BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
TRƢƠNG HOÀNG LỆ
THI PHÁP TỨ TUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Văn học Việt nam
Mã số : 5 04 3 3
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC :
GS. HOÀNG NHƢ MAI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2006
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả các số liệu và kết
quả đƣợc trình bày trong luận án là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình
nào.
Tác giả luận án
Trƣơng Hoàng Lệ
MỤC LỤC
A. PHẦN DẪN NHẬP .............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu. ............................................................................................ 3
3. Mục đích nghiên cứu. .................................................................................................... 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.................................................................................. 8
5. Những đóng góp mới của luận án. ................................................................................. 8
6. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................................. 10
7. Kết cấu của luận án ...................................................................................................... 12
B. PHẦN NỘI DUNG ............................................................................................................. 14
CHƢƠNG 1 CHUNG QUANH VẤN ĐỀ VỀ THƠ TỨ TUYỆT - THƠ TỨ TUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH .................................................................................................................... 14
1.1. Chung quanh vấn đề thơ tứ tuyệt .............................................................................. 14
1.1.1. Về thuật ngữ : ..................................................................................................... 14
1.1.2. Vấn đề nguồn gốc của thơ tứ tuyệt: ................................................................... 18
1.1.3. Mục đích của việc khảo sát thuật ngữ. ............................................................... 20
1.1.4. Những đặc điểm chung của thi pháp thơ tứ tuyệt đời Đƣờng: ........................... 20
1.1.5. Thơ tứ tuyệt trong nền thơ ca Việt Nam - nhìn trên góc độ khái quát: .............. 26
1.2. Thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. ................................................................................. 37
1.2.1. Đặc điểm hành chức của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh: ......................................... 37
1.2.2. Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh - sự kết hợp hài hòa vẻ đẹp cổ điển và tỉnh thần hiện đại:................................................................................................................................ 44
CHƢƠNG 2: THI PHÁP THƠ TỨ TUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH NHÌN TRÊN GÓC ĐỘ HÌNH TƢỢNG .................................................................................................................... 57
2.1. Hình tƣợng con ngƣời. .............................................................................................. 57
2.1.1. Con ngƣời tự do. ................................................................................................ 59
2.1.2. Con ngƣời dạt dào một tình yêu nhân loại. ........................................................ 77
2.2. Hình tƣợng không gian - thời gian. ........................................................................... 93
2.2.1. Hƣớng đến sự sống và tƣơng lai - một cái nhìn biện chứng về thời gian. ......... 95
2.2.2. Không gian vũ trụ mang tính xã hội. ............................................................... 106
CHƢƠNG 3: THI PHÁP THƠ TỨ TUYỆT HỒ CHÍ MINH NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN CÁC PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN ................................................................................ 117
3.1. Các thủ pháp lựa chọn tình huống trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh ................. 117
3.1.1. Khai thác triệt để các yếu tố đối lập ................................................................. 118
3.1.2. Để sự vật tự nói lên bản chất của chúng. ......................................................... 126
3.2. Các tổ chức một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. ............................................... 128
3.2.1. Cách diễn đạt không giống với ai .................................................................... 130
3.2.2. Cách vào đề bất ngờ và đa dạng. ..................................................................... 132
3.2.3 Cách kết thúc bất ngờ đặc sắc. .......................................................................... 135
3.2.4. Các hình thức liên kết một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. ........................ 140
3.3. Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh ................................................................ 148
3.3.1. Một vài nhận định chung về ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. ........... 148
3.3.2. Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là sự hội tụ của nhiều nguồn thi liệu. ............................................................................................................ 150
3.3.3. Tự do trong việc sử dụng ngôn ngữ là hƣớng đến sự giản dị và đại chúng - một đặc điểm độc đáo của thỉ pháp ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. ................. 161
3.3.4. Dùng hƣ từ "khƣớc"- một đặc điểm đặc sắc trong ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. ................................................................................................................... 168
C. PHẦN KẾT LUẬN ........................................................................................................... 173
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................. 181
1
A. PHẦN DẪN NHẬP
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Thế kỷ XX có một con ngƣời khi đang còn sống đã trở thành huyền thoại, đó là
Hồ Chí Minh, ngƣời anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà tƣ tƣởng vĩ đại,
nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ qua, tƣ tƣởng của Ngƣời thật sự đã là kim
chỉ nam dẫn đƣờng cho cuộc đấu tranh vì độc lập - tự do, vì hạnh phúc của con ngƣời. Ngày
nay hơn bao giờ hết, trƣớc sự tồn vong và phát triển của đất nƣớc, những di sản tƣ tƣởng của
Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đèn tỏa sáng trên con đƣờng dân tộc đi lên. Trong vốn di sản quý
giá mà ngƣời để lại cho dân tộc, tác phẩm văn học là một di sản lớn mà chúng ta chƣa bao
giờ hiểu biết hết đƣợc, đặc biệt là những bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời luôn có một vị trí rất
quan trọng trong lòng mỗi ngƣời dân Việt Nam. Suốt gần nửa thế kỷ nay, các thế hệ nghiên
cứu nối tiếp nhau đi vào thế giới nghệ thuật của nghệ sĩ Hồ Chí Minh, nhằm khám phá, phát
hiện thêm những vẻ đẹp tiềm ẩn, chìm sâu trong thế giới tâm hồn cao đẹp, tràn đầy chất nhân
văn của ngƣời nghệ sỹ - chiến sĩ Hồ Chí Minh. Qua đó để có thể hiểu sâu sắc hơn nữa những
giá trị trong tƣ tƣởng vĩ đại của Ngƣời. Đây là điều gần 40 năm qua các nhà nghiên cứu, phê
bình đã làm, và cũng là điều khi thực hiện đề tài này, chúng tôi hằng có mong muốn góp một
chút gì đó cái vào đại dƣơng mênh mông ấy.
1.2. Để mở ra một chân trời mới cho việc khám phá vẻ đẹp của thơ tứ tuyệt Hồ Chí
Minh, chúng tôi chọn phƣơng pháp tiếp cận trên góc độ thi pháp học - tức là đi vào khảo sát
toàn bộ "các phƣơng thức, phƣơng tiện thể hiện một cách nghệ thuật, cũng nhƣ khám phá đời
sống bằng hình tƣợng" [53]; đó là khảo sát "hình thức tác phẩm trong tính toàn diện, trong
tính quan niệm" [53], hay nói khác đi "nghiên cứu cái lý bên trong sự tìm tòi, chọn lựa của
nhà
2
văn". Phƣơng pháp tiếp cận này khẳng định rằng: đối với một tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là
thơ thì việc khảo sát các yếu tố hình thức là rất quan trọng, vì trong quá trình tri giác nghệ
thuật, toàn bộ bài thơ có đƣợc lƣu giữ trong trí nhớ của ngƣời đọc hay không là nhờ vào hình
thức của những câu thơ.
Đối với thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng tôi thấy rằng, đã có rất nhiều các bài
viết, bài nghiên cứu từ nhiều năm qua chỉ đi theo một hƣớng tiếp cận truyền thống - chủ yếu
đi vào khai thác rất sâu sắc các giá trị về nội dung, nhƣng lại ít chú ý tới các giá trị về hình
thức nghệ thuật. Vì vậy, để tránh sự lặp lại và tránh sự phiến diện trong nghiên cứu về thơ tứ
tuyệt của Ngƣời, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của những thế hệ đi trƣớc,
chúng tôi thấy cần phải đi vào "giải mã" hình thức những câu thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh,
để có thể góp thêm một tiếng nói khách quan nữa cho quá trình đánh giá những giá trị của thơ
văn của Hồ Chí Minh nói chung và thơ tứ tuyệt của Ngƣời nói riêng. Qua đó để chứng minh
rằng, trong nền văn học Việt Nam hiện đại chỉ riêng ở thể loại tứ tuyệt, Hồ Chí Minh là ngƣời
có những đóng góp vô cùng quan trọng.
1.3. Hàng chục năm nay, thơ văn Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng đƣợc
giảng dạy trong nhà trƣờng, trong đó có rất nhiều bài thơ tứ tuyệt đƣợc chọn giảng trong
chƣơng trình chính khóa, và không ít những bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời luôn làm say mê
ngƣời học - thôi thúc ngƣời đọc khám phá khôn cùng. Song hình nhƣ với ngƣời học, ngƣời
đọc, thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh vẫn là một thế giới còn nhiều điều bí mật chƣa đƣợc mở
ra. Do vậy, nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn tìm thêm một con đƣờng để hiểu và giảng
thơ tứ tuyệt của Ngƣời - con đƣờng tiếp cận hình thức thơ tứ tuyệt để khám phá nội dung.
Với tất cả những điều vừa phân tích ở trên, đó là toàn bộ lý do của việc chúng tôi thực hiện
đề tài nghiên cứu này.
3
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Có lẽ không quá lời khi nói rằng, trong ngành nghiên cứu văn học Việt Nam chƣa có
một tác giả nào mà tác phẩm nghệ thuật lại đƣợc mọi giới trong xã hội, đặc biệt là giới nghiên
cứu phê bình quan tâm nhiều đến nhƣ thơ văn của Hồ Chí Minh. Nếu tính từ những bài viết
cụ thể còn nguyên cảm xúc nóng hổi ngay khi những bài thơ của nhà thơ Hồ Chí Minh vừa
mới đƣợc in ra (1960) cho đến hôm nay, con số đã lên đến hàng trăm. Sự có mặt của các bài
viết, bài bình luận rải rác trên các báo, các tạp chí, đến những công trình có tính chất qui
phạm đƣợc sắp đặt thành chƣơng mục trong các sách giáo khoa các cấp, con số ấy đã đạt đến
mức kỷ lục, khó mà tổng kết đƣợc một cách đầy đủ trong một vài trang viết. Điều đó nói lên
tính chất qui mô đồ sộ của một hành trình nghiên cứu ngót 40 năm về thơ văn của Hồ Chí
Minh.
Tất cả những bài viết của một hành trình nghiên cứu về thơ văn của Hồ Chí Minh đều
ít nhiều có liên quan đến việc chúng tôi nghiên cứu đề tài này.Đặc biệt, trong các công trình
nghiên cứu về thơ ca nghệ thuật của Hồ Chí Minh nói chung, tuy các nhà nghiên cứu chƣa
chú ý đi vào nghiên cứu một các hệ thống thi pháp thể loại thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh,
nhƣng đều chú ý lấy dẫn chứng và phân tích từ những bài thơ tứ tuyệt - vì thật ra, thơ nghệ
thuật của Hồ Chí Minh chủ yếu là thơ tứ tuyệt chiếm gần nhƣ toàn bộ. Nhƣ vậy, về thực chất
những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đã đƣợc nghiên cứu rất nhiều, trên cả hai bình diện -
nội dung và hình thức. Đó chính là nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài của chúng tôi. Song
nếu đi vào liệt kê hết từ tên tác giả, cũng nhƣ các bài viết của những năm qua thi e dung
lƣợng quá lơn khó có thể thực hiện đƣợc. Vì vậy, khi đi vào nghiên cứu lịch sử vấn đề của
luận án, chúng tôi xin đƣợc chắt lọc những nét tiêu biểu của các công trình nghiên cứu nhƣ
sau:
4
2.1. Những bài nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến khuynh hƣớng thi pháp học, ký
hiệu học nhƣ:
Thi pháp đối lập trong "Nhật ký trong tù [33; 91] của tác giả Nhật Chiêu. Trong bài
viết của mình ông bày tỏ quan điểm rằng: Từ "thi pháp" được hiểu là phương thức phản ánh
cả tâm thức lẫn thực tại trong cơ cấu nghệ thuật mang dấu ấn sinh động của người sáng tạo
"[33; 92]. Xuất phát từ cái nhìn thi pháp vừa nêu trên, tác giả Nhật Chiêu đã khẳng định:
chính cảm thức tự do trong "Nhật ký trong tù" đã tác động đến toàn bộ thi pháp của tập nhật
ký. Hầu hết các bài thơ trong tác phẩm đều đƣợc xây dựng trên thi pháp đối lập. Ông đã rất
thành công khi đi vào khai thác các chi tiết, các tình huống đối lập để tìm ra cả một thế giới
với các cặp phạm trù đối lập trong "Nhật ký trong tù" nhƣ : Thân thể - tinh thần; tự do - nô lệ;
ánh sáng -bóng tối, không gian tù ngục - không gian tự do... Chính vì khai thác triệt để các
yếu tố đối lập mà tác giả đã dẫn ngƣời đọc đi sâu vào thế giới tâm hồn phong phú của nghệ sỹ
Hồ Chí Minh. Bài viết của tác giả Nhật Chiêu đã giúp chúng tôi có cái nhìn sâu hơn về thi
pháp những bài thơ tứ tuyệt trong Nhật ký trong tù.
Tác giả Duy Lập trong bài Thử vận dụng ký hiệu học vào việc phân tích một bài thơ
của Hồ Chủ Tịch đã có những đóng góp đáng kể. Mặc dù bài thơ mà tác giả chọn để phân
tích là bài Cảnh rừng Việt bắc - một bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú, nhƣng chính việc
tác giả đi vào phân tích bài thơ trên góc độ ký hiệu học đã mở ra một hƣớng tiếp cận mới cho
thơ ca của Hồ Chí Minh và giúp cho chúng tôi có một cái nhìn khái quát hơn trong việc
nghiên cứu hệ thống thi pháp thể loại thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
Các loạt bài viết : Thời sự và vĩnh hằng [24] của giáo sƣ Đặng Anh Đào; Các thước
đo thời gian của "Nhật ký trong tù" [131] của giáo sƣ Phùng văn Tửu; Không gian và thời
gian trong "Nhật kỷ trong tù" [55] của giáo sƣ
5
Lê Đình Kỵ; Theo dòng thời gian trong "Nhật ký trong tù" [31] của giáo sƣ Hà Minh Đức.
Nhìn chung các bài viết này tập trung khai thác theo lý thuyết thi pháp học và đã tìm ra cái
hay, cái đẹp của hình thức mang tính nội dung của tập thơ nhật ký. Đây là tiền đề cho ngƣời
đọc, ngƣời tập nghiên cứu nhƣ chúng tôi có một hƣớng tiếp cận mới với "Nhật ký trong tù
"của Hồ Chí Minh.
Một sự kiện đáng chú ý nhất là năm 1993 Viện Văn học cho ra mắt bạn đọc cuốn sách
có tựa đề "Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù " [91], tập sách là công trình của tập thể của 21
tác giả là các nhà nghiên cứu chuyên ngành. Sách có bốn chƣơng, trong đó chƣơng 2 của
cuốn sách đề cập đến: "Những vấn đề thi pháp và một số phương hướng tiếp cận tập thơ". Ở
chƣơng này các nhà nghiên cứu đã đi thẳng vào những vấn đề của thi pháp học nhƣ: Tính
thống nhất của một chỉnh thể nghệ thuật nhỏ trong một chỉnh thể nghệ thuật lớn của tập thơ
nhật ký; những vấn đề về thời gian - không gian trong "Nhật ký trong tù "; vấn đề về sự tiếp
nối và những sáng tạo hiện đại trong phong cách sáng tác nghệ thuật của Hồ Chí Minh. Đặc
biệt là vấn đề tìm ra cái mới trong tư duy nghệ thuật của Hồ Chí Minh.
Có thể nói rằng, những vấn đề thi pháp của tập thơ đã đƣợc các nhà nghiên cứu xem
xét với một cái nhìn mới, đây thật sự là một sự đổi mới suy nghĩ của giới nghiên cứu phê
bình đối với tập "Nhật ký trong tù" của Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Bá Thành khi đọc "Suy
nghĩ mới về "Nhật ký trong tù"" có nhận xét: "Đổi mới cách nhìn, đổi mới suy nghĩa là yêu
cầu cấp bách để nghiên cứu văn học hiện đại, trong đó có thơ văn Hồ Chí Minh, xác định giá
trị đích thực của tập "Nhật ký trong tù " là một thử thách lớn của quá trình đổi mới của tư
duy lý luận, tư duy khoa học" [119; 157, 158].
Mặc dù các nhà nghiên cứu đã mở ra một hƣớng nghiên cứu thi pháp cho thơ nghệ
thuật của Hồ Chí Minh, nhƣng riêng đối với mảng thơ tứ tuyệt là thể loại chiếm một số lƣợng
lớn gần nhƣ toàn bộ sáng tác thơ nghệ thuật của
6
Hồ Chí Minh thì chƣa có công trình nghiên cứu nào có tính chất chuyên biệt để đi vào khám
phá khả năng độc đáo, đặc sắc trong bút pháp sáng tạo nghệ thuật ở thể loại này của Hồ Chí
Minh.
2.2. Những bài viết liên quan trực tiếp đến thi pháp thể loại thơ tứ tuyệt:
Ở lĩnh vực nghiên cứu này chỉ có một số ít ý kiến trực tiếp nói về thể loại thơ tứ tuyệt
của Hồ Chí Minh nhƣ: "Thơ tứ tuyệt của Hồ chủ tịch" [30] của Giáo sƣ Hà Minh Đức. Bài
viết tập trung vào những đặc điểm thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Tác giả xác định cảm hứng
thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là bắt nguồn từ cuộc sống - cuộc sống là điểm xuất phát, là nội
dung và cũng là mục đích cuối cùng của thơ. Đặc biệt là ở trong bài viết này, Hà Minh Đức
đã chú ý tới hình thức của thể loại, xem đó là cái riêng trong việc sử dụng thể thơ tứ tuyệt ở
Hồ Chí Minh. Tác giả đi vào phân tích tính chất độc đáo trong câu kết của bài thơ tứ tuyệt Hồ
Chí Minh, theo tác giả đa số các bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đều hàm chứa hai tầng ý
nghĩa và Hồ Chí Minh là ngƣời đã tiếp nhận một cách sáng tạo thể thơ tứ tuyệt truyền thống.
Ông nói: "Thơ tứ tuyệt của Bác điêu luyện và sáng tạo" [94; 346]; "Thơ tứ tuyệt mà Bác sử
dụng là thể thơ tứ tuyệt cổ điển. Nhiều nhà thơ tìm hiểu thơ Bác đều thấy rằng Người am hiểu
sâu sắc vận dụng thành thục, linh hoạt các khổ thơ cổ điển. Nhưng quy tắc khá nghiêm ngặt
của thể thơ không hề gò bó hạn chế nội dung nào của thơ" [94; 352].
Tác giả Nguyễn Khắc Phi trong bài Góp phần lý giải ý nghĩa và vẻ đẹp của bài thơ
"Vãn cảnh" có phân tích: "Thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, mặc dầu mang tính hiện đại sâu
sắc và có không ít chỗ phá vỡ khuôn khổ cũ, song ờ đó, vẫn có thể "lắng nghe cái âm vang
sâu nặng của truyền thống" vẫn có thể thấy phảng phất khắp nơi ý vị của thơ Đường, thơ
Tống". [98; 539]
Còn ý kiến của Phƣơng Lựu trong bài "Thơ Bác với thơ Đƣờng" là: "Vế mặt thể loại,
cống hiến lớn nhất của Bác là sự sáng tạo ra thể thơ tứ tuyệt
7
tự sự. Ngược lại, thơ tứ tuyệt của Bác cũng có nhiều bài thơ trữ tình, nhưng lại có rất nhiều
bài tự sự, đặc biệt là những bài có tính chất "nhật ký" thật sự [98; 492)].
Trong quá trình nghiên cứu, nhiều bài thơ tứ tuyệt đƣợc tập trung phân tích nhƣ: "Tức
cảnh Pắc Bó"; "Thƣớng Sơn"; "Cảnh khuya"; "Cảm thu "; "Nguyên tiêu"; "Nhập Tĩnh Tây
huyện ngục"; "Tảo giải"; "Mộ"; "Nạn hữu suy địch"; "Vọng nguyệt"... tất cả những bài thơ
này đều là thơ tứ tuyệt. Và trong quá trình phân tích mỗi bài thơ, các thao tác của thi pháp đã
đƣợc ngƣời phân tích sử dụng ít nhiều.
Tóm lại: Qua việc đi vào nghiên cứu lịch sử vần đề của thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí
Minh, chúng tôi nhận thấy rằng: thứ nhất, tuy thơ tứ tuyệt là một thể loại gần nhƣ chiếm toàn
bộ giá trị thơ nghệ thuật của Hồ Chí Minh, nhƣng lại là một lĩnh vực chƣa đƣợc các nhà
nghiên cứu đề cập đến nhiều. Thứ hai, mặc dù số lƣợng bài viết về lĩnh vực này còn khá
khiêm tốn, song nhiều vấn đề đã đƣợc soi sáng, lắm phát hiện lý thú. Đặc biệt, chính phƣơng
pháp tiếp cận thi pháp học đối với thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh đã thật sự mở một chân trời mới
cho những ai muốn đi vào khám phá, phát hiện thêm những vẻ đẹp tiềm ẩn chìm sâu trong
thế giới tâm hồn cao đẹp, tràn đầy chất nhân văn của ngƣời nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
3. Mục đích nghiên cứu.
Tiếp thu thành quả nghiên cứu của những công trình đi trƣớc, bƣớc đầu thể nghiệm
một hƣớng tiếp cận mới đối với thể thơ tứ tuyệt của nhà thơ Hồ Chí Minh, nhằm hƣớng tới
một số vấn đề cơ bản sau:
- Tìm đến hệ thống hình thức mang tính nội dung của những bài thơ tứ tuyệt của Hồ
Chí Minh, nhằm khẳng định giá trị riêng có của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trong nền văn học
nƣớc nhà.
8
- Khảo sát 198 bài thơ tứ tuyệt đƣợc sáng tác bằng hai ngôn ngữ Hán và Việt, ở những
giai đoạn khác nhau, để xác định sự thống nhất - nhất quán trng phong cách nghệ thuật của
Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, là để tìm hiểu những
giá trị tƣ tƣởng của Ngƣời về quan điểm trong sáng tác nghệ thuật nói riêng và trng tiếp nhận
văn hóa nói chung.
- Góp phần tìm hiểu những giá trị cao đẹp của con ngƣời Hồ Chí Minh qua những bài
thơ tứ tuyệt của Ngƣời.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tƣợng khảo sát của chúng tôi là toàn bộ những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
Gồm 198 bài (129 bài trong tập "Nhật ký trong tù", 69 bài ngoài "Nhật ký trong tù" - trong đó
có 36 viết bằng chữ Hán và 33 viết bằng quốc ngữ).
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Mặc dù luận án chọn đề tài là "Thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh" nhƣng những
vấn đề luận án nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc khảo sát và phân tích những vấn đề nhƣ: chung
quanh vấn đề về thơ tứ tuyệt; vấn đề hình tƣợng con ngƣời; hình tƣợng thời gian - không gian
nghệ thuật; vấn đề một số các phƣơng thức biểu hiện và ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
Còn những góc độ khác của thi pháp vì khả năng có hạn luận án chƣa có điều kiện để đề cập
đến.
5. Những đóng góp mới của luận án.
5.1. Nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn phần nào góp tiếng nói mới về
phƣơng pháp tiếp cận thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh trên cơ sở nghiên cứu thể loại tứ tuyệt
dƣới góc độ của thi pháp học. Nghĩa là xem thể loại, nhƣ cách nói của Bakhtin là "nhân vật
chính của văn học" nhƣ là sự
9
phản ánh cách chiếm lĩnh hiện thực của ngƣời nghệ sĩ. Thể loại văn học, bản thân nó có tính
lịch sử - nghĩa là có phát sinh, phát triển, tàn lụi; có kế thừa đổi mới... Vì vậy, tìm đến cái
"mã" nghệ thuật là tìm đến cái đặc thù của thể loại nhƣ là một cách chọn lựa để bộc lộ nội
tâm, hay một cái nhìn về thế giới. Tất cả điều ấy đều gắn với ngôn ngữ cảm xúc, giọng điệu...
[70]. Từ đó giúp cho học sinh và những ngƣời yêu thích thơ Hồ Chí Minh có thêm điều kiện
khách quan để tìm hiểu và cảm thụ sâu sắc cái hay, cái đẹp, cái tinh diệu của thế giới trữ tình
Hồ Chí Minh. Đồng thời, cũng muốn có chút ít gợi ý điều gì đó đến những ngƣời đang
nghiên cứu, giảng dạy thơ văn Hồ Chí Minh trong khắp cả nƣớc.
5.2. Qua việc tìm hiểu hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng tôi có
điều kiện khẳng định một nguyên tắc trong quan điểm sáng tác nghệ thuật nói riêng và trong
tiếp nhận văn hóa nói chung ở nghệ sĩ Hồ Chí Minh là: tạo ra những giá trị mới trên nền tảng
truyền thống bền vững; và làm cho những giá trị truyền thống luôn sống trong tinh thần thời
đại. Đây là một nguyên tắc tiếp nhận văn hóa đúng đắn nhất.
5.3. Nghiên cứu thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trên góc độ thi pháp học, luận án đã nhận
ra đƣợc rằng, sự phong phú, đa dạng không tuân thủ bất cứ khuôn mẫu nào trong quá trình
sáng tác thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là một sự thống nhất - nhất quán của phong cách sáng
tạo nghệ thuật ở nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
5.4. Góp phần khẳng định một khuynh hƣớng mới trong nghiên cứu và phê bình văn
học. Đó là đi vào hình thức nghệ thuật khám phá một cách khách quan cái đẹp của tác phẩm
nghệ thuật và tìm đến cái độc đáo riêng có của mỗi ngƣời nghệ sĩ trên cơ sở sự thống nhất
giữa nội dung và hình thức, xem hình thức nhƣ là cái mang tính quan niệm, tính nội dung.
Khuynh hƣớng
10
này sẽ bổ sung cho khuynh hƣớng thiên về lịch sử xã hội, góp phần làm cho lĩnh vực phê
bình văn học nƣớc ta đƣợc hoàn chỉnh hơn.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
1. Để xác định những đặc trƣng riêng của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, trên nguyên tắc
chung cần khảo sát toàn bộ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh trong mối quan hệ đối sánh với
nhiều hệ thống. Cụ thể, luận án sẽ đƣợc khai triển trên cơ sở quan tâm tới các mối quan hệ:
- Mối quan hệ giữa con ngƣời nhà thơ bên ngoài cuộc đời và thơ ca nghệ thuật của
Ngƣời: nghiên cứu thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh thực chất là góp phần khám phá tầm vóc vĩ đại
của con ngƣời Hồ Chí Minh, trong tầm vóc chung của lịch sử Việt Nam hiện đại. Đây là việc
làm không riêng một nhà nghiên cứu nào, hay một tác phẩm nào có thể đảm nhiệm một cách
trọn vẹn, bởi một lẽ, Hồ Chí Minh xuất hiện ƣơng lịch sử không phải để làm một nhà thơ mà
Ngƣời chính là con ngƣời của chính trị, con ngƣời của những chuẩn mực đạo đức và những
tƣ tƣởng triết lý lớn lao. Ngƣời thuộc mẫu ngƣời có khả năng tác động làm biến cải lịch sử,
làm cho cuộc đời tốt hơn, đẹp hơn, nhƣng không phải bằng ngòi bút mà bằng hành động cách
mạng. Ngƣời đến với thơ ca trong những hoàn cảnh thật đặc biệt. Mặc dù vậy, điều ấy không
có nghĩa, Ngƣời không đúng với tƣ cách một nhà thơ, hoặc giả giữa con ngƣời thơ và con
ngƣời chính trị, con ngƣời đạo đức, con ngƣời triết lý trong Ngƣời là hoàn toàn xa lạ với
nhau, mà ngƣợc lại, đó là một thực thể thống nhất, nhất quán. Ở Ngƣời có một sự hội tụ kỳ
diệu của những tinh hoa dân tộc và nhân loại. Có ngƣời đã từng nói: Hồ Chí Minh là con
ngƣời của truyền thống nhân ái Việt Nam và cũng là con ngƣời của nền văn hóa tƣơng lai.
Ngƣời vốn là một thực thể "Mội mà nhiều, nhiều nhưng vẫn một" [57; 5]. Ngƣời vừa là ngƣời
chiến sĩ - thi sĩ, vừa là con ngƣời tiêu biểu của nền văn hóa phƣơng Đông và cả phƣơng Tây;
là nhà dân tộc chủ nghĩa nhƣng lại là ngƣời chiến sĩ
11
cộng sản quốc tế; trong Ngƣời cái dân tộc và cái nhân loại; cái phi thƣờng và cái bình thƣờng
v.v... tất cả đều hòa quyện vào nhau một cách tự nhiên dung dị, không dễ gì tách bạch. Do đó,
nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh thực chất là nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh ở dạng sâu sắc
và tinh tế nhất - vì thơ là phần sâu sắc nhất của con ngƣời đƣợc thăng hoa lên, là suối nguồn
chảy ra từ sự thôi thúc bên trong con ngƣời. Chính vì lẽ ấy, khi nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh,
mối quan hệ soi sáng giữa "thơ" và "ngƣời" vẫn là hệ quy chiếu tất yếu. Vẻ đẹp con ngƣời
trong thơ luôn luôn có sự đối xứng chiếu ứng với vẻ đẹp của con ngƣời nhà thơ trong hiện
thực và ngƣợc lại. Đó là điều cần thiết để khám phá một nhà thơ nhƣng lại là một vĩ nhân nhƣ
Hồ Chí Minh.
Song chúng ta cũng cần có một khoảng cách để bảo đảm tính khách quan của tác
phẩm nghệ thuật, vì tác phẩm nghệ thuật khi nó ra đời, nó tồn tại nhƣ một sinh mệnh sống.
Chúng ta phải chiếm lĩnh nó nhƣ một khách thể vốn nó vẫn tồn tại. Nhƣ vậy, chúng ta sẽ có
điều kiện đi thẳng vào những đặc trƣng riêng của tác phẩm nghệ thuật và mới có thể khám
phá đƣợc tất cả những gì chứa đựng trong nó, qua đó để khám phá ra phƣơng diện tài năng và
tâm hồn của con ngƣời vĩ đại Hồ Chí Minh. Làm nhƣ vậy, sẽ tránh đƣợc sự sai lệch, trƣợt từ
lĩnh vực này sang lĩnh vực khác: bàn về văn chƣơng không khéo chỉ bàn về con ngƣời bên
ngoài tác phẩm mà quên đi đối tƣợng cần bàn là tác phẩm nghệ thuật [135; 5].
- Mối quan hệ giữa thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh với thơ tứ tuyệt truyền thống: ảnh
hƣởng của thơ tứ tuyệt truyền thống, thơ ca bác học và thơ ca dân gian Việt Nam... đối với
thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
- Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh và những yếu tố trong thơ ca hiện đại. Mối quan hệ phụ
thuộc ảnh hƣởng qua lại giữ các bộ phận trong hệ thống hoặc giữa các hệ thống sẽ là cơ sở
quan trọng giúp chúng ta xác định các đặc điểm nghệ thuật trong những bài thơ tứ tuyệt của
Hồ Chí Minh.
12
2. Để giải quyết những yêu cầu cụ thể, cần áp dụng những phƣơng pháp sau đây:
Phương pháp thống kê - phân loại:
Mục đích sử dụng nhằm tập hợp lại toàn bộ những bài thơ của Hồ Chí Minh viết theo
thể tứ tuyệt bằng hai thứ ngôn ngữ Hán và Việt đƣợc sáng tác trong mọi thời điểm khác nhau
đề tìm đến tính thống nhất nhất quán trong thi pháp sáng tác của nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
Phương pháp đối chiếu - so sánh :
- Sử dụng phƣơng pháp so sánh để khẳng định rằng thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là sự
tiếp nối truyền thống thơ tứ tuyệt cổ điển.
- Chứng minh cho những yếu tố sáng tạo hiện đại trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh
so với thơ tứ tuyệt truyền thống.
Phương pháp phân tích tổng hợp:
Phân tích những ảnh hƣởng của những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc trong hệ
thống thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận án: Luận án đƣợc chia làm ba phần chính:
7.1. Phần dẫn nhập. (17 trang)
Trình bày về ý nghĩa của đề tài, điểm lại các công trình chủ yếu nghiên cứu về thơ Hồ
Chí Minh nói chung và thơ tứ tuyệt nói riêng. Qua đó làm rõ mục đích nghiên cứu, đối tƣợng
và phạm vi nghiên cứu đề tài, phƣơng pháp và phƣơng pháp luận nghiên cứu của đề tài.
7.2. Phần nội dung: gồm ba chƣơng (151 trang).
Chương 1: Chung quanh vấn đề về thơ tứ tuyệt - thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh (38
trang).
Chương 2: Thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh nhìn trên góc độ hình tƣợng (59
trang).
13
Chương 3: Thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh nhìn trên góc độ các phƣơng thức biểu
hiện (55 trang).
7.3. Phần kết luận. (8 trang)
8. TÀI LIỆU THAM KHẢO. (10 trang).
14
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1 CHUNG QUANH VẤN ĐỀ VỀ THƠ TỨ TUYỆT - THƠ TỨ
TUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH
1.1. Chung quanh vấn đề thơ tứ tuyệt
1.1.1. Về thuật ngữ :
- Dùng thuật ngữ "tuyệt cú " hay "tứ tuyệt"?
Thuật ngữ "tứ tuyệt" là cách ngƣời Việt Nam gọi thể thơ bốn câu mà ngƣời Trung
Quốc gọi là "tuyệt cú ", cách hiểu này đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam nhƣ Lạc
Nam trong " Tìm hiểu các thể thơ" [81]; Bùi văn nguyên trong "Thơ ca Việt Nam hình thức
và thể loại" [85]; Nguyễn Khắc Phi trong "Tự điển thuật ngữ văn học" [92]... đều có cùng ý
kiến tán đồng.
Nhƣ vậy, có đến hai cách để gọi tên một thể thơ, cho nên cũng có những ý kiến chung
quanh vấn đề này: Tác giả Tạ Ngọc Liễn trong một bài viết đăng trên tạp chí "Văn nghệ trẻ",
đã đặt vấn đề có nên dùng thuật ngữ "tứ tuyệt "hay không? vì theo tác giả thì trong các tài
liệu xƣa chƣa hề có chỗ nào sử dụng thuật ngữ "tứ tuyệt" [64]. Song một thực tế là ở Việt
Nam việc dùng một lúc cả hai thuật ngữ "tuyệt cú" và "tứ tuyệt" đã tồn tại suốt thời gian rất
dài. Vì thế, cả hai thuật ngữ này ở Việt Nam thƣờng đƣợc hiểu nhƣ là một. Tác giả Nguyễn
Khắc Phi trong bài viết "Về khái niệm tứ tuyệt" [103] đăng trên báo "Văn nghệ trẻ" có ý kiến
nhƣ sau: "Tứ tuyệt được hiểu như một từ đồng nghĩa với tuyệt cú, một cách gọi hiện đại của
một thể thơ xưa từng mang tên tuyệt cú ". Do vậy, không nên xóa bỏ thuật ngữ "tứ tuyệt", vì
đối với một thuật ngữ khi nó đã có khả năng tồn tại với một đời sống riêng thì không nên nhất
thiết phải xóa bỏ, mặc dù tất yếu nó có ít nhiều mang một
15
nội hàm khác với nghĩa ban đầu. Vậy là qua ý kiến trên, tuy tác giả( Nguyễn Khắc Phi) đã
xem hai thuật ngữ "tuyệt cú" và "tứ tuyệt" nhƣ một từ đồng nhất với nhau, nhƣng cũng trong
bài viết của mình, chính tác giả đã chỉ ra dấu hiệu khu biệt giữa hai thuật ngữ này: vốn
"Tuyệt cú" là một thuật ngữ đã tồn tại ổn định ngót 1500 năm nay: bốn dòng, vần chân, số
chữ ở bốn dòng bằng nhau" ; còn thuật ngữ "tứ tuyệt" bản thân nó ít nhiều đã mang một nội
hàm khác so với lúc ban đầu xuất hiện". Ở một bài viết khác mang tên "Thay phần khảo luận
về thơ tứ tuyệt" in trong "Thơ văn cổ Trung Hoa mảnh đất lạ mà quen" tác giả (Nguyễn Khắc
Phi) còn lƣu ý độc giả về cách dùng thuật ngữ "tứ tuyệt" của ngƣời Trung Quốc là hoàn toàn
mang một hàm nghĩa khác: "Nó không chỉ một thể thơ như tuyệt cú mà chỉ là một tập hợp,
một chỉnh thể gồm bốn sự vật ( có thể là lâu đài, bia mộ, bức tranh, chữ viết... " [101; 109].
Nói về vấn đề này, tác giả Bùi Văn Nguyên trong "Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại"
cũng có ý kiến rằng : "Chữ tứ tuyệt theo Trung Quốc nghĩa là bốn cái thật hay thí dụ nhƣ bia
lầu Nhạc Dƣơng (thợ bia khéo, văn bia hay, chữ chân tốt, chữ triện tốt) hoặc bốn cái xấu nhƣ
bốn ngày trƣớc các ngày lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông" [85; 213].
Vậy, vấn đề đặt ra là cần xác định nội hàm của hai thuật ngữ "tuyệt cú", "tứ tuyệt".
Hiện nay ở Việt Nam, theo chúng tôi hầu nhƣ ngƣời ta chỉ thƣờng dùng thuật ngữ "tuyệt cú"
cho những vấn đề nghiên cứu có tính chất chuyên sâu - một thuật ngữ có nội hàm hẹp, chỉ
ứng với "những bài thơ bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn, có quy định bằng trắc, niêm
luật chặt chẽ" [64]; còn "Tứ tuyệt" là thuật ngữ đƣợc dùng phổ biến trong thực tiễn sáng tác
và nghiên cứu phê bình. Nếu xét về đặc trƣng hình thức của thể loại thì thuật ngữ "tứ tuyệt"
có quan hệ với một cách hiểu có phần phóng khoáng hơn là "tuyệt cú". Có ý kiến khẳng định
nội hàm của thuật ngữ tứ tuyệt nhƣ sau: "Tứ
16
tuyệt một khái niệm co giãn bao hàm nhiều nghĩa, chỉ đƣợc nhiều hiện tƣợng, miễn là bài thơ
đó có bốn câu; về số chữ trong mỗi câu có thể 5,6,7, hoặc thậm chí là tạp ngôn" [101; 109];
Tác giả Nguyễn Sĩ Đại trong "Một số đặc trƣng nghệ thuật thơ tứ tuyệt đời Đƣờng" có đƣa ra
một cách hiểu khá rộng về nội hàm của tứ tuyệt: "Tứ tuyệt trước hết là một bài thơ bốn câu,
không nhất thiết ngũ ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết phải có niêm luật chặt chẽ" [ 22;
14].
Vậy theo chúng tôi, nếu xét trên phạm vi của cái nhìn đại chúng thì có thể đánh đồng
việc dùng hai thuật ngữ "tuyệt cú" và "tứ tuyệt" là một bởi, đối với ngƣời Việt Nam điều ấy
không hề gây sự hiểu nhầm nào cả. Tuy nhiên, nếu đi vào lĩnh vực chuyên sâu thì cần phải
tìm đƣợc những dấu hiệu có tính chất khu biệt.
Cách hiểu chữ "tuyệt" trong hai thuật ngữ "tuyệt cú " và "tứ tuyệt".
Từ rất lâu cách hiểu chữ "tuyệt" ở trong thuật ngữ "tuyệt cú" hay "tứ tuyệt" có hai
quan điểm khác nhau:
Quan niệm thứ nhất cho rằng: Tứ tuyệt là sự cắt ra từ bài bát cú nên hiểu "tứ" có
nghĩa là bốn câu; "tuyệt" nghĩa là cắt, là dứt, ngắt. Quan niệm này theo tác giả Nguyễn Sĩ Đại
đã có từ thời Minh Thanh ở Trung Quốc những học giả nhƣ Ngô Nột, Truyền Nhữ Bảng,
Tiềm Mộc Am... đều xem tuyệt cú là thể thơ "tiệt luật thi chi bán" ( nửa bài cắt ra từ luật thi).
Ở Việt Nam, ngƣời đại diện cho ý kiến này là cụ Dƣơng Quảng Hàm trong "Văn học
Việt Nam sử yếu": "Tứ" nghĩa là bốn, "tuyệt" nghĩa là dứt, ngắt, lối này gọi thế vì thơ tứ tuyệt
là ngắt lấy bốn câu trong bài bát cú mà thành. Trên cơ sở đó, ông chỉ ra năm cách ngắt khác
nhau:
- Ngắt bốn câu đầu của bài bát cú, bài thơ sẽ có bốn câu ba vần (vần ở cuối câu 1, 2,
4) và hai câu sau là "đối liên" (câu 3,4 đối nhau).
- Ngắt bốn câu sau của bài bát cú: bài thơ có hai vần (ở câu 2 và câu 4)
17
và hai câu trƣớc là "đôi liên".
- Ngắt hai câu đầu và hai câu cuối của bài bát cú bài thơ có ba vần (ở câu 1, 2,4) và
không có "đối liên".
- Ngắt bốn câu giữa bài thơ có hai vần, (ở câu 2 và câu 4) và sẽ có hai cặp câu đối:
câu 2 đối câu 1; câu 4 đối câu 3.
- Ngắt câu 1 + câu 2 và câu 5 + câu 6 [36; 32].
Tác giả Bùi Văn Nguyên trong "Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại" cũng giải
thích chữ "tuyệt" bằng hai ý: "tuyệt" có nghĩa cắt ra từ bài bát cú; "tuyệt" cũng là cắt là dứt,
nhƣng là dứt câu. Bởi vì, ở tứ tuyệt một câu chƣa thành thơ, hai câu mới thành một vế đối
liên, ít nhất bốn câu mới có vần, khi đó mới thành một bài thơ [85; 209].
Quan niệm thứ hai xuất phát từ việc đánh giá rất cao sự độc đáo của thơ tứ tuyệt trong
văn chƣơng, nên hiểu chữ tuyệt là tuyệt diệu, tuyệt vời. Cụ Bùi Kỷ trong "Quốc văn cụ thể"
có viết: Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một vị trí đặc biệt. Chỉ trong bốn câu mà thiển
thâm, ẩn hiện, chính kỳ, khởi phục đủ cả cho nên gọi là tuyệt. Có lẽ dựa vào ý kiến này nên
nhà nghiên cứu Lạc Nam - Phan Văn Nhiễu trong "Tìm hiểu các thể thơ" đã hiểu chữ "tuyệt"
là tuyệt vời: "Thơ bốn câu gọi là tứ tuyệt, người Trung Quốc gọi "tuyệt cú " tức là bài thơ
hay tuyệt vời, chỉ có bốn câu 20 hoặc 28 từ mà nói lên được đầy đủ ý tứ của một đề tài theo
đúng luật lệ của thơ Đường" [82;108]. Tác giả Trần Trọng San cũng đồng tình với ý kiến của
cụ Bùi Kỷ nên đã dẫn lại ý "Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một vị trí đặc biệt. Chì trong
bốn câu mà thiển thâm, ẩn hiện, chính kỳ, khởi phục đủ cả, cho nên gọi là tuyệt" [110; 32].
Vậy có phải tuyệt là cắt, là dứt, là ngắt... ra từ bài bát cú; hay tuyệt là tuyệt diệu, tuyệt
vời hay không? Để đi đến một xác định cho chính xác cách hiểu chữ "tuyệt" trong thuật ngữ
"tuyệt cú" hay " tứ tuyệt" chúng ta tìm đến
18
cội nguồn hình thành nên thể loại thơ tứ tuyệt.
1.1.2. Vấn đề nguồn gốc của thơ tứ tuyệt:
Trƣớc đây khi nói đến nguồn gốc tứ tuyệt có rất nhiều ngƣời cho rằng, "Tứ tuyệt" là
do đƣợc cắt ra từ bài luật thi (bát cú) - (đây là quan niệm thứ nhất chúng tôi đã nêu ở trên);
song lại có một quan niệm ngƣợc lại cho rằng: "Luật thi thực do tuyệt cú bội phiên nhi thành"
(bát cú là do tứ tuyệt gấp đôi lên mà thành ), đây là quan niệm của các học giả Trung Quốc
đời Minh Thanh nhƣ: Hồ ứng Lân, Vƣơng Sĩ Trinh, Lý gia Ngôn, La Văn Trạch, Đổng Văn
Hoán... và những quan niệm tồn tại này khá lâu trong giới nghiên cứu về thơ tứ tuyệt.
Sau này càng nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thực chất "tuyệt cú" ra đời từ rất sớm
trƣớc luật thi, có thể có mầm mông từ trong kinh thi.
Ở Việt Nam, các tác giả nhƣ: Trần Trọng San khẳng định: "Trong dân ca thời lục triều
đã thấy có bài bốn câu 5 chữ hoặc 7 chữ, các nhà quí tộc mới phỏng theo đó làm ra những bài
bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn hoặc thất ngôn" [110].
Tác giả Bùi Văn Nguyên cũng rất đồng ý với ý kiến cho rằng: "Thơ cổ phong cũng
nhƣ dân ca không hạn định số câu, có thể ít nhất là hai hoặc ba bốn câu, hoặc sáu, tám, mƣời
câu hoặc nữa là rất nhiều câu... tuy nhiên thể thơ cổ phong phổ biến nhất là thể bốn câu tám
vần và thể hành" từ đó tác giả đi đến kết luận "thơ tuyệt cú là một chỉnh thể hoàn chỉnh tự nó
và nó hình thành trƣớc thể bát cú" [86; 299 ].
Tác giả Nguyễn Sĩ Đại trong cuốn "Một số đặc trƣng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời
Đƣờng" trên cơ sở của nhiều căn cứ khoa học đã đƣa ra ý kiến khẳng định rằng, tuyệt cú là
một thể loại thơ có trƣớc thơ Đƣờng, ông chứng minh nó bắt nguồn từ trong Kinh Thi, và
theo ông danh từ "tuyệt cú" xuất phát từ hình thức "liên cú" - tức là lối làm thơ hai ngƣời trở
lên, mỗi
19
ngƣời xƣớng một câu, hai câu làm thành một liên; lối làm thơ này rất thịnh ở thời Lƣỡng Tấn,
lục triều. Nhƣ vậy, chữ "tuyệt" đƣợc tác giả cho là việc cắt ra từ liên cú, sự dừng lại ở bốn
câu có ý nghĩa trọn vẹn.
Tác giả Nguyễn Khắc Phi trong bài "Thay phần khảo luận về thơ tứ tuyệt" khi nói về
nguồn gốc của tuyệt cú cũng đồng tình với rất nhiều ngƣời cho rằng tuyệt cú ra đời trƣớc luật
thi và có thể có mầm mông từ trong Kinh thi. Ong còn lý giải thêm: "Môi bài Kinh thi có
nhiêu chương (thường là 3 chương) có chương chỉ gồm ba câu song hình thức phổ biến là
bốn câu. Đến đời Hán - Ngụy, hình thức thơ bốn câu vẫn được duy trì, chỉ có điều khác là ở
số chữ ở mỗi câu, từ 4 chữ trong Kinh thi đã năng lên thành 5 hoặc 7 chữ. Sang lục triều
hình thức thơ bốn câu lại càng phổ biến trong thơ ca dân gian cũng như trong thơ ca bác
học... hầu hết dân ca đều là thơ 4 câu".[101; 105; 106] Còn khi đề cập đến danh từ "tuyệt
cú", tác giả Nguyễn Khắc Phi cũng bày tỏ quan điểm đồng tình với nhiều ý kiến cho rằng
tuyệt cú bắt nguồn từ hình thức liên cú: "Hình thức thơ này xuất hiện ở đời Hán: mỗi người
làm một câu thơ câu nào cũng phải gieo vần, cuối cùng hợp lại thành một bài. Đến đời Tấn,
mỗi người phải làm hai câu. Cuối Tấn đầu Tống đã xuất hiện hình thức liên cú trong đó mỗi
người phải làm bốn câu. Trường hợp người xướng bài đầu tiên mà không có ai làm liền theo
được thì bài độc xướng đó gọi là "đoạn cú" hoặc tuyệt cú ("đoạn"; "tuyệt"nghĩa là "dứt")
dùng để đối lập với chữ "liên" nghĩa là "liền"" [101; 105; 106].
Nhƣ vậy, nguồn gốc ra đời của thể loại tứ tuyệt là xuất phát từ thể " liên cú" có từ đời
Hán. Chữ "tuyệt" trong hai thuật ngữ "tuyệt cú" hay "tứ tuyệt" hiểu nghĩa "dứt" là đúng,
nhƣng không phải đƣợc "dứt" ra từ bài bát cú. Sau này tuyệt cú còn đƣợc gọi một cái tên đó
là "luật tuyệt", lý do là vì đến đời Đƣờng, do thơ luật thi xuất hiện và đƣợc sự trọng vọng của
xã hội, nên một bộ phận của thơ bốn câu đã nháp luât và những bài thơ này đƣợc gọi
20
"luật tuyệt"( tuyệt cú luật thi) để phân biệt với những bài bốn câu vẫn làm theo truyền thống
cũ gọi là "cổ tuyệt" (tuyệt cú cổ thi). Ngƣời xửa gọi tuyệt cú là "luật tuyệt" tức là còn có ý đề
cao.
1.1.3. Mục đích của việc khảo sát thuật ngữ.
Mục đích của việc chúng tôi đi vào xác định thuật ngữ và tìm hiểu nguồn gốc của thơ
tứ tuyệt là nhằm phục vụ cho quá trình khảo sát toàn bộ hệ thống thơ ca của Hồ Chí Minh để
xác định đƣợc chính xác những bài thơ viết theo thể tứ tuyệt của Ngƣời. Trong luận án này,
chúng tôi sử dụng thuật ngữ "tứ tuyệt" để gọi tên cho loại thơ bốn câu của Hồ Chí Minh, vì
chúng tôi đồng tình với cách hiểu nội hàm "tứ tuyệt" là một bài thơ bốn câu, không nhất thiết
mỗi câu 5 hoặc 7 chữ; nhƣng nên loại trừ những bài thơ viết theo thể thơ lục bát bốn câu của
Việt Nam. Bằng cách hiểu này, chúng tôi có thể bao quát đƣợc những bài thơ bốn câu của Hồ
Chí Minh đƣợc viết với số chữ 4, 5, 6,7, hoặc có thể nhiều hơn; và không đƣa dạng lục bát
bốn câu vào phần khảo sát thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
1.1.4. Những đặc điểm chung của thi pháp thơ tứ tuyệt đời Đường:
Thơ tứ tuyệt là sản phẩm độc đáo của nền văn hóa dân tộc Trung Hoa. Nếu lấy mầm
mống ra đời từ Kinh thi làm mốc, tính đến ngày nay, thơ tứ tuyệt đã tồn tại hơn 20 thế kỷ.
Đối với tứ tuyệt thời gian đã quá đủ để làm xong một cuộc sàng lọc tự nhiên - khẳng định
một sức sống bền chặt của thể loại trong đời sống nghệ thuật. Cái làm nên sức sống bền chặt
ấy chính là những đặc điểm thi pháp của tứ tuyệt. Ở đây chúng tôi xin nêu những nét cơ bản
trong đặc điểm thi pháp của thơ tứ tuyệt nhƣ sau:
Thứ nhất: tứ tuyệt là một thể loại có hình thức nhỏ bé, nhƣng các tác giả của nó không
hề đặt cho mình nhiệm vụ thể hiện những điều vụn vặt, mà luôn có tham vọng đề cập đến
những vấn đề lớn lao của cuộc sống - một cách sinh động và độc đáo. Các nhà nghiên cứu
thƣờng nhận xét rằng, tứ tuyệt rất
21
bé nhỏ nhƣng là "cái bé nhỏ nguyên tử [86]. Đó chính là đặc trƣng cơ bản của thơ tứ tuyệt
trong suốt quá trình phát triển của nó cho đến hôm nay. Trong lịch sử thơ ca thế giới, tứ tuyệt
không chịu thua bất cứ một thể loại nào. Nếu làm một phép so sánh các thể thơ dài nhƣ bát
cú, trƣờng ca, trƣờng đoản cú, các thể từ, vãn, ngâm... thì tứ tuyệt hạn chế ở chỗ: không có đủ
dung lƣợng để liệt kê nhiều tình tiết có tính chất kể chuyện, chi ly hay miêu tả bình luận,
nhƣng lại mạnh hơn nhiều lần về sự ghi nhớ, khả năng lƣu truyền. Thơ tứ tuyệt có lợi thế là
mau thuộc, dễ nhớ, dễ đi vào lòng ngƣời với một lƣợng thông tin vừa đủ, đó là chỗ mạnh của
thơ tứ tuyệt. Thậm chí, đôi khi chỉ cần một số lƣợng âm tiết rất nhỏ, để phản ánh hiện thực, tứ
tuyệt không hề tỏ ra thua kém những bài thơ làm theo thể loại dài. Đó là trƣờng hợp so sánh
hai câu thơ tứ tuyệt trong bài "Cú kĩ hợi tuế" của Tào Tùng:
Bằng quân mạc thoại phong hầu sự
Nhất tƣớng công thành vạn cốt khô
(Phong hầu, xin chớ huyên thuyên nữa;
Một tƣớng công thành, vạn xác khô).
Với bài "Binh xa hành" của Đỗ Phủ, một bài thơ viết theo thể cổ phong dài. Cả hai bài
thơ cũng viết về đề tài chiến tranh, bài "Binh xa hành" là bài thơ nổi tiếng chống chiến tranh
xâm lƣợc trong lịch sử thơ ca Trung Quốc; tuy nhiên, hai câu thơ nhỏ bé trên cũng không hề
lép vế khi đặt bên cạnh "Bình xa hành" [81].
Do số lƣợng chữ bị hạn chế, nhƣng để có thể đề cập đƣợc những vấn đề lớn lao của
cuộc sống, tứ tuyệt không chọn cho mình con đƣờng đi vào miêu tả những chi tiết vụn vặt
của hiện thực, mà luôn tìm đến sự khái quát hóa, nếu có miêu tả thì việc làm ấy của tứ tuyệt
cũng chỉ là cái cớ để nhà thơ đi vào
22
bản chất bên trong của sự việc. Đấy chính là đặc điểm thi pháp dễ nhận thấy nhất của thơ tứ
tuyệt.
Thứ hai: chính sự khái quát của tứ tuyệt đi ngƣợc lại với số chữ hạn chế mà tứ tuyệt
dung chứa, đòi hỏi tứ tuyệt dù không muốn đi vào miêu tả tỉ mỷ, tứ tuyệt cũng không thể
tránh khỏi việc đề cập đến những chi tiết cụ thể. Vì thế, những chi tiết cụ thể ấy đòi hỏi phải
đƣợc chọn lọc từ những cái rất điển hình, là nét tiêu biểu nhất mang tính bản chất của các sự
vật mà mọi ngƣời ai cũng có thể nhận thấy rất rõ, nhƣng khi đọc lại thấy cái mới đƣợc phát
hiện. Đọc thơ tứ tuyệt, bên cạnh sự cảm nhận hiện thực cuộc sống nhƣ phơi bày ra trƣớc mắt
một cách rõ ràng, ngƣời đọc còn nhận thấy tứ tuyệt là nơi đựng những ý tƣởng rộng lớn sâu
xa gần nhƣ vô tận. Vì thế, tính chất điển hình hóa cao độ là một đặc điểm cơ bản của thi
pháp thơ tứ tuyệt.
Thứ ba: Để có thể đạt đến sự điển hình hóa cao độ, tứ tuyệt cần phải khắc phục đƣợc
những hạn định ngắt nghèo về không gian, bằng cách chủ động nắm bắt thời gian, lựa chọn
thời điểm một cách thích hợp nhất, đó là những thời khắc nhạy cảm, thời khắc dồn nén tâm
trạng, nơi sự vật ánh lên bản chất. Giúp cho ngƣời đọc nhận thức rõ hơn, sâu hơn về chính cái
đang xảy ra bên trong của mình và cuộc sống quanh mình. Đọc bài thơ "Khuê oán" của
Vƣơng Xƣơng Linh:
Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
Xuân nhật ngƣng trang thƣớng thúy lâu
Hốt kiến mạch đầu dƣơng liễu sắc
Hối giao phu tế mịch phong hầu
Ngƣời thiếu phụ khuê các trong bài thơ đã bao ngày tháng bằng lòng với giấc mơ về
cái " ấn phong hầu", nên đã để cho ngƣời chồng dẫn thân vào
23
nơi chinh chiến, nàng quên mất đi cái hạnh phúc rất đời thƣờng của một ngƣời phụ nữ - nàng
sống vô tƣ (bất tri sầu). Thế rồi, một ngày xuân kia, vô tình nàng "hốt kiến" (bỗng nhìn thấy)
sắc xanh của hàng dƣơng liễu, nàng bừng tỉnh giấc và nhận ra sự bất hạnh của chính bản thân
mình. Cái độc đáo của bài thơ đó là khả năng thể hiện sự biến đổi tâm trạng của ngƣời phụ nữ
- từ đang rất hạnh phúc trong sự chờ đợi hy vọng, bỗng biến thành thất vọng, chán trƣờng chỉ
trong một "khoảnh khắc". Thế nhƣng, bài thơ vẫn hoàn toàn chinh phục ngƣời đọc bởi chính
cái thời điểm đƣợc nhà thơ lựa chọn cho sự chuyển biến ấy là vô cùng hợp lý. Vây nên trong
thơ tứ tuyệt, Cách lựa chọn thời điểm là một trong những đặc điểm thi pháp quan trọng.
Thứ tƣ: từ những đặc trƣng thi pháp vừa phân tích ở trên, khi tiếp cận với những bài
thơ tứ tuyệt, ngƣời đọc thƣờng nhận thấy: tứ tuyệt vừa rất dễ hiểu mà cũng rất khó hiểu.
Trong một bài thơ tứ tuyệt, mỗi hình ảnh gần nhƣ là một biểu tƣợng mang nhiều lớp nghĩa,
cùng với những xúc cảm, những ý tƣởng ƣơng thơ tứ tuyệt dễ tạo ra những ám ảnh day dứt
buộc ngƣời thƣởng thức phải đào sâu, khai thác tầng tầng lớp lớp ý nghĩa ẩn sau câu chữ, sau
khoảng "dư địa" mênh mang. Điều ấy là do những ẩn dụ trong thơ tứ tuyệt luôn đƣợc dồn
nén một cách cao độ. Do đó, muốn hiểu đƣợc thơ tứ tuyệt cần phải hiểu hết những ẩn dụ của
nó. Đây là một đặc điểm thi pháp độc đáo thƣờng gặp trong thơ tứ tuyệt. Chính đặc điểm thi
pháp này đã đƣa tứ tuyệt đạt sự hàm súc, cô đọng - đó chính là vẻ đẹp của thơ ca nói chung.
Theo Văn Nhất Đa, nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng thời cận đại của Trung Quốc có kết luận
rằng: "Tuyệt cú là hình thức tốt nhất của thơ trữ tình". Sự cô đọng đã biến rất nhiều những
câu thơ tứ tuyệt đời Đƣờng đã trở thành những danh cú -thành những câu nói hàng ngày
mang những chân lý phổ quát của cuộc sống muôn thở. Ví dụ khi ta đọc những câu thơ:
24
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giã
(Nhìn phía trƣớc không thấy ngƣời nay,
Nhìn phía sau không thấy ngƣời xƣa).
(Bài ca trên đài U Châu - Trần Tử Ngang)
Hai câu thơ nhƣ một lời cảnh báo có giá trị nhắc nhở hậu thế đừng bao giờ để xảy ra
tình trạng hụt hẫng "khoảng không thế hệ".
Dục cùng thiên lý mục
Cánh thƣớng nhất tằng lâu
(Vƣơng Chí Hoán)
Quốc phá sơn hà tại.
(Đỗ Phủ)
Hoa khai kham chiết trực tu chiếc
Mạc đãi vô hoa không chiết chi
(Đỗ Thu Nƣơng)
Thứ năm: để vƣơn tới tầm cao và chiều sâu của cuộc sống, tứ tuyệt đã dùng thủ pháp
phản ánh hiện thức qua tiềm thức. Đây chính là khả năng tác động vào chiều sâu tâm thức
của ngƣời đọc, khắc sâu vào trí nhớ, thậm chí ám ảnh ngƣời đọc từ đời này qua đời khác. Vậy
nên, có không ít những câu thơ tứ tuyệt đời Đƣờng đọc song dƣ âm của nó cứ vang vọng, day
dứt trong tâm hồn ngƣời đọc một cái gì đó không thể lý giải một cách tƣờng minh, nhƣng nó
cứ làm cho lòng ta rung động thảng thốt mãi không thôi. Ví dụ: đọc hai câu thơ cuối trong bài
"Lũng tây hành" của Trần Đào:
Khả liên vô định hà biên cốt
Do thị xuân khuê mộng lý nhân
(Thƣơng thay xƣơng chất bờ Vô Định
25
Mà vẫn ngƣời trong mộng gối chăn)
Nói về sự tàn khóc của chiến tranh và nỗi khát khao hạnh phúc lứa đôi của những
ngƣời phụ nữ, có lẽ đây là những câu thơ đƣợc muôn vạn đời chia sẻ. Bởi, nó không chỉ tác
động vào các giác quan tạo ấn tƣợng bên ngoài, mà còn tạo ra đƣợc một sự ám ảnh không
dứt. Đây cũng chính là một đặc điểm thi pháp rất độc đáo của thơ tứ tuyệt.
Thứ Sáu: cấu trúc của một bài thơ tứ tuyệt nếu so sánh với bài thất ngôn bát cú thì tứ
tuyệt có nhiều điểm tự do hơn nhiều. Tứ tuyệt chỉ cần theo đúng niêm luật mà không cần đối.
Quan hệ giữa các câu thơ của một bài tứ tuyệt khá lỏng lẻo. Bố cục bài tứ tuyệt rất đa dạng,
nó không tuân thủ nguyên tắc khai, thừa, chuyển, hợp nhƣ thể thơ bát cú. Thông thƣờng bố
cục một bài tứ tuyệt là 2/2, nhƣng cũng có khi là 1/1/1/1/ hay 2/1/1; 1/1/2; 1/3; 3/1.
Thứ bảy: một đặc điểm thi pháp mang đặc thù trong kết cấu của thơ tứ tuyệt là hình
thức tự đối hay còn gọi là tiểu đối, tức là trong cùng một câu thơ có hai hay ba về đối nhau.
Đây là hình thức phổ biến nhất của tứ tuyệt. Ví dụ:
Thiếu tiểu ly gia // lão đại hồi
Hƣơng âm vô cải // mân mao tồi
( Hồi hƣơng ngẫu thƣ - Hạ Tri Chƣơng)
Nguyệt lạc // ô đề // sƣơng mãn thiên
Giang Phong // ngƣ hoa // đối sầu miên
( Phong Kiều dạ bạc - Trƣơng kế)
Với hình thức nghệ thuật này, câu thơ tứ tuyệt trở nên phức hợp: dồn nén dung lƣợng
hiện thực đƣợc phản ánh để tăng cƣờng quá trình phản ánh, đồng thời làm tăng cƣờng quá
trình nhận thức của nhà thơ, cũng nhƣ ngƣời đọc. Đặc biệt là tăng cƣờng các mối quan hệ làm
cho tính hàm súc, đa nghĩa
26
của tứ tuyệt có khả năng vƣơn tới tầm khái quát lớn lao. Đây là một đặc điểm thi pháp rất đặc
sắc mà không thể loại nào có đƣợc
Nhƣ vậy, chúng tôi đã đi vào tìm hiểu bảy đặc điểm trong số rất nhiều những đặc
điểm thi pháp của thơ tứ tuyệt đời Đƣờng, chừng ấy cũng đủ để chúng tôi có thể lý giải vì
sao, suốt chiều dài của 300 năm thơ ca đời Đƣờng, qua các giai đoạn từ Sơ, Thịnh, Trung,
Vãn Đƣờng rồi đến Tống, tứ tuyệt tồn tại nhƣ là một thể loại độc đáo. Vây nên mãi đến ngày
nay ngƣời đời vẫn lƣu truyền câu: "Tuyệt cú nhất cú, nhất tuyệt", theo nghĩa: thơ tuyệt cú mỗi
câu, mỗi hay. Ông Nguyễn Thế Mỹ từng nhận xét: "Tứ tuyệt không hố thẹn là một hạt minh
châu sáng chói trong kho tàng văn hóa Trung Hoa", với sự đóng góp không nhỏ của thơ tứ
tuyệt, thi ca đời Đƣờng thực sự đã bƣớc lên đỉnh cao của thi ca nhân loại. Chính cái hay, cái
đẹp, cái độc đáo của thơ tứ tuyệt đời Đƣờng từ lâu đã vƣợt khỏi ranh giới thời gian, không
gian địa lí - lãnh thổ để đến với các dân tộc, trở thành tài sản chung của toàn nhân loại.
