ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN V ĂN DUNG
VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO HỌC SINH
PHỔ THÔNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIÊNG VIỆT
MÃ SỐ : 5.07.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PHÓ TIẾN SĨ ĐẶNG NGỌC LỆ
Thành phố Hồ Chí Minh 9/1997
LỜI CẢM ƠN
Nhờ sự tận tình giúp đỡ của thầy Đặng Ngọc Lệ, chúng tôi đã hoàn thành luận văn khoa
học này.
Chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với thầ y. Xin chân thành cảm ơn những thầy
cô đã có những ý kiến đóng góp quý báu cho luận văn. Cảm ơn phòng Quản lý khoa học
Trường Đại học Sư phạm thành Phố Hồ Chí Minh, Trường Cao đẳng Sư Phạm Tây Ninh đã
khuyến khích và tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình thức hiện.
2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................................... 2 MỤC LỤC ............................................................................................................................ 3 DẪN LUẬN ......................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài: .......................................................................................................... 5 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu: ............................................................................................ 7 3. Nhiệm vụ nghiên cứu: ................................................................................................. 11
4. Đóng góp của luận văn: ............................................................................................... 11 5. Phương pháp nghiên cứu và ngồn tài liệu: ................................................................... 12 6. Kết cấu của luận văn: .................................................................................................. 13
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG QUANH VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO HỌC SINH ................................................................................................................ 16
1.1. Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ ngữ cho học sinh: ................... 16 1.2. Cơ sở lý luận của việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh:....................................... 17 1.2.1. Cơ sở ngôn ngữ học: .......................................................................................... 17
1.2.2. Cơ sở phi ngôn ngữ: ........................................................................................... 18
1.3. Những điểm khác biệt của việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bản ngữ so với học sinh học ngoại ngữ: ......................................................................................................... 19
1.4. Những điểm khác biệt trong việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở so với Tiểu học và Trung học phổ thông: .................................................................... 20
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO HỌC SINH BẬC PHỔ THÔNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ......................................................................................................... 23
2.1. Thực trạng việc giảng dạy Từ ngữ và phát triển vốn từ cho học sinh theo chương trình, sách giáo khoa Văn - Tiếng Việt bậc trung học cơ sở: ..................................................... 23
2.1.1. Về tình hình dạy-học tiếng Việt ở trường phổ thông từ sau cách mạng tháng Tám 1945: ........................................................................................................................... 23
2.1.2. Thực trang về việc dạy-học Từ ngữ và phát triển Từ ngữ cho học sinh phổ thông: .................................................................................................................................... 24 2.2. Những nguyên tắc cơ bản xung quanh việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh: ....... 31 2.2.1. Nguyên tắc hệ thống : ........................................................................................ 31
2.2.2. Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp:........................................................ 32
2.3. Nội dung và phương pháp phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc phổ thông trung học cơ sở: .............................................................................................................................. 33
2.3.1. Về việc cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh bậc trung học cở sở: ........................ 34 2.3.2. Về việc rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở: .. 46
CHƯƠNG 3: VÀI Ý KIẾN VỀ CHƯƠNG TRÌNH TỪ NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
3
BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ ................................................................................................ 55 3.1. Vài nhận xét về chương trình, nội dung, sách giáo khoa Từ ngữ: .............................. 55
3.1.1. Điểm qua nội dung chương trình nội dung, sách giáo khoa Từ ngữ Cải cách giáo dục: ............................................................................................................................. 55 3.1.2. Vài nhận xét về chương trình, nội dung sách giáo khoa Từ ngữ chỉnh lý : .......... 56
3.2. Một số đề xuất về việc bổ sung chỉnh lý : ................................................................. 58 3.2.1. Một số đề xuất chung: ....................................................................................... 58 3.2.2. Về việc dạy-học Từ ngữ Hán-Việt ở bậc phổ thông THCS : ............................... 59
KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 69 PHỤ LỤC ........................................................................................................................... 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 79
4
DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài:
Trong nhà trường, môn Tiếng Việt có một vị trí và tính chất đặc biệt. Ngoài nhiệm vụ
cung cấp cho học sinh những tri thức về ngôn ngữ và Tiếng Việt, các quy tắc hoạt động và
sản phẩm của nó trong hoạt động giao tiếp, tiếng Việt còn là công cụ tư duy, là phương tiện
giao tiếp. Môn tiếng Việt đảm nhận chức năng trang bị cho học sinh những điều kiện cần
thiết để tiếp nhận và diễn đạt kiến thức khoa học, tư tưởng tình cảm. Vì vậy, việc rèn luyện
kỹ năng dùng tiếng Việt là chìa khóa của nhận thức, học vấn và phát triển trí tuệ. Thiếu quan
tâm đến việc rèn luyện kỹ năng tiếng Việt, học sinh sẽ không hoàn thành tốt nhiệm vụ của bất
kỳ môn học nào.
Tiếng Việt có vai trò quan trọng như vậy đối với học sinh, nhưng thực tế việc dạy-học
tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt đang khiến cho những ai quan tâm đến
vấn đề này băn khoăn, lo ngại. So với những thập kỷ trước đây, việc dạy-học tiếng Việt hiện
nay đã có những tiến bộ đáng kể, nhưng vẫn còn n hiều điều cần phải trao đổi, bàn bạc để cải
tiến nhằm mang lại hiệu quả cao hơn. Còn việc rèn luyện kỹ năng tiếng Việt nói chung, Từ
ngữ nói riêng đối với học sinh đang ở mức báo động. Hiện trạng nắm và sử dụng Từ ngữ của
học sinh thật đáng buồn. Lỗi về dùng từ là phổ biến : dùng từ Hán-Việt sai, dùng từ lặp, thừa
phổ biến, dùng cả những từ thô tục, phi văn hóa trong giao tiếp học đường. Đó là chưa kể đến
việc dùng từ có sẵn, sáo rỗng, chẳng chứa đựng một nội dung đáng kể nào. Tất cả những điều
đó phản ánh sự nghèo nàn trong tâm hồn, suy nghĩ xơ cứng trong giao tiếp, tự đánh mất cá
tính sáng tạo trong diễn đạt.
Thực trạng đáng lo ngại này đã được Đảng, Nhà Nước quan tâm. Từ năm học 1981-
1982, Bộ Giáo Dục đã tiến hành cải cách giáo dục ở bậc tiểu học trong đó có việc xác định lại
vị trí và vai trò của môn tiếng Việt trong nhà trường. Công việc này tiếp tục diễn ra liên tục
trong nhiều năm, cho đến năm học 1992-1993 môn tiếng Việt đã có mội vị trí thỏa đáng ở tất
cả các cấp học của bậc phổ thông.
Đối với bậc phổ thông Tru ng học cơ sở, từ năm học 1 9 8 6-1987, môn tiếng Việt trở
thành một môn học "độc lập bên cạnh môn Văn với tổng quỹ thời gian nhiều hơn. Và sau gần
10 năm thực h iện chương trìn h cải cách giáo d ụ c, năm học 1 9 9 4-1995, chương trình, nội
dung, sách giáp khoa tiếng Việt lại được chỉnh lý.
Cùng với việc xác định lại vị trị và vai trò của môn tiếng Việt, việc xây dựng, biên soạn
5
chương trình và sách giáo khoa, việc nghiên cứu để đổi mới và hoàn thiện về phương pháp
dạy-học tiếng Việt cho học sin h b ản ng ữ cũng được chú trọng hơn. Phương pháp dạy -học
tiếng Việt được triển khai thực hiện ở các trường Sư phạm đào tạo và bồi dưỡng giáo viên.
Hệ thống phương pháp và hệ thống dạy học các bộ phận tiếng Việt, các kiểu bài theo sách
giáo khoa đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Các phương pháp và biện pháp đã
hướng theo tinh thần Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương khóa VII, lần thứ tư ... "Đổi
mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, các bậc học ... áp dụng những phương pháp
dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết
vấn đề." (56 - tr 11)
Việc xác định lại vai trò, vị trí của môn tiếng Việt trong nhà trường phổ thông thể hiện
một bước tiến mới trong nhận thức của chúng ta. Không ai có thể phủ nhận thành quả của cải
cách giáo dục trong những năm qua. Tuy vậy, cho đến nay, cả nước vẫn chưa có một cơ quan
nào, một công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện về vấn
đề này. Chỉ biết rằng sau gần 10 năm dạy-học theo chương trình, nội dung, sách giáo khoa
mới, tháng 12.1996, Hội thảo khoa học "Đổi mới phương pháp dạy-học Văn - tiếng Việt ở
trường Trung học cơ sở" do Vụ Giáo viên và Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội
I tổ chức tại Hà Nội nêu ra một n h ận địn h chun g .. " Kết q u ả d ạy họ c tiếng Việt vẫn còn
nhiều hạn chế vì điều quan trọng nhất của kết quả này là xây dựng động cơ phát triển ngôn
ngữ, giáo dục nhu cầu và hoạt động ngôn ngữ, nhu cầu diễn đạt tư tưởng bằng lời lẽ sáng sủa,
gây hứng thú học tập cho học sinh vẫn chưa được là bao." (63 - tr 10)
Như vậy, vấn đ ề đ ặt ra là phải xem lại, rà soát lại chương trìn h, nội d ung sách giáo
khoa và cả hệ thống phương pháp, biện pháp dạy -học bộ môn. Thực tế vẫn có những cái gì
đó chưa ổn, chưa phù hợp. Người giáo viên trực tiếp giảng dạy vẫn thiếu những điều kiện,
phương tiện cần thiết khiến cho việc thực thi công việc dạy-học lúng túng, kém hiệu quả.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài "Vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho
học sin h b ậc phổ thông Tru ng học cơ sở.". Ph ạm v i củ a đ ề tài chỉ là một vấn đề nhỏ, hẹp
trong toàn bộ nội dung, phương pháp dạy-học tiếng Việt ở trường phổ thông.
Mục đích cần đạt được của đề tài là trên cở lý luận về phương pháp dạy-học tiếng mẹ
đẻ cho học sinh bản ngữ, căn cứ vào chương trình, nội dung, sách giáo khoa Từ ngữ của bậc
Trung học cơ sở, khảo sát việc dạy-học Từ ngữ nhằm phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh
Trung học cơ sở để rút ra những nhận xét, đánh giá, bước đầu đề xuất những phương pháp,
biện pháp, giúp giáo viên phổ thông làm tốt việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh qua dạy-
học Văn-Tiếng Việt, tạo điều kiện cho các em học tốt các môn học và giao tiếp trong cuộc
6
sống có hiệu quả.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, tiếng Việt, ngôn ngữ quốc gia của đối nước Việt
Nam đã có một vị trí xứng đáng trong mọi mặt của đời sống xã hội. Nó nhanh chóng trở
thành ngôn ngữ ch ín h thức d ùng trong n hà trườn g ở tất cả các cấp học. Chương trìn h d ạy
tiếng Việt cho học sinh cấp I, II với tư cách vừa là môn học, vừa là công cụ được thực hiện và
thu được những thành tựu nhất định. Song nhận thức được vai trò của môn Tiếng Việt là một
môn học độc lập là cả một quá trình lâu dài và phức tạp.
Ở bậc tiểu học (cấp I) từ trước cho đến năm 1981, sách giáo khoa dạy cả Văn lẫn Tiếng.
Nhưng thực tế Tiếng vẫn bị coi nhẹ.
Ở bậc Tru ng học cơ sở (cấp III) mãi đến năm 19 8 6 , Văn và Tiếng Việt mới tách ra
thành hai môn riêng. Tiếng lúc này với tư cách là một môn học đặc biệt. Tiếng bao gồm Từ
ngữ và Ngữ pháp. Lần đầu tiên Từ ngữ được chú ý đúng mức ở cấp học này.
Ở bậc Trung học phổ thông phải đến năm 1990, Tiếng Việt mới có chương trình và
sách giáo khoa riêng.
Nếu tính về thời gian, phải sau hơn 40 năm môn Tiếng Việt mới có đựơc vai trò như
hiện nay ở trường phổ thông. Cùng với sự khẳng định ấy bộ môn phương pháp dạy-học tiếng
Việt cho học sinh người bản ngữ bắt đầu trở thành một bộ môn khoa học trong các trường sư
phạm.
Tình hình chung của môn tiếng Việt và phương pháp dạy -học tiếng Việt là như vậy,
riêng Từ ngữ còn gian nan vất vả hơn. Cả một thời gian dài, việc phát triển vốn Từ ngữ cho
học sinh ở trường phổ thông bị thả nổi. Chương trình, sách giáo khoa không có, phương pháp
không được trang bị cho giáo viên. Việc xây dựng kế hoạch, chương trình để cung cấp vốn
Từ ngữ của học sinh không ai quan tâm. Giáo viên chỉ làm công việc rèn luyện vốn Từ ngữ
cho học sinh một cách chiếu lệ, về chữa lỗi dùng từ qua các giờ trả bài Tập làm văn. Lý
thuyết về giảng dạy phát triển, rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ cho học sinh cũng chỉ dừng
lại ở mức độ sáng kiến, kinh nghiệm của một số giáo viên phổ thông dạy lâu năm, có tâm
huyết.
Năm 1983, cuốn Giảng dạy Từ ngữ ở trường phổ thông của nhóm tác giả: Phan Thiều,
Nguyễn Quốc Tuy, Nguyễn Thanh Tùng ra đời. Có thể coi đây là tài liệu đầu tiên, tương đối
có hệ thống về lỵ thuyết phương pháp giảng dạy Từ ngữ. Nội dung tập trung giải quyết:
7
- Nội dung và phương pháp giảng dạy Từ ngữ trong nhà trường.
- Giảng dạy Từ ngữ trong giảng văn.
- Sơ lược về giảng dạy Từ ngữ trong Tập làm văn.
Mặc dầu với tư cách là một tài liệu tham khảo, nhưng cuốn sách đã nêu ra những cơ sở
lý luận, những lý giải khoa học, những kinh nghiệm quý trong việc trau dồi, phát triển vốn Từ
ngữ cho học sinh. Trong nhiều năm, cuốn sách là tài liệu tham khảo bổ ích cho đông đảo các
đối tượng quan tâm đến vấn đề.
Do thời điểm ra đời, cuốn sách cũng chỉ nêu ra nội dung chủ yếu của việc cung cấp,
phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh thực hiện trong môn giảng văn và môn Tập làm văn mà
những môn học này đang hàm chứa nhiều nhược điểm cần phải cải cách. Mặt khác, sách viết
cho nhiều đối tượng khác nhau.
Việc quan tâm đến Từ ngữ thật sự rầm rộ từ khi tiến hành cải cách giáo dục cấp II. Để
triển khai kế hoạch thay sách, các địa phương tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về thay sách
giáo khoa Từ ngữ. Nhiều địa phương đã tiến hành điều tra và thực nghiệm trên phạm vi rộng
về vốn Từ ngữ của học sinh phổ thông. Hơn hai chục báo cáo khoa học năm 1986, mười lăm
báo cáo khoa học của năm 1987 đã dành cho môn Từ ngữ. Nội dung các báo cáo khoa học
tập trung:
- Khẳng định sự cần thiết phải cải cách giáo dục và việc đưa Từ ngữ vào bậc Trung học
cơ sở là hợp lý.
- Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa Từ ngữ
- Tiến hành thực nghiệm để xác định tính khả thi, hiệu quả của các nội dung, các kiểu
bài trong sách giáo khoa. »
Nhìn chung các báo cáo khoa học đi vào diễn giải ý đồ, mục đích của các tác giả xây
dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa, tiến hành thực nghiệm dạy-học một số kiểu
bài để xác định quy trình, thao tác cụ thể, nêu ra những nhận xét bước đầu về tính khả thi của
cải cách giáo dục. Do thời gian hạn chế, phương pháp nghiên cứu chưa được chuẩn bị kỹ cho
nên kết quả chưa có sức thuyết phục cao. Nhiều tác giả chưa lường hết được những hạn chế,
kém hiệu quả của một số nội dung, kiểu bài trong sách giáo khoa.
Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước thu được nhiều thành tựu, việc nghiên cứu
khoa học nói chung, khoa học ngôn ngữ và Việt ngữ nói riêng đã khởi sắc và có nhiều tiến
bộ.
8
Tháng 12.1992, Hội ngôn ngữ học Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học
"Giáo dục ngôn ngữ và phát triển", hơn 80 báo cáo khoa học đã tập trung vào các vấn đề :
Đối tượng của giáo dục ngôn ngữ
Mục tiêu của giáo dục ngôn ngữ
Nội dung và phạm vi của giáo dục ngôn ngữ
Tìm kiếm và đề xuất những giải pháp thỏa đáng để thực hiện có hiệu quả giáo dục ngôn
ngữ và phát triển.
Hội thảo khẳng định "Nhà trường luôn luôn có vị trí cực kỳ quan trọng và quyết định
đới với sự nghiệp giáo dục ngôn ngữ:. (3) Có nhiều báo cáo đã dành sự quan tâm cho việc
dạy học Từ ngữ trong trường phổ thông nhưng vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc
phổ thông Trung học cơ sở vẫn chưa được chú ý.
Năm 1996, ở hai trung tâm khoa học lớn : Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Viện
Ngôn ngữ học phối hợp với một số tổ chức khác đã mở hai hội thảo khoa học.
- "Ngôn ngữ học mùa xuân" ở Hà Nội tháng 3.1996, có 64 báo cáo. Theo Giáo sư Tiến
sĩ Nguyễn Quang Hồng: "Vấn đề giảng dạy tiếng Việt và chữ Việt trong nhà trường là đề tài
dược nhiều tác giả chú ý đến" (27 - tr 6).
- "Ngôn ngữ trẻ mùa thu" ở Thành phố Hồ Chí Minh-tháng 11.1996 có gần 40 báo cáo,
trong đó có một số báo cáo có liên quan đến dạy-học tiếng Việt trong nhà trường.
Số lượng báo cáo của hai cuộc hội thảo nhiều, nội dung phong phú nhưng báo cáo về
Từ ngữ trong nhà trường khiêm tốn, các báo cáo có liên quan đến đề tài hầu như không có.
Tháng 12.1996, Vụ Giáo viên Bộ Giáo Dục-Đào tạo kết hợp với khoa Ngữ văn trường
Đại học Sư Phạm I Hà Nội tổ chức hội thảo Khoa học "Đổi mới phương pháp dạy-học Văn-
Tiếng Việt ở trường Trung học cơ sở." Hơn 70 báo cáo và tham luận tập trung vào các vấn
đề:
Đánh giá thực trạng về việc dạy-học Văn-Tiếng Việt sau mười năm cải cách giáo dục.
Nội dung chương trình, sách giáo khoa Văn-Tiếng Việt bậc phổ thông Trung học cơ sở
hiện hành.
Những phương pháp và biện pháp có thể vận dụng để góp phần nâng cao hiệu quả dạy
Văn-Tiếng Việt ở trường phổ thông.
Về phần Từ ngữ, một số báo cáo của Trần Trọng San, Nguyễn Văn Dung, Nguyễn Văn
9
Cảnh đề cập đến việc dạy-học Từ ngữ Hán-Việt theo chương trình và sách giáo khoa bậc phổ
thông Trung học cơ sở. Có một số nội dung liên quan chúng tôi sẽ sử dụng ở phần nội dung
của luận văn này.
Cùng với các hội thảo khoa học được tổ chức ở các thời điểm khác nhau việc nghiên
cứu và biên soạn các giáo trình về phương pháp dạy-học tiếng Việt ở các trường Sư phạm
cũng được quan tâm hơn. Trong mấy năm gần đây, với phương thức liên kết, các trường Cao
đẳng Sư phạm xuất bản giáo trình Phương pháp dạy và học môn tiếng Việt của các tác giả
Nguyễn Hải Đạm, Hoàng Mai Thao, Lê Xuân Soan. Giáo trình đã vận dụng những thành tựu
về phương pháp dạy-học tiếng mẹ đẻ của nhiều nước trên thế giới vào đặc điểm loại hình
tiếng Việt và thực tế của nhà trường Việt Nam. Ở chương phương pháp -học Từ ng ữ tiến g
Việt, giáo trình đã tập trung phân tích làm sáng tỏ:
Ý nghĩa nhiệm vụ chương trình và sách giáo khoa môn Từ ngữ.
Phương pháp dạy- học tri thức lý thuyết về từ ngữ
Phương pháp dạy- học từ Hán-Việt.
Phương pháp day- học mở rộng vồn Từ ngữ theo chủ đề.
Phương pháp giải nghĩa Từ ngữ.
Cuối năm 1996, Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản Giáo trình phương pháp day- học
tiếng Việt của tác giả Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán- cán bộ giảng dạy trường
ĐHSP I Hà Nội. Giáo trình đã vận dụng được những thành tựu mới về phương pháp dạy- học
tiếng mẹ đẻ cho học sinh bản ngữ. Có thể xem giáo trình này thể hiện tập trung đầy đủ về lý
thuyết dạy- học tiếng Việt hiện nay. Tuy nội dung là dạy học- học tiếng Việt ở bậc phổ thông
trung học, nhưng có những luận điểm, những nội dung liên quan, chúng tôi sẽ sử dụng trong
luận văn này. Trải qua một quá trình lâu dài, Phương pháp dạy- học tiếng Việt nói chung và
Từ ngữ nói riêng đã có được một bước tiến đáng kể. Bám theo chương trình nội dung sách
giáo khoa phổ thông, vận dụng những thành tựu mới nhất Ngôn ngữ học và Việt ngữ học, các
nhà khoa học và sư phạm đã giải quyết được những vấn đề cơ bản về phương pháp dạy- học
Từ ngữ ở trường phổ thông như:
Vị trí, mục đích và nội dung chương trình Từ ngữ
Những cơ sở của việc dạy- học Từ ngữ
Các nguyên tắc dạy- học Từ ngữ.
Phương pháp và biện pháp dạy học tring các kiểu bài trong sách giáo khoa
10
Tóm lại, suốt mấy chục năm qua, kể từ khi môn tiếng Việt được dạy học ở nhà trường,
các nhà khoa học và sư phạm đã luôn quan tâm đến vấn đề xây dựng lý thuyết về phương
pháp dạy- học tiếng Việt cho học sinh bản ngữ. Cho đến nay, các giáo trình về phương pháp
dạy- học tiếng Việt của các trường sư phạm đã giải quyết được những vấn đề chung nhất, cơ
bản nhất của phương pháp dạy tiếng Việt và các bộ phận của tiếng Việt. Nhiều báo cáo khoa
học của các hội thảo khoa học về tiếng Việt đã nêu ra và giải quyết một số vấn đề cụ thể. Tuy
nhiên, như phần I chúng tôi đã nêu, phải chăng còn có cái gì đó, điều gì đó chưa đầy đủ , chưa
phù hợp. Đề tài của chúng tôi đi vào một vấn đề cụ thể là phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh
phổ thông bậc Trung học cơ sở nhằm tìm ra một giải pháp góp phần lý giải thực trạng yếu
kém trong việc sử dụng tiếng Việt của học sinh hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thực hiện luận văn này, chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ :
-Xác định ý nghĩa và cơ sở lý luận của việc phát triển vốn Từ ngữ c ho học sinh nói
chung và bậc Trung học cơ sở nói riêng.
-Khảo sát, tìm hiểu thực trạng việc dạy-học Từ ngữ đối với việc phát triển vốn Từ ngữ
cho học sinh bậc phổ thông Trung học cơ sở ở Tây Ninh.
-Nêu lên một số nguyên tắc và phương pháp, biện pháp cần t hiết cần luận thủ và vận
dụng để phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở.
-Cuối cùng nêu lên một vài nhận xét về chương trình, nội dung, sách giáo khoa Từ ngữ
Trung học cơ sở đối với việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh, trên cơ sở đó đề xuất một
số ý kiến liên quan đến vấn đề này.
4. Đóng góp của luận văn:
Do năng lực hạn chế và nguồn tài liệu gặp khó khăn cho nên đóng góp của luận văn
cũng hết sức khiêm tốn. Chúng tôi nhận thấy có thể đạt được một số điều
-Xác định lại những cơ sở lý luận cần thiết và phù hợp cần phải nắm vững khi thực hiện
vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc phổ thông Trung học cơ sở.
