HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

PHẠM ĐỨC MINH

THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

PHẠM ĐỨC MINH

THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ Mã số: 62 31 01 02

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS,TS. PHẠM QUỐC TRUNG

HÀ NỘI - 2016

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án với đề tài: “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ”:

- Đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân;

- Các tài liệu tham khảo, số liệu, thông tin đƣợc sử dụng là trung thực,

có căn cứ và đƣợc trích dẫn theo đúng quy định.

Hà Nội, Ngày 15 tháng 04 năm 2016

Tác giả luận án

Phạm Đức Minh

ii

MỤC LỤC

1 6

MỞ ĐẦU Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

1.1. Các nghiên cứu của nƣớc ngoài liên quan tới luận án 1.2. Các nghiên cứu trong nƣớc có liên quan tới luận án 1.3. Đánh giá khái quát kết quả các công trình đã công bố và vấn đề 6 14 24

26

đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án Chƣơng 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 2.1. Bản chất và vai trò của thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong 26 chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm 44

2.2. Các yếu tố ảnh hƣởng và tiêu chí đánh giá thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm 55

66

2.3. Kinh nghiệm và bài học từ nƣớc ngoài về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Chƣơng 3. THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ 66

3.1. Tiềm năng, lợi thế và khó khăn, thách thức đối với thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 75

3.2. Thực trạng thu hút và tác động của vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 3.3. Đánh giá thực trạng về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong 103

114

chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Chƣơng 4. ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ 4.1. Định hƣớng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong chuyển dịch 114

cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 120

155 157

4.2. Giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020 và tầm nhìn đén năm 2030 KẾT LUẬN DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 158 174

iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công nghiệp – Xây dựng Chủ nghĩa xã hội Doanh nghiệp Đầu tƣ nƣớc ngoài Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài Tổng sản phẩm quốc nội Tổng giá trị sản xuất Chi phí trung gian

Park

Khu công nghiệp

CCKT CDCCKT CNH, HĐH CN-XD CNXH DN Foreign Investment ĐTNN Foreign Direct Investment FDI Foreign Investment Economy Kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài FIE Foreign Investment Economis Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài FIEs Foreign Indirect Investment FII Gross Domestic Product GDP Gross Output GO Intermediate Consumption IC Incremental capital output ratio Hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ ICOR Industrial (IP)/ KCN Industrial zone (IZ)/Export Procesing zone (EPZ) National Economic International Economics Merger and Acquisition Multinational Corporations

KTQD KTQT KTTT M&A MNCs NL-TS NSLĐ (HL) Labour Productivity ODA Official Development Aid SX - KD TNCs Transnational Corporations UBND VA/GTGT Value Added VAT Value Added Tax VKTTĐ VKTTĐBB VKTTĐMT VKTTĐPN XHCN Kinh tế quốc dân Kinh tế quốc tế Kinh tế thị trƣờng Mua lại và sát nhập Các công ty đa quốc gia Nông – Lâm – Thủy sản Năng suất lao động Hỗ trợ phát triển chính thức Sản xuất – kinh doanh Công ty xuyên quốc gia Ủy ban nhân dân Giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng Vùng kinh tế trọng điểm Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam Xã hội chủ nghĩa

iv

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ PHỤ LỤC

1. DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo

Biểu đồ 3.1. 72

Tỷ lệ các dự án phân theo VKTTĐ và các địa phƣơng (1988-2007)

Biểu đồ 3.2. 82

(1988-2007)

Số lƣợt dự án, vốn FDI cấp mới và tăng vốn ở các địa phƣơng trong

Biểu đồ 3.3. Vốn đầu tƣ và đăng ký của các địa phƣơng trong VKTTĐBB 83

VKTTĐBB (2008 -2014)

Biểu đồ 3.4. 83

1/1/2008 – 20/11/2014 còn hiệu lực)

Biểu đồ 3.5. Dự án và vốn đăng ký theo hình thức đầu tƣ ở VKTTĐBB (từ 84

31/12/2014)

Biểu đồ 3.6. Tổng vốn đăng ký và vốn thực hiện của các địa phƣơng (tính đến 84

Cơ cấu số dự án và vốn FDI ở Việt Nam và VKTTTĐB phân theo

85

ngành kinh tế tính đến 31/12/2014

Cơ cấu số lƣợng dự án và vốn đăng ký FDI ở các địa phƣơng

Biểu đồ 3.7. Vốn FDI đăng ký và thực hiện ở VKTTĐBB (2005-2014) Biểu đồ 3.8. 85

VKTTTĐB phân theo ngành kinh tế tính đến 31/12/2014

Biểu đồ 3.9. 86

Biểu đồ 3.10. Qui mô dự án FDI tại 3 VKTTĐ của Việt Nam giai đoạn 2000-7/2012 87

VKTTĐBB giai đoạn 2000 -2014

Biểu đồ 3.11. Vốn đầu tƣ của khu vực FDI trong tổng vốn đầu tƣ xã hội ở 87

Biểu đồ 3.12. Tốc độ tăng GDP của FDI và vùng KTTĐBB giai đoạn 2005 – 20114 88

88

89

Biểu đồ 3.13. CCKT ngành ở VKTTĐBB giai đoạn 2000-2014 Biểu đồ 3.14. GO công nghiệp của FDI và toàn vùng giai đoạn 2000-2014 Biểu đồ 3.15. Tỷ lệ GDP của các TPKT so với GDP VKTTĐBB giai đoạn 2000-2014 91

2010-2014

Biểu đồ 3.16. Cơ cấu vốn đầu tƣ phân theo khu vực kinh tế VKTTĐBB giai đoạn 92

ở VKTTĐBB

Biểu đồ 3.17. Lao động làm việc phân theo loại hình kinh tế giai đoạn 2008 -2014 94

Biểu đồ 3.18. Thu nhập bình quân của ngƣời lao động trong các loại hình DN 95

VKTTĐBB giai đoạn 2010-2014

98 Biểu đồ 3.19. Giá trị và tỷ trọng giá trị xuất khẩu của các nhóm hàng hóa ở

giai đoạn 2002-2014

Biểu đồ 3.20. Thu ngân sách từ khu vực FDI và tổng thu ngân sách ở VKTTĐBB 99

v

2. DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục1.

174

Các giai đoạn phát triển của W Rostow và Tatyana P.Soubbotina Tập đoàn Kenmark và món nợ 50 triệu USD Cơ cấu của nền kinh tế (yếu tố hình thành và hình thức cơ cấu)

Phụ lục 2. Phụ lục 3. Phụ lục 4. Các hình thức thức FDI theo Luật năm 2005 và năm 2014 Phụ lục 5. Vốn đầu tƣ phát triển toàn xã hội phân theo TPKT(giá thực tế) Phụ lục 6. Phụ lục 7. Phụ lục 8. 175 177 177 180 180 181 181

GDP của Việt Nam qua các năm theo TPKT (giá thực tế) Sơ đồ về vai trò của vốn đầu tƣ đối với CDCCKT Số dự án và lƣợng vốn FDI ở các địa phƣơng (tính đến 31/12/2014) FDI tại Việt Nam theo lĩnh vực (tính đến tháng 31/12/2014) Phụ lục 9. Phụ lục 10. FDI tại Việt Nam tính theo đối tác (lũy kế các dự án còn hiệu 183 183 lực tính đến ngày 31/12/2014)

186 Phụ lục 11. Vai trò của FDI đối với CDCCKT ngành và GDP Phụ lục 12. Một số biện pháp tiếp cận thị trƣờng và giảm xung đột thƣơng mại 186 186 Phụ lục 13. Những thay đổi chủ yếu trong chính sách thu hút FDI trong các thời kỳ sửa đổi Luật ĐTNN tại Việt Nam

Phụ lục 14. Bản đồ vị trí của VKTTĐBB trong cả nước Phụ lục 15. Kết nối vùng sông Mê-Kông mở rộng năm 1998 và 2006 Phụ lục 16. Tiềm năng rừng, biển, đảo ở Quảng Ninh, Hải Phòng Phụ lục 17. Những điểm du lịch quan trọng của VKTTĐBB Phụ lục 18. Thứ hạng về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) của các địa 188 189 189 190 190 phƣơng ở VKTTĐBB qua các năm Phụ lục 19. Hệ thống chính sách cho thu hút FDI trong CDCCKT ở 191 VKTTĐBB

Phụ lục 20. Các hình thức FDI ở Việt nam qua các thời kỳ Phụ lục 21. Thu hút vốn FDI của VKTTĐBB 1988 - 31/12/2007 trong 191 192 tƣơng quan với các VKTTĐ khác Phụ lục 22. Các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tƣ vào các VKTTĐ tính 193 đến 20/11/2012 Phụ lục 23. FDI tại Việt Nam theo hình thức đầu tƣ (lũy kế các dự án còn 194

hiệu lực tính đến 31/12/2014)

194 195 195 196 Phụ lục 24. Giá trị xuất khẩu VKTTĐ giai đoạn 2000-2014 Phụ lục 25. NSLĐ của Việt Nam và VKTTĐBB giai đoạn 2008-2014 Phụ lục 26. Đóng góp vào cơ cấu các yếu tố đầu vào cho tăng trƣởng kinh tế Phụ lục 27. Mức trang bị TSCĐ và đầu tƣ dài hạn cho một lao động và FIES ở một số địa phƣơng VKTTĐBB giai đoạn 2003-2010

Phụ lục 28. Về tuyển doanh nghiệp phụ trợ cho Samsung Phụ lục 29. Chỉ số về lợi thế cạnh tranh thu hút vốn FDI của các quốc gia Phụ lục 29. Giải pháp thu hút vốn FDI của một số địa phƣơng trong 196 199 199

VKTTĐBB (qua ý kiến các chuyên gia và nhà quản lý)

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc luôn đặt mục tiêu phát triển KT-

XH lên hàng đầu và với định hƣớng đến năm 2020 Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một

nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại. Để đạt đƣợc mục tiêu đó, Việt Nam cần phải

tận dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, đồng thời phải tăng cƣờng hội nhập KTQT.

Lý luận và thực tiễn cho thấy nguồn vốn FDI là một trong các nhân tố và nguồn

lực rất quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của Việt Nam. Thông qua FDI sẽ bổ

sung đƣợc nguồn vốn, thúc đẩy CDCCKT theo hƣớng CNH, HĐH. Từ việc phát triển

các ngành trong nền kinh tế sẽ tạo điều kiện phát triển và tăng trƣởng toàn bộ nền kinh

tế với tốc độ tăng trƣởng cao hơn, tái cơ cấu nền kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm, cải

thiện chất lƣợng nguồn lao động, cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ công nghệ...

Chuyển dịch CCKT gắn với phát triển KT-XH của các vùng lãnh thổ, đặc biệt

là các VKTTĐ theo hƣớng phát huy thế mạnh của từng vùng, tạo tính chất động lực,

có tác động lan tỏa và bứt phá; tăng cƣờng tính liên kết để làm thay đổi bộ mặt KT-

XH của các địa phƣơng, các vùng, lôi cuốn các vùng khác cùng phát triển [63]. Tuy

nhiên, CDCCKT là một vấn đề đòi hỏi có tính lâu dài và cần phải huy động tổng thể

các nguồn lực. Vùng KTTĐBB muốn thực hiện thành công quá trình CDCCKT thì

không chỉ phụ thuộc vào nguồn nội lực, mà cần phải có một “cú huých” mạnh từ

nƣớc ngoài thông qua ĐTNN, trong đó có FDI.

Vùng KTTĐBB là vùng giữ vị trí quan trọng chiến lƣợc của Việt Nam, có thủ đô

Hà Nội - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá và quan hệ quốc tế của cả nƣớc. Có sự

hội tụ các lợi thế so sánh về vị trí địa kinh tế - chính trị; hạ tầng kỹ thuật; nguồn nhân

lực... Do đó, thu hút vốn FDI, phát huy vai trò của FDI trong CDCCKT, qua đó thúc

đẩy VKTTĐBB phát triển bền vững là yêu cầu khách quan. Với những lợi thế đặc biệt,

trong những năm qua, VKTTĐBB là một trong hai VKTTĐ của cả nƣớc luôn dẫn đầu

về thu hút vốn FDI cả về số lƣợng dự án và qui mô vốn đầu tƣ. Khu vực FIE ở vùng đã

có những đóng góp tích cực vào CDCCKT và phát triển KT-XH của vùng. Tuy nhiên,

việc thu hút vốn FDI và hoạt động của khu vực FIE ở VKTTĐBB chƣa tƣơng xứng với

2

tiềm năng và đã, đang xuất hiện có những biểu hiện tiêu cực, ảnh hƣởng không nhỏ đến

sự phát triển, vai trò của vốn FDI trong CDCCKT còn hạn chế.

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên đây, việc làm rõ cơ sở lý luận về thu

hút vốn FDI trong CDCCKT; đánh giá đúng đắn, khách quan thực trạng và tìm kiếm

các giải pháp thu hút vốn FDI nhằm CDCCKT cho VKTTĐBB là yêu cầu cấp bách.

Vì vậy, đề tài: “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” đƣợc chọn làm luận án tiến sĩ kinh tế,

chuyên ngành kinh tế chính trị - mã số 62 31 01 02.

2. Mục đích, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về thu hút vốn FDI trong

CDCCKT ở VKTTĐBB. Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI và tác động

của nó tới CDCCKT ở VKTTĐBB. Đề xuất định hƣớng và các giải pháp cơ bản

nhằm tăng cƣờng thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB đến năm 2020 và

tầm nhìn đến năm 2030.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá và làm rõ lý luận về FDI trong CDCCKT ở VKTTĐ theo

hƣớng CNH, HĐH nhƣ: khái niệm và nội hàm của FDI, CDCCKT, VKTTĐ; Mối

quan hệ giữa FDI và CDCCKT; Vai trò của FDI trong CDCCKT…

- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI, tình hình CDCCKT và tác

động của FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB từ năm 2000 đến nay (đặc biệt là sau

khi có Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH của Quốc hội ngày 29 tháng 5 năm 2008 với

7 tỉnh nhƣ hiện nay). Bao gồm: kết quả, hạn chế và nguyên nhân.

- Đề xuất định hƣớng và giải pháp nhằm tăng cƣờng thu hút vốn FDI trong

CDCCKT ở VKTTĐBB giai đoạn đến 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án lấy vấn đề thu hút vốn FDI ở VKTTĐBB làm đối tƣợng nghiên cứu

chính. Trên cở sở đó, nghiên cứu mối quan hệ giữa thu hút vốn FDI trong CDCCKT

ở VKTTĐBB mà trọng tâm là tác động của FDI tới CDCCKT của vùng.

3

3.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận án đặt trọng tâm vào nghiên cứu thực tiễn và đề xuất

giải pháp thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB.

- Về thời gian: Phạm vi nghiên cứu phân tích đánh giá thực trạng: từ năm

2000, 2003... Trọng tâm là từ năm 2008 đến nay (7 tỉnh, thành phố). Phạm vi nghiên

cứu đề xuất định hƣớng và giải pháp thu hút FDI trong CDCCKT đến năm 2020 -

mốc phấn đấu để Việt Nam trở thành một nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại.

- Về nội dung: Luận án tập trung vào các vấn đề:

+ Trong mối quan hệ giữa FDI và CDCCKT, luận án chủ yếu nghiên cứu tác

động của thu hút vốn đối với CDCCKT;

+ Luận án không tập trung nghiên cứu hoạt động nội tại của khu vực FIE, mà

nghiên cứu thu hút vốn FDI hƣớng vào CDCCKT;

+ Thực trạng thu hút vốn FDI và tác động của nó trong CDCCKT đƣợc tiếp

cận chủ yếu theo ngành cấp 1 ở vùng KTTĐBB.

4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

4.1. Cơ sở lý luận

Luận án dựa vào những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác -Lênin, tƣ tƣởng

Hồ Chí Minh, quan điểm và chủ trƣơng của Đảng cộng sản Việt Nam về hội nhập

KTQT, Về huy động vốn nƣớc ngoài qua các văn kiện của Đảng; Chiến lƣợc phát triển

KT-XH; chính sách thu hút vốn FDI của VKTTĐBB; đồng thời tham khảo một số lý

thuyết kinh tế, những nghiên cứu của các tổ chức, học giả trong nƣớc và quốc tế về FDI

và tác động của FDI tới CDCCKT, về vấn đề quy hoạch phát triển VKTTĐ…

4.2. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận trong nghiên cứu: Luận án lấy chủ nghĩa duy vật biện

chứng, duy vật lịch sử làm cơ sơ phƣơng pháp luận trong nghiên cứu. Những nguyên

lý cơ bản có tác dụng hƣớng dẫn, gợi mở cách thức xem xét các vấn đề. Cung cấp thế

giới quan khoa học, yêu cầu xem xét sự vật, hiện tƣợng theo quan điểm phát triển toàn

diện, liên hệ phổ biến, lịch sử cụ thể… Do vậy, nó sẽ là phƣơng pháp luận khoa học

cho các phƣơng pháp cụ thể sẽ đƣợc ứng dụng trong luận án để giải quyết các vấn đề

liên quan đến FDI trong CDCCKT với không gian VKTTĐBB.

4

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận án sử dụng chủ yếu các phƣơng

pháp: trừu tƣợng hóa khoa học; nghiên cứu hệ thống; tổng hợp, phân tích, thống kê,

so sánh, kết hợp sử dụng các phƣơng pháp tổng kết thực tiễn để tìm ra những đặc

trƣng của vấn đề nghiên cứu và tính quy luật của đối tƣợng nghiên cứu. Cụ thể:

+ Chƣơng 1: Sử dụng các phƣơng pháp hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích để

đánh giá về quan điểm của các học giả và trƣờng phái lý luận về vấn đề nghiên cứu,

từ đó có các đánh giá và rút ra những vấn đề cần nghiên cứu bổ sung.

+ Chƣơng 2: Sử dụng phƣơng pháp trừu tƣợng hóa khoa học để rút ra những

khái niệm cơ bản và luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về thu hút vốn FDI và tác

động của nó tới CDCCKT. Đồng thời sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu đánh giá

thực tiễn thu hút, phát huy tác động tích cực của FDI tại một số quốc gia, vùng và

địa phƣơng trong nƣớc để rút ra bài học cho VKTTĐBB.

+ Chƣơng 3: Sử dụng các phƣơng pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, nhằm

làm rõ thực trạng thu hút và tác động của vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB,

rút ra những kết quả tích cực, tác động tiêu cực và nguyên nhân.

+ Chƣơng 4: Sử dụng phƣơng pháp khái quát hóa những vấn đề đã nghiên

cứu ở chƣơng 2, 3 cùng với các đánh giá dự báo về bối cảnh và nhu cầu về vốn FDI

cho CDCCKT ở vùng để rút ra những quan điểm, định hƣớng và giải pháp nâng cao

hiệu quả việc thu hút và tác động của FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB.

4.3. Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu luận án sử dụng chủ yếu từ nguồn dữ liệu thứ cấp gồm:

- Số liệu thống kê từ các bộ, ngành. Đặc biệt là từ Tổng cục Thống kê và Cục

Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng ở VKTTĐBB;

- Số liệu của UBND các tỉnh, thành phố; Sở Kế hoạch và Đầu tƣ, Sở Lao động

-Thƣơng binh và Xã hội; Sở Tài nguyên và Môi trƣờng của các tỉnh, thành phố;

- Các kết quả nghiên cứu đã đƣợc công bố trên các tạp chí chuyên ngành…

5. Những đóng góp mới của luận án

5.1. Về học thuật, lý luận

Từ những vấn đề lý luận chung về FDI, CDCCKT và VKTTĐ, luận án làm rõ

một số vấn đề:

5

- Góp phần làm rõ một số khái niệm có liên quan để từ đó đƣa ra khái niệm

thu hút FDI trong CDCCKT ở VKTTĐ; Xác định đặc điểm; Làm rõ vai trò của việc

thu hút vốn FDI và tác động của FDI trong CDCCKT ở VKTTĐ.

- Làm rõ các yếu tố ảnh hƣởng tới thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở VTTĐBB.

- Hệ thống hóa các lý thuyết và đúc rút kinh nghiệm về thu hút vốn FDI ở một

số quốc gia để bổ sung lý luận về FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB;

5.2. Về thực tiễn

- Trên cơ sở phân tích thực trạng thu hút vốn FDI ở VKTTĐBB, luận án đánh

giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân;

- Đánh giá tác động của FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB, mà trọng tâm là

cơ cấu ngành kinh tế;

- Đề xuất định hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thu hút vốn FDI

nhằm thúc đẩy CDCCKT ở VKTTĐBB trong thời gian tới.

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các

đơn vị cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách về FDI, có thể sử dụng tham

khảo để giảng dạy các chuyên đề kinh tế về FDI trong các cơ sở đào tạo.

6. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo... Nội

dung chính của luận án kết cấu thành 4 chƣơng 11 tiết.

6

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THU HÖT

VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ

CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

1.1. CÁC NGHIÊN CỨU CỦA NƢỚC NGOÀI LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

1.1.1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và các yếu tố ảnh hƣởng

- Các nhà kinh tế cho rằng nguyên nhân của sự gia tăng dòng vốn ra nƣớc

ngoài và diễn ra các chiều khác nhau, các nhà đầu tƣ đã tìm thấy lợi nhuận ở nƣớc

ngoài lớn hơn lợi nhuận ở nội địa để thúc đẩy các hoạt động đầu tƣ.

Mac-Dougall đƣa ra mô hình lí thuyết dựa trên các điều kiện giả định [164]:

1) Thế giới chỉ có hai quốc gia; 2) Thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo, quốc gia có

lƣợng vốn đầu tƣ lớn (thừa vốn) nhƣng tỷ suất sinh lời của đồng vốn thấp (quốc gia

1- QG1), quốc gia có lƣợng vốn nhỏ (thiếu vốn) nhƣng tỷ suất sinh lời của đồng vốn

cao (quốc gia 2- QG2). Dòng vốn đầu tƣ di chuyển từ QG1 sang QG2; 3) Vốn di

chuyển tự do giữa các quốc gia; 4) Thông tin hoàn hảo, nhập khẩu và xuất khẩu vốn

đều có thông tin đầy đủ về các hoạt động đầu tƣ. Việc xuất, nhập khẩu vốn sẽ đƣợc

thực hiện cho đến khi lợi nhuận biên bằng tỷ suất lợi nhuận bình quân của thế giới;

5) Không có rủi ro và môi trƣờng đầu tƣ đƣợc giữ ổn định.

Từ quan điểm coi thế giới là một tổng thể gồm hai quốc gia cấu thành, đầu tƣ

quốc tế (trong đó có FDI) làm cho tổng sản phẩm ở từng ngành tăng dẫn đến GDP

của nơi tiếp nhận vốn FDI cũng tăng - đây chính là hiệu quả phúc lợi của FDI. FDI

đã làm tăng khả năng phân phối tiềm lực KTQT và làm tăng phúc lợi và sản phẩm

quốc tế. Hoạt động di chuyển vốn quốc tế trong thập kỷ 50-60 đã khẳng định những

xu hƣớng mà giả định của Mac - Dougall đƣa ra. Sau đó các số liệu thống kê, thực

nghiệm đã không đƣa ra đƣợc những bằng chứng rõ rệt để kiểm chứng. Nhƣợc điểm

của mô hình này là không giải thích đƣợc sự vận động nhiều chiều của FDI và sự

sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX trở đi

với những biến động và rủi ro, khía cạnh thể chế tác động tới FDI. Không giải thích

đƣợc các yếu tố chi phối tình trạng một nƣớc vừa có dòng vốn di chuyển vào, vừa có

dòng vốn di chuyển ra, nghĩa là nó không đƣa ra đƣợc sự giải thích đầy đủ về FDI.

- Dunning đã đƣa ra “lí thuyết chiết trung” hay mô hình OLI về FDI, theo

Dunning hoạt động FDI cần hội tụ đủ ba lợi thế đó là: lợi thế về sở hữu (O - Ownership

advantages), về địa điểm (L - Locational advantages) và lợi thế về nội vi hoá (I -

7

Internalisation advantages). Những lợi thế đó cho thấy những gì mà nƣớc đầu tƣ thực

hiện FDI, những gì mà địa phƣơng tiếp nhận vốn FDI và sự kết hợp giữa hai thứ đó có

đƣợc hay không tuỳ thuộc vào lợi thế thứ ba. Dunning đã kiểm định lí thuyết dựa trên

số liệu của các công ty của Mỹ trong 14 ngành công nghiệp tại một số nƣớc [158].

Những nhân tố “đẩy” bắt nguồn từ lợi thế sở hữu và nội vi hoá, còn lợi thế địa

điểm tạo ra các nhân tố “kéo” đối với thu hút FDI nhằm CDCCKT. Lợi thế này không

cố định mà biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển. Lợi thế địa điểm và

nhân tố “kéo” đã giải thích vì sao luồng vào FDI ở từng nƣớc, từng thời kì là khác nhau

và phụ thuộc vào sự chủ động đối với việc thu hút nguồn vốn FDI. Sự khác nhau này

bắt nguồn từ việc các nƣớc này đang ở giai đoạn nào của quá trình phát triển.

Lý thuyết này đã định hƣớng về mặt lý luận là cần xác định rõ những nhân tố

“kéo” và nhân tố “đẩy” trong thu hút FDI hƣớng vào CDCCKT của VKTTĐBB, từ

đó phân tích nguyên nhân để có những định hƣớng và giải pháp. Tuy nhiên, theo tác

giả lí thuyết này chƣa giải thích đƣợc vì sao có luồng FDI từ các nƣớc đang phát

triển (nghèo vốn) vào các nƣớc phát triển (vốn dồi dào)?

- I.A.Moosa [165] đã phân tích mô hình “chiết trung” của Dunning và đƣa ra

các điều kiện ảnh hƣởng đến FDI, với giả định đã có cầu về một loại hàng hóa cụ thể

mà một hãng ở trong nƣớc có lợi thế (O), lúc đó chỉ còn yếu tố ảnh hƣởng là (L) và

(I): Nếu không đạt đƣợc lợi thế (I) thì hãng sẽ cho phép lợi thế (O) của mình cho một

hãng khác, đặc biệt là khi yếu tố địa điểm tạo thuận lợi cho việc mở rộng ra nƣớc

ngoài; Nếu có lợi thế (I) và yếu tố địa điểm là thuận lợi cho việc mở rộng trong nƣớc

(nội địa hóa) thì hãng sẽ mở rộng trong nƣớc và xuất khẩu; Nếu đạt đƣợc lợi thế (I) và

yếu tố địa điểm là thuận lợi cho việc mở rộng ra nƣớc ngoài thì FDI sẽ xảy ra.

Có thể nói, trƣờng phái “lý thuyết chiết trung” là mô hình lý thuyết tiêu biểu

với sự giải thích tƣơng đối đầy đủ về FDI.

- Lý thuyết về các bƣớc phát triển đầu tƣ (Investment Development Path - IDP)

Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài không tự nhiên chảy vào một nƣớc hay địa phƣơng

mà nó phải dựa trên khả năng hấp thụ nguồn vốn FDI của nền kinh tế sở tại. Nhiều yếu

tố đầu vào không thể lấy đƣợc từ bên ngoài mà các nƣớc sở tại phải cung cấp nhƣ: các

yếu tố hạ tầng nhƣ điện, nƣớc, kĩ năng chuyên môn ngƣời lao động... Vì vậy, những địa

phƣơng tiếp nhận vốn FDI phải phát triển trƣớc nhiều lĩnh vực để có thể thu hút FDI.

