BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG Đ Ạ I HỌC SƢ PHẠM TP. HCM

NHÀ VĂN TÔ HOÀI VỚI MẢNG

"TRUYỆN LOÀI VẬT"

LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ: 5. 04. 33

NGƯỜI HƯỚNG DẪN : PGS.TS TRẦN HỮU TÁ NGƯỜI THỰC HIỆN : CAO MINH HẰNG

KHÓA 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2000

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG Đ Ạ I HỌC SƢ PHẠM TP. HCM

NHÀ VĂN TÔ HOÀI VỚI MẢNG

"TRUYỆN LOÀI VẬT"

LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ: 5. 04. 33

NGƯỜI HƯỚNG DẪN : PGS.TS TRẦN HỮU TÁ NGƯỜI THỰC HIỆN : CAO MINH HẰNG

KHÓA 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2000

MỤC LỤC

PHẦN DẪN NHẬP ................................................................................................................... 1

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ...................................................................................................... 1

II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ........................................................................................................... 3

III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 6

IV. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................................... 7

CHƢƠNG I: NHỮNG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI VỀ LOÀI VẬT ................................. 9

I. Sinh vật sống trên cạn ................................................................................................ 10

II. Sinh vật sống dưới nước ........................................................................................... 19

III. Hình tượng Dế trong tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu ký” ...................................... 24

CHƢƠNG 2: THẾ GIỚI MÊNH MÔNG TRONG MẮT TRẺ THƠ ..................... 29

I. Loài vật – đời sống hàng ngày và thế giới nội tâm .................................................. 29

1- Đời sống hàng ngày của loài vật ............................................................................. 29

2 - Thế giới nội tâm của loài vật .................................................................................. 34

II. Bóng dáng con người trong thế giới loài vật .......................................................... 45

A - Trƣớc Cách mạng Tháng Tám: .............................................................................. 45

B - Sau Cách mạng Tháng Tám: .................................................................................. 51

a - Ngợi ca cuộc sống mới: ...................................................................................... 51

b. Con người mới: .................................................................................................... 54

III. Những tri thức bổ ích và những tình cảm tốt đẹp ................................................ 57

1. Tri thức ..................................................................................................................... 57

2. Tình cảm................................................................................................................... 65

CHƢƠNG 3: NHỮNG SÁNG TẠO VỀ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ...................... 84

I. Nghệ thuật ngôn từ ..................................................................................................... 84

1- Ngôn ngữ quần chúng .............................................................................................. 85

2- Những từ ngữ độc đáo ............................................................................................. 89

II. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện .............................................................................. 98

III. Nghệ thuật miêu tả ................................................................................................ 104

KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 123

THAM KHẢO ...................................................................................................................... 126

PHẦN DẪN NHẬP

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đất nƣớc ta sau bao năm tháng gian lao trong chiến tranh, vất vả trong công cuộc kiến

thiết, nay đã phần nào ổn định; đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời dân ngày càng đƣợc

nâng cao. Những năm tháng khốn khó đã đi qua, nhƣờng chỗ cho cuộc sống mới bình yên,

hạnh phúc. Mọi lĩnh vực trong xã hội đều phát triển không ngừng, từ y tế, khoa học kỹ thuật

đến thông tin, giáo dục và văn học nghệ thuật. Trƣớc đây do đặc điểm lịch sử của nƣớc ta,

văn chƣơng thƣờng đƣợc huy động tối đa vào cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ Quốc, đƣợc sử dụng

nhƣ công cụ tuyên truyền chính trị, giác ngộ, động viên nhân dân cùng tham gia bảo vệ đất

nƣớc. Từ bao đời Đinh, Lê, Lý, Trần... cho đến tận những năm sau này, bao giờ đất nƣớc có

ngoại xâm là văn thơ có mặt phục vụ kịp thời. Hiện nay do tình hình đất nƣớc đã đổi thay,

chiến tranh không còn, nên vấn đề giáo dục của văn học đã đƣợc đặt ra xem xét theo một khía

cạnh khác. Ngƣời ta quan tâm nhiều hơn đến văn học thiếu nhi: chiếc nôi lý tƣởng khai sáng

tâm hồn trẻ thơ. Thiếu nhi chính là tƣơng lai của một đất nƣớc, các em cần đƣợc chăm sóc,

quan tâm đúng mực. Những bài học đạo đức trong nhà trƣờng và gia đình dẫu nhiều nhƣng

vẫn còn chƣa đủ đối với trẻ. Các em cần đƣợc tham vấn ở nhiều đối tƣợng, trong đó có nhà

văn với các tác phẩm văn học. Ở lứa tuổi các em, sách luôn là ngƣời bạn đồng hành thân

thƣơng. Một quyển sách tốt chính là một ngƣời bạn, ngƣời thầy cho thiếu nhi. Sách dành cho

trẻ em quan trọng nhƣ vậy nhƣng không phải lúc nào cũng đƣợc đầu tƣ đúng mức. Vì ngƣời

ta thƣờng chạy theo lợi nhuận và ngƣời sáng tác thật sự tâm huyết với dòng văn học này

không nhiều. Tại Việt Nam, sách hay dành cho thanh thiếu niên nhìn chung còn rất ít. Tuy

nhiên ta vẫn có thể tìm đƣợc những tác phẩm xuất sắc có giá trị vƣợt thời gian. Các tác phẩm

này dù ra đời đã lâu nhƣng vẫn còn nguyên giá trị và

1

là món ăn tinh thần quý giá của trẻ em Việt Nam. Có thể kể tên các tác phẩm nhƣ: Những

ngày thơ ấu, Dế men phiêu lưu ký; Dòng sông thơ ấu; Quê nội; Chú đất nung; Lá cờ thêu

sáu chữ vàng... của các tác giả nổi tiếng một thời nhƣ: Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn

Quang Sáng, Võ Quảng, Nguyễn Kiên, Nguyễn Huy Tưởng... Trong số các tác giả đó, Tô

Hoài là nhà vãn viết cho thiếu nhi đều tay và hết sức thành công. Giọng văn của ông viết cho

các em vừa trong sáng vừa dí dỏm, trẻ trung nhƣ chính độc giả của mình. Có lẽ nhờ vậy mà

trẻ em rất thích đọc truyện Tô Hoài. Thuở bé, tôi cũng đã từng say mê vô cùng những nhân

vật "loài vật" nhƣ: Dế Mèn, Dế Trũi, Xiến Tóc, Bọ Ngựa ... của ông. Thế giới loài vật trong

truyện Tô Hoài không chỉ hấp dẫn trẻ em mà còn lôi cuốn cả ngƣời lớn bởi giá trị nghệ thuật

cũng nhƣ ý nghĩa giáo dục. Trong mỗi truyện, nhà văn Tô Hoài đều lồng vào đó một bài học

giáo dục nhẹ nhàng mà thâm thúy, giúp bạn đọc nhỏ tuổi - đối tƣợng phục vụ chính của tác

giả - nhận biết đƣợc cái tốt, xấu, những việc nên và không nên làm ở lứa tuổi mình. Ông lo

lắng, không muốn các em bị vẩn đục tâm hồn bởi sự thô tục hay tiêm nhiễm những thói xấu

không đáng có. Văn học nghệ thuật phải đặt yếu tố chân thiện mỹ lên hàng đầu, do vậy khi

viết cho thiếu nhi, yếu tố đó càng đƣợc nhà văn Tô Hoài chú trọng hơn.

Suốt bao năm qua, những "bài học" cứ nhƣ truyện cổ tích ấy đã thỏa mãn phần nào

nhu cầu thƣởng thức văn học nghệ thuật của thiếu nhi cả nƣớc, giúp tủ sách văn học thiếu nhi

Việt Nam phong phú và có giá trị hơn. Chính vì lẽ đó tôi cho rằng sẽ là thiếu sót lớn nếu tìm

hiểu về tác giả Tô Hoài mà lại bỏ qua mảng đề tài thiếu nhi và đặc biệt là đề tài loài vật trong

truyện thiếu nhi. Truyện thiếu nhi viết về thế giới loài vật của ông là một đóng góp nổi bật.

Trƣớc và sau Tô Hoài chƣa có nhà văn nào trong nƣớc sáng tạo đƣợc những nhân vật "loài

vật" đáng yêu và thông minh nhƣ cách ông đã làm. Những nhân vật "loài vật" đó đã làm say

lòng biết bao thế hệ độc giả, đƣa tên tuổi Tô Hoài đến gần hơn với công chúng. Nhắc đến nhà

văn Tô Hoài là ngƣời ta nhớ và nghĩ ngay đến các truyện: Dế Mèn phiêu lưu ký, Võ sĩ Bọ

Ngựa ... Tin chắc rằng với các sáng tác của

2

mình, Tô Hoài đã giúp đời rất nhiều trong việc bồi dƣỡng tâm hồn trẻ em ngày càng hƣớng

thiện và trong sáng hơn. Ông đã không chỉ nhằm vào việc giáo dục một đôi điều cụ thể nào

đó mà còn mở rộng cuộc sống, môi trƣờng sống mà chính các em là những ngƣời đã và

đang sống.

Là một ngƣời mến mộ tài năng nhà văn Tô Hoài, tôi khao khát tìm hiểu thế giới loài

vật trong truyện thiếu nhi của ông. Tôi chọn vấn đề: "Thành công của Tô Hoài trong mảng

truyện loài vật" làm đề tài cho mình với mong muốn đƣợc đóng góp phần nhỏ vào việc

nghiên cứu một trong những chân dung tiêu biểu của văn đàn Việt Nam hiện đại.

Truyện của nhà văn Tô Hoài không chỉ viết cho các thế hệ thiếu niên hôm qua, hôm

nay đọc mà sẽ còn dành cho cả những thế hệ trẻ của thế kỷ 21 sắp tới. Ông đã góp phần đắc

lực vào sự hình thành và phát triển nền văn học thiếu nhi còn non trẻ của nƣớc nhà. Tô Hoài

xứng đáng là nhà văn của thiếu nhi, vì thiếu nhi.

II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Để đƣợc nhìn nhận là một nhà văn đã không dễ, lƣu lại đƣợc tên tuổi, góp đƣợc vài

quyển sách có giá trị vào kho tàng văn học nƣớc nhà lại càng khó hơn. Ấy vậy mà cùng với

sự sàng lọc của thời gian, ròng rã suốt 57 năm qua, nhà văn Tô Hoài vẫn đƣợc đông đảo bạn

đọc yêu mến. Hàng chục đầu sách của ông đƣợc tái bản liên tục trên khắp ba miền đất nƣớc.

Độc giả khắp nơi vẫn thích thú và nhu cầu thƣởng thức các sáng tác của ông vẫn còn rất

cao. Làm thế nào để một nhà văn có thể thành công nhƣ vậy?

Từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu làm công việc phê bình, bàn luận

văn chƣơng Tô Hoài. Những ngƣời viết đã nhìn nhận và đánh giá con ngƣời, sự nghiệp Tô

Hoài dƣới nhiều góc độ. Ngƣời ta đề cập nhiều đến cuộc đời, tác phẩm, phong cách của nhà

văn và tất cả đều có cùng nhận định: mảng truyện loài vật của ông là một đóng góp tốt cho

nền văn học nƣớc nhà.

3

Lịch sử nghiên cứu về Tô Hoài bắt đầu từ khi truyện Dế Men phiêu lưu ký ra đời.

Trƣớc Cách Mạng tháng Tám, nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan đã từng nhận xét:

"Truyện loài vật của Tô Hoài là những truyện về tâm tình của loài vật, của những loài thấp

hơn người, nhưng trong loài người cũng không phải không có hạng gần như loài vật."(1)

Dƣới đôi mắt Tô Hoài, thiên nhiên, vạn vật không bao giờ vô hồn, vô cảm. Ông mô tả chúng

theo cảm nhận riêng rất đặc biệt của mình: chân thật mà cũng lạ lẫm vô cùng đối với độc giả,

bởi lẽ tất cả đều đã đƣợc nhân hóa. Cùng nhận xét về những trang viết sống động của Tô

Hoài về loài vật, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ trong quyển Nhà văn Việt Nam có nêu nhận

xét: "Tô Hoài đã pha trộn cách nhìn của con người với cách nhìn của vật, hai cách nhìn đó

hỗ trợ cho nhau, chuyển hóa vào nhau một cách nhuần nhị, tinh tế, tạo nên một không khí

đầy chất thơ, nửa hư, nửa thực rất thú vị đối với các em"(2). Đây cũng chính là sở trƣờng của

ông, một mặt phát huy hết cái hay của lối kể chuyện truyền thống, mặt khác xen lẫn cách nói

mộc mạc, bình dị, gần gũi với mọi nsƣời. Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, ngoài

những trang viết hay về đề tài miền núi, Tô Hoài đã rất thành công khi miêu tả loài vật. Điều

đó làm ta nghĩ ngay, tác giả hẳn là một ngƣời rất yêu loài vật. Phải là một ngƣời có tấm lòng

hiền từ, dễ cảm động trƣớc nỗi khổ não của loài ngƣời cũng nhƣ loài vật thì mới có thể viết

nên những trang sách lôi cuốn đến vậy!

Trong Tạp chí văn học số 1 năm 1965, tác giả Vân Thanh cũng đã viết về Tô Hoài:

"Tác giả đã miêu tả với tất cả tâm hồn, với tất cả lòng yêu mến của mình, những khung cảnh

thiên nhiên và sinh hoạt của các động vật quen thuộc chung quanh các em. Qua cái nhìn của

(1) Vũ Ngọc Phan - Nhà văn hiện đại, NXB Tân Dân - 1942. (2) Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức - Nhà văn Việt Nam, NXB ĐH - THCN

thiếu nhi, trong các truyện, nhất là trong những mẩu chuyện nhỏ ta có cảm tưởng Tô Hoài là

4

một con người có tâm hồn rất trẻ." (tr 65 ).

Đề tài "loài vật" tuy không mới lạ đối với các nhà văn nhƣng cho đến tận hôm nay tác

giả viết truyện cho thiếu nhi hay, thành công hơn cả vẫn là nhà văn Tô Hoài.

Nhà thơ Vũ Quần Phương đã viết: "Ông kể chuyện loài vật với đầy đủ tập tính của

nó nhưng lại bộc lộ sắc nét tính cách những loại người”(1).

Hà Minh Đức trong tác phẩm Khảo luận văn chương nhận xét về Tô Hoài với tƣ

cách là nhà văn của thiếu nhi "Đối với các em, ngòi bút của Tô Hoài bộc lộ nhiều phẩm chất

mới lạ. Từ trang văn đầu tiên cho đến những tác phẩm gần đây nhất của Tô Hoài vẫn là tâm

hồn tươi trẻ, ân cần và cảm thông"(2).

Viết về nhà văn Tô Hoài, các nhà nghiên cứu phê bình gần nhƣ có cùng nhận định bởi

hƣớng đi và loại đề tài ông chọn luôn phát triển khá suôn sẻ, ít "gai góc", ít bị đánh giá "có

vấn đề tƣ tƣởng" nhƣ truyện của các nhà văn Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Thiệp... Trƣớc

cũng nhƣ sau Cách Mạng Tháng Tám những ngƣời quan tâm và nghiên cứu văn chƣơng Tô

Hoài không ngừng tăng lên.

Trần Đình Nam đã nêu những nhận xét rất xác đáng về mảng truyện loài vật của Tô

Hoài: "Ông là một nhà văn xuôi bẩm sinh. Chỉ có một nhà văn xuôi bẩm sinh mới viết được

một cuốn sách như Dế mèn phiêu lưu ký ở độ tuổi hai mươi... Tô Hoài có một xê- ri sách viết

về các con vật: dế, chuột, chim, mèo, cá ... được gọi là truyện loài vật. Truyện loài vật của Tô

Hoài là một cống hiến độc đáo vào văn học hiện đại nói chung và văn học dành cho thiếu nhi

nói riêng"(3).

(1) Vũ Quần Phƣơng - Tô Hoài - Văn và đời, TCVH 1994, số 8, tr 29. (2) Hà Minh Đức - Khảo luận văn chƣơng, NXB KHXH HN 1997, tr 448. (3) Trần Đình Nam - Nhà văn Tô Hoài, TCVH 1995, số 9, tr 66.

5

Cách mạng tháng Tám thành công, Tô Hoài tiếp tục khẳng định tài năng và tâm huyết

của mình bằng những tác phẩm hay dành cho thiếu nhi. Ông đã sáng tác hơn mấy chục tác

phẩm với đủ thể loại trong đó truyện về loài vật chiếm số lƣợng rất lớn nhƣ: Cá đi ăn thề;

Con meo lười; Cái kiện của lão Trê ... Tuy nhiên, tinh lực của một ngƣời đôi khi chỉ đến dạt

dào một lần trong đời, do đó mặc dù đã cố gắng nhiều song ở giai đoạn sau này nhà văn Tô

Hoài chƣa vƣợt qua đƣợc chính mình khi viết về mảng đề tài mà trƣớc đây ông đã rất thành

công. Điều đó thật đáng tiếc, làm giảm hiệu quả của mảng truyện giai đoạn này, dẫn đến một

số nhận xét nhƣ: "Tô Hoài luôn luôn có ý thức gắn bó với cuộc sống mới từ miền xuôi đến

miền ngược, từ trong nước đến ngoài nước, Con mèo lười, Những mẩu chuyện xa lạ ... cho

nhi đồng cũng như Hai ông cháu và đàn trâu cho thiếu niên là những đóng góp đáng trân

trọng, tuy nhiên thành tựu xuất sắc của anh vẫn là những tác phẩm viết về Truyền thống."(1)

Có thể coi đó là những bài viết chính của giới nghiên cứu về bộ phận sáng tác độc đáo

này của ông. Trên cơ sở lịch sử vấn đề đã nêu ở trên, chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ thêm

về vấn đề những thành công trong mảng "truyện loài vật " của Tô Hoài.

III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Một trong những cống hiến lớn nhất của nhà văn Tô Hoài đối với văn xuôi nƣớc nhà

là các sáng tác dành cho thiếu nhi. Nếu ví sự nghiệp văn chƣơng của ông là một cây cổ thụ có

ba nhánh: thì nhánh cây dành cho trẻ thơ lúc nào cũng tƣơi xanh, dạt dào niềm vui, sức sống.

So với những truyện, tiểu thuyết viết về ngƣời dân nghèo trƣớc Cách mạng tháng Tám và đề

tài miền núi sau tháng Tám năm 1945, thì mảng truyện đồng thoại viết cho thiếu nhi có giá trị

quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài. Thời gian Tô Hoài sáng tác trƣớc

Cách mạng tháng Tám

(1) Văn Hồng - Hoa trái mùa đầu-NXB Kim Đồng -Hà Nội 1986, tr 42

6

tuy ngắn nhƣng đa số đều là tác phẩm hay, liền lạc, đều tay. Đặc biệt, truyện viết về loài vật

phục vụ lứa tuổi thiếu nhi đƣợc tác giả viết rất hay, tạo dấu ấn riêng về phong cách cho mình,

chiếm trọn cảm tình độc giả, tạo đƣợc sự chú ý nơi các nhà lý luận, phê bình văn học. Trong

quyển Khảo luận văn chương, tác giả Hà Minh Đức có viết: "Có thể xem ông là người viết

có nhiều sáng tạo kỳ lạ nhất về thế giới loài vật" (trang 451).

Mặc dù trong quá trình sáng tác, Tô Hoài đôi lúc vẫn tỏ ra chƣa thật xuất sắc ở chặng

đƣờng thứ hai - sau Cách mạng tháng Tám, có một số tác phẩm hay và cũng có những tác

phẩm còn mang tính gƣợng ép, công thức, "ngƣời lớn hóa", nhƣng nhìn chung ở cả hai giai

đoạn ông đều đạt đƣợc những thành công đáng kể.

Suốt bao năm qua, đã có nhiều học giả nghiên cứu truyện Tô Hoài với đủ thể loại,

dƣới mọi góc độ khác nhau, để cuối cùng tất cả đều đi đến một mục đích: tìm hiểu cái hay,

cái đẹp trong các sáng tác của Tô Hoài. Ngƣời viết luận án này cũng có chung mơ ƣớc đó.

Tuy nhiên do thời gian, tƣ liệu và tầm hiểu biết có hạn nên luận án chỉ tập trung tìm hiểu thế

giới loài vật trong truyện dành cho thiếu nhi của Tô Hoài. Đây là mảng truyện rất lý thú, có ý

nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông. Mong rằng với sự cố gắng của

mình tôi có thể tìm hiểu cặn kẽ hơn tài năng và tấm lòng nhà văn Tô Hoài, thỏa mãn đƣợc

lòng ngƣỡng mộ của bản thân .

IV. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong phạm vi đề tài này ngƣời viết sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu sau:

a/ Phương pháp nghiên cứu hệ thống

Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để xác lập tính nhất quán trong phong cách sáng tác

của tác giả. Trƣớc cũng nhƣ sau, tâm hồn nhà văn Tô Hoài luôn dành cho cho thiếu nhi

những tình cảm đặc biệt. Tƣ tƣởng nhất quán của ông trong mấy mƣơi năm sáng tác cho thiếu

nhi là truyền cho các

7

em niềm tin, tình yêu thƣơng, bồi dƣỡng tâm hồn trẻ thơ bằng những câu chuyện dí dỏm

trong sáng. Mỗi truyện là một bài học nhỏ, nhiều truyện góp lại hình thành nên bài học đạo

đức quý báu làm kim chỉ nam cho trẻ vào đời.

b/ Phương pháp phân tích - so sánh

Phƣơng pháp này đƣợc dùng để nhấn mạnh và làm nổi bật sở trƣờng viết về loài vật

của Tô Hoài đặc biệt là trong truyện thiếu nhi - mảng đề tài mà từ trƣớc đến nay khó có ai

đuổi kịp ông. Trong khi phân tích chúng tôi cố gắng so sánh tác phẩm của nhà văn Tô Hoài

với các tác giả viết cùng thời nhƣ: Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nam

Cao, Nguyễn Kiên... để thấy đƣợc dấu ấn phong cách độc đáo và sự tài hoa của Tô Hoài

trong mảng truyện viết về loài vật.

c/ Phương pháp thống kê phân loại

Thống kê phân loại các biểu hiện cụ thể của nghệ thuật viết văn Tô Hoài trong trong

mảng truyện loài vật viết cho thiếu nhi giúp ngƣời viết có những chứng cứ cụ thể, xác thực

khi nghiên cứu và việc trình bày vấn đề cũng trở nên rõ ràng, thuyết phục hơn. Các phƣơng

pháp trên có mối liên quan chặt chẽ và hỗ trợ nhau đƣợc ngƣời viết sử dụng phối hợp trong

quá trình nghiên cứu.

Kết cấu luận án

Cấu trúc luận án, ngoài phần dẫn luận, kết luận và thƣ mục tham khảo, gồm có 3

chƣơng tập trung vào các vấn đề sau:

Chƣơng 1: Tô Hoài và những sáng tác về loài vật.

Chƣơng 2: Thế giới mênh mông trong mắt trẻ thơ.

Chƣơng 3: Những sáng tạo của Tô Hoài về phƣơng diện nghệ thuật.

8

CHƢƠNG I: NHỮNG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI VỀ LOÀI VẬT

Nhà văn Tô Hoài ngay từ những năm đầu cầm bút đã lao động bền bỉ cho sự nghiệp

phục vụ thiếu nhi. Trong các sáng tác dành cho tuổi thơ, nhà văn viết rất nhiều về thế giới

loài vật. Ông tỏ ra thích thú và đặc biệt chăm chút cho đề tài này. Trƣớc và sau Cách Mạng

tháng Tám, ông có tất cả 33 truyện viết về loài vật. Trong đó các con vật xuất hiện đa số là

vật nhỏ bé, nuôi trong nhà hoặc sống quanh quẩn bên con ngƣời nhƣ: mèo, chó, gà, vịt, chim,

chuột, cá và cả ếch nhái, cóc, dế, bọ ngựa, cào cào, kiến .... Chúng chỉ là những con vật bình

thƣờng nhƣng qua sự sáng tạo của tác giả con vật đã trở nên đặc biệt, kỳ thú hơn cho trẻ em

mặc sức khám phá. Khi đã đọc xong truyện của ông, các em có thể dễ dàng liên hệ, so sánh

loài vật trong lớp vỏ thƣờng ngày, quen thuộc với những sản phẩm của trí tƣởng tƣợng hàm

chứa biết bao liên tƣởng. Thiên nhiên xa vời sẽ trở nên gần gũi và thân thiết trong trí óc non

nớt của các em. Nhà văn chứng minh cho thiếu nhi thấy loài vật cũng sống trong trật tự xã

hội riêng, có những mối liên hệ, ràng buộc riêng tựa nhƣ xã hội loài ngƣời. Ta cặp trong

truyện thiếu nhi của ông một xã hội chim thú rất đông vui, nhộn nhịp với đầy đủ cung bậc

tình cảm hỉ, nộ, ái, ố. Vẻ đẹp của chúng đƣợc phát hiện dƣới nhiều góc độ. Tác giả lấy ngay

hình ảnh các con vật sống xung quanh mình ra miêu tả. Trong bài mở truyện của Tuyển tập

văn học thiếu nhi (tập 2 - NXB VH, H, 1997 ), nhà văn Tô Hoài có viết về nơi chôn nhau cắt

rốn của mình: "trên bãi Cơm Thi đầu làng có cả một xã hội mà trong đó, trẻ con với mọi loài

cây cỏ, chim muông và những con vật nho nhỏ đã thật quen biết nhau. "(tr 8) Tuổi thơ của tác

giả đã trôi qua êm đềm trên bãi cỏ ven

9

sông bé nhỏ ấy. Những ngày tháng tha thẩn, rong chơi ở quê nhà đã để lại trong tâm trí ông

những kỷ niệm khó phai. Vốn sống và sự am hiểu sâu sắc về làng quê đã giúp nhà văn Tô

Hoài viết rất hay về cảnh cũng nhƣ vật nơi đó. "Những chàng Dế Mèn, đại vương Ếch cốm và

thầy đồ Cóc có trở thành bầu bạn với bạn đọc là do một hoàn cảnh thực tế thời niên thiếu tôi

đã sống... Thực tế ấy, thơ mộng ấy khơi nguồn cho tôi."(1) Cả thế giới động vật đều trở nên có

tri giác và cùng hoạt động theo trí tƣởng tƣợng của các em. Thế là những con vật từ nay trở

thành "nhân vật" có cuộc sống, có diện mạo, có tiếng nói, có suy nghĩ, có hành động. Tác giả

hòa nhập hoàn toàn vào trò chơi của thiếu nhi.

Trong ký ức tuổi thơ của các độc giả trƣớc 1945 và cả những thế hệ sau này không thể

nào không nhớ, không bị cuốn hút bởi những tác phẩm viết về loài vật nhƣ: Dế Mèn phiêu

lưu ký, Võ sĩ Bọ Ngựa, Trê và Cóc... Sau Cách mạng tháng Tám, bên cạnh những hƣớng đi

mới, Tô Hoài tiếp tục trở về với mảng đề tài loài vật mình hằng yêu thích. Đàn chim gáy, Cá

đi ăn thề, Chim chích vào rừng... là những truyện hay đƣợc thiếu nhi đón nhận một cách

hứng thú.

I. Sinh vật sống trên cạn

Bạn đọc nhỏ tuổi đã đƣợc làm quen với cái nhìn giàu tƣởng tƣợng về loài vật của Tô

Hoài từ tác phẩm đầu tiên: Dế Mèn phiêu lưu ký. Trong tác phẩm này, các em bắt gặp một

thế giới sinh vật nhỏ bé gần gũi, thân quen với con ngƣời. Nhân vật chính của truyện là Dế

Mèn. Đó là một chú Dế mới lớn, cƣờng tráng, chán cảnh sống tầm thƣờng, quanh quẩn bên

bờ ruộng đã cất bƣớc ra đi để mở rộng tầm nhìn và tìm cho mình một lẽ sống tốt đẹp. Dế xuất

hiện nhiều lần trong tác phẩm này và phải tiếp xúc với đủ loại: Xiến Tóc, Nhà Trò, Nhện,

Ễnh Ƣơng, Chẫu Chàng, Nhái Bén, Ếch

(1) Tô Hoài - Nghệ thuật và phƣơng pháp viết văn, NXBVH, H, 1997, tr 139.

10

Cốm, Cóc, Cào Cào, Chuồn Chuồn, Bọ Muỗm, Bọ Ngựa, Châu Chấu Voi, Chuồn Chuồn

Tƣơng, Kiến... Hình ảnh chúng đƣợc đặt dƣới nhiều góc độ quan sát, ghi nhận hóm hỉnh và

tinh tế. Mỗi con đều mang một phong thái riêng. Trong đó, Dế Mèn với tƣ thế của một

chàng dế cƣờng tráng đƣợc miêu tả hấp dẫn: "đôi càng mẫm, những cái vuốt ở chân, ở

khoeo cứng và nhọn hoắt", đôi cánh đã "dài chấm tận đuôi", thân mình "nâu bóng mỡ soi

gương được", đầu to và nổi từng tảng rất bƣớng. "Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng

nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc", "sợi râu dài", "chốc chốc lại trịnh

trọng, khoan thai đưa chân lên vuốt râu". Chú ta "đi đứng oai vệ", "dám cà khịa với tất cả

bà con hàng xóm, tưởng mình tài giỏi ai cũng nể sợ..."(1). Dế Mèn đã đƣợc tác giả tập trung

miêu tả dáng vẻ bên ngoài, tỉ mỉ đến từng chi tiết gợi vẻ đẹp tràn đầy sinh lực của tuổi trẻ.

Dế lại còn thích và biết tổ chức cho mình những chuyến đi du lịch bổ ích. Dế đi nhiều, học

đƣợc nhiều điều hay, tìm đƣợc nhiều bạn, làm đƣợc nhiều việc tốt. Những trang sách miêu

tả cuộc hành trình phiêu lƣu đầy bất ngờ thú vị của Dế đã tạo cho thiếu nhi biết bao niềm

say mê.

Bên cạnh những chú Dế nhỏ bé, trong tác phẩm này còn có sự hiện diện của họ

Chuồn Chuồn. Các cô chú Chuồn Chuồn sống quây quần bên nhau thành một xóm. Xóm

Chuồn Chuồn ngụ trong vƣờn hoa cỏ may. Họ là những cƣ dân rất hiền. Có nhiều loại

Chuồn Chuồn: Chuồn Chuồn Chúa, Chuồn Chuồn Ngô, Chuồn Chuồn Tương, Chuồn

Chuồn Ớt .v.v. Mỗi con một vẻ:"Chuồn Chuồn Chúa lúc nào cũng như dữ dội, hùng hổ

nhưng kỳ thực trông kỹ đôi mắt lại rất hiền. Chuồn Chuồn Ngô nhanh thoăn thoắt, chao

cánh một cái đã biến mất. Chuồn Chuồn ớt rực rỡ trong bộ quần áo đỏ chói giữa ngày hè

chói lọi, đi đằng xa đã thấy. Chuồn Chuồn Tương có đôi cánh kép vàng điểm đen thường

bay lượn quanh bãi những hôm nắng to”(2).

(1) Sđd, tr. 12. (2) Sđd, tr. 110.

11

Chuồn Chuồn thƣờng hay "đậu trên ngọn cỏ cao bên bờ nước", "khỏe chịu nắng" và

là những ngƣời bạn thân quen của họ hàng nhà Dế. "Hang Dế thường ở quanh bãi và gần

hồ ao. Chuồn Chuồn hay đậu trên ngọn cỏ cao bên bờ nước. Bởi thế, đã thành thói quen,

như bức tranh sơn thủy thì phải có núi sông, chàng Dế và chàng Chuồn Chuồn cứ mùa hè

đến là gặp nhau ở bờ cỏ, anh đậu ngọn anh nằm đất".

Ngoài họ hàng Chuồn Chuồn, ta còn thấy có cả Cào Cào. Các chị Cào Cào "mỹ miều

áo đỏ áo xanh mớ ba mớ bảy, bước từng chân chầm chậm, khoan thai, khuôn mặt trái xoan

như e thẹn, như làm dáng, như ngượng ngùng." Trong khi đó, các chàng Châu Chấu Ma lại

có "mặt mũi rất xí nhưng chúa là hay lơn tơn đón đường co kéo các nàng Cào Cào xinh đẹp

vào trò chuyện vẩn vơ trong vườn cỏ non - những hàng quán dọc đường"(1).

Bọ Ngựa cũng góp mặt trong câu chuyện cùng muôn loài. Anh ta vốn là võ sĩ, lại là

tráng sĩ trong vùng nên bộ dạng cũng có khác: "Cái khấc cổ vươn ra. Cái mặt ngắn củn

nhưng cái cằm vuông bạnh lún. Con mắt đu đưa tưởng như ai xung quanh chỉ còn có việc

thán phục nhìn anh ta. Hai sợi râu óng ả mấp máy phất lên phất xuống. Hai lưỡi gươm bên

mạng sườn, lưỡi có răng cưa, luôn luôn co vào trước ngực, ra lối ta đây con nhà võ đi đứng

đúng thế võ, lúc nào cũng giữ miếng"(2).

Không phải là nhân vật chính trong truyện, nhƣng Xiến Tóc cũng đƣợc tác giả giới

thiệu tỉ mỉ với ngƣời đọc từ hình dáng đến cá tính. "Xiên Tóc lực lưỡng và uy nghi bọc mình

trong bộ giáp đồng hun rất cứng, bộ hung tợn dữ dội lắm", "nét mặt nghiêm và trầm tĩnh",

"hai tảng răng đen

(1) Sđd, tr. 114. (2) Sđd, tr. 115.

12

sắc ghê gớm, xiến đứt cả tóc"(1). Gọi con vật này là Xiến Tóc quả chẳng sai!

Ngoài truyện Dế Mèn phiêu lưu ký, tác giả còn viết về loài vật rất nhiều trong các

sáng tác của mình. Các con vật xuất hiện trong truyện Tô Hoài đều có cuộc sống quanh quẩn

bên con ngƣời. Chó, Mèo, Gà, Vịt, Ngỗng, Chim, Chuột, Dê, Lợn, Ngựa, Nai và cả Gián Ống

đều có mặt trong truyện Tô Hoài.

Tác giả có khá nhiều truyện miêu tả tỉ mỉ họ nhà Chim: Đôi Gi Đá, Đàn chim Gáy...

Đó là vợ chồng chim Gi Đá, theo với mùa lúa đi tìm cho mình một chốn đi về. "Họ thuộc loài

nhà Gi Đá chính tông. Và hiệu là Gi Sừng. Người loắt choắt bé chưa bằng Gi Cam, mà lại bé

hơn cả chim Sẻ. Trông một Gi Đá chỉ bằng nửa chim sẻ. Vừa như chiếc hạt mít mập mạp, có

dính chút đuôi. Đôi mắt nâu lờ đờ. Cặp mỏ ngắn, cục mịch thây lẩy trước đôi mắt như một

viên cuội xam xám. Lông màu nâu, mượt trơn và mịn. Đôi chân cũng xám như mỏ”(2).

Khả năng quan sát và miêu tả hình dáng loài vật của Tô Hoài thật tinh tế! Thế giới của

loài có cánh hiện ra trƣớc mắt ta sinh động, đẹp và ngộ nghĩnh. Nhà văn đặc biệt chú ý đến vẻ

đẹp và đặc tính của từng giống vật để tìm ra những nét vẽ riêng về chúng, ông phát hiện và

ghi nhận thật chính xác nhƣng cũng không kém phần hóm hỉnh về con chim Gáy. "Con chim

gáy hiền lành, béo nục. Đôi mắt nâu trầm ngâm ngơ ngác nhìn xa. Cái bụng mịn mượt, cổ

quàng chiếc "tạp dề" công nhân đầy hạt cườm lấp lánh

(1) Sđd, tr. 38. (2) Tô Hoài - O Chuột, NXB Văn Nghệ TPHCM 1995, tr

13

biêng biếc”(1). Những chú chim thật bình thƣờng hay xuất hiện trên các cánh đồng Việt Nam

vào mùa gặt hiện lên trên trang sách mới sống động và đẹp làm sao! Vành Khuyên thì lại

khác: "Con vành khuyên mặc áo diện một chút xanh, một chút nhạt vàng, một chút nhạt

trắng, mắt long lanh giữa vòng khuyên bạc, như đeo cặp kính ngộ nghĩnh. Tiếng hót chiu chít

nhấp nhô theo cánh bay xa. "(2)

Cả Chích Bông cũng thật ngộ nghĩnh: "hai chân bằng hai chiếc tăm. Thế mà cái chân

tăm ấy nhanh nhẹn, được việc, nhảy liên liến. Hai cánh nhỏ xíu, nhỏ xíu mà xoải nhanh vun

vút. Cặp mi thì tí tẹo bằng hai mảnh vỏ trấu chắp lại".

Những trang viết này gợi ta nhớ đến đàn chim trong tác phẩm Đất rừng phương Nam

của nhà văn Đoàn Giỏi. "Chim đậu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà

là, cây vẹt rụng trụi gần hết lá. Cồng cộc đứng trong tổ vươn cánh như tượng người vũ nữ

bằng đồng đen đang vươn tay múa. Chim già đảy, đầu hói như những ông thầy tu mặc áo

xám, trầm tư rụt cổ nhìn xuống chân. Nhiều con chim rất lạ, to như con ngỗng đậu đến oằn

nhánh cây". Những con chim rất đặc trƣng của vùng đất Nam Bộ đã bƣớc vào truyện của

Đoàn Giỏi với tất cả vẻ đẹp vốn có. Tuy sống ở hai miền Bắc Nam cách biệt nhƣng nhà văn

Tô Hoài và Đoàn Giỏi đều khắc họa đƣợc những bức chân dung tuyệt đẹp về loài chim trong

bức tranh chung của thiên nhiên.

Miêu tả các sinh vật nhỏ bé sống quanh quẩn con ngƣời Tô Hoài cũng không quên

giới thiệu họ nhà Gà đến độc giả qua các truyện: Tuổi trẻ, Một cuộc bể dâu, Ò ó o... Con Gà

Chọi trong "Một cuộc bể dâu " và

(1) Nhiều tác giả - Tuyển tập truyện ngắn hay dành cho thiếu nhi tập 2 - Đàn chim gáy tr. 39 - NXB Trẻ . (2) Tô Hoài - Tuyển tập văn học thiếu nhi tập 2, NXB VH, H., 1997, tr 80.

14

Gà Gi trong "Tuổi trẻ " đều là hai con gà trống song chúng có hình dáng và thân phận khác

biệt. Gà Chọi bị độc long và có vẻ là một lính chiến rất oai vệ: "Đầu chàng to và hung dữ như

dáng một chiếc nắm đấm. Cái cổ bạnh ra và hai bắp đùi thì để lộ ra. Da chàng đỏ gay, đỏ

gắt, đỏ tía, đỏ bóng lên như quết một nước sơn thắm. Mặt chàng lùi sùi những mào, những

tai, những mấy cái ria mép - tím lịm như mặt anh say rượu. Một bên mắt thì lép mịt mờ, còn

một bên cứ chớp chớp, nháy nháy cái tròng vàng hoe”(1). Ngƣợc lại, Gà Gi "thấp bé và nhỏ

nhắn hơn giống gà thường". Ngay cả khi "màu sắc trên bộ má nó sẫm lại, đen thì đen biếc,

trắng thanh trắng bạch và đỏ trở nên đỏ khé. Mào nó mọc dài, thắm hoe như dải lá cờ nheo.

Đuôi nó uốn vồng lên từng chiếc lông dài huyền bóng" thì nó vẫn thấp và bé nhất trong loài

Gà. "Cho nên những khi anh ta làm bộ tịch người lớn thì buồn cười như những anh lùn mà đi

cái lối ngoe nguẩy. Gà cũng uống nước, cũng rỉa lông, cũng hếch mắt lên nhìn trời những khi

nắng to. Chỉ phiền cái nỗi anh chàng bé và thấp lũn chũn”(2). Trong hai truyện ngắn này,

ngoài Gà Chọi dũng mãnh, Gà Gi nhỏ bé luôn cảm thấy cô đơn vì thiếu bạn tri kỷ, ta còn thấy

những chị Gà Mái: "chỉ biết đẻ trứng và biết "cục ta cục tác" loạn xạ chứ không thể hiểu

những giọng yêu đương tình tứ" và là "một bậc mẹ hiền gương mẫu" cùng đàn Gà con xinh

xắn: "chín con gà nhỏ vỡ lông, vỡ cánh và lần lần ở người chúng nó hiện ra những màu sắc

của một bộ mã đứng đắn. Mỗi con một mã: Hoa Mơ, Tía, Cuốc, Mân trắng. Cũng có đứa đeo

cái màu vàng bềnh bệch như mẹ. Đây là một đàn gà pha. Có những đứa tuy còn nhỏ, mà đã

giống bố: cổ dài lêu nghêu và cao lênh khênh. Vài nhách thuộc dòng máu mẹ. Chân thấp lè

tè, đầu bé, và lông mọc kín chứ không rụi"(3).

(1) Tô Hoài - O Chuột - Một cuộc bể dâu, NXBVN, TP HCM, 1995, tr 54. (2) Sđd, tr 21. (3) Sđd, tr. 86.