-Nêu được phần nào thực trạng về vốn Từ ngữ và kỹ năng sử dụng Từ ngữ của học sinh
bậc Trung học cơ sở ở địa phương.
- Đề xuất một số phương pháp, biện pháp như cung cấp vốn Từ ngữ, (đặc biệt chú trọng
vốn Từ ngữ Hán-Việt) rèn luyện kỹ năng dùng Từ ngữ phù hợp với đặc điểm, tâm lý lứa tuổi
11
và phong cách ngôn ngữ trong học tập và trong cuộc sống đối với học sinh bậc phổ thông
Trung học cơ sở.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu:
Muốn xây dựng và xác lập các phương pháp dạy-học tiếng Việt nói chung và các bộ
phận cụ thể của tiếng Việt nói riêng phải,dựa vào đặc trưng ngôn ngữ và loại hình tiếng Việt.
Đồng thời phải dựa vào quy luật tâm lý ngôn ngữ học, tâm lý lứa tuổi và trình độ học sinh, có
nghĩa là phải căn cứ vào k hoa học cơ bản và kh oa học sư p hạm. Trong n h iều trường h ợp ,
khoa học sư phạm cần được ưu tiên hơn. Cụ thể, chúng tôi sử dụng các phương pháp và biện
pháp sau:
- Phương pháp quan sát: Để nắm bắt được thực trạng của việc dạy học Từ ngữ nói
chung và việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh Trung học cơ sở nói riêng, chúng tôi tiến
hành dự các giờ d ạy, q u an sát v iệc giảng d ạy của giáo v iên v à học tập củ a học sin h đ ể có
những nhận định và kiểm tra kết quả mà sinh viên điều tra về lỗi dùng từ của học sinh qua bài
làm Tập làm văn.
- Phương pháp điều tra: Để nắm được thực trạng về kỹ năng sử dụng Từ ngữ của học
sinh và những ý kiến của giáo viên trực tiếp giảng dạy về nội d ung, chương trình, sách giáo
khoa Từ ngữ bậc Trung học cơ sở và những công việc giáo viên thực hiện đế phát triển vốn
lừ cho học sinh, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp một số giáo viên và yêu cầu họ trả
lới một số câu hỏi có sẵn. Những kết quả của phương pháp này sẽ được chọn lọc trình bày ở
một số mục phần nội dung.
- Phương pháp thống kê: Bám vào chương trình, nội dung sách giáo khoa môn Văn -
Tiếng Việt bậc Trung học cơ sở, chúng tôi thống kê các lớp từ, số lượng những Từ ngữ có thể
được cung cấp cho học sinh trong từng bài cũng như trong toàn bộ chương trình. Đồng thời
cũng thống kê các kiểu bài tập được dùng để phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh.
- Và cuối cùng là phương pháp phân tích, đánh giá, miêu tả ngôn ngữ.
Dựa trên nguồn tư liệu có được từ các phương pháp trên chúng tôi tiến hành phân tích,
đánh giá để rút ra những nhận xét, kết luận hoặc đề xuất những ý kiến cần thiết. Đồng thời
cũng có nhiều chỗ, chúng lôi miêu tả các sự kiện, hiện tượng Từ ngữ được đưa vào để làm
sáng tỏ những nhận xét đánh giá những đề xuất, những vấn đề liên quan đến đề lài.
Nguồn tư liệu mà chúng lôi dựa vào và đưa ra trong luận văn tập trung chủ yếu:
- Từ kết quả của phương pháp quan sát, điều tra trực tiếp đối với giáo viên và học sinh
12
bậc trung học cơ sở.
- Từ các giáo trình về phương pháp giảng dạy tiếng Việt nói chung và Từ ngữ nói riêng
- Một số bài viết đăng trên các báo, các tạp chí chuyên ngành.
- Sách giáo khoa, sách giáo viên và sách tham khảo về môn Tiếng Việt -Văn học dùng
cho giáo viên và học sinh bậc phổ t hông Trung học cơ sở, phổ thông trung học .
6. Kết cấu của luận văn:
Luận văn này, chúng tôi triển khai theo một kết cấu như sau :
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG XUNG QUANH VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ
CHO HỌC SINH.
1.1. Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển Từ ngữ cho học sinh.
1.2. Những vấn đề có liên quan đến việc cung cấp vồn từ.
1.3. Những điểm khác biệt của việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bản ngữ so với
học sinh học ngoại ngữ.
1.4. Những điểm khác biệt của việc phát triển vốn Từ ngữ của học sinh bậc Trung học
cơ sở so với bậc tiểu học và trung học.
CHƯƠNG 2:
VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO HỌC SINH BẬC PHỔ THÔNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ.
2.1. Thực trạng việc giảng dạy Từ ngữ và phát triển vốn Từ ngữ theo chương trình và
sách giáo khoa bậc Trung học cơ sở.
2.1.1. Về trình hình dạy-học Tiếng Việt ở trường Phổ thông từ sau cách mạng thán g
Tám 1945.
2.1.2. Thực trạng về việc dạy học Từ ngữ và phát triển Từ ngữ cho học sinh phổ thông
2.2. Những nguyên tắc cơ bản xung quanh việc phát triển vốn Từ ngữ.
2.2.1. Nguyên tắc hệ thống
2.2.2. Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp
13
2.3. Nội dung và các phương pháp ,biện pháp có thể dùng để phát triển vốn Từ ngữ cho
học sinh bậc Trung học cơ sở .
2.3.1. Về việc cung cấp .vốn Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở
2.3.1.1. Lựa chọn và phân bố vốn Từ ngữ cần cung cấp.
2.3.1.1.1. Lựa chọn và phân bố.
2.3.1.1.2. Phương pháp lựa chọn
Theo chủ đề, chủ điểm
Theo các gốc từ.
Theo các hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm.
Theo trường nghĩa.
2.3.1.2. Giúp học sinh nắm ý nghĩa và giá trị của Từ ngữ trong giao tiếp
2.3.1.2.1. Vì sao phải nắm ý nghĩa và giá trị của Từ ngữ.
2.3.1.2.2. Các phương pháp có thể vận dụng để giải nghĩa Từ ngữ cho học sinh Trung
học cơ sở.
Phương pháp lô gích học
Phương pháp ngôn ngữ học
Phương pháp xã hội học.
2.3.2. Về rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở.
2.3.2.1. Rèn luyện cho học sinh vận dụng Từ ngữ để tiếp nhận văn bản.
2.3.2.2. Rèn luyện cho học sinh dùng từ đúng tiến tới dùng từ hay.
2.3.2.2.1. Dùng từ đúng trước hết là dùng từ đúng âm.
2.3.2.2.2. Dùng từ đúng nghĩa.
2.3.2.2.3. Dùng từ đúng phong cách ngôn ngữ.
Vận dụng lớp từ vựng cơ bản trong giao tiếp đa phong cách.
Dùng Từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ khoa học
Dùng Từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ hành chính
Dùng Từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ chính luận
14
Dùng Từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
CHƯƠNG 3:
MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ CHƯƠNG TRÌNH TỪ NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ
3.1. Vài nhận xét về chương trình, nội dung , sách giáo khoa Từ ngữ
3.1.1. Điểm qua về chương trình, nội dung , Sách giáo khoa Từ ngữ Cải cách giáo dục
3.1.2. Vài nhận xét về chương trình, nội dung , Sách giáo khoa Từ ngữ chỉnh lý.
3.2. Một số đề xuất, bổ sung, chỉnh lý
3.2.1. Một số đề xuất chung.
3.2.1.1. Về phân lượng thời gian
3.2.1.2. Về cơ cấu nội dung chương trình.
3.2.1.3. Về phần lượng chương trình.
3.2.1.4. Về phát huy tính sáng tạo...
3.2.1.5. Về mối quan hệ giữa Văn và Tiếng.
3.2.2. Về dạy-học Từ ngữ Hán-Việt ở bậc phổ thông Trung học cơ sở.
15
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG QUANH VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO HỌC SINH
1.1. Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ ngữ cho học sinh:
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: "Trong ngôn ngữ thì từ là cái quan trọng
nhất, rồi đến câu, sau đến văn. Cho nên dạy từ là rất cần thiết, phải hiểu tất cả ý nghĩa của từ,
ý nghĩa sâu xa, ý nghĩa phong phú, phải hiểu tất cả mọi cách dùng từ. Bất kỳ người làm văn
nào cuối cùng cũng thấy hiểu từ, dùng từ đúng chỗ là điều quan trọng và cũng là điều khó
khăn bậc nhất."(1 - tr 30,31). Ý kiến này một mặt đã xác định vai trò vị trí của từ trong hệ
thống ngôn ngữ, mặt khác nêu tầm quan trọng và khó khăn của việc cung cấp vốn từ và rèn
luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ cho học sinh.
Từ là đơn vị cơ bản, là yếu tố trực tiếp tham gia cấu tạo các dơn vị của lời nói. Một
ngôn ngữ thực sự tồn tại khi có một hệ thống từ vựng cơ bản. Hệ thống này lại phản ảnh
trạng thái của ngôn ngữ đó. Nó luôn luôn vận động, phát triển và có khối lượng rất lớn. Từ
vựng phong phú bao nhiêu thì ngôn ngữ dồi dào bấy nhiêu.
Để giúp học sinh làm chủ và sử dụng ngôn ngữ giao tiếp mộc cách có hiệu quả, việc
phát triển vốn Từ ngữ cho các em là hết sức cần thiết. Việc phát triển vốn Từ ngữ góp phần
mở rộng và nâng cao trình độ tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, tri thức khoa học và kinh nghiệm xã
hội đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của diễn đạt, giao tiếp trong học tập và cuộc sống.
Quá trình phát triển vốn Từ ngữ không đơn thuần, một chiều, thụ động mà là quá trình hai
chiều. Phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh, một mặt giúp các em nắm được vốn Từ ngữ văn
hoa và cách sử dụng vốn từ này, mặt khác rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ, tức là "phát
triển lời nói liên kết" nhằm hoàn thiện các kỹ năng ngôn ngữ trong giao tiếp.
Từ ngữ không chỉ là một sự kiện ngôn ngữ mà còn là những bản tổng kết cô đọng, xúc
tích, phong phú những hiểu biết, những kinh nghiệm về thực tế thiên nhiên xã hội, con người,
về đời sống tâm hồn và trí tuệ của dân tộc qua hàng ngàn năm lịch sử. Vì vậy việc phát triển
vốn Từ ngữ sẽ giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết về lịch sử, văn hóa dân tộc, tâm hồn, tính
cách của con người Việt Nam. Chính vì vậy vai trò của vốn từ ngữ đối với học sinh cực kỳ
quan trọng. Học sinh có được vốn từ phong phú sẽ :
- Giúp cho việc tiếp thu tri thức các môn học thuận lợi. Những tri thức này là cơ sở mở
mang nhận thức, vốn hiểu biết về các môn khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn có hiệu quả.
- Biểu đạt tư tưởng, tình cảm, tri thức một cách chính xác, uyển chuyển và tinh tế. Nếu
có một vốn Từ ngữ phong phú học sinh sẽ không diễn đạt những câu kiểu :
16
a. Kẻ thù có nhã tâm xâm lược đất nước ta.
b. Anh Nguyễn Văn Trỗi, người thợ điện tầm thường đã lập nên chiến công oanh liệt.
- Cảm nhận được những cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ nói chung và đặc biệt là ngôn
ngữ nghệ thuật. Có một vốn từ phong phú học sinh có hể hiểu được cái hay, cái đẹp của Từ
ngữ, của các tác phẩm văn học được học trong chương trình.
Ngoài ra việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh sẽ có điều kiện để rèn luyện các thao
tác và hình thành năng lực, phẩm chất tư duy. Và có thể khẳng định rằng việc phát triển vốn
Từ ngữ cho học sinh có hiệu quả là việc làm tốt nhất, đắc lực nhất trong việc giữ gìn sự trong
sáng của tiếng Việt.
1.2. Cơ sở lý luận của việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh:
Vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh không phải là việc làm tùy tiện, theo cảm
hứng chủ quan của những người biên soạn chương trình và sách giáo khoa mà phải dựa vào
những căn cứ khoa học. Những căn cứ quan trọng cho vấn đề này là :
1.2.1. Cơ sở ngôn ngữ học:
Việc xác định vốn Từ ngữ cần cung cấp và rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ cho học
sinh phải dựa vào những thành tựu nghiên cứu về Ngôn ngữ học và Việt ngữ học.
Từ và ngữ cố định là những đơn vị cơ bản của ngôn ngữ và là một hệ thống tín hiệu. Nó
không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ mật thiết với những đơn vị nhỏ hơn (từ tố) và các
đơn vị lớn hơn (câu, chỉnh thể trên câu). Phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh phải xem xét Từ
ngữ trong toàn bộ cơ cấu hoạt động của hệ thống bởi vì mỗi đơn vị khi tham gia vào cơ cấu
và hoạt động sẽ có một vai trò vị trí nhất định và có mối quan hệ ràng buộc với các đơn vị
khác. Giá trị của nó một mặt do tự thân, mặt khác lại do những đơn vị khác chi phối và quy
định.
Là một tín hiệu cho nên từ, ngữ có hai mặt : Mặt biểu đạt và mặt được biểu đạt. Mặt
biểu đạt chính là các đặc điểm hình thức của từ : đặc điểm ngữ âm, đặc điển ngữ pháp, đặc
điểm cấu tạo. Mặt dược biểu đạt của từ (tức là nội dung ngữ nghĩa) là một hệ thống có sự kết
hợp chặt chẽ giữa nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp. Khi sử dụng Từ ngữ để giao tiếp, con
người bày tỏ, biểu thị thái độ, tình cảm đối với hiện thực và đối tượng giao tiếp. Vì thế, việc
phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh cần chú ý đúng mức tính biểu cảm của từ.
Nghĩa củ a từ cũ ng là một yếu tố trong hệ thống từ vựng . Giữa các từ và nghĩa của
17
chúng có mối quan hệ với nhau. Xét về mặt ngữ nghĩa có các mối quan hệ : đồng nghĩa, trái
nghĩa, trường nghĩa. Với các mối quan hệ này, Từ ngữ thường lập thành những hệ thống nhất
định khiến cho ngôn ngữ trở nên phong phú, đa dạng. Đây là một khía cạnh cần được quan
tâm để phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng Từ ngữ có sự
biến đổi ý nghĩa và phải tuân theo những khuôn mẫu riêng theo từng loại văn bản thuộc một
phong cách chức năng cụ thể. Phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh cũng không thể bỏ qua điều
này.
1.2.2. Cơ sở phi ngôn ngữ:
Việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh là một vấn đề có liên quan đến nhiều yếu tố
khác nhau. Bên cạnh cơ sở ngôn ngữ học như vừa nêu trên, cần phải dựa vào một số căn cứ
khác như : đối tượng học sinh, các môn học có liên quan và môi trường xã hội. Có thể gọi là
cơ sở phi ngôn ngữ.
Đối với từng cá nhân, Từ ngữ được tiếp nhận, tích lũy và sử dụng phải theo những quy
luật tâm lý, tư duy nhất định cho nên việc phát triển vốn Từ ngữ cũng cần phải dựa vào các
quy luật này. Đối tượng của đề tài này là học sinh phổ thông. Vấn đề này chúng tôi sẽ trình
bày kỹ hơn ở phần sau.
Ngôn ngữ và văn học cố sự quan hệ mật thiết với nhau. Trong nhà trường phổ thông,
mối quan hệ này càng được thể hiện rõ ràng hơn. Giữa nội dung, chương trình, sách giáo
khoa tiếng Việt và văn học ở các cấp học có sự liên hệ chặt chẽ và sự hỗ trợ đắc lực cho
nhau..." Ở một số mặt nhất định lại không thể tách rời nhau, thậm chí trùng nhau .... Trong
quá trình dạy học, hai môn này phát triển song song với nhau, môn này là chỗ dựa của môn
kia để cùng tác động lên người học." (2 - tr1, 2 ). Vì vậy, việc phát triển vốn Từ ngữ cho học
sinh cũng phải tính đến khả năng hổ trợ của môn Văn học.
Sự hình thành và phát triển Từ ngữ chỉ xảy ra trong hoạt động lao động, nhận thức, cải
tạo thế giới khách quan của con người. Muốn tiếp nhận, tích lũy và sử dụng Từ ngữ, học sinh
phải thông qua hoạt động giao tiếp trong nhà trường và ngoài xã hội. Hoạt động giao tiếp là
hoạt động đặc trưng của con người, có quan hệ trực tiếp nhất đến việc hình thành và phát
triển năng lực ngôn ngữ nói chung, năng lực Từ ngữ nói riêng.
Vốn Từ ngữ của mỗi cá nhân càng ngày càng được tích lũy, nó sẽ trở nên phong phú,
đa dạng và tích cực vốn từ này cũng được tập hợp thành một hệ thống dựa trên những quan
hệ nhất định. Khi sử dụng, nhờ liên tưởng mà con người huy động được những Từ ngữ cần
thiết. Những Từ ngữ này thường có những đặc điểm chung nào đó. Như vậy, từ vựng trong
18
đầu óc của mỗi cá nhân là một biểu hiện cụ thể hệ thống từ vựng của ngôn ngữ. Tuy theo lứa
tuổi, trình độ, hệ thống của mỗi cá nhân có sự khác nhau về chất và lượng.
Tất cả những điều vừa trình bày trên đây là cơ sở của việc lựa chọn, sắp xếp, tổ chức và
kiểm soát việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh. Sẽ có những cơ sở được chú trọng nhiều
hơn trong quá trình vận dụng. Ngoài ra trong quá trình thực hiện việc phát triển vốn Từ ngữ
còn phải tính đến tâm lý tiếp nhận của học sinh, các quy luật dạy học và mục tiêu cấp học,
xem xét nó trong toàn bộ cơ cấu và hoạt động của hệ thống. Và là một tín hiệu cho nên từ có
hai mặt : mặt biểu đạt, mặt được biểu đạt. khi thực hiện việc phát triển vốn Từ ngữ cho học
sinh cần chú ý đúng mức cả hai mặt này.
1.3. Những điểm khác biệt của việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bản ngữ
so với học sinh học ngoại ngữ:
Tiếng Việt đối với học sinh Việt Nam là tiếng mẹ đẻ cho nên ngay từ thuở lên ba, các
em đã sử dụng làm công cụ tư duy và giao tiếp. Trước khi đến trường, các em đã có một vốn
liếng nhất định về Từ ngữ và các kiểu câu để giao tiếp. Khác với tất cả các môn học, khác với
học sinh học ngoại ngữ, dạy tiếng Việt nói chung và việc phát triển vốn Từ ngữ nói riêng cho
học sinh cần phải xuất phát từ tiềm năng. Khi bước vào bậc Trung học cơ sở, học sinh đã có
một vốn liếng Từ ngữ khá phong phú. Đó là kết quả của quá trình tiếp thu tự phát (tiếp thu
được trong môi trường sống hàng ngày qua gia đình, bạn bè ...) và tự giác (tiếp thu ở các lớp
cấp I, các phương tiện truyền tin đại chúng ...). Cần phải chú ý đến đặc điểm này để tránh
lãng phí thời gian và gây nhàm chán của tình trạng "biết rồi, khổ lắm, nói mãi". Tuy nhiên
cũng cần xác định rằng do đặc điểm lâm lý lứa tuổi và khả năng tư duy, vốn liếng của các em
từ 12 tuổi trở xuống ở dạng pha tạp : Từ ngữ khẩu ngữ, địa phương; Từ ngữ rời rạc, chưa
thành hệ thống ... và vốn liếng này cũng chưa bảo đảm chắc chắn : lẫn lộn về âm, hiểu nghĩa
chưa đầy đủ, chưa biết huy động để tư duy và giao tiếp chính xác, tinh tế. Thực tế về lỗi dùng
từ của các em góp phần khẳng định nhận định này.
Mụ c tiêu củ a d ạy học tiếng mẹ đ ẻ ở trường phổ thông là trên cơ sở cung cấp n hữn g
kiến thức về tiếng Việt tiến hành trau dồi và phát triển năng lực ngôn ngữ giúp học sinh biết
sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ để học tập và giao liếp trong cuộc sống. Thông qua dó, hình
thành khả năng thẩm mỹ ngôn ngữ, tạo diều kiện phát triển và nâng cao năng lực trí tuệ, góp
phần trau dồi và phát triển nhân cách cho học sinh.
Muốn thực hiện được mục tiêu trên, việc xác định các đơn vị kiến thúc phải bảo đảm
tính khoa học và tính sư phạm. Trong một chừng mực nào đó phải ưu tiên cho tính sư phạm.
19
Các đơn vị dạy học cần phải được quy định và bảo đảm tính hệ thống. Quy trình dạy học làm
thế nào kết hợp được giữa dạy ngôn ngữ và lời nói.
Vốn Từ ngữ của học sinh được tiếp thu từ nhiều nguồn, vừa có tính tự phát, vừa có tính
tự giác. Nhiệm vụ của nhà trường giúp các em chuyển hóa cái tự phát thành tự giác tức là từ
vốn từ có tính kinh nghiệm chuyển hóa thành có ý thức về kinh nghiệm khiến cho việc tiếp
nhận Từ ngữ có chọn lọc, chính xác có lợi cho việc sử dụng giao tiếp trong nhà trường.
Thực hiện việc trên, trong quá trình giảng dạy, ngữ liệu sử dụng trong bài phải là những
văn bản mẫu mực chọn lọc trong các tác phẩm văn học tiêu biểu hoặc là những văn bản,
những đơn vị do chính học sinh tạo nên.
Việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bản ngữ có nhiều lợi thế hơn so với học sinh
học ngoại ngữ. Nếu như học ngoại ngữ, học sinh bắt đầu từ con số không và tiến hành tuần tự
với số lượng vừa phải thì học sinh bản ngữ được dựa trên vốn liếng có sẵn nhất định. Vì vậy,
tốc độ phát triển sẽ nhanh hơn, bỏ qua những cái không cần thiết.
Tuy nhiên, giáo viên phải thường xuyên chú ý sử dụng những biện pháp chính xác hoá,
chuẩn mực hóa và tích cực hóa vốn từ để hiệu quả sử dụng Từ ngữ của các em cao hơn, bền
vững hơn.
1.4. Những điểm khác biệt trong việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc
Trung học cơ sở so với Tiểu học và Trung học phổ thông:
Việc trau dồi vốn Từ ngữ đối với từng cá nhân là liên lục, lâu dài. Đối với học sinh,
việc phát triển vốn Từ ngữ cần được thực hiện ở tất cả các cấp học và tận dụng lợi thế của
môi trường tiếng và trực cảm ngôn ngữ.
Tuy vậy, tuy theo đặc điểm tâm lý lứa tuổi và khả năng tư duy, ở mỗi cấp, mỗi lớp có
sự khác nhau nhất định.
Vốn Từ ngữ của học sinh bậc Tiểu học và Trung học cơ sở (theo ý kiến các nhà nghiên
cứu) có các đặc điểm cơ bản :
- Là một vốn tư có tính pha tạp do việc tiếp thu vừa có tính tự phát vừa có tính tự giác.
- Có số lượng tương đối hạn chế. Hiện nay, người ta chưa điều tra được chính xác là
bao nhiêu nhưng vốn từ của các em ở lứa tuổi có những biểu hiện hạn chế:
Phạm vi vốn từ chưa phong phú. Từ địa phương, từ khẩu ngữ, từ cụ thể là chủ yếu.
Sắc thái và ý nghĩa của từ còn đơn điệu, chưa đầy đủ. Các em mới hiểu được nét nghĩa
20
thông thường nhất và sắc thái mang tính trung hoà chứ chưa thể hiểu dược ý nghĩa sâu xa và
sắc thái tinh tế mà Từ ngữ có thể có.
Cách sử dụng đơn giản. Kiểu câu đơn để diễn đạt những nội dung, sự kiện thông
thường, đơn giản là chủ yếu.
- Vốn từ còn rời rạc, chưa lập thành một hệ thống chặt chẽ chính vì vậy mà khả năng
liên tưởng để huy động theo chủ đề, chủ điểm chưa cao.