1.1.5. Thơ tứ tuyệt trong nền thơ ca Việt Nam - nhìn trên góc độ khái quát:
Thơ tứ tuyệt đến Việt Nam rất sớm, cũng nhƣ các thể loại khác của thơ Đƣờng, thơ tứ
tuyệt đã có mặt ngay từ buổi đầu hình thành nền văn học thành văn ở nƣớc ta và đã góp phần
rất lớn vào sự hình thành nền móng của văn học nƣớc nhà. Thời kỳ đầu ở Việt Nam, những
bài thơ tứ tuyệt do các nhà thơ Việt Nam sáng tác cũng đã đạt đến đỉnh cao của giá trị nội
dung và nghệ thuật. Phan Huy Chú trong mục giới thiệu về "Giới Hiên thi tập" của Nguyễn
Trung Ngạn đã từng ca ngợi: "Lời thơ phần nhiều hào mại, phóng khoáng, có khí phách và
cốt cách Đỗ Lăng"; "ngoài ra, những câu hay rất nhiều, không kể hết. Thơ tứ tuyệt lại càng
hay, không kém gì thơ thịnh Đường" [14; 66]. Sự đánh giá ấy đã chứng minh rằng: ngƣời
Việt Nam cũng có đủ khả năng để sử dụng xuất sắc thể loại thơ tứ tuyệt - một thể loại độc
đáo đƣợc tiếp nhận từ
27
Trung Quốc. Việc ông Phan huy Chú so sánh tứ tuyệt Việt Nam với tứ tuyệt của Trung Quốc
là xuất phát từ ý thức trân trọng và lòng tự hào dân tộc sâu sắc .
Trong suốt mƣời thế kỷ nền văn học cổ điển Việt Nam (từ thế kỷ thứ thứ X đèn đầu
thế kỷ XX) trải qua các nền văn học của các triều đại: Lý -Trần - Lê - Nguyễn... các nhà thơ
Việt Nam ở mọi thế hệ luôn dành cho thể loại tứ tuyệt một sự quan tâm đặc biệt, thể tài tứ
tuyệt đƣợc sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống tinh thần xã hội.
Thời Lý - Trần, thể tài tứ tuyệt đƣợc phát triển ở Việt Nam và đƣợc sử dụng rộng rãi
trên mọi lĩnh vực của cuộc sống tinh thần xã hội. Tứ tuyệt thời Lý xuất hiện đậm nét với chức
năng ngoài văn học. Các nhà thơ sử dụng thể loại tứ tuyệt nhƣ là một phƣơng tiện thể hiện
những tƣ tƣởng chính trị. Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt do nhà sƣ Pháp Thuận viết để trả lời vua
Lê Đại Hành khi đƣợc hỏi về vận nƣớc là một ví dụ điển hình:
Quốc tộ nhƣ đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cƣ điện các
Xƣ xứ cƣớc đao binh.
(Ngôi nƣớc nhƣ mây cuốn,
Trời Nam mở thái bình;
Vô tri trên điện gác,
Chốn chốn tắt đao binh).
Dùng thơ tứ tuyệt vào mục đích chính trị còn thể hiện rất rõ ở hình thức là những lời
"sấm vĩ tuyên truyền cho triều đại nhà Lý, tạo dƣ luận cho Lý Công Uẩn làm vua:
Thụ căn diều diều
Mộc biểu thanh thanh
28
Hoa đao mộc lạc
Thập bát tử thành
(Gốc cây thăm thẳm, ngọn cây xanh xanh, cây hoa đao rụng, mƣời tám hạt thành). Tƣơng
truyền những bài thơ tứ tuyệt này là của nhà sƣ Vạn Hạnh với dụng ý ghép chữ: Hoa, đao,
mộc, lạc kết hợp thành chữ Lê để chỉ nhà tiền Lê; Thập, bát, tử kết hợp thành chữ Lý để chỉ
sự thành lập của nhà lý khi nhà tiền Lê kết thúc.
Lịch sử những cuộc chiến tranh giữ nƣớc của dân tộc Việt Nam còn ghi nhớ một bài
thơ đƣợc đọc trong hoàn cảnh chiến đấu nƣớc sôi lửa bỏng để bảo vệ chủ quyền đất nƣớc, có
tác dụng uy hiếp quân thù, động viên tinh thần ba quân tƣớng sĩ lại là một bài thơ tứ tuyệt -
"Nam quốc sơn hà" của Lý Thƣờng Kiệt đƣợc sử dụng dƣới hình thức một tuyên ngôn của
thần thánh, đã góp phần làm nên chiến thắng và đƣợc lƣu truyền mãi mãi vào sử sách nhƣ là
một bản "Tuyên ngôn" đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
Ở thời kỳ này, tứ tuyệt còn là phƣơng tiện hữu hiệu để các nhà sƣ thực hiện mục đích
truyền đạo và ngộ đạo. Để trả lời những câu hỏi của học trò các vị sƣ đắc đạo thƣờng trả lời
bằng những bài thơ bốn câu, sau đó tập hợp lại thành những bài "Tứ cú kệ" có ý tứ sâu sắc.
Trong những bài "tứ cú kệ" các nhà sƣ gửi gắm những nhận xét về triết lý bản thể đƣợc rút ra
từ cuộc sống sinh động, hoặc từ thiên nhiên phong phú.
Cùng với chức năng ngoài văn học, tứ tuyệt thời kỳ này còn là phƣơng tiện khá "đắc
địa" để cho các nhà thơ là những nhà sƣ bộc lộ ra những nỗi niềm sâu kín của mình, "Thị đệ
tử" của nhà sƣ Vạn Hạnh; "Thiên trƣờng vãn vọng" của Trần Nhân Tông... tuy những bài thơ
này đƣợc viết ra để minh họa cho tƣ tƣởng thiền học với cái nhìn sắc không, nhƣng chúng
vẫn chứa đựng những cảm xúc sâu lắng của tâm hồn, điều ấy làm ngƣời đọc ngạc nhiên khi
nhận ra rằng: ẩn sau chiếc áo cà sa vẫn là trái tim nhạy cảm của một nhà thơ.
29
Vì thế, Niculin đã nhận xét: "Nhiều bài kệ có nét tập trung toát lên một tâm trạng trong sáng,
có dấu ấn một cách hiểu tinh tế vẻ đẹp thiên nhiên và sự suy ngẫm bản chất cõi hư vô và cõi
thực" [90; 33]. Nhƣ vậy, yếu tố "trữ tình thiền" đã bắt đầu hiện hữu nhƣng chƣa thật sự đậm
nét trong thơ tứ tuyệt thời kỳ này.
Đến đời Trần, chức năng hành chức của thơ tứ tuyệt vẫn còn thể hiện rất rõ qua những
bài thơ ca ngợi hào khí của cuộc chiến tranh vệ quốc chống kẻ thù xâm lƣợc của quân dân
nhà Trần với niềm tự hào sâu sắc dân tộc và những khát vọng về một đất nƣớc thanh bình bền
vững nhƣ: "Tụng giá hoàn kinh sƣ" của Trần Quang Khải; "Bạch Đằng Giang" của Nguyễn
Xƣởng; "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão... bên cạnh đó, chúng ta còn thấy thơ tứ tuyệt thời
kỳ này còn đƣợc sử dụng nhƣ một "văn bản bang giao". Bài thơ "Tống bắc sứ Ngưu Lượng"
của Trần Nghệ Tông đƣợc xem là một thông điệp ngoại giao xuất sắc. Đọc bài thơ của Trần
Nghệ Tông làm chúng ta nhớ tới bài từ khúc của Ngô Chân Lƣu một nhà sƣ và cũng là một vị
quan dƣới triều Lê Hoàn. Cả hai nhà thơ cũng đều sáng tác theo đề tài tống biệt sứ giả, nhƣng
tính chất "văn bản ban giao" từng thấy trong bài từ khúc của Ngô Chân Lƣu dần dần mờ nhạt
để thay thế vào đó là tâm tình cảm xúc của ngƣời đi kẻ tiễn, khiến cho thơ tống biệt đời Trần
có đƣợc tính chất thanh cao, tiêu sái trong thơ ly biệt Đƣờng Tống.
Vì vậy, mặc dù thơ tứ tuyệt thời Trần vẫn thể hiện chức năng hành chức ngoài văn
học, nhƣng đặc điểm lớn nhất của thơ tứ tuyệt thời kỳ này là in đậm dấu ấn của yếu tố trữ
tình trong sáng. Triều đại nhà Trần với những ông vua Trần tài hoa - vừa là nhà chính trị, nhà
sƣ, lại là những thi nhân kiệt xuất đã đóng góp rất nhiều cho nền thơ ca dân tộc.
Thơ tứ tuyệt giai đoạn này rất đặc sắc, đấy là nguyên nhân làm cho các nhà nghiên
cứu đời sau khi giới thiệu những bài thơ hay nhất của văn học thời
30
Trần thƣờng chọn những bài thơ tứ tuyệt. Cụ thể trong "Hợp tuyển thơ văn Lý Trần" tập III
đã giới thiệu 88 bài tứ tuyệt trong tổng số 343 bài thơ Trần đƣợc trích tuyển, chiếm tỷ lệ 25%.
ở "Tuyển thơ các vua Trần" số bài thơ tứ tuyệt đƣợc giới thiệu cũng chiếm tỷ lệ 60 bài trong
tổng số 101 bài. Đặc biệt là những bài thơ tứ tuyệt đƣợc giới thiệu đều đi kèm với lời khen
đầy tự hào.
Biểu hiện rất rõ của thơ tứ tuyệt thời Trần là ngày càng bộc lộ khuynh hƣớng ƣu tiên
cho sự bộc lộ cảm xúc, suy tƣ về những vấn đề của đời sống chính trị xã hội hay đời sống tâm
linh. Vì thế, mảng thơ tứ tuyệt viết về đời sống thế tục ngày càng chiếm ƣu thế. Thơ tứ tuyệt
ngày càng gần với cuộc sống, nên thực hơn, đẹp hơn và luôn chứa chan cảm xúc. Cảm hứng
của các nhà thơ thời kỳ này thật phong phú - những bức tranh thiên nhiên tƣơi mát, đẹp đẽ
chứa đựng những tâm sự riêng tƣ, những tình cảm dành cho quê hƣơng đất nƣớc rất chân
thành và đằm thắm thƣờng xuyên có mặt ở trong thơ. Ở các bài thơ nổi tiếng của nhà thơ
Nguyễn Trung Ngạn "Hứng muốn về"; "Đêm đậu thuyền ở bến kinh thành"... đều khắc khoải,
một nỗi nhớ quê hƣơng da diết; rồi cảm hứng thế sự đã bắt đầu xuất hiện trong thơ tứ tuyệt:
bài thơ "Đề Đường Minh Hoàng dục mã đồ" của Chu Đƣờng Anh là một điển hình trong
sáng tác của các nhà thơ thời cuối Trần. Điều ấy đƣa đến một hiện thực là: nếu nhƣ trƣớc đây
trong những bài thơ tứ tuyệt thƣờng chứa đựng cái nhìn thiền học, thì giờ đây ít nhiều đã có
sự chuyển biến rõ rệt. Cảnh vật đƣợc miêu tả trong thơ không phải chỉ có khung cảnh nhàn
nhạt hƣ ảo nhƣ trong "Thiên trƣờng vãn vọng" của Trần Nhân Tông, mà còn có cả thiên
nhiên sinh động gắn với cuộc sống thế tục hiện hữu trong thơ. Do đó, nếu so sánh những bài
"Tứ cú kệ" đời Trần với những bài "tứ cú kệ đời Lý thì kệ đời Trần có nhiều yếu tố tiến bộ
hơn kệ thời Lý ở chất trữ tình triết lý ngày càng đậm nét, thể hiện khuynh hƣớng gia tăng
mạnh yếu tố cảm xúc, tâm trạng khiến cho nó gần với thơ ca thế tục. Bằng chứng là đề tài tứ
tuyệt đã mở rộng ở khắp các
31
phạm vi của đời sống từ chiến tranh giữ nƣớc vĩ đại của dân tộc, đến cuộc sống tu hành ẩn
dật, cuộc sống nơi làng quê thôn dã... đánh dấu một bƣớc phát triển mới của thể tài tứ tuyệt
trong nền văn học Việt Nam .
Đến triều Lê, nền văn học bác học Việt Nam đã có một đội ngũ văn nghệ sĩ khá hùng
hậu, với những tên tuổi nhƣ Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Nguyễn Trãi, Nguyễn Trực,
Đàm Thận Huy, Sái Thuận... Nguyễn Dữ đã nhận xét trong "Kim hoa thi thoại truyện" rằng:
"Từ khi triều Lê dựng nghiệp, thi sĩ có đến hơn 300 nhà" [18; 428],
Trong sáng tác thơ ca triều Lê tuy tứ tuyệt ít đƣợc dùng hơn về số lƣợng so với bát cú,
nhƣng chất lƣợng không hề giảm sút. Vì thế, khi lựa chọn những bài thơ hay, tứ tuyệt vẫn
đƣợc tuyển chọn cao. Ví dụ tập "Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông" có 207 thì 83 bài là tứ tuyệt,
chiếm tỷ lệ 40%. Ở thời kỳ này, thơ tứ tuyệt bắt đầu đƣợc xem là mảnh đất riêng của các thi
nhân trên lĩnh vực bộc lộ tâm tƣ tình cảm cá nhân - một nhu cầu không kém phần quan trọng
trong đời sống tinh thần xã hội. Khảo sát 12 bài tứ tuyệt của Nguyễn Trãi, chúng ta thấy đều
thắm đƣợm chất trữ tình sâu lắng. Những bài tứ tuyệt thời Lê thƣờng vẽ nên những bức tranh
phong cảnh gợi nhớ không khí tĩnh mịch của cuộc sống ẩn cƣ, nhàn nhã với những cảm xúc
đằm thắm của nhà thơ trƣớc vẻ đẹp làng quê.
Triều Lê với tinh thần phục hƣng văn hóa Đại Việt, truyền thống thơ văn Lý - Trần
đƣợc khôi phục. Cái nhìn sắc không mà các vị thiền sƣ, các ông vua đời Trần ở thế kỷ trƣớc
đã thể hiện, nay lại tiếp tục vang vọng trong âm hƣởng các bài thơ đậm chất trữ tình của thời
Lê. Bên cạnh đó, việc tích cực khai thác nguồn thi liệu ngôn ngữ văn học dân gian và tiếp thu
những giá trị của nền thi ca Trung Quốc đã ảnh hƣởng đến toàn bộ sự phát triển thơ ca nói
chung và thơ tứ tuyệt nói riêng. Điều đáng nói là: việc phát huy những giá trị văn hóa dân
gian đã góp phần nuôi dƣỡng dòng văn chƣơng bác học bằng
32
chữ Nôm đậm đà bản sắc dân tộc, chính là nguồn động lực cho việc cách tân thơ ca thê kỷ
XV - làm biến đổi một số yếu tố chuẩn mực trong quy cách của thơ bát cú và thơ tứ tuyệt.
Hiện tƣợng xen lẫn những câu sáu chữ vào câu bảy chữ của bài bát cú, hay tứ tuyệt là hiện
tƣợng bình thƣờng trong thơ Đƣờng luật thời kỳ này. Bên cạnh đó, tất cả các thi liệu dân
gian, mang theo cả hơi thở của cuộc sống bình dị cũng du nhập vào văn chƣơng bác học.
Ngƣời đại biểu xuất sắc của giai đoạn này phải kể đến Nguyễn Trãi là ngƣời có công
đầu trong việc đƣa ngôn ngữ hội thoại dân gian thành ngôn ngữ văn học, mở ra một tiền đề
cho nền văn học trong những thế kỷ sau. Thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi là
một thế giới rất gần gũi với thiên nhiên và những gì của cuộc sông thôn dã: làng quê, cỏ cây,
chim muông, hoa lá... tất cả đều đƣợc miêu tả với những cảm xúc lắng đọng và tinh tế.
Đến những thế kỷ từ XVI - XIX, thơ tứ tuyệt đã thật sự có những bƣớc chuyển mình
quan trọng.
Cuộc nội chiến Nam Bắc triều thế kỷ XVI - XVII đã phá tan bầu không khí tĩnh lặng
vốn có trong xã hội Việt Nam ở những thế kỷ trƣớc và báo hiệu sự suy vong của nhà nƣớc
phong kiến Việt Nam sau năm thế kỷ ổn định. Sự biến động lịch sử ấy đã tác động đến toàn
bộ nền văn học nói chung và thơ tứ tuyệt nói riêng. Chính những biến động xã hội không cho
phép thơ ca tự khép kín trong thế giới tĩnh tại với những đề tài sơn, thúy hữu tình nhƣ trong
thơ ca ở các thế kỷ trƣớc. Giờ đây, trong thơ in đậm dấu ấn nhận thức, phản ánh đời sống -
khuynh hƣớng cảm khái thời thế càng đƣợc quan tâm trong bối cảnh nội chiến tàn khốc. Đây
chính là tiền đề làm bƣớc chuyển cả nội dung lẫn hình của thơ ca những thế kỷ sau, trong đó
có thơ tứ tuyệt.
Thế kỷ XVIII - XIX , các nhà thơ đã tách ra khỏi truyền thống với các hình ảnh thi vị,
để khám phá các chi tiết tƣơng đối xác thực của cuộc sống đời
33
thƣờng, nhƣ nghèo khổ, đói khát, bệnh tật... chùm thơ tứ tuyệt "Thôn cƣ thập nhị vịnh" của
Cao Bá Quát là một bằng chứng cho thấy cái nhìn thi vị hóa làng quê, giờ đây đƣợc thay bằng
cái nhìn trung thực; còn chùm thơ tứ tuyệt của Nguyễn Du "Thƣơng ngô trúc chi ca" lại là
một chùm thơ mang tính "nhật ký" ghi chép những điều vụn vặt, chân thực của những sinh
hoạt trong cuộc sống. Nhƣ vậy, một khuynh hƣớng mới đã hình thành trong thơ tứ tuyệt với
sự cố gắng vƣợt khỏi các yếu tố quy phạm, mở rộng tầm nhìn, thay đổi cảm xúc và khắc phục
các yếu tố tĩnh tại bằng cách xâu chuỗi nhiều bài tứ tuyệt vào một chủ đề chung đã mở ra cho
thể loại tứ tuyệt khả năng phản ánh hiện thực không thua kém các thể loại thơ dài khác. Việc
các nhà thơ đã chú ý đƣa sự hội nhập của cuộc sống đời thƣờng vào trong thơ, làm mở rộng
các khuôn khổ quy phạm của thể loại, cùng với việc khai thác chi tiết các bức tranh đời
thƣờng và tâm trạng con ngƣời, đã đem đến cho thơ tứ tuyệt thời kỳ này một sắc màu mới.
Một sự kiện nổi bật của nền thi ca Việt Nam giai đoạn này là sự có mặt trở lại của thể
loại thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm, với những tên tuổi nhƣ: Hồ Xuân Hƣơng, Trần Tế
Xƣơng, Nguyễn khuyến... tuy số lƣợng khá khiêm tốn, song nó đã tạo đƣợc những ấn tƣợng
sâu sắc về sự hồi sinh của một hình thức thơ ca đậm tính quy phạm trƣớc đó trong một dáng
dấp mới mẻ. Trong số này, ngƣời đại diện xuất sắc là nữ sĩ Hồ Xuân Hƣơng.
Thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm của Hồ Xuân Hƣơng, nhìn chung vẫn tuân thủ quy
cách sáng tạo của thơ Đƣờng luật, nhƣng tỏ ra thành thục hơn so với thơ tứ tuyệt chữ Nôm
thế kỷ XV - XVI. Bởi, đó là thời kỳ chữ Nôm mới có những thành công bƣớc đầu trên con
đƣờng hội nhập vào văn chƣơng bác học, nên còn nhiều bất cập, nhƣng đến giai đoạn này,
chữ Nôm đã có một bƣớc tiến khá dài với nhiều thành tựu đỉnh cao, đó là điều kiện cần thiết
cho những cách tân táo bạo của các nhà thơ. Trong thơ tứ tuyệt chữ Nôm của Hồ
34
Xuân Hƣơng, bên cạnh những cách tân mới mẻ, thơ Bà còn đúc kết đƣợc cách nói, cách viết
của thơ ca cổ điển truyền thống nhƣ: cách nói bỏ lửng, ngắn gọn, hàm súc... tạo nên những
giá trị đa nghĩa trong một phạm vi ngôn ngữ nhỏ hẹp. Song điều đáng lƣu ý là hệ thống đề tài
trong thơ tứ tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng rất phong phú, bên cạnh những bài thơ cảm khái, đề
vịnh về danh lam thắng cảnh, nƣớc non, núi đèo... mang âm hƣởng của thơ Nôm Đƣờng luật
thời Hồng Đức, chúng ta còn thấy những bài tứ tuyệt viết về cuộc sống, từ cuộc sống cung
đình đến cuộc sống dân giã - những cái "chúa quý, vua yêu" nhƣ "cái quạt" trong cung cấm,
đến "quả mít" sần sùi biết bao gần gũi với ngƣời bình dân cũng đều có mặt trong thơ tứ tuyệt
của bà. Song sự khác nhau giữa thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng với thơ Nôm tứ tuyệt
thời Hồng Đức là ở chỗ: thơ Nôm thời Hồng Đức sáng tác dựa trên tiêu chí mỹ học của thơ
ca cổ điển, còn thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng sáng tác dựa trên tiêu chí mỹ học và văn hóa dân
gian Việt Nam. Cho nên, trong thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng, cái nhìn của bà là cái
nhìn của một nhà thơ sống giữa lòng dân - đây là sự khác nhau rất căn bản, cũng là sự đánh
dấu một dáng vẻ mới của thơ tứ tuyệt. Vì vậy, mặc dù về hình thức, thơ tứ tuyệt của Hồ Xuân
Hƣơng vẫn tuân thủ các quy phạm của thơ Đƣờng Luật, nhƣng với tiêu chí mỹ học mới, Bà
đã đƣa vào trong thơ đƣờng luật dấu ấn của văn hóa dân gian Việt Nam. Những dấu tích của
nghi lễ phồn thực cổ xƣa, những lễ hội truyền thống... rồi tất cả những hình ảnh vốn luôn
đƣợc miêu tả trong môi trƣờng cao nhã cũng đều bị "kéo xuống" dung tục hóa dƣới cái nhìn
của ngƣời bình dân. "con ốc nhồi", "quả mít"... là những hình ảnh thôn dã quen thuộc nay lại
đƣợc khoác thêm cái áo của những "hoài niệm phồn thực"; "quả cau" lại trở thành nỗi khát
khao hạnh phúc đời thƣờng của những ngƣời lao động. Thơ tứ tuyệt của Bà luôn ấm áp
những khát khao đời thƣờng, Bà chống lại
35
những giáo lý cực đoan đè nén hạnh phúc của con ngƣời - "Kiếp tu hành" là một tiếng nói hết
sức nhân văn.
Có thể nói, Hồ Xuân Hƣơng là ngƣời đã có công Việt hóa thể thơ tứ tuyệt luật Đƣờng.
Thật khó mà nhận ra sự tiếp nối từ tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm trong "Quốc âm thi tập" hay
"Hồng Đức quốc âm thi tập" khi đọc những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng. Bởi lẽ,
trong thơ tứ tuyệt của Bà thứ ngôn ngữ mà Bà dùng không có trong thơ tứ tuyệt Nôm thế kỷ
XV, đó là thứ ngôn ngữ đời thƣờng, ít trau chuốt bóng bẩy, đậm đà chất dung dị. Bà ít sử
dụng từ Hán - Việt và hầu nhƣ các điển cố phổ biến trong thơ tứ tuyệt giai đoạn trƣớc đều
vắng mặt. Bà đƣa thành ngữ, tục ngữ, ca dao, khẩu ngữ dân gian vào thơ làm cho thơ không
kém phần hàm xúc. Ngôn ngữ Hồ Xuân Hƣơng gần với cách nói của ngôn ngữ hội hè, phố
chợ; ngôn ngữ của các vai hề chèo trong văn hóa dân gian. Nhà nghiên cứu văn hóa Việt
Nam, ông Niculin có nhận xét về thơ Hồ Xuân Hƣơng: "Có vẻ như một cú đột phá vào lĩnh
vực văn học nghệ thuật đỉnh cao của nền văn hóa dân gian Việt Nam" [90; 71]. Cú đột phá
này có ý nghĩa nhƣ là một sự tiếp nôi và mở ra cho thơ tứ tuyệt Việt Nam thời kỳ này những
yếu tố mới về nội dung và hình thức trên cái nền quy phạm của thể loại.
Tiếp nối Hồ Xuân Hƣơng, Trần Tế Xƣơng và một số nhà thơ cuối thế kỷ XIX đã góp
thêm vào thể loại tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm tính chất trào phúng. Kế thừa lối châm biếm
dân gian, ông đã đƣa rất nhiều tiếng chửi thông tục vào thơ, chủ yếu là đả kích những tệ lậu
của xã hội thực dân nửa phong kiến. Do vậy, thơ tứ tuyệt của ông là những lời tố cáo, đay
nghiến những cái lố lăng, cái xấu xa của xã hội. Mặt khác, thơ tứ tuyệt của ông không chỉ là
tiếng cƣời mà còn đậm chất trữ tình sâu lắng, là những giây phút trăn trở, là ý niệm về thời
gian hiện tại, là nỗi lòng đau đớn trƣớc sự băng hoại đạo đức của xã hội.
36
Có thể thấy rằng, đến thế kỷ XIX, thể thơ tứ tuyệt đã ít nhiều có bƣớc chuyển mình,
tách rời truyền thống và những đặc điểm quy phạm của thể loại, mở đầu cho sự cách tân theo
hƣớng hiện đại của thơ tứ tuyệt Việt Nam thế kỷ XX.
Đầu thế kỷ XX, "Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt
Nam từ mấy mươi thế kỷ" [118; 17]. Ngọn gió phƣơng Tây đã thật sự làm biến đổi xã hội
Việt Nam, một sự biến đổi có tính chất là một bƣớc ngoặt lịch sử. Nó ảnh hƣởng trực tiếp đến
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có thơ ca. Văn nghệ sĩ thời kỳ này mang nặng tƣ
tƣởng cách tân, đòi "tháo cũi sổ lồng" đối với những thể loại thơ ca cổ điển có khuôn mẫu, gò
bó và thơ tứ tuyệt không phải là trƣờng hợp ngoại lệ. Song nếu so với thể loại bát cú thì thơ
tứ tuyệt ít bị biến đổi hơn nhiều. Ngƣời ta vẫn thấy sự hiện hữu của tứ tuyệt trong phong trào
Thơ mới với những nhà thơ trẻ và bắt đầu nổi tiếng nhƣ Nguyễn Bính, Lƣu Trọng Lƣ, Thế
Lữ, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu... Mặc dù số lƣợng tứ tuyệt rất ít, nhƣng nó vẫn giữ đƣợc khả
năng phản ánh hiện thực, vẫn tiếp tục dung chứa đƣợc cái yếu tố mới; tức là thể loại này
không đến nỗi khuôn sáo, mà nó có một khả năng thích nghi khá bền vững với thời đại mới.
Về căn bản vẫn là hình thức bốn câu, những bóng dáng của cảm hứng cổ điển giờ đây đã biến
mất nhƣờng chỗ cho một cảm hứng "Âu hóa" tràn vào trong thơ. Cách chọn chữ, đúc vần, cái
quy phạm chặt chẽ của thơ ca cổ điển thiên về quy luật hình thức xƣa kia đã đƣợc thay thế
bằng quy luật nội tâm bên trong. Tế Hanh trả lời Nguyễn Công Hoan khi đƣợc hỏi về thơ:
"Theo tôi, thơ không theo quy luật chữ, mà theo quy luật hơi của tác giả, tức là thể thơ phải
theo tiếng nói tình cảm mà tác giả muốn diễn đạt" [45; 15]. Đối với thơ hình thức thơ bốn
khổ, mỗi khổ thơ bốn câu là kiểu sáng tác chủ yếu của các nhà Thơ mới. Có thể liệt kê ra rất
nhiều nhƣ "Tràng Giang" của Huy Cận, "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu, "Tống Biệt Hành"
của Thâm
37
Tâm, "Đây Thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mạc Tử... Tuy mỗi khổ thơ không đƣợc chặt chẽ nhƣ một
bài thơ tứ tuyệt cổ điển, nhƣng nó vẫn mang dáng dấp của một bài tứ tuyệt. Nhƣ vậy, thực tế
đã chứng minh rằng: thể loại tứ tuyệt cổ điển đã có thể hội nhập, thích nghi với hiện đại trong
một chỉnh thể mới.
Đặc biệt, các nhà thơ hiện đại của nền văn học cách mạng vẫn tiếp tục chú ý sử dụng
thể loại tứ tuyệt vào việc phản ánh hiện thực của cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lƣợc.
Trong nền văn học cách mạng, bên cạnh những bài tứ tuyệt mang sắc màu hiện đại lại có
không ít những bài thơ tứ tuyệt vẫn giữ đƣợc khuôn mẫu nghiêm ngặt của thể loại tứ tuyệt
truyền thống. Điều ấy làm nên sự đa dạng của thể loại tứ tuyệt. Thế kỷ XX, các nhà thơ hiện
đại sáng tác theo tứ tuyệt rất nhiều nhƣng điển hình nhất cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng phải
kể đến là hai nhà thơ tiêu biểu đó là Hồ Chí Minh và Chế Lan Viên.
Nhìn lại một cách khái quát về sự có mặt của thể loại thơ tứ tuyệt trong nền văn hóa
Việt Nam từ cổ điển đến hiện đại, chúng tôi thấy rằng: Thơ tứ tuyệt có một vị trí rất quan
trọng trong đời sống tinh thần của ngƣời Việt là do sự độc đáo riêng có của thể loại tứ tuyệt,
có thể nói tứ tuyệt là hình thức tốt nhất để con ngƣời có thể gửi vào trong đó những tình cảm
sâu kín nhất. Chính vì thế, trải qua bao biến đổi không ngừng của lịch sử, tứ tuyệt vẫn tồn tại
nhƣ một giá trị văn hóa tinh thần không thể thiếu của ngƣời Việt Nam .
1.2. Thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
1.2.1. Đặc điểm hành chức của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh:
Nói đến sức sống của thể thơ tứ tuyệt trong văn học Việt nam ở thế kỷ XX, chúng ta
không thể không kể đến một hiện tƣợng đặc biệt của nền văn học, đó là sự xuất hiện nhiều
bài thơ tứ tuyệt trong sự nghiệp sáng tác của lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là nhà thơ cách mạng - đúng hơn là vì cách mạng mà
38
Ngƣời làm thơ. Hiện thực lớn lao của thời đại cách mạng vô sản đã đi vào trong thơ Ngƣời
một cách phong phú và sinh động. Trong thơ tứ tuyệt của Ngƣời gần nhƣ không thiếu bất cứ
điều gì của cuộc sống con ngƣời và thời đại. Chúng tôi đi vào khảo sát 198 bài thơ tứ tuyệt
của Hồ Chí Minh sáng tác ở những thời điểm khác nhau và nhận thấy: so với thơ tứ tuyệt
truyền thống thì chức năng hành chức của thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh vô cùng phong phú
và đa dạng nhƣ:
1. Thơ tứ tuyệt tự sự - nói đúng hơn là tứ tuyệt phóng sự với cái nhìn chuẩn xác của
một nhà báo - điển hình là những bài tứ tuyệt tƣơi ròng những tin tức nóng bỏng về tình hình
thời sự trong nƣớc và ngoài nƣớc. Ví dụ: ở ngay dƣới tiêu đề bài "Việt hữu tao động " (Việt
Nam có báo động) ta thấy có liền một hàng chữ nhỏ với nội dung: "tin xích đạo trên báo Ung
Ninh 14 - 11" rất giống một hàng tít thƣờng đƣợc đăng tải trên trang nhất của một tờ báo
nhằm gây sự chú ý của độc giả; ở bài "Song thập nhất" (Ngày l1 tháng l1) cả ba bài tứ tuyệt
đều chứa đựng một cái nhìn sắc sảo của một nhãn quan chính trị nhạy bén của một vị lãnh tụ
cách mạng, chỉ có bốn câu thơ nhỏ bé, Hồ Chí Minh nhƣ vạch ra cả một đƣờng lối chiến lƣợc
cách mạng trong bối cảnh lịch sử lúc ấy:
Kháng Nhật tinh kỳ mãn Á châu
Tinh kỳ đại tiểu hữu sai thù;
Tinh kỳ đại đích cố tu hữu,
Tiểu đích tinh kỳ bất khả vô.
(Cờ kháng Nhật dậy khắp châu Á
Cờ lớn, cờ nhỏ có khác nhau
Cờ lớn cố nhiên là phải có
Nhƣng cờ nhỏ cũng không thể không có)
(Song thập nhật - III)
39
Bài "Anh phỏng Hoa đoàn" (đoàn đại biểu Anh sang thăm Trung Hoa)
Mỹ đoàn khứ liễu Anh đoàn đáo
Đáo xứ hân phùng nhiệt liệt tình;
Ngã dã "phỏng Hoa đoàn" nhất bộ,
Khƣớc tao đặc chủng đích hoan nghênh.
(Đoàn Mỹ đi khỏi, đoàn Anh tới
Đến đâu cũng đƣợc tiếp đón nhiệt tình
Ta cũng là một "Đoàn đi thăm Trung Hoa",
Lại gặp một kiểu hoan nghênh đặc biệt).
(Đoàn đại biểu Anh sang thăm Trung Hoa)
cũng chỉ mấy câu thơ tứ tuyệt nhỏ gọn, nhƣng ngƣời đọc gần nhƣ đã hình dung đƣợc tính
chất phức tạp bối cảnh thế giới trong giai đoạn này.
Chức năng tự sự của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh còn thể hiện ở những thông tin thời sự
rất "văn xuôi" - đời thƣờng đại loại nhƣ những tình tiết: mới đến nhà lao phải nộp tiền theo lệ
thƣờng là 50 đồng - bài "Nhập lung tiền" (tiền vào nhà giam); hay trong tù, mỗi ngƣời đều có
một hỏa lò lớn, nhỏ, để thổi cơm, đun trà, nấu thức ăn - bài "Ngục trung sinh hoạt" (Sinh hoạt
trong tù); hoặc ở bài "Đăng quang phí" (Tiền đèn) - vào tù phải nộp khoản tiền đèn, tiền
Quảng tây mỗi ngƣời 6 đồng; còn ở bài "Công kim" (tiền công): thổi một nồi nƣớc phải sáu
hào, một chậu nƣớc sôi một đồng bạc; rồi một đồng mua hàng chỉ đáng sáu hào ... đọc những
bài thơ tứ tuyệt vừa kể trên, ngƣời đọc nhƣ thật sự đƣợc nghe một bản báo cáo tổng kết hết
sức chi tiết về những việc từ lớn đến nhỏ trong nhà tù Quốc dân đảng thời ấy.
2. Thơ tứ tuyệt đƣợc dùng vào việc tuyên truyền vận động quần chúng tham gia cách
mạng. Chủ yếu là những bài thơ tứ tuyệt đƣợc Hồ Chí Minh viết bằng Quốc ngữ với mục
đích kêu gọi thuyết phục quần chúng nhân dân lao động, nên những bài thơ tứ tuyệt này
giống với bài hùng biện trƣớc đám
40
đông, tính chất tự sự - khẩu ngữ rất đậm nét. Đó là trƣờng hợp của các bài:
Bài "Thơ đề tranh cổ động báo Việt Nam độc lập"
Việt Nam độc lập thổi kèn loa
Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già
Đoàn kết vững bền nhƣ khối sắt
Để cùng nhau cứu nƣớc Nam ta
Bài "Bấy lâu mơ ngủ mãi không thôi"
Bấy lâu mơ ngủ mãi chƣa thôi!
Cách mạng ồn ào khắp mọi nơi
Này trống văn minh khua dậy đất
Kìa chuông độc lập gõ vang giời.
Bài: "Đã làm cách mạng chớ lôi thôi"
Đã làm cách mạng chớ lôi thôi
Cách mệnh thì ta cách tới nơi
Trƣớc phải dành quyền cho cả nƣớc
Sau ra cách mạng cả bầu giời.
( Hai bài Bấy lâu mơ ngủ mãi không thôi và bài Đã làm cách mạng chớ lôi thôi đều
đƣợc đăng trên báo thanh niên số ra ngày 10 tháng lo năm 1926).
Điều rất độc đáo ở Hồ Chí Minh là Ngƣời đã đem vào cho thể loại tứ tuyệt một vẻ đẹp
của sự kết hợp hài hòa giữa chính trị và thơ ca. Vì vậy nhiều khi một bài thơ tứ tuyệt có chức
năng là một bài văn chính luận :
Ruộng rẫy là chiến trƣờng
Cuốc cày là vũ khí,
Nhà nông là chiến sĩ
Hậu phƣơng thi đua với tiền phƣơng.
(Gửi nông dân)
hay có khi đó là lời động viên khuyên nhủ mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội
41
- Bài "Khuyên thanh niên":
Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền,
Đào núi và lấp biển ;
Quyết chí ắt làm nên.
Có những bài thơ tứ tuyệt đƣợc dùng để chúc Tết đầu năm - chỉ 4 câu thơ vẻn vẹn với
28 âm tiết, nhƣng có khi đó là:
Lời nhắc nhở mọi ngƣời dân thực hiện nhiệm vụ của mình:
Chúc mừng đồng bào năm mới
Đoàn kết thi đua tiến tới
Hoàn thành kế hoạch ba năm
Thống nhất nƣớc nhà thắng lợi
(Thơ chúc tết 1959)
Lời động viên toàn dân phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc:
Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nƣớc ta.
Chống Mĩ hai miền đều đánh giỏi
Tin mừng thắng trận nở nhƣ hoa.
(mừng xuân 1967)
Lời nhận xét đánh giá tình hình phát triển của cả đất nƣớc trong một
năm :
Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nƣớc nhà,
Nam bắc thi đua đánh giặc Mĩ
Tiến lên !
Toàn thắng ắt về ta.
42
(Mừng xuân 1968)
3. Thơ tứ tuyệt ngôn chí là những bài thơ tự khuyên mình.
Bài "Văn thung mễ thanh" (Nghe tiếng giã gạo):
Mễ bị thung thì hẩn thống khổ
Ký thung chi hậu, bạch nhƣ miên;
Nhân sinh tại thế dã giá dạng,
Khốn nạn thị nhĩ ngọc thành thiên.
(Gạo lúc đang giã, rất đau đớn,
Lúc giã xong rồi trắng tựa bông;
Ngƣời sống trên đời cũng nhƣ vậy,
Gian nan là dịp rèn giũa mình thành ngọc).
(Nghe tiếng giã gạo)
Những câu thơ trên là lời tự bạch mà tác giả dành để nói với chính mình, động viên
bản thân mình vƣợt lên hoàn cảnh tù đày. Tuy nhiên, những ai là ngƣời từng trải trong đƣờng
đời, hay đang sống trong cùng cảnh ngộ khắc nghiệt của cuộc sống, nếu khi đọc đến những
câu thơ tứ tuyệt ấy sẽ tâm đắc với những điều nhà thơ đã đúc kết thành chân lý rằng: sống ở
trên đời con người phải trải qua gian nan thử thách để rèn luyện mình thì mới có thể đến với
thành công.
Ở Bài "Tự miễn" (Tự khuyên mình) nhà thơ cũng nói vê chân lý ây nhƣng lại có cái
nhìn khái quát từ quy luật tự nhiên, đến quy luật xã hội: quy luật của tự nhiên có mùa đông
rét mƣớt thì cũng có mùa xuân tƣơi sáng; còn đối với quy luật xã hội, khi con ngƣời đƣợc rèn
luyện trong tai ƣơng đó chính là điều kiện để cho tinh thần càng thêm bền bỉ hơn:
Một hữu, đông tàn tiều tụy cảnh
Tƣơng vô xuân noãn đích huy hoàng
Tai ƣơng bả ngã lai rèn luyện,
43
Sử ngã tinh thần cánh khấn trƣơng.
(Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mƣớt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ƣơng rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái).
(Tự khuyên mình)
Bài "Thế lộ nan III" (Đƣờng đời hiểm trở III), nhà thơ rất sâu sắc khi nhận chân đƣợc
cái thực chất của cuộc đời - việc đối nhân xử thế của con ngƣời trong cuộc sống thật là điều
vô cùng nan giải: "Xử thế nguyên lai phi dị dị; nhĩ kim xử thế cánh nan nan!" (Việc xử thế
vốn không phải là dễ; lúc này, xử thế càng khó khăn hơn).
4. Thơ tứ tuyệt trữ tình giàu âm hƣởng Đƣờng thi, có thể nói trong số 198 bài thơ tứ
tuyệt của Hồ Chí Minh thì số lƣợng những bài tứ tuyệt trữ tình giàu âm hƣởng Đƣờng thi
chiếm một tỉ lệ khá lớn. Đặc điểm này chúng tôi xin đƣợc phân tích ở phần sau.
5. Thơ tứ tuyệt nhật ký: mỗi bài thơ tứ tuyệt là một trang nhật ký ghi nhận mọi sự
việc, mọi cảnh huống và tâm trạng của con ngƣời trong cuộc sống thực đến từng chi tiết: từ
những chuyện nhỏ nhặt tầm thƣờng nhất của cái sinh hoạt nhà tù, những chuyện không thơ
một chút nào nhƣ chuyện: chia nƣớc, gãi ghẻ, bị trói còng tay, bị giải đi sớm, bị gãy một cái
răng; phải ngồi hố xí, lính ngục đánh mất một chiếc gậy; chuyện tăng gia sản xuất, thi đua,
chuyện chúc tết năm mới... cho đến những tin tức nóng bỏng về ngọn lửa cuộc thế chiến đang
làm ứa máu trái tim nhân loại trên mọi nẻo địa cầu; lại có cả những chuyện về trăng, về hoa,
về những giấc mơ cƣỡi rồng bay lên trời; rồi những đêm thu huyền ảo - cái đẹp muôn đời của
thi ca phƣơng Đông cổ điển; rồi những hoài bão của dân tộc, cái hào hùng của cuộc kháng
chiến, niềm tin vào sự thống nhất đất nƣớc... đến những điều lớn lao của nhân loại
44
nhƣ khát vọng tự do, tình yêu con ngƣời, tình yêu thiên nhiên v.v... dƣới ngòi bút của Hồ Chí
Minh, hầu nhƣ không có lĩnh vực nào của cuộc sống con ngƣời dân tộc và nhân loại là mảnh
đất cấm kị của thơ tứ tuyệt.
Về hình thức, có rất nhiều bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh không chịu câu nệ bất cứ
một khuôn mẫu nào của thơ tứ tuyệt truyền thống, nên hình thức thơ bốn câu của Ngƣời rất tự
do thoải mái. Riêng trong tập Nhật ký trong tù, Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thể tứ tuyệt
"lưỡng tính về mặt thể loại" [91; 230 ] - nhật ký lại đƣợc viết bằng thơ: vừa tự sự - vừa trữ
tình, với con số 129 bài tứ tuyệt, mỗi bài thơ là một chỉnh thể nhỏ hoàn hảo liên kết với nhau
thành một thiên "tứ tuyệt đại liên hoàn", đó là một hiện tƣợng "độc nhất vô nhị" của thể loại
tứ tuyệt trong nền văn học Việt Nam. Điều ấy cũng chứng minh rằng Hồ Chí Minh đã hiện
đại hóa thể thơ tứ tuyệt đƣờng luật theo một khuynh hƣớng hiện đại, để phù hợp với hiện
thực cách mạng của thời đại mới đang diễn ra.
1.2.2. Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh - sự kết hợp hài hòa vẻ đẹp cổ điển và tỉnh thần
hiện đại:
Khảo sát 198 bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh chúng tôi khẳng định một đặc trƣng
điển hình nhất, bao trùm nhất của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là sự hòa quyện đến mức dung dị
giữa vẻ đẹp cổ điển với một nhân sinh quan hiện đại.
Hồ Chí Minh là ngƣời xuất thân từ nho gia, nên Ngƣời chịu ảnh hƣởng sự giáo dục
của nền văn hóa nho giáo rất sâu sắc. Ngay từ nhỏ ngƣời đã đƣợc học "Ngũ kinh", "Tứ thƣ"
đọc "Thiên gia thi" vậy nên, trên lĩnh vực thơ ca chúng ta có thể khẳng định rằng, Hồ Chí
Minh cũng chính là nhà thơ đi ra từ thơ Đƣờng - Tống, thơ ca cổ điển Việt Nam. Vì thế,
những bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời đều rất đậm đà chất Đƣờng thi và âm hƣởng của nền thơ ca
cổ điển dân tộc. Ông Quách Mạc Nhƣợc từng nhận xét rằng: có những bài, nếu
45
đem đặt bên cạnh thơ Đƣờng - Tống thì không thể phân biệt đƣợc [110]. Vậy nên, đọc thơ tứ
tuyệt Hồ Chí Minh, ta luôn cảm thấy phảng phất đâu đây cái "hương hoa của thơ Đường"
[122; 85], cái triết lý sâu lắng của thơ Tống, bóng dáng của hồn thơ bay bổng với lối viết
không chịu một sự bó buộc nào của Lý Bạch, bút pháp hiện thực sâu sắc của Đỗ Phủ, tâm
hồn thông thoáng gắn với thiên nhiên của Vƣơng Duy; cái thanh thoát trong sáng của thơ
thiền, cái hào sảng của thơ Trần, cái uyên thâm và đời thƣờng của Nguyễn Trãi, cái tài hoa
của Nguyễn Du, cái chất trí tuệ của Cao Bá Quát, cái chất dí dỏm mang tƣ duy thẩm mỹ dân
gian của Hồ Xuân Hƣơng, Nguyễn Khuyên... Điều ấy chứng tỏ rằng: hồn thơ của nghệ sĩ Hồ
Chí Minh là sự gặp gỡ của những tâm hồn Á đông vĩ đại. Bên cạnh vẻ đẹp cổ điển ấy, chúng
ta vẫn nhận thấy trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh còn có một cái nhìn mới về thế giới
quan, nhân sinh quan, thẩm mỹ quan của một ngƣời chiến sĩ cộng sản - đây là cái không thể
tìm thấy trong thơ xƣa. Chính những điều vừa phân tích trên đã làm nên cái độc đáo trong thơ
tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Sự độc đáo ấy là: "cơ điển mà không phải là cổ thi" [98; 337],
trong thơ của Ngƣời "cái hiện đại, trở về tắm mình trong cái cổ điên; còn cái cố điên lại
được thổi vào trong đó cái linh hồn mới của thời đại" [91; 40]. Đó chính là lý do làm cho
những câu thơ tứ tuyệt của nghệ sĩ Hồ Chí Minh có một vẻ đẹp hài hòa của sự tích hợp và
dung hóa những giá trị văn hóa của truyền thống và hiện đại. Ngƣời luôn kế thừa truyền
thống trên cơ sở của sự cách tân. Xin đƣợc minh chứng điều này qua việc đi vào phân tích
một số bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời.
Đọc bài thơ "Thượng sơn" (Lên núi) của Hồ Chí Minh, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc
ngay bài thơ xây dựng trên một cái nền triết học vừa Nho, vừa Phật, vừa cách mạng:
Lục nguyệt nhị thập tứ,
Thƣớng đáo thử sơn lai;
46
Cử đầu hồng nhật cận,
Đối ngạn nhất chi mai.
(Ngày hai mƣơi tƣ tháng sáu,
Lên ngọn núi này chơi,
Ngẩng đầu mặt trời mọc,
Bên suối một nhành mai).
Bài thơ hay bởi tứ thơ vừa hào hùng, vừa siêu thoát; hai câu đầu của bài thơ giống
nhƣ một lời đề dẫn:
Lục nguyệt nhị thập tứ,
Thƣớng đáo thử sơn lai;
Để cho hai câu sau trở thành "bất tử":
Cử đầu hồng nhật cận,
Đối ngạn nhất chi mai.
Sự bất tử nằm trong ý nghĩa của việc sử dụng hình tƣợng: nếu "mặt trời đỏ" là biểu
trƣng cho một không gian mới, khác với quan niệm truyền thống thì "hoa mai" lại là cách nói
tƣợng trƣng ƣớc lệ của thơ ca cổ điển. Trong quan niệm của Nho giáo: "mai" bao giờ cũng là
biểu tƣợng cho một sự thanh khiết "xung hàn" tƣợng trƣng cho sự trong sạch, Nguyễn Trãi
từng có thơ rằng: "Ái mai, ái tuyêt, ái duyên hà; Ái duyên tuyết bạch mai thanh khiết" (Yêu
mai, yêu tuyết, là bởi yêu duyên gì? Đó là bởi yêu duyên tuyết trắng và mai trong sạch)
[125;326]. Trong quan niệm của Phật giáo, "mai" là cây mai cụ thể, nhƣng cũng là kẻ đƣợc
thoát kiếp luân hồi, cho nên "mai" là hiện thân của sự sống mới. Hình ảnh đối ngạn nhất chi
mai của bài "thƣợng sơn" làm ngƣời đọc liên tƣởng tới bài kệ nổi tiếng của nhà sƣ Mãn giác
đời lý:
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
(Chớ tƣởng xuân tàn hoa rụng hết,
47
Đêm qua sân trƣớc một nhành mai)
(Nói chuyện với học trò)
Cấu tứ hai câu cuối của bài "Thƣợng sơn" chịu ảnh hƣởng của tƣ duy thiền học rất sâu
sắc, hình ảnh "ngạn" là cái bờ suối cụ thể và cũng là cái bờ bên kia, cái bờ đạt đến sự giác
ngộ. Bài thơ của Hồ Chí Minh hay bởi tứ thơ có sự kết hợp hài hòa giữa cái nhìn của sắc
không thiền học, cái thanh cao của đạo nho và cái tƣơi sáng đến vô ngần của một tƣ duy cách
mạng. Hình ảnh : "mặt trời" và "nhành mai" đƣợc đặt cạnh bên nhau đã làm nên một bức
tranh thiên nhiên hoàn mỹ chứa đựng cả một sự sống bất tận. Và nó làm nên sự bất tử cho
những câu thơ. Đánh giá điều này, ông Phan Ngọc đã đặt một dấu hỏi tu từ rằng: "Ai viết nổi
hai câu thơ vừa muôn đời, vừa mới mẻ, vừa thanh thản, vừa khí phách lại thấm đượm tình
người đến thế?" [91; 628].
Bài thơ "Rằm tháng giêng" của Hồ Chí Minh viết vào năm 1948 có rất nhiều những
cảm thức, những hình ảnh và các cấu tứ của các nhà thơ xƣa, nhƣng lại chứa đựng một cái
nhìn mới mẻ của nhà thơ:
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
(Đêm nay rằm tháng giêng trăng vừa tròn,
Sông xuân, nƣớc xuân liền với trời xuân.
Sâu nơi khói sóng, bàn bạc việc quân.
Nửa đêm trở về ánh trăng đầy thuyền).
Với câu thơ "Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên", ngƣời đọc có thể cảm nhận
đƣợc có cái gì đó rất giống với câu thơ nổi tiếng "Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc" (sông
thu trời nƣớc bao la một màu) trong bài "Đằng vương các tụ" của nhà thơ Vƣơng Bột đời
Đƣờng. Có lẽ, cái gặp gỡ của hai
48
câu thơ này là ở cách cấu tứ, chúng đều xuất phát từ cảm hứng về cái đẹp của thiên nhiên đó
là những bức tranh thủy mạc của hội họa cổ điển. Nhƣng bức tranh của ngƣời xƣa thì tràn đầy
sắc thu; còn bức tranh của Hồ Chí Minh, lại ngập tràn sắc xuân. Cái đẹp trong bức tranh thu
của ngƣời xƣa là cái đẹp tĩnh lặng, nó gợi lên cái phiêu diêu lặng lẽ, buồn tẻ nhất là khi xuất
hiện hình ảnh Lạc hà dữ cô lộ tề phi (Chiếc cò bay với ráng sa). Mục đích của nhà thơ ở câu
thơ này là tạo ra cái động để phá đi cái tĩnh ở câu thơ trên, nhƣng chính vì thế lại càng tô
thêm vào bức tranh thu kia những đƣờng nét quạnh vắng. Ngƣợc lại, cái đẹp trong bức tranh
của Hồ Chí Minh thì lại tràn đầy sức sống mãnh liệt với hàng loạt hình ảnh: nƣớc xuân, sông
xuân, trời xuân... hòa quyện vào nhau nhƣ nối tiếp nhau không dứt. Điều ấy đã tạo nên một
sức sống rạo rực, một vẻ đẹp khoáng đạt bát ngát của đất trời. Đó là cũng chính là tiếng reo
vui trong tâm hồn ngƣời nghệ sĩ Hồ Chí Minh với một tình yêu tha thiết cuộc sống.
Đọc câu thơ thứ ba: "Yên ba thâm xứ đàm quân sự" (Giữa nơi khói sóng thăm thẳm
bàn việc quân) của Hồ Chí Minh làm ngƣời đọc nhớ ngay đến câu thơ trong "Uống rượu tiêu
sầu" của nhà thơ Cao Bá Quát: "Yên ba thăm xứ hữu ngư châu" (Giữa nơi khói sóng, thăm
thẳm có một chiếc thuyền đánh cá). Hai câu thơ đều cùng thể hiện một sự cảm nhận về cái
mênh mông vô tận của trời đất nên hai nhà thơ ở hai thời đại đã gặp nhau. Thế nhƣng, nếu
trong cảm thức của ngƣời xƣa là một sự lẻ loi, trống vắng thì trong cảm thức của ngƣời nay
lại là sự cảm nhận một vẻ đẹp khoáng đạt, hào hùng - một con ngƣời ngồi giữa cõi đất trời
đang bàn bạc việc đấu tranh để đƣợc làm chủ bản thân mình và làm chủ vũ trụ.
Câu kết của bài thơ "Nguyên tiêu": "Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền" một vẻ đẹp
cổ điển mà chúng ta đã từng gặp trong câu thơ: "Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền" (nửa
đêm có tiếng chuông vọng đến thuyền
49
khách) trong bài thơ nổi tiếng "Phong kiều dạ bạc" của Trƣơng Kế thi nhân đời Đƣờng đã nói
lên một sự đồng điệu của những tâm hồn thi sĩ phƣơng Đông. Câu thơ của Hồ Chí Minh gặp
gỡ với câu thơ của Trƣơng Kế là ở chỗ thời khắc nửa đêm, một thời điểm đầy lãng mạn đối
với thi nhân. Trong thơ ca cổ điển, thời khắc nửa đêm thƣờng đi vào trong thơ một cách
huyền diệu bởi đó là thời gian yên tĩnh, trong trẻo và khoáng đạt nhất. Đó là lúc thi hứng
thƣờng trỗi dậy, Ƣơng thời khắc ấy, sự cảm nhận của thi nhân dƣờng sâu lắng hơn, tràn đầy
cảm xúc lãng mạn hơn. Bên cạnh những cảm xúc lãng mạn, những câu thơ của Hồ Chí Minh
còn chứa đựng một vẻ đẹp khác, đó là vẻ đẹp viên mãn giữa đất trời và những dự tính về một
viễn cảnh tƣơi sáng của dân tộc. Chính vì thế, câu kết trong bài thơ "Nguyên tiêu" trào tuôn
một sức sống rạo rực, mãnh liệt. Cái đẹp cổ điển hòa quyện với tinh thần hiện đại trong
những câu thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là nhƣ vậy.
2. Trong hình thức của những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng ta thƣờng bắt
gặp rất nhiều cách sử dụng những cái "mã" của thơ truyền thống, ví dụ ở một số bài thơ nhƣ:
"Nạn hữu suy địch" (Ngƣời bạn tù thổi sáo); "Vãn" (Buổi chiều); "Thu dạ" (Đêm thu)...
Ở bài "Nạn hữu xuy địch"
Ngục trung hốt thính tư hương khúc
Âm chuyển thê lương điệu chuyển sầu,
Thiên lý quan hà vô hạn cảm
Khuê nhân cánh thướng nhất tầng lâu.
(Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu,
Muôn dặm quan hà khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.)
Từ "hốt" (bỗng, chợt), đây là một từ mà các nhà thơ xƣa hay dùng để biểu thị một
trạng thái tình cảm xảy ra trong khoảnh khắc. Một chữ "hốt"
50
đánh dấu một sự đột biến vƣợt cấp cảm xúc, ý thức. Nó là chiếc bản lề khép mở hai vùng trời
của thế giới tâm trạng của con ngƣời. Phƣơng thức biểu hiện này là một tín hiệu thẩm mỹ rất
quen thuộc trong thi pháp thơ tứ tuyệt truyền thống. Đặc biệt trong tƣ duy nghệ thuật của các
nhà thơ Đƣờng, khi muốn bộc lộ một trạng thái cảm xúc, ngƣời ta hay sử dụng những tín hiệu
minh thị: những phó từ "hốt" (chợt, bỗng), "khước" (trái lại), "nhất giác" (chợt hiểu), "tài",
"thúy" (mới)), thể hiện sự bừng tỉnh của nhà thơ và đánh thức ngƣời đọc. Nó giống nhƣ một
sát na của nhà Phật - đƣa ta sang một chất mới của nhận thức. Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh
hƣởng sâu sắc kiểu tƣ duy nghệ thuật truyền thống ấy. Đây chính là lý do chữ "hốt" câu thơ
"ngục trung hốt thính tư hương khúc" có một vị trí quan trong trong bài thơ. Nhƣng thông
thƣờng trong thơ Đƣờng từ hốt hay đƣợc dùng ở vị trí câu thơ thứ ba của bài tứ tuyệt, bởi câu
ba là câu thơ có vị trí đặc biệt quan trọng, nó vừa là sự thừa chuyển của hai câu trƣớc, vừa
đóng vai trò quyết định đối với câu thứ tƣ nên nó có vai trò quyết định sự thành bại của cả bài
thơ. Do đó, từ hốt thƣờng đứng ở vị trí câu thứ ba để đánh dấu một sự chuyển đổi bất ngờ của
cảm xúc, ý thức. Điển hình nhƣ trong bài Khuê Oán của nhà thơ Vƣơng Xƣơng Linh đời
Đƣờng đã thể hiện rất đắc địa kiểu tƣ duy này:
Khuê nhân thiếu phụ bất tri sầu
Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giao phu tế mịch phong hầu
Đã bao ngày tháng qua, ngƣời thiếu phụ vô tƣ "bất tri sầu", thế rồi một ngày kia "hốt"
(bỗng, chợt) nàng nhìn thấy sắc màu hàng dƣơng liễu trong tiết xuân, nàng nhƣ "đốn ngộ"
bừng tỉnh nhận ra một điều gì đó thật là chua chát cho hạnh phúc của đời mình nên đã "hối"
(hối hận). Chữ "hốt" ở câu thơ thứ ba có vai trò mở ra vùng trời của thế giới tâm trạng mới
cho ngƣời thiếu phụ trong bài thơ kia.
51
Còn ở bài thơ "Nạn hữu xuy địch" của nhà thơ Hồ Chí Minh, phó từ "hốt" lại đƣợc
nhà thơ dùng ngay ở câu thơ thứ nhất. Ngƣời đọc mới đọc lên tƣởng chừng nhƣ đó chỉ là một
sự vô tình ƣơng việc dùng từ của nhà thơ, thế nhƣng sự vô tình ấy lại chứa đựng cả vùng trời
của thế thơi tâm trạng ngƣời tù Hồ Chí Minh. Phó từ "hốt" đứng ở vị trí đầu câu thơ thứ nhất
có vai trò nhƣ một sự kết nối quá trình chuyển biến trong tâm tƣ, tình cảm của nhà thơ từ khi
bị bắt vào tù cho đến lúc "hốt thính tư hương khúc". Trong khoảnh khắc ấy, ngƣời tù Hồ Chí
Minh chợt nhận ra, trong sâu thẳm của tâm hồn mình có trăm ngàn nỗi nhớ thƣơng da diết
luôn nặng trĩu trong tim. Ây thế mà, kể từ hôm Ngƣời bị bắt vào tù cho đến nay, phải rơi vào
một tình huống bị mất tự do bản thân, lại lo cho vận mệnh dân tộc và quá ngỡ ngàng, chua
xót phải làm tù nhân trên chính quê hƣơng của "ngƣời nạn hữu"... nên nỗi nhớ niềm thƣơng
đối với quê hƣơng, đất nƣớc, bạn bè, đồng chí; và cả nỗi đau nhân tình hình nhƣ cũng tạm
thời lắng xuống. Giờ đây tất cả nhƣ đang ƣỗi dậy khi hốt thính tư hương khúc. Đây chính là
những tình cảm chân thật, rất đời thƣờng của con ngƣời vĩ đại Hồ Chí Minh. Cũng chính từ
tiếng sáo tư hương ấy, ngƣời tù Hồ Chí Minh không chỉ nhận ra nỗi lòng của mình, mà còn
nhận ra nỗi lòng của những con ngƣời bất hạnh khác, đang cùng cảnh ngộ với mình. Vì thế, ở
hai câu thơ sau Ngƣời không trực tiếp viết về tâm trạng của mình mà lại ẩn giấu nó qua tâm
trạng của những con ngƣời khốn khổ khác :
Thiên lý quan hà vô hạn cảm
Khuê nhân cánh thướng nhất tằng lâu
Trƣớc mắt ngƣời đọc đang hiện lên rất rõ hình ảnh ngƣời chồng thổi sáo, ngƣời vợ
bƣớc lên lầu cao để nghe đƣợc tiếng lòng của chồng mình; dƣờng nhƣ cái không gian tù ngục
cũng tan biến mất và dƣờng nhƣ cái khoảng cách "thiên lý quan hà vô hạn cảm" kia cũng chỉ
còn lại trong tấc gang để cho hai con ngƣời khốn khổ đƣợc gặp nhau. Đây rõ ràng là nhà thơ
đã hóa thân
52
vào tâm trạng của ngƣời khác, sống đƣợc trong tâm trạng của ngƣời khác để cảm thông cho
nỗi đau của họ. Đó chính là tấm lòng của ngƣời nghệ sĩ lớn giàu tình ngƣời, tình đời - luôn
thấu hiểu cảm thông cho con ngƣời. Đây là cái rất ngƣời, rất đời thƣờng, nhƣng cũng rất vĩ
đại ở ngƣời nghệ sĩ Hồ Chí Minh. Phải chăng, đó là cả một bề dày vắn hóa của một con
ngƣời từng kinh lịch trong cuộc đời, cùng với một tấm lòng nhân đạo và nhân văn sâu sắc
luôn sống mãnh liệt trong nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh. Nhƣ vậy, để có thể hiểu đƣợc
những điều sâu kín ƣơng tâm tƣ, tình cảm của ngƣời nghệ sĩ Hồ Chí Minh ở bài thơ này, ý
thơ "hốt thính tư hương khúc" có một khả năng truyền tải rất lớn.
Phó từ "hốt" còn đƣợc Hồ Chí Minh sử dụng linh hoạt ở một số bài thơ tứ tuyệt khác
nhƣ:
bài "Vãn"
Vãn xán ngạt liễu, nhật tây trầm
Xứ xứ sơn ca dữ nhạc âm.
U ám tỉnh Tây cấm bế thất
Hốt thành mỹ thuật tiểu Hàn lâm.
(Cơm xong bóng đã xuống trầm trầm,
Vang tiếng đan ca rộn tiếng ngâm
Nhà ngục Tĩnh tây mờ mịt tối,
Bỗng thành quán nhạc viện hàm lâm)
Nếu ở bài "nạn hữu xuy địch", "hốt" đƣợc dùng ở câu thứ nhất thì ở bài "vãn"; "hốt"
lại dùng ở câu cuối của bài thơ. Nó nhƣ là một sự cảm nhận, một cái gì đó vỡ ra từ thực tế -
những sinh hoạt trong tù đã biến nhà tù thành một nơi không phải là chính nó. Phó từ "hốt" ở
đây đƣợc sử dụng nhƣ một sự vô tình, nhƣng thực chất nó lại là một khoảnh khắc dịch
chuyển biến đổi từ chất này sang một chất khác. Nhà ngục tối tăm, bỗng trở thành viện hàn
lâm
53
nghệ thuật, một sự biến đổi hoàn toàn. Cái tài của nhà thơ là ở chỗ, sử dụng phó từ "hốt" vào
vị trí của một câu kết hết sức độc đáo, làm cho ngƣời đọc bất ngờ và thú vị nhận ra một triết
lý sống trong chiều sâu tâm thức Hồ Chí Minh - đó là ở đâu có sự sống là có niềm vui - chính
nụ cười là phép màu giúp con người ta vượt qua được mọi bất trắc của hoàn cảnh. Đây là
một tâm thức rất mới - rất hiện đại trong tƣ tƣởng thẩm mỹ của nghệ sĩ Hồ Chí Minh so với
truyền thống và những nhà thơ cùng thời.