15

"Trong nhà, ngoài người, Chó và Mèo làm chúa tể ", do đó chúng là đối tƣợng đƣợc

nhà văn đặc biệt quan tâm. "Chó giữ về mặt bộ, mặt thủy. Hắn có phận sự chạy nhông khắp

chốn, để đánh hơi, để hỏi han và để mắng những người lạ đi tơ mơ vào trong ngõ." Những

chú chó trong truyện Tô Hoài lại thƣờng mang dáng vẻ hiền lành, nhân hậu, phải tội hay cộc

tính "đôi mắt con chó tinh khôn, tròn xoe, sáng trong, như nghe được tiếng người"(1). Riêng

Mèo có tính cách và nhiệm vụ khác hẳn. "Mèo lừ đừ và nghiêm nghị tựa một thầy giáo nhà

dòng, trên mình khoác bộ áo thâm. Hắn có cái cốt cách quý phái và trưởng giả." Ban ngày,

Mèo ngủ, để tối đến "trong cái bóng tối mung lung, hắn mới ra tay hoạt động. Hắn đi rà rà

thâu canh như người trương tuần". Lại có cả cậu Miu bé bỏng không biết vâng lời mẹ "mới

mở mắt được mấy ngày trên nóc tủ. Bốn khoeo ruỗi ra kêu răng rắc. Ái chà khỏe. Cậu Miu

rửa mặt. Từ thuở lọt lòng đã rửa mặt khan rồi cả đời chỉ rửa mặt khan. Miu nhấc cái cùi

chân trước kỳ cọ vào bộ ria cưng cứng. Khác với người, cậu Min có bộ ria đàng hoàng từ lúc

mới đẻ. Đàng hoàng lắm, cứng lắm"(2). Lần đầu tiên đi xa nhà, Miu chẳng xin phép để biết

bao phiền toái xảy ra, suýt làm hại cả tính mạng mình và làm mẹ buồn. Chó và mèo trong

truyện Tô Hoài, sống khắng khít bên con ngƣời nên đƣợc tác giả nặng lòng thƣơng yêu. Ông

không chỉ am hiểu đời sống động vật, mà còn có khả năng miêu tả chúng một cách tinh tế. Có

lẽ trƣớc và sau Tô Hoài, ít ai có thể viết về loài vật hay và ấn tƣợng nhƣ thế.

Bổ sung cho khu vƣờn "bách thú" vốn đã rất náo nhiệt ấv là những chú Chuột hay nói

đúng hơn là cả một xã hội Chuột trong "Chuột thành phố", "O Chuột", "Truyện gã Chuột

Bạch”, "Đám cưới Chuột".

(1) Sđd, tập 1, tr 381. (2) Tô Hoài - Tuyển tập văn học thiếu nhi tập 1, Cậu Miu, tr 50, NXB VH, HN, 1997 .

16

Con Mèo mày trèo cây cau

Hỏi thăm chú Chuột đi đâu vắng nhà

Chú Chuột đi chợ đồng xa

Mua mắm mua muối giỗ cha cái thằng Mèo.(1)

Chuột luôn là loài gây khó chịu cho Mèo và cả con ngƣời. Chúng thƣờng sống ở

những nơi tối tăm, dơ bẩn, do đó không đƣợc ngƣời ƣa thích. Trừ giống Chuột Bạch có màu

lông trắng nõn nà trông sạch và xinh đƣợc nuôi làm cảnh trong nhà, tất cả những họ Chuột

còn lại đều bị con ngƣời tìm cách tiêu diệt. Trong mắt nhà văn Tô Hoài, Chuột còn là những

sinh vật rất nhanh nhẹn, tinh quái. Có những con nhƣ gã Chuột Bạch sống ích kỷ, vô tƣ lự, an

phận; cũng có những con hợm hĩnh nhƣ cha con cô Chuột Chù, hoặc thông minh nhƣ Chuột

Nhắt... Mặt mũi Chuột Nhắt "không đáng diện với ai mấy" và "thân hình chú dài không được

bằng một ngón tay. Bốn chân như bốn cái tăm lũn cũn. Chiếc mõm nhọn hoắt, hai hàng râu

cứng tua tủa sang hai bên. Đôi mắt chú nhỏ, nhưng lồi ra. Hấp háy, chớp chớp, nháy lia,

nháy lịa". Tuy vậy, chú ta là một học trò tốt, "chăm học tự nhiên", thi "đỗ hàng thứ ba" trong

số "hơn ba trăm học trò của các tỉnh trong xứ về thi". Là một giống chuột nhỏ nhƣng chúng

rất nhanh nhẹn "Về sự nhanh nhẹn, phải biết rằng nhờ ở cái thân hình bé bỏng, chúng leo vun

vút, chúng chạy nhoăn nhoắt như có phép biến hóa." Còn Chuột Chù tuy chỉ là "một thứ

chuột cùng dân, thấp kém nhất trong xã hội chuột" nhƣng mà đƣợc con ngƣời ƣa "không phải

ưa cái thân hôi hám của nó - chẳng đã có câu mỉa mai: "hôi như chuột chù", - nhưng người

ta chỉ ưa có cái tiếng kêu: "huúc.chuuúc...", nghĩa là "đủ đủ". Nhà ai, Chuột Chù mà cứ "túc,

túc" luôn, ắt nhà ấy hẳn sắp có việc đại phát tài". Gấp lại những trang văn của Tô Hoài, cái

xã hội Chuột ấy vẫn còn chờn vờn, ám ảnh tâm trí ta. Tác giả đã miêu tả cuộc sống của chúng

với nét bút nhẹ nhàng, đằm thắm, tự

(1) Tô Hoài - Tuyển tập văn học thiếu nhi, tập 2, NXB VH, H, 1997, tr 446.

17

nhiên nhƣ thể đó là cuộc sống của con ngƣời, vẻ đẹp và đặc tính khách quan của con vật này

đã khơi dậy trong lòng ngƣời đọc cảm giác thú vị khi tiếp xúc.

Trong truyện Tô Hoài, bên cạnh những con vật có "kích thƣớc" nhỏ bé, thỉnh thoảng

cũng xuất hiện vài con vật to lớn nhƣ: trâu, bò, dê, ngựa. Đàn bò thƣờng ngày vẫn sống cạnh

con ngƣời ở nông thôn, trên những bãi chăn mênh mông cỏ, bƣớc vào trang sách nhà văn mới

ngộ nghĩnh và dễ thƣơng làm sao! "Chúng đi lốc nhốc thành một hàng nom tựa một đám lính

đi tập. Một con bò đực da bồ hóng có cái bướu cao gồ lù lù lên ở giữa vai bước những bước

trịnh trọng đi giữa đám". Theo sau đàn bò còn có cả mấy chú bê: "những con bê không được

bú sữa mẹ, còm nhỏm. Con bê bị đeo cái gạc tre trên đầu. Thèm quá, húc vào vú mẹ, gạc tre

đâm, bò mẹ chạy vùng lên."(1)

Sơn Dƣơng cũng đƣợc nhà văn nhìn ngắm kỹ. Vốn sống ở triền núi, mùa rét, Sơn

Dƣơng về các xóm dƣới thung lũng tránh cái lạnh buốt giá. "Sơn Dương đẹp rực rỡ, chân

lướt nhanh, chạy cuốn như gió reo lóc cóc trên đá ... Hai con mắt Sơn Dương lừ lừ biếc xanh

như đôi sao hôm cùng mọc một lúc... cặp móng lúc nào cũng đen nhoáng"(2). Những chú dê

nhà thì bé và trông hiền lành, lờ khờ hơn "đuôi thì ngắn củn, râu ria thì xồm xoàm gớm ghê.

Trông vào mặt chỉ thấy có mỏm mũi đen bóng nhoáng".

Mỗi con vật trong thế giới động vật của Tô Hoài đều có nét đặc sắc, sinh động và dí

dỏm riêng. Nhận xét tinh tế của ông về loài vật đã tạo nên những trang viết hấp dẫn cả trẻ em

cùng độc giả ngƣời lớn. Cách nhìn trong sáng, hóm hỉnh và không khí đầy chất thơ, nửa hƣ

nửa thực trong truyện Tô Hoài đã làm thiếu nhi say mê. Thế giới vật ấy thật mênh mông,

trong mắt trẻ thơ.

(1) Tô Hoài - Tuyển tập văn học thiếu nhi, tập 1, NXB VH, H, 1997, tr. 254. (2) Tô Hoài - Tuyển tập văn học thiếu nhi, tập 2, NXB VH, H, 1997, tr. 108.

18

II. Sinh vật sống dưới nước

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi, ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Xã hội loài vật trong truyện Tô Hoài còn đa dạng bởi sự góp mặt của những sinh vật

sống dƣới nƣớc. Hình ảnh cái Cò, cái Vạc trong văn học dân gian đã đƣợc ông khai thác và

vận dụng linh hoạt vào các sáng tác của mình. Tác giả miêu tả chúng với tất cả sự phong phú

vốn có. Đó là những con vật mà Dế Mèn gặp gỡ trong cuộc hành trình của mình. Đi ngang

qua xóm của các chàng Cóc, Nhái, Ếnh Ƣơng, Ếch cốm, Chầu Chàng, Rắn Mòng, Dế Mèn

nhận ra ngay bởi đặc tính ồn ào cố hữu. Chúng sống ở nơi lầy lội, um tùm cỏ nƣớc, quanh

năm chỉ thấy bùn đen. Có lẽ vì ở nơi nhƣ vậy mà "da dẻ chân tay loài ở bùn cũng tối om như

thế". Cƣ dân ở đây chỉ có vài nhà mà lúc nào cũng huyên náo "vang tiếng cãi cọ", "cứ điều

qua tiếng lại, mỗi miệng thêm một lời, không ai nhịn ai, uồm uồm oang oang mãi lên."

Ông cha ta thƣờng nhắc đến Cóc - một con vật có sức sống mạnh mẽ, thích nghi đƣợc

với mọi môi trƣờng sống khắc nghiệt cả hạn hán lẫn ngập lụt, cả trên cạn lẫn dƣới nƣớc - qua

những câu ca:

Con Cóc là cậu ông Trời

Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho.

Ngƣời xƣa cho rằng Cóc có công lao gọi mƣa, chống hạn hán để cứu cả loài ngƣời và

hết thảy các sinh vật khác thoát khỏi bị tuyệt diệt. Riêng Tô Hoài, ông có cái nhìn khác về

con vật này. Tác giả mƣợn "phần xác" của con vật tín ngƣỡng để phản ảnh và miêu tả hiện

thực xã hội. Đó là một lão Cóc ƣa "dấm dớ, lý sự", mỗi khi cất giọng thƣờng rất văn vẻ nhƣ

một thầy đồ thực thụ. Lão có tính khuyếch khoác nhƣng cũng rất thâm "không

19

phải lão Cóc là cục đất mà ai chửi vào mũi lão cũng được". Ta vẫn thƣờng nghe nói "gan cóc

tía" cơ mà ! Suốt ngày, Cóc chỉ quanh quẩn nơi xó hang nghiến răng "kèng kẹc" nhƣng lại rất

thích khoác cái oai hờ "con cóc là cậu ông Trời".

Cùng tồn tại bên cạnh Cóc là Nhái Bén "gầy, lêu đêu cao, hai cái đùi bé quắt mà dài

quá nửa thân mình. Bộ quần áo thể thao của Nhái Bén bó sát người, cứ so le, xộc xệch, càng

có cảm tưởng như chân cẳng nó dài thêm ra" và Ễnh Ƣơng "căng mép, phình bụng chỉ nói

một câu bình thường cũng đã váng tai cả xung quanh rồi." Trú ngụ nơi cái xóm huyên náo ấy

còn có cả "cƣ dân" Rắn Mòng. "Mãi sau có anh Rắn Mòng trông thấy chúng tôi, Rắn Mòng

ngoe nguẩy trườn ra - chỉ có trẻ con nhút nhát thì sợ Rắn Mòng chứ thật thì anh Rắn Mòng

hiền lành như cái đụn rạ. Không ai thấy anh nói bao giờ, tưởng câm, nhưng anh ấy chỉ có

tính ít nói thôi ". Trong khi đó, Đại vƣơng Ếch lại có dáng vẻ uy nghi, béo tốt hơn cả: "chồm

chỗm ngồi vênh mõm trên viên gạch vuông, như kiểu ngồi trên sập, ra điều uy nghi lắm." Lão

có "đôi mắt lồi nghiêm nghị" cứ hay giƣơng trừng trừng, chân trƣớc "khuỳnh ra", chân sau

"xếp tè he lại". Ngực và bụng Êch "trắng bóng lối cổ áo thầy kiện, cứ phập phồng đưa lên

đưa xuống lấy hơi sắp nói, nhưng mãi chẳng nói được gì". Ngoài ra "trên gáy lão ta điểm

miếng xanh ở cổ áo và lưng áo như hạt cốm."(1) Thảo nào ngƣời ta vẫn gọi lão là Ếch Cốm!

Không dừng lại ở đấy, tác giả còn tả cả những loài động vật có tài bơi lội uyển

chuyển, sống ẩn mình trong "ngôi nhà đại dƣơng". Đó là họ hàng nhà Cá với đủ các loại: Cá

Diếc, Cá Ngão, Săn sắt, Cá Chuối... Cá Săn Sắt "đuôi cờ ngũ sắc hoa cả nước", cá Diếc

"trắng trẻo, béo tròn con quay", Cá Chuối "răng nhe trắng như lưỡi cưa, nó lướt vào đến

trước mặt

(1) Sđd, tr 97.

20

thì dòng nước đương trong vắt bỗng đen sạm như nền trời mưa”…(1)

Các cô Cá, cậu Cá tung tăng bơi thành từng đàn đi chơi xuân. "Hàng đàn cá Rô nô

nức lội ngược trong mưa, nghe rào rào như đàn chim vỗ cánh trên mặt nước, vượt qua cả

đường cái, cả gò đống, cả gốc cây." Cá Ngão "trắng nhoáng", "mép rộng loe ra như đeo cái

loa thông tin cứ vừa bơi vừa chuyện bi bô, chẳng cần biết ai xung quanh" cũng đang hăng hái

nhập bọn. Chúng vƣợt đƣợc qua cả đê sông Hồng làm cho bọn Rô Ron hết sức thán phục.

Tuy nhiên tác giả đã tiết lộ cho ta biết một bí mật thú vị: "chính là cái bơm điện đã hút các

bác cá Ngão lên"(2).

Trong vƣơng quốc loài cá, Trê hợm hĩnh và hay bắt nạt những con cá bé hơn cả. Trê

có: "cái đầu và cái mặt bèn bẹt cứ lầm lầm lì lì”, mũi thính cực kỳ "con cá còn lượn lờ xa

mãi đâu, mắt tinh nhất cũng chưa thấy, mà mũi lão đã đánh hơi được rồi". Lão "vung vẩy hai

chiếc ria", đâm ngang dọc vào tất cả những con cá không tránh đƣờng. Dọa đƣợc vài con cá

bé nhỏ, yếu đuối hơn mình lão đã hí hửng, tự đắc "lập ra một vùng riêng cho mình"(3). Tính

lão đã thế nên không ai thích chơi. Nhà cửa rộng thênh thang nhƣng lúc nào cũng vắng vẻ hiu

quạnh, buồn chán vì thiếu không khí bè bạn. Thật đáng thƣơng thay cho lão Trê ƣơng ngạnh !

Những con vật trên, dù sống trong môi trƣờng nào cũng đều đƣợc nhà văn Tô Hoài vẽ

lại bằng những nét bút hóm hỉnh, sắc sảo. Trong các tác phẩm của ông, chúng luôn đƣợc xuất

hiện với những đƣờng nét riêng biệt, độc đáo. Ông không viết về những con thú rừng nhƣ sói,

hổ, cáo, sƣ

(1) Sđd, tr. 105. (2) Sđd, tập 2, tr. 25. (3) Sđd, tập 2, tr. 83.

21

tử... nhƣ một số nhà văn trong và ngoài nƣớc khác. Các con vật hiện lên dƣới ngòi bút Tô

Hoài chỉ là những con vật nhỏ nhắn, sống hòa lẫn trong đời sống con ngƣời. Chúng không

đem lại cảm giác khó chịu hay sợ hãi cho trẻ con. Từ những sinh vật bé xíu nhƣ Kiến, Dế,

Cào Cào đến những con Cá Rô, Cá Ngão hay Chó, Mèo, Gà, Vịt, và to lớn hơn nhƣ các chú

Lợn, Dê, Bò, Ngựa đều là những con vật hiền lành, không hung ác, gây hại cho con ngƣời.

Cả thế giới nhân vật ấy đều có đời sống riêng, phong phú, dẫu chỉ sống quẩn quanh khu vƣờn

nhà hay ngoài cánh đồng. Ngoài tình yêu thƣơng đồng loại, chúng cũng có lúc va chạm, tranh

giành, xô xát, gây sự lúc sống chung. Chúng tồn tại vừa tự nhiên, vừa xã hội qua đôi mắt Tô

Hoài. Những con vật đƣợc bao bọc và ảnh hƣởng bởi phong tục tập quán của con ngƣời, quan

hệ gắn bó với xã hội loài ngƣời.

Những trang viết về loài vật của Tô Hoài đã gây một tiếng vang lớn trên văn đàn và

trong dƣ luận độc giả từ buổi đầu ra mắt. Trong các tác phẩm này, tác giả đã giúp trẻ em và

cả ngƣời lớn nhìn thấy thế giới xung quanh ở những thanh điệu khác, những sắc độ khác, vì

vậy mà cuộc sống trở nên đẹp đẽ hơn, thú vị hơn so với cách nhìn đời thông thƣờng của con

ngƣời.

Trên đời này, muôn loài đƣợc sinh ra là để sống hòa thuận, vui vẻ cùng nhau, sẽ

không có gì buồn hơn khi phải sống đơn lẻ một mình. Tô Hoài không chỉ giúp các em quan

sát ngoại hình con vật mà còn hƣớng các em tìm hiểu tâm tình, tính nết chúng. Mỗi loài đều

có một nét đặc trƣng riêng, không con nào giống con nào. Đáng chú ý là nhà văn thƣờng tái

hiện cảnh vật trong truyện rất sinh động trông hệt nhƣ một cuốn phim hoạt hình hấp dẫn, mời

gọi các em. Ngòi bút miêu tả loài vật của Tô Hoài thật tinh tế, ông nói về chúng bằng giọng

điệu trẻ thơ, dƣới ngòi bút của ông chúng hiện ra thật đáng yêu, ngộ nghĩnh. Trẻ em vốn thích

cái đẹp, yêu cái tốt, nắm bắt đƣợc tâm lý đó, ông thƣờng dẫn dắt các em vƣơn tới những rung

động trong trẻo, cao đẹp thông qua các nhân vật trong truyện của mình. Những sáng tác của

ông một mặt chứa đựng nội dung giáo dục sâu sắc, mặt khác có khả năng kích thích mạnh mẽ

trí tƣởng tƣợng, mơ ƣớc của

22

các em. Thế giới truyện với những cảm xúc đằm thắm, tinh tế với nhiều hình ảnh, màu sắc

đẹp, với những tình cảm cao thƣợng sẽ giúp các em thiếu nhi hình thành một thế giới tinh

thần phong phú hơn. Ƣớc mơ và tƣởng tƣợng là điều vô cùng cần thiết cho con ngƣời, nhất là

cho lứa tuổi trẻ em. Sự pha trộn giữa trí tƣởng tƣợng và những qui luật xã hội tự nhiên đã góp

phần làm tăng thêm giá trị các tác phẩm văn học viết về loài vật cho thiếu nhi của nhà văn Tô

Hoài.

Ẩn sau trang viết của nhà văn Tô Hoài là cả một tấm lòng mến yêu trẻ tha thiết, luôn

khát khao đƣợc làm ngƣời bạn chân tình của trẻ. Trong các tác phẩm viết về loài vật dành cho

thiếu nhi của nhà thơ Phạm Hổ, nhà văn Võ Quảng, ngƣời ta thƣờng thấy dáng vẻ ngộ

nghĩnh, tính hiền lành, dễ thƣơng của chúng. Tô Hoài không chỉ chú ý khía cạnh đó mà ông

còn thêm vào nhân vật "loài vật" của mình quá trình suy tƣ, tiếp nhận cái hay, cái tốt. Thiên

nhiên nói chung và loài vật nói riêng là một thế giới rất gần gũi với trẻ em, là ngƣời bạn đồng

hành của tuổi thơ. Cái đẹp của thiên nhiên là điều đã đƣợc khẳng định, nhƣng tìm ra, nói lên

đƣợc vẻ đẹp ấy cho thiếu nhi hiểu và cảm đƣợc thật khó vô cùng. Sự biến hóa kỳ diệu, sự

phong phú của thiên nhiên với vô vàn loài chim, loài cá, côn trùng nếu đƣợc giới thiệu với

thiếu nhi sẽ bổ ích cho các em biết bao. Trong các sáng tác văn học của nhà văn Tô Hoài,

thiên nhiên, loài vật rất sống động, giàu chất thơ, chất họa ấy không chỉ đƣợc miêu tả để cho

các em ngắm mà còn mang lại một gợi ý, một liên tƣởng xa rộng, mới mẻ thích hợp với tâm

hồn xanh non của trẻ. Nhà văn Tô Hoài đã gần nhƣ chạm đƣợc vào sứ mệnh cao cả đó của

ngƣời cầm bút. Ông mang tất cả sự hiểu biết, năng lực sáng tạo vào truyện thiếu nhi tặng các

em. Ông đã cung cấp cho trẻ góc nhìn mới về thế giới loài vật quanh chúng, khơi gợi các em

nghĩ tới cuộc đời, lý giải đƣợc một cách độc đáo những điều tƣởng chừng nhƣ không bình

thƣờng, vô lý, trở thành bình thƣờng, có lý trong cuộc sống. Văn học, nghệ thuật nói chung

và văn chƣơng Tô Hoài nói riêng, đã tạo đƣợc ƣu thế nhất định trong việc hình thành những

ƣớc mơ đẹp ở các em.

23

III. Hình tượng Dế trong tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu ký”

Thử khảo sát hình ảnh Dế trong tác phẩm "Dế Mèn phiêu lưu ký " - một hình tƣợng

đẹp - đã góp phần đƣa tên tuổi nhà văn Tô Hoài đến với bạn đọc bốn phƣơng, ta sẽ tìm thấy

nhiều điều thú vị. Xuyên suốt 207 trang sách, nhân vật Dế tỏa sáng lung linh giữa thế giới các

sinh vật nhỏ bé trong thiên nhiên. Cùng là loài Dế nhƣng mỗi một con trong truyện đều có

dáng riêng, giọng riêng và đều sắc nét.

Mỗi năm, khi mùa hạ bắt đầu đến, trong những khu vƣờn xanh cỏ, từ nông thôn ra

thành thị, đâu đâu cũng vang rền tiếng Dế. Trẻ con thi nhau đi tìm bắt Dế. Những buổi đào

Dế, đúc Dế thuở ấu thơ đôi khi trở thành kỷ niệm, gắn chặt trong tâm trí mỗi ngƣời chúng ta.

Nhà văn Vũ Bằng trong "Thương nhớ Mười Hai "đã từng nhớ quay quắt "...tôi nhớ tháng tư

ở Bắc Việt xưa cũ không biết ngần nào và trong những giấc mộng thiên thần, đố ai tưởng

tượng được lòng tôi bàng hoàng đến chừng nào khi thấy mình còn là đứa trẻ lên năm lên sáu,

đi ra ven hồ, tìm đến các bãi cỏ, dưới các gốc cây để đái vào những cái lỗ con con bắt dế, vì

mùa này là mùa dế sắp chui ra, leo lên cây để lột xác thành những con ve sầu"(1). Dế từ lâu

đã là con vật rất đƣợc trẻ em thích làm bạn vì nhiều lý do: sự ngộ nghĩnh, nhỏ bé, hiền lành

dễ thƣơng và nhất là Dế dễ bắt, dễ nuôi. Sở hữu một chú dế, chăm chút, chơi với nó là điều

rất lý thú và hoàn toàn dễ làm đối với các em thiếu nhi. Do đó, việc tác giả chọn Dế làm nhân

vật chính trong truyện của mình là hoàn toàn phù hợp tâm lý của trẻ em.

Nhân vật chính trong truyện là chú Dế Mèn hùng dũng: "Đôi càng tôi mẫm bóng.

Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi

hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những ngọn cỏ

gãy rạp, y như có nhát

(1) Vũ Bằng - Thƣơng nhớ Mƣời Hai - NXB Kim Đồng, tr 45.

24

dao vừa lia qua. Đôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín xuống

tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã"(1).

Trong tƣ thế của một thanh niên cƣờng tráng, chàng Dế ý thức rất rõ sức mạnh của

mình: "Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng, khoan thai đưa chân lên vuốt râu". Chàng ta "đi

đứng oai vệ", "dám cà khịa với tất cả bà con trong xóm". Dế cũng có những sai lầm thƣờng

mắc phải của tuổi trẻ. Chàng ta đã có lúc huênh hoang, hợm hĩnh, hiếu thắng, tự cho mình tài

giỏi nhất thiên hạ. Thói tinh nghịch của Mèn nhiều khi đã gây nên tai họa không ngờ cho

ngƣời khác. Tuy vậy, nhờ sớm đi vào cuộc sống, lại biết suy nghĩ nên khi gặp vấp váp, Dế

Mèn đã biết nhận ra sai sót lỗi lầm của mình. Mèn ăn năn hối hận không nguôi trƣớc cái chết

oan uổng của Dế Choắt và khắc ghi bài học: "Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà

không biết nghĩ sớm muộn rồi cũng mang vạ vào thân". Tuổi còn trẻ nhƣng Dế Mèn đã biết

hƣớng cuộc sống của mình đến những mục đích cao đẹp, không để địa vị, danh vọng, cuộc

sống an nhàn làm sa sút ý chí phấn đấu. Trong cuộc tỉ thí với võ sĩ Bọ Ngựa, dù thắng vẻ

vang, đƣợc mời làm phó thủ lĩnh tổng Châu Chấu nhƣng Dế Mèn vẫn không lấy làm thỏa

mãn. Mèn bảo Dế Trũi: "Đừng tưởng thấy an nhàn mà vui! Huống chi đôi ta còn trẻ sống chỉ

an nhàn thế này thì buồn tẻ khác nào khi chúng ta còn ở trong hang quê nhà". Dế thích và

biết tổ chức cho mình những chuyến đi du lịch bổ ích. "Đi một ngày đàng, học một sàng

khôn", qua mỗi chặng đƣờng, tầm mắt Dế Mèn ngày càng đƣợc mở rộng. Dế có thêm nhiều

ngƣời bạn mới, làm đƣợc nhiều việc ý nghĩa. Những trang sách miêu tả cuộc hành trình phiêu

lƣu đầy bất ngờ thú vị của Dế đã cuốn hút thiếu nhi xiết bao!

Bạn láng giềng của Dế Mèn là Dế Choắt. Choắt trạc tuổi Mèn nhƣng diện mạo và tính

cách hoàn toàn trái ngƣợc. Do bẩm sinh yếu đuối

(1) Sđd, tr. 11.

25

nên Choắt "người gày gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện. Đã thanh niên rồi

mà cánh chỉ ngắn củn đến giữa lưng, hở cả mạng sườn như người cởi trần mặc áo gi - lê.

Đôi càng bè bè, nặng nề, trông đến xấu. Râu ria gì mà cụt có một mẩu, và mặt mũi thì lúc

nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ"(1). Dƣới mắt Dế Mèn, trông Choắt vừa buồn cƣời vừa đáng

thƣơng hại: "có một cái hang ở cũng chỉ bới nông sát mặt đất, không biết đào sâu rồi khoét

ra nhiều ngách như hang tôi". Choắt hiền lành, hay đau yếu, không dạt dào sinh lực và hay

trêu đùa nhƣ Mèn. Nghe Mèn rủ "đùa chơi một tý" với chị Cốc béo xù, Choắt đã: "Thôi thôi...

hừ hừ... Em xin vái cả sáu tay. Anh đừng trêu vào… Anh phải sợ..." Bị Cốc ỷ mạnh, hiếp

đáp, đánh nhầm, Dế Choắt chỉ biết van xin, kêu khóc. Cuộc đời ngắn ngủi của Choắt đã phải

kết thúc trong đau đớn vì một lỗi lầm do kẻ khác gây ra.

Hai chú Dế sinh cùng một lứa với Dế Mèn cũng góp phần làm sinh động hơn cho

những trang viết về Dế của tác giả trong quyển truyện này.

Ngƣời anh Hai của Dế Mèn: "gầy kheo khư đến nỗi tưởng sức tôi mà đá thì chỉ phách

một cái cũng đủ khiến anh tôi bắn xa mười lăm trượng". Anh ta rất nhút nhát, trái hẳn tính

nết của ngƣời em. "Nghe tiếng chân tôi bước thình thịch, anh hoảng hốt, luống cuống, bối rối

cả càng lẫn râu rồi cứ quanh quẩn chạy vòng tròn, không biết chạy đi đâu". Khi đã nhận ra

ngƣời thân, chú ta mới đứng yên "chỉ còn hơi rung râu... đôi râu cứ rung mạnh dần lên."

Chiếc hang là nơi trú ngụ của họ nhà Dế. Hang phản ánh đƣợc tính cách và sức mạnh của chủ

nhân. Nhà văn Tô Hoài đã rất chú ý chi tiết này. Miêu tả hang của một chú Dế có tinh thần

nhu nhƣợc, yếu đuối, tác giả viết: "Cửa hang bé và nham nhở bẩn như lỗ giun đùn, lúc chui

vào thì có từng đám rễ cỏ quệt xuống đầu, y như vào một hang hoang, càng sâu càng ẩm

mốc, lạnh tanh”(2).

(1) Sđd, tr. 13. (2) Sđd, tr. 61.

26

Chiếc hang của ngƣời anh trƣởng Dế Mèn ngƣợc lại "rất khang trang", do đó tính nết

ông anh cả này cũng có phần khác biệt. "Tính anh ưa ăn ngon, ưa phép tắc tôn ti trật tự, hay

bắt bẻ vặt". Thấy em không đến thăm mình trƣớc, anh ta bực bội, giận dỗi " mặt anh nặng

như cái bị... hỏi giật giọng... cười khẩy... hét to... tức tím ruột".

Trên bƣớc đƣờng phiêu lƣu của mình, Dế Mèn đã kết giao đƣợc với một chú Dế Trũi.

"Dế Trũi quê kệch, mình dài thuồn thuỗn, bốn mùa mặc áo gi - lê trần”, cặp càng "oai nhƣ

cặp trùy đồng... có răng cƣa tròn xoe". Dế Trũi tính tình cƣơng trực, không chịu bị bắt nạt lại

hết sức nhanh nhẹn và gan góc rất hợp với Dế Mèn. Kể từ khi gặp nhau, hai cậu đã kết tình

thân, nhận nhau làm anh em và cùng đi chu du đây đó. Những lúc vui buồn, khi gặp hoạn

nạn, tình bạn giữa họ vẫn gắn bó keo sơn.

Tác phẩm còn vẽ ra hình ảnh Dế Mèn cùng Dế Trũi lên đƣờng lặn lội khắp nơi tìm

cách thực hiện chí lớn là cổ động muôn loài cùng nhau đoàn kết, chung sống hòa bình, chấm

dứt chiến tranh. Những chàng Dế trẻ trung, tràn đầy nhiệt huyết tha thiết cổ động mọi ngƣời

sống chan hòa, yêu thƣơng nhau: "...trên mặt đất không phải là cảnh xô xát nữa mà cả làng

Kiến kéo ra chào hỏi niềm nở lễ phép. Một quang cảnh chan hòa thân ái diễn ra khắp vùng

đồi, đƣơng mùa xuân đến gió thổi cũng nhƣ hồng cả không khí"(1).

Mỗi chú Dế có một tính cách riêng, chúng không chỉ đem đến cho trẻ con những phút

giây thƣ giãn mà còn chắp cánh cho ƣớc mơ các em bay cao, bay xa. Cuộc sống sôi động của

các chú Dế nhỏ với những cuộc rong chơi, du lịch... đã mở ra trƣớc mắt thiếu nhi một không

gian khoáng đãng lý thú. Với ngƣời lớn, câu chuyện của chú Dế Mèn chính là chuyện của

con ngƣời, cuộc đời, chuyện không mòn mỏi, phôi pha trƣớc cỗ xe thời gian. Sự chung sống,

hòa trộn, chuyển hóa, của hai thế giới ngƣời và vật

(1) Sđd, tr. 202.

27

đã giúp ta khám phá ra nhiều mặt của cuộc sống, giảm bớt cảm giác tù túng, đơn

điệu trong một không gian giới hạn.

28

CHƢƠNG 2: THẾ GIỚI MÊNH MÔNG TRONG MẮT TRẺ

THƠ

I. Loài vật – đời sống hàng ngày và thế giới nội tâm

1- Đời sống hàng ngày của loài vật

Mỗi loài, dù thuộc loại động vật nào cũng đều có đời sống riêng, cách sống riêng để

sinh tồn và duy trì nòi giống. Nghiên cứu đời sống của các con vật này là công việc của các

nhà khoa học; động vật học; côn trùng học... Riêng nhà văn Tô Hoài, ông không quan sát,

miêu tả loài vật nhƣ các nhà nghiên cứu động vật mà trình bày cho ngƣời đọc những nhận

biết về loài vật với tƣ cách là một nhà văn. Với ông, văn học không phải là những ngôn ngữ

qui tắc khô khan. Ông không đem đến cho các em những bài học động vật mà là đem lại các

tác phẩm văn học sinh động, thú vị.

Qua nghệ thuật viết văn của Tô Hoài, các em nhỏ đã có những hiểu biết mới mẻ và lý

thú về loài vật. Trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký, tác giả giới thiệu nếp sống của họ nhà

Dế chỉ vài dòng nhƣng thật sống động:

"Tôi sống độc lập từ thủa bé. Ấy là tục lệ lâu đời trong họ dế chúng tôi ... Bởi thế lúc

sinh nào cũng vậy, đẻ xong là mẹ tôi nghĩ ngay đến việc thu xếp cho con cái ra ở riêng"(1).

Hàng ngày, Dế chịu khó đào bới đất xây hang: "... tôi đào hang sâu sang hai ngả làm

những con đường tắt, những cửa sau, những ngách

(1) Sđd, tr. 7.

29

thượng, phòng khi gặp việc nguy hiểm, có thể thoát thân ra lối khác được"(1).

Họ hàng nhà Dế cũng thích sống quây quần gần nhau cho có bầu bạn: "Khi đêm đã

xuống hẳn, cả xóm chúng tôi, các bô lão dế lụ khụ già cốc đế cũng bỗng nhiên vui tính, ai

nấy ra khỏi hang, đến tụ hội thật đông tận giữa bãi trong đêm tối mát lạnh, cùng uống sương

đọng, ăn cỏ ướt và những gã tài hoa thì thổi sáo, cùng nhau ca hát, nhảy múa linh đình đến

tận sáng bạch, lúc ông mặt trời quen thuộc lại nghiêm trang ló lên đằng đông, mới tan cuộc,

ai về nhà nấy”(2).

Thức ăn hàng ngày của Dế là cỏ. Mỗi bữa, Dế chỉ cần nhấm nháp một ít cỏ ấu non là

đủ. "Có vô số thứ cỏ được loài dế chúng tôi ưa thích. Nhưng gọi là cỏ tươi ngon thì lá cỏ

phải liền với gốc và gốc cỏ phải liền với đất và cái cách ăn cỏ thú nhất của loài dế chúng tôi

là phải được đứng chống càng trên nền đất ẩm, vít từng ngọn cỏ xuống mà ngoạm tha hồ

kia!"(3). Chỉ khi thật đói và lâm vào tình thế bắt buộc chúng mới chịu gặm cỏ già, cỏ nƣớc.

"Tôi cúi xuống gặm miếng cỏ. Bên cạnh, Trũi đã húc đầu hí hoáy ngồm ngoàm ngốn từ lúc

nào. Thứ cỏ đó, cỏ nước. Lá cứng nhiều gân và ngăm ngăm đắng. Phải như mọi ngày, tôi

chẳng thèm ghé răng. Ấy vậy mà lúc đó chén ngon đáo để. Thế mới biết, đã đói, nuốt đất

cũng thấy được"(4).

Dế phải thƣờng xuyên đối diện với những mối nguy hiểm từ phía các con vật khác và

cả con ngƣời. Nó là miếng mồi béo bở của gà, chim, ếch, nhái và cả cá ...

(1) Sđd, tr 9. (2) Sđd, tr 8. (3) Nguyễn Kiên - Chú đất nung - NXB Kim Đồng, tr 90. (4) Sđd, tr 88.

30

"Một đàn cá săn sắt đương rầm rập kéo đến. Những cái đuôi cờ ngũ sắc hoa cả mặt

nước. Vừa rồi, mải bơi, chính là Trũi bị mấy gã Săn Sắt ấy kéo tụt xuống. May, Trũi cố vùng

thoát lên.

... Lại vài mụ Diếc trắng trẻo, béo tròn con quay, lò mò đến. Các mụ tung tăng múa

vây, múa gáy. Rồi mấy bác cá Ngão mắt lồi đỏ, dài nghêu, mồm nhọn ngoác ra, ở đâu bơi

chớp nhoáng đến, đỗ kề ngay bờ trước mặt, há miệng đợi đớp"(1).

Dế cũng là đối tƣợng bị săn đuổi của các cậu bé con. Dế đƣợc bắt về để đá chọi với

các con dế khác, trở thành võ sĩ bất đắc dĩ , mua vui cho các bạn nhỏ. Mỗi lần bọn trẻ đi "đúc

dế", đào dế, săn dế ... là mỗi lần họ hàng nhà Dế phải một phen kinh hoàng, khiếp vía.

"Lập tức, tôi thấy hang tôi sẫm. Những ngách ngang, ngách dọc vào hang tôi đều bị

lấp cả. Chỉ còn mỗi một đường chính để chui ra. Chúng bắt tôi phải xộc ra con đường ấy cho

chúng tóm cổ. Bây giờ, nước lùa vào đến đâu đọng đến đấy và cứ dâng dần... Trước đến lưng

sau lủm cả đầu. Chỉ còn hai cái râu thò lên đụng đậy. Rồi râu cũng ngập nốt… Rồi, tuy

không định hẳn, những mỗi lần nước ộc vào, tôi cứ tự nhiên nhích người ra một mảy. Làm

như vậy, tôi thấy đầu tôi được thò lên mặt nước. Như thế nghĩa là tôi lại được hít một chút

không khí. Có dễ chịu hơn. Từ đấy, hễ bọn trẻ đổ nước vào, tôi lại nhoi ra một tý, một tý mà

không cảm thấy mình đương nhoi dần ra.

... Quả nhiên, nước càng dội vào, tiếng hò hét càng tợn, có lúc, tiếng chân tay vỗ,

giậm dọa rung chuyển cả đất bốn bên. Tôi run người lên, rỗi bí thở, tôi vùng vẫy vì bức nước.

Rồi trong bụng không định mà chân lại cứ nhấc dần ra. Bỗng nghe một tiếng soạt ngay sau

lưng, như tiếng sét. Quay lại, một thanh nứa, lại cả mũi dao nữa, đã thục xuống, chắn ngang

đường

(1) Sđd, tr 104.

31

vào cuối hang."(1)

Khi đánh nhau, Dế rất hăng, làm bọn trẻ thích thú, chúng xem đá Dế nhƣ một trò chơi

hấp dẫn: "giáp hai cánh cửa lồng dế làm một, cho thật chắc, như đuôi toa nọ kề cửa toa kia

lúc tàu hỏa chạy, rồi mới rút then ra, để hai thằng dế chúng tôi không muốn cũng phải xông

sang lồng của nhau"(2).

Bên cạnh Dế Mèn, nhà văn Tô Hoài còn tƣờng tận rất nhiều loài vật khác. Viết về lai

lịch cũng nhƣ cách săn mồi của một loài chim, tác giả miêu tả thật ngắn gọn, súc tích :

Tên lão là Trả. Có lẽ vì lão chỉ ăn cá - chả cá và gỏi cá ! Mỗi khi định bắt một con cá,

lão vô cánh đứng ngắm nghía trên không rồi thình lình đâm bổ xuống mặt nước túm cá lên.

Vì cách câu cá đặc biệt ấy, lão còn có biệt hiệu là tiên sinh Bói Cá."

Chim Trả đi kiếm ăn suốt cả ngày, tối đến mới về hang ngủ. Khi săn đƣợc mồi nó

dùng chiếc mỏ "kếch xù", đen đúa của mình quắp lại đem về tổ. Nó bay cao và nhanh, con

mồi nằm gọn trong mỏ lão đƣợc nhấc bay bổng lên. "Chao chao! Gió rú trên cao đến lộng

óc." Ngoài tài săn cá còn có tài "láu vặt", chuyên đi cƣớp nhà của các chú Chuột làm nhà của

mình.

"Chim Trả chuyên tìm ở hang sẵn. Được cái bỏ hoang thì tốt, nếu không thì lão rình

chú Chuột đi vắng lâu ngày, lão giả vờ đào bới khoét tí ti trong ngoài, đến khi chủ hang về,

lão chim Trả sinh sự tống ra, và cứ nói xưng xưng là vào mà xem! Vào mà xem! Có phải nhà

mày đây không. Chú Chuột nọ bực mình, nhưng cũng ngại lôi thôi, thế là bỏ quách. Tuy vậy,

không phải chú Chuột nào cũng dễ tính. Có chú Chuột còn đến cãi nhau

(1) Sđd, tr. 28. (2) Sđd, tr. 33.