- Do tiếp nhận chưa thật sự chủ động và có ý thức cho nên vốn Từ ngữ của các em thiên
về bị động, chưa trở thành vốn từ tích cực trong học tập, giao tiếp.
Tuy vậy, v iệc phát triển Từ ng ữ đ ối với bậc Tiểu học và Tru ng học cơ sở v ẫn có sự
khác nhau.Về cơ bản, vốn Từ ngữ được chú ý trong nhà trường đứng về mặt văn hóa-xã hội
chia thành : lớp từ cơ bản và lớp từ văn hóa. Trọng tâm của việc phát triển vố n Từ ngữ cho
học sinh Tiểu học tập trung vào lớp từ cơ bản và một phần Từ ngữ văn hóa. Cụ thể :
- Những Từ ngữ chỉ các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày xung quanh các
em.
- Những Từ ngữ chỉ hoạt động, tính chất, màu sắc liên quan đến hoạt động, trạng thái,
tình cảm của các em.
- Những lớp từ cơ bản như từ láy, từ ghép, từ tượng thanh, tượng hình.
Đối với học sinh bậc Trung học cơ sở, việc phát triển vốn Từ ngữ phải dựa trên cơ sở
vốn đã có của Tiểu học. Cho nên, vốn từ được chú ý là một phần vốn Từ ngữ cơ bản như từ
đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa, nhiều nghĩa ... và lớn hơn là Từ ngữ văn hóa như từ vay
mượn, từ Hán-Việt, Từ ngữ nghệ thuật ... để phục vụ cho các phong cách ngôn ngữ chức
năng như khoa học, chính luận, nghệ thuật...
Kể từ cải cách giáo dục, nhiệm vụ đặt ra cho việc dạy-học Từ ngữ ở bậc Tiểu học và
Trung học cơ sở là phong phú hóa vốn từ, chính xác hóa vốn từ, tích cực hóa vốn từ và chuẩn
mực hóa vốn từ. Tất nhiên mức độ của các nhiệm vụ ở mỗi cấp học có sự khác nhau.
Việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh không dừng lại ở bậc Trung học cơ sở mà
phải tiếp tục thực hiện ở bậc Trung học phổ thông để giúp các em có một số vốn tiếng phong
phú đáp ứng yêu cầu giao tiếp ở mức cao hơn. Học xong bậc Trung học cơ sở, vốn Từ ngữ
của học sinh đã khá hơn : bao gồm lớp từ cơ bản và một phần Từ ngữ văn hóa. Như vậy ở các
lớp Trung học phổ thông, việc phát triển vốn Từ ngữ lập trung chủ yếu là Từ ngữ văn hóa và
cách sử dụng chúng trong các phong cách ngôn ngữ khác nhau.
21
Nói tóm lại, Từ ngữ có một vị trí cực kỳ quan trọng. Nó là cơ sở để khẳng định một
ngôn ngữ tồn lại và giúp cho chúng ta thấy được ngôn ngữ đó phong phú hay nghèo nàn. Đối
với từng cá nhân, vốn Từ ngữ rất cần thiết. Thực tế chứng minh rằng vốn từ càng dồi dào thì
kỹ năng lựa chọn, sử dụng từ chính xác và hay. Trong nhà trường, Từ ngữ là một môn học
nhưng cũng là công cụ để tư duy và giao tiếp nếu hạn chế sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập
các môn học khác. Việc phát triển Từ ngữ cho học sinh vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa
thực tiễn. Nó giúp cho học sinh vốn liếng để tiếp nhận và biểu đạt một cách chính xác và linh
hoạt tư tưởng, tình cảm, tri thức của mình. Tuy nhiên việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh
bản ngữ phải khai thác và phát huy được tiềm năng vốn có của học sinh và tận dụng kỹ năng
của trực cảm ngôn ngữ và môi trường tiếng, cần phải biết hạn chế mặt tiêu cực và uốn nắn
những sai sót để giúp các em làm chủ vốn liếng của mình phục vụ có hiệu quả cho học tập và
cuộc sống. Cũng xuất phát từ cơ sở khoa học và sư phạm, việc phát triển vốn từ ngữ cho học
sinh bậc trung học cơ sở tập trung vào một phần "lớn hơn là lớp từ vựng văn hóa. Có thể nói
rằng bậc học này là chiếc cầu nối giữa bậc tiểu học và Trung học phổ thông.
22
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO HỌC SINH BẬC PHỔ THÔNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
2.1. Thực trạng việc giảng dạy Từ ngữ và phát triển vốn từ cho học sinh theo
chương trình, sách giáo khoa Văn - Tiếng Việt bậc trung học cơ sở:
2.1.1. Về tình hình dạy-học tiếng Việt ở trường phổ thông từ sau cách mạng
tháng Tám 1945:
Từ sau cách mạng tháng Tám cùng với vị trí của dân tộc Việt Nam, tiếng Việt đã có
một vị trí xứng đáng. Theo thời gian, nó dần dần trở thành một môn học quan trọng trong nhà
trường. Lịch sử dạy-học tiếng Việt có thể phân chia thành các thời kỳ chủ yếu (theo cách
phân loại của nhiều nhà khoa học) như sau :
- Từ năm 1945 đến năm 1954 : tiếng Việt được đưa vào dạy-học ở các lớp cấp 1 và 2
(từ lớp 1 đến lớp 7), điều đáng chú ý của thời kỳ này.
+ Chưa có chương trình và sách giáo khoa riêng, việc dạy -học chủ yếu thông qua môn
Văn.
+ Một số trí thức về ngôn ngữ tiếng Việt được nhìn nhận theo quan điểm của phương
Tây (chủ yếu là Pháp). Phương pháp chưa được hình thành cụ thể.
- Từ năm 1954 đến năm 1981 : tiếng Việt vẫn tiếp tục được dạy-học ở cấp 1, 2. Đặc
trưng của thời kỳ này là
+ Tiếng Việt đã được chú ý hơn nhưng vẫn chưa tách thành môn học độc lập. Một số
giờ dạy tiếng Việt vẫn nằm trong bộ môn Ngữ văn.
+ Kiến thức môn học được trình bày theo hai cách nhìn khác nhau : Cách nhìn nhận của
phương Tây như tác giả Nguyễn Lân và cách nhìn của Liên Xô (cũ) như Hoàng Tuệ, Nguyễn
Tài Cẩn ...
- Từ năm 1981 đến nay : Tiếng Việt được chú ý đúng mức và trở thành một môn học
riêng có chương trình, nội dung, sách giáo khoa riêng. Một số thành tựu về Ngôn ngữ học và
Việt ngữ học đã dược đưa vào. Môn Tiếng Việt bao gồm Từ ngữ và Ngữ pháp. Phương pháp
dạy-học tiếng Việt đã trở thành môn khoa học trong các trường sư phạm đào tạo giáo viên.
23
2.1.2. Thực trang về việc dạy-học Từ ngữ và phát triển Từ ngữ cho học sinh phổ
thông:
Việc dạy-học tiếng Việt nói chung và Từ ngữ nói riêng càng ngày càng được chú trọng
và thu được những thành tựu nhất định nhưng đồng thời cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém
khiến cho hiệu quả không được như mong muốn. Đánh giá về việc dạy-học Từ ngữ ở bậc phổ
thông trung học cơ sở trước cải cách giáo dục, nhóm tác giả được phân công biên soạn
chương trình và, sách giáo khoa cải cách giáo dục nhận định : "Từ nước đến nay, việc dạy -
học Từ ngữ ở trường phổ thông cơ sở coi như bị "thả nổi". Nhà trường không cần biết đến
vốn từ tiếng mẹ đẻ của học sinh để liên cơ sở đó quy định số từ cần bồi dưỡng cho các em ở
từng cấp, từng lớp. Việc học từ một cách tự phát qua môi trường tiếng và có ý thức qua các
môn văn hóa ở trường được tiến hành một cách tùy tiện. Tình trạ ng này kéo dài trong nhiều
năm ảnh" hưởng đến chất lượng học tiếng mẹ đẻ về mặt từ vựng. Vốn từ ở học sinh nghèo
nàn, chậm phát triển, tỷ lệ từ tiên cực, từ mang tính chất khẩu ngữ, phi văn chương khá cao,
học sinh mắc lỗi dùng từ khá trầm trọng" (1-tr 30, 31)
Nhận định trên là có cơ sở, bởi trong chương trình môn tiếng Việt trước cải cách giáo
dục, trong , sách giáo khoa, phần Từ ngữ chỉ bao gồm các nội dung :
Từ
Từ láy Từ ghép
Từ Hán-Việt .
Một số biện pháp tu từ về từ : mục đích dùng các biện pháp tu từ : so sánh, ẩn dụ, nhân
hóa, hoán dụ.
Nói giảm, nói nhấn, mói vòng, chơi chữ
Phép tăng cấp, đối lập, điệp ngữ, câu hỏi tu từ. .
Bài tập về tu từ
Trong cả cấp học chỉ vỏn vẹn có 9/168 tiết, chiếm lý lệ hơn 5%.
"Để khắc phục tình trạng "tiêu cực" trên, trong nhà trường giáo viên, đặc biệt là giáo
viên văn học đã tiến hành dạy Từ ngữ qua các môn học về giảng văn lập làm văn và các môn
học khác ... Tuy vậy, nhìn chung những hoạt động khoa học sư phạm trong và ngoài trường
chưa có phần đóng góp thích đáng trong việc giáo dục tiếng mẹ đẻ về mặt Từ ngữ" (1 - tr 31,
32)
Từ năm học 1986-1987, nội dung chương trình môn tiếng Việt bậc trung học cơ sở đã
24
được Bộ Giáo dục Đào tạo xác định rõ : nhằm mục tiêu cung cấp cho học sinh những kiến
thức cơ bản tương đối hoàn chỉnh và có hệ thống về tiếng Việt làm cơ sở cho việc trau dồi và
phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh, thể hiện trong việc sử dụng thành thạo tiếng mẹ
đẻ trong việc giao tiếp hàng ngày. Hình thành dần năng khiếu thẩm mỹ, phương pháp-tư duy,
kỹ năng nghe, đọc, nói, viết tiếng Việt văn hoá.
Và cũng từ đây, môn Từ ngữ được chú ý đúng mức và có vị trí xứng đáng.
Từ ngữ được bố trí dạy-học ở lớp 6, 7 với 66 tiết nhằm mục tiêu : cung cấp những tri
thức khoa học về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ trong hệ thống từ vựng ngữ nghĩa tiếng
Việt để nâng cao dần năng lực dùng từ của học sinh từ tự phát lên tự giác. Cung cấp vốn Từ
ngữ theo một bản từ có tính toán đến tần số sử dụng cao, luyện tập kỹ năng sử dụng Từ ngữ.
Để thực hiện được mục tiêu trên, nội dung , sách giáo khoa cải cách giáo dục xây dựng
theo 4 mảng
-Những tri thức về các đơn vị Từ ngữ tiếng Việt hiện đại: từ đơn, phức ...
- Những tri thức về nghĩa của từ : nghĩa đen, nghĩa bóng, từ đồng âm, từ đồng nghĩa...
- Những tri thức về các biện pháp tu từ về Từ ngữ : so sánh, ẩn dụ, nhân hóa.....
- Mở rộng và trau dồi cách dùng từ : ôn tập từ Hán-Việt, mở rộng vốn từ theo chủ đề.
Việc đưa môn Từ ngữ vào lớp 6, 7 đánh dấu một bước chuyển biến mới trong nhận
thức của chúng ta về ý nghĩa của mảng kiến thức từ vựng-ngữ nghĩa. Chương trình được
đông đảo cán bộ, giáo viên và học sinh đồng tình, ủng hộ. Thế nhưng hiệu quả của việc dạy-
học Từ ngữ nói chung và việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh nói riêng như thế nào, cho
đến nay vẫn chưa có cơ quan có thẩm quyền và các công trình điều tra nghiên cứu nghiêm túc
đánh giá chính xác. Chỉ biết rằng sau gần 10 năm cải cách, cả sách giáo khoa và sách giáo
viên Từ ngữ đều phải chỉnh lý. Nguyên tắc chỉnh lý được đặt ra là :
- Chỉnh lý trên dưới 50% tổng thể, không phải viết lại toàn bộ.
- Điều chỉnh trong phạm vi một số tiết học dành cho cấp 2, không tăng số tiết.
-Định hướng vào sự phân định bậc học mới theo dự kiến.
+ Bậc tiểu học
+ Bậc phổ thông : - Cơ sở
- Trung học
Hướng chỉnh lý về mặt nội dung đặt ra :
25
- Điều chỉnh cách phân bố các nội dung giữa các lớp.
- Sửa lại và uốn nắn những chỗ cần thiết.
- Bớt những chỗ ít cần thiết.
- Bổ sung thêm những vấn đề cần thiết.
- Tăng cường học các yếu tố Hán-Việt. (10 - tr 7, 8, 9,10, 11, 12)
So sánh đối chiếu , sách giáo khoa chỉnh lý với, sách giáo khoa cải cách, chúng tôi nhận
thấy :
- Những mảng về tri thức lý thuyết Từ ngữ không có sự thay đổi đáng kể.
- Điều mà các tác giả quan tâm nhất là mở rộng và trau dồi cách dùng Từ ngữ đặc biệt
là Từ ngữ Hán-Việt. Ở phần này, , sách giáo khoa có sự thay đổi kiểu bài, nội dung và số tiết
của từng kiểu bài.
Sách giáo khoa cải cách giáo dục Sách giáo khoa chỉnh lý
Kiểu bài: - Ôn tập từ Hán -Việt: 6 Kiểu bài : - Mở rộng vốn yếu tố Hán-
tiết Việt: 8 tiết.
- Mở rộng vốn từ theo chủ đề - Mở rộng vốn từ theo chủđề.
+ Lao động2 tiết + Học lập2 tiết
+ Rừng núi2 tiết + Đạo đức2 tiết
+ Biển2 tiết + Lao dộng2 tiết
+ Ruộng đồng2 tiết + Biển2 tiết
+ Nông nghiệp2 tiết + Rừng2 tiết
+ Công nghiệp2 tiết + Nông thôn2 tiết
Tổng số tiết của 2 kiểu bài :22 tiết + Thành thị2 tiết
Tổng số tiết của 2 kiểu bài:22 tiết
- Công cuộc cải cách và chỉnh lý chương trình, nội dung. Sách giáo khoa Từ ngữ bậc
Trung học cơ sở thể hiện sự quan tâm của nhà nước, của các nhà khoa học và sư phạm đối
với việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh. Nhưng trong thực tế, kết quả thu được như thế
nào, có những ưu điểm, hạn chế gì, chúng tôii sẽ trình bày những điều quan sát, khảo sát thu
nhận được ở Tây Ninh
26
Chúng tôi tiến hành hai công việc khảo sát thực tế. Một loại đặt ra những câu hỏi và
yêu cầu đối với giáo viên, những người trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông. Một loại công
việc đặt ra đối với sinh viên năm thứ ba trong đợt thực lập nhằm có thêm tư liệu tham khảo.
* Đối với giáo viên: tiến hành phát phiếu phỏng vấn và điều tra. Nội dung gồm
- Phần tự khai của giáo viên.
- Phần trả lời câu hỏi cụ thể.
- Phần phát biểu ý kiến của cá nhân.
Số phiếu phát ra: 120 cho giáo viên dạy lớp 6, 7 thuộc các địa bàn Thị Xã, Thị Trấn,
nông thôn, vùng sâu, vùng biên giới. (nội dung cụ thể và cách mức trả lời xin xem phần phụ
lục)
27
BẢNG TỔNG HỢP Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN.
Không Nội dung nhận định Đúng Không Điểm trả lời
1 2 3 4 5
1. Về mục tiêu dạy-học Từ ngữ ở trung học cơ sở
104 0 16 8,25 - Cung cấp kiến thức cơ bản về Từ ngữ tiếng Việt,
trau dồi, phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh 116 0 4 9,25
- Tiếp tục thực hiện bốn nhiệm vụ đã nêu ở bậc tiểu
học: phong phú hoá vốn từ, chính xác hoá vốn từ,
89 15 16 8,0 tích cực hoá vốn từ và chuẩn mực hoá vốn từ
- Nhiệm vụ phong phú hoá vốn từ là quan trọng nhất
2. Về chương trình, nội dung : 68 10 42 6,1
92 0 28 7,6 - Từ ngữ ở cấp 2 có sự tiếp nối và nâng cao chương
70 42 8 7,6 trình Tiểu học
- Phần cung cấp những tri thức lý thuyết vừa đủ 104 10 6 9,1
- Phần phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh có ý
nghĩa thiết thực. 110 0 10 9,2
- Kiểu bài ôn tập từ Hán-Việt ở lớp 6 cải cách giáo 60 22 42 5,9 dục kém hiệu quả.
- Kiểu bài Mở rộng vốn từ theo chủ đề hấp dẫn, 8 7,75 74 38
hiệu" quả nhưng khó dạy.
8 9,35 112 0 - Kiểu bài Mở rộng vốn yếu tố Hàn-Việt lớp 6 chỉnh
lý hiệu quả hơn.
8 9,0 105 7 - Các kiểu bài tập của kiểu bài lý thuyết là đa dạng.
- Các kiểu bài tập ở phần luyện tập của kiểu bài Mở
rộng vốn yếu tố Hán-Việt sơ lược, kém hiệu quả. 1
8.3 90 20 10 - Các kiểu bài tập của kiểu bài Mở rộng vốn từ theo
28
pháp và biện pháp.
72 43 5 7,7 - Giữa phương pháp và nội dung dạy-học có mối
quan hệ nhưng do anh (chị) chưa nắm được nội dung
dẫn đến lúng túng.
- Anh (chị) chưa đạt trang bị đầy đủ về phương 97 16 7 8,7
pháp
- Khi dạy, anh (chị) chỉ trung thành với kiến thức 64 49 7 7,4
trong, sách giáo khoa mà chưa có sự sáng tạo.
- Anh (chị) ít tham khảo tài liệu chuyên môn. 78 2 8,1 40
- Để giải ngh ĩa Từ ng ữ cho học sin h, an h (ch ị) 88 16 8,0 16
thường dùng các Phương pháp Logic, ngôn ngữ học, xã
hội học.
4. Kết quả học tập của học sinh. 112 8 0 9,6
- Học sin h đ ã n ắm đ ược tri thức lý thuyết về Từ 84 14 22 7,6
ngữ.
- Việc vận dụng những tri thức lý thuyết văn thực 117 0 3 9,7
hành còn yếu.
- Vốn Từ ngữ của học sinh nghèo nàn. Việc vận 110 0 10 9,0
dụng để học tập, giao tiếp còn kém hiệu quả.
- Kết quả học tập Từ ngữ của học sinh chưa đạt
được như mong muốn.
* Đối với sinh viên :
Chúng tôi hướng dẫn điều tra lỗi dùng từ của học sinh qua bài tập làm văn (Nội dung,
yêu cầu, cách thức cụ thể, xin xem ở phần phụ lục). Vì là điều tra gián tiếp qua sinh viên nên
kết quả sau đây chủ yếu là tham khảo.
Bảng về lỗi dùng từ của học sinh.
29
Các loại lỗi Khối Tống số Tổng số
Sai về hình Sai về nghĩa Sai về cách lớp học sinh lỗi
SL TL SL TL SL TL
356 699 410 57,4% 213 30,47% 76 10,87% 6
350 620 327 52,32% 194 31,04% 89 14,24% 7
351 667 259 36,26% 147 20,58% 221 30,94% 8
144 189 112 58,24% 32 16,64% 45 23,4% 9
1.201 2173 1098 43,92% 586 23,44% 431 17,24% Tổng
cộng
Từ thực tế khảo sát trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau :
- Đa số giáo viên đều nhất trí về mục liêu và nhiệm vụ của việc dạy-học Từ ngữ ở bậc
phổ thông trung học cơ sở. Họ khẳng định ở bậc trung học cơ sở bốn nhiệm vụ đều có tầm
quan trọng như nhau .
- Về chương trình và nội dung, nhiều giáo viên vẫn còn băn khăn về nội dung và các
kiểu bài liên quan đến việc trau dồi và phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh.
- Các kiểu bài tập chưa đa dạng và chưa có tác dụng thiết thực.
- Giáo viên vẫn còn chưa nắm vững và lúng túng trong việc vận dụng các Phương pháp
và biện pháp. Cho nên trong thực tế chưa có tính sáng tạo nhiều.
- Vốn Từ ngữ của học sinh còn nghèo nàn, lỗi về Từ ngữ trong giao tiếp là phổ biến và
đáng lo ngại trong tình hình hiện nay.
Ngoài những nhận xét này, chúng tôi xin nêu ý kiến của một cán bộ chỉ đạo chuyên
môn ở Sở GD-ĐT Thanh Hóa liên quan đến vấn đề này ."Thật lạ, trong đời sống hàng ngày
của trẻ em, các em tỏ ra hoạt bát, linh lợi trong ứng xử, giao tiếp với các đối tượng được tiếp
xúc, vốn tiếng mẹ đẻ được sử dụng khá hiệu quả. Vậy mà vì sao khi ngồi vào chiếc ghế trên
lớp học, , sách giáo khoa, vở bài tập tiếng Việt đầy đủ trước mặt, với những câu hỏi, những
bài giảng đầy nhiệt tâm của giáo viên, các em lại nói năng lắp bắp, lí nhí, phát ngôn không
thành câu... Cái gì đã ám ảnh sự bộc lộ các hành động ngôn ngữ trong lớp học. Chương trình
tiếng Việt ư? , sách giáo khoa ư? Phương pháp dạy học cũ kỹ, thói quen quyền uy áp đặt ư?
Có cả " (29 - tr 130)
30
Cũng từ thực tế này, chúng tôi đưa ra một số nhận định như sau :
- Cần phải xem xét lại một cách nghiêm túc chương trình, nội dung , sách giáo khoa
hiện nay. Đặc biệt là phần nội dung trau dồi và phát triển vấn đề Từ ngữ cho học sinh.
- Các phương pháp và biện pháp, quy trình để dạy học các kiểu bài liên quan đến Từ
ngữ Hán-Việt chưa hợp lý cho nên chưa mang lại hiệu quả thiết thực, bền vững.
- Phải chăng đang có một khoảng cách khá xa giữa ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ
trong nhà trường của học sinh. Làm thế nào để có thể rút ngắn khoảng cách này, giúp cho
việc học tập, giao tiếp trong nhà trường hiệu quả hơn.
2.2. Những nguyên tắc cơ bản xung quanh việc phát triển vốn Từ ngữ cho học
sinh:
Dạy-học Từ ngữ nói chung và phát triển vốn Từ ngữ nói riêng cho học sinh phải tuân
thủ theo các nguyên tắc dạy-học tiếng Việt và một số nguyên tắc có tính đặc thù của Từ ngữ.
Các nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên, khi thực hiện việc phát
triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc trung học cơ sở chúng tôi nhấn mạnh mấy nguyên tắc cơ
bản sau đây :
2.2.1. Nguyên tắc hệ thống :
Từ vựng trong ngôn ngữ là một hệ thống, vốn từ và cách sử dụng Từ ngữ của mỗi cá
nhân cũng là một hệ thống. Vì vậy, việc dạy-học những tri thức lý thuyết về Từ ngữ cũng
phải bảo đ ảm tín h h ệ thống , tức là các đ ơn v ị kiến thức phải đ ược trìn h bày theo một mối
quan hệ liên tưởng nào đó. Và việc cung cấp, rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ cho học sinh
cũng phải bảo đảm tính hệ thống. Tính hệ thống ở đây cần phải được thực hiện :
- Việc cung cấp Từ ngữ theo từng nhóm, từng chủ đề để các em dễ tiếp thu và dễ huy
động khi sử dụng.
Ví dụ :Với chủ đề Nhà trường, mục "nhân sự" có thể cung cấp cho học sinh những từ:
thầy giáo, cô giáo, giáo viên, giảng viên, giáo sư, phụ giảng, sinh viên, học sinh, học
trò, học viên ...
- Việc cung cấp Từ ngữ phải bảo đảm tính toàn diện, tức là làm thế nào giúp học sinh
nắm đ ược h ìn h thức ng ữ âm của từ, h iểu đ ược n g h ĩa củ a từ và b iết cách sử d ụ ng Từ ngữ
chính xác.