Bài "Thu dạ" đƣợc nhà thơ Hồ Chí Minh sáng tác năm 1948 trong chiến khu Việt
Bắc:
Trù hoạch canh thâm tiệm đắc nhàn,
Thu phong, thu vũ, báo thu hàn.
Hốt văn thu địch sơn tiền hưởng
Du kích quy lai, tửu vị tàn.
(Bàn việc canh chày mới tạm ngơi
Gió mưa thu báo lạnh thu rồi
Còi thu bỗng rúc vang rừng núi,
Du kích về thôn rượu chửa vơi)
Đọc toàn bộ bài thơ, chúng tôi thấy, từ một hiện thực rất cụ thể đƣợc nhà thơ thể hiện
ở câu thơ thứ nhất, đó là sự bận rộn của một ngƣời lãnh đạo cách mạng "trù hoạch canh thâm
tiệm đắc nhàn", đến câu thơ thứ hai là một thông báo về sự thay đổi thời tiết đƣợc nhận biết
qua các hiện tƣợng tự nhiên "thu phong, thu vũ báo thu hàn", Cả 2 câu thơ trên chỉ là thông
tin hiển ngôn đơn giản, nó có tính chất nhƣ một thông báo, không hàm chứa một điều gì
thuộc về tâm trạng. Thế nhƣng, chỉ đến câu thơ thứ ba với sự xuất hiện của phó từ "hốt" trong
tứ thơ "Hốt văn thu địch sơn tiền hưởng", thì tất cả dƣờng nhƣ đã xảy ra một sự biến đổi hoàn
toàn. Nhà thơ bỗng chợt nhận ra trong tâm hồn mình giờ đây những cảm giác thăng hoa đang
trỗi dậy, những âm thanh diệu kỳ của mùa thu cứ tự nhiên dâng trào, ngập tràn, rồi lấp đầy và
54
che khuất mọi bề bộn của cuộc sống hiện thực. Nó đƣa con ngƣời bận rộn đời thƣờng ấy đến
với một cảm giác tự do, làm cho nhà lãnh tụ cách mạng trở thành một thi nhân. Vì thế, ngƣời
đọc chỉ còn thấy trong bài thơ một tao nhân mặc khách đang ngồi đối diện với mùa thu, đang
thanh thản uống rƣợu với Thu, đến nỗi "Du kích quy lai, tửu vị tàn". Vậy nên, mùa thu trong
bài thơ bỗng trở thành một chủ thể thẩm mỹ đang thổi lên khúc nhạc của chính mình. Đó
chính là lý do để nhà thơ sử dụng hình tƣợng "Thu địch", nó không phải hình tƣợng phản ánh
mà là hình tƣợng ký hiệu - một tín hiệu thẩm mỹ trong thơ ca. Cho nên, âm thanh của tiếng
"sáo thu" là cái để nhà thơ gửi gấm những cảm xúc của mình khi hòa vào thiên nhiên, bộc lộ
một mối tình thật sâu sắc với thiên nhiên. Và chúng ta không thể không nhận ra cái chất nghệ
sĩ ấy ở Hồ Chí Minh mang rất đậm cốt cách của một thi sĩ phƣơng Đông.
Nhƣ vậy, với thi nhân Hồ Chí Minh, việc dùng phó từ "hốt" dù đặt ở vị trí nào trong
bài thơ cũng đều mang một dụng ý nghệ thuật có tính truyền thống.
3. Sử dụng kiểu quan niệm nghệ thuật của thơ ca truyền thống là một hình thức kế
thừa những giá trị truyền thống trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Đó là trƣờng hợp của
câu thơ "Khuê nhân cách thướng nhất tằng lâu" trong bài "Nạn hữu xuy địch". Có ngƣời đã
từng phê bình bản dịch là cứ nhất nhất phải bám vào cụm từ "cách thướng nhất tằng lâu"
trong nguyên bản, vì theo họ đó là một sự câu nệ không cần thiết. Song chúng tôi thiết nghĩ
không nên bỏ đi cụm từ này lại là một chọn lựa rất chính xác. Trƣớc hết cần xác định cụm từ
" cách thướng nhất tằng lầu " là đƣợc nhà thơ Hồ Chí Minh mƣợn ý trong bài Đăng quan
tước lâu của nhà thơ thời thịnh Đƣờng Vƣơng Chi Hoán (viết khoảng năm 742) nguyên văn
nhƣ sau:
Bạch nhật y sơn tận
Hồng hà nhập hải lƣu
55
Dục cùng thiên lý mục
Cánh thƣớng nhất tằng lâu
"Cánh thướng nhất tằng lâu" đó là một động tác "đăng cao" mang tính quan niệm
trong tƣ duy thẩm mỹ của các thi nhân đời Đƣờng. Động tác đăng cao trong bài thơ của
Vƣơng Chi Hoán đƣợc biểu thị chỉ bằng một động từ "thướng", nhƣng đã cho ta thấy thế
đứng của con ngƣời trong bài thơ là ở trên đỉnh cao vũ trụ. Vậy nên, con ngƣời trong thơ có
thể rút ngắn khoảng cách để thâu tóm vào trong tầm mắt của mình cả một không gian rộng
lớn vô tận. Chúng ta cũng gặp lại kiểu tƣ duy nghệ thuật truyền thống ấy trong hai câu thơ :
"thiên lý quan hà vô hạn cảm; khuê nhân cánh thướng nhất tằng lâu" (Nƣớc non xa cách
nghìn trùng, cảm thƣơng vô hạn; ngƣời chốn phòng khuê lại bƣớc lên một tầng lầu). Đọc hai
câu thơ của nhà thơ Hồ Chí Minh, chính hành động "cách thƣớng nhất tằng lâu" của ngƣời
"khuê nhân" đã làm cho sự xa cách "thiên lý quan hà" nhƣ gần lại để cho hai con ngƣời nhớ
nhau có thể gặp nhau. Vì thế, cụm từ "cách thướng nhất tằng lâu" trong câu thơ của Hồ Chí
Minh có một vị trí quan trọng không thể tùy tiện bỏ qua. Bởi trong cốt cách phƣơng Đông
của nghệ sĩ Hồ Chí Minh lối tƣ duy này đã để lại một dấu ấn sâu đậm. Chúng ta có thể tìm
thấy điều này trong bài "Tẩu lộ " khi nhà thơ muốn thể hiện nỗi lòng của mình với quê hƣơng
đất nƣớc thì nhà thơ cũng lên cao để nhìn lại non sông đất nƣớc: "Trùng san đăng đáo cao
phong hậu; vạn lý dư đồ cố miện gian"(vượt các lớp núi sau khi lên đến ngọn núi cao; quay
đầu nhìn Tổ quốc, thêm lƣu luyến non sông muôn dặm).
Nhƣ vậy, đến với những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, cái độc đáo là sự âm vang
truyền thống rất sâu đậm, cùng với một tinh thần thời đại luôn hòa quyện vào nhau, tồn tại
một cách tự nhiên, làm nên vẻ đẹp riêng có cho những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Nói
về điều này, chúng tôi xin đƣợc mƣợn lời của ông Đặng Thai Mai khi nhận xét về tập "Nhật
ký trong tù" rằng: "Hình như mọi truyền thống tốt đẹp của thi ca chữ Hán đều có dịp hội tụ
về đây? Mặt khác lại hình như
56
có một cái gì bất chấp truyền thống phá cách đến táo tợn, hàm chứa trong tập thơ này? Hình
như không ít từ ngữ bạch thoại, và cả từ ngữ châu Âu - cả hai loại này đều là những lời ăn
tiếng nói vốn không mấy khi được bén mảng đến tao đàn của "nàng thơ", lại được du nhập
vào đây một cách phóng túng? Mặt khác, lại hình như, tập thơ vẫn để lại dấu ấn sâu đậm
trong tình cảm chúng ta về một phong cách ngôn ngữ rất mực trang nhã của thi ca cổ
điển?..." [91; 53]. Lời nhận xét trên thật chính xác và vô cùng sâu sắc. Chúng ta có thể xem
đó là lời nhận xét về thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh cũng không sai - vì tập nhật ký trong tù
của Hồ Chí Minh thực chất là sự kết nối liên hoàn của 129 bài thơ tứ tuyệt.
57
CHƢƠNG 2: THI PHÁP THƠ TỨ TUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH NHÌN TRÊN
GÓC ĐỘ HÌNH TƢỢNG
Khám phá tác phẩm văn học là khám phá thế giới hình tƣợng mà nhà văn đã sáng tạo
nên. Thế giới hình tƣợng ấy vừa mang yếu tố chủ quan của ngƣời nghệ sĩ, lại vừa mang yếu
tố khách quan vốn có của nó. Trong tác phẩm nghệ thuật con ngƣời xuất hiện với tƣ cách là
hình tƣợng con ngƣời và không gian, thời gian cũng đƣợc tạo dựng với tƣ cách là hình tƣợng
thời gian, hình tƣợng không gian. Vì vậy, nghiên cứu tác phẩm văn học là nghiên cứu sự đan
xen của thế giới hình tƣợng trong tác phẩm. Ở chƣơng 2 này, chúng tôi xin đi vào nghiên
cứu: hình tƣợng con ngƣời; hình tƣợng thời gian; hình tƣợng không gian trong thơ tứ tuyệt
của Hồ Chí Minh.
2.1. Hình tƣợng con ngƣời.
Con ngƣời là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố trung tâm trong thế giới nghệ thuật của
một bài thơ, một dòng thơ. Tìm hiểu con ngƣời trong thơ là góp phần tìm hiểu quan niệm
nghệ thuật của nhà thơ thông qua hình tƣợng con ngƣời, đó cũng chính là nơi thể hiện cách
nhìn nhận thế giới của ngƣời nghệ sĩ. Do đó, không thể lý giải một hệ thống thơ ca của một
tác giả hay một thời đại mà bỏ qua việc tìm hiểu hình tƣợng nghệ thuật về con ngƣời trong
thơ.
Hình tƣợng con ngƣời trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là một hình tƣợng khá đặc biệt,
vì một lẽ, con ngƣời trong thơ đƣợc bảo đảm bằng chính sự vĩ đại của con ngƣời nhà thơ mà
ở con ngƣời ấy luôn tỏa ra một thứ hƣơng thơm kỳ diệu mà lời lẽ ngôn từ dƣờng nhƣ đều bất
lực. Đã có rất nhiều lời bàn rằng, khi đi vào phân tích hình tƣợng con ngƣời trong thơ Hồ Chí
Minh, ngƣời ta hay sa vào phân tích con ngƣời ngoài đời của tác giả mà làm lu mờ đi vẻ
58
đẹp có tính chất nghệ thuật của con ngƣời trong thơ. Ở mục này, chúng tôi luôn tự xác định
rõ: hình tƣợng con ngƣời trong thơ là nhân vật trữ tình Hồ Chí Minh, sự biểu hiện của con
ngƣời trữ tình ấy là sự biểu hiện của một nhân cách vĩ đại; cái tôi của con ngƣời trong thơ là
cái tôi của chính tác giả. Điều ấy không hề làm giảm đi tính nghệ thuật của tác phẩm nghệ
thuật, mà ngƣợc lại, nó giúp cho chúng ta có cơ sở khách quan để hiểu cho đúng, cho sâu sắc
hơn con ngƣời trữ tình trong những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Vậy nên, khi đọc
"Nhật ký trong tù" có ngƣời đã nhận xét rất đúng rằng: "Với Nhật ký trong tù ta may mắn có
bức chân dung tự họa của con người đó. Rồi với cuộc đời Hồ Chí Minh ta càng hiểu thêm giá
trị Nhật ký trong tù" [91; 127]. Đó chính là một sự đối xứng chiếu ứng đã xảy ra, đây là một
điều rất đặc biệt bởi, không phải bất cứ một tác giả nào, nhân cách của họ cũng là một sự
"bảo đảm bằng vàng cho thơ" [91; 127] nhƣ nhà thơ Hồ Chí Minh.
Xuất phát từ tính khách quan của hình tƣợng nghệ thuật, chúng tôi nhận thấy rằng:
cảm thức chính trong những bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh đều đƣợc khơi nguồn từ cuộc sống
hiện thực. Do đó, hình tƣợng con ngƣời trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là hình tƣợng con
ngƣời xã hội, mọi hoạt động từ hoạt động vật chất đến hoạt động tinh thần nhƣ: tình cảm,
cảm xúc, tâm lý, lẽ sống v.v... của con ngƣời ấy đều gắn chặt với đời sống sinh hoạt của xã
hội, đều tuân theo sự vận động của quy luật cuộc sống. Hầu nhƣ không có bài thơ nào mà
hình tƣợng con ngƣời lại tách mình ra khỏi cuộc sống đời thƣờng đầy biến động, nhƣng cũng
đầy say mê.
Mặc dù con ngƣời trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là con ngƣời xã hội, nhƣng đây
không phải là con ngƣời đƣợc hiểu theo nghĩa thần dân của xã hội phong kiến, mà là ngƣời
chiến sĩ hành động cải tạo thế giới với một khát vọng tự do mãnh liệt và một cảm thức nhân
loại dạt dào vẻ đẹp của tinh thần khoan dung văn hóa cao quí.
59
2.1.1. Con người tự do.
Con ngƣời bao giờ cũng là một thực thể vƣơn đến tự do. Lịch sử loài ngƣời đã chứng
minh rằng, đối với con ngƣời "tự do" là hai tiếng thiêng liêng, là niềm ƣớc mơ và khát khao
của biết bao kiếp ngƣời phải sống trong gông cùm, xiềng xích nô lệ. Trong cuộc đấu tranh vì
tự do, con ngƣời chƣa bao giờ chùn bƣớc trƣớc khó khăn, thậm chí trƣớc cái chết. Lý tƣởng
tự do bao giờ cũng là mục đích hy sinh cao quý nhất của những thế hệ nối tiếp nhau trong
lịch sử. Bởi con ngƣời sinh ra có quyền đòi hỏi cao nhất là: quyền đƣợc sống, quyền đƣợc tự
do, quyền đƣợc mƣu cầu hạnh phúc. Đó chính là những chân lý không ai có thể chối cãi
đƣợc. Điều này đƣợc ghi trong bản tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ, 1791 của Pháp và của
dân tộc Việt Nam do chính Hồ Chí Minh viết và đọc tại quảng trƣờng Ba Đình, Hà Nội 1945.
Đối với Hồ Chí Minh, trong tất cả những trang đời của Ngƣời, chúng ta đều gặp khát
vọng tự do ấy, có lẽ đó là khát vọng lớn nhất, nó không chỉ dừng lại ở mức độ tình cảm mà đã
trở thành lý tƣởng thiêng liêng: "Không có gì quý hơn độc lập tự do", đó là lẽ sống đẹp đẽ
vẫy gọi Ngƣời suốt đời phấn đấu tìm kiếm và hy vọng. Song cái cao quý nhất trong con
ngƣời Hồ Chí Minh là ở chỗ: trong suốt cuộc đời của Ngƣời cái khát vọng tự do mà cả đời
Ngƣời theo đuổi là một nhu cầu thực tế bức bách. Trƣớc hết không phải chỉ để cho riêng cá
nhân mình mà Ngƣời dành điều ấy cho dân tộc và cho nhân loại. Cố thủ tƣớng Phạm Văn
Đồng có nhận xét: Hồ Chí Minh là hiện thân của độc lập, tự do hạnh phúc. Ngƣời đã từng
nói những câu nói làm rung động hàng triệu con tim, không phải chỉ ở hôm qua, hôm nay mà
sẽ mãi là ở cả ngày mai, bởi nó sâu sắc, nó cao quý đến xúc động lòng ngƣời: "Tự do cho
đồng bào tôi độc lập cho tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những
điều tôi hiểu", hay "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được
hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do,
60
đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" [91; 37]; những điều tâm huyết
ấy là những điều Hồ Chí Minh đã sống và cống hiến cả cuộc đời mình và cơ sở xuất phát
những điều ấy có nguyên nhân sâu xa là chủ nghĩa yêu nƣớc, chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam
và sự bôn ba khắp bốn biển năm châu trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Ngƣời.
Ngƣời sinh ra lúc nƣớc mất nhà tan, Ngƣời lớn lên đã nhìn thấy tất cả những nỗi bất
công, bất hạnh mà dân tộc mình phải gánh chịu. Ngƣời bôn ba khắp bốn biển năm châu và
nhận ra một chân lý: ở đâu những ngƣời nô lệ cũng đều bị đau khổ; còn đối với chính bản
thân mình, Ngƣời đã từng làm thuê, đã từng chịu đói rách khổ cực, đã từng bị tù đày, bị hành
hạ, bị bóc lột rất thậm tệ; vì lẽ đó hơn ai hết, Hồ Chí Minh là con ngƣời thấu hiểu một cách
trọn vẹn và sâu sắc nỗi đắng cay, niềm hạnh phúc của hai chữ "tự do". Đối với Hồ Chí Minh
chân lý "không có gì quý hơn độc lập tự do" mang một hàm nghĩa sâu sắc, đó là một hằng số
không đổi trong lẽ sống của cuộc đời mình. Điều ấy đƣợc minh chứng bằng chính cả cuộc đời
của Hồ Chí Minh. Ở Hồ Chí Minh, khái niệm tự do không phải là một khái niệm trừu tƣợng,
mà là một nhu cầu cụ thể và bức bách: Tự do - đồng nghĩa với quyền con ngƣời, quyền đƣợc
sống trong độc lập và hạnh phúc của mỗi dân tộc và cả nhân loại. Với Hồ Chí Minh tự do cho
dân tộc là lý tƣởng chính trị và đạo đức cao nhất của Ngƣời. Khái niệm tự do với hàm nghĩa
độc lập, hạnh phúc của dân tộc và của mỗi ngƣời không loại trừ mà còn mở rộng cho dân
chủ, dân quyền, cho sự giải phóng cá nhân. Trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh tự do không chỉ là
một phạm trù triết học, tƣ tƣởng, mà còn là một yêu cầu đạo đức: tội ác lớn nhất là chống lại
tự do của con ngƣời; hành vi đạo đức cao đẹp nhất là chiến đấu cho tự do của dân tộc, tự do
của mỗi ngƣời và tự do của nhân loại.
61
Tất cả những điều ấy đều dội vào thơ, soi sáng hình tƣợng con ngƣời trong thơ; vì
vậy, cảm thức về "tự do", khát vọng về "tự do" là tần số cao nhất xuất hiện trong những bài
thơ tứ tuyệt của nhà thơ Hồ Chí Minh.
2.1.1.1. Đó là con ngƣời với nỗi niềm khát khao tự do cháy bỏng:
1. Nỗi niềm khát khao tự do ở hình tƣợng con ngƣời trong những bài thơ tứ tuyệt của
Hồ Chí Minh thể hiện ở góc độ một con ngƣời đau khổ vì mất tự do. Tình cảm ấy đa dạng tập
trung chủ yếu ở những bài thơ tứ tuyệt trong tập "Nhật ký trong tù".
Trƣớc hết đó là ý thức về sự mất tự do: ở trong tập "Nhật ký trong tù", ý thức về sự
mất tự do luôn là một ý thức thƣờng trực của ngƣời tù Hồ Chí Minh. Nhà thơ đã hai lần trực
tiếp nói đến điều ấy một cách rất cụ thể và sâu sắc.
Lần thứ nhất ở bài Cảnh binh khiêng lợn cùng đi I và II chỉ thông qua một câu chuyện
nghe có vẻ rất bình thƣờng, nhƣng lại đề cập đến một vấn đề rất lớn của cuộc sống đó là ý
thức về sự tự do:
Cảnh sĩ đảm trƣ đồng lộ tẩu
Trƣ do nhân đảm, ngã nhân khiên;
Nhân nhi phản tiện ƣ trƣ tử,
Nhân vị, nhân vô tự chủ quyền!
(Khiêng lợn, lính đi cùng một lối;
Ta thì ngƣời dắt lợn ngƣời khiêng
Con ngƣời coi rẻ hơn con lợn.
Chỉ tại ngƣời không có chủ quyền!)
Hai câu thơ đầu, nhà thơ mƣợn hai hình ảnh đối lập nhau: một bên là "con vật" đƣợc
ngƣời "khiêng" với một bên là thân phận "con ngƣời", nhƣng lại bị ngƣời "dắt" hành động ấy
dẫn đến một sự hoán đổi vị trí giữa con ngƣời và con vật - rõ ràng con ngƣời bị coi rẻ hơn
con vật. Cách so sánh này là cơ
62
sở để nhà thơ đi đến kết luận mà không ai có thể phủ nhận đƣợc đó là: "chỉ tại con người
không có chủ quyền". Nhƣ vậy, trong tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh con ngƣời chỉ thật sự đƣợc
xem là ngƣời, khi con ngƣời có đƣợc "quyền làm chủ" bản thân, làm chủ cuộc sống xã hội
của mình. Vì vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, một con ngƣời sống ở trên cõi đời này
không có gì đau khổ bằng phải mất đi sự tự do của mình:
Thế thƣợng thiên tân hòa vạn khổ,
Mạc nhƣ thất khƣớc tự do quyền!
(Trên đời nghìn vạn điều cay đắng,
Không gì cay đắng bằng mất quyền tự do!)
Chỉ có hai câu thơ, nhà thơ đã đúc kết nên một chân lý của cuộc sống rằng: đối với
con ngƣời nỗi đắng cay lớn nhất của cuộc đời là mất quyền tự do. Sự đúc kết chân lý ấy xuất
phát từ chính cuộc đời của Hồ Chí Minh - một con ngƣời đã từng đi khắp bốn biển năm châu,
từng chịu đựng, từng chứng kiến và thấu hiểu biết bao nỗi đắng cay của những kiếp đời, kiếp
ngƣời nô lệ bị mất tự do trên "cõi" đời. Vì thế, lời thơ nhƣ một tiếng "thốt" cất lên từ cõi lòng
sâu thẳm, nó nhƣ nói cạn đƣợc nỗi đau của tất cả những ai đã từng sống, hay đang còn phải
sống trong cảnh gông cùm xiềng xích nô lệ. Những câu thơ còn lại của bài thơ "Cảnh bỉnh
đảm trư đồng hành II" là những nỗi thống khổ mà con ngƣời bị mất tự do phải gánh chịu:
Nhất ngôn, nhất động bất tự chủ,
Nhƣ ngƣu, nhƣ mã, nhậm nhân khiên.
(Mỗi lời nói, mỗi hành động đều không đƣợc tự chủ,
Mặc cho ngƣời dắt nhƣ trâu nhƣ ngựa)
Nói về nỗi đau khổ vì mất tự do của con ngƣời, có lẽ không có cách nói nào hùng hồn
hơn cách nói của bài thơ "Cảnh binh khiêng lợn cùng đi I và II" của nhà thơ Hồ Chí Minh.
63
Lần thứ hai nhà thơ Hồ Chí Minh cũng đề cập trực tiếp đến nỗi đau bị mất tự do của
con ngƣời, nhƣng lại khác hẳn với cách nói lần thứ nhất. Nếu trong bài thơ Cảnh binh khiêng
lợn cùng đi I và II, ngôn từ và giọng điệu của nhà thơ khi nói về nỗi đau thiên về phạm trù cái
"bi", khiến ngƣời đọc cảm nhận đƣợc cả những giọt nƣớc mắt đau khổ, căm phẫn rơi trên
những câu thơ thì đến bài "Hạn chế" sắc thái biểu cảm của những câu thơ lại mang giọng điệu
của "hài":
Một hữu tự do chân thống khổ
Xuất cung dã thị nhân chế tài
(Không có tự do thật khốn khổ
đến chuyện đi tiêu cũng bị ngƣời hạn chế)
Quả là văn chƣơng trong thiên hạ xƣa nay chƣa ai dám đƣa việc "xuất cung" vào
trong thơ ca, vậy mà Hồ Chí Minh lại đƣa nó vào thơ một cách hết sức tự nhiên. Hành động
ấy, tuy làm cho một số ngƣời đọc có thói quen thƣởng thức văn chƣơng hoa lệ bị một chút
ngỡ ngàng, song cũng không tìm đƣợc lý do để phủ nhận bởi, nó đạt đến hết mức của cái
đúng và cái thật. Đối với con ngƣời, sự mất tự do của thể xác kia cũng là một nỗi thống khổ
ghê gớm. Ở đây, Hồ Chí Minh muốn đề cập đến cái nhu cầu tối thiểu nhất mang tính nhân
bản của con ngƣời để khẳng định rằng: ý thức về nỗi đau bị mất tự do luôn thấm sâu vào mọi
ngóc ngách của cuộc sông con ngƣời - từ thể xác đến tinh thần. Đó là cái nhìn của sự thấu
hiểu và cảm thông sâu sắc đối với con ngƣời. Khái niệm tự do ở đây không còn là một khái
niệm trừu tƣợng mà đã chuyển hóa thành những nhu cầu hết sức cụ thể - tự do trƣớc hết bắt
đầu bằng việc xác định cái tính nhân bản của một cá thể ngƣời.
Chính vì những điều phân tích trên, khi nói đến nỗi đau khổ vì mất tự do của hình
tƣợng con ngƣời trong những trang thơ nhật ký của Hồ Chí Minh, chúng ta không thể không
nói đến nỗi đau của cảnh tù đày khắc nghiệt: Phải
64
sống khác nhân loại, sống trong hoàn cảnh bi kịch "Ngục trung hại bệnh chân tân khổ"
(Trong tù mắc bệnh càng cay đắng - "Ốm nặng"), phải chịu cảnh đọa đày bị giải đi qua 13
nhà ngục ở Quảng Tây, phải cuốc bộ 53 cây số một ngày "áo mũ ướt đẫm, dép tả tơi"; rồi
phải chịu cảnh sống phi nhân loại đến nỗi: cơm không no, áo không thay, đói rét, rách rƣới,
tóc bạc, răng rụng... làm cho phần xác của ngƣời tù Hồ Chí Minh hết sức tiều tụy. Đây là cái
lẽ hết sức thƣờng tình của cảnh lao tù mà bất cứ ai rơi vào hoàn cảnh ấy cũng phải gánh chịu.
Bên cạnh nỗi đau thể xác, Hồ Chí Minh còn phải chịu một nỗi đau vì nhân phẩm bị xúc
phạm. sống trong tù Hồ Chí Minh mang nặng tâm trạng bị hàm oan, bị tình nghi là "Hán
gian", bị tống vào nhà lao, bị sỉ nhục... làm cho Ngƣời đau đớn mà than rằng: "Túc vinh
khước sử dư mông nhục''' (Phố Túc Vinh mà để ta mang nhục) những nỗi đau vừa kể trên chỉ
là những nỗi đau riêng của bản thân ngƣời tù Hồ Chí Minh - một thứ tình cảm rất ngƣời - rất
trần thế.
Sống trong hoàn cảnh tù ngục Hồ Chí Minh còn có một nỗi đau lớn hơn, sâu hơn luôn
làm nhức nhối tâm can của Ngƣời đó là "Nỗi đau vì non sông nước Việt". Đây cũng chính là
nhu cầu thực tế và tất yếu đối với Hồ Chí Minh bởi lẽ, bản thân Hồ Chí Minh là ngƣời lãnh tụ
cách mạng, Ngƣời đang gánh trên vai mình trọng trách lớn lao của dân tộc thế mà "trời xanh
cố ý hãm anh hùng" thì quả là một tấn bi kịch đau đớn. Nhất là khi nghe tin "Hoàn cầu bốc
lửa rực trời xanh" và "Việt Nam có biến động" thì nỗi khát khao tự do lại trào dâng, trở thành
nỗi xót xa cho hoàn cảnh của mình.
Khả liên dƣ tố tù trung khách,
Vị đắc cung thân thƣớng chiến trƣờng
(Xót mình vẫn là khách trong tù,
Chƣa đƣợc đích thân ra nơi chiến trƣờng).
(Việt Nam có báo động)
65
Vì thế, thân ở trong lao tù, nhƣng lòng Ngƣời luôn ngày đêm hƣớng về đất nƣớc:
Tổ quốc chung niên vô tín tức
Cố hƣơng mỗi nhật vọng hồi âm
(Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng
Tin tức bên nhà bữa bữa trông)
(Tức cảnh)
Nỗi khắc khoải lo lắng nhớ mong khôn nguôi ấy đã trở thành mộng tƣởng trong tâm
tƣ của Ngƣời:
Nhất canh nhị canh hƣu tam canh.
Triều chuyển bồi hồi thụy bất thành,
Tứ ngũ canh thì tài hợp nhãn,
Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh.
(Một canh hai canh lại ba canh
Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành
Canh bốn canh năm vừa chợp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh.)
(Không ngủ đƣợc)
Những tình cảm nói trên giúp chúng ta hiểu thêm một cách sâu sắc nỗi đau xót vì tiếc
thời gian của ngƣời tù Hồ Chí Minh thể hiện trong rất nhiều bài thơ tứ tuyệt ở tập "Nhật ký
trong tù":
Thƣơng thiên hữu ý tỏa anh hùng
Bát nguyệt tiêu ma cốc trất trung
(Trời xanh cố ý hãm anh hùng
Cùm xích tiêu ma tám tháng ròng)
(Tiếc ngày giờ)
Thiên tân vạn khổ phi vô hạn,
66
Cửu nhật ngô nhân đáo Liễu Châu;
Hồi cố bách dƣ thiên ác mộng,
Tỉnh lai diện thƣợng đới nhan sầu
(Muôn cay nghìn đắng đâu vô hạn
Mùng chín ta vừa đến Liễu Châu
Ngoảnh lại hơn trăm ngày ác mộng
Tỉnh ra trên mặt vẫn vƣơng sầu)
(Đến Liễu Châu)
Cùng với nỗi xót xa thời gian là sự tù túng vì ngƣời tù Hồ Chí Minh liên tục bị giải đi
hết nhà lao này đến nhà lao khác - một cuộc hành trình suốt 18 tỉnh lỵ của Trung Quốc và 13
nhà ngục trong vòng một năm trời cứ:
Loan loan khúc khúc giải;
Đồ diên ngã hành trình
Bất bình!
(Giải đi quanh quanh quẹo quẹo
Kéo dài cả hành trình của ta
Bực mình!)
(Giải đi Vũ Minh)
Và ngƣời tù Hồ Chí Minh đau khổ vì điều ấy:
Không không khổ liễu tứ thập thiên,
Tứ thập thiên khổ bất thăng nghiên (ngôn);
Hiện tại hựu yếu giải phản Liễu,
Chân thị linh nhân muộn hƣu phiền.
(Cực khổ không đâu mất bốn mƣơi ngày rồi,
Bốn mƣơi ngày khổ không nói xiết;
Nay lại giải trở về Liễu Châu,
Thực khiến cho ngƣời ta bực bội lại buồn phiền)
67
(? !)
Đến nỗi phải thốt lên:
Bất tri giải đáo kỷ thời hƣu
(Không biết giải đến bao giờ mới thôi?).
(?)
Hai bài thơ trên có tiêu đề chỉ là những dấu "? !" và "?", đó phải chăng là dấu hiệu của
một sự bất bình đến không thể nói bằng lời, vì ngƣời tù đã uống cạn nỗi đau của sự hành hạ
cả thể xác lẫn tinh thần:
Khổ dƣợc bôi tƣơng can cánh khổ,
Nan quan, mạt bộ bội gian nan;
(Chén thuốc đắng, lúc gần cạn càng đắng,
Cửa ải khó, đến chặng cuối càng khó khăn;
(Giam lâu không đƣợc chuyển)
Và thế rồi, hàng loạt những câu hỏi tu từ xuất hiện:
Hà cố trƣờng lƣu ngã thử gian?
Cớ sao giữ mãi ta ở chốn này?)
(Giam lâu không đƣợc chuyển)
Thí vấn dƣ sở phạm hà tội?
Tội tại vị dân tộc tân trung!
(Phạm tội gì đây? Ta tự hỏi
Tội trung với nƣớc, với dân à?)
(Đến cục chính trị chiến khu IV)
Ở những bài thơ trên, cái cách nhà thơ sử dụng các dấu câu nhƣ "?!", "?"... làm tiêu đề
cho một số bài thơ tứ tuyệt, và cả những câu hỏi tu từ đƣợc liên tiếp đặt ra trong những câu
thơ là một dụng ý nghệ thuật, nó biểu thị một trạng thái tâm lý bị dồn nét đến cực độ. Có lẽ,
bao nhiêu căm giận vì sự bất công phi lý của chế độ nhà tù đối với tù nhân; bao nhiêu nỗi khổ
đau vất vả
68
mà ngƣời tù Hồ Chí Minh đã phải gánh chịu dƣờng nhƣ đều đã dồn nén cả vào đây. Song cái
lớn nhất để đẩy tâm trạng của ngƣời tù Hồ Chí Minh lên đến đỉnh điểm đó chính là sự khao
khát đƣợc tự do, bởi theo qui luật tâm lý khi con ngƣời càng bị tù túng bao nhiêu thì lại càng
khát khao tự do bấy nhiêu. Tình cảm ấy biến thành nỗi chờ mong khắc khoải khôn nguôi sau
cánh cửa nặng nề: "Bất tri hà nhật xuất lao lung?" (Chẳng biết ngày nào thoát khỏi lao tù? -
"Tiếc ngày giờ"). Câu hỏi tu từ ấy đã đeo đẳng trong tâm trí của ngƣời tù Hồ Chí Minh suốt
thời gian Ngƣời bị cầm tù trên đất Trung Quốc. Nỗi niềm khát khao tự do bức bách đến nỗi
dƣờng nhƣ ngƣời tù không còn quan tâm đến bất cứ điều gì mà "Chỉ quản tù lung hà thời
khai" (Chỉ cần biết cửa tù ngày nào mở - Cảm thu I). Tâm trạng đau khổ vì khát khao tự do
của ngƣời tù Hồ Chí Minh còn đƣợc thể hiện trong cách ứng xử với hoàn cảnh nhƣ : "Bất đắc
tự do thưởng thu nguyệt" (Không đƣợc tự do mà ngắm trăng thu), thì "Tâm tùy thu nguyệt
cộng du du" (Lòng theo cùng ánh trăng thu vời vợi - 'Trung thu"); thậm chí khát vọng tự do
kia chỉ còn biết hƣớng đến sự biểu cảm một không gian mơ ƣớc "Tòng lung môn vọng tự do
thiên" (Trông qua cửa ngục ngắm trời tự do - "Không ngủ đƣợc"); hay nhiều khi nó trở thành
mộng tƣởng: "Mộng kiến thừa long thiên thƣợng khứ" (Mơ thấy cƣỡi rồng bay lên trời - "Quá
trƣa"); đôi khi ngƣời tù nhƣ muốn giữ lấy một khoảnh khắc ngắn ngủi của không gian tự do
để đƣợc hít thở cái không khí tự do trong giây lát: "Nhị điểm khai lung hoán không khí; nhân
nhân hướng khán tự do thiên" (Hai giờ, mở cửa ngục để thay đổi không khí; mọi ngƣời
ngƣởng cổ nhìn trời tự do - "Buổi chiều")... nỗi niềm khát khao tự do đƣợc bộc lộ qua những
câu thơ trên, thể hiện một tình cảm vô cùng chính đáng của con ngƣời. Bởi, còn gì giản dị
hơn khi ngƣời tù khao khát tự do, đó là cái tất yếu. Ngƣời xƣa từng có câu: "Nhất nhật tù
thiên thu tại ngoại" (Một ngày tù nghìn thu ở ngoài - "Bốn tháng"), và Hồ Chí Minh cũng
nhƣ những tù nhân khác, cũng
69
bộc lộ những trạng thái, tâm lý, cảm xúc, trăn trở rất riêng tƣ, rất đời thƣờng về hai chữ tự do.
Thế nhƣng, đây là cái đời thƣờng của một vĩ nhân. Vì thế, sau bao nhiêu những khổ đau hành
hạ thể xác lẫn tinh thần mà tù ngục vẫn không đủ sức để làm "tha hóa" đi những giá trị của
con ngƣời. Vậy nên, cái phần hồn của ngƣời tù Hồ Chí Minh vẫn sáng, nếu không nhƣ vậy
thì làm sao có thể "hoa lệ mà thành thơ" để "đáng khóc mà ta cứ hát tràn" đƣợc! Phải chăng,
chính vì những nỗi khổ đau kia trong tù ngục lại càng làm sống dậy một nghị lực phi thƣờng,
một ý chí sắt đá trong ngƣời chiến sĩ Hồ Chí Minh -ngƣời đang đấu tranh cho tự do, cho chân
lý của cuộc đời. Vì thế, giọt nƣớc mắt của ngƣời tù Hồ Chí Minh trong những dòng nhật ký
không chỉ có nỗi đau vì bản thân phải sống trong cảnh lao lung tù tội, mà còn có cả nỗi đau vì
nghĩ đến đất nƣớc, nghĩ đến dân tộc. Giọt nƣớc mắt ấy, tuy là những giọt nƣớc mắt đau khổ,
nhƣng đó không phải là giọt nƣớc mắt bi lụy, thất vọng, chán chƣờng, mà đó là giọt nƣớc của
sự chấp nhận, sự vƣợt quá.
Nhƣ vậy, hình tƣợng con ngƣời với nỗi niềm khát khao tự do trong những bài thơ tứ
tuyệt ở tập "Nhật ký trong tù" đƣợc hiện lên ở nhiều góc độ, nhiều màu sắc rất đa dạng. Có
thể thấy rằng: "Ở đây không chỉ có con người cách mạng Hồ Chí Minh ẩn hiện trong thơ với
giấc mộng "ngôi sao năm cánh", hay nỗi phiền muộn được xông ra giữa chiến trường mà còn
có một con người Hồ Chí Minh thứ hai, một cá thể người tù Hồ Chí Minh như mọi người
khác, cũng bộc lộ những cảm xúc, trăn trở rất riêng tư về hai chữ "tự do" theo cái cách
người tù Hồ Chí Minh" [91; 36]. Trong con ngƣời ấy, sự khát khao tự do cho cái cá nhân và
cái cộng đồng hoàn toàn không có gì mâu thuẫn với nhau, mà chỉ bổ sung cho nhau là cho
hàm nghĩa "tự do" trong thơ thêm phần sống thực hơn.
2.1.1.2. Đó là con ngƣời tự do trong mọi hoàn cảnh:
70
1. Ở những bài thơ tứ tuyệt trong tập "Nhật ký trong tù", bên cạnh con ngƣời đau khổ
vì khao khát tự do, chúng ta còn thấy một con ngƣời tự do ngay trong hoàn cảnh tù ngục. Bởi,
dù có đau khổ đến tột cùng nhƣng con ngƣời ấy không hề bi lụy, không đánh mất lòng tin vào
cuộc sống. Ngƣợc lại, trong hoàn cảnh bất đắc dĩ ấy, ngƣời tù Hồ Chí Minh lại tìm thấy tự do
ở một phía khác, cái phía mà dây trói nhà tù không sao trói đƣợc. Đây mới là cảm thức tự do
đích thực và chính yếu của "Nhật ký trong tù". Cảm thức ấy đã xây dựng nên hình tƣợng con
ngƣời tự do cao đẹp trong những bài thơ nhật ký. Vì thế, không phải ngẫu nhiên ngay từ bài
thơ đầu tiên đƣợc gọi là "bài đề từ " của tập "Nhật ký trong tù" nhà thơ đã viết: "Thân thể tại
ngục trung; Tinh thần tại ngục ngoại" (Thân thể ở trong lao; tinh thần ở ngoài lao); hai câu
thơ nhƣ đôi mắt của cơ thể toàn bộ tập nhật ký để cho chúng ta nhìn vào thế giới tâm hồn của
ngƣời nghệ sĩ - chiến sĩ vĩ đại Hồ Chí Minh.
Bài thơ viết theo thể ngũ ngôn luật thi, chỉ vẻn vẹn có 20 âm tiết, nhƣng đã chứa đựng
một nghị lực, một ý chí kiên cƣờng của ngƣời tù Hồ Chí Minh trƣớc hoàn cảnh. Trong bài
thơ, ngƣời tù Hồ Chí Minh đã tự tách mình ra thành hai nửa, một bên là thể xác, một bên là
tinh thần để khẳng định một chân lý: nhà tù chỉ có thể giam cầm đƣợc thể xác của con ngƣời,
nhƣng không có thể giam cầm tinh thần của con ngƣời. Điều này làm chúng ta nhớ tới câu
nói của Hegel: Tự do trong các quan hệ vật chất chỉ là lĩnh vực của sự tự do tương đối; con
người muốn vươn đến sự tự do tuyệt đối, thì phải vươn đến sự tự do tinh thần. Có ngƣời khi
phân tích bài thơ này đã gọi: đó là "cuộc vượt ngục tinh thần". Theo chúng tôi, nếu chỉ căn cứ
vào nội dung và hình thức của bài thơ một cách khách quan, chúng ta rất thú vị nhận ra rằng:
lĩnh vực tinh thần của ngƣời tù Hồ Chí Minh trong bài thơ chƣa hề bị giam cầm. Bằng nghệ
thuật lặp cấu trúc, hai câu thơ đầu đã khiến cho ngƣời đọc nhận thấy sự phân đôi cơ thể của
con ngƣời thành hai nửa, một cách hết sức tự nhiên và hoàn
71
toàn hợp lý. Giới từ "tại" là giới từ xác định địa điểm ở giữa hai câu thơ đã tạo ra một thế
khẳng định rằng: tuy thân thể đã bị giam cầm trong lao tù, nhƣng tinh thần vẫn ở bên ngoài
nhà lao. Điều này mới nghe tƣởng chừng phi lý, nhƣng cái lý của nó lại nằm ở chỗ, với một
con ngƣời nhƣ Hồ Chí Minh nhà tù chỉ có thể giam cầm đƣợc con ngƣời thể lý chứ không thể
giam đƣợc con ngƣời tâm ý. Vì thế, Hồ Chí Minh là một thực thể tự do ngay trong hoàn cảnh
tù ngục. Bởi một lẽ, tinh thần của ngƣời tù Hồ Chí Minh không hề bị hoàn cảnh quyết định,
mà ngƣợc lại nó có sức mạnh chi phối hoàn cảnh. Những câu thơ trong bài "Đề từ" dẫn ta đến
với thế giới tinh thần của con ngƣời trong cả tập thơ, ở đó nó khẳng định một chân lý: tinh
thần vĩ đại hơn mọi ngục tù ở trên thế gian. Vậy nên, tinh thần đã đƣa ngƣời tù vƣợt khỏi bốn
bức tƣờng ngăn cách của nhà ngục để đến với tự do. Đây là một sự nhận thức hết sức biện
chứng của những chiến sĩ cách mạng trong cuộc sống cũng nhƣ trong lao tù, đó là cái nhìn rất
độc đáo, nó không chỉ mang vẻ đẹp của trí tuệ mà còn là vẻ đẹp của một nhân sinh quan.
Ở bài "Lộ thượng" (Trên đƣờng đi) nhà thơ viết:
Hĩnh tí tuy nhiên bị khẩn bang
Mãn sơn điểu ngữ dữ hoa hƣờng;
Tự do lãm thƣởng vô nhân cấm
Lại thử chinh đồ giảm tịch lƣơng.
(Mặc dù chân tay bị trói chặt
Nhƣng đầy núi chim hót và hoa thơm
Tự do thƣởng ngoạn không ai ngăn cấm đƣợc
Nhờ thế đƣờng xa cũng bớt quanh hiu.)
(Trên đƣờng)
Đọc bài "Lộ Thƣợng" của Hồ Chí Minh, cái để lại ấn tƣợng sâu sắc trong lòng ngƣời
đọc không phải là cảnh non xanh, nƣớc biết, hoa thơm, cỏ
72
đẹp, mà là hoàn cảnh thƣởng thức cái đẹp của ngƣời tù. Thật đáng ngạc nhiên trƣớc một con
ngƣời đang bị bắt giải đi trong hoàn cảnh cẳng chân, cổ tay bị trói chặt... vậy mà con ngƣời
vẫn có thể cảm nhận đƣợc cái đẹp của thiên nhiên bằng tất cả sự tinh tế của các giác quan:
mắt vẫn nhìn thấy đầy núi chim và hoa, tai vẫn nghe đƣợc tiếng chim hót, mũi vẫn ngửi thấy
mùi thơm của núi rừng... tất cả những điều ấy đã nói lên rằng: tuy ngƣời tù bị tƣớc mất cái
quyền tự do của thể xác, nhƣng cái quyền tự do tinh thần thì quả là không ai có thể cƣớp mất
đƣợc. Câu thơ "Tự do lãm thưởng vô nhân cấm" là một tuyên ngôn của ngƣời tù Hồ Chí
Minh trong hoàn cảnh. Đó chỉ có thể giải thích bằng sức mạnh ý chí và nghị lực của một con
ngƣời mà tình yêu cuộc sống chính là một phép màu làm nên sức mạnh vô song, giúp con
ngƣời vƣợt qua tất cả. Chúng ta lại gặp lại điều này trong bài thơ "Vọng nguyệt" (Ngắm
trăng), cũng từ cảm thức về tình yêu cuộc sống mãnh liệt nên trong cảnh tù ngục chúng ta lại
gặp một con ngƣời tự do:
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
Đối thử lƣơng tiêu nại nhƣợc hà?
Nhân hƣớng song tiền khán minh nguyệt
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
(Trong tù không rƣợu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?
Ngƣời hƣớng ra trƣớc song ngắm trăng sáng
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ)
(Ngắm trăng)
Ý tứ của bài thơ trên mằm trong một câu thơ: "đối thử lƣơng tiêu nại nhƣợc hà?", câu
hỏi tu từ "nại nhƣợc hà?" thật sự có một khả năng lột tả đƣợc cái sâu lắng trong tâm hồn
ngƣời tù Hồ Chí Minh, giúp chúng ta hiểu ra cái chất tố làm nên sức mạnh vƣợt qua mọi hoàn
cảnh ở ngƣời tù Hồ Chí Minh đó
73
chính là tình yêu dành cho cái đẹp ở trên đời. Chính tình yêu ấy đã biến một tù nhân thành
một thi nhân và đã làm cho không gian tù ngục biến mất chỉ còn lại không gian của sự tự do.
Cũng từ cảm thức ấy, chúng ta đến với bài thơ "Nhập Tình Tây huyện ngục" (Vào nhà
lao huyện Tĩnh Tây),
Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm
Thiên thƣợng tình vân trục vũ vân
Tình vũ phù vân phi khứ liễu
Ngục trung lƣu trú tự do nhân
(Trong lao tù cũ đón tù mới
Trên trời mây tạnh đuổi mây mƣa
Tạnh mƣa mây nổi đã bay đi
Trong tù còn lại ngƣời tự do)
Mở đầu bài thơ tác giả đƣa ngƣời đọc vào nhà tù để chứng kiến những cảnh sinh hoạt
của tù nhân, nhƣng đến kết thúc bài thơ thì ta không còn thấy tù nhân nào cả mà chỉ thấy một
"tự do nhân". Đó chính là cái cách vƣợt ngục tinh thần của nhân vật trữ tình Hồ Chí Minh. Ở
bài thơ này, tác giả đã xây dựng một kết cấu hết sức đặc biệt: Câu thơ mở đầu và câu thơ cuối
cùng đều chứa đựng hình ảnh con ngƣời, còn hai câu thơ giữa là cảnh sinh hoạt của thiên
nhiên. Việc tạo ra hai hình ảnh đối lập của hai cảnh sinh hoạt "tù ngục" và "trời tự do" đã mở
ra một trƣờng liên tƣởng rộng lớn và khá thú vị làm cho ý tƣởng bài thơ thật vô cùng. Một
câu hỏi đƣợc đặt ra, tại sao vào tù thì sung sƣớng gì mà con ngƣời lại "nghênh" (đón rƣớc
nhau); còn ở bầu trời tự do kia là một không gian mênh mông vô cùng, vô tận thì những đám
mây tù nhân của bầu trời lại "trục" (xua đuổi nhau). Đó phải chăng là nghịch lý của cuộc đời
và là nghịch lý của vũ trụ. Song nói gì thì nói, tất cả rồi cũng đều "phi khứ liễu" chỉ còn lại
duy nhất một con ngƣời ngồi với tự do của mình; vậy nên chỉ
74
có "tự do nhân" mà không có "tự do vân", bởi cảm thức về sự tự do chỉ có đƣợc ở con ngƣời.
Ở bài "Ngọ hậu" (Quá trƣa) nhà thơ cũng viết:
Tự do thiên thƣợng thần tiên khách
Tri phủ lung trung dã hữu tiên
(Tự do tiên khách trên trời
Biết chăng trong ngục có ngƣời khách tiên)
Vƣợt lên trên hoàn cảnh thực tại của tù ngục, ngƣời tù Hồ Chí Minh đã khẳng định
mình là "khách tự do", nhƣng ngƣời khách tự do ấy lại mang tinh thần của một "thần tiên
khách". Nói nhƣ vậy không có nghĩa, ngƣời tù Hồ Chí Minh đang dùng phép "thắng lợi tinh
thần" để đƣa mình thoát khỏi thực tại và cảm thức thần tiên ấy nhƣ là một ảo tƣởng xa rời
thực tế - hình ảnh "tự do" và "tiên" là một cái gì đó bên ngoài cuộc đời? Hoàn toàn không
phải thế, mà ngƣợc lại, ở đây khát vọng tự do của ngƣời tù Hồ Chí Minh lại rất thực tế bởi
tâm hồn thần tiên ấy chính là ý chí, là nghị lực, là bản lĩnh của ngƣời tù Hồ Chí Minh trong
cuộc đấu tranh với hoàn cảnh nhằm khắc phục tình thế, làm chủ tình thế. Có lẽ vì vậy nên
trong rất nhiều bài thơ tứ tuyệt ở tập "Nhật ký trong tù", ý tứ của những câu thơ, những bài
thơ đều thấm đƣợm cảm hứng tự do với một tinh thần hƣớng về sự sống, ánh sáng và tƣơng
lai. Nó giống nhƣ sự "phá chấp" triệt để trong tƣ tƣởng của nhà Phật"; và rất nhiều bài thơ tứ
tuyệt của Hồ Chí Minh đã thể hiện đƣợc cái tƣ chất kỳ diệu ấy:
Bài "Dạ túc Long Tuyền" (Đêm ngủ ở Long Tuyền)
Bạch thiên "song mã" bất đình đề.
Dạ vãn thƣờng thƣờng "ngũ vị kê";
Sắt lãnh thừa cơ, lai giáp kích
Cách lân hân thính hiểu oanh đề.
(Suốt ngày "đôi ngựa" không ngừng vó
75
Đêm đến, lại từng nếm món "gà năm vị";
Rệp và rét thừa cơ xông vào tập kích,
Mừng nghe xóm bên, chim oanh hót báo sáng.)
Bài "Sơ đáo thiên bảo ngục" (Mới đến nhà lao Thiên Bảo)
Nhật hành ngũ thập tam công lý,
Thấp tận y quan, phá tận hài,
Triệt dạ hƣu vô an thụy xứ,
Xí khanh thƣợng tọa đãi triêu lai.
Cả hai bài thơ mỗi bài chỉ có bốn câu nhƣng đến ba câu, thậm chí là ba câu rƣỡi là nói
về cái cảnh ngộ bi thảm của con ngƣời, toàn là yếu tố cƣỡng chế, câu thúc con ngƣời. Ây vậy
mà, đến câu kết ngƣời tù Hồ Chí Minh đã vƣợt qua đƣợc cảnh ngộ và tìm đến tự do.
Từ những bài thơ vừa đƣợc phân tích ở trên, chúng ta thấy rằng Hồ Chí Minh luôn là
một thực thể vƣơn đến tự do. Trong lao tù bị mất tự do thì Ngƣời lại đi tìm cho mình một sự
tự do khác, một sự tự do bên ngoài xiềng xích ngục tù. Đó chính là sự tự chủ - tự điều khiển
lấy bản thân mình. Điều ấy thể hiện một ý chí vững chắc, một nghị lực phi thƣờng của ngƣời
chiến sĩ cách mạng trƣớc hoàn cảnh.
Tinh thần tự do nói trên chính là sự thể hiện "phương thức ứng xử" của Hồ Chí Minh
trong mọi hoàn cảnh. Sau này, dù không bị giam cầm trong lao tù, nhƣng sống trong cuộc đời
với tất cả sự bận rộn của một vị lãnh tụ, chúng ta vẫn thấy một Hồ Chí Minh thật sự tự do
trong phong thái ung dung tự tại. Bởi lẽ, Ngƣời luôn sống trong niềm tin vào chính mình:
Non xa xa nƣớc xa xa...
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê Nin kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà.
76
(Pắc Bó hùng vĩ)
Ngƣời tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng:
Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẩn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.
(Tức cảnh Pắc Bó)
Ngƣời luôn sống trong sự bình dị, không gợi chút kiêu sa, điều ấy thể hiện ở hai bài
thơ cùng mang tên "Vô đề":
Quân cơ quốc kế thƣơng đàm liễu,
Huề dũng giai đồng quán thái viên.
(Việc quân việc nƣớc đã bàn xong
Xách thùng cùng trẻ ra vƣờn tƣới rau)
(Vô đề)
Quân cơ quốc kế thƣơng đàm liễu
Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên
(Việc quân việc nƣớc bàn xong
Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm)
(Vô đề)
Đọc những bài thơ trên, chúng ta thấy bên cạnh những công việc mang trọng trách lớn
lao với dân tộc, là những sinh hoạt hết sức bình thƣờng của cuộc sống một con ngƣời bình dị
nhƣ bao con ngƣời khác, không hề có một sự ngăn cách nào. Đấy là phẩm chất thanh cao
trong con ngƣời lão thực Hồ Chí Minh.
Sự tự do của Hồ Chí Minh là xuất phát từ tấm lòng thanh tĩnh - không ham muốn cao
sang mà chỉ tìm đến với cái đời thƣờng trần thế :
Ăn khỏe ngủ ngon làm việc khỏe
77
Trần mà nhƣ thế kém chi tiên
(Sáu mƣơi tuổi)
Tam niên bất ngạt tửu xuy yên
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên
( Thuốc kiêng rƣợu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên sƣớng tuyệt trần)
(Vô đề)
Tự cung thanh đạm tinh thần sảng
Tố sự thung dung nhật nguyệt trƣờng
(Sống thanh đạm tinh thần sản khoái
Làm việc thung dung ngày tháng dài).
(Sáu mƣơi ba tuổi)
Nhƣ vậy, hình tƣợng con ngƣời trong những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là một
con ngƣời tự do trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Cái ý thức tự do ấy thật sâu sắc, chúng
ta có thể hiểu khái niệm tự do dùng theo nghĩa của Hêghen là "khẳng định về mình", hay theo
nghĩa của Ăngghen là "cái tất yếu được nhận thức", hoặc hiểu theo nghĩa thông thƣờng: tự do
là."tự chủ" -tất cả đều rất đúng với một "CON NGƢỜI" nhƣ Hồ Chí Minh. Đó phải chăng là
giá trị nhân cách của con ngƣời ở nền văn hóa tƣơng lai của nhân loại.
2.1.2. Con người dạt dào một tình yêu nhân loại.
Hồ Chí Minh, ngƣời anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, ngƣời
con ƣu tú của dân tộc Việt Nam, Ngƣời là điểm hội tụ của lƣơng tri nhân loại, một nhà nhân
văn chân chính. Cả cuộc đời Ngƣời là cuộc đấu tranh không ngơi nghỉ cho hạnh phúc của con
ngƣời. Vì vậy, trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, bên cạnh hình tƣợng một con ngƣời tự
do, chúng ta còn gặp đƣợc một con ngƣời luôn dạt dào tình yêu thiết tha yêu cuộc sống và dạt
dào một niềm tin yêu sâu sắc đối với con ngƣời. Trong thơ tứ tuyệt của
78
Hồ Chí Minh chủ yếu có hai loại ngƣời đƣợc nhà thơ đề cập đến đó là ngƣời tốt và những
ngƣời khốn khổ. Họ là những con ngƣời luôn đƣợc nhà thơ dành trọn một niềm tin yêu và sự
cảm thông, sẻ chia sâu sắc. Đây chính là cảm thức ngƣời - nhân loại đích thực trong thơ tứ
tuyệt Hồ Chí Minh.
1. Ở tập "Nhật ký trong tù" có 129 bài thơ tứ tuyệt thì đã có hơn 30 bài thơ nói về tình
cảm sâu nặng ấy. Con ngƣời trong thơ bộc lộ một niềm tin yêu con ngƣời bằng một tình cảm
sâu sắc, mãnh liệt và dƣờng nhƣ nó không bao giờ thay đổi dù trong bất cứ hoàn cảnh nào -
ngay cả khi bản thân con ngƣời ấy bị con ngƣời hành hạ, bị đối xử oan nghiệt, thậm chí "phải
làm khách quý tại nhà giam", hay cuộc sống phải chứng kiến bao điều nghịch lý: "Núi cao
gặp hổ mà vô sự; đường phẳng gặp người bị tống lao" do lòng ngƣời tráo trở gây ra... nhƣng
vẫn không làm cho ngƣời tù Hồ Chí Minh choáng váng để mất hết lòng tin vào con ngƣời.
Ngƣợc lại, Ngƣời luôn trầm tĩnh phân tích mọi sự kiện từ đó Ngƣời đã rút ra đƣợc chân lý:
vốn "Đường đời hiểm trở" con ngƣời muốn đi qua thật không phải dễ:
Xử thế nguyên lai phi dị dị
Nhi kim xử thế cánh nan nan
(Xử thế từ xƣa không phải dễ
Mà nay, xử thế khó khăn hơn)
(Đƣờng đời hiểm trở III)
Nhận thức đƣợc cái tất yếu trong sự phức tạp của cuộc sống, Hồ Chí Minh càng tin
vào những giá trị đích thực của con ngƣời với hai chữ "CON NGƯỜI" thiêng liêng đƣợc viết
hoa đúng nghĩa. Đó là niềm tin không bao giờ phai nhạt trong tâm thức văn hóa Hồ Chí
Minh. Điều này đƣợc thể hiện rất tinh tế trong nhiều bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời.
Hẳn ai đã từng đọc bài thơ Khoa viên họ Trần tới thăm trong tập "Nhật ký trong tù"
thì hiểu rất rõ điều ấy:
79
Nhất niên chí kiến binh hòa cảnh
Kim nhật khan kiến nho nhã nhân
Nhã nhân sử ngã tâm hƣng phấn
Ngã phát hắc phản lƣỡng tam phân.
(Lính tráng tuần canh nhìn nhẩn mặt
Hôm nay mới gặp đƣợc văn nhân
Ngƣời trông nho nhã ai không thích
Mái tóc ta xanh lại mấy phần).
Bài thơ "Khoa viên họ Trần tới thăm" theo thứ tự sáng tác trong tập "Nhật ký trong
tù" là bài số 127. Nhƣ vậy, sau ngần ấy đắng cay, oan trái, đau khổ dằn vặt, cả thể xác lẫn
tinh thần, có những lúc tƣởng chừng nhƣ tuyệt vọng: "Thuốc đắng cạn liều càng thấy đắng;
gừng gay cuối chặng lại thêm cay", ngƣời tù Hồ Chí Minh vẫn giữ trọn vẹn niềm tin vào
phẩm chất tốt đẹp ở con ngƣời. Vì thế, chỉ cần nhìn thấy một "nho nhã nhân" là ngƣời tù Hồ
Chí Minh đã quên đi tất cả bao đắng cay phiền não để viết lên một ý thơ bất tử về giá trị con
ngƣời. Câu thơ "Mái tóc ta xanh lại mấy phần"chứa đựng một giá trị văn hóa rất lớn - bởi
phải có một tấm lòng yêu đời và tin yêu con ngƣời sâu sắc nhƣ thế nào thì mới có thể cảm
nhận đƣợc rằng: chỉ khi con ngƣời đƣợc sống với cái đẹp của con ngƣời thì cuộc đời sẽ là bất
diệt. Cái cảm thức "con ngƣời" trong bài thơ này quả là kỳ diệu, nó vừa là cái rất "bình
thƣờng" nhƣng cũng là cái rất đỗi "phi thƣờng" trong nhân cách văn hóa của vĩ nhân Hồ Chí
Minh.
Tin yêu con ngƣời, niềm tin ấy rất cận nhân tình nên trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí
Minh nó đƣợc bộc lộ một cách hiện thực nhƣ: giữa cái xấu và cái ác, Ngƣời vẫn không lẫn
lộn để tìm ra cái thiện và cái đẹp. Trong tù, tuy bị hành hạ, bị đối xử oan khốc... nhƣng Ngƣời
vẫn phân định rõ ràng đâu là ngƣời tốt kẻ xấu. Trên đời có "Ban trƣởng nhà lao chuyên đánh
bạc - giải
80
ngƣời canh trƣởng kiếm ăn quanh" (Lai Tân) thì cũng có "Trƣởng ban họ Mạc ngƣời hào
hiệp - Dốc túi mua cơm cứu phạm nhân"; có kẻ nghiệt ngã: "Chốc chốc lại nghe ban trƣởng
quát - không rềnh ràng nữa phải vào ngay" thì cũng có ngƣời từ tâm: "Làm việc đúng thay
Lƣu Sở Trƣờng - Ai ai cũng bảo bác công bình". Chính vì thế, trong tập "Nhật ký trong tù" có
nhiều bài thơ viết về những tình cảm rõ ràng rạch ròi ấy nhƣ các bài: Tiên sinh họ Quách;
Trƣởng ban họ Mạc; Sở trƣờng Long An họ Lƣu; Đƣợc ƣu đãi; Khoa trƣởng họ Ngũ; Khoa
viên họ Hoàng; Khoa viên họ Trần tới thăm; Chủ nhiệm họ Hầu ân tặng một bộ sách; Kết
luận, v.v... những con ngƣời ấy, tuy họ là cai ngục, ban trƣởng, lính canh... nhƣng trong họ
vẫn còn lại những "nét ngƣời"; "chất ngƣời" nên họ vẫn đƣợc nhìn nhận là những ngƣời tốt.
Cách đánh giá này ở Hồ Chí Minh là xuất phát từ cái nhìn rất nhân đạo, cùng với một thái độ
thật sự cầu thị, lòng tôn trọng lẽ công bằng đối với con ngƣời. Do đó, nhà thơ đã vội ghi lại
tất cả những điều tốt đẹp ấy ở đủ mọi hạng ngƣời với niềm vui, vì tin vào bản chất tốt đẹp của
con ngƣời: "Thế thượng do tồn giá chủng nhân" (Trên đời không bao giờ hết con ngƣời có
lòng tốt). Và điều ấy nhƣ ánh lửa hồng ấm áp sƣởi ấm tâm hồn ngƣời tù Hồ Chí Minh trong
đêm đông tù ngục. Đó cũng chính là một biểu hiện rất sâu sắc trong cảm thức nhân loại ở Hồ
Chí Minh.