32

mãi."(1)

Miêu tả cuộc đời một chú chó giữ nhà trong truyện ngắn Đực Tô Hoài bắt đầu từ tuổi

thơ của nó: "Mẹ nó quê ở gần bên kia sông - chẳng ai có thể biết bố nó là dòng dõi nơi đâu.

Cái loài chó má vô luân làm gì có sự giao kèo vợ chồng". Đực chẳng khác gì một đứa trẻ

nhỏ. Nó tham ăn, hay nô đùa và cũng rất chóng ngủ. "Con Đực thật hệt một đứa trẻ bướng

bỉnh và anh hùng rơm. Nó hay bắt nạt con chó em. Nó vật cổ con kia ra, cắn một miếng chơi

vào bụng rồi chuồn mất, để cho con bé cứ nằm chổng bốn vó lên mà kêu ăng ẳng. Nó lại cợt

với cái chổi dựng ở đầu hè. Nó lấy chân khều khều, làm như cái chổi là một bạn tri kỷ của

nó. Nó nhá chổi và nhá quai guốc của trẻ con bỏ quên ngoài sân, nghe cồn cột. Chán, nó lại

chạy ra đàng sân sau dọa dẫm lũ Gà và Ngỗng làm cho bác Gà trống vừa phải nhảy hậu vừa

nhớn nhác kêu quéc quéc rộn rã."

Lớn hơn một chút, chú ta bắt đầu "vỡ da, vỡ thịt để lớn", "cái giọng cắn the thé đã đổi

sang giọng trầm trầm, nhát một". Đực đã trở thành một con chó trẻ tuổi, yêu đời, hay la cà

tán tỉnh các cô bạn đồng loại: "Những sớm tinh sương, anh Đực hay ra ngóng ở ngoài cổng

tán. Cậu đứng đợi người yêu." Cả ngày nó mải rong chơi "chẳng chịu làm ăn chi cả, chỉ có

nghĩ đến sự ái tình", bị chủ nhốt lại nhƣng "cứ thả ra là nó lập tức chạy biến". Đực bị chủ

thiến "bởi có thiến thì con chó mới bó buộc sống lâu năm được". Từ đó, nó bắt đầu sống một

cuộc sống buồn tênh. Đƣợc buông lỏng, cho đi chơi nhƣng nó vẫn "buồn thỉu, buồn thiu, đi lừ

khừ, quên cả ăn uống". Đực cáu kỉnh, luôn gầm ghè, cắn vặt con em và cắn tất cả những con

chó trong xóm. Nó ngày càng béo tốt ra: "Những chòm lông mọc dài, óng ả và mỡ màng.

Dáng đi của nó đàng hoàng và bệ vệ; những gióng chân bước đều đặn, đôi con mắt lừ đừ

như trong đầu nó đang nghĩ ngợi xa xôi hay triết lý một điều gì. Thân nó chắc nịch, và chỉ

trong có đôi ba năm trời nó đã to bằng một con lợn hạng nhỡ".

(1) Sđd, tr. 162.

33

Thế là thời thanh xuân của Đực đã trôi qua. Dần dà, nó hiền lành trở lại và siêng năng

trông nhà hơn. "Ngày nó nằm, đêm nó đi mò suốt canh. Nó tuần phòng". Năm tháng dần trôi,

con Đực bƣớc sang tuổi già. Nó héo hắt dần "những chòm lông trắng đẹp ngày xưa bây giờ

quăn lại và kết thành từng đóm bù xù". "Đực không còn thính tai nhanh chân như thuở trẻ.

Ăn cũng nhấm nháp in ít. Cả ngày chỉ nằm tròn."(1)

Con chó đã lão lắm, nó không còn đƣợc việc cho con ngƣời, chỉ sống lặng lẽ, vật vờ

nhƣ một cái bóng trong nhà. Đã đến lúc chủ nó phải mua con chó khác về trông nhà. Cuộc

đời của một con chó vậy là xem nhƣ đã kết thúc. Dẫu sao con Đực vẫn còn may mắn hơn vô

số những con chó khác trong thời bấy giờ. Chúns chết vì chơi bời, vì đẻ nhiều quá và cả chết

vì mắc bẫy của những tên trộm.

Chó có đời sống riêng của mình với những vui buồn, khổ đau nhƣ muôn loài khác.

Chúng là một trong những con vật gần gũi và đƣợc con ngƣời tin cậy nhất. Đó cũng chính là

niềm an ủi lớn nhất đối với loài vật vốn rất trung thành và hiền lành này.

2 - Thế giới nội tâm của loài vật

Loài vật cũng có đạo lý và sống theo đạo lý của mình. Một số con vật trong truyện

ông viết, ngoài sự hấp dẫn ngoại hình, còn thực sự lôi cuốn trẻ em bởi nét tính cách cao đẹp.

Loài vật tuy không thể bày tỏ tình cảm của mình bằng ngôn ngữ nhƣng chúng vẫn cƣ xử với

nhau rất có tình. Tình mẫu tử - một tình cảm thiêng liêng thƣờng đƣợc con ngƣời nhắc đến -

cũng tồn tại trong thế giới loài vật. Các bậc làm cha mẹ đều tỏ ra yêu quý con cái mình.

Dế mẹ sau khi sinh con đã lo lắng chu đáo cho cuộc sống sau này của chúng. Dế mẹ

chịu khó đào bới hang đất ở bờ ruộng, be đắp tinh tƣơm

(1) Tô Hoài - O Chuột, NXBVN, TP HCM, 1995, tr 81.

34

thành nhà cho con. Dắt con vào hang rồi, mẹ vẫn chƣa yên tâm "lại bỏ theo một ít ngọn cỏ

non trước cửa, để tôi nếu còn bỡ ngỡ, thì đã có thức ăn sẵn trong vài ngày".

Gà mẹ rất mực thƣơng con. Gà nằm ấp trứng suốt ngày quên cả ăn "cứ nằm sù sù cả

ngày thâu đêm trong ổ. Ai động đậy gì ở đâu gần đây là ả đã miệng thì kêu cục cục, lông

cánh thì xù ra, chực những sự vừa chửi vừa đánh người ta." Khi con đã nên vóc nên hình, Gà

mẹ lại ra sức chăm bẵm cho con mau lớn. Những bà mẹ Gà lấy niềm vui của con làm niềm

vui cho mình "...mẹ ngồi xuống, xòe cánh ra cho chúng rúc vào bụng, chui vào nách, nhảy

lên lưng..." Đi đâu Gà mẹ cũng dẫn con theo "luôn luôn đi cạnh các con, mụ không rời lấy

chúng nửa bước ngắn. Luôn luôn mụ cong chòm đuôi, xù vành lông cổ lên, làm điệu nghiêm

khắc và ác nghiệt. Thật ra, với các con mụ rất ngọt ngào. Bới được hạt giền nhỏ, mụ cũng

gọi chúng đến, cho chúng ăn. Vừa nhìn các con ăn, mụ vừa cúc cúc, nói chuyện rất vui vẻ"(1).

Những tình cảm cao đẹp ấy còn đƣợc thể hiện rõ ở họ nhà Chim. Các ông bố, bà mẹ

Chim thƣơng yêu và biết cách nuôi dạy con không khác gì loài ngƣời. Vừa đẻ đƣợc mấy

chiếc trứng "chị Gi phải xòe lông bung ra mới đủ che kín được cho cả bốn trứng". Vất vả,

khó nhọc là vậy nhƣng họ vẫn vui vẻ, hạnh phúc chờ ngày đàn con mở mắt chào đời. "Sáng

ngày ra, hai vợ chồng hát nho nhỏ. Họ hát ra sao? Chỉ có mỗi một điệu hót ke ke. Và riêng

khi nào vui lắm, âu yếm nhau lắm, họ mới rung hai cánh mà làm điệu mỏ ri ri ri..." Tới kỳ

trứng nở, đàn chim nhỏ chào đời, Gi bố, Gi mẹ lại càng bận rộn, lo lắng. " Bố mẹ chúng rạc

cả người, về nỗi kiếm mồi nuôi con”(2).

Tấm lòng ngƣời mẹ đã làm cảm động không chỉ đàn con mà còn cả các bạn đọc nhỏ

tuổi!

(1) Tô Hoài - O Chuột, NXB Văn Nghê, TP HCM, 1995, tr 60. (2) Sđd, tr. 48, 49.

35

Thế giới nội tâm của loài vật trong truyện Tô Hoài cũng thật phong phú, ngộ nghĩnh

và gần gũi với con ngƣời đặc biệt là các em thiếu nhi.

Nhìn loài vật, các em có thể tìm thấy bóng dáng tuổi thơ của chính mình. Những nhân

vật "loài vật" đã đem lại cho các em không chỉ niềm yêu thƣơng mà còn có cả sự cảm phục

và niềm tin vào lẽ sống tốt đẹp ở đời. Trái tim trẻ em rộng mở theo từng câu chuyện của ông.

Các em rất thích hình ảnh "Cá đi ăn thề", "Con mèo lười", "Chim chích vào rừng" ... vì mỗi

con vật đều mang những nét tâm lý, tính cách rất "người". Những hoạt động của Dế, Cá Rô,

Chim Chích, Mèo đều giống sinh hoạt hàng ngày của các em. Nhìn cảnh đàn chim vành

khuyên đậu trên hàng cây bằng lăng non, cắm cúi, hí hoáy "lách mỏ vào tìm bắt sâu trong

từng khe vỏ rách lướp tướp", tác giả liên tƣởng đến hình ảnh ngƣời bác sĩ khám, chữa bệnh

cho ngƣời ốm chóng khỏi. Những chú chim vành khuyên bắt sâu giúp cây khỏe mạnh, "khỏi

ghẻ rồi chóng lớn". Những liên tƣởng ấy rất giống cách nghĩ, cách nhìn của trẻ em.

Đối với thiếu nhi, Cậu Miu chỉ là một đứa trẻ nhỏ "mới mở mắt được mấy ngày". Đàn

cá Rô Ron náo nức đi chơi xuân cũng còn bé thơ "Có đám Rô Ron - những con cá hạt bưởi,

mẹ vừa mới nở trong mùa này, đương lau chau bơi. Đàn cá nhỏ lượn trên dòng nước ấm, đục

lầm đất cát". Chúng giống các em ngay từ đặc điểm lứa tuổi, lại có cách xử sự, suy nghĩ

giống hệt các em. Dê Bé trong truyện "Những truyện xa lạ" chính là hình ảnh thu nhỏ của các

em thiếu nhi: rất ham thích cái mới, cái lạ, thích bắt chƣớc. Dê Bé lần đầu nhìn thấy Sơn

Dƣơng đã thích "cả buổi đứng hếch mặt, mê tơi, ngắm nghía hai con mắt Sơn Dương lừ lừ

biếc xanh như đôi sao hôm cùng mọc một lúc. Dê Bé cũng thích bộ râu giang hồ rất đỗi hiên

ngang và Bé thật thèm, thật yêu những cặp móng lúc nào cũng đen nhoáng của Sơn Dương."

Từ ý thích, Dê Bé chuyển sang bắt chƣớc: "Dê Bé hì hục tìm cách thành Sơn Dương. Dê Bé

xuống vũng, nằm suốt ngày trong bùn. Nhịn thở chỉ hé lên hai mẩu sừng. Để nhuộm bùn cho

bộ lông đen mượt!". Ngoài ra, Dê Bé còn ra suối, cố gắng "quay đầu, quay đuôi, đánh bóng

bốn móng chân". Dê Bé háo hức khám phá những điều mới mẻ, kỳ thú mà Sơn

36

Dƣơng đã trải qua. Khi nghe Sơn Dƣơng bảo phải đi nhiều mới biết đƣợc nhiều chuyện hay,

Dê Bé xin theo ngay. "Mới ra khỏi đầu xóm, trong con mắt háo hức của Dê Bé dường như đã

nhìn thấy những mặt nước đầy bóng sao, những con suối thơm như ai rắc hoa". Dê Bé chƣa

bao giờ quan tâm đến cảnh vật xung quanh, cậu không thấy đƣợc cái hay, cái đẹp nơi mình

sinh sống. Vốn chỉ thích nghe những mẩu chuyện ly kỳ phƣơng xa, nên khi nghe Sơn Dƣơng

bảo lắng nghe những âm thanh vang động, nhìn xóm làng trong buổi sáng sớm, Dê Bé cứ

ngẩn ngơ trƣớc những: "tiếng tuých tuých, tiếng túc, tiếng téc, tiếng rích, tiếng hoéc của đàn

Gà mải nhặt sâu trong khoảng vườn vừa cuốc sắp gieo cải". Sơn Dƣơng đã chỉ cho cậu Dê

Bé cách quan sát và yêu quý những gì tồn tại xung quanh mình: "chú Gà te tái từ trong

chuồng đi ra. Téc téc téc... đấy đấy đấy... Cả đêm cuồng cẳng, bây giờ các cậu Gà Trống

bước đi mới oai, chà chà ! Kìa, mấy bác Gà Mái sụ có việc gì mà tất tả vậy? Xem ra cứ mỗi

chỗ mỗi làm việc. Nhưng Bé nhìn kỹ, chỗ nào cũng tấp nập làm ăn. Gà có tính tốt thích nhặt

sâu ngoài vườn, thật là họ biết cách vừa làm vừa ăn, vừa ăn sáng vừa dọn vườn. Vả lại, mùa

đông tới, chim hét đã về. Cánh nhà Gà phải ra nhặt sâu sớm, không có thì bọn chim hét chén

trước mất cả. À mà Bé trông rõ chưa, mấy nhách Gà con đương ngơ ngác. Trông mới nỡm

làm sao! Lạ đấy! Thật lạ mắt. Hôm nay mới ra vườn lần đầu tiên mà. Hẳn là mấy chị em mới

rời ổ ấp dưới bụng mẹ, tập sự đi ăn một mình..." Trẻ em thƣờng háo hức với những chuyện

xa lạ, mới mẻ, bỏ quên những điều lý thú quanh mình. Các em vẫn thƣờng mắc phải khuyết

điểm nhƣ Dê Bé. Lời căn dặn Sơn Dƣơng dành cho Dê Bé hẳn cũng sẽ là một lời khuyên bổ

ích cho các em: "Hãy biết yêu những cái mình trông thấy rồi hẵng thích chuyện đường xa

mình chưa trông thấy"(1).

Hai tiếng "Tự do" cũng có ý nghĩa rất lớn đối với động vật. Không một sinh vật nào

ƣa thích cuộc sống bó buộc. Khi sống cạnh con ngƣời, chúng phải cam chịu sự trói buộc nhất

định nhƣng nếu có dịp, những con

(1) Sđd, tập 2, tr. 108.

37

vật ấy sẽ tìm mọi cách để tự thoát.

Chỗ ở thích hợp của Dế chính là giữa những vật cỏ, bụi cây, giữa thiên nhiên đất trời

khoáng đãng. Vì vậy, khi bị trẻ em bắt về cho vào ở trong vỏ bao diêm Dế rất buồn. Nhà văn

Nguyễn Kiên đã nhìn thấy nỗi khổ đau mà những chú Dế đang phải âm thầm chịu đựng.

Lòng chúng chắc hẳn không khỏi buồn chán vì "Họ nhà Dế vốn ở hang, sống cuộc đời bay

nhảy, thích ngắm trăng khuya và ăn những nõn cỏ đẫm sương" Dế không thể kể lại nỗi khổ

đó thành lời, nó chỉ biết cất lên những tiếng gáy buồn não nuột "Cờ -rích...rích! Cờ -

rích...rích !". Chỉ cần tinh ý, các em sẽ nhận ra nỗi niềm đó của những ngƣời bạn Dế. "... Chỗ

ở thích hợp nhất đối với bạn không phải là cái vỏ bao diêm mà là khu vườn xanh bao la ở

ngoài xa kia... Ở ngoài vườn cây, bạn hát sẽ hay hơn, nghe rộn ràng, tha thiết hơn và tôi tin

chắc bạn sẽ hát được như thế mãi mãi, suốt đời”(1).

Những chú Dế và các con vật khác trong truyện Tô Hoài cũng mang nỗi buồn tƣơng

tự nhƣng chúng biết tìm cách tự giải thoát cho mình. Trong suốt cuộc phiêu lƣu, Dế Mèn đã

hai lần bị giam hãm và cả hai lần chú đều quyết tâm thoát khỏi cảnh tù đày. Lần đầu, sau khi

nghe đƣợc lời khuyên thiện của Xiến Tóc, Mèn đã nung nấu ý chí tìm tự do. Các cậu bé vừa

sơ hở là chú ta bỏ trốn "Nằm trong lồng, tôi trông thấy cửa lồng chưa cài. Thế là tôi bò ra

luôn". Bị bọn trẻ phát giác, Dế Mèn kiên nhẫn chờ đợi "trong khi bọn trẻ đang xô đẩy kịch

liệt trên bãi thì tôi len lén rời nắp bao diêm, bò khỏi bệ gạch vỡ. Tôi lẻn ra đầu vườn, chui

vào đám cỏ rậm, rồi chuồn thẳng đến tận bụi dứa dại đằng xa. Xổ lồng một cái, khỏi ốm

ngay, nhanh thế!"(2). Lần thứ hai, không may bị lão chim Trả bắt làm tù binh, Dế Mèn dù bị

giam cầm vẫn luôn nuôi hy vọng "Tôi không hát, không hét, không kêu la như lão muốn. Lão

rình mấy lần, không thấy tôi động tĩnh. Thấy thế, lão

(1) Nguyễn Kiên - Chú đất nung - NXB Kim Đồng, tr . 90, 92. (2) Tô Hoài - Dế Mèn phiêu lƣu ký - NXB Kim Đồng, tr 48.

38

không đem cỏ về cho tôi ăn. Đói quá. Sau tôi nghĩ thế là dại, chẳng nhẽ chịu chết ở đây, ta

phải gắng ăn để sống, để có sức tìm cách thoát khỏi hang hùm, thế mới là thượng sách".

Càng khó chịu trƣớc sự bức bối, tù túng, Dế Mèn càng khao khát vƣơn ra ánh sáng, tìm lối

thoát cho bản thân. "Ban đêm lão ta ngủ, tôi nghỉ hò la hát hỏng thì tôi lại cặm cụi bí mật đào

ngách. Nhưng trong cái tường bịt trước mặt tôi, lão ta đã tha đâu về được nhiều hòn sỏi lèn

vào đấy, sức móng chân tôi không khoét nổi. Mà đằng sau lưng thì chịu. Tuy vậy, tôi vẫn chịu

đựng và nuôi hy vọng”(1).

Đối với những ngƣời đang phải sống trong cảnh mất tự do thì ý chí tìm lại tự do càng

cháy bỏng hơn bao giờ hết. Họ khao khát đƣợc làm chủ bản thân, thoát khỏi vòng vây giam

hãm, trói buộc của nhà tù. Xiến Tóc trong truyện Dế Mèn phiêu lưu ký, cũng đã từng bị cầm

tù. Các cậu học trò nhỏ trong dịp về quê nghỉ hè rình bắt đƣợc Xiến Tóc trên cành cây dƣơng.

Chúng đem bác Xiến Tóc về thành phố, nhốt vào một cái hộp kín bƣng. Mặc dù rất lo buồn,

Xiến Tóc vẫn cố bình tĩnh, tìm cách trốn chạy. "Rồi may quá, trốn thoát. Bởi vì, tôi để ý xem

xét biết cái hộp giam tôi bằng giây bìa cứng. Từ hôm ấy tôi cứ nhả nước bọt vào một chỗ rồi

lấy chân bới, cái tường giấy mủn dần. Một hôm, tôi cố lấy tất cả bao nhiêu hơi sức còn lại,

húc một cái, thế là cả người tôi bật tạt ra ngoài hộp. Tôi giương cánh, bay thẳng"(2).

Không riêng Dế Mèn, Xiến Tóc. Gà. Vịt, Chó. Mèo đều muốn đƣợc sống đời tự do.

Chuột Nhắt bị Mèo bắt dù sợ khiếp vía vẫn cố gắng tìm cơ hội trốn thoát. Chuột rình Mèo,

bác ta xểnh một chút là Chuột chạy "Chú Chuột nhắt đang nằm yên như chết, vụt vùng chạy.

Mèo hoảng hốt, thò dài chân ra, nắm lấy nó. Nhưng chỉ nắm hụt được bóng cái lưng của

chú Chuột in thoáng trên nền đất giãy đầy ánh trăng". Đôi Ngan trong truyện ngắn

(1) Sđd, tr. 165. (2) Sđd, tr. 145.

39

Mụ Ngan của Tô Hoài sau khi giẫm nát vƣờn cải bị cai vƣờn nhốt vào chuồng gà ba hôm liền

đã tỏ ý "kháng chiến". "Ba hôm sau, đôi Ngan được thả ra. Chúng vỗ cánh, rướn chân, bay

vè vè trong sân. Nhưng bỗng nhiên, chàng Ngan đực vù lên cao. Chị vợ cũng nối cánh. Hai

con Ngan trắng phau phau bay bổng trên không trung, thấp thoáng trong nền mây trắng.

Chúng bay cả ra cánh đồng. Thực là một sự bất ngờ kỳ khôi. Loài Ngan có bay biếc trên trời

bao giờ đâu. Kỳ tình chúng cũng biết và có thể bay cao lắm. Nhưng ít khi chúng trổ tài cho

thiên hạ rõ. Chẳng là mấy bữa nay cậu mợ quẩn chân lắm, bây giờ đã được tự do thì xê dịch

đi một tí cho sướng cái thân”(1).

Đàn gia súc trong truyện "Dê và Lợn " đƣợc thiếu nhi yêu thích vì chúng cũng nhƣ

các em, thích tự do, luôn muốn đƣợc tôn trọng và thỏa mãn những sở thích cá nhân. Do đó,

việc chúng quyết định vƣợt trại để tìm cho mình niềm hy vọng nơi miền đất mới đƣợc các em

hƣởng ứng, ủng hộ. Dê và Lợn Ỉn thực sự là những đứa trẻ khờ dại và rất đáng thƣơng.

Chuyến đi đã đem lại cho chúng bao nỗi sợ hãi, vất vả và cả những tình huống rất buồn cƣời.

Chúng ngây thơ đến nỗi nhờ Ông trăng canh chừng giấc ngủ:

"- Ông trăng ơi, ông canh giấc ngủ cho chúng tôi nhá.

- Chúng bay đi đâu?

- Chúng tôi đi ngủ mà.

Ông Trăng cười khánh khách:

- Chúng bay đi ngủ thì cứ ngủ, lại bắt ta canh gác? Dễ nghe nhỉ? Ừ, thôi ngủ đi, ta

canh cho."(2)

Trong ánh trăng mƣời sáu tròn vành vạnh ấy, ba chàng Dê, Lợn, Mèo gối đầu lên

nhau dỗ giấc ngủ, hồn nhiên, ngô nghê mà cũng đáng

(1) Tô Hoài - O Chuột - NXB Văn Nghệ, 1995, tr 78. (2) Sđd, tập 1. tr. 351.

40

yêu vô cùng! Chúng thật đáng thƣơng, ăn không đủ no, tự do lại càng không có, không biết sẽ

bị ngƣời ta bán đi làm thịt lúc nào. Tuy nhiên, số phận đáng thƣơng đó chỉ dành cho Dê và

Lợn Ỉn, riêng Mèo thì không. Mèo vốn lém lỉnh, biết cách lấy lòng ngƣời và đƣợc con ngƣời

đối xử ƣu ái hơn so với các loài khác. Truyện tuy ngắn nhƣng cá tính mỗi con vật đều đƣợc

bộc lộ thật rõ ràng, riêng biệt. Mèo có những suy nghĩ riêng của mình và cũng rất khéo đóng

kịch. Mèo biết tìm bắt chuột để chúng không phá hoại đồ đạc trong nhà. Với Mèo đó là đồ

đạc của ngƣời chủ đã nuôi nó và nó có nhiệm vụ phải bảo vệ, giữ gìn. Trái lại chủ Xƣợc đối

với Dê và Lợn là "quân khốn nạn chỉ đi đè nén kẻ khác". Dê căm hận chủ Xƣợc vì "...khi Dê

còn nhỏ, cu Xược vẫn vắt sữa mẹ Dê tranh phần ăn của Dê, Dê không được bú mẹ... Dê phải

ăn cỏ từ khi lọt lòng cho nên Dê mới gầy lòi khoèo chân thế này". Riêng Lợn chỉ toàn đƣợc

xơi giống rong rêu, đắng xè cả lƣỡi. Chính vì suy nghĩ và tƣ tƣởng khác biệt nhau mà Mèo

luôn để ý rình rập từng hành động của Dê, Lợn, ngƣợc lại nó cũng không đƣợc hai con vật

này tin cậy dù là bạn bè cùng sống trong một nhà. Để khám phá những bí mật của Dê và Lợn

Ỉn, nó đã giả vờ từ đầu đến cuối để không bị nghi ngờ. Mèo "ngơ ngác", "liếc mắt", "giả vờ

làm lành", "khúm núm", "sụt sịt", "khóc thảm thiết", "khóc sướt mướt và dai dẳng", "im lặng

khó hiểu", tất cả chỉ là những lớp kịch đƣợc diễn khéo léo nhằm qua mắt những con vật đáng

thƣơng kia. Mèo hành động tài tình chẳng khác gì một thám tử chuyên nghiệp. Nó có thể

đƣợc chủ quý nhƣng tình bạn thì không còn. Dê và Lợn Ỉn đã gọi Mèo là: "quân phản bạn".

Mèo đã hứa với bạn song lại không giữ lời nên khi bị phát giác đã không còn đƣợc các bạn

tin và chơi cùng nữa. Trẻ em cũng vậy, rất trọng lời hứa, chỉ cần một lần cƣ xử không thành

thật với bạn là các em có thể bị bạn bè "nghỉ chơi" ngay.

Ngƣợc lại, trong thế giới loài vật cũng có những loài rất quý trọng tình bạn. Chúng

gắn bó và thân thiết với nhau nhƣ anh em một nhà. Đó là tình bạn của hai chú chó trong

truyện "Ba anh em". Vện đƣợc chủ nhà nuôi trƣớc song thấy nó buồn và thƣờng lẻn đi chơi

với các chú chó trong xóm nên ông chủ đem về thêm một con Đen cho chúng làm bạn với

nhau.

41

Thoạt đầu "vì cả hai anh cùng có tính ương ngạnh" nên chúng luôn "gầm ghè" nhau. Chúng

nói khích, châm chọc nhau rồi "xông vào đả nhau một trận kịch liệt. Ra sức đấm đạp sủa

oang oang cả lên." Chủ nhà thấy chó không làm việc chỉ chăm chăm sinh sự, đánh nhau đã

nện cho chúng một trận nhừ tử, nhờ vậy cả hai đã nhận ra cái dại của mình và bắt đầu làm

thân với nhau. Tuy nhiên, để phân vai ngôi thứ trong xƣng hô và thật sự trở thành bạn thân

nhƣ anh em một nhà, chúng còn phải trải qua một trận đòn khóc liệt nữa. Đen "nằm quay đơ,

tưởng chết. Một chốc Vện mới dám len lén vào, Đen oà khóc, Vện cũng thút thít khóc và giơ

hai chân ôm lấy đầu Đen như ân hận và thảm thương cho nhau lắm”(1). Giờ đây, chúng đã

biết đoàn kết, thƣơng yêu nhau, Vện đến trƣớc làm anh, Đen đến sau chấp nhận làm em

không kêu ca. Chúng lại còn biết cứu Mèo, kẻ luôn gây hấn với chúng. Vện nói: "Chúng ta là

anh em cùng một nhà, có bổn phận phải thương yêu nhau, giúp đỡ nhau." Cuộc sống của

chúng từ đó đã hòa thuận, vui vẻ và ý nghĩa hơn.

Nhà Gà cũng vậy, những anh Tía, chị Mái Hoa trong truyện ngắn "Ghi chép một

ngày" rất quý mến nhau. Khi gà Mái Hoa nằm ổ, gà Tía đã thức suốt đêm kêu "oéc....oéc..."

để đuổi Cáo. "Tớ đuổi thằng Cáo đấy chứ . Tớ kêu thế để cho thằng Cáo biết nhà mình còn

thức, đừng có đến quấy. Chị Mái Hoa đương nằm ổ biết không!”(2)

Tấm lòng tốt của anh Gà Tía thực là tấm gƣơng sáng cho những chú gà con noi theo !

Tình bạn giữa Dế Mèn và Dế Trũi cũng là những tình cảm hết sức chân thành, cảm

động. Mèn và Trũi từ khi kết bạn đã kết luôn tình huynh đệ, chúng đã cùng nhau đi qua nhiều

nơi, chia ngọt sẻ bùi, hết lòng nhƣờng nhịn và tôn trọng nhau. Có lần Dế Mèn, Dế Trũi bổ

sung vào cuộc

(1) Sđd, tập 1, tr. 381. (2) Sđd, tập 2, tr. 39.

42

phiêu lƣu của mình một chuyến đi bằng đƣờng thủy. Trên vài lá sen Nhật ghép thành bè, Mèn

và Trũi xuôi dòng nƣớc trôi băng băng, từ lạch nhỏ trôi ra vùng nƣớc lớn lúc nào không hay.

Lƣơng thực không còn, bốn phía chỉ thấy mênh mông sông nƣớc, cái chết đói đang chực chờ

hai ngƣời bạn. Hoàn cảnh khốn đốn đó đã giúp Dế Mèn hiểu rõ và yêu quý hơn ngƣời bạn tốt

của mình. Dế Trũi đã đề nghị đƣợc hy sinh cho Dế Mèn sống. Trũi khẩn khoản chìa đôi càng

mời Mèn. "Trũi gượng cười bảo rằng có cụt cả hai càng cũng không sao, không thể chết, vẫn

khỏe như thường. Trũi đã thấy có anh dế cụt càng như thế."(1) Dế Mèn trƣớc kia hống hách

ngông nghênh chỉ biết có mình, giờ đã ngộ ra, cần phải sống tình nghĩa với mọi ngƣời có vậy

mới mong tìm thấy hạnh phúc. Sự chân thành của Trũi đã lay động sâu sắc tâm hồn Mèn

"anh em tôi ôm nhau khóc". Đó là những giọt nƣớc mắt cảm động, sung sƣớng. Tình cảm anh

em, bè bạn giữa chúng khiến lòng ngƣời cũng phải xúc động! Những chặng đƣờng chu du

tiếp theo, Dế Mèn, Dế Trũi vẫn một lòng một dạ bên nhau. Dế Trũi bị bọn Châu Châu Ma bắt

đi, Mèn đã hết sức lo lắng không khác chi lo cho ngƣời thân của mình. Dù biết sẽ gặp nhiều

hiểm nguy, Dế Mèn vẫn không e sợ quyết tâm đi tìm ngƣời em kết nghĩa. Trũi cũng vậy,

thoát ra đƣợc, hay tin Dế Mèn vì nóng lòng đi tìm mình mà bị lão Chim Trả bắt giam vào

hang tối đã nhanh chóng cùng Châu Chấu Voi và Xiến Tóc cứu thoát anh. Cùng với thời gian

tình bạn giữa họ càng bền chặt, hiểu và yêu thƣơng nhau hơn. Ƣớc mơ kết thân nhiều bạn tốt

để chung sống hòa bình, hợp tác giúp đỡ nhau đem lại niềm vui và hạnh phúc cho muôn loài

của Dế Mèn cũng chính là ƣớc mơ của các em nhỏ khắp năm châu.

Loài vật luôn làm trẻ em bất ngờ và thích thú trƣớc những suy nghĩ và hành động rất

ngộ nghĩnh của mình. Trong truyện: "Cành Cạch chơi

(1) Sđd, tr. 86.

43

trăng " thấy các bạn Cào Cào, Châu Chấu diện áo xanh, áo hồng nô nức đi chơi Trung thu,

Cành Cạch cũng háo hức. Cành Cạch rất muốn lên núi cùng xem trăng với các bạn nhƣng

biết mình có thói quen hay ngủ sớm nên nó đã tự dặn lòng: "Đêm nay phải cố thức xem trăng

Trung thu thế nào." Cành Cạch đã nhìn thấy trăng thật, nó rất vui, "Vừng trăng vành vạnh

tròn như cái đĩa vàng sáng ngời từ trên núi lừ đừ như sắp rơi xuống cánh đồng." Thế nhƣng,

vì cả đời chẳng bao giờ thức khuya nổi để ngắm trăng trên núi nên Cành Cạch rất ngạc nhiên

khi thấy ánh trăng đẹp lộng lẫy chỉ xuất hiện trong thoáng chốc rồi dần dần biến mất. "Trái

núi khấp khểnh từng tảng đá chồng chất. Có lúc trăng chợt khuất vào mép đá, trời tối lại. Đá

nhấp nhô thắt cổ bồng. làm cho trăng lên quãng sáng quãng tối." Cành Cạch trông thấy thế

cứ ngỡ ông trăng cũng có tính ngủ sớm nhƣ mình nên mới "mắt nhắm mắt mở như thế". Đến

khi trăng khuất hẳn vào một quãng núi thì Cành Cạch bực bội cho rằng: "Cái lão này ngủ say

mất rồi. Bất lịch sự quá, quên cả bè bạn đương đi chơi với. Vậy thì tội gì phải vất vả. Ta cũng

đi ngủ cho béo mắt." Rồi Cành Cạch "rụt đầu, chụm chân, ngồi ngủ luôn trong búi cỏ." Thật

là một sự hiểu lầm ngộ nghĩnh! Cào Cào nhớ hẹn, cố tìm Cành Cạch trong từng búi cỏ thì

mới hay chàng Cành Cạch đã ngáy khò khò. Mở mắt ra thấy trăng sáng vằng vặc khắp nơi,

Cành Cạch lạ lắm cứ nhất quyết cãi nhau với các bạn là ông Trăng vừa đƣợc ai đó đánh thức.

Cành Cạch chủ quan, tƣởng ai cũng có thói quen ngủ sớm nhƣ mình, làm các bạn Cào Cào,

Châu Chấu đƣợc một phen cƣời thỏa thích khi nghe chuyện, cảm xúc khôi hài vui vẻ này rất

phù hợp với trẻ em, đối tƣợng luôn thích đƣợc vui cƣời.

Những con vật trong truyện Tô Hoài còn hấp dẫn trẻ em nhờ chúng sống trung thực,

biết nhận lỗi khi làm lỗi. Chúng cũng nhƣ trẻ nhỏ, chƣa có kinh nghiệm sống, tất cả chỉ mới

bắt đầu, do đó sai lầm là điều không thể tránh khỏi. Dế Mèn, Bọ Ngựa, Mèo.... và rất nhiều

con vật nhỏ khác đều có phạm lỗi trong cuộc sống nhƣng khi đã nhận ra cái sai thì chúng

cũng sẵn sàng từ bỏ. Bọ Ngựa trong truyện ngắn Võ sĩ Bọ Ngựa khi nghe mẹ giảng giải đã

hiểu ra việc đi dọa dẫm, khoác lác ngƣời khác là sai trái.

44

Chú ta "cứ ngẩn mặt", "hai hàng nước mắt rưng rưng”(1) vì hối lỗi. Chúng thật ngoan và

đáng yêu trong mắt các em. Loài vật thế là đã hóa thân thành những nhân vật không thể thiếu

trong thơ, truyện cho thiếu nhi. Chúng thực sự trở thành trẻ con, bạn với trẻ con. Những tâm

tƣ tình cảm của thế giới loài vật rất giống những gì các em thƣờng gặp hàng ngày với bạn bè,

do đó các em dễ dàng nhập thân vào đời sống của các con vật đƣợc miêu tả đến mức cùng

sống, cùng cảm thông với nhân vật.

Trong truyện viết về loài vật của Tô Hoài, ta nhận ra rất nhiều tình cảm tốt đẹp, bình

dị mà thật sâu nặng dành cho trẻ thơ. Thế giới loài vật trong truyện đã giữ cho tâm hồn trẻ

mãi mãi sáng trong, hồn nhiên và chân thật. Đối với trẻ nhỏ, đọc truyện chƣa chắc đã hiểu hết

ý nghĩa của truyện nhƣng hình dáng, cách nói năng cƣ xử của các con vật trong truyện sẽ

sống mãi nơi ký ức và làm phong phú thêm đời sống tinh thần của các em.

Những sáng tác về loài vật của ông đã thực sự đáp ứng đƣợc khát vọng muốn thực

hiện những ƣớc mơ tốt đẹp nhất, kỳ ảo nhất của thiếu nhi. Trẻ em theo thời gian sẽ lớn lên,

ngoài sự tiếp xúc với con ngƣời, còn có nhu cầu tìm hiểu thế giới tự nhiên, do đó sự chuẩn bị

của tác giả dành cho các em từ lứa tuổi này là hết sức cần thiết. Góc thiên nhiên đầu tiên

đƣợc tiếp xúc sẽ hằn sâu trong trí nhớ các em cho đến mãi sau này, góp vào cái nền quan

trọng trong việc hình thành tính cách con ngƣời.

II. Bóng dáng con người trong thế giới loài vật

A - Trước Cách mạng Tháng Tám:

Các truyện tác giả sáng tác trƣớc Cách mạng tháng Tám, kể cả truyện về loài vật,

phần lớn mang cảm giác nặng nề. Xã hội Việt Nam lúc ấy, từ nông thôn đến thành thị bị xáo

trộn trong cơn điên đảo nhƣ con tàu tròng trành sắp đắm. Tất cả nhƣ một định mệnh, không

một ai, một sinh

(1) Sđd, tập 2, tr. 105.

45

vật nào thoát khỏi tình cảnh khốn cùng trên. Cuộc đời những con vật, vì vậy cũng trở nên hết

sức u ám. Chúng phải sống trong khổ đau. Rủi ro, mất mát, bi kịch luôn rình rập, lấn át cuộc

sống của chúng. Trừ một hai tác phẩm đầu tay chƣa mang dấu vết nỗi buồn, còn đa số các

sáng tác sau đó của nhà văn Tô Hoài ở giai đoạn này đều nhuốm màu khổ đau, chia ly và mất

mát nhƣ: Một cuộc bể dâu, Mụ Ngan, Đực... Quan sát đời sống con vật, tác giả cố giữ tính

khách quan để cho cuộc sống tự nó xô đẩy, nhân vật tự nó phát triển, nhƣng cũng chính vì

vậy hình ảnh tiêu cực của nhân vật che lấp chiều sâu và sự đúng đắn của vấn đề đặt ra. Ngƣời

đọc có cảm nhận tác giả thiên về lối miêu tả tự nhiên chủ nghĩa, ông bày tỏ sự xót thƣơng

trƣớc nỗi đau của nhân vật nhƣng lại chƣa tìm ra phƣơng hƣớng bênh vực nạn nhân, phê phán

các thế lực xấu xa đang đẩy dần xã hội Việt Nam vào ngõ cụt.

Nhà văn Tô Hoài kể chuyện loài vật với đầy đủ tập tính của chúng nhƣng vẫn bộc lộ

đƣợc nét tính cách của những loại ngƣời. Ở các tác phẩm của ông, con vật thƣờng xuất hiện

trong khung cảnh thôn quê. Đặc biệt là những con vật trong tập truyện O Chuột, chúng có

cuộc sống, cách sinh hoạt, rất gần gũi với con ngƣời Nghĩa Đô - quê ngoại tác giả - trong

những năm trƣớc Cách mạng tháng Tám. Cuộc đời của chúng phảng phất bóng dáng cuộc đời

ngƣời dân nơi đây.

Những con vật mang nhiều phẩm chất quen thuộc của ngƣời nông dân: chất phác,

hiền lành, cần cù... Chúng sống trầm lặng, chừng mực, chịu đựng và cũng chỉ mong đƣợc

hƣởng hạnh phúc giản dị, bình thƣờng. Các nhân vật này trong mắt Tô Hoài rất dễ thƣơng và

cũng thật đáng thƣơng. Ngòi bút ông không lạnh lùng, châm biếm, mỉa mai mà rất tha thiết,

gắn bó, chân thành và xúc động.

Viết về cuộc sống của các con vật, tác giả thƣờng tập trung vào những con vật nhỏ bé,

sống gần con ngƣời. Ánh mắt ông dõi theo chúng với nhiều niềm thƣơng cảm. Mƣợn vấn đề

loài vật để diễn tả những nỗi thƣơng tâm của cảnh nghèo nàn, cùng quẫn trong đời sống con

ngƣời, tác giả đã viết bằng tất cả tấm lòng cảm thông sâu sắc. Ông không có cái cƣời

46

ngạo nghễ khi không khóc đƣợc trƣớc những cảnh đáng khóc nhƣ Vũ Trọng Phụng, cũng

không cất tiếng nói đanh thép đầy phẫn nộ nhƣ Ngô Tất Tố khi đòi cải thiện đời sống nông

dân, hay viết nên những trang chữ nghĩa cay đắng, thắt ruột nhƣ Nam Cao. Tô Hoài đặt vấn

đề theo cách của mình. Ông trình bày ra trƣớc dƣ luận tình cảnh đói khổ của nhân dân để làm

nổi bật một nỗi niềm khác, cay đắng gấp vạn lần. Đó là nỗi đau của những con ngƣời bị ngăn

cản, tƣớc đoạt quyền sống hạnh phúc. Họ bị đẩy xa khỏi cuộc sống bình thƣờng của con

ngƣời, đến gần hơn với đời sống con vật.