“Các bƣớc phát triển đầu tƣ”[158] đã bàn về khả năng, định hƣớng, cơ cấu,

những điều kiện cần và đủ của việc tiếp nhận và hình thái đầu tƣ theo sự phát triển

của địa phƣơng tiếp nhận vốn FDI. Có năm giai đoạn hay những bƣớc mà dòng FDI

8

vào một địa phƣơng phải đi với những nỗ lực của địa phƣơng sở tại nhằm hấp thụ

đƣợc vốn đầu tƣ. Các địa phƣơng cũng phải giải quyết các vấn đề: đảm bảo công ăn,

việc làm trong nƣớc, phải bảo vệ các DN và thị trƣờng nội địa. Thu hút vốn FDI

hƣớng vào CDCCKT không thể đƣợc hình thành một cách tuỳ tiện mà cần phải có

định hƣớng. Thúc đẩy CDCCKT trên cơ sở tiếp nhận vốn FDI trong quá trình phát

triển kinh tế của địa phƣơng sở tại với cơ cấu ngành, nghề trong quan hệ đáp ứng

những nhu cầu nội tại và hƣớng ra bên ngoài theo từng bƣớc phát triển đầu tƣ.

Lí thuyết “các bƣớc phát triển đầu tƣ” và “mô hình OLI” cho rằng: các quốc

gia, địa phƣơng có lợi thế về địa điểm và các điều kiện thuận lợi khác là nhân tố

quan trọng và dễ dàng thu hút vốn đầu tƣ. FDI có ảnh hƣởng tới CCKT trong từng

giai đoạn phát triển khác nhau của các địa phƣơng ở nƣớc sở tại. Trong giai đoạn

đầu, FDI chủ yếu tập trung vào các ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên và các

ngành công nghiệp sản xuất thay thế nhập khẩu. Tiếp theo đó, FDI mới chuyển sang

các ngành khác. Đây đƣợc coi là cơ sở lý luận quan trọng cho việc hoạch định chính

sách để thu hút vốn FDI nhằm CDCCKT ở VKTTĐBB.

- Alan A.Bevan and Saul Estrin đã nghiên cứu ảnh hƣởng của các yếu tố nhƣ:

rủi ro của nƣớc sở tại, chi phí đơn vị của lao động, quy mô thị trƣờng và các yếu tố

hấp dẫn FDI khác tại các nền kinh tế chuyển đổi ở khu vực Trung và Tây Âu. Kết

quả của việc sử dụng mô hình kiểm định là FDI chịu ảnh hƣởng lớn bởi các yếu tố

trên, trong đó rủi ro của nƣớc sở tại gồm cả kinh tế và chính trị [152].

- Maitena Duce, Banco de Espana tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng

đến FDI ở các nƣớc vùng Đông Nam Tây Âu và khẳng định FDI phụ thuộc vào các

yếu tố nhƣ: chính sách của nƣớc nhận đầu tƣ, mức độ hấp dẫn, quy mô của nền kinh

tế, nguồn lực quốc gia, mức độ mở cửa đối với thƣơng mại và tiếp cận thị trƣờng

quốc tế, chất lƣợng tài chính và cơ sở hạ tầng của nƣớc sở tại [157].

- Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản – JICA trong “Nghiên cứu về chiến lược

xúc tiến FDI tại nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” đã nghiên cứu xu hƣớng vận động

của dòng FDI trên thế giới và khu vực Đông Nam Á. Báo cáo đã tập trung nghiên cứu

đánh giá năng lực cạnh tranh môi trƣờng đầu tƣ của Việt Nam trên cơ sở xem xét một

số chính sách đối với một số ngành công nghiệp và đƣa ra một số khuyến nghị nhằm

nâng cao hiệu quả của hoạt động FDI là chính sách về “xúc tiến đầu tƣ””[38].

- Shaukat Ali, Wei Guo đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến FDI vào Trung

Quốc là quy mô của thị trƣờng (yếu tố tác động mạnh đến dòng FDI, nhất là đối với các

hãng của Mỹ) và giá nhân công rẻ (yếu tố hấp dẫn các hãng đầu tƣ Trung Quốc) [168].

9

- Công trình nghiên cứu: “Implementing industrial ecology? Planning for

eco-industrial parks in the USA” của D. Gibbs và P. Deutz [156] đã cho rằng mặc

dù nhận đƣợc sự đồng thuận rộng rãi của vấn đề phát triển bền vững trong các diễn

đàn quốc tế nhƣng trên thực tế, việc đạt mục tiêu về kịch bản “win – win – win”

(cùng thắng) về các mặt phát triển KT-XH và môi trƣờng vẫn là một vấn đề nan giải.

Các tác giả đề cập tới vấn đề trên trong giai đoạn phát triển các KCN ở Mỹ.

Hiện nay, mặc dù tỷ trọng vốn cũng nhƣ các dự án FDI vào các KCN lớn hơn

các FIEs ở ngoài KCN và có xu hƣớng tăng. Nhƣng tiếp cận đối với toàn bộ FIE thì

vẫn cần phải nghiên cứu tiếp, hơn nữa nếu chỉ lấy nghiên cứu đó làm căn cứ để đánh

giá tác động tới CDCCKT đối với VKTTĐBB, với các dự án trong và ngoài các

KCN ở các địa phƣơng thì các nghiên cứu trên chƣa thỏa đáng.

- Nghiên cứu của Nick J.Feeman: “20 năm ĐTNN tại Việt Nam: Một chặng

đường nhìn lại và hướng tới tương lai” đã phân tích dƣới góc nhìn đa chiều về khu

vực kinh tế năng động - FIE của Việt Nam. Nghiên cứu đã xem xét, phân tích các

chính sách của Chính phủ Việt Nam trong suốt 20 năm để tạo dựng nên một môi

trƣờng đầu tƣ lành mạnh, bình đẳng và hấp dẫn. Đồng thời, cũng chỉ ra một số vấn

đề bất cập của chính sách đối với FIE cần phải giải quyết, để có thể đạt đƣợc những

thành công hơn trong tƣơng lai [89].

- Nghiên cứu của UNCTAD:“Báo cáo đánh giá chính sách đầu tư Việt Nam”

[59]. Từ cách tiếp cận FDI là nguồn lực đầu tƣ phát triển để phân tích các xu hƣớng

về FDI và tác động của nó tới nền kinh tế Việt Nam; một số chính sách về sở hữu

nhà nƣớc và các chức năng điều tiết của Nhà nƣớc, việc hợp lý hóa và đơn giản hóa

về lợi ích khuyến khích tài chính đối với các loại thuế DN; đề xuất 13 nhóm chính

sách. Tuy nhiên, báo cáo cũng mới chỉ đƣa ra một số khuyến nghị về giải pháp chủ

quan từ tổng kết thực tế, chƣa luận giải trên cơ sở khoa học.

- Báo cáo đầu tƣ thế giới năm 2012 và 2013 - Towards A New Generation Of

Investment Policies (Định hướng một mô hình các chính sách mới trong đầu tư)

[170], Global Value Chains: Investment And Trade For Development (Chuỗi giá trị

toàn cầu: Phát triển đầu tư và thương mại) [171] đã chỉ ra những đóng góp tích cực

trong sự hợp tác giữa các DN nƣớc ngoài và các nền kinh tế nƣớc chủ nhà (Châu

Phi, Châu Á) trong điều kiện các VA thêm nhƣ: việc làm, thu nhập, thuế thu nhập,

xuất khẩu... Gần 1/3 thu nhập từ FDI đƣợc tái đầu tƣ tại các nƣớc chủ nhà, 2/3 còn

lại đƣợc mang về nƣớc đầu tƣ. Phần tái đầu tƣ tại các quốc gia đang phát triển là một

nguồn tài chính quan trọng. Vấn đề nằm trong tối ƣu hóa tác động tích cực và giảm

10

thiểu các tác động tiêu cực của FDI rất cần những khung pháp lý và chính sách của

nhà nƣớc. Tính hiệu quả của các chính sách thể hiện ở việc tối ƣu hóa lợi ích và

giảm thiểu rủi ro giữa các bên.

Nhiều quốc gia đã không ngừng tự do hóa và thúc đẩy FDI. Nhƣng xu hƣớng

dòng chảy FDI tiếp tục đổ vào các quốc gia có thu nhập thấp nhƣ Campuchia, Myanma

và Việt Nam…là vấn đề cần đƣợc quan tâm. Nền kinh tế toàn cầu hiện nay đƣợc định

hình bởi các chuỗi giá trị, mà các loại hàng hóa, dịch vụ cơ bản đƣợc buôn bán theo quy

trình sản xuất phân tán trên toàn cầu. Các chuỗi giá trị này đƣợc phối hợp bởi TNCs.

Tuy nhiên, hoạt động của các chuỗi giá trị cũng không tránh khỏi những rủi ro và

những rủi ro này có thể đƣợc hạn chế bằng việc tạo ra nhiều hơn các giá trị.

Do vậy, các nhà hoạch định chính sách cần tạo đƣợc một khung pháp lý vừa

thu hút FDI, bảo vệ đƣợc nhà đầu tƣ, ngƣời lao động và các bên liên quan, vừa giảm

thiểu đƣợc những rủi ro thông qua việc không ngừng đổi mới và cải tiến khoa học

kỹ thuật, chất lƣợng lao động và một thị trƣờng cởi mở. Trên hết, định hƣớng phát

triển bền vững luôn đi kèm với các mục tiêu trong các hoạt động FDI.

1.1.2. Vai trò và tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với chuyển

dịch cơ cấu kinh tế

- Caves [154] khi nghiên cứu tổng hợp về các vấn đề thƣơng mại quốc tế, đầu

tƣ quốc tế và thị trƣờng hoàn hảo để nghiên cứu tác động tràn trong các ngành công

nghiệp chế tác ở Ô-xtrây-li-a chỉ ra rằng thị phần nƣớc ngoài có tác động dƣơng lên

năng suất các DN địa phƣơng. Sau đó, có rất nhiều các nghiên cứu tƣơng tự về FDI

ở các nƣớc đang phát triển gồm cả châu Á, Mỹ Latinh. Blomstom và Worff với

nghiên cứu: “MNCS và hội tụ năng suất ở Mê-xi-cô” đã sử dụng phƣơng pháp của

Caves và áp dụng cho ngành chế tác ở Mê- xi-cô và chỉ ra các tác động tích cực và

chỉ ra sự hội tụ năng suất giữa DN địa phƣơng với FIES [153].

Aitken và Harrison, với câu hỏi: “Liệu các DN nội địa có thu được lợi ích từ

FDI?” đã sử dụng dữ liệu ở Venezuelea trong giai đoạn 1975-1989 và kiểm tra mối

quan hệ giữa thị phần và năng suất trong cả DN địa phƣơng và FIES [151]. Kết quả chỉ ra rằng, các DN nội địa có mức năng suất, xuất khẩu, tiền lƣơng thấp hơn các FIES. FDI có tác động âm lên năng suất các DN nội địa trong khi đó có tác động tích cực lên các DN có sự tham gia của phía nƣớc ngoài. Hiệu ứng tác động lên các DN

địa phƣơng không đáp ứng đƣợc kỳ vọng của nƣớc chủ nhà.

Kokko, sử dụng dữ liệu Mê-xi-cô để phân tích “các đặc tính về công nghệ, thị

trường và hiệu ứng tràn”, đã phát hiện sự hấp thụ công nghệ, tăng trƣởng năng suất

11

trong các DN địa phƣơng phụ thuộc vào đặc tính của từng ngành. Ngành nào mà thị

phần nƣớc ngoài quá lớn, nơi mà khả năng của DN địa phƣơng yếu thì sẽ không có

hoặc rất khó tạo ra các hiệu ứng tràn về năng suất [163].

Các nghiên cứu về tác động của FDI ở các quốc gia đang phát triển chỉ ra

rằng: đây là một vấn đề quan trọng và thu hút đƣợc sự quan tâm rất lớn của các học

giả. Nhập khẩu và chuyển giao công nghệ tạo ra tác động nhất định lên R&D và

năng suất của các địa phƣơng. Điều này hàm ý rằng, có thể có hiệu ứng tràn lên nền

kinh tế địa phƣơng. Tuy nhiên, mức độ của tác động tràn là không rõ ràng và kết

luận về đánh giá mức độ của hiệu ứng này là khác nhau trong các trƣờng hợp.

- Khi dòng vốn FDI vào một đất nƣớc sẽ hình thành nên các FIES, trong quá trình SX-KD sẽ có sự tƣơng tác và nảy sinh các mối quan hệ và sự liên kết giữa các DN địa phƣơng và FIES. Cohen[155] trong nghiên cứu: “MNCS và xuất khẩu của các nước châu Á” ở Hàn Quốc, Đài Loan và Xin-ga-po, và Riedel [167] khi nghiên

cứu về các nhân tố quyết định của ĐTNN định hƣớng xuất khẩu ở Đài Loan đã phát hiện rằng các FIES có tỷ lệ nhập khẩu đầu vào nhiều hơn các DN địa phƣơng. Kellar [162] khi nghiên cứu về tác động của đầu tƣ tƣ nhân nƣớc ngoài ở Ấn Độ đã chỉ ra

rằng, các FIES tập trung vào thị trƣờng nội địa đƣợc phát hiện là phụ thuộc vào nhập khẩu nhiều hơn các DN địa phƣơng. Subrahmanian và Pillai [169] khi nghiên cứu về

các MNCS và xuất khẩu ở Ấn Độ đƣa ra kết luận tƣơng tự. Giải thích việc các FIES có tỷ lệ nhập khẩu nguyên vật liệu cao hơn các DN địa phƣơng, Jo [161khi nghiên

cứu về lĩnh vực ĐTNN ở Hàn Quốc, Newfarmer và Marsh [166], khi nghiên cứu sở

hữu nƣớc ngoài, cấu trúc thị trƣờng ở ngành công nghiệp điện tử Bra-xin cho rằng

đó là do các FIES thân thiết với nhà cung cấp nƣớc ngoài và một điều rất quan trọng là các nhà cung cấp địa phƣơng không đáp ứng đƣợc yêu cầu của FIES.

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chƣa chỉ rõ mức độ liên kết ở mức nào thì

hiệu quả để tận dụng triệt để lợi ích mà vốn FDI mang lại. Với Việt Nam, các nghiên cứu sắp tới cần tập trung hơn vào làm rõ mối liên kết giữa các DN nội địa và FIES nhƣ cơ chế hình thành các mối liên kết, mức độ liên kết, hiệu quả của các mối liên

kết. Đƣa ra các chính sách phát triển các ngành một cách đồng bộ, có sự phối hợp

chặt chẽ và hiệu quả của DN và giữa các ngành trong CDCCKT.

1.1.3. Mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Lý luận kinh tế học Mác xít:

+ Theo tác giả Mai Ngọc Cƣờng [56]: Chuyển dịch CCKT đƣợc C.Mác đề cập

chủ yếu trong học thuyết về phân công lao động và tái sản xuất xã hội. C.Mác cho

12

rằng: cơ cấu chuyển hóa giá trị thặng dƣ thành lợi nhuận bình quân, sự cạnh tranh

trong nội bộ và các ngành sẽ dẫn tới sự dịch chuyển các nguồn lực đầu tƣ (tƣ bản) vào

các ngành theo quan hệ cung cầu và việc tối đa hóa lợi nhuận. Sự khác nhau về tốc độ

tăng trƣởng của các ngành dẫn đến sự khác nhau về tỷ trọng, thị phần và nguồn lực sử

dụng. Quá trình điều chỉnh theo cơ cấu mới quyết định hiệu quả sử dụng nguồn lực và

khả năng cạnh tranh của ngành. Mô hình điều chỉnh cơ cấu cũng đƣợc xem xét trong

sơ đồ tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng của xã hội. Trong đó, theo các

ngành sản xuất tƣ liệu sản xuất phải tăng nhanh hơn các ngành sản xuất để sản xuất

hàng tiêu dùng và các ngành sản xuất tƣ tiệu sản xuất để sản xuất tƣ liệu tiêu dùng

phải tăng nhanh hơn các ngành sản xuất tƣ liệu tiêu dùng. Quá trình tiêu dùng đến

lƣợt nó, lại tạo ra thị trƣờng và động lực để thúc đẩy sự phát triển của sản xuất.

Quá trình biến đổi cấu trúc bên trong của nền kinh tế dƣới góc độ sản xuất,

dẫn đến sự phân bổ nguồn lực và sự di chuyển nguồn lao động xã hội từ khu vực có

NSLĐ thấp, VA thấp sang các ngành có NSLĐ cao và những khâu có VA cao.

+ V.I Lê nin với quan điểm nền KT-XH dựa trên chế độ công hữu về tƣ liệu

sản xuất đƣợc đề cập trong “Chính sách kinh tế mới” với chủ trƣơng phát triển kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó sử dụng rộng rãi các hình thức kinh tế quá

độ. Tuy nhiên sau này các nƣớc XHCN thƣờng áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch

hóa tập trung, phủ nhận KTTT. Điều này đã làm giảm sút động lực cạnh tranh và

giảm hiệu quả của CDCKT [dẫn theo 67].

Với kinh tế học Mác xít, quá trình CDCCKT đạt hiệu quả khi có sự chín muồi

của các tiền đề: sự hình thành của khu vực thành thị và nông thôn có mối quan hệ

khăng khít, trong đó nông thôn chủ yếu sản xuất nông nghiệp và thành thị có các

hoạt động chủ yếu về công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ. Số lƣợng và mật độ dân

cƣ cần phù hợp, nếu không sẽ làm mất cân đối sự phát triển; NSLĐ xã hội phải đƣợc

nâng cao. Ngoài ra, cần quan tâm tới các vấn đề nhƣ: thể chế kinh tế phải rõ ràng,

minh bạch chế độ sở hữu, khả năng toàn dụng lao động.

- Lý luận kinh tế học trào lưu chính: Trong những năm 1960-1970, đã diễn ra

sự xích lại gần nhau của trƣờng phái “Keynes chính thống”, “Keynes mới” và “Cổ

điển mới” để hình thành “kinh tế học của trƣờng phái chính”. Mặc dù, CDCCKT

không phải là trọng tâm nghiên cứu, nhƣng để duy trì hiệu quả của nền kinh tế cần

sự ổn định của kinh tế vĩ mô và vai trò của nhà nƣớc. Những phân tích về xu hƣớng

CDCCKT của nền kinh tế chịu sự tác động của cách mạng khoa học, công nghệ và

xu hƣớng toàn cầu hóa. Biện pháp can thiệp của nhà nƣớc thông qua các chƣơng

13

trình điều chỉnh CCKT. Các công cụ phân tích động thái tăng trƣởng và CDCCKT

đƣợc trƣờng phái này sử dụng một cách phổ biến trong lý thuyết phát triển.

- Lý luận về các giai đoạn phát triển:

+ Theo tác giả Ngô Doãn Vịnh [150]: nhà kinh tế học ngƣời Mỹ W.Rostow

đã đƣa ra lý thuyết cất cánh nhằm nhấn mạnh các giai đoạn tăng trƣởng kinh tế, với

5 giai đoạn: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, tăng trƣởng và mức

tiêu dùng cao. Quan điểm này cho rằng: nền kinh tế phát triển theo xu hƣớng chuyển

dịch từ thời kỳ nông nghiệp truyền thống sang thời kỳ nông - công nghiệp, công -

nông nghiệp và dịch vụ và thời kỳ công nghiệp phát triển mạnh. Một nƣớc muốn

chuyển sang nƣớc công nghiệp phát triển, trong đó tỷ trọng nông nghiệp chiếm

khoảng 10-15%, công nghiệp 35-40%, dịch vụ 50-60% (xem phụ lục 1.1).

+ D.Bell trong “Sự xuất hiện của xã hội hậu công nghiệp: hướng đến một dự

đoán xã hội”, cho rằng: “chủ nghĩa phong kiến”, “tƣ bản chủ nghĩa” là sơ đồ khái

niệm tiến hóa trong hệ thống chủ nghĩa Mark, sơ đồ xoay quanh cái lõi là quan hệ sở

hữu. “Xã hội tiền công nghiệp”, “xã hội công nghiệp” và “xã hội hậu công nghiệp”

là sơ đồ xoay quanh cái lõi là sản xuất và hình thức sử dụng tri thức [dẫn theo 56].

+ Tatyana P.Soubbotina đã làm sáng tỏ thêm lý thuyết các giai đoạn phát triển

và cho rằng: tất cả các nền kinh tế đều phải trải qua 3 giai đoạn phát triển: nông

nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp (xem phụ lục 1.2).

+ Ngân hàng Thế giới: quá trình phát triển kinh tế có thể chia thành các giai đoạn:

đói nghèo, CNH, phát triển tiêu thụ. CDCCKT là một nội dung trụ cột phản ánh mức độ

phát triển của nền kinh tế. Đằng sau các mối quan hệ là phản ánh giữa CDCCKT và ô

nhiễm môi trƣờng. CCKT các ngành ảnh hƣởng đến nhịp tăng trƣởng kinh tế và nhịp

tăng trƣởng của các ngành cũng ảnh hƣởng tới nhịp độ tăng trƣởng chung của GDP[1].

Chất lƣợng và cơ cấu đầu tƣ là nội dung quan trọng đối với tăng trƣởng kinh tế và chất

lƣợng của CDCCKT. Khi tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao sẽ có khả năng tăng mức tích

lũy để đầu tƣ cải tạo CCKT theo hƣớng hiện đại và hiệu quả. Sự hợp lý của CCKT bảo

đảm cho tăng trƣởng nhanh và bền vững [dẫn theo, 107, tr.33-35].

Nói tóm lại, các nghiên cứu trên đã đem lại cái nhìn khái quát về FDI; về FDI

với CCKT trong từng giai đoạn khác nhau của các địa phƣơng ở nƣớc sở tại. Trong

1 Mối quan hệ tăng trƣởng kinh tế và CDCCKT đƣợc thể hiện qua công thức: YR=∑SY1 * YRi (I = i….I). Trong đó: YR: nhịp độ tăng trƣởng của GDP; YRi: Nhịp tăng trƣởng của ngành I; SYi: Tỷ trọng của ngành I trong ∑ GDP.

giai đoạn đầu, FDI tập trung chủ yếu vào các ngành khai thác tài nguyên, sản xuất

14

thay thế nhập khẩu nhƣng càng về sau có sự dịch chuyển sang các ngành khác đặc

biệt là các ngành công nghệ cao, ngành, lĩnh vực mà địa phƣơng có lợi thế xuất khẩu

với VA cao; các yếu tố tác động tới FDI với một tập hợp phức tạp, đòi hỏi các nƣớc

thu hút đầu tƣ cần nghiên cứu để có chính sách phù hợp, phát huy hiệu quả tối đa

FDI phục vụ cho tăng trƣởng, cho CDCCKT và phát triển theo hƣớng bền vững

trong tình hình cạnh tranh gay gắt về FDI và những biến đổi trong dòng chảy FDI.

1.2. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

1.2.1. Chính sách và giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- “Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút FDI ở Việt Nam” do Mai Ngọc

Cƣờng (chủ biên) [49] từ cách tiếp cận dƣới góc độ tổ chức và quản lý, tác giả đã

nghiên cứu tổng quát về hoạt động FDI của Việt Nam từ khi có Luật ĐTNN với

những đánh giá bƣớc đầu. Trên cơ sở đó đƣa ra những kiến nghị để hoàn thiện chính

sách và tổ chức thu hút FDI ở Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu mới tập trung vào vai

trò, tác động của FDI đối với nền kinh tế “đóng” Việt Nam. Những đề xuất, kiến nghị

nhƣ: thực hiện phân cấp việc cấp phép đầu tƣ, giải quyết những vấn đề sở hữu, sử

dụng đất đai, những ƣu đãi về tài chính, về chính sách tiền lƣơng của ngƣời lao động

trong các FIES... tăng cƣờng thu hút FDI ở mức độ giản đơn. Hơn nữa, việc nghiên cứu ở phạm vi cả nƣớc, với thời gian ngắn, một số vấn đề không còn phù hợp. Nó chỉ

có ý nghĩ tham khảo cho việc việc thu hút vốn FDI ở VKTTĐBB hiện nay.

- Đề tài:“Chiến lược đổi mới chính sách huy động các nguồn vốn nước ngoài

phục vụ sự nghiệp phát triển KT-XH giai đoạn 2001-2010” do Trƣơng Thái Phiên

làm chủ nhiệm [93] đã đƣa ra các giải pháp chủ yếu thu hút nguồn vốn FDI nhƣ: đổi

mới cơ cấu FDI nhằm CDCCKT, nâng cao chất lƣợng xây dựng quy hoạch đối với

FDI; hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách quản lý nhằm cải thiện môi

trƣờng ĐTNN, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải tiến công tác tổ chức bộ

máy quản lý, phân cấp và cơ chế thu hút vốn, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thúc đẩy hoạt

động hỗ trợ, xúc tiến FDI, tăng cƣờng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao chất

lƣợng đào tạo nguồn nhân lực... FDI.

- Đề tài “Xây dựng lộ trình thu hút vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2003-

2010”(2000), do Nguyễn Ngọc Định làm chủ nhiệm [64]. Vấn đề cơ bản đƣợc phân

tích là các nguyên nhân gây ra sự giảm sút vốn FDI tại Việt Nam trong thời gian qua,

qua đó đề ra các giải pháp tăng cƣờng thu hút vốn FDI theo những lộ trình đƣợc xây

dựng từ 2003-2010. Giai đoạn 1, xây dựng pháp luật đầu tƣ thống nhất và đồng bộ,

ban hành luật chống phá giá, chống độc quyền, điều chỉnh những văn bản có liên quan

15

đến hoạt động quản lý nhà ĐTNN. Tiến hành cổ phần hóa các FIES tại Việt Nam, cải

tiến thủ tục hành chính, xây dựng hệ thống thông tin. Giai đoạn 2, với những giải

pháp nhƣ xây dựng những khu kinh tế tập trung, kinh tế mở, định hƣớng và nâng cao

hiệu quả sử dụng vốn FDI. Giai đoạn 3, những giải pháp nhƣ: cơ sở hạ tầng, môi

trƣờng đầu tƣ ổn định, tiếp tục duy trì và phát triển những chính sách ƣu đãi đối với

hoạt động đầu tƣ, có chính sách trong tiếp cận vào thị trƣờng vốn quốc tế…

- Nguyễn Thị Kim Nhã “Giải pháp tăng cường thu hút FDI ở Việt Nam” [91]

đã phân tích bức tranh về thu hút FDI ở Việt Nam giai đoạn 1998-2005; chỉ ra các

nguyên nhân ảnh hƣởng tới các mặt thành công và hạn chế hoạt động thu hút FDI

tại Việt Nam. Nêu rõ các vấn đề cần tiếp tục xử lý để tăng cƣờng thu hút FDI. Điểm

mới của luận án là khi tính lƣợng vốn FDI chỉ tính phần vốn đƣa vào từ bên ngoài

vào và luận giải một cách khoa học khái niệm “Hiệu quả các dự án FDI đã triển

khai” - một nhân tố tác động đến thu hút FDI của một quốc gia.

- “Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam” do Trần Thị Minh Châu -

chủ biên, đã phân tích “tổng thể chính sách khuyến khích đầu tư trong và ngoài

nước của Nhà nước”[53]. Nghiên cứu tập trung làm rõ: cơ sở lý luận của chính sách

khuyến khích đầu tƣ của Nhà nƣớc trong nền kinh tế ở Việt Nam; phân tích đánh giá

thực trạng chính sách khuyến khích đầu tƣ của Nhà nƣớc; đề xuất một số định

hƣớng và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tƣ.