Vì tin yêu con ngƣời, nên trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh ta luôn thấy một con ngƣời
sống chan hòa với mọi ngƣời bằng một sự thƣơng cảm sâu sắc. Ở tù con ngƣời ấy gọi những
ngƣời tù là "nạn hữu" tức là những ngƣời bạn chung hoạn nạn: Nạn hữu Mạc Mỗ; Nạn hữu
nguyên chủ nhiệm L; Nhất cá đổ phạm ngạnh liễu; Thế nạn hữu mẩn tả báo cáo... Ngƣời vẫn
biết rằng tù nhân trong tù thì có đủ các hạng ngƣời khác nhau, có ngƣời là tệ nạn xã hội: cờ
bạc, rƣợu chè, trộm cắp; có ngƣời từng làm quan nhƣng sai phạm bị bắt; có kẻ giàu, ngƣời
nghèo... những khi bị rơi vào hoàn cảnh tù đày họ đều đƣợc
81
Ngƣời cảm thông sâu sắc. Bởi xuất phát từ hoàn cảnh tù đày của mình, Hồ Chí Minh luôn
thấu hiểu, cảm thông, xót xa cho thân phận tù đày của những ngƣời tù. Điều này chỉ có thể
đƣợc giải thích rằng trong chiều sâu tâm hồn của con ngƣời Hồ Chí Minh ánh sáng của tình
thƣơng yêu những con ngƣời cùng khổ lúc nào cũng là điểm sáng nhất. Ngƣời từng viết:
"Cùng hội cùng thuyền nên phải giúp", những tình cảm ấy rất "cận nhân tình". Bao trùm lên
tất cả là xuất phát từ tấm lòng nhân ái, đức khoan dung lƣợng thứ cho đời -chứng tỏ Hồ Chí
Minh sống không bao giờ tách rời nhân loại. Phẩm chất ấy ở Hồ Chí Minh là sự tích lũy của
quá tình lịch sử văn hóa dân tộc và nhân loại. Mạnh Tử có câu: Nhân chi sơ tánh bản thiện
(Tam tự kinh); Mác thì nhận xét rằng: Thời thơ ấu của xã hội loài người phát triển đến mức
đẹp đẽ nhất và không bao giờ tái diễn. Và chính Mác đã từng trả lời con gái bằng một câu
châm ngôn rất nổi tiếng của La Mã cổ đại rằng: Không có cái gì thuộc về con người mà xa lạ
đối với tôi; Rútxô nhà tƣ tƣởng lớn của thế kỷ ánh sáng cũng đã từng tuyên bố: Đi ra từ tạo
hóa tất cả đều tốt lành. Tiếp tục tƣ tƣởng ấy, Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm của mình
qua bài thơ:
Thụy thì đô tƣợng thuần lƣơng hán
Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân
Thiện ác nguyên lai vô định tính
Đa do giáo dục đích nguyên nhân
(Ngủ thì ai cũng nhƣ lƣơng thiện
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền
Hiền dữ nào đâu phải tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên)
(Nửa đêm)
Mặc dù tƣ tƣởng của bài thơ có nhiều điểm gặp gỡ với các bậc tiền nhân, nhƣng so
với các bậc tiền nhân, Hồ Chí Minh có cái nhìn hết sức đầy đủ
82
cụ thể và biện chứng. Ngƣời rất khách quan khi nhìn nhận sự phức tạp của xã hội loài ngƣời.
Đúng là lúc ngã là thời gian con ngƣời không hoạt động xã hội, trở về trạng thái "nhân chi
sơ", nhƣng khi thức dậy có ngƣời thiện, kẻ ác, điều đó xảy ra là do quá trình hoạt động sống
của con ngƣời có khi vì mƣu cầu sinh tồn đôi khi đã dẫn con ngƣời đến sự tha hóa. Đó là
điều hoàn toàn sự thật. Nhƣng cái mà nhà thơ muốn nói ở đây là: con ngƣời tính vốn thiện,
nên nhân tố giáo dục có vai trò quyết định việc hình thành nhân cách của con ngƣời. Đây là
cái nhìn mang tính nhân đạo sâu sắc, rõ ràng Ngƣời không chỉ tin vào cái "tính bản thiện"
của con ngƣời mà còn thấy đƣợc khả năng hoán cải của con ngƣời; tức là tin vào bản chất của
con ngƣời, đã là con ngƣời thì bao giờ cũng vƣơn tới cột trụ vĩnh hằng của mình - đó là cái
chân, cái thiện và cái mỹ. Trong cuộc sống thƣờng nhật, Hồ Chí Minh luôn có một đức tin
chính mình và tin ở ngƣời khác bằng cả tấm lòng thƣơng cảm, thấu hiểu sâu sắc. Vì thế, có cả
một nhân loại đau khổ, bi thống diễu hành trong tập "Nhật ký trong tù" của Hồ Chí Minh.
Tin yêu con ngƣời, cảm thức ấy trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh chan chứa một tinh
thần nhân đạo, rất mực yêu thƣơng trân trọng con ngƣời là nét nổi bật trong những bài thơ tứ
tuyệt của Hồ Chí Minh. Nhân loại trong thơ Ngƣời là những con ngƣời đau khổ, những con
ngƣời không may mắn. dƣới ngòi bút của Ngƣời, cả một nhân loại lam lũ, đói khát, rách rƣới,
thuộc những tầng lớp dƣới đáy của xã hội Trung Quốc thời ấy hiện ra. số phận của họ phải
chịu đựng bao nhiêu đắng cay, bao oan trái khổ đau; thậm chí họ phải chết lặng lẽ nhƣ một
chiếc lá rơi. Con ngƣời trong thơ khóc thƣơng cho những ngƣời bạc mệnh: một ngƣời tù cờ
bạc bị chết cứng, một ngƣời tù cờ bạc bị chết đói, hai bài thơ đọc lên thấy nƣớc mắt còn rơi:
Tha thân chỉ hữu cốt bao bì
Thống khổ cơ hàn bất khả chi.
83
Tạc dạ tha nhƣng thụy ngã trắc
Kim niêu tha dĩ cửu tuyền quy
(Thân hình anh ấy chỉ còn da bọc xƣơng,
Đau khổ, đói rét anh không chịu nổi.
Đêm qua còn nằm ngủ cạnh tôi,
Sớm nay anh đã về nơi chín suối).
(Một ngƣời tù cờ bạc bị chết cứng)
Di, Tề chẳng ăn gạo nhà Chu
Tù bạc chẳng ăn cháo nhà nƣớc
Di, Tề chết đó ngàn Thú Dƣơng
Tù bạc chết đói trong tù ngục.
(Bá Di, Thúc Tề không ăn thóc nhà Chu,
Ngƣời tù cờ bạc không ăn cháo nhà nƣớc,
Bá Di, Thúc Tề chết đói trên núi Thủ Dƣơng,
Ngƣời tù cờ bạc chết đói trong lao nhà nƣớc.
(Lại một ngƣời nữa)
Ngƣời tù Hồ Chí Minh rất bất bình vì sự tàn bạo của chế độ nhà tù Tƣởng Giới Thạch
đối với con ngƣời. Ngƣời xót xa cho thân phận một ngƣời tù lâm trọng bệnh. Tình cảm xót
thƣơng ấy xuất phát từ nỗi thống khổ của chính bản thân mình. Hơn ai hết ngƣời tù Hồ Chí
Minh từng thấu hiểu: "Ở tù mắc bệnh càng cay đắng" vì thế, trƣớc hoàn cảnh của ngƣời bạn
tù đáng thƣơng tội nghiệp, Ngƣời vô cùng thƣơng cảm:
Vô đoan bình địa khởi ba đào,
Tống nhĩ Dƣơng Đào nhập tọa lao,
Thành hỏa trì ngƣ kham hao thán.
Nhi kim nhĩ hƣu khải thành lao
(Bỗng dƣng đất bằng nổi sóng gió,
84
Đƣa anh Dƣơng Đào vào ngồi nhà lao,.
Thành cháy vạ lây, đáng than vãn vô hạn,
Đến nay anh ho mãi đã thành lao).
(Dƣơng Đào ốm nặng)
Ngƣời cảm thông cho nỗi bất hạnh của một ngƣời tù vƣợt ngục không thành bằng nỗi
xót xa vô hạn:
Nhất tâm chỉ tƣởng tự do cảnh,
Biền mệnh khiêu xa tha tẩu khai
Khả tích tha bào bán lý hử
Hựu bị cảnh binh tróc hồi lai
(Một lòng chỉ mong tƣởng cảnh tự do
Liều mạng nhảy tàu, anh ấy định trốn.
Đáng tiếc anh ấy mới chạy đƣợc chừng nửa dặm.
Lại bị cảnh binh bắt giải về).
(Anh ấy muốn trốn)
Tin yêu con ngƣời phẩm chất ấy ở ngƣời tù Hồ Chí Minh còn là khả năng thấu hiểu
đƣợc những tâm tƣ tình cảm riêng của con ngƣời. Ngƣời xót thƣơng cho thân phận của ngƣời
phụ nữ mất chồng, bài thơ "Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng" nghe thật là não nuột. Ở đây,
Hồ Chí Minh đã ghi lại nỗi đau mất mát của con ngƣời bằng chính sự lắng nghe không phải
chỉ bằng thính giác mà bằng cả trái tim yêu thƣơng nên lời thơ nghe thật là thống thiết:
Ô hô phu quân hề phu quân
Hà cố phu quân cự khí trần
Sử thiếp tòng kim hà xứ kiến
Thập phần tam hợp ý đầu nhân
(Than ôi! Chàng hỡi chàng!
Cớ sao chàng phải lìa bỏ cõi đời
85
Khiến cho thiếp từ nay biết tìm đâu thấy
Ngƣời bạn đời mƣời phần tâm đầu ý hợp!)
Hay cảnh vợ chồng phải chia cách, nhớ thƣơng khắc khoải đêm ngày, chỉ cần qua
tiếng sáo bỗng vút lên ở nơi tù ngục là Ngƣời đã thấu hiểu đƣợc nỗi lòng của họ. Ở bài Ngƣời
"Ngƣời bạn tù thổi sáo", nhà thơ đã chia sẻ với họ nỗi tâm tình:
Ngục trung hốt thính tƣ hƣơng khúc
Thanh chuyển thê lƣơng điệu chuyển sầu
Thiên lý quan hà vô hạn cảm
Khuê nhân cánh thƣớng nhất tằng lâu
(Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hƣơng
Âm thanh trở nên thê lƣơng, tình điệu trở nên sầu muộn;
Nƣớc non xa cách nghìn trùng, cảm thƣơng vô hạn
Ngƣời chốn phòng khuê lại bƣớc lên một tầng lầu).
Thấu hiểu đƣợc những tình cảm nói trên là bởi con ngƣời Hồ Chí Minh có khả năng
sống đƣợc đời sống của nhiều ngƣời, và bởi vì tấm lòng của Ngƣời luôn rộng mở, thấu suốt
và cảm thông với nhiều lẽ nhân tình. Đó là những tình cảm cao đẹp luôn sáng lên trong tâm
hồn nghệ sĩ - chiến sĩ vĩ đại Hồ Chí Minh.
Tin yêu con ngƣời, cảm thức ấy trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, còn đƣợc thể
hiện ở những nỗi bất bình của mình trƣớc những điều bất công vô nhân đạo đối với con ngƣời
mà xã hội Trung Quốc thời ấy mang lại. Ngƣời thƣơng cảm và xót xa cho hoàn cảnh của một
em bé vừa tròn nửa tuổi đã phải theo mẹ đến ở "nhà pha" vì cha em không chịu đi lính quốc
gia:
Oa...! Oa...! Oa....!
Gia phạ đƣơng binh cứu quốc gia
Sở dĩ ngã niên tài bán tuế
86
Yếu đáo ngục trung căn trƣớc ma.
(Oa...! oa...! oa...!
Cha sợ vào lính cứu nƣớc nhà
Cho nên em vừa đƣợc nửa tuổi
Đã phải vào tù cùng mẹ)
(Em bé trong ngục Tân Dƣơng).
Vào đầu bài thơ bằng phƣơng pháp để cho sự vật tự nói lên bản chất, nhà thơ đã ghi
âm lại nguyên sơ tiếng khóc oa...oa...oa... non nớt của một đứa trẻ tội nghiệp mới đƣợc sinh
ra đã phải vào chốn lao tù. Câu thơ làm xúc động và gây một nỗi bất bình rất to lớn trong
lòng ngƣời đọc trƣớc một bằng cớ xác thực, sống động hơn bất kỳ lời lẽ nào. Đây là một lời
tố cáo hùng hồn nhất cái chế độ độc tài với bao điều phi lý và vô nhân đạo. Ở đây dụng ý của
nhà thơ rất rõ - cái dụng ý ấy còn lớn hơn khi ta kịp nhận ra ở hình thức câu thơ. Đó là việc
tác giả đã dùng cách nghi âm tiếng khóc bằng tiếng Việt trong khi nhà thơ lại viết tiếp những
câu còn lại bằng tiếng Hán. Thế mà ý thơ mạch thơ vẫn rất tự nhiên. Đúng là hạ bút nhƣ có
thần. Ở đây, cái tinh tế của dụng ý nhà thơ là nằm ở chỗ: phải chăng sự bất hạnh của em bé
Trung Quốc ấy cũng chính là sự bất hạnh của bao em bé Việt Nam và cũng có thể là bao
nhiêu trẻ em bất hạnh khác nữa trên thế giới... có lẽ vì thế, Ngƣời đã không ngần ngại sử
dụng tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) trong một bài thơ chữ Hán, với một tình cảm vừa đau đớn, vừa
căm giận trƣớc những điều phi lý vô nhân đạo đối với trẻ thơ. Chính cái cảm thức nhân loại
đƣợc toát lên một cách tự nhiên nhƣ thế, nên nó đã vƣợt qua mọi khuôn phép văn chƣơng.
Ở một góc độ khác con ngƣời trong thơ vừa thƣơng cho số phận những tù nhân, lại
vừa căm phẫn trƣớc những bất công của nhà tù. Trong nhà tù luôn tồn tại sự phân biệt rất
khắc nghiệt "Tù cứng ngày ngày no rượu thịt", còn những ngƣời tù cờ bạc nghèo không có
ngƣời thăm nuôi "đói kêu cha, kêu
87
mẹ" và phải chịu cảnh đói khát "nước mắt, bọt mồm tuôn". Ngoài ra còn những điều phi lý
khác diễn ra nhƣ "cơm bữa" trong tù: Ví dụ cái cách "trấn lột" tù nhân của bọn cai tù - ngồi
tù mà phải nộp tiền vào nhà giam nếu ai không có tiền nộp thì phải chịu bao sự hành hạ: "Nhĩ
tương bộ bộ bỉnh ma phiền" (mỗi bƣớc anh đi sẽ gặp chuyện rắc rối - "Tiền vào nhà lao"). Để
vơ vét cho đầy túi tham bọn cai ngục dùng quyền lực tự đặt ra các quy định trong tù để hà
hiếp ngƣời tù, chúng biến nhà tù thành "quán trọ " để thu lợi:
Chiếu lệ sơ lai chƣ nạn hữu
Tất tu thụy tại xi khanh biên;
Giả nhƣ nhĩ tƣởng hảo hảo thụy
Nhĩ yếu đa hoa kỷ khối tiền
(Theo lệ các bạn tù mới đến,
Ắt phải ngủ cạnh hố xí;
Nếu anh muốn đƣợc ngủ ngon giấc,
Anh phải tốn thêm mấy đồng bạc.)
Tác giả lấy tên bài thơ là "Lữ quán" (Quán trọ), mới chỉ với cái tiêu đề đặt trong
ngoặc kép ấy, cộng với cái cách gọi nhà tù là "Quán trọ" thôi, nhà thơ đã đặt ngƣời đọc vào
một tình huống có vấn đề - nhà tù gì mà lại coi là quán trọ? Một chút gì dí dỏm, nhƣng cũng
đầy mỉa mai đối với chế độ nhà tù. Ngƣời tố cáo thói tham tiền vô đạo của bọn cai tù chèn ép
tù nhân; Ngƣời thƣơng cho những ngƣời tù mới tới phải chịu cảnh khốn khổ. Vì thế, ở bài thơ
"Đăng quang phí" (Tiền đèn) ngƣời tù Hồ Chí Minh đã tỏ thái độ xem thƣờng cái gọi là
"Quang minh chính đại" của xã hội ấy qua bài thơ:
Nhập lung yếu nạp đăng quang phí
Quế tệ nhân nhân các lục nguyên
Bộ nhập mông lung u ám địa
Quang minh trị đắc lục nguyên tiền
88
(Vào tù phải nộp khoảng tiền đèn
Tiền Quảng Tây mỗi ngƣời sáu đồng
Bƣớc vào nơi tối tăm mù mịt,
Sự quang minh đáng giá có sáu đồng)
Câu thơ thứ nhất và câu thơ thứ hai của bài thơ mang ý nghĩa tả thực: vào tù phải nộp
tiền đèn với cái giá tiền Quảng Tây phải mất sáu đồng. Cách nói trực tiếp đi thẳng vào vấn đề
không cần quanh co ấy, chứng tỏ hành động vào tù phải nộp tiền đèn là chuyện tất nhiên
không có gì đáng ngạc nhiên. Hai câu thơ cuối không đơn giản vì nó chứa đựng hai loại hình
tƣợng, hai lớp nghĩa chồng lên nhau. Một loại hình tƣợng tả thực: nhà giam là nơi thiếu ánh
sáng cho nên tù nhân phải nộp tiền đèn, và để mua đƣợc ánh sáng cần phải có sáu đồng, đó là
điều có thật. Thế nhƣng, lồng bên trong cái hình tƣợng cụ thể ấy, có một loại hình tƣợng nữa
là hình tƣợng "ký hiệu". Tính chất ký hiệu là ở chỗ, nó thay thế một cái gì đó và chính sự thay
thế đó có tích chất qui ƣớc - nghĩa là mang một ý nghĩa cố định quen thuộc phổ biến với
nhiều ngƣời. Ngƣời tù phải bƣớc chân vào chỗ "mông lung". Từ "mông lung" bản thân từ
Hán - Việt này đã mang nghĩa tiếng Việt là "mù mịt, tối tăm" đây vừa là nghĩa tả thực, vừa là
ký hiệu vì nó còn thay thế cho một cách nói "ám chỉ" cái xã hội đen tối không có điều gì hứa
hẹn tốt đẹp sáng sủa cho con ngƣời. Vì thế, ở câu thơ cuối tác giả mới viết "Quang Minh trị
đắc lục nguyên tiền", cũng vẫn với ý đồ vừa tả thực, lại vừa ám chỉ - trong tù ánh sáng rất cần
nên tù nhân muốn có ánh sáng thì phải bỏ ra sáu đồng để mua. Thế nhƣng ý đồ của nhà thơ
không dừng lại ở đấy, vì từ "quang minh" có nghĩa tiếng Việt là "ánh sáng" nhƣng nó còn có
dụng ý ám chỉ là "quang minh chính đại" tức là ánh sáng của thần công lý, của luật pháp và
lƣơng tâm. Vậy mà thật trớ trêu thay, nó chỉ đáng giá có sáu đồng bạc. Cái hay của bài thơ là
nằm ở chỗ đó. Với dụng ý nghệ thuật, nhà thơ đã cố tình tạo ra sự đối lập để
89
lột tả vấn đề bằng cách chơi chữ rất thâm sâu: Từ "mông lung" đối lập với từ "quang minh"
hai hình ảnh tƣơng phản này đều mang nghĩa ám chỉ nhiều hơn nghĩa thực; vì thế sự tƣơng
phản càng tạo ra tính chất nghịch lý, và chính sự nghịch lý ấy mang hàm nghĩa mỉa mai,
châm biếm cái xã hội thối nát bất công chà đạp con ngƣời, tuy nhẹ nhàng mà lại rất sâu cay. ở
đây con ngƣời trong thơ hiện ra với tƣ thế chủ động, mƣợn chuyện sinh hoạt trong tù để nói
chuyện xã hội, một xã hội không xem công lý ra gì nên con ngƣời phải chịu khổ sở, thiệt thòi.
Nhà thơ đã rất khôi hài tố cáo cái bất công của nhà tù bằng một hình thức nghệ thuật thật tinh
tế. Vì thế, dƣờng nhƣ tất cả những cái tàn ác bất công của xã hội Trung Hoa dân quốc thời ấy,
không phải là cái hữu hạn mà nó phổ biến đến mức thành quy luật tất yếu, đến nỗi nó trở
thành cái "lẽ thường tình" trong thiên hạ. Phản đối cái "lẽ thường tình" phi lý ấy, là một thái
độ mỉa mai cƣời cợt của nhà thơ. Điều ấy còn thể hiện rất tinh tế ở bài "Lai Tân":
Giam phòng ban trƣởng thiên thiên đổ,
Cảnh trƣởng tham thôn giải phạm tiền,
Huyện trƣởng thiêu đăng biện công sự,
Lai Tân y cựu thái bình thiên.
(Ban trƣởng nhà giam ngày ngày đánh bạc
Canh trƣởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải
Huyện trƣởng chong đèn làm việc công
Lai tân vẫn thái bình nhƣ xƣa).
"Lai Tân" là một bài thơ khá đặc biệt, sự đặc biệt của bài thơ là ở chỗ: đây là bài thơ
tả thực về một hiện trạng phức tạp của xã hội Trung Hoa dân quốc thời Tƣởng Giới Thạnh.
Đọc bài thơ ta nhận thấy, vẫn là những lời tố cáo những kẻ đại diện cho nhà nƣớc: kẻ vô trách
nhiệm suốt ngày cờ bạc; kẻ ăn hối lộ tống tiền phạm nhân quanh năm... Ngoài thái độ giễu
cợt mỉa mai
90
cái bản chất xấu xa của xã hội; còn có một nỗi đau "nhân tình thế thái" ẩn kín trong bài thơ,
đó là sự lo lắng xót xa cho thân phận những con ngƣời phải sống ƣơng xã hội đáng sợ nhƣ
thế. Nỗi lo lắng ấy đƣợc gửi gắm qua tài sử dụng từ ngữ và giọng điệu của bài thơ. Hầu nhƣ
cái tứ chi phối cả bài thơ này là thái độ ngao ngán cái gọi là "thái bình" giả hiệu sau bao
nhiêu chuyện bê bối trong các chức sắc của nhà cầm quyền, thế mà trời đất Lai Tân vẫn "thái
bình"ư ?! thật là đáng sợ! Mặc dù câu thơ kết thúc không có câu hỏi tu từ đứng ở cuối, song
lại có hàng loạt những câu hỏi không có câu trả lời sẽ đƣợc đặt ra từ phía ngƣời đọc. Đó là cái
cách mà tác giả muốn làm cho các hiện tƣợng mâu thuẫn với nhau và từ trên cơ sở mâu thuẫn
ấy mà lột tả bản chất của vấn đề một cách trọn vẹn.
Có thể nói rằng, qua việc đi vào phân tích một số bài thơ tứ tuyệt trong tập " Nhật ký
trong tù", gần nhƣ bộ mặt thật của xã hội Trung Quốc thời ấy đã đƣợc phơi bày khá là kỹ
lƣỡng và tinh tế. Song chúng tôi thiết nghĩ cái dụng ý của nhà thơ lại không nhằm vào việc tố
cáo cái xã hội Trung Hoa dân quốc, mà trong cái bối cảnh ấy nhà thơ chỉ muốn quan tâm đến
số phận của con người - họ sẽ đi về đâu trong cái xã hội đầy rẫy những bất công, phi lý và
hết sức vô nhân đạo kia! Đó chính là điều làm Hồ Chí Minh ray rứt, đau xót cho những con
ngƣời khốn khổ.
2. Sau này, khi Hồ Chí Minh đã trở thành ngƣời lãnh tụ cao nhất của dân tộc nhƣng
điểm sáng nhất trong những bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời vẫn là một tình yêu sâu sắc đối với
con ngƣời. Ngƣời đến với thiếu nhi, đến với các cụ phụ lão, đến với các anh bộ đội, đến với
các cô gái dân quân du kích... Ngƣời đều có thể làm thơ; và cách bộc lộ tình yếu thƣơng con
ngƣời trong thơ của Hồ Chí Minh lúc nào cũng bắt nguồn từ điều đơn sơ nhất của cuộc đời,
nên nó rất mênh mông và thật ấm áp ân tình:
Áo bạn biếu tôi, tôi biếu chú
91
Chú mang cho ấm cũng nhƣ tôi
(Tặng áo)
Ở bài thơ "Nhớ chiến sĩ" nhà thơ đã bộc lộ một tình cảm lo lắng thƣơng yêu, bằng tấm
lòng của ngƣời thân đối với những ngƣời chiến sĩ ngoài mặt trận:
Canh thâm lộ cấp nhƣ thu vũ
Thần tảo sƣơng nùng tự hải vân
Khoái tống hàn san cấp chiến sĩ
Xuân quang hoa noãn báo tân xuân.
( Đêm khuya mƣa móc rơi lả chả nhƣ mƣa thu.
Sáng sớm, sƣơng ƣớt đẫm nhƣ mây ngoài biển.
Mau gởi áo rét cho chiến sĩ.
Ánh dƣơng âm áp báo sắp vào xuân).
Tóm lại, đến với những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc
một điều rất sâu sắc ở con ngƣời Hồ Chí Minh rằng: "Ở Hồ Chí Minh "nhân tình" và "nhân
tính" đã bao trùm lên tất cả" [100; 178]. Quả là đối với Hồ Chí Minh, không thể có một bức
tƣờng nào ngăn cản Ngƣời đến với đồng loại của mình, với tất cả tình thƣơng yêu, cảm thông
thấu hiểu sâu sắc. Nói bằng ngôn ngữ của nhà Phật thì đó là cái "chân thân" của con ngƣời
đối với cuộc đời, hoặc nói bằng ngôn ngữ của nhà Nho thì đó là cái "chân nhân" của con
ngƣời sống với con ngƣời bằng tấm lòng chân thật; còn nói theo cách nói của triết học ngày
nay thì đó là cách biểu hiện của con ngƣời về sự sống dù trong thơ hay giữa cuộc đời cũng
đều mang những "những quan hệ trong sáng đối với đồng loại" [100; 210]. Đó chính là cái
đẹp đích thực của hình tƣợng con ngƣời trong những bài thơ tứ tuyệt của nghệ sĩ Hồ Chí
Minh.
Cơ sở xuất phát của những tình cảm ấy trong thơ chính là cái biểu hiện của con ngƣời
Hồ Chí Minh ở bên ngoài cuộc đời. Tin yêu con ngƣời, phẩm
92
chất ấy ở Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống của dân tộc Việt Nam - một dân tộc vốn
mang trong mình đức nhân ái và tấm lòng khoan dung cao cả. Đó là tấm lòng cảm thông, chia
xẻ "lá lành đùm lá rách" nhƣ câu ca dao "Bầu ơi thương lấy bí cùng; tuy rằng khác giống
nhưng chung một giàn"; hay "Nhiễu điều phủ lấy giá gương; người chung một nước phải
thương nhau cùng". Đối với Hồ Chí Minh những giá trị trong truyền thống ấy của dân tộc
luôn thấm đƣợm trong tâm hồn, trong phƣơng thức ứng xử của một vị lãnh tụ. Có lần khi nói
về những kẻ lầm đƣờng lạc lối là đồng bào của mình, Ngƣời dùng lời lẽ bao dung đầy tình
thƣơng: "Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp nhau lại ở
nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế
khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận ra rằng
đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc" [40; 139, 140], Ngƣời vẫn
xem họ là một bộ phận của dân tộc; thậm chí đối với kẻ thù đã từng cƣớp nƣớc ta, từng giết
hại đồng bào ta, nhƣng khi chúng bị bại trận, ngƣời Việt Nam đã đặt lên trên oán thù cái tiêu
chí tình người để khoan dung, để lƣợng thứ cho chúng. Ta còn nhớ trong lịch sử vua Trần cởi
áo ngự bào cho Hữu Ty liệm xác tƣớng giặc Toa Đô bị chém đầu; Nguyễn Trãi cấp lƣơng
thực và phƣơng tiện cho quân Minh bại trận về nƣớc. Có lẽ chính vì truyền thống ấy mà trong
một trận đánh quân ta thắng lớn, Hồ Chí Minh đã không tán thành việc dùng chữ "trận thắng
đẹp" trong một bản tin chiến sự thông báo quân ta đã giết đƣợc rất nhiều lính địch. Sở dĩ
Ngƣời không đồng ý vì ở đây tác giả bản tin đã sử dụng không đúng phạm trù "cái đẹp". Từ
những điều vừa phân tích trên, chúng ta nhận thấy, lòng nhân ái và đức khoan dung của dân
tộc Việt Nam đã đƣợc Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy ở một tầm cao mới.
Tóm lại, thơ đƣợc hình thành từ trong những cảm thức của cuộc đời. ơ con ngƣời Hồ
Chí Minh, cảm thức ngƣời - nhân loại đƣợc xem là một chất tố
93
hiển nhiên trong tâm linh của Ngƣời. Ở đây chúng tôi dùng cụm từ "tố chất hiền nhiên" là
hoàn toàn chính xác đối với một con ngƣời nhƣ Hồ Chí Minh, bởi, Hồ chí minh chính là hiện
thân của sự nghiệp đấu tranh vì cuộc sống của con ngƣời.
Chính vì thế, niềm tin yêu con người mà chúng ta cảm nhận đƣợc qua hình tƣợng con
ngƣời trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là vẻ đẹp tinh khiết, kỳ diệu của tâm hồn một chiến sĩ -
nghệ sĩ vĩ đại. Qua đó ta tìm thấy tầm cỡ một con người, một trái tim gần gũi với mọi trái tim.
Đó là một trong những chân lý làm nên sự vĩnh hằng ở vĩ nhân - nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
2.2. Hình tƣợng không gian - thời gian.
Trong tác phẩm nghệ thuật, con ngƣời xuất hiện với tƣ cách là hình tƣợng con ngƣời
và không gian, thời gian đƣợc tạo dựng cũng với tƣ cách là hình tƣợng thời gian, hình tƣợng
không gian. Chính vì thế, nghiên cứu tác phẩm văn học là nghiên cứu sự đan xen của thế giới
hình tƣợng trong tác phẩm.
Trong cuộc sống của con ngƣời khái niệm thời gian và không gian là một phạm trù
triết học khá trừu tƣợng. Vũ trụ là một cái đại toàn thể, một cái hệ thống toàn bị "trong vũ trụ
không có những tế phần tủn mủn, rời rạc, mà chỉ có những hệ thống bao gồm lẫn nhau, chứa
đựng lẫn nhau, có quan hệ ngang dọc, ngay thẳng, quanh co bắt chéo với nhau... ơ trong
lòng cái đại hữu, vô thủy, vô chung, bất tăng, bất giảm, vì vậy mà vạn vật đều là những hệ
thống hữu hạn có lúc khởi thủy có lúc cáo chung, có thêm, có bớt, từ đó mà sinh ra vận động,
cái gọi là vận động, cái gọi là phát triển" [6; 121]. Chính sự vận động và phát triển ấy đã bị
tƣ tƣởng loài ngƣời trừu tƣợng hóa thành thời gian và không gian, nên con ngƣời tin rằng
khái niệm thời gian - không gian là có thật, và nó luôn vận hành theo quy luật tự nhiên. Trên
cơ sở ấy, con
94
ngƣời lập nên những khái niệm danh từ: ngày, đêm, tháng, năm, mùa xuân, mùa hạ, mùa thu,
mùa đông v.v... tất cả gọi là thời gian.
Trong hiện thực thời gian mang tính khách quan, đó là thời gian tuyến tính trôi chảy
một chiều từ quá khứ - hiện tại - tƣơng lai. Nhà vật lý học Stephen.W. Hawking có nói một
câu hết sức tƣợng hình rằng: "Mũi tên của thời gian bao giờ cũng chỉ có một hướng";
Heraclit thì nói: "Không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông" và Khổng Tử cũng ngậm
ngùi mà than rằng "Thệ giả như tư phu''' (cứ chảy mãi vậy thôi...).
Nhƣ vậy theo quan niệm của con ngƣời, không gian cùng với thời gian là cái làm nên
hình thức tồn tại của thế giới vật chất và cũng là hình thức tồn tại của con ngƣời. Con ngƣời
cũng nhƣ vật chất không thể tồn tại ngoài không gian và thời gian.
Đối với tác phẩm nghệ thuật, hình tƣợng con ngƣời cũng luôn tồn tại trong cái gọi là
thời gian và không gian. Nhƣng thời gian và không gian trong tác phẩm nghệ thuật không
giống nhƣ thời gian - không gian ở bên ngoài cuộc đời - vì nó tồn tại một cách khách quan
nằm ngoài ý muốn của chúng ta; còn thời gian và không gian trong tác phẩm nghệ thuật đƣợc
ngƣời nghệ sĩ tái tạo thông qua quá trình chủ quan hóa của mình, vì thế, nó mang tính chủ
quan. Chính cái tính chủ quan của ngƣời nghệ sĩ đã làm nên cái gọi là thời gian nghệ thuật,
không gian nghệ thuật. Thậm chí, ngay cả khi ngƣời nghệ sĩ sử dụng những chất liệu của thời
gian và không gian theo sự vận hành tự nhiên, thì các chất liệu ấy bao giờ cũng chứa đựng cái
dụng ý nghệ thuật của ngƣời nghệ sĩ. Nhƣ vậy, mỗi tác giả đều có cách biểu hiện thời gian,
không gian trong tác phẩm theo cách riêng của mình. Chính vì lẽ đó, khi đi vào nghiên cứu
tác phẩm nghệ thuật, sẽ rất là thiếu sót nếu chúng ta không đi vào nghiên cứu thời gian nghệ
thuật, không gian nghệ thuật trong tác phẩm bởi nó là nơi biểu hiện "quan niệm về thế giới và
con người, nó như một phương thức chiếm
95
lĩnh thực tại, một hình thức biểu hiện cảm xúc và khái quát tư tưởng thẩm mỹ, để từ đó lý giải
khả năng phản ánh hiện thực hệ thống thơ nhất định" [113; 108].
Trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh thời gian - không gian đƣợc vận hành dƣới cái nhìn
biện chứng của một con ngƣời luôn sống giữa nhân quần đại chúng; một con ngƣời luôn khát
khao cái đẹp, đấu tranh cho cái đẹp và tìm cái đẹp ở ngay cuộc sống trần thế, với tất cả niềm
vui, nỗi buồn, hạnh phúc, đau khổ của con ngƣời bằng xƣơng, bằng thịt. Trong cuộc đấu
tranh ấy, tinh thần luôn hƣớng về sự sống ánh sáng và tƣơng lai là linh hồn chi phối toàn bộ
cảm thức của nhà thơ. Đây chính là nguyên nhân làm nên sự khác biệt giữa hình tƣợng thời
gian - không gian ƣơng những bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, với hình tƣợng thời gian -
không gian trong thơ ca truyền thống.
Có thể thấy rằng, hƣớng vận động của thời gian - không gian trong thơ tứ tuyệt Hồ
Chí Minh là hƣớng thẳng về phía trƣớc; ở phía trƣớc là tƣơng lai đang mở ra, và hiện tại bao
giờ cũng là chiếc cầu nối để đi đến tƣơng lai. Niềm tin vào tƣơng lai chứa đựng trong hình
tƣợng thời gian - không gian ở những câu thơ tứ tuyệt của Ngƣời thƣờng toát lên một vẻ tự
nhiên, khẳng định một chân lý khách quan.
Để làm sáng tỏ những suy nghĩ trên, chúng tôi tạm chia thời gian và không gian thành
hai mảng. Dẫu biết rằng, trong văn chƣơng hay ngay cả trong cuộc sống cũng vậy, con ngƣời
tồn tại trong hai kích thƣớc của không gian - thời gian và chúng luôn có mối tƣơng tác qua lại
với nhau. Thời gian -không gian bao giờ cũng có sự chuyển hóa vào nhau, trong bƣớc chân
không gian, ta nhận biết có bƣớc chân của thời gian trong đó và ngƣợc lại. Vì thế, sự phân
chia ở đây chỉ là tƣơng đối.
2.2.1. Hướng đến sự sống và tương lai - một cái nhìn biện chứng về thời gian.
96
Thời gian trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh đƣợc đo bằng chính sự vận động biến đổi
không ngừng của cuộc sống.
Đọc bài "Chiều hôm" ở trong tập "Nhật ký trong tù" thời gian đƣợc chuyển đổi, đƣợc
thay thế bằng chính sự miêu tả sự kiện, miêu tả cuộc sống:
Vãn xan ngạt liễu nhật tây trầm
Xứ xứ sơn ca dữ nhạc âm
U ám Tĩnh Tây cấm bế thất
Hốt thành mỹ thuật tiểu Hàn Lâm.
(Cơm chiều xong mặt trời đã lặn về phía tây
Nơi nơi rộn tiếng đàn ca cùng âm nhạc
Nhà ngục u ám của huyện Tĩnh Tây
Bỗng thành một viện Hàn lâm nghệ thuật nhỏ.)
(Chiều hôm)
Theo trình tự bài thơ, cảnh lặng lẽ chiều hôm đƣợc mở ra và thay thế bằng âm hƣởng
rạo rực của cuộc sống. Cái cảm hứng ấy sao mà giản dị đến thế, nhƣng trong hoàn cảnh tù
đày nó lại thật đặc biệt. Bởi, thông thƣờng khi bóng chiều đã đổ, màn đêm buông xuống thì
cuộc sống náo động cũng theo đó lắng dần, khép lại một ngày. Cảnh tƣợng ấy dễ sinh ra một
thoáng u buồn, nhất là đối với con ngƣời đang sống trong hoàn cảnh lao tù. Vậy mà, những
tình tiết, sự việc diễn ra trong bài thơ không hề gợi nên một cảm giác u buồn nào mà trái lại
tất cả đều ấm áp mang hơi thở của sự sống rộn rã niềm vui. Tạo ra sự đối lập giữa cảnh tƣợng
khắc nghiệt của hoàn cảnh chứa thời gian đang lụi tàn, với thời gian bất diệt luôn chứa đựng
niềm vui sống của con ngƣời. Đây là cảm hứng chủ đạo của bài thơ "Chiều hôm" và cũng là
nội dung cơ bản của rất nhiều bài thơ tứ tuyệt ở trong và ngoài tập "Nhật ký trong tù".
97
Ví dụ: bài "Tức cảnh Pắc Bó" đƣợc viết trong chiến khu Việt Bắc, ta cũng tìm thấy
cảm hứng ấy:
Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.
Thời gian trong bài thơ diễn ra nhƣ một chu kỳ khép kín, cứ lặp đi, lặp lại đều đều
không thay đổi "sáng ra... tối vào...", ấy thế mà ngƣời đọc không hề thấy có sự nhàm chán
nào; ngƣợc lại, có cái gì đó thật là nhẹ nhàng, thật thoải mái và vô cùng trong sáng, thể hiện
một niềm vui sống, một niềm lạc quan hƣớng đến một tƣơng lai tốt đẹp.
Nhƣ vậy, những cảm xúc thẩm mỹ của nghệ sĩ Hồ Chí Minh đều có cội rễ từ mảnh
đất sinh sôi nảy nở của cuộc sống, điều ấy làm nên những cảm hứng chính yếu, cảm hứng
chủ đạo trong thơ ca Hồ Chí Minh nói chung và thơ tứ tuyệt của Ngƣời nói riêng ở mọi thời
điểm.
Chính vì những lý do trên, nên thời gian trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh không hề có
bóng dáng của những đại lƣợng thời gian vũ trụ nào mà chỉ có thời gian của những "cuộc
sinh hoạt thực tại" với những thời điểm hiện tại. Đó chính là thời gian của cuộc sống trần thế;
thời gian của cuộc đời, của xã hội con ngƣời, nó luôn thiên về hiện tại và hƣớng tới tƣơng lai;
nó mang ý niệm biện chứng về thời gian - tức là luôn ở trong trạng thái vận động phát triển
và nằm trong mối liên hệ tác động qua lại với thời gian trƣớc và sau nó. Điều này khác với
thơ Đƣờng - mảng thơ ca phản ánh hiện thực - thời gian trong mảng thơ này cũng chủ yếu là
thời gian hiện tại nhƣng nó chỉ có tính chất phản ánh, nó chuyên chở tất cả những sự kiện, đó
là những nỗi khổ nhục, những nỗi bi thƣơng của thân phận ngƣời dân đen trong xã hội. Cho
nên, nó thƣờng bế tắc, ít có bóng dáng của thời gian tƣơng lai (cụ thể thời gian trong
98
mảng thơ phản ánh hiện thực của nhà thơ Đỗ Phủ). Còn ở trong "Thơ mới" thời gian hiện tại
hầu nhƣ chỉ tập trung thể hiện thời gian cá nhân của đời ngƣời khép kín, ở đây thời gian hiện
tại và tƣơng lai là một đại lƣợng héo tàn:
Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhƣng lƣợng trời cứ hẹp
(Xuân Diệu)
Trong những bài thơ tứ tuyệt ở tập "Nhật ký trong tù", ta thƣờng thấy sự hiện hữu của
dòng thời gian hiện tại nhƣng nó không phải chỉ chứa đựng các sự kiện mà nó còn chuyên
chở tâm trạng của một con ngƣời đang đấu tranh với hoàn cảnh để hƣớng tới một tƣơng lai
tƣơi sáng.
Sống trong sự dằn vặt vì khát khao tự do, thời gian đã trở thành nhân vật chính đóng
vai trò đƣợc quan tâm hơn hết. Thật không phải vô cớ khi tiếp xúc với những bài thơ nhật ký
ta lại thấy quá nhiều những tiêu đề về thời gian đƣợc nhà thơ nhắc đi, nhắc lại nhiều lần. Có
đến hơn hai chục bài thơ nói về sự vận động của thời gian thƣờng ngày, thời gian thiên nhiên,
với những tiêu đề nhƣ "buổi sớm", "buổi trưa", "quá trưa", "xế chiều", "chiều tối", "hoàng
hôn", "nửa đêm" v.v... thậm chí, ngƣời tù Hồ Chí Minh còn theo dõi rất chặt toàn bộ giờ giấc
của một ngày: buổi sáng: "Tám giờ kẻng gõ ăn cơm trưa", buổi trƣa: "Mội giấc miên man
suốt mấy giờ". Quá trƣa "Hai giờ ngục mở thông hơi", buổi chiều "Cơm xong bóng đã xuống
trầm trầm", lúc hoàng hôn: "Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay"... rồi có những bài thơ ngƣời tù
Hồ Chí Minh ghi lại cả thời gian cụ thể, thời gian chính xác, ngay ở bìa tập thơ Ngƣời đã ghi,
và một số bài nhƣ "Đồng Chính" (2 - 1), "Ngày 11 tháng 11", "Báo động" (12 - 11), "Giải đi
Vũ minh" (18 - 11), "Đến Liễu Châu" (9 - 12) v.v... tất cả những thời điểm, thời gian tự nhiên
ấy đều đƣợc ngƣời tù Hồ Chí Minh
99
chuyển đổi thành thời gian tâm trạng, nó biểu hiện ra trong nhiều hoàn cảnh, nhiều tình
huống, nhiều cách cảm thụ và diễn đạt khác nhau.
Có tâm trạng dõi theo bƣớc chân thời gian đến mức chi tiết.
Nhất canh nhị canh hựu tam canh
Triêu chuyển bồi hồi thụy bất thành
Tứ ngũ canh thời tài hợp nhãn
Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh.
(Canh một... canh hai... lại canh ba
Trằn trọc, băn khoăn, ngủ chẳng đƣợc.
Canh tƣ, canh năm mới chợp mắt,
Mộng hồn cứ quẩn quanh ngôi sao năm cánh.)
(Không ngủ đƣợc)
Và thấy thời gian sao trôi đi chậm quá, nó khắc khoải trƣờn qua những nỗi đau của
ngƣời tù:
Khổ dƣợc bôi tƣơng can cánh khổ
Nan quan mạt bộ bội gian nan
(Thuốc đắng, gần cạn chén càng đắng,
Cửa ải khó, chặng cuối càng khó khăn gấp bội)
(Giam lâu không đƣợc chuyển)
Rồi có tâm trạng rất mâu thuẫn: đối lập với tâm trạng thấy thời gian sao trôi đi chậm
quá là tâm trạng giật mình thản thốt khi thấy thời gian hữu ích cứ vùn vụt trôi đi, nhà thơ bộc
lộ một nỗi niềm tiếc nuối thời gian:
Thiên tân vạn khổ phi vô hạn
Cửu nhật ngô nhân đáo Liễu Châu
Hồi cố bách dƣ thiên ác mộng
Tỉnh lai diện thƣợng đới dƣ sầu
(Nghìn cay muôn đắng đâu phải là vô hạn
100
Ngày mồng chín ta tới Liễu Châu.
Hồi tƣởng hơn một trăm ngày trong cơn ác mộng
Tỉnh ra trên mặt vƣơng chút buồn).
(Đến Liễu Châu)
Và mỗi khi nhìn lại những ngày tháng đã qua, bản thân mình không làm đƣợc gì nhà
thơ lại một lần khắc khoải:
Thƣơng thiên hữu ý tỏa anh hùng
Bát nguyệt tiêu ma cốc trát trung
Xích bích thốn âm chân khả tích.
Bất tri hà nhật xuất lao lung.
(Trời xanh có ý cố ý hãm ngƣời anh hùng,
Tám tháng mỏi mòn trong chốn cùm gông
Tất bóng quý hơn thƣớc ngọc, thật là đáng tiếc!
Chẳng biết ngày nào thoát khỏi vòng lao tù?)
(Tiếc ngày giờ)
Hay:
Khả liên dƣ tố tù trung khách
Vị đắc cung thân thƣớng chiến trƣờng.
(Đáng thƣơng cho ta còn làm khách trong tù
Chƣa đƣợc đích thân ra nơi chiến trƣờng.)
(Việt Nam có báo động)
rồi bất đắc chí mà than rằng:
Hùng tâm bất trị nhất văn tiền.
(Hào khí chẳng đáng một đồng tiền.)
(Buồn bực)
Từ nỗi khát khao, dằn vặt, xót xa, bất bình đã tạo ra một phản ứng tâm lý khá đặc biệt
ở Ngƣời tù Hồ Chí Minh đó là sự "lãng quên thời gian":
101
Tù nhân bất quản thu lai vị?
Chỉ quản tù lung hà thời khai?
(Ngƣời tù chẳng kể mùa thu tới hay chƣa?
Chỉ cần biết cửa tù bao giờ mở?).
(Cảm thu)
Một ngƣời sống trong tù thƣờng theo dõi, ngóng trông, chờ đợi đến khắc khoải ngày
tự do thì không thể không quan tâm đến thời gian. Hai câu thơ trên thật ra là một phản ứng
tâm lý rất phù hợp với tâm trạng của ngƣời tù. Bởi sống trong tù, nỗi quan tâm lớn nhất của
ngƣời tù là "bao giờ thoát khỏi chốn lao lung, chứ không phải lúc nhàn rỗi để ngồi chiêm
nghiệm thời gian. Sự lãng quên thời gian, không quan tâm đến thời gian theo lẽ thƣờng là khi
con ngƣời cảm thấy mình hạnh phúc, Nguyễn Du đã hình dung tâm lý của con ngƣời yêu
đƣơng trong những câu thơ "Ngày vui ngắn chẳng tày gang, ba thu dồn lại một ngày dài
ghê"; còn sự lãng quên thời gian của ngƣời tù Hồ Chí Minh lại là một sự đau khổ tột cùng.
Hiểu đƣợc dòng thời gian tâm trạng diễn ra khá phức tạp trong tâm hồn ngƣời tù Hồ
Chí Minh, chúng ta mới thấu hiểu đƣợc nỗi niềm khát khao tự do luôn nung nấu trong tâm
can ngƣời tù Hồ Chí Minh là một khát vọng rực cháy. Song thật là kỳ diệu, trong nỗi khát
khao tự do đến cùng cực, Ngƣời tù Hồ Chí Minh chƣa từng mất lòng tin vào cuộc sống. Dòng
thời gian tâm trạng trong những bài thơ tứ tuyệt ở tập "Nhật ký trong tù" vẫn bộc lộ những
cung bậc tình cảm, thể hiện một bản lĩnh, một ý chí với một quyết tâm sắt đá. Vì thế, có khi
đau khổ bế tắc thì bế tắc lại đƣợc giải tỏa bằng một niềm tin vào ngày mai: "Sự vật vần xoay
đà định sẵn; hết mưa lại nắng hửng lên thôi... hết khổ là vui vốn lẽ đời" (Trời hửng). Đọc
những câu thơ trên, ngƣời đọc tƣởng chừng nhƣ không còn tìm thấy đâu cái tinh thần biện
chứng của thời gian, mà chỉ gặp lại nơi đây những đƣờng nét, những màu sắc, những dáng
dấp của thời
102
gian trong văn học xa xƣa của các bậc tiền nhân. Cảm hứng thời gian của những câu thơ tứ
tuyệt ấy của Hồ Chí Minh gần gũi với thơ cổ biết chừng nào. Đây cũng là một điều tất yếu,
bởi ai cũng có thể nhận thấy rằng: nguồn cảm hứng dồi dào làm nên chân trời thơ ca của nhà
thơ Hồ Chí Minh là cả một bề dày văn hóa của dân tộc Việt Nam và xứ sở phƣơng Đông.
Cho nên, trong thơ của Ngƣời ta luôn gặp chủ thể trữ tình Hồ Chí Minh hiện hữu với vẻ đẹp
trong cốt cách của một nhà hiền triết phƣơng Đông. Cốt cách ấy, đặc biệt nổi bật trong những
bài thơ tứ tuyệt đƣợc Ngƣời viết bằng chữ Hán thời kháng chiến chống Pháp. Ở những bài
thơ này, ta luôn thấy một con Ngƣời làm việc nƣớc giữa hoa, chim, trăng, suối, trẻ nhỏ, vƣờn
rau... cách sống ấy đã dựng lên hình tƣợng một con Ngƣời siêu phàm - vô tƣ, trong sáng toàn
tâm dành cho cuộc kháng chiến của dân tộc với phong cách ung dung tự tại trong mọi hoàn
cảnh.
Thế nhƣng, trong quan niệm về thời gian của thơ ca truyền thống, thời gian thƣờng
đƣợc nhìn trong quan hệ tƣơng thông với vũ trụ và mang tính tuần hoàn với những chu kỳ ít
nhiều hằng định. Tƣ duy nghệ thuật này là xuất phát từ sự ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Nho, Phật,
Đạo. Tuy ngƣời xƣa không nói ra cụ thể, thậm chí nhiều khi không có ý thức rõ ràng, nhƣng
những cảm xúc nghệ thuật của ngƣời xƣa đã thể hiện dấu ấn đậm nét của những tƣ tƣởng ấy.
Hồ Chí Minh cũng ảnh hƣởng rất sâu đậm kiểu tƣ duy truyền thống nói trên, nhƣng Ngƣời lại
đƣa vào trong ấy một cái nhìn mới. Giáo sƣ Đặng Thanh Lê có nhận xét: "Khái niệm "tuần
hoàn" biểu hiện một niềm tin vững chắc vào con đường đi lên của thời gian..., chính nhãn
quan tiến hóa của lịch sử đã khiến cảm hứng thời gian trong Ngục trung nhật ký vừa mang
màu sắc lãng mạn của hình tượng cỏ cây hoa lá (trời ừng), của vầng dương, của nắng ấm
(Giải đi sớm) trong tâm hồn một thi nhân, lại vừa mang tính chất dự cảm khoa học của một
thiên tài chính trị. Ý niệm thời gian mang tính chất biện chứng
103
của tác phẩm đã làm nền cho một cảm quan duy vật lịch sử trong những trang "Nhật ký " tự
sự về đời sống con người" [91; 116].
Nhƣ vậy, trong sự tiếp nối truyền thống, Hồ Chí Minh đã đem vào trong đó một cảm
hứng lạc quan rất mới mẻ: những câu thơ đậm chất Đƣờng thi lại mang nhãn quan của một
thời đại mới. Vì thế, thời gian vũ trụ và thời gian cuộc sống của cá nhân, của dân tộc hòa
nhập vào nhau tạo thành âm hƣởng thiết tha hào hùng của thời gian kháng chiến.
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
(Đêm nay rằm tháng Giêng, trăng vừa tròn,
Sông xuân, nƣớc xuân liền với trời xuân.
Sâu nơi khói sóng, bàn bạc việc quân,
Nửa đêm trở về ánh trăng đầy thuyền).
(Tiết Rằm tháng Giêng)
Niềm lạc quan thể hiện ở bài thơ trên xuất phát từ cảm quan về thời gian vô tận của
một con ngƣời luôn nắm bắt đƣợc quy luật vận động của cuộc sống, cho nên niềm vui không
thể nói lên bằng lý trí mà toát ra ƣơng sự cảm thụ cái đẹp của đất trời:
Xuân quang hòa noãn báo tân xuân
(Ánh dƣơng ấm áp báo sắp vào xuân)
(Nhớ chiến sĩ)
Có thể nhận thấy, trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, sự cảm nhận về thời gian bao giờ
cũng từ hiện tại mà hƣớng về "sự sống, ánh sáng và tương lai". Do vậy, nhìn chung hƣớng
vận động hình tƣợng thời gian trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là từ bóng tối vƣơn ra ánh
sáng, từ đau đớn đổi thành niềm vui, từ
104
thất bại chuyển thành chiến thắng. Bằng cái nhìn ấy, dòng thời gian hiện tại trong rất nhiều
bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh luôn rộn rã, ấm áp, tràn đầy dự cảm về ngày mai: "Đầu
tường sớm sớm vầng dương mọc" (Buổi sớm); rồi "Phương đông màu trắng chuyển sang
hồng" (Giải đi sớm)... tất cả đều diễn tả thời gian trong sự luân đổi, chuyển tiếp hƣớng về
tƣơng lai với "Ánh hồng trước mặt đã bừng soi" bằng một thái độ rất lạc quan: "Hơi ấm bao
la tràn vũ trụ; Người đi thi hứng bỗng thêm nồng"...
Những điều vừa phân tích trên là biểu hiện một nhãn quan lịch sử - một cái nhìn biện
chứng về thời gian của Hồ Chí Minh, bởi Ngƣời luôn tin vào "sự sống và tương lai". Đó cũng
chính là lý do làm cho dòng thời gian trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh mặc dù cũng chảy liên
tục theo một vòng tuần hoan, nhƣng con ngƣời không bị cuốn hút trong vòng tuần hoàn đó
mà ngƣợc lại, con ngƣời ấy luôn đứng ở tầm cao làm chủ dòng thời gian vô tình, vô hình kia.
Cho nên, con ngƣời trong thơ luôn có một cảm thức chiến thắng thời gian -vƣợt lên vòng
quay của thời gian:
Năm mƣơi chín tuổi vẫn chƣa già
(Vô đề)
Sáu mƣơi tuổi vẫn còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên
(Sáu mƣơi tuổi)
Nhân vị ngũ tuần thƣờng thán lão
Ngã kim thất cửu chính khang cƣờng.
(Ngƣời ta chƣa đến năm mƣơi thƣờng than là già
Ta nay sáu ba tuổi vẫn kheo mạnh)
(Sáu mƣơi ba tuổi)
Bảy mƣơi tƣ tuổi vẫn không già
(Bảy mƣơi tƣ tuổi vẫn chƣa già)
105
Cảm thức thời gian nói trên xuất phát từ tấm lòng một con ngƣời thiết tha yêu cuộc
sống với một quan niệm phát triển về sự sống: ở đâu có sống là có vui. Niềm vui của con
ngƣời là biết sử dụng thời gian của đời mình vào những việc hữu ích cho cuộc sống. Đó là cái
để Hồ Chí Minh luôn cảm thấy cuộc đời của mình là "Nhất niên tứ quý đỗ xuân thiên" (Một
năm là cả bốn mùa xuân - " Vô đề").
Đây là chính là âm hƣởng chủ đạo về thời gian trong rất nhiều bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí
Minh. Cơ sở xuất phát của nó là cái nhìn biện chứng của con ngƣời trong mối quan hệ với
hành trình lịch sử. Cho nên tƣơng lai đồng nghĩa với sự phát triển. Trên ý niệm thời gian đó,
quá khứ có thể tƣơng đƣơng với hiện tại:
Khứ tuế thu sơ, ngã tự do.
Kim thiên thu thủ, ngã cƣ tù.
Thảng năng tì ích ngô dân tộc
Khả thuyết kim thu trị khứ thu.
(Đầu thu năm ngoái ta tự do
Đầu thu năm nay ta ở tù;
Nếu giúp ích đƣợc cho dân tộc,
Có thể nói thu này cũng sánh ngang thu trƣớc.)
(Cảm thu II)
Nhƣ vậy, hƣớng vận động của thời gian trong những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí
Minh là phù hợp với hƣớng vận động của thơ ca cách mạng. Đây là một nét mới đƣa thơ tứ
tuyệt đến với hiện đại. Do đó, ta thƣờng thấy có sự xuyên thấm của thời gian cá nhân và thời
gian của cuộc kháng chiến lồng vào nhau làm cho hình tƣợng thời gian trong những bài thơ
trở nên vô cùng sống động:
Tiếng suối trong nhƣ tiếng hát xa
106
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya nhƣ vẽ ngƣời chƣa ngủ
Chƣa ngủ vì lo nỗi nƣớc nhà.
(Cảnh khuya)
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể kết luận rằng: hình tƣợng thời gian trong thơ tứ
tuyệt Hồ Chí Minh mang một vẻ đẹp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa trí tuệ và
tình cảm, giữa sự tỉnh táo và niềm say mê, giữa cảm hứng chính trị và cảm hứng nghệ thuật.
Sự hài hòa ấy là bắt nguồn từ nhân cách văn hóa của một con ngƣời mà nói đến con ngƣời ấy
là ngƣời ta nhắc đến biểu tƣợng văn hóa của xã hội tƣơng lai.
2.2.2. Không gian vũ trụ mang tính xã hội.
Nhìn chung không gian nghệ thuật trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh chủ yếu là không
gian xã hội - một không gian khá phổ biến trong thơ ca cách mạng hiện đại, nhƣng không
gian ấy lại tràn đầy những hình ảnh thiên nhiên vũ trụ. Điểm lại gần hai trăm bài thơ tứ tuyệt
của Hồ Chí Minh viết trong và ngoài tập nhật ký trong tù, ta thấy không lúc nào trong cái
không gian sinh hoạt của cuộc sống xã hội lại vắng bóng cảnh sắc thiên nhiên vũ trụ. Điều
này chỉ có thể đƣợc giải thích bởi những lẽ sau đây: thứ nhất, Hồ Chí Minh là một con ngƣời
giàu lòng tin yêu đối với đồng loại, nên cũng chính là con ngƣời rất dễ xúc động trƣớc cảnh
vật thiên nhiên: một ánh trăng trong soi qua cửa nhà giam đã đủ làm cho Ngƣời bồi hồi, xao
xuyến; một cánh chim bay lúc hoàng hôn, một tia nắng sớm khi bình minh cũng gợi cho
Ngƣời biết bao niềm hân hoan hi vọng; bắt gặp một làn hƣơng hoa trƣớc cửa nhà ngục,
Ngƣời cũng xót xa, cảm thƣơng cho cái đẹp mỏng manh bạc phận... những tình cảm Ngƣời
dành cho thiên nhiên là xuất phát từ một tình yêu sâu sắc của Ngƣời đối với cuộc sống. Thứ
hai, cảm thức thiên nhiên vũ trụ ấy cùng chính là cảm thức rất phƣơng Đông ở con ngƣời Hồ
Chí Minh. Ngƣời phƣơng Đông thƣờng
107
quan niệm con ngƣời là một "tiểu vũ trụ" luôn tồn tại trong cái "đại vũ trụ" với mối quan hệ
"Thiên địa vạn vật nhất thể" nên "thiên nhân tương dữ". Vì thế, ngƣời phƣơng Đông sống
giàu tình cảm đối với thiên nhiên, luôn tìm thấy nơi thiên nhiên sức mạnh của sự sống vĩnh
hằng. Cảm thức phƣơng Đông ấy thấm đậm một cách tự nhiên nhƣ một mạch sống ngầm
trong tâm hồn Hồ Chí Minh. Ở Ngƣời, nhu cầu giao cảm với thiên nhiên, hòa nhập với thiên
nhiên là nhu cầu rất tự nhiên và không thể thiếu đƣợc dù trong bất cứ hoàn cảnh nào:
Trong ngục tù Ngƣời cũng không thể bỏ qua một đêm trăng đẹp:
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
Đối thử lƣơng tiêu nại nhƣợc hà?
(Trong tù không rƣợu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?)
(Ngắm trăng)
Hai câu thơ đọc lên nghe rất bình thƣờng, nhƣng điều rất đặc biệt của hai câu thơ ấy là
ở chỗ, chỉ bằng một câu hỏi tu từ "nại nhƣợc hà?" (biết làm thế nào?) trƣớc một đêm trăng
đẹp đã bộc lộ tâm trạng bối rối của nhà thơ, làm ngƣời đọc chuyển từ thái độ ngạc nhiên đến
bàng hoàng trƣớc cái cách bộc lộ tình yêu cuộc sông và tấm lòng đôi với thiên nhiên của nhà
thơ, sao nó bình dị mà kỳ vĩ quá.
Đây chính là lý do để chúng ta hiểu vì sao trong thơ ca Hồ Chí Minh nói chung, thơ tứ
tuyệt nói riêng luôn có sự hiện hữu sống động của hình tƣợng không gian vũ trụ. Tìm hiểu
thơ tứ tuyệt của Ngƣời, từ "Nhật ký trong tù", đến những bài thơ ngoài nhật ký, đặc biệt là
những bài thơ trữ tình đƣợc sáng tác trong thời kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt
Bắc, tất cả đều tràn ngập cảnh sắc không gian vũ trụ - hàng trăm lƣợt cảnh trí, vật thể tự
nhiên: rừng, núi, sông, mây, khói, mù sƣơng, gió, trăng, hoa, mƣa, nắng, ánh
108
sáng, bóng tối, mặt trời, hơi ấm vũ trụ, sao bắc đẩu, cây cối, chim muông, tiếng côn trùng,
bầu trời, mùa xuân, mùa thu, bình minh, hoàng hôn, v.v... Tất cả đều bƣớc thẳng vào thơ với
nhịp sống đời thƣờng hồn hậu chất phác. Có khi những hình ảnh thiên nhiên vũ trụ ấy đã
đƣợc thông qua trí tƣởng tƣợng của nhà thơ, nhƣng cũng có khi nó chƣa đƣợc chƣng cất
thanh lọc, chƣa có những ƣớc lệ, cho nên nó mang tính trực cảm cụ thể, nó mộc mạc gần gũi,
tự nhiên và bình dị. Song một điều đáng lƣu ý là: không gian nghệ thuật chứa đầy hình ảnh
thiên nhiên vũ trụ trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh lại mang rõ nội dung xã hội, thời đại cụ
thể. Do đó, nó vừa mang vẻ đẹp cổ điển, lại vừa chứa đựng một tinh thần hiện đại. Đây là
một đặc điểm rất độc đáo trong hình tƣợng không gian của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
Trƣớc hết, vẻ đẹp cổ điển của bức tranh thiên nhiên trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí
Minh là một thiên nhiên có linh hồn - bởi cảm xúc của nhà thơ đƣợc "thổi" vào trong đó.
Điều này, Hồ Chí Minh gặp gỡ với cái đẹp của thơ truyền thống. Trong thơ của ngƣời xƣa,
thiên nhiên bao giờ cũng hữu tình, hữu linh, hữu cảm; thiên nhiên chia sẻ với con ngƣời niềm
vui, nỗi buồn; thiên nhiên là nơi con ngƣời hƣớng ra vũ trụ, là nơi con ngƣời tìm về với sự
siêu thoát. Cho nên, thiên nhiên là bầu bạn. Đây là tƣ tƣởng của Lão Trang, Thiền gia và Hồ
Chí Minh cũng ảnh hƣởng sâu sắc những tƣ tƣởng ấy. Vì vậy, trong thơ của Ngƣời:
Thiên nhiên là nơi gửi gắm tâm sự:
Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân
Giang tâm nhƣ kính tịnh vô trần
(Mây chen dãy núi, núi chen mây.
Lòng sông nhƣ tấm gƣơng không chút bụi)
(Ức cố nhân)
109
Thiên nhiên là nguồn cảm hứng cho những hoài bão lớn lao của cuộc đời:
Non xa xa nƣớc xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là,
Đây suối Lê - Nin kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà.
(Pác Bó hùng vĩ)
Thiên nhiên còn mang trong nó cái khát vọng cháy bỏng của nhà thơ về tự do:
Bất đắc tự do thƣởng thu nguyệt
Tâm tùy thu nguyệt cộng du du
(Chẳng đƣợc tự do mà hƣởng nguyệt,
Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu).
(Cảm thu)
Và mối quan hệ giữa con ngƣời, thiên nhiên thƣờng đồng nhất với nhau, đây là một
kiểu chiếm hữu giống với ngƣời xƣa. Thiên nhiên và con ngƣời luôn hòa quyện vào nhau, sự
cảm nhận ấy ở thi nhân Hồ Chí Minh đƣợc biểu hiện rất sinh động:
Có khi ngƣời với trăng tự tình với nhau nhƣ đôi tình nhân tri kỷ:
Nhân hƣớng song tiền khán minh nguyệt
Nguyệt tòng song khích khán thi gia
(Ngƣời ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ)
(Ngắm trăng)
Có khi ngƣời và thiên nhiên nhƣ hoa quyện vào nhau:
Quân cơ quốc kế thƣơng đàm liễu,
Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên.
110
(Việc quân, việc nƣớc bàn xong,
Gối khuya ngon giấc bên song trăng dòm).
(Đối trăng)
Thi nhân Hồ Chí Minh rất giống với ngƣời xƣa ở niềm say mê cái đẹp của thiên
nhiên, nhƣng cũng khác với ngƣời xƣa trong sự phát hiện ra vẻ đẹp của "cõi người". Thi tiên
Lý Bạch ngắm trăng thấy trong lòng ngậm ngùi cho cõi đời trầm luân cát bụi: "Ngẩng đầu
ngắm trăng sáng; cúi đầu nhớ cố hương" (Lý Bạch "Tĩnh dạ tƣ"); còn ở Hồ Chí Minh, ngƣời
ngắm trăng mê trăng thì trăng cũng mê ngƣời: "Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt" thì
"Nguyệt tòng song khích khán thi gia" đây không phải chỉ là cái hay của bút pháp mà còn là
vẻ đẹp của một nhân sinh quan.
Đối với Hồ Chí Minh thiên nhiên không chỉ là bạn bè mà thiên nhiên còn là cứu cánh
của con ngƣời. Hồ Chí Minh tìm đến với thiên nhiên, không phải để ẩn dật nhƣ tƣ tƣởng của
Lão Trang hay siêu thoát của Phật giáo, mà Ngƣời tìm đến với thiên nhiên, để thiên nhiên
tiếp thêm sức mạnh cho mình trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất, để mình đủ nghị lực chấp
nhận đƣợc hoàn cảnh, rồi vƣợt lên trên hoàn cảnh ấy với tƣ thế luôn chủ động. Thiên nhiên
thật sự là cái giá đỡ cho Ngƣời không gục ngã trong nỗi đắng cay của cảnh ngục tù:
Hĩnh tí tuy nhiên bị khẩn bang,
Mãn sơn điểu ngữ dữ hoa hƣơng,
Tự do lãm thƣởng vô nhân cấm,
Lại thử chinh đồ giảm tịch lƣơng.
(Dẫu trói chân tay đến ngặt nghèo,
Khắp rừng hƣơng ngát với chim kêu,
Tự do thƣởng ngoạn ai ngăn đƣợc,
Cô quạnh đƣờng xa, vợi ít nhiều)
111
(Trên đƣờng)
Thiên nhiên trong bài thơ trên quả là có một sức mạnh diệu kỳ. Ở bài "Đêm ngủ ở
Long Tuyền" cũng là một minh chứng nữa cho điều ấy:
Bạch thiên song mã bất đình đề
Dạ vãn thƣờng thƣờng ngũ vị kê
Sắt lãnh thừa cơ lai giáp kích
Cách lân hân thính hiểu oanh đề
(Suốt ngày "đôi ngựa" không ngừng vó
Đêm đến lại đƣợc nếm món "gà năm vị"
Rệp và giá rét thừa cơ cùng tiến công
Mừng nghe xóm bên chim oanh hót buổi sớm.
(Đêm ngủ ở Long Tuyền)
Bài thơ có một điều rất thú vị: chỉ có 4 câu thì hết 3 câu là diễn tả nỗi cơ cực mà
ngƣời tù phải hứng chịu bằng cái giọng mỉa mai chua chát, nhƣng đến câu thơ thứ 4 thì bài
thơ chuyển từ giọng mỉa mai chua chát kia sang giọng trữ tình với một niềm vui xôn xang rạo
rực. Bởi khi ấy, nhà thơ bỗng nghe đâu đây tiếng con chim oanh líu lo thánh thót báo bình
minh - dấu hiệu của một ngày mới bắt đầu. Thời điểm ấy dễ mở ra cho tâm hồn ngƣời tù Hồ
Chí Minh một không gian mơ ƣớc. Vì thế, bao nhiêu nỗi đắng cay của cảnh tù đày dƣờng nhƣ
đều bị đẩy lùi xuống, tan biến hết để nhƣờng chỗ cho một không gian yên bình với sự sống
sinh sôi nẩy nở. Nhƣ vậy, chỉ cần một tín hiệu của thiên nhiên, tù ngục nhƣ không có chỗ để
tồn tại trong cảm giác của nhà thơ. Cảm thức về thiên nhiên nhƣ thế thể hiện rất đậm nét
trong rất nhiều bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Một lần bị đi đày, nhìn cảnh vũ trụ vần
xoay nhà thơ đã viết: "Noãn khí bao la toàn vũ trụ; Hành nhân thi hứng hốt gia nồng" (Hơi
ấm bao la trùm vũ trụ; Ngƣời đi thi hứng bỗng thêm nồng -"Giải đi sớm").
112
Những điều vừa phân tích trên là lý do giải thích vì sao thiên nhiên xuất hiện trong
thơ Hồ Chí Minh bao giờ cũng đẹp, nó không trầm u mặc tƣởng, hay chứa chất cái cảm giác
"người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" mà chúng ta thƣờng gặp trong thơ của các nhà thơ
khác; mà ngƣợc lại, ở Hồ Chí Minh ngay trong hoàn cảnh thân bị tù tội thì sự cảm nhận về
thiên nhiên trong tâm hôn Hồ Chí Minh vẫn quá ƣ là trong sáng. Vậy nên, khi ngƣời tù Hồ
Chí Minh đến với thiên nhiên là lúc ngƣời đọc không thấy đâu cái thực tế chua cay phũ phàng
của tù ngục, mà chỉ thấy một thiên nhiên hồn nhiên tƣơi sáng. Chính cái đẹp của tự nhiên ấy
đã biến tù nhân thành tự do nhân : "Ngục trung lưu trú tự do nhân" (Vào nhà lao huyện Lĩnh
Tây) hay tù nhân thành một thi gia: "nguyệt tòng song khích khán thi gia" (Ngắm trăng).
Ở đây nếu chúng ta là một phép so sánh sự giống và khác nhau trong mối quan hệ
giữa con ngƣời - thiên nhiên trong thơ thơ ca của ngƣời xƣa với thơ Hồ Chí Minh thì thấy
rằng: con ngƣời trong thơ của ngƣời xƣa luôn mang trong mình khát vọng trở thành vĩnh cửu
trƣờng tồn với trời đất, hòa hợp với thiên nhiên, khẳng định tầm vóc của mình: họ "đăng
quan tước lâu" để có thể "cùng thiên lý mục"; họ "đăng u châu đài" để gửi gấm tâm tình
bằng giọt lệ vào thiên cổ trời đất mênh mông; họ ngồi một mình với núi Kính Đình để khẳng
định tƣ thế con ngƣời. Sự vƣơn lên đó không phải để chinh phục thiên nhiên mà để hòa hợp
tƣơng thông với thiên nhiên. Còn con ngƣời trong thơ của Hồ Chí Minh cũng thƣờng "đăng
sơn", "đăng cao" nhƣng không phải chỉ để hòa nhập, tƣơng giao, tƣơng cảm với thiên nhiên,
không phải chỉ để khẳng định mình là một "tiểu vụ trụ" trong cái đại vũ trụ mênh mông vô
cùng, vô tận mà còn thể hiện ý chí của con ngƣời làm chủ thiên nhiên làm chủ cuộc sống:
Huề trƣợng đăng sơn quan trận địa
Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân
113
Nghĩa binh tráng khí thôn ngƣu đẩu
Thề diệt sài lang xâm lƣợc quân.
(Chống gậy lên núi quan sát trận địa
Muôn trùng núi chen chúc muôn trùng mây.
Nghĩa quân của ta khí mạnh nuốt cả sao ngƣu, sao đẩu
Thề diệt hết quân xâm lƣợc sói lang).
(Đăng sơn)
Vì vậy, đến với thiên nhiên là Hồ Chí Minh về với cuộc sống đời thƣờng của con
ngƣời sống trên mặt đất. Do đó, cái không gian vũ trụ trong thơ Ngƣời là không gian vũ trụ -
mang tính xã hội. Hồ Chí Minh đã kéo cái không gian rất cao, rất xa của thơ ca cổ điển xuống
với mặt đất bụi bặm trần thế, không gian vũ trụ giờ đây chứa đựng nội dung xã hội, thời đại
cụ thể. Điều này thể hiện bằng những hình ảnh thật mới lạ - đáng kể là ở hai bài thơ "Tảo"
(Buổi sáng) và "Triêu dương" (Cảnh buổi sáng):
Thái dƣơng mỗi tảo tòng tƣờng thƣợng
Chiếu trƣớc môn lung, môn vị khai
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám
Quang minh khƣớc dĩ diện tiền lai.
(Mỗi sớm mặt trời nhô lên đầu tƣờng
Đã chiếu vào cửa nhà lao, mà cửa chƣa mở
Trong lao hiện giờ vẫn còn hắc ám
Nhƣng ánh sáng đã soi tới trƣớc mặt nhà lao rồi).
(Buổi sớm)
Thái dƣơng mỗi tảo tòng tƣờng thƣợng
Chiếu đắc toàn sơn xứ xứ hồng
Chỉ vị lung tiền hữu hắc ảnh
Thái dƣơng vị chiếu đáo lung trung
114
(Mỗi sớm mặt trời mọc lên khỏi ngọn núi,
Chiếu khắp núi, nơi nơi rực ánh hồng,
Chỉ vì trƣớc lao còn bóng đen,
Nên mặt trời chƣa rọi tới trong lao)
(Cảnh buổi sớm)
Cả hai bài thơ trên đều chứa đựng một hình ảnh vầng "thái dương" đó là "mặt trời",
một hình ảnh mà trong thơ ca cổ điển ít có dịp nhắc tới. Trong bối cảnh của hai bài thơ, cái
nhà ngục đƣợc đặt trong luồng ánh sáng bao trùm vô cùng, vô tận của mặt trời đã làm cho nó
trở nên nhỏ bé và lạc lõng. "Mặt trời" ở đây "không còn là nguồn sáng chung của "nhật
nguyện", nguồn dương khí của thế giới, mà đã là mặt trời vật chất với những ý nghĩa tượng
trưng mới mẻ " [98;324]. Đã có ý kiến cho rằng: trong những trang thơ tứ tuyệt của Hồ Chí
Minh không chỉ có ánh trăng, mà nó còn tràn ngập ánh nắng sớm, cái ánh nắng sớm ở đây
gắn liền với sự khát khao đổi đời và cảm quan về một thời đại mới:
Triều dƣơng xuyên quá lung toàn bộ
Thiêu tận u yên dữ ám mai
Sinh khí đốn thì sung vũ trụ
Phạm nhân cá cá tiếu nhan khai.
(Ánh nắng sớm xuyên qua toàn bộ nhà lao
Đốt nốt những làn khói mù u ám còn rơi rớt lại
Sinh khí bỗng chốc tràn đầy vũ trụ
Tù nhân ai nấy vẻ mặt tƣơi cƣời).
(Nắng sớm)
Đọc bài thơ trên ngƣời đọc dễ dàng nhận ra đây không chỉ là cảnh nắng sớm nhà
ngục, mà đây còn chính là ƣớc mơ đổi thay, cải tạo toàn bộ cuộc sống - cái nhà ngục của con
ngƣời - với một cảm xúc mạnh mẽ, một khí thế
115
không gì ngăn cản đƣợc. Đây là một cái nhìn rất mới so với truyền thống - cái nhìn rất biện
chứng của một cảm quan chính trị nhạy bén. Điều này hoàn toàn chính xác với tầm vóc một
vĩ nhân nhƣ Hồ Chí Minh.
Vì những lẽ nêu trên, chúng ta rất dễ dàng nhận thấy: thiên nhiên vũ trụ trong thơ tứ
tuyệt Hồ Chí Minh luôn quấn quyện với hình ảnh của cuộc sống sinh hoạt đời thƣờng của con
ngƣời sống trong "cõi người". Vì thế, ở chốn lao tù, chính sự hiện hữu của không gian vũ trụ
đã biến không gian tù ngục thành một không gian tự do:
Nhân hƣớng song tiền khán minh nguyệt
Nguyệt tòng song khích khán thi gia
( Ngƣời ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe của ngắm nhà thơ )
(Ngắm trăng)
Ở nơi rừng sâu - chiến khu Việt Bắc, thiên nhiên lúc nào đẹp nhƣ một bức tranh thủy
mặc:
Sơn kính khách lai hoa mãn địa
Tùng lâm quân đáo điểu xung thiên.
(Lúc khách đến lối nhỏ bên núi hoa đầy đất
Trong rừng rậm, quân đến, chim vụt bay lên).
(Vô đề)
Chính cái không gian nên thơ diễm lệ ấy của thiên nhiên đã biến không gian chiến
khu - không gian sinh hoạt kháng chiến thành một không gian của chốn bồng lai tiên cảnh,
nhƣng lại tồn tại ngay ở giữa "cõi đời":
Tiếng suối trong nhƣ tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
(Cảnh khuya)
Khán thƣ sơn điểu thê song hãn
116
Phê trát xuân hoa chiếu nghiên trì
( Xem sách chim rừng vào cửa đậu
Phê văn hoa núi ghé nghiên soi)
(Tặng Bùi Công)
Sau này, trong cuộc sống hòa bình, thiên nhiên vẫn luôn đồng hành với công cuộc xây
dựng cuộc sống mới. Sự có mặt của thiên nhiên lúc nào cũng tràn đầy sự sống, ấm áp niềm
vui của cuộc đời ngƣời lao động. Và chính cái đẹp của không gian cuộc đời ấy lại tô điểm
cho cái đẹp của thiên nhiên:
Ngƣ chu lai khứ triều dƣơng noãn
Tang đạo mãn điền hoa mãn san.
(Thuyền đánh cá đi lại dƣới nắng sớm ấm,
Dâu lúa đầy đồng hoa đầy núi).
(Vịnh Thái Hồ)
Hay bài "Phong cảnh Quế Lâm" cũng vậy:
Sơn trung tiều phu xƣớng
Giang thƣợng khách thuyền quy
(Trong núi, những ngƣời hái củi ca hát
Trên sông, thuyền khách ra về).
Cả hai bài thơ đọc lên nghe rất hay, bởi cái tứ của bài thơ rất đẹp. Nó đẹp vì trong bức
tranh thiên nhiên ấy, nó chứa đựng sự vui tƣơi, sự say mê, nhộn nhịp trong cuộc sống của con
ngƣời lao động.
Nhƣ vậy, thế giới nghệ thuật trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là thế giới của sự hòa
điệu giữa cái đẹp của thiên nhiên vũ trụ với cái đẹp của "cõi ngƣời", làm nên một hình tƣợng
không gian vũ trụ mang tính xã hội. Điều này thể hiện một cảm quan thời đại với một hồn thơ
trong sáng lạ thƣờng.
117
CHƢƠNG 3: THI PHÁP THƠ TỨ TUYỆT HỒ CHÍ MINH NHÌN TỪ
PHƢƠNG DIỆN CÁC PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN
Ở Chƣơng 2, chúng tôi đã đề cập đến tƣ tƣởng thẩm mỹ, tƣ tƣởng triết học và những
quan niệm nhân sinh của nghệ sĩ Hồ Chí Minh, qua hình tƣợng nghệ thuật con ngƣời; đề cập
đến hình thức có tính tinh thần qua hình tƣợng nghệ thuật thời gian - không gian. Mục đích là
nhằm làm rõ các nguyên tắc nắm bắt đời sống của nghệ sĩ Hồ Chí Minh thể hiện trong thơ tứ
tuyệt của Ngƣời. Bên cạnh đó, chúng tôi còn có dịp để khẳng định một chân lý rằng, những
tƣ tƣởng thẩm mỹ, tƣ tƣởng triết học và những quan niệm nhân sinh của nghệ sĩ Hồ Chí Minh
là sự chung đúc khí thiêng của nhiều nền văn hóa dân tộc và nhân loại, từ cổ, kim, Đông,
Tây. Hồ Chí Minh là biểu tƣợng cao đẹp của dân tộc Việt Nam, một dân tộc đúng nhƣ cố thủ
tƣớng Phạm Vàn Đồng có nói: "Luôn luôn rộng mở trái tim và khối óc để đón nhận những
cái hay và cái mới từ bốn phương, biến thành những giá trị của chính mình" [27; 81]. Tất cả
những điều này đã chi phối các phƣơng thức biểu hiện, tức là những đặc điểm có tính hình
thức của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh. Vấn đề này chúng tôi xin đƣợc làm rõ ở chƣơng 3.
Những đặc điểm hình thức của thơ thƣờng bộc lộ trên nhiều khía cạnh, ở chƣơng này
chúng tôi đi vào các khía cạnh của thơ tứ tuyệt bao gồm: các thủ pháp lựa chọn tình huống;
cách tổ chức một bài thơ tứ tuyệt và ngôn ngữ của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
3.1. Các thủ pháp lựa chọn tình huống trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh
118
Cách lựa chọn tình tiết và tổ chức hình ảnh là một trong những biện pháp để phản ánh
đời sống trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Giống nhƣ thơ tứ tuyệt cổ điển, những bài thơ
tứ tuyệt của nhà thơ Hồ Chí Minh cũng mang những yếu tố truyền thống trong cách lựa chọn
và tổ chức hình ảnh. Đó là việc chọn lọc những chi tiết mang tính điển hình tuyệt cao, làm
sao để sự chọn lọc phải đạt đến sự khái quát hóa, đạt đến chất lƣợng cao của sự phản ánh.
Ngoài những đặc điểm thi pháp chung của thơ tứ tuyệt nói trên, đối với thơ tứ tuyệt của Hồ
Chí Minh, khi chúng tôi đi vào nghiên cứu những đặc điểm của thi pháp của nó, chúng tôi
nhận thấy rằng, thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh có những thủ pháp lựa chọn tình huống mang tính
đặc thù.
3.1.1. Khai thác triệt để các yếu tố đối lập
Đối lập là phƣơng tiện khai thác tác phẩm ở chiều sâu. Nó chính là một thủ pháp nghệ
thuật muôn đời của thơ ca nhân loại. Đối với thơ tứ tuyệt cổ điển, thủ pháp đối lập thƣờng
mang yếu tố tƣơng đồng, nhƣng ở thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh yếu tố đối lập lại thƣờng
mang yếu tố tƣơng phản và tạo ra giọng điệu trào lộng. Đây là điều ít gặp ở thơ tứ tuyệt
truyền thống, bởi nó thể hiện một tƣ duy nghệ thuật mới.
Các hình thức đối lập thƣờng đƣợc sử dụng nhƣ:
3.1.1.1 Khai thác mâu thuẫn trên góc độ từ ngữ:
Chơi chữ: một thủ pháp nghệ thuật của thơ ca cổ điển Việt Nam nói chung, đặc biệt là
trong thơ ca dân gian Việt Nam. Hình thức chơi chữ diễn ra rất đa dạng, nó thể hiện một tầm
trí tuệ của nhân dân lao động, sau này hình thức ấy dần dần bƣớc vào văn chƣơng bác học. ở
thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh hình thức chơi chữ đƣợc vận dụng rất độc đáo:
Túc Vinh khƣớc sử dƣ mông nhục
(Túc Vinh mà để ta mang nhục)
(Bị bắt ở phố Túc Vinh)
119
Quế Lâm vô quế diệc vô lâm
(Quế Lâm không quế không rừng)
(Đến Quế Lâm)
Phú gia tử đệ bần gia giáo
(Con nhà giàu nhƣng lại nghèo về mặt giáo dục)
(Anh bạn tù nọ họ Mạc)
Cách dùng từ ở những câu thơ trên có vẻ rất tình cờ, nhƣng chính sự tình cờ ấy lại là
một biện pháp chơi chữ đầy dụng ý nghệ thuật. Các cặp phạm trù đối lập cùng tồn tại song
hành bên nhau trong cùng một câu thơ: Vinh - nhục; Quế lâm - vô quế - vô lâm; phú - bần...
đã gợi ra một tiếng cƣời nhẹ nhàng, rất chí lý, gây những ấn tƣợng sâu đậm cho ngƣời đọc.
Chính cái cách khai thác mâu thuẫn trên góc độ từ ngữ gần nhƣ đã trở thành một trong những
đặc điểm văn phong của Hồ Chí Minh. Chúng ta không chỉ gặp cách nói này trong thơ, mà
trong sinh hoạt đời thƣờng, Hồ Chí Minh vẫn hay sử dụng cách nói ấy. Ví dụ: có lần Ngƣời
đến thăm tỉnh Cao Bằng, Hồ Chí Minh đã nói một câu rất hay: "Cao Bằng" không những
phải cao bằng mà còn phải cao hơn" (nhiều địa phƣơng khác); hay có lần Ngƣời phê phán
đế quốc Mỹ rằng: "Mỹ mà không đẹp". Đây là một lối nói mang phong cách dân gian của
ngƣời Việt Nam, nó biểu hiện một cái gì đó rất mộc mạc, chất phát, song vô cùng trí tuệ -
kiểu tƣ duy đặc trƣng của dân tộc Việt Nam và phƣơng Đông, đó là lời ít, ý nhiều, vừa đơn
giản vừa sâu sắc dễ đi vào lòng ngƣời.
3.1.1.2. Khai thác mâu thuẫn lại dựa trên cách thức lặp cấu trúc và lặp ý một chỉnh thể
nhỏ trong từng bài thơ tạo ra sự tƣơng phản:
+ Chọn lựa những tình huống tƣơng phản, dùng cấu trúc đảo ngƣợc, làm nổi bật mâu
thuẫn của sự vật:
Khai lung chi thời đỗ bất thống
120
Đỗ thống chi thời lung bất khai
(Cửa tù khi mở không đau bụng
Đau bụng thì không mở cửa tù)
(Bị hạn chế)
Hay:
Thùy yếu tẩy diện vật phanh trà
Thùy yếu phanh trà vật tẩy diện
(Ai muốn pha trà đừng rửa mặt
Ai cần rửa mặt chớ pha trà).
(Chia nƣớc)
Những câu thơ trên là một tình huống gây cƣời thật độc đáo, dẫn ngƣời đọc đến với
một hoàn cảnh trớ trêu của ngục tù, khi "đau bụng" thì cửa tù "không mở", nhƣng khi "cửa tù
mở" thì "bụng không đau". Ở bài Chia nước, mỗi ngƣời tù chỉ có lƣng chậu nƣớc, nếu ai
muốn "pha trà" thì đừng "rửa mặt"; còn ngƣợc lại, nếu ai muốn "rửa mặt" thì chớ "pha trà".
Cái cách chọn lựa mâu thuẫn lấy từ những chi tiết rất thật và rất hợp lý của hoàn cảnh tù ngục
đã tạo một ra cái gì đó rất khôi hài, nhƣng bên trong cái "hài" lại chứa đựng cái "bi" làm
ngƣời đọc nhận thấy sự loanh quanh, tù túng ngột ngạt đến nghẹt thở của cảnh ngục tù.
+ Nghịch cảnh một sự đối lập ở dạng thức mâu thuẫn nhất có khi nó chứa đựng cả
phạm trù của cái bi, cái hài, cái hùng:
Mộng kiến thừa long thiên thƣợng khứ
Tỉnh thời tài giác ngọa lung trung
(Mơ thấy cƣỡi rồng bay lên trời
Lúc tỉnh dậy mới biết đang nằm trong lao)
(Buổi trƣa)
121
Một ngƣời bị giam cầm trong ngục lại mơ thấy mình đang cƣỡi rồng bay lên thƣợng
giới đã là một chuyện dễ gây cƣời, nhƣng càng buồn cƣời hơn nữa là lúc hết mơ thì "trong
ngục vẫn nằm trơ". Tinh huống rơi từ "trên trời" xuống "ngục" làm ngƣời đọc phải bật ra
tiếng cƣời - cƣời cho sự trớ trêu của hoàn cảnh, nên tiếng cƣời mang âm hƣởng nỗi đau của
con ngƣời khát khao tự do mà không làm sao thoát ra đƣợc. Tuy vậy, trong nỗi đau ấy không
có âm hƣởng của sự bi lụy mà trái lại, nó lại mang âm hƣởng của cái hùng - có cái gì đó trong
câu thơ rất mạnh mẽ, quyết liệt và sảng khoái. Sự giao hòa nhiều cung bậc tình cảm kiểu bài
thơ này, ta còn gặp trong rất nhiều những bài thơ tứ tuyệt khác nữa của Hồ Chí Minh, cụ thể
nhƣ hai câu thơ trong bài "bệnh nặng":
Ngục trung hại bệnh chân tân khổ
Bản ƣng thống khốc khƣớc cuồng ca
(Trong tù mắc bệnh nặng thật là cay đắng
Đáng nên đau khóc mà ta hát ngông)
Tìm sự nghịch lý để tạo ra sự thuận lý trong hoàn cảnh, đó cũng là một kiểu đối lập
trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh :
Cao sơn ngộ hổ chung vô dạng
Bình lộ phùng nhân khƣớc bị giam
(Núi cao gặp hổ nhƣng rút cục vẫn không đáng ngại,
Đƣờng phang gặp ngƣời lại bị bắt giam)
(Đƣờng đời hiểm trở)
Những câu thơ ở hai bài thơ trên, nhà thơ đã đƣa ra hàng loại các cặp đối lập mâu
thuẫn với nhau: gặp "hổ" - "vô sƣ"; gặp "ngƣời" - "bị tống lao". Thật là chuyện phi lý, nhƣng
ai cũng thấy hoàn toàn có lý. Bởi, đó là do sự tráo trở phản trắc ở lòng ngƣời gây ra, cái bệnh
của "thói đời" đen bạc.
Ở bài Cái cùm :
122
Nhân mẫn tranh tiên thƣợng cƣớc kiềm
(Ngƣời ngƣời tranh nhau để đƣợc cùm trƣớc)
Hành động mọi ngƣời "tranh nhau" để đƣợc cùm chân trƣớc, mới nghe thật là một
nghịch lý. Thế nhƣng, ở góc độ nào đó, nó lại là một sự thuận lý. Bởi, "hữu kiềm tài đắc
thụy" ( có cùm chân mới đƣợc ngủ) còn nếu "Vô kiềm một xứ khả an miên"( Không có cùm
chân thì không chỗ ngủ yên). Quả là cái thuận lý xảy ra trên cái nghịch lý để tạo ra tình
huống cho một cái cƣời mỉa mai, chua chát - đó cũng là một kiểu "tự do": tự do nằm yên, tự
do cam phận tù tội. Một cái nhìn hài hƣớc, vô cùng triết lý của nhà thơ về cuộc đời và điều ấy
đã để lại một sự suy tƣ ƣơng lòng ngƣời đọc.
Có khi mâu thuẫn đối lập bắt nguồn từ một hiện tƣợng của xã hội, nhƣng nó lại chứa
đựng cái bản chất của cả xã hội, đó là trƣờng hợp của các bài thơ:
Dân gian đổ bác bị quan lạp
Ngục lý đổ bác khả công khai
(Ngoài dân đánh bạc bị quan bắt
Trong lao đánh bạc khá công khai)
(Đánh bạc)
Yên cấm thử gian hắn lệ hại
Nhĩ yên kiểu nhập tha yên bao
Đƣơng nhiên tha khả xuy yên đẩu
Nhĩ nhƣợc xuy yên phạt thủ liêu.
(Ở đây lệnh cấm thuốc lá lợi hại thực!
Thuốc của anh phải nộp vào túi của nó.
Đƣơng nhiên nó đƣợc hút bằng tẩu.
Anh mà cũng hút liền bị phạt xích tay).
(Cấm hút thuốc lá)
123
Các dạng thức tạo sự mâu thuẫn: "ở ngoài" đánh bạc bị bắt giam; những khi vào
"trong ngục" đánh bạc đƣợc công khai. Sự mâu thuẫn này lại chứng tỏ một nghịch lý rằng có
một sự đảo lộn chân lý, đó là nhà tù không phải là nơi để giáo dục ngƣời ta không đƣợc đánh
bạc, mà lại chính là nơi chứa bạc. Ở bài cấm hút thuốc lá cũng nhƣ thế: trong tù cấm hút
thuốc lá, nhƣng thuốc của ngƣời tù thì bị tịch thu bỏ vào bao của lính ngục, chúng nó hút thì
đƣợc, ngƣời tù hút thì "còng đây ta ghé vào". Đó là những nghịch lý phải chấp nhận của xã
hội. Điều ấy, tạo ra một thái độ tố cáo chứa đựng dƣới một tiếng cƣời châm biếm, mỉa mai.
Mặc dù chỉ là những việc rất nhỏ nhặt, mới đọc rất bình thƣờng, nhƣng càng ngẫm nghĩ càng
sâu sắc.
Nghịch lý của xã hội còn đƣợc biểu hiện sinh động hơn khi nhà thơ dùng phƣơng
pháp so sánh tạo ra sự đối lập mang tính tƣơng phản sâu sắc. Cụ thể trong bài thơ "Cảnh binh
khiêng lợn cùng đi I”:
Cảnh sĩ đảm trƣ đồng lộ tẩu
Trƣ do nhân đảm, ngã nhân khiên
Nhân nhi phản tiện ƣ trƣ tử
Nhân vị nhân vô tự chủ quyền
(Cảnh binh khiêng lợn đi cùng đƣờng,
Lợn thì ngƣời khiêng ta ngƣời dắt
Ngƣời lại bị coi rẻ hơn con lợn
Chỉ vì ngƣời không có quyền tự chủ).
Nhà thơ mƣợn những chi tiết sinh hoạt rất cụ thể của cuộc sống để tạo ra tình huống
đối lập tƣơng phản, biến cái bình thƣờng của cuộc sống thành cái bất bình thƣờng "lợn thì
người khiêng ta người dắt". Cải cách chọn hình ảnh so sánh giữa "con ngƣời" và "con vật" đã
làm bộc lộ rõ nét bản chất của những nghịch lý xã hội, đó là một xã hội mà con ngƣời bị xem
rẻ hơn con vật, bởi do con ngƣời sống bị mất quyền làm chủ của mình.
124
Liên kết các yếu tố đối lập có tính tƣơng phản tạo nên hiệu quả nghệ thuật với nhiều
ánh xạ bất ngờ thú vị: cách tạo dựng những hình ảnh đối lập có tính tƣơng phản ở những câu
thơ trên là phản lại cái "mã" của thơ truyền thống. Phƣơng thức đối lập ấy là một kiểu nắm
bắt tình huống trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Đặc biệt, sự đối lập đƣợc tạo ra bởi
những chi tiết, những hình ảnh thực trong câu thơ, thƣờng gây những ấn tƣợng rất mạnh, làm
ngƣời đọc không khỏi ngạc nhiên. Ví dụ: Bên cạnh những ngôn từ rất trang nhã nhƣ "tự do";
ta lại gặp những ngôn từ rất dung tục hóa nhứ:"xuất cung" trong bài "Bị hạn chế".
Một hữu tự do chân thống khổ
Xuất cung dã bị nhân chế tài.
(Không có tự do thật đau khổ
Đi tiêu mà cũng bị ngƣời ta hạn chế)
Ấn tƣợng ấy còn mạnh hơn, khi tác giả dùng hai hình ảnh có những chi tiết hoàn toàn
đối lập nhau, mang tính tƣơng phản và cũng tồn tại chỉ trong một câu thơ: một cái hoàn toàn
cao nhã, còn một cái lại mang tính dung tục của cuộc đời:
Xí khanh thƣợng tọa đãi triêu lai
(Ngồi trên hố xí đợi ban mai)
Có khi điều ấy đƣợc thể hiện ở cả bài thơ:
Bạch thiên song mã bất đình đề,
Dạ vãn thƣờng thƣờng "ngũ vị kê"
Sắt, lãnh thừa cơ lai giáp kích,
Cánh lân hân thính hiểu oanh đề.
(Suốt ngày đôi ngựa không ngừng vó,
Đêm đêm lại đƣợc nếm món "gà năm vị".
Bọ chét và giá rét thừa cơ cùng tấn công
125
Mừng nghe xóm bên chim oanh hót buổi sớm)
(Đêm ngủ ở Long Tuyền)
Hay:
Thừa chu thuận thủy vãng Ung Ninh
Hĩnh điếu thuyền nan tự giảo hình
Lƣỡng ngạn hƣơng thôn trù mật thậm
Giang tâm ngƣ phủ điều thuyền khinh.
(Đáp thuyền thuận dòng xuôi Ung Ninh
Cẳng chân bị treo lên lan can thuyền nhƣ phạm tội hình treo cổ
Làng xóm hai bên sông thật là đông đúc
Giữa dòng sông ông chài nhẹ lƣớt chiếc thuyền câu).
(Giữa đƣờng đáp thuyền đi Ung Ninh)
Ở hai bài thơ trên, những hình ảnh tƣơng phản "giá rét, bọ chét" với "cái đẹp" của
cuộc sống; và "sự đọa đày thể xác" với "sự thanh thản của tâm hồn", đã gây ấn tƣợng mạnh
mẽ đối với ngƣời đọc. Tất cả những hình ảnh đối lập ấy đều đƣợc xây dựng trên những chi
tiết thực. Vì thế nó có sức cảm hóa, tạo độ tin cậy cho ngƣời đọc, lột tả đƣợc cái oái oăm, tàn
nhẫn, cái hài hƣớc, đắng cay của cảnh tù đày.
Tóm lại: thủ pháp nghệ thuật khai thác các yếu tố đối lập trong thơ tứ tuyệt của Hồ
Chí Minh là sự tiếp nối nghệ thuật thơ ca truyền thống, song Hồ Chí Minh lại thể hiện điều ấy
rất độc đáo và riêng có. Ngòi bút của Ngƣời có một biệt tài là thƣờng tạo dựng những tình tiết
hết sức đời thƣờng, có khi hết sức dung tục để ai cũng có thể tự kiểm nghiệm, để chứng minh
cho một vấn đề thuộc về chân lý lớn lao. Nên nó vừa hài hƣớc, lại vừa trữ tình thắm thiết.
Ngƣời đọc rất tâm đắc điều ấy và chấp nhận nó thoải mái. Ngƣời ta nói, ở Hồ Chí Minh hay
có những "cái gạch trí khôn " - "những phản xạ hóm hỉnh" vốn đã trở thành một nét phong
cách kể từ khi Ngƣời cầm bút, nó thể hiện cái
126
nhìn thế giới của Ngƣời - cuộc đời có niềm vui, niềm lạc quan, cũng có những nỗi đau, nỗi
buồn và có cái đáng buồn cƣời. Đó là cái triết lý của sự đối lập trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí
Minh.
3.1.2. Để sự vật tự nói lên bản chất của chúng.
Đây là một phƣơng thức phản ánh hiện thực của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh. Nếu nhƣ ở
thơ tứ tuyệt cổ điển, các nhà thơ thƣờng có lối tƣ duy làm cho những hiện tƣợng xã hội lịch
sử bị trừu tƣợng đi, còn các hình ảnh thiên nhiên luôn chứa đầy ý nghĩa tƣợng trƣng thâm
thúy, thì ở một bộ phận không nhỏ những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh lại có một lối tƣ
duy rất hiện đại. Đó là cách chọn lựa những hình ảnh, những tình tiết rất trung thực, nhằm để
cho sự vật tự nói lên bản chất của chúng. Ví dụ ở hai bài thơ "Nhà lao Quả Đức" và bài "Sinh
hoạt trong tù", tác giả chỉ cần phác họa những gì xảy ra đúng nhƣ ƣơng thực thế là bài thơ đã
toát ra một ý vị hài hƣớc, nghĩa là nó phơi bày cái thật, cái giả, sự đối lập giữa xã hội và con
ngƣời. Vì thế, quá nửa tập "Nhật ký trong tù", Hồ Chí Minh đã viết về cái phần tồn tại vật
chất của ngƣời tù, những cái sinh hoạt hàng ngày nhƣ: bắt rận, ghẻ lở, đói, cùm chân ngủ
cạnh hố xí, chia nƣớc, rụng răng, mất gậy, đêm lạnh, giải đi đƣờng, ngồi toa than, nộp tiền
đèn... bảy, tám lần nhà thơ nói tới cái đói trong nhà tù với những biểu hiện khác nhau: đói
kêu cha, đói sùi nƣớc bọt, đói trào nƣớc mắt, đói bụng réo gào, đói cồn cào, đói run bần bật
dƣới ánh điện, đói vì muộn giờ cơm, đói chết ngƣời này ngƣời khác v.v... và không chỉ ở tập
"Nhật ký trong tù ", chúng ta còn gặp lại lối tƣ duy này trong rất nhiều những bài thơ tứ tuyệt
của Hồ Chí Minh ở bên ngoài tập thơ "Nhật ký" nhƣ: các bài Ngƣời sáng tác trong chiến khu
Việt Bắc, hoặc một số bài khi Ngƣời sang thăm đất nƣớc Trung Quốc, hay những bài thơ sau
này đƣợc ngƣời sáng tác bằng Quốc Ngữ. Nhƣ vậy, trong lối tƣ duy và cách cảm nhận của
Hồ Chí Minh, có cái gì vừa rất truyền thống lại có cái gì rất hiện đại. Nếu nói đƣa chất văn
xuôi vào thơ
127
là một hƣớng phát triển của thơ ca thế giới, thì một bộ phận rất lớn của thơ tứ tuyệt Hồ Chí
Minh đã thể hiện hƣớng này một cách độc đáo. Đây là một trong những nét đặc trƣng của thi
pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh - thi pháp về cái đời thƣờng. Chính nét thi pháp này đã góp
phần phá vỡ những giới hạn có sẵn của thi ca trữ tình cổ điển, góp phần làm nên cái nền của
phong cách thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Việc đƣa những hiện tƣợng sinh hoạt hàng ngày
vào thơ ca bác học đó là điều Hồ Chí Minh gặp gỡ với các nhà thơ trong truyền thống nhƣ:
Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hƣơng, Nguyễn Khuyến, Tú xƣơng... song có một điều rất đặc biệt là
tuy nối tiếp mạch thơ sinh hoạt, thế sự, của các nhà thơ đi trƣớc, nhƣng trong thơ tứ tuyệt Hồ
Chí Minh không giản đơn chỉ là phản ánh nhiều sự thật sinh hoạt hàng ngày, mà là một cái
nhìn mới về những hiện tƣợng ấy "Thơ ông thể hiện một kiểu tương quan cảnh - tình mới,
trong đó tình ý được xây dựng trên ý nghĩa khách quan của cảnh vật, sự kiện, chứ không phải
theo kiểu "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" cũng không phải do "Tính năng động chủ
quan"" [98; 362]. Có thể khẳng định những bài thơ viết về những sự thật sinh hoạt hàng ngày
của Hồ Chí Minh trên thực tế là chẳng có tƣởng tƣợng gì cả, mà nếu nhƣ có tƣởng tƣợng thì
tƣởng tƣợng cũng không che lấp các sự thật trần trụi. Cụ thể, bài thơ "Cƣớc áp" (Cái cùm
chân) là một dẫn chứng điển hình nhất. Khác hẳn với "cái gông" của Cao Bá Quát: "Cái gông
trong thơ Cao Bá Quát là cái cớ để tác giả nói đến sự vô tình của cái gông tâm trạng "không
hổ thẹn" của một người tù như mình, tuy bị đọa đày nhưng vẫn giữ vững lẽ sống" [27; 326].
Chính cách tƣ duy ấy làm cho sự vật dù là văn xuôi nhất một khi vào thơ thì không giữ chất
văn xuôi nữa; còn "cái cùm" trong thơ Hồ Chí Minh nó hiện ra với tất cả tính chất cảm tính
vật thể:
Tranh ninh ngã khẩu tự hung thần.
Vãn vãn trƣớng khai bả cƣớc thôn
128
Các nhân bị thôn liễu hữu cƣớc.
Chỉ thặng tả cƣớc năng khuất thân.
(Cái miệng đó dữ tợn nhƣ hung thần
Tối tối há ngoáo ra để kẹp chân ngƣời
Ngƣời nào cũng bị kẹp chân bên phải
Chỉ còn chân trái co duỗi đƣợc thôi).
Cảm hứng chính trong những bài thơ tứ tuyệt kiểu nhƣ nói trên là nói thật nhiều sự
thật, nó nhƣ là một chứng nhân cho các quan hệ xã hội con ngƣời. Vì lẽ đó, đã có không ít
những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đọc lên có cái gì đó rất trúc trắc, trục trặc. Bởi, dụng
ý của nhà thơ là làm thơ chỉ để thoa mãn trí tuệ chứ không phải để cho sƣớng miệng. Tính
chất hiện đại trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là việc đƣa yếu tố thời sự vào thơ, làm cho
sự việc trở nên rất thật, dễ đƣợc ngƣời đọc đón nhận. Đây chính là một trong những biện
pháp chiếm lĩnh hiện thực mang tính chất hiện đại của nhà thơ Hồ Chí Minh và cũng chính là
cái gốc làm nên thể "tứ tuyệt - tự sự". Tất cả những điều nói trên đều xuất phát từ cách cảm
thụ rất giản dị ở con ngƣời Hồ Chí Minh, mà giản dị và sự thật là hai ngƣời bạn đồng hành
thƣờng gắn bó mật thiết với nhau. Cái làm nên sức hấp dẫn và sức sống mãnh liệt ở thơ tứ
tuyệt của Hồ Chí Minh chính là điều ấy.
3.2. Các tổ chức một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
Nói đến cách tổ chức một bài thơ tứ tuyệt, tức là chúng tôi muốn đi vào nghiên cứu
phần bố cục trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Đây là việc làm không thể thiếu đối với việc
nghiên cứu thơ ca trên góc độ thi pháp học. Bởi, bố cục là một khâu quan trọng trong quá
trình sáng tác một bài thơ. Lê Quí Đôn có nhắc đến ba yêu cầu quan trọng của công việc làm
thơ là: khởi kết (khởi đầu và kết thúc), cú pháp (phép đặt câu), tự nhãn (chữ tinh yếu trong
129
thơ), theo ông là một bài thơ thì yêu cầu về chƣơng pháp đƣợc xếp ở vị trí hàng đầu [4; 112].
Song ở đây, khi đi vào khảo sát toàn bộ những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh
chúng tôi thấy rằng: về cơ bản bố cục thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là tuân thủ các dạng bố
cục của một bài thơ tứ tuyệt cổ điển. ở thơ tứ tuyệt truyền thống các câu thơ thƣờng liên kết
với nhau bởi các quy định nhƣ sau:
Niêm là nguyên tắc phối thanh theo chiều dọc, làm cho các liên thơ kết dính với nhau.
Trong một bài tứ tuyệt thì câu 2 liên với câu 3, câu 1 liên với câu 4.
Luật là luật điều tiết âm thanh theo chiều ngang (trong nội bộ của dòng thơ), một bài
thơ thất ngôn tứ tuyệt có hai loại vào đề dùng bằng khởi, cũng có bài dùng trắc khởi và luật
bằng trắc phải tuân thủ quy định nhất, tam, ngũ bất luận; còn nhị, tứ, lục phân minh. Một bài
thơ ngũ ngôn tứ tuyệt thì thƣờng dùng trắc khởi nhiều hơn và luật điều tiết âm thanh thì phải
tuân thủ nhất, ngũ bất luận; còn nhị, tứ phân minh.
Vần của một bài thơ tứ tuyệt là 4 câu 3 vần, vần trắc ít khi đƣợc dùng trong thơ.
Tiết tấu: Nhìn chung cách ngắt nhịp ở câu thơ 7 chữ là 4/3; câu thơ 5 chữ là 2/3. Cách
ngắt nhịp chẩn lẻ này là do quan niệm âm dƣơng hài hòa đó là sự hô ứng tự nhiên với nhịp
điệu vũ trụ. Vì thế, cách ngắt nhịp này thƣờng là cố định không có ngoại lệ.
Về bố cục: Một bài thơ tứ tuyệt truyền thống cũng thƣờng có 4 phần đề, thực, luận,
kết. Ngoài ra trong bố cục của một bài thơ tứ tuyệt có thể kết cấu ở dạng 2/2; 1/1/1/1; 1/3;
3/1.
Những quy tắc về việc tổ chức một bài thơ tứ tuyệt vừa nêu trên, là một sợi dây vô
hình nối kết các câu thơ trong một bài thơ tứ tuyệt cổ điển. Ở thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh,
chúng tôi cũng tìm thấy không ít những bài thơ tứ
130
tuyệt tuân thủ những nguyên tắc của thơ tứ tuyệt cổ điển, đặc biệt là chùm thơ Ngƣời làm
trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp ở chiến khu Việt Bắc nhƣ các bài: Vô Đề, Đối
Nguyệt, Đăng Sơn, Thu Dạ, Báo Tiệp, Nguyên tiêu... bên cạnh đó, cũng có không ít những bài
thơ tứ tuyệt của Ngƣời lại đƣợc tổ chức theo một cách riêng không giống với bất kỳ nhà thơ
truyền thống nào. Vì vậy, ở mục nghiên cứu về cách tổ chức một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí
Minh chúng tôi chỉ đi vào một vài nét riêng độc đáo trong bố cục của một số bài thơ tứ tuyệt
điển hình của Hồ Chí Minh, cụ thể nhƣ:
3.2.1. Cách diễn đạt không giống với ai
Dùng cách nói phủ định để khẳng định cái éo le của hoàn cảnh.
Thu thâm vô nhục diệc vô chiên
(Đêm thu không đệm cũng không chăn)
(Đêm lạnh)
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
(Trong tù không rƣợu cũng không hoa)
(Ngắm Trăng)
Quế Lâm vô quế diệc vô lâm
(Quế Lâm không quế không rừng)
(Đến Quế Lâm)
Vô diêm, vô thái, hƣu vô thang
(Không rau, không muối, canh không có)
(Cơm tù)
Dùng cách nói liệt kê sự vật hiện tƣợng, làm cho tứ thơ toát lên một ý vị tự nhiên gây
ảnh hƣởng trực tiếp đến nhận thức của ngƣời đọc trƣớc một vấn đề nào đó:
Chử phạm, chử trà, hƣu chử thái
(Cơm nƣớc, rau canh, đun với nấu)
131
(Sinh hoạt trong tù)
Có khi câu thơ đƣợc xây dựng trên một tứ thơ có cấu trúc ràng buộc khép kín tạo ra
một sự tƣơng phản, bộc lộ mâu thuẫn trong bản chất của sự vật hiện tƣợng:
Thùy yếu tẩy diện vật phanh trà
Thùy yếu phanh trà vật tẩy diện.
(Ai muốn rửa mặt thì đừng đun trà,
Ai muốn đun trà thì đừng rửa mặt).
(Chia nƣớc)
Khai lung chi thời đỗ bất thống
Đỗ thống chi thời, lung bất khai!
(Khi mở cửa tù thì không đau bụng,
Khi bụng đau thì cửa tù không mở)
(Bị hạn chế)
Có khi câu thơ cũng đƣợc xây dựng trong một cấu trúc ràng buộc khép kín nhƣng lại
tồn tại trong thế tƣơng đồng:
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
(Cô gái xóm núi đang xay ngô,
Ngô xay xong bếp lò đã cháy).
(Chiều hôm)
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
(Mây ôm núi, núi ôm mây)
(Mới ra tù tập leo núi)
Đặt biệt khi cần diễn đạt một nghịch lý, câu thơ đƣợc cấu trúc giống nhƣ thể cách
trình bày một quy tắc tam suất nghịch biến, có giá trị ghi nhận
132
một thực tế éo le nhƣng lại có tính quy luật, một hiện tƣợng ad - hoc hiếm thấy trên đời:
Thác lộ - song xa - dã một dụng
Phùng thời - nhất tốt - khả thành công
(Nếu lỡ bƣớc, hai xe cũng vô dụng,
Khi gặp thời, một tốt có thể thành công)
(Học đánh cờ)
Cao sơn - ngộ hổ - chung vô dạng,
Bình lộ - phùng nhân - khƣớc bị giam.
(Núi cao gặp hổ, rút cục vẫn không đáng ngại,
Đƣờng phang gặp ngƣời lại bị bắt giam).
(Đƣờng đời hiểm trở)
3.2.2. Cách vào đề bất ngờ và đa dạng.
Thƣờng ở vị trí câu thứ nhất của một bài tứ tuyệt cổ điển, câu mở đầu giữ một vị trí
khá khiêm tốn, câu mở đầu là câu đề dẫn, khơi gợi vấn đề một cách khá nhẹ nhàng nhằm mục
đích gợi sự chú ý của ngƣời đọc vào vấn đề đƣợc lột tả ở những câu thơ sau nó.
Trong bố cục một bài thơ tứ tuyệt của nhà thơ Hồ Chí Minh ngoài việc tuân thủ bố
cục của một bài thơ tứ tuyệt truyền thống nhƣ đã nói ở trên, còn có những bài thơ tứ tuyệt có
bố cục đặc thù. Cụ thể cách vào đề của một số bài tứ tuyệt của Hồ Chí Minh thƣờng rất tự
nhiên, hồn nhiên và bất ngờ nhƣ lời kể chuyện dân gian, nhƣ ca dao dân ca, nhƣ sự mở đầu
của một thiên truyện ngắn hoặc tiểu thuyết hiện đại. Chính sự mở đầu này đã chuẩn bị cho
một bố cục toàn bài và báo hiệu cho một câu cuối kết thúc rất bất ngờ đặc sắc, đẩy bài thơ đi
đến đỉnh điểm cảm xúc, sáng tạo.
Câu mở đầu không quanh co, không ẩn dấu dụng ý của tác giả mà trực tiếp nói thẳng
vào vấn đề, tác động trực tiếp vào nhận thức của ngƣời
133
đọc, bắt ngƣời đọc tập trung cao độ, chú ý vào vấn đề ngay từ lúc ban đầu. Do vậy, cách vào
đề của những bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh có một đặc thù là rất đa dạng luôn gây một sự bất
ngờ và để lại ấn tƣợng sâu sắc trong lòng ngƣời đọc. Cụ thể ở một số bài nhƣ: Bài "Em bé
trong nhà lao Tân Cương", câu mở đầu bằng một câu thơ chỉ có ba âm tiết sự ghi âm tiếng
khóc của trẻ thơ: "Oa... oa... oa...", một đứa trẻ mới nửa tuổi đời đã phải vào nhà lao vì cha nó
không chịu đi lính giữ nƣớc nhà. Tiếng khóc ấy, ngay từ đầu đã thông báo cho ngƣời đọc một
điều gì đó không bình thƣờng, đó không phải tiếng khóc mà chúng ta thƣờng gặp ở trẻ thơ,
mà đó là tiếng khóc số phận của những con ngƣời mới sinh ra đã bất hạnh. Một tấn bi kịch
đƣợc đặt ngay trên câu đầu của bài thơ gây ấn tƣợng mạnh mẽ. Ở bài "Nửa đêm nghe tiếng
khóc chồng", câu thơ mở đầu cũng là một tiếng khóc. Tiếng khóc của một ngƣời phụ nữ khóc
chồng trong đêm vắng: "Ô hô phu quân! Hề phu quân" (Than ôi chàng hỡi! Hỡi chàng ơi!)
toàn bộ nỗi đau khổ của ngƣời phụ nữ trong bài thơ dƣờng nhƣ đã dồn cả vào câu thơ mở đầu
của bài thơ. Ngƣời đọc mới đến với bài thơ đã cảm nhận ngay đƣợc nỗi lòng của con ngƣời
trong thơ và điều ấy, đem đến cho ngƣời đọc một sự thƣơng cảm sâu sắc. Bài thơ "Mội người
tù cờ bạc bị chết cứng" cũng vậy, câu thơ mở đầu: "Tha thân chì hữu cốt bao bì" (Thân hình
anh ấy chỉ còn da bọc xƣơng), với câu mở đầu ấy, hình ảnh tội nghiệp của thân phận một con
ngƣời phải chết trong khổ sở đã tác động trực tiếp vào thị giác của ngƣời đọc, làm trào dâng
trong lòng ngƣời đọc một nỗi xót xa thƣơng cảm sâu sắc.
Câu thơ mở đầu "Túc Vinh khước sử dư mông nhục" (Phố Túc Vinh mà để ta mang
nhục) trong bài thơ Bị bắt ờ phố Túc Vinh, lại có vẻ nhƣ một sự tình cờ, một duyên cớ chữ
nghĩa với các địa danh có thật, nhƣng lại nói thẳng vào vấn đề bộc lộ trực tiếp tâm trạng con
ngƣời trong thơ, dẫn ngƣời đọc đi ngay vào thế giới tâm trạng của nhà thơ. Đây không chỉ là
nỗi bất bình,
134
mà trong nỗi bất bình ấy là một sự chua xót cho hoàn cảnh oan trái của chính bản thân ngƣời
tù Hồ Chí Minh. Ở bài: "Bị hạn chế", câu thơ mở đầu cũng gây một sự bất ngờ: "Một hữu tự
do chân thống khổ" (Không có tự do thật thống khổ). Mở đầu bài thơ tác giả bộc lộ ngay với
ngƣời đọc một tâm trạng bức xúc đến cao độ và một cái nhìn hết sức đời thƣờng, hết sức
nhân bản về hai chữ tự do. Ngƣời đọc bất ngờ nhận ra một điều gì đó rất gần gũi với tất cả
mọi ngƣời trong cách hiểu về khái niệm tự do. Ở bài: "Việt Nam có báo động" câu mở đầu
"Ninh tử bất cam nô lệ khổ''' (Thà chết không chịu nỗi khổ nhục nô lệ) giống nhƣ một lời
tuyên thệ. Bầu nhiệt huyết cùng với sự bất đắc chí của con ngƣời trong thơ đều gửi gắm vào
câu thơ mở đầu. Ở bài thơ có nhan đề là "? !" có câu mở đầu là một lời than trách: "Không
không khổ liễu tứ thập thiên" (Không đâu mà khổ mất bốn mƣơi ngày) đọc cả bài thơ, chúng
ta nhận thấy: dƣờng nhƣ tất cả nỗi bức xúc trƣớc hoàn cảnh đã đƣợc nhà thơ dồn nén trong
câu thơ mở đầu này.
Câu thơ mở đầu bài thơ có khi lại chứa đựng nội dung chính của cả bài thơ: "Tranh
ninh ngã khẩu tự hung thần" (Dữ tự hung thần miệng chừng nhai) ở bài thơ "Cái cùm chân I"
nhƣ đã lột tả đƣợc toàn bộ bản chất khắc nghiệt của nhà tù Trung Hoa dân quốc thời ấy. Câu
thơ "Thế gian cánh hữu ly kỳ sự" (Trên đời lại có chuyện thật ly kỳ) trong bài "Cái cùm chân
II chứa đựng nội dung của toàn bài thơ, đó chính là cái nhìn đầy nghịch lý của tác giả trƣớc
một hiện tƣợng có thật của nhà tù.
Câu thơ mở đầu lại chính là lời kết luận của cả bài thơ: đây là trƣờng hợp ở bài Nhà
lao Quả Đức:
Giam phòng dã thị tiểu gia đình
Sài, mễ, du, diêm, tự kỷ doanh.
Mỗi cá lung tiền nhất cá táo
Thành thiên chữ phạn dữ điều canh.
135
(Nhà giam mà nhƣ thể một gia đình nhỏ
Gạo, củi, muối, dầu đều tự mình lo toan.
Trƣớc mỗi phòng có một cái bếp.
Suốt ngày thổi cơm cùng nấu canh).
Đọc bốn câu thơ của bài tứ tuyệt trên, ngƣời đọc dễ dàng nhận thấy lời kết luận bài
thơ lại nằm ngay ở chính câu thơ mở đầu, còn ba câu thơ sau là những dẫn chứng cụ thể cho
một kết luận đã đƣợc đƣa ra trƣớc nhất. Dƣờng nhƣ mọi bất cập của xã hội và một cái "cười
nhếch mép", nhƣng không có ý mỉa mai mà chỉ là một sự buồn cƣời của tác giả trƣớc những
điều bất cập ấy, đều đƣợc tập trung đầy đủ trong câu mở đầu "Nhà lao mà giống tiểu gia
đình".
Câu mở đầu có khi là một câu phủ định, mƣợn chuyện này để nói đến một chuyện
khác, gây sự bất ngờ cho ngƣời đọc và tạo ra một tiền đề cho sự khẳng định:
Quế Lâm vô quế diệc vô lâm
(Quế Lâm không quế cũng không rừng)
(Đến Quế Lâm)
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
(Trong tù không rƣợu cũng không hoa)
(Ngắm trăng)
Cách vào đề của những bài thơ tứ tuyệt vừa phong phú, vừa đa dạng, nhà thơ Hồ Chí
Minh đã thể hiện một bút pháp thơ độc đáo trong việc sử dụng thể loại thơ tứ tuyệt. Đọc một
bài thơ tứ tuyệt có bố cục đặc biệt nhƣ vậy, khi xếp tập thơ lại, cái dƣ âm của câu thơ mở đầu
vẫn còn vang mãi!
3.2.3 Cách kết thúc bất ngờ đặc sắc.
Đối với một bài thơ tứ tuyệt thì câu kết có một vị trí rất đặc biệt. Ngƣời làm thơ rất
chú ý đến vai trò của câu kết. Trong một bài thơ tứ tuyệt, cái khó
136
nhất là làm cho câu kết hay, bởi câu kết là câu để dành để chốt các vấn đề, nhƣng vừa đóng
lại, vừa mở ra và luôn phải đƣợc nâng cao, với nhiệm vụ là làm sao để lại thật nhiều dấu ấn
trong lòng ngƣời đọc. Câu kết trong những bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh không chỉ đạt đƣợc
yêu cầu câu kết của một bài tứ tuyệt cổ điển, mà còn đạt đến sự độc đáo riêng có. Trong bài
"Vô đề":
Đã lâu không làm bài thơ nào,
Nay lại thử làm xem ra sao.
Lục khắp giấy tờ vần chửa thấy,
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao.
một câu kết hết sức tự nhiên, nó đổi hẳn tính chất và sắc thái của bài thơ từ một tình cảm rất
bình thƣờng đƣợc bộc lộ ở ba câu đề - thực - luận, nhƣng khi đến câu kết, bỗng đột ngột
chuyển thành một tiếng reo vui tột bậc "Bỗng nghe vần thắng vút lên cao", ngƣời đọc cảm
nhận đƣợc sự náo nức, rạo rực trong niềm phấn khởi to lớn của nhà thơ trƣớc thắng lợi của
dân tộc sắp đến. Giọng điệu ƣơng câu thơ đƣợc cấu tạo giống nhƣ một thế vƣợt thác, có lúc
trầm, lúc bổng dồn dập đến cao độ, rồi hạ xuống mênh mang. Có thể phân tích các âm sắc
trong câu thơ để hình dung đƣợc một sơ đồ nhƣ sau: âm tiết thứ nhất là một thanh trắc
(bỗng), tiếp đến là một âm tiết phù bình thanh (nghe), và bên cạnh là một âm tiết trầm bình
thanh (vần), tiếp đến là hai thanh trắc thuộc âm sắc cao đi liền nhau (thắng / vút); và rồi với
hai âm tiết (lên / cao) mang âm sắc phù bình thanh đã làm cho nhạc điệu của câu thơ từ từ hạ
xuống dàn trải mênh mông.
Trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh có rất nhiều kiểu câu kết gây ra sự bất ngờ cho ngƣời
đọc. Bài "Vào ngục huyện Tĩnh Tây" là một ví dụ cụ thể: có một con ngƣời vừa bƣớc chân
vào nhà lao đƣợc tù nhân cũ đón rƣớc "nghênh" (câu đề); con ngƣời ấy ngƣớc nhìn lên trời,
thấy hai đám mây "trục" xua đuổi nhau trôi qua trƣớc mặt (câu thực); ngƣời tù suy ngẫm sự
đời - rồi tất cả đều
137
nhƣ đám mây nổi bay đi hết "phi khứ liễu" (câu luận); chỉ còn lại trong tù một con ngƣời tự
do (câu kết), một câu kết bất ngờ gợi cho ngƣời đọc những điều suy ngẫm về sự thanh cao
của một tâm hồn tự do bất diệt.
Kiểu câu kết đƣợc xây dựng theo cảm hứng tự do ấy, có thể tìm thấy ở rất nhiều bài
thơ tứ tuyệt của nghệ sĩ Hồ Chí Minh nhƣ bài "Vọng nguyệt" cũng có câu kết thật thú vị. Đọc
cả bài thơ, nhà thơ giới thiệu với chúng ta một ngƣời tù phải sống trong lao tù thiếu thốn mọi
bề, nhƣng ngƣời tù ấy không hề bỏ qua cái đẹp của một đêm trăng sáng, trƣớc cảnh đẹp đêm
nay ngƣời tù bối rồi "Đối thử lương tiêu nại nhược hà?" và ngƣời tù ấy đành phải "Hướng
song tiền khán minh nguyệt" và trở thành "thi gia" trong câu thơ kết "Nguyệt tòng song khích
khán thi gia". Một câu kết thật là bất ngờ và thú vị -ngƣời ngắm trăng và trăng ngắm ngƣời,
ngƣời tù ấy bỗng trở thành một thi nhân, thật là kỳ diệu! Quả khó mà có thể viết nổi một tứ
thơ lãng mạn và thoát tục đến nhƣ vậy. Bài "Ngọ hậu" với câu "Tri phủ lung trung dã hữu
tiên?" (Biết chăng trong ngục có ngƣời khách tiên); Bài "Đi Nam Ninh" một ngƣời tù bị trói
tay xích chân bị tình nghi là gián điệp mà lại thấy mình là một vị khanh tƣớng ung dung:
"Nghi dung khước tượng cựu công khanh"; hay ngáy ở giữa cuộc đời bận rộn với bao nhiêu
trói buộc thế nhƣng kiểu câu kết mang cảm thức tự do kia cũng vẫn dạt dào sức sống, câu kết
"Thế sự thung dung nhật nguyệt trường" (Việc làm thung dung ngày tháng dài) trong bài
Thất cửu là nhƣ vậy.
Có những câu kết khiến ngƣời đọc nhƣ vỡ ra một điều gì đó trong nhận thức của
mình. Ở bài Vãn sự xuất hiện câu thơ "Hốt thành mỹ thuật tiểu hàn lâm" đã đột nhiên biến cái
nhà tù thành một viện hàn lâm nghệ thuật nhỏ. Ngƣời đọc bỗng nhận ra một điều rằng: với
nhà thơ Hồ Chí Minh ở đâu có sống là có vui, dù cuộc sống có cơ cực đến đâu thì niềm vui
sống là cái không thể mất đi bao giờ.
138
Trong thơ tứ tuyệt truyền thống, câu kết phải đƣợc chuẩn bị từ câu chuyển. Thế
nhƣng, trong thơ tứ tuyệt của nhà thơ Hồ Chí Minh có khi câu kết lại không bắt đầu từ câu
chuyển, mà đột nhiên có một tứ thơ hoàn toàn khác lạ xuất hiện làm thay đổi toàn bộ hoàn
cảnh, đó là trƣờng hợp của bài thơ Dạ túc Long Tuyền:
Bạch thiên song mã bất đình đề
Dạ vãn thƣờng thƣờng "ngũ vị kê"
Sắt, lãnh thừa cơ lai giáp kích,
Cách lân hân thính hiểu oanh đề.
(Suốt ngày "Đôi ngựa không ngừng vó".
Đêm đến lại đƣợc nếm món "gà năm vị".
Bọ chét và giá rét thừa cơ cùng tiến công,
Mừng nghe xóm bên chim oanh hót buổi sớm).
Ở bài thơ này, ba câu thơ khai - thừa - chuyển đều là nhƣng câu kể, kể lại cái cảnh
khổ của ngƣời tù bị hành hạ về thể xác, bị giải đi bộ, bị trói chân nhƣ gà lúc đi ngủ, bị bọ chét
và giá rét hành hạ. Thế nhƣng sang câu kết lại xuất hiện một tứ thơ dạt dào một tình yêu cuộc
sống. Nếu đúng theo lôgíc thì ba câu thơ đầu chính là tiền đề xây dựng tứ thơ cho câu thứ tƣ -
đó phải là một lời than trách, oán thoán cái khắc nghiệt của chế độ nhà tù, song ngƣợc lại, đó
lại là một tứ thơ đầy lạc quan, đầy sức sống. Sự xuất hiện tứ thơ ấy, làm cho ý của ba câu thơ
đầu biến mất, chỉ còn lại trong lòng ngƣời đọc một tiếng chim oanh thánh thót hót chào một
ngày mới tốt đẹp.
Câu kết của bài thơ nhƣ một cái roi lợi hại, tạo nên yếu tố bất ngờ có tác dụng chuyển
rất nhanh mạch cảm hứng của bài thơ - từ cảm hứng đơn thuần trữ tình sang trào phúng, hài
hƣớc: bài thơ "Tiết thanh minh" là một minh chứng cho điều đó:
Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
139
Lung lý tù nhân dục đoản hồn.