Ở làng Nghĩa Đô ngày ấy, có những con vật rất đáng thƣơng. Đó là câu chuyện về

cảnh nhà của Đôi Gi Đá, mà khi đã đọc qua ngƣời ta sẽ nhớ mãi. Đôi chim sống âm thầm

dƣới khe lá xanh, cần cù và nghèo khó. Chúng biết làm tổ xây nhà và làm việc thật chăm chỉ,

siêng năng. "Rạ đã bạc trắng và nát mủn. Chị chim Gi hé mỏ mổ vào cuộng rạ. Anh cong

đuôi lên để lôi cuộng rạ đứt ra. Khi đã lôi được, anh quắp lấy và bay vụt đi. Cô ả cũng bay

liền ngay theo. Họ bay về cây hồng bì... Chàng đặt cuộng rạ vào một cành hồng bì kín và cao

nhất. Rồi họ lại bay đi, vợ theo đuôi chồng, đến lấy rạ ở lớp mái nhà nát nọ, chị mổ và anh

kéo. Dù được mẩu dài hay ngắn, anh không phiền hà, quắp ngay lấy, mang về cây. Công việc

như thế, đều đều suốt ngày như người ta mắc cửi."(1) Đối với những con vật nhƣ vậy, lẽ ra

chúng phải có một cuộc sống sung sƣớng, hạnh phúc, nhƣng ƣớc mơ đƣợc sống bình yên đã

tan thành mây khói, những tiếng pháo Tết rền vang của con ngƣời đã xua đàn chim tội nghiệp

ra khỏi mái ấm cuộc đời. "Sớm ấy, bỗng nghe tiếng pháo kinh khủng nổ vang động trong cây,

cả nhà cuống cuồng bay đi. Những con chim nhỏ ngã xuống, cũng cố vỗ cánh mà bay lóp

ngóp. Tan tác mỗi người về một phía. Ai cũng lạc lõng !"(2). Cuộc đời của

(1) Sđd, tr 40 (2) Sđd, tr. 51.

47

những con Ngan, chó Đực, gà Chọi, gà Gi cũng có chung số phận nhƣ thế. Một tay hảo hán

nhƣ gà Chọi "mang trên mình bộ mã ô miến tía - cái thứ áo có lông đen nháy, điểm dòng sọc

đỏ" vốn đang khỏe khoắn, sung sức "hai cái cẳng chân cứng và lẳn như hai thanh sắt, phủ

đầy những vảy lớn sắp vàng bóng. Đôi bắp đùi chắc nịch, gân lên những thịt" vậy mà chỉ sau

một cơn mƣa trái gió trở trời đã ốm lăn ra rồi chết. "Gã nằm gục một chỗ, chỏng đuôi lên,

đầu lả rụi xuống.”(1) Thế là tiếng gáy kéc ke từ nay không còn vang lên nữa.

Cuộc đời những chú chó cũng chẳng vui hơn. Con Đực trong truyện ngắn cùng tên bị

con ngƣời tƣớc đoạt quyền sống hạnh phúc của mình không thƣơng tiếc. Nó vẫn sống, sống

lâu, sống khỏe nhƣng không có niềm vui. Cuối cùng, nó cũng chỉ là một anh chó già, nằm

buồn bã hồi tƣởng lại dĩ vãng khổ não. "Câu chuyện của nó đã ra chuyện ngày xưa. Thời

gian đã làm ly tán cả. Trở đi, trở về, kẻ chết, kẻ giang hồ mất, kẻ bị bán đi nơi khác... Mòn

mỏi trong đám chó hậu sinh bây giờ, một mình con Đực lặng lẽ sống cái cuộc đời tàn cục

buồn thiu..”(2) Tất cả đều có một kết thúc thảm thƣơng!

Văn chƣơng Tô Hoài luôn đƣợc khơi nguồn từ cuộc đời nên trong bối cảnh buồn chán

của xã hội cũ, con vật hiện lên cũng đáng thƣơng không kém gì cuộc đời con ngƣời. Những

con vật nỗ lực phấn đấu, biết vƣơn lên để tìm cho mình lối đi đúng đắn nhƣ Dế Mèn không

nhiều, đa số đều có một cuộc sống buồn, gặp nhiều cảnh ngộ đáng thƣơng, không lối thoát.

Chúng cũng cùng chung số phận với con ngƣời, cùng sống trong bầu không khí ngột ngạt bế

tắc chung của xã hội đang bị đẩy đến bờ vực thẳm. Bức tranh xã hội loài vật do vậy cũng đã

hiện lên thật hắt hiu, chán nản, niềm vui ít mà xót xa đau khổ luôn dẫy đầy.

(1) Sđd, tr. 54. (2) Sđd. tr. 96.

48

Tuy nhiên, bên cạnh những con vật đáng thƣơng, bị vùi dập còn có những con vật tự

chọn cho mình cuộc sống cam chịu, tẻ nhạt. Chúng là hình ảnh hiện thân của một bộ phận

nhân dân ngày ấy, vừa đáng thƣơng vừa đáng chê trách. Gã Chuột Bạch trong tác phẩm cùng

tên là một nhân vật nhƣ vậy. Chuột Bạch có bộ dạng khá xinh so với các con vật cùng loài

"bé bằng một quả nhót và mũm mĩm". "Đôi mắt gã đỏ thậm, như hai hạt gạo đỏ đính lên trên

một ngần bông nõn trắng. Bốn cẳng chân loắt choắt, ngắn ngủn, và trơ da đỏ hỏn." Gã sống

vật vờ, suốt năm tháng chỉ lẩn quẩn trong lồng làm mỗi việc "đánh vòng" đến "bắp chân đã

cứng thành chai ". Gã không quan tâm gì đến cuộc sống bên ngoài, cũng chẳng cần tự do vì

vốn "yếu đuối", " ở ngoài làm chi có gạo để ăn". Gã có vợ, nhƣng cũng chẳng thƣơng yêu gì,

vợ chết, gã thản nhiên nhƣ không, càng sống khỏe "không có đàn bà thì chừng như gã khoẻ

khoắn lắm, lông gã mượt bóng và trắng nõn". Còn ả Chuột cái thì lối sống cũng chẳng khác

chi chồng "đôi mắt nàng đỏ và sáng. Bộ lông của nàng trắng mượt óng ả... lúc này đánh

vòng đã chán chân, chị ả rúc vào những sợi tơ vàng nõn đứng dựng hai chân lên ngủ với

chồng". Rồi nó chết, chết một cách nhẹ nhàng bởi lý do vừa đơn giản vừa buồn cƣời: ăn phải

bọ ngựa. "Cổ họng của nàng Chuột bé quá, không đủ lối nuốt thoát được anh Bọ Ngựa". Cô

nàng chết thật thảm hại: "Cái lưng nhỏ cong khum lên và mõm nhọn của nàng thì há ngoác.

Dòm vào trong cái đuôi Bọ Ngựa xanh thò ra". Chuyện không có nhiều tình tiết hấp dẫn, ly

kỳ nhƣng vẫn có sức lay động lòng ngƣời. Gấp sách lại cảm giác chua xót, ngậm ngùi và

buồn bã vẫn còn đọng trong tâm trí ngƣời đọc. Cuộc sống của hai con vật này đáng thƣơng và

đáng buồn làm sao! Đó cũng là một kết cục tất yếu của những con ngƣời chọn cho mình một

cách sống hƣởng thụ trong yếu hèn, nhu nhƣợc. Họ muốn tìm cảm giác yên bình, an nhàn,

nhƣng lại tự đƣa mình vào một cuộc sống bế tắc, không tƣơng lai. Cái chết và sự sống đƣợc

nêu ra ở đây đều thật đáng

49

buồn, đáng thƣơng, nhƣ lời nhận xét của tác giả: "Một mạng lớn giết đi một mạng nhỏ, êm

nhẹ như hơi chiều lặng lờ sang"(1).

Mặt khác, đặt truyện vào thời điểm sáng tác trƣớc Cách mạng tháng Tám, khi nƣớc ta

còn chìm trong bóng đêm nô lệ, thì tác phẩm chính là lời cảnh báo những ngƣời dân thời bấy

giờ. Sự phát triển của phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dƣơng đã ảnh hƣởng vào ý thức, tƣ

tƣởng tác giả, nhìn thấy lối sống ích kỷ, buông xuôi của một số ngƣời, ông lấy làm tiếc. Đối

với nhà văn Tô Hoài, lối sống đó thật tai hại và chính nó là một trong những nguyên nhân

đƣa đất nƣớc đến chỗ diệt vong. Viết truyện Gã Chuột Bạch, tác giả mong đƣợc độc giả ủng

hộ, chia sẻ và cùng giác ngộ lý tƣởng, sớm đƣa đất nƣớc đến với độc lập, tự do. Chính tƣ

tƣởng độc đáo toát ra từ những truyện loài vật nhƣ Dế Mèn phiêu lưu ký, Gã Chuột Bạch đã

góp phần tạo nên dấu ấn cho các sáng tác của ông. Truyện loài vật của Tô Hoài trƣớc Cách

Mạng tháng Tám hay hơn truyện loài vật ông viết sau này, một phần cũng vì lẽ đó.

Nhìn chung, các truyện viết về loài vật của nhà văn Tô Hoài luôn chịu ảnh hƣởng từ

thực tế đời sống quanh tác giả. Dƣới mắt Tô Hoài, những con chó nhỏ, chị gà mái, bác ngan,

lão mèo... không còn là những con vật mà đã hóa thân thành: "những đứa trẻ nằm mớ, những

đứa trẻ con khoai củ ở nhà quê" (Đực); "một người đàn bà giỏi giang, đa tình thì nhất mực

đa tình, mà khi phải vướng vào cái bổn phận dạy dỗ, nuôi nấng con trẻ, lại đáng nên bậc mẹ

hiền gương mẫu." (Một cuộc bể dâu); "một gã lèm bèm, ủng oẳng, hay sinh sự nhỏ nhen;

nhưng tính tình lại phổi bò, dễ dãi và thường chóng quên". (O Chuột) Tính tình riêng của

từng loài đã đƣợc nhà văn quan sát cẩn thận. Ông sáng tạo trên những giá trị thật của đời

sống, trên đặc tính và phẩm chất vốn có của từng loài.

Là nhà văn chuyên viết truyện (đặc biệt là truyện về loài vật ) cho

(1) Sđd, tr. 27.

50

thiếu nhi nhƣng một số truyện của ông không chỉ chinh phục đƣợc thiện cảm độc giả nhỏ tuổi

mà cả ngƣời lớn. Tập O Chuột xuất bản trƣớc Cách mạng tháng Tám với các truyện ngắn đã

nêu trên là một tập truyện nhƣ vậy. Đọc các truyện đó ngƣời lớn không chỉ đƣợc đắm mình

trong không khí trẻ thơ mà còn có thể hiểu và đồng cảm với những vấn đề xã hội tác giả đặt

ra. Đối với một nhà văn, sáng tác cho thiếu nhi mà chiếm đƣợc thiện cảm của cả ngƣời lớn là

một sự thành công. Bởi lẽ ở chỗ sâu thẳm nhất trong mỗi ngƣời lớn đều có ẩn nấp hình bóng

chú bé con. Vị độc giả tí hon ấy đã lƣu giữ hộ ta phần thơ và gạt bỏ đƣợc phần ngây.

B - Sau Cách mạng Tháng Tám:

Từ sau Cách mạng tháng Tám, lẽ sống, trách nhiệm mới đã đến với những ngƣời cầm

bút. Có biết bao "mặt trận": chiến đấu, sản xuất, xây dựng đất nƣớc, mở ra trƣớc mắt nhà

văn. Cuộc sống mới cần đƣợc ca ngợi, khẳng định. Những con vật trong các sáng tác của nhà

văn Tô Hoài bắt đầu khoác lên mình diện mạo mới. Những cảm hứng về đất nƣớc, con ngƣời,

làng xóm giúp các sáng tác của ông thoát hẳn không khí trầm lắng, ƣu tƣ. Nỗi buồn nhƣờng

chỗ cho niềm vui, chùm truyện viết về cuộc sống vô vị của các con vật ngày trƣớc không còn

tồn tại. Tô Hoài yêu quý cuộc đời hiện tại và càng phấn chấn trong những cảm hứng tƣơi đẹp

của tƣơng lai. Ông sáng tác hàng loạt truyện mới phục vụ thiếu nhi.

a - Ngợi ca cuộc sống mới:

Tiếp tục viết theo hình thức đồng thoại quen thuộc trƣớc đây, nhà văn Tô Hoài một

lần nữa gặt hái đƣợc nhiều thành công. Ông say sƣa ca ngợi cuộc sống mới. Bằng khả năng

kết hợp nhuần nhuyễn đặc điểm sinh lý của động vật với đặc điểm của ngƣời, Tô Hoài đã

đem đến cho văn xuôi Việt Nam nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng nhiều phẩm chất và

giá trị mới.

Nhà văn ý thức rõ sự khác nhau giữa hoạt động văn nghệ ở hai thời kỳ trƣớc và sau

cách mạng. Ông cố gắng tạo sự thay đổi trong cách viết.

51

Nhiệt tình sôi nổi và lòng yêu nghề đã chắp cánh cho những tác phẩm mới của Tô Hoài.

Trong giai đoạn này, tác giả tập trung viết về thiếu nhi, dành riêng cho thiếu nhi. Những hình

bóng cũ, những ngƣời nông dân luôn sống nơm nớp trong lo âu, giàu sức chịu đựng đã vắng

bóng hẳn nơi trang viết của ông. Thay vào đó là rất nhiều mẩu chuyện viết về lối sống mới,

xã hội mới.

Bằng sức tƣởng tƣợng phong phú, Tô Hoài đã đƣa trẻ thơ hòa nhập vào hơi thở mới

của cuộc sống một cách thật tự nhiên. Đó là câu chuyện của chú Chích Bông lạc đƣờng;

chuyện đàn cá Rô Ron ngây thơ, tròn xoe mắt kinh ngạc nhìn đàn cá Ngão vƣợt đê sông

Hồng.

Xã hội vui tƣơi, văn minh, ngày càng phát triển, không chỉ đem niềm vui đến cho các

em mà còn đem niềm vui và sự sung sƣớng cho cả loài vật. Mấy chú gà trong truyện ngắn: Ò,

Ó, O đã có một phen lầm tƣởng, bất ngờ và thú vị.

" ... Ở ngoài sân, một thằng gà trống ngỗ ngược nào vừa mới vỗ cánh độp độp độp

trong chuồng rồi cất tiếng gáy làm giật mình người ta.

Hắn ta gáy, gáy to khủng khiếp.

Ò ó o..."

Mấy chú gà ở nhà quê quen nsủ sớm, thấy ánh điện chiếu sáng, giật mình gáy vang.

"Tôi nhỏm dậy, hỏi bà :

- Sáng rồi ư, hả bà?

- Không, cháu ạ. Chưa đến mười giờ, chưa ai đi ngủ đâu.

- Thế ngoài sân sáng trăng ư, hả bà ?

- Không phải sáng trăng đâu, cháu ạ.

- Thế sáng sao, hả bà ?

- Không phải sáng sao.

- Gà đã gáy sáng rồi cơ mà, bà ơi !

Bà tôi bèn cười:

52

- Chưa phải gà gáy sáng đâu.

Tôi hỏi nữa:

- Thế cái gì sáng ngoài sân lên thế kia, hả bà ?

- Đấy là cái đèn điện bên nhà máy thuốc trừ sâu sáng sang tận xóm ta đấy. Đêm nào

cũng sáng thế, làm cho con gà cũng gáy nhầm.”(1)

Từ những chi tiết có thực trong đời sống hàng ngày của loài gà, tác giả đã vận dụng trí

tƣởng tƣợng và sáng tạo một cách có dụng ý câu chuyện trên. Ông giới thiệu đến các em sự

thay da, đổi thịt từng ngày của quê hƣơng, đất nƣớc. Thông qua những mẩu chuyện ngắn,

giản dị và bình thƣờng đó, tác giả nói hồn nhiên, sâu sắc vẻ đẹp của cuộc sống mới. Đất nƣớc

có nhiều đổi thay mà nơi thay đổi rõ nhất chính là nông thôn. Công trƣờng, nông trƣờng, nhà

máy không ngừng mọc lên. Cách chăn nuôi cũ cũng đƣợc thay đổi để phù hợp hơn với bƣớc

tiến mới của thời đại. Trong các ngành chăn nuôi nông nghiệp, ngƣời ta chú trọng đến khoa

học kỹ thuật, làm thế nào để có thể đạt năng suất cao nhất. Những trại nuôi gà công nghiệp ra

đời, quy mô, hiệu quả hơn cách nuôi truyền thống. Cuộc sống của những chú gà đó liệu có

khác nhiều so với những con gà trƣớc đây tác giả từng biết ?

Trong "Ghi chép một ngày" Tô Hoài đã viết thật tỉ mỉ những thay đổi trong sinh hoạt

của đàn gà công nghiệp. Chúng có chuồng to, sống tập trung cùng đông đảo họ hàng, bè bạn:

"tối vào ngủ chuồng nào cũng được'' Ngôi nhà của chúng cũng khá đặc biệt: "Nhớn rồi, ở

nhà to, có nhiều bạn, vui lắm. Vừa bước vào, đã thấy như thế. Quanh tôi, những ống chân

dựng đứng, xong xóng như những cây mía béo, vàng xọng. Mùi ấm nồng hơi gà chuồng rộng,

khác những đêm tôi còn ở ổ mẹ.”(2)

(1) Sđd, tập 2, tr. 31. (2) Sđd, tập 2, tr. 37.

53

Nơi thành phố, những thay đổi, mới lạ cũng diễn ra liên tục, làm "Cậu Miu " nhỏ

không khỏi ngạc nhiên, tò mò. "Ở tầng gác mười hai, nhìn xuống một mảnh vườn. Trước đây

không lâu, cả vùng này còn là vườn cỏ. Rồi cái vườn cỏ co dần lại, vì những tòa nhà nhiều

tầng cứ mọc dần lên, bây giờ còn mọc. Đứng đây trông sang, thấy trong dãy nhà đương xây

dựng loang loáng những tia chớp, nhằng nhằng, sang sáng, tim tím". Cách ngƣời ta xây nhà

cũng mới lạ, hấp dẫn trong mắt cậu mèo con: "... người thợ và cái máy đương xây nhà. Xe ấy

đi tải các tấm xi-măng đến. Rồi cần cẩu thò xuống cắp từng miếng lên. Người thợ trên tầng,

níu mảnh xi - măng cốt sắt lại rồi cầm que hàn, bật tóe lửa xanh, lửa tím gắn những tấm xi -

măng làm trần, làm tường, làm hiên...”(1)

Tác giả ngợi ca cuộc sống mới một cách hết sức tự nhiên, cứ nhƣ tất cả những việc đó

đều do một ngƣời ông tình cờ trông thấy về kể lại cho các cháu nghe. Nhà văn thâm nhập vào

đời sống để sáng tác, mọi hiện tƣợng xã hội trong truyện đều đƣợc phản ánh với muôn sắc

màu hấp dẫn. Các sáng tác viết về chủ đề tƣơng tự của ông dành cho thiếu nhi còn khá nhiều,

tiếc rằng một số truyện còn rơi vào tình trạng sơ lƣợc, đơn giản. Những truyện ông viết trong

giai đoạn này đều đáng quý, chứa đầy nhiệt tình của ngƣời nghệ sĩ phục vụ nhân dân, nhƣng

chiều sâu của cốt truyện chƣa có, ý tƣởng trùng lặp cũng khá nhiều, làm giảm sự sắc sảo của

tác phẩm.

b. Con người mới:

Cuộc sống đã khác trƣớc, công cuộc xây dựng đất nƣớc đang từng ngày làm thay đổi

bộ mặt đời sống nhân dân. Tƣ tƣởng, tình cảm con ngƣời cũng có những chuyển biến rõ rệt.

Con ngƣời ở đây - trong các mẩu chuyện giai đoạn này của nhà văn Tô Hoài cũng không nằm

ngoài quy luật chung của cuộc sống. Phần lớn các con vật đã đƣợc nhân cách hóa đều

(1) Sđd, tập 2, tr. 50.

54

mang dáng dấp trẻ thơ. Đó là những con ngƣời trẻ trung, vui tƣơi, năng nổ và rất yêu cuộc

sống. Chúng là những chú Gà, Cún, Dê, Ngựa... ở các nông trƣờng, trại chăn nuôi; ở nông

thôn và ở cả thành thị.

Chúng rất tƣơi vui, nhí nhảnh, sống một cuộc sống tràn ngập tình yêu thƣơng. Cứ đến

tháng ba, cuối xuân, khi những cơn mƣa mới đổ xuống thì : "những con chim bé bỏng, con

chim sâu, chim chích, con bạc má, con choi choi, cả mùa rét vừa rồi biến đi đâu, bây giờ lại

thấy từng bọn thảnh thơi sởn sơ theo gió bay ra." Cũng nhƣ họ hàng nhà cá, khi "trong làng,

ngoài đồng đã rào rào mù trắng nước" thì hàng đàn cá từ khắp nơi lại nô nức đi chơi. "Hàng

đàn cá Rô nô nức lội ngược trong mưa, nghe rào rào như đàn chim vô cánh trên mặt nước,

vượt qua cả đường cái, cả gò đống, cả gốc cây...". Chúng hớn hở, vui mừng nhƣ trẻ nhỏ

đƣợc bố mẹ đƣa đi chơi Tết : "hai bên bờ, những bụi cây chút chít, cây sam, cây mã đề xanh

ngắt vừa bị nước mưa mới kéo chìm xuống gốc. Đàn cá bơi len lỏi qua đấy, vui như người ta

chen giữa đường xuân bóng cây, cứ nhẹ nhàng đi mãi. Tha hồ ra xa. Đàn Rô Ron phởn phơ

hăng hái, mặc sức ngược lên. Nước mưa mới ấm lắm, ta đi chơi đi...”(1)

Không chỉ họ nhà cá mới có những phút giây vui vẻ, thoải mái mà các con vật khác

cũng có một cuộc sống khác xƣa rất nhiều. "Kìa đàn vành khuyên ríu rít vui không. Tiếng

chim gáy thì óng ả khi xa khi gần. Những con liếu điếu tranh luận choang choác như cãi

nhau. Chim dẽ giun thấp thoáng chuyền khắp mặt ruộng nước. Những chàng cò bạch trắng

phau đứng gật gù rình mồi. Ruộng cày ải, vừa ngả nước, lắm con sâu con bọ, các đàn chim

về kiếm thức ăn, triệt bớt cái hại lúa." Cuộc sống no ấm, tự do đã đem đến cho các con vật

dáng vẻ, phong cách mới: tự tin và rạng rỡ. "Trên trời xanh trong, một chàng cò lửa thong

thả bay. Ôi chao, lâu lắm mới lại trông thấy cò lửa. Màu vàng rực nắng trên đầu cánh cò lửa

mới đẹp sao. Chàng cò lửa như biết có người đứng ngắm dáng bay và đôi cánh đẹp của

(1) Sđd, tập 2, tr. 25.

55

mình. Chàng lịch sự nghiêng đôi cánh đỏ rực duyên dáng cất tiếng "chào chú đến chơi" rồi

thong dong bay về phía bờ tre xa xanh."(1)

Đa số các nhân vật" loài vật" trong truyện của Tô Hoài tuy còn nhỏ tuổi nhƣng đều tỏ

ra yêu lao động, luôn có ƣớc muốn tự hoàn thiện mình. Chim Chích hăng say "... chuyền

xuống từng cành, nghé nghiêng lật lá, nhặt sâu cho khoai... Tiếng chim túc tích, túc tích.

Chốc lát, những cành lá sạch sâu. Quả nhiên, trong làn gió xuân hây hẩy, đã nghe rỗ tiếng

chim và lá cười đùa với nhau". Ngựa Con đƣợc bố con Bàn Quý cho đi chợ thồ hàng về

mừng rỡ: "Ngựa Con coi bộ hí hửng ra mũi - nếu người thì hí hửng ra mặt! Cái mũi ngựa ướt

bóng, đen nhẫy, chốc lại hếch lên. Ngựa Con đương nghĩ mình đã lớn, đã làm được việc có

ích." Tất cả đều vui sống trong bầu không khí vui tƣơi, yêu đời, hăng say, tự nguyện làm

việc: gà nhặt sâu ngoài vƣờn, bò cho sữa, trâu đi cày, ngựa thồ hàng...

Những cảnh sống cơ cực, khổ sở chất đầy tủi hờn của con ngƣời thông qua hình ảnh

các con vật không còn tồn tại, thay vào đó là những cảnh đời tƣơi vui, biết sống có ích cho

bản thân và xã hội. Chúng vừa là hình ảnh hiện thân của lứa tuổi nhi đồng vừa là hình ảnh

tƣơng lai của dân tộc. Thiếu nhi chính là những ngƣời chủ đất nƣớc ngày sau, vì vậy những gì

các em đƣợc sống và trải qua trong thời thơ ấu chắc chắn sẽ có ảnh hƣởng rất lớn đến đời

sống sau này. Với lứa tuổi này. kiến thức và vốn sống của các em hãy còn ít ỏi, khi cần tƣởng

tƣợng ra một vật ơi đó. Các em phải lấy một sự vật trƣớc mắt làm mẫu. Do đó chỉ có mẩu

chuyện nào viết về những gì thật gần gũi, diễn ra xung quanh các em mới tạo đƣợc sự chú ý

và thích thú nơi trẻ nhỏ. Nắm bắt đƣợc tâm lý này của các em, nhà văn Tô Hoài cố gắng làm

nổi bật sự liên tƣởng thông qua những nét giống nhau về hình thức cũng nhƣ nội dung giữa

hai sự vật. Ông tô đậm gƣơng sáng cho các em nhìn rõ để học tập, hƣớng các em đến với cái

hay, cái đẹp trong đời sống. Những quyển sách của ông góp phần hình thành nơi các

(1) Sđd, tập 2, tr. 101.

56

em mục đích sống cao đẹp, nhận ra mình là một thành viên của xã hội có nhiệm vụ học tập,

vui chơi, lao động phát triển đất nƣớc. Ông bày tỏ cả niềm tin và lòng mong đợi vào các em:

Hãy sống thật tốt, để xứng đáng với những gì ông cha đã trao tặng.

III. Những tri thức bổ ích và những tình cảm tốt đẹp

1. Tri thức

Một nhà văn có nhiều cách giới thiệu kiến thức đến với độc giả của mình, nhất là các

độc giả nhỏ tuổi. Tùy theo ý thích và quan điểm cá nhân mà họ chọn cho mình những đề tài

nhất định. Có ngƣời chỉ chuyên giới thiệu với các em tiểu sử của những danh nhân, ngƣời

khác lại viết về truyền thuyết, lịch sử dân tộc. Cũng có những tác giả thích viết về môi trƣờng

xung quanh các em nhƣ chim muông, cỏ cây. Nhà văn Tô Hoài đã chọn cho mình con đƣờng

tiếp cận thiếu nhi nhƣ vậy.

Đề tài loài vật trong truyện của ông không chỉ đề cập đến cái đẹp về hình thức, cái

hay của tính cách, tâm lý nhân vật mà còn chứa đựng nhiều giá trị tƣ tƣởng tốt đẹp, có tác

dụng giáo dục rất đáng quý. Ông đã thông qua văn học, giáo dục các em nâng cao trình độ

văn hóa, trau dồi những giác quan thẩm mỹ. Tác động đến tƣ tƣởng, đạo đức trẻ thơ bằng văn

học nghệ thuật chân chính, hấp dẫn, tƣơi vui là một cách làm thích hợp. Bản chất của nghệ

thuật là tình cảm, và cũng chỉ có tình cảm mới đủ sức lay động lòng ngƣời. Do đó, nhà văn

Tô Hoài đã thông qua con đƣờng này để đến với ngƣời đọc. Tất cả các câu chuyện từ Mèo

con lƣời học, Cá đi chơi xuân, Bọ Ngựa không vâng lời mẹ, Gà gáy sớm.v.v. hết thảy đều lôi

cuốn, hấp dẫn các em bởi vật cũng nhƣ ngƣời đều có tình cảm, có lầm lỗi, tốt xấu, yêu ghét...

Sự thuyết phục của những trang sách đã dần dần chuyển thành sự tự thuyết phục trong các

em. Dụng ý giáo dục thiếu nhi cách sống nhân hậu, tốt đẹp không bị biến thành bài học

thuyết lý khô khan.

Các em nhỏ đọc truyện Tô Hoài trƣớc hết đƣợc mở rộng tầm mắt, nâng cao những

hiểu biết từ mái trƣờng đồng thời đƣợc hƣớng dẫn cách áp

57

dụng tri thức vào cuộc sống. Cuộc sống của các em tuy là một thế giới riêng nhƣng vẫn

không tách rời cuộc sống chung của xã hội. Việc giáo dục thiếu nhi sẽ không đầy đủ nếu

chúng ta chỉ khoanh nó lại trong phạm vi nhà trƣờng, gia đình. Nhà văn Tô Hoài đã dẫn các

em đi xa, rộng hơn.

1.1. Đề tài phổ biến kiến thức khoa học dƣới dạng truyện ngắn đƣợc nhà văn thể hiện

đạt đến trình độ bồi dƣỡng thế giới quan, tâm hồn, phẩm chất cho các em. Thông qua hình

tƣợng, ngôn ngữ nghệ thuật, tác giả đƣa các em đi từ sự thích thú này đến thích thú khác, mãi

không biết chán. Trê và Cóc; Cái kiện của lão Trê... rất hấp dẫn các em. Từ những truyện

này các em hiểu hơn cuộc sống loài vật. Các em hiểu đƣợc vì sao đối với loài ếch nhái trứng

cóc lại nở ra con nòng nọc, cũng phần nào hiểu thêm sự phức tạp, đa dạng và nhiều mặt trong

xã hội loài vật cũng nhƣ xã hội loài ngƣời. Kế thừa truyện thơ Nôm khuyết danh Trê Cóc vốn

ra đời trong dân gian từ rất xa xƣa, nhà văn Tô Hoài đã diễn đạt truyện lại bằng ngôn ngữ văn

xuôi, giản dị, dễ hiểu, gần gũi với cuộc sống hôm nay. Ông lý giải một cách hết sức tài tình,

khéo léo vấn đề tƣởng chừng nhƣ khô khan và thiếu hấp dẫn các em. Đó là sự lý giải xuất

phát từ trí liên tƣởng thông minh tạo nên những bất ngờ thú vị. Vợ chồng nhà Cóc hiếm

muộn, sau bao năm cầu tự mới có con, rất mừng và mong đợi từng ngày những đứa con

thƣơng yêu chào đời. Ngày trở dạ đã đến, vợ Cóc sinh đƣợc một bọc trứng, "được năm hôm

trứng nở ra một đàn nòng nọc". Giữa lúc hai vợ chồng đƣơng vui mừng khôn xiết thì bỗng

dƣng một sớm ra thăm con "chẳng thấy còn một mống nào". Hóa ra vợ chồng cá Trê sống

ngay ở hồ ấy cũng hiếm con, tình cờ trông thấy đám nòng nọc bé "tí tẹo" và "giống hệt những

con Trê nhỏ" đã động lòng, rồi chồng trƣớc vợ sau, Trê đực và Trê cái dồn cả bọn Trê con

"quý giá ấy về nhà". Trê càng ngắm càng thích vì "Hệt quá đi mất. Cũng cái đầu to mà bèn

bẹt. Cũng cái mình thon thon và chiếc đuôi nhỏ xíu. Cũng hai ngạnh nhọn nhọn ở hai bên

sườn. Và cái này mới càng đúng nòi Trê: Làn da bồ hóng đen nhẫy. Thật quả da Trê, mà lại

da hắc Trê chính tông". Cóc biết Trê bắt mất con liền hí hoáy làm đơn đi kiện. Nha huyện

58

Trạch nhận hối lộ của Trê nên chẳng những không minh xét còn lôi Cóc vào ngục cùm hai

chân lại. Mãi đến lúc vợ Cóc nhờ ông trạng Chuối xử kiện thì gia đình mới đƣợc đoàn tụ.

Trạng Chuối đã trấn an cho chị Cóc: "Nhà chị kia! Chị cũng quên cả luật lệ xưa nay ở họ nhà

chị, khi sinh nở phải xuống đẻ dưới nước, mà trứng cóc nở ra con nòng nọc à". Trạng Chuối

quả là một vị quan minh mẫn, ông cắt nghĩa rõ ràng rành mạch làm vợ Cóc cảm phục, tin

tƣởng: "nòng nọc đứt đuôi thì nòng nọc thành ra Cóc, xưa nay vẫn thế "(1). Cốt truyện đơn

giản nhƣng ghi lại đƣợc chân xác hiện thực đời sống loài vật. Các con vật đƣợc nhân cách

hóa mà lại vẫn là con vật.

Nhìn ở một góc độ khác ta thấy Trê và Cóc cũng là một câu chuyện ngụ ngôn. Truyện

diễn tả đƣợc đầy đủ đặc điểm của xã hội loài vật và cũng song song phản ánh đƣợc diện mạo

của xã hội loài ngƣời với chính những đặc điểm ấy. Đối với truyện ngụ ngôn, nếu lấy loài vật

làm hình thức biểu hiện thì mỗi con vật là đại diện cho một lớp ngƣời nào đó trong xã hội.

Trê và Cóc một mặt phản ánh hiện thực xã hội đang hồi tuột dốc về luân lý đạo đức: quan là

ngƣời đại diện cho công lý, cho nhà nƣớc có nhiệm vụ chăm lo dân lại đi nhận của đút lót,

chân lý bị đồng tiền xoay vần, phủ định, mặt khác là một lời khuyên răn dành cho con ngƣời

về thái độ đối với cuộc sống. Tham lam, thích chiếm đoạt những gì không phải của mình và

sống trái với lẽ tự nhiên tất sẽ chuốc lấy thất bại thảm hại. Truyện cũng đã khắc họa đƣợc tình

cảm mẫu tử - tình cảm đẹp đẽ, cao quí mà cả ngƣời và vật đều có. Chim có tổ, ngƣời có tông,

chắc hẳn khi đọc đến những trang viết kể lại sự đau đớn khi mất con của Cóc, các em sẽ hiểu

hơn tình yêu thƣơng cha mẹ dành cho con cái, thấm thía hơn nghĩa mẹ, ơn cha.

Từ những câu chuyện của ông, trẻ em - nhất là các em sống ở thành

(1) Sđd, tập 1, tr. 501.

59

thị - đƣợc dịp tìm hiểu đời sống động vật rõ hơn. Các em sẽ biết quá trình chuyển hóa từ một

quả trứng thành con gà, con vịt ra sao. Đối với giống Gà, chúng rất "cả tin", Gà mái sẵn sàng

ấp cả những trứng không do mình đẻ. Nhà cô bé Thảo trong truyện Bốn con gà bị mất con gà

mái mẹ, cô tiếc bốn chiếc trứng sợ rằng phải đem luộc mà ăn, nhƣng mẹ cô bảo: "Con xem

trong chuồng có con gà mái nào đương đòi ấp. Con cho nó ấp bốn cái trứng ấy. Như thế, rồi

trứng cũng nở được như mẹ nó ấp". Lời ngƣời mẹ nói đã không sai "Thảo đặt cái trứng vào

trong ổ. Con gà mái nhảy ngay lên. Và nằm xù xù lên trên những cái trứng. Nó ấp luôn. Thực

nó dễ tin lạ lùng. Mụ gà tin ngay những cái trứng ấy là trứng của mình". Gà mái cứ bận bịu

ấp trứng nhƣ vậy độ mƣời lăm hôm thì "những cái trứng bắt đầu rạn"(1) và hai mƣơi ngày

sau thì trứng nở thành gà con. Dù không đƣợc tận mắt chứng kiến nhƣng thông qua cách kể

sinh động, khéo léo của tác giả, các em vẫn có thể hình dung ra đƣợc những gì mình vừa đọc.

Cùng sáng tác loại đề tài này, nhà văn Nguyễn Kiên có mẩu truyện rất thú vị về con

rùa. Tác giả đã lý giải hiện tƣợng Rùa biết giật mình, thụt đầu và bốn chân vào trong mai mỗi

khi có ai vỗ nhẹ lên mai. thông qua câu chuyện: "Con Rùa biết giật mình". Truyện kể về

một bác Rùa sống giữa những tảng đá lô nhô xen với cây cối, cách khúc suối trong không xa.

"Ở trên cạn Rùa bò chậm chạp, trông bác ta có vẻ ngẩn ngơ thế nào. Nhưng ở dưới nước

Rùa khác hẳn. Rùa ngụp lặn và bơi được đủ kiểu: với cái đầu lì lợm nhô ra, bốn chân khỏa

nước như bốn bơi chèo, cái mai khum khum nặng nề chao lắc, bác ta bơi nổi, bơi lửng lơ, rồi

bơi ngầm sát đáy...”(2) . Một hôm trời đổ mƣa to, nƣớc suối dâng cao, Cua, Ốc và cả Lƣơn

đều xin vào hang Rùa trú ẩn. Không may, nƣớc lũ lớn, xoáy tròn quanh tảng đá làm nó bị đổ

nghiêng và bít chặt cửa hang. Cua, Ốc, Lƣơn, bị sặc nƣớc, còn đang

(1) Tô Hoài - Tuyển tập văn học thiếu nhi tập 1, NXB VH, H, 1997. tr 335. (2) Nguyễn Kiên - Chú đất nung, NXB Kim Đồng, tr 73.

60

hoảng hốt thì Rùa vẫn bình tĩnh, chờ nƣớc rút khỏi lòng hang. Khi lòng hang đã ráo nƣớc

"Rùa đứng dạng bốn chân, tỳ vai (hay nói đúng hơn là tỳ góc mai ) vào cạnh tảng đá chặn

cửa hang, hích một cái. Tảng đá lăn kềnh ngay xuống vũng nước". Được cả bọn vỗ tay tán

thƣởng, Rùa thích chí "lật mình, phơi yếm lên, ngoe nguẩy bốn cái chân bơi chèo trong vũng

nước". Cơn lũ đã tan, Lƣơn và Cua, ốc vội vã xin phép ra về để dọn dẹp nhà cửa. Nƣớc càng

lúc càng rút dần, Rùa cố lật sấp trở lại nhƣng không tài nào cất nổi mình. "Rùa cố thêm chút

nữa, cái cổ bác ta vươn dài ra, cả bốn chân cũng thò dài ra, quẫy mạnh theo mọi hướng,

nhưng cái mai vẫn chỉ hơi xoay đi hoặc khẽ bập bênh, như cái ghế đu bập bênh của vườn

trẻ". Đang lo lắng đến bủn rủn cả ngƣời thì cái mai Rùa bỗng nhẹ dần. Bác ta quẫy mạnh và

lật sấp lại đƣợc. "Bên cạnh chỗ Rùa nằm ngửa tênh hênh lúc nãy, có cái lỗ nhỏ và sâu hút,

nước từ dưới sâu đùn lên đục ngầu. Thôi đúng rồi, đúng là chú Lươn đã đào hang ngược về

được đến nhà chú ta: mực nước trên ấy cao hơn mặt đất dưới này, nước theo hang Lươn mới

đùn lên được ở đây. Hú vía! Lần đầu tiên trong đời Rùa, Rùa biết giật mình đánh thót!" Đặc

điểm ấy, đến giờ họ nhà Rùa vẫn còn giữ.

Việc sử dụng đồng thoại khai thác đề tài khoa học của các nhà văn đã giúp thiếu nhi

mở rộng vốn kiến thức còn ít ỏi, nảy ra nhiều tƣởng tƣợng kỳ thú, ƣớc mơ mạnh mẽ. Những

mẩu truyện hay, chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ và lý thú nhƣ vậy rất cần xuất hiện nhiều

hơn nữa trong các sáng tác dành cho trẻ nhỏ.

1.2. Cuộc sống muôn loài không ngừng biến hóa, mới lạ trong mắt con ngƣời. Cái đẹp

và sự phong phú của thiên nhiên không gì có thể sánh đƣợc. Vô vàn loài chim, loài cá, giống

chó, họ mèo cùng tồn tại bên cạnh xã hội loài ngƣời. Hơn một vạn họ bƣớm khác nhau cùng

sinh sống trên trái đất: Bướm vàng, Bướm trắng, Bướm đen, Bướm nâu, Bướm Rồng, Bướm

Ma... Ngay trong một nhà Gà cũng có biết bao nhiêu là loại: Gà Gi, Gà Tơ, Gà Chọi, Gà

Trống, Gà Mái... với muôn dáng vẻ, tính nết, môi trƣờng sinh sống khác nhau. Mỗi loài có

một đời sống riêng, dù giàu tƣởng tƣợng đến

61

mấy trƣớc sự phong phú của thiên nhiên, vạn vật, con ngƣời chúng ta đều phải lạ lùng, kinh

ngạc. Nhà văn Tô Hoài với tƣ cách của một ngƣời đi trƣớc, gửi đến các em những hình ảnh

diệu kỳ đó của tạo hóa nhằm bồi đắp thêm cho thiếu nhi cả về hiểu biết lẫn sự phong phú

trong tâm hồn. Thế giới động vật sống động và kích thích nhận thức trẻ biết bao ! Mỗi con

một vẻ, một đời sống riêng, chẳng con nào giống con nào.