Tuy nhiên, những nghiên cứu cũng chƣa đƣa ra và làm rõ cơ sở khoa học để hoàn

thiện hệ thống chính sách, ít đi sâu với những đặc thù riêng biệt của FIE; nội hàm

nghiên cứu về chính sách vẫn thiên về nhằm “thu hút đầu tư” là chủ yếu.

- Vƣơng Đức Tuấn trong “Hoàn thiện cơ chế chính sách thu hút FDI ở thủ

đô Hà Nội trong giai đoạn 2001-2010” đã hệ thống hoá và phân tích những vấn đề

lý luận và thực tiễn, trên cơ sở phân tích thực trạng từ đó chỉ ra những hạn chế tồn

tại cần phải hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút FDI của Việt Nam và Hà Nội. Đặc

biệt là đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tăng

cƣờng thu hút FDI vào Hà Nội đến năm 2020…[114].

- Hà Thanh Việt trong “Thu hút vốn FDI trên địa bàn Duyên hải miền Trung”

đã phân tích luận giải về các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng thu hút và sử dụng

hiệu quả vốn FDI trên một vùng kinh tế; khái quát đƣợc bối cảnh KT-XH của vùng

Duyên hải miền Trung và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vốn FDI trên cơ sở

phân tích đánh giá thực trạng về hiệu quả thu hút và sử dụng vốn FDI tại vùng và

16

những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên. Từ đó, đề ra các nhóm giải

pháp chung và đặc thù áp dụng riêng cho vùng Duyên hải miền Trung [142].

- Đinh Văn Ân và Nguyễn Thị Tuệ Anh với nghiên cứu “Thực hiện FDI sau

khi Việt Nam gia nhập WTO. Kết quả điều tra 140 FIEs”[3] đã nghiên cứu về “FDI

sau khi Việt Nam gia nhập WTO – Những yếu tố ảnh hưởng thực hiện dự án” trong

năm 2007. Tiếp cận FIE từ hoạt động của các dự án đầu tƣ, nhận dạng một số yếu tố

ảnh hƣởng đến triển khai thực hiện của dự án đầu tƣ sau khi Việt Nam gia nhập

WTO. Nghiên cứu mới chỉ tập trung vào nhận dạng 2 nhóm yếu tố ảnh hƣởng đến

việc thực hiện dự án FDI là: 1) nhóm yếu tố đến từ việc thực hiện cam kết WTO và

2) Một số yếu tố nội tại của nền kinh tế, ảnh hƣởng đến triển khai thực hiện dự án và

thực hiện SX-KD của FIEs. Một số kiến nghị chính sách mà nghiên cứu đƣa ra chỉ

trên cơ sở nghiên cứu ở một số ngành cụ thể sẽ chịu ảnh hƣởng trực tiếp khi Việt

Nam thực hiện cam kết WTO và thực hiện dự án đầu tƣ của các FIEs.

- Đề tài “Thu hút vốn nước ngoài ở các nước đang phát triển và bài học cho

Việt Nam”[133] do Nguyễn Thị Thƣ làm nhiệm đã chỉ ra rằng: Dòng vốn nƣớc

ngoài vào các nƣớc đang phát triển theo xu hƣớng tăng lên là do cải cách kinh tế tại

các nƣớc đó, do kinh tế thế giới tăng trƣởng cao hơn thời kỳ trƣớc, giá nguyên liệu

thế giới tăng, lãi suất ở các nƣớc đang phát triển tăng… Cơ cấu dòng vốn FDI vào

các nƣớc đang phát triển đã và đang thay đổi theo hƣớng tăng tỷ trọng của khu vực

dịch vụ (bao gồm cả các hoạt động nghiên cứu và triển khai). Kiến nghị Việt Nam

cần đổi mới chính sách thu hút vốn FDI theo mục tiêu tập trung, phát triển cơ sở hạ

tầng, tăng cƣờng thể chế, đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, cải thiện môi trƣờng kinh

doanh, hoàn thiện thị trƣờng chứng khoán, đổi mới hệ thống các tổ chức tín dụng trong

nƣớc, giám sát chặt và điều tiết thận trọng các dòng vốn ngắn hạn nƣớc ngoài... Tuy

nhiên, đề tài chỉ xoay quanh vấn đề làm thế nào để thu hút vốn FDI, còn thu hút để làm

gì? hiệu quả nhƣ thế nào cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu.

- Ngô Thu Hà trong luận án “Chính sách thu hút vốn ĐTNN vào Trung Quốc và

khả năng vận dụng tại Việt Nam”[67] đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về

ĐTNN và chính sách thu hút vốn ĐTNN, phân tích thực trạng chính sách thu hút vốn

ĐTNN của Trung Quốc và rút ra bài học góp phần vào sự lựa chọn bƣớc đi ngắn nhất

và đề xuất một số giải pháp cho chính sách thu hút vốn ĐTNN của Việt Nam.

- Trần Quang Nam trong “Cơ sở khoa học hoàn thiện chính sách Nhà nước

đối với FIE ở Việt Nam” [84] đã tập trung đi sâu phân tích chính sách đối với FIE và

tiếp cận chính sách nhà nƣớc với tƣ cách là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô nhằm thực

17

hiện mục tiêu tăng trƣởng và phát triển bền vững. Cụ thể: làm rõ cơ sở của việc hoàn

thiện chính sách của Nhà nƣớc trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết kinh

nghiệm của một số nƣớc trong khu vực; đánh giá thực trạng chính sách đối với FIE

ở Việt Nam, chỉ ra những thành tựu và hạn chế cùng nguyên nhân; đề xuất phƣơng

hƣớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách để phát triển FIE.

1.2.2. Vai trò đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế

- Đề tài KX 01.05 “Khu vực FIE: Vị trí vai trò của nó trong nền KTTT định

hướng XHCN ở Việt Nam”, do Nguyễn Bích Đạt làm chủ nhiệm đã tiếp cận FIE với

tƣ cách là TPKT. Tổng kết, đánh giá thực tiễn của Việt Nam để làm rõ bản chất, vị

trí, vai trò của FIE và mối quan hệ của nó với các TPKT khác; đƣa ra kiến nghị

chính sách và giải pháp phát huy vị trí, vai trò của khu vực FIE phục vụ cho quá

trình CNH, HĐH phù hợp với yêu cầu phát triển KTTT định hƣớng XHCN ở Việt

nam. Nghiên cứu chƣa xem xét chính sách đối với FIE một cách hệ thống, toàn diện,

và xác định đây là “nguồn lực quan trọng” trong phát triển KT-XH [62].

- Công trình: “FIE trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay:

thực trạng và triển vọng” đề tài cấp bộ do Trần Quang Lâm làm chủ nhiệm đề tài

[79] hay “FIE ở Việt nam hiện nay” của Trần Quang Lâm và An Nhƣ Hải đồng chủ

biên [80]. Có thể coi đây là các công trình nghiên cứu toàn diện đánh giá về tầm

quan trọng của FDI với tƣ cách đây là một TPKT, khu vực kinh tế trong nền KTTT

định hƣớng XHCN ở Việt Nam; phân tích thực trạng hình thành, phát triển và vai trò của các FIES; khái quát về mặt lý luận về FIE, chỉ ra xu hƣớng vận động phát triển của nó. Tuy nhiên, các phân tích đi tƣơng đối sâu về “kinh tế vi mô”; các quan điểm,

giải pháp nhằm phát triển và sử dụng có hiệu quả FIE thiên về những giải pháp

mang tính kỹ thuật ít liên quan tới chính sách.

- Nghiên cứu của Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh về “Tác động của FDI

tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” đã sử dụng mô hình kinh tế lƣợng để đánh giá

tác động của FDI đến một số ngành kinh tế ở Việt Nam và đã phát hiện ra một số

vấn đề về tác động tràn của FDI. Đề tài đã đƣa ra những kiến nghị quan trọng là tạo

cơ hội cho việc xuất hiện tác động tràn và tăng khả năng hấp thụ của các tác động

tràn tích cực của FDI đối với các DN trong nƣớc. Tuy nhiên, vai trò và tác động của

FDI đến CDCCKT chƣa đƣợc nghiên cứu sâu, đầy đủ và có tính hệ thống, đặc biệt

chƣa đề cập đến vấn đề này đối với VKTTĐBB [4].

- Vũ Văn Hƣởng trong“Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế: Nhìn từ

mô hình kinh tế lượng” [74] đã sử dụng mô hình kinh tế lƣợng để đánh giá tác động

18

của FDI đến GDP bình quân đầu ngƣời và đến xuất khẩu. Công trình đã đƣa ra kết

luận rằng, tỷ lệ vốn FDI trên tổng số vốn đầu tƣ toàn xã hội có tác động tích cực đến

GDP/ngƣời và vốn FDI cũng tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu ở nƣớc ta.

- Nguyễn Quang Hồng cho rằng: đóng góp lớn nhất của FDI đối với các quốc

gia đang phát triển, bởi công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại không chỉ nằm lại

trong các FIES mà còn có tác động lan toả sang các DN nội địa thông qua chuyển

giao công nghệ, di chuyển lao động, quá trình cạnh tranh và đặc biệt là thông qua

quá trình liên kết sản xuất công nghiệp phụ trợ. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam mối liên kết giữa các FIES và các DN nội địa chƣa đƣợc nhƣ mong đợi [73].

- Trần Minh Tuấn trong “Tác động của FDI đối với kinh tế Việt Nam trong

những năm qua” đã thừa nhận tính hai mặt của FDI đối với phát triển kinh tế: một

mặt, FDI có đóng góp quan trọng cho tăng trƣởng kinh tế, thúc đẩy CDCCKT, tăng

vốn đầu tƣ, tăng thu ngân sách nhà nƣớc; năng lực sản xuất, tăng kim ngạch xuất

khẩu; tạo việc làm, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực; thúc đẩy chuyển giao công

nghệ. Bên cạnh đó, FDI cũng gây ra không ít tác động tiêu cực nhƣ: hiện tƣợng

chuyển giá; nhiều FIES không thực hiện cam kết xuất khẩu hàng hoá, chuyển sang tiêu thụ nội địa dẫn đến tình trạng thâm hụt thƣơng mại; nhiều dự án FDI có trình độ công

nghệ trung bình thậm chí thấp, không thực hiện đƣợc mục tiêu chuyển giao công nghệ

và FDI đang có nguy cơ làm trầm trọng hơn tình trạng ô nhiễm môi trƣờng [113].

- Nguyễn Phú Tụ và Huỳnh Công Minh trong “Mối quan hệ giữa FDI với tăng

trưởng kinh tế của Việt Nam” [109] đã kiểm định mối quan hệ hai chiều giữa vốn FDI

và tăng trƣởng kinh tế tại các tỉnh với nguồn dữ liệu chéo, với các biến đƣợc lấy giá trị

trung bình từ năm 2003-2007. Mối quan hệ này đƣợc kiểm định thông qua ƣớc lƣợng

một mô hình kinh tế lƣợng với hai phƣơng trình tăng trƣởng kinh tế và vốn FDI, với

việc sử dụng đồng thời cả ba phƣơng pháp là OLS, TSLS và GMM. Kết quả ƣớc lƣợng

đã cho thấy, FDI và tăng trƣởng kinh tế có mối quan hệ và đây là dấu hiệu tích cực để

tăng cƣờng thu hút ĐTNN. Tác động của FDI tới tăng trƣởng kinh tế lại phụ thuộc vào

khả năng hấp thụ của nền kinh tế. Để nâng cao năng lực thu hút FDI, cần tiếp tục đổi

mới chính sách, cải thiện môi trƣờng kinh doanh, pháp lý… tạo sức hấp dẫn trƣớc làn

sóng cạnh tranh thu hút FDI của các quốc gia thời kỳ hậu khủng hoảng.

- Đỗ Đức Bình trong “Tái cơ cấu FDI tại Việt Nam” đã phân tích thực trạng

FDI của Việt Nam từ 2007-2009 và đề xuất nhằm tái cơ cấu FDI tại Việt Nam. Theo

tác giả, cơ cấu FDI tại Việt Nam phải phù hợp với sự phát triển, hạn chế khai thác

tài nguyên, nhất là những loại tài nguyên không thể tái tạo; cần hƣớng mạnh FDI

19

vào lĩnh vực nông nghiệp; thu hút FDI phải gắn với hiệu quả FDI, với bảo vệ môi

trƣờng; tái cơ cấu FDI phải gắn với yêu cầu nâng cao mức độ và hiệu quả tham gia

của Việt Nam vào mạng lƣới sản xuất, phân phối và giá trị toàn cầu; tái cơ cấu FDI

phải gắn với việc điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH [10].

- Các nghiên cứu bàn về đời sống, việc làm của ngƣời lao động, các chính

sách, pháp luật lao động hiện hành, từ đó, đề xuất kiến nghị các giải pháp nhằm điều

chỉnh, bổ sung cho phù hợp nhƣ: “Một số vấn đề về việc tham gia bảo hiểm xã hội

của các DN ở Việt Nam” của Mạc văn Tiến [124], hay “Việc làm và đời sống của người lao động trong các FIES”, của Nguyễn Tiệp [125]…

- Các nghiên cứu về “Tác động của FDI tới môi trường nước ta: Những điều

rút ra từ một cuộc điều tra”, của Đặng Thị Thu Hoài và Vũ Xuân Nguyệt Hồng [72],

hay các bài nhƣ: “Chống chuyển giá và một số vấn đề tài chính liên quan đến FDI”

của Vũ Đình Ánh [3], hoặc “Chống chuyển giá đối với các FIES” của Nguyễn Đình Tài [103]… đã chỉ ra hành vi chuyển giá của các FIES là do xuất phát từ động cơ tối đa hóa lợi nhuận của DN; quyền tự do quyết định giá trong các giao dịch của các DN;

sự khác biệt về môi trƣờng đầu tƣ, về chính sách, pháp luật, thể chế giữa các quốc

gia,... Thủ thuật chuyển giá điển hình của các FIES là: 1) Bóp méo giá đầu vào bằng cách nâng các chi phí nhƣ tiền lƣơng, quản lý, khấu hao tài sản, lãi tiền vay, giá nhiên

nguyên vật liệu, chi phí bán hàng, quảng cáo... gây ra tình trạng “lỗ giả, lãi thật”, để

không phải thực hiện nghĩa vụ thuế; 2) Bóp méo đầu ra bằng cách bán hàng hóa cho

DN cùng nhóm lợi ích với giá thấp hơn thị trƣờng, thậm chí bán dƣới giá thành khi

DN mua hàng hóa đƣợc hƣởng chính sách ƣu đãi về thuế… Đã gây tác động xấu về

nhiều mặt nhƣ: thất thu cho ngân sách nhà nƣớc; méo mó môi trƣờng kinh doanh; gây

bất lợi, thậm chí thôn tính các DN trong nƣớc; hay tình trạng nhập siêu tăng cao do số

lƣợng ngoại tệ dùng để nhập khẩu nguyên vật liệu luôn lớn hơn số ngoại tệ thu về khi

xuất khẩu sản phẩm, vì giá bán ra thấp hơn giá đầu vào. Do vậy, vấn đề đặt ra là phải kiểm soát và hạn chế hiện tƣợng chuyển giá và trốn thuế của các FIES tại Việt Nam. 1.2.3. Đánh giá hiệu quả và định hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Nghiên cứu của Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thƣờng Lạng, về “Những vấn đề

KT-XH nảy sinh trong FDI: kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam”[10].

Từ cách tiếp cận FIE với tƣ cách là hình thức đầu tƣ quốc tế đã phân tích một số vấn

đề KT-XH nảy sinh trong thu hút FDI ở Việt Nam. Các tác giả đã đƣa ra một số giải

pháp nhằm làm tăng tính hấp dẫn của môi trƣờng đầu tƣ tại Việt Nam. Tuy nhiên,

nghiên cứu này mới dừng lại ở việc đƣa ra các giải pháp xử lý một số vấn đề KT-

20

XH nảy sinh trong giai đoạn trƣớc khi Việt Nam gia nhập WTO. Những vấn đề phát

sinh sau khi gia nhập WTO mà các chính sách phải can thiệp giải quyết nhƣ: môi

trƣờng, quyền của ngƣời lao động phải đƣợc đảm bảo theo tiêu chí WTO, điều tiết

FDI…ít đƣợc đề cập tới. Nghiên cứu mới chỉ dựa trên kinh nghiệm của Trung Quốc,

do vậy phạm vi nghiên cứu có thể chƣa đủ để có tính đại diện trong so sánh.

- Nguyễn Trọng Hải trong luận án“Vận dụng một số phương pháp thống kê

phân tích hiệu quả kinh tế FDI tại Việt Nam” đã hệ thống hoá và hoàn thiện hệ

thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế FDI, phƣơng pháp tính cho một số chỉ tiêu hiệu quả

toàn bộ và hiệu quả gia tăng của FDI, từ đó đề xuất các kiến nghị có tính khả thi

nhằm nâng cao chất lƣợng công tác thống kê phân tích hiệu quả kinh tế FDI và tăng

cƣờng hiệu quả kinh tế FDI tại Việt nam [69].

- Lê Quốc Hội trong “Lan tỏa công nghệ từ FDI ở Việt Nam: Ước lượng và

kiểm định ngành công nghiệp chế biến” đã sử dụng mô hình phân tích định lƣợng để

kiểm định sự lan toả công nghệ từ FDI ở ngành công nghiệp chế biến Việt Nam. Kết quả cho thấy sự tham gia của các FIES có tác động tích cực, lan toả theo chiều dọc tới các DN trong ngành…Tuy nhiên, kết quả ƣớc lƣợng lại cho thấy không có tác

động của lan toả theo chiều ngang, mà ngƣợc lại, sự có mặt của FIES lại gây tác động tiêu cực tới DN trong nƣớc ở cùng một ngành. Giữa FIES và DN trong nƣớc muốn có sự lan toả cần liên kết sản xuất và mức độ của sự lan toả và khả năng hấp

thụ công nghệ của các DN trong nƣớc [73].

- Nguyễn Minh Tuấn trong“Tác động ngược của hoạt động ĐTNN tới sự phát

triển bền vững ở Việt Nam”[130], hay nghiên cứu “Đánh giá chính sách khuyến

khích FDI trên quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam” đƣợc thực hiện trong

khuôn khổ dự án hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chƣơng trình VIE/01/021[22] đã thừa

nhận những đóng góp tích cực của FDI đối với KT-XH. Tuy nhiên cũng có những

tác động ngƣợc hay các xung đột nhất là về xã hội và môi trƣờng, dù là trực tiếp hay

gián tiếp các vấn đề này không phải là cái giá phải trả để thu hút FDI. Nguyên nhân

chủ yếu do trong thời gian qua chƣa đƣợc các cơ quan quản lý nhà nƣớc và nhà đầu

tƣ quan tâm một cách đúng mức, lợi ích ngắn hạn còn đƣợc coi trọng hơn lợi ích dài

hạn. Vì vậy, để phát huy hiệu quả của FDI và không phải trả giá đắt về lâu dài cần

phải có cách tiếp cận FDI theo hƣớng phát triển bền vững.

- Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ với đề tài:“Đánh giá thực trạng FDI ở Việt Nam và

định hướng đến năm 2020”[23] đã cho rằng sau 25 năm Luật ĐTNN đi vào hoạt

động, bên cạnh những vai trò tích cực, luật này đã bộc lộ nhiều bất cập, đòi hỏi phải

21

có sự điều chỉnh về chính sách sao cho phù hợp với xu thế phát triển. Trên cơ sở đánh

giá thực trạng thu hút và quản lý hoạt động FDI của Việt Nam trong những năm qua,

đề án đã đề xuất những định hƣớng FDI đến năm 2020: Về thu hút FDI, định hƣớng

trong thời gian tới sẽ coi trọng hơn đến cơ cấu và chất lƣợng, hƣớng tới sự bền vững;

Về mặt quản lý FDI, đề xuất thành lập một Ban chỉ đạo nhà nƣớc về FDI.

- Nguyễn Xuân Trung với “Nâng cao chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài

tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020” đã phân tích và đánh giá thực trạng chất lƣợng

FDI của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010, theo tiêu chí phát triển bền vững,

công trình đã đƣa ra những quan điểm chiến lƣợc về FDI, những yêu cầu và những

giải pháp nâng cao chất lƣợng FDI tại Việt Nam và cho rằng: cần có FDI có chất

lượng và đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững của nước tiếp nhận đầu tư

theo hướng hiện đại, phù hợp với trình độ phát triển và mục tiêu cụ thể [134].

1.2.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tác động của đầu tư trực tiếp nước

ngoài tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ với “CDCCKT trong điều kiện hội nhập

với khu vực và thế giới”[96] đã đề cập tới luận cứ khoa học của CDCCKT theo

hƣớng hội nhập, thực trạng CDCCKT theo ngành ở nƣớc ta những năm 1991-1997,

thực trạng CDCCKT một số vùng, phƣơng hƣớng và giải pháp CDCCKT nƣớc ta

theo hƣớng hội nhập với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Vai trò của FDI

với CDCCKT nói chung không đƣợc đề cập nhiều ở đây. Giai đoạn mà các tác giả

đề cập trong điều kiện Việt Nam chƣa hội nhập sâu rộng, tác động của FDI chƣa

nhiều, chƣa đề cập và đƣợc áp dụng đối với VKTTĐBB.

- “Mấy vấn đề về CDCCKT ở Việt Nam” của Nguyễn Quang Thái [106] đã

nêu quan niệm về sự phát triển biện chứng trong tƣ duy kinh tế về CDCCKT với 10

điểm đánh giá CDCCKT theo ngành trong thời kỳ đổi mới; nêu ra một số vấn đề lý

luận và thực tiễn đòi hỏi tập trung sức nghiên cứu. Tác giả đã chỉ ra CDCCKT theo

ngành và đánh giá rằng tốc độ CDCCKT Việt Nam qua 18 năm nhanh hơn tốc độ

CDCCKT của Đài Loan và Hàn Quốc trong thời kỳ đầu CNH. Tuy nhiên, trong đề

tài không thấy tác giả đề cập đến vai trò của vốn FDI đến CDCCKT.

- Tạ Đình Thi với luận án“CDCCKT trên quan điểm phát triển bền vững của

VKTTĐBB - Việt Nam”[110] đã đƣa ra các quan điểm, phƣơng pháp tiếp cận vấn đề

CDCCKT trên quan điểm phát triển bền vững của VKTTĐBB nhƣ: đã hệ thống hóa và

vận dụng vào điều kiện Việt Nam, trực tiếp là VKTTĐBB với những vấn đề về lý luận

và thực tiễn đối với CCKT và CDCCKT, phát triển bền vững; Phân tích đánh giá sự

22

phát triển bền vững của CDCCKT của VKTTĐBB trên cả 3 mặt KT-XH và môi trƣờng

trong thời gian gần đây và dự báo tới năm 2020. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các

giải pháp bảo đảm CDCCKT trên quan điểm phát triển bền vững của VKTTĐBB.

- Phạm Thị Khanh và các cộng sự trong“CDCCKT theo hướng phát triển bền

vững ở Việt Nam”[79] đã phân tích và khẳng định: CDCCKT theo hƣớng phát triển

bền vững là yêu cầu khách quan; qua việc phân tích thực trạng cuốn sách đã nhấn

mạnh các kết quả của CDCCKT là một mắt khâu cực kỳ quan trọng góp phần không

nhỏ vào thành tựu trong tăng trƣởng cao, liên tục và dài hạn của Việt Nam, tạo tiền đề

vật chất trực tiếp, thực hiện cân đối vĩ mô, giảm bớt những căng thẳng trong thu - chi

ngân sách nhà nƣớc, thực hiện đƣợc mục tiêu chiến lƣợc phát triển theo hƣớng bền

vững. Đồng thời, các tác giả cũng đã đƣa ra những quan điểm, định hƣớng và các giải

pháp nhằm đẩy mạnh CDCCKT theo hƣớng phát triển bền vững ở Việt Nam. Nhƣng

chƣa đi sâu phân tích tác động của FDI với CDCCKT để xem xét VKTTĐBB.

- Bùi Thúy Vân với đề tài “FDI với việc CDCC hàng xuất khẩu ở vùng Đồng

bằng Bắc Bộ” [142] đã vận dụng lý luận để phân tích thực tiễn hiện trạng tác động

của FDI đến việc CDCC hàng xuất khẩu cả về số lƣợng và chất lƣợng của vùng; tính

toán định lƣợng các chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng cũng nhƣ mô hình để kiểm chứng

của cơ cấu hàng xuất khẩu của vùng Đồng bằng Bắc Bộ; đƣa ra lộ trình CDCC hàng

xuất khẩu, định hƣớng thu hút FDI và các giải pháp để phát huy tốt nhất vai trò của

FDI để đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu. Những vấn đề của

luận án có thể tham khảo nhƣ: vai trò của FDI, định hƣớng phát triển vùng…

1.2.5. Vùng kinh tế trọng điểm và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

- “Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng cơ chế phối hợp giữa các tỉnh, thành

phố trong VKTTĐBB” [87] do Lê Văn Nắp làm chủ nhiệm đề tài đã phân tích:

Thứ nhất, đánh giá vị trí, vai trò và thực trạng phát triển KT-XH của VKTTĐ.

Xác định mô hình điều hành cho các VKTTĐ. Từ thực tiễn của VKTTĐBB, đòi hỏi

phải xây dựng cơ chế phối hợp giữa các địa phƣơng trong vùng nhƣ: giao thông, ô

nhiễm các dòng sông, xử lý chất thải... Về lý luận thì mỗi tỉnh đều bình đẳng và

tƣơng đƣơng nhau trong điều phối. Tổ chức điều phối không phải là một cơ quan

hành chính, do đó những quyết định chỉ là những ý kiến tham mƣu. Cần có một quy

chế phối hợp giữa các tỉnh/thành phố đề xuất với Chính phủ và những quyết định về

hoạt động của vùng phải mang tính pháp lý.

Thứ hai, với đặc thù của các VKTTĐ, cần có một số biện pháp nhằm phát

triển các VKTTĐ để thực sự đóng vai trò đầu tàu. Cơ chế phối hợp là một trong

23

những biện pháp thích hợp để thúc đẩy sự phát triển các VKTTĐ với nội dung và

phƣơng thức phối hợp giữa các Bộ, ngành và các tỉnh/thành phố ở VKTTĐBB. Đây

là cơ sở cho việc xây dựng quy chế phối hợp giữa các bộ, ngành và các địa phƣơng

trong các VKTTĐ (Quyết định số 159/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) và

đã đƣợc các bộ, ngành các tỉnh/thành trong các VKTTĐ triển khai thực hiện.

Thứ ba, đƣa ra một số kiến nghị, bao gồm: Xây dựng khung cơ chế chính sách

vĩ mô, nhất là chính sách về tài chính và hỗ trợ nguồn lực cho các vùng; Kiện toàn bộ

máy Ban Chỉ đạo điều phối phát triển các VKTTĐ nhƣ tăng cƣờng quyền hạn cho và

nguồn lực cho Tổ chức điều phối từ Trung ƣơng đến địa phƣơng; Phát huy tính tự chủ

và tính liên kết giữa các địa phƣơng theo nguyên tắc đồng thuận, liên kết cùng có lợi.