Ví dụ : hai lừ long lanh và lung linh.
31
a. Long lanh : có ánh sáng phản chiếu trên vật trong suốt, tạo vẻ sinh động.
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
Hoặc : Đôi mắt long lanh.
b. Lung linh : Từ gợi tả vẻ lay động, rung rinh của cái có thể phản chiếu ánh sáng.
Mặt hồ gợn sóng lung linh ánh sao.
Tính hệ thống còn được biểu hiện vốn từ cần được cung cấp ở các lớp bậc tiểu học,
trung học cơ sở và trung học phổ thông cũng như của các lớp 6, 7, 8, 9 của bậc trung học cơ
sở phải tạo thành một hệ thống. Có như thế, việc giảng dạy mới không trùng lặp, tránh được
lãng phí thời gian và sự nhàm chán không đáng có.
Ngoài ra, tính hệ thống còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa cung cấp và rèn luyện
kỹ năng sử dụng Từ ngữ ở môn Văn và các môn học khác trong chương trình của từng lớp,
từng cấp.
2.2.2. Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp:
Ngôn ngữ nói chung, Từ ngữ nói riêng là một hệ thống hoạt động hành chức, tách ra
khỏi hoạt động hành chức thì nó không còn sức sống. Muốn hình thành các kỹ năng, kỹ xảo
ngôn ngữ, học sinh phải tham gia trực tiếp vào hoạt đ ộng giao tiếp. Việc tiếp nhận và sản
sinh lời nói đúng và hay vừa là mục đích vừa là phương tiện của việc dạy học Từ ngữ.
- Nguyên tắc này đòi hỏi học sinh khi tiếp nhận cũng như sử dụng Từ ngữ phải đạt từ
trong hai mối quan hệ : liên tưởng và ngữ đoạn và vận dụng linh hoạt các thao lác lựa chọn,
kết hợp. Bởi một từ cụ thể có thể có nhiều nghĩa khác nhau nhưng nếu tiếp nhận nó, dùng nó
trong văn cảnh cụ thể thì sẽ mang nghĩa cụ thể. Bù vào đó, từ lại xuất hiện các sắc thái, phong
cách, ý nghĩa ngữ pháp, sắc thái tình cảm.
Ví dụ : Từ đi trong câu :
Bác đã đi rồi sao, Bác đi.
Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời.
(Bác ơi - Tố Hữu)
đi có nhiều nghĩa khác nhau.
- Người (hoặc động vật) tự di chuyển bằng những động tác liên tiếp của chân ...
32
- Người tự di chuyển đến nơi khác không kể bằng cách gì.
- Di chuyển đến nơi khác, chỗ khác làm một công việc, nhiệm vụ nào đó.
- Rời bỏ cuộc đời.
- Phương tiện vận tải di chuyển trên một bề mặt
.............
Như vậy, đi trong hai câu thơ củ a Tố Hữu đ ược d ù ng với ngh ĩa "Rời bỏ cu ộc đ ời".
Dùng từ đi trong bài thơ Bác ơi, Nhà thơ Tố Hữu đã giảm được nỗi đau thương mất mát khi
Bác Hồ từ trần. Cả nhà thơ và mọi người Việt Nam cứ nghĩ rằng Bác chỉ đi xa đâu đó một
thời gian rồi Bác lại trở về với đồng bào, đồng chí.
- Nguyên tắc này cũng đặt ra vấn đề việc tiếp nhận và sử dụng vốn Từ ngữ phải đặt từ
trong những phong cách ngôn ngữ khác nhau bởi Từ ngữ cũng mang sắc thái phong cách. Có
Từ ngữ đa phong cách, có Từ ngữ-đơn phong cách. Nếu vận dụng không đúng sẽ ảnh hưởng
lớn đến hiệu quả giao tiếp.
Ví dụ : từ phu nhân và vợ
Sẽ được dùng trong những trường hợp khác nhau mang sắc thái tình cảm khác nhau.
Trong việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh phải tìm mọi cách để hướng học sinh
vào hoạt dộng nói năng. Muốn thế cần phải tạo được những tình huống, hoàn cảnh giao tiếng
khác nhau để kích thích động cơ khiến các em có nhu cầu giao tiếp.
Nguyên tắc này sẽ chi phối vào việc lựa chọn và sắp xếp vốn từ ngữ cần được cung cấp
trong , sách giáo khoa. Điều mà các tác giả , sách giáo khoa cần quan tâm đúng mức.
Ngoài hai nguyên tắc trên, trong việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh cũng cần chú
ý đến nguyên tắc kết hợp ngữ và văn, nguyên tắc chú ý đến đặc điểm tâm lý và trình độ của
học sinh.
2.3. Nội dung và phương pháp phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc phổ thông
trung học cơ sở:
Căn cứ vào lý thuyết dạy phát triển lời nói của các nhà ngôn ngữ học đưa ra, vấn đề
phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh nói chung, học sinh bậc Trung học cơ sở nói riêng lập
trung vào hai nội dung chính.
Cung cấp vốn Từ ngữ theo chương trình và , sách giáo khoa bậc học Trung học cơ sở.
33
Rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ trong học tập và giao tiếp trong đời sống hàng
ngày.
Mỗi nội dung, tùy theo đặc điểm, tính chất sẽ có những phương pháp, biện pháp thích
ứng. Sau đây chúng tôi sẽ trình bày các phương pháp, biện pháp để thực hiện từng nội dung.
2.3.1. Về việc cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh bậc trung học cở sở:
Ở phần trình bày về thực trạng dạy-học Từ ngữ nói chung, phát triển vốn Từ ngữ cho
học sinh bậc phổ thông trung học cơ sở nói riêng, chúng tôi đã có nhận định : Vốn Từ ngữ
của các em rất nghèo nàn cho nên hạn chế rất lớn đến việc diễn đạt tư tưởng, tình cảm, tri
thức khoa học trong học tập cũng như trong cuộc sống. Các loại lỗi về cách dùng từ đang trở
thành phổ biến và đã đến mức báo động. Vì vậy, việc cung cấp vốn Từ ngữ vẫn là nhiệm vụ
cấp thiết được đặt ra.
Muốn cung cấp vốn Từ ngữ có hiệu quả, phải giải quyết những vấn đề cụ thể như:
Lựa chọn và phân bố Từ ngữ cần cung cấp cho cả cấp học và cho từng lớp. Giúp cho
học sinh nắm được nghĩa của từ và giá trị của Từ ngữ trong giao tiếp.
2.3.1.1. Lựa chọn và phân bố vốn từ cần cung cấp:
2.3.1.1.1. Lựa chọn và phân bố : vốn từ của một ngôn ngữ là hết sức lớn và phong phú.
Không ai có thể hy vọng chiếm lĩnh toàn bộ kho tàng này. Việc cung cấp Từ ngữ cho học
sinh được đặt ra là trong kho tàng phong phú, đa dạng đó, sẽ lựa chọn những Từ ngữ nào.
Câu trả lời thật không đơn giản. Cho đến nay chưa ai đưa ra được căn cứ thỏa đáng và có sức
thuyết phục cao.
Khi dạy -học Ngoại ngữ, người ta áp dụng rộng rãi phương pháp cung cấp vốn từ tối
thiểu d ựa trên tần số sử d ụng . Vốn từ đ ó bao g ồ m n hững Từ ng ữ có tần số đ ược sử d ụn g
nhiều trong các loại văn bản thường gặp. Phương pháp này được giới chuyên môn dễ dàng
chấp nhận vì có cơ sở khoa học. Học sinh học ngoại ngữ thường bắt dầu từ con số không.
Mọi từ được học đều là từ mới. Nắm được nó sẽ vận dụng có hiệu quả trong mức độ theo yêu
cầu của việc dạy-học ngoại ngữ.
Việc cung cấp vốn từ tiếng mẹ đẻ cho học sinh người bản ngữ không thể áp dụng theo
phương pháp trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc trước khi bước chân đến trường
các em đã có vốn liếng trên dưới 3.000 Từ ngữ, đã có khả năng diễn đạt những vấn đề cơ bản,
thông thường trong đời sống. Việc cung cấp cần phải lựa chọn, nhưng lựa chọn như thế nào,
dựa vào cơ sở nào là điều hết sức khó khăn.
34
Lựa chọn Từ ngữ để cung cấp cho học sinh người bản ngữ phải căn cứ vào mức độ cần
thiết của học tập và giao tiếp. Căn cứ để xác định mức độ cần thiết là những vấn đề, những
chủ đề chính yếu, phổ biến mà các em thường gặp vì khả năng tiếp thu của các em. Theo cách
làm hiện nay, người ta dựa vào sách giáo khoa văn học, Tiếng Việt và các môn khác của từng
lớp học, cấp học. Ở cấp tiểu học, Từ ngữ được cung cấp chủ yếu là lớp từ vựng cơ bản và
một phần lớp Từ ngữ văn hóa. Còn ở bậc trung học cơ sở, tiếp tục cung cấp phần còn lại của
từ vựng cơ bản và trọng tâm là Từ ngữ văn hóa bởi nội dung các môn học đã được mở rộng,
việc giao tiếp được thực hiện theo nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau. Tuy vậy, việc xác
định số lượng cho mỗi lớp ở bậc trung học cơ sở là bao nhiêu vẫn là một điều bỏ ngỏ.
Về việc cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh bậc tiểu học, chương trình học tiếng Việt sau
năm 2000 dự kiến quy định số lượng và mức độ cho từng lớp như sau :
Lớp 1: nắm khoảng 400 đến 500 từ.
Lớp 2 : nắm khoảng 700 đến 800 từ, chú ý từ láy, từ Hán-Việt
Lớp 3 : nắm khoảng 1000 đến 1200 từ, chú ý từ láy, từ ghép, từ Hán-Việt.
Lớp 4 : nắm khoảng 1300 đến 1400 từ. chú ý từ láy, từ Hán-Việt. Bắt đầu nắm nghĩa
đen, nghĩa bóng của từ. Mở rộng vốn từ bằng cách biến đổi đồng nghĩa, trái nghĩa.
Lớp 5 : nắm khoảng 1600 đến 1700 từ. Chú ý từ láy, từ địa phương, từ vay mượn, từ
Hán-Việt. Mở rộng vốn từ theo trường nghĩa.
2.3.1.1.2. Phương pháp lựa chọn :
Theo lý thuyết tâm lý ngôn ngữ học và kinh nghiệm của nhiều quốc gia, việc lựa chọn
Từ ngữ để cung cấp cho học sinh có thể tiến hành.
Theo chủ đề, chủ điểm
Vốn từ của một ngôn ngữ nói chung, Từ ngữ tích lũy được trong đầu óc con người nói
riêng không phải là một mớ hỗn tạp mà được sắp xếp thành những hệ thống liên tưởng nhất
định. Hệ thống liên tưởng này có thể là một tập hợp Từ ngữ có những điểm chung về mặt nội
dung, tức là cùng một chủ đề. Vì vậy việc cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh có thể tiến hành
theo chủ đề, chủ điểm. Cung cấp theo phương pháp này sẽ giúp học sinh dễ nhớ, dễ tích lũy
và khi cần thiết việc huy động sẽ thuận lợi hơn. Mặt khác cung cấp theo chủ đề, chủ điểm sẽ
có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện tư duy logic cho học sinh.
Thực tế chương trình và , sách giáo khoa bậc Tiểu học và Trung học cơ sở đã vận dụng
phương pháp này. Kiểu bài Mở rộng vốn yếu tố Hán -Việt ở , sách giáo khoa Từ ngữ lớp 6
35
chỉnh lý và kiểu bài Mở rộng vốn từ theo chủ đề ở , sách giáo khoa Từ ngữ lớp 7 là những
biểu hiện cụ thể.
Ví dụ :
a. Bài 16 : Mà rộng vốn yếu tố Hán-Việt - Tiếng Việt 6 - Tập 1.
- Các yếu tố chỉ động vật.
- Các yếu tố chỉ bộ phận cơ thể động vật.
b. Bài 3 : Mở rộng vốn từ chủ đề học tập - Tiếng Việt 7 - Tập 1
Nếu theo dự kiến này, số lượng tăng của mỗi lớp trung bình từ 300 đến 400 từ thì
chúng ta có thể dự kiến xác định số lượng Từ ngữ cần cung cấp cho các lớp ở bậc phổ thông
trung học cơ sở như sau :
Lớp 6 : nắm khoảng 1900 đến 2200 từ.
Lớp 7: nắm khoảng 2400 đến 2600 từ.
Lớp 8 : nắm khoảng 2700 đến 3000 từ.
Lớp 9 : nắm khoảng 2900 đến 3300 từ.
Như vậy trong cả cấp học của bậc trung học cơ sở sẽ cung cấp được cho các em
khoảng 1400 đến 1700 từ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là những từ cung cấp phải là từ mới,
không trùng lặp với các từ đã có ở lớp dưới. Nhưng làm thế nào để xác định được từ mới là
vấn đề không đơn giản đối với người biên soạn sách và giáo viên trực tiếp giảng dạy.
Theo các gốc từ thuần Việt hoặc Hán-Việt
Gốc thuần Việt
Trong tiếng Việt, số lượng từ đơn không nhiều lắm (khoảng 7000 từ) nhưng đây là lớp
từ quan trọng có những đặc điểm về mặt lịch sử, ngữ nghĩa, cách sử dụng ... mà các lớp từ
khác không cố. Hầu hết các từ đơn có thể làm yếu tố gốc để phát triển thành từ phức.
Từ đơn tham gia cấu tạo từ phức theo nhiều phương thức khác nhau. Phương thức ghép
:
Ví dụ : Ghép một tiếng ở hàng trên và một tiếng ở hàng dưới để tạo nên những từ phức
có hai tiếng :
+ Nước, quần, to, thăm, sạch, cây.
+ Hỏi, lớn, nhà, áo, trơn, cỏ.
36
Kết quả sẽ được các từ phức :
Nước nhà, quần áo, to lớn, thăm hỏi, sạch trơn, cây cỏ.
Phương thức láy :
Ví dụ : Từ các từ đơn sau đây hãy tạo thành các từ láy khác nhau :
Cây, nhẹ, dễ, khó, nhanh ...
Kết quả có các từ láy :
Cây cối, nhè nhẹ, nhẹ nhàng, nhẹ nhỏm, dễ dàng, dễ dãi, khó khăn, nhanh nhanh, nhanh
nhẹn ...
Trong quá trình thực hiện việc cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh, giáo viên cần rèn
luyện cho học sinh làm quen với các phương thức này.
Gốc Hán-Việt
Do đặc đ iểm củ a lịch sử, trong vốn từ vựng củ a tiếng Việt Từ ng ữ Hán Việt có một
khối lượng lớn và có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động giao tiếp. Do nhiều nguyên
nhân, sự hiểu biết về Từ ngữ Hán Việt của học sinh hết sức hạn chế. Vì vậy, chương trình Từ
ngữ dành riêng một mảng lớn để trau dồi và phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh, trong đó đặc
biệt chú trọng Từ ngữ Hán-Việt. Cả sách giáo khoa Từ ngữ lớp 6 cải cách giáo dục và chỉnh
lý đều có những kiểu bài dùng các yếu tố gốc Hán -Việt để phát triển vốn Từ ngữ cho học
sinh.
Ví dụ : Bài 16 -, sách giáo khoa - Tiếng Việt 6 - tập 1 - 1995.
- Thủ : cái đầu .
Ví dụ : thủ cấp, thủ lợn, thư thủ ...
Còn có nghĩa là đứng đầu .
Ví dụ : Thủ đô, thủ lĩnh, thủ tướng ...
Lại còn có nghĩa là đầu tiên.
Ví dụ : thủ xướng, thủ mưu ...
Như vậy, từ một yếu tố gốc Hán-Việt là "thủ" có thể mở rộng được hàng chục Từ ngữ
khác nhau.
Tuy nhiên, các kiểu bài liên quan đến việc cung cấp Từ ngữ Hán -Việt cho học sinh bậc
trung học cơ sở hiện hành vẫn có những vấn đề cần phải trao đổi, chúng tôi sẽ trình bày ở
37
chương 3.
Theo các hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm
Tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác đều có hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng
âm. Đây cũng là một cơ sở tốt cho việc cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh.
Hiện tượng đồng nghĩa
Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa tương tự nhau. Có từ đồng nghĩa hoàn toàn và từ
đồng nghĩa không hoàn toàn. Có thể cung cấp Từ ngữ cho học sinh dựa vào hiện tượng này.
Ví dụ : Tìm các từ đồng nghĩa với các từ sau :
Trái, hy sinh, cho, tràn trề ...
Thực hiện bài tập này, học sinh sẽ phát triển được thêm các từ :
Trái - quả
Hy sinh - chết - từ trần - tạ thế - quá cố
Cho - biếu - tặng
Tràn trề - tràn đầy - tràn dâng - chan chứa ...
Sách giáo khoa Từ ngữ lớp 6 trung học cơ sở đã chú ý đến hiện tượng này, tiếc rằng hệ
thống bài tập còn chưa phong phú, đa dạng.
Hiên tượng trái nghĩa
Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau được xác định trên một cơ sở chung
nào đó như: thời gian, không gian, hành động, đặc điểm tính chất ... Có thể cung cấp Từ ngữ
cho học sinh trên cơ sở hiện tượng này. Có vốn Từ ngữ trái nghĩa, học sinh sẽ giao tiếp sinh
động và có hiệu quả hơn.
Ví dụ :
a) Sắp xếp các từ sau đây thành những cặp từ trái nghĩa và nói rõ cơ sở chung của sự
trái nghĩa đó.
a. Tốt, ngoan, lễ phép, chăm chỉ, sạch sẽ, vui vẻ ...
b. Lười biếng, hổn láo, bấn thỉu, hư, cáu kỉnh, xấu ...
Hoặc
b) Tìm các từ trái nghĩa trong đoạn thơ sau và nói rõ tác dụng của việc sử dụng các cặp
38
từ trái nghĩa đó :
Thiếu tất cả, ta rất giàu vũ khí.
Sống, chẳng cúi đầu; chết vẫn ung dung
Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hóa anh hùng
Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo
(Tố Hữu)
Sách giáo khoa Từ ngữ bậc Trung học cơ sở cũng đã chú ý đúng mức đến hiện tượng
này.
Hiện tượng đồng âm
So với hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, việc cung cấp vốn Từ ngữ dựa trên hiện
tượng đồng âm có hạn chế hơn. Tuy nhiên, nếu biết vận dụng, đây cũng là một trong những
biện pháp giúp học sinh có thêm vốn từ để thấy được sự phong phú, thú vị của Từ ngữ tiếng
Việt trong hình thức chơi chữ giàu bản sắc dân tộc.
Từ đồng âm là những từ có hình thức ngữ âm giống nhau (âm thanh, chữ viết) nhưng
nghĩa khác nhau. Có thể có những bài tập hấp dẫn và có tác dụng nhất định đối với hiện
tượng này.
Ví dụ: Tìm và giải nghĩa các hiện tượng đồng âm trong các câu sau đây :
a. Bác bác trứng
b. Tôi vừa câu cá vừa đọc một câu thơ vừa học
c. Ruồi đậu mâm xôi, mâm xôi đậu
Kiến bò đĩa thịt, đĩa thịt bò.
Trong thực tế hiện nay, hiện tượng đồng âm của các yếu tố Hán Việt trong các Từ ngữ
Hán-Việt là h iện tượng hết sức nan giải đ ối v ới học sin h. Vì vậy cần p hải có sự q u an tâm
đúng mức.
Theo trường nghĩa
Khối lượng Từ ngữ của một ngôn ngữ là lớn và phức lạp. Khi lựa chọn một số Từ ngữ
nào đó, chúng ta khó thấy được mối liên hệ ngữ nghĩa trực tiếp. Nhưng khi đặt các Từ ngữ đó
vào một hệ thống nhỏ hơn, chúng ta có thể thấy được mối liên hệ. Mỗi hệ thống ngữ nghĩa
nhỏ là những tập hợp đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Các
39
trường nghĩa có thể giúp ta phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ
vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa
trong cùng một trường.
F. De Saussare đã chỉ ra hai dạng quan hệ chung nhất của ngôn ngữ : quan hệ ngang
(hình tuyến, tuyến tính, ngữ đoạn) và quan hệ dọc (trực tuyến, hệ hình). Theo hai dạng quan
hệ đó, ta có những trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc. Việc cung cấp vốn Từ ngữ cho
học sinh bậc Trung học cơ sở cũng cần dựa vào trường nghĩa.
Dựa vào trường nghĩa biểu vật.
Một trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật. Để
có những căn cứ đưa các nghĩa biểu vật của các từ về trường nghĩa biểu vật thích hợp, chúng
ta chọn danh từ gốc. Danh từ này phải có tính khái quát cao cũng là tên gọi các nét nghĩa có
tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật.
Ví dụ : Với từ mắt có thể có những trường nghĩa.
- Bộ phận của mắt : lông mày, lông mi, mí, mi, lòng trắng, lòng đen, con ngươi, khóe
mắt, nước mắt...
- Đặc điểm của mắt:
+ Về ngoại hình : Bồ câu, ốc nhồi, lá răm, lợn luộc, chổi xể, lưỡi mác, dao cau, lươn,
nhung, huyền, xanh, đen...
+ Về năng lực : đờ đẫn, sắc sảo, lờ đò, tinh anh, tốt, kém, mù, lòa...
+ Về cảm giác : chói, quáng, hoa, cộm...
+ Về bệnh lý : quáng gà, mắt hột, thông manh, cận thị, viễn thị...
+ Về hoạt động : nhìn, trông, liếc, nguýt, nghé, dòm, đung đưa, trợn, quắc...
Khi vận dụng trường nghĩa biểu vật để cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh cần hiểu :
Số lượng Từ ng ữ và tổ chức các trường khác n hau , có trường lớn, có trường n hỏ
(miền), có miền phong phú cũng có miền trống (không có Từ ngữ)
Việc phân lập trường cũng không phải là phân loại từ cho nên có hiện tượng một từ có
thể ở miền này vừa ở miền kia tạo nên sự "giao thoa" với nhau.
Quan hệ giữa các Từ ngữ với trường không giống nhau có từ quan hệ hết sức chặt chẽ
nhưng cũng có từ lỏng lẻo. Tính chất quan hệ này tạo nên lõi trung tâm quy định những đặc
trưng ngữ nghĩa của trường gồm những Từ ngữ điển hình.
40
Những điều nêu trên đặt ra vấn đề thực tiễn; khi lựa chọn trường để cung cấp cho học
sinh không thể lựa chọn những miền trống, việc cung cấp Từ ngữ trong một chừng mực nào
đó có thể lập đi lặp lại một số Từ ngữ nào đó ở những trường (miền), chủ đề, chủ điểm khác
nhau. Việc lựa chọn Từ ngữ cung cấp cho học sinh nên lựa chọn những Từ ngữ điển hình, cốt
lõi trung tâm của trường (miền). Điều này đã được thể hiện trong một số bài ở , sách giáo
khoa Từ ngữ lớp 6,7.
Dựa vào trường biểu niệm.
Ý nghĩa biểu niệm của từ cũng là một căn cứ dể phân lập trường của từ người ta gọi là
trường biểu niệm. Ý nghĩa, cấu trúc biểu niệm không chỉ dành riêng chu từng từ mà chung
cho nhiều từ. Cũng do từ có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm cho nên có một số từ có thể
xếp vào những trường biểu niệm khác nhau. Các trường biểu niệm có thể thẩm thấu, giao
thoa lẫn nhau và cũng có Từ ngữ cốt lõi, điển hình, có Từ ngữ ở lớp trung gian và lớp ngoại
vi.
Ví dụ : Trường biểu hiện vật thể nhân tạo thay thế, tăng cường thao tác lao động bằng
cầm tay có thể là :
- Dụng cụ để chia cắt: dao, cưa, búa, phảng, liếm, hái...
- Dụng cụ để soi, đục : dục, dùi, chàng ...
- Dụng cụ để nện, gõ: búa, vồ, dùi cui...
- Dụng cụ để đánh bắt: đó, đơm, lưới, câu, vó ...
- Dụng cụ để mài, giũa : đá mài, giũa, bào ...
- Dụng cụ để kiềm giữ : kìm, kẹp, kéo, móc ...
- Dụng cụ để chém giết: dao, gươm, kiếm, giáo, súng ...
- Dụng cụ để xối đất: cày, cuốc, thuổng, bừa, cào ...
- Dụng cụ để lấy, múc : thìa, muỗng, gáo ...
Trường biểu niệm hết sức phong phú. Vận dụng trường biểu niệm có thể giúp cho học
sinh những lớp Từ ngữ khác nhau góp phần làm phong phú Từ ngữ cho các e m. Những ưu
thế của trường biểu niệm đã được các tác giả biên soạn , sách giáo khoa sử dụng trong kiểu
bài Mở rộng vốn từ theo chủ đề - Lớp 7.
Dựa vào trường tuyến tính.
Khi phân lập từ, chúng ta có thể dựa vào trường nghĩa tuyến tính, tức là trong mối q uan
41
hệ hàng ngang khi chúng kết hợp với nhau. Muốn lập trường này, trước hết phải chọn từ gốc,
rồi tìm tất cả những từ kết hợp được với nó để tạo ngữ, câu theo quy luật tư duy thông thường
của người bản ngữ.
Ví dụ : Trường tuyến tính của học sinh là : Học tập, lao động, giỏi, khá, yếu, kém,
thông minh, dốt, ngoan, hiền, lễ phép, nghịch ngợm ...
Các từ trong một trường tuyến tính là các từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong
một loại văn bản nào đó. Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể phát hiện dược nội
dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó.
Ví dụ : các từ năm trong trường tuyến tính của học là :
Các môn học : Văn, sử, bài, toán, ngoại ngữ...
Tính chất mức độ của học : giỏi, khá, trung bình ...
Trong trường phổ thông trung học cơ sở, trường luyến lính được vận dụng để cung cấp
và rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ cho học sinh theo các kiểu bài lập dùng lừ, đặt câu,
điền từ vào chỗ uống, thay thế lừ này bằng lừ khác...
Dựa vào trường liên tưởng
Từ ngữ không chỉ là một mực thể cấu trúc,-một sự kiện của một hệ mông ngôn ngữ mà
còn là mội thực thể của xã hội và cá nhân sống dộng. Theo Ch. Bally, mỗi từ có thể là mội
trung tâm của trường Hôn tưởng. Trường liên tưởng sẽ bổ sung, cụ thể hóa trường biểu vật và
biểu hiện dễ dàng làm cho lừ trở nên sống động và có hồn hơn.
Ví dụ : Từ "bò" cóthể gợi ra do liên tưởng
1. Bò cái, bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ ...
2. Sự cày bừa, cái cày, cái ách ...
3. Những ý niệm về tính chịu đựng, nhẫn nại, sự chậm chạp ...
Những từ nằm trong mội trường liên tưởng là những từ cùng nằm trong trường biểu vật,
biểu niệm và tuyến tính tức là có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ
trung lâm. Mặc khác, còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện với từ trung tâm
trong những chủ đề tương đối dồng nhài, lặp đi, lặp lại. Vì vậy trường liên tưởng có tính dân
tộc, lính thời đại và tính cá nhân.
Ví dụ 1 : Trong bài : "Chạy giặc", Nguyễn Đình Chiểu đã liên tưởng và huy động Từ
ngữ để phục vụ cho chủ đề ấy : tan chợ, súng tây, bàn cờ thế, phút sa tay, bỏ nhà, mất tổ, tan
42
bọt nước, nhuốm màu mây ...
Ví dụ 2 : Trong đoạn trích "Mã Giám Sinh mua Kiều" Nguyễn Du đã dùng những từ để
lam rõ thực chất của cuộc mua bán : mối, đắn đo, cân sắc, căn tài, ép, thử, ưa, khách, đáng
giá, cò kể, bớt, thêm, ngã giá ...
Vận dụng trường liên tưởng, giáo viên sẽ biết lựa chọn và khai thác hệ thống Từ ngữ
trong bài thơ, bài văn để cung cấp, phân lích, binh giá, làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. Bên
cạnh đó, trường liên tưởng còn giúp cho học sinh rèn luyện thói quen liên tưởng khi sử dụng
Từ ngữ để diễn đạt tư tưởng, tình cảm. Tiếc rằng, trong thực tế,, sách giáo khoa và giáo viên
chưa chú ý đúng mức đến vấn đề này.
(Phần III 1.1.2.4 có sử dụng tư liệu trong cuốn Từ vựng-ngữ nghĩa
tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu)
2.3.1.2. Giúp học sinh nắm ý nghĩa và giá trị của Từ ngữ trong giao tiếp:
2.3.1.2.1. Vì sao phải nắm ý nghĩa và giá trị của Từ ngữ:
Từ ngữ là tín hiệu, là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có sự thống nhất giữa các biểu đạt và
cái được biểu đạt tức là có hình thức và nội dung. Cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh cần chú
trọng các biểu đạt của từ, số lượng Từ ngữ là cần thiết nhưng nếu chỉ dừng lại ở mức độ này
thì vốn từ của học sinh chưa thể bảo đảm chắc chắn và chưa có thể chủ động sử dụng có hiệu
quả. Vì v ậy cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh cần phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ.
Nghĩa của từ chính là nội dung, khái niệm, là hình ảnh khái quát, trừu tượng phản ánh hiện
thực khách quan vào đầu óc con người được chứa đựng trong Từ ngữ. Ý nghĩa này có thể
được hình thành theo con đường tự nhiên hoặc con đường có ý thức. Đối với nhà trường cần
coi trọng đúng mức giúp học sinh hiểu nghĩa của từ theo con đường có ý thức. Có như thế,
học sinh mới nắm được nghĩa của từ một cách chính xác, nhớ nhanh, lâu bền.
2.3.1.2.2. Các p hương pháp có thể vận dụng để giải nghĩa Từ ngữ cho học sinh bậc
trung học cơ sở:
Việc giảng nghĩa từ có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau tuy theo đối
tượng, mục đích và điều kiện khác nhau. Ở bậc tiểu học hoặc khi dạy ngoại ngữ, người ta
thường dùng phương pháp trực quan bằng các vật thật, tranh ảnh ... Ở bậc trung học cơ sở,
khả năng tư duy của học sinh đã phát triển hơn, vốn Từ ngữ được cung cấp chủ yếu là Từ ngữ
văn hóa có tính trừu tượng, khái quát hơn cho nên phải sử dụng các phươ ng pháp khác có
hiệu quả hơn. Hiện nay các phương pháp thường được sử dụng đối với học sinh bậc học này
43
là :
Phương pháp lô-gích học
Phương pháp lô gích học giúp học sinh phát hiện và hiểu được nội dung khái niệm, nội
dung lô gích học chứa trong từ là hi ểu nghĩa từ. Vận dụng phương pháp này để giải nghĩa
thường phải qua hai bước : bước nêu khái niệm loại và bước xác định chủng.
Ví dụ :
a) Công nhân : là người lao động (loại) trong các nhà máy, xí nghiệp (chủng)
b) Nông dân : là người lao động (loại) ở nông thôn làm nông nghiệp (chủng)
Nếu chúng ta coi yếu tố loại là a, yếu tố chủng là x, y, ... thì nghĩa của các từ được giải
nghĩa vận dụng phương pháp này sẽ là :
A = a + x
A1 = a + y
A2= a + z...
Phương pháp lô gích học thường được dùng để giải nghĩa các từ thuộc từ loại danh từ,
động từ, tính từ tức là những từ phản ánh hiện thực một cách trực tiếp.
Phương pháp ngôn ngữ học
Phương pháp ngôn ngữ học giúp học sinh tìm ra những quan hệ ngữ nghĩa thích hợp
nằm trong nội bộ ngôn ngữ để làm sáng tỏ nghĩa của từ. Các quan hệ này có thể là quan hệ
với từ : đồng nghĩa, trái nghĩa, hoặc quan hệ trong nội bộ từ từ tố - từ tố
Quan hệ giữ từ v ới từ thường đ ược vận d ụng đ ể giải ngh ĩa n hững từ thu ần Việt. Để
giúp học sinh hiểu nghĩa một từ nào đó, chúng ta có chọn và nêu một số từ đồng nghĩa hoặc
trái nghĩa với từ đó.
Ví dụ : hy sinh : chối vì việc nghĩa.
44
biếu : cho người khác một vật gì với lòng kính trọng, thân mật
Nếu là từ trái nghĩa thì phải làm phép phủ định để biến quan hệ đối cực thành quan hệ
đồng nhất.
Ví dụ: Bấp bênh không vững chắc
dốt nát không thông minh
yếu tố phủ định từ trái nghĩa
Quan hệ giữa từ tố với từ tố thường được sử dụng được giải nghĩa một số từ ghép đẳng
lập thuần Việt và hầu hết các Từ ngữ Hán-Việt. Muốn giải nghĩa một từ nào đó, chúng ta nêu
nghĩa của từng yếu tố rồi sau khái quát lại để trở thành nghĩa chung của từ.
Ví dụ :
a) bình dị bình : bình thường, không kiểu cách Bình thường
dị : giản dị, không lố lăng giản dị, không kiểu cách
b) ngoạn: vui, đẹp
Ngoạn mục mục : mắt trông đẹp mắt, vui mắt
Phương pháp ngôn ngữ học là phương pháp đ uợc sử d ụng khá phổ b iến. Sử d ụ n g
phương pháp này sẽ giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, khơi dậy và khắc sâu trong đầu óc học
sinh các yếu tố từ vựng có mối quan hệ với nhau và ý thức được mối quan hệ đó.
Phương pháp xã hội học
Từ ngữ phản ánh hiện thực lịch sử, xã hội của dân tộc. Trong vốn từ ngữ cần cung cấp
cho học sinh, có những từ có thể biết được nguồn gốc sâu xa mang ý nghĩa lịch sử, xã hội của
nó. Việc giải nghĩa từ cũng có thể thực hiện bằng phương pháp xã hội học.
Phương pháp này thường được dùng để giải nghĩa những từ ngữ vay mượn, các điển cố,
điển tích trong các tác phẩm văn học cổ.
Ví dụ 1 : Khi giảng câu thơ của Tú Xương
Hà Nam danh giá nhất ông cò
Ông cò : viên đội cảnh sát.
45
Cò là dạng ph iên âm rú t gọn củ a tiếng Pháp : Co -mit-xe (hoặc còm-mít-xe) nghĩa là
nhân viên cảnh sát do cách đọc cho nên ở miền Bắc đọc là cò, còn ở miền Nam đọc là cẩm.
Ví dụ : Khi giảng câu Kiều
Dù khi lá thắm chỉ hồng
Nên chăng thì cũng tụi lòng mẹ cha
Lá thắm, chỉ hồng : cần kể cho học sinh nghe câu chuyện của Vu Hựu và Vi Cố.
Giảng nghĩa theo phương pháp xã hội học, một mặt giúp học sinh hiểu được nghĩa của
từ, mặt khác giúp học sinh có thêm hiểu biết về lịch sử, xã hội, phong tục, có điều kiện để
cảm thụ tác phẩm văn học cổ một cách hiệu quả hơn.
(Phần 1.2.2. có sử dụng tư liệu trong cuốn Giảng dạy Từ ngữ ở trường phổ thông của
Phan Triều).
2.3.2. Về việc rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ
sở:
Lựa chọn để cung cấp, giúp học sinh hiểu nghĩa của Từ ngữ là cung cấp cho các em
một vốn liếng, một tiềm năng. Nhưng vốn liếng và tiềm năng này không được khơi dậy, sử
dụng thì cũng chỉ là vốn liếng, tiềm năng "tiêu cực". Chính vì vậy, cần rèn luyện cho học
sinh. kỹ năng vận dụng Từ ngữ trong học tập, giao tiếp. việc rèn luyện kỹ năng Từ ngữ có
liên quan đến việc tiếp nhận và sáng tạo văn bản (thụ ngôn và tạo ngôn).
2.3.2.1. Rèn luyện cho học sinh vận dụng Từ ngữ để tiếp nhận văn bản:
Khi học sinh nghe, đọc một câu nào đó, bắt gặp những Từ ngữ có trong vốn Từ ngữ của
mình, các em sẽ hiểu. Việc hiểu này không phải là một trạng thái tĩnh mà là một hoạt động
tích cực liên quan đến sự lựa chọn chủ động của cá nhân. Một từ nào đó tồn tại trong đầu óc
con người có thể có nhiều nét nghĩa khác nhau. khi tiếp nhận những phát ngôn có chứa đựng
những Từ ngữ đó,căn cứ vào hoàn cảnh thực tại hoặc văn cảnh xác định Từ ngữ đó xuất hiện
vốn ý nghĩa giá trị như thế nào. Như vậy, muốn tiếp nhận được, người đọc, nghe phải tách ra
từ trong hệ thống yếu tố cần để hiểu đó.
Ví dụ:
Khi đọc những bài thơ trong bài"Thăm lúa" của Trần Hữu Thung.
Sương treo đầu ngọn cỏ
Sương lại càng long lanh
46
Từ "treo" có khả năng có những nghĩa sau
- Buộc dây vào một vật để nó buông thỏng xuống từ trên cao.
- Móc giữ ở trên cao.
- Bị buộc dây vào mà lơ lửng ở trên cao.
- Giữ lại, chưa cấp, không cho hoạt động bình thường
Trong hệ thống ngữ nghĩa đó, căn cứ vào ngữ cảnh này, "treo" có nghĩa là bị móc giữ ở
trên cao.
Việc hiểu nghĩa của từ có thể có nhiều mức độ khác nhau : chưa hiểu gì, hiểu sai, hiểu
gần đúng, hiểu đúng hoàn toàn. Dạy học Từ ngữ, giáo viên cần phải giúp học sinh "hiểu tất cả
ý nghĩa của từ, ý nghĩa sâu xa, ý nghĩa phong phú'" - tr 39) để các em vận dụng vào từng
hoàn cảnh cụ thể để tiếp nhận văn bản đúng đắn. Điều này rất có ý nghĩa trong việc dạy-học
Văn - Tiếng Việt và các môn khác trong nhà trường.
2.3.2.2. Rèn luyện cho học sinh kỹ năng dùng từ đúng, tiến tới dùng từ hay:
Vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc phổ thông trung học cơ sở ngoài việc
cung cấp cho các em một số từ vựng đủ dùng để học tập, giao tiếp, điều quan trọng và có ý
nghĩa quyết định là phải rèn luyện kỹ năng dùng từ. Đây là công việc cần được chú ý đúng
mức trong hoạt động học tập ở nhà trường. Tuy nhiên việc rèn luyện kỹ năng việc dùng từ
chính xác (tức là việc phát triển lời nói, quan hệ, các kỹ xảo giao tiếp) cũng không đơn giản.
Việc làm này bao gồm nhiều nội dung với những mức độ, tính chất khác nhau.
2.3.2.2.1. Dùng từ đúng trước hết là dùng từ đúng âm:
Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết định bất biến và có một ý nghĩa nhất định
nào trong một phương thức (một kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ
pháp, dùng để cấu tạo câu . Mỗi từ của tiếng Việt là một đơn vị có tính chất chuẩn về ngữ âm
và nhờ đó mới bảo đảm tính chất chuẩn xác về ý nghĩa. Vì vậy, dạy học sinh dùng từ đúng,
trước hết là phải dùng đúng âm để không tạo ra sự ngộ nhận và lẫn lộn trong tiếp nhận.
Dạy dùng từ đúng âm cần phải coi trọng việc kết hợp dạy từ và cách dùng từ với dạy
chính tả. Khi cung cấp Từ ngữ cho học sinh, gc cần phải chú ý và chuẩn mực hóa Từ ngữ về
mặt ngữ âm. Cần đọc to, rõ, viết đầy đủ, chính xác.
Ví dụ 1 :Bàng quan chứ không phải bàng quang
(Bàng quan : người không có quan hệ, đứng một bên nào mà dòm, vô trách nhiệm)
47
(Bàng quang : bộ phận sinh lý của cơ thể, bong bóng đái)
Ví dụ 2 :Xán lạn chứ không phải sáng lạn
(Xán lạn : sáng sủa, đẹp rực rỡ)
Sách giáo khoa cần phải có những bài tập rèn luyện chuẩn mực ngữ âm về Từ ngữ cho
học sinh.
Ví dụ : Hãy sửa lại cho đúng chính tả các từ có gạch dưới trong các câu sau đây :
a) Tính anh ấy rất ngang tàn.
b) Nó đi phấp phơ ngoài phố.
Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau, học sinh dùng Từ ngữ nói, viết sai về mặt
ngữ âm rất nhiều.
Ví dụ :
a) Nhà vua cho vời các lạc hầu vào bàn bạc, nói song vua khoán.
ước mơ của nhân dân lao động chiến thắng lũ b) Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh phản ứng
lụt.
Giáo viên cần chú ý để uốn nắn những sai sót trong cách phát âm, cách viết về Từ ngữ
cho học sinh để chuẩn mực hóa vốn từ cho các em.
2.3.2.2.2. Dùng từ đúng nghĩa:
Từ là đơn vị cơ bản để tham gia cấu tạo câu. Mỗi từ khi kết hợp với từ khác để tạo câu
có một giá trị nhất định vào tạo nên mạng lưới liên kết đối với từ khác. Vì vậy, mỗi từ cần
phải bảo đảm lý, chính xác mới có thể diễn đạt trung thành các ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm, tri
thức và giúp người đọc, nghe không nhầm lẫn. Để rèn luyện cho học sinh dùng từ chính xác, ,
sách giáo khoa và giáo viên cần sáng tạo nhiều kiểu bài tập khác nhau.
- Bài lập điền từ vào chỗ trống.
Loại bài lập này khá đơn giản. Mẫu câu có sẵn. Các Từ ngữ tham gia cấu tạo câu đã
hợp lý chỉ còn một chỗ trống. Học sinh phải lựa từ hợp lý điền vào chỗ trống để nội dung của
câu sáng tỏ.
Ví dụ 1 :
Điền vào các từ phức : xanh biếc, n ổi tiếng, chói chang, khoáng đảng vào những chỗ
thích hợp trong đoạn văn sau :
48
Đà Lạt là một trong những nơi nghỉ mát................... vào bậc nhất của nước ta. Đà Lạt
phảng phất tiết của mùa thu với sắc trời.................... và không gian............ quanh năm không
biết đến mặt trời......................... mùa hè.
Ví dụ 2 :
Điền vào chỗ trống những động từ, tính từ thể hiện những yêu cầu đạo đức của xã hội
ta.
Đối với người trên phải...........................
Đối với bạn bè phải..................................
Trong nói năng phải.................................
Trong công việc phải..................................
- Bài tập thay thế Từ ngữ này bằng Từ ngữ khác thích hợp hơn, hay hơn.
Trong thực tế vốn Từ ngữ, hiện tượng đồng nghĩa, gần nghĩa khá phổ biến. Đó là hiện
tượng đồng nghĩa, gần nghĩa vốn có. Khi các từ kết hợp với nhau để tạo câu, do hoàn cảnh
giao tiếp cụ thể, các từ có thể xuất hiện hiện tượng đồng nghĩa gần nghĩa lâm thời tức là trong
ngữ cảnh đó Từ ngữ được dùng có thể đồng nghĩa với một Từ ngữ khác mà khi tách ra khỏi
văn cảnh, tính chất đó sẽ mất đi. Tất nhiên, trong số các Từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa lâm
thời đó sẽ có một Từ ngữ thích hợp nhất, diễn tả chính xác, tinh tế nhất, mang lại hiệu quả
giao tiếp cao nhất.
Ví dụ :
Thay những từ có gạch chân sau đây bằng những Từ ngữ khác thích hợphơn.
a.Trong ánh hoàng hôn, những nương sắn có màu nắng vàng lộng lẫy nhìn thấy trên
khắp sườn đồi.
b. Trong đôi mắt sâu thẳm của ông, tôi thấy có một niềm hy vọng.
c. Tôi phải suy nghĩ rất căng thẳng
Những Từ ngữ thay thế:
a. Nhuộm trải ra.
b. Loé lên.
c. Vắt óc mà suy nghĩ.
- Dùng từ đặt câu
49
Loại bài tập này có tác dụng nhiều mặt trong việc rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ
cho học sinh. Vì thế, nó xuất hiện nhiều trong, sách giáo khoa Từ ngữ cũ ng như, sách giáo
khoa Ngữ pháp. Để thực hiện bài tập này đòi hỏi học sinh phải thực hiện cả hai thao lác: vừa
lựa chọn, vừa kết hợp, yêu cầu và mức độ của bài tập có sự khác nhau.
+ Đặt câu theo mẫu câu tự chọn, Từ ngữ có sẵn.
Bài tập này thường dùng tron g sách giáo khoa Từ ngữ. Từ ngữ cho sẵn gắn với nội
dung bài học. Câu là những mẫu tự chọn, có thể là câu đơn, có thể là câu phức. Yêu cầu đặt
ra là sự kết hợp giữa các từ phải hợp lý, câu đúng cấu trúc ngữ pháp.
Ví dụ 1 : Đặt 3 câu có từ "chín" với nghĩa
- (Quả, hạt) ở vào giai đoạn phát triển đầy đủ.
- (Thức ăn) được nấu nướng kỹ ở mức độ ăn được, trái với sống.
- (Sự suy nghĩ) ở mức đầy đủ để có được hiệu quả.
Ví dụ 2 : Đặt câu với các từ sau
Lang (khoai lang), lang (ông lang); la (nốt nhạc), la (con la ), la (la hét)
+ Đặt câu theo Từ ngữ bất kỳ, mẫu câu bất kỳ
Bài tập này cũng thường được sử dụng. Tuỳ theo lựa chọn của học sinh, các em có thể
chọn những Từ ngữ nào đó và đặt theo một mỗi câu tùy ý. Yêu cầu đặt ra là các từ dùng trong
câu phải hợp lý và câu đúng kết cấu cú pháp.
Ví dụ : Đặt câu có dùng danh từ chỉ loại thể.
Đặt câu có động từ chỉ hành động ở vị ngữ.
Tuy nhiên, những bài tập này cần có sự định hướng theo một nội dung cụ thể để đạt
được mục đích thiết thực hơn.
- Dạy dùng từ đúng nghĩa cũng cần chú ý đúng mức, uốn nắn, sửa chửa việc dùng từ sai
nghĩa.
Do hiểu nghĩa của từ không đầy đủ, chính xác cho nên trong thực tế nói/viết, học sinh
rất lúng túng, dùng từ sai nghĩa nhiều, ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp. Rèn luyện kỹ năng
dùng Từ ngữ cho học sinh có thể sử dụng biện pháp tích cực lẫn biện pháp tiêu cực. Bên cạnh
việc chủ động cung cấp vốn liếng Từ ngữ, các mẫu câu ... để các em viết được câu đúng còn
cần phải giúp các em sửa chữa những sai sót của mình.
Điều quan trọng và có ý nghĩa lâu dài là phải dạy học sinh làm quen và có ý thức về
50
một quy trình sửa chửa sai để các em chủ động thực hiện công việc. Quy trình đó bao gồm
- Phát hiện sai.
- Phân tích chỗ sai, tìm ra nguyên nhân.
- Đề ra biện pháp sửa chữa cụ thể.
Ví dụ 1 :
Mai sau lớn lên, em sẽ báo đền ơn nghĩa của cha mẹ, bởi cha mẹ đã nuôi dưỡng, bảo
vệ em cực nhọc sáng nắng chiều mưa.
Câu này do không hiểu nghĩa của các từ nên dùng sai các từ : báo đền, ơn nghĩa, bảo
vệ.
Dùng từ thừa : sáng nắng chiều mưa.
Phương hướng sửa chữa cụ thể :
Chọn Từ ngữ khác thích hợp hơn.
Bỏ bớt Từ ngữ thừa.
Một cách chửa cụ thể :
Mai sau lớn lên, em sẽ đền đáp công ơn cha mẹ bởi cha mẹ đã cực nhọc nuôi dưỡng,
day dỗ em.
Ví dụ 2 :
Em viết đơn này xin cô cho em nghỉ học. Lý do : gia đình em di dân về GiaBình.
Câu này dùng sai từ "di dân" (di dân : đưa dân dời đến một nơi khác để làm ăn sinh
sống có quy mô, có tổ chức) một gia đình không thể gọi là "di dân" cho nên phải lựa chọn từ
khác hợp lý hơn.
Ví dụ : Lý do : gia đình em di chuyển (hoặc dời) về Gia Bình.
2.3.2.2.3. Dùng từ đúng phong cách ngôn ngữ:
Về nguyên tắc lý thuyết cũng như thực tế sử dụng Từ ngữ, Từ ngữ nào của tiếng Việt
cũng mang màu sắc phong cách. Vì vậy dạy học sinh dùng từ đúng một trong một nội dung
cần quan tâm là dùng từ đúng phong cách và phù hợp với yêu cầu của phong cách ngôn ngữ.
Tuy nhiên, việc rèn luyện Từ ngữ đúng phong cách là một điều không đơn giản.
Ở chương I, chúng tôi đã nêu : đứng về phía văn hóa-xã hội, Từ ngữ tiếng Việt có thể
chia làm hai lớp từ : lớp từ cơ bản và lớp từ vă n hóa. Đối với học sinh bậc trung học cơ sở,
51
trọng tâm cung cấp Từ ngữ cho các em là một phần lớp Từ ngữ cơ bản và phần lớn là lớp tư
văn hóa. Như vậy khi học xong bậc trung học cơ sở, vốn Từ ngữ của học sinh đã khá đầy đủ :
các em đã nắm trọn vẹn lớp từ cơ bản và đã có được một phần lớp từ văn hóa.
Đứng về binh diện phong cách học, người ta lại phân chia Từ ngữ tiếng Việt thành Từ
ngữ đa phong cách và Từ ngữ đơn phong cách.
Trên đây là những phân chia dựa vào những căn cứ khác nhau những qua thực tế xem
xét, chúng tôi thấy giữa lớp từ vựng cơ bản và Từ ngữ đa phong cách cũng như giữa lớp từ
vựng văn hóa và Từ ngữ đơn phong cách có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ở bậc Trung học
cơ sở, đặt ra vấn đề dạy học sinh dùng Từ ngữ đúng phong cách là điều cần thiết.
Căn cứ vào mục tiêu đào tạo của nhà trường bậc Trung học cơ sở và chương trình, nội
dung, sách giáo khoa môn học, chúng tôi thấy việc dùng Từ ngữ ở bình diện phong cách đối
với bậc trung học cơ sở cần tập trung vào một số nội dung.
Vận dụng, lớp từ vựng cơ bản trong giao tiếp đa phong cách.
Với vốn Từ ngữ mà nhà trường đã cung cấp cho học sinh ở các lớp của bậc Tiểu học và
Trung học cơ sở, học sinh có thể sử dụng để giao tiếp trong đời sống hàng ngày và trong học
tập. Đây là những từ biểu thị các sự vật, hiện tượng, các hoạt động, trạng thái, đặc điểm tính
chất ... và biểu thị mối quan hệ ... được mọi người trong xã hội quen dùng trong giai đoạn
hiện nay. Số lượng lớp Từ ngữ này là lớn và hết sức quan trọng. Rèn luyện cho học sinh có
thói quen huy động lớ p Từ ngữ này vào giao tiếp sẽ góp phần thiết thực nâng cao hiệu quả
trong việc học tập môn Văn - Tiếng Việt và các môn học khác.
Dùng từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ khoa học.
Theo lớp học và cấp học, càng lên cao, tính chất khoa học của các môn học càng được
mở rộng và phức tạp dần. Trong tiếp nhận tri thức khoa học của các môn học cũng như trong
việc diễn đạt các tri thức đó đòi hỏi học sinh phải sử dụng vốn Từ ngữ cho phù hợp với nhân
tố và đích của từng môn học. Hiện nay, ở trường phổ thông trung học cơ sở, học sinh được
học các môn khoa học tự nhiên : Toán, Sinh, Lý, Hóa và khoa học xã hội : Văn, Sử, Địa. Một
môn học sẽ có một hệ thống thuật ngữ và Từ ngữ khoa học của môn học đó. cần rèn luyện
cho học sinh có thói quen dùng Từ ngữ của từng môn học để tạo nên vẻ riêng cho sự diễn đạt
bảo đảm tính chính xác, khoa học. Biến thể phong cách ngôn ngữ khoa học mà nhà trường
cần chú ý là phong cách ngôn ngữ khoa học giáo khoa hướng các em dùng Từ ngữ để diễn
đạt, vận dụng tri thức đã học vào thực hành. Việc dùng Từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ
khoa học phải được thực hiện ở tất cả các môn học và ở tất cả các lớp ở cấp học. Lớp trên đặt
52
ra yêu cầu cao hơn lớp dưới.
Dùng từ trong phong cách ngôn ngữ hành chính.
Đối với học sinh bậc trung học cơ sở, phạm vi giao tiếp của các em đã được mở rộng.
Ngoài việc giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, các em còn phải quan hệ, giao tiếp giữa cá
nhân với tổ chức xã hội, đoàn thể hoặc đại diện tổ chức xã hội, đoàn thể với nhau. Để giúp
các em thực hành tốt quan hệ, giao tiếp, chương trình môn tập làm văn ở bậc trung học cơ sở
đưa vào các kiểu bài: Đơn từ, Báo cáo, Biên bản. Với các kiểu bài tập khác nhau, các kiểu bài
này cũng đòi hỏi học sinh phải biết sử dụng Từ ngữ phù hợp với đặc điểm phong cách: chính
xác, minh bạch, ng hiêm túc khách quan; khuôn mẫu nghiêm nhặt.
Dùng từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ chính luận
Chương trình môn tập làm v ăn b ậc tru ng học cơ sở đ ã chú ý đ úng mức các kiểu bài
nghị luận: phát biểu cảm nghĩ, phân tích, chứng minh, giải thích, bình luận ... tức là những
kiểu bài khá tiêu biểu cho phong cách ngôn ngữ chính luận. Để giúp học sinh học tốt các kiểu
bài này và vận dụng có hiệu quả trong đời sống cần chú ý đúng mức cần rèn luyện kỹ năng sử
dụng Từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ chính luận. Tuy nhiên đây là một việc làm lâu dài
và khó khăn. Ở bậc Trung học cơ sở nên chỉ dừng lại ở mức độ giúp các em ý thức được vấn
đề, còn trọng tâm vẫn là nhiệm vụ cùa bậc Trung học phổ thông.
Dùng từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Ở bậc trung học cơ sở, chúng ta đã cung cấp cho học sinh được một khối lượng khá lớn
lớp từ vựng văn hóa trong đó phần lớn là Từ ngữ Hán-Việt. Nhiều người cho rằng lớp Từ ngữ
này chính là Từ ngữ văn học (hoặc Từ ngữ nghệ thuật). Từ ngữ văn học cũng được phân bố
khá rộng. Việc rèn luyện cho học sinh sử dụng Từ ngữ văn học trong phong cách ngôn ngữ
nghệ thuật phải làm thế nào để góp phần thể hiện được đặc trưng của phong cách ngôn ngữ
nghệ thu ật: tín h h ìn h tượng , tín h tru yền cảm, tín h cá thể, tín h hàm súc ... Hiện nay, trong
chương trình tập làm văn bậc trung học cơ sở các kiểu bài thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ
thuật chiếm một vị trí đáng kể : trần thuật, tường thuật, miêu tả, kể chuyện ... cần có sự kết
hợp giữa Văn-Tiếng Việt-Tập làm văn để rèn luyện kỹ năng sử dụng những Từ ngữ thuộc
phong cách này đạt hiệu quả cao hơn.
Nói tóm lại : việc dạy học tiếng Việt nói chung, Từ ngữ và vấn đề phát triển vốn Từ
ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở nói riêng đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài.
Cùng với việc nhận thức đúng đắn về vấn đề này, chương trình, nội dung , sách giáo khoa và
phương pháp thực hiện đã có những thay đổi đáng kể, thu được những thành tựu nhất định
53
không thể phủ nhận. Tuy nhiên thực trạng của vấn đề giảng dạy Từ ngữ và phát triển vốn Từ-
ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở vẫn bộc lộ những lúng túng và kết quả chưa được như
mong muốn. Học sinh vẫn nói sai, viết sai khá phổ biến do vốn Từ ngữ nghèo nàn, hiểu nghĩa
của từ không chính xác, kỹ năng sử dụng Từ ngữ chưa thành thạo. Vì vậy, vấn đề phát triển
vốn Từ ngữ cho học sinh bậc trung học cơ sở vẫn được đặt ra cấp bách. Để công việc này có
hiệu quả hơn, khi thực hiện phải tuân thủ các nguyên tắc giảng dạy tiếng Việt, các nguyên tắc
giảng dạy Từ ngữ và đặc biệt tuân thủ nghiêm nhặt các nguyên tắc : bảo đảm tính hệ thống,
và hướng vào hoạt động giao tiếp. Nội dung của vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh
bậc trung học cơ sở tập trung vào hai điều cơ bản : cung cấp vốn Từ ngữ cần đủ và rèn luyện
kỹ năng dùng từ cho các em. Mỗi nội dung cần vận dụng phương pháp, biện pháp phù hợp
mới mang lại hiệu quả. Toàn bộ chương II, chúng tôi đã trình bày về những vấn đề này.
54
CHƯƠNG 3: VÀI Ý KIẾN VỀ CHƯƠNG TRÌNH TỪ NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ
3.1. Vài nhận xét về chương trình, nội dung, sách giáo khoa Từ ngữ:
3.1.1. Điểm qua nội dung chương trình nội dung, sách giáo khoa Từ ngữ Cải
cách giáo dục:
Từ năm học 1986-1987,môn Tiếng Việt ở bậc phổ thông Trung học cơ sở có môn Từ
ngữ,việc đưa môn học này vào thể hiện một bước chuyển biến trong nhận thức của những
người có trách nhiệm được đông đảo giáo viên đồng tình và ủng hộ góp phần giải quyết thực
trạng về vốn từ ngữ của học sinh.
Đánh giá về chương trình, nội dung sách giáo khoa Từ ngữ cải cách giáo dục ,các tác
giả biên soạn chương trình ,nội dung sách giáo khoa chỉnh lý nhận xét: " Sách nhìn chung là
tốt: đủ các đối tượng cần dạy - học, khá chính xác về nội dung, trình bày giản dị, dễ hiểu "
(10 - tr 3)
Sau gần mười năm thực hiện, năm học 1994 -1995, Bộ Giáo dục - Đào tạo chủ trương
chỉnh lý do nhiều nguyên nhân :
- Trước hết là việc định số lớp ở bậc phổ thông từ 1 năm lên 12 năm .
- Một vài tiến bộ quan trọng về khoa học ngôn ngữ đòi hỏi được đưa vào nhà trường .
- Một số hạn chế cụ thể của nội dung sách thu thập được qua các kỳ khảo sát trước
chỉnh lý.
- Việc phân định lại nhiệm vụ mới của các lớp trong bậc học phổ thông ,hướng dẩn
chuyên ban ở trung học phổ thông. Hướng chỉnh lý về nội dung được đặt ra .
- Điều chỉnh phân bố nội dung giữa các lớp.
- Sửa lại và uốn nắn những chỗ cần thiết.
- Bớt những chỗ ít cần thiết.
- Bổ sung thêm những vấn đề cần thiết.
- Tăng cường học các yếu tố Hán Việt.
Như vậy, từ năm học 1994-1995, việc dạy học Tiếng Việt nói chung, Từ ngữ nói riêng
được thực hiện theo chương trình nội dung sách giáo khoa mới.
55
3.1.2. Vài nhận xét về chương trình, nội dung sách giáo khoa Từ ngữ chỉnh lý :
Qua việc nghiên cứu, theo dõi việc dạy - học Từ ngữ ở trường phổ thông trung học cơ
sở theo chương trình, nội dung sách giáo khoa chỉnh lý mấy năm vừa qua, kết hợp vốn bài tập
khảo sát về vốn Từ ngữ và lỗi dùng từ của học sinh một số trường phổ thông Trung học cơ sở
của Tỉnh Tây Ninh chúng tôi nêu một số nhận xét về chương trình, nội dung sách giáo khoa
đối với vấn dề phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh như sau :
3.1.2.1. Về phân lượng thời gian :
So sánh trong mối tương quan với môn Văn học, Ngữ pháp và Tập làm văn, việc dành
66 tiết Từ ngữ cho bậc học là cần thiết nhưng chưa thỏa đáng. Không nên xem việc đưa môn
Từ ngữ vào các lớp đầu cấp trung học cơ sở là một giải pháp tình thế. Phải xen Từ ngữ là một
bộ phận không thể thiếu được của môn Tiếng Việt và có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc
rèn luyện các kỹ năng sử dụng tiếng Việt văn hóa cho học sinh .
3.1.2.2. Về cơ cấu chương trình :
Với thời gian 66 tiết ở hai lớp 6, 7, chương trình bao gồm các nội dung :
- Những tri thức về cấu tạo từ .
- Những tri thức về nghĩa của từ .
- Những tri thức về các lớp từ trong Tiếng Việt.
- Các biện pháp tu từ về Từ ngữ .
Mở rộng và rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ là quá nặng, quá tải đối với học sinh bậc
Trung học cơ sở. Có những nội dung chưa thật cần thiết đối với học sinh như : các biện pháp
tu từ nói quá, nói giảm, nói tránh, tương phản, chơi chữ ... hoặc thành ngữ Hán - Việt ...bởi vì
đây là những tri thức, những hiện tượng chưa phải phổ biến trong giao tiếp hằng ngày của
học sinh bậc học này .
3.1.2.3. Về phân lượng chương trình :
Theo như cách bố trí hiện nay, Từ ngữ chỉ học 66 tiết ở hai lớp đầu cấp là chưa hợp lý.
Bởi vì không phải chỉ dạy trong 66 tiết là hoàn thành việc cung cấp Từ ngữ và rèn luyện kỹ
năng dùng từ cho học sinh. Việc này cần phải thực hiện trong cả cấp học. Nên sắp xếp, bố trí
lại để tránh hiện tượng quá tải và có tác dụng thiết thực hơn .
56
3.1.2.4. Về việc phát huy tính sáng tạo và giáo dục thẩm mỹ cho học sinh :
Những việc này cũng chưa được chú trọng đung mức bởi vì việc phát huy tính sáng tạo
được thể hiện tập trung ở các kiểu bài Mở rộng vốn yếu tố Hán -Việt và Mở rộng vốn từ theo
chủ đề nhưng hai kiểu bài này chưa tạo nên được hứng thú học tập cho học sinh. Do nhiều
nguyên nhân khác nhau, cả giáo viên và học sinh đều cảm thấy lúng túng ,dè dặt khi dạy-học
các kiểu bài này. Trong mực tế nội dung sách giáo khoa cũng chưa lựa chọn được một hệ
thống bài tập hay có tác dụng giáo dục thẩm mỹ qua dạy học Từ ngữ .
3.1.2.5. Về mối quan hê giữa Văn và Tiếng Việt trong quá trình dạy học :
Với cách bố trí như hiện nay, việc dạy-học Từ ngữ chưa có tác dụng thiết thực, chưa
giúp ích nhiều cho việc dạy học Văn. Thí dụ theo phân phối chương trình phần văn học cổ
(trung đại) được bố trí dạy học ở các lớp cuối cấp (8, 9) trong lúc đó việc mở rộng vốn Từ
ngữ Hán - Việt lại được thực hiện ở các lớp đầu cấp (6, 7) Nên chăng việc dạy học Từ ngữ
Hán-Việt phải tiến hành song song với chương trình văn học để hai môn này có tác dụng hỗ
trợ cho nhau một cách thiết thực hơn.
Trên đây là một số nhận xét của chúng tôi về chương trình, nội dung sách giáo khoa Từ
ngữ chỉnh lý. Dựa trên những nhận xét này, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số ý kiến cụ thể
liên quan đến nội dung của luận văn .
Cần phải có sự chỉnh lý, bổ sung chương trình, nội dung sách giáo khoa Từ ngữ hiện
hành để thực hiện có hiệu quả hơn việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh:
Khi chúng tôi đặt ra vấn đề này sẽ có người phê phán : nội dung sách giáo khoa Từ ngữ
bậc trung học cơ sở vừa chỉnh lý, bổ sung nay lại yêu cầu chỉnh lý, bổ sung là không thực tế
là đòi hỏi quá cao. Tuy vậy, chúng tôi cũng dành một phần của luận văn này để bàn về vấn đề
này vì những lý do sau :
- Thước đo chất lượng của chương trình ,nội dung , sách giáo khoa một môn học là tính
hiệu quả đối với người học. Nhưng thực tế việc học tập Từ ngữ vốn Từ ngữ của học sinh bậc
phổ thông trung học cơ sở hiện nay vẩn là điều đáng băn khoăn, lo ngại. Thực trạng yếu kém
của học sinh hiện nay do nhiều nguyên nhân nhưng trong đó cần phải xem xét một cách đầy
đủ và nghiêm túc chương trình nội dung sách giáo khoa Từ ngữ hiện hành để tìm ra điểm hạn
chế từ đó có biện pháp khắc phục, xử lý thích hợp .
- Có một số kiểu bài, một số nội dung trong sách giáo khoa Từ ngữ như kiểu bài Mở
rộng vốn yếu tố Hán -Việt, một số b iện pháp tu từ chưa thật hợp lý v à th iết thực đ ối v ới
người dạy, người học .
57
- So sán h đối chiếu, chương trình, sách giáo khoa Từ ngữ bậc trung học cơ sở với
Trung học phổ thông chuyên ban, chúng tôi thấy có một số nội dung lặp lại như các biện
pháp tu từ về Từ ngữ : so sánh , ẩn dụ , hoán dụ ... . vấn đề nghĩa của từ : tính đồng nghĩa ,
nhiều ngh ĩa , trái ngh ĩa ... . Cách d ạy học về Từ ng ữ Hán-Việt cũng khác nhau .... Những
điểm này tạo ra những khó khăn nhất định đối với học sinh , những kiến thức được tiếp thu ở
cấp dưới không tạo thành một hệ thống và không được thực hành có hiệu quả ở cấp trên.
3.2. Một số đề xuất về việc bổ sung chỉnh lý :
3.2.1. Một số đề xuất chung:
Căn cứ vào mục 1.2 ở trên chúng tôi đề xuất một số ý kiến về vấn đề về chương trình,
nội dung , sách giáo khoa Từ ngữ bậc Trung học cơ sở hiện hành như sau:
3.2.1.1. Về phân lượng thời gian :
Nên tăng thêm thời gian cho việc dạy - học Từ ngữ . Thực tế 66 tiết hiện nay là quá ít
không đủ để giải quyết được thực trạng vốn Từ ngữ của học sinh và chuyển tải được một số
khối lượng kiến thức quá nhiều về Từ ngữ Tiếng Việt.
3.2.1.2. Về cơ cấu nội dung chương trình :
Ở bậc trung học cơ sở nên lựa chọn để dạy học một số nội dung về Từ ngữ như:
- Những tri thức về cấu tạo từ .
- Những tri thức về ý nghĩa của từ .
- Một số lớp từ vựng cơ bản .
- Một số biện pháp tu từ về Từ ngữ thường gặp : so sánh , ẩn dụ , hoán dụ , nhân hóa.
- Mở rộng và rèn luyện kỹ năng dùng Từ ngữ đặc biệt chú trọng từ Hán - Việt.
Còn các nội dung khác bố trí ở các lớp cấp Trung học phổ thông .
3.2.1.3. Về phân lượng chương trình :
Rải đều ở các lớp 6,7,8,9, học song song với ngữ pháp để tránh quá tải .
3.2.1.4. Về việc phát huy tính sáng tạo và giáo dục thẩm mỹ cho học sinh :
Phải thay đổi một số kiểu bài cơ bản như : Mở rộng vốn yếu tố Hán-Việt, Mở rộng vốn
từ theo chủ đề ,tăng cường bài tập dùng từ để góp phần giáo dục thẩm mỹ cho học sinh
58
3.2.1.5. Về mối quan hệ giữa Văn và Tiếng :
Sắp xếp lại thế nào để học sinh học tiếng xong được thực hành , áp dụng trong văn và
ngược lại . Việc dạy học Từ ngữ Hán-Việt phải phục vụ thiết thực cho học bộ phận văn học
cổ điển . Cho nên ở lớp 8,9 học sinh vẫn được học Từ ngữ Hán-Việt.
Những vấn đề này, khi có điều kiện cụ thể, chúng tôi sẽ trình bày và phân tích kỹ hơn.
Sau đây chúng tôi chỉ tập trung đề xuất vấn đề dạy học Từ ngữ Hán-Việt:
3.2.2. Về việc dạy-học Từ ngữ Hán-Việt ở bậc phổ thông THCS :
Trong tiếng Việt, từ Hán -Việt ch iếm một số lượng kh á lớn, có vai trò hết sức q u an
trọng trong hoạt động giao tiếp hằng ngày của người Việt nam. Điều này là một thực tế
không ai có thể phủ nhận .
Đối với nhà trường, việc cung cấp, trau dồi vốn Từ ngữ vốn Từ ngữ Hán-Việt cho học
sinh có ý nghĩa :
- Giúp học sinh vận dụng tiếng Việt một cách chính xác có hiệu quả .
- Nắm và hiểu được các thuật ngữ khoa học, xác danh từ chuyên môn .
- Tiếp nhận và bảo vệ được những di sản văn học của dân tộc trong quá khứ
- Có điều kiện để tiếp cận với nền văn hóa Trung Quốc.
Thực trạng về việc hiểu và sử dụng Từ ngữ Hán-Việt của học sinh ngày càng trở nên
trầm trọng ở tất cả các cấp học . Vì vậy, chương trình môn Tiếng Việt cải cách giáo dục cũng
như chỉnh lý xác định : tăng cường dạy học Từ ngữ Hán-Việt là một quan điểm cần thiết và
đúng đắn. Trong hội thảo khoa học "Ngành đào tạo Hán -Nôm, thực trạng và giải pháp" do
Khoa Ngữ văn báo chí Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí
Minh tổ chức ngày 8/11/1996, nhiều nhà khoa học và nhà giáo đã có những đề nghị tích cực,
mạnh mẽ hơn như cần phải dạy Từ ngữ Hán-Việt ở tất cả các cấp của bậc học phổ thông,
hoặc nên đưa việc dạy chữ Hán vào trường phổ thông như một ngoại ngữ bắt buộc . Thiết
nghĩ các cơ quan có trách nhiệm cũng cần suy nghĩ nghiêm túc về những kiến nghị này.
Trong khuôn khổ của tổng quỹ thời gian và nội dung chương trình dành cho phân môn
Từ ngữ ở bậc phổ thông trung học cơ sở, các nhà biên soạn chương trình và sách giáo khoa
Từ ngữ chỉnh lý đã xây dựng các kiểu bài và những nội dung liên quan đến từ ngữ Hán-Việt
sau:
Lớp 6 :
59
Cấu tạo từ ghép Hán-Việt 1 tiết.
Nghĩa của các yếu tố Hán-Việt 1 tiết.
Luyện tập (về nghĩa của các yếu tố Hán-Việt) 1 tiết.
Mở rộng vốn yếu tố Hán-Việt 8 tiết.
Lớp 7 :
Mở rộng vốn từ theo chủ đề : học tập, lao động, đạo đức, biển, nông thôn, thành thị,
rừng núi. 14 tiết.
Thành ngữ Hán -Việt . 1 tiết.
Sử dụng Từ ngữ Hán-Việt 1 tiết.
Luyện tập (về thành ngữ và Sử dụng Từ ngữ Hán-Việt.) 2 tiết.
Tổng cộng 29/66 tiết như vậy là khá ưu ái. Tuy nhiên tính thiết thực và hiệu quả của
các kiểu bài và những nội dung này như thế nào là điều đáng bàn. Sau đây, chúng tôi sẽ trình
bày những ý kiến của mình về vấn đề này.