Mèo hay lừ đừ nghiêm nghị "có vẻ đạo mạo như một ông đứng tuổi", đi đứng khoan

thai, nhẹ nhàng. Ngoài dáng đẹp, Mèo còn có tài bắt Chuột. Đôi lúc Mèo bắt Chuột không

phải vì đói và cần thức ăn mà chỉ để đùa chơi tiêu khiển thì giờ, do đó trong dân gian ta có

câu: "Mèo vờn Chuột". Suốt đời Mèo chỉ làm mỗi một việc là tìm diệt Chuột, kẻ thù không

đội trời chung của chúng. Diệt Chuột chính là nhiệm vụ và sở thích của Mèo.

Họ nhà Gà cũng sống gần cũi con ngƣời nhƣng không sạch sẽ và đƣợc yêu quý nhƣ

Mèo, do đó không đƣợc tự do ra vào nhà mà chỉ đƣợc quanh quẩn ngoài sân, ngoài vƣờn, hay

trong chuồng của mình. Gà mái là những bà mẹ rất mực thƣơng con. Các chị Gà rất tự hào

với thiên chức làm mẹ của mình, mỗi lần nhảy ổ đẻ xong thƣờng “cục ta cục tác giòn giã" có

ý khoe với xóm làng mình đã công phu, khó nhọc lắm mới đẻ đƣợc một chiếc trứng. Gà mẹ

rất ham ấp trứng. Ấp chăm chỉ đúng hai mƣơi mốt ngày liền cho đến khi gà con cựa quậy mổ

vỏ ra ngoài mới thôi. Trong khi Gà trống tính nết và cách sống trái hẳn. Chúng chỉ hay làm

dáng, tán tỉnh, chẳng có trách nhiệm với con cái và chỉ đảm nhận một nhiệm vụ duy nhất là

đánh thức mọi ngƣời bằng tiếng gáy lanh lảnh " Ò! Ó ! O" của mình.

Sống gần gà, vịt, nhƣng Ngan đần độn, chậm chạp và lì hơn những con vật kia nhiều.

Mặt mũi Ngan lúc nào cũng lầm lầm lì lì, ngơ ngơ, ngác ngác mỗi khi cất bƣớc thì "đôi chân

khụng khiệng đi lối vòng kiềng lại đu đưa bước tất cả mình" Ngan lại còn là một loài vô tâm,

Ngan mẹ không biết nhƣờng nhịn, yêu thƣơng và bảo vệ con nhƣ Gà. Diều Hâu quắp lấy một

con Ngan bay đi, tìm nơi thả xuống, mổ thịt, Ngan con kêu gào thảm thiết thế mà Ngan mẹ

chỉ nghểnh cổ nghe, liếc mắt nhìn rồi lại "cúi xuống mổ cỏ và lúc lắc cái đuôi của mụ". Nếu

là Gà thì thể nào nó cũng sống chết

62

vì con, xù lông, đánh nhau ngay với kẻ thù. Ngan đực cũng có những đặc tính riêng không

giống con cái. Loài này "đực bao giờ cũng lớn hơn mái". Các chàng Ngan bạch toàn thân

"trắng muốt", cuối mỏ "xùi lên những mụn đỏ, dày bì bì, đỏ tía như màu hoa mào gà." Chúng

rất bƣớng bỉnh, bị ngƣời rƣợt đuổi chỉ thủng thỉnh rảo bƣớc, lắm lúc còn quay đầu lại thò cổ

toan mổ ngƣời ta. Mấy anh Vịt tuy có họ hàng xa gần với Ngan nhƣng lại rất nhát, gặp ngƣời

chỉ biết ngẩn tò te ra nghe ngóng để rình bỏ chạy.

Gà, Vịt và cả Ngan đều có chung thú vui trong ăn uống, chúng thích bới bậy, kiếm ăn

ngoài vƣờn, giữa bụi cây ngọn cỏ. Vƣờn cải, vƣờn rau của chủ chỉ cần để cửa ngỏ là chúng

cứ tha hồ vào xơi tự nhiên, nhấm nháp lá xanh, non, mềm cho mát ruột. Chúng sống giản dị

nhƣ vậy, không cần suy nghĩ nhiều, lo lắng nhiều.

Trong các động vật tự nhiên, chim đƣợc nhắc đến khá nhiều trong các trang sách của

Tô Hoài với một tấm lòng yêu thƣơng. Có những loài chim rất tinh khôn, biết giúp ngƣời,

biết tránh cạm bẫy và những kẻ độc ác, lại biết tìm đến nơi yên vui. Tản mát trong các truyện

khác nhau của Tô Hoài, bóng dáng chim hiện lên thật sinh động, cụ thể, mỗi giống đƣợc mô

tả với những hình ảnh, động tác khác nhau. Gi đá cần cù, sống dè dặt, bình lặng, ít ồn ã. Sẻ

láu táu luôn mồm kêu lải nhải. Sáo mỏ ngà thích đậu trên lƣng trâu bắt ruồi, bắt ve, gãi lƣng

cho trâu. Vành khuyên lúc nào cũng ríu rít vui vẻ, chuyên nhặt sâu, chữa bệnh ghẻ lở cho cây.

Bồ nông mỏ to bè, chân vàng xuộm thích phiêu du, giang hồ, trời lạnh thì xuống phƣơng

nam, khi nắng ấm, lại trở về miền bắc trái đất. Những con liêu điếu "tranh luận choang choác

như cãi nhau". Chim gáy hiền lành, béo mƣợt, tƣợng trƣng cho sự no ấm...

Mỗi loài chim có một nơi trú ngụ riêng, chúng không xây nhà nhƣ con ngƣời hay đào

hang nhƣ dế, mà làm tổ để trú ngụ. Chim Gi xây nhà rất cẩn thận:

"Chàng đặt móng cho nếp nhà mới bằng một lớp rạ. Rồi chàng đi tìm ở những bẹ cau

và bẹ dừa lấy những sợi dây rất nhỏ. Việc tha nhũmg sợi dây này vẫn là việc của những

người chồng chịu khó. Chàng đem về, đánh đai

63

rất xinh, vòng trong những cuộn rạ, dựng thành một khung tròn hình lòng tổ.

Cái lòng tổ êm ái đã hoàn thành, sau ba ngày chịu khó"(1).

Công trình "xây dựng" của đôi chim khi đã đƣợc hoàn thành "ở trên trông vào, tựa

hình một cái rổ bé tí tẹo của trẻ con chơi" với chiếc mái che nắng che mƣa bằng "lá chuối và

cẳng rạ" xinh không kém. Cách làm tổ của chúng thật tự nhiên mà cũng rất công phu.

Mỗi con đều đƣợc tác giả tập trung giới thiệu với những nét đặc trƣng nhất, đầy đủ

mà không dài dòng, lê thê. Cách giới thiệu thế giới loài vật này của nhà văn chẳng những

giúp các em mở mang kiến thức mà còn đem đến cho trẻ hơi thở cuộc sống ngồn ngộn. Tiếng

gà gáy, tiếng chó sủa, chim kêu, vang vọng trong các truyện đều làm ta nhƣ nghe đƣợc những

âm thanh toát ra từ bên trong của sự vật, nêu bật đƣợc bản chất của sự vật. Các tác phẩm đã

khéo léo đƣa độc giả vào trong cuộc sống bí ẩn của loài vật, cuộc sống ấy đã gắn liền với tất

cả cuộc sống của con ngƣời.

Lòng yêu thƣơng muôn loài, ý thích sống gần gũi với thiên nhiên chắc chắn từ đấy

cũng sẽ hình thành trong tƣ tƣởng trẻ em. Tác giả đã mạnh dạn và tự tin vận dụng vốn sống

của mình vào các sáng tác. Ông viết chân thật, giản dị nhƣ những gì cuộc sống vốn có. Với

tác giả, giáo dục phải gần gũi cái gì thật của cuộc sống, phải là cuộc sống thì mới có tác dụng.

Có thể nói mỗi trang sách thiếu nhi viết về loài vật của nhà văn là một bông hoa thơm nhiều

sắc màu, dáng vẻ, góp phần mở rộng không giới hạn cho tâm hồn trẻ tùy từng độ tuổi. Nó đi

sâu vào thế giới cảm xúc của trẻ em, thâm nhập vào cả tƣ duy, lý trí giúp các em sẽ vững

vàng, thông minh và sống có ích cho đời trong cuộc sống mai này.

(1) Tô Hoài - O Chuột - Đôi Gi Đá, NXB VN, TPHCM. 1995, tr 41.

64

2. Tình cảm

2.1. “Văn học là nhân học", học văn là học làm ngƣời. Trẻ em đọc sách nói chung và

sách văn học nói riêng để tìm đến những chân trời kiến thức mới, những kinh nghiệm và cách

sống mà các em chƣa từng trải qua. Các em háo hức đến với từng quyển truyện, chính qua

trang sách, nhờ vào đôi mắt nhìn nhận sự việc của nhà văn mà trẻ hiểu đƣợc bản chất của sự

vật hiện tƣợng, chiều sâu của tâm hồn con ngƣời. Nắm đƣợc đặc điểm tâm lý đối tƣợng, nhà

văn Tô Hoài đã không ngừng đa dạng hóa đề tài, đƣa cuộc sống muôn hình, muôn vẻ vào tác

phẩm, giúp các em khám phá, cảm nhận cái đẹp từ cuộc sống chung quanh mình. Cái đẹp sẽ

giúp tâm hồn con ngƣời phong phú hơn, đó thật sự là món ăn tinh thần quý giá cần thiết cho

lứa tuổi thiếu nhi. Đọc các truyện ông viết, trẻ em thấy những vật thể xung quanh mình tƣơi

vui, trong sáng, cảm xúc lành mạnh dâng trào. Đây cũng chính là dụng ý của tác giả, truyền

cho các em lòng yêu thương thế giới cỏ cây loài vật, môi trường thiên nhiên xung quanh mình

để từ đó hƣớng tới một mục tiêu rộng lớn hơn: tấm lòng hướng thiện, yêu cái đẹp và biết

sống đẹp nơi trẻ.

Thƣởng thức các truyện Ba anh em, Dế Mèn phiêu lưu ký, ngoài không khí vui

nhộn, sôi nổi tràn ngập trong lòng, các em còn thấy phấn chấn muốn làm một việc gì đó tốt

đẹp, có ích cho mọi ngƣời, biết trân trọng và yêu thƣơng những con vật bé nhỏ quanh mình.

Trong truyện Dế Mèn phiêu lưu ký. Dế Mèn, Xiến Tóc đã bị trẻ em bắt về làm trò chơi.

Chúng rất buồn. Xiến Tóc bày tỏ nỗi niềm qua lời tâm sự: "Bọn trẻ đem tôi về thành phố.

Đường xa những bao nhiêu ngày, tôi không biết. Vì họ nhốt tôi vào một cái hộp kín bưng cùng với năm bạn xấu số nữa và cứ nhốt mãi như thế. Có bạn tôi chết vì ngạt thở. Vốn quen

ăn vỏ cây, giờ bọn trẻ ngớ ngẩn không biết gì về thức ăn của Xiến Tóc, cứ nhét vào đầy cỏ,

có khi cả cục cơm, miếng xương, tôi không nuốt được. Tôi nhịn ăn hàng tháng trời mà họ

cũng vô tình, không biết nốt". Lời thở than của Xiến Tóc trong truyện trên chắc hẳn sẽ khắc

vào tâm hồn trẻ thơ một niềm cảm thông sâu sắc. Con vật - đặc biệt là chó - sống có tình cảm,

nhận biết đƣợc cách đối xử

65

của con ngƣời với chúng. Vện trong " Ba anh em " cho rằng bị xích là khổ hình số một. "Nó phản đối. Nó nhai xích. Nó nhá thừng. Nhưng xích thì bằng sắt, thừng thì bằng đay. cắn nhá

lắm chí tổ rách mép đau răng thôi. Sau một hồi ghè nhai, cậu cả lại mệt lử, nằm nhoài ra thở

phì phò". Tác giả không bình luận hay đề cập gì đến những cách cƣ xử con ngƣời dành cho

vật, nhƣng trẻ em sẽ tự hiểu qua lời bộc bạch của các nhân vật "loài vật" này. Các em sẽ nhận

ra, loài vật cũng nhƣ con ngƣời, luôn khao khát đƣợc sống tự do. Chúng cần đƣợc sống trong

môi trƣờng của mình. Con ngƣời cần tránh cách ly vật ra khỏi xã hội của chúng dƣới mọi

hình thức.

Nhà văn Tô Hoài gửi gắm những điều muốn nói với thiếu nhi vào mỗi tác phẩm của

mình. Truyện ông viết không phải chỉ là những trang sách giải trí đơn thuần mà còn thấm

đƣợm ý nghĩa giáo dục, khi nhẹ nhàng, kín đáo, lúc lại cụ thể. Tô Hoài không phải là nhà văn

viết truyện ngụ ngôn do đó tác phẩm của ông không bao giờ là những lời giáo huấn khô khan,

công thức gò ép. Thông qua cốt truyện và hình tƣợng nhân vật. Tô Hoài truyền cho các em

những cảm xúc đẹp từ hình ảnh, ngôn ngữ văn chƣơng để dẫn dắt trẻ thơ đến với những giá

trị tƣ tƣởng, thẩm mỹ cao đẹp. Những bài học giáo dục ông nhắn gửi trong truyện dần dần

đƣợc hình thành, khắc sâu vào tâm trí thiếu nhi một cách hồn nhiên, nhẹ nhàng mà sâu sắc.

Rồi đây trong những dấu vết in lên tâm hồn ngây thơ nhƣ “tờ giấy trắng” của trẻ thơ sẽ có

dấu vết sâu đậm của những trang sách ấy.

Đến với các mẩu truyện ngắn: Gấu ăn trăng, Bàn Quý và ngựa non, Mùa xuân đã

về đấy... các em sẽ đƣợc chiêm ngƣỡng những vẻ đẹp trong đời sống tự nhiên và vẻ đẹp của

thế giới câu chữ dạt dào cảm xúc, lung linh ẩn hiện trên từng trang giấy, trữ tình hơn hiện

thực. Những chú Gấu, Ngựa... trong các câu chuyện trên khắp thế giới đều rất đáng yêu! Ở

Việt Nam cũng vậy, từ rất xa xƣa, chúng đã đƣợc con ngƣời yêu quý và ca ngợi. Trong các

câu chuyện cổ, những bài thơ, câu hát của đồng bào ngƣời dân tộc, Ngựa, thậm chí cả Trâu,

Bò đã xuất hiện một cách cao quí. Hình ảnh những con vật này xuất hiện với một số lƣợng

khá phong phú đã phản ánh phần nào tín ngƣỡng và phong tục tập quán cổ xƣa. Trong tâm

linh của

66

nhiều dân tộc một số con vật rất linh thiêng. Ngƣời Việt (dân tộc Kinh ) thờ phụng hình ảnh

của giống Rồng, tự hào cho mình là "con rồng cháu tiên"; ở Tây Nguyên ngƣời dân tộc Xơ

Đăng, Gia Lai, Ba Na lại quý Cóc; ngƣời Mƣờng Thái, Giơ Rai thì tôn sùng Rùa... Trong

những bài ca phản ánh hiện thực đời sống tinh thần của ngƣời Tày, Nùng thƣở xƣa còn lƣu lại

những bài ca ngợi Ngựa, Trâu - những con vật thỏa mãn đƣợc hai yêu cầu vật chất và tinh

thần cho nhân dân lúc bấy giờ, chẳng hạn nhƣ bài:

Ca ngợi Ngựa.

Nhất tôi mừng đàn ngựa lao xao.

Ngựa trắng, ngựa hồng mai đẹp đẽ

Ngựa bạn khéo tập dạy thuận tàu

Ngày ngày bạn lên rừng cắt cỏ.

Ngựa hí như tiếng sấm tiếng trời.

Nắng lửa ! Đến giữa ngày ra tắm

Suốt năm, trai đẹp dạy ngựa hay.

Ngựa bạn cưỡi ruỗi đường nhanh quá!

Cổ ngựa vẽ Anh Đài: "mĩ nhân"

Bàn đạp vẽ "kỳ lân" đối miệng

Đệm yên vẽ những gấm hoa sen

Hai bên vẽ yến, oanh "tả hữu"

Đai hậu bện bằng chỉ màu hồng.

Lót yên đặt trên yên liền cưỡi

Thắng đai buộc chặt chẽ khắp mình ( ngựa )

Nhạc cổ ngựa rung rang tiếng " ngoảng"

"Lả tỉ" với "bạch đàn", " kim quy"

Đai nhạc bện "mây si" hồng đỏ

Trán đeo hoa lại tạc mảnh gương

Nếu có việc lớn lao không ngại

Lập tức cưỡi đến nơi không chầy

67

Ngựa bạn cưỡi đi chơi phiên chợ.

Ngựa bạn cưỡi như bướm tháng ba.

Tôi là người đàng xa xin mừng(1).

Trong các bài ca này ta thƣờng thấy hiện tƣợng "lời nhiều, ý ít ", bởi lẽ đối với nhân

dân ta ngày ấy những con vật này rất thân quen, rất cần thiết trong cuộc sống hàng ngày của

họ. Với các đối tƣợng "đẹp" này dẫu có ca ngợi đến bao nhiêu họ cũng cảm thấy không đủ,

chƣa đủ. Con ngƣời muốn thể hiện tấm lòng yêu quý muôn vật của mình nhiều hơn nữa, xứng

đáng với giá trị của chúng hơn nữa.

Thế còn những chú Ngựa con, Gấu trong truyện Tô Hoài thì thế nào? Chúng đƣợc

sống trong môi trƣờng thiên nhiên tuyệt đẹp, có những đặc tính và cách biểu lộ tình cảm

không lẫn lộn vào đâu đƣợc. Những chú Ngựa đƣợc miêu tả đều còn rất nhỏ, bé bỏng nhƣ

những ngƣời bạn của các em vậy. Ngựa Con tính tình rất giống trẻ nhỏ, cứ thích lẩn quẩn,

"lóc cóc" sau chân mẹ. Đƣợc con ngƣời tin dùng, Ngựa con cũng "hí hửng ra mũi", "cái mũi

ngựa ướt bóng, đen nhẫy, chốc lại hếch lên". Ngựa Con vui vì nghĩ mình đã lớn, đã làm đƣợc

những việc có ích, đem lại niềm vui cho con ngƣời. Đặc biệt loài Ngựa có trí nhớ rất tốt, con

đƣờng đã đi qua dù chỉ một lần thì xa đến mấy lần sau Ngựa vẫn biết lối đi về. Bàn Quý theo

bố đi chợ phiên, lúc về trời tối dần, trông cái gì cũng khác với ban ngày làm cậu bé thấy sợ.

Bàn Quý cứ ngỡ Ngựa Con có thể lạc đƣờng, nhƣng không Ngựa Con cứ cất vó đều đều, mắt

vẫn "sáng lóe", về đến nhà Ngựa Con "vẫn khỏe, không mỏi chân, vẫn như thường". Tai

Ngựa cũng rất thính. Ngựa Con của A Kềnh trên đỉnh Tà Sùa trong truyện Mùa xuân đã về

đấy đã cho chú bé và các bạn đọc nhỏ biết tài đó của mình. Một lần thấy Ngựa con ung dung

nhai cỏ, A Kềnh đã

(1) Đặng Văn Lung chủ biên - Nghiên cứu văn nghệ dân gian, NXBVHDT, HN, tập 1, tr 358.

68

nhớ và muốn đi thăm mẹ đang đi làm ruộng xa ở tận Phiêng Quảng không? A Kềnh trông ra

phía trƣớc mặt nhìn thấy bên dƣới núi là thung lũng cánh đồng Phiêng Quảng đang mù mịt

trong sƣơng, lòng thất vọng. Ngựa con " lắc lắc tai" nói " mai trời nắng to", "tớ đã nghe dưới

ây có tiếng gió thổi. Gió đuổi sương tan đi thì ngày mai trời nắng". Thế là A Kềnh biêt thêm

một điều mới "tai ngựa ve vẩy được (giỏi hơn tai người không ve vẩy được), lại biết nghe

xa". Ngựa Con nghe đƣợc tiếng chim hót, nghe đƣợc tiếng gió thổi xa tận núi bên kia, và

đánh hơi rất tài. Ngựa mẹ đã theo chủ xuống thung lũng làm ruộng từ tháng trƣớc nhƣng

Ngựa Con chỉ cần ngửi hơi mẹ và đi theo là đã có thể đƣa A Kềnh đến đúng nơi. Mùi hƣơng

hoa quế, hoa đào từ tận trên Tà Sùa đƣa xuống Ngựa Con cũng đánh hơi thấy. "Đúng như

Ngựa Con nói. Lên tới cửa rừng, ngước trông thấy các núi, hoa dó trắng từng chùm, hoa đào

trên núi đỏ hây, đỏ thắm. Mùa xuân đã về đấy. Bây giờ A Kềnh thêm biết phục cái tai, cái

mũi Ngựa Con"(1)

Thế giới riêng của loài vật với những nét độc đáo làm trẻ em đọc mãi không thấy

chán, càng đọc càng thấy những con vật quanh mình sao mà thân thiết, đáng yêu và gần gũi

đến thế!

2.2 Bên cạnh việc truyền thụ kiến thức, mở rộng tầm hiểu biết cho trẻ, nhà văn Tô

Hoài còn giáo dục các em rèn luyện những tính nết tốt cần có ở một ngƣời học sinh. Thông

qua cá truyện: Võ sĩ Bọ Ngựa, Dê Mèn phiêu lưu ký..., tác giả giúp các em biết mạnh dạn

nhận và sửa chữa khuyết điểm của mình. biết sống có nề nếp, kỷ luật ngay từ khi còn ngồi

trên ghế nhà trƣờng, biết yêu thƣơng con ngƣời và cuộc sống quanh mình.

Những truyện này đi vào miêu tả khá sâu sắc quá trình phân biệt đúng sai của các

nhân vật. Tính cách các nhân vật "loài vật" đƣợc khắc

(1) Sđd, tập 2, tr. 121.

69

họa rõ nét một cách thật tự nhiên, hợp lý. Tác giả dẫn dắt bạn đọc nhỏ tuổi đi sâu vào thế giới

nội tâm phức tạp của con vật mà cũng chính là của thế giới ngƣời. Tô Hoài đã hóa thân vào

sự sống của vật và đồng thời đƣa lại cho thế giới vật sự sống của ngƣời. Những quan sát và

cảm nhận tinh tế của ông giúp ngƣời đọc mở rộng cảm giác, nhân đôi các giới hạn sống trong

xã hội. Con ngƣời nhận ra bóng dáng mình trong đời sống sinh hoạt của loài vật. Thói kiêu

ngạo, hống hách xem thƣờng ngƣời khác của Dế Mèn cũng thƣờng hay xuất hiện ở lứa tuổi

các em, nhất là đối với trẻ có năng lực và thông minh hơn bạn bè đồng tuổi. Nếu không đƣợc

chấn chỉnh, uốn nắn sớm, các em sẽ khó sửa sai và cảm thấy cô độc, bị xa lánh vì không hiểu

đƣợc mọi ngƣời cũng nhƣ không đƣợc mọi ngƣời hiểu mình. Đó là một thiệt thòi không đáng

có và tai hại biết bao cho trẻ. Nắm bắt đƣợc hiện thực này nhà văn Tô Hoài đã quan tâm,

chăm sóc thế hệ trẻ ngay từ thƣở còn thơ. Âu đó cũng là tâm huyết của những ngƣời cầm bút

có tấm lòng vêu mến thiếu nhi.

Trƣớc Tô Hoài đã có rất nhiều nhà văn trên khắp thế giới viết truyện ngụ ngôn về loài

vật để khuyên dạy trẻ nhỏ. Thơ ngụ ngôn của La Phôngten, truyện cổ Anđecsen, truyện ngụ

ngôn của L. Tônxtôi... đều là những sáng tác hay về loài vật. Các nhà văn dƣờng nhƣ hiểu

đƣợc tiếng nói của loài vật, thiên nhiên. Những truyện ngụ ngôn của L. Tônxtôi về con sếu

rút cái xƣơng hóc trong họng sói, về con cáo không với đƣợc chùm nho, đều lý thú đối với trẻ

em cũng nhƣ ngƣời lớn. Các truyện này bao giờ cũng chứa đựng một sự chế giễu sắc nhọn

nhƣ lông nhím, hay một sự ngăn ngừa dữ tợn nhƣ sƣ tử. Đó là những bài học không bao giờ

bị lãng quên. Trong truyện ngụ ngôn, hành động và tính cách nhân vật chính là những lời

giáo huấn dành cho các em nhỏ. Câu chuyện "Chuồn chuồn và kiến" của Tônxtôi đƣợc viết

thật ngắn gọn nhƣng chứa đựng nhiều điều bổ ích cho các em nhỏ đọc và học tập.

"Đến mùa thu, lúa mì của kiến bị ẩm ướt, họ nhà kiến đem ra phơi. Chuồn chuồn đói

đến xin thức ăn. Kiến mới bảo:

- Sao mùa hè anh không đi nhặt thức ăn ?

70

Chuồn chuồn đáp:

- Chẳng có thời giờ rảnh rỗi: tôi bận hát.

Họ nhà kiến bật cười và bảo:

- Nếu như mùa hè chơi bời rồi, thì mùa đông nhảy múa đi"(1).

Mỗi truyện là một bài học quý, ngƣời đọc có thể suy ngẫm, vận dụng vào hoàn cảnh

sống của mình.

La Phôngten - nhà thơ lỗi lạc của nƣớc Pháp thế kỷ 17 cũng đã để lại cho hậu thế

hàng trăm bài thơ ngụ ngôn hóm hỉnh, mang tính luân lý rõ rệt. Nhân vật trong thơ ngụ ngôn

La Phôngten phần nhiều là các con vật quen thuộc, tất cả đều mang tính cách con ngƣời cụ

thể trong xã hội. Nhà viết ngụ ngôn dù có kể về ai đi nữa thì trƣớc hết ông vẫn nhằm nói với

trẻ em. Có lẽ vì thế mà các nhân vật của ông dƣờng nhƣ chỉ là hình ảnh những em bé đeo

chiếc mặt nạ. Thỉnh thoảng, cái mặt nạ ấy lại mở ra lóe sáng những đôi mắt nghịch ngợm,

thông minh của trẻ thơ. Trong số 38 truyện trích từ tập "Truyện ngụ ngôn" của ông có đến

36 bài mƣợn chuyện loài vật để nói chuyện ngƣời. Ta thấy có 33 truyện đƣợc tác giả kết thúc

bằng một lời giáo huấn hoặc một kết luận, đúng với đặc điểm của truyện ngụ ngôn nhằm giúp

các em hiểu rõ hơn điều ông muốn nói. Những câu kết truyện thƣờng ngắn và giản dị và có

sức thuyết phục nhƣ:

"Dù cho đói khổ, nhưng mình tự do.

Còn hơn nhàn rỗi ấm no,

Làm thân nô lệ, tự do chăng còn."(2)

(1) Lép Tônxtôi - Kiến và chim bồ câu, NXB cầu vồng, Mátxcơva, 1984, tr 72 (2) Văn Qua chọn dịch - Truyện ngụ ngôn La Phôngten, NXB Thanh Niên, H, 2000, tr 14.

71

hay :

"Xưa nay tham quá thành liều,

Cho nên chì mất kéo theo cả chài!”(1)

hoặc:

"Đừng chê những cái con con

Kẻo khi gặp phải cái còn tệ hơn.

Sống ở đời chẳng nên kén quá,

Kén quá thường lỡ cả dịp may!"(2)

Trẻ em còn đƣợc đọc và học tập rất nhiều điều bổ ích từ những lời giáo huấn nhƣ vậy

trong truyện ngụ ngôn La Phôngten.

Bên cạnh đó cũng có truyện tác giả nói đến những chuyện đạo lý nhƣng thực ra lại

phản đạo lý, ngụ ý chính của các truyện này có thể đƣợc hiểu theo nhiều cách, nhiều quan

niệm. Khỉ và Mèo là một trong số các câu chuyện đó:

"Khỉ và Mèo ngồi bên bếp lửa,

Mùi dẻ tây lùi giữa thơm lừng.

Khỉ ta thèm quá muốn ăn,

Tìm cách lợi dụng thổi phồng Mèo lên:

"Này anh bạn giỏi giang tài cán

Lửa phừng phừng trông ngán làm sao!

Cách bới dẻ nướng ra sao,

Anh hãy thi thố mẹo này thật hay.

Anh xứng đáng là thầy tôi đó,

Hãy dạy tôi và chớ tiếc công!"

(1) Sđd, tr. 50. (2) Sđd, tr. 58.

72

Mèo nghe Khỉ nịnh, bốc đồng,

Chẳng nề lửa bốc than hồng bếp nung.

Nó lấy vuốt móng từng quả một,

Một quả rồi hai quả, rồi ba.

Trong khi đó nó mải bới ra,

Thì Khỉ sẵn đấy chén no sướng mồm.

Có người vào chúng liền bỏ chạy,

Mèo ngoái nhìn thấy chẳng còn chi.

Giận quân ăn bám lọc lừa,

Biết mình dại dột quyết chừa từ nay.

Kẻ thì lúi húi bới tìm,

Kẻ thì hưởng thụ chẳng nhìn đến ai”(1)

Thông qua mẩu chuyện nhỏ giữa Khỉ và Mèo, tác giả đã nêu lên một nhận xét thực tế

về xã hội. Những kẻ ranh ma, lém lỉnh, biết cách lừa ngƣời khác đôi khi cũng gặp may mắn

và có cuộc sống sung sƣớng. Những điều nghịch lý nhƣ vậy vẫn thƣờng diễn ra trong đời

sống hàng ngày. Bằng kinh nghiệm của một ngƣời từng trải, ông muốn kể lại những câu

chuyện đó để nhắn nhủ cho mọi ngƣời hiểu luân lý ở đời không phải lúc nào cũng rạch ròi.

Tuy nhiên, những bất công sẽ không tồn tại nếu con ngƣời biết hƣớng thiện, biết sống trong

tình yêu thƣơng nhân loại. Những bài học và quan niệm về đạo nghĩa ở đời ấy sẽ không bao

giờ thừa đối với thiếu nhi. Sự cuốn hút của loại truyện này đối với các em cũng xuất phát từ

lẽ đó.

Nếu sức mạnh của truyện ngụ ngôn là sử dụng cách nói bóng gió để diễn đạt điều

muốn nói thì sức mạnh của truyện đồng thoại lại nằm ở chỗ ý nghĩa triết học thƣờng đƣợc

ngụ sau câu chuyện phong phú với các tình

(1) Sđd, tr. 73.

73

tiết ly kỳ và những lời văn đẹp đẽ, dồi dào chất thơ.

Tô Hoài chú trọng chức năng giáo dục trong văn học nhƣng ông không đi theo con

đƣờng của các nhà văn ngụ ngôn. Nhà văn có cách viết riêng của mình. Những ngụ ý của ông

trong tác phẩm đƣợc bao bọc bởi lối tả chân rất tinh tế về thuộc tính của con vật. Các em nhỏ

đọc đồng thoại của Tô Hoài đƣợc tận hƣởng trọn vẹn cả hai phần: cảm xúc và tƣ duy. Hình

ảnh, câu chữ trong truyện hiện lên đẹp đẽ, trong sáng kích thích trí tƣởng tƣợng, bồi dƣỡng

tình cảm và khả năng cảm thụ thẩm mỹ của trẻ thơ. Nội dung truyện sâu sắc, giúp các em

nhận thức đƣợc bản chất các hiện tƣợng xã hội, chiều sâu của tâm hồn con ngƣời. Có lẽ nhờ

vậy, truyện thiếu nhi của Tô Hoài không bao giờ chán ngắt và khô khan đối với trẻ nhỏ. Đề

cập đến thú phiêu lƣu của Dế Mèn hay chuyến rong chơi của Bọ Ngựa tác giả đều nhằm vào

mục đích giáo dục. Ngƣời viết dành cho trẻ em những bài học quý giá làm hành trang vào

đời. Mỗi con vật trong truyện Dế Mèn phiêu lưu ký đƣợc thể hiện chân thật với những phẩm

chất tốt xấu nâng tính giáo dục của tác phẩm lên một mức. Ở lứa tuổi thiếu nhi, khả năng suy

nghĩ của các em đã phát triển, giúp các em nhận rõ hành động đúng sai là một điều cần thiết.

Quan hệ giữa Dế Mèn và những con vật xung quanh thuở chú ta còn khờ dại đã đƣợc tác giả

đặc biệt nhấn mạnh. Dế Mèn khỏe mạnh, thông minh nhƣng chỉ biết sống vì mình. Mèn có

ngƣời hàng xóm là Dế Choắt "bẩm sinh đã yếu đuối" nên dù trạc tuổi nhau nhƣng Dế Mèn

vẫn xem thƣờng và chế giễu bạn. Dế Mèn chỉ biết lên mặt dạy đời: "chú mày có lớn mà

chẳng có khôn" mà chẳng màng đến những khó khăn của Dế Choắt. Dế Choắt ốm đau luôn,

không thể đào hang sâu hơn cũng không biết cách khoét ra nhiều ngách nhƣ hang Dế Mèn

bèn đề nghị đƣợc giúp đỡ. "Anh đã nghĩ thương em như thế thì hay là anh đào giúp cho em

một cái ngách sang bên nhà anh phòng khi tối lửa tắt đèn có đứa nào đến bắt nạt thì em chạy

sang". Dế Mèn nghe xong không từ chối ngay. Mèn chẳng mảy may cảm thông còn mắng

nhiếc bạn và bỏ ra về một cách thản nhiên. Nó chọc mụ Cốc làm mụ tƣởng Dế Choắt trêu

mình nên đã trừng phạt Choắt không thƣơng xót: "Choắt quẹo xương sống,

74

lăn ra". Dế Mèn sau khi chui tạt vào hang nằm khểnh, nghe thấy sợ quá nằm im thin thít, đợi

mụ Cốc bay đi mới dám "mon men bò lên". Dế Mèn không dám huênh hoang nhƣ lúc đầu

nữa. Tận mắt chứng kiến cái chết oan của Choắt, Dế Mèn bắt đầu hối hận, trong lòng tự nhủ

từ nay sẽ chừa thói ngông nghênh, hợm hĩnh ấy. Bài học đầu đời của chú ta cũng chính là nỗi

xót xa day dứt không nguôi: "Tôi đem xác Dế Choắt đến chôn vào một vùng cỏ bùm tum. Tôi

đắp thành nấm mộ to. Tôi đứng lặng giờ lâu, nghĩ về bài học đường đời đầu tiên"(1).

Đó là những lời tâm sự rất chân thành của Dế Mèn. Mèn tự nói với mình nhƣng cũng

là nói với bạn đọc, nhất là bạn đọc nhỏ tuổi. Hãy cẩn thận, chớ mắc vào thói kiêu ngạo, hung

hăng, hỗn xƣợc nhƣ Dế Mèn để phải nhận hậu quả. Bài học sống quý báu đã đƣợc khơi gợi từ

truyện: biết mình, biết ngƣời, đoàn kết, khiêm tốn, biết yêu thƣơng giúp đỡ mọi ngƣời để sau

này khỏi ân hận, đau xót.

Cũng trong tác phẩm trên, xã hội loài Kiến với cách sống có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật

cao, yêu lao động và tinh thần đoàn kết là những hình ảnh đẹp cho các em noi theo "Kiến có

nhiều đức tính: chăm chỉ, cần cù, biết lo xa". Kiến sống khắp nơi, đông đúc, mỗi loài Kiến có

một nhiệm vụ riêng: Kiến Gió giỏi khuân vác xây dựng, đôi khi cần cũng là những chân chạy

báo tin nhanh nhẹn; Kiến Lửa dựng hào lũy rất khéo "các đường hầm phủ mảng đất luyện

thật mỏng trên mặt thành đều do Kiến Lửa xây"; Kiến Đen là những tay thám tử. Bị các cô bé

học trò dội nƣớc làm tan hoang xóm làng thế mà Kiến vẫn không nản lòng quyết tâm làm lại

từ đầu. Mới sáng sớm, trong khung cảnh trơ trọi đã thấy lổm ngổm những anh kiến xây dựng

"những tay thợ chăm chỉ và cần mẫn, có anh trôi suốt đêm mới trở về được, mình còn ướt

lướt thướt mà đã ra đào lũy mới, nhẫn nại và chăm việc quá." Cả đàn kiến cứ thế mải miết,

cắm cúi làm, chẳng anh nào ngó ra.

(1) Sđd. tr. 22.

75

"Sự gian khổ và chịu đựng còn in trên từng cái bóng Kiến lủi thủi, đều đều vác đất. Và trong

vào các lỗ, Kiến còn kéo ra đi dòng dài tưởng không bao giờ ngớt. Kiến có thói quen đi một

hàng, trước sau, nghiêm ngặt. Sấm sét mưa gió khủng khiếp tưởng chết hết đêm qua, nhưng

không phải, lúc nào kiến cũng kỷ luật nghiêm"(1). Hình ảnh sinh động và những đức tính rất

đặc trƣng của xã hội Kiến đã làm nảy sinh trong các em sự so sánh, liên hệ bản thân, ý muốn

bắt chƣớc, học hỏi điều hay. Sống trong xã hội nào cũng vậy ý thức trách nhiệm đối với cộng

đồng của mỗi cá nhân rất quan trọng. Phải biết tuân thủ theo những quy định nguyên tắc

chung nhất định để duy trì trật tự xã hội. Phải biết yêu quý lao động, lao động sẽ giúp cuộc

sống ngày càng văn minh, phát triển và phồn thịnh. Còn gì đáng quý hơn một dân tộc có

những công dân siêng năng, chăm chỉ nhƣ vƣơng quốc Kiến.

Nghệ thuật ảnh hƣởng đến con ngƣời lâu dài, dần dần, nó có khả năng gieo vào tâm

hồn trong trắng của thiếu nhi những ý thức về sự xấu xa của tội ác đồng thời giúp các em biết

cách phòng tránh, ngăn ngừa, đấu tranh chống lại cái ác, cái xấu đó. Văn học giúp hình thành

nhân cách, phẩm chất đạo đức của con ngƣời. "Mèo già hóa cáo" và "Đám cưới chuột" viết

trƣớc năm 1945 đều là những câu chuyện ngụ ngôn của một nhà giáo dục tài năng. Chuyện

của hai chú mèo con tinh nghịch Mimi và Tam Thể trong tác phẩm Mèo già hóa cáo chỉ là

mẩu chuyện ngắn nhƣng không vì thế mà kém mới lạ, hấp dẫn các em. Mimi và Tam Thể

"mới sinh ra khoảng mùa đông năm ngoái. Đến bây giờ chưa đầy một năm." Mất mẹ khi còn

rất nhỏ nên hai chú Mèo dù láu lỉnh, thông minh, vẫn mang tính ngỗ ngƣợc do thiếu ngƣời

dạy bảo. Rỗi rãi, chúng bày trò chọc ghẹo những ngƣời bạn cùng nhà. Chúng thì thào vào tai

nhau, đồng lòng trêu chó Nhôm cho chó phải ăn đòn chủ nhà một phen. Biết chó Nhôm cơm

ăn không đủ no, chúng giả đò bày mẹo cho Nhôm bằng vẻ thân tình giả tạo: "Ta mách cho

chú nhé: đằng cuối chạn, ông chủ để một rá cơm nguội. Bây

(1) Sđd , tr. 197.

76

giờ chú ra trèo lên chạn, cứ việc húc mõm vào ăn cho kỳ no hãy thôi. Chén xong chú vào

trong nhà trông thấy ông chủ thì thưa: "Thưa ông, tôi xơi no nê rồi". Ông ấy sẽ gật đầu, bằng

lòng. Sáng mai, chú lại cứ việc đàng hoàng trèo lên cuối chạn, hẩy mõm ăn như thường."

Nhôm đáng thƣơng quá đỗi thật thà có ngờ đâu mình đang nghe lời những kẻ tai ác, bị đòn

một trận đau đớn, chó chỉ còn biết khóc, nƣớc mắt tuôn ròng ròng. Lừa cho chó bị đánh đòn,

hai con Mèo hả hê lắm, chúng rắp tâm trêu chọc Nhôm thêm. Với những tên rỗi việc nhƣ

chúng thì việc tìm trò chơi mới không gì khó khăn. Chúng rối rít gọi mẹ Nhôm báo tin bịa

đặt: "Thằng Nhôm ngã chết đuối ở ngoài ao kia!". Mẹ Nhôm đang nóng lòng vừa gặp con

chơi vẩn vơ ở bờ sông đã mắng ngay "mụ vừa cắn vừa ngoặc cổ con. Nhôm tức quá. Bởi vì

Nhôm quả tình là oan. Từ sáng, Nhôm vẫn nằm chơi trên bờ. Thế mà mẹ Nhôm đánh". Vừa

giận hai tên Mèo hại mình, vừa đau bị mẹ đánh, Nhôm kêu toáng lên bỏ chạy. Nhà ầm cả lên

vì tiếng chó sủa, ông chủ đang ngủ say giật mình dậy, tức điên ngƣời nện cả hai mẹ con. Hôm

sau ông sai anh Cai Vƣờn lôi Nhôm con lên chợ bán. Mẹ con Nhôm bỗng dƣng phải xa nhau.

mỗi ngƣời một ngả, đau buồn thay! Gây xong việc độc ác ấy Mimi, Tam Thể ngấm ngầm vui

thích cho còn lấy làm vui thú, lại tìm trò mới để tinh nghịch.