- Nguyễn Văn Nam và Ngô Thắng Lợi với “Phát triển VKTTĐ - Một giải pháp

cho mô hình phát triển toàn diện ở Việt Nam” [85, tr.9-15] đã khẳng định phát triển

VKTTĐ ở Việt Nam - mô hình tổ chức phân bố không gian hƣớng tới mục tiêu “tăng

trưởng kinh tế tập trung– xã hội tiến tới công bằng” đã xác định: VKTTĐ chính là

các đầu tầu tạo động lực thực hiện mục tiêu tăng trƣởng nhanh, phát triển bền vững;

Vai trò của hệ thống chính sách phát triển VKTTĐ; Những bất cập trong phát triển

VKTTĐ; Nguyên nhân về cơ chế chính sách của những bất cập trong phát triển vùng.

Đồng thời, đề xuất những định hƣớng hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển VKTTĐ

ở Việt Nam nhằm thực hiện phƣơng châm“tăng trưởng tập trung - xã hội công

bằng”. Hoặc bài viết “Quan điểm chiến lược phát triển VKTTĐ Việt Nam đến 2020”

đã đề cập tới các vấn đề: Thứ nhất, chỉ ra những bất cập về thực trạng phát triển các

VKTTĐ trong phát triển lan tỏa; những bài học quốc tế về phát triển kinh tế theo lãnh

thổ và xu thế phổ biến hiện nay trên thế giới. Thứ hai, đề xuất quan điểm chiến lƣợc

VKTTĐ ở Việt Nam nhằm tạo dựng động lực tăng trƣởng nhanh trong điều kiện

KTTT, hội nhập KTQT; Trở thành khu vực thể hiện tính tập trung và mức độ đậm

đặc về kinh tế; Các VKTTĐ, các khu vực tập trung kinh tế, khu đô thị phải đƣợc tổ

chức theo nguyên tắc hiệu quả, hiện đại và vững chắc, bảo đảm tính chất “ba cao, ba

lớn” - “ba cao”, đó là: nhân lực chất lƣợng cao, công nghệ cao, không gian cao. “Ba

lớn” bao gồm: tổ chức lớn, sản xuất lớn và phải có những ngƣời bạn lớn; Các

VKTTĐ phải tạo dựng các mối liên kết vững chắc trong nội vùng và ngoại vùng; Phát

triển bền vững VKTTĐ đƣợc quán triệt bằng phƣơng châm: “Tăng trưởng cân đối,

phát triển mang tính hòa nhập” ở cấp địa phƣơng, quốc gia và quốc tế; Phải có cơ

quan chủ quản trong việc xác định các định hƣớng, mục tiêu phát triển, đồng thời là

địa chỉ triển khai các chính sách của Chính phủ đối với các VKTTĐ…

24

- Vũ Thành Hƣởng trong“Phát triển các KCN VKTTĐBB theo hướng bền

vững” [77] đã đề cập tới các vấn đề liên quan đến phát triển các KCN trên quan điểm

phát triển bền vững, xây dựng các nhóm chỉ số đánh giá sự phát triển bền vững các

KCN. Kinh nghiệm của một số nƣớc về chính sách phát triển bền vững các KCN;

Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các KCN VKTTĐBB và tác

động của chính sách phát triển KCN với tăng trƣởng kinh tế, công bằng xã hội, sử

dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trƣờng; Chỉ ra các nhân tố không

bền vững trong phát triển các KCN VKTTĐBB; Xây dựng, đề xuất định hƣớng và các

giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm phát triển bền vững các KCN VKTTĐBB…

1.3. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN

1.3.1. Đánh giá khái quát các công trình mà tác giả đã đề cập

- Có nhiều cách tiếp cận, cách lập luận với các thuật ngữ khác nhau, đều xuất

phát từ các nguyên nhân hình thành, sự vận động của các luồng vốn FDI dƣới sự tác

động có tính chủ quan của Nhà nƣớc; Do sự vận động của các quy luật trong KTTT;

Do quá trình toàn cầu hóa... Các TNCs và MNCs phát huy lợi thế độc quyền mở rộng

đầu tƣ, tìm kiếm lợi nhuận, đó là các nguyên nhân chính và là điều kiện cần (cung)

hình thành FDI. Để huy động nguồn lực phát triển và hội nhập KTQT, các nƣớc đi sau

trong đó có Việt Nam sẽ thay đổi chính sách đầu tƣ, thu hút dòng vốn từ nƣớc ngoài,

đó là điều kiện đủ (cầu) để hình thành FDI.

- Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tác động tới tăng trƣởng, phát triển kinh tế,

CDCCKT nói chung hay đối với mặt hàng, ngành kinh tế, vùng kinh tế nói riêng…

- Làm thế nào thu hút đƣợc nguồn lực FDI và tối đa hóa lợi ích từ FDI ở Việt

Nam theo các mục đích khác nhau? Để giải các bài toán đó, các tác giả thƣờng dựa

trên các lý thuyết nhƣ: lý luận Mác xít về cung - cầu vốn của các nhà tƣ bản quốc tế

và sự ra đời của các FIE, một số lý thuyết kinh tế học hiện đại về cung - cầu vốn quốc

tế (Mô hình của Harrod-Domar; Mô hình lý thuyết thƣơng mại quốc tế của

Heckscher-Ohlin-Samuelson (HOS) của A.Mac Douglas; lý thuyết của Macdougall –

Kemp; lý thuyết chiết trung về sự hình thành khu vực FDI của Dunning, lý thuyết về

giai đoạn hay con đƣờng phát triển đầu tƣ (Investment Development Parth – IDP), lợi

thế độc quyền trong hình thành FDI trên thế giới…) để tập trung trả lời các câu hỏi:

Đặc điểm, bản chất, vai trò của FDI? Xu hƣớng vận động của dòng vốn FDI? Thực

trạng thu hút vốn FDI? Những bài học kinh nghiệm rút ra và các giải pháp?...

25

- Một số các công trình đã đƣợc đề cập thƣờng dừng lại ở từng vấn đề nhƣ:

Vai trò của FDI với quá trình CDCCKT nói chung, đối với KCN, với phát triển bền

vững ở các không gian khác nhau hay các vấn đề đơn lẻ nhƣ CCKT, CDCCKT, mối

quan hệ tăng trƣởng kinh tế và phát triển bền vững...; Nhiều công trình nghiên cứu

tiếp cận các vấn đề mang tính chất định tính, cũng có những công trình nghiên cứu

và đề xuất hệ thống các chỉ tiêu, sử dụng mô hình và sử dụng các phƣơng pháp

thống kê, so sánh…để đo lƣờng và đánh giá tính bền vững của CDCCKT…

1.3.2. Các vấn đề cần nghiên cứu và câu hỏi đặt ra

1.3.2.1. Khoảng trống về lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu

- Về mặt lý luận: Cho đến nay, hiếm có công trình nào đi sâu nghiên cứu, luận

giải một cách sâu sắc, có tính hệ thống về cơ sở lý luận về thu hút vốn FDI trong

CDCCKT ở VKTTĐBB. Do vậy, luận án: 1) Xác định khái niệm, đặc điểm của vốn

FDI,CDCCKT và thu hút vốn FDI ở VKTTĐ; 2) Vai trò và hình thức thu hút vốn

FDI; 3) Tác động của FDI tới CDCCKT ở VKTTĐ; 4) Làm rõ những yếu tố ảnh

hƣởng đến thu hút vốn FDI đối với VKTTĐBB; 5) Kinh nghiệm thu hút FDI hƣớng

vào CDCCKT có thể áp dụng vào VKTTĐBB…

- Về mặt thực tiễn: Mặc dù đã có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về tác

động của FDI nhiều nội dung và các cấp độ khác nhau. Nhƣng chƣa thấy công trình

nghiên cứu vấn đề “Thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB”. Theo hƣớng đó và

trên cơ sở căn cứ vào những đặc điểm tự nhiên và KT-XH của vùng, luận án sẽ: 1) Làm

rõ thực trạng thu hút vốn và tác động của FDI đến CDCCKT ở VKTTĐBB; Những hạn

chế và nguyên nhân; 2) Đề xuất những định hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh

thu hút vốn FDI hƣớng vào CDCCKT ở VKTTĐBB trong thời gian tới.

1.3.2.2. Các câu hỏi nghiên cứu của luận án

- Một là, bản chất, vai trò của FDI và CDCCKT trong giai đoạn hiện nay?

- Hai là, sự hình thành của vùng và yêu cầu thu hút vốn FDI trong CDCCKT

ở VKTTĐBB?

- Ba là, các hoạt động thu hút vốn FDI? Những yếu tố ảnh hƣởng đến thu hút

vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB?

- Bốn là, thu hút vốn FDI và sự tác động của nó trong CDCCKT ở

VKTTĐBB? Kết quả, hạn chế và nguyên nhân?

- Năm là, định hƣớng thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB hƣớng

tới đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030? Những giải pháp để thu hút vốn FDI

nhằm CDCCKT theo hƣớng CNH, HĐH ở VKTTĐBB.

26

Chƣơng 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ

TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở

VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM

2.1. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÕ CỦA THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC

NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM

2.1.1. Khái niệm và đặc điểm thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm

2.1.1.1. Thu hút vốn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Khái niệm về FDI: Đầu tƣ là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các

lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tƣơng lai. Nguồn vốn đầu tƣ phát triển có 2 dạng:

Vốn đầu tƣ trong nƣớc; Vốn ĐTNN (Foreign Investment) thƣờng có 2 dạng: đầu tƣ trực

tiếp (Foreign Direct Investment - FDI) và đầu tƣ gián tiếp (FII - Foreign Indirect

Investment) hay (FPI - Foreign Portfolio Investment) - khoản vốn ĐTNN thực hiện qua

định chế tài chính trung gian nhƣ các quỹ đầu tƣ, đầu tƣ trực tiếp trên thị trƣờng chứng

khoán (đầu tƣ Porfolio). Hiện vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về FDI:

+ Quan niệm ở nƣớc ngoài: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng: “FDI là đầu tư

có lợi ích lâu dài của một DN tại một nước khác (nước nhận đầu tư – hosting country)

không phải nước mà DN đang hoạt động (nước đi đầu tư – source country) với mục

đích quản lý một cách có hiệu quả DN” [137, tr.27]. Hay Liên hợp quốc (UN): đây là

khoản đầu tƣ dài hạn và phản ánh lợi ích lâu dài có sự kiểm soát của nhà ĐTNN hoặc

công ty mẹ với các xí nghiệp khác của mình ở một nền kinh tế khác [160]. Ngân hàng

thế giới (WB) cho rằng: phải “thành lập hoặc mua lại một phần đáng kể sở hữu và

quản lý ít nhất là 10% vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp của một nước khác” [10,

tr.11]. Hoạt động FDI có liên quan tới hai chủ thể là nhà đầu tƣ trực tiếp (Direct

Investor) và DN đầu tƣ trực tiếp (Enterprise Direct Investor) với các giao dịch về vốn

thông qua sự liên kết hoặc không liên kết. I. A.Moosa [165] có sự giải thích và làm rõ

hơn về yếu tố kiểm soát -“Control” và quyền ra quyết định của các nhà đầu tƣ chiến

lƣợc phát triển kinh doanh của họ. Hay Maitena Duce, Banco de Espana…[157]. Các

khái niệm trên đều nhấn mạnh đến phân chia quyền kiểm soát của công ty và quyền sở

hữu công ty của nhà đầu tƣ, chi nhánh hay các công ty hợp tác nhƣ thế nào thì đƣợc gọi

là đầu tƣ trực tiếp (Direct Investor) từ đó phân biệt với hình thức đầu tƣ khác hay nó thể

hiện bản chất của FDI. Tuy nhiên, các khái niệm trên chƣa đề cập đến kết quả đầu tƣ.

27

Với lý luận về “xuất khẩu tư bản”, V.I.Lenin cho rằng do có lƣợng “tư bản

thừa tương đối”, không tìm đƣợc nơi đầu tƣ có lợi. Trong khi đó ở các nƣớc chậm

phát triển, có nguồn tài nguyên thiên nhiên chƣa đƣợc khai thác và lao động giá rẻ,

lại thiếu vốn đầu tƣ, hứa hẹn là nơi đầu tƣ thu đƣợc nhiều lợi nhuận, đã dẫn đến việc

di chuyển vốn từ các nƣớc phát triển sang các nƣớc chậm phát triển. Việc xuất khẩu

tƣ bản nhƣ thế sẽ hình thành nên FIE với các hình thức nhƣ: xuất khẩu tƣ bản cho

vay (thu lợi tức) và xuất khẩu tƣ bản hoạt động (thu lợi nhuận). FIE là một bộ phận

cấu thành của nền kinh tế, các DN đó thƣờng đƣợc hiểu là các FIEs [141].

+ Quan niệm ở Việt Nam: ĐTNN và FDI đã đƣợc đề cập trong các văn bản

pháp luật về đầu tƣ và đã đƣợc sửa đổi một số lần (Điều lệ ĐTNN ban hành kèm theo

Nghị định số 115/1997/NĐ-CP của Chính phủ; Luật ĐTNN năm 1987, năm 1996,

năm 2000). Luật Đầu tƣ năm 2005: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu

tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” còn “Nhà ĐTNN là tổ chức,

cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”[98, Tr.8].

Các khái niệm trên đều mạnh đối tƣợng của đầu tƣ mà nhà ĐTNN mang vào để tiến

hành hoạt động đầu tƣ? Hình thức đầu tƣ do nhà đầu tƣ bỏ vốn và tham gia quản lý?

Từ những các phân tích trên, tác giả luận án thống nhất và cho rằng: FDI là

hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế, cá nhân ở quốc gia nào đó tự mình kết hợp

với các tổ chức kinh tế, cá nhân, của một nước khác tiến hành bỏ vốn bằng tiền hoặc

tài sản vào nước này dưới một hình thức đầu tư nhất định. Họ tự mình hoặc cùng

chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động SX-KD cũng như kết quả

kinh doanh căn cứ vào tỷ lệ nắm giữ quyền kiểm soát và sở hữu vốn.

- Khái niệm về thu hút vốn FDI: Là những hoạt động nhằm vận động, kích

thích và chuẩn bị các điều kiện để thực hiện FDI của nước hay địa phương sở tại

muốn nhận FDI. Cụ thể:

+ Thu hút vốn FDI là những hoạt động nhằm vận động các nhà ĐTNN đầu tƣ

vào một nƣớc hoặc một địa phƣơng của một nƣớc sở tại;

+ Việc thu hút vốn FDI gồm rất nhiều nội dung, biện pháp và phải có những

bƣớc đi thích hợp cũng nhƣ đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều chủ thể: các cá nhân,

các tổ chức, các DN và nhà nƣớc;

+ Thu hút vốn FDI có các hình thái chủ động và bị động. Hình thái chủ động là

các chủ thể ở các nƣớc sở tại tích cực, chủ động tìm kiếm đối tác, thuyết phục họ đầu

tƣ vào Việt Nam và địa phƣơng mình; tạo dựng hành lang pháp lý khuyến khích FDI

vào những ngành, lĩnh vực và các TPKT cần thu hút đầu tƣ. Hình thái bị động là chờ

28

các đối tác đến, giới thiệu và đề xuất với nhà đầu tƣ để đi đến quyết định đầu tƣ. Hiện

nay, đang xuất hiện rất nhiều phƣơng thức cạnh tranh gay gắt trong thu hút vốn FDI.

Do đó, đòi hỏi phải có sự phân tích đúng tình hình và phải có các biện pháp sáng tạo,

có những đổi mới trong xúc tiến đầu tƣ, phải chủ động thu hút vốn FDI… thì mới có

thể dành đƣợc những thắng lợi nhất định trong thu hút vốn FDI.

- Đặc điểm của FDI:

+ Về quan hệ sở hữu: khi nói về FIE hay FDI, thƣờng nhấn mạnh chủ đầu tƣ

vốn FDI là chủ sở hữu vốn, là hình thức chu chuyển vốn quốc tế trong đó vốn và chủ

đầu tƣ quốc tế có quốc tịch nƣớc ngoài. Vốn của nhà đầu tƣ bao gồm những nguồn

vốn nào? Hiện nay có 2 quan niệm khác nhau:

 Vốn của nhà đầu tƣ là vốn riêng, vốn điều lệ hay vốn pháp định của họ. Mục

tiêu về FDI là thu hút nguồn vốn đầu tƣ mà nƣớc nhận đầu tƣ đang còn khan hiếm.

 Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn riêng, vốn đầu tƣ ban đầu của chủ ĐTNN

dƣới hình thức vốn điều lệ hoặc vốn pháp định, mà còn vốn vay của dân cƣ, và các

nhà đầu tƣ khác ở nƣớc nhận vốn để cùng đầu tƣ triển khai, mở rộng dự án cũng nhƣ

vốn đầu tƣ đƣợc trích lại từ lợi nhuận sau thuế từ kết quả hoạt động SX-KD.

Luận án cho rằng, quan điểm thứ 2 phù hợp hơn trong điều kiện hiện nay. Tuy

nhiên, nƣớc sở tại phải có chính sách tài chính phù hợp nhƣ cần: giới hạn tỷ lệ và có

cơ chế kiểm soát lƣợng vốn vay chặt chẽ… tránh trƣờng hợp một số nhà ĐTNN lợi

dụng chỉ đƣa một lƣợng vốn nhỏ vào còn sau đó tiến hành vay vốn ở nƣớc sở tại để

thực hiện đầu tƣ, mở rộng SX-KD làm ảnh hƣởng đến mục đích thu hút vốn ĐTNN

của các nƣớc sở tại nhƣ rƣờng hợp dự án Kenmark ở Hải Dƣơng (xem phụ lục 2).

+ Về quan hệ quản lý: nhà ĐTNN hoạt động bằng nguồn vốn tự có hay đi vay

thì về mặt pháp lý họ phải chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển nguồn vốn đó. Họ

là ngƣời chủ hoặc đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý điều hành FIEs. Tuy

nhiên, trong điều kiện hiện nay cùng với việc tách rời chủ sở hữu DN với chủ kinh

doanh, ngày càng có nhiều nhà đầu tƣ thuê giám đốc điều hành tại các nƣớc tiếp nhận

đầu tƣ. Các nhà đầu tƣ vẫn bảo đảm đƣợc quyền sở hữu của họ, giám đốc điều hành

hay đội ngũ cán bộ quản lý tiếp thu đƣợc kỹ năng điều hành SX-KD hiện đại.

+ Về quan hệ phân phối: phân phối trong FIEs thực hiện theo nguyên tắc của

KTTT, đó là phân phối dựa vào kết quả SX-KD và sở hữu. Theo đó, nhà đầu tƣ có

vốn sẽ thu lợi nhuận, lợi tức, nhà nƣớc là chủ sở hữu đất đai sẽ thu địa tô, ngƣời lao

động làm việc sẽ nhận đƣợc tiền công. Nhà ĐTNN phải đóng góp một tỷ lệ nhất

định lƣợng vốn tùy theo quy định của mỗi nƣớc và thay đổi theo thời gian. Tỷ lệ vốn

29

đầu tƣ sẽ quyết định việc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ đầu tƣ theo

quy định của nƣớc sở tại. FDI là hình thức xuất khẩu tƣ bản có thể dễ gây ra những

ảnh hƣởng tới lợi ích quốc gia đối với nƣớc nhận đầu tƣ.

+ Các đặc điểm khác:

 Chủ đầu tƣ thực hiện đầu tƣ tại các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ nên phải tuân thủ

các quy định do pháp luật của nƣớc sở tại.

 Chính phủ ngày càng có vai trò quan trọng trong ĐTNN. Đối với các TNCs,

MNCs có nhiều lý do để giải thích cho hoạt động đầu tƣ của mình bao gồm: tìm kiếm

thị trƣờng, tránh đầu tƣ vào một địa điểm để chịu nhiều rủi ro và trốn thuế…

 Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài do các chủ đầu tƣ quyết định và tự chịu trách

nhiệm về kết quả SX-KD, nên hình thức này thƣờng mang lại tính khả thi và hiệu

quả kinh tế cao. Đây là một dự án mang tính lâu dài.

 Một quốc gia vừa đồng thời là nƣớc đi đầu tƣ và tiếp nhận FDI. FDI gắn

liền với quá trình hội nhập và quá trình tự do hóa. Do đó, chính sách nƣớc tiếp nhận

FDI cần đƣợc thể hiện quan điểm mở cửa và hội nhập.

2.1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Có nhiều quan niệm về cơ cấu của nền kinh tế hay CCKT. Từ cách tiếp cận

đối tƣợng của luận án, tác giả đồng tình với quan niệm cho rằng: CCKT là một phạm

trù kinh tế, là tổng thể của nhiều bộ phận phức hợp và yếu tố cấu thành nền KTQD,

tạo nên một tập hợp các mối quan hệ hữu cơ, sự tác động qua lại của chúng trong

những điều kiện KT-XH và không gian, môi trường cụ thể, luôn vận động, thay đổi

thể hiện đặc điểm cơ chế của nền kinh tế và tính chất của chế độ xã hội [71, Tr.40-

44]. CCKT không chỉ đề cập về mặt định lƣợng mà còn rất coi trọng mặt định tính

thể hiện qua mối quan hệ và tƣơng tác giữa các bộ phận và các yếu tố hợp thành,

nhất là giữa các chủ thể kinh tế thông qua các mối liên kết theo chiều dọc và chiều

ngang. Mối liên kết dọc đƣợc biểu hiện thông qua sự tác động trực tiếp của các bộ

phận cấu thành nền KTQD, đó là mối liên kết giữa trung ƣơng, địa phƣơng và các

ngành; giữa ngành, tập đoàn kinh tế với DN; Mối liên kết ngang là mối liên kết giữa

các DN hay ngành kinh tế với nhau… Các chủ thể kinh tế và mối liên hệ giữa chúng

giữ vai trò quan trọng, quyết định tốc độ tăng trƣởng và quy mô của sự CDCCKT.

- Phân loại CCKT: Từ góc nhìn của quá trình phân công lao động và tái sản

xuất xã hội, có thể phân chia CCKT xét theo các góc độ: Phân công lao động xã hội

có cơ cấu ngành; Phân công theo vùng có CCKT lãnh thổ; Góc độ quan hệ sở hữu

có cơ cấu TPKT…(xem phụ lục 3).

30

+Về cơ cấu ngành kinh tế: Là tổ hợp các ngành với các tƣơng quan tỷ lệ, biểu

hiện mối quan hệ giữa các ngành của nền kinh tế và phản ánh trình độ của phân

công lao động xã hội và lực lƣợng sản xuất. Việc nghiên cứu CCKT ngành nhằm tìm

ra những cách thức duy trì tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ƣu tiên

trong điều kiện nguồn lực ở mỗi thời kỳ, để thúc đẩy nhanh và hiệu quả nhất [107,

tr.32-33]. CCKT ngành bị chi phối bởi các quy trình kỹ thuật, công nghệ và yêu cầu

thị trƣờng; các yếu tố chính trị, xã hội… Để xem xét số lƣợng các ngành tạo nên nền

kinh tế và chất lƣợng các mối quan hệ giữa chúng, ngƣời ta thƣờng chia nền kinh tế

thành các nhóm ngành để quan sát cả về định lƣợng và định tính với các mối quan

hệ trực tiếp và gián tiếp [149, tr.221-228].

 Cơ cấu theo nhóm ngành kinh tế lớn hay khu vực (cấp1): Nhóm ngành nông,

lâm, ngƣ nghiệp và thủy sản; Nhóm ngành công nghiệp, xây dựng; Nhóm ngành dịch

vụ. Trong thực tế, không phải lúc nào khi tỷ trọng công nghiệp cao cũng nói lên CCKT

hiện đại hoặc có hiệu quả. Đơn cử nhƣ khi tỷ trọng công nghiệp/GDP lớn và nông, thủy

sản qua chế biến/GDP tuy cao nhƣng NSLĐ thấp, ngân sách thu đƣợc ít, để tạo ra 1 đơn

vị GDP cần tiêu hao điện năng lớn… thì CCKT đó không hiệu quả [150, tr.100]. Hiện

nay, bảng phân ngành KTQD của Việt Nam đƣợc xây dựng trên cơ sở ISIC Rev.4 và

khung phân ngành chung của ASEAN (ACIC). Đồng thời căn cứ tình hình thực tế,

Tổng cục Thống kê đã phát triển hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam (Vietnam

Standard Industrial Classification 2007 – VSIC 2007) có 21 nhóm ngành cấp 1; 88

ngành cấp 2; 242 ngành cấp 3; 437 ngành cấp 4 và 642 ngành cấp 5.

 Cơ cấu ngành dựa trên phƣơng thức và công nghệ sản xuất: nông nghiệp

(nông, lâm, ngƣ nghiệp) và phi nông nghiệp (công nghiệp, xây dựng, dịch vụ).

Việc phân chia này để dễ quan sát trình độ của cơ cấu và các yếu tố thúc đẩy

tăng trƣởng kinh tế trên cơ sở phƣơng thức và công nghệ tạo ra sản phẩm. Khi nhóm

ngành phi nông nghiệp ngày càng phát triển và chiếm tỷ trọng càng lớn thì nền kinh

tế càng phát triển và việc di chuyển dân cƣ nông thôn, nông nghiệp sang thành thị và

các ngành phi nông nghiệp là vấn đề có tính quy luật tiến tới sự hiện đại. Theo nhiều

nghiên cứu xác định ngành phi nông nghiệp chiếm >85% lao động xã hội, và >80%

GDP thì đƣợc coi là nƣớc phát triển [150, tr.100]. Những DN có trình độ công nghệ

cao sẽ quyết định sự phát triển của CCKT, nhƣng đối với các nƣớc nhƣ Việt Nam

nhu cầu việc làm lớn thì việc duy trì lƣợng DN sử dụng nhiều lao động trong chừng

mực nào đó là cần thiết, có ý nghĩa toàn dụng lao động để tăng trƣởng kinh tế;

31

Cơ cấu nhóm ngành dựa vào tính chất sản phẩm cuối cùng (vật chất và dịch

vụ). Việc phân chia này nhằm nghiên cứu sự hài hòa giữa các ngành trong nền

KTQD, nhất là trong quá trình CNH, HĐH càng cần quan sát các nhóm ngành này.

Dịch vụ phát triển làm “trơn tru” các quá trình SX-KD và ngƣợc lại. Vì nếu xét theo

hành vi tăng trƣởng (tham gia tăng trƣởng) thì các ngành này luôn có mối qua hệ

khăng khít theo một tƣơng quan nhất định. Trong đó, các ngành dịch vụ phải tăng

nhanh hơn các ngành sản xuất vật chất.

Khi xem xét CCKT, cần chú ý tới tỷ trọng hay mức độ đóng góp của các sản

phẩm chủ lực, sản phẩm hàm chứa công nghệ cao, VA lớn. Nếu các sản phẩm này

càng lớn thì chất lƣợng nền kinh tế càng tốt và ngƣợc lại. Một nền kinh tế đƣợc coi

là phát triển thì các ngành chế tác phải chiếm >30% GDP. Mặt khác, phải chú ý đến

cơ cấu nội bộ của các ngành kinh tế. Tính hợp lý trong nội bộ cơ cấu ngành sẽ bảo

đảm tính hiệu quả cho sự phát triển của nền kinh tế.

+ Về cơ cấu theo vùng lãnh thổ: hình thành từ phân bổ sản xuất theo không

gian, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, KT-XH. Cơ cấu lãnh thổ hình thành đồng thời

với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế. Trong một vùng cụ thể, cơ cấu

lãnh thổ phản ánh sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện lãnh thổ đó [67].

Hiện nay, chính sách phát triển lãnh thổ thƣờng là chính sách phát triển mang

tính tổng hợp, có ƣu tiên một số ngành trọng điểm, gắn liền với sự hình thành và

phát triển của cộng đồng dân cƣ và phân bố hệ thống đô thị. Sự phát triển hài hòa

giữa thành thị và nông thôn sẽ đem lại tiền đề cần thiết cho phát triển đất nƣớc. Đô

thị đƣợc coi là là nhân tố trung tâm của vùng lãnh thổ và giữ vai trò động lực. Nông

thôn đƣợc coi là hậu phƣơng của khu vực thành thị. Nhiều vấn đề nhƣ việc làm,

lƣơng thực, thực phẩm… của thành thị đƣợc nông thôn cung cấp, ngƣợc lại những

vấn đề công nghệ, lao động có đào tạo, thị trƣờng… của nông thôn đƣợc giải quyết

từ thành thị. Tuy nhiên, khi xem xét cơ cấu lãnh thổ cần chú ý tới các góc độ: cơ cấu

lãnh thổ phát triển và chậm phát triển, cơ cấu lãnh thổ động lực … để có chính sách

phát triển hài hòa giữa các vùng lãnh thổ [149, tr.119-139].

+ Về cơ cấu theo thành phần: là việc xem có bao nhiêu quan hệ và loại hình kinh

tế trong hệ thống kinh tế dƣới góc độ sở hữu. Ở Việt Nam từ Đại hội VI đến nay của

Đảng, đã chỉ rõ: “Phát triển nền KTTT định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu,

nhiều TPKT, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các TPKT hoạt

động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng

trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”[63, tr.73].

32

Cơ cấu TPKT tiếp cận theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XI gồm: Kinh tế nhà

nƣớc (State) giữ vai trò chủ đạo; Kinh tế tập thể (Collective) không ngừng đƣợc củng

cố và phát triển. Kinh tế nhà nƣớc cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng

vững chắc của nền KTQD; Kinh tế tƣ nhân (Private) là một trong những động lực của

nền kinh tế; Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN (Foreign Invested Sector) hay kinh tế có

vốn ĐTNN (Foreign Investment Economy - FIE) đƣợc khuyến khích phát triển.

Chế độ sở hữu là cơ sở căn bản hình thành cơ cấu TPKT. Một cơ cấu thành

phần hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống tổ chức kinh tế với chế độ sở hữu có khả

năng thúc đẩy sự phát triển lực lƣợng sản xuất, phân công lao động xã hội và quan

hệ sản xuất… Trong điều kiện toàn cầu hóa, việc phân định có thể chia thành hai

loại hình kinh tế: kinh tế nhà nƣớc và kinh tế phi nhà nƣớc. Trong kinh tế phi nhà

nƣớc thì bộ phận FIE có ý nghĩa riêng và cần đƣợc nghiên cứu thấu đáo. Sự gia tăng

của FDI tất yếu biến đổi và làm cho vai trò của TPKT có vốn ĐTNN ngày càng

chiếm giữ vị trí quan trọng.

- Khái niệm và bản chất của CDCCKT: Các nghiên cứu thƣờng có các cách tiếp

cận riêng, nhƣng đều tập trung chủ yếu vào xu hƣớng chuyển dịch có hiệu quả nhất cho

nền KTQD. Đồng thời, cố gắng tiếp cận các nhân tố tác động nhƣ CNH, HĐH; chuyển

đổi mô hình kinh tế, thể chế, hay sự chi phối bởi toàn cầu hóa và kinh tế tri thức.

+ Theo cách hiểu thông thƣờng: CDCCKT là sự thay đổi trạng thái cơ cấu của

nền kinh tế từ thời điểm này sang thời điểm khác. Cách hiểu này chƣa phản ánh

đƣợc bản chất (về số lƣợng, chất lƣợng của CCKT) và chƣa nêu đƣợc mục đích của

quá trình chuyển dịch, sự điều khiển của con ngƣời trong quá trình chuyển dịch.

+ Theo Ngô Doãn Vịnh: CDCCKT là sự thay đổi tỷ lệ thành phần trong

CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm có được sự phát triển tốt hơn,

hiệu quả hơn [150], hay Phạm Thị Khanh: “CDCCKT là sự biến đổi CCKT từ trạng

thái này sang trạng thái khác trong một thời kỳ nhất định trên cơ sở phù hợp với

điều kiện khách quan và chủ quan, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển” [79, tr.12].

Đây là sự biến đổi CCKT trong một thời kỳ nhất định, một cách có hƣớng đích và bị

chi phối bởi nhân tố chủ quan - năng lực nhận thức của con ngƣời, chi phối mục

tiêu, định hƣớng phát triển nền kinh tế. Các quan niệm này vừa khắc phục đƣợc

những điểm yếu nêu trên, đồng thời đã đƣa ra đƣợc mục tiêu của CDCCKT.

+ Tiếp cận từ thực trạng và xu hƣớng tái cơ cấu hiện nay, cần hiểu:

“CDCCKT là sự thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với

môi trường phát triển. Sự dịch chuyển này không đơn thuần là sự thay đổi về vị trí,

33

mà là sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng trong nội bộ cơ cấu. Việc CDCCKT

phải dựa trên cơ sở của một cơ cấu hiện có, do đó nội dung CDCCKT là bổ sung,

cải tạo cơ cấu cũ, không phù hợp để từng bước xây dựng một cơ cấu mới phù hợp

hơn, tiên tiến và hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH trong thời kỳ mới”. Để

làm rõ bản chất của CDCCKT cần chú ý một số nội dung sau đây:

 Chuyển dịch CCKT diễn ra một cách thƣờng xuyên, liên tục theo hai

khuynh hƣớng: chuyển dịch tự phát (do các yếu tố kinh tế, kỹ thuật tác động) và

chuyển dịch tự giác hay chủ động (từ nhận thức đƣợc yêu cầu khách quan). Sự tác

động làm cho quá trình CDCCKT đáp ứng các mục tiêu phát triển của nền kinh tế.

 Chuyển dịch CCKT không đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là quá trình

tích lũy về lƣợng, dẫn đến sự thay đổi về chất với yêu cầu và phƣơng hƣớng tiến bộ

hơn mang tính quy luật, với sự thay đổi tỷ lệ và mối quan hệ tƣơng quan trên nhiều

khía cạnh. Trong đó có các khía cạnh căn bản: theo ngành, lãnh thổ và TPKT.

 Chuyển dịch CCKT từ đơn giản đến phức tạp; phạm vi liên kết ngày càng

rộng, từ trong nƣớc ra ngoài nƣớc; từ trạng thái thấp sang trạng thái cao nhằm đem

lại lợi ích lớn hơn qua các thời kỳ phát triển.

 Chuyển dịch CCKT phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ vai trò của từng

bộ phận và phù hợp với điều kiện thực tế.

2.1.1.3. Vùng kinh tế trọng điểm

- Khái niệm vùng kinh tế: Không giống nhƣ vùng địa lý đơn thuần, vùng kinh

tế mang tính "động" do các hình thái, phƣơng thức và các nội dung hoạt động kinh

tế của con ngƣời. Các tính chất đặc trƣng về vùng kinh tế bắt đầu có những biến đổi,

đặc biệt là về không gian và chức năng kinh tế của vùng.

+ Vùng kinh tế gắn liền với sự phát triển của ngành địa lý kinh tế. Đến những

năm 1960, lý thuyết mới về vùng kinh tế và địa lý kinh tế đƣợc xuất hiện với cuộc

cách mạng định lƣợng đã lý giải về vị trí đến việc giải thích về hành vi của khoa học

không gian. Tiếp đó, những năm 1980, lý thuyết mới về địa lý công nghiệp với sự

phối hợp của đổi mới lý thuyết và bối cảnh kinh tế thay đổi nhanh chóng.

+ Theo nhà địa kinh tế học, Alaev: vùng kinh tế là một bộ phận lãnh thổ

nguyên vẹn của nền KTQD, có những dấu hiệu chuyên môn hoá những chức năng

KTQD cơ bản; tính tổng hợp: được hiểu theo nghĩa rộng như là mối quan hệ qua lại

giữa các bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong CCKT và cơ cấu lãnh thổ của

vùng...có tổ chức trong bộ máy quản lý lãnh thổ nền KTQD [1].

34

+ Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đƣợc diễn ra mạnh mẽ làm xuất

hiện những khái niệm mới nhƣ chuỗi giá trị toàn cầu, hệ thống phân phối toàn cầu,

đầu tƣ ra nƣớc ngoài (offshore), khu vực hậu cần (logistic), hoặc cụm tƣơng hỗ

(cluster)... nhằm tạo ra những giá trị lớn hơn. Các dòng FDI, các luồng thƣơng mại,

cũng nhƣ các hiệu ứng công nghệ (technology spillover) đƣợc luân chuyển nhanh chóng giữa các quốc gia thông qua các MNCs, TNCS và quan niệm về vùng đã có sự thay đổi. Barnet cho rằng [9, tr.15]: một đơn vị cạnh tranh của một quốc gia trong nền

kinh tế toàn cầu, cần phải có cách tiếp cận mới là phải hợp tác vùng và coi đó là chiến

lƣợc không thể thiếu cho tƣơng lai. Các lý thuyết liên quan đến vùng đã đƣợc ứng

dụng mạnh mẽ nhƣ lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter và mô hình phân tích

không gian của Paul Krugman. Điều đặc biệt là các lý thuyết, mô hình về vùng này

đƣợc tập trung phân tích hành vi của ngƣời lao động và các DN liên quan đến vùng.

+ Theo Ngô Doãn Vịnh: vùng kinh tế là một hệ thống KT-XH lãnh thổ, bao

gồm các mối liên hệ tƣơng tác nhiều chiều giữa các bộ phận cấu thành: liên hệ địa lý,

về kỹ thuật, về kinh tế và liên hệ về các mặt xã hội trong hệ thống cũng nhƣ với ngoài

hệ thống. Mỗi vùng là một tập hợp các thành tố tự nhiên, KT-XH. Đặc tính và trình độ

phát triển của nó đƣợc phản ánh bởi CCKT, cơ cấu xã hội và cơ cấu các yếu tố tự

nhiên. Đây là thuộc tính quan trọng nhất và để phân chia các vùng [148, tr.184].

+ Theo Nghị định 92/2006/NĐ-CP của Chính phủ: Vùng KT-XH là một bộ phận

của lãnh thổ quốc gia có các hoạt động KT-XH tiêu biểu, thực hiện sự phân công lao

động xã hội trên phạm vi cả nước. Đây là loại vùng có quy mô diện tích, dân số ở cấp

lớn nhất, phục vụ việc hoạch định các chiến lược, các kế hoạch phát triển theo lãnh thổ

cũng như để quản lý các quá trình KT-XH trên mỗi vùng của đất nước [37].

- Căn cứ phân vùng kinh tế:

+ Phân vùng là việc phân chia lãnh thổ đất nƣớc ra những đơn vị đồng cấp,

phục vụ cho một mục đích nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu hiểu

“vùng” là một thực thể khách quan, thì phân vùng là sản phẩm của tƣ duy khoa học

dựa trên một số chỉ tiêu và phƣơng pháp mà ngƣời nghiên cứu, quản lý lựa chọn để

phân định vùng. “Phân vùng là một loại hệ thống hoá theo lãnh thổ, nó cùng với phân

vị, phân loại, phân nhóm, phân kiểu giúp người nghiên cứu khái quát được một số nét

về một không gian nào đó, từ đó có những dự báo cho không gian đó”. Có hai cách

phân vùng để xác định các vùng cho phát triển KT-XH và tổ chức lãnh thổ:

 Phân ngang theo lƣu vực sông, theo ranh giới các vùng hành chính kinh tế.

Cách phân vùng này gần phù hợp với cách phân vùng tổng hợp KT-XH hiện nay;

35

 Phân theo các dải lãnh thổ có địa hình giống nhau nhƣ dải đồng bằng và

ven biển, dải trung du và cao nguyên, dải núi cao và biên giới [111, tr.21-22].

+ Ranh giới vùng kinh tế khác với ranh giới các vùng tự nhiên: ranh giới vùng

tự nhiên có thể cắt ngang qua một tỉnh, hoặc huyện lỵ… Thế nhƣng ranh giới một

vùng kinh tế thì không thể cắt ngang qua một tỉnh…Một vùng kinh tế phải thể hiện

sự liên kết giữa các tỉnh láng giềng với nhau để tạo ra một tổng thể lãnh thổ phát

triển kinh tế toàn diện với sự góp mặt của các ngành kinh tế chủ yếu [136].

+ Trên cơ sở tổng phân bổ lực lƣợng sản xuất để phân vùng. Do đó, sự phân

vùng kinh tế theo 2 nghĩa:

 Vùng KT-XH tổng hợp: đƣợc phân chia trên quan điểm quan sát tổng hợp tất

cả các yếu tố tham gia, đƣợc coi nhƣ hệ thống KT-XH theo lãnh thổ có cơ cấu ngành

kinh tế đa dạng. Vùng KTTĐ với tƣ cách là các địa bàn chiến lƣợc, với nhiều lợi thế so

sánh, có khả năng phát triển nhanh, tạo động lực cho các vùng khác phát triển;

 Vùng kinh tế ngành bao gồm: dựa trên các yếu tố đầu vào của mỗi ngành

mà có các vùng kinh tế ngành khác nhau: vùng nông nghiệp (hay còn gọi là vùng

sinh thái nông nghiệp); vùng công nghiệp, vùng du lịch…

- Vùng KTTĐ: Trong thực tế đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Tác giả

đồng tình với một số quan điểm và cho rằng: Vùng KTTĐ là một vùng lãnh thổ (gồm

một số tỉnh), là bộ phận đặc thù của nền KTQD, có tính chuyên môn hóa cao kết

hợp chặt chẽ với phát triển tổng hợp, cần thoả mãn một số yếu tố sau:

+ Phạm vi bao gồm nhiều tỉnh, thành phố có đặc điểm khá tƣơng đồng nhau

(về vị trí, điều kiện tự nhiên, tiềm năng, thế mạnh...). Số lƣợng và phạm vi có thể

thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào chiến lƣợc phát triển KT-XH của đất nƣớc.

+ Chiếm tỉ trọng lớn trong tổng GDP của quốc gia và trên cơ sở đó, nếu đƣợc

đầu tƣ tích cực sẽ có khả năng tạo ra tốc độ phát triển nhanh cho cả nƣớc.

+ Có các điều kiện thuận lợi, đã tập trung tiềm lực kinh tế nhƣ: kết cấu hạ tầng,

có lao động kỹ thuật, các trung tâm đào tạo và nghiên cứu, hấp dẫn các nhà đầu tƣ...

+ Có khả năng tạo tích luỹ đầu tƣ, đồng thời có thể tạo nguồn thu ngân sách

lớn. Trên cơ sở đó, vùng không những chỉ tự đảm bảo cho mình, mà còn có khả

năng hỗ trợ một phần cho các vùng khác khó khăn hơn.

+ Có khả năng thu hút những ngành mới và các ngành then chốt, từ đó có tác

động lan truyền sự phân bố các ngành trên các vùng xung quanh với chức năng là

trung tâm của một lãnh thổ rộng lớn [148].

Luận án cho rằng: Thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐ là các hoạt động

36

nhằm tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư của nhà ĐTNN vào VKTTĐ của nước

sở tại, đáp ứng yêu cầu về quy hoạch, định hướng phát triển và CDCCKT của vùng

đó. Hoạt động của vốn FDI có tác động tới quá trình CDCCKT và sự phát triển

không chỉ đối với sự phát triển VKTTĐ, mà còn tác động lan tỏa đến các vùng khác.

2.1.2. Các hình thức đầu tƣ và thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

2.1.2.1. Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Hình thức FDI đƣợc xem là cách thức thực hiện những kênh đƣa vốn từ bên

ngoài vào nƣớc nhận đầu tƣ và nó phụ thuộc chủ yếu vào chính sách, định hƣớng thu

hút FDI của nƣớc nhận đầu tƣ. Có nhiều cách phân loại:

+ Căn cứ vào kênh đầu tƣ, FDI đƣợc thực hiện theo 2 kênh: đầu tƣ mới

(Greenfield Investment – GI); sát nhập và mua lại (M&A).

+ Căn cứ vào mục đích đầu tƣ, phía chủ đầu tƣ gồm ba loại: FDI theo chiều

ngang (Horizotal Intergration - HI) nhằm mục đích mở rộng sản xuất các sản phẩm ở

các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ (host country) nhƣ các sản phẩm ở các nƣớc của nhà đầu tƣ

trực tiếp (home country). FDI theo chiều dọc (Vertical Intergration - VI) có mục đích

là nhằm vào việc khai thác nguồn nguyên liệu hay thị trƣờng tại chỗ thông qua kênh

phân phối [165]. Đối với nƣớc tiếp nhận đầu tƣ, FDI có thể đƣợc phân loại thành FDI

thay thế nhập khẩu, FDI gia tăng sản xuất và xuất khẩu hàng hóa sang các nƣớc đầu tƣ

hoặc các nƣớc khác mà MNCs có chi nhánh và FDI theo nỗ lực của Chính phủ (thông

qua FDI để cân bằng cán cân thanh toán, phát triển sản xuất..) [159].

- Maitena Duce, Banco de Espana phân loại: FDI dựa vào hƣớng đầu tƣ về tài

sản và trách nhiệm pháp lý theo cách nhìn nhận của nƣớc chủ nhà. Việc mở rộng tài

chính của công ty mẹ sang hệ thống chi nhánh ở nƣớc khác đƣợc coi là FDI. Còn từ

phía các nƣớc nhận đầu tƣ thì có chiều ngƣợc lại. Ngoài ra, FDI còn đƣợc phân loại dựa

vào công cụ đầu tƣ (nguồn hình thành của FDI nhƣ: vốn chủ sở hữu, các khoản thu

nhập từ tái đầu tƣ, các khoản vay nợ, liên doanh…). FDI phân loại theo ngành (FDI

chảy vào ngành nào thì tính cho ngành đó). Khi tính vào ngành nào thì cần chú ý lĩnh

vực mà công ty mẹ đang hoạt động. Nhƣ vậy, cách phân loại trên đƣợc dùng cho các

nƣớc chủ nhà đi đầu tƣ áp dụng để phân loại dòng vốn đầu tƣ ra nƣớc ngoài [157].

- Cách tiếp cận pháp lý của Việt Nam: Theo Luật Đầu tƣ năm 2005, FDI gồm

các hình thức chủ yếu sau: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà ĐTNN;

Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh; Đầu tƣ theo hình thức hợp đồng BCC, BOT,

BTO, BT hay PPP; Đầu tƣ phát triển kinh doanh; M&A; Mua cổ phần hoặc góp vốn

để tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ…

37

Có nhiều cách tiếp cận để phân loại nhƣ: theo bản chất; tính chất dòng vốn

hay mục đích, động cơ để phân loại FDI. Mỗi hình thức FDI đều có những đặc điểm,

ƣu thế riêng. Do vậy, cần phải đa dạng hóa các hình thức FDI sao cho phù hợp với

cơ cấu chung của nền kinh tế, quy hoạch phát triển lực lƣợng sản xuất của quốc gia,

từng ngành, từng địa phƣơng với mục tiêu là huy động có hiệu quả nguồn vốn FDI

cho CDCCKT, tăng trƣởng và phát triển bền vững (xem phụ lục 4).

2.1.2.2. Hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng của các quy hoạch và công bố

rộng rãi các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thu hút vốn FDI đã được phê duyệt.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà ĐTNN tiếp cận thông tin về quy hoạch để xây

dựng kế hoạch đầu tƣ và triển khai dự án sau khi đã đƣợc cấp phép...

+ Cần tránh quan điểm sai lầm “coi nhẹ hoặc phủ nhận FDI”, coi FDI nhƣ là

một nhân tố có hại cho nền kinh tế hoặc ngƣợc lại là có ảo tƣởng về tính màu nhiệm

của FDI (FDI không tự nó quyết định thành công của sự phát triển, nó phải kết hợp

đồng bộ với các nguồn lực khác).

+ Xử lý hài hòa quan điểm "mở cửa" và "che chắn": xuất phát từ mâu thuẫn

giữa hai mục đích của chủ đầu tƣ và nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Sự khác biệt về mục tiêu

khi vƣợt quá mức độ nào đó sẽ thiếu sự đảm bảo an ninh, chính trị, KT-XH, gây trở

ngại đối với cả hai bên. Do đó, đối với nƣớc nhận đầu tƣ, một "hành lang" phải có

khuôn khổ của nó, mở cửa không quên có những biện pháp che chắn trong khuôn khổ

của pháp luật, không thoáng quá, không chặt quá gây trở ngại cho quá trình đầu tƣ.

+ Giải quyết hợp lý các mối quan hệ giữa các bên trong quá trình thu hút FDI:

xét nhu cầu, khả năng và lợi thế của mỗi bên, hợp tác đầu tƣ giữa các bên là

tìm "điểm gặp nhau" về lợi ích trên cơ sở nguyên tắc thoả thuận, bình đẳng và cùng

có lợi. Đồng thời phải tính đến những điều kiện về môi trƣờng đầu tƣ, đảm bảo phát

huy có hiệu quả lợi ích của mỗi bên. Mặt khác, phải lựa chọn và so sánh giá phải trả

cho các bên trong cùng mục tiêu và thời điểm.

+ Hiệu quả KT-XH đƣợc coi là tiêu chuẩn cao nhất của hợp tác đầu tƣ.

+ Thực hiện các biện pháp nhằm đa dạng hoá hình thức FDI.

+ Các FIEs phải hoạt động theo luật pháp Việt Nam, họ đƣợc hƣởng quyền lợi

và nghĩa vụ nhƣ pháp nhân Việt Nam. Quản lý nhà nƣớc phải đảm bảo lợi ích chính

đáng cho nhà ĐTNN và bảo đảm lợi ích của Việt Nam.

- Xúc tiến đầu vốn FDI: là việc bao gồm các hoạt động marketing mà nhà nƣớc

hay các tổ chức cố gắng để thu hút vốn FDI. Bao gồm các hoạt động: quảng cáo, gửi

38

thƣ trực tiếp, hội thảo đầu tƣ, cam kết đầu tƣ, triển lãm thƣơng mại và đầu tƣ, tiếp thị

trực tiếp, cung cấp các tài liệu giới thiệu cơ hội đầu tƣ, chuẩn bị cho việc tiếp xúc các

nhà đầu tƣ tiềm năng, liên kết các nhà đầu tƣ tiềm năng với các đối tác địa phƣơng,

chuẩn bị những đề xuất khác từ dự án, thực hiện những nghiên cứu trong khả năng và

cung cấp các dịch vụ cho nhà đầu tƣ sau khi dự án bắt đầu đi vào hoạt động…

- Hoàn thiện môi trường đầu tư để thu hút vốn FDI: Phía nƣớc chủ nhà cần

phải chuẩn bị một môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi với các chính sách, quy tắc đƣợc nới

lỏng theo hƣớng khuyến khích FDI; hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và cải

cách thủ tục hành chính; cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của nhà

đầu tƣ, phát triển các KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao …

- Phát triển nguồn nhân lực: Các nhà ĐTNN rất quan tâm là thị trƣờng lao

động ở nƣớc sở tại nhƣ: số lƣợng, độ tuổi, chất lƣợng, giá cả... Tuy nhiên, phát triển

nguồn nhân lực có trình độ cao mới chính là bí quyết thu hút đầu tƣ thành công.

Nguồn nhân lực chất lƣợng cao không phải là tập hợp những ngƣời có học vị cao mà

đó chính là những ngƣời giỏi về chuyên môn, có tính kỷ luật và ý thức chính trị cao

trong từng công việc mà họ đảm nhiệm…

2.1.3. Vai trò của thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với chuyển

dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm

2.1.3.1. Bổ sung nguồn vốn đầu tư toàn xã hội, góp phần thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế và tăng thu ngân sách nhà nước

Tác động của khu vực FDI đối với tăng trƣởng kinh tế đƣợc thể hiện rõ thông

qua bổ sung vốn cho tổng vốn đầu tƣ xã hội. Trong giai đoạn 2001-2011 khu vực

FDI bổ sung 69,47 tỷ USD, chiếm 22,75% tổng vốn đầu tƣ (xem phụ lục 5). Đây là

khu vực phát triển năng động với tốc độ tăng GDP luôn cao hơn tốc độ tăng của cả

nƣớc. Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào GDP tăng dần từ 12,7% năm 2000;

14,9% năm 2005 và 21,7% vào năm 2014 (xem phụ lục 6).

Các địa phƣơng tiếp cận vốn FDI có thể khai thác đƣợc nhiều nguồn vốn bên

ngoài do không quy định mức vốn góp tối đa mà chỉ quy định mức vốn tối thiểu, các

nhà ĐTNN sẽ bổ sung nguồn vốn cho phát triển KT-XH của các địa phƣơng, từ đó

góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Đóng góp vào ngân sách Nhà nƣớc của khu

vực FDI bình quân giai đoạn 2000-2013 tăng 18,1%. năm 2014 đạt 5,58 tỷ USD,

tăng 11,6% so với năm 2013, chiếm 21,25% tổng thu nội địa và chiếm 14,4% tổng

thu ngân sách nhà nƣớc (không kể dầu thô). Khu vực FDI góp phần đáng kể tăng thu

ngân sách và do đó, làm giảm bội chi ngân sách nhà nƣớc.

39

2.1.3.2. Tạo điều kiện cho các địa phương tiếp thu khoa học, kỹ thuật và

công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến

Cùng với hoạt động của FDI là quá trình chuyển giao khoa học, công nghệ

(mua bằng phát minh sáng chế, nhập khẩu công nghệ, việc di chuyển máy móc thiết bị

và cả những giá trị vô hình nhƣ: bí quyết quản lý, kỹ năng tiếp cận thị trƣờng, sử dụng

chuyên gia nƣớc ngoài hay đào tạo chuyên gia bản xứ…). Điều này cho phép các

nƣớc nhận đầu tƣ không chỉ nhập khẩu công nghệ đơn thuần, mà còn nắm vững cả các

kỹ năng quản lý, vận hành và phát triển nó, nhanh chóng tiếp cận với công nghệ hiện

đại ngay cả khi nền tảng công nghệ quốc gia chƣa đƣợc tạo lập đầy đủ.

Thực tiễn cho thấy, khu vực FDI đƣợc đánh giá là kênh chuyển giao công nghệ

quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế. Thống kê từ năm

1993 đến nay, Việt nam đã có 951 hợp đồng chuyển giao công nghệ đƣợc phê

duyệt/đăng ký, trong đó 605 hợp đồng là của khu vực FIEs, chiếm 63,6% tổng số hợp

đồng chuyển giao công nghệ đƣợc phê duyệt, đăng ký… đó là những tiền đề tác động lan tỏa của khu vực FDI đối với nền kinh tế thông qua mối liên kết sản xuất giữa FIES với DN trong nƣớc và tiếp cận để chuyển giao công nghệ. Nhiều sản phẩm mang

thƣơng hiệu Việt Nam có chỗ đứng nhất định trên thị trƣờng Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản…

2.1.3.3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là cầu nối để thúc đẩy quá trình hội

nhập kinh tế quốc tế, mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu

Hội nhập KTQT đang là xu hƣớng vận động tất yếu của kinh tế thế giới trong

điều kiện hiện nay. Đối với các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam, đây là con

đƣờng tốt nhất để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, có điều kiện phát huy những lợi thế

so sánh của mình trong phân công lao động và hợp tác quốc tế.

Hiện nay, Việt Nam đã thu hút đƣợc hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đến

đầu tƣ tại hầu hết các lĩnh vực quan trọng. Đáng chú ý, trong số những nhà đầu tƣ có

mặt tại Việt Nam có rất nhiều các tập đoàn hàng đầu thế giới đầu tƣ trong nhiều lĩnh

vực khác nhau nhƣ: Total; Toyota; Canon; Samsung; Intel; Unilever,… với những

sản phẩm chất lƣợng quốc tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế. Kể từ khi mở cửa thị

trƣờng bán lẻ theo cam kết của WTO 01/01/2009, DN phân phối 100% vốn nƣớc

ngoài đƣợc phép thành lập, thu hút hàng loạt tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới đầu

tƣ nhƣ Lotte, Aeon, Central Group…thƣơng vụ M&A giữa Tập đoàn BJC Thái Lan

và Metro Cash & Carry Việt Nam, đã làm tăng sức ép cạnh tranh của các nhà bán lẻ

trong nƣớc. Các nhà phân phối nƣớc ngoài với hơn 10 thƣơng hiệu lớn đang có mặt

tại Việt Nam nhƣ Metro cash & carry – Đức kinh doanh bán buôn với 19 cơ sở tại

40

13 tỉnh, thành phố; hệ thống 26 siêu thị Big C - Pháp tại 18 tỉnh, thành phố; hệ thống

09 trung tâm thƣơng mại Parkson - Malaysia; 07 trung tâm thƣơng mại của tập đoàn

Lotte Mart - Hàn Quốc và Aeon - Nhật Bản... Tỷ trọng tổng mức bán lẻ của khối

FIES trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ cả nƣớc đang có xu hƣớng tăng lên, cụ thể chiếm 2,63% (năm 2010) và năm 2014 là 3,37% [74].

Thông qua mạng lƣới tiêu thụ của các TNCs, MNCs nhiều sản phẩm sản xuất

tại Việt Nam sẽ tiếp cận đƣợc thị trƣờng thế giới; Thông qua việc tăng cƣờng đầu tƣ

vào lĩnh vực khách sạn và du lịch, Việt Nam có đƣợc những khách sạn đạt tiêu

chuẩn quốc tế, các hoạt động du lịch, sinh thái, nghỉ dƣỡng… đáp ứng nhu cầu của

khách du lịch quốc tế, gia tăng nhanh chóng lƣợng khách du lịch đến Việt Nam; Sự

có mặt của các tổ chức tài chính và các ngân hàng lớn trên thế giới nhƣ HSBC,

ANZ… góp phần thúc đẩy các hoạt động thƣơng mại, các giao dịch quốc tế đƣợc

nhanh chóng, thuận tiện hơn. Thúc đẩy sự phát triển của khu vực dịch vụ vốn trƣớc

đây chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn trong CCKT.

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI luôn tăng nhanh và chiếm tỷ

trọng lớn. Năm 1991, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 2 tỷ USD (FDI chiếm

4%), Năm 2014 FDI đạt 101,2 tỷ USD (bao gồm cả dầu thô) chiếm 67 % tổng kim

ngạch xuất khẩu. Cần lƣu ý rằng, giá trị xuất khẩu ròng của khu vực FDI không cao.

Vì các dự án FDI trong công nghiệp vẫn chủ yếu sử dụng các dây chuyền lắp ráp có

qui mô nhỏ và sử dụng nguồn đầu vào từ nhập khẩu là chính (năm 2014, nhập khẩu

của khu vực có vốn FDI 84,5 tỷ USD, chiếm 57,09% tổng kim ngạch) [43].

2.1.3.4. Kiến tạo một hình thức đầu tư kinh doanh và góp phần tạo môi

trường cạnh tranh

Trong quá trình đổi mới, vai trò của FDI ngày càng đƣợc khẳng định, Đại hội

Đảng IX đã bổ sung thành phần FIE, các văn kiện của Đại hội X, XI đã khẳng định

rõ "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các

TPKT kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền

KTTT định hướng XHCN; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với

kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền KTQD” [61].

Trong bối cảnh hội nhập KTQT, việc huy động mọi nguồn lực của các TPKT là

đóng vai trò rất quan trọng. Khu vực FIE bao gồm DN 100% vốn nƣớc ngoài và các

liên doanh với các DN trong nƣớc mà nƣớc ngoài chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất (theo

định nghĩa sử dụng trong tài khoản quốc gia Việt nam là DN có ít nhất 10% vốn nước

ngoài hợp doanh với nhà nước hoặc tư nhân trong nước). Trong những năm qua, Nhà

41

nƣớc đã có nhiều chủ trƣơng, chính sách khuyến khích sự phát triển của FIE. Tháng

12 năm 1987, Luật ĐTNN tại Việt Nam đã đƣợc Quốc hội thông qua, và sau đó đã

qua 6 lần sửa đổi (1990, 1992, 1996,2000, 2005 và 2014). Những qui định pháp luật

đó đã tạo hành lang pháp lý, cam kết bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà ĐTNN.

Vai trò của FIEs đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng DN tăng vốn, mở rộng quy

mô hoạt động,tạo sự lan tỏa thông qua sự liên kết giữa FIEs với các DN trong nƣớc về

công nghệ và năng lực quản lý, kinh doanh đƣợc chuyển giao từ FIEs cả theo chiều

dọc giữa các DN cùng ngành hoặc theo chiều ngang giữa các DN khác ngành. Sự có

mặt của các nhà ĐTNN, với sức mạnh về tài chính, quản lý, kinh nghiệm của mình sẽ

tạo động lực, hỗ trợ cho các DN trong nƣớc thích ứng với toàn cầu hóa. Đồng thời,

cũng là đối thủ cạnh tranh lớn đối với các DN trong nƣớc.

Các TPKT cạnh tranh và hợp tác cùng phát triển, tạo thành mạng liên kết sản

xuất, tận dụng kinh tế theo qui mô và tăng hiệu quả của cả nền kinh tế. Nếu kinh tế

nhà nƣớc đảm nhận những ngành chủ chốt, thì kinh tế tƣ nhân đảm nhiệm những

hoạt động kinh tế phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc và những thị trƣờng

ngách. Nếu FIE tập trung vào những ngành hiện đại, nhất là những khu vực thành thị

và nơi có cơ sở hạ tầng tốt và thuận lợi thì kinh tế tƣ nhân và tập thể có thể phát huy

khả năng trong những khu vực nông nghiệp nông thôn. Trong nền kinh tế hội nhập

toàn cầu, DNNN, tƣ bản tƣ nhân và FIE là những trụ cột giúp nền kinh tế cạnh tranh

trên thị trƣờng thế giới và trở thành một nƣớc công nghiệp hiện đại.

2.1.3.5. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,

hiện đại hóa

Nằm trong cơ cấu nguồn vốn đầu tƣ, FDI là một trong những nguồn vốn quyết

định tới CDCCKT. Việc thu hút FDI đã giúp cho các địa phƣơng không ngừng tranh

thủ đƣợc nguồn vốn đầu tƣ lớn cho đầu tƣ mà cả công nghệ và kinh nghiệm SX-KD

sẽ có tác động làm tăng NSLĐ các ngành, vùng và TPKT. Khi các FIEs hoạt động tại

các địa phƣơng trong quá trình SX-KD sẽ tạo và đóng góp vào GDP của các địa

phƣơng, qua đó mà thúc đẩy CDCCKT của địa phƣơng sở tại (xem phụ lục 7).

- Thúc đẩy CDCCKT vùng: Thực tiễn những năm qua cho thấy, trong giai đoạn

đầu FDI chỉ tập trung ở các đô thị lớn, vùng có cơ sở hạ tầng, điều kiện phát triển kinh

tế thuận lợi. Tuy nhiên, cùng với việc bổ sung, hoàn thiện pháp luật về đầu tƣ, các

chính sách nhằm thu hút FDI vào những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn hơn.

Chính sách KCN, khu chế xuất và chính sách phân cấp cấp giấy phép đầu tƣ đã đƣợc

ban hành và có tác động lớn đến chuyển dịch dòng vốn FDI, nhiều tỉnh quanh các

42

đô thị lớn ở phía Bắc và phía Nam đã thu hút đƣợc lƣợng FDI tăng đột biến nhƣ Vĩnh

Phúc, Bắc Ninh, Long An, Đà Nẵng... một số địa bàn thuộc các tỉnh Duyên hải miền

trung và đồng bằng sông Cửu Long cũng có nhiều tiến bộ trong thu hút vốn FDI. Khu

vực phía Bắc có một số địa phƣơng lân cận Hà Nội đã thành công trong việc thu hút

các dự án FDI lớn nhƣ Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dƣơng và đã đƣa các tỉnh, thành

phố này vào tốp dẫn đầu của cả nƣớc.

Đến nay, ĐTNN đã có tại 62 tỉnh, thành phố trong cả nƣớc (trừ Điện Biên), trong

đó thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu với 5.271 dự án và gần 38,3 tỷ USD, chiếm

15,2% tổng vốn đầu tƣ của cả nƣớc. Hà Nội đứng thứ ba với 3051 dự án và 23,8 tỷ

USD vốn đầu tƣ, chiếm 9,4% tổng vốn đầu tƣ của cả nƣớc. Tiếp theo là các tỉnh: Đồng

Nai, Bình Dƣơng, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Bắc Ninh. Chỉ tính riêng vốn FDI

của những tỉnh trên đã chiếm trên 70% tổng vốn FDI của cả nƣớc (xem phụ lục 8).

- Thúc đẩy CDCCKT ngành theo hướng CNH, HĐH: Việc phân bổ FDI theo

các ngành kinh tế đƣợc hình thành do nhiều yếu tố nhƣ: chính sách, tài nguyên, trình

độ nguồn nhân lực ở địa phƣơng… và quan trọng nhất là các ý đồ của các nhà đầu tƣ

hàng đầu trong các trung tâm kinh tế lớn của thế giới, TNCs, MNCs... Khi FDI đầu

tƣ vào địa phƣơng sở tại sẽ sử dụng những nguồn lực nhất định, đòi hỏi các địa

phƣơng sở tại phải có khả năng hấp thụ và để cho nó vận động. FDI sẽ hình thành

những ngành nghề mới tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, tạo nên sự phân

công mới trong nền kinh tế. Từ đó FDI tạo ra sự thay đổi trong CCKT.

Trong giai đoạn đầu, dòng vốn FDI hƣớng vào những ngành công nghiệp khai

thác và thay thế nhập khẩu. Qua các thời kỳ, dòng vốn ĐTNN trong lĩnh vực công

nghiệp - xây dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhƣng cơ bản vẫn theo

hƣớng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông

tin, cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác, sản phẩm và linh kiện điện tử... Đây cũng chính

là các dự án có khả năng tạo VA cao và Việt Nam có lợi thế so sánh. Tính đến nay,

các nhà ĐTNN đã đầu tƣ vào 18/21 ngành theo VSIC của Việt Nam, trong đó lĩnh vực

công nghiệp chế biến và chế tạo vẫn là lĩnh vực thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với

khoảng hơn 9.600 dự án, tổng vốn đăng ký 141,41 tỷ USD, chiếm 54% số dự án và

56% tổng vốn đăng ký. Đầu tƣ vào kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với 453 dự

án, tổng vốn đăng ký 48,3 tỷ USD, chiếm 19,1% tổng vốn đăng ký... (xem phụ lục 9).

Đứng đầu là Hàn Quốc với gần 4190 dự án với 37,73 tỷ USD vốn đầu tƣ,

chiếm 23,6% tổng số dự án và 14,9% tổng vốn đầu tƣ của cả nƣớc với nhiều tập

đoàn lớn đã đầu tƣ trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo nhƣ Samsung, LG,

43

Hundai… Tiếp sau là Nhật Bản với 2531 dự án và 37,33 tỷ USD chiếm 14,2% tổng

số dự án và 14,8% tổng vốn đầu tƣ. Có nhiều tập đoàn lớn của Nhật Bản đang hoạt

động tại Việt Nam, trong sản xuất lắp ráp điện tử có các hãng nhƣ Cannon;

Panasonic, Sony, Sanyo…; trong công nghiệp ô tô và xe máy, nhiều DN có vốn đầu

tƣ của Nhật đang dẫn đầu thị trƣờng tiêu thụ tại Việt Nam, nhƣ Toyota Việt Nam;

Honda Việt Nam; Yamaha Việt Nam; Suzuki Việt Nam.. (xem phụ lục 10).

FDI có vai trò quan trọng, tạo sự gia tăng GDP với thay đổi tỷ trọng giữa các

ngành, vùng và các TPKT. Theo mô hình Harrod - Domar:

ICOR

(Công thức 2.1 )

G

=

S

Trong đó: G: tốc độ tăng trƣởng GDP của ngành, vùng, thành phần; S: Tỷ lệ

tiết kiệm (có mối quan hệ với đầu tƣ - biến I); ICOR: Hệ số phản ánh trình độ hiện

đại, hiệu quả của sử dụng vốn FDI đóng góp vào tăng trƣởng GDP. Nếu ICOR càng

nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn cho tăng trƣởng kinh tế càng lớn và ngƣợc lại.

Đặc điểm của FDI là vì mục tiêu lợi nhuận nên các chủ đầu tƣ thƣờng chỉ

hƣớng vào tập trung đầu tƣ cho một số ngành có khả năng thu đƣợc lợi nhuận cao,

sẽ làm cho các ngành này tăng trƣởng và phát triển. Tuy nhiên, điều này dễ dẫn đến

việc làm mất cân đối giữa các ngành kinh tế của nơi tiếp nhận đầu tƣ. Do vậy, cần có

chính sách ƣu đãi, ƣu tiên trong thu hút vốn FDI nếu muốn CDCCKT đúng định

hƣớng và phát huy tác động của FDI với CDCCKT (xem phụ lục 11).

2.1.3.6. Góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm và nâng cao chất

lượng cơ cấu lao động

Thông qua vốn FDI sẽ tạo ra các DN mới, hoặc làm tăng quy mô các DN hiện

có, tạo thêm việc làm cho ngƣời lao động; với sự xuất hiện của FIEs đội ngũ lao động

quản lý làm việc trong khu vực này sẽ tiếp thu đƣợc nhiều kỹ năng chuyên môn và

quản lý tiên tiến, hiện đại, cách tiếp cận thị trƣờng, kỹ năng đàm phán, xúc tiến

thƣơng mại, quản trị nhân lực… ở các nƣớc khác nhau trên thế giới; đối với ngƣời lao

động trong các DN sẽ tiếp thu đƣợc kỷ luật lao động, tác phong làm việc, cách thức

sắp xếp và tổ chức công việc để hoàn thành sản xuất đúng thời gian, số lƣợng…

Chất lƣợng nguồn nhân lực có ảnh hƣởng trực tiếp tới các hoạt động NSLĐ,

đến SX-KD và các vấn đề xã hội. Các FIEs thƣờng tổ chức các khóa đào tạo lại cho

ngƣời lao động với nhiều hình thức. Vì vậy, việc tham gia vào các FIEs sẽ tạo cho

các địa phƣơng phát triển đƣợc nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của thị trƣờng. Đây

là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế theo hƣớng bền vững.

44

Lao động làm việc trong các FIES tại thời điểm 31/12/2013 trên 3,2 triệu ngƣời, gấp gần 8 lần năm 2000, trong đó DN 100% vốn nƣớc ngoài chiếm 92%

(năm 2000 là 70,2%), DN liên doanh với nƣớc ngoài chiếm 8% (năm 2000 là

29,8%), bình quân mỗi năm thu hút thêm 216,5 nghìn lao động, góp phần đáng kể

vào giải quyết việc làm. Công nghiệp và xây dựng hiện thu hút lao động khu vực

FDI đạt tỷ lệ cao nhất với 91% (riêng ngành công nghiệp 90,2%) [130].

2.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ THU HÖT VỐN

ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM

2.2.1. Các yếu tố ảnh hƣởng tới thu hút vốn và hoạt động của đầu tƣ trực

tiếp nƣớc ngoài

2.2.1.1. Nhóm yếu tố ngoại sinh

- Tình hình kinh tế chính trị của khu vực và thế giới: Đây là yếu tố tác động

đến không chỉ các nhà đầu tƣ đang tìm kiếm đối tác, mà còn tới cả các dự án đang

triển khai. Khi môi trƣờng kinh tế chính trị trong khu vực và thế giới ổn định, không

có sự biến động khủng hoảng thì các nhà đầu tƣ sẽ tập trung nguồn lực để đầu tƣ ra

bên ngoài và các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ có thể thu hút đƣợc nhiều vốn FDI. Ngƣợc

lại, khi có biến động thì các nguồn đầu vào và đầu ra của các dự án thƣờng thay đổi,

các nhà đầu tƣ gặp khó khăn nên ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả thu hút FDI.

Hiện nay các nƣớc đều đang tập trung điều chỉnh mô hình tăng trƣởng, tích cực

hội nhập và liên kết kinh tế, coi đây là “công cụ” để phục hồi và nâng cao vị thế trong

cục diện mới. Sự thay đổi về các chính sách của nƣớc để phù hợp với tình hình thực

tế, đòi hỏi các nhà ĐTNN phải có thời gian tìm hiểu và thích nghi với sự thay đổi đó.

- Động lực tối đa hóa lợi ích của các nhà đầu tư:

+ Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nƣớc (một nƣớc thừa

vốn thƣờng có năng suất cận biên thấp hơn, trong khi một nƣớc thiếu vốn thƣờng có

năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dƣ

thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận);

+ Lợi thế đặc biệt của MNCs, TNCs (vốn, công nghệ, quản lý, quyền sở hữu

phát minh, sáng chế, thƣơng hiệu…) cho phép công ty vƣợt qua những trở ngại để

sẵn sàng đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù.

+ Khai thác chuyên gia và công nghệ: Bằng con đƣờng đầu tƣ vào các nƣớc

phát triển, nhiều nƣớc đang phát triển có thể tiếp cận nhanh và khai thác nguồn nhân

lực chất lƣợng cao và công nghệ hiện đại từ các nƣớc phát triển.

45

+ Tiếp cận thị trƣờng và giảm xung đột thƣơng mại: Đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc

ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thƣơng mại song phƣơng (xem phụ lục 12). + Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên: Các MNCS tìm cách đầu tƣ vào những nƣớc có nguồn tài nguyên phong phú nhằm khai thác. (FDI của Nhật Bản vào

thập niên 1950 hay của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tƣơng tự…).

- Xu hướng vận động của dòng vốn FDI hiện nay:

+ Dòng vốn FDI trên thế giới ngày một gia tăng và chịu sự chi phối chủ yếu

của các nƣớc công nghiệp phát triển;

+ Dòng vốn FDI đổ vào các nƣớc đang phát triển đang gia tăng mạnh mẽ, đặc

biệt là các nƣớc đang phát triển ở châu Á;

+ Dòng vốn FDI đang có sự chuyển dịch ngày càng chảy nhiều hơn vào các

nƣớc CNH (các nƣớc đang phát triển đã giảm lợi thế về nhân công, trong khi các

nƣớc phát triển lại có nhiều lợi thế về cơ sở hạ tầng, nhân công trình độ cao cũng

nhƣ gắn với thị trƣờng tiêu thụ). Trong khi đó, các nền kinh tế mới nổi cũng gia tăng

mạnh đầu tƣ ra nƣớc ngoài để tiếp cận những thị trƣờng mới;

+ Đầu tƣ ra nƣớc ngoài dƣới hình thức hợp nhất hoặc mua lại các chi nhánh

công ty ở nƣớc ngoài (Cross border M&A) đã bùng nổ trong những năm gần đây,

trở thành chiến lƣợc hợp tác phát triển chính của MNCs;

+ Có sự thay đổi sâu sắc trong lĩnh vực đầu tƣ trên thế giới theo xu hƣớng mất

dần các lợi thế về chi phí nhân công và sản xuất;

+ Các MNCs đóng vai trò rất quan trọng thúc đẩy quá trình đầu tƣ ra nƣớc ngoài.

- Các hiệp định đã đƣợc ký kết hay đang trong quá trình đàm phán trên thế

giới mà Việt Nam là thành viên tác động không nhỏ tới dòng chảy của vốn FDI vào

các VKTTĐ nhƣ: sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Đối

tác xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP), các Hiệp định FTA Việt Nam – EU, Việt Nam –

Liên minh kinh tế Á Âu, Việt Nam – Hàn Quốc…

2.2.1.2. Nhóm yếu tố nội sinh

- Môi trường chính trị- xã hội ở nước thu hút FDI: Tình hình chính trị không

ổn định, đặc biệt là thể chế chính trị (đi liền với nó là sự thay đổi luật pháp), hậu quả

là lợi ích của các nhà ĐTNN bị giảm (họ phải gánh chịu một phần hay toàn bộ các

thiệt hại) sẽ triệt tiêu động lực của nhà ĐTNN. Mặc khác, khi Nhà nƣớc không đủ khả

năng kiểm soát hoạt động của FDI, hậu quả là các nhà đầu tƣ hoạt động theo mục đích

riêng, không theo định hƣớng chiến lƣợc phát triển của nƣớc nhận đầu tƣ. Do đó hiệu

quả sử dụng vốn FDI thấp, các nhà đầu tƣ sẽ ngừng đầu tƣ hoặc không đầu tƣ nữa.

46

- Sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô: Để thu hút đƣợc FDI, nền kinh tế

địa phƣơng phải là nơi an toàn cho sự vận động của vốn đầu tƣ, và là nơi có khả

năng sinh lợi cao hơn các nơi khác. Việc tạo lập và giữ môi trƣờng vĩ mô an toàn và

ổn định thì mới có điều kiện thu hút và sử dụng tốt vốn FDI. Mức độ ổn định kinh tế

vĩ mô đƣợc đánh giá thông qua tiêu chí: chống lạm phát và ổn định tiền tệ… các tiêu

chí này đƣợc thực hiện thông qua các công cụ của chính sách tài chính tiền tệ nhƣ lãi

suất, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các công cụ thị trƣờng mở đồng thời phải

kiểm soát đƣợc mức thâm hụt ngân sách hoặc giữ cho ngân sách cân bằng.

- Hệ thống pháp luật và chính sách đồng bộ, hoàn thiện: Một hệ thống pháp

luật và chính sách đồng bộ và vận hành hữu hiệu là một trong những yếu tố tạo nên

môi trƣờng kinh doanh thuận lợi, góp phần định hƣớng và hỗ trợ cho các nhà ĐTNN

có thể yên tâm làm ăn lâu dài. Tuân thủ nguyên tắc: Tôn trọng độc lập chủ quyền,

bình đẳng, cùng có lợi và theo thông lệ khu vực và quốc tế, không có sự phân biệt

giữa các DN trong hay ngoài nƣớc. Đồng thời, phải thiết lập và hoàn thiện định chế

pháp lý tạo niềm tin cho các nhà ĐTNN.

Chính sách FDI có thể chia làm ba loại: Chính sách thu hút vốn FDI (các ƣu đãi

và các quyền của nhà đầu tƣ đƣợc bảo đảm bằng pháp luật); Chính sách nâng cấp FDI

(các ƣu tiên, ƣu đãi khi đầu tƣ vào các địa bàn và lĩnh vực nhƣ công nghệ cao, dịch vụ

hiện đại, xây dựng khu kinh tế để tạo sức lan tỏa) và chính sách khuyến khích các mối

liên kết giữa MNCs với DN trong nước (đƣợc hình thành nhƣ là một phần trong chính

sách công nghiệp, dịch vụ của từng quốc gia, nhằm làm cho các DN trong nƣớc đƣợc

hƣởng lợi từ FDI nhờ vào mối quan hệ hợp tác, chuyển giao công nghệ, đào tạo, tổ

chức nghiên cứu khoa học và thị trƣờng tiêu thụ với MNCs…). Trên thực tế, từ khi ban

hành Luật ĐTNN năm 1987 đến nay, Việt Nam đã và đang theo đuổi cả ba loại chính

sách trên. Tuy nhiên, tính nhất quán và ổn định trong các chính sách vẫn chƣa đƣợc bảo

đảm, đôi khi đƣợc điều chỉnh không đồng bộ với các chính sách có liên quan đến thu

hút vốn FDI. Do vậy, lợi thế cạnh tranh thu hút vốn FDI còn khiêm tốn.

Hệ thống các chính sách cụ thể đối với FDI, bao gồm các chính sách, qui định

tác động trực tiếp nhƣ về lĩnh vực, ngành nghề đầu tƣ, các ƣu đãi mức đầu tƣ, mức sở

hữu vốn của nhà ĐTNN, miễn giảm thuế đầu tƣ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ,... các

chính sách kinh tế có tác động gián tiếp đến hoạt động FDI nhƣ: chính sách tài chính-

tiền tệ, thƣơng mại, đất đai, môi trƣờng, chính sách lao động...(xem phụ lục 13).

Chẳng hạn, Quốc hội đã nhiều lần giảm mức thuế suất thuế thu nhập DN từ

32% năm 1997 đã giảm xuống còn 28% năm 2003, còn 25% từ năm 2009 và năm

47

2014 chỉ có 22%, dự kiến đến năm 2016 sẽ còn 20%. Chính sách đất đai từng bƣớc

đƣợc hoàn thiện theo hƣớng thị trƣờng, đƣa đất đai trở thành nguồn nội lực, nguồn

vốn để phát triển đất nƣớc. Chính sách chung về FDI đã đƣợc điều chỉnh, bổ sung.

Chính sách cụ thể của các địa phƣơng VKTTĐ chủ yếu vẫn dựa vào cơ chế, chính

sách chung của cả nƣớc, nhƣng với những nỗ lực khác nhau của chính quyền từng

địa phƣơng nên môi trƣờng đầu tƣ ở vùng đƣợc cải thiện đáng kể.

- Chiến lược, quy hoạch và kế hoạch thu hút FDI theo mục tiêu phát triển KT-XH

của VKTTĐ: Chức năng của Nhà nƣớc trƣớc hết thể hiện ở việc xác định đúng đắn

chiến lƣợc phát triển KT-XH trong từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, xây dựng các phƣơng

án, mục tiêu, chƣơng trình hành động quốc gia gắn với qui hoạch, kế hoạch thu hút các

nguồn vốn. Định hƣớng của Nhà nƣớc thu hút vốn FDI phải đƣợc cụ thể hoá bằng việc

xây dựng danh mục các dự án kêu gọi vốn ĐTNN, xác định các lĩnh vực, địa điểm ƣu

tiên FDI từ đó vận dụng các công cụ kinh tế để khuyến khích các nhà ĐTNN.

Công tác qui hoạch, kế hoạch thu hút vốn FDI phải có tầm nhìn chiến lƣợc

trong dài hạn, từ đó làm cơ sở để xác định thu hút vốn FDI trong từng thời kỳ cụ thể.

Phải đƣợc xem xét dựa trên những lợi thế so sánh, tiềm năng, nhằm khai thác một

cách hiệu quả các nguồn lực của VKTTĐ. Khi xây dựng danh mục kêu gọi vốn FDI

cần hết sức lƣu ý đến tình hình triển khai thực hiện các dự án thuộc danh mục dự án

của thời kỳ trƣớc để từ đó rút kinh nghiệm và lựa chọn dự án chuyển tiếp cho thời kỳ

tiếp theo. Nếu công tác qui hoạch, kế hoạch thu hút FDI đƣợc thực hiện tốt, sẽ tránh

đƣợc tình trạng mất cân đối cơ cấu ngành, qui hoạch treo, làm lãng phí các nguồn lực.

- Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI: Bộ máy quản lý gọn nhẹ, cán bộ

quản lý có năng lực, năng động, có phẩm chất đạo đức; công tác chỉ đạo điều hành

thực thi nghiêm túc, tạo điều kiện cho các hoạt động đầu tƣ thì sẽ đạt đƣợc các định

hƣớng và mục tiêu quản lý của nhà nƣớc đối với hoạt động FDI và sự phát triển

chung của nền KT-XH. Hoạt động kiểm tra, giám sát cần phải đƣợc tiến hành ở các

hoạt động của FDI và phải đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, liên tục. Bởi đây là công

cụ phản hồi thông tin quan trọng để Chính phủ đánh giá hiệu quả và mức độ hợp lý

của những chính sách, qui định liên quan đến FDI đã đƣợc ban hành. Phát hiện

những vƣớng mắc của các nhà ĐTNN, nhằm tạo điều kiện giúp đỡ các nhà ĐTNN

tháo gỡ những khó khăn trong khi triển khai và đƣa dự án vào hoạt động. Trong thời

gian qua, các địa phƣơng trong VKTTĐ đều tự nỗ lực cải thiện năng lực quản lý,

vận dụng có hiệu quả chính sách chung của Nhà nƣớc về FDI phù hợp với điều kiện

KT-XH khác nhau của từng địa phƣơng nhƣ chính sách ƣu đãi về thuế và đất đai…

48

- Điều kiện tự nhiên VKTTĐ: VKTTĐ có những lợi thế nhất định về điều kiện

tự nhiên để có thể thu hút ngày càng nhiều các dự án FDI có chất lƣợng vào vùng:

+ Các VKTTĐ thƣờng có vị trí địa lý rất thuận lợi, đầu mối cho các hoạt động

giao lƣu kinh tế, văn hóa… với trong nƣớc cũng nhƣ các nƣớc trên thế giới.

+ Các tỉnh, thành trong VKTTĐ thƣờng có nguồn tài nguyên phong phú, đa

dạng về đất đai, rừng, biển, khoáng sản… thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế

tổng hợp, trong đó có những ngành, nghề mũi nhọn với lợi thế cạnh tranh cao.

+ Đa số VKTTĐ là nơi tập trung nhiều di sản của Việt Nam và thế giới. Cùng

với các khu du lịch sinh thái đã cho phép vùng phát triển mạnh ngành công nghiệp

không khói với lợi thế cạnh tranh cao.

Tuy nhiên, bên cạnh sự ƣu đãi về điều kiện tự nhiên, một số VKTTĐ cũng là

địa bàn chịu nhiều khó khăn thách thức nhƣ: do địa hình đa dạng, chia cắt hay chi phí

đền bù và giá thuê đất cao ở một số địa phƣơng... Điều này khiến khả năng cạnh tranh

của VKTTĐ đối với việc thu hút các nguồn vốn đầu tƣ, trong thực tế đã làm nản lòng

nhiều nhà đầu tƣ khi họ muốn tìm kiếm cơ hội phát triển SX-KD ở khu vực này.

- Sự liên kết, phối hợp trong hoạt động FDI giữa các bộ, ngành với địa

phương và giữa các địa phương trong VKTTĐ: Việc xử lý các vấn đề mang tính

chất vùng và liên vùng trong hoạt động FDI là một trong những vấn đề lớn và phức

tạp. Liên kết, phối hợp trong phạm vi liên vùng trong hoạt động FDI nhằm phát huy

tốt các nguồn lực; đảm bảo sự cân đối, hài hòa, tránh đƣợc sự trùng lặp, chồng chéo

trong cơ cấu đầu tƣ FDI giữa các tỉnh, thành phố trong một vùng.

- Kết cấu hạ tầng VKTTĐ: Đây là mối quan tâm hàng đầu của các ĐTNN, là

cơ sở để thu hút FDI và cũng là yếu tố thúc đẩy hoạt động FDI diễn ra nhanh chóng,

có ảnh hƣởng quyết định đến hiệu quả SX-KD. Mức độ ảnh hƣởng của mỗi yếu tố

này phản ánh trình độ phát triển và tạo môi trƣờng đầu tƣ hấp dẫn. Cụ thể:

+ Về cơ sở hạ tầng đào tạo nguồn nhân lực: VKTTĐ có mật độ trƣờng đại học,

cao đẳng, trung cấp cao so với mặt bằng chung cả nƣớc với các trung tâm đào tạo lớn

nhƣ: Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Hà Nội. Nhiều cơ sở đào tạo nghề, cơ sở vật chất

kỹ thuật của các cơ sở dạy nghề trên địa bàn đã đƣợc chú trọng tăng cƣờng, chất

lƣợng đào tạo đã đƣợc nâng lên một bƣớc. Cơ cấu ngành, nghề đào tạo ở các cơ sở đã

bƣớc đầu chuyển dịch theo hƣớng nhu cầu của thị trƣờng lao động, nhu cầu của DN.

+ Về hạ tầng kinh tế, kỹ thuật: VKTTĐ tập trung các chuỗi đô thị lớn; chuỗi

KCN, KCX; hệ thống kho bãi quốc gia và quốc tế sẽ gắn với hệ thống cảng tổng hợp

quốc tế và các đầu mối giao thông liên vùng, xuyên quốc gia... là nơi có nhiều sân

49

bay (trong đó có 3 cảng hàng không quốc tế lớn là Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Nội

Bài). Hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông ở VKTTĐ có quy mô khá lớn và

hiện đại, đƣợc mở rộng theo hƣớng dịch vụ đa dạng, với chất lƣợng ngày càng cao.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên thì kết cấu hạ tầng cũng là nguyên nhân

chính làm hạn chế dòng vốn FDI đổ vào VKTTĐ, cụ thể là:

 Cơ sở vật chất của hầu hết các cấp học còn nghèo nàn lạc hậu nhiều trƣờng

vẫn còn đang trong tình trạng thiếu các phƣơng tiện thực hành cho ngƣời học.

 Chƣa có nhiều hệ thống giao thông đƣờng bộ hiện đại, nhất là các tuyến

đƣờng cao tốc. Nhu cầu vốn đầu tƣ phát triển kết cấu hạ tầng giao thông liên tỉnh và

quốc tế là rất lớn, tuy nhiên đa số các địa phƣơng trong VKTTĐ chƣa có khả năng

tích lũy để phát triển, khiến chi phí sản xuất và vận chuyển của DN cao.

 Cơ sở hạ tầng VKTTĐ có chất lƣợng chƣa cao, nhất là hệ thống giao thông

nội vùng. Hầu hết các sân bay (trừ sân bay Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Nội Bài) đều là

sân bay nhỏ, tần xuất bay thấp. Hệ thống xử lý chất thải trong vùng còn thiếu và khá

lạc hậu nên tình trạng ô nhiễm môi trƣờng diễn ra khá phổ biến.

- Sự phát triển của hệ thống các ngành công nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ hoạt

động SX-KD ở VKTTĐ trong CCKT: Các FIEs muốn tiến hành hoạt động SX-KD thì

ngoài những nguyên vật liệu chính còn phải sử dụng những hàng hóa và các dịch vụ

do các DN khác cung ứng. Do vậy, các nhà ĐTNN rất quan tâm đến các ngành công

nghiệp hỗ trợ và cung ứng dịch vụ SX-KD của địa phƣơng. Để thu hút vốn FDI, mỗi

địa phƣơng cần phải đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, qui hoạch và phát triển các ngành

công nghiệp hỗ trợ dựa trên những tiềm năng, lợi thế so sánh về các nguồn lực, thúc

đẩy phát triển các dịch vụ phục vụ kinh doanh...

- Hệ thống thị trường đồng bộ, chiến lược phát triển hướng ngoại: Hoạt động

kinh doanh muốn đem lại hiệu quả cao thì phải diễn ra trong môi trƣờng thuận lợi, có

đầy đủ các thị trƣờng: lao động, tài chính, hàng hoá - dịch vụ... Hệ thống thị trƣờng

này sẽ đảm bảo cho toàn bộ quá trình hoạt động SX-KD diễn ra thuận lợi - từ nguồn

đầu vào đến việc tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Chiến lƣợc phát triển kinh tế hƣớng ngoại

cần đẩy mạnh mở rộng thị trƣờng xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

tạo điều kiện cải thiện cán cân thƣơng mại, chiếm đƣợc lòng tin của các nhà đầu tƣ.

- Chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu FDI: Nguồn nhân lực tham gia

vào hoạt động FDI là ngƣời lao động trực tiếp và đội ngũ cán bộ tham gia vào hoạt

động quản lý đầu tƣ trong các FIEs. Mỗi đối tƣợng này có tiêu chuẩn và yêu cầu

riêng, phù hợp với tính chất công việc mà họ tham gia:

50

+ Đối với đội ngũ cán bộ quản lý: Chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách và các

quan hệ pháp luật có liên quan đến FDI có đƣợc thực hiện hay không phụ thuộc vào

năng lực tổ chức, điều hành, trình độ hiểu biết về luật pháp, khả năng vận dụng sáng

tạo và tâm huyết của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nƣớc. Sai lầm của họ có thể làm

thiệt hại về thời gian, tài chính cho nhà ĐTNN và cho nƣớc chủ nhà. Vì vậy, đội ngũ

cán bộ này cần đƣợc tuyển chọn phù hợp với yêu cầu và thƣờng xuyên đƣợc đào tạo

để nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn và phẩm chất đạo đức.

+ Nguồn lao động lao động trực tiếp đƣợc xem xét dƣới hai góc độ: chất

lƣợng lao động và số lƣợng lao động. Chất lƣợng lao động cao cũng đồng nghĩa với

việc có thể thu hút đƣợc FDI vào những ngành công nghệ cao, tạo ra VA cao. Từ đó,

làm tăng thu nhập cho ngƣời lao động. Trong giai đoạn hiện nay, yếu tố lao động và

giá nhân công rẻ có thể vẫn còn là lợi thế, song đang có xu hƣớng giảm trong thu hút

FDI. Do vậy, việc xây dựng đội ngũ lao động chất lƣợng với trình độ tay nghề cao,

tác phong làm việc chuyên nghiệp và có thể lực tốt là một yêu cầu cấp thiết.

Mặc dù nguồn nhân lực ở VKTTĐ có những ƣu điểm nhất định, góp phần quan

trọng trong việc thu hút nhiều dự án FDI, song nguồn nhân lực VKTTĐ cũng đã bộc lộ

một số hạn chế nhƣ: đại đa số lực lƣợng lao động có nguồn gốc xuất thân từ nông dân,

chịu ảnh hƣởng không nhỏ của thói quen sản xuất nhỏ, tính kỷ luật thấp, số lao động có

trình độ chuyên sâu trong các lĩnh vực còn ít... Trong khi đó, nền kinh tế hiện đại lại đòi

hỏi rất cao về tính kỷ luật, tổ chức, tác phong công nghiệp. Việc thiếu đội ngũ lao động

lành nghề là yếu tố ảnh hƣởng không nhỏ đến quyết định đầu tƣ của các nhà ĐTNN.

- Trình độ phát triển khoa học - công nghệ VKTTĐ: Đây là một trong những

yếu tố ảnh hƣởng lớn đến quá trình thu hút FDI ở VKTTĐ.

+ Nhờ đa dạng hóa và sự gia tăng nguồn vốn thu hút mà việc xây dựng cơ sở

vật chất kỹ thuật cho phát triển KH-CN ở VKTTĐ đƣợc tăng cƣờng, đội ngũ cán bộ

và nhân viên chuyên nghiệp làm KH-CN đƣợc tăng lên.

+ Cơ quan làm việc, các xƣởng, trại thực nghiệm, phòng thí nghiệm đều đƣợc

quan tâm tăng cƣờng máy, móc thiết bị hiện đại. Đây là nguồn sản xuất KH-CN lớn,

có thể đáp ứng các DN đang hoạt động trong vùng.

+ Việc thu hút vốn đầu tƣ vào ứng dụng các kết quả R&D, các kỹ thuật tiến

bộ đã đƣợc sự hƣởng ứng tích cực của đông đảo các tầng lớp dân cƣ trong vùng.

+ Việc tiếp thu, làm chủ, thích nghi và khai thác có hiệu quả các công nghệ

nhập từ nƣớc ngoài vào VKTTĐ, làm cho trình độ công nghệ trong một số ngành

sản xuất, dịch vụ của vùng đã đƣợc nâng lên đáng kể, nhiều sản phẩm hàng hoá có

51

sức cạnh tranh cao hơn. Nhƣng việc phát triển KH-CN ở VKTTĐ cũng gặp những

khó khăn nhất định, ảnh hƣởng tới quá trình thu hút vốn FDI, đó là:

 Tổng mức đầu tƣ cho KH-CN ở VKTTĐ còn thấp nên thiếu vốn đầu tƣ

thực hiện các dự án KH-CN, làm thiếu vắng những dự án KH-CN quy mô lớn. Điều

này đã vô hình chung cản trở nhu cầu đầu tƣ của các nhà ĐTNN.

 Tốc độ đổi mới công nghệ và trang thiết bị còn chậm, chƣa theo một định

hƣớng phát triển rõ rệt nên vẫn còn tồn tại các loại thiết bị và công nghệ lạc hậu.

Phần lớn công nghệ, thiết bị sử dụng có xuất xứ từ nƣớc ngoài. Tri thức công nghệ

đƣợc chuyển giao thông qua kênh này thƣờng chỉ là các kỹ năng vận hành hệ thống

sản xuất để làm ra những sản phẩm đạt năng suất, chất lƣợng, chi phí ở mức hợp lý.

 Hiệu quả của sản xuất và tốc độ thu hút FDI của VKTTĐ có liên quan mật

thiết đến kết quả hoạt động KH-CN nhƣng do trình độ phát triển KH-CN trong các

ngành kinh tế còn thấp nên kết quả đạt đƣợc còn chƣa cao.

Ngoài ra, nhà ĐTNN còn quan tâm một số yếu tố về môi trƣờng xã hội, văn hóa

hay yếu tố khác liên quan đến gia tăng chi phí đầu tƣ… Sự ảnh hƣởng của từng yếu tố

đôi khi không giống nhau, có nhà đầu tƣ coi yếu tố này quan trọng hơn yếu tố kia

nhƣng nhà đầu tƣ khác thì ngƣợc lại. Chẳng hạn, ảnh hƣởng của địa điểm đầu tƣ hay

chất lƣợng nguồn nhân lực sẽ rất khác nhau đối với nhà đầu tƣ sản xuất hàng tiêu dùng,

tiêu thụ trong nƣớc với nhà đầu tƣ sản xuất hàng xuất khẩu…Hay, có một vài yếu tố

chƣa thực sự thuận lợi nhƣng nhà đầu tƣ vẫn chấp nhận đầu tƣ, vì họ thấy có thể khắc

phục hoặc các địa phƣơng sở tại đang tích cực tháo gỡ bất lợi của các yếu tố đó.

2.2.2. Tiêu chí đánh giá tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong

chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm

2.2.2.1. Sự biến đổi các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô

Kết quả kinh tế là những lợi ích có tính chất định hƣớng nhằm đáp ứng những mục

tiêu của các địa phƣơng vùng nhƣ: thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế,

CDCCKT… phù hợp với từng giai đoạn phát triển thông qua các chỉ tiêu định lƣợng nhƣ:

GO, VA, thu ngân sách, thu xuất khẩu…của khu vực FDI so với các khu vực khác.

2.2.2.2. Chi phí nguồn lực xã hội và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bỏ ra

với kết quả thu được

Hiệu quả FIE tối ƣu hóa xét ở tầm vĩ mô có thể phản ánh đƣợc mục tiêu hóa

phúc lợi xã hội đƣợc thực hiện thông qua các mục tiêu phát triển KT-XH dài hạn.

Việc lƣợng hóa các kết quả và chi phí của hoạt động sử dụng vốn FDI là cần thiết để

đo lƣờng, đánh giá hiệu quả. Tuy nhiên, không phải tất cả các kết quả do các hoạt

52

động đầu tƣ đều có thể đo lƣờng một cách rõ ràng bằng các chỉ tiêu định lƣợng vì rất

khó lƣợng hóa nhƣ: góp phần tăng trƣởng kinh tế, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân

lực, tăng khả năng cạnh tranh... Hơn nữa, việc thu thập, thống kê các số liệu nhiều

khi không thống nhất gây ảnh hƣởng cho việc đánh giá định lƣợng. Vì vậy, khi đánh

giá hiệu quả sử dụng vốn FDI cần kết hợp cả chỉ tiêu định lƣợng và định tính.

2.2.2.3. Mức đóng góp về vốn cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Vốn FDI tham gia vào sự hình thành cơ cấu vốn đầu tƣ theo ngành và từ đó

tác động vào quá trình CDCCKT tại địa phƣơng tiếp nhận vốn. Tuy nhiên, có vốn

đầu tƣ chƣa đủ, vì nếu không bố trí hợp lý với một cơ cấu vốn đầu tƣ hợp lý sẽ thúc

đẩy quá trình CDCCKT nhanh và hiệu quả.

Cơ cấu kinh tế thƣờng đƣợc đo lƣờng bởi cơ cấu GDP thể hiện ở tỷ trọng của 3

nhóm ngành công nghiệp-nông nghiệp-dịch vụ. Với xu hƣớng CDCCKT hiện nay là

tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ càng cao và nông nghiệp càng giảm. Tuy nhiên, nếu

để làm rõ hơn chất lƣợng CDCCKT cần đi sâu vào nội bộ ngành để xem xét VA của

nội bộ từng ngành, qua đó sẽ có cơ sở đánh giá chính xác hơn hiệu quả của CDCCKT.

2.2.2.4. Mức độ bù đắp vốn bị thiếu hụt cho đầu tư phát triển và cải thiện

cán cân thanh toán

Do tích lũy nội bộ thấp, các địa phƣơng thƣờng gặp khó khăn do thiếu vốn cho

đầu tƣ phát triển lâu dài, là nguyên nhân làm cho hiệu quả kinh tế thấp và có cơ hội để

mở rộng hợp tác kinh tế, tiếp cận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến bị hạn chế. Điều này dẫn

đến thu ngân sách không đủ đáp ứng chi tiêu. Thiếu vốn cho đầu tƣ phát triển dẫn đến

hiệu quả kinh tế thấp, tích lũy thấp lại quay về tình trạng thiếu vốn, đó là cái vòng “luẩn

quẩn”. Vốn FDI là một nguồn vốn huy động từ bên ngoài sẽ tạo “cú huých” phá vỡ

vòng “luẩn quẩn” đó và là nguồn vốn bổ sung dài hạn cho kinh tế địa phƣơng.

Theo mô hình lý thuyết “hai lỗ hổng” của Cherery và Strout thì hai cản trở

chính cho tăng trƣởng và phát triển đó là: Tiết kiệm không đủ đáp ứng cho nhu cầu

đầu tƣ là “lỗ hổng tiết kiệm” và thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đủ đáp ứng

nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu là “lỗ hổng thƣơng mại” mà Việt Nam không phải là

ngoại lệ. Vì vậy, vốn FDI là nguồn vốn quan trọng không chỉ để bổ sung vốn nói

chung mà cả sự thiếu hụt về ngoại tệ nói riêng; vốn FDI góp phần làm tăng khả năng

cạnh tranh và mở rộng xuất khẩu, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nƣớc ngoài,

thu ngoại tệ từ các hoạt động dịch vụ tại khu vực FIE.

Nếu xét FDI trong mối quan hệ với các nguồn vốn khác thì vốn FDI cho phép

các nƣớc tránh đƣợc gánh nặng nợ nần, ít mạo hiểm. Do đó, có ảnh hƣởng tích cực

53

đến cán cân thanh toán trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về dài hạn, để biết rõ FDI ảnh

hƣởng tới cán cân thanh toán thì cần phải xem xét trong một thời kỳ nhất định. Sự

gia tăng dòng vốn FDI có ảnh hƣởng tích cực tới cán cân thanh toán của nƣớc đang

phát triển, có hiệu ứng tích cực đối với hệ thống tài chính đối với nƣớc nhận đầu tƣ.

2.2.2.5. Giá trị gia tăng của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đây là chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng phản ánh thu nhập của ngƣời lao động,

DN và nhà nƣớc, trong đó: Thu nhập của ngƣời lao động: tiền lƣơng và các khoản

có tính chất tiền lƣơng, trả công lao động, trích bảo hiểm…; Thu nhập từ các đơn vị

kinh tế: lợi tức vốn góp, lợi tức kinh doanh, khấu hao DN để lại…; Thu nhập của

nhà nƣớc: các loại thuế, phí phải nộp ngân sách [91].

2.2.2.6. Mức độ đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tăng trưởng

kinh tế

VA khu vực FDI

(Công thức 2.2)

X 100%

=

Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI

GDP

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đóng góp của khu vực FDI vào tăng trƣởng

kinh tế, khi FDI đóng góp nhiều hay ít vào GDP thì đó cũng chính là khu vực này

tác động nhiều hay ít đến tăng trƣởng kinh tế. Ngoài chỉ tiêu GDP, ngƣời ta cũng có

thể dùng các chỉ tiêu GNP, GNI để đo lƣờng sự tăng trƣởng kinh tế.

2.2.2.7. Tỷ lệ vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế của đầu tư trực tiếp nước

ngoài

I

(Công thức 2.3)

ICOR

=

ΔVA khu vực FDI

Trong đó: I: Vốn đầu tƣ thực hiện trong kỳ; ΔVA: Mức tăng của VA kỳ sau so

với kỳ trƣớc. Đây là chỉ tiêu phản ánh tỷ số giữa quy mô đầu tƣ tăng thêm với mức gia

tăng, tăng thêm hay suất đầu tƣ cần thiết để tạo ra 1 đơn vị sản lƣợng tăng thêm.

Đối với từng lĩnh vực, hệ số ICOR càng nhỏ thì hiệu quả đầu tƣ càng lớn và

ngƣợc lại. Tuy nhiên, hệ số ICOR không phải là chỉ tiêu so sánh giữa các ngành. Ví

dụ: ICOR của công nghiệp thƣờng cao hơn nhiều so với nông nghiệp, nhƣng không

phải vì thế mà cho rằng hiệu quả đầu tƣ trong nông nghiệp cao hơn của công nghiệp.

Do vậy, khó đánh giá hiệu quả so sánh trong CDCCKT giữa các ngành KTQD.

Trong trƣờng hợp ICOR không đổi, mức tăng của VA phụ thuộc vào vốn đầu tƣ.

Đối với một nền kinh tế, hệ số ICOR phụ thuộc vào CCKT, mức tiêu tốn đối với các

ngành, các vùng lãnh thổ, phụ thuộc vào chính sách kinh tế nói chung…[92].

54

Ngƣợc lại với hiệu quả của ICOR là chỉ số hiệu suất sử dụng một đồng vốn

đầu tƣ (Hv) hay chỉ số AV/một đồng vốn đầu tƣ.

ΔVA khu vực FDI

(Công thức 2.4)

=

HV

I

Chỉ số này cho biết một đồng vốn đầu tƣ tạo đƣợc bao nhiêu đồng gia tăng

của VA, chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ hiệu quả đầu tƣ càng lớn.

2.2.2.8. Năng suất lao động của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chỉ tiêu này phản ánh NSLĐ của khu vực FDI (hay hiệu suất sử dụng lao

động của khu vực FDI), chỉ tiêu này phản ánh một lao động tại khu vực FDI tạo ra

đƣợc bao nhiêu AV cho nền kinh tế. Trên cơ sở so sánh khu vực FDI với khu vực

khác của nền kinh tế, từ đó giúp cho việc đánh giá đƣợc hiệu suất lao động của khu

vực nào tốt hơn. Chỉ tiêu này rất quan trọng, để biết đƣợc trình độ phát triển của khu

vực, địa phƣơng, quốc gia... Mức NSLĐ do đầu tƣ phát triển thì ngoài việc chịu ảnh

hƣởng từ những yếu tố nhƣ công nghệ, chế độ tiền lƣơng, trình độ lao động… thì

còn có yếu tố đầu tƣ phát triển. Trong đó: HL: là NSLĐ của khu vực FDI.

VA khu vực FDI

(Công thức 2.5)

HL

=

Số lao động trong khu vực FDI

2.2.2.9. Giá trị xuất khẩu của đầu tư trực tiếp nước ngoài/tổng giá trị xuất khẩu

Chỉ tiêu này cho biết mức độ xuất khẩu của khu vực FDI đã đóng góp cho giá

trị xuất khẩu là bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng cao thể hiện mức độ đóng góp của khu

vực FDI đối với xuất khẩu càng lớn. Ngoài ra, ngƣời ta cũng sử dụng chỉ tiêu: tỷ số

giá trị xuất khẩu khu vực FDI/vốn FDI thực hiện, nó giúp đánh giá hiệu quả của vốn

FDI trong việc tạo ra giá trị xuất khẩu. Tỷ số này càng lớn thì hiệu quả đầu tƣ vốn

FDI tạo ra giá trị xuất khẩu càng cao. Qua đó đánh giá mức độ mở cửa của nền kinh

tế. Tuy nhiên, để đánh giá toàn diện mức độ đóng góp và hiệu quả khu vực FDI đối

với xuất khẩu thì cần sử dụng một số chỉ tiêu bổ sung nhƣ: Giá trị xuất khẩu/1 lao

động; Giá trị xuất khẩu/1 đơn vị diện tích đất sử dụng…

2.2.2.10. Thu ngân sách của đầu tư trực tiếp nước ngoài/tổng thu ngân

sách nhà nước

Chỉ tiêu này phản ánh, trong một đồng vốn ngân sách thì khu vực FDI đóng góp

bao nhiêu? Ngoài ra cũng có thể sử dụng chỉ tiêu: Thu ngân sách/vốn FDI, nếu chỉ tiêu

này càng lớn phản ánh hiệu quả của vốn FDI tính theo mức đóng góp ngân sách càng

55

lớn. Có thể so sánh chỉ tiêu này với giá trị trung bình tại địa phƣơng đó qua các thời kỳ

hoặc so sánh với các địa phƣơng khác, hay của nền KTQD. Nếu chỉ tiêu này càng lớn

càng chứng tỏ mức độ đóng góp của khu vực FDI vào ngân sách càng lớn.

2.2.2.11. Số lao động trong khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài/ tổng lao động

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thu hút lao động tại khu vực FDI, nếu khu vực

FDI thu hút càng nhiều việc làm cho ngƣời lao động tại địa phƣơng càng tốt. Ngoài ra

còn có thể sử dụng chỉ tiêu: Tỷ suất vốn đầu tƣ/lao động để cho biết mức đầu tƣ bình

quân cho 1 lao động khu vực FDI. Nếu chỉ xét trên phƣơng diện vốn tạo việc làm thì

tỷ suất vốn/lao động cao so với số liệu trung bình thì đƣợc xem nhƣ vốn đầu tƣ thực

hiện thu hút đƣợc ít lao động và ngƣợc lại. Tuy nhiên, để đánh giá toàn diện việc sử

dụng lao động ở khu vực này cần sử dụng thêm chỉ tiêu: Vốn FDI thực hiện/1 lao

động khu vực FDI; 1 lao động khu vực FDI tạo ra đƣợc bao nhiêu đơn vị VA.