Căn cứ vào nội dung và cách cấu tạo trên chương trình và SGK Từ ngữ bậc THCS hiện
hành tập trung vào hai vấn đề :
- Cung cấp những tri thức lý thuyết về Từ ngữ Hán-Việt cho học sinh bằng kiểu bài lý
thuyết
- Cung cấp vốn Từ ngữ Hán-Việt và rèn luyện kỹ năng dùng từ bằng kiểu bài. Mở rộng
vốn yếu tố Hán-Việt, luyện tập và mở rộng vốn yếu tố Hán-Việt, luyện tập và mở rộng vốn từ
theo chủ đề
Định hướng như vậy là phù hợp với việc dạy học Tiếng Việt ở trường phổ thông nhưng
nội dung cụ thể và kiểu bài cụ thể nên như thế nào
+ Về những tri thức lý thuyết về Từ ngữ Hán-Việt:
Theo ý kiến chúng tôi, đối với học sinh bậc trung học cơ sở chỉ nên tập trung vào các
nội dung :
Nghĩa của yếu tô Hán-Việt .
Cấu tạo của từ ghép Hán-Việt.
Cách sử dụng Từ ngữ Hán-Việt.
Tức là chỉ cung cấp những kiến thức sơ giản và cần thiết nhất về Từ ngữ Hán-Việt, còn
60
những vấn đề khác như thành ngữ Hán-Việt, lịch sử hình thành từ Hán-Việt, phương thức
tiếp nhận từ Hán-Việt, yêu cầu học tập từ Hán-Việt, cách nhận diện từ Hán-Việt... sẽ bố trí ở
bậc trung học phổ thông. Riêng bài thành ngữ Hán-Việt chúng tôi đề nghị không sắp xếp ở
bậc trung học cơ sở vì:
So với từ Hán-Việt thì thành ngữ Hán-Việt chiếm tỉ lệ rất thấp. Hơn nữa, trong giao
tiếp hiện nay, tần số xuất hiện của thành ngữ Hán-Việt trong các loại văn bản rất ít. Hầu như
nó tồn tại trong phong cách ngôn ngữ, khẩu ngữ của những người lớn tuổi biết ít nhiều chữ
Hán.
So với thành ngữ Tiếng Việt, thành ngữ Hán-Việt cũng ít hơn và không thông dụng.
Nên dành thời gian học thành ngữ để học và rèn luyện cách sử dụng thành ngữ Tiếng Việt.
+ Về việc cung cấp vốn Từ ngữ và rèn luyện kỹ năng dùng Từ ngữ Hán-Việt
Sách giáo khoa hiện hành thực hiện công việc này với hai kiểu bài chính :
* Mở rộng với yếu tố Hán-Việt ở lớp 6 .
* Mở rộng vốn từ theo chủ đề ở lớp 7 .
Cần phải có thời gian và những cuộc điều tra khảo sát khoa học, nghiêm túc trên phạm
vi rộng mới đánh giá được ưu điểm, hạn chế của các kiểu bài này và tính hiệu quả của nó .
Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung kiểu bài này trong sách giáo khoa quan sát việc dạy học và
trao đổi của một số giáo viên trực tiếp giảng dạy ở Tây Ninh, chúng tôi nêu ra một số điều
hạn chế về từng kiểu bài như sau :
+ Về kiểu bài Mở rộng vốn yếu tố Hán-Việt ở lớp 6 :
Việc giảng dạy yếu tố Hán Việt cho học sinh là hết sức cần thiết nhưng dạy những yếu
tố nào và dạy như thế nào là điều cần phải quan tâm. Sách giáo khoa Từ ngữ lớp 6 hiện hành
có 8 bài (8 tiết) . Mở rộng vốn yếu tố với hơn 200 yếu tố khác nha u . Theo ý kiến chúng tôi
,cần xem xét lại mấy điểm sau :
* Số lượng các yếu tố sắp xếp cho từng bài là quá nhiều ,có bài như bài 31 lên tới 47
yếu tố. Trong lúc đó, một tiết học chỉ có 45 phút với bao nhiêu việc phải làm. Nhiều giáo viên
phải dạy theo kiểu chạy đua với thời gian dẫn đến tình trạng "cưỡi ngựa xem hoa " hiệu quả
rất kém .
* Nhiều yếu tố đưa vào ,tần số xuất hiện thấp, khả năng sản sinh hạn chế. Thí dụ bài 28
có 38 yếu tố, trong đó có nhiều yếu tố như : tẩu, vãng, ngộ, tòng, tùng, đả, trở, khuếch, trợ ...
rất ít gặp, sức sản sinh không phong phú .
61
* Việc lựa chọn các yếu tố được thực hiện theo chủ điểm, mức độ rộng, hẹp của chủ
điểm nhưng việc sắp xếp, lựa chọn chủ điểm chưa bảo đảm tính khoa học.
Ví dụ :
Bài 21 : Các yếu tố chỉ số, chỉ màu sắc, chỉ bộ phận cây cối rất cụ thể, rất hẹp.
Bài 27 ,28 : Các yếu tố chỉ hoạt động trạng thái, rất chung chung, rất rộng .
* Việc dạy học vốn yếu tố Hán -Việt được thực hiện theo từng yếu tố rời không gắn với
văn cảnh cho nên học sinh rất khó nắm và khó vận dụng.
* Chưa chú ý đúng mức hiện tượng đồng âm của các yếu tố Hán -Việt dẫn đến học sinh
rất khó phân biệt dễ nhầm lẫn .
+ Về kiểu bài Mở rộng vốn từ theo chủ đề ở lớp 7 :
Đây là kiểu bài được xây dựng trên cơ sở lý luận việc tiếp nhận và sử dụng Từ ngữ
thường dựa trên cơ sở chủ đề chủ điểm. Khi sách giáo khoa cải cách đưa kiểu bài này vào,
nhiều giáo viên cảm thấy việc dạy học có hứng thú và có kết quả nhất định. Tuy nhiên, kiểu
bài này cũng bộc lộ một số nhược điểm :
* Do chưa đ ược chuẩn bị kỹ về kiến thứ c và ph ương pháp giáo v iên gặp nhiều lúng
túng. Nhiều tình huống Sư phạm bất ngờ diễn ra, giáo viên đối phó và xử lý sai.
* Nội dung kiến thức quá tải.
* Các chủ đề có những biểu hiện trùng lặp. Ví dụ : chủ đề nông nghiệp và chủ đề ruộng
đồng thực ra chỉ là một.
Đến SGK chỉnh lý ,kiểu bài vẫn giữ nhưng có sự điều chỉnh và thay đổi một số điểm :
+ Hệ thống và cách sắp xếp chủ đề, thời gian
62
CCGD Chỉnh lý
Đạo đức 2 tiết Học tập 2 tiết
Học lập 2 tiết Lao động 2 tiết
Lao động 2 tiết Đạo đức 2 tiết
Biển 2 tiết Rừng núi 2 tiết
Rừng núi 2 tiết Biển 2 tiết
Ruộng đồng 2 tiết Nông thôn 2 tiết
Nông nghiệp2 tiết Thành thị 2 tiết
16 tiết 14 tiết
+ Cấu trúc kiểu bài
CCGDChỉnh lý
Không chia thành phần, A Các chủ điểm.
Không có bảng từ cần nhổ B Luyện tổng hợp, Bảng từ cần nhớ.
+ Bớt một số nội dung của các chủ đề : học tập, lao dộng, đạo đức, rừng núi, biển, để
tránh trình trạng quá tải .
Dù đã có sự điều chỉnh, thay đổi nhưng trong thực tế việ c dạy học kiểu bài mở rộng
vốn từ theo chủ đề vẫn gặp khó khăn và chưa mang lại hiệu quả cao. Theo ý kiến chúng tôi
cần thay thế kiểu bài này bằng kiểu bài khác (chúng tôi sẽ đề xuất ở phần sau ) với các lý do
như sau :
- Việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc THCS dựa vào chủ đề là có cơ sở khoa
học và cần thiết . Nhưng trong vô vàn các chủ đề mà các em phải sử dụng trong học tập và
giao tiếp hằng ngày thì bảy chủ đề là quá ít mà ít nhiều mang tính ngẫu nhiên .
- Nội dung các chủ điểm còn đơn điệu
Ví dụ : Bài mở rộng vốn từ chủ đề : Nông thôn (tiết 25 , 26) .
A. Các chủ điểm :
1. Làng xã :
a. Đọc :
63
Làng ta phong cảnh hữu tình .
.......................
Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi.
b. Luyện :
Làng là gì? Làng khác phố (trong thành phố) ở đểm n ào?
- Kể những từ đồng nghĩa với làng?
Như vậy chủ điểm là "Làng xã" những chẳng thấy xã ở đâu. Còn làng thì cũng hết sức
sơ sài.
- Không có tác dụng giúp học sinh nhận biết từ thuần Việt và từ Hán -Việt. Việc phát
triển Từ ngữ trong kiểu bài này mang tính ngẫu nhiên phụ thuộc vào cách đặt vấn đề của
người soạn sách. Có những bài tập rất khó đối với học sinh lớp 7
Ví dụ : Bài mở rộng vốn lừ chủ dề : Thành thị (tiết 30, 31) , Sách giáo khoa dưa ra bài
tập :
b) Luyện
- Kiến thiết là gì? Kiến ỏ đây là gì? Tim những từ ghép có yếu lố kiến Kiến như thế?
Có yếu tố Hán Việt kiến nào khác nghĩa? Kể những từ ghép thường gặp cấu tạo bằng yếu tố
đó?
- Giải nghĩa (bằng cách phân lích yếu lồ Hán-Việt) r Thành trì, cung dinh, lăng tẩm,
dinh thự
Qua khảo sát, chúng lôi thấy 100% số học sinh (ở các trường được khảo sát) không làm
được bài tập này. Nhiều giáo viên cũng cảm thấy rất lúng túng.
Từ sự phân lích dặc điểm và những hạn chế của các kiểu bài liên quan đến việc cung
cấp và trau dồi năng lực sử dụng Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở, chúng tôi đề xuất
một số ý kiến liên quan đến vấn đề này như sau :
+ Về vấn đề lựa chọn và bố trí dạy-học từ ngữ Hán Việt:
Chúng tôi đồng tìn h và ủng hộ ý kiến củ a giáo sư Ng uyễn Ng ọc San, x in đ ược trích
dẫn: "Cần phải soạn giảng một số yếu tố Hán-Việt cần thiết có tần số xuất hiện cao và có khả
năng sinh sản lớn. Những yếu tố này ghép lại với nhau sẽ tạo ra vô số từ Hán -Việt... có thể
lọc ra những yếu tố Hán-Việt thường gặp nhất và tùy vào tần số xuất hiện của chúng mà xếp
thứ tự ưu liên, giảng n h ững chữ tần số xu ất h iện cao trước ở lớp d ưới rồi n âng d ần lên ở
64
những lớp cao hơn. Thực tế sẽ cho thấy là những từ Hán-Việt mới có tần số xuất hiện cao
hơn, sẽ được đưa giảng dạy trước ở các lớp cấp tiểu học. Những từ Hán -Việt gắn với thiết
chế và ý thức hệ phong kiến tất có tần số xuất hiện thấp hơn sẽ được giảng sau ở các lớp lớn
hơn, có trình độ văn hóa cao hơn cho nên cũng tiếp thu dể dàng hơn. Khi giảng yếu tố Hán -
Việt cần tập trung chú ý vào các từ đồng âm vì đây là mấu chốt của sự lầm lẫn. Đến một độ
tuổi nào đó học sinh cần học một chương khái quát, có tính lý luận về từ Hán-Việt trong đó
nói về nguồn gốc các dạng tồn tại (Hán, Quốc ngữ) các giá trị (từ vựng, nghĩa, phong cách)
của từ Hán-Việt để các em có ý thức tìm hiểu, tra cứu về lớp từ văn hóa phức tạp này trong
Tiếng Việt." ( 42, tr 18, 19)
Vấn đề đặt ra đã có sự định hướng cần thiết nhưng để thực hiện được những điều này
thì lại không đ ơn giản : cần có thời gian, cần có sự q u an tâm giú p sức củ a n h iều cơ q u an,
nhiều người .
+ Về thiết kế kiểu bài dạy học từ Hán-Việt cho học sinh bậc THCS :
Như trên chúng tôi đã phân tích những vấn đề liên quan đến hai kiểu bài trong SGK Từ
ngữ hiện hành, trong điều kiện hiện nay, chúng ta chưa có một chiến lược, một kế hoạch,
chương trình cụ thể về d ạy-học từ Hán-Việt cho học sinh các cấp học thì trong thời gian tới,
khi chỉnh lý , sách giáo khoa Từ ngữ có thể thay thế kiểu bài mở rộng vốn yếu tố Hán Việt và
mở rộng vốn từ theo chủ đề bằng một kiểu bài khác như, Sách giáo khoa thí điểm chuyên ban
Khoa học xã hội - Tiếng Việt lớp 10 : Bài học về từ Hán Việt.
Dựa trên cơ sở cấu trú c củ a bài kiểu b ài này trong , sách giáo k hoa Tiếng Việt 1 0 ,
chúng tôi đề xuất mô hình cấu trúc kiểu bài phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ học sinh
bậc trung học cơ sở như sau :
BÀI HỌC VỀ TỪ HÁN-VIỆT
I. Trích đoạn văn bản
II. Chú giải Từ ngữ Hán-Việt
III. Một số yếu tố Hán-Việt cần chú ý.
IV. Bài tập.
Ví dụ : Một bài 2 tiết dành cho lớp 7 bậc trung học cơ sở
BÀI HỌC VỀ TỪ HÁN-VIỆT
I. Trích đoạn truyện Kiều
65
Thừa cơ trúc chẻ ngói tan1
Binh uy từ ấysấm ran trong ngoài
Triều đình riêng một góc trời
Gốm hai văn võ rạch đôi sơn hà2
Đòi cơn gió quét mưa sa
Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam
Phong trần 3 mài một lưỡi gươm
Những loài giá áo túi cơm sá gì
Nghênh ngang một cõi biên thù y 4
Kém gì cô quả 5, kém gì bá vương6
Trước cờ ai dám tranh cường 7
Năm năm hùng cứ 8 một phương hải tần.9
II. Chú giải Từ ngữ Hán Việt
1. Trúc chẻ ngói tan : Dịch từ trúc phá ngỏa giải , ý muốn nói : dễ dàng như chẻ tre,
trúc, lưỡi dao đã lọt qua mấu (tre, trúc) thì cứ thế mà chẻ xuôi xuống, không có gì ngăn cản
được nữa; mái ngói đã sụt lở thì sẽ dễ dàng sạt lở tiếp.
2. Sơn hà : núi lớn, sông to
3. Biên thùy : nơi biên giới tiếp giáp với nước khác
4. Cô quả : là từ xưng có ý khiêm nhường của vua các nước chư hầu thuở xưa. Cô : có
nghĩa là mồ côi, ý nói trẻ dại, đơn độc; quả : có nghĩa là ít phúc đức.
5. Phong trần : gió bụi.
6. Bá vương : vua các nước chư hầu lớn mạnh, có khả năng áp chế và cầm đầu điều
khiển các nước chư hầu bé nhỏ.
7. Tranh cường : ganh đua về sức mạnh.
8. Hùng cứ: chiếm giữ vững chắc dựa trên thế mạnh mẽ, hùng cường
9. Hải tần : vùng đất ven biển.
III. Một số yếu tố Hán-Việt cần chú ý
66
1. Biên : có mấy nghĩa chủ yếu.
- Bên lề, bên mép, cạnh : hữu biên, tả biên, giám biên, trọng tài biên...
- Giới hạn : biên độ, vô biên ...
- Nơi giáp ranh giữa hai nước : biên cương, biên ải, biên giới, biên phòng, vượt biên...
Yếu tố đồng âm thường gặp:
Biên: Ghi chép, sọan thảo, sắp đặt, tổ chức theo một trật tự hệ thống nhất định: biên
tập, biên soạn, biên lai, biên dịch, biên bản, biên nhận, biên chế, cải biên, biến đổi...
2. Sơn:Nghĩa phổ biến nhất là núi: sơn cước, sơn dương, sơn dã, sơn động, sơn hệ, sơn
hào hải vi, sơn lâm, sơn khê...
3. Hà: Có nhiều nghĩa nhưng nghĩa thông dụng nhất trong tiếng Việt là sông ; hà bá,
hà châu, Hoàng hà, Hồng hà ...
4.Hùng :Có các nghĩa:
-Nghĩa gốc: Chỉ giống đực, con đực.
- Nghĩa nảy sinh thường được dùng phổ biến: Mạnh mẽ, lớn lao, có khí thế trùm lấp, áp
đảo, hon hẳn mọi người, mọi vật khác: hùng biện, hùng cứ, hùng ca, hùng cường, hùng dũng,
hùng tráng, anh hùng, kiêu hùng, hào hùng, trầm hùng ...
Yếu tố đồng âm thông dụng, tên gọi một dã thú: con gấu. Và từ đây có một nét nghĩa
phát triển: dữ dằn, hung hãn: hùng hổ, hùng hùng hổ hổ.
IV. Bài tập
1.Diễn ra văn xuôi ý nghĩa đọan thơ trên.
2.Đặt câu với những từ Hán-Việt sau:
Biên phòng, biên cương, biên nhận, biên sọan, anh hùng, oai hùng, hào hùng.
3.Đọc kỹ đọan thơ sau, tìm các từ Hán-Việt và gỉải nghĩa các lí do :
Đường lúc hoàng hôn xuống
Là giờ viễn khách đi
Nước đượm màu ly biệt
Trời vương hương biệt ly.
(Xuân Diệu)
67
(Phần này có sử d ụ ng một số tài liệu trong , Sách giáo k hoa Tiếng Việt 1 0 -Tài liệu
giáo khoa thí điểm - Ban Khoa hoc xã học)
Trên đây, chúng tôi vừa nêu một số ý kiến nhận xét, đánh giá về chương tr ình, nội
dung, , Sách giáo khoa Từ ngữ bậc trung học cơ sở hiện hành đối với việc phát triển vốn Từ
ngữ cho học sinh. Trên cơ sở đó, chúng tôi nêu một số ý kiến đề xuất về chương trình, nội
dung và cách sắp xếp bố trí ở bậc trung học cơ sở và chủ yếu đi sâ u trình bày ý kiến về việc
dạy-học từ Hán-Việt ở trong nhà trường nói chung, bậc Trung học cơ sở nói riêng. Vì chưa
có điều kiện để thực nghiệm, các ý kiến nêu ra sẽ không tránh khỏi chủ quan mong được sự
quan tâm góp ý.
68
KẾT LUẬN
Trong phần kết luận, chúng tôi xin được tóm tắt những nội dung mà luận văn đã tập
trung giải quyết: vấn đề phát triển vốn từ ngữ cho học sinh bậc phổ thông Trung học cơ sở.
I. Trong dạy-học Tiếng Việt ở trường phổ thông Trung học cơ sở, việc phát triển vốn
Từ ngữ cho học sinh có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Làm tốt việc phát triển vốn Từ
ngữ cho học sinh sẽ tích cực góp phần nâng cao năng lực sử dụng Tiếng Việt để giúp học tập
tốt môn Văn và các môn học khác.
1. Vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh phải dựa trên những cơ sở khoa học nhất
định. Cơ sở lý luận của vấn đề được đặt ra là phải dựa vào cơ sở ngôn ngữ học. Trước hết là
vai trò của Từ ngữ trong hoạt động ngôn ngữ và mối quan hệ của nó với các đơn vị nhỏ hơn
và lớn hơn. Với tư cách là một tín hiệu của ngôn ngữ , từ vừa có mặt biểu đạt và mặt được
biểu đạt. Từ ngữ nói riêng và ngôn ngữ nói chung được lập thành những hệ thống. Phát triển
vốn Từ ngữ cho học sinh cần chú ý đến tính hệ thống, có như vậy mới bảo đảm được khối
lượng Từ ngữ cần cung cấp và hiệu quả sử dụng Từ ngữ trong giao tiếp. Bên cạnh cơ sở ngôn
ngữ học cũng cần phải chú ý đến cơ sở phi ngôn ngữ. Đó là đặc điểm tâm lý và trình độ của
học sinh. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và Văn học trong khuôn khổ của chương trình môn
Văn học - Tiếng Việt trong nhà trường. Và môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội mà học sinh
sinh sống, hoạt động.
2. Căn cứ vào đặc điểm tâm lý lứa tuổi, trình độ học sinh cũng như đặc điểm của việc
dạy học tiếng mẹ đẻ cho học sinh bản ngữ, việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bản ngữ
có sự khác biệt so với học sinh học ngoại ngữ. Khối lượng Từ ngữ được cung cấp cho học
sinh bản ngữ sẽ lớn hơn và chú ý nhiều đến sắc thái biểu cảm sắc thái phong cách trong giao
tiếp. Mặc khác, việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở cũng có sự khác
biệt so với bậc Tiểu học và Trung học phổ thông, ở bậc học này, chủ yếu tập trung vào lớp từ
vựng cơ bản và một phần Từ ngữ văn hóa.
3. Sau Cách mạng tháng tám 1945, Tiếng Việl đã có một vị trí trân trọng. Việc dạy-học
Tiếng Việt trong nhà trường cũng đã dược quan tâm. Tuy nhiên, phải sau hơn 40 năm, môn
Tiếng Việt nói chung và Từ ngữ nói riêng mới có được địa vị xứng đáng như hiện nay. Kể từ
năm học 1986-1987, Môn Tiếng Việt ở bậc phổ thông Trung học cơ sở có môn Từ ngữ. Điều
này thể hiện sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của chúng ta về vai trò, ý nghĩa của bộ
phận từ vựng-ngữ nghĩa đối với việc rèn luyện và hoàn thiện kỹ năng dùng Tiếng Việt của
học sinh. Việc dạy-học Từ ngữ đã được tiến hành theo một chương trình, nội dung và Sách
giáo khoa mới. Thế nhưng kết quả còn chưa được như mong muốn. Vốn Từ ngữ và kỹ năng
69
sử dụng Từ ngữ của học sinh bậc Trung học cơ sở vẫn còn là điều băn khoăn lo lắng của nhà
trường và xã hội, vẫn là vấn đề mang tính thời sự cấp bách hiện nay.
4. Việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc phổ thông Trung học cơ sở được xây
dựng dựa trên cơ sở lý luận nhất định và phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Trong
nhiều nguyên tắc mà một số giáo trình nêu ra, chúng tôi nhấn mạnh nguyên tắc hệ thống và
nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp. Vốn tri thức về Từ ngữ, vốn từ cần cung cấp, việc
rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ phải đảm bảo tính hệ thống. Muốn hình thành những kỹ
năng, kỹ xảo ngôn ngữ cho học sinh phải tạo điều kiện cho các em tham gia trực tiếp vào hoạt
động giao tiếp. Làm thế nào để các em sử dụng thành thạo các thao tác lựa chọn và kết hợp
biết đặt Từ ngữ trong mối quan hệ liên tưởng, ngữ đoạn phù hợp với những phong cách ngôn
ngữ khác nhau.
5. Từ những cơ sở nêu ra ở trên, chúng tôi xác định nội dung và phương pháp phát triển
vốn Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở cần tập trung vào việc :
Cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh. Để thực hiện được công việc này phải lựa chọn và
phân bố vốn Từ ngữ cần cung cấp. Phương pháp lựa chọn là dựa vào chủ đề, chủ điểm, dựa
vào gốc từ; dựa vào các hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa; dựa vào trường nghĩa.
Giúp học sinh nắm ý nghĩa và giá trị của Từ ngữ trong giao tiếp bởi vì có vốn từ là cần
thiết nhưng nắm được ý nghĩa và giá trị của từng từ để giao tiếp có hiệu quả mới là quyết
định. Để giúp học sinh nắm được ý nghĩa, giá trị của Từ ngữ, giáo viên có thể vận dụng một
số phương pháp giải nghĩa từ phổ biến như lô gích học, ngôn ngữ học, xã hội học ...
Rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ trong việc tiếp nhận và sản sinh văn bản. Đây chính
là mục đích đồng thời cũng là phương tiện của việc dạy-học Từ ngữ nói riêng, Tiếng Việt nói
chung. Làm thế nào để rèn luyện cho học sinh biết dùng từ đúng tiến tới dùng từ hay để học
tốt môn Văn và các môn khác.
6. Như ở trên đã nêu, việc đưa môn Từ ngữ vào chương trình môn Tiếng Việt, chương
trình, nội dung, Sách giáo khoa Từ ngữ cải cách giáo dục đã thể hiện được tính hiệu quả nhất
định nhưng đồng thời cũng bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục. Kết hợp với một số yêu cầu
của thực tiễn giáo dục Việt Nam và thành tựu nghiên cứu về Ngôn ngữ học và Việt ngữ học,
từ năm học 1994-1995, Bộ Giáo Dục-Đào Tạo tiến hành chỉnh lý, chương trình, nội dung,
sách giáo khoa Từ ngữ bậc phổ thông cơ sở. Một số nội dung được thay đổi và điều chỉnh,
thay thế kiểu bài này bằng kiểu bài khác. Hiện nay chúng ta chưa có đầy đủ cơ sở khoa học
để đánh giá ưu điểm, hiệu quả cũng như hạn chế những chương trình, nội dung, sách giáo
khoa chỉnh lý nhưng qua thực tế dạy-học ở một số trường phổ thông cơ sở ở Tây Ninh, chúng
70
tôi nêu một số nhận xét ban đầu về thời lượng, nội dung, phân bố nội dung ... của môn Từ
ngữ bậc Trung học cơ sở. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất một vấn đề cụ thể, đó là việc dạy-
học Từ ngữ Hán-Việt cho học sin h phổ thông Tru ng học cơ sở. Đề xu ất tập trung vào hai
điểm :
Về việc cung cấp những tri thức lý thuyết về Từ ngữ Hán-Việt chỉ nên tập trung vào
các nội dung: nghĩa của các yếu tố Hán-Việt, cấu tạo của từ ghép Hán-Việt, cách sử dụng Từ
ngữ Hán-Việt. Bỏ bớt nội dung thành ngữ Hán-Việt...
Về việc cung cấp vốn từ và rèn luyện kỹ năng dùng Từ ngữ Hán-Việt. Trước hết, về
vấn đề lựa chọn và bố trí dạy-học Từ ngữ Hán-Việt, cần lựa chọn một số yếu tố có tần số xuất
hiện cao và khả năng sản sinh lớn. Có thể bố trí dạy ở tất cả các lớp của bậc Trung học cơ sở.
Nên thiết kế lại kiểu bài dạy-học Hán-Việt cho học sinh bậc Trung học cơ sở. Có thể thay thế
hai kiểu bài Mở rộng vốn yếu tố Hán-Việt và Mở rộng vốn từ theo chủ đề bằng một kiểu bài
Bài học về từ Hán-Việt như ở lớp 10-Ban Khoa học xã hội ở bậc Trung học phổ thông.
II. Những luận điểm chính trên đây được chúng tôi nêu ở phần nội dung của luận văn.
Nhưng do khả năng, nguồn tư liệu hạn chế, những vấn đề được nêu ra và giải quyết vẫn chưa
thỏa đáng, chưa khiến chúng tôi hài lòng. Vì vậy ở phần kết luận, chúng xin nhấn mạnh một
số điểm chúng tôi biết mình chưa làm được.
1. Chưa có sự điều tra đầy đủ và khoa học về vốn Từ ngữ của học sinh khi học xong
bậc Tiểu học để dựa trên cơ sở đó xác định, lựa chọn vốn Từ ngữ cần cung cấp cho phù hợp
với đặc điểm tâm lý, trình độ của học sinh các lớp bậc Trung học cơ sở.
2. Phần khảo sát, điều tra việc giảng dạy Từ ngữ của giáo viên và dùng từ của học sinh
còn ít, phạm vi hẹp. Đối tượng điều tra chưa được phân loại cụ thể chưa được quán triệt đầy
đủ. Cho nên số liệu thu được chưa đảm bảo tính chính xác, khoa học.
3. Những nội dung liên quan đến nội dung và phương pháp phát triển vốn Từ ngữ cho
học sinh bậc phổ thông trung học cơ sở mới chỉ mang tính lý thuyết chưa có tính thực tiễn.
4. Phần đề xuất thiết kế kiểu bài dạy-học từ Hán-Việt cho học sinh bậc Trung học cơ sở
chưa có điều kiện thí điểm. Vì vậy sự đánh giá hiệu quả dạy-học kiểu bài này vẫn còn bỏ ngỏ.
III. Biết được những việc mình quan tâm, mong muốn mà chưa thực hiện được, trong
thời gian tới có điều kiện, hướng phát triển tiếp tục của luận văn này của chúng tôi là :
1. Phải tiến hành điều tra một cách khoa học với quy mô và phạm vi rộng vốn Từ ngữ
của học sinh lớp cuối cấp bậc Tiểu học để nắm được vốn từ, các lớp từ đã có trên cơ sở đó
xác định và lựa chọn vốn Từ ngữ cần cung cấp cho các lớp bậc Trung học cơ sở hợp lý, thiết
71
thực.
2. Phải khảo sát một cách toàn diện, đ ầy đ ủ v iệc d ạy-học Từ ng ữ củ a giáo v iên các
trường phổ thông thuộc các địa bàn khác nhau. Khảo sát năng lực sử dụng Từ ngữ của học
sinh bậc phổ thông cơ sở theo từng khối, lớp để có đánh giá chính xác về thực trạng dạy-học
Từ ngữ và việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở
3. Thực hành nội dung và phương pháp phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc phổ
thông Trung học cơ sở theo lý thuyết đã nêu để rút ra những kết luận khoa học, tính khả thi
của các phương pháp, biện pháp.
4. Tiếp tục xây dựng nội dung một số bài theo mô hình đã thiết kế, tiến hình thực
nghiệm khoa học để có những đánh giá, kết luận về đề xuất của mình.
5. Phổ biến, triển khai kết quả của phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ
sở để đông đảo giáo viên thực hiện góp phần nâng cao chất lượng dạy-học Tiếng Việt ở
trường Phổ thông.
Biết rằng luận văn còn nhiều thiếu sót nhưng dẫu sao cũng là kết quả của một quá trình
cố gắng của bản thân. Nếu luận văn có được điều gì đóng góp cho việc dạy-học Tiếng Việt
trong tình hình hiện nay thì đó cũng là sự khích lệ đối với tác giả. Chúng tôi mong nhận được
những góp ý chân thành của những ai quan tâm đến vấn đề luận văn nêu ra.
72
PHỤ LỤC
I. THIẾU PHỎNG VẤN VÀ ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN
Nội dung phiếu gồm :
- Phần tự khai của giáo viên
- Phần trả lời các câu hỏi cụ thể
- Phần tự phát biểu ý kiến của mình
Cụ thể :
- Họ và tên tuổi
- Hệ đào tạo Năm tốt nghiệp
- Đã dạy chương trình CCGD........... năm, chương trình chỉnh lý................ năm
- Hiện nay dạy lớp.................. trường Phổ thông Trung học cơ sở.............................
Xin anh (chị) vui lòng trả lời các câu hỏi sau :
1.Theo anh (chị) v iệc đưa môn Từ ngữ vào chương trình phổ thông trung học cơ sở có
hợp lý hay không?
2.Anh (chị) có nhận xét như thế nào về vốn từ ngữ của học sinh hiện nay? Lỗi về cách
dùng từ ở những lớp anh (chị) dạy khoản bao nhiêu phần trăm?
3.Để làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh, trong quá trình giảng dạy, anh (chị) thường
thực hiện phát triển vốn từ ngữ cho học sinh qua môn học nào? bằng những biện pháp nào?
4.Những thuận lợi và khó khăn của anh (chị) trong việc dạy-học từ ngữ hiện nay?
5.Theo anh (chị) các lớp từ cần phát triển cho học sinh bậc trung học cơ sở bao gồm lớp
từ chủ yếu nào? Phát triển vốn từ ngữ cho học sinh trực tiếp phục vụ cho việc gì?
6.Hiện nay, anh (chị) có những loại từ điển nào? (Từ điển Hán Việt, Tiếng Việt, Học
sinh, Tiếng Việt Tiểu học ...)
75
Xin anh (chị) vui lòng phát biểu ý kiến của mình về những vấn đề sau đây. Nếu đồng ý
đánh dấu vào cột đồng ý, nếu không đồng ý đánh dấu vào cột không đồng ý, nếu không trả
lời đánh dấu vào cột không trả lời (cho biết lý do càng tốt)
Không Nội dung nhận định Đúng Không trả lời
1.Về mục tiêu dạy-học từ ngữ ở trung học cơ sở
- Cung cấp kiến thức cơ bản về từ ngữ tiếng
Việt, trau dồi, phát triển vốn từ ngữ cho học sinh
-Tiếp tục thực hiện bốn nhiệm vụ đã nêu ở bậc tiểu học:
phong phú hóa vốn từ, chính xác hóa vốn từ, tích cực hóa vốn
từ và chuẩn mực hóa vốn từ
-Nhiệm vụ phong phú hóa vốn từ là quan trọng nhất
2. Về chương trình, nội dung
-Từ ng ữ ở cấp 2 có sự tiếp nối và nâng cao ch ương
trình cấp 1
-Phần cung cấp những tri thức lý thuyết vừa đủ
-Phần mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh có ý nghĩa thiết
thực.
-Kiểu bài ôn tập từ Hán-Việt ở lớp 6 kém hiệu quả.
-Kiểu bài mở rộng vốn từ theo chủ đề hấp dẫn, hiệu quả
nhưng khó dạy.
-Kiểu bài mở rộng vốn yếu tố Hán-Việt lớp 6 chỉnh lý
hiệu quả hơn.
-Các kiểu bài tập của kiểu bài lý thuyết là đa dạng,
phong phú và có tác dụng.
-Các kiểu bài tập ở phần luyện tập của kiểu bài mở rộng
vốn yếu tố Hán-Việt sơ lược, kém hiệu quả.
-Các kiểu bài tập của kiểu bài mở rộng vốn từ
76
theo chủ đề phong phú, đa dạng, hấp dẫn.
3.Về phương pháp dạy học biện pháp phát triểnvốn
từ ngữ cho học sinh.
-Anh (chị) còn lúng túng trong việc vận dụng Phương
pháp và biện pháp.
-Giữa Phương pháp và nội dung dạy-học có mối quan
hệ nhưng do anh (chị) chưa nắm được nội dung dẫn đến lúng
túng.
-Anh (chị) chưa được trang bị đầy đủ về phương pháp
-Khi dạy, anh (chị) chỉ trung thành với kiến thức trong ,
sách giáo khoa mà chưa sáng tạo.
-Anh (chị) ít tham khảo tài liệu
-Giải nghĩa từ cho học sinh, anh (chị) thường dùng các
Phương pháp Lô gích học, ngôn ngữ học, xã hội học.
4.Kết quả học tập của học sinh.
-Học sinh đã nắm được tri thức lý thuyết về từ ngữ.
-Việc vận dụng những tri thức lý thuyết vào thực hành
còn yếu.
-Vốn từ ngữ của học sinh còn nghèo. Việc vận dụng để
học tập, giao tiếp còn kém hiệu quả.
-Kết quả học tập từ ngữ của học sinh vẫn chưa đạt được
như mong muốn.
77
II. BÀI TẬP ĐIỀU TRA CỦA SINH VIÊN
Chọn lựa bài tập làm văn ở lớp anh (chị) thực tập, chấm và ghi rõ các nội dung theo yêu
cầu sau
1. Đề bài
2.Lớp Tổng số học sinh
3.Kết quả
Giỏi (9, 10) Khá (7, 8)
Trung bình (5, 6) Yếu (3, 4)
Kém ( dưới 3)
4.Thống kê lỗi về từ ngữ
Tổng số lỗi
-Viết sai chính tả dẫn đến sai nghĩa
-Nhớ từ không chính xác
-Không hiểu nghĩa cử từ
-Dùng từ sai, đặt câu sai
5.Nêu một số dẫn chứng tìm hiểu của các loại lỗi
6.Nêu nhận xét cá nhân (sinh viên)
-Vốn từ ngữ của học sinh
-Kỹ năng dùng từ của học sinh
-Những biện pháp mà giáo viên phổ thông (hoặc sinh viên) đã thực hiện để giúp học
sinh sửa chữa lỗi dùng từ
78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo Dục - Cục Đào Tạo bồi dưỡng - Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt - Nhà
xuất bản Giáo Dục - Hà Nội - 1997.
2. Bộ Giáo Dục - Cục các trường sư phạm - Về dạy học Văn và tiếng Việt trong cải cách
giáo dục ở nhà trường cấp 2 PTCS - Lưu hành nội bộ - 1985
3. Bộ Giáo Dục - Cục các trường sư phạm - Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thay
sách cải cách giáo dục lớp 8 Môn Văn - Tiếng Việt - Lưu hành nội bộ -1988.
4. Bộ Giáo Dục - Cục các trường sư phạm - Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thay
sách cải cách giáo dục lớp 9 Môn Văn - Tiếng Việt - Lưu hành nội bộ -1989
5. Bùi Khánh Thế - Tiếng Việt, nguồn tư liệu phong phú (Việt nam : những vấn đề ngôn
ngữ văn hóa - Nhà xuất bản Khoa học xã hội - 1993)
6. Bùi Minh Toán - Về quan điểm giao tiếp trong giảng dạy Tiếng Việt - Tạp chí Nghiên
cứu Giáo Dục - Số 11 - Hà Nội - 1991.
7. Cao Xuân Hạo và Trần Thị Tuyết Mai - Sổ tay sửa lỗi hành văn - Tập 1 -Nhà xuất bản
Trẻ- Thành phố Hồ Chí Minh - 1986
8. Cù Đình Tú - Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt - Nhà xuất bản Đại học và
Trung học chuyên nghiệp - Hà Nội 1983
9. Cục Đào Tạo -Bồi dưỡng - Phương pháp giảng dạy Tiếng Việt và Văn học (Tài liệu
dùng trong các trường sư phạm đào tạo và bồi dưỡng giáo viên cấp 2) Nhà xuất bản Giáo Dục
- Hà Nội - 1985.
10. Diệp Quang Ban - Nguyễn Ngọc Hóa - Dạy sách giáo khoa chỉnh lý môn Tiếng Việt ở
trường trung học cơ sở - tài liệu bồi dưỡng giáo viên - 1995
11. Diệp Quang Ban - Về đối tượng và mục đích giảng dạy-học Tiếng Việt ở trường phổ
thông - Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 1 - Hà Nội - 1990
12. Đái Xuân Ninh - Nguyễn Đức Dân ... Ngôn ngữ học - Khuynh hướng -Lĩnh vực - khái
niệm - Tập 1 - Nhà xuất bản KHXH-1984.
79
13. Đặng Ngọc Lệ - Trần Minh Tân - Phan Minh Thúy (Biên soạn) - Phương pháp dạy
Tiếng - Tài liệu tham khảo - Tập 1, 2 - Đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh - 1989
14. Đinh Trọng Lạc - Nguyễn Thái Hòa - Phong cách học Tiếng Việt - Nhà xuất bản Giáo
dục - Hà Nội - 1993
15. Đinh Trọng Lạc - Nguyễn Quang Ninh - Phương pháp giảng dạy phong cách học - Tạp
chí Nghiên cứu Giáo dục, số 3 - Hà Nội - 1994.
16. Đào Duy Anh - Hán Việt Tự Điển - Tái bản có sửa chữa - Nhà xuất bản Khoa học xã
hội - Hà Nội - 1992
17. Đào Ngọc - Nguyễn Quang Ninh - Rèn luyện kỹ năng sử dụng Tiếng Việt - giáo trình
dùng trong các trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học (In lần thứ 2, có chỉnh lý, bổ sung)
Nhà xuất bản Giáo dục - 1995
18. Đỗ Hữu Châu - Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt - Nhà xuất bản Giáo dục -Hà Nội -
1981.
19. Đỗ Hữu Châu - Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt - Nhà xuất bản Khoa học xã hội
- Hà Nội - 1986
20. Đỗ Hữu Châu - Đinh Trọng Lạc - Đặng Đức Siêu _ Tiếng Việt 10 - ban Khoa học xã
hội - Nhà xuất bản Giáo dục - Hà Nội - 1997
21. Đỗ Hữu Châu - Diệp Quang Ban - Cù Đình Tú - Tiếng Việt 11 - Ban Khoa học xã hội
- Nhà xuất bản Giáo dục 1995
22. Đỗ Hữu Châu - Cao Xuân Hạo - Tiếng Việt 12 - Ban Khoa học xã hội -Nhà xuất bản
Giáo dục - 1996
23. Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán - Đại cương ngôn ngữ học - Tập 2 - Nhà xuất bản Giáo
dục - Hà Nội - 1982
24. Hoàng Tuệ - Lê Cận - Cù Đình Tú - Giáo trình Việt ngữ - Tập 1 - Đại học sư phạm Hà
Nội - 1982
25. Hồ Lê - Cú pháp Tiếng Việt - Quyển 1 - Phương pháp nghiên cứu cú pháp - Nhà xuất
bản Khoa học xã hội - Hà Nội 1991
26. Hồ Lê - Trần Thị Ngọc lang - Sửa lỗi ngữ pháp (lỗi về kết từ) - Nhà xuất bản Giáo dục
- 1990
80
27. Hội Ngôn ngữ học Việt nam - Ngữ học trẻ 96 - Diễn đàn học tập và
nghiên cứu - Hà Nội - 1996
28. Hội Ngôn ngữ học Việt Nam - Nhà xuất bản Giáo dục : , Sách giáo khoa Tiếng Việt
bậc Tiểu học hiện hành và chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học sau năm 2000 - Kỷ yếu Hội
thảo khoa học toàn quốc - Hà Nội - 9-11.1.97 - Nhà xuất bản Giáo dục - 1997
29. Hội Ngôn ngữ học Việt Nam - Nhà xuất bản Giáo dục : Dự thảo chương trình Tiếng
Việt Tiểu học sau năm 2000 - tài liệu lưu hành nội bộ - 1996
30. Hội Ngôn ngữ học Thành Phố Hồ Chí Minh - Hội thảo quốc gia : Giáo dục
ngôn ngữ và phát triển - 18,19.12.92
31. Hồng Dân - Cù Đình Tú - Nguyễn Văn Bằng - Bùi Tất Tươm - Tiếng Việt 10 - Nhà
xuất bản Giáo dục - 1990
32. Hồng Dân - Nguyễn Nguyên Trứ - Cù Đình Tú - Tiếng Việt 11 - Nhà xuất bản Giáo
dục - 1991
33. Hồng Dân - Cù Đình Tú ... Tiếng Việt 10,11 (Sách giáo viên) - Nhà xuất bản Giáo dục
- 1990, 1991
34. Hữu Huỳnh - Tiếng Việt hiện đại - Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam -
Hà Nội - 1994
35. Khoa Ngữ văn -báo chí - Đại học khoa học xã hội và nhân văn : Báo cáo đề dẫn hội
thảo khoa học :"Ngành đào tạo hán-Nôm - thực trạng và giải pháp" - Thành Phố Hồ Chí
Minh - 10.96
36. Lê A - Nguyễn Quang Ninh - Bùi Minh Toán - Phương pháp dạy-học Tiếng Việt - Nhà
xuất bản Giáo dục - 1996
37. Lê A - Mấy vấn đề cơ bản của việc dạy-học tiếng Việt ở phổ thông - Tạp chí Nghiên
cứu Giáo dục, số 12 - Hà Nội - 1971.
38. Nguyễn Đắc Dân - Lô gích - Ngữ nghĩa - Cú pháp - Nhà xuất bản Đại học và Trung
học chuyên nghiệp - Hà Nội - 1987
39. Nguyễn Đức Dân - Trần Thị Ngọc lang - Câu sai và câu mơ hồ - Nhà xuất bản Giáo
dục - hà Nội - 1982
40. Nguyễn Quang Ninh - Tiếng Việt 9 - Nhà xuất bản Giáo dục - 1989
81
41. Nguyễn Quang Ninh - Tiếng Việt 6 - Nhà xuất bản Giáo dục - 1995
42. Nguyễn Ngọc San - Việc hiểu sai từ Hán Việt ở trường phổ thông và hứng khắc phục -
Tạp chí Giáo viên và Nhà trường - Vụ Giáo viên - số 4-1997
43. Nguyễn Quế Sơn - Về tiêu chuẩn và phương pháp đanh giá , sách giáo khoa cải cách
giáo dục - Tạp chí nghiên cứu Giáo dục, số 8 - Hà Nội -1989
44. Nguyễn Văn Tu - Nguyễn Thanh Tùng - Hoàng Văn Thung - Tiếng Việt 6 - tập 1, 2 -
Nhà xuất bản Giáo dục - 1986
45. Nguyễn Văn Tu ... Diệp Quang ban - Lê Xuân Thai - Tiếng Việt 6, Tập 1, 2 - Nhà xuất
bản Giáo dục - 1995
46. Nguyễn Kim Thản - Tiếng Việt trên đường phái triển - Nhà xuất bản Khoa học xã hội -
Hà Nội - 1982
47. Nguyễn Kim Thản - Hồ Lê - Lê Xuân Thai - Nói và viết đúng Tiếng Việt- Hà Nội-
1967
48. Phan Ngọc - Mẹo giải nghĩa từ Hán-Việt - Nhà xuất bản Đà Nắng - 1991
49. Nguyễn Kỳ Thục - Tiếng Việt 8 - Nhà xuất bản Giáo dục - 1988
50. Nguyễn Kỳ Thục - Diệp Quang ban - Lê Xuân - Tiếng Việt 8 - Nhà xuất bản Giáo dục
- 1995
51. Nhiều tác giả - Một số kinh nghiệm giảng dạy ngữ văn cấp 2 - Nhà xuất bản Giáo dục
- Hà Nội - 1968
52. Phan Thiều - Về phương hướng xây dựng bộ môn phương pháp dạy Tiếng Việt (Trong
cuốn: Một số vấn đ ề về Ng ôn ng ữ học Việt Nam - Nhà xuất bản Đại học và Trung học
chuyên nghiệp - 1981)
53. Phan Thiều - Nguyễn Quốc Túy - Nguyễn Thanh Tùng - Giảng dạy từ ngữ ở trường
phổ thông - Nhà xuất bản Giáo dục - 1983
54. Phan Thiều - Nguyễn Kỳ Thục - Tiếng Việt 7 - tập 1,2- Nhà xuất bản Giáo dục - 1987
55. Phan Thiều - Nguyễn Kỳ thục - Diệp Quang Ban - Lê Xuân Thai - Tiếng Việt 7 - tập 1,
2 - Nhà xuất bản Giáo dục - 1995
82
56. Trần Hồng Quân - Cách mạnh về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới
cho Giáo dục ở thời đại mới - tạp Chí Nghiên cứu Giáo dục, số 9 - hà Nội - 1995
57. Trần Ngọc Thêm - Hệ thống liên kết văn bản Tiếng Việt - Nhà xuất bản Khoa học xã
hội - 1985
58. Trương Dĩnh - Tài liệu bồi dưỡng giáo viên cấp II - Tập 1,2- Nhà xuất bản Giáo dục-
Hà Nội- 1975
59. Trương Dĩnh -Giao tiếp ngôn ngữ và vấn đề dạy bản ngữ - tạp chí Nghiên cứu Giáo
dục, số 5 - Hà Nội - 1992
60. UBKH Xã hội Việt nam - Ngữ pháp Tiếng Việt - Nhà xuất bản Khoa học xã hội-Hà
Nội-1983
61. Viện Khoa học Giáo dục - Dự thảo chương trình môn Tiếng Việt và Văn học trường
PTTH - Nhà xuất bản Giáo dục - Hà Nội - 1989
62. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam : Dự thảo chương trình môn Tiếng Việt và văn học
trường PTTH chuyên ban - Nhà xuất bản Giáo dục - Hà Nội - 1989
63. Vụ Giáo viên và Khoa Ngữ văn trường ĐHSP - Đại học quốc gia Hà Nội -Kỷ yếu hội
thảo khoa học toàn quốc - Tập 1 : "Đổi mới phương pháp dạy-học Văn-Tiếng Việt ở trường
trung học cơ sở - 20-21.12.1996 - Hà Nội
64. Và một số tạp chí Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ và đời sống văn học, Nghiên cứu Giáo dục
và các chuyên san trong ngành giáo dục chuyên nghiệp và phổ thông có bài liên quan.
83