"Giá là như trẻ con các nhà thì chúng đã cắp sách đi trường mà học tập. Nhưng dốt

như mèo, như chó, như bò, đã tai tiếng, không có trường dạy mèo. Thành thử hai con Mèo

nhỏ chỉ rủ nhau đi chơi nhăng". Mãi đến khi chúng ngờ lão mèo Mƣớp đã hóa cáo, ăn thịt hai

con gà con và đƣợc bà mèo Mƣớp khuyên bảo thì hai đứa mới tỉnh ngộ "... mèo cũng có thể

hóa cáo thực. Song chỉ có những đứa như chúng bay, sau này già tất hóa cáo. Bởi vì chúng

bay là những quân vừa lười vừa độc ác. Chúng bay trêu chó. Chúng bay ăn nhái. Chúng bay

đuổi gà. Vì chúng bay đuổi gà mà hai con gà nhỏ lọt chân xuống sàn mà chết chẹt ở trong

chuồng. Rồi chúng bay sẽ hóa cáo. Tao báo cho mà biết như vậy. Có liều liệu sớm tu tỉnh lại,

không

77

rồi hóa cáo đấy". Buổi sáng, hai con Mèo ra vƣờn thấy gà con quả nhiên do kẹt chân vào khe

sàn mà chết, chúng thấy sợ bà lão Mƣớp và ân hận. Đây là lần đầu tiên có ngƣời răn dạy

chúng, làm chúng ngẫm nghĩ. Các em cũng vậy, đọc xong không khỏi thấy lòng vƣơng vấn!

Đó cũng là bài học đắt giá dành cho các em. Phải biết vâng lời dạy dỗ, học tập kinh nghiệm

của ngƣời đi trƣớc để tránh những việc làm có thể gây hậu quả đáng tiếc cho mình và cả

những ngƣời xung quanh.

Trẻ em thƣờng suy nghĩ với những hình ảnh rõ ràng cụ thể, do đó cách kể chuyện của

tác giả đã tạo đƣợc ấn tƣợng sâu sắc trong lòng các em. Những trang sách của ông dìu dắt trẻ

em bằng con đƣờng riêng của tuổi thơ, với những kinh nghiệm, phát kiến quý giá và là nền

móng xây dựng tƣ tƣởng, quan niệm đầu đời cho trẻ. Phê phán là ẩn ý của tác giả nhƣng đọc

kỹ ta lại thấy bao trùm truyện là tiếng nói của tình yêu thƣơng. Đúng nhƣ lời nhà bác học

Bađalian từng nói: "trong sự hình thành nhân cách con người, những yếu tố cảm xúc đáng kể

hơn những yếu tố trí tuệ". Trong quá trình trƣởng thành của trẻ em, ngƣời lớn đóng vai trò

giáo dục quyết định, do đó cần có cái nhìn hợp tình hợp lý về lứa tuổi này. Ngoài những biện

pháp ngăn ngừa thói xấu nơi trẻ, chúng ta cũng phải biết bản chất của các em là tốt lành. Các

em vẫn là trẻ thơ, những đứa trẻ đáng yêu nhất, cần đƣợc bảo ban, khuyến khích làm việc tốt.

Biết tìm ra mặt tốt của các em để động viên bên canh việc khiển trách về khuyết điểm là trách

nhiệm ngƣời cầm bút.

Đối tƣợng trẻ lớn hơn một chút, ở tuổi thiếu niên, cũng đƣợc nhà văn Tô Hoài quan

tâm dành cho nhiều tác phẩm hay. Tiêu biểu có truyện Đám cưới Chuột.

Đám cưới Chuột là truyện đƣợc viết theo chuyện Tranh Chuột ngày Tết. Truyện đề

cập đến cách sống và những vấn đề khó giải quyết của họ

78

nhà chuột. Cậu Chuột nhắt tuy diện mạo có phần xấu xí "thân mình chú dài không được bằng

ngón tay", "bốn chân như bốn cái tăm lũn cũn", chiếc mõm thì "nhọn hoắt, hai hàng râu

cứng tua tủa" và mắt nhỏ, lồi ra nhƣng học rất giỏi. Hơn ba trăm học trò của các tỉnh đi thi,

Chuột nhắt đỗ ngay hàng thứ ba. Thử ông, Thử bà cùng họ hàng quyết định lo đám rƣớc vinh

quy bái tổ cho cậu. Đám rƣớc sẽ vui vẻ trịnh trọng biết bao nếu không có tiếng: Meo! Meo!

của lão Mèo. "Anh vác loa cút trước nhất. Mấy thằng cầm cờ cũng quẳng cờ mà chạy. Và

mấy tên rước biển "Vinh Quy" đều ù té chuồn". Bọn khiêng kiệu nghe tiếng thần chết sau

lƣng liền buông phịch kiệu xuống làm Chuột nhắt ngã chỏng vó không dậy đƣợc. Kết quả là

công tử Chuột bị thọt mất một chân, bị mất vợ . Cha con lão viên ngoại Chuột Chù biết con rể

tƣơng lai thọt chân đã thẳng thừng từ hôn. Đang lúc khổ sở, buồn bã, Mèo lại gây tai nạn cho

nhà Chuột. Gã chộp trúng lƣng Thử bà làm bà lão tắt thở. Muốn báo thù cho mẹ, Chuột Nhắt

tìm sang Chuột Cống kể lể ý định trả thù viên quan ngoại. Nhƣng Chuột cống sáng suốt đã

chỉ cho cậu ta thấy đâu là kẻ thù đích thực của mình. "Bởi đâu mà tất cả họ nhà Thử chúng ta

phải khổ sở đến thế này. Chỉ bởi tại thằng Mèo. Phải đánh đổ cho kỳ được thăng Mèo"(1).

Truyện chính là bài học lớn vê cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề. Phải biết giác ngộ để từ

đó hình thành lý tƣởng và có trách nhiệm thực hiện lý tƣởng của mình. Con ngƣời cũng vậy

nếu không tìm ra đƣợc ngọn nguồn gây nên đau khổ, bất hạnh thì sẽ không thể nào tự cứu

thoát mình nổi. Tuy nhiên xác định nguyên nhân không chƣa đủ, ngƣời ta còn phải biết tìm ra

phƣơng cách giải quyết vấn đề thích hợp, nếu không chỉ chuốc thêm thất bại. Loài Chuột biết

Mèo là kẻ thù nhƣng chúng không tìm đƣợc phƣơng cách khả dĩ tiêu diệt kẻ thù, cho nên suốt

đời Mèo mãi mãi là cơn ác mộng của Chuột. Một câu chuyện, trong bản thân nó thƣờng chứa

nhiều tầng nghĩa, mỗi lớp nghĩa đúng với những thời kỳ, hoàn cảnh nhất định. Ngày ấy, khi

viết truyện, Tô Hoài chỉ muốn

(1) Sđd, tập 1. tr. 439.

79

gửi ẩn ý "toàn dân đoàn kết, đánh Pháp đuổi Nhật". Tuy nhiên sẽ không có gì bất ngờ nếu

cách tiếp nhận tác phẩm của độc giả nhỏ tuổi ngày nay đơn giản và thực tế hơn. Có lẽ ý nghĩa

giáo dục trong truyện của ông đối với thiếu nhi đã vƣợt cả mong đợi và ý định ban đầu.

3.2. Trong một số truyện, nhà văn Tô Hoài đã hòa hợp nhuần nhuyễn chất lãng mạn

của một nghệ sĩ và sự thông thái của một ngƣời am hiểu động vật. Ông khai thác và phát triển

những chủ đề truyền thống nhƣ truyền thuyết, thần thoại... Những câu chuyện cổ trong dân

gian luôn khơi dậy lòng khao khát muốn hiểu biết, khám phá thế giới mênh mông, vô tận của

các em. Nắm đƣợc tâm lý đó, Tô Hoài chủ trƣơng viết lại các câu chuyện ấy dƣới một ánh

sáng mới nhằm làm thi vị hơn những truyện kể loài ngƣời sẽ truyền lại cho con cháu. Không

phải là không có lý do khi mà sách ông viết cho trẻ em cũng đƣợc ngƣời lớn đón đọc một

cách say sƣa. Ồng đã vận dụng trí tƣởng tƣợng giúp cho sự suy nghĩ, biến những hiện tƣợng

khó hiểu, phức tạp trong tự nhiên thành rõ ràng, dễ hiểu. Đôi lúc, tác giả còn có những sự liên

tƣởng kỳ thú đến bất ngờ để lý giải cho những sự vật diễn ra trƣớc mắt con ngƣời. Đến với

loại đề tài này, ta thấy có các truyện: Ông trạng Chuối, Gấu ăn trăng, Núi Gấu...

Nhìn núi Gấu ở thành phố Yanta bên bờ biển Bắc Hải "... trái núi giống con gấu cao

gồ, đầu gấu cúi xuống mặt biển, như gấu đương uống nước Bắc Hải...", tác giả nghĩ ngay về

một câu chuyện dí dỏm. Có một cô bé bị đắm tàu, trôi dạt vào bờ nhờ cái cột buồm và những

mảnh ván. Đàn gấu ở trong rừng đi ra trông thấy cô, trong đó có một con tha đến cho bé một

nạm khoái ong. Từ đó, hàng ngày cô cùng đàn gấu vào rừng kiếm sống. "Những quả lê, quả

táo, quả lựu, quả mận rừng với mật ong, với trứng kiến đã nuôi cô bé lớn lên như thổi". Một

ngày đẹp trời kia, có một chiếc thuyền cùng chàng trai lạ cập vào bờ, họ trò chuyện thật lâu

rồi đƣa xuống thuyền. Cả đàn gấu luống cuống đuổi theo, "chàng gấu đã tha mảng khoái ong

ngày năm xưa ấy càng bồn chồn, bồn chồn nhất. Gấu chạy xô xuống bờ nước. Nhưng gấu

không bơi ra biển được. Gấu nghĩ ra một cách. Gấu khuỵu

80

hai chân trước xuống mặt và mũi sát mặt biển, nhìn ra biển. Chàng gấu há miệng, há to.

Chàng gấu quyết uống cho đến khi Hắc Hải cạn hết nước. Quyết làm cho chiếc thuyền đem

cô gái đi mắc cạn, phải dừng lại."(1) Chàng gấu uống mãi mà nƣớc biển vẫn còn đầy, do đó

khi đã mất đi, gấu cứ giữ nguyên dáng vẻ nhƣ thế và cái tên Núi Gấu ra đời.

Truyện Ông Trạng Chuối cùng nằm trong chủ đề này, đƣợc tác giả viết khá công

phu. Ngoài các sự kiện, diễn biến quen thuộc của câu chuyện Sơn Tinh chiến thắng Thủy

Tinh đã có từ rất xa xƣa trong dân gian, Tô Hoài còn viết tiếp một câu chuyện ly kỳ về chàng

Thủy Tinh. Sau khi bại trận trƣớc Sơn Tinh, Thủy Tinh trên đƣờng chạy trốn bàn tay Thiên

Lôi, đã gặp một cô gái. Thủy Tinh ôm chặt lấy nàng để Thiên Lôi sợ đánh nhầm ngƣời mà

tha cho. Nhờ sự giúp đỡ ấy, Thủy Tinh thoát nạn, chàng đền ơn bằng cách tặng nàng một

viên ngọc quí. Sau đêm mƣa gió đó, nàng mang thai và hạ sinh một con cá Chuối xinh xắn,

biết nói tiếng ngƣời. Nghĩ đây là con mình nên cô gái không thấy sợ hãi, đƣa vào chậu nƣớc

nuôi khôn lớn. "Chuối ngày một lớn, một đẹp. Đầu Chuối nổi vân hoa lên. Khắp mình, vảy

vờn như mây bay. Cái đuôi tròn xoè ra, to như chiếc vảy lá vả, in hình từng nan xương nhỏ

tựa cái quạt điều".

Chẳng bao lâu, tin tức về con cá Chuối biết nói, khôn ngoan, lan truyền đi khắp nơi.

Ngƣời hiếu kỳ kéo đến xem rất đông, trong đó có cả ba chị em con quan tể tƣớng họ Triệu.

Cá Chuối phải lòng ngƣời em út tên Hoa, nhờ mẹ sang nhà nàng xin hỏi cƣới. Ông Triệu

nghe xong lấy làm lạ, nhƣng vẫn soi ba ngƣời con đến hỏi ý. Hai cô chị đều tỏ ý dè bỉu, chê

bai, chỉ có cô Út ƣng thuận. Mặc dù rất không bằng lòng. ông Triệu vẫn không muốn ép con,

ông ra điều kiện:

"Phải đem đến đầy đủ đồ sính lễ, ba mươi lạng vàng ròng cùng với năm mươi viên

ngọc trai mò ở rốn bể Đông."

(1) Sđd, tập 2, tr 178.

81

Cá Chuối nói mẹ lấy viên ngọc năm xƣa cha tặng ra, nhờ nó đƣa đƣờng về Thủy

Cung. Thoáng chốc, Chuối đã có đủ đồ sính lễ và đón nàng Hoa về làm vợ. Đêm hôm ấy,

Chuối hóa thân thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú trƣớc sự vui mừng không xiết của mẹ

và vợ. Đến ngày giỗ bà Triệu, Chuối dặn vợ cứ về nhà, mình sẽ theo sau, nhƣng đừng báo

cho ai biết trƣớc. Khi quan khách đã tề tựu đông đủ, Chuối bƣớc vào "mình vận áo lam, đầu

đội mũ đính từng tràng hạt ngọc quí, nét mặt tuấn tú". Ít lâu sau, Chuối thi đỗ trạng nguyên,

hai cô chị thấy thế sinh lòng ghen tỵ, thừa lúc trạng Chuối đi đánh giặc, họ bày mƣu hại nàng

Hoa. Bọn họ rủ nàng đi chơi thuyền rồi bất ngờ xô xuống giữa dòng sông chảy xiết. Về nhà,

họ bảo rằng nàng bị nạn. Trạng Chuối trở về, thoạt nghe vô cùng thảng thốt, nhƣng thấy điệu

bộ hai ngƣời chị có phần khả nghi, đã kín đáo điều tra. Chàng nuốt ngọc, rẽ nƣớc, bƣớc

xuống lòng sông. Gặp lại vợ nơi Thủy cung, chàng nhận ra dã tâm của hai ngƣời chị, liền đặt

vợ ngồi vào một chiếc rƣơng lớn đƣa về kinh đô, tặng cho những kẻ gian ác kia. Hai ngƣời

chị vừa hí hửng mở rƣơng, nàng Hoa liền bƣớc ra, cất tiếng chào hỏi. Hai ngƣời con gái độc

ác "bủn rủn, cúi gầm mặt, rồi ngã ngất xụp xuống". Họ hối hận nhƣng đã muộn. "Hối hận

đêm ngày đã dày vò con người nham hiểm. Rồi chẳng bao lâu cả hai cùng ốm chết"(1).

Cách viết của Tô Hoài rất gần lối viết truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc. Những tƣ

tƣởng "ở hiền gặp lành", "trọng nghĩa khinh tài" trong truyện Tô Hoài, đã góp phần làm

phong phú tƣ duy trẻ thơ.

Trung thành với nguyên tắc sáng tác của mình, trong bất kỳ giai đoạn, thời điểm nào,

mỗi khi đặt bút viết cho các em điều đầu tiên ông quan tâm vẫn là làm thế nào truyền tải vào

tâm hồn con ngƣời những cái hay, cái đẹp nhất. Ông biểu dƣơng, ca ngợi những việc làm tốt,

phê phán triệt để những hành vi đen tối, xấu xa. Cái tốt, xấu trong truyện của nhà

(1) Sđd, tập 1, tr. 502, 503.

82

văn Tô Hoài bao giờ cũng đƣợc biểu hiện rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu với lứa tuổi các em. Qua

quá trình theo dõi, quan sát hoạt động, lao động, diễn biến tâm tƣ tình cảm của các con vật,

thiếu nhi đã rút ra đƣợc rất nhiều bài học bổ ích cho bản thân. Truyện của ông đã giúp các em

tiến một cách chắc chắn và tự nhiên trên con đƣờng đi đến trƣởng thành.

83

CHƢƠNG 3: NHỮNG SÁNG TẠO VỀ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

Tô Hoài từ lâu đã trở thành ngƣời nghệ sĩ đi vào quần chúng với tất cả tấm lòng thiết

tha, trìu mến. Ông là một nhà văn có nghề, yêu nghề, và luôn tìm tòi, sáng tạo cho mình một

dấu ấn riêng trong phong cách. Ánh sáng tỏa ra từ tác phẩm của Tô Hoài là thứ ánh sáng bình

dị, nhƣng không kém phần trong trẻo, gợi cảm. Trong các sáng tác dành cho thiếu nhi suốt

nửa thế kỷ qua, phong cách Tô Hoài luôn bền vững: dí dỏm, trẻ trung, mới lạ. Nếu nhƣ

Nguyễn Tuân có phong cách sang trọng cầu kỳ; Thạch Lam tinh tế, tài hoa; Nam Cao nồng

nhiệt một cách lạnh lùng; thì Tô Hoài lại hết sức bình dị. Văn của ông đẹp nhƣ một bông hoa

đồng nội, ẩn chứa trong mình nét duyên ngầm, thu hút ngƣời đọc, sống mãi trong ký ức độc

giả nhƣ các tập truyện: Dế Mèn phiêu lưu ký, O Chuột.... Tính dân tộc thể hiện rất rõ nét và

đậm sắc thái trong những sáng tác của ông. Ngƣời đọc có thể tìm thấy trong đó không khí của

làng quê Việt Nam, nét sinh hoạt, phong tục tập quán cổ xƣa của dân tộc thông qua ngôn ngữ

giản dị, trong sáng. Nhắc đến Tô Hoài, ngƣời ta không thể không nói đến khả năng sáng tạo

ngôn từ của ông. Nếu ví tác phẩm văn chƣơng của nhà văn Tô Hoài nhƣ một bức tranh thì

ngôn ngữ văn chƣơng chính là đƣờng nét, dáng vẻ, tạo nên nét đẹp cho ngƣời hay cảnh đƣợc

vẽ trong tranh.

I. Nghệ thuật ngôn từ

Giống nhƣ tất cả các nhà văn khác, đối với Tô Hoài, trong nghề văn thì lao động câu

chữ là một nhiệm vụ quan trọng. Văn chƣơng là nghệ

84

thuật ngôn từ. Những cảnh ngộ, sự kiện, tính cách nhân vật đƣợc tái hiện từ cuộc sống vốn rất

đa dạng, muôn màu, muôn vẻ, đòi hỏi ngƣời viết cần có nghệ thuật biểu hiện phù hợp. Trong

Nghệ thuật và phương pháp viết văn, nhà văn Tô Hoài từng nói: "... tôi không hạn chế đưa

vào văn tôi những tiếng địa phương ở bất cứ miền nào trong nước mà tôi xét tiếng đó có khả

năng phổ biến toàn quốc. Cũng như, tôi thường sáng tạo ra tiếng, nếu tôi nghĩ những tiếng

ấy dễ hiểu và dễ phổ biến. Những cách ấy làm phong phú, giàu có thêm cho ngôn ngữ văn

học”(1.)

Nhà văn Tô Hoài là một trong những ngƣời đến với nghề cầm bút không phải từ lý

luận, sách vở, từ vốn kiến thức thu nhận qua trƣờng lớp mà từ thực tế cuộc sống của nhân dân

lao động và bằng sự nỗ lực của chính bản thân mình thông qua con đƣờng tự học. Xuất thân

trong một gia đình làm nghề thủ công, khi bắt đầu sáng tác, những chuyện "trong nhà, ngoài

ngõ" nghiễm nhiên trở thành đề tài quý giá đối với ông. Trong đó ông học tập cả lời ăn tiếng

nói của nhân dân lao động.

1- Ngôn ngữ quần chúng

Nhà văn Tô Hoài quan niệm: " Ngôn ngữ quần chúng là kho của cải vô giá, là nguồn

bổ sung vô tận cho nhà viết tiểu thuyết"(2). Đọc tác phẩm của ông ta thấy có sự pha trộn

phƣơng ngữ. Trong nhiều tập truyện, các từ ngữ, lối nói địa phƣơng đƣợc ông sử dụng, khai

thác triệt để.

Trong tập truyện O Chuột, các con vật đều xuất hiện trong bối cảnh nông thôn nên tác

giả đã dùng rất nhiều từ ngữ trong tiếng nói hàng ngày của nhân dân. Đi "tơ mơ", " lơ tơ mơ -

ngất ngưởng", " rà rà", "ngoe nguẩy"; Ăn "vô hồi kỳ trận", "ngoem ngoém", " xoàn xoạt";

Nói " lải

(1) Sđd, tr. 198. (2) Nguyễn Công Hoan - Hỏi chuyện nhà văn, NXBTPM Hà Nội, 1978, tr 59.

85

nhải", " láu táu"; Nằm " quay lơ"; Bỏ trốn "xểnh"; Chạy "bán xác", "cung cúc", " te tái".

Tính cách thì có: "ranh thượng hạng", "quái ác dị thường", "ma lanh" ...

Tả cảnh đôi Gi Đá hoảng hốt khi nhìn thấy có nhiều ngƣời trong khu vƣờn mình làm

tổ, tác giả viết :

"Họ vừa làm vừa cười cười, nói nói ồm ồm, cả đàn ông lẫn đàn bà. Thấy thế, vợ

chồng nhà Gi Đá sợ hết vía. Không dám bén mảng về nữa. Nói của đáng tội, chiều hôm đó

cậu mợ cũng về. Nhưng ở sân vẫn còn tíu tít ồn ã những người, nên lại phải vội vàng bay đi".

Tô Hoài luôn sử dụng từ một cách chọn lọc. Mỗi chữ ông viết đều gắn liền với nội

dung, phù hợp với bối cảnh câu chuyện. Những từ ngữ đƣợc nêu trong đoạn văn trên tuy rất

bình dân nhƣng đƣợc tác giả sử dụng hoàn toàn thích hợp. Các con vật trong truyện, vốn sống

ở nông thôn, do đó ngôn ngữ của chúng phải là ngôn ngữ làng quê. Chúng không thể có cách

nghĩ, cách nói nhƣ ngƣời thành thị.

Đọc truyện Tô Hoài, ta thấy có rất nhiều tiếng địa phƣơng. Trong đó ngôn ngữ vùng

quê Nghĩa Đô - nơi tác giả sinh sống thuở nhỏ có ảnh hƣởng mạnh mẽ đối với ông.

Chẳng hạn "xốc" có nghĩa là ăn. Ăn nhanh, ăn vồ vập để thỏa mãn cái đói của các con

vật:

"Mụ Ngan xô đến. Đàn con cũng tất tả chạy theo. Chúng len, đun, tranh nhau trèo

vào chậu ngô. Mẹ chúng đứng ngoài xốc cành cạch từng hột nhỏ một"; "chúng tỉa từng lá,

xốc ngoem ngoém"; "chúng nằm rệp cả xuống giữa luống mà xốc xoàn xoạt"(1).

Hay nhƣ từ "rức tai" diễn tả nỗi khó chịu khi bị bắt buộc phải nghe những gì mình

không thích " ... những tên Chuột, tất cả lò nhà Chuột, chỉ đáng đem thân làm nô lệ cho loài

Mèo thần thánh. Thế mà cái giống thấp

(1) Tô Hoài - O Chuột, NXB VN, TP HCM, 1995, tr 67.

86

hèn ấy không biết điều lại cứ hay tắt mắt, táy máy, bặng nhặng làm nghịch mắt và rức tai

người bề trên"; " Đời đời, cái giống Chuột Nhắt ta, quái cứ làm rức tai loài Mèo"(1).

Nhà văn không dùng từ bó lúa hay bông lúa mà là "lượm lúa", một từ ít gặp ở những

miền quê khác.

" Dưới gốc cây hồng bì lộn xộn bao nhiêu là người. Khắp sân, đầy đống những lượm

lúa vàng rượi. Người ta kê một chiếc cối đá hổng đáy ra đấy. Từng lượm lúa chắc nịch cặp

vào hai thanh tre rồi người ta đập lên cối đá từng hồi, cho thóc rơi vung vãi ra bốn phía"(2).

Ngoài ra, ta còn bắt gặp nhiều từ đƣợc tác giả học tập từ lời ăn tiếng nói hàng ngày

của nhân dân vùng này nhƣ:

Đôi mắt ốc nhồi của nó linh hoạt như có dầu trơn trong cặp con ngươi màu nâu đùng

đục. Chả biết bộ mắt ấy có phải là lẳng không, thế mà vô lủng các chị em láng giềng cảm

Đực ra phết"(3).

"Bây giờ chàng đi tìm lá khô. Chẳng biết chàng mò mẫm thế nào mà tha về được từng

nạm lá ruồi, đem chất lù lù cả lên xung quanh thành tổ".

"Vừa sà xuống cây hồng bì, anh Gi Đá đã hoảng hốt buông rời mấy chiếc lá, cuống

cuồng nhào lên, bay tít tắp ra tận ngoài đồng. Chị vợ cũng nhớn nhác ruổi theo"(4).

"Lặc co cẳng đá phốc cho anh Ngan đực một đá. Thằng nỡm bắn bổng lên, chúi rấp

vào khe giậu "(5).

(1) Sđ d , tr 9 . (2) Tô Hoài - O Chuột - Đôi Gi Đá, NXB VN, TP HCM, 41. (3) Sđd, tr. 84. (4) Sđd, tr. 41. (5) Sđd, tr. 77.

87

" Con chó được buông lỏng, hống lên, hục hặc chạy đi. Nó đến nằm rấp ở một xó bụi

ô rô mà rên hừ hừ"(1).

Tô Hoài rất chủ động với ngòi bút của mình và sử dụng nó một cách thành thạo. Bút

pháp của ông linh hoạt, thích nghi với từng hoàn cảnh từng trƣờng hợp. Khi miêu tả dáng vẻ

lam lũ, mệt nhọc của đôi chim Gi tác giả sử dụng các tính từ:

"Trông một Gi Đá chỉ bằng nửa chim sẻ. Vừa như chiếc hạt mít mập mạp, có chút

đuôi. Đôi mắt nâu lờ đờ. Cặp mỏ ngắn, cục mịch thây lẩy trước đôi mắt như một viên cuội

xam xám".

"Không hiểu nàng Gi Đá đã có con lần nào chưa, chứ thực trông nàng chẳng được

gọn mấy. Đầu bơ phờ. Lông bụng bạc phếch. Cườm ngực, cườm cổ không đen nhánh và

bóng mượt như của chàng. Có cái lối của những người đàn bà xười xĩnh, khi còn thì con gái,

ăn mặc xốc xếch, chẳng thiết đến điểm trang gì nữa "(2).

Các tính từ trên đã tạo đƣợc một chuỗi hình ảnh chuyển động trƣớc mắt ta. Nàng Gi

Đá không xinh xắn, không chải chuốt và mang nét tính cách của những ngƣời phụ nữ nông

thôn xƣa. Khi đã có chồng, phải vất vả kiếm sống, họ không còn thiết trang điểm, làm đẹp

cho bản thân mình nữa.

Do luôn có ý thức học tập ngôn ngữ nhân dân, nên đi đến đâu, đọc đƣợc những gì

hay, nhà văn Tô Hoài đều chi chép lại cẩn thận. Ông vận dụng vốn ngôn ngữ ấy vào tác phẩm

của mình, sáng tạo nên những câu văn độc đáo, mới mẻ.

Ngƣợc lại khi miêu tả cảnh đẹp, cuộc vui, tác giả không ngại nói nhiều, đƣa đúng lúc

hình ảnh, màu sắc, nhạc điệu vào khiến câu văn bừng

(1) Sđd, tr. 88. (2) Sđd, tr. 39.

88

sáng.

Các chị Cào Cào áo xanh áo đỏ làm duyên đứng nghiêng khuôn mặt dài ngóng nhìn

theo chúng tôi một đỗi rất lâu, tỏ vẻ mến phục. Tất cả tung cỏ, tung hoa may. Đồng dân cử

bài hát rầm rộ. Rồi cùng nhau mừng rỡ cầm tay khiêu vũ. Cành Cạch với Châu Chấu, Cào

Cào với Bọ Muỗm nhảy múa linh đình. Từ trong hang, trong lá ra đến ngoài bãi, ngoài

đồng, hoa may trắng suốt chân trời.

Tôi bước lên đài, uốn éo múa càng, rung cánh, trổ một bài hát rất du dương. Trũi thì

hớn hở hơn ai hết. Thì ra lúc nãy cu cậu im không nói gì là sợ tôi từ chối cái địa vị thủ lĩnh.

Đến khi thấy tôi nhận lời, Trũi ta hét inh lên, múa rối rít hai càng, khiến những bác Cành

Cạch nhút nhát, mới đầu cũng sợ đáo để"(1).

Từ ngữ trong văn chƣơng không phải chỉ là những tín hiệu mà còn là sự tái sinh, là

linh hồn của hình tƣợng. Đọc đoạn văn trên, ta nhƣ nghe đƣợc độ rung của những âm thanh,

dồn dập, rộn rã, cảm nhận đƣợc không khí vui tƣơi, chân tình.

2- Những từ ngữ độc đáo

Nếu chúng ta ví câu văn là cách kiến trúc thể hiện ý của tƣ tƣởng chủ đề thì chữ chính

là hòn gạch để xây nên cái ý ấy. Chữ sắc sảo sẽ tạo nên tâm hồn và vóc dáng thật của câu

văn.

Ý thức rõ sức mạnh của ngôn ngữ, nhà văn Tô Hoài luôn cố gắng trau dồi và phát huy

giá trị tinh hoa của tiếng nói đời sống. Phong cách văn của ông thật sự độc đáo. Sự sáng tạo

câu, chữ, từ lời ăn tiếng nói bình thƣờng đã trở thành mạch văn riêng: hay, mới, sắc sảo của

tác giả.

Đoạn văn sau đây là một ví dụ:

"Máu nóng trong người tôi sôi sùng sục, tưởng nghe tiếng được. Biết

(1) Tô Hoài - Dế Mèn phiêu lƣu ký, NXB Kim Đồng, tr 126, 127.

89

quân này không phải quân ăn lời, tôi bèn nhảy phắt đến. Chúng tôi bắt đầu đánh nhau giữa

tiếng cười reo, vỗ tay của ba đứa trẻ"(1).

Ta vẫn thƣờng nghe những ngƣời lớn tuổi trách mắng trẻ nhỏ khi chúng không ngoan

là "hƣ", "không vâng lời" , nhƣng nói "không ăn lời" nhƣ Tô Hoài thì quả thật mới mẻ. Đó là

lời nói Dế Mèn dành cho chú Dế đối thủ của mình. Tuy bằng vai phải lứa nhƣng Dế Mèn

nghĩ mình tài giỏi, mạnh mẽ hơn nên lên giọng kẻ cả, răn bảo chú Dế kia. Không ăn lời cũng

có nghĩa là không nghe lời nhƣng mạnh hơn, dẫu có nói thế nào thì cũng không vào đƣợc tai,

không thực hiện. Tiếp thu và sử dụng vốn từ trong kho tàng đời sống tuy dễ mà khó, không

phải ai cũng nghĩ, cũng viết đƣợc nhƣ nhà văn Tô Hoài.

Trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lƣu ký, ông đã sáng tạo nhiều từ theo cách riêng của

mình nhƣ:

"Thế là, cả xóm lô nhô kéo ra. Trông những cái bụng lép kẹp và nét mặt vêu vao, tôi

đoán biết họ kéo ra làm gì . Họ xem chúng tôi có gì ăn hoặc chúng tôi có phải thức ăn được

không. Nhưng thấy chúng tôi sừng bướng, đầu mình bọc giáp sắt, chân mang khí giới nhọn

hoắt thì lại lờ vờ lảng dần":

"Ếch Cốm gọi cả xóm lại bàn cách nện chúng tôi. Nhưng buồn cười thay, xóm này

mới chỉ rỉ tai bàn bí mật mà đi tận xa xa cũng nghe rõ từng lời uôm oạp. Nói thế này, nói thế

nọ, cứ ầm ĩ rối xòe"(2).

Mỗi từ vêu vao, lờ vờ, rối xoè, đặt trong câu đều có giá trị riêng của nó. Chúng làm cả

đoạn văn sống động nhƣ đang mở mắt nhìn đời. Với khả năng sử dụng ngôn từ độc đáo, tác

giả đã làm nổi đƣợc hình ảnh, hoạt động của con vật, ghi đƣợc âm thanh, nhịp điệu của đời

sống tự nhiên.

(1) Sđd, tr. 34. (2) Sđd, tr. 91, 101.

90

Không dừng lại ở đấy, tác giả còn sử dụng nhiều từ nói trại. Nói trại là một cách nói

không đúng hẳn với âm, vần, thanh của tiếng gốc. Nhà văn dùng cách nói trại để tạo từ mới,

mang tính biểu cảm cao và thích hợp với nhu cầu diễn tả.

Khảo sát các mẩu truyện thuộc đề tài loài vật tôi nhận thấy tác giả vận dụng cách nói

này rất nhuần nhuyễn và thành công. Ông thƣờng dùng các từ : phưỡn (gần nghĩa với ƣỡn);

còng queo (gần nghĩa với cong queo); sảng sốt ( gần nghĩa với thảng thốt); lưởng vưởng (gần

nghĩa với lởn vởn); thung thăng ( gần nghĩa với tung tăng ); phớn phở ( gần nghĩa với hớn

hở, nhởn nhơ ), múa mênh (gần nghĩa với múa may)... khi miêu tả. Cách nói này đã giúp

ngôn ngữ văn chƣơng của ông phong phú, mới mẻ, độc đáo trong mắt độc giả.

" Bây giờ thì không thể bảo mụ là cô gái giang hồ gần bạc tóc mà vẫn ưa điều lá gió

chim cành được nữa. Phải gọi mụ là một bà lý nhà quê, một bà lý chỉ biết có việc tảo tần

buôn bán để nuôi con cho đi thả chim thả diều và nuôi chồng một ngày hai bữa rượu. Những

điều nguyệt nọ hoa kia, giờ tịnh cấm, mụ không có màng tới, mà còn ghét là khác. Mỗi khi có

cô mái tơ phớn phở đi qua, mụ củng đuổi đuổi, mổ mổ, túi bụi."(1)

Dùng từ phớn phở tác giả đã chỉ ra cho ta thấy dáng dấp đi lại vui vẻ, thong dong của

kẻ nhàn hạ, rất ƣa việc vui chơi. Từ này có ý nghĩa tổng quát và mạnh mẽ hơn từ " hớn hở"

hoặc "nhởn nhơ".

Ngoài các cách sáng tạo ngôn từ kể trên, nhà văn Tô Hoài có nhiều hình thức tạo từ

mới. Bằng đôi mắt tinh tế và tâm hồn nhạy cảm, ông đã viết rất hay các từ tƣợng hình, tƣợng

thanh; đặc biệt là từ tƣợng thanh mô phỏng tiếng loài vật.

Ngan ngỗng kêu: kíu ... kíu... kíu ; thở: khịt khịt ; tiếng chân đi: đạch đạch.

(1) Sđd, tr. 61.

91

Gà Chọi gáy: Cô ô ô...côô...cô...cô...ô.

Gà Trống lớn ban ngày gáy: Kéc... ke... ke...ke... hoặc Ò ó o..., ban đêm kêu: Oéc...

oéc..., tán tỉnh Gà Mái bằng những âm thanh: cộộc...cộộc..., khi ốm đau chúng lại kêu: quéc...

quéc.

Gà con mới tập gáy : Quét... ke... ke..., hoảng hốt kêu : toóc.toóc...

Gà mái cũng có tiếng nói riêng : cục ta, cục tác... và kéééc… kééé... kééé... k...éc...

k...é...é...é...c...; Gặp kẻ thù chúng lại kêu khác : oang oác, khoéc khoéc...

Gà con kêu : líp nhíp , líu nhíu..., lích rích, túc tác...

Vịt: cạp...cạp...cạp.

Lợn: ỉn ỉn...ỉn ỉn, eng éc...

Mèo : meo...meo...meo.

Chim: túc tích...túc tích, lích rích... lích rích, lích chích... lích chích, cúc cu... cúc cu.

Dế : ri... rì... ri

Ve sầu: o o i i...

Ếch, Nhái, Cóc...: .uồm uồm, oang oang..., uồm oạp..., kèng kẹc...

Dùng âm thanh để mô phỏng tiếng nói muôn loài cũng là một cách tạo cho tiếng Việt

sự đa dạng, lôi cuốn trong diễn tả. Cách dùng ngữ âm thích ứng để tả âm thanh xuất hiện rất

nhiều trong văn chƣơng Việt Nam.

Trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã viết:

Một lời nói chửa kịp thưa,

Phút đầu trận gió cuốn cờ đến ngay.

Ào ào đổ lộc rung cây,

Ở trong dường có hương bay ít nhiều.

Hai tiếng "ào ào " đã làm nổi bật âm thanh mạnh mẽ, rung chuyển cả đất trời của gió.

Nó gợi cho ngƣời ta những cảm giác thật cụ thể, nhƣ đang đƣợc tận mắt chứng kiến, lắng

nghe tiếng gió gào thét dữ dội trong cơn mƣa dông.

92

Các nhà thơ mới của Phong trào thơ Mới (1930 - 1945) cũng đã học tập và phát huy

cách viết này rất nhiều.

Nhà thơ Lưu Trọng Lư trong bài Tiếng thu có đoạn:

Em không nghe rừng thu,

Lá thu kêu xào xạc,

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô?

Trong Nhớ con sông quê hương nhà văn Tế Hanh đã viết:

Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

Bầy chim non bơi lội trên sông

Tôi giơ tay ôm nước vào lòng

Sông mở nước ôm tôi vào dạ.

Các từ ngữ mô phỏng âm thanh tƣơng tự có mặt trong hầu hết các sáng tác của nhà

văn, nhà thơ. Tuy nhiên, phải ghi nhận, sự tìm tòi, dụng công tỉ mỉ, đầy tính sáng tạo của nhà

văn Tô Hoài. Ông không sử dụng đơn thuần những từ ngữ vốn có mà còn tự mình quan sát,

khám phá tạo nên từ mới trên chất liệu cuộc sống. Ông là một trong số ít các nhà văn đạt đến

sự điêu luyện, tinh tế trong cách dùng từ ngữ. Điều đó đã phần nào lý dải đƣợc sự thích thú,

say mê của độc giả dành cho văn chƣơng ông trong suốt bao năm qua.

Lẽ đƣơng nhiên, sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật không phải chỉ dừng ở số lƣợng

từ phong phú mà còn ở khả năng nhạy cảm về ngữ nghĩa của từ, ngữ điệu của câu... Nhà văn

Tô Hoài rất chú trọng vấn đề đó.

"Buổi sáng, khi cậu Gà Gi te tái chạy ở trong chuồng ra, dẫn đầu cho ba chị gà, một

bác Ngan với một lũ con líp nhíp và mấy thím vịt, thì, ở nóc chuồng, Chọi ta cũng nhảy

xuống, hai cái chân gieo bịch trên nền sân

93

đất”(1).

Nếu tác giả dùng từ "rơi bịch", "rớt bịch", câu văn chắc hẳn sẽ rất nặng nề. Dù ý

nghĩa của các từ này gần gũi nhau, nhƣng trên phƣơng diện gây ngữ cảm thì rất khác nhau.

Các từ rơi, rớt gợi cho ta cảm giác thụ động, bị động, bị rơi, bị rớt. Trong khi đó, chàng gà

Chọi tự ý nhảy xuống, vốn đã có sự chuẩn bị sẵn sàng, do vậy tƣ thế rơi khi chạm đất là tƣ

thế của ngƣời chủ động. Tiếng gieo dùng trong trƣờng hợp này hay và chính xác hơn cả.

Ngôn ngữ đƣợc nhà văn Tô Hoài sáng tạo luôn phù hợp với những rung động của trái

tim ông. Nó cũng có đủ các cung bậc, nồng độ, sắc màu tùy thuộc vào tâm trạng nhân vật, nội

dung tác phẩm. Đó không phải là ngôn ngữ của sách vở mà là ngôn ngữ sống động của cuộc

đời. Đối với ông, câu nào, chữ nào cũng phải đƣợc dùng hết sức mình. Không riêng gì Tô

Hoài, các nhà văn nhƣ Nhất Linh, Thạch Lam, Ngô Tất Tố, Nam Cao... đều là những ngƣời

sử dụng ngôn ngữ điêu luyện. Suy cho cùng, đã là nhà văn tài năng, ngoài việc sử dụng các

hệ thống ngôn ngữ quen thuộc, mỗi ngƣời đều có sự sáng tạo ngôn từ riêng cho mình. Trong

số những nghệ sĩ tài hoa đó, ta thấy nổi lên nhà văn Nguyễn Tuân. Ông là ngƣời dụng công

hơn cả đối với lĩnh vực này. Sẽ chẳng quá lời nếu nói Nguyễn Tuân là một "bậc thầy" trong

việc sử dụng ngôn ngữ. Văn Nguyễn Tuân đôi lúc tỏ ra trau chuốt, sang trọng và cầu kỳ. Ông

là cây bút hƣớng nội nhất trong các cây bút văn xuôi lãng mạn Việt Nam. Văn chƣơng đó rất

kén chọn ngƣời đọc. Tô Hoài ngƣợc lại, viết văn giản dị, tự nhiên, nhiều đoạn rất gần khẩu

ngữ mà vẫn là văn viết. Nguyễn Tuân, nếu chỉ kể đến những sáng tác chính, thì ngoài "Vang

bóng một thời", tất cả tác phẩm còn lại đều nhƣ những bức chân dung tự họa. Ông đặc biệt

thích thể loại ký - một lối ký mới, rất riêng biệt, độc đáo, hiếm ai bắt chƣớc nổi. Trái lại, Tô

Hoài lại có

(1) Sđd, tr. 54.

94

vẻ nhƣ rất ôm đồm, đa năng. Ông có thể viết từ truyện dài, truyện ngắn, hồi ký, bút ký, kịch

bản phim, kịch... và ở thể loại nào Tô Hoài cũng tỏ rõ năng lực. Không những vậy ông còn là

ngƣời có khối lƣợng tác phẩm đồ sộ nhất trong các nhà văn Việt Nam. Làm đƣợc ngần ấy

công việc một cách trôi chảy, thành công là một trong những bí quyết của nhà văn này. Ông

và bạn đồng nghiệp Nguyễn Tuân đều là những nhà văn sử dụng tiếng Việt đại tài, là những

ngƣời gìn giữ hồn dân tộc trong tiếng nói.

Thống kê cách dùng từ miêu tả màu sắc trong truyện Dế Mèn phiêu lƣu ký, có thể

thấy ngay nhà văn Tô Hoài là một ngƣời làm việc nghiêm túc và truyện của ông là một công

trình lao động nghệ thuật công phu.

95

Màu gốc

Từ chỉ mức độ

Số lần lặp

2

2

1

1

1

1

1

Đen sẫm Đen kịt Đen ngòm Đen xì Đen sạm Đen nhánh Đen bóng

1

1

1

1

Đen

2

1

1

1

1

Đỏ chói Đỏ tía Đỏ ngòm Đỏ lòm Đỏ ối Đỗ bóng Đỏ hắt Đỏ rức Tim tím

1

Hồng nhạt

Đỏ

2

1

1

Tím Hồng

1

1

Vàng rƣợi Vàng khè Vàng mọng Vàng chóe Vàng lấp lánh

1

1

1

2

2

Vàng

2

1

2

1

1

Xanh xanh Xanh rì Xanh rực Xanh biếc Xanh ngắt Xanh trong Xanh mởn Xanh tƣơi Xanh rợn Xanh rờn

1

2

1

Xanh

1

1

Trắng bóng Trắng trẻo Trắng bàng bạc Trắng bạc Trắng phau

1

1

Trắng

Xam xám Xám trắng

1

Xám mờ

1

Nâu bóng

Xám

1

Nâu đỏ

Nâu

96

Tất cả những màu sắc nói trên hiện diện đƣợc trong tác phẩm là nhờ năng lực học hỏi,

ứng biến, thích nghi vô tận của nhà văn đối với cuộc sống. Lòng yêu đời và khả năng quan

sát tinh tế đã giúp tác giả mô tả màu sắc đầy biến hóa hấp dẫn.

Không muốn bị trùng lắp, luôn có ý chí vƣơn lên, hƣớng đến những gì hoàn hảo nhất

trong việc sử dụng ngôn ngữ là ƣu điểm của ông. Tuy nhiên sự say mê quá mức cũng tạo nên

những rắc rối không đáng có trong những trang viết của ông.

Đặc biệt là khi viết cho thiếu nhi, tác giả lại càng cần chú ý tính chuẩn mực và trong

sáng hơn nữa. Thật khó lý giải cặn kẽ và thỏa đáng cho trẻ hiểu một số từ ngữ, câu văn trong

những sáng tác của ông.

Ví dụ nhƣ từ "đói mòm " trong câu sau:

"Hai chú ngỗng còm lảng đi lủi thủi, bụng đói mòm".

Nhiều câu tác giả viết theo mạch cảm xúc, thiếu hẳn cả chủ ngữ :

"Một hôm, người ta trông thấy Mimi và Tam Thể ra nhởn nhơ ngoài ngõ. Bỗng hai

đứa thì thầm với nhau. Rồi cùng chạy miết vào trong nhà. Nét mặt vụt hớt hải, nhợt nhạt như có điều đang sợ hãi lắm."(1)

"Chúng mình đến Suối Hai từ mùa đông năm ngoái rồi. Năm ngoái, vẫn về cửa sông

Hồng ở Thụy Anh như mọi năm. Thấy những bãi sú, bãi vẹt mọi khi đã vào trong đất,

trắng xóa thành ruộng muối cả.”(2)

Ngắt câu và đặt dấu chấm câu không đúng qui tắc ngữ pháp:

" Nghĩ thế rồi, chú Bọ Ngựa leo tót xuống gốc cây. Và rún càng nhảy ra khỏi bụi cây

hoa hồng."

Những câu văn nhƣ trên có thể đƣợc chấp nhận nếu xuất hiện trong

(1) Sđd, tập 1, tr. 290. (2) Sđd, tập 2, tr. 74.

97

những truyện viết cho ngƣời lớn - đối tƣợng có thể hiểu và cảm nhận mọi vấn đề một cách

sâu sắc, khái quát. Tất nhiên, những sơ sót trên đây chiếm một phần rất nhỏ trong toàn bộ

sáng tác của nhà văn Tô Hoài nhƣng giá nhƣ tác giả chú ý hơn, thì trẻ nhỏ sẽ đƣợc học tập rất

nhiều từ cách viết sinh động của ông.

II. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện

Nhà văn Nam Cao đƣơng thời có viết: "Văn chương chỉ dung nạp những người biết

đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có"(1) . Chính

vì vậy mà những Lão Hạc, Chí Phèo, Đời thừa... cho đến ngày hôm nay vẫn còn đƣợc ngƣời

đọc đón nhận một cách trân trọng. Thế giới văn chƣơng là thế giới của sự lý giải, nghiền

ngẫm về những vấn đề cuộc sống vì vậy mà luôn đem đến cho con ngƣời cảm giác ngạc

nhiên, bất ngờ, thú vị. Có những điều ngỡ rất bình thƣờng thậm chí tầm thƣờng nhƣng lại trở

thành chân lý sống, thành quan niệm sống khi qua lăng kính nhà văn...

Toàn bộ chùm truyện loài vật của Tô Hoài chỉ thuần là những chuyện "đời thường",

"tủn mủn", loại đề tài không mới nhƣng cách nhìn của ông lại rất mới. Những liên tƣởng và

cảm giác về mối quan hệ giữa đời sống loài vật với cuộc sống con ngƣời bao phủ dày đặc

trong các truyện của ông. Tô Hoài đã "khơi những nguồn chưa ai khơi" từ những đề tài rất cũ.

Trƣớc và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, văn đàn Việt Nam không thiếu tên những tác

giả tài hoa có nhiều sáng tác hay viết cho thiếu nhi nhƣ: Nguyễn Công Hoan, Khái Hưng,

Thạch Lam, Nguyên Hồng,Võ Quảng... nhƣng không phải vì vậy mà truyện Tô Hoài bị

chìm khuất. Trái lại các truyện ông viết cho thiếu nhi vẫn lung linh tỏa sáng có phần lấn át

các tác phẩm cùng đề tài. Tại sao lại nhƣ vậy? Lý giải điều

(1) Nam Cao - Đời thừa, Tuyển tập Nam Cao tập 1, NXB VH, H, 1992

98

này theo tôi chỉ có một lý do. Đó là do phong cách rất riêng biệt và độc đáo của ông. "Phong

cách cá nhân là cái gì bền vững, xuyên suốt sáng tác của nhà văn, bao gồm cả nét tiêu biểu

về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, gắn với cá tính sáng tạo của nhà văn. Qua phong

cách ta dễ dàng nhận ra diện mạo, giọng điệu riêng của từng nhà văn. Thường chỉ có nhà

văn lớn, tiêu biểu mới tạo được phong cách của riêng mình. Có phong cách của từng tác

phẩm. Cũng có sự chuyển biến trong phong cách của nhà văn qua các thời kỳ sáng tác khác

nhau. Nhưng vô luận thế nào vẫn có một cái gì rất riêng, bền vững tiêu biểu cho phong cách

của từng nhà văn lớn"(1). Thật vậy, tác phẩm Tô Hoài viết có nội dung không mới nhƣng lại

rất đặc biệt, gợi nơi ngƣời đọc nhiều suy tƣởng lạ lẫm, thú vị. Ông đã trải sự sáng tạo trên

từng trang viết để lại dấu ấn phong cách trong từng chữ, từng câu, từng chƣơng. Đây chính là

một đặc điểm rất quan trọng để nhà văn không sa vào lối mòn và sự lặp đi lặp lại nhàm chán.

Cùng viết về sự nhàm chán, tù túng trong xã hội, Thạch Lam từng rất xuất sắc với

Hai đứa trẻ. Hiện thực xã hội trong truyện ngắn này đƣợc phản ánh rất đậm nét thông qua

những cảnh đời hắt hiu ở một phố huyện nhỏ bé. Thân phận nhân vật hiện lên thật nhỏ bé,

sống một cuộc sống trầm lặng. Tiếng thở dài của họ phát ra nhiều hơn tiếng cƣời. Tất cả

dƣờng nhƣ đang sống trong vô vọng. Bọn trẻ con nghèo khổ ở phố huyện vốn đã rất quen với

không khí tẻ ngắt nơi đây nên rất vô tƣ, chỉ có chị em Liên - những ngƣời đã từng sống nơi

Hà thành là thấm thía nỗi buồn và khổ tâm. Để xua tan cảnh sống tẻ nhạt, tù hãm, đêm nào

hai chị em cũng cố đợi chuyến tàu đêm chạy qua. "Liên và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn

được nhìn chuyến tàu, đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya...". Chờ những chuyến

tàu để đƣợc nhìn ánh sáng tỏa ra từ các ô cửa kính, trông rõ không khí mới lạ, vui vẻ do

những ngƣời khách phƣơng xa đem lại, hai đứa trẻ xem đó là biện pháp duy nhất để khuây

khỏa nỗi lòng. Hình ảnh hai

(1) Sách giáo khoa Văn 12, NXB Giáo dục 1992, tập 2, tr 164

99

đứa trẻ nhẫn nại trông đợi chuyên tàu đêm, có thể nói là hình ảnh khái quát của xã hội Việt

Nam thời bấy giờ. Con ngƣời muốn sống vui vẻ, tích cực, yêu đời, yêu ngƣời sao mà khó lạ!

Họ phải "sống mòn", không tƣơng lai, không ý nghĩa, mục đích.

Những cô gái trong đoạn văn Tỏa nhị Kiều của Xuân Diệu cũng lâm vào tình cảnh

tƣơng tự. Các cô vẫn đi đứng, cử động, nói năng nhƣng thực chất lại không hiện hữu. "... hai

cô ngồi trong một buổi chiều rất đỗi ngẩn ngơ, một buổi chiều triền miên của sự vật và của

linh hồn, một buổi chiều trong nhà và trong tâm lý. Lạ quá! Tôi cảm thấy rõ rệt sự mờ nhạt

của cuộc đời, khi trông hai cô...". Tác giả lại viết: "Đáng tội nghiệp nhất là hai cô không sầu

tư, không có một nỗi chán nản gớm ghê, nó xui ta cầu xin cái chết. Không hai cô là hai cô

gái, chỉ biết buồn mờ, buồn lặng, nhưng buồn lâu. Hai cô là hai cánh đồng...". Cảm giác đìu

hiu, buồn chán bao trùm khắp truyện "không có gì là truyện" ấy.

Ngoài Thạch Lam, Xuân Diệu, nhà thơ Huy Cận cũng đã có lúc mang tâm trạng đau

đời nhƣ vậy. Trong bài thơ Quanh quẩn trích từ tập Lửa thiêng của ông, ta gặp những lời

thơ trăn trở, day dứt không nguôi :

Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu

Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt người.

Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười

Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện.

Cảm giác cô đơn, chán nản trở đi trở lại rất nhiều lần trong truyện và thơ của các nhà

văn thời kỳ này. Hiện thực buồn tẻ, vô vọng của xã hội đã tác động mạnh mẽ, chi phối họ.

Nhà văn Tô Hoài cũng không tránh khỏi tâm trạng ấy. Những truyện tƣởng chừng rất vụn

vặt, không có cốt truyện, lại thể hiện rất nhiều tƣ tƣởng, tình cảm cũng nhƣ văn phong của

ông. Có ngƣời nói cốt truyện Tô Hoài viết nhẹ nhõm mà có sức nặng, cứ nhƣ đùa mà lại thật

nghiêm chỉnh.

Trong truyện ngắn O Chuột, tác giả đã từ câu chuyện của gã Mèo Mƣớp mở ra cho

ngƣời đọc thấy đƣợc thế giới tù túng, lẩn quẩn không tìm

100

ra hƣớng đi cho bản thân không chỉ của gã Mèo mà cho cả thế hệ thanh niên ngày ấy. Mèo

Mƣớp sống lừ đừ nghiêm nghị nhƣ " một thầy giáo nhà dòng", cả ngày chỉ chăm chăm đi tìm

chuột. "Chàng Mèo Mướp - mà chàng Mèo nào cũng thế - không cố ý ăn thịt Chuột Nhắt bao

giờ. Mèo chỉ bắt những con chuột tiểu yêu đó để đùa nghịch và để hả cơn cáu kỉnh"(1). Cuộc

đời Mèo Mƣớp đƣợc miêu tả trong truyện chỉ quẩn quanh nơi xó bếp chật hẹp. Không biết

nhà văn Tô Hoài đã mất bao nhiêu thời gian tìm hiểu, quan sát để tạo nên hình ảnh Mèo sống

động, thực đến thế. Từ cách Mèo đi đứng cho đến cách rình bắt Chuột, thậm chí cả cách anh

chàng suy nghĩ, đều đƣợc tác giả ghi lại tài tình, khó nhà văn nào sánh kịp.

" Gã Mèo dúm bốn chân lại bước từng bước rất nhẹ vế phía đống củi... Hai cái tai

anh Mèo Mướp hơi động đậy. Ấy là khi anh đương hết sức lắng nghe. Tai Mèo mỏng tanh,

gần soi bóng qua được, dỏng lên như chiếc tai lừa tí hon. Cái vành tai rộng mở và loe ra.

Chả trách gã nghe rõ lắm. Gã khum hai chân trước xuống, nhìn vào gậm đống củi. Rõ ràng

gã trông thấy một cái đuôi nhỏ mà dài thò lò dưới một mẩu gỗ. Đúng cái đuôi Chuột. Gã nép

về một bên, thon người lại. Lúc này trông gã Mèo quái ác dị thường"(2). Tuy mất nhiều công

phu săn lùng là vậy nhƣng khi bắt đƣợc Chuột Nhắt, Mèo lại chê bé chỉ để đấy làm trò tiêu

khiển. Khi Chuột sểnh ra đƣợc Mèo lại cất công lùng bắt từ đầu. "Suốt đêm hôm đó gã Mèo

Mướp kia chỉ đi quanh đi quẩn để tìm, để lùng Chuột Nhắt. Và cả những sau, hắn cũng đi tìm

Chuột, nhưng - vẫn khờ dại như thường - hắn chỉ tìm để đùa chơi một chút. Rồi nó có rông

mất, hắn lại khó chịu, bực dọc, hậm hực mà đi lùng bắt những con khác”(3). Cả đời Mèo chỉ

chăm chăm vào những việc nhƣ vậy, có lẽ không thế thì Mèo cũng chẳng còn biết phải làm

gì. Đời

(1) Sđd, tr. 15. (2) Sđd, tr. 10. (3) Sđd, tr. 16.

101

sống của nó sao mà đơn điệu và buồn chán! "Cơ chừng gã Mèo Mướp phải dành tất cả cái

hoa niên của mình để mà chỉ luẩn quẩn đi o Chuột"(1). Câu kết chuyện của tác giả cũng chính

là lời ta thán, chán nản thay cho những cuộc đời đang sống mà nhƣ chết, tồn tại mà nhƣ

không hiện diện trên cõi đời này. Trong xã hội, những ngƣời sống đơn điệu và vô vị nhƣ gã

Mèo Mƣớp kia không phải ít, nhà văn Tô Hoài với thiên chức của ngƣời cầm bút đã gióng

một hồi chuông cảnh tỉnh, mong sao con ngƣời ngày càng sống đẹp và có ích hơn. Mèo đã

hiện diện trong tác phẩm rất nhiều nhà văn trong lẫn ngoài nƣớc nhƣng góc nhìn và cách giới

thiệu về đối tƣợng đến độc giả nhƣ Tô Hoài thì chỉ có một.

Nhà văn thƣờng dành nhiều trang viết chia sẻ nỗi khổ về tinh thần của con vật. Những

điều mà thoạt nghe có vẻ thật mơ hồ, trừu tƣợng. Chính cảm xúc về nỗi đau tinh thần của con

ngƣời trong cuộc sống; đã dẫn ông đi đến cách liên hệ đời sống tinh thần của những con vật

gần gũi ngƣời, hay ngƣợc lại? Thật khó lý giải. Chỉ biết có những đoạn văn ông viết về vật

mà đọc lên ta cứ thấy hình nhƣ đó cũng chính là hình ảnh, cuộc đời con ngƣời đang sống

quanh ta. Chúng ta bắt gặp diện mạo quen thuộc của họ qua hình ảnh Đôi Gi Đá; Đực;

Truyện Gã Chuột Bạch... Những truyện đó không khỏi làm lòng ta ngậm ngùi, đau xót cho số

phận thảm thƣơng của các con vật. Cách nhìn sâu sắc tinh tế của tác giả đã làm ta thấy gần

gũi và thƣơng hơn các loài vật. Dẫu sao con ngƣời cũng vẫn có thể cất lên tiếng nói than thân

trách phận khi gặp nghịch cảnh nghiệt ngã. Vật thì không, chúng chỉ biết câm lặng, giƣơng

mắt nhìn một cách tuyệt vọng, đau đớn. Cuộc sống của chúng thời bấy giờ sao mà lắm khổ

cực không khác chi những ngƣời dân lao động. Tô Hoài đã thể hiện qua tác phẩm của mình

cái tôi duy cảm, sự việc, hiện tƣợng trong tác phẩm đầy màu sắc tƣ tƣởng của ông thời ấy: xã

hội ngột ngạt, tù túng không lối thoát, không có nhiều niềm vui và hạnh phúc dành cho con

ngƣời. Một khi

(1) Sđd, tr. 16.

102

cuộc đời con ngƣời đã vậy thì chuyện gì sẽ xảy ra với loài vật? Có lẽ số phận cũng sẽ không

mỉm cƣời với chúng. Vì vậy mà tác giả thấy thƣơng và dành rất nhiều tình thƣơng khi nhắc

đến chúng trong tập truyện O Chuột. Mỗi nhân vật loài vật từ gã Chuột Bạch yếu đuối hết ăn,

ngủ lại chơi trò đánh vòng đến đôi Ngan to khỏe, phàm ăn và ƣa bới bậy... đều hiện ra dƣới

cái nhìn xót thƣơng của ngƣời tái hiện. Những hình phạt, nỗi sợ hãi và đau đớn dƣờng nhƣ

luôn chực chờ chúng, làm chúng "biến dạng" và thảm thƣơng đến tội nghiệp. Trong truyện

ngắn Mụ Ngan ở cùng tập truyện trên, những hình ảnh nhƣ sau xuất hiện rất nhiều: "Lặc co

cẳng đá phốc cho anh Ngan đực một đá. Thằng nỡm bắn bổng lên, chúi rấp vào khe giậu.

Con mụ cũng được ăn một đá tương tự. Chúng lóp ngóp bò dậy, và dường như trong lúc sảng

sốt, chúng không hiểu thế nào ra thế nào cả”(1). Đôi Ngan ngơ ngác ngay cả khi phải đòn.

Chúng đói và không cho việc vào vƣờn cải kiếm ăn là một cái tội. Trong cuộc sống khó khăn,

khi con ngƣời phải thƣờng xuyên đối diện với cái đói thì sự ấm no của loài vật là một điều

không tƣởng và không thể có. Thân phận chúng vốn đã bé nhỏ giờ càng hèn mọn hơn. Bức

tranh cuộc đời chung của chúng sao mà buồn thảm, hắt hiu không chút gì tƣơi sáng.

Tác giả viết bằng tất cả tấm lòng thƣơng cảm, viết cho vật mà cũng chính là viết cho

ngƣời, cho những kiếp ngƣời không may trong xã hội thời bấy giờ. Những truyện nhƣ vậy có

lẽ không còn dành cho trẻ con. Những truyện này có sức chiếm lĩnh thật mạnh mẽ đối tƣợng

đọc. Ngƣời lớn nhận ra chuyện đời, chuyện ngƣời trong xã hội của loài vật. Những tính cách

lố lăng, hợm hĩnh, khoe mẽ ở một số con vật chính là hình ảnh của một bộ phận không nhỏ

con ngƣời. Tác giả không châm biếm, đả kích một đối tƣợng nào trong số các loài vật ông tả,

nhƣng những gì ông nhìn ra và viết nên xứng đáng là tấm gƣơng để mọi ngƣời soi vào, nhìn

lại chính mình.

(1) Sđd, tr. 77.

103

III. Nghệ thuật miêu tả

Cái đẹp là một trong những điều kiện đầu tiên của nghệ thuật. Không có cái đẹp nào

xa lạ với nghệ thuật. Nghệ sĩ chính là những ngƣời cảm thấy điều đó sâu sắc hơn ai hết. Nhờ

tài năng của họ mà cái đẹp trong thiên nhiên, đời sống đã đƣợc ghi lại có hồn, có sức hấp dẫn

thẩm mỹ độc đáo. Họa sĩ, nhà điêu khắc, nghệ sĩ tạo hình, các nhà làm phim, nhà thơ nhà

văn... đều có cùng điểm chung trong quá trình sáng tác là hƣớng đến cái đẹp. Trong bất kỳ

lĩnh vực nào, ngƣời ta cũng chú ý đến việc tạo ra cái đẹp. Ngƣời nghệ sĩ thƣờng góp nhặt.

thâu tóm cái đẹp khắp nơi để tạo ra cái đẹp cho tác phẩm của mình. Hình tƣợng chuột Mickey

hay chú mèo Tom trong các phim hoạt họa phục vụ thiếu nhi, sở dĩ đƣợc các em yêu thích là

bởi đã đáp ứng đƣợc nhu cầu thỏa mãn cái đẹp. Những con vật ngay từ phút đầu xuất hiện đã

tạo đƣợc thiện cảm nơi ngƣời xem bằng dáng vẻ ngộ nghĩnh, đáng yêu, giọng nói vui tƣơi,

điệu bộ nhí nhảnh. Các con vật trong đồng thoại cũng đƣợc sáng tạo với dụng ý tƣơng tự.

Chúng phải tạo đƣợc những thiện cảm nhất định nơi ngƣời đọc.

Cái đẹp trong đồng thoại đƣợc thể hiện ở sự liên kết giữa thực và ảo. Những nhân vật

trong đồng thoại thƣờng là con vật, cỏ cây và những vật vô tri. Nếu các nhà văn chỉ đơn

thuần miêu tả chúng với tất cả những đặc điểm vốn có thì thế giới tự nhiên ấy có còn gì hấp

dẫn. Nội dung đồng thoại phải đậm chất mơ tƣởng và sự mơ tƣởng ấy gắn chặt với hiện thực.

Hay nói đúng hơn, những nhân vật trong đồng thoại, trƣớc hết phải có những đặc điểm của

vật rồi sau đó mới mang tính ngƣời. Thiếu một trong hai đặc điểm ấy, đồng thoại không còn

là thể loại đƣợc trẻ em yêu thích. Nhà văn Tô Hoài viết đồng thoại thành công bởi truyện của

ông hội đủ các điều kiện trên. Trong truyện Võ sĩ Bọ Ngựa, ta thấy Bọ Ngựa không chỉ là

một con vật mà còn là một cậu bé. Nó khoác trên mình hai dáng vẻ. Đó là sự hòa trộn giữa

dáng vẻ nghịch ngợm, hiếu thắng thích múa võ của một đứa trẻ và dáng vẻ của một con Bọ

Ngựa non cánh xanh chƣa mọc kín lƣng, càng còn loẻo khoèo. Sự hòa hợp giữa cái thực và

hƣ ấy đã góp phần làm cho nhân vật đƣợc miêu tả đẹp hơn, sinh động hơn. Tác giả đã rất tài

104

tình khi phân tích và phát hiện cái thực và cái không thực của ngƣời gán cho vật. Cái hƣ và

thực đó đã hòa quyện vào nhau tạo nên linh hồn cho đồng thoại, giúp các em phát triển ƣớc

mơ và biến mơ tƣởng thành sức mạnh làm giàu trí tuệ.

Văn chƣơng không bao giờ thừa nhận những cách viết dễ dãi nó là tiếng lòng tiết ra từ

một trái tim sống vì đời. Tất cả những gì Tô Hoài trải qua trong năm tháng tuổi thơ đều đƣợc

ông hồi tƣởng và khắc họa lại sống động trên trang sách của mình. Chuyện của những chú bé

sống ở nông thôn, rảnh rỗi rủ nhau ra bờ sông "đúc" dế, bắt xiến tóc, cánh cam làm đồ chơi là

chuyện rất quen thuộc với chúng ta. Thế nhƣng sự sáng tạo và trí tƣởng tƣợng phong phú của

Tô Hoài không dừng lại ở đó, ông đã dựng nên hình tƣợng Dế Mèn bất hủ trong tác phẩm Dế

Mèn phiêu lƣu ký. Mỗi con vật dù thật nhỏ cũng đều đƣợc ông quan sát, xem xét kỹ lƣỡng từ

hình vóc đến tính cách. Miêu tả Gián Ống trong truyện ngắn Võ sĩ Bọ Ngựa, tác giả làm ta

kinh ngạc trƣớc những chi tiết sinh động nhƣ thật.

"Anh Gián còn được thiên hạ đặt cho biệt hiệu là Gián Ống. Biệt hiệu ấy để tỏ với đời

cái tính nhút nhát gớm ghê của anh chàng Gián. Có thể nói suốt gầm trời không tìm thấy ai

nhát hơn Gián nữa".

Tính tình chú ta là vậy, còn diện mạo thế nào. Xin hãy nghe nhà văn Tô Hoài giới

thiệu :

"Sắc người đỏ thẫm, bóng loáng, nom trang nhã và hào nhoáng lắm. Nhưng thực ra

bên trong sự đẹp đẽ, sự sạch sẽ ấy chứa đựng những cái bẩn thỉu, hôi hám. Cậu Gián chỉ

được bộ công tử vỏ. Trông màu mỡ và gọn gàng tệ. Song cậu cả hôi như cú, tanh như cá. Ở

thân thể con gián tiết ra những chất hôi hám của một kẻ ở bẩn, cả đời không tắm, một đứa sợ

nước."(1)

Trong phong cách sáng tạo của mình, Tô Hoài có năng lực quan sát

(1) Sđd, tập 1, tr. 421.

105

rất đặc biệt, nắm bắt nhanh chóng và phản ảnh sinh động thế giới khách quan. Ông không lý

tƣởng hóa cuộc sống nhƣng cảm nhận cuộc sống có tính lý tƣởng. Tác giả cố gắng không gò

bó mình vào một ranh giới nhất định nào mà luôn tìm hiểu và chọn lựa cách tiếp cận đời sống

hiện thực hiệu quả nhất. Cuộc sống muôn màu, muôn vẻ bao giờ cũng có sức cuốn hút kỳ lạ

đối với con ngƣời, đặc biệt là các nhà văn. Những quy luật những hiện tƣợng, và cả cái vốn

rất quen thuộc với ta hàng ngày, hết thảy đều tạo cho cuộc sống một vẻ đẹp quyến rũ. Nhà

văn Tô Hoài đã chú ý miêu tả hiện thực với tính toàn vẹn của nó. Ông có khả năng làm thiên

nhiên, vạn vật hiển hiện rõ nét nhƣ một bức tranh sinh động, có hồn. Những trang viết của

ông về loài vật thực sự có tính nghệ thuật mới mẻ, mang dấu ấn sáng tạo riêng. Khi nhìn con

vật ở phƣơng diện mĩ thuật và tài hoa, ngòi bút ông trở nên sắc sảo lạ thƣờng.

"Một đàn săn sắt đương rầm rập kéo đến. Những cái đuôi cờ ngũ sắc bay hoa cả mặt

nước"..." Lại vài mụ Diếc trắng trẻo, béo tròn con quay, lò mò đến. Các mụ tung tăng múa

vây, múa gáy. Rồi mấy bác cá Ngão mắt lồi đỏ, dài nghêu, mồm nhọn ngoác ra, ở đâu bơi

chớp nhoáng đến, đỗ kề ngay trước mặt, há miệng đợi đớp"... " Nhìn lên đầu sông thấy mấy

bác Cá Chuối đang lừ lừ tới. Bóng Cá Chuối loáng cả dòng nước, răng nhe trắng như lưỡi

cưa, nó lướt vào đến trước mặt thì dòng nước đương trong vắt bỗng đen sạm như nền trời

cơn mưa"(1).

Mỗi con vật đƣợc quan sát, miêu tả tỉ mỉ, hóm hỉnh. Những đặc điểm diện mạo của

chúng dù xấu hay đẹp đều không làm ta khó chịu khi đọc. Tả cảnh "giữa đường thấy chuyện

bất bình chẳng tha" của Dế Mèn sau khi thoát khỏi lồng tù của bọn trẻ tinh nghịch trong

truyện Dế Mèn phiêu lưu ký, Tô Hoài cho ta biết tình cảnh đáng thƣơng của chị Nhà Trò:

"bé nhỏ lại gày gò, yếu đuối quá, người bự những phấn, như mới lột. Chị mặc áo thâm dài,

đôi chỗ chấm điểm vàng, hai cánh cô nàng mỏng như

(1) Sđd, tr. 105.

106

cánh bướm non, lại ngắn chùn chùn". Yếu ớt nhƣ vậy nên Nhà Trò dễ bị bắt nạt. Đói

kém, mẹ con Nhà Trò phải vay lƣơng ăn của Nhện khi mẹ qua đời, Nhà Trò không kiếm đủ

lƣơng thực trả nợ. Nhà Trò kể rõ sự tình cho Dế nghe:

"Nhện cứ nhất định bắt trả nợ. Mấy bận Nhện đã đánh em. Hôm nay bọn

Nhện chăng tơ ngang đường đe bắt em, vặt chân vặt cánh ăn thịt em".

Dế Mèn lần đầu tiên trong đời đã quyết định làm một việc tốt, ra tay cứu giúp ngƣời

cô thế. Mèn hứa bảo vệ Nhà Trò. "Khi tôi gần tới mạng lưới, nhìn vào các khe đá xung

quanh đã thấy lủng củng những nhện là nhện: Nhện mẹ, Nhện con, Nhện già, Nhện

trẻ, Nhện nước, Nhện tường, Nhện võng, Nhện cây, Nhận đá, Nhện ma... đủ họ nhà

Nhện. Chúng đứng im như đá mà coi vẻ hung dữ.

Chị Nhà Trò bíu lấy tay tôi, nấp sau càng tôi, khiếp quá thu mãi người lại. Có

lẽ bọn Nhện chưa trông thấy.

Tôi cất tiếng hỏi lớn:

- Ai đứng chóp bu bọn này? Ra đây cho ta nói chuyện.

Từ trong hốc đá, một mụ Nhện cái to nhất, cong chân nhảy ra, hai bên có hai

Nhện vách nhảy kèm. Dáng đây là vị chúa trùm nhà Nhện. Nom cũng đanh đá, nặc

nô lắm. Vậy thì đầu tiên tôi hãy ra cái oai của tôi. Tôi quay phắt lưng, phóng càng

đạp mạnh vào đầu mụ Nhện một cái đạp. Mụ hoảng hốt, co dúm lại hãi ngay. Rồi

thế là mụ cứ rập đầu xuống đất như cái chày giã gạo, tỏ ý hối hận và sợ hãi một

điều gì đó - điều gì đó có lẽ mụ ta cũng chưa biết”(1).

Cuộc đối đầu giữa Dế Mèn và họ nhà Nhện diễn ra thật hào hứng trong mắt ngƣời

đọc. Dế Mèn không còn là một thiếu niên lêu lỏng, hống hách hay cà khịa với mọi ngƣời mà

đã trƣởng thành rất nhiều. Mèn không chỉ có lòng tốt mà còn rất can đảm, hào hiệp, có chí

khí khiến ngƣời khác

(1) Sđd, tr. 55.

107

nể trọng. Tác giả cố gắng miêu tả thật chi tiết, đầy đủ, đƣờng nét, dáng vẻ, cá tính từng loài.

Những nhân vật loài vật - nói riêng và các nhân vật khác - nói chung trong tác phẩm Tô Hoài

thƣờng nhanh chóng gây đƣợc ấn tƣợng đẹp nơi ngƣời đọc một phần cũng chính nhờ khả

năng miêu tả sắc sảo và tinh tế đó. Giữa hình thức và tính cách các con vật gần nhƣ có sự

thống nhất. Hiếm khi trong văn xuôi xuất hiện các con vật bé nhỏ nhƣ vậy. Qua bàn tay nhà

văn, mỗi con vật dù bé nhỏ đến đâu cũng đều có diện mạo, tính cách cụ thể giúp ta có thể

hình dung và cảm nhận về chúng một cách rõ ràng. Cảnh tƣợng giăng giăng khắp nơi làm tổ

của họ Nhện là chuyện không lạ trong cuộc sống, nhƣng khi đƣợc đƣa vào tác phẩm, nó mới

mẻ hẳn lên qua nghệ thuật viết văn của tác giả. Tả cảnh Dế Mèn. Dế Trũi tranh hùng với võ sĩ

Bọ Ngựa, nhận chức chánh phó thủ lĩnh tổng Châu Chấu, Tô Hoài đã có những đoạn viết thật

ngộ nghĩnh, dí dỏm và trong trẻo.

"Giữa vùng cỏ may, chân cỏ đỏ tía, đầu hoa xám trắng và lóng lánh, dựng trên võ đài

nguy nga cao, toàn bằng gỗ cây lau ngà vàng, đứng cuối bãi trông lên cũng thấy mồn một.

Đài võ chắc chắn, đẹp, có ghế ông cầm trịch ngồi, trên lớp lá cỏ mật treo từng chùm hoa ké

vàng mọng buông xuống, lắc lư trong gió.

Những hôm đầu là đấu loại. Nhiều anh Châu Chấu vừa nứt mắt đã bắng nhắng lên

đài. Ngựa non háu đá, những gả ngông nghênh đó thật ra chưa có nổi ba hột sức. Mới tự

chân mình đá ra mấy cái cũng đã run rẩy cả người rồi đứng thở hồng hộc"(1).

Những câu văn hiện ra thật đẹp! cảnh vật đan xen tạo nên một bức tranh thiên nhiên

hoàn mỹ. Giữa khung cảnh thiên nhiên thơ mộng đầy thân cỏ lau, các chàng võ sĩ hào hứng

thi tài làm rộn rịp cả một vùng. giúp bức tranh thêm bội phần sống động.

(1) Sđd, tr. 113.

108

Cách suy nghĩ của các con vật cũng rất lạ, gợi sự thú vị nơi ngƣời đọc. Nghe Cành

Cạch khuyên hãy tránh xa võ sĩ Bọ Ngựa vì gã ta là "cháu đích tôn cụ võ sư Bọ Ngựa, cả vùng

này không ai dám động đến cái lông chân", Dế Mèn đã rất khó chịu. "Lời lẽ nhát sợ của bác

Cành Cạch nọ làm tôi khó chịu. Tôi phải bước vào rừng cỏ ngắm làn hoa may đương tràn

ngập trong gió phơi phới cho tĩnh tâm lại"(1). Tác giả nhƣ đã hóa thân vào cách nghĩ, cách nhìn

của con vật, hiểu cặn kẽ tâm tƣ nó. Để loài vật có những ý nghĩ và hành động nhƣ vậy quả thật

là một sáng tạo độc đáo của nhà văn Tô Hoài. Cảnh hai chú Dế và Bọ Ngựa đánh nhau đã đƣợc

tác giả quan sát và ghi lại tỉ mỉ nhƣ sau: "Bọ Ngựa đi bài song kiếm. Bóng kiếm loang loáng

mù mịt như hoa may, điệu bộ khá đẹp mắt". Riêng Dế Mèn thì: "chẳng cần đi bài gì hết... hếch

hai càng lên", " đạp phóng tanh tách liên liến một hồi, gió tuôn thành luồng xuống bay tốc cả

áo xanh đỏ các cô Cào Cào đứng gần". Họ lên đài và giao đấu nhƣ hai võ sĩ thực thụ:

" ... Bọ Ngựa cao nên lợi đòn. Hai gươm hắn bố xuống đầu tôi chan chát. Nhưng đầu

tôi đầu gỗ lim, tôi lựa cách đã, không vần gì hết. Còn tôi đoản người, tôi nhè bụnq hắn mà đá,

khiến có lúc hắn phải hạ gươm xuống đỡ, mất đà, đâm loạng choạng. Biết không chém vỡ

được đầu tôi, hắn liền đổi miếng ác, co gươm, quặp cổ tôi. Hắn định lách gươm nghiêng vào

khe họng tôi - chỗ hiểm, cuống họng tôi có khe thịt dễ đứt.

Thấy thế nguy, tôi đỡ đòn, cúi xuống, thúc nhanh một răng rất sâu vào bụng hắn.

Choáng người, Bọ Ngựa nhảy lộn qua lưng tôi.Tôi cũng chỉ đợi có thế. Và đúng đà càng - lừa

vào miếng võ gia truyền của nhà dế, tôi lấy tấn, đá hậu đánh phách một đá trời giáng vào giữa

mặt anh chàng. Chàng Bọ Ngựa kiêu ngạo rú lên một tiếng bắn tung lên trời, rơi tạt ra ngoài

võ đài, ngã vào đám đông xôn xao"(2).

(1) Sđd, tr. 118. (2) Tô Hoài - Dế Mèn phiêu kƣu ký , tr 123 - NXB Kim Đồng .

109

Chỉ một đoạn văn ngắn mà toàn bộ không khí cuộc thí võ đã đƣợc phô bày sắc nét.

Từng động tác, cách thức thi đấu, lần lƣợt xuất hiện thỏa mãn trí tò mò của những ngƣời

không đƣợc tận mắt chứng kiến, chỉ nghe lại qua lời kể của tác giả. Những khám phá của

Tô Hoài về vẻ đẹp loài vật đã biến thành những hình tƣợng mới mẻ đầy sức lôi cuốn, riêng

biệt không trộn lẫn với ai. Biệt tài của mỗi con vật đã đƣợc nhà văn khai thác triệt để. Dế

Mèn oai hùng, kiêu hãnh không khác gì các anh hùng, hào kiệt, trong những bộ tiểu thuyết

chƣơng hồi Trung Hoa. Từ thƣở thiếu niên, Tô Hoài đã mê say đọc Thủy Hử, Tam Quốc,

Chinh đông chinh tây... Dấu ấn của các truyện đó đã ảnh hƣởng đến phong cách nghệ thuật

của ông.

Cũng trong tác phẩm này, nhà văn Tô Hoài có những trang miêu tả rất hay cảnh

"loài áo mỏng" tranh dành nhau chỗ trú đông. "Thế là mùa đông đã tới. Cánh đồng vắng

ngắt, màu xám trên trời và màu xám dưới đất đã liền vào nhau và ở giữa có gió suốt đêm

ngày. Trẻ con ra ngoài đồng thì lạnh tai và đỏ mắt hắt mũi. Rét quá, rúm cả chân. Chẳng ai

có thế ở rốn trên đồng không được. Phải đi tìm nơi tránh rét. Nếu cứ phong phanh giữa trời

suốt mùa đông thì đến chết cả. Bởi thế, đã thành thói quen từ xưa, cứ mùa rét đến thì các

loài sống trong vùng này lại bỏ cánh đồng lạnh ngắt lạnh ngơ mà lũ lượt đi kiếm nơi tránh

rét. Có khi phải tranh cướp, đánh nhau mới tìm được chỗ"(1). Trong mùa rét, nhiều loài áo

mỏng khác cũng đi kiếm chỗ ở ấm nhƣ thói quen của nhà Châu Chấu, Chuồn Chuồn và cả

Dế.

"Bọn Chuồn Chuồn cánh giấy - các cậu Kỉm Kìm Kim ốm o biết mình không chịu

nổi nửa cơn gió giật đã mò mẫm đi trước. Anh em nhà Niềng Niễng thì lặn xuống bùn nằm

với các anh Gọng Vó, bên cạnh những Cua, những Ếch lo rét đương vội vã đắp những cái

nhà đất lô nhô bát úp quanh các bờ đầm.

Châu Chấu, Cào Cào, Bọ Ngựa, Bọ Muỗm thì đi tìm khe dứa dại. Trong mùa đông

chỉ những bụi dứa dại xanh nguyên, mỗi chiếc lá dứa vẫn

(1) Sđd, tr. 118.

110

dỏng cái tai cứng lên trời xám. Kẽ dứa sâu hoắm, ta có thể chui được vào đấy, nằm chổng

đuôi ra, bất chấp mưa gió bên ngoài.”(1)

Văn miêu tả của Tô Hoài gọn, động và giàu giá trị biểu cảm. Cách kể chuyện tự

nhiên, trong sáng, bình dị nhƣng không tầm thƣờng, dễ dãi. Khung cảnh từng đàn chim xao

xác bay đi tránh rét ta đã gặp nhiều trong sáng tác văn học, nhƣng hành trình tránh cái giá

lạnh mùa đông của những loài cánh mỏng nhƣ Dế thì đây là lần đầu tiên. Chỉ với vài trang

viết ngắn ngủi mà chứa đựng biết bao hình ảnh sống động, tinh tế.