2.3. KINH NGHIỆM VÀ BÀI HỌC TỪ NƢỚC NGOÀI VỀ THU HÖT VỐN

ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

ĐỐI VỚI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

2.3.1. Kinh nghiệm của một số nƣớc châu Á

2.3.1.1. Phát triển vùng kinh tế trọng điểm

- Nhật Bản, Sau thế chiến thứ hai để đạt mục tiêu phát triển nhanh và hiệu quả,

Nhật Bản đã lựa chọn Tokyo, Osaka và Yokohama để tập trung nguồn lực phát triển,

hình thành vành đai công nghiệp Thái Bình Dƣơng chiếm 13% diện tích lãnh thổ, tập

trung 63% dân số của Nhật Bản, với hy vọng trở thành một trong bốn vành đai công

nghiệp lớn của thế giới và đặt nền móng cho sự phát triển cho Nhật bản trong các giai

đoạn sau. Trong thập niên 80/thế kỷ XX, Nhật Bản đã hình thành một bức tranh về cơ

cấu công nghiệp (một vành đai công nghiệp rộng 10-80 km xuyên suốt lãnh thổ của 18

quận miền Trung trong số 47 quận của Nhật Bản và nối liền 4 chùm công nghiệp siêu

tập trung; còn vùng ngoại vi đã hình thành 11 trọng điểm công nghiệp để nối vành đai

công nghiệp với các phần khác của đất nƣớc). Năm 1987, Nhật Bản triển khai kế hoạch

khai thác lãnh thổ lần thứ 4 với mục tiêu làm thay đổi tình trạng tập trung quá mức kinh

tế và dân cƣ vào một cực; “hình thành lãnh thổ quốc gia an toàn và giàu có”, “không

ngừng phát triển ngành nghề” nhằm cân đối hài hòa kinh tế vùng. Luật hóa cơ sở pháp

lý cho các cơ quan của Chính phủ xây dựng các kế hoạch, chƣơng trình phát triển vùng,

trao cho họ đủ thẩm quyền để thực hiện quá trình điều phối.

- Trung Quốc, là quốc gia đƣợc đánh giá có phƣơng thức "lợi dụng vốn ngoại"

một cách hiệu quả. Quá trình thu hút FDI của quốc gia này có diễn tiến từ "điểm" tới

56

"tuyến", từ "tuyến" tới "diện", từ Nam lên Bắc, từ Đông sang Tây, từng bƣớc đƣợc mở

rộng trong các lĩnh vực với tầng nấc khác nhau. Trong thời kỳ đầu cải cách mở cửa,

Trung Quốc thành lập 4 đặc khu kinh tế, 14 thành phố ven biển, đẩy mạnh thu hút vốn

và kỹ thuật của nƣớc ngoài với những ƣu đãi về thuế, đất đai, lao động... Mục tiêu xây

dựng các đặc khu kinh tế của Trung Quốc là thu hút công nghệ tiên tiến của nƣớc

ngoài, nâng cao trình độ kỹ thuật, thúc đẩy xuất khẩu và mở rộng quan hệ với nƣớc

ngoài, phát triển kinh tế trong nƣớc. Các nhà đầu tƣ khi vào SX-KD tại các đặc khu

kinh tế (Thâm Quyến, Sán Đầu, Chu Hải, Hạ Môn và Hải Nam) đƣợc hƣởng chế độ

đặc biệt. Để hạn chế sự mất cân đối vùng, miền trong phân bố FDI, Trung Quốc đã

khuyến khích các dự án vào khu vực phía Tây và miền Trung. Với những chính sách

đầu tƣ thông thoáng, linh hoạt cùng với nguồn lao động dồi dào, giá rẻ và có chất

lƣợng, các đặc khu kinh tế của Trung Quốc đã thu hút đƣợc một số lƣợng rất lớn các

nhà ĐTNN. Hệ quả tất yếu là FDI vào trong nƣớc tăng, trang thiết bị đƣợc nâng cấp

hiện đại và phƣơng pháp quản lý tiên tiến trong hoạt động kinh tế đƣợc cập nhật, mức

sống của ngƣời dân tại các đặc khu này đƣợc nâng cao.

2.3.1.2. Xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý về đầu tư trực tiếp

nước ngoài

- Trung Quốc, quan tâm đến những quyền lợi của nhà ĐTNN bằng cách thƣờng

xuyên bổ sung, sửa đổi Luật ĐTNN. Những hoạt động thanh tra trái phép, thu lệ phí

hay áp đặt thuế sai quy định đối với các DN nƣớc ngoài bị xử lý nghiêm khắc. Nhiều

quy định đƣợc xóa bỏ để phù hợp với pháp luật kinh doanh quốc tế nhƣ tỷ lệ nội địa

hóa, cân đối ngoại tệ. Phạm vi ngành nghề đƣợc phép đầu tƣ đƣợc mở rộng, từ 186

lên đến 262 khoản mục đƣợc đầu tƣ. Thực hiện công khai các kế hoạch phát triển kinh

tế và tập trung hƣớng dẫn ĐTNN vào các ngành đƣợc khuyến khích phát triển.

- Hàn Quốc, năm 1960, Hàn Quốc bắt đầu ban hành Luật ĐTNN và các chính

sách khác nhằm thu hút FDI. Từ năm 1962, Hàn Quốc cho phép FDI vào trong nƣớc

tự do miễn là chúng đáp ứng đƣợc mục tiêu của kế hoạch phát triển và mọi nguồn lực

FDI đều đƣợc nhà nƣớc bảo vệ và ủng hộ. Năm 1967, Hàn Quốc sửa đổi luật khuyến

khích đầu tƣ. Năm 1970, thiết lập khu xuất khẩu tự do đầu tiên ở Masan. Nhờ những

nỗ lực trên, FDI vào Hàn Quốc đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, do lo ngại những tác

động ngƣợc của FDI đối với nền kinh tế, nên Chính phủ khuyến khích các DN liên

doanh hơn là các DN 100% vốn nƣớc ngoài và không chấp nhận các dự án có đặc

trƣng nhƣ: gây hỗn loạn cung, cầu trong nƣớc về nguyên liệu thô và sản phẩm trung

gian; có các sản phẩm đang cạnh tranh với các công ty trong nƣớc trên thị trƣờng

57

nƣớc ngoài; tìm kiếm lợi nhuận chỉ dựa vào việc sử dụng đất. Năm 1980, Chính phủ

sửa lại Luật đầu tƣ theo hƣớng mở rộng hơn đối với FDI, cho phép nhà FDI đƣợc

tham gia vào nhiều lĩnh vực hơn và tỷ lệ vốn tham gia lớn hơn, cho phép xí nghiệp

100% vốn nƣớc ngoài hoạt động ở nhiều lĩnh vực trƣớc đây không cho phép.

2.3.1.3. Xây dựng và cải thiện cơ sở hạ tầng

Cũng nhƣ các nƣớc Châu Á khác, Thái Lan đã thấy đƣợc tiềm năng thu hút

nguồn vốn FDI trên cơ sở tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng: hệ thống đƣờng bộ,

đƣờng sắt, hệ thống sân bay, bến cảng, khu công nghiệp, kho bãi hiện đại. Nƣớc này

cũng xây dựng thành công hệ thống viễn thông, bƣu điện, mạng internet thông suốt

cả nƣớc phục vụ cho hoạt động kinh doanh quốc tế, nhằm tạo môi trƣờng hấp dẫn và

dễ dàng cho các nhà đầu tƣ khi hoạt động trên đất nƣớc mình.

2.3.1.4. Thực hiện chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với đầu tư trực tiếp

nước ngoài vào các lĩnh vực ưu tiên nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Hàn Quốc, Các chính sách FDI tƣơng đối khác biệt trên các lĩnh vực về ƣu

đãi thuế, trợ cấp, chính sách tài chính, hỗ trợ hành chính và chính sách lao động. Các

dự án FDI có định hƣớng thị trƣờng khác nhau và do đó mong muốn các loại ƣu đãi

khác nhau: dự án nhằm vào thị trƣờng trong nƣớc thì cần ƣu đãi đối với từng mặt

hàng nhƣ bảo vệ thuế quan; dự án theo định hƣớng xuất khẩu cần ƣu đãi về miễn thuế.

Khu vực ƣu đãi hỗ trợ cho các DN nƣớc ngoài, bao gồm cả trợ cấp cho vốn cố định và

việc làm, có tác động tích cực đáng kể trên các lựa chọn vị trí của các MNCs.

- Singapore, Chính phủ đã ban hành những chính sách khuyến khích các nhà

tƣ bản nƣớc ngoài bỏ vốn vào đầu tƣ. Singapore áp dụng chính sách ƣu đãi rất đặc

biệt, đó là: khi kinh doanh có lợi nhuận, nhà ĐTNN đƣợc tự do chuyển lợi nhuận về

nƣớc; Nhà đầu tƣ có quyền cƣ trú nhập cảnh (đặc quyền về nhập cảnh và nhập quốc

tịch); Nhà đầu tƣ nào có số vốn ký thác tại Singapore từ 250.000 Đô la Singapore trở

lên và có dự án đầu tƣ thì gia đình họ đƣợc hƣởng quyền công dân Singapore.

- Thái Lan, Từ năm 2005, chính sách thu hút FDI của Thái Lan có sự biến

chuyển theo hƣớng đầu tƣ chọn lọc với chính sách ƣu tiên, hỗ trợ phát triển các loại

hình dịch vụ phi sản xuất và các loại hình dịch vụ tài chính. Cục Đầu tƣ Thái Lan

(BOI) chuyên xem xét ƣu đãi cho từng dự án và phân loại dự án đầu tƣ theo tác động

của dự án. Việc ƣu đãi đầu tƣ đƣợc phân thành 2 nhóm: nhóm A (các lĩnh vực đƣợc

hƣởng ƣu đãi thuế thu nhập DN) và nhóm B (các lĩnh vực không đƣợc hƣởng ƣu đãi

thuế thu nhập DN, nhƣng có thể đƣợc hƣởng các ƣu đãi khác). Thái Lan giảm thuế

cho những dự án ở vùng sâu, vùng xa và những dự án trong KCN. Theo đó,

58

Bangkok và 6 tỉnh phụ cận đƣợc gọi là vùng 1, tiếp đến là các tỉnh vùng khác (càng

xa Bangkok thì mức độ ƣu đãi càng lớn). Các dự án nhóm A nếu ở vùng 3 hay trong

KCN sẽ đƣợc giảm thuế 50% thêm 5 năm sau khi hết thời hạn miễn thuế. Các dự án

tại vùng 2 có thể đƣợc miễn thuế từ 2-7 năm.

Để tránh việc nhà ĐTNN lợi dụng Thái Lan nhƣ thị trƣờng nhân công giá rẻ,

hoặc thành lập DN để hƣởng ƣu đãi, rồi đóng cửa DN khi hết ƣu đãi, hoặc dùng biện

pháp trả lãi để tránh đóng thuế thu nhập DN, Chính phủ Thái Lan quy định để đƣợc

hƣởng ƣu đãi, DN phải tạo ra ít nhất 20% giá trị bán hàng tại Thái Lan, tỉ lệ nợ trên

vốn không đƣợc thấp hơn 3:1 và phải sử dụng máy móc, thiết bị mới.

Chính sách của BOI thay vì thu hút đầu tƣ rộng rãi, sẽ thu hút đầu tƣ theo chiều

sâu và có ƣu tiên tùy theo tầm quan trọng của dự án nhƣ: dự án đầu tƣ ít nhất 1%

doanh thu cho R&D sẽ đƣợc miễn thuế thêm một năm, có đóng góp ít nhất 2% doanh

thu cho đào tạo nghề hay viện nghiên cứu sẽ đƣợc miễn thuế thêm 2 năm. Dự án đóng

góp ít nhất 3% doanh thu cho quỹ phát triển khoa học công nghệ sẽ đƣợc miễn thuế

thêm 3 năm. Vì họ hiểu rõ đầu tƣ cho khoa học công nghệ và giáo dục sẽ làm tăng sức

hấp dẫn và tăng đầu tƣ trong dài hạn.

Từng bƣớc chuyển từ ƣu đãi thuế đơn thuần sang ƣu đãi trọn gói (bao gồm cả

thuế, lao động, thủ tục cấp phép trong thời gian nhanh nhất, cung ứng lao động và cơ sở

hạ tầng cho nhà đầu tƣ...) Thái Lan còn ƣu đãi đầu tƣ cho các công ty mẹ đóng tại Thái

Lan (gọi là Regional Operating Headquarters - ROH). Nếu các ROH nắm giữ ít nhất

25% vốn tại các công ty con ở nƣớc ngoài và tiến hành các dịch vụ hỗ trợ (nhƣ quản lý,

nghiên cứu thị trƣờng, mua sắm, marketing, chuyển giao công nghệ), có trên 50%

doanh thu từ các hoạt động đầu tƣ ra nƣớc ngoài thì sẽ đƣợc hƣởng thuế thu nhập DN

ƣu đãi 10% đối với lợi nhuận từ kinh doanh, tiền bản quyền, lãi và đƣợc miễn thuế đối

với tiền cổ tức thu đƣợc từ nƣớc ngoài…Nhờ có chính sách đối với ROH, nhiều MNEs

đang cân nhắc dời trụ sở vùng từ Singapore sang Bangkok. Điều đó cũng sẽ làm tăng số

công ty mẹ tại Thái Lan và về lâu dài tiền sẽ quay về nƣớc này để tái đầu tƣ.

Các dự án FDI trong nông nghiệp cũng rất đƣợc coi trọng nhƣ miễn giảm đến 50%

thuế nhập khẩu đối với các loại máy móc, thiết bị để thực hiện dự án. Các lĩnh vực đặc

biệt khó khăn và có sản phẩm xuất khẩu, đƣợc miễn hoàn toàn thuế thu nhập DN trong

vòng 5 năm. Chính sách này đã làm cho nền nông nghiệp Thái Lan có đƣợc những lợi thế

về chất lƣợng và giá cả, tạo đƣợc thƣơng hiệu trên thị trƣờng nông sản thế giới.

- Indonesia, rất coi trọng các dự án xuất khẩu, tiết kiệm ngoại tệ, chế biến thành

phẩm và bán thành phẩm, chuyển giao công nghệ, sử dụng chuyên gia và lao động

59

Indonesia. Ủy ban đầu tƣ quốc gia công bố từng thời gian, khu vực nào cho phép nƣớc

ngoài kinh doanh, khu vực nào cấm kinh doanh. Đối với thuế lợi tức, nếu công ty có

mức lãi ròng 10 triệu rupi trở xuống đánh thuế 15%, >10 triệu đến 50 triệu rupi đánh

thuế 25%, và >50 triệu rupi đánh thuế 35%. Miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu với máy

móc, thiết bị, phụ tùng đƣợc Ủy ban đầu tƣ phê duyệt trong danh mục quy định. Tuy

nhiên, những thứ nhập theo vốn đầu tƣ mà Indonesia đã sản xuất đƣợc thì không đƣợc

miễn thuế. Nƣớc ngoài mua những hàng này của Indonesia thì đƣợc thoái lại thuế đã

đánh vào vật liệu, nguyên liệu sản xuất ra chúng. Lãi xuất tín dụng phục vụ xuất khẩu

thấp hơn nhiều so với lãi xuất khác. DN nƣớc ngoài đƣợc phép chuyển ra nƣớc ngoài

các khoản thu nhập sau thuế, vốn, chi tiền cho cá nhân, khấu hao tài sản cố định…

2.3.1.5. Phát triển công nghiệp phụ trợ, tăng cường tính liên kết và thúc

chuyển giao công nghệ thông qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Nhật Bản, trong một thời gian dài Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng và triển

khai kế hoạch chính sách cụm liên kết ngành một cách công phu. Bộ Kinh tế công

nghiệp và Thƣơng Mại Nhật Bản đã tiến hành bốn bƣớc chính: 1) Phân tích đặc

điểm của địa phƣơng; 2) Xác định mạng lƣới; 3) Mở rộng phạm vi mạng lƣới; 4)

Thúc đẩy tập trung công nghiệp và đổi mới. Ba nhóm chính sách mà METI thực

hiện là: 1) Xây dựng mạng lƣới; 2) Hỗ trợ doanh nghiệp (R&D), phát triển thị

trƣờng, quản lý, đào tạo; 3) Thúc đẩy liên kết (giữa tổ chức tài chính - công nghiệp -

cơ sở đào tạo) [dẫn theo 13]. Mối liên kết mạnh giữa các DN Nhật Bản, đƣợc phân

chia thành các Tier, trong đó Tier 1 sẽ là các tập đoàn lớn đảm trách nhiệm vai trò

tổng thầu và chia nhỏ thành rất nhiều phần cho các công ty nhỏ hơn (Tier 2, Tier 3),

thậm chí là Outsource (hợp đồng thuê ngoài hay dịch vụ gia công) ở nƣớc ngoài để

tiết giảm chi phí. Nhật Bản đã thành công trong việc liên kết các DN, điều này nhận

thấy khi tất cả các DN cùng hƣớng đến những phƣơng thức quản lý nhƣ 5S hay

Kaizen (cải tiến, cải thiện). Chính sự liên kết này đã góp phần làm nên sự phát triển

công nghiệp hỗ trợ ở Nhật Bản [dẫn theo 31].

- Trung Quốc, rất coi trọng liên kết hợp tác với nhà cung cấp nội địa và các DN

lắp ráp nƣớc ngoài, các tập đoàn TNCs, MNCs…Để phát triển cụm liên kết ngành

Trung Quốc đã và đang tập trung phát triển 03 loại hình: cụm liên kết ngành cho các

ngành có hàm lƣợng kỹ thuật và công nghệ cao; cụm liên kết ngành cho các ngành

thông thƣờng, những ngành thâm dụng vốn kết hợp với thâm dụng kỹ thuật; và cụm

liên kết ngành cho các ngành truyền thống. Để tận dụng hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ

khu vực FDI tới các DN trong nƣớc, Trung Quốc đã tăng cƣờng khuyến khích đầu tƣ

60

của các TNCs lớn trên thế giới để nâng cấp kết cấu kỹ thuật và ngành nghề, phát triển

các ngành kỹ thuật cao. Với phƣơng châm “dùng thị trường để đổi lấy kỹ thuật”, Trung

Quốc đã đòi hỏi nghiêm túc việc chuyển giao bí quyết công nghệ của các nhà đầu tƣ,

cho phép họ tham gia những dự án đầu tiên, lập ra cơ sở sản xuất với hàng ngàn kỹ sƣ

cao cấp để ứng dụng công nghệ mới. Ngoài ra, Trung Quốc còn chủ động thu hút các

nhà ĐTNN thành lập các trung tâm R&D, loại trừ thuế và các loại thuế nhập khẩu khác

cho các thiết bị, sản phẩm xây dựng phòng thí nghiệm và hỗ trợ công nghệ sử dụng cho

thí nghiệm nhƣ: Microsoft, Motorola, Intel, Hon da, Siemens, Nortel... [dẫn theo 31].

- Thái Lan, Chính phủ rất chú ý phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ.

Thái Lan đã thành lập Ủy ban hỗ trợ và cùng với các tổ chức chuyên môn lo phát

triển, xây dựng, hình thành những mối liên kết công nghiệp hỗ trợ trong nƣớc. Hiện

nay, Thái Lan có tới 19 ngành công nghiệp phụ trợ ở ba cấp: lắp ráp, cung cấp thiết

bị - phụ tùng - linh kiện và dịch vụ. Từ chỗ từng bƣớc nội địa hóa phụ tùng, đến nay

Thái Lan đã xuất khẩu cả ôtô với linh kiện - phụ tùng đƣợc sản xuất tại chỗ. Thái

Lan có chính sách buộc các nhà ĐTNN đã ổn định trong SX-KD phải tuân thủ tỷ lệ

nội địa hóa. Điều này không những đã kéo theo những dự án đầu tƣ mở rộng sản

xuất ngay tại chỗ, mà còn kéo theo các tập đoàn lớn từ các nƣớc đầu tƣ mở thêm các

cơ sở công nghiệp phụ trợ tại Thái Lan.

- Malaysia, phát triển cụm liên kết ngành đƣợc gọi là Iskandar Malaysia. Mục

đích của Iskandar là nhằm để phát triển một vùng lãnh thổ trở nên có sức cạnh tranh

mạnh, năng động và có tính toàn cầu. Hiện tại, ở Malaysia có 09 cụm liên kết ngành

bao gồm 06 lĩnh vực dịch vụ: tƣ vấn tài chính; sáng chế, sáng tạo; logistics; du lịch;

giáo dục; y tế; và 03 lĩnh vực công nghiệp chế tác: điện và điện tử; hóa chất và hóa

dầu; chế biến lƣơng thực và thực phẩm. Yếu tố quan trọng của khâu đột phá này là

nâng cao tính gắn kết của mạng lƣới trong mỗi cụm liên kết ngành để tất cả các DN,

các tổ chức trong cụm liên kết ngành có thể gắn kết, phối hợp với nhau một cách trôi

chảy và thuận lợi nhất. Mối liên hệ giữa các nhà cung cấp và các nhà lắp ráp thông

qua chƣơng trình phát triển các DN cung ứng (VDP) [dẫn theo 12].

2.3.1.6. Phát triển nguồn nhân lực nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước

ngoài và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Nhật Bản, năm 1985 có Luật Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực. Nhà

nƣớc đóng vai trò cung cấp cơ sở hạ tầng và thông tin thông qua các hạt nhân sáng tạo.

Các cơ sở đào tạo có mối liên hệ thƣờng xuyên với cộng đồng DN, nắm rõ thực tiễn để

cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của DN. Nhật Bản đƣa ra chƣơng trình liên

61

kết học đƣờng - DN để năng cao kỹ năng lao động. Hiện tại, Nhật Bản có 05 hạt nhân

sáng tạo quốc gia và 41 hạt nhân sáng tạo cấp tỉnh. Đây là cầu nối giữa các cơ sở đào

tạo với các DN, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa nhằm cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng

nhu cầu xã hội. Nhật Bản đƣa ra cơ chế đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao tại chỗ

làm việc, theo quy mô của DN. Trong đó chú trọng đào tạo: phong cách và kỷ luật lao

động; kiến thức thực tế; tinh thần tập thể trong công ty [dẫn theo 31].

- Trung Quốc, thực hiện tìm kiếm nguồn nhân lực chất lƣợng cao trên thế giới

hay từ nguồn lực Hoa Kiều. Trung Quốc đã ban hành “Cương yếu quy hoạch nhân

tài”, với chủ trƣơng phát triển nhân tài tầm trung và dài hạn. Hiện nay, Chính phủ

Trung Quốc đang triển khai thực hiện 16 dự án khoa học kỹ thuật quan trọng, phấn

đấu đến năm 2020 đƣa tổng số cán bộ khoa học kỹ thuật loại hình sáng tạo cấp cao

lên tới 40 nghìn ngƣời. Đồng thời, tăng cƣờng đào tạo nhân tài nghiên cứu phát

triển, kỹ thuật khan hiếm và nhân tài quản lý; ấn định chính sách ƣu đãi, nhất là

nhân tài hạt nhân dẫn đầu ngành sản xuất, nhân tài kỹ thuật công trình; thúc đẩy tự

do hoá thị trƣờng lao động, tự do hoá việc di cƣ lao động. ... [dẫn theo 32]

- Thái Lan, Chính phủ đã đƣa ra các gói hỗ trợ đổi mới công nghệ, khuyến

khích phát triển kỹ năng bằng cách giảm thuế thu nhập dài nhất là 8 năm và miễn

giảm thuế nhập khẩu máy móc. Theo đó, các DN hoạt động trong lĩnh vực điện tử, y

tế, thiết kế và đào tạo nguồn nhân lực, tuyển dụng nhân lực khoa học đƣợc hƣởng ƣu

đãi. Thái Lan triển khai tốt hoạt động này, nhƣng họ vẫn đang rất thiếu cán bộ kỹ

thuật có chất lƣợng. Trong quá khứ họ chỉ có hơn 20% cán bộ tốt nghiệp về khoa

học kỹ thuật, hiện đã có kế hoạch tăng tỉ số này lên 40% [dẫn theo 145].

- Malaysia, Chính phủ đã thành lập quỹ phát triển nhân lực, hỗ trợ chi phí đào

tạo cho công ty thực hiện đào tạo nhân viên và hỗ trợ gấp đôi chi phí cho lao động đi

đào tạo tại một cơ sở đào tạo đƣợc Nhà nƣớc công nhận. Khuyến khích sự phát triển

trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển có đóng góp đáng kể đối với quá trình phát triển

nguồn nhân lực trong dài hạn của đất nƣớc. Thực hiện miễn thuế thu nhập 5 năm đầu

hoặc giảm 100% thuế đầu tƣ trong 10 năm đầu cho những hoạt động trên [dẫn theo 90].

2.3.1.7. Phân cấp quản lý nguồn vốn và nâng cao hiệu quả quản lý nhà

nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Singapore, đã xây dựng đƣợc hệ thống pháp luật hoàn thiện, nghiêm minh,

công bằng và hiệu quả. Các DN trong nƣớc, ngoài nƣớc đều đƣợc đối xử nhƣ nhau.

Nhà nƣớc trả lƣơng rất cao cho công chức, hàng tháng họ phải trích lại một phần

lƣơng (tiền tiết kiệm khi về hƣu). Nếu trong quá trình công tác mà phạm tội tham ô

62

thì sẽ bị cắt khoản tích lũy này, cách chức và có thể phải chịu hình phạt tù. Nhiều

ngƣời gọi đây là “quỹ dưỡng liêm cho quan chức”. Thủ tục cấp giấy phép đơn giản,

thuận tiện, có những dự án xin cấp giấy phép rồi đi vào sản xuất chỉ trong vòng 49

ngày. Hiện tƣợng này đƣợc gọi là “kỳ tích 49 ngày” ở Singapore.

- Indonexia, sự phân quyền ở Indonesia không chỉ nhằm mục đích tăng tính

chủ động và hiệu quả điều hành ở cấp địa phƣơng, mà còn là biện pháp để làm dịu đi

các phong trào đòi quyền độc lập hoàn toàn ở một số địa phƣơng nhƣ Aceh và

Papua. Quá trình phân quyền mạnh mẽ cũng có một số rủi ro nhƣ: Chính sách thu

hút và quy định về FDI sẽ có sự “vênh” nhau giữa các địa phƣơng và với trung

ƣơng, giữa các cấp địa phƣơng. Thực tế đã xảy ra khiếu kiện của một số công ty nhƣ

Caltex, PT Semen Gresik –Cemex và Kaltim Prima Coal do sự thiếu thống nhất và

nhất quán về chính sách giữa chính quyền trung ƣơng và địa phƣơng. Không có các

quy định mang tính pháp lý chặt chẽ về trách nhiệm của chính quyền địa phƣơng…

2.3.1.8. Đổi mới và và đa dạng hóa hoạt động xúc tiến đầu tư

Ở Malaixia, hoạt động xúc tiến đầu tƣ đƣợc làm thƣờng xuyên dƣới nhiều

hình thức rất đa dạng, phong phú và đƣợc thực hiện dƣới nhiều cấp độ khác nhau.

Cơ quan chuyên trách quản lý hoạt động xúc tiến đầu tƣ (MIDA), hoạt động xúc tiến

đầu tƣ đƣợc tiến hành đa dạng nhƣng vẫn đƣợc quản lý thống nhất nên tránh đƣợc

tình trạng xúc tiến đầu tƣ tràn lan, không có mục tiêu rõ ràng hay chồng chéo giữa

các tổ chức tham gia vận động đầu tƣ.

2.3.2. Bài học kinh nghiệm đối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

2.3.2.1. Về quan điểm định hướng phát triển vùng kinh tế trọng điểm

Có thể chấp nhận sự phát triển phi cân đối ở mức độ nào đó, khuyến khích và

tạo điều kiện cho các vùng có tiềm năng phát triển nhanh hơn các vùng khác và trở

thành động lực thúc đẩy sự phát triển của các vùng ít tiềm năng hơn. Khi VKTTