁC ĐẢNG BỘ TỈNH KHU VỰC BẮC TRUNG BỘ
TT
Đảng bộ
Dân số
Diện tích (km²)
Đảng bộ huyện, thị
Đảng bộ trực thuộc
Tổng số tổ chức cơ sở đảng
Tổng số đảng viên
1 Tỉnh Thanh Hóa
11.131,9
3.412.600
6
1.737
200.477
27
2 Tỉnh Nghệ An
16.493,7
2.942.900
7
1.245
170.184
21
3 Tỉnh Hà Tĩnh
5.997,2
1.229.300
5
713
87.767
12
4 Tỉnh Quảng Bình
8.065,3
853.000
6
611
61.627
8
5 Tỉnh Quảng Trị
4.739,8
604.700
5
513
41.084
10
6 Tỉnh Thừa Thiên Huế
5.033,2
1.115.523
6
517
38.142
9
35
87
54.461,1
10.158.023
5.536
599.521
Vùng Bắc Trung Bộ
Nguồn: Ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 8
PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DIỆN TỈNH ỦY QUẢN LÝ Ở CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ (NHIỆM KỲ 2010 - 2015)
Trình độ chuyên môn
Trình độ LLCT
TT
Tên tỉnh
Tổng số Nam
Nữ
Dân tộc Kinh
TC
CC-CN
TC
SC
CĐ-ĐH
Dân tộc thiểu số Trên ĐH
1 Thanh Hóa
645
599
46
588
57
437
208
0
630
15
0
2 Nghệ An
575
536
39
524
51
382
193
0
563
12
0
3 Hà Tĩnh
444
413
31
405
39
309
135
0
435
9
0
4 Quảng Bình
397
372
25
362
35
279
118
0
390
7
0
5 Quảng Trị
388
361
27
354
34
264
124
0
380
8
0
6 Thừa Thiên Huế
408
383
25
372
36
281
127
0
400
8
0
905
0
0
2.857
2.564
193
2.605
252
1.952
2.798
59
Tổng số
Nguồn: Ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 9
PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ NHIỆM KỲ 2010- 2015
Trình độ chuyên môn
Trình độ LLCT
TT
Tên tỉnh
Tổng số Nam
Nữ
Dân tộc Kinh
TC
CC-CN
TC
SC
CN-CĐ
Dân tộc thiểu số Trên ĐH
1 Thanh Hóa
69
64
5
53
27
42
16
69
0
0
0
2 Nghệ An
65
59
6
52
29
36
13
65
0
0
0
3 Hà Tĩnh
55
47
8
47
5
50
8
55
0
0
0
4 Quảng Bình
55
46
9
46
9
46
9
55
0
0
0
5 Quảng Trị
55
48
7
45
8
47
10
55
0
0
0
6 Thừa Thiên Huế
55
47
8
46
5
50
9
55
0
0
0
65
0
0
0
354
311
43
289
83
271
354
Tổng số
Nguồn: Ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 10
PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ NHIỆM KỲ 2010- 2015
Trình độ chuyên môn
Trình độ LLCT
TT
Tên tỉnh
Tổng số Nam
Nữ
Dân tộc Kinh
TC
CC-CN
TC
SC
CN-CĐ
Dân tộc thiểu số Trên ĐH
1 Thanh Hóa
17
15
2
15
12
5
0
17
0
0
2
2 Nghệ An
17
16
1
16
12
5
0
15
0
0
1
3 Hà Tĩnh
15
14
1
13
9
6
0
15
0
0
2
4 Quảng Bình
15
14
1
14
8
7
0
15
0
0
1
5 Quảng Trị
14
14
0
14
6
8
0
14
0
0
1
6 Thừa Thiên Huế
15
14
1
14
9
6
0
15
0
0
1
93
87
6
86
56
37
0
93
0
0
8
Tổng số
Nguồn: Ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 11
CƠ CẤU ĐỘ TUỔI VÀ GIỚI TÍNH CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DIỆN TỈNH ỦY QUẢN LÝ Ở CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ (NHIỆM KỲ 2010 - 2015)
Tổng số
Dưới 40 tuổi
Từ 41-50 tuổi
Trên 51 tuổi
TT
Đơn vị
Tổng số
Nữ
Tổng số
Nữ
Tổng số
Nữ
Tổng số
Nữ
1 Thanh Hóa
645
46
46
3
433
24
166
19
2 Nghệ An
575
39
43
4
402
20
130
15
3 Hà Tĩnh
444
31
35
3
306
22
103
6
4 Quảng Bình
397
25
29
2
277
18
91
5
5 Quảng Trị
388
27
30
2
259
19
99
6
6 Thừa Thiên Huế
408
25
29
3
273
17
106
5
695
164
2.857
193
212
17
1.950
120
Tổng số
Nguồn: Ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 12
TỔNG HỢP KẾT QUẢ LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ DIỆN TỈNH ỦY QUẢN LÝ Ở CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ TỪ 2005 ĐẾN 2013
Luân chuyển dọc
TT
Tên tỉnh
Tổng số
Huyện - Huyện
TW-tỉnh
Nội bộ huyện, thị
Tỉnh - TW
Huyện - xã
Tỉnh - Huyện
Huyện - tỉnh
Xã - huyện
Sở, ngành sang sở ngành
1 Thanh Hóa
196
8
13
36
26
10
32
16
25
30
2 Nghệ An
172
11
10
25
12
22
22
14
10
46
3 Hà Tĩnh
121
04
03
14
17
11
23
14
07
28
4 Quảng Bình
107
04
02
18
24
09
21
10
02
17
5 Quảng Trị
93
01
02
13
17
07
14
12
09
18
6 Thừa Thiên Huế
121
01
03
19
20
14
23
18
02
21
810
29
33
125
116
73
135
84
55
160
Tổng số
Nguồn: Ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 13
THỐNG KÊ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ DIỆN TỈNH ỦY QUẢN LÝ CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ
Thanh Hóa
Nghệ An
Hà Tĩnh
Quảng Bình
Quảng Trị
Thừa Thiên - Huế
Nhiệm kỳ 2010- 2015
Nhiệm kỳ 2005- 2010
Nhiệm kỳ 2010- 2015
Nhiệm kỳ 2005- 2010
Nhiệm kỳ 2010- 2015
Nhiệm kỳ 2005- 2010
Nhiệm kỳ 2010- 2015
Nhiệm kỳ 2005- 2010
Nhiệm kỳ 2010- 2015
Nhiệm kỳ 2005- 2010
Nhiệm kỳ 2010- 2015
Nhiệm kỳ 2005- 2010
Cao cấp
1033
1115
936
1056
743
753
739
745
667
656
701
695
15
17
13
15
11
13
9
8
8
10
11
9
Cử nhân
67
175
66
134
55
114
67
89
61
98
59
117
Bồi dưỡng
QP-AN
313
307
332
246
235
254
211
247
203
245
332
208
38
39
25
25
17
15
14
16
9
13
14
17
Cao học
Tiến sĩ
2
2
1
2
1
1
2
1
1
2
0
2
Nguồn: Ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 14
THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG CÁC VĂN BẢN VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở BẮC TRUNG BỘ TỪ 2005 ĐẾN 2015
TT
Đơn vị
Nghị quyết
Chỉ thị
Hướng dẫn Quy định
Quy chế Chương trình Tổng cộng
15
1 Thanh Hóa
8
12
18
5
2
50
17
2 Nghệ An
8
9
16
4
2
56
12
3 Hà Tĩnh
6
8
16
4
2
38
13
4 Quảng Bình
4
10
17
4
2
40
10
5 Quảng Trị
4
7
12
4
2
39
12
5
7
6 Thừa Thiên Huế
13
4
2
43
79
53
35
82
25
12
Tổng cộng:
Nguồn: Ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Phụ lục 15
Chia theo tr×nh ®é
Chia theo ®é tuæi
Tr×nh ®é chuyªn m«n
Lý luËn chÝnh trÞ
TT
Tæng sè
Phô n÷
Ьn vÞ
D©n téc thiÓu sè
D−íi 40
Trªn 50
Tõ 41 ®Õn 50
§H, C§ Cßn l¹i
Trªn ®¹i häc
Cao cÊp, cö nh©n
Trung cÊp
1 Thanh Hãa
124060
202 102358
21494
1250 122800
23055
75823
25182
22368
42336
2 NghÖ An
96491
193
62036
34262
1018
95473
21326
53659
21506
11265
30247
3 Hµ TÜnh
50542
135
42362
8045
746
49796
10234
28369
11939
6523
23698
4 Qu¶ng B×nh
61627
118
45287
16222
782
60845
12366
39395
9866
5936
29899
5 Qu¶ng TrÞ
45948
124
39888
5936
801
45147
7822
28902
9224
4230
16618
6 Thõa Thiªn HuÕ
42051
127
32336
9588
655
41396
8227
25312
8512
5099
19744
Tæng céng
420719
905 324267
95547
5262 415457
83030 251460
86229
55421 162542
TỔNG HỢP SỐ Liệu VỀ CƠ CẤU, TRÌNH ĐỘ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ Hiện NAY
Nguồn: Ban tổ chức tỉnh ủy các tỉnh Bắc Trung Bộ.