Thiên nhiên trong mắt nhà văn đã hóa thành túi dự trữ lớn giúp ông tiếp nhận cái hay,

cái đẹp của cuộc đời để tái tạo và chuyển hóa thành năng lƣợng của văn chƣơng. Điều này

góp phần đƣa tác phẩm Dế Mèn phiêu lƣu ký của ông vƣợt vạn dặm đi vòng quanh thế giới

đến với thiếu nhi khắp mọi nơi.

Truyện ngắn là một lĩnh vực thú vị của văn học. Nó ghi lại sự việc xảy ra trong thời

gian và không gian xác định nhƣng không vì vậy mà giá trị của nó bị thu hẹp. Những nhân

vật loài vật Gà Gi, Chuột Bạch, Chim Gi Đá, Ngan, Mèo Mƣớp, Bọ Ngựa, Trạng Chuối, Trê,

Cóc... là những hình tƣợng nghệ thuật đặc sắc tạo bởi năng lực sáng tạo của nhà văn. Tô Hoài

đem vào tác phẩm của mình những nỗi đau sâu thẳm tự đáy lòng nhân vật, những nỗi đau

không lộ ra ngoài, không giết chết ngƣời ta ngay tức khắc mà gậm nhấm tâm hồn làm mất đi

niềm vui sống vốn rất bình đẳng của mỗi con ngƣời. Hình ảnh thê thảm của loài vật cũng

chính là hình ảnh của những ngƣời lao động, nông dân nghèo trong xã hội cũ. Khổ nhiều, bất

lực, mặc dòng đời xoay chuyển, bế tắc không tìm ra lối thoát cho bản thân là tình trạng chung

của tất cả các nhân vật loài vật trong truyện ngắn Tô Hoài viết trƣớc Cách mạng tháng Tám.

Tuy nhiên, phong cách của một ngƣời vẫn có thể thay đổi theo thời gian. Đó cũng chính là

một trong các

(1) Sđd, tr. 130.

111

quy luật của cuộc sống, không có vật gì không biến chuyển, đổi thay theo thời gian. Tháng 8

năm 1945 Cách Mạng thành công, bầu không khí xã hội đổi khác. Đứng trƣớc sự chuyển biến

lớn lao nhƣ thế nhà văn Tô Hoài cùng các nhà văn khác đã nhanh chóng hòa nhập vào lối

sống mới. Giọng điệu hiu hắt, phảng phất nỗi buồn chán đã không còn hằn in lên số phận của

các con vật trong truyện. Những trang viết về loài vật những năm sau này của Tô Hoài rộn

ràng niềm vui. Đó có thể là niềm vui lan tỏa sau nụ cƣời kín đáo hay ẩn giấu sau một nhận

xét ngộ nghĩnh, ý nhị, tất cả đều góp phần làm những trang viết của ông trong trẻo, nhẹ nhàng

khác trƣớc rất nhiều. Loài vật cũng cùng chung hƣởng niềm vui ấy của con ngƣời. Chúng

đƣợc sống trong bầu không khí mới sung sƣớng, vui vẻ hơn. Những bầy cá đi ăn thề, tiếng gà

gáy sớm, cậu Miu nhỏ lạc vào khu nhà cao tầng mới xây ... đều ngụ ý biểu hiện cái tốt đẹp

của cuộc sống mới. Những tủi cực, khổ đau của loài vật đã nhƣờng chỗ cho niềm vui và sức

sống mạnh mẽ, vƣơn lên trong cuộc đời mới. Bằng sự nhạy cảm và linh hoạt, ông miêu tả

chân thực, xúc động diễn biến tâm lý, đời sống nội tâm các loài trong cuộc sống bình thƣờng.

Đó là đời sống hàng ngày chú chích bông trên cánh đồng ngày mùa; là niềm vui của những

chú gà lần đầu đƣợc sống trong những ngôi nhà "công nghiệp" ; là niềm hạnh phúc của ngựa

con trong phiên chợ vùng cao... Tất cả những "nhân vật" loài vật ấy đều hƣớng về cuộc sống

mới với niềm tin và lạc quan chờ đón sự đổi mới, vận hội mới của dân tộc.

Văn ông viết bao giờ cũng nhuần nhị, gợi đƣợc thật rõ ràng những trạng thái của sinh

hoạt, xúc cảm ẩn sâu trong tâm hồn con vật. Đó là một lối văn không nặng vì những từ to tát,

câu chữ đƣợc dùng cẩn thận, cân nhắc chỉ đủ để phô diễn tình huống, tâm trạng cần phô diễn.

Có lúc sự diễn tả còn vƣợt ra ngoài câu chữ vì sức gợi mở và khả năng khơi sâu cảm giác,

vừa cho ta nhìn, vừa cho ta cảm. Ông không chỉ gõ vào lí trí mà còn gõ vào tƣởng tƣợng tạo

nên những khoái cảm thẩm mỹ bất ngờ. Mối quan hệ giữa hiện thực, trữ tình, lãng mạn trong

văn ông đƣợc kết hợp rất hài hòa, độc đáo cốt sao lột tả đƣợc thần sắc và âm thanh cuộc sống

hiệu quả

112

nhất.

Tác giả vận dụng triệt để lối tả chân, diễn đạt ý mới lạ, hấp dẫn. Tả hình dáng ngỗng,

tác giả viết: "... Hai chú ngỗng bé nhỏ thò đầu, ngơ ngác nhìn hai bên ... Hai cái cánh tí hon

ngắn như hai mẩu chiếc lá thài lài. Khắp mình, chưa nhách ngỗng nào có được một chiếc

lông đứng đắn. Toàn thứ lông tơ màu trắng nhạt, sốp và bù rù như bông, rồi lớn lên còn đổi

lông nữa. Cái mỏ chưa đen hẳn như những con ngỗng lớn tuổi. Nó nhờ nhờ xám, ấn mạnh

tay hãy còn lũm xuống. Những cái chân, ngón toẽ dạng, không một vết bẩn. Hai con mắt nâu

tròng đen lúc nào cũng quay lộn, ngơ ngác. Mới trông thì có vẻ ngờ nghệch. Nhưng giá ai

thò tay, định mó thẳng vào mắt ngỗng, lập tức, sẽ có ngay một cái màng trắng kéo ra, che kín

lại. Và chính từ bộ điệu cho đến thân hình ngỗng cũng tiết ra một cái gì có về lờ đờ, khờ dại,

kém nhanh nhẹn”(1). Đoạn văn miêu tả của tác giả nhƣ đƣợc đặc tả bằng ngôn ngữ điện ảnh,

cụ thể, sinh động cứ nhƣ hai chú ngỗng con đang hiện diện trƣớc mắt chúng ta.

Ông quan sát tỉ mỉ, thích thú cách chúng tìm miếng ăn khi đói: "Bấy giờ là bữa ăn.

Người ta vừa đổ cơm nguội, bèo tấm vào cái chậu sành. Lập tức hai chú ngỗng cũng nghe

trong bụng thấy như có điều đoi đói. Làm gì mà chẳng đói, quần quật lắc lư trong bu rồi trèo

xuống từ sáng đến giờ! Cái diều thũng lẵng đã tóp xuống sát cổ. Đói trong bụng thì hai cái

chân muốn chạy. Cho nên bốn chân ngỗng liền chạy. Chạy ngay và chạy thực mau đến phía

cái chậu đựng thức ăn. Cái cổ vươn dài về đằng trước, hai chân lạch đạch phóng thật

khỏe”(2). Ngòi bút tài tình của ông lột tả những nét đặc sắc của đối tƣợng qua những chi tiết

chân thực, nét vẽ tự nhiên,

(1) Tô Hoài - Tuyển tập văn học thiếu nhi , tập 1 , tr 305 - NXB Văn Học Hà Nội 1997. (2) Sđd, tr. 308.

113

điệu bộ tự nhiên, ngộ nghĩnh và cả thế giới nội tâm. Con vật trong tác phẩm của ông gần gũi

với đời sống con ngƣời biết bao. Ông miêu tả sắc sảo tập quán sinh hoạt và tính cách từng

loài, sử dụng nhiều liên tƣởng so sánh độc đáo tránh lối viết ƣớc lệ, công thức sáo mòn.

Trong truyện ngắn Hai con ngỗng, lý giải cho hiện tƣợng ngỗng thƣờng vơ vẩn bên

ngoài không chịu vào chuồng khi trời đã xế chiều tác giả hóm hỉnh viết: "Từ khi thuộc lối,

mỗi buổi chập tối, vợ chồng ngan lại đủng đỉnh nhảy vào chuồng , nằm xệp xuống sàn tre. Ở

ngăn trên gà con lích rích, có đánh rơi cả những đồ thứ bẩn thỉu xuống đầu chúng - nghĩa là

thải phân xuống, chúng cũng im lặng”(1). Chuồng vốn đã chật và bức bối nhƣ vậy nên Gà,

Ngan, Ngỗng đêm đêm lại sinh chuyện cãi nhau. Hai con Ngỗng đâm chán và khó chịu khi

phải vào chuồng. Chúng bàn cách bắt Cai Vƣờn đóng cho mình chiếc chuồng khác. "Buổi

chiều đã đến. Bóng tối trở về. Trẻ con đã đi ngủ cùng với ông mặt trời lặn. Cai Vườn ra đóng

cửa chuồng bồ câu và chuồng gà. Gà đã lên chuồng từ lúc nãy. Hai bác ngan cũng đã ì ạch

bước qua cái cửa tối om rồi. Chỉ duy hai chú Ngỗng vẫn tha thẩn giữa sân, ngẩn ngơ nhìn

vào khoảng nhá nhem của chập tối”(2). Dụng ý của chúng đã có kết quả, gây đƣợc sự chú ý

nơi ngƣời Cai Vƣờn. Chỉ chờ Cai Vƣờn quát, hai chú Ngỗng than thở ngay:

"- Ông ơi! chán lắm.

- Sao mà chán? Chỉ có việc ngày ăn đêm ngủ mà cũng kêu chán. Còn người ta làm

quần quật từ sớm đến tối sao không kêu chán.

- Ông ơi ! Chúng tôi chán là chúng tôi chán cái thứ khác kia.

- Cái gì hãy nói nghe.

- Bây giờ là mùa nực...

(1) Sđd, tr. 315. (2) Sđd, tr. 318.

114

- Ừ, mùa nực... Mùa nực thì sao ?

- Mùa nực thì oi lắm.

- Phải mùa nực oi ả.

- Những bệnh thổ tả của loài người, những bệnh dây của bọn có mỏ chúng tôi thường

phát sinh về mùa này vì phải ở những nơi ụp sụp ẩm thấp

- Phải, nói có vẻ hiểu biết lắm nhỉ. Sao nữa ?

- Ông có trông cái chuồng mà chúng tôi ngủ không? Nó bằng cái lỗ mũi. Nó thiếu ánh

sáng, thiếu không khí và không có vệ sinh. Vậy mà những một đàn gà, hai ông bà ngan to xù,

và hai ngỗng chúng tôi chen nhau trong đó. Cái bệnh dây tai ác sẽ đến chơi dễ dàng lắm.

Ông ơi chúng tôi chán đời lắm. Tối nay không ngủ trong chuồng đâu”(1).

Thật là thú vị, Ngỗng cũng thích đƣợc sống trong môi trƣờng sạch sẽ, thoải mái! Các

em nhỏ khi đọc truyện ắt hẳn sẽ chú ý hơn đến vệ sinh chuồng trại cho các con vật nuôi trong

nhà, thƣơng yêu và không thờ ơ với chúng nữa. Vật cũng có tâm tƣ, nguyện vọng ngoài dáng

vẻ riêng và tiếng kêu đạc trƣng của từng loài. Những nhân vật loài vật trong tác phẩm Tô

Hoài thƣờng nhanh chóng gây đƣợc ấn tƣợng ở ngƣời đọc một phần quan trọng cũng là ở khả

năng miêu tả sắc sảo và tinh tế đó. Nhờ vậy khi đọc truyện ông ta nhƣ sống về với cuộc đời

quen thuộc.

Tất cả những chất liệu và hình ảnh trên đƣợc Tô Hoài miêu tả sống động trong một

bức tranh ngôn từ giống nhƣ tấm thảm dệt nhiều màu đậm nhạt, nhiều họa tiết, hoa văn gợi

cảm. Đọc truyện ngắn Cá đi ăn thề mấy ai quên đƣợc đoạn văn đầy ấn tƣợng sau: "Mưa mới

xuống là hội, là tết của các họ nhà cá. Cánh đồng và trong làng trắng những nước mưa. Lại

thấy nô nức hàng đàn cá Rô rạch trong mưa, nghe rào rào như có đàn chim vỗ cánh

(1) Sđd, tr. 319.

115

trên hồ ao, trong lạch nước, cánh đồng."(1)

Thật là một cách viết kỳ lạ từ ngôn ngữ diễn đạt đến ý tƣởng! Có những sáng tác của

ông cốt truyện tuy đơn sơ nhƣng vẫn gợi nhiều xúc động và tình cảm nơi độc giả nhờ văn

phong rất đồi tinh tế và riêng biệt. Sự sáng tạo không ngừng của tác giả giúp văn ông luôn

mới mẻ và lôi cuốn ngƣời đọc. Ông cố gắng không tạo vết ngăn giữa sinh hoạt loài vật với

bức tranh xã hội. Khi miêu tả con vật trong khung cảnh thiên nhiên cũng là lúc giọng văn Tô

Hoài đậm màu sắc trữ tình và giàu chất thơ. "Con chim gáy hiền lành, béo nục. Đôi mắt nâu

trầm ngâm ngơ ngác nhìn xa. Cái bụng mịn mượt, cổ quàng chiếc tạp dề công nhân đầy hạt

cườm lấp lánh biêng biếc. Chàng chim gáy nào giọng gáy càng trong càng dài, mỗi mùa

càng được vinh dự đeo thêm vòng cườm đẹp quanh cổ."(2) Nhìn chim gáy dƣới góc độ riêng

và miêu tả đƣợc nhƣ vậy bao năm qua, quả chỉ có Tô Hoài. Phải có những cảm nhận phong

phú và lòng yêu mến cái đẹp mới có thể đặt bút viết nên những dòng nhƣ vậy. Màu sắc.

đƣờng nét cụ thể của chú chim nhỏ thân quen nơi thôn dã đã làm cả trang văn sáng lên, sợi

nhớ biết bao điều trong ký ức mỗi ngƣời.

Văn Tô Hoài không bao giờ khô khan chỉ biết đơn thuần chạy theo sự việc mà luôn

đậm phong vị, hƣơng sắc riêng. Với bất cứ thể loại, đề tài nào ông cũng trau chuốt ngôn ngữ,

quan sát, miêu tả thật kỹ lƣỡng đem đến cho độc giả những cảm xúc trữ tình mang tính thẩm

mỹ cao. Nhân vật trong truyện của Tô Hoài hiện lên thật hài hoa với khung cảnh, đẹp và nên

thơ lạ kỳ.

"Khi ngoài đồng đã đông người gặt thì chim gáy về, bay vần quanh trên các ngọn tre.

Rồi từng đàn sà xuống những thửa ruộng vừa gặt quang.

Con mái xuống trước, cái đuôi lái lượn xòe như múa.

(1) Tô Hoài - Cá đi ăn thề, Tuyển tập văn học thiếu nhi, NXB VH, H, tr 30. (2) Nhiều tác giả - Truyện ngắn hay dành cho thiếu nhi, tập 2 , tr. 39 . NXB Trẻ.

116

Con đực nán lại trong bờ tre, cất tiếng gáy thêm một thôi dài. Xong rồi anh chàng

mới thủng thỉnh bước ra, ưỡn cái ngực đầy cườm biếc lượn nhẹ theo.”(1)

Chất thơ trong văn, sự tinh tế, sức lắng nghe, khả năng nhận xét của tác giả đều có đủ

trong đoạn văn này. Để đạt đƣợc điều này, tác giả đã phải thƣờng xuyên trau dồi, thu thập

vốn ngôn ngữ của mình. Hàng ngày, ông vẫn cặm cụi ghi chép, học tập ngôn ngữ văn

chƣơng, ngôn ngữ đời sống. Trong "Nghệ thuật và phương pháp viết văn ", ông có mấy lời

rất tâm huyết nhƣ sau: "Lao động sinh ra tiếng nói - theo nghĩa rộng, bao gồm mọi hoạt động

và sinh hoạt, chữ cũng rập theo nghĩa của tiếng nói. Người viết văn không thể ngồi bóp óc

nghĩ cách trau dồi câu chữ mà phải đi vào thực tế đời sống mới bồi bổ được chữ nghĩa cho

ngòi bút. Không một tài năng to lớn nào có thể nghĩ ra được chữ. Chỉ có tích luỹ nhiều chữ

đã chắt chiu hàng ngày mới có cơ hội sáng tạo lại ra chữ của phong cách ngòi bút”(2). Ông

ghi chép cóp nhặt chữ nghĩa trong cuộc sống cần cù nhƣ con ong làm tổ. Nét sinh hoạt của

quanh cảnh, loài vật ông từng quan sát là chỗ dực vững chắc tạo nên sức mạnh sáng tạo của

nhà văn Tô Hoài. Ông có ý thức giữ phong cách rất riêng của mình trong sáng tác do đó

không pha tạp, lấm láp giọng văn ngƣời khác. Tô Hoài viết rất tự nhiên, câu chữ phong phú,

lời ăn tiếng nói bình thƣờng của cuộc sống đã trở thành mạch văn riêng của tác giả và trong

mạch văn ấy xuất hiện những câu văn hay, sắc sảo khiến ta phải ngỡ ngàng. "Bóng nắng nhạt

vàng đằng cuối núi. Chân trời như cái vườn cam chín đằng xa rồi phút chốc đổi màu giống

vạt tà áo chàm, rồi mờ hẳn. Trời chạng vạng rồi trời tối dần. Một ông sao to

(1) Sđd, tr. 40. (2) Sđd, tr. 205.

117

loé lên đứng cao trên góc rừng, nhìn xuống Ngựa Con và Bàn Quý."(1) Đó thực sự là những

câu văn hay, những câu đƣợc chắt lọc từ tinh hoa cuộc sống. Khi đọc câu văn Tô Hoài viết ta

thƣờng bắt gặp cái đẹp của chữ nghĩa. "Cỏ non xanh rờn, nước bạc mênh mang. Nắng vàng

rải trên lá cây, vàng một màu tươi lạ lùng... Bấy giờ mặt đất đương mùa hoa may. Chúng tôi

đi mịt mờ dưới bóng hoa may. Trông suốt bốn phía chân trời đâu đâu cũng phất lên một màu

trắng bàng bạc, xam xám của những bông hoa may.”(2) Từng chữ, từng câu đƣợc viết rất linh

hoạt, nhiều màu vẻ, thể hiện đƣợc hơi thở cuộc sống. Văn chƣơng của Tô Hoài luôn gắn liền

với thái độ và cảm hứng chủ quan của ông. Khi vui, khi buồn, lúc ngỡ ngàng, chán nản... tất

cả đều đƣợc diễn đạt bằng giọng điệu, kiểu cách riêng. Trong truyện Gã Chuột Bạch, tác giả

có đoạn viết:

"Trời đã trở về mùa lạnh. Những cụm lá bánh khúc thấp lè tè, nở hoa vàng khắp cánh

đồng làng Nghĩa Đô. Đã không có nắng lớn. Những đứa trẻ nghèo cũng hồng đôi má còm

cõi. Môi chúng khô còng lên, ăn cơm có nước mắm thấy xon xót. Chúng gãi vào da, da nổi

lên những lần bụi trắng. Buổi chiều, cậu nào rửa chân cũng ngần ngại, không yêu nước. Và

đêm đã phải ngủ chung với chăn bông cùng ổ rạ rồi.

Đôi vợ chồng Chuột cũng lạnh. Phong cảnh trong cái cửa sổ lại buồn nữa. Giàn thiên

lý đã rụng hết là xanh. Chỉ còn trơ lại những dây già đen đủi, còng queo trên ngách cửa.

Từng nắm lá khô, rúm vào nhau, nằm co ro trong giàn, để mỗi buổi chiều đỏ hoe, hễ chớm

hơi một gợn mây nhỏ, cũng tới tấp rơi lạt xạt xuống mặt đất"(3).

Cách tả nhƣ vẽ ấy gợi ta nhớ đến một Thạch Lam tài hoa, đằm

(1) Sđd, tr. 117. (2) Sđd, tr. 109. (3) Sđd. tr. 32.

118

thắm, bay bổng trong Gió lạnh đầu mùa. Khi những cơn gió đầu mùa thổi tới, "Nhìn ra

ngoài sân, Sơn thấy đất khô trắng, luôn luôn cơn gió vi vu làm bốc lên những màn bụi nhỏ,

thổi lăn những cái lá khô lạo xạo. Trời không u ám, toàn một màu trắng đục. Những cây lan

trong chậu, lá rung động và hình như sắt lại vì rét"(1). Cái rét trong văn Thạch Lam cũng có

nhiều sắc độ, đƣợc nhìn từ nhiều phía, nhiều chiều, ông là ngƣời nhạy cảm trƣớc khoảnh khắc

lạnh lẽo, u buồn do cái rét đem tới. Đó không còn là cái rét đáng sợ của trời đất mà là cái rét

phát ra từ trong lòng ngƣời ta. Rét thê thảm!

Cái rét trong văn Tô Hoài không hành hạ con ngƣời đến nhƣ vậy, mặc dù những cơn

gió lạnh ấy cũng thấm đƣợm nỗi buồn mơ hồ, khó tả. Mùa đông ở Nghĩa Đô dƣờng nhƣ đã

đƣợc nhà văn Tô Hoài cất giữ trong ký ức từ rất lâu, khi cần dùng đến, ông chỉ đặt bút là nên

câu chừ. Cái rét đã từng xuất hiện nhiều trong văn chƣơng nhƣng khí lạnh của những cơn gió

trong văn Tô Hoài vẫn giữ đƣợc nét riêng: dung dị, đời thƣờng, cứ nhƣ chơi chơi, vui đùa mà

độc đáo. Cái hóm hỉnh, tinh tế ấy không ít tác giả muốn vƣơn mà không đến đƣợc. Ông chăm

chút, mài sắc ngôn từ của mình qua từng trang viết, không để mạch văn lôi cuốn mà quên đi

giá trị biểu cảm của những sáng tạo nghệ thuật ngôn từ.

Trong cách kể chuyện ông cũng chú ý đến cả sự hòa hợp giữa ngôn ngữ nhân vật và

ngôn ngữ ngƣời kể tạo cho mạch văn của truyện luôn uyển chuyển, linh hoạt, tác động đến

nhận thức của ngƣời đọc một cách mạnh mẽ. "Mẹ ta cẩn thận quá. Ngày nào mẹ ta cũng bắt

ta nhai nhải những phép dạy dỗ mọi lẽ ăn ở. Không gì lôi thôi phiền phức bằng. Ngày mai

ngày kia, ta sẽ ra ở riêng. Ta sẽ kiếm những ngọn cỏ non, cỏ tươi để ăn. Ta sẽ kết giao với

những người rất tốt rất hiền ở mọi nơi. Có khó khăn gì đâu!

(1) Thạch Lam - Truyện ngắn chọn lọc - NXB Hội nhà văn, tr 101.

119

Cuộc đời chẳng khó khăn gì ư ? Chỉ bởi chú Bọ Ngựa bé con, từ thuở lọt lòng vẫn nép

dưới bụng mẹ mà nhìn ra ngoài trời xanh, mới thấy được dễ dàng như thế đó."(1)

Cách sử dụng nhạc điệu trong câu cũng rất đƣợc nhà văn Tô Hoài quan tâm.

"Lúc ấy, tôi khom người xuống. Tôi đã nghĩ ra một cách. Tôi bảo Trũi trèo lên lưng.

Tôi mím miệng, nghiến răng, gắng sức bình sinh cõng Trũi bay qua sông. Không cất cao

mình lên được, tôi chỉ đủ sức bay là là mặt nước”(2).

Đọc câu văn trên, ta không chỉ bắt gặp hình ảnh của một ngƣời đang cố gắng làm một

việc quá sức mà còn nhƣ nghe đƣợc tiếng hít thở, gồng mình... Những dấu phẩy ngắt các cặp

từ : mím miệng, nghiến răng, gắng sức bình sinh đã tạo đƣợc một chuỗi âm thanh ngắn gọn,

khoe khoắn, có hình ảnh, chuyển động trƣớc mắt chúng ta.

Và một đoạn văn miêu tả sự hốt hoảng của một ngƣời anh sinh cùng lứa với Mèn:

"Nghe tiếng chân tôi bước thình thịch, anh hoảng hốt, luống cuống, bối rối cả càng

lẫn râu rồi cứ quanh quẩn chạy vòng tròn, không biết chạy đi đâu."(3)

Câu văn dồn dập, gấp gáp, với các từ hoảng hốt, luống cuống, bối rối, quanh quẩn,

chỉ với vài ba từ đã làm rõ đƣợc dáng điệu của ngƣời yếu ớt cả thể xác lẫn tinh thần.

Miêu tả âm thanh của chiếc vòng đu nhỏ - loại đồ chơi của chuột bạch - tác giả viết:

"Những tiếng đằm đằm trong đêm khuya! Những âm

(1) Sđd, tr. 412. (2) Sđd, tr. 106. (3) Sđd, tr. 61.

120

thanh chỉ be bé, mơ hồ gần như hư không. Lúc chậm, nghe rỉ rách như tiếng nước giọt tranh.

Lúc mau thì bồn chồn như tiếng vầy tơ quay lọc cọc như tiếng bánh xe sắt chạy trên con

đường đá trắng dài hun hút, vào một buổi chiều vàng ngây ngất"(1).

Cách lựa chọn từ ngữ diễn đạt đằm đằm, be bé, rỉ rả, mơ hồ, bồn chồn đã khơi mở

những cảm giác tẻ nhạt và ngao ngán trong lòng ngƣời đọc. Những âm thanh không đủ gắt để

gây khó chịu nhƣng cũng không êm ái ru hồn ngƣời.

Nếu giọng điệu trong văn Nam Cao lạnh lùng, chua xót; Nguyên Hồng thiết tha,

nồng nàn, "trong xúc cảm bao giờ cũng có cái gì quằn quại, nặng nề" thì giọng điệu văn

chƣơng của Tô Hoài lại rất khách quan, dí dỏm, dạt dào cảm xúc nhƣng không quá bay bổng

hay nặng nề. Giọng văn nhẹ nhàng, hóm hỉnh đó đã giúp ông tạo đƣợc mối liên hệ gần gũi

đồng cảm giữa ngƣời viết và ngƣời đọc.

Tuy là ngƣời miêu tả thiên nhiên, vạn vật xuất sắc nhƣng Tô Hoài cũng còn hạn chế

trong việc phân tích tâm lý, triển khai tâm lý để tạo chiều sâu cho tính cách nhân vật. Trong

một vài truyện, việc nuôi dƣỡng và bồi đắp cho sự phát triển của tính cách chƣa đạt đến sự

toàn vẹn làm bức tranh chung của tác phẩm đôi lúc nhạt nhòa. Niềm say mê hứng thú trong

sáng tác đôi lúc làm tác giả thiếu chắt lọc. Ông muốn viết thật nhiều, thật đầy những gì mình

cảm nhận làm một số truyện trở nên dài dòng, câu chữ dàn trải. Nhƣợc điểm đó nếu chú ý, tác

giả chắc sẽ dễ dàng khắc phục. Những đóng góp to lớn của nhà văn Tô Hoài trong hơn nửa

thế kỷ qua cho văn học Việt Nam đặc biệt là văn học thiếu nhi vẫn nhắc nhở ta ở ông có một

bút pháp văn chƣơng độc đáo. Trong những năm đầu thiên niên kỷ này, truyện của ông vẫn

luôn là món quà quý giá đối với thiếu nhi, luôn hiện diện trong tủ sách mỗi gia đình và đem

lại cho các em tiếng cƣời sảng

(1) Tô Hoài - O Chuột - Truyện gã Chuột Bạch, NXB VN, TP HCM, tr 30.

121

khoái, niềm say mê văn học.

Cả cuộc đời mình, tác giả luôn dành trọn tình cảm yêu thƣơng cho thiếu nhi.

Ông cố gắng gửi đến các em những món ăn tinh thần quý giá nhằm bồi bổ tâm hồn

các em. Ông đã mở rộng lòng mình vì trẻ và trong lòng trẻ nhà văn Tô Hoài sẽ mãi

mãi là tác giả yêu mến của các em. Những gì ông viết cho thiếu nhi mức độ thành

công có thể khác nhau nhƣng tấm lòng và sự nỗ lực không ngừng của ông thật đáng

để chúng ta trân trọng và là tấm gƣơng sáng cho các em nhỏ noi theo.

122

KẾT LUẬN

Một đời cầm bút non hai phần ba thế kỷ, nhà văn Tô Hoài nhƣ con ong cần mẫn hút

mật cho đời. Ông xứng đáng là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam

hiện đại. Bằng vào khối lƣợng tác phẩm đồ sộ, Tô Hoài còn là tấm gƣơng sáng về tinh thần

hăng say lao động. Những sáng tác về loài vật của ông mãi mãi là những trang viết đẹp đẽ,

trong sáng, là món quà vô giá ông dành tặng trẻ em. Truyện loài vật đã đƣa tên tuổi nhà văn

Tô Hoài lên hàng đầu trong số các nhà văn chuyên viết đồng thoại. Loại truyện này mang ý

nghĩa nhân văn rất lớn, nó giúp con ngƣời, nhất là trẻ em, yêu quý loài vật và có ý thức bảo

vệ môi trƣờng. Môi trƣờng sống xung quanh ta đang rất cần bàn tay con ngƣời chăm sóc.

Ngay từ bé, con ngƣời đã cần đƣợc giáo dục lòng nhân ái, biết yêu thƣơng động vật, giữ gìn

môi trƣờng sống xung quanh, có nhƣ vậy thì hành tinh của chúng ta mới đẹp mãi màu xanh.

Thông qua các nhân vật "loài vật" của mình, ông còn gửi đến bạn đọc những thông

điệp riêng của mình. Ngƣời lớn, trẻ em, đọc truyện của Tô Hoài đều tìm đƣợc những gì cần

tìm. "Tôi không viết đồng thoại vì quá bâng quơ, vì tếu, muốn làm cho lạ, hoặc không vì lẽ gì

hết (lối nghĩ lập dị của một số người viết thời ấy), bao giờ tôi cũng muốn đem vào đồng thoại

một nội dung xã hội."(1) Trong những năm trƣớc Cách mạng tháng Tám, khi

(1) Phê bình bình luận văn học Nguyễn Huy Tƣởng, Ngô Tất Tố, Tô Hoài -Tôi viết đồng thoại Dế Mèn, Chim Gáy, Bồ Nông, NXB Văn Nghệ TPHCM 1998, tr 117.

123

mà thế đứng của ngƣời cầm bút còn bị o ép từ nhiều phía việc viết đồng thoại.của nhà văn Tô

Hoài tỏ ra rất hiệu quả. Tuy chỉ là những lời nói bóng gió, xa xôi, nhũng ngƣời đọc vẫn cảm

nhận đƣợc một không khí mới trong văn chƣơng, một lối đi mới ngoài xã hội. Tô Hoài - lúc

bấy giờ - có thể nói là một nhà văn trung hòa giữa hai "làn sóng" hiện thực và lãng mạn. Ông

đã biết kết hợp nhuần nhuyễn nghệ thuật và hiện thực để tạo nên những thành công nhất định

trên văn đàn Việt Nam.

Nếu nhìn cả cuộc đời, nhìn toàn bộ tác phẩm của Tô Hoài, nhất là tác phẩm Dế Mèn

phiêu lưu ký, tác phẩm xuất sắc nhất của ông, thì ta thấy ông đã cống hiến rất nhiều cho văn

học nƣớc nhà thời kỳ 1930 - 1945. Ông là một nhân chứng có uy tín của một thời đã đi qua

không bao giờ trở lại. Những phản ánh trung thực, sức bền và khả năng giữ cho mình luôn có

đƣợc cái mới, vƣợt lên chính mình của Tô Hoài thật đáng nể trọng. Ông là một trong số ít nhà

văn đƣợc bạn đọc yêu mến, kính trọng, liền mạch trong suốt cả cuộc đời.

"Nhân vô thập toàn", văn chƣơng của một con ngƣời cũng vậy, không thể nào đạt đến

mức hoàn hảo tuyệt đối. Nhà văn Tô Hoài cũng không nằm ngoại lệ, do những hạn chế của

tác giả và do hoàn cảnh, tác phẩm của ông đã không tránh khỏi sơ sót, nhất là trong những

truyện viết về loài vật dành cho thiếu nhi, ông viết sau Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên,

không vì vậy mà độc giả và những nhà nghiên cứu từ bỏ tình cảm của mình dành cho nhà văn

Tô Hoài. Sự nghiệp của ông có thể ví nhƣ một dòng sông, ngày đêm dạt dào xuôi chảy,

không than van, mệt mỏi, chỉ biết ân cần, dâng tặng đời những gì đẹp nhất mình có đƣợc.

Chỉ xét riêng những thành công của ông trong mảng "truyện loài vật" cũng đủ khẳng

định sự đóng góp của Tô Hoài cho văn học Việt Nam hiện đại. Sự nghiệp Tô Hoài đã dành

cho ông một địa vị xứng đáng trong lịch sử văn học nƣớc nhà. Năm tháng đi qua, bụi thời

gian dẫu có làm phai mờ tất cả, thì những gì Tô Hoài đã và đang để lại cho đời vẫn còn

nguyên đó, tinh khôi, giá trị. Ở tuổi 80, Tô Hoài vẫn đang tiếp tục đi tới, chinh phục những

thành tựu mới của văn học. Và thật lạ, càng cao tuổi, ông càng

124

sáng tác sung sức, giọng văn vẫn tinh tế, hóm hỉnh, trẻ trung. Hai cuốn hồi ký mang

đậm chất tùy bút Cát bụi chân ai và Chiều Chiều mới xuất bản gần đây đã khẳng

định sức trẻ của bút lực Tô Hoài.

125

THAM KHẢO

1/ Lại Nguyên Ân, Văn học và phê bình - NXB Tác phẩm mới, H, 1984.

2/ Nguyễn Trọng Báu, Truyện ngụ ngôn thế giới chọn lọc, NXB Phụ nữ, H, 1998.

3/ Vũ Ngọc Bình, Đôi điều tâm đắc, NXB KĐ, H, 1985.

4/ Nam Cao, Tuyển tập Nam Cao, NXB VH, H, 1997.

5/ Nguyễn Đức Dân, Cái lý và chiều sâu qua ngôn ngữ trong truyện nhi đồng, TCVH, số 3/

1979.

6/ Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức, Nhà văn Việt Nam hiện đại, NXB ĐH THCN. H. 1979.

7/ Hà Minh Đức, Khảo luận văn chƣơng, NXB KHXH. H, 1997.

8/ Hoàng Anh Đƣờng, Chất mạo hiểm trong truyện phiêu lƣu, mạo hiểm viết cho thiếu nhi,

TCVH, số 3/ 1980.

9/ Nguyễn Công Hoan, Tuyển tập Nguyễn Công Hoan, NXB VH, H, 1984.

10/ Tô Hoài, Tuyển tập văn học thiếu nhi tập 1. NXB VH. H, 1997.

11/ Tô Hoài, Tuyển tập văn học thiếu nhi tập 2, NXB VH, H, 1997.

12/ Tô Hoài, Hồi ký, NXB Hội nhà văn.

13/ Tô Hoài, Cỏ dại, tập 1, NXB Trẻ.

14/ Tô Hoài, Mùa hạ đến, tập2, NXB Trẻ.

15/ Tô Hoài, Cát bụi chân ai, NXB Hội nhà văn, 1992.

16/ Tô Hoài, Những gƣơng mặt, NXB Hội nhà văn, H, 1997.

17/ Tô Hoài, Nghệ thuật và phƣơng pháp viết văn, NXB VH, H, 1997.

18/ Tô Hoài, Chuyện cũ Hà Nội I và II, NXB HN, 1998.

126

19/ Tô Hoài, Chiều Chiều, NXB Hội nhà văn, 1999.

20/ Trăng thề, NXB Văn nghệ 1995.

21/ Quê nhà, NXB Văn nghệ 1995

22/ O Chuột, NXB Văn nghệ, 1995.

23/ Dế Mèn phiêu lƣu ký, NXB KĐ 1997.

24/ Đảo hoang, NXB KĐ, 1997.

25/ Nhà Chử, NXB KĐ, 1997.

26/ Chuyện ông Gióng, NXB KĐ, 1997.

27/ Nguyễn Thanh Hồng, Truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, TCVH, số 3/54.

28/ Văn Hồng, Nhà xuất bản Kim Đồng và nền văn học viết cho thiếu nhi của Việt Nam,

TCVH, số 3, 1981.

29/ Văn Hồng, Hoa trái đầu mùa, NXB KĐ, H, 1986.

30/ Thạch Lam, Tuyển tập Thạch Lam, NXB VH, H, 1987.

31/ Phong Lê, vẫn chuyện văn và ngƣời, NXB Văn hóa thông tin.

32/ Đặng Văn Lung (chủ biên), Nghiên cứu văn nghệ dân gian, tập 1, NXB Văn hóa dân tộc,

H, 1997.

33/ Phƣơng Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Thành Thế Thái Bình, Cơ sở lí luận văn học, NXB GD,

1988.

34/ M. Gorki, Bàn về vãn học, tập 2, NXB VH, H, 1995.

35/ Nguyễn Đăng Mạnh, Một thời đại mới trong văn học, NXB VH.

36/ Bùi Thanh Minh, Mấy suy nghĩ về truyện viết về sinh hoạt của thiếu nhi gần đây, TCVH,

số 6/ 1965.

37/ Trần Đình Nam, Nhà văn Tô Hoài, TCVH, số 9 / 1995.

38/ Nguyễn Xuân Nam, Nhân đọc Chuyện ông Gióng của Tô Hoài, TCVH, số 1/ 1975.

39/ Vƣơng Trí Nhàn, sổ tay ngƣời viết truyện ngắn, NXB Tác phẩm mới,

127

H, 1980.

40/ Nhiều tác giả, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1930 - 1945, NXB GD, 1990.

41/ Nhiều tác giả, Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện đại, NXB KHXH, 1997.

42/ Nhiều tác giả, Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học, NXB Văn hóa, H, 1995.

43/ Nhiều tác giả, Vũ Trọng Phụng - Tài năng và sự thật, NXB VH, H, 1997.

44/ Nhiều tác giả, Bàn về văn học thiếu nhi, NXB KĐ, H, 1983.

45/ Nhiều tác giả, Kinh nghiệm viết cho các em, NXB VH, 1960.

46/ Nhiều tác giả, Phê bình - bình luận văn học, Nguyễn Huy Tƣởng, Ngô Tất Tố, Tô Hoài,

NXB Văn nghệ, 1998.

47/ Nhiều tác giả, Phê bình - bình luận văn học, Lục súc tranh công -Truyện Trê Cóc - Trinh

Thử - Bạch Viên Tôn Các, NXB Văn nghệ, 1998.

48/ Nhiều tác giả, Tô Hoài về tác gia và tác phẩm. NXB Giáo dục, 2000.

49/ Nhiều tác giả, Tác da văn học Hà Nội - Thăng Long, NXB Hội nhà văn, H, 1998.

50/ Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, tập 4, NXB Vĩnh Thịnh, H, 1951. 51/ Vũ Quần

Phƣơng, Tô Hoài văn và đời, TCVH , số 8, 1994.

52/ Võ Xuân Quế, Ngôn ngữ một vùng quê trong các tác phẩm đầu tay của Tô Hoài, TCVH,

số 5/ 1990.

53/ Trần Đình sử, Lý luận và phê bình văn học, Hội nhà văn, H, 1996.

54/ Văn Tâm, Góp lời thiên cổ sự, NXB VH, 1991.

55/ Vân Thanh, Văn học thiếu nhi Việt Nam, TCVH, số 6/ 1962.

56/ Vân Thanh, Tô Hoài với Tuyển tập Con mèo lƣời, TCVH, số 1/ 1965.

57/ Vân Thanh, Tìm hiểu đặc điểm của đồng thoại, TCVH, số 4/ 1974.

128

58/ Vân Thanh, Truyện viết về cuộc sống trƣớc mắt cho các em, TCVH, số 5/1976.

59/ Vân Thanh, Văn học viết cho thiếu nhi, TCVH, số 5/ 1980.

60/ Vân Thanh, Tô Hoài qua tự truyện, TCVH, số 6/ 1980.

61/ Vân Thanh, Võ Quảng và văn học thiếu nhi, TCVH, số 3/ 1982.

62/ Vân Thanh, Phạm Hổ với tuổi thơ, TCVH, số 3/ 1989.

63/ Phong Thu, Viết cho lứa tuổi nhi đồng, TCVH, số 3/ 1979.

64/ Cửu Thọ, Sách cho tuổi thơ, NXB TPHCM, 1988.

65/ Bùi Đức Tịnh, Ngôn ngữ và văn học, tập 1, NXB Văn nghệ.

66/ Lê Ngọc Trà, Lý luận và vãn học, NXB Trẻ, 1990.

67/ Bùi Tất Tƣơm ( chủ biên ), Giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB GD, 1997.

68/ Hà Vỹ, Tâm lý thiếu niên với tác phẩm văn học, TCVH, số 1/ 1982.

129