Tá vấn, tự do hà xứ hữu?
Vệ binh giao chỉ biện công môn.
(Tiết thanh minh trời mƣa rả rích,
Tù nhân trong lao buồn đến nẫu ruột.
Ƣớm hỏi: "Nơi nào có tự do?",
Lính gác trỏ ra cửa công đƣờng ở phía xa).
(Thanh minh)
Đọc ba câu thơ đầu, cảm hứng của bài thơ là cảm hứng trữ tình bi phẫn, nhƣng đến
câu thứ tƣ mạch thơ bỗng đột ngột đổi hẳn, âm hƣởng trữ tình đã chuyển sang âm hƣởng trào
phúng, xuất hiện một nụ cƣời châm biếm - chua chát giải tỏa tâm trạng bi phẫn ở trên. Những
câu kết loại kiểu nhƣ thế này giống nhƣ những "cái bẫy" dẫn ngƣời đọc vào những tình
huống không thể lƣờng trƣớc gây nhiều bất ngờ thú vị. Ở bài "Đánh bạc", nhà thơ cũng tạo ra
một câu kết độc đáo kiểu nhƣ vậy:
Dân gian đổ bác, bị quan lạp
Ngục lý đổ bác khả công khai.
Bị lạp, đổ phạm thƣờng ta hối:
Hà bất tiên đáo giá lý lai?
(Ngoài dân đánh bạc bị quan bắt,
Trong lao đánh bạc khá công khai.
Bị bắt con bạc thƣờng hối tiếc:
Sao chẳng vào nơi này từ trƣớc?)
(Đánh bạc)
Câu kết có cách nói trực tiếp, nhƣ độp một cái bắt ngƣời đọc quay về hiện thực, nhận
ra bản chất của hiện thực xã hội. Bài "Ngọ" (Buổi trƣa) cũng vậy: trong tù lúc ngủ trƣa ngƣời
tù: "Mộng kiến thừa long thiên thượng khứ"
140
(Mơ thấy cƣỡi rồng bay lên trời) một giấc mơ tự do thoát tục, một cảm hứng thăng hoa đến
đỉnh điểm, với câu chuyển này, ngƣời đọc chắc không thể ngờ lại có một câu kết đảo ngƣợc
tất cả: "Tỉnh thời tài giác họa lung trung!" (Lúc tỉnh mới biết mình đang nằm trong lao), chỉ
một câu kết, nhà thơ đã đƣa ngƣời đọc từ giấc mơ "cưỡi rồng" trở lại với sự lạnh lẽo của nhà
tù, cảm hứng thăng hoa thoát tục hoàn toàn biến mất, nhƣờng chỗ cho một hiện thực phũ
phàng.
3.2.4. Các hình thức liên kết một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
Đi vào nghiên cứu cách tổ chức một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng tôi tìm
thấy một hệ thống các dấu hiệu xác lập sự liên kết của các câu thơ trong một bài thơ tứ tuyệt,
đây là điều rất đặc biệt trong cách tổ chức một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh so với thơ tứ
tuyệt truyền thống. Trong phong cách văn bản, nói chung các phƣơng tiện liên kết câu thƣờng
xảy ra ở những văn bản văn xuôi và rất hiếm đƣợc dùng trong thơ ca, nhất là thể thơ tứ tuyệt.
Đối với một văn bản là văn xuôi, nếu không có các phƣơng tiện liên kết, không thể nhận biết
đƣợc các mối quan hệ giữa các câu một cách chính xác và rõ ràng. Có thể nói rằng, các
phƣơng tiện liên kết nhƣ những chất kết dính dùng để móc nối các câu lại tạo thành một văn
bản thống nhất chặt chẽ, mang một ý nghĩa tƣờng minh. Ngƣợc lại, đối với văn bản thơ ca nói
chung, các phƣơng tiện liên kết câu, đặc biệt là liên kết hình thức có thể tồn tại một cách lỏng
lẻo, thậm chí thƣờng xuyên vắng bóng trong cấu tạo một bài thơ đó cũng là lẽ thƣờng tình, vì
theo quan niệm của ngƣời xƣa, thơ là một thể loại có đặc trƣng - lời ít mà ý nhiều, tránh nhất
là sự dài dòng. Do vậy, thơ xƣa không có các phƣơng tiện liên kết hình thức, nhƣng đối với
thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, trong cách tổ chức của mỗi câu thơ, hay trong bố cục của một bài
thơ; thậm chí cả một tập thơ đều có sự hiện hữu của các phương tiện liên kết, từ liên kết nội
dung đến liên kết hình thức. Chính điều ấy, đã làm nên tính thống nhất, nhất quán trong
những bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời. Qua đó, khẳng
141
định một bút pháp, một thi pháp riêng có, góp phần xác lập nên cái nền phong cách của nghệ
sĩ Hồ Chí Minh. Và đây cũng chính là điểm: "Khác với thơ tứ tuyệt Đường luật nói chung,
trong đó các câu thơ là những khối rời lắp ghép lại, xếp chồng lên nhau, không để bất kỳ một
dấu hiện liên kết hình thức nào. Ngược lại, thơ Hồ Chí Minh, luôn luôn có những mối liên hệ
chặt chẽ. Cách tổ chức câu thơ, các thành phần bố cục nhờ được móc nối, gắn mạch, thậm
chí nói là được khớp mộng với nhau như vậy đã khiến cho bài thơ đạt đến mức hoàn thiện.
Khó có thể thêm bớt, thay thế hay điều chỉnh dù chỉ là một tiểu tiết, mà không có nguy cơ phá
vỡ lâu đài cấu trúc" [91; 223]. Đây là một nhận xét hoàn toàn chính xác và tinh tế. Theo
chúng tôi, tính hiện đại trong hình thức của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh chính là chỗ đó. Các
phƣơng tiện liên kết các câu thơ trong một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh mà chúng ta
thƣờng gặp đó là:
Thứ nhất: Các phương tiện liên kết hình thức:
- Lặp từ là một phƣơng tiện liên kết câu thể hiện ở chỗ, trong các câu khác nhau của
cùng một bài thơ có một số từ, hoặc một số cụm từ đƣợc nhắc lại nhiều lần nhƣ trong một số
bài thơ: "Chia nước", "Rời Bắc Kinh"...
Mỗi nhân phân đắc thủy bán bồn,
Tẩy diện, phanh trà các tùy tiện
Thùy yếu tẩy diện, vật phanh trà,
Thùy yếu phanh trà, vật tẩy diện
(Mỗi ngƣời đƣợc chia một nửa chậu nƣớc
Rửa mặt hay đun trà là tự ý mình
Ai muốn rửa mặt thì đừng đun trà
Ai muốn đun trà thì đừng rửa mặt).
(Chia nƣớc)
Ký Bắc thiên tâm huyền hao nguyệt
142
Tâm thùy hạo nguyệt cộng du du
Hạo nguyệt thùy phân vi lƣỡng bán?
Bán tùy cựu hữu, bán chinh phu.
(Giữa trời Ký Bắc lơ lửng vần trăng tỏ
Lòng ai theo trăng tỏ cùng dằng dặc,
Vầng trăng tỏ kia ai xẻ làm đôi?
Nửa theo bạn cũ, nửa theo khách chinh phu).
(Rời Bắc Kinh)
Cụm từ "tẩy diện"; "phanh trà" và "thùy yếu" trong bài "Chia nƣớc"; và cụm "hao
nguyệt" trong bài "Rời Bắc Kinh", đƣợc lặp lại nhiều lần trong bài thơ tạo nên sự liên kết
hình thức giữa các câu thơ.
- Dùng phƣơng thức nối tổ hợp từ và lặp từ để liên kết các câu thơ trong bài thơ.
Lão phu nguyên bất ái ngâm thi,
Nhân vị tù trung vô sở vi.
Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật
Thả ngâm thả đãi tự do thì
(Già này vốn không thích ngâm thơ,
Nhân vì trong tù chẳng có việc gì làm,
Tạm mƣợn việc ngâm thơ cho qua ngày dài,
Vừa ngâm vừa đợi ngày tự do)
(Mở đầu tập Nhật ký)
Ở bài thơ trên, câu 2 nối với câu 1 bằng một tổ hợp từ "nhân vị" và sự lặp lại động từ
"ngâm" đã nối cả bài thơ thành một chỉnh thể thống nhất.
- Dùng câu hỏi để liên kết các câu thơ trong một bài thơ đó là trƣờng hợp của bài thơ
có nhan đề là một dấu "?", bài "Tiếc ngày giờ", bài "Báo tin thắng trận"...
143
Liễu Châu, Quế Lâm hƣu Liễu Châu.
Dịch lai dịch khứ, tƣợng bì cầu.
Hàm oan đạp biến Quảng Tây địa,
Bất tri giải đáo kỷ thời hƣu?
(Liễu Châu, Quế Lâm lại Liễu Châu
Đá qua đá lại nhƣ quả bóng.
Ngậm oan đi khắp đất Quảng Tây.
Không biết giải đến bao giờ mới thôi?)
(?)
Thƣơng thiên hữu ý tỏa anh hùng
Bát nguyệt tiêu ma cốc trất trung.
Xích bích thốn âm chân khả tích.
Bất tri hà nhật xuất lao lung?)
(Trời xanh có ý ức chế ngƣời anh hùng
Tám tháng mòn mỏi trong chốn cùm gông.
Tấc bóng quý hơn thƣớc ngọc, thật là đáng tiếc!
Chẳng biết ngày nào thoát khỏi vòng lao tù?)
(Tiếc ngày giờ)
Ở hai bài thơ 'Tiếc ngày giờ" và bài thơ có tiêu đề là một dấu "?", đều có câu thơ kết
là một câu hỏi tu từ không có câu trả lời, chính câu hỏi tu từ ấy là kết quả rút ra từ những câu
thơ trƣớc đó, với dấu "?" một mạch liên kết ngầm đã kết nối toàn bộ các câu thơ trong bài thơ
thành một thể thống nhất chặt chẽ.
Còn ở bài "Báo tiệp":
Nguyệt thôi song vấn: Thi thành vị?
Quân vụ nhƣ mang vị tố thi.
Sơn lâu chung hƣởng kinh thu mộng
144
Chính thị liên khu báo thiệp thì.
(Trăng đẩy cửa sổ hỏi: Thơ xong chƣa?
Việc quân đang còn bận, thơ chƣa làm đƣợc.
Tiêng chuông ở lầu trên núi bỗng làm kinh động giấc thu
Ấy là tiếng chuông báo tin thắng trận của liên khu báo về).
(Báo tin thắng trận)
Câu thơ mở đầu bài thơ "Báo tiệp" là một câu hỏi, và câu thơ thứ 2 là câu trả lời, cho
nên nó có một mối liên kết hình thức rất chặt chẽ. Song nhƣ vậy, sự liên kết không chỉ xảy ra
ở câu 1 và câu 2, mà nó còn liên quan đến câu 3 và câu 4; bởi lẽ, hai câu thơ này lại có nhiệm
vụ thuyết minh cho rõ nội dung của câu trả lời. Vì thế cả bài thơ liên kết với nhau.
- Lặp cấu trúc và lặp từ của hai câu thơ làm thành một phƣơng thức liên kết hình
thức của hai câu thơ trong bài thơ, đó là trƣờng hợp của hai câu thơ trong bài "Đánh bạc", câu
2 lặp lại cấu trúc của câu 1:
Dân gian đổ bác, bị quan lạp.
Ngục lý đổ bác, khả công khai.
(Ngoài dân, đánh bạc bị quan bắt.
Trong lao đánh bạc, khá công khai).
(Đánh bạc)
Thứ hai: Phương thức liên kết lôgic ngữ nghĩa:
- Đầu đề một bài thơ tứ tuyệt có khi lại thực hiện chức năng nối kết các câu trong một
bài thơ thành một thể thống nhất chặt chẽ:
Đó là trƣờng hợp của những bài thơ có tiêu đề là cụm danh từ làm trạng ngữ chỉ thời
gian, nhƣ ở bài: "Buổi sớm", "Chiều hôm", "Nắng sớm"...
Thái dƣơng mỗi tảo tòng tƣờng thƣợng
Chiếu trƣớc lung môn, môn vị khai
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám
145
Quang minh khƣớc dĩ diện tiền lai.
(Mỗi sớm mặt trời nhô lên đầu tƣờng
Đã chiếu vào cửa lao, mà cửa chƣa mở.
Trong lao hiện giờ vẫn còn hắc ám
Nhƣng ánh sáng đã rọi tới trƣớc cửa nhà lao rồi)
(Buổi sáng 1)
Tảo khởi nhân nhân tranh liệp sắt
Bát chung hƣởng liễu tảo xán khai.
Khuyến quân thả ngạt nhất cá bão
Bỉ cực chi thời, tất thái lai.
(Sớm dậy, mọi ngƣời tranh thủ bắt bọ chét
Tám giờ, dứt tiếng chuông, bữa ăn sáng bắt đầu.
Khuyên anh hãy cứ ăn no cái đã
Vận rủi hết, vận may ắt đến).
(Buổi sáng II)
Ở hai bài tứ tuyệt Buổi sáng I và II, mặc dù chỉ có cái tiêu đề là mang ý nghĩa thời
gian, những tất cả những câu thơ có mặt trong hai bài tứ tuyệt đều ẩn ý thời gian là buổi sáng.
Có thể thấy rằng, mọi hiện tƣợng diễn ra trong từng câu thơ đều tồn tại trong thời gian ấy. Vì
vậy, nó tạo ra một sự liên kết chặt chẽ trong mỗi bài thơ, làm nên một chỉnh thể thống nhất.
Đó là những từ và cụm từ có ý nghĩa địa điểm làm phƣơng tiện liên kết câu khi các
sự kiện trong bài thơ đƣợc trình bày một cách hợp lý về không gian: ví dụ nhƣ ở bài "Vọng
Thiên San" (Vời trông Thiên San)
Dao vọng Thiên San phong cảnh hảo
Tử hà, bạch tuyết bảo thanh san.
Triều dƣơng sơ xuất xích nhƣ hỏa
Vạn đạo hồng quang chiếu thế gian.
146
(Vời trông Thiên San phong cảnh thực đẹp
Ráng tía, tuyết trắng ôm ngọc núi lam.
Mặt trời buổi sáng mới mọc đỏ nhƣ lửa
Muôn tia ánh hồng tỏa khắp thế gian).
Câu thơ thứ nhất gắn kết với câu đầu đề bằng cách lặp lại cụm từ "vọng Thiên San"
nhƣng mở rộng ý "phong cảnh hảo" tức là giới thiệu với ngƣời đọc rằng Thiên San là một địa
điểm có không gian đẹp. Các câu sau đó tiếp tục phát triển làm lộ rõ cái vẻ đẹp của Thiên
San. Nhƣ vậy, cả bài thơ là tập trung vào không gian đẹp của Thiên San, chính điều ấy đã liên
kết các câu thơ thành một thể thống nhất.
Liên kết theo quan hệ lôgic - ngữ nghĩa: hình thức liên kết này rất phổ biến trong
cách cấu trúc một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Nó chứng tỏ mỗi bài thơ tứ tuyệt của Hồ
Chí Minh thƣờng đƣợc kết cấu rất chặt chẽ giống nhƣ một đoạn văn miêu tả hay kể lại một
câu chuyện nào đó. Do đó, chất tự sự là chủ yếu, ít chất trữ tình, tuân thủ theo nguyên tắc viết
văn xuôi hơn là một bài thơ. Song, một bài tứ tuyệt nhƣ vậy có một bố cục rất rạch ròi, rành
mạch. Ví dụ ở bài "Anh bạn tù họ Mạc"
Phú gia tử đệ, bần gia giáo,
Đổ đảm nhƣ thiên, đảm tự châm
Xa đại pháo tài chân vĩ đại
Tại tù nhƣng tƣởng ngật nhân sâm.
(Con nhà giàu, nhƣng lại nghèo về mặt gia giáo
Gan đánh bạc to nhƣ trời, gan làm ngƣời chỉ bé nhƣ cái kim
Tính huênh hoang, khoác lác mới thực là vĩ đại,
Ở tù vẫn tƣởng đƣợc ăn nhân sâm).
Phƣơng thức liên kết bài thơ trên đƣợc bộc lộ nhƣ sau: Câu 1 là câu mở đầu và cũng
là câu chủ đề của bài thơ, nó phản ánh sự thiếu giáo dục của một
147
cậu con nhà giàu; câu 2 khai triển ý của câu 1 - sự thiếu giáo dục ấy, đƣợc minh chứng bằng
việc: cậu "Ấm " chỉ có gan làm việc xấu mà không có gan làm ngƣời tốt; câu 3 là câu song
hành với câu 1 và 2, tiếp tục làm rõ sự thiếu giáo dục của con nhà giàu; và đến câu 4 là câu
kết quả của ba câu trên. Bài thơ là một câu chuyện kể về một hiện tƣợng xã hội, do đó nó
giàu tính tự sự.
Ở bài "Nạn hữu nguyên chủ nhiệm L" cũng có kiểu liên kết nhƣ vậy:
Quốc gia trọng thác trấn biên thùy.
Hồ nãi vong công, chỉ cố ti (tƣ)!
Thế khoáng thƣờng tòng biên giới khứ.
Kim tiền lô lý chú tù thi.
(Nhà nƣớc giao trọng trách trấn giữ biên thùy
Sao lại nhãng việc công, chỉ lo đến việc tƣ!
Quặng ăng-ti-moan thƣờng đƣa qua biên giới.
Nay trong lò đúc tiền lại đúc thơ tù!)
Các câu thơ cũng đƣợc liên kết với nhau trong cấu trúc tƣ duy của bài thơ. Câu 1 là
câu giới thiệu - trọng trách của chủ nhiệm L, câu 2 liên kết với câu 1 bằng quan hệ tƣơng
phản - chủ nhiệm L đã không làm đúng trọng trách, câu 3 liên kết với câu 2 bằng quan hệ dẫn
chứng - chủ nhiệm L đã để cho quặng Ăng-ti-moan thƣờng qua biên giới, đó là việc làm thiếu
trách nhiệm của chủ nhiệm L. Do vậy, đến câu thơ 4, câu kết luận - đó là cái giá phải trả cho
hoàn cảnh hiện nay của chủ nghiệm L. Cả bài thơ kể lại câu chuyện vì sao chủ nhiệm L lại bị
ngồi tù. Câu chuyện gói gọn trong bài thơ tứ tuyệt chỉ có bốn câu thơ với 28 âm tiết nhƣng
chúng rất logic, chặt chẽ, đó là điều rất đặc sắc trong bút pháp nghệ thuật của Hồ Chí Minh.
Nhƣ vậy, ở trên chúng tôi vừa đề cập đến một số các phƣơng thức liên kết trong cách
tổ chức một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Đó là một đặc
148
điểm rất riêng có làm nên thể tứ tuyệt tự sự trong hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí
Minh.
Nói về sự biểu hiện các phƣơng tiện liên kết hình thức, cũng nhƣ liên kết nội dung
trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ còn tìm thấy rất nhiều những điều kỳ diệu
nếu chúng ta có một cái nhìn sâu hơn trong tổng thể những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
Điển hình là những bài thơ ở tập "Nhật ký trong tù". Giáo sƣ Đào Thản đã rất sâu sắc chỉ ra
một số các phương tiện liên kết những câu thơ trong các bài tứ tuyệt của tập "Nhật ký trong
tù". Ong cho răng: tiêng nói hƣớng nội cùng với tính khát quát rất cao của tƣ tƣởng đã làm
thành một sợi chỉ đỏ len lỏi suốt các bài thơ nhật ký, tạo ra những tín hiệu thẩm mỹ đa nghĩa,
và nó trở thành những phƣơng tiện liên kết hữu hiệu các bài thơ nhật ký lại với nhau thành
một chỉnh thể thống nhất. Mặc dù các phƣơng tiện liên kết ấy nó ẩn hiện không phải lúc nào
cũng nhận ra đƣợc ngay, nhƣng nó giống nhƣ một thứ duyên thầm trong thơ Hồ Chí Minh,
tuy không hẳn là huyền bí song không dễ gì tƣờng giải.
3.3. Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của nghệ thuật văn chƣơng, "Ngôn ngữ nhƣ là con
thuyền chở mọi giá trị tƣ tƣởng và nghệ thuật vƣợt qua lớp sóng thời gian. Nếu con thuyền bị
vỡ thì chẳng còn gì nữa" [22; 131]. Nghiên cứu ngôn ngữ là con đƣờng khách quan để tìm
đến vẻ đẹp không chỉ là hình thức mà còn là cả nội dung của văn chƣơng. Bởi hình thức nào
cũng chứa đựng nội dung và nội dung nào cũng là nội dung của hình thức. Chính vì vậy,
nghiên cứu văn chƣơng không thể không nghiên cứu phƣơng diện ngôn ngữ của nó.
3.3.1. Một vài nhận định chung về ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
Khi đi vào xem xét những đặc điểm ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng
tôi có những nhận xét khái quát nhƣ sau:
149
Thứ nhất: Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh mang đặc trƣng của văn hóa trung đại
phƣơng Đông, đó là tính hàm súc. Tính chất này xuất phát từ tƣ duy triết học và tƣ duy mỹ
học phƣơng Đông. Ngƣời phƣơng Đông quan niệm lời nói hữu hạn không thể nào diễn đạt
đƣợc cái chân lý vô cùng của vũ trụ và cuộc sống. Vì thế, một trong những đặc trƣng thẩm
mỹ của thi ca phƣơng Đông là nghệ thuật "biểu diễn cái không lời" ("Ngôn vô ngôn" - nói
theo cách nói của Lão Tử, hay "thính hồ vô thanh" - nói theo cách nói của Trang Tử). Nói
khác đi, thơ ca nghệ thuật là lời ít mà ý nhiều, hay "ý tại ngôn ngoại", tức là tiết kiệm ngôn từ
đến mức tối đa và nó chỉ có tính chất gợi nhiều hơn tả. Vì lẽ ấy, ngƣời tiếp nhận luôn cảm
thấy tác phẩm nghệ thuật dƣờng nhƣ còn thiếu, dở dang, quanh co ẩn ý, tạo cho ngƣời đọc
một sự liên tƣởng suy ngẫm, băn khoăn, thắc mắc. Chính điều này đã biến thơ ca phƣơng
Đông thành một thế giới lung linh sức sống và đầy cuốn hút. Ngƣời đọc đi vào thế giới ấy
không bao giờ nhàm chán, càng đi càng thấy mới lạ, thi vị đƣợc niềm vui khám phá. Thơ tứ
tuyệt Hồ Chí Minh có một bộ phận không nhỏ đạt đến trình độ tinh diệu ấy của thơ ca
phƣơng Đông nói chung.
Thứ hai: Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh rất đậm đà màu sắc của văn hóa cổ
truyền dân gian phƣơng Đông, đặc biệt là văn hóa dân gian Việt Nam. Vì thế, ƣơng thơ tứ
tuyệt của Hồ Chí Minh thƣờng có cách nói gần gũi với ca dao, dân ca. Điều này xuất phát từ
tƣ duy mỹ học của dân tộc Việt Nam, một dân tộc ít chuộng triết lý trừu tƣợng, ít quan tâm
truy nguyên bản thể mà thƣờng hƣớng về cuộc sống hiện thực. "Tâm lý này có cội nguồn sâu
xa là từ những đặc điểm lịch sử - xã hội, địa lý của dân tộc Việt Nam" [132; 39]. Chúng ta có
thể gặp nét đặc trƣng ngôn ngữ này ở một số lƣợng không nhỏ các bài thơ tứ tuyệt của Hồ
Chí Minh.
Thứ ba: Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh còn mang sắc thái của hệ thống ngôn ngữ thơ hiện
đại. Cơ sở của nó là tinh thần biện chứng của triết học
150
phƣơng Tây mà cụ thể là tƣ tƣởng của chủ nghĩa Mác trong việc nhìn nhận thế giới hiện thực
trong mối quan hệ biện chứng. Do vậy, thông tin trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh thƣờng
mang tính trực diện, nghĩa là nói thẳng vào vấn đề một cách trực tiếp không né tránh làm cho
sự vật đƣợc lột tả rõ nét, gợi cho ngƣời đọc cảm nhận sự việc bằng các giác quan, tạo ra một
trƣờng liên tƣởng cụ thể chính xác.
Thứ tƣ: ngoài những đặc điểm nêu trên, chúng tôi còn nhận thấy một đặc trƣng chung
nhất của ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là sự "Gọn gàng, giản dị, dân dã không nhiễm
cái mùi sách vở tư biện cằn khô" [62; 210]. Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là "Những
lời đi từ trái tim đến trái tim" [62; 210], trong sáng, dễ hiểu, gần gũi với lời ăn tiếng nói của
mọi ngƣời. Có thể thấy rằng: Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh mang trong nó có tính
dân tộc, tính khoa học và tính đại chúng. Ông Trƣờng Chinh có nhận xét: Về văn phong cách
nói và cách viết của Hồ Chủ Tịch có những nét độc đáo: nội dung khẳng khái và thấm thía,
đi sâu vào tình cảm con người, chinh phục cả trái tim khối óc của người ta, hình thức sinh
động giản dị dể hiểu, giàu tính dân tộc và tính nhân dân.
Chính những đặc điểm ngôn ngữ vừa nêu trên đã chi phối những biện pháp nghệ thuật
của toàn bộ hệ thống thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
3.3.2. Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là sự hội tụ của nhiều nguồn thi
liệu.
Đến với thơ ca của Hồ Chí Minh nói chung, thơ tứ tuyệt của Ngƣời nói riêng, một
điều rất độc đáo là ngôn ngữ trong thơ của Ngƣời chính là nơi hội tụ của nhiều nguồn thi liệu,
từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, từ trang trọng cao nhã, đến bỗ bã bình dân... tất cả đều đƣợc
vận dụng một cách uyển chuyển vào những bài thơ tứ tuyệt vừa đậm nét Đƣờng thi, vừa mới
mẻ hiện
151
đại. Chính vì sự hội tụ kỳ diệu ấy đã làm nên sức sống của hệ thống thi từ đặc sắc trong thơ
tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
3.3.2.1. Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt mang nặng yếu tố truyền thống của thi ca dân tộc và xứ
xở phƣơng Đông.
Trong thơ tứ tuyệt của Ngƣời thƣờng có những câu thơ mang nặng sức sống của
những cụm từ Hán - Việt với tinh thần "Nho gia":
Cụ thể nhƣ:
Kim nhật khan kiến nho nhã nhân
Nhã nhân sử ngã tâm hƣng phấn
(Hôm nay mới gặp đƣợc con ngƣời nho nhã
Ngƣời nho nhã khiến lòng ta phấn khởi)
(Khoa viên họ Trần đến thăm)
Ở hai câu thơ này có cụm từ "nho nhã nhân" và "nhã nhân", Cụ Đào Phan giải thích
theo nghĩa của tự điển Đào Duy Anh là: "Theo nguyên nghĩa trong sách xưa thì "nhà Nho" là
con người thông hiểu cả thiên văn, địa lý, nhân sự; hoặc "nho nhã" là con người thông hiểu
cả thiên thời, địa lợi, nhân hòa, tức như câu "thông thiên địa nhân viết Nho". Bởi thế "Nho
nhã nhân"'-con người nho nhã cũng tức là nhà Nho thanh cao mang phong thái thanh nhã
của con người "thông thiên địa nhân". Và cũng do đấy "nhã nhăn" lại có nghĩa rộng là con
người phong nhã thanh cao, không thô lỗ, không dung tục" [99: 63]. Nhƣ vậy, với cách dùng
cụm từ Hán - Việt, nhà thơ Hồ Chí Minh đã tỏ rõ một quan điểm về sự nhìn nhận và đánh giá
con ngƣời dù ngƣời đó đang ở bên kia chiến tuyến, nhƣng là ngƣời tốt thì Hồ Chí Minh
không hề có một chút định kiến nào, mà ngƣợc lại Ngƣời còn tìm thấy cái nét ngƣời, chất
ngƣời ở trong những con ngƣời ấy, vì ở đâu cũng có ngƣời tốt kẻ xấu đó là một chân lý; đó
cũng chính là lòng tôn trọng lẽ công bằng ở con ngƣời Hồ Chí Minh.
152
Trong bài "Mới ra tù tập leo núi" Hồ Chí Minh có câu thơ: "Giang tâm như kính tịnh
vô trần" (Lòng sông gƣơng sáng bụi không mờ). Cụm từ "giang tâm như kính" và "tịch vô
trần" là cách dùng thể hiện sự trong sạch của các bậc chân Nho, với họ phép "thanh tĩnh" là
điều cốt lõi trong việc tu dƣỡng con ngƣời. Cả Thích Ca, Lão Tử và Khổng Tử đều đề ra
"phép thanh tĩnh" ở trong sự tu dƣỡng của con ngƣời. Trong cốt cách của các nhà Nho thanh
cao, sự thanh khiết của tâm hồn là điều căn bản nhất. Bởi họ không bơn tƣ dục thấp hèn, tức
không bụi bặm, không vẩn đục, không nhơ nhớp. Ở Hồ Chí Minh cũng vậy, mặc dù bị bắt, bị
hành hạ, nhƣng phẩm chất kiên định, tấm lòng trong sáng thủy chung với dân tộc với lý
tƣởng cách mạng vẫn "tịch vô trần", cho nên, Hồ Chí Minh đã ví phẩm chất của mình nhƣ là
"lòng sông như tấm gương sạch" không chút bụi bặm. Đó là phẩm tiết thanh cao của nhà Nho
- cách mạng Hồ Chí Minh.
Bài "Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây":
Tinh vũ phù vân phi khứ liễu
Ngục trung lƣu trú tự do nhân
(Hai thứ mây đen, mây trắng và mây nổi đã bay đi hết,
Trong lao còn giữ lại con ngƣời tự do)
"Phù vân" tức là những đám mây nổi, một từ ngữ mà Nho gia thƣờng dùng để nói về
cái "vạn biến", tức là những gì không phải là giá trị bền vững. Hồ Chí Minh đã dùng cụm từ
này để đối lập với cái "bất biến" là "tự do nhân" để khẳng định với chính mình dù vạn vật có
đổi dời, dù bất cứ trong hoàn cảnh nào, con ngƣời Hồ Chí Minh bao giờ cũng là con ngƣời tự
do. "Tự do nhân" là con ngƣời có nội tâm tự do. Nguyễn Trãi từng có câu: "No lòng tự tại
quản chi là" [125; 408] hoặc "Người mà bất lụy ấy thần tiên" [125; 420].
Còn Hồ Chí Minh:
153
Tự do thiên thƣợng thần tiên khách,
Tri phủ lung trung dã hữu tiên?
(Khách thần tiên trên trời tự do,
Biết chăng trong nhà ngục cũng có khách tiên)
(Buổi chiều)
"Tiên"; "Khách tiên", trong tƣ tƣởng Nho gia "tiên" không xa lánh cõi đời mà hình
ảnh "tiên" bao giờ cũng đi vào lòng cuộc sống theo hƣớng "nhập thế" và "mẫn thế", đó là đặc
trƣng của các chân Nho, so với những dòng tƣ tƣởng khác của phƣơng Đông cổ đại. Chính vì
vậy, ở một bài thơ khác Hồ Chí Minh viết:
Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe,
Trần mà nhƣ thế, kém chi tiên
(Sáu mƣơi tuổi)
Và Nguyễn Trãi trƣớc đó đã từng viết:
... Say rƣợu, no cơm cùng ấm áo,
Trên đời chỉn ấy, khách là tiên! [125; 458]
Ở bài "Buổi sớm" có câu thơ: "Bỉ cực chi thời tất thái lai" (Vận khổ hết, vận may sẽ
đến). Cụm từ: "Bỉ cực"; "Thái lai" cũng nhƣ cụm từ "Khổ tận"; "Cam lai", đó là những khái
niệm của Nho gia. Họ hiểu sự vận động của sự vật theo quan niệm của thuyết biến dịch xƣa
kia, sự vật không tồn tại phát triển một cách cô độc mà lại tác động lẫn nhau, nó nhƣ là một lẽ
tự nhiên trong quy luật của cuộc sống. Đây cũng là cách nhìn lạc quan của Nho gia, vững tin
ở dịch lý là lẽ tất yếu sự biến hóa của vạn vật trên đời: Hết cùng ắt đến thông; hết xấu ắt đến
tốt, hết đắng cay, ắt đến ngọt bùi... dân ta thƣờng nói "Hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai" [16;
112, 113]. Trên cơ sở của thuyết biến dịch xƣa, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh thần biện chứng
của nó trong câu thơ của mình.
154
Ở bài "Chiết tự", Hồ Chí Minh đã sử dụng cách đoán chữ của Nho gia, một thú vui rất
giàu trí tuệ:
Nhân hữu ƣu sầu, ƣu điểm đại, Lung khai trúc sản xuất chân long. (Ngƣời biết âu lo
có ƣu điểm lớn, Nhà lao mở then trúc rồng thật xuất hiện)
Ông Đào Phan giải thích: trong hai câu thơ của Hồ Chí Minh cần đƣợc hiểu là: chữ
"ưu" trong "ưu sầu", thêm vào nét nhân đứng, thành "ưu" trong "ưu điểm", nghĩa bóng của
câu thơ là: "Người biết lo buồn thì ưu điểm lớn". Tiếp đến chữ "lung" bỏ bộ trúc đầu đi, thì
hiện rõ ràng chữ "long", nghĩa bóng của câu này là "Nhà lao mở cửa thì con rồng thật sẽ bay
ra" [99; 115].
Bên cạnh cách dùng từ, Hồ Chí Minh còn sử dụng những cái "mã" của thơ truyền
thống nhƣ: "trùng san"; "chinh nhân"; "thu nguyệt"... rồi các cụm từ mang tính quan niệm
của thơ cổ: "thiên lý quan hà"; "cánh thướng nhất tằng lâu" trong bài một số bài thơ, làm cho
cái "âm vang" truyền thống càng thêm sâu nặng trong những câu thơ tứ tuyệt của Ngƣời.
3.3.2.2..Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh mang đậm nét ngôn ngữ đặc trƣng của
văn hóa dân gian đó là:
- Cách nói hàm súc:
Câu thơ "Mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới; Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ" trong
bài "Ngủ trƣa", mang nặng tâm thức cổ truyền dân gian phƣơng Đông đƣợc dệt nên bằng cả
hệ thống ngôn từ hàm súc. Hình tƣợng ấy lại chứa đựng một sức ám ảnh ngàn đời. Giải thích
hiện tƣợng này phó giáo sƣ Đặng Anh Đào cho rằng: "Bởi đã từng tồn tại giấc mộng kê vàng
ở Trung Quốc và Việt Nam, giấc mơ giàu có ngàn vàng trong phút chốc của anh hề Aclơkanh
(Arlequin) ở phương Tây... Cũng như vậy, hình tượng "Anh đứng trong song sắt; em đứng
ngoài song sắt;" đã hằn sâu trong ký ức của người
155
Việt Nam làm người đọc liên tưởng ngay tới hình ảnh "Thiếp trong cách cửa; Chàng ngoài
chân mây" trong "Chinh phụ ngâm"" [91; 228]. Cách nói này có khả năng đi sâu vào tâm
khảm của ngƣời Việt, bởi những hình tƣợng sống động mạnh mẽ.
Ngoài ra, tính hàm súc trong ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh còn thể hiện
trong việc dùng những thành ngữ dân gian nhƣ: "Bình thủy tương phùng" (Bèo nƣớc gặp
nhau) - thành ngữ chỉ những cuộc gặp gỡ may mắn ngẫu nhiên; "Tuyết trung tống thán" (Cho
than khi trời xuống tuyết) - thành ngữ chỉ tinh thần tƣơng trợ khi gặp khó khăn.
- Cách nói thông tục kiểu dân gian:
Thứ nhất: đó là cách chơi chữ (phần này đã đƣợc phân tích ở mục 3.1.1 Chƣơng 3).
Thứ hai: đó là cách dùng từ bình dân, cách nói nôm na theo kiểu thôn dã hay phố chợ
nhƣ: "Ngạnh phạm" (tù anh chị) trong câu "Ngạnh phạm hào soạn thiên thiên hữu" ở bài "Tù
cờ bạc", còn ở bài "Cơm tù" thì dùng cụm từ "hám gia nương " trong câu thơ: "Một nhân
tống phạn hám gia nương " (Không ngƣời nhà đem cơm đói kêu cha kêu mẹ), ở bài "Anh bạn
tù nọ họ Mạc", cách nói dân dã biểu hiện rất rõ, có khi là một cụm từ, có khi là cả câu thơ:
Xa đại pháo tài chân vĩ đại
Tại tù nhƣng tƣởng ngạt nhân sâm
(Tính huyênh hoang khoác lác mới thật là vĩ đại
Ở tù vẫn tƣởng đƣợc ăn nhân sâm).
Từ "vĩ đại" là cách nói ngƣợc nghĩa từ gốc của ngƣời bình dân, để khuếch trƣơng một
biểu hiện gì đó ngoài sức tƣởng tƣợng. Ở câu "Ở tù vẫn tưởng được ăn nhân sâm" là cách nói
mỉa mai mà ngƣời bình dân thƣờng dùng để chế giễu một hành động không hiểu đúng hoàn
cảnh của mình.
156
Thậm chí, cách dùng từ dân dã còn biểu hiện ngay trong tiêu đề một bài thơ: "Nhất cá
đổ phạm ngạnh liễu" (Một ngƣời tù cờ bạc chết cứng); hoặc có khi những câu thơ của Hồ Chí
Minh mang nét mộc mạc trong các biểu lộ tình cảm dân dã của "Kinh thi": "Ồ hô phu quân,
hề phu quân" (Chao ôi! chàng hỡi, hỡi chàng ơi! - "Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng").
Khi nói về cái cực hình mà ngƣời tù phải gánh chịu, nhà thơ Hồ Chí Minh thƣờng
dùng các từ, cụm từ và hình ảnh hết sức dân dã: "Hĩnh điếu thuyền lan tự giảo hình" (Cẳng
chân bị treo ngƣợc lên lan can thuyền nhƣ phạm tội hình treo cổ), cụm từ "hĩnh điếu thuyền
lan" gây ấn tƣợng sâu sắc. Ở bài "Dạ túc Long Tuyền" cũng vậy, nhà thơ Hồ Chí Minh dùng
cách nói hài hƣớc của văn hóa dân gian trong hai câu thơ:
Bạch thiên song mã bất đình đề
Dạ vãn thƣờng thƣờng ngũ vị kê.
(Suốt ngày "đôi ngựa" không ngừng vó
Đêm đến lại đƣợc nếm món "gà năm vị").
Các cụm từ theo cách nói dân dã đó là: "Song mã" (đôi ngựa) là cách nói ám chỉ đôi
chân phải cuốc bộ trong một chặng đƣờng dài nhƣ chân ngựa; "ngũ vị kê"(gà năm vị) là món
gà ăn "gà năm vị" của ngƣời Trung Quốc, đó cũng là cách nói ám chỉ cảnh ngƣời tù bị trói
chân trƣớc khi đi ngủ, giống nhƣ chân gà nấu trong món ăn. Cách nói này làm cho "cái bi"
lồng vào đƣợc trong "cái hài" một cách tinh tế, tạo ra nụ cƣời vừa hóm hỉnh, vừa chua chát.
Đặc biệt cách nói kiểu bình dân này thƣờng xuyên đƣợc Hồ Chí Minh sử dụng trong
những bài tứ tuyệt kêu gọi vận động quần chúng nhân dân tham gia cách mạng, nhƣ câu:
"Cách mạng thì ta cách tới nơi" trong bài "Đã là cách mạng chớ lôi thôi"; hay trong bài "Bây
lâu mơ ngủ mãi chưa thôi"
Bấy lâu mơ ngủ mãi chƣa thôi
Cách mạng ồn ào khắp mọi nơi.
157
Này trống văn minh khua dậy đất
Kìa chuông Độc lập gõ vang giời.
Ở bài thơ trên, các cụm từ "cách mạng ồn ào"; "trống văn minh khua dậy đất";
"chuông Độc lập gõ vang trời" cũng với các đại từ chỉ định "này ... kia" là thể hiện cách nói,
cách diễn đạt mang đậm phong cách, giọng điệu của Ngƣời bình dân - giàu tính khẩu ngữ.
3.3.2.3. Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh mang những yếu tố của ngôn ngữ thơ
ca hiện đại, cụ thể nhƣ:
- Cách nói grôtexcơ:
Cách dùng từ dân dã phản thi ca: "xí khanh" (hố xí), trong câu "Xí khanh thượng tọa
đãi triều lai" ở bài "Khi mới đến nhà lao Thiên Bảo"; hoặc ở bài "Bị hạn chế", là một đặc
điểm độc đáo trong cách dùng từ của nhà thơ Hồ Chí Minh. Chúng ta thấy rằng: khi nói đến
cái khắc nghiệt mà cảnh tù tội, nhà thơ không ngẩn ngại nói "toét" ra theo kiểu nói rất bình
dân: "Xuất cung dã thi nhân chế tài" (Đi tiêu mà cũng bị ngƣời ta hạn chế). Phân tích những
câu thơ trên, chúng ta thấy những hình ảnh đối lập nhau đƣợc xây dựng bằng các cụm từ
trang nhã và những cụm từ thông tục đi song hành bên nhau tạo nên tình huống hài: "xí
khanh" với "triều lai"; "tự do" với "xuất cung"; "ban mai" cái thi vị cao cả đƣợc kết hợp với
"hố xí" - một hình ảnh phản thi ca; rồi cái khái niệm "tự do" thuộc lĩnh vực thuần túy trữ tình
thống thiết, luôn luôn thuộc cái cao cả, nhƣng lại đƣợc đặt bên cạch cụm từ "xuất cung"; tất
cả sự tƣơng phản đối lập ấy đã là nên cái grôtexcơ - phản mã thơ. Đặc biệt với khái niệm tự
do, Hồ Chí Minh đã dùng cách nói theo kiểu tƣơng phản nói trên không phải chỉ một lần ở
bài "Bị hạn chế", mà còn thể hiện ở một số bài khác nhƣ các bài: "Quá trưa"; "Anh ấy muốn
trốn"; "Cảnh binh khiêng lợn cùng đi". Sự kết hợp những từ Hán - Việt kiểu trên với những
từ nôm na mách qué phản thơ ca có tác dụng mạnh mẽ tới ngƣời đọc, gây ấn tƣợng khó quên.
158
Chất grôtexcơ còn xuất hiện khi có sự kết hợp giữa các từ Hán - Việt với cái nôm na
thời sự hiện đại. Trên kinh hình những ký hiệu hoàn toàn hiện đại xuất hiện, nhƣ các dấu "?
!"; "?"... rồi hàng loạt các từ ngữ thuộc về thế giới hiện đại: quặng thiết, Nazi, xe tăng, máy
bay, Uy ki... tạo nên một loại câu lƣỡng tính và đa âm nửa hài hƣớc, nửa trữ tình.
Chất grôtexcơ - phản mã thơ còn đƣợc thể hiện qua giọng điệu: ví dụ hình thức nhại
lại câu: "Nhà lao xây dựng kiểu tân thời" (tân thời: "ma đăng", một phiên âm Hán - Việt của
từ "Môdéc" (modern) và đúng hơn theo tiếng Việt là: "mô đần" [91; 232]; hoặc ở bài 'Tiết
thanh minh", cũng là một sự nhại lại bài thơ nổi tiếng của Đỗ Mục. Sự nhại lại nhìn chung
vẫn giữ đƣợc âm điệu trung thành mà lột tả đƣợc chất grôtexcơ, biến hình tƣợng thơ thành
hình tƣợng grôtexcơ.
- Cách nói so sánh ví von:
Ở bài "Hựu nhất cá..." (Lại một ngƣời nữa...)
Di, Tề, bất thực Chu triều túc,
Đổ phạm bất ngật công gia chúc
Di, Tề ngã tử Thú Dƣơng sơn
Đổ phạm ngã tử công gia ngục.
(Bá Di, Thúc Tề không ăn thóc nhà Chu,
Ngƣời tù cờ bạc không ăn cháo nhà nƣớc.
Bá Di, Thúc Tề chết đói trên núi Thủ Dƣơng,
Ngƣời tù cờ bạc chết đói trong lao nhà nƣớc)
Trong bài thơ trên Hồ Chí Minh đã mƣợn điển cố "Bá Di, Thúc Tề" là điển cố nói về
lòng trung thành tuyệt đối của kẻ bầy tôi đến chết cũng không hợp tác với chủ mới, để so
sánh với ngƣời tù cờ bạc không chịu ăn cháo nhà nƣớc mà chết trong tù. Đây là một kiểu so
sánh thật là đặc biệt, tính chất so sánh toát lên vẻ hài hƣớc; một bên là những bậc trung thần
Bá Di, Thúc Tề,
159
đi vào lịch sử với tiếng thơm muôn đời; một bên là những kẻ tù cờ bạc bê tha. Họ đều bất
mãn mà chết, họ thật đáng thƣơng, nhƣng mỗi cái chết để lại cho đời một ý nghĩa khác nhau,
đó chính là dụng ý của ngƣời so sánh.
So sánh ví von dựa trên cấp độ hình tƣợng: thủ pháp này đƣợc sử dụng rất nhiều trong
tập "Nhật ký trong tù". Cụ thể trong một số bài thơ nhƣ: "Đi Nam Ninh"; "Pha trò"; "Ngắm
trăng"; "Vào ngục huyện Tĩnh Tây"; "Buổi chiều"; "Ghẻ lở"... Ở những bài thơ này, nhà thơ
đã rất tài tình trong việc tạo dựng sự đối lập giữa tự do và xiềng xích trên cơ sở của sự ví von:
Tù nhân - khanh tƣớng:
Nghi dung khƣớc tƣợng cựu công khanh
(Nhƣng bộ dạng lại giống một cựu công khanh ngày xƣa)
(Đi Nam Ninh)
Tù nhân - khách quý:
Quân cảnh luân ban khứ hộ tòng
(Quân cảnh thay phiên nhau đi hộ tống
(Pha trò)
Tù nhân - thi gia:
Nguyệt tòng song khích ngắm thi gia
(Trăng nhìn qua khe cửa sổ ngắm nhà thơ)
(Ngắm trăng)
Tù nhân - tự do nhân:
Ngục trung lƣu trú tự do nhân
(Trong lao còn giữ lại con ngƣời tự do)
(Vào ngục huyện Tĩnh Tây)
Tù nhân - khách tiên:
Tri phủ lung trung dã hữu tiên
(Biết chăng trong lao cũng có khách tiên)
160
(Buổi chiều).
Gãi ghẻ nhƣ gảy đàn:
Mãn thân hồng lục nhƣ xuyên cẩm
Thành nhật lao tao tự cổ cầm.
(Khắp ngƣời xanh đỏ nhƣ mặc đồ gấm
Suốt ngày gãi sồn sột tựa gảy đàn)
(Ghẻ lở)
Sự ví von ấy đã tạo ra tiếng cƣời dí dỏm, tiếng cƣời hồn nhiên. Bên trong sự hài hƣớc
kia là một cách thể hiện nhân sinh qua khoảng cách, đó chính là tiếng cƣời an nhiên tỉnh táo
của một con ngƣời luôn nắm bắt đƣợc quy luật của cuộc sống, luôn tự chủ trong mọi hoàn
cảnh. Đó còn là sự thể hiện phẩm chất "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của con ngƣời Hồ Chí
Minh trong hoàn cảnh.
- Cách biện luận tự sự, giàu chất phân tích:
Đọc bài "Cảnh binh khiêng lợn cùng đi", nhà thơ đã dùng thủ pháp biện luận tự sự rất
sâu sắc. Việc đƣa ra hai hình ảnh đối lập giữa con ngƣời và con lợn đã gây ấn tƣợng lớn đến
ngƣời đọc, nhƣng không dừng lại ở đó, nhà thơ còn tạo ra sự so sánh giữa hai đối tƣợng: "Ta
thì người dắt, lợn người khiêng" chính sự so sánh trong cách đối xử giữa con lợn và con
ngƣời làm cơ sở cho sự biện luận trong kết luận của nhà thơ rằng: "Con người coi rẻ hơn con
lợn; chỉ bởi người không có chủ quyền" - đó chính là cách biện luận hùng hồn nhất, có cả
"chứng cứ" rõ ràng - ngƣời đọc chỉ còn biết tâm đắc gật đầu.
Đọc bài: "Ngày đình chiến 11-11" (bài III), thủ pháp biện luận tự sự, rất giàu chất
phân tích lại đƣợc thể hiện rất độc đáo ở chỗ: nhà thơ đã dùng cách nói rất bình dân:
Kháng Nhật tinh kỳ mãn Á châu
Tinh kỳ đại tiểu hữu sai thù
161
Tinh kỳ đại đích cố tu hữu
Tiểu đích tinh kỳ bất khả vô.
(Ngọn cờ kháng Nhật dậy khắp châu Á,
Cờ lớn, cờ nhỏ có khác nhau.
Cờ lớn cố nhiên phải có,
Nhƣng cờ nhỏ cũng không thể không có đƣợc).
Đọc bài thơ đậm chất tự sự này, ngƣời đọc có cảm tƣởng nhƣ đang tham dự một cuộc
họp bàn về chiến lƣợc quân sự và nhà thơ là vị tổng tƣ lệnh hết sức nhạy bén trƣớc thời cuộc
đang vạch ra các sách lƣợc cách mạng. Cách nói "cờ to", "cờ nhỏ" thật gần gũi với kiểu nói
dân dã nhƣng lại có khả năng cảm hóa, thuyết phục ngƣời nghe một cách sâu sắc. Cách biện
luận rằng, trong cuộc cách mạng thì mỗi nƣớc lớn, nhỏ tuy có mức độ khác nhau, nhƣng
không thể thiếu vai trò một nƣớc nào dù lớn hay nhỏ để làm nên thắng lợi cách mạng. Sự
biện luận ấy là một chân lý. Vì thế, cách thức biện luận trong bài thơ tuy rất bình dân, song
thật chắc chắn. Phải chăng đó là cái nhìn của một nhà quân sự - chính trị lỗi lạc Hồ Chí Minh
đƣợc thể hiện vào trong thơ.
3.3.3. Tự do trong việc sử dụng ngôn ngữ là hướng đến sự giản dị và đại chúng -
một đặc điểm độc đáo của thỉ pháp ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
Ngôn từ trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh đƣợc sử dụng hết sức đa dạng và phong phú.
Khi đi vào khảo sát 126 bài thơ tứ tuyệt ở tập "Nhật ký trong tù" và 36 bài thơ Ngƣời viết
bằng chữ Hán trong chuyên đi thăm lại Trung Quốc sau khi hòa bình lập lại, chúng tôi thấy ở
những bài thơ tứ tuyệt ấy về ngôn từ là rất đa dạng: có sự hiện hữu của lớp từ Hán cổ, có lớp
từ bạch thoại, có lớp từ dùng theo kiểu tiếng Việt, lại có cả các lớp từ thuộc ngôn ngữ An Âu.
Sở dĩ nhƣ vậy là vì, Hồ Chí Minh quan niệm "Cuộc sống cao hơn nghệ thuật và thể hiện sâu
sắc cuộc sống là thước đo chuẩn mực của mọi hình thức
162
văn chương" [91;136]. Do đó, Hồ Chí Minh có một phong cách rất tự do trong việc sử dụng
thể loại thơ tứ tuyệt và ngôn ngữ của nó. Sự tự do ấy thể hiện trong việc sử dụng ngôn từ và
ngay trong cả cách cấu trúc ngữ pháp của một câu thơ, thậm chí cả bài thơ. Đây chính là
khuynh hƣớng vƣơn đến sự giản dị, sự trong sáng và tính đại chúng trong việc sử dụng ngôn
ngữ xây dựng tứ thơ của nhà thơ Hồ Chí Minh.
Các kiểu dùng từ ngữ, câu thơ và kết cấu ngữ pháp một cách tự do thoải mái mà
chúng ta thƣờng gặp đó là:
3.3.3.1. Tự do trong cách dùng từ.
Trong một bài thơ tứ tuyệt luôn có mặt những từ Hán cổ chen lẫn những từ bạch
thoại, thậm chí cả từ mang ngôn ngữ Ấn Âu. Ví dụ nhƣ ở bài "Nam Ninh ngục":
Giam phòng kiến trúc đính "ma đăng"
Triệt dạ huy hoàng chiếu điện đăng.
Nhân vị mỗi xan duy hữu chúc,
Sử nhân đỗ tử chiến căng căng.
Ở bài thơ này chúng ta thấy có sự hiện diện của từ: "Đính " có nghĩa là "rất", từ này
hoàn toàn là của văn ngôn, vì bạch thoại "rất" đƣợc viết là "hấn". Bên cạnh đó từ "nhân
vị" có nghĩa là "vì rằng", lại là một từ chỉ có bạch thoại mới dùng. Còn từ "ma - đăng" là từ
phiên âm từ tiếng Anh "modern" có nghĩa là tối tân, hiện đại.
Ở bài "Song thập nhất 1"
Tòng tiền mỗi đáo song thập nhất
Kỷ niệm Âu châu bãi chiến kỳ
Kim nhật ngũ châu đồng huyết chiến
Tội khôi tựu thị ác Na - zi.
163
Bài thơ cùng có sự pha trộn ba loại lớp từ khác nhau cùng tồn tại một cách tự nhiên
thoải mái không hề bị gƣợng ép. "Tòng tiền" là một từ bạch thoại, "Na-zi" là một từ Ấn Âu
đƣợc phiên âm có nghĩa là phát xít.
Có khi một bài thơ viết bằng chữ Hán lại có cả một câu thơ ghi âm tiếng khóc bằng
kênh hình tiếng La Tinh mà ngƣời Việt Nam hay dùng, và nó tồn tại một cách tự nhiên: Oa...
Oa... Oa..., đó là trƣờng hợp của bài thơ "Em bé trong nhà lao Tân Dương".
Ở bài thơ "Tảo II", ở câu thơ tiêu biểu: "Khuyến quân thả ngật nhất cá bão", sự pha
trộn ở đây thật rõ ràng. Trong cùng một câu thơ, bên cạnh cách dùng từ rất cổ lại có cách
dùng những từ rất hiện đại. Ví dụ nhƣ từ khuyến quân nghĩa là khuyên anh, cách nói của văn
ngôn; nhƣng đến những âm tiết tiếp theo cũng trong câu thơ ấy lại sử dụng những từ hoàn
toàn bạch thoại ngật nhất cá bão đƣợc dịch là ăn một bữa cho no, cách nói này là cách nói
hiện đại và rất khẩu ngữ. Tƣơng tự ở bài "Sinh hoạt trong tù " cũng nhƣ vậy, câu thơ "Thành
thiên yên hỏa một thời vô", tác giả cũng vừa dùng từ Hán cổ "vô" có nghĩa là "không"; lại
vừa dùng từ bạch thoại "một" cũng có nghĩa là "không" - dùng một lúc hai từ của hai lớp từ
khác nhau để chỉ cùng một nghĩa trong cùng một câu thơ là một điều đặc biệt hiếm thấy ở các
nhà thơ.
- Tự do trong việc dùng các hƣ từ cũng là một điều đáng nói. ở những bài thơ tứ tuyệt
Hồ Chí Minh, ta thƣờng thấy sự có mặt cả hai hệ thống hƣ từ của văn ngôn và bạch thoại.
Bên cạnh những hƣ từ cổ nhƣ: chi, hồ, giả, dã..., thì có các hƣ từ hiện đại trong kết cấu ngữ
pháp của câu văn bạch thoại nhƣ: liễu, bả, đích, cá, dã, kỷ, giá, lý... tất cả tồn tại một cách tự
nhiên hợp lý trong kết cấu của những bài thơ tứ tuyệt. Vì thế, việc dùng hƣ từ của nhà thơ rất
tự do. Điển hình nhƣ việc dùng từ "dã" và "diệc" cũng có nghĩa là "cũng",
164
song vì đều có nghĩa nhƣ nhau nên trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh có khi câu thơ này
dùng "dã ", nhƣng câu thơ khác lại dùng "diệc ".
Ngục trung nhân dã thƣởng trung thu
(Trung thu)
Ngã dã "phỏng Hoa đoàn" nhất bộ
(Anh phỏng Hoa đoàn)
Thu thâm vô nhục diệc vô chiên
(Dạ lãnh)
Quế Lâm vô quế diệc vô lâm
(Đến Quế Lâm)
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
(Vọng nguyệt)
Việc sử dụng đại từ nhân xưng cũng biểu hiện một sự tự do không hề bó buộc. Ví dụ
nhƣ khi dùng đại từ nhân xƣng ngôi thứ nhất, dùng với nghĩa tôi, ta, nhà thơ có ba cách xƣng
là: "ngã”, "ngô”, "dƣ":
Dƣ nguyên đại biểu Việt Nam dân
(Thế lộ nan III)
Thí vấn dƣ sở phạm hà tội
(Đáo đệ tứ chiến khu chính trị bộ)
Ngã lai chi thời hòa thƣợng thanh
(Dã cảnh)
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trƣơng
(Tự miễn)
Cửu nhật ngô nhân đáo Liễu Châu
(Đáo Liễu Châu)
Thậm chí trong cùng một bài thơ mà đại từ nhân xứng ngôi thứ nhất đƣợc dùng hai từ
khác nhau. Cụ thể nhƣ hai câu thơ ở bài "Bị bắt ở phố Túc
165
Vinh", tác giả vừa dùng ở câu thứ nhất là "dƣ" lại dùng ở câu thứ hai là "ngã
Túc Vinh khƣớc sử dƣ mông nhục
Cố ý trì diên ngã khứ trình
- Sử dụng đại từ nhân xƣng ngôi thứ hai cũng rất tự do, đó là việc nhà thơ dùng nhĩ
một từ bạch thoại có nghĩa là anh, bạn... nhƣng cũng có khi lại dùng quân đại từ nhân xƣng
ngôi thứ 2 của văn ngôn có nghĩa là anh, bạn...
Khốn nạn thị nhĩ ngọc thành thiên
(Văn thung mễ thanh)
Giả nhƣ nhĩ tƣởng hảo hảo thụy
(Lữ Quán)
Kỷ nhân cảm tạ nhĩ công lao
(Trúc lộ phu)
Ngã phấn đấu thời quân hoạt động
Quân nhập ngục thời ngã trú lung
(Ký Ni Lỗ I)
Quân tại cừu nhân, cốc trất trung
(Ký Ni Lỗ II)
Tích quân tống ngã chí giang tân
(Ức hữu)
- Sự tự do trong cách dùng từ còn thể hiện ở chỗ dùng nhiều danh từ có cùng một
nghĩa để chỉ một sự vật: ví dụ nhƣ để chỉ nhà tù tác giả đã sử dụng các từ nhƣ: lung, cấm bế
thất, ngục.
Lung lý tù nhân dục đoạn hồn
(Thanh minh)
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám
(Tảo)
166
U ám, Tĩnh Tây cấm bế thất
(Vãn)
Ngục trung lƣu trú tự do nhân
(Nhập Tĩnh Tây huyện ngục)
Ngục trung hốt thính tƣ hƣơng khúc
(Ngƣời bạn tù thổi sáo)
- Có khi dùng từ Hán nhƣng lại để hiểu theo ngữ pháp của tiếng Việt, ví dụ từ "bồi
hồi" trong câu thơ "triều chuyển bồi hồi thụy bất thành" ở bài "Thụy bất trước". Từ "bồi
hồi" ở đây đƣợc dùng trong lúc Hồ Chí Minh đang nằm để ngủ mà không ngủ đƣợc, nhƣ vậy
từ "bồi hồi" đƣợc tác giả dùng với nghĩa tiếng Việt để chỉ một tâm trạng bồn chồn lo âu, khó
tả. Thật ra từ "bồi hồi" trong tiếng Hán của ngƣời Trung Quốc là một động từ, chỉ một hành
động đi đi, lại lại mang một tâm trạng. Trƣờng hợp này đúng với câu thơ "Sồi hồi độc bộ Tây
Phong Lĩnh" trong bài "Tân xuất ngục đăng sơn" bài thơ cuối cùng của tập "Nhật ký trong
tù" của Hồ Chí Minh. Câu thơ cho thấy hình ảnh một con ngƣời đang đi đi, lại lại với một
tâm trạng khó tả, bởi đó là một ngƣời tù mới đƣợc thả ra nhƣng không phải một ngƣời tù bình
thƣờng mà là một lãnh tụ cách mạng ngày đêm lo lắng cho phong trào cách mạng. Vì thế, ở
câu thơ này từ bồi hồi dùng rất chính xác, rất đắt.
- Dùng từ một cách sáng tạo, ví dụ nhƣ từ "quần lê " trong câu thơ "Nhất thanh hoán
tỉnh quần lê mộng" (Một tiếng gà gọi tỉnh giấc mộng toàn dân) ở bài "Thính kê minh". Cách
dùng cụm từ này, theo chúng tôi là do Hồ Chí Minh tự sáng tạo ra bằng cách ghép hai từ
"quần" là để chỉ đám đông, và "lê" là lê dân - dân chúng với nhau thành "quần lê" để chỉ
quần chúng nhân dân. Đây là cách dùng riêng cho dễ hiểu, vì cả Hán cổ và bạch thoại cũng
không dùng từ nhƣ vậy.
3.3.3.2. Tự do trong cấu trúc ngữ pháp.
167
Trong câu trúc ngữ pháp một số bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng tôi thƣờng
gặp những trƣờng hợp cấu trúc theo kết cấu ngữ pháp rất tự do:
- Có những bài tƣ duy bằng ngôn ngữ hoàn toàn hiện đại: Ví dụ các bài "Bang", "Lạc
liễu nhất chích nha", "Trưng binh gia quyến"... Bên cạnh đó, có những bài lại tƣ duy bằng
ngôn ngữ Hán cổ (văn ngôn), chủ yếu là những bài thơ tứ tuyệt Ngƣời sáng tác trong chiến
khu Việt Bắc; cùng với một số bài tứ tuyệt ở trong tập "Nhật ký trong tù" nhƣ bài: "Nạn hữu
xuy địch", "Vọng nguyệt"...
- Đặc biệt hơn nữa, tính tự do trong cấu trúc còn biểu hiện rất độc đáo: Trong cùng
một bài thơ có khi 1/2 cổ, 1/2 hiện đại, thậm chí trong một câu thơ cũng chứa đựng hai kiểu
cú pháp vừa văn ngôn, vừa bạch thoại. Cụ thể nhƣ bài "Nhập Tĩnh Tây huyện ngục" là một
điển hình:
Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm
Thiên thƣợng tình vân trục vũ vân
Tình vũ phù vân phi khứ liễu
Ngục trung lƣu trú tự do nhân
Hai câu thơ đầu nhà thơ sử dụng những từ và kết cấu ngữ pháp hoàn toàn là theo Hán
cổ; nhƣng đến câu thơ thứ ba thì lại sử dụng một số từ và kết cấu ngữ pháp bạch thoại cụ thể
nhƣ: "Phi khứ liễu" là một cụm từ bạch thoại đƣợc kết cấu theo ngữ pháp hiện đại (phi là
động từ chuyển động có nghĩa là: bay; khứ là bổ ngữ chỉ xu hƣớng cho phi và liễu là trợ từ
thời thái chỉ động tác đã hoàn thành). "Lƣu trú " cũng là từ bạch thoại (trú bổ ngữ chỉ kết
quả của lƣu); tự do nhân là cách dùng cụm từ hiện đại có nghĩa là ngƣời tự do.
Ở bài "Tảo I" cũng biểu hiện tƣơng tự nhƣ vậy:
Thái dƣơng mỗi tảo tòng tƣờng thƣợng
Chiếu trƣớc môn lung môn vị khai
168
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám
Quang minh khƣớc dĩ diện tiền lai
Trong bài thơ trên, ba câu đầu sử dụng ngữ pháp bạch thoại, cụm từ "tòng tƣờng
thƣợng " là kết cấu giới từ có nhiệm vụ làm trạng ngữ cho động từ "chiêu'', còn từ "trƣớc"
là một trợ từ thời thái chỉ động tác đang tiến hành và còn tiếp diễn. Ghép các từ lại, ta có một
câu thơ có kết cấu ngữ pháp của câu văn bạch thoại là "tòng tƣờng thƣợng chiếu trƣớc...".
Ở câu thứ ba vẫn chứa các từ bạch thoại nhƣ "hiện thời"; nếu theo cách nói của văn ngôn thì
phải dùng văn ngôn dùng "kim" - câu thứ tƣ thì hoàn toàn lại cách nói của văn ngôn.
3.3.4. Dùng hư từ "khước"- một đặc điểm đặc sắc trong ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của
Hồ Chí Minh.
Khi khảo sát ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng tôi thấy có một điều rất
độc đáo trong cách dùng từ để tạo ra giọng điệu của câu thơ, đó là việc Hồ Chí Minh sử dụng
hƣ từ "Khƣớc". Khảo sát 126 bài thơ tứ tuyệt trong tập "Nhật ký trong tù" và 36 bài thơ tứ
tuyệt viết bằng chữ Hán ngoài tập "Nhật ký trong tù", chúng tôi thật ngạc nhiên khi nhận
thấy: hƣ từ "khƣớc" chỉ có mặt trong những bài thơ tứ tuyệt ở trong tập "Nhật ký trong tù",
còn những bài thơ tứ tuyệt ngoài tập "Nhật ký trong tù" thì không có bóng dáng của loại hƣ
từ này. Mặc dù trong 404 câu thơ của 126 bài thơ chỉ có 13 câu có chứa hƣ từ "khƣớc ", tỷ lệ
chỉ có 3,4% so với tổng thể. Thế nhƣng, chúng tôi xem đó là một đặc điểm của thi pháp rất
độc đáo trong bút pháp nghệ thuật sáng tạo thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh bởi cách dùng hƣ từ
này rất ít thấy trong thơ của các thi nhấn xƣa. Đặc biệt hơn nữa là khi xuất hiện từ "khƣớc"
trong câu thơ tứ tuyệt thì câu thơ có chiều hƣớng gần gũi hơn với lời nói khẩu ngữ, tạo vẻ dễ
hiểu trong sáng cho cả bài thơ. Ví dụ:
Thế thƣợng thiên tân hòa vạn khổ
169
Mạc nhƣ thất khƣớc tự do quyền
(Trên đời nghìn vạn điều cay đắng
Cay đắng chi bằng mất tự do).
(Cảnh binh khiêng lợn cùng đi)
Ở trong 2 câu thơ này, hƣ từ khƣớc có tác dụng nhấn mạnh, lột tả đƣợc nỗi niềm của
tâm tạng, đó là nỗi bức xúc, nỗi đau khổ dằn vặt trong tâm can của một con ngƣời luôn ý thức
rất sâu sắc về hai chữ tự do mà lại rơi vào hoàn cảnh mất tự do. Ở đây, khƣớc có ý nghĩa làm
tăng cƣờng độ tình cảm, cảm xúc, làm cho ngƣời đọc cảm nhận sâu sắc hơn về một cái gì đó
rất thiết tha, rất thống thiết trong tình cảm của nhà thơ. Nhƣ vậy, trong kết cấu của câu thơ
trên, khƣớc không có ý nghĩa ngữ pháp nhƣ các hƣ từ khác mà chỉ có ý nghĩa diễn đạt, tạo ra
một giọng điệu, thậm chí còn có khả năng tạo thành nhạc điệu. Nhạc điệu không phải chỉ
thuần túy là sự phối thanh, phối âm mà nhạc điệu còn phụ thuộc vào cảm xúc của nhà thơ.
Cái mà ngƣời ta gọi là nhạc điệu bên trong. Chính những loại hƣ từ này đã góp phần đắc lực
tạo ra hơi thơ, giọng thơ, làm nên cái mới trong thể thơ tứ tuyệt của nhà thơ Hồ Chí Minh.
Trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, chữ "khƣớc" đƣợc biểu hiện ở rất nhiều tâm trạng
giọng điệu khác nhau. Thƣờng thì nó chứa đựng những nỗi bất bình của cảm xúc về những sự
ngang trái bất công của cuộc đời, cụ thể ở một số trƣờng hợp nhƣ:
Túc Vinh khƣớc sử dƣ mông nhục
(Phố Túc Vinh mà khiến ta mang nhục)
(Bị bắt ở phố Túc Vinh)
Hƣ từ khƣớc ở câu thơ trên có giá trị biểu cảm, một sự gang giọng, đầy thất vọng và
bức xúc. Ngƣời đọc có thể chỉ cần đọc câu thơ cũng thấy đƣợc
170
cái giọng đầy bất bình ấy, và trong cái sự bất bình kia có cái gì đó thật chua chát.
Cao sơn ngộ hổ chung vô dạng
Bình lộ phùng nhân khƣớc bị giam
(Núi cao gặp hổ rút cục vẫn không việc gì
Đƣờng phẳng gặp ngƣời lại bị bắt)
(Đƣờng đời khó khăn I)
Hƣ từ "khƣớc " ở bài "Thế lộ nan" lại có ý chuyển ngƣợc, gây cho ngƣời đọc một sự
ngạc nhiên, đột ngột đến bất ngờ, nhƣ "ngộ " ra là một điều gì đó, một nghịch lý đang tồn tại
trong cuộc đời.
Nhƣng cũng có lúc "khước " lại đƣợc dùng để thể hiện một tâm trạng ngạo nghễ
trƣớc hoàn cảnh, một sự đắc ý, làm toát lên một tâm tƣ sảng khoái, một phong thái ung dung
tự tại, một nụ cƣời vƣợt lên trên những nỗi đau.
Tuy bị hiềm nghi gián điệp phạm
Nghi dung khƣớc tƣợng cựu công khanh
(Tuy là bị tình nghi làm giám điệp
Nhƣng bộ dạng lại giống vị công khanh ngày trƣớc).
(Đi Nam Ninh)
Hay:
Bản ƣng thống khốc khƣớc cuồng ca
(Đáng khóc mà ta cứ hát rống lên)
Và bên cạnh nỗi đau cùng sự bất bình, hƣ từ "khƣớc " còn có lúc làm cho tâm trạng
ngƣời tù bộc lộ một sự reo vui trƣớc hoàn cảnh nhƣ là một tiếng thốt lên ôi kìa!
Quang minh khƣớc dĩ diện tiền lai
(Ánh sáng đã bừng lên ở phía chân trời)
(Buổi sáng II)
171
Có khi hƣ từ "khƣớc " còn làm nhiệm vụ ngữ pháp liên kết hình thức 2 câu thơ trong
một bài thơ, làm cho 2 câu thơ có một sự nối kết chặt chẽ - 2 câu hoàn chỉnh thành một câu
ngữ pháp. Song có một điều đáng nói là, khƣớc giữ vai trò nối mạch 2 câu thơ thành một câu
văn xuôi lập luận rất chắc, rất tự nhiên. Sự có mặt của hƣ từ khƣớc ở câu thứ tƣ, câu kết khép
lại bài thơ nhƣng lại mở ra cho ngƣời đọc sự nhận thức về thời cuộc trớ trêu của tình đời, tình
ngƣời.
Cụ thể ở những trƣờng hợp sau:
Ngã dã "phỏng Hoa đoàn" nhất bộ
Khƣớc tao đặc chủng đích hoan nghênh
(Ta cũng là một đoàn thăm Trung Hoa,
Lại gặp một kiểu hoan nghênh đặc biệt)
(Đoàn đại biểu nƣớc Anh sang thăm
(Trung Hoa)
Trung thành ngã bản vô tâm cứu
Khƣớc bị tình nghi tố Hán gian
(Vốn trung thực thành thật, ta không có điều gì thẹn với lòng
Thế mà bị tình nghi là Hán gian)
(Đƣờng đời khó khăn III)
Ngã khƣớc kim thiên bị bang giải
(Thế mà hôm nay ta bị trói giải đi)
Nhƣ vậy, qua việc khảo sát ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng tôi kết
luận rằng: chính sự hội tụ của nhiều nguồn tƣ liệu đã đem đến cho thơ tứ tuyệt của Hồ Chí
Minh một hệ thống ngôn từ rất phong phú, đa dạng; và cũng chính sự giản dị trong sáng đã
đem đến cho ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh một sự tự do thoải mái - làm nên sự độc đáo
của thể loại tứ tuyệt, điều này chứng tỏ một sức sáng tạo nghệ thuật vô cùng phong phú
172
của nhà thơ Hồ Chí Minh.
173
C. PHẦN KẾT LUẬN
1. Thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là một hiện tƣợng đặc sắc của nền thơ ca dân tộc.
Còn nhớ, vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, giữa không khí héo hon, tàn lụi của bộ phận văn
chƣơng chữ Hán ít ngƣời để ý, thì sự xuất hiện những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh nhất
là những bài tứ tuyệt viết bằng chữ Hán là sự tái sinh những ánh hào quang của một thời thơ
ca cổ điển. Tập thơ "Nhật ký trong tù" trong đó chủ yếu liên kết bởi những bài tứ tuyệt, xứng
đáng đại diện cho "một kết thúc viên mãn ít ai ngờ tới cho tiến trình một nghìn năm thơ ca
chữ Hán Việt Nam" [91; 53] - góp phần làm nên những giá trị lịch sử trong nền văn học dân
tộc. Dƣới ngòi bút của Ngƣời, cả một nền thơ ca cổ điển dƣờng nhƣ sống lại với một dáng
dấp mới mẻ. Đặc biệt là ở thể loại thơ tứ tuyệt, Hồ Chí Minh đã thổi vào trong đó sức sống
tinh thần của thời đại trên cơ sở của những giá trị truyền thống. Điều ấy đã làm nên cái nền
phong cách nghệ thuật độc đáo riêng có ở nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
Qua đó chứng tỏ một điều: trong dòng chảy của lịch sử - trên lĩnh vực văn chƣơng,
Hồ Chí Minh không phải chỉ là sản phẩm của văn hóa, mà ngƣời còn chính là một chủ thể
sáng tạo văn hóa.
2. Trong di sản văn thơ của Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta, thơ tứ tuyệt chiếm một
vị trí rất quan trọng cả về số lƣợng, lẫn chiều sâu về nội dung và chiều cao về mặt nghệ thuật.
Đây chính là những bài thơ tập trung những nét đặc trƣng nhất thể hiện vẻ đẹp kỳ diệu của
một hồn thơ thanh cao và một tài năng nghệ thuật xuất sắc đạt tới mức tinh diệu - riêng có ở
nghệ sĩ Hồ Chí Minh. Ở thể loại này, Hồ Chí Minh không chỉ sử dụng một cách điêu luyện
những khuôn mẫu của thể thơ tứ tuyệt truyền thống mà Ngƣời đã cách tân và sáng tạo độc
đáo, làm nên một hình thức nghệ thuật mới phong phú, đa dạng cho thể loại tứ tuyệt. Điều ấy
thể hiện một quan điểm trong sáng tác
174
nghệ thuật nói riêng và trong tiếp nhận văn hóa nói chung ở Hồ Chí Minh -Ngƣời luôn kế
thừa truyền thống trên cơ sở cách tân để cho những giá trị truyền thống luôn sống trong tinh
thần của thời đại, tạo ra những giá trị mới trên nền tảng truyền thống bền vững. Đây chính là
nguyên tắc tiếp nhận văn hóa đúng đắn nhất. Nhận thức và vận dụng nguyên tắc này là điều
rất quan trọng đối với dân tộc ta trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa đang diễn ra rất phức
tạp nhƣ hiện nay.
3. Đi vào thế giới nghệ thuật trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, tức là đi vào thế giới
tâm hồn bất tận của nhà thơ. Ở đây, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc một điều rất sâu sắc ở con
ngƣời Hồ Chí Minh rằng: "Ở Hồ Chí Minh "nhân tình" và "nhân tính" đã bao trùm lên tất cả"
[100; 178] đối với Ngƣời, không thể có một bức tƣờng nào ngăn cản Ngƣời đến với đồng loại
của mình, với tất cả tình thƣơng yêu, sự cảm thông thấu hiểu sâu sắc. Cái tôi trữ tình trong
thơ là cái tôi của con ngƣời luôn sống và tranh đấu cho lý tƣởng tự do của con ngƣời ở giữa
cuộc đời. Vì thế, cảm thức chính trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đều khơi nguồn từ cuộc
sống hiện thực, cho nên thời gian nghệ thuật -không gian nghệ thuật trong thơ tứ tuyệt của Hồ
Chí Minh là thời gian và không gian của cuộc sống lao động và chiến đấu của nhân quần đại
chúng của những con ngƣời cùng khổ, nhƣng thiết tha yêu cuộc sống với khát vọng tự do
cháy bỏng. Vì thế, đến với những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, ta không tìm đâu thấy
những đại lƣợng của thời gian héo tàn, hay thời gian của sự hoài niệm nhƣ trong thơ xƣa, mà
chỉ có thời gian hiện tại luôn hƣớng về phía trƣớc - trong đó tƣơng lai đồng nghĩa với sự phát
triển. Điều đó xuất phát từ cái nhìn biện chứng rất nhạy bén của một con ngƣời luôn thông
hiểu đƣợc quy luật vận động phát triển tất yếu của cuộc sống. Đó cũng chính là lý do để
chúng ta hiểu vì sao nhà thơ lại thƣờng kéo cái không gian tràn ngập những
175
hình ảnh thiên nhiên vũ trụ xuống để hòa vào cái không gian xã hội với tất cả sự biến động
của cuộc sống đời thƣờng.
Do đó, đến với thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, chúng ta không chỉ cảm nhận đƣợc cái đẹp
của cõi "tự nhiên" mà còn cảm nhận sâu sắc đƣợc cái đẹp của "cõi đời", "cõi nhân loại". Đó
chính là vẻ đẹp tiềm ẩn, chìm sâu trong thế giới tâm hồn cao đẹp, tràn đầy chất nhân văn của
ngƣời nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
4. Những điều chúng tôi vừa phân tích trên đã chi phối các phƣơng thức biểu hiện
trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
4.1. So với thơ tứ tuyệt cổ điển thì thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh có các phƣơng thức
biểu hiện hình thức rất độc đáo nhƣ: việc sử dụng các thủ pháp lựa chọn tình huống thƣờng đi
vào khai thác các yếu tố đối lập có tính tƣơng phản trên góc độ từ ngữ; dùng cách lặp lại cấu
trúc và lặp ý một chỉnh thể nhỏ trong từng bài thơ để tạo ra sự tƣơng phản, đây chính là sự
thể hiện cái nhìn thế giới của nhà thơ Hồ Chí Minh trên cơ sở của một tƣ duy hoàn toàn mới
so với truyền thống.
Trong phƣơng thức phản ánh hiện thực, Hồ Chí Minh đã dùng một thủ pháp nghệ
thuật độc đáo là để cho sự vật tự nói lên bản chất của chúng - đây là lối tƣ duy rất hiện đại.
Chính vì vậy, ngƣời ta luôn tìm thấy trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh những hình ảnh,
những tình tiết hết sức trung thực, nó thuyết phục ngƣời đọc vì sự tự nhiên, chân thật đến
mức hồn nhiên trong sáng. Đó là cái đẹp của bút pháp nghệ thuật Hồ Chí Minh.
4.2. Cách tổ chức một số bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh cũng mang những đặc
điểm rất riêng biệt: trong bố cục của một bài thơ, lối diễn đạt độc đáo đƣợc Ngƣời thƣờng sử
dụng đó là: dùng cách nói phủ định để khẳng định; có khi còn tạo ra một cấu trúc ràng buộc
kép kín làm bộc lộ những mâu thuẫn; hay cách vào đề và kết thúc bất ngờ, gây sự chú ý và để
lại trong lòng ngƣời đọc một sự đồng vọng rất lớn. Trong cách tổ chức của mỗi câu thơ, hay
176
bố cục của cả bài thơ đều có sự hiện hữu của các phƣơng thức liên kết từ liên kết hình thức
đến liên kết nội dung. Đây là điều hoàn toàn xa lạ với thơ tứ tuyệt truyền thống, thể hiện một
sự sáng tạo trong quá trình tạo ra cái mới của nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
4.3. Đặc trƣng cơ bản nhất của thơ ngôn ngữ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh thứ nhất là:
ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là sự kết tinh từ rất nhiều nguồn tƣ liệu, cho nên bên
cạnh cách nói hàm súc kiểu cổ điển lại có cách nói thông tục kiểu dân gian và cách nói của
ngôn ngữ mang yếu tố hiện đại. Thứ hai: sự tự do thoải mái trong cách dùng từ của Hồ Chí
Minh biểu hiện ở việc Ngƣời dƣờng nhƣ không hề câu nệ bất cứ từ ngữ nào, miễn là chúng
có khả năng truyền tải đƣợc nội dung mà Ngƣời muốn thể hiện. Chính điều này đã làm nên
đặc điểm thứ ba của ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Ngƣời đó là luôn hƣớng tới sự giản dị - đại
chúng, gần gũi, dễ hiểu, có khả năng "mã hóa" nhanh nên thƣờng ghi đƣợc dấu ấn trong lòng
ngƣời đọc.
5. Nghiên cứu hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng tôi rút ra đƣợc
một đặc trƣng lớn nhất trong phong cách sáng tạo nghê thuật của nghệ sỹ Hồ Chí Minh đó là
sự thống nhất - nhất quán trong tính phong phú, tính đa dạng. Điều này chỉ có thể đƣợc
lý giải bằng một cái nhìn triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Mác đã từng chỉ ra rằng: bất cứ sự sáng tạo tinh thần nào cũng đều là sản phẩm của
thời đại mình, dân tộc mình, chịu quy định của những điều kiện lịch sử xã hội, truyền thống
văn hóa phong tục tập quán, sinh hoạt tôn giáo, tín ngƣỡng... nói cách khác không thể có thứ
giá trị "tự thân", " thuần túy", " lơ lửng ở ngoài thế giới, mà chỉ có thiến tài đƣợc sinh ra bởi
dân tộc và thời đại. Nhà tƣ tƣởng - Nghệ sỹ Hồ Chí Minh xét theo nghĩa đó không phải là
trƣờng hợp ngoại lệ. Đây cũng chính là cơ sở để nói về cái "lý" của hình thức thơ tứ tuyệt của
Hồ Chí Minh.
177
5.1. Nghiên cứu hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, thực chất phần nào
chúng tôi đã thật sự tiếp cận đƣợc với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam - từ trong cội nguồn
của nó đã là một hiện tượng tích hợp và dung hoa. Ở đó "tính mở" và tính "thiết thực" là một
trong những nguyên tắc biểu hiện của tinh thần khoan dung văn hóa Việt Nam. Đặc trƣng ấy
ảnh hƣởng rất lớn đến quá trình phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam từ trong quá khứ xa xăm
cho đến hiện tại. Đặc biệt, tinh thần khoan dung văn hóa nói trên thƣờng đƣợc sống và thực
hiện trong các vĩ nhân ở các thế hệ ngƣời Việt Nam nối tiếp nhau trong lịch sử. Đến thế kỷ
XX, vĩ nhân Hồ Chí Minh là bậc thiên xứ của văn hóa Á Đông - Việt Nam đã lĩnh hội cái
"hồn" Việt Nam, "triết lý nhân sinh" Việt Nam trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình, vậy nên trong tƣ tƣởng của Ngƣời luôn có sự khoan hòa mọi giá trị văn hóa. Ngƣời tìm
đến với phƣơng Tây nhƣng không phải để phƣơng Tây hóa phƣơng Đông, mà Ngƣời đến với
phƣơng Tây để bồi đắp và bổ sung cho phƣơng Đông những giá trị mới. Chính vì sự khoan
hòa ấy trong tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh nên trong thơ tứ tuyệt của Ngƣời luôn có sự chung
sống cả cổ, kim: Âu - Á, tiên và tục, Đƣờng thi và tiếu lâm, Nho - Phật - Đạo - Lão - Giẻ Su -
Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa duy vật biện chứng... Vì thế, cách thức biểu hiện trong thơ tứ
tuyệt của Hồ Chí Minh luôn có một sự chuyển đổi giao hòa rất đa dạng và phong phú. Ví dụ
nhƣ bên cạnh các thủ pháp so sánh biện luận tự sự có tính chất hiện đại, chúng ta còn thấy
các biện pháp hoán dụ, ẩn dụ, liên tƣởng trực giác... đƣợc sử dụng một cách thuần thục, tạo
nên sự linh hoạt bổ sung cho tƣ duy thơ truyền thống. Do đó, khi sử dụng thể loại thơ tứ
tuyệt, Hồ Chí Minh đã không chỉ sử dụng một cách điêu luyện những khuôn mẫu của thể thơ
tứ tuyệt truyền thống mà còn "táo bạo" tạo ra sự "phá cách" độc đáo làm nên một hình thức
nghệ thuật mới phong phú đa dạng cho thể thơ tứ tuyệt.
178
5.2. Sự linh hoạt trong thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là biểu hiện của tƣ tƣởng
khoan dung "Dĩ bất biến, ứng vạn biến "của dân tộc Việt Nam. Giải thích điều này theo
chúng tôi, đó là biểu hiện của sự "hội nhập" rất nhiều nền văn hóa khác nhau mà Hồ Chí
Minh đã "tiếp biến" thành cái của riêng mình. Cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng từng nói: "Hồ
Chí Minh là biểu tượng đẹp của dân tộc luôn luôn rộng mở trái tim và khối óc để đón nhận
những cái hay và cái mới từ bốn phương, biến thành những giá trị của chính mình" [27; 81].
5.3. Xuất phát từ "tính mở" và tƣ tƣởng "triết lý bình dân" của nền văn hóa Việt Nam
nên trong thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh không có chỗ nào là "đất cấm kị" của thể
loại tứ tuyệt. Qua việc nghiên cứu hệ thống thể loại tứ tuyệt, chúng ta nhận thấy rằng: Ở Hồ
Chí Minh trong sáng tạo nghệ thuật, Ngƣời không hề câu nên thủ pháp diễn đạt ý tƣởng mà
chú trọng cách thức làm cho ý tƣởng ấy rung động lòng ngƣời. Ngƣời luôn biến cái khó hiểu,
cái trừu tƣợng thành cái mà ngƣời bình dân có thể tiếp thu đƣợc. Đây là cái thƣờng trực trong
"phép ứng xử" của Hồ Chí Minh với cuộc đời và với cả văn chƣơng. Chúng ta còn nhớ lúc
sinh thời, khi Ngƣời nói chuyện về cách viết với văn nghệ sĩ, Ngƣời đặt câu hỏi: viết cho ai?
viết để làm gì? viết nhƣ thế nào?... quan điểm về cách viết của Hồ Chí Minh không chỉ áp
dụng cho loại văn xuôi, văn chính luận dùng để tuyên truyền chính trị, mà còn đƣợc vận dụng
trong cả thơ ca nghệ thuật - điển hình trong việc sáng tác thơ tứ tuyệt. Với quan điểm nghệ
thuật ấy, Ngƣời quan tâm đến ngƣời đọc và hiệu quả của tác phẩm nghệ thuật. Ngƣời đòi hỏi
Ngƣời viết phải đem sự hiểu biết đến cho đại chúng, chứ không phải buộc đại chúng phải cố
đạt tới sự hiểu biết cao siêu nhƣ mình mà bất chấp mọi điều kiện. Trong phần khảo lƣợc đánh
giá về Hồ Chí Minh, giáo sƣ Trần Văn Giàu đã chỉ ra nét Á Đông Việt Nam của tính cách
sáng tạo Hồ Chí Minh - " văn chở đạo" là ở chỗ,
179
ngƣời hiểu biết không xem sự hiểu biết nhƣ "đặc sản" của riêng mình, mà phải bằng cách nào
đó phổ biến cho nhân dân, lấy hình ảnh gần gũi của đời sống thƣờng nhật để chứng minh cho
một luận điểm mà thoạt đầu tỏ ra cao siêu, xa cách. Điều này thể hiện rất cụ thể tính "thực tế"
trong tƣ tƣởng khoan dung văn hóa Việt Nam. Do vậy, trong thơ của Ngƣời, quan niệm về
cái đẹp của tinh thần khoan dung văn hóa Việt Nam đƣợc bộc lộ rất đậm nét. Ngƣời luôn
nhìn cuộc sống với đôi mắt thiết thực, vậy nên tất cả những gì có lợi cho cuộc sống dù là nhỏ
bé đều đƣợc Ngƣời nâng niu, chắt chiu, nên nó trở thành thơ. Điều này giải thích vì sao ngay
cả "tương, cà, mắm, muối..." cũng thành đề tài của những bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
Trong tƣ tƣởng thẩm mỹ của Ngƣời cái đẹp là sự bình dị, sự hài hòa hợp lý. Vì vậy, đến với
thơ tứ tuyệt của Ngƣời cái đầu tiên mà ai cũng cảm nhận ngay đƣợc đó là "cái đời thƣờng -
bình dị", nó thể hiện ngay trong nghệ thuật - ở các nguyên tắc nắm bắt đời sống, và các
nguyên tắc biểu hiện, đặt biệt là trong ngôn ngữ - luôn hƣớng đến sự giản dị và đại chúng, từ
trong cách dùng từ. Có ngƣời đã nhận xét: "Thơ Bác toát lên một nhân sinh quan yêu đời và
yêu người, giản dị hồn nhiên trong đời sống cá nhân. Với nhân sinh quan ấy Bác hòa với mọi
người, sống với mọi người không chút gợi riêng tư "[2; 31]. Còn nhà thơ Tố Hữu thì phân
tích thêm: "vẻ đẹp trong thơ Hồ Chí Minh là nhân hòa... [49; 248, 249], ngƣời ta không thấy
cái khẩu khí siêu nhân đặt mình trên thiên hạ. Thơ tứ tuyệt của ngƣời lúc nào cũng gần gũi,
dễ đi vào lòng ngƣời, đó là những lời "từ trái tim đến với trái tim", chất phát, mộc mạc của
tinh thần khoan dung văn hóa Việt Nam.
Nghiên cứu thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, tức là bằng con đƣờng giải "mã"
nghệ thuật, chúng tôi hằng có mong muốn góp một chút gì nhỏ bé để hiểu sâu sắc hơn Hồ Chí
Minh - ngƣời con vĩ đại của dân tộc và thời đại. Song, với tầm vóc một vĩ nhân nhƣ Hồ Chí
Minh, ngƣời viết luận
180
án này kiến thức còn nông cạn, lực bất tòng tâm, e rằng chƣa lý giải đƣợc là bao, chắc không
tránh khỏi nhiều điều thiếu sót. Mong nhận đƣợc sự đóng góp, chỉ bảo của các bậc thức giả!
181
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. NHỮNG VĂN BẢN THƠ TỨ TUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH ĐƢỢC SỬ DỤNG
TRONG LUẬN ÁN:
1. Nhật ký trong tù, (2003), Nxb chính trị quốc gia.
2. Hồ Chí Minh thơ toàn tập, (2000), Nxb văn nghệ TP. Hồ Chí Minh và trung tâm nghiên
cứu quốc học.
3. Nhật ký trong tù, (Bản dịch trọn vẹn) in trong suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù", (2003),
Viện văn học, Hà Nội.
II.TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. AXTƠRÔGINĐÔ, (962) Những bài thơ đẹp nhất. H, Nhân dân - số 21.
2. PHAN ANH (1990), Những kỷ niệm về thơ Bác ở Việt Bắc (Trích tìm hiểu thơ ca chiến
khu Hồ Chí Minh) Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội.
3. PHAN VĂN CÁC, (1980), Xung quanh việc dịch thơ chữ Hán của Hồ Chủ Tịch.
4. NGUYỄN KIM CHÂU, (2000), Luận án tiến sĩ ngữ văn.
5. PHONG CHÂU, (1963), Giới thiệu tập thơ "Nhật ký trong tù" của Hồ Chủ tịch. H, NXB
Giáo dục.
6. NGUYỄN HUỆ CHI, (1990), Nhìn lại mấy phƣơng hƣớng tiếp cận "Nhật ký trong tù". H,
Tạp chí văn học, số 2.
7. NGUYỄN HUỆ CHI, (1984), Thử nhận diện lại bản dịch "Nhật ký trong tù". H, Tạp chí
văn học, số 1, tr. 69 - 86.
8. NGUYỄN ĐỔNG CHI, (1993), Việt Nam cổ văn học sử, Nxb Trẻ thành phố Hồ Chí Minh.
9. PHAN HUY CHÚ, (1961) Lịch triều hiến chƣng loại chí. Nxb sử học, Hà Nội.
10. TRƢƠNG CHÍNH, (1984) Tình điệu trong "Nhật ký trong tù", Tạp chí Văn học số 1.
182
11. TRƢƠNG CHÍNH, (1990), Hồ Chí Minh, một vị hiền triết hành động. H, Văn nghệ quân
đội, tháng V.
12. NGUYỄN ĐÌNH CHÚ, (2000), Tạp chí văn học số 5.
13. NGUYỄN ĐÌNH CHÚ, (1990) Con đƣờng Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh trở thành nhà
văn hóa của tƣơng lai. H, Tạp chí văn học, số 2.
14. PHAN HUY CHÚ, (1961), Lịch triều hiến chƣơng loại chí - tập IV - NXB Sử học Hà
Nội.
15. LÊ TRÍ DŨNG, (2001), Tính chất Việt Nam trong thơ Nôm Đƣờng luật, NXB Văn hóa.
16. THÀNH DUY, (1990), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhà tƣ tƣởng, danh nhân văn hóa thế giới.
H, NXB Khoa học xã hội.
17. TẦN DƢƠNG, (1990), Cảm thức nhân loại trong "Nhật ký trong tù" - tạp chí văn nghệ số
34.
18. NGUYỄN DỮ VÀ CÙ HƢU, (1999). Truyền kỳ mạn lục và tiểu đăng ân thoại, NXB văn
hóa, Hà Nội.
19. XUÂN DIỆU, (1984), Đọc thơ "Nhật ký trong tù". H, Văn nghệ, số 13.
20. XUÂN DIỆU, (1965), Những cảm nghĩ khi đọc thơ Bác. H, Nhân dân, số 18
21 XUÂN DIỆU, (1966), Yêu thơ Bác. H, Tạp chí văn học, số 5.
22. NGUYỄN SĨ ĐẠI, (1996) Một số đặc trƣng nghệ thuật thơ tứ tuyệt đời Đƣờng, Nxb Văn
học, Hà Nội 1996.
23. TRẦN THANH ĐẠM, Thi pháp và thi học (bản viết tay).
24 ĐẶNG ANH ĐÀO, (1990), Thời sự và vĩnh hằng trong tập nhật ký bằng đƣờng thi - Văn
nghệ số 19; 20.
25. LÊ QUÍ ĐÔN, (1962), Kiến văn tiểu lục (Lê Quí Đôn toàn tập, tập II), NXB Hà Nội.
183
26. LÊ QUÍ ĐÔN, (1995), Vân đài loại ngữ, tập II, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
27. PHẠM VĂN ĐÔNG, (1981), Hồ Chí Minh quá khứ hiện tại và tƣơng lai, NXB Sự Thật
Hà Nội.
28. HÀ MINH ĐỨC, (1998), Vẻ đẹp trí tuệ trong thơ Bác. H, Tác phẩm mới, Hà Nội.
29. HÀ MINH ĐỨC, (1997), Hồ Chí Minh, Nhà thơ lớn của dân tộc, NXB Giáo dục.
30. HÀ MINH ĐỨC, (1974), Thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. H, Văn nghệ, số 535.
31. HÀ MINH ĐỨC, (1990), Theo dòng thời gian trong "Nhật ký trong tù" - thông báo khoa
học, bộ đại học và trung học chuyên nghiệp.
32. HÀ HUY GIÁP, (1975) Bác Hồ nói về trách nhiệm của văn nghệ. H, Nghiên cứu nghệ
thuật, số 7, tr. 3 - 34.
33. HÀ HUY GIÁP (1984), Phẩm chất ngƣời chiến sĩ cộng sản qua "Nhật ký Trong tù". H,
Tạp chí văn học, số 1.
34. MAI VĂN HAI, (1990), Chủ tịch Hồ Chí Minh và tính nhân loại của văn hóa nghệ thuật.
H, Văn nghệ quân đội, tháng 5.
35. NGUYỄN THỊ BÍCH HẢI, (1995), Thi pháp thơ Đƣờng, NXB Thuận Hóa, Huế.
36. DƢƠNG QUẢN HÀM, (1968), Việt Nam văn học sử yếu (bản in lần thứ 10), NXB trung
tâm học liệu Sài Gòn.
37. THẠCH HÃN, (1972), Thử phân tích một bài thơ bốn câu của Bác, tác phẩm mới, số 97.
38. NGUYỄN VĂN HẠNH, (1990), Hồ Chí Minh và ý nghĩa thực tiễn của Việt Nam văn
nghệ (trích Hồ Chí Minh anh hùng giải phóng dân tộc danh nhân văn hóa), NXB khoa
học xã hội Hà Nội.
184
39. LƢU HIỆP, (1996), Văn tâm điêu long, Tạp chí Văn học nƣớc ngoài số
40. HỒ CHÍ MINH, toàn tập tập 4, (1984), NXB sự thật Hà Nội. 41. HỒ CHÍ MINH và Văn
hóa Việt Nam, (1990), NXB viện Văn hóa, Hà nội.
42. HỒ CHÍ MINH - Thơ toàn tập, (2000), NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh và Trung
tâm Quốc học.
43 HỢP TUYỂN THƠ VĂN LÝ TRẦN, tập III, (1978), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
44.HỢP TUYỂN THƠ VĂN LÝ TRầN, tập I, (1977), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
45 NGUYỄN CÔNG HOAN, (1977), Hỏi chuyện các nhà văn, NXB tác phẩm mới; Hà Nội.
46. NGUYỄN PHẠM HÙNG - ĐẶNG THỊ HẢO, (1992), Bút pháp trào lộng trong "Nhật ký
trong tù". H, Tạp chí văn học, số 3.
47. BÙI CÔNG HÙNG (1987) - Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, NXB Văn học, Hà
Nội.
48. CAO XUÂN HUY, (1995), Tƣ tƣởng phƣơng Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu,
NXB Văn học - Hà Nội.
49. TỐ HỮU, (1990) Câu chuyện về thơ của Bác Hồ về cái hƣ, cái thực trong thơ ( Trích tìm
hiểu thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội.
50. JACOBSON. R, (1996), Thơ là gì? Tạp chí văn học số 12, trang 70.
51. JACOBSON. R, (1994), Thi pháp học (tài liệu tham khảo), Bản dịch của Trần Duy Châu,
Đại học sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh .
52. JACOBSON. R, (1998), Thơ của ngữ pháp và ngữ pháp của thơ, Tạp chí văn học số 12,
trang 67.
185
53. KHRAPCHENCO.M.B (1987), Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con ngƣời, tập II, NXB
Tác phẩm mới, Hà Nội.
54. PHÙNG NGỌC KIẾM, (1990), Đọc bài thơ "Giải đi sớm" của Hồ Chủ tịch. H, Tạp chí
văn học, số 3.
55. LÊ ĐÌNH KỴ, (1999) Không gian và thời gian trong "Nhật ký trong tù" - Văn nghệ số
20.
56. NGUYỄN XUÂN LẠN, (1997) Thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong nghiên
cứu và phê bình (tình hình tƣ liệu, hƣớng tiếp cận, những vấn đề, NXB Đại học Quốc
gia - Hà Nội.
57. PHONG LÊ, (1986), Chủ tịch Hồ Chí Minh và văn học Việt Nam hiện đại, NXB Khoa
học xã hội.
58. PHONG LÊ, (2003), Hành trình của nguyên tác "Ngục tranh nhật ký" và bản dịch "Nhật
ký trong tù", Tạp chí Văn học số 8. 59. PHONG LÊ, (1990), Sự nghiệp viết của Hồ
Chí Minh và hành trình chân - thiện - mỹ. H, Tạp chí Văn học, số 4.
60. ĐẶNG THANH LÊ, (1981), "Văn cảnh" - một bông hoa trong chiều tù ngục. H, Tạp chí
văn học, số 5 - tr - 44 - 51.
61. ĐẶNG THANH LÊ, (1970), Về hình tƣợng "bằng hữu" trong "Ngục trung nhật ký" -
Ngƣời nghệ sĩ sáng tạo và nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh. H, Tạp chí văn học, số 5.
62. MAI QUỐC LIÊN, (1998), Phê bình và tranh luận văn học, NXB Văn học, Hà Nội.
63. VŨ BỘI LIÊN, (2000), Sự gặp gỡ phƣơng Đông và phƣơng Tây trong ngôn ngữ văn
chƣơng, NXB Văn hóa - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông - Tây.
64. TẠ NGỌC LIỄN, (1997), Tứ tuyệt có phải là thơ bốn câu?, Tuần báo văn nghệ trẻ số 25.
186
65. VƢƠNG LINH, (1960) Lòng yêu con ngƣời trong thơ Hồ Chủ tịch. H, Văn học, số 94.
66. LƢU TRỌNG LƢ, (1960), Đọc "Nhật ký trong tù" của Hồ Chủ tịch. H, Nhân dân, số 30.
67. PHƢƠNG LƢU, (1978), Góp phần suy nghĩ về tính dân tộc hiện đại trong văn nghệ. H,
Nghiên cứu nghệ thuật, số 4.
68. PHƢƠNG LƢU, (1980), Lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa từ sáng tác của Hồ Chủ tịch.
H, Nghiên cứu nghệ thuật, số 4.
69. PHƢƠNG LƢU, (1989), Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, NXB Giáo
dục,Hà Nội.
70. M.BAKHTIN. Những vấn đề thi pháp ĐÔXTÔIEPXKI, Bản dịch của Trần Đình Sử, Lại
Nguyên Ân, Vƣơng Trí Nhân, NXB Giáo dục.
71. ĐẶNG THAI MAI (1970), Tình cảm thiên nhiên trong tập "Ngục trung nhật ký", tác
phẩm mới, số 8.
72. ĐẶNG THAI MAI, (1973), Trên đƣờng học tập và nghiên cứu, tập II. NXB. Văn học Hà
Nội.
73. ĐẶNG THAI MAI, (1971), Suy nghĩ về yếu tố tinh thần trong "Ngục trung nhật ký". H,
Tạp chí văn học, số 3.
74. HOÀNG NHƢ MAI - NGUYỄN VĂN HUÂN, (1995), Tìm hiểu bản sắc dân tộc trong
thơ chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp Đồng Tháp.
75. HOÀNG NHƢ MAI, (1976), Bác Hồ gọi ấy là mùa xuân đến Báo cứu quốc, sô 4 - 5.
76. HOÀNG NHƢ MAI, (1980), Thơ ca của Bác Hồ. H, Văn nghệ, số 871.
77. NGUYỄN ĐĂNG MẠNH, (1980), Chung quanh việc lĩnh hội thơ Bác. H, Văn nghệ, số
863; tr 3.
78. NGUYỄN ĐĂNG MẠNH, (1981), Mấy vấn đề về phƣơng pháp tìm hiểu, phân tích thơ
Hồ Chủ tịch. H, NXB Giáo dục.
187
79. NGUYỄN ĐĂNG MẠNH, (1977), Những vần thơ Bác. H, Nhân dân, số 19.
80. MỘT SỐ BÀI GIẢNG THƠ VĂN HỒ CHÍ MINH, (1984), NXB Giáo dục, Hà Nội.
81. LẠC NAM, (1975), Tim hiểu các thể thơ (từ cổ phong đến đƣờng luật).
82. NGUYỄN XUÂN NAM, (1985), Đi sâu tìm hiểu một số vấn đề của "Nhật ký trong tù".
(Ghi chép sau khi đọc "Nhật ký trong tù" và một số bình luận). H, Tạp chí Văn học,
số 3.
83. PHAN NGỌC, (1995), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, NXB Trẻ Thành phố
Hồ Chí Minh.
84. PHAN NGỌC, (1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều, NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội.
85. BÙI VĂN NGUYÊN, (1969), Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại, NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội.
86. BÙI VĂN NGUYÊN, (1979), Tƣ liệu tham khảo văn học Việt Nam, tập II, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
87. HOÀNG NHÂN, (1993), Về Tuyên ngôn độc lập, đỉnh cao của tƣ duy mới. Văn nghệ
Quân đội.
88. HOÀNG XUÂN NHỊ, (1977), Tìm hiểu tính cách dân tộc trong thơ Hồ Chủ Tịch, tạp chí
Văn học số 1.
89. HOÀNG XUÂN NHỊ, (1970), Những bài thơ hay nhất của Hồ Chủ Tịch, tạp chí Văn học
số 3.
90. NICULIN.N.I. Văn học Việt Nam từ thời trung cổ đến hiện đại (thế kỷ X - XIX), Nguyễn
Mạnh Cƣờng (dịch), tài liệu lƣu hành nội bộ, Phòng khoa học công nghệ và sau đại
học, trƣờng Đại học sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh.
188
91. NHIỀU TÁC GIẢ, (1993), Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù" -(Nguyễn Huệ Chi chủ
biên), Viện Văn học Hà Nội.
92. NHIỀU TÁC GIẢ, (1991), Thơ Tống, NXB Văn học, Hà Nội.
93. NHIỀU TÁC GIẢ, (1989), Hồ Chí Minh danh nhân văn hóa. H, NXB Hội nhà văn.
94. NHIỀU TÁC GIẢ, (1980), Học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh. H,
NXB Khoa học xã hội.
95. NHIỀU TÁC GIẢ, (1988), Ngôn ngữ trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. H, NXB Khoa học xã hội.
96. NHIỀU TÁC GIẢ, (1979), Nghiên cứu học tập thơ văn Hồ Chí Minh, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội.
97. NHIỀU TÁC GIẢ, (1990), Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn
hóa thế giới, NXB Khoa học xã hội Hà Nội.
98. NHIỀU TÁC GIẢ, (2001), Hồ Chí Minh, Tác giả, tác phẩm, nghệ thuật ngôn từ, (NXB
Giáo dục.
99. ĐÀO PHAN, (1996), Đạo Khổng trong văn Bác Hồ, NXB văn hóa thông tin - Hà Nội.
100. ĐÀO PHAN, (2000), Hồ Chí Minh danh nhân văn hóa, NXB Văn hóa thông tin.
101. NGUYỄN KHẮC PHI, (1998), Thơ văn cổ Trung Hoa mảnh đất quen mà lạ, NXB Giáo
dục.
102. NGUYỄN KHẮC PHI, TRẦN ĐÌNH SỬ, (1997), về thi pháp thơ Đƣờng, NXB Đà
Nẵng.
103. NGUYỄN KHẮC PHI (1997), Về khái niệm tứ tuyệt, Tuần báo văn nghệ ƣẻ số 28, 29,
30, tháng 11.
104. VŨ ĐỨC PHÚC, (1984), Tính chất nhật ký kết hợp với trữ tình của "Nhật ký trong tù" -
Tạp chí văn học số 1.
189
105. VŨ ĐỨC PHÚC, (1964), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1930-1945). H, NXB Văn
học.
106. VŨ QUÂN PHƢƠNG, (1984), Về hai khuynh hƣớng dùng chất liệu trong thơ Bác. H,
Văn nghệ, số tết Giáp Tý 14.
107. CAO BÁ QUÁT (1976), Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, NXB Văn học, Hà Nội.
108. VŨ CHÂU QUÁN - NGUYỄN HUY QUÁT, (1990), Tìm hiểu thơ ca chiến khu của
chủ tịch Hồ Chí Minh NXB văn hóa dân tộc Hà Nội.
109. QUÁCH MẠT NHƢỢC (Trung Quốc), (1960), Nay ở trong thơ nên có thép (cảm tƣởng
sau khi đọc "Nhật ký trong tù"). H, Nhân dân, số 13 - XI.
110. TRẦN TRỌNG SAN, (1965), Thơ Đƣờng, tập I, Sài Gòn, bản in.
111. TRẦN ĐÌNH SỬ, (1996), Lý Luận và phê bình văn học, Hội nhà văn Việt Nam, Hà
Nội.
112. TRẦN ĐÌNH SỬ, (1997), Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB Giáo dục, Hà Nội 1997.
113. TRẦN ĐÌNH SỬ, (1987), Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB Tác phẩm mới hội nhà văn Việt
Nam.
114. VŨ MINH TÂM - LƢƠNG DUY THỨ, (1976), Thơ Ngƣời tỏa sáng, NXB Việt Bắc.
115. TỔNG TẬP VĂN HỌC VỆT NAM, Tập 36, (1980), NXB khoa học xã hội, Hà nội.
116. HOÀI THANH, (1975), Bài học lạc quan và chủ động qua thơ Bác. H, Nhân dân, số 11.
117. HOÀI THANH, (1970), Học tập Bác qua thơ Bác. H, Tác phẩm mới, số 7.
118. HOÀI THANH - HOÀI CHÂN, (1997), Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội.
190
119. NGUYỄN BÁ THÀNH, (1979), Thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong nghiên
cứu phê bình ( trích lại Nguyễn Xuân Lạn ), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
120. SONG THÀNH, (1997), Một số vấn đề phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
về Hồ Chí Minh, NXB CTQG, Hà Nội.
121. HOÀNG TRUNG THÔNG, (1976), Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác. H, Văn nghệ, số
667.
122. LƢƠNG DUY THỨ, (1999), Bác Hồ với văn hóa Trung Quốc, NXB Trẻ.
123. LƢƠNG DUY THỨ, (1996), Thơ cổ Trung Quốc - Quá trình diễn tiến và thi pháp, Tạp
chí Văn học số 6.
124. NGUYỄN TRÁC - HOÀNG DUNG - NGUYỄN ĐĂNG MẠNH, (1992), Giáo trình
lịch sử văn học Việt Nam, tập V. H, NXB Giáo dục.
125. NGUYỄN TRÃI toàn tập, (1976), Viện sử học, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội.
126. NAM TRÂN, (1964), Bản dịch "Ngục trung nhật ký" xuất bản ở Pháp. H, Tạp chí văn
học, số 5.
127. NAM TRÂN, (1961), Về những ý kiến góp vào bản dịch tập thơ "Ngục trung nhật ký"
của Hồ Chủ tịch. H, Nghiên cứu văn học, số 9.
128. HOÀNG TRINH, (1997), Từ ký hiệu học đến thi pháp học, NXB Đà Nẵng.
129. NGUYỄN NGUYÊN TRỨ, (2000), Cách viết của Bác Hồ, NXB giáo dục.
130. NGỌC CHUNG TƢ, (1991) - Báo Văn nghệ các số 20, 21, 22, 23, 24.
131. PHÙNG VĂN TỬU, (1990), Các thƣớc đo thời gian của "Nhật ký trong tù" - Báo Văn
nghệ, 25 - 8 -1900.
191
132. ĐOÀN THỊ THU VÂN, (1996) Khảo sát đặc trƣng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam
từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ X IV, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, NXB Văn học.
133. CHẾ LAN VIÊN, (1997), Thử phân tích một bài thơ bốn câu của Bác - tác phẩm mới.
134. LÊ TRÍ VIỄN (1996), Đặc trƣng văn học trung đại Việt Nam, NXB Khoa học xã hội -
Hà Nội.
135. LÊ TRÍ VIỄN, (1997), Tìm hƣơng trong thơ Hồ Chí Minh, NXB Văn hóa - Thông tin.
136. LÊ TRÍ VIỄN, (1970), Đọc lại bản dịch "Nhật ký trong tù". H, Tác phẩm mới, số 8.
137. TRẦN NGỌC VƢƠNG, (1990), Văn hóa Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung, Đại
học quốc gia Hà Nội.
138. WILL DURANT, Nguyễn Hiến Lê dịch, Lịch sử văn minh Trung Hoa, NXB Văn hóa -
Thông tin.
139. TẠ LINH XUÂN, (1962), Nhân hai năm ngày tập "Nhật ký trong tù" ra đời: đã tỏa ra
toàn thế giới. H, Văn nghệ, số 199.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
TRƢƠNG HOÀNG LỆ
THI PHÁP THƠ TUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Văn học Việt nam
Mã số : 5 04 33
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIÊN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2006
Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM - TP. HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học: GS. HOÀNG NHƢ MAI
Phản biên 1:
GS NGUYỄN HUỆ CHI - VỆN VĂN HỌC.......................................................................
Phản biên 2:
GSTS TRẦN ĐÌNH SỬ - TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM - HÀ NỘI..............................
................................................................................................................................................
Phản biên 3:
PGS TRẦN THANH ĐẠM - TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN .......................................................................................................................................
Luận án sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nƣớc họp tại trƣờng Đại
học Sƣ phạm - Thành phố Hồ
Chí Minh vào hồi........giờ, ngày........tháng..... năm 2006.
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thƣ viện Khoa học xã hội - TP. Hồ Chí Minh
- Thƣ viện Khoa học tổng hợp - TP. Hồ Chí Minh
- Thƣ viện Trƣờng Đại học Sƣ phạm - TP. Hồ Chí Minh
- Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
1
A. PHẦN DẪN NHẬP
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
1.1. Thế kỷ XX có một con ngƣời khi đang còn sống đã trở thành huyền thoại, đó là
Hồ Chí Minh, ngƣời anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà tƣ tƣởng vĩ đại,
nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ qua, tƣ tƣởng của Ngƣời thật sự đã là kim
chỉ nam dẫn đƣờng cho cuộc đấu tranh vì độc lập - tự do, vì hạnh phúc của con ngƣời. Ngày
nay, hơn bao giờ hết, trƣớc sự tồn vong và phát triển của đất nƣớc, những di sản tƣ tƣởng của
Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đèn tỏa sáng trên con đƣờng dân tộc đi lên. Trong vốn di sản quý
giá mà Ngƣời để lại cho dân tộc, tác phẩm văn học là một di sản lớn mà chúng ta chƣa bao
giờ hiểu biết hết đƣợc, đặc biệt là những bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời luồn có một vị trí rất
quan trọng trong lòng mỗi ngƣời dân Việt Nam. Suốt gần nửa thế kỷ nay, các thế hệ nghiên
cứu nối tiếp nhau đi vào thế giới nghệ thuật của Hồ Chí Minh, nhằm khám phá, phát hiện
thêm những vẻ đẹp tìm ẩn, chìm sâu trong thế giới tâm hồn cao đẹp, tràn đầy chất nhân văn
của ngƣời nghệ sỹ Hồ Chí Minh. Qua đó, để có thể hiểu sâu sắc hơn những giá trị trong tƣ
tƣởng vĩ đại của Ngƣời. Đây là điều gần 40 năm qua các nhà nghiên cứu, phê bình đã làm, và
cũng là điều khi thực hiện đề tài này, chúng tôi hằng có mong muốn góp một chút gì đó cái
vào đại dƣơng mênh mông ấy.
1.2. Hàng chục năm nay, thơ văn Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng đƣợc
giảng dạy trong nhà trƣờng, trong đó có rất nhiều bài thơ tứ tuyệt đƣợc chọn giảng trong
chƣơng trình chính khoa, và không ít những bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời luôn làm say mê
ngƣời đọc - thôi thúc ngƣời đọc khám phá khôn cùng. Song hình nhƣ với ngƣời đọc, thơ tứ
tuyệt của Hồ Chí Minh vẫn là một thế giới còn nhiều điều bí mật. Để mở ra một chân trời mới
cho việc khám phá vẻ đẹp của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, chúng tôi chọn phƣơng pháp tiếp
cận trên góc độ thi pháp học - tức là đi vào "giải mã" hình thức những câu thơ tứ tuyệt, để
góp thêm một tiếng nói khách quan cho quá trình tìm đến vẻ đẹp trong thế giới nghệ thuật của
Hồ Chí Minh.
Với tất cả những điều vừa phân tích trên là toàn bộ lý do của việc chúng tôi thực hiện
đề tài nghiên cứu này.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Có lẽ sẽ không quá lời khi nói rằng, trong ngành nghiên cứu văn học Việt Nam chƣa
có một tác giả nào mà tác phẩm nghệ thuật lại đƣợc mọi giới trong
2
xã hội, đặc biệt là giới nghiên cứu phê bình quan tâm nhiều đến nhƣ thơ văn của Hồ Chí
Minh. Điều đó nói lên tính chất qui mô đồ sộ của một hành trình nghiên cứu ngót 40 năm về
thơ vãn của Hồ Chí Minh.
Tất cả những bài viết về thơ văn của Hồ Chí Minh trong những năm qua đều ít nhiều
có liên quan đến việc chúng tôi nghiên cứu đề tài này. Song nếu đi vào liệt kê hết từ tên tác
giả, cũng nhƣ các bài viết thì e dung lƣợng quá lớn khó có thể thực hiện đƣợc. Vì vậy, khi đi
vào nghiên cứu lịch sử vấn đề của luận án, chúng tôi xin đƣợc chắt lọc những nét tiêu biểu
của các công trình nghiên cứu nhƣ sau:
2.1. Những bài nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến khuynh hƣớng thi pháp học,
ký hiệu học nhƣ:
Thi pháp đối lập trong "Nhật ký trong tù " của tác giả Nhật Chiêu. Trong bài viết của
mình ông bày tỏ quan điểm rằng: "Thi pháp" được hiểu là phương thức phản ánh cả tâm thức
lẫn thực tại trong cơ cấu nghệ thuật mang dấu ấn sinh động của người sáng tạo". Xuất phát
từ cái nhìn thi pháp ấy, tác giả Nhật Chiêu đã khẳng định: chính cảm thức tự do trong "Nhật
ký trong tù" đã tác động đến toàn bộ thi pháp của tập nhật ký. Hầu hết các bài thơ trong tác
phẩm đều đƣợc xây dựng trên thi pháp đối lập. Ông đã rất thành công khi đi vào khai thác các
chi tiết, các tình huống đối lập để tìm ra cả một thế giới với các cặp phạm trù đối lập trong
"Nhật ký trong tù". Chính vì khai thác triệt để các yếu tố đối lập mà tác giả đã dẫn ngƣời đọc
đi sâu vào thế giới tâm hồn phong phú của nghệ sỹ Hồ Chí Minh. Bài viết của tác giả Nhật
Chiêu đã giúp chúng tôi có cái nhìn sâu hơn về thi pháp những bài thơ tứ tuyệt trong Nhật ký
trong tù.
Tác giả Duy Lập trong bài Thử vận dụng ký hiệu học vào việc phân tích một bài thơ
của Hồ Chủ Tịch đã có những đóng góp đáng kể. Mặc dù bài thơ mà tác giả chọn để phân
tích là bài Cảnh rừng Việt bắc - một bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú, nhƣng chính việc
tác giả đi vào phân tích bài thơ trên góc độ ký hiệu học đã mở ra một hƣớng tiếp cận mới cho
thơ ca của Hồ Chí Minh, giúp cho chúng tôi có một cái nhìn khái quát hơn trong việc nghiên
cứu hệ thống thi pháp thể loại thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
Các loạt bài viết: Thời sự và vĩnh hằng của Đặng Anh Đào; Các thước đo thời gian
của "Nhật ký trong tù " của Phùng văn Tửu; Không gian và thời gian trong "Nhật ký trong tù
"của Lê Đình Kỵ; Theo dòng thời gian trong "Nhật ký trong tù " của Hà Minh Đức. Nhìn
chung các bài viết đều tập trung khai thác theo lý thuyết thi pháp học và đã tìm ra cái hay, cái
đẹp của hình thức mang tính nội dung của tập thơ nhật ký. Đây là tiền đề cho ngƣời đọc
ngƣời tập
3
nghiên cứu nhƣ chúng tôi có một hƣớng tiếp cận mới với tập "Nhật ký trong tù" của Hồ Chí
Minh.
Một sự kiện đáng chú ý nhất là năm 1993 Viện Văn học cho ra mắt bạn đọc cuốn sách
có tựa đề "Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù", tập sách là công trình của tập thể của 21 tác giả
là các nhà nghiên cứu chuyên ngành. Sách có bốn chƣơng, trong đó chƣơng 2 của cuốn sách
đề cập đến: "Những vấn đề thi pháp và một số phương hướng tiếp cận tập thơ", ở chƣơng này
các nhà nghiên cứu đã đi thẳng vào những vấn đề của thi pháp học nhƣ: Tính thống nhất của
một chỉnh thể nghệ thuật nhỏ trong một chỉnh thể nghệ thuật lớn của tập thơ nhật ký; những
vấn đề về thời gian - không gian trong "Nhật ký trong tu"; vấn đề về sự tiếp nối và những
sáng tạo hiện đại trong phong cách sáng tác nghệ thuật của Hồ Chí Minh. Đặc biệt là vấn đề
tìm ra cái mới trong tư duy nghệ thuật của Hồ Chí Minh.
Có thể nó rằng, những vấn đề thi pháp của tập thơ đã đƣợc các nhà nghiên cứu xem
xét với một cái nhìn mới, đây thật sự là một sự đổi mới suy nghĩ của giới nghiên cứu phê
bình đối với tập "Nhật ký trong tù" của Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Bá Thành khi đọc "Suy
nghĩ mới về "Nhật ký trong tù"" có nhận xét: "Đổi mới cách nhìn, đổi mới suy nghĩa là yêu
cầu cấp bách để nghiên cứu văn học hiện đại, trong đó có thơ văn Hồ Chí Minh, xác định giá
trị đích thực của tập "Nhật ký trong tù " là một thử thách lớn của quá trình đổi mới của tư
duy lý luận, tư duy khoa học".
Mặc dù các nhà nghiên cứu đã mở ra một hƣớng nghiên cứu thi pháp cho thơ nghệ
thuật của Hồ Chí Minh, nhƣng riêng đối với mảng thơ tứ tuyệt là thể loại chiếm một số lƣợng
lớn gần nhƣ toàn bộ sáng tác thơ nghệ thuật của Hồ Chí Minh thì chƣa có công trình nghiên
cứu nào có tính chất chuyên biệt để đi vào khám phá khả năng độc đáo, đặc sắc trong bút
pháp sáng tạo nghệ thuật ở thể loại này của Hồ Chí Minh.
2.2. Những bài viết liên quan trực tiếp đến thi pháp thể loại thơ tứ tuyệt:
Ở lĩnh vực nghiên cứu này chỉ có một số ít ý kiến trực tiếp nói về thể loại thơ tứ tuyệt
của Hồ Chí Minh nhƣ: "Thơ tứ tuyệt của Hồ chủ tịch" của tác giả Hà Minh Đức. Bài viết tập
trung vào những đặc điểm thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh. Tác giả xác định cảm hứng thơ tứ
tuyệt của Hồ Chí Minh là bắt nguồn từ cuộc sống - cuộc sống là điểm xuất phát, là nội dung
và cũng là mục đích cuối cùng của thơ. Đặc biệt ở trong bài viết này, Hà Minh Đức đã chú ý
tới hình thức của thể loại, xem đó là cái riêng trong việc sử dụng thể thơ tứ tuyệt ở Hồ Chí
Minh. Tác giả đi vào phân tích tính chất độc đáo trong câu kết
4
của bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, theo tác giả đa số các bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đều
hàm chứa hai tầng ý nghĩa; Hồ Chí Minh là ngƣời đã tiếp nhận một cách sáng tạo thể thơ tứ
tuyệt truyền thống. Ông nói: thơ tứ tuyệt của Bác điêu luyện và sáng tạo; thơ tứ tuyệt mà Bác
sử dụng là thể thơ tứ tuyệt cổ điển. Nhiều nhà thơ tìm hiểu thơ Bác đều thấy rằng Người am
hiểu sâu sắc vận dụng thành thục, linh hoạt các khổ thơ cổ điển. Nhưng quy tắc khá nghiêm
ngặt của thể thơ không hề gò bó hạn chế nội dung nào của thơ.
Tác giả Nguyễn Khắc Phi trong bài Góp phần lý giải ý nghĩa và vẻ đẹp của bài thơ
"Vãn cảnh" có phân tích: thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, mặc dầu mang tính hiện đại sâu sắc
và có không ít chỗ phá vỡ khuôn khổ cũ, song ở đó, vẫn có thể "lắng nghe cái âm vang sâu
nặng của truyền thống" vẫn có thể thấy phảng phất khắp nơi ý vị của thơ Đường, thơ Tống.
Ý kiến của tác giả Phƣơng Lựu trong bài "Thơ Bác với thơ Đƣờng" có nhận xét: Về
mặt thể loại, cống hiến lớn nhất của Bác là sự sáng tạo ra thể thơ tứ tuyệt tự sự. Ngược lại,
thơ tứ tuyệt của Bác cũng có nhiều bài thơ trữ tình, nhưng lại có rất nhiều bài tự sự, đặc biệt
là những bài có tính chất "nhật ký" thật sự.
Nghiên cứu lịch sử vấn đề của thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấy
rằng: thứ nhất: thơ tứ tuyệt là một thể loại gần nhƣ chiếm toàn bộ giá trị thơ nghệ thuật của
Hồ Chí Minh, nhƣng lại là một lĩnh vực chƣa đƣợc các nhà nghiên cứu đề cập đến nhiều. Thứ
hai: mặc dù số lƣợng bài viết về lĩnh vực này còn khá khiêm tốn, song nhiều vấn đề đã đƣợc
soi sáng, lắm phát hiện lý thú. Hơn thế, chính phƣơng pháp tiếp cận thi pháp học đối với thơ
tứ tuyệt Hồ Chí Minh đã thật sự mở một chân trời mới cho những ai muốn đi vào khám phá,
phát hiện thêm những vẻ đẹp tiềm ẩn chìm sâu trong thế giới tâm hồn cao đẹp, tràn đầy chất
nhân văn của ngƣời nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
1. Tìm đến hệ thống hình thức mang tính nội dung của những bài thơ tứ tuyệt của Hồ
Chí Minh, nhằm khẳng định giá trị riêng có của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trong nền văn học
nƣớc nhà.
2. Khảo sát 198 bài thơ tứ tuyệt đƣợc sáng tác bằng hai ngôn ngữ Hán và Việt, ở
những giai đoạn khác nhau, để xác định sự thống nhất - nhất quán trong phong cách nghệ
thuật của Hồ Chí Minh.
5
3. Nghiên cứu hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là để tìm hiểu những
giá trị tƣ tƣởng của Ngƣời về quan điểm trong sáng tác nghệ thuật nói riêng và trong tiếp
nhận văn hóa nói chung.
4. Góp phần tìm hiểu những giá trị cao đẹp của con ngƣời Hồ Chí Minh qua những
bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tƣợng khảo sát của chúng tôi là toàn bộ những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh
gồm 198 bài (129 bài trong tập "Nhật ký trong tù", 69 bài ngoài "Nhật ký trong tù" - trong đó
có 36 viết bằng chữ Hán và 33 viết bằng quốc ngữ).
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Chung quanh vấn đề về thơ tứ tuyệt; hình tƣợng con ngƣời; hình tƣợng thời gian -
không gian nghệ thuật; các phƣơng thức biểu hiện và ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
5. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN.
5.1. Bƣớc đầu ứng dụng việc sử dụng thi pháp học vào việc nghiên cứu toàn bộ hệ
thống thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đề tìm đến cái "mã" nghệ thuật thơ tứ tuyệt của Ngƣời.
Từ đó giúp cho học sinh và những ngƣời yêu thích thơ Hồ Chí Minh có thêm điều kiện khách
quan để tìm hiểu và cảm thụ sâu sắc cái hay, cái đẹp, cái tinh diệu của thế giới trữ tình Hồ
Chí Minh.
5.2. Qua việc tìm hiểu hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng tôi có
điều kiện để chỉ ra một nguyên tắc trong quan điểm sáng tác nghệ thuật nói riêng và trong
tiếp nhận văn hóa nói chung ở nghệ sĩ Hồ Chí Minh là: tạo ra những giá trị mới trên nền tảng
truyền thống bền vững; và làm cho những giá trị truyền thống luôn sống trong tinh thần thời
đại. Đây là một nguyên tắc tiếp nhận văn hóa đúng đắn nhất.
5.3. Nghiên cứu thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trên góc độ thi pháp học, luận án đã phần
nào chứng minh đƣợc rằng, chính sự không nhất nhất tuân thủ bất cứ khuôn mẫu nào trong
quá trình sáng tác thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đã làm nên tính phong phú, đa dạng - là một
sự thống nhất, nhất quán của phong cách sáng tạo nghệ thuật ở nghệ sĩ Hồ Chi Minh.
5.4. Góp phần khẳng định một khuynh hƣớng mới trong nghiên cứu và phê bình văn
học, đó là đi vào hình thức nghệ thuật khám phá nội dung.
6
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Để xác định những đặc trƣng riêng của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, trên nguyên tắc
chung cần khảo sát toàn bộ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh trong mối quan hệ đối sánh với
nhiều hệ thống. Cụ thể, luận án sẽ đƣợc khai triển trên cơ sở quan tâm tới các mối quan hệ:
- Mối quan hệ giữa con ngƣời nhà thơ bên ngoài cuộc đời và thơ ca nghệ thuật của
Ngƣời. Bởi nghiên cứu thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh thực chất là góp phần khám phá tầm vóc vĩ
đại của con ngƣời Hồ Chí Minh, trong tầm vóc chung của lịch sử Việt Nam hiện đại. Do đó,
nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh là nghiên cứu văn hóa Hồ Chí Minh ở góc độ tinh tế và sâu sắc
nhất. Vì lẽ ấy, khi đi vào nghiên cứu thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh thì mối quan hệ soi sáng
giữa "thơ" và "ngƣời", vẫn là hệ quy chiếu tất yếu. Song chúng ta cũng cần có khoảng cách
để bảo đảm tích khách quan của tác phẩm nghệ thuật, vì bản thân tác phẩm nghệ thuật khi nó
ra đời nó tồn tại nhƣ một sinh mệnh sống; Chúng ta phải chiếm lĩnh nó nhƣ một khách thể
vốn nó vẫn tồn tại.
- Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với thơ tứ tuyệt truyền thống: ảnh
hƣởng của thơ tứ tuyệt truyền thống, thơ ca bác học và thơ ca dân gian Việt Nam... đối với
thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
- Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh và những yếu tố trong thơ ca hiện đại.
Mối quan hệ phụ thuộc ảnh hƣởng qua lại giữ các bộ phận trong hệ thống hoặc giữa
các hệ thống sẽ là cơ sở quan trọng giúp xác định các đặc điểm nghệ thuật của những bài thơ
tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
2. Để giải quyết những yêu cầu cụ thể, cần áp dụng những phƣơng pháp sau đây:
Phương pháp thống kê - phân loại:
Mục đích sử dụng nhằm tập hợp lại toàn bộ những bài thơ của Hồ Chí Minh viết theo
thể tứ tuyệt bằng hai thứ ngôn ngữ Hán và Việt đƣợc sáng tác trong mọi thời điểm khác nhau
đề tìm đến tính thống nhất nhất quán trong thi pháp sáng tác của nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
Phương pháp đối chiếu - so sánh :
- Sử dụng phƣơng pháp so sánh để khẳng định rằng thơ tứ tuyệt Hổ Chí Minh là sự
tiếp nối truyền thống thơ tứ tuyệt cổ điển.
- Chứng minh cho những yếu tố sáng tạo hiện đại trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh
so với thơ tứ tuyệt truyền thống.
7
Phương pháp phân tích tổng hợp:
Phân tích những ảnh hƣởng của những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc trong hệ
thống thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN: Luận án đƣợc chia làm ba phần chính:
Phần dẫn nhập: Trình bày về ý nghĩa của đề tài, điểm lại các công trình chủ yếu
nghiên cứu về thơ Hồ Chí Minh nói chung và thơ tứ tuyệt nói riêng. Qua đó làm rõ mục đích
nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài, phƣơng pháp và phƣơng pháp luận
nghiên cứu của đề tài.
Phần nội dung: gồm ba chƣơng: chương 1: Chung quanh vấn đề về thơ tứ tuyệt - thơ
tứ tuyệt của Hồ Chí Minh; chương 2: Thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh nhìn trên góc
độc hình tƣợng; chương 3: Thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh nhìn trên góc độ các phƣơng
thức biểu hiện.
Phần kết luận:
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1 CHUNG QUANH VẤN ĐỀ VỀ THƠ TỨ TUYỆT - THƠ TỨ TUYỆT
CỦA HỒ CHÍ MINH
1. CHUNG QUANH VẤN ĐỀ VỀ THƠ TỨ TUYỆT
1.1. Về thuật ngữ :
- Dùng thuật ngữ "tuyệt cú " hay "tứ tuyệt"?
Thuật ngữ "tứ tuyệt là cách ngƣời Việt Nam gọi thể thơ bốn câu mà ngƣời Trung
Quốc gọi là "tuyệt cú", cả hai thuật ngữ này ở Việt Nam thƣờng đƣợc hiểu nhƣ là một từ
đồng nhất với nhau. Mặc dù vậy, bản thân chúng vẫn có những dấu hiệu khu biệt nhƣ: "tuyệt
cú" vốn là một từ đã tồn tại ổn định ngót 1500 năm nay: bốn dòng, vần chân, số chữ ở bốn
dòng bằng nhau"; còn "tứ tuyệt" là một thuật ngữ khi dùng vốn đã mang một nội hàm khác
với lúc ban đầu xuất hiện.
- Cách hiểu chữ "tuyệt" trong thuật ngữ "tuyệt cú " hay "tứ tuyệt ":
Từ rất lâu cách hiểu chữ "tuyệt" ở trong thuật ngữ "tuyệt cú" hay "tứ tuyệt" có hai
quan điểm khác nhau:
- Quan niệm thứ nhất cho rằng: tứ tuyệt là sự cắt ra từ bài bát cú nên hiểu "tứ" có
nghĩa là bốn câu; "tuyệt": nghĩa là cắt, là dứt, ngắt.
- Quan niệm thứ hai xuất phát từ việc đánh giá rất cao tầm vóc của thơ tứ
8
tuyệt trong văn chƣơng nên hiểu chữ tuyệt là tuyệt diệu, tuyệt vời.
Vậy có phải tuyệt là cắt, là dứt, là ngắt... ra từ bài bát cú; hay tuyệt là tuyệt diệu, tuyệt
vời? Để đi đến một xác định cho chính xác cách hiểu chữ "tuyệt" trong thuật ngữ "tuyệt cú"
hay " tứ tuyệt" chúng ta nên quay về với cội nguồn hình thành nên thể loại thơ tứ tuyệt.
1.2. Vấn đề nguồn gốc của thơ tứ tuyệt:
Trƣớc đây, có rất nhiều ngƣời cho rằng, "Tứ tuyệt" là do đƣợc cắt ra từ bài bát cú -
song lại có một quan niệm ngƣợc lại cho rằng: bát cú là do tứ tuyệt gấp đôi lên mà thành. Sau
này càng nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thực chất "tuyệt cú" ra đời từ rất sớm trƣớc thể loại
bát cú. Tác giả Nguyễn Sĩ Đại trong cuốn "Một số đặc trƣng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời
Đƣờng" dựa trên cơ sở của nhiều căn cứ khoa học đã đƣa ra ý kiến khẳng định rằng, tuyệt cú
là một thể loại thơ có trƣớc thơ Đƣờng, ông chứng minh nó bắt nguồn từ trong Kinh Thi, và
theo ông danh từ "tuyệt cú" xuất phát từ hình thức thơ "liên cú"; vậy nên chữ "tuyệt" có nghĩa
là "cắt" nhƣ không cắt ra từ bài bát cú mà cắt ra từ bài liên cú, sự dừng lại ở bốn câu có ý
nghĩa trọn vẹn. Tác giả Nguyễn Khắc Phi cũng cho rằng hình thức thơ này xuất hiện ở đời
Hán: mỗi ngƣời làm một câu thơ, câu nào cũng phải gieo vần, cuối cùng hợp lại thành một
bài. Đến đời Tấn, mỗi ngƣời phải làm hai câu. Cuối Tấn đầu Tống đã xuất hiện hình thức liên
cú trong đó mỗi ngƣời phải làm bốn câu. Trƣờng hợp ngƣời xƣớng bài đầu tiên mà không có
ai làm liền theo đƣợc thì bài độc xƣớng đó gọi là "đoạn cú" hoặc "tuyệt cu" ("đoạn"; "tuyệt"
nghĩa là "dứt") dùng dể đối lạp với chữ "liên" nghĩa là "liền". Nhƣ vậy, chữ "tuyệt" trong
thuật ngữ "tuyệt cú" hay "tứ tuyệt" là xuất phát từ đây.
1.3. Mục đích của việc chúng tôi đi vào xác định thuật ngữ và tìm hiểu nguồn gốc
của thơ tứ tuyệt là nhằm phục vụ cho quá tình khảo sát toàn bộ hệ thống thơ ca của Hồ Chí
Minh để xác định đƣợc chính xác những bài thơ viết theo thể tứ tuyệt của Ngƣời. Trong luận
án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ "tứ tuyệt" để gọi tên cho loại thơ bốn câu của Hồ Chí
Minh, vì chúng tôi đồng tình với cách hiểu nội hàm "tứ tuyệt" là một bài thơ bốn câu, không
nhất thiết mỗi câu 5 hoặc 7 chữ; nhƣng nên loại trừ những bài thơ viết theo thể thơ lục bát
bốn câu của Việt Nam. Bằng cách hiểu này, chúng tôi có thể bao quát đƣợc những bài thơ
bốn câu của Hồ Chí Minh đƣợc viết với số chữ 4, 5, 6, 7, hoặc có thể nhiều hơn; và không
đƣa dạng lục bát bốn câu vào phần khảo sát thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
9
1.4. Những đặc điểm chung của thơ tứ tuyệt:
Thứ nhất: tứ tuyệt hình thức nhỏ bé nhƣng các tác giả của nó không hề đặt cho mình
nhiệm vụ thể hiện những điều vụn vặt. Thơ tứ tuyệt luôn có tham vọng đề cập đến những vấn
đề lớn lao của cuộc sống, một cách sinh động và độc đáo. Thứ hai: nếu nói vẻ đẹp của thơ là
vẻ đẹp cô đọng thì thể thơ tứ tuyệt có rất nhiều bài điển hình cho điều ấy. Theo Văn Nhất Đa,
nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng thời cận đại của Trung Quốc có kết luận rằng: "Tuyệt cú là
hình thức tốt nhất của thơ trữ tình", Cấu trúc của một bài thơ tứ tuyệt nếu so sánh với bài thất
ngôn bát cú thì tứ tuyệt có nhiều điểm tự do hơn nhiều. Tứ tuyệt chỉ cần theo đúng niêm luật
mà không cần đối. Quan hệ giữa các câu thơ của một bài tứ tuyệt lỏng lẻo. Bố cục bài tứ
tuyệt rất đa dạng, nó không tuân thủ nguyên tắc khai, thừa, chuyển, hợp nhƣ thể thơ bát cú.
Thƣờng thì bố cục một bai tứ tuyệt là 2/2, nhƣng cung có khi là 1/1/1/1/ hay 2/1/1; 1/1/2; 1/3;
3/1.
1.5. Thơ tứ tuyệt trong nền thơ ca Việt Nam - nhìn trên góc độ khái quát:
Thơ tứ tuyệt đến Việt Nam rất sớm, cũng nhƣ các thể loại khác của thơ Đƣờng, thơ tứ
tuyệt đã có mặt ngay từ buổi đầu hình thành nền văn học thành văn ở nƣớc ta và đã góp phần
rất lớn vào sự hình thành nền móng của văn học nƣớc nhà. Thời kỳ đầu ở Việt Nam, những
bài thơ tứ tuyệt do các nhà thơ Việt Nam sáng tác cũng đã đạt đến đỉnh cao của giá trị nội
dung và nghệ thuật. Suốt mƣời thế kỷ nền văn học cổ điển Việt Nam (từ thế kỷ thứ thứ X đến
đầu thế kỷ XX) trải qua các nền văn học của các triều đại: Lý - Trần - Lê - Nguyễn... các nhà
thơ Việt Nam ở mọi thế hệ luôn dành cho thể loại tứ tuyệt một sự quan tâm đặc biệt. Vì thế,
thể tài tứ tuyệt đƣợc sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống tinh thần xã hội.
Thời Lý - Trần, thơ tứ tuyệt đƣợc phát triển ở Việt Nam và đƣợc sử dụng rộng rãi trên
mọi lĩnh vực của cuộc sống tinh thần xã hội. Tứ tuyệt thời Lý xuất hiện đậm nét với chức
năng ngoài văn học nhƣ tứ tuyệt thƣờng đƣợc dùng và mục đích chính trị hay phƣơng tiện
truyền đạo của các nhà sƣ. Bên cạnh đó, thơ tứ tuyệt còn là phƣơng tiện thể hiện tâm tƣ tình
cảm của các nhà sƣ, nhƣng yếu tố trữ tình chƣa sâu đậm.
Đến đời Trần, mặc dù chức năng hành chức của thơ tứ tuyệt vẫn còn thể hiện rất rõ,
nhƣng đặc điểm lớn nhất của thơ tứ tuyệt thời kỳ này là in đậm dấu ấn của yếu tố trữ tình
trong sáng. Thơ tứ tuyệt giai đoạn này rất đặc sắc, khuynh hƣớng trong thơ ƣu tiên cho sự bộc
lộ cảm xúc, suy tƣ về những vần đề của đời sống chính trị xã hội hay đời sống tâm linh.
Mảng thơ tứ tuyệt viết về
10
đời sống thế tục ngày càng chiếm ƣu thế. Thơ tứ tuyệt ngày càng gần với cuộc sống, nên thực
hơn, đẹp hơn và luôn chứa chan cảm xúc. Điều đó chứng minh rằng, thơ tứ tuyệt thời Trần đã
đạt đƣợc một số thành tựu quan trọng.
Đến triều Lê, nền văn học bác học Việt Nam đã có một đội ngũ văn nghệ sĩ khá hùng
hậu, với những tên tuổi nhƣ Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Nguyễn Trãi, Nguyễn Trực,
Đàm Thận Huy, Sái Thuận... Nguyễn Dữ dã nhận xét trong "Kim hoa thi thoại truyện" rằng:
"Từ khi triều Lê dựng nghiệp, thi sĩ có đến hơn 300 nhà". Những bài tứ tuyệt thời Lê thƣờng
vẽ nên những bức tranh phong cảnh gợi nhớ không khí tĩnh mịch của cuộc sống ẩn cƣ, nhàn
nhã với những cảm xúc đằm thắm của nhà thơ trƣớc vẻ đẹp làng quê. Triều Lê với tinh thần
phục hƣng văn hóa Đại Việt, truyền thống thơ văn Lý - Trần đƣợc khôi phục và những giá trị
văn hóa dân gian, đã góp phần nuôi dƣỡng dòng văn chƣơng bác học bằng chữ Nôm đậm đà
bản sắc dân tộc. Ngƣời đại biểu suất sắc của giai đoạn này phải kể đến Nguyễn Trãi, là ngƣời
có công đầu trong việc đƣa ngôn ngữ hội thoại dân gian thành ngôn ngữ văn học, mở ra một
tiền đề cho nền văn học trong những thế kỷ sau.
Đến những thế kỷ từ XVI - XIX, thơ tứ tuyệt đã thật sự có những bƣớc chuyển mình
quan trọng. Cuộc nội chiến Nam Bắc triều đã làm biến động lịch sử tác động đến toàn bộ nền
văn học nói chung và thơ tứ tuyệt nói riêng.
Thế kỷ XVIII - XIX, các nhà thơ đã tách ra khỏi truyền thống với các hình ảnh thi vị,
để khám phá các chi tiết tƣơng đối xác thực của cuộc sống đời thƣờng, nhƣ nghèo khổ, đói
khát, bệnh tật... việc các nhà thơ đã chú ý đƣa sự hội nhập của cuộc sống đời thƣờng vào
trong thơ, làm mở rộng các khuôn khổ quy phạm của thể loại, cùng với việc khai thác chi tiết
các bức tranh đời thƣờng và tâm trạng con ngƣời, đã đem đến cho thơ tứ tuyệt thời kỳ này
một sắc màu mới. Trong giai đoạn này, một sự kiện nổi bật của nền thi ca Việt Nam giai đoạn
này là sự hồi sinh và phát triển thể loại thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm, ngƣời đại diện xuất
sắc là nữ sĩ Hồ Xuân Hƣơng. Thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng sáng tác dựa trên tiêu
chí mỹ học và văn hóa dân gian Việt Nam. Có thể nói, Hồ Xuân Hƣơng là ngƣời đã có công
Việt hóa thể thơ tứ tuyệt luật Đƣờng và mở ra cho thơ tứ tuyệt Việt Nam thời kỳ này những
yếu tố mới về nội dung và hình thức trên cái nền quy phạm của thể loại.
Đầu thế kỷ XX, ngọn gió phƣơng Tây đã thật sự làm biến đổi xã hội Việt Nam, một
sự biến đổi có tính chất là bƣớc ngoặc lịch sử. Nó ảnh hƣởng trực tiếp đến mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội trong đó có thơ ca. Văn nghệ sĩ thời kỳ này mang nặng tƣ tƣởng cách tân, đòi
"tháo cũi sổ lồng" đối với những thể
11
loại thơ ca cổ điển có khuôn mẫu, gò bó. số phận đƣợc cách tân cũng không loại trừ thơ tứ
tuyệt. Mặc dù số lƣợng tứ tuyệt rất ít, nhƣng thực tế đã chứng minh rằng: thể loại tứ tuyệt cổ
điển đã có thể hội nhập, thích nghi với hiện đại trong một chỉnh thể mới. Các nhà thơ của nền
văn học cách mạng thời hiện đại tiếp tục chú ý sử dụng thể loại tứ tuyệt. Bên cạnh những bài
tứ tuyệt mang sắc màu hiện đại mới mẻ lại có không ít những bài thơ tứ tuyệt vẫn giữ đƣợc
khuôn mẫu nghiêm ngặt của thể loại tứ tuyệt truyền thống, làm nên sự đa dạng của thể loại tứ
tuyệt.
Nhìn một cách khái quát về sự có mặt thể loại thơ tứ tuyệt trong nền văn hoá Việt
Nam từ cổ điển đến hiện đại, chúng tôi thấy rằng: Thơ tứ tuyệt có một vị trí rất quan trọng
trong đời sống tinh thần của ngƣời Việt Nam. Sự độc đáo riêng có của tứ tuyệt luôn là
phƣơng tiện đắc địa để con ngƣời gửi gấm những tình cảm của mình vào trong một dung
lƣợng rất ngắn ngọn. Chính vì thế, trải qua bao biến đổi không ngừng của lịch sử, tứ tuyệt
vẫn tồn tại nhƣ là một giá trị văn hóa tinh thần không thể thiếu của con ngƣời.
2. THƠ TỨ TUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH
2.1. Đặc điểm hành chức của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh:
1. Thơ tứ tuyệt tự sự - nói đúng hơn là tứ tuyệt phóng sự với cái nhìn chuẩn xác của
một nhà báo - điển hình là những bài tứ tuyệt tƣơi ròng những tin tức nóng bỏng về tình hình
thời sự trong nƣớc và ngoài nƣớc."Việt hữu tao động " (Việt Nam có báo động); "Song thập
nhất" (Ngày 11 tháng 11), bài "Anh phỏng Hoa đoàn" (đoàn đại biểu Anh sang thăm Trung
Hoa). Chức năng tự sự của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh còn thể hiện ở những thông tin thời sự
rất "văn xuôi" - đời thƣờng đại loại nhƣ những tình tiết trong các bài: "Nhập lung tiền" (tiền
vào nhà giam); hay trong "Ngục trung sinh hoạt" (Sinh hoạt trong tù); hoặc ở bài "Đăng
quang phí" (Tiền đèn); bài "Công kim" (tiền công)... khi đọc những bài thơ tứ tuyệt này,
ngƣời đọc nhƣ thật sự đƣợc nghe một bản báo cáo tổng kết hết sức chi tiết về những việc từ
lớn đến nhỏ trong nhà tù Quốc Dân Đảng thời ấy.
2. Thơ tứ tuyệt dùng vào việc tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia cách
mạng. Đây là điều rất độc đáo của Hồ Chí Minh khi sử dụng thể loại tứ tuyệt vào cuộc sống.
Ngƣời đã đem vào cho thể loại tứ tuyệt một vẻ đẹp của sự kết hợp hài hòa giữa chính trị và
thơ ca - một bài thơ tứ tuyệt có thể là một bài văn chính luận: "Gửi nông dân", "Khuyên thanh
niên": đặc biệt nhất, có những bài thơ tứ tuyệt đƣợc dùng để chúc tết đầu năm "Mừng xuân
1968"; "Mừng xuân 1967".
12
3. Thơ tứ tuyệt ngôn chí là những bài thơ tự khuyên mình. Đó là những lời tự bạch mà
tác giả dành để nói với chính mình, động viên bản thân mình vƣợt lên trên hoàn cảnh. Cụ thể
ở các bài: "Văn thung mễ thanh" (Giã gạo); 'Tự miễn" (Tự khuyên mình); "Thế lộ nan"
(Đƣờng đời hiểm trở)...
4. Thơ tứ tuyệt nhật ký: mỗi bài thơ tứ tuyệt là một trang nhật ký ghi nhận mọi sự
việc, mọi cảnh huống và tâm trạng của con ngƣời trong cuộc sống thực đến từng chi tiết. Về
hình thức với con số 129 bài tứ tuyệt, mỗi bài thơ là một chỉnh thể nhỏ hoàn hảo liên kết với
nhau làm nên tập "Nhật ký trong tù", đó là một thiên "tứ tuyệt đại liên hoàn". Song độc đáo
hơn nữa là Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thể tứ tuyệt "lưỡng tính về mặt thể loại" - nhật ký
lại đƣợc viết bằng thơ: vừa tự sự - vừa trữ tình. Đó là một hiện tƣợng "độc nhất vô nhị" của
thể loại tứ tuyệt trong nền văn học Việt Nam. Điều ấy cũng chứng minh rằng Hồ Chí Minh đã
hiện đại hóa thể thơ tứ tuyệt đƣờng luật theo một khuynh hƣớng hiện đại, để phù hợp với hiện
thực cách mạng của thời đại đang diễn ra.
5. Thơ tứ tuyệt trữ tình giàu âm hƣởng Đƣờng thi, thể hiện tâm tƣ tình cảm của nhà
thơ một cách tinh tế nhất chiếm một tỉ lệ rất lớn trong tổng số những bài thơ tứ tuyệt của Hồ
Chí Minh.
2.2. Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh - sự kết hợp hài hòa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần
hiện đại:
Khảo sát 198 bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh chúng tôi khẳng định một đặc trƣng
điển hình nhất, bao trùm nhất của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là sự hòa quyện đến mức dung dị
giữa vẻ đẹp cổ điển với một nhân sinh quan hiện đại. Ông Quách Mạc Nhƣợc từng nhận xét
rằng: có những bài, nếu đem đặt bên cạnh thơ Đƣờng - Tống thì không thể phân biệt dƣợc.
Vậy nên, đọc thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, bên cạnh vẻ đẹp cổ điển ấy, chúng ta vẫn nhận thấy
trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh còn có một cái nhìn mới về thế giới quan, nhân sinh
quan, thẩm mỹ quan của một ngƣời chiến sĩ cộng sản - đây là cái không thể tìm thấy trong
thơ xƣa. Chính những điều vừa phân tích trên đã làm nên cái độc đáo trong thơ tứ tuyệt của
Hồ Chí Minh. Sự độc đáo ấy là: "cổ điển mà không phải là cổ thi", trong thơ của Ngƣời "cái
hiện đại, trở về tắm mình trong cái cổ điển; còn cái cổ điển lại được thổi vào trong đó cái
linh hồn mới của thời đại". Đó chính là lý do làm cho những câu thơ tứ tuyệt của nghệ sĩ Hồ
Chí Minh có một vẻ đẹp hài hòa của sự tích hợp và dung hóa những giá trị văn hóa của
truyền thống và hiện đại, Ngƣời luôn kế thừa truyền thống trên cỡ sở của sự cách tân, sáng
tạo.
13
CHƢƠNG 2: THI PHÁP THƠ TỨ TUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH NHÌN TRÊN GÓC
ĐỘ HÌNH TƢỢNG
2.1. HÌNH TƢỢNG CON NGƢỜI.
2.1.1. Con ngƣời tự do.
Tự do chính là khát vọng lớn nhất của cuộc đời ngƣời chiến sĩ cách mạng Hồ Chí
Minh, nó không chỉ dừng lại ở mức độ tình cảm mà đã trở thành lý tƣởng thiêng liêng, Ngƣời
từng nói: "Không có gì quý hơn độc lập tự do", chân lý ấy đã trở thành lẽ sống đẹp đẽ vẫy gọi
Ngƣời suốt đời đấu tranh và hy vọng. Song cái cao quý nhất trong con ngƣời Hồ Chí Minh là
ở chỗ: trong suốt cuộc đời của Ngƣời cái khát vọng tự do mà cả đời Ngƣời theo đuổi là một
nhu cầu thực tế bức bách. Trƣớc hết không phải chỉ để cho riêng cá nhân mình mà Ngƣời
dành điều ấy cho dân tộc và cho nhân loại. Cơ sở xuất phát những điều ấy có nguyên nhân
sâu xa là chủ nghĩa yêu nƣớc, chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam và sự bôn ba khắp bốn biển năm
châu trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Ngƣời. Vì thế, Hồ Chí Minh là con ngƣời
thấu hiểu một cách trọn vẹn và sâu sắc nỗi đắng cay, niềm hạnh phúc của hai chữ "tự do".
Đối với Ngƣời chân lý "không có gì quý hơn độc lập tự do" mang một hàm nghĩa sâu sắc, tất
cả những điều ấy đều dội vào thơ, soi sáng hình tƣợng con ngƣời trong thơ. Vì vậy, cảm thức
về "tự do", khát vọng về "tự do" là tần số cao nhất xuất hiện trong những bài thơ tứ tuyệt của
nhà thơ Hồ Chí Minh.
2.1.1.1. Đó là con người với nỗi niềm khát khao tự do cháy bỏng:
1. Sự khát khao tự do ở hình tƣợng con ngƣời trong những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí
Minh, trƣớc hết thể hiện ở góc độ một con ngƣời đau khổ vì mất tự do; tình cảm ấy tập trung
chủ yếu ở những bài thơ tứ tuyệt trong tập "Nhật ký trong tù", nó thể hiện ở rất nhiều tầm
trạng của ngƣời tù Hồ Chí Minh.
Thứ nhất: Đó là ý thức về sự mất tự do:
Đau khổ về mặt tinh thần: trong tập "Nhật ký trong tù" nhà thơ đã trực tiếp bộc lộ
điều ấy trong bài "cảnh binh khiêng lợn cùng đi I, II)": trên đời nghìn vạn điều cay đắng,
không gì cay đắng bằng mất quyền tự do. Hồ Chí Minh đã chứng minh và khẳng định rằng,
mất tự do con ngƣời sẽ mất đi tất cả: mỗi lời nói, mỗi hành động đều không đƣợc tự chủ, mặc
cho ngƣời dắt nhƣ trâu nhƣ ngựa. Thậm chí, không có tự do, con ngƣời còn bị coi rẻ hơn con
vật. Có lẽ không một sự chứng minh nào hùng hồn hơn khi nói về sự mất tự do của con
14
ngƣời trong cuộc đời nhƣ cách nói ở bài thơ "Cảnh binh khiêng lợn cùng đi" của nhà thơ Hồ
Chí Minh.
Đau khổ về mặt thể xác: không có tự do thật khốn khổ đến chuyện đi tiêu cũng bị mất
tự do. Trong bài thơ "Hạn chế", ngƣời tù Hồ Chí Minh đã nói đến cái nhu cầu tối thiểu của
con ngƣời, đối với con ngƣời, sự mất tự do ấy là một nỗi thống khổ ghê gớm. Vậy, tự do
trƣớc hết bắt đầu bằng việc xác định cái tính nhân bản của một cá thể ngƣời. Khái niệm tự do
ở đây không phải là một khái niệm trừu tƣợng mà đã chuyển hóa thành những nhu cầu cụ thể
cố tính nhân văn của con ngƣời. Qua đó Ngƣời khẳng định một chân lý rằng: bị mất tự do con
ngƣời sẽ rơi vào tình trạng đau khổ khôn cùng về mọi mặt cả thể xác lẫn tinh thần. Và ngƣời
tù Hồ Chí Minh là ngƣời thấu hiểu một cách sâu sắc nỗi đau ấy của nhân loại.
Thứ hai: Nỗi đau khổ vì mất tự do, xuất phát từ sự cảm nhận rất đời thƣờng - rất con
ngƣời, đó là những đau khổ vì cuộc sống tù đày khắc nghiệt: phải sống trong hoàn cảnh bi
kịch bài "Ốm nặng", phải chịu cảnh đọa dày bị giải đi qua 13 nhà ngục; phải cuốc bộ 53 cây
số một ngày. Nhƣng lớn hơn nỗi đau thể xác là nỗi đau đớn tinh thần, bởi Ngƣời tù Hồ Chí
Minh mang nặng tâm trạng bị hàm oan, bị tình nghi là "Hán gian", bị tống vào nhà lao, bị sỉ
nhục ở bài (Phố Túc Vinh mà để ta mang nhục). Đó là nỗi đau riêng của bản thân ngƣời tù
Hồ Chí Minh - một thứ tình cảm rất trần thế.
Thứ ba: Còn có một nỗi đau lớn hơn, sâu hơn trong tâm hồn ngƣời tù Hồ Chí Minh,
nó luôn là nỗi niềm nhức nhối tâm can của Ngƣời đó là "Nỗi đau vì non sông nước Việt".
Thân ở trong lao tù, nhƣng lòng Ngƣời luôn ngày đêm hƣớng về đất nƣớc (Tức cảnh). Nỗi
khắc khoải, lo lắng, nhớ mong khôn nguôi ấy đã trở thành mộng tƣởng trong tâm tƣ của
Ngƣời (Không ngủ đƣợc). Những tình cảm nói trên dẫn đến tâm trạng đau xót vì tiếc thời
gian của ngƣời tù Hồ Chí Minh.
2. Từ nỗi đau khổ vì mất tự do, chúng ta luôn gặp một con ngƣời với một nỗi niềm
khát khao tự do cháy bỏng - nó là nỗi chờ mong khắc khoải sau cánh cửa nặng nề: "Bất tri hà
nhật xuất lao lung?". Còn gì giản dị hơn khi ngƣời tù khao khát tự do, đó là cái tất yếu.
Ngƣời xƣa từng có câu: "Nhất nhật tù thiên thu tại ngoại" (Một ngày tù nghìn thu ở ngoài -
"Bốn tháng") - Hồ Chí Minh cũng nhƣ những tù nhân khác, cũng bộc lộ những trạng thái, tâm
lý, cảm xúc, trăn trở rất riêng tƣ, rất đời thƣờng về hai chữ tự do: buồn bực, bất bình, mơ ƣớc,
khát khao, đau khổ rơi lệ... Nhƣng bên cạnh cái đời thƣờng ấy, có cái phi thƣờng của một vĩ
nhân. Khổ đau hành hạ thể xác lẫn tinh thần mà tù ngục vẫn
15
không đủ sức để làm "tha hóa" đi những giá trị của con ngƣời Hồ Chí Minh. Vậy nên cái
phần hồn của ngƣời tù Hồ Chí Minh vẫn sáng, nếu không nhƣ vậy thì làm sao có thể "hoa lệ
mà thành thơ" để "đáng khóc mà ta cứ hát tràn" đƣợc. Phải chăng, chính vì những nỗi khổ
đau lại càng làm sống dậy một nghị lực phi thƣờng, một ý chí sắt đá của ngƣời chiến sĩ cộng
sản Hồ Chí Minh - ngƣời đang đấu tranh cho tự do, cho chân lý của cuộc đời. Vì thế, những
giọt nƣớc mắt của ngƣời tù Hồ Chí Minh không chỉ có nỗi đau vì bản thân phải sống trong
cảnh lao lung tù tội, mà còn có cả nỗi đau vì nghĩ đến đất nƣớc, nghĩ đến dân tộc - giọt nƣớc
mắt ấy, tuy là những giọt nƣớc mắt đau khổ, nhƣng đó không phải là giọt nƣớc mắt bi lụy,
thất vọng, chán chƣờng, mà đó là giọt nƣớc của sự chấp nhận, sự vƣợt quá. Trong con ngƣời
Hồ Chí Minh, nỗi khát khao tự do cho cái cá nhân và cái cộng đồng hoàn toàn không có gì
mâu thuẫn với nhau, mà chỉ bổ sung cho nhau là cho hàm nghĩa "tự do" trong thơ thêm phần
sống thực hơn.
2.1.1.2. Đó là con người tự do trong mọi hoàn cảnh:
1 .Tự do ngay trong hoàn cảnh tù ngục, bởi con ngƣời ấy không hề bi lụy, không đánh
mất lòng tin vào cuộc sống; ngƣợc lại, trong hoàn cảnh bất đắc đĩ ấy ngƣời tù Hồ Chí Minh
lại tìm thấy tự do ở một phía khác, cái phía mà dây trói nhà tù không trói đƣợc. Đây mới là
cảm thức tự do đích thực và chính yếu của "Nhật ký trong tù", cảm thức ấy đã xây dựng nên
hình tƣợng con ngƣời tự do cao đẹp trong những bài thơ tứ tuyệt. Ngay từ bài thơ đầu tiên
của tập "Nhật ký trong tù" nhà thơ đã viết: "Thân thể tại ngục trung; Tinh thần tại ngục
ngoại" (Thân thể ở trong lao; tinh thần ở ngoài lao). Vì vậy, tuy hoàn cảnh khắc nghiệt ngƣời
tù có thể bị tƣớc mất cái quyền tự do của thể xác, những cái quyền tự do tinh thần thì quả là
không ai có thể cấm đƣợc: "Tự do lãm thƣởng vô nhân cấm" (Trên đƣờng đi). Đó là sự tự chủ
- là khả năng tự điều khiển lấy mình trong hoàn cảnh. Điều ấy thể hiện một ý chí vững chắc,
một nghị lực phi thƣờng của ngƣời chiến sĩ cách mạng: bài "Ngắm trăng", "Vào nhà lao
huyện Tĩnh Tây", "Quá trƣa", " Đêm ngủ ở Long Tuyền", "Mới đến nhà lao Thiên Bảo"...
2. Tự do ngay giữa cuộc đời bận rộn: tinh thần tự do ấy chính là sự thể hiện "phương
thức ứng xử" của Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh. Sau này, khi Ngƣời không còn bị ở tù theo
nghĩa đen, thì giữa cuộc đời (nhìn ở một góc độ nào đó cũng là một sự ngột ngạt của nhà tù)
ta vẫn thấy một Hồ Chí Minh tự do ngay chính cuộc đời bận rộn - tự do với nghĩa là sự ung
dung tự tại: tự khẳng định bản thân mình với niềm tin vào sự thắng lợi của dân tộc "Pắc Bó
16
hùng vĩ"; 'Tức cảnh Pắc Bó"; sống trong sự bình dị, không gợi chút kiêu sa: "Vô đề"... Con
ngƣời Hồ Chí Minh đến với tự do xuất phát từ tấm lòng thanh tĩnh - không ham muốn cao
sang mà chỉ tìm đến với cái đời thƣờng trần thế: "Sáu mƣơi tuổi", "Vô đề", "Sáu mƣơi ba
tuổi"...
Nhƣ vậy, cái khát vọng tự do đƣợc hình tƣợng hóa trong những bài thơ tứ tuyệt ở tập
"Nhật ký trong tù" là một tiếng nói đặc sắc có tính truyền thống và tính thời đại, góp phần
vào hành trình tƣ tƣởng của nhân loại trong bao nhiêu thập kỷ, nhằm xác định cái tính bản thể
của chính mình, một chân lý sống phổ quát - con ngƣời bao giờ cũng là một thực thể vƣơn
đến tự do. Cái ý thức tự do ấy thật sâu sắc, chúng ta cố thể hiểu khái niệm tự do dùng theo
nghĩa của Hêghen là "khẳng định về mình", hay theo nghĩa của Enghen là "cái tất yếu được
nhận thức", hoặc hiểu theo nghĩa thông thƣờng: tự do là "tự chủ" - tất cả đều rất đúng với
một "CON NGƢỜI" nhƣ Hồ Chí Minh.
Song, cái cao quý hơn tất cả là trong chân lý ấy, sự tự do của ngƣời tù Hồ Chí Minh
đã vƣơn đến một sự hài hòa thống nhất trong một bản thể về cái cá nhân và cái cộng đồng.
Đó chính là giá trị nhân cách con ngƣời của nền văn hóa tƣơng lai của nhân loại.
2.1.2. Con ngƣời dạt dào một tình yêu nhân loại
Chúng ta đến với những bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là đến với hình tƣợng một con
ngƣời thiết tha yêu cuộc sống và dạt dào một niềm tin yêu thƣơng sâu sắc đối với con ngƣời.
Trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh chủ yếu có hai loại ngƣời đƣợc nhà thơ đề cập đến đó là
ngƣời tốt và những ngƣời khốn khổ. Họ là những con ngƣời luôn đƣợc nhà thơ dành trọn một
niềm tin yêu và sự cảm thông, sẻ chia sâu sắc. Đó chính là cảm thức ngƣời - nhân loại đích
thực trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
1. Ở tập "Nhật ký trong tù" có 129 bài thơ tứ tuyệt thì đã có hơn 30 nói về tình cảm
sâu nặng ấy. Con ngƣời trong thơ bộc lộ một niềm tin yêu con ngƣời, một niềm tin yêu sâu
sắc và mãnh liệt. Nó không bao giờ thay đổi dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, ngay cả khi bản
thân con ngƣời ấy bị con ngƣời hành hạ, bị đối xử oan nghiệt thậm chí "phải làm khách quý
tại nhà giam" hay cuộc sống phải chứng kiến bao điều nghịch lý: "Núi cao gặp hổ mà vô sự;
đường phẳng gặp người bị tống lao", hoặc gặp phải những éo le do lòng ngƣời tráo trở gây
ra, nhƣng vẫn không làm cho ngƣời tù Hồ Chí Minh choáng váng để mất hết lòng tin vào con
ngƣời mà ngƣợc lại, Ngƣời luôn trầm tĩnh phân tích mọi sự kiện từ đó Ngƣời đã rút ra đƣợc
chân lý vốn "Đường đời hiểm trở" con ngƣời
17
muốn đi qua thật không phải dễ, đấy chính là sự nhận thức đƣợc cái tất yếu của cuộc sống
của Hồ Chí Minh.
Tin yêu con ngƣời, niềm tin ấy rất cận nhân tình, nó đƣợc lộ ra một cách hiện thực.
Giữa cái xấu và cái ác, Ngƣời vẫn không lẫn lộn để tìm ra cái thiện và cái đẹp. Trong tù, tuy
bị hành hạ, bị đối xử oan khốc... nhƣng Ngƣời vẫn phân định rõ ràng đâu là ngƣời tốt kẻ xấu.
Trên đời có "Ban trƣởng nhà lao chuyên đánh bạc - giải ngƣời canh trƣởng kiếm ăn quanh"
(Lai Tân) thì cũng có 'Trƣởng ban họ Mạc ngƣời hào hiệp - Dốc túi mua cơm cứu phạm
nhân"; có kẻ nghiệt ngã: "Chốc chốc lại nghe ban trƣởng quát - không rềnh ràng nữa phải vào
ngay" thì cũng có ngƣời từ tâm: "Làm việc đúng thay Lƣu Sở Trƣờng - Ai ai cũng bảo bác
công bình". Chính vì thế, trong tập "Nhật ký trong tù" có nhiều bài thơ viết về những tình
cảm rõ ràng rạch ròi ấy nhƣ các bài: Tiên sinh họ Quách; Trƣởng ban họ Mạc; Sở trƣờng
Long An họ Lƣu; Đƣợc ƣu đãi; Khoa trƣởng họ Ngũ; Khoa viên họ Hoàng; Khoa viên họ
Trần tới thăm; Chủ nhiệm họ Hầu ân tặng một bộ sách; Kết luận, v.v... những cọn ngƣời ấy
tuy họ là cai ngục, ban trƣởng, lính canh... nhƣng trong họ vẫn còn lại những "nét ngƣời";
"chất ngƣời" nên họ vẫn đƣợc nhìn nhận là những ngƣời tốt. "Thế thượng do tồn giá chủng
nhân" (trên đời không bao giờ hết con ngƣời có lòng tốt), niềm tin ấy nhƣ ánh lửa hồng ấm
áp trong đêm đông tù ngục. Đó cũng chính là một biểu hiện rất sâu sắc trong cảm thức nhân
loại ở Hồ Chí Minh.
Vì tin yêu con ngƣời, nên trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh ta luôn thấy một con ngƣời
sống chan hòa với mọi ngƣời bằng một sự thƣơng cảm sâu sắc. Ớ tù con ngƣời ấy gọi những
ngƣời tù là "nạn hữu" tức là những ngƣời bạn chung hoạn nạn: Nạn hữu Mạc Mỗ; Nạn hữu
nguyên chủ nhiệm L; Nhất cá đổ phạm ngạnh liễu; Thế nạn hữu mấn tả báo cáo... điều này
chỉ có thể đƣợc giải thích rằng ở trong chiều sâu của con ngƣời Hồ Chí Minh bao trùm lên tất
cả là tấm lòng nhân ái, đức khoan dung lƣợng thứ cho đời của con ngƣời Hồ Chí Minh. Trong
cuộc sống thƣờng nhật Hồ Chí Minh luôn có một đức tin chính mình và tin ở ngƣời khác
bằng cả tấm lòng cảm thông, thấu hiểu sâu sắc. Vậy nên, nhân loại trong thơ Ngƣời là những
con ngƣời đau khổ, những con ngƣời không may mắn. Dƣới ngòi bút của Ngƣời, cả một nhân
loại lam lũ, đói khát, rách rƣới, thuộc những tầng lớp dƣới đáy của xã hội Trung Quốc thời ấy
hiện ra. Số phận của họ phải chịu đựng bao nhiêu đắng cay, bao oan trái khổ đau; thậm chí họ
phải chết lặng lẽ nhƣ một chiếc lá rơi. Con ngƣời trong thơ khóc thƣơng cho những ngƣời bạc
mệnh ấy. Những tình cảm ấy đƣợc thể hiện trong các bài thơ: "Một ngƣời tù cờ bạc bị chết
cứng", "Lại một ngƣời nữa", "Dƣơng Đào ốm nặng", "Anh ấy muốn trốn", "Nửa đêm nghe
tiếng khóc chồng", "Ngƣời bạn tù
18
thổi sáo". Thấu hiểu đƣợc những tình cảm nói trên là bởi con ngƣời Hồ Chí Minh có khả
năng sống đƣợc đời sống của nhiều ngƣời, và bởi vì tấm lòng cùa Ngƣời luôn rộng mở, thấu
suốt và cảm thông với nhiều lẽ nhân tình. Đó là những tình cảm cao đẹp luôn sáng lên trong
tâm hồn nghệ sĩ - chiến sĩ vĩ đại Hồ Chí Minh
2. Sau này, khi Hồ Chí Minh đã trở thành ngƣời lãnh tụ cao nhất của dân tộc nhƣng
điểm sáng nhất trong những bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời vẫn là một tình yêu sâu sắc đối với
con ngƣời. Ngƣời đến với thiếu nhi, đến với các cụ phụ lão, đến với các anh bộ đội, đến với
các cô gái dân quân du kích... Ngƣời đều có thể làm thơ. Cách bộc lộ tình yêu thƣơng con
ngƣời trong thơ của Hồ Chí Minh lúc nào cũng bắt nguồn từ điều đơn sơ nhất của cuộc đời,
nên nó rất mênh mông và thật ấm áp ân tình: (Tặng áo) "Nhớ chiến sĩ".
Tóm lại, đến với những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc
một điều rất sâu sắc ở con ngƣời Hồ Chí Minh rằng: "Ở Hồ Chí Minh "nhân tình" và "nhân
tính" đã bao trùm lên tất cả". Quả là đối với Hồ Chí Minh, không thể có một bức tƣờng nào
ngăn cản Ngƣời đến với đồng loại của mình, với tất cả tình thƣơng yêu, cảm thông thấu hiểu
sâu sắc. Nói bằng ngôn ngữ của nhà Phật thì đó là cái "chân thân" của con ngƣời đối với cuộc
đời, hoặc nói bằng ngôn ngữ của nhà Nho thì đó là cái "chân nhân" của con ngƣời sống với
con ngƣời bằng tấm lòng chân thật. Đó là cách biểu hiện của con ngƣời về sự sống dù trong
thơ hay giữa cuộc đời cũng đều mang những "những quan hệ trong sáng đối với đồng loại.
Tóm lại, "thơ đƣợc hình thành từ trong những cảm thức của cuộc đời. ở con ngƣời Hồ
Chí Minh, cảm thức ngƣời - nhân loại đƣợc xem là một chất tố hiển nhiên trong tâm linh của
Ngƣời. Đó là một trong những chân lý làm nên sự vĩnh hằng ở vĩ nhân - nghệ sĩ Hồ Chí
Minh.
2.2. HÌNH TƢỢNG KHÔNG GIAN - THỜI GIAN.
Trong thơ của Hồ Chí Minh, thời gian - không gian đƣợc vận hành dƣới cái nhìn biện
chứng của một con ngƣời luôn sống giữa nhân quần dại chúng. Một con ngƣời luôn khát khao
cái đẹp, đấu tranh cho cái đẹp và tìm cái đẹp ở ngay cuộc đời trần thế, với tất cả niềm vui nỗi
buồn, hạnh phúc, đau khổ của con ngƣời bằng xƣơng bằng thịt. Trong cuộc đấu tranh ấy, tinh
thần luôn hƣớng về sự sống ánh sáng và tƣơng lai là linh hồn chi phối toàn bộ cảm thức của
nhà thơ.
Đó là lý do để lý giải rằng thời gian trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh luôn đƣợc
nhìn với cái nhìn biện chứng của một nhãn quan thời đại; và không
19
gian mặc dù tràn đầy cảnh sắc thiên nhiên vũ trụ nhƣng lại mang trong nó tinh thần của cuộc
sống vì không gian trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là hình tƣợng không gian vũ trụ mang
tính xã hội. Đây chính là nguyên nhân của sự khác biệt giữa hình tƣợng thời gian - không
gian trong những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh với hình tƣợng thời gian không gian trong
thơ ca truyền thống. Vậy nên hƣớng vận động của thời gian - không gian trong thơ tứ tuyệt
của Hồ Chí Minh là hƣớng thẳng về phía trƣớc - ở phía trƣớc là tƣơng lai đang mở ra; và hiện
tại bao giơ cũng là chiếc cầu nối để đi đến tƣơng lai. Niềm tin vào tƣơng lai chứa đựng trong
hình tƣợng thời gian - không gian ở những câu thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh toát lên một vẻ
tự nhiên, khẳng định một chân lý khách quan của sự phát triển.
CHƢƠNG 3: THI PHÁP THƠ TỨ TUYỆT HỒ CHÍ MINH NHÌN TỪ PHƢƠNG
DIỆN CÁC PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN
3.1 Các thủ pháp lựa chọn tình huống trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh
Thứ nhất: khai thác các yếu tố đối lập là sự tiếp nối nghệ thuật thơ ca truyền thống
của dân tộc, nhƣng Hồ Chí Minh lại thể hiện điều ấy rất độc đáo, rất riêng có. Đó là khả năng
khai thác triệt để các yếu tố đối lập trên cả hai khía cạnh: từ ngữ và lặp cấu trúc - lặp ý, tạo ra
tính chất tƣơng phản gây mâu thuẫn sâu sắc, tác động mạnh đến ngƣời đọc. Ngòi bút của
Ngƣời có một biệt tài là thƣờng tạo dựng những tình tiết hết sức đời thƣờng, có khi hết sức
dung dị để ai cũng có thể tự kiểm nghiệm một cách dễ dàng, nhƣng lại để chứng minh cho
một vấn đề thuộc về chân lý lớn lao. Nên nó vừa hài hƣớc, lại vừa trữ tình thắm thiết. Ngƣời
đọc rất tâm đắc điều ấy và chấp nhận một cách thoải mái, vì bên trong nó bao giờ cũng chứa
đƣng một giọng điệu khôi hài. Ngƣời ta nói, ở Hồ Chí Minh hay có những "cái gạch trí khôn"
- "những phản xạ hóm hỉnh" vốn đã trở thành một nét phong cách kể từ khi Ngƣời cầm bút.
Nó thể hiện cái nhìn thế giới của Ngƣời - cuộc đời có niềm vui, niềm lạc quan, cũng có
những nỗi đau, nỗi buồn và có cái đáng buồn cƣời. Đó là cái triết lý của sự đối lập trong thơ
tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
Thứ hai: để sự vật tự nói lên bản chất của chúng là một phƣơng thức phản ánh hiện
thực của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh. Đó là cách chọn lựa những hình ảnh, những tình tiết rất
trung thực, nhằm để cho sự vật tự bộc lộ ra bên ngoài, cho nên nhà thơ chỉ cần phát họa
những gì xảy ra đúng nhƣ trong thực tế, lập tức bài thơ đã toát ra một ý vị hài hƣớc - nghĩa là
nó phơi bày cái thật, cái giả, sự đối lập giữa xã hội và con ngƣời. Chính nét thi pháp này đã
góp
20
phần phá vỡ những giới hạn có sẵn của thi ca trữ tình cổ điển, góp phần làm nên cái nền của
phong cách thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
3.2 Cách tố chức một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
Ở mục này chúng tôi chỉ đi vào một vài nét riêng độc đáo trong bố cục của một số bài
thơ tứ tuyệt điển hình của Hồ Chí Minh. Thứ nhất: cách diễn đạt không giống với ai: dùng
cách nói phủ định để khẳng định; dùng cách nói liệt kê sự vật hiện tƣợng làm cho tứ thơ toát
lên một ý vị tự nhiên, có khi câu thơ lại đƣợc xây dựng trong một cấu trúc ràng buột khép kín
tạo sự tƣơng đồng tƣơng phản. Đặc biệt là khi cần diễn đạt một nghịch lý câu thơ cấu trúc
giống nhƣ cách tình bày một quy tắc tam suất kép kín nghịch biến. Thứ hai: cách vào đề bất
ngờ đa dạng, thƣờng rất tự nhiên, hồn nhiên và bất ngờ nhƣ lời kể chuyện dân gian, nhƣ ca
dao dân ca, nhƣ sự mở đầu của một thiên truyện ngắn hoặc tiểu thuyết hiện đại. Chính sự mở
đầu này đã chuẩn bị cho một bố cục toàn bài và báo hiệu cho một câu cuối kết thúc rất bất
ngờ độc đáo, đẩy bài thơ đi đến đỉnh điểm cảm xúc, sáng tạo. Thứ ba: cách kết thúc bất ngờ
đặc sắc. Câu kết trong những bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh không chỉ đạt yêu cầu câu kết của
một bài tứ tuyệt cổ điển, mà còn đạt đến sự độc đáo riêng có. Một câu kết hết sức tự nhiên, nó
đổi hẳn tính chất và sắc thái của bài thơ; có khi có những câu kết khiến ngƣời đọc nhƣ vỡ ra
một điều gì đó trong nhận thức của mình, và đôi khi câu kết của bài thơ nhƣ một cái roi lợi
hại, tạo nên yếu tố bất ngờ có tác dụng chuyển rất nhanh mạch cảm hứng của bài thơ. Câu kết
còn có cách nói trực tiếp, nhƣ độp một cái bắt ngƣời đọc quay về hiện thƣc. Đó là nét độc đáo
ở ngòi bút của Hồ Chí Minh. Thứ tƣ: các hình thức liên kết một bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí
Minh, đó là hệ thống các dấu hiệu xác lập sự liên kết của các câu thơ trong một bài thơ tứ
tuyệt; trong cách tổ chức của mỗi câu thơ, hay trong bố cục của một bài thơ; thậm chí cả một
tập thơ đều có sự hiện hữu của các phương tiện liên kết, từ liên kết nội dung đến liên kết hình
thức. Các phƣơng tiện liên kết hình thức thƣờng gặp nhƣ lặp từ, nối tổ hợp từ, dùng dấu hỏi
làm phƣơng tiện liên kết, lặp cấu trúc. ở Phƣơng diện phƣơng thức liên kết lôgíc ngữ nghĩa:
đầu đề một bài thơ có ý nghĩa thời gian; những từ và cụm từ có ý nghĩa địa điểm; liên kết
theo quan hệ lôgíc - ngữ nghĩa. Các phƣơng thức liên kết chứng tỏ mỗi bài thơ tứ tuyệt của
Hồ Chí Minh, thƣờng đƣợc kết cấu rất chặt chẽ có vẽ tuân thủ theo nguyên tắc viết văn xuôi
hơn là một bài thơ. Song, một bài tứ tuyệt nhƣ vậy có một bố cục rất rạch ròi, rành mạch, làm
nên tính chất hiện đại trong hình thức của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh chính là chỗ đó.
21
Chính điều ấy đã làm nên tính thống nhất, nhất quán trong những bài thơ tứ tuyệt của Ngƣời.
Qua đó, khẳng định một bút pháp, một thi pháp riêng có, góp phần xác lập nên cái nền phong
cách của nghệ sĩ Hồ Chí Minh. Đây là điều rất đặc biệt trong cách tổ chức một bài thơ tứ
tuyệt của Hồ Chí Minh so với thơ tứ tuyệt truyền thống.
3.3. NGÔN NGỮ THƠ TỨ TUYỆT HỒ CHÍ MINH:
Những đặc điểm ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đƣợc khái quát nhƣ sau:
1. Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là sự hội tụ của nhiều nguồn thi liệu: đó là
những câu thơ mang nặng sức sống của những cụm từ Hán Việt với tinh thần " Nho gia"; đó
là cách dùng từ ngữ mang đậm nét đặc trƣng của văn hoá dân gian của dân tộc Việt Nam và
xử sở phƣơng Đông nhƣ cách nói hàm súc, cách dùng chơi chữ, cách dùng từ bình dân nôm
na kiểu thôn giã hay phố chợ; bên cạnh đó, những yếu tố của ngôn ngữ thơ ca hiện đại cũng
thƣờng xuyên có mặt trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, cụ thể nhƣ: cách nói grôtexcơ;
cách nói so sánh ví von; cách biện luận tự sự, giàu chất phân tích...
2. Tự do trong việc sử dụng ngôn từ - hƣớng đến sự giản dị và đại chúng là một đặc
điểm độc đáo trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh: ngôn từ trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
đƣợc sử dụng hết sức đa dạng và phong phú, có sự hiện hữu của lớp từ Hán cổ, có lớp từ bạch
thoại, có lớp từ dùng theo kiểu tiếng Việt, lại có cả các lớp từ thuộc ngôn ngữ Ấn Âu. Sự tự
do ấy thể hiện trong việc sử dụng ngôn từ và ngay trong cả cách cấu trúc ngữ pháp của một
câu thơ, thậm chí cả bài thơ.
3. Dùng hƣ từ "khƣớc "- một đặc điểm đặc sắc trong ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Hồ Chí
Minh: "Khƣớc" là một hƣ từ đƣợc Hồ Chí Minh sử dụng rất nghệ thuật trong thơ tứ tuyệt của
Ngƣời, chúng tôi xem đây nhƣ là một đặc điểm độc đáo của thể loại tứ tuyệt của Hồ Chí
Minh.
Từ những đặc đặt điểm nêu trên, chúng tôi có một nhận định chung về ngôn ngữ thơ
tứ tuyệt Hồ Chí Minh đó là những lời trong sáng, dễ hiểu, gần gũi với lời ăn tiếng nói của
mọi ngƣời, chứa đựng tính dân tộc - khoa học - đại chúng.
22
C. PHẦN KẾT LUẬN
1. Thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là một hiện tƣợng đặc sắc cùa nền thơ ca dân tộc.
Còn nhớ vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, giữa không khí héo hon, tàn lụi của bộ phận văn
chƣơng chữ Hán ít ngƣời để ý thì sự xuất hiện những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh nhất
là những bài tứ tuyệt viết bằng chữ Hán là sự tái sinh những ánh hào quang của một thời thơ
ca cổ điển. Tập thơ "Nhật ký trong tù" trong đó chủ yếu liên kết bởi những bài tứ tuyệt, xứng
đáng đại diện cho "Một kết thúc viên mãn ít ai ngờ tới cho tiến trình một nghìn năm thơ ca
chữ Hán Việt Nam" góp phần làm nên những giá trị lịch sử trong nền văn học dân tộc.
2. Trong di sản văn thơ của Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta, thơ tứ tuyệt chiếm một
vị trí rất quan trọng cả về số lƣợng, lẫn chiều sâu về nội dung và chiều cao về mặt nghệ thuật.
Đây chính là những bài thơ tập trung những nét đặc trƣng nhất thể hiện vẻ đẹp kỳ diệu của
một hồn thơ thanh cao và một tài năng nghệ thuật xuất sắc đạt tới mức tinh diệu - riêng có ở
nghệ sĩ Hồ Chí Minh. ở thể loại này, Ngƣời luôn kế thừa truyền thống trên cơ sở cách tân để
cho những giá trị truyền thống luôn sống trong tinh thần của thời đại, tạo ra những giá trị mới
bền vững. Đây chính là nguyên tắc tiếp nhận văn hóa đúng đắn nhất. Nguyên tắc này là điều
rất quan trọng đối với dân tộc ta trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa đang diễn ra rất phức
tạp nhƣ hiện nay.
3. Đi vào thế giới nghệ thuật trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, tức là đi vào thế giới
tâm hồn bất tận của nhà thơ. Ở đây, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc một điều rất sâu sắc ở con
ngƣời Hồ Chí Minh rằng: "Ở Hồ Chí Minh "nhân tình" và "nhân tính" đã bao trùm lên tất
cả" đối với Ngƣời không thể có một bức tƣờng nào ngăn cản Ngƣời đến với đồng loại của
mình, với tất cả tình thƣơng yêu, sự cảm thông thấu hiểu sâu sắc. Cái tôi trữ tình trong thơ là
cái tôi của con ngƣời luôn sống và tranh đấu cho lý tƣởng tự do của con ngƣời ngay giữa
cuộc đời trần thế. Vì vậy, cảm thức chính trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đều khơi nguồn
từ cuộc sống hiện thực, cho nên thời gian nghệ thuật - không gian nghệ thuật trong thơ tứ
tuyệt của Hồ Chí Minh là thời gian và không gian của cuộc sống lao động và chiến đấu của
nhân quần đại chúng, của những con ngƣời cùng khổ, nhƣng thiết tha yêu cuộc sống với khát
vọng tự do cháy bỏng. Do đó, đến với những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng ta
không chỉ cảm nhận đƣợc cái đẹp của cõi "tự nhiên" mà còn cảm nhận sâu sắc đƣợc cái đẹp
của "cõi đời", "cõi nhân loại". Đó chính là vẻ đẹp tiềm ẩn, chìm sâu trong
23
thế giới tâm hồn cao đẹp, tràn đầy chất nhân văn của ngƣời nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
4. Chính thế giới tâm hồn ấy ở Hồ Chí Minh đã chi phối các phƣơng thức
biểu hiện trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
4.1. So với thơ tứ tuyệt cổ điển thì thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh có các phƣơng thức
biểu hiện hình thức trên cơ sở của một tƣ duy hoàn toàn mới so với truyền thống.
4.2. Cách tổ chức một số bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh: dùng cách nói phủ định
để khẳng định; có khi còn tạo ra một cấu trúc ràng buộc khép kín làm bộc lộ những mâu
thuẫn; cách vào đề và kết thúc bất ngờ, gây sự chú ý và để lại trong lòng ngƣời sự đồng vọng
rất lớn. Đồng thời luôn tồn tại sự hiện hữu của các phƣơng thức liên kết từ liên kết hình thức,
đến liên kết nội dung. Đây là điều hoàn toàn xa lạ với thơ tứ tuyệt truyền thống, thể hiện một
sự sáng tạo trong quá trình tạo ra cái mới của nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
4.3. Đặc trƣng cơ bản nhất của thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh: thứ nhất là ngôn ngữ
thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là sự kết tinh từ rất nhiều nguồn tƣ liệu; thứ hai là sự tự do
thoải mái trong cách dùng từ; thứ ba là ngôn ngữ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là luôn hƣớng
tới sự giản dị - đại chúng.
5. Nghiên cứu hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng tôi rút ra đƣợc
một đặc trƣng lớn nhất trong phong cách sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ Hồ Chí Minh đó là
sự thống nhất - nhất quán trong tính phong phú, tính đa dạng.
Nghiên cứu hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, thực chất chúng tôi phần nào
đã chật sự tiếp cận với bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam - từ trong cội nguồn của nó đã là
một hiện tượng tích hợp và dung hóa. ở đó "tính mở" và tính "thiết thực" là một trong những
nguyên tắc biểu hiện của tinh thần khoan dung văn hóa Việt Nam. Vì thế, thơ tứ tuyệt của
Ngƣời là sự tích hợp và dung hóa các giá trị của nhiều nền văn hóa của dân tộc và nhân loại,
từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Chính sự linh hoạt trong thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
là biểu hiện của tƣ tƣởng khoan dung "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của dân tộc Việt Nam.
Cũng chính vì xuất phát từ "tính mở" và tƣ tƣởng "triết lý bình dân" của nền văn hoá Việt
Nam nên trong thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh không có chỗ nào là "đất cấm kị" của
thể loại tứ tuyệt Qua việc nghiên cứu hệ thống thể loại tứ tuyệt, chúng ta nhận thấy rằng: Ở
Hồ Chí Minh trong sáng tạo nghệ thuật, Ngƣời không hề câu nệ thủ pháp diễn đạt ý tƣởng mà
chú trọng cách thức làm cho ý tƣởng ấy rung động lòng ngƣời. Quan điểm
24
về cách viết của Hồ Chí Minh là quan tâm đến ngƣời đọc và hiệu quả của tác phẩm nghệ
thuật. Ngƣời đòi hỏi Ngƣời viết phải đem sự hiểu biết đến cho đại chúng, chứ không phải
buộc đại chúng phải cố đạt tới sự hiểu biết cao siêu nhƣ mình mà bất chấp mọi điều kiện.
Ông Trần Văn Giàu đã chỉ ra nét Á Đông Việt Nam của tính cách sáng tạo Hồ Chí Minh -
"văn chở đạo" là ở chỗ, ngƣời hiểu biết không xem sự hiểu biết nhƣ "đặc sản" của riêng
mình, mà phải bằng cách nào đó phổ biến cho nhân dân, lấy hình ảnh gần gũi của đời sống
thƣờng nhật để chứng minh cho một luận điểm thoạt đầu tỏ ra cao siêu, xa cách. Ngƣời luôn
nhìn cuộc sống với đôi mắt thiết thực, vậy nên tất cả những gì có lợi cho cuộc sống dù là nhỏ
bé đều đƣợc Ngƣời nâng niu, chắt chiu, nên nó trở thành thơ. Điều này giải thích vì sao ngay
cả "tương, cà, mắm, muối..." cũng thành đề tài của những bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh.
Trong tƣ tƣởng thẩm mỹ của Ngƣời cái đẹp là sự bình dị, sự hài hoa hợp lý. Vì vậy, đến với
thơ tứ tuyệt của Ngƣời cái đầu tiên mà ai cũng cảm nhận ngay đƣợc đó là "cái đời thƣờng -
bình dị", nó thể hiện ngay trong nghệ thuật - ở các nguyên tắc nắm bắt đời sống; các nguyên
tắc biểu hiện, đặt biệt là trong ngôn ngữ - luôn hƣớng đến sự giản dị và đại chúng, từ trong
cách dùng từ. Ngƣời ta không thấy cái khẩu khí siêu nhân đặt mình trên thiên hạ. Thơ tứ tuyệt
của ngƣời lúc nào cũng gần gũi, dễ đi vào lòng ngƣời, đó là những lời "từ trái tim đến với trái
tim", chất phát, mộc mạc của tinh thần khoan dung văn hoá Việt Nam.
Nghiên cứu thi pháp thờ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, tức là bằng con đƣờng giải "mã"
nghệ thuật, chúng tôi hằng có mong muốn góp một chút gì nhỏ bé để hiểu sâu sắc hơn Hồ Chí
Minh - ngƣời con vĩ đại của dân tộc và thời đại. Song, với tầm vóc một vĩ nhân nhƣ Hồ Chí
Minh, ngƣời viết luận án này kiến thức còn nông cạn, lực bất tòng tâm, e rằng chƣa lý giải
đƣợc là bao, chắc không tránh khỏi nhiều điều thiếu sót. Mong nhận đƣợc sự đóng góp, chỉ
bảo của các bậc thức giả!
CÁC BÀI VIẾT, SÁCH BÁO ĐÃ CÔNG BỐ
CỦA NCS LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
ooOoo
1. Vài suy nghĩ về tình thần khoan dung văn hóa Việt Nam trong thi pháp văn chương Hồ
Chí Minh - In trong "Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn hóa nghệ thuật. Nhà xuất bản
văn học, 2000.
2. Một vài suy nghĩ nhỏ về tư tưởng mỹ học Hồ Chí Minh qua việc phân tích một bài thơ
tứ tuyệt của Người, Tạp chí Khoa học, Trƣờng Đại học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí
Minh, 2000.
3. Cảm thức nhân loại trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học, Trƣờng Đại
học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2000..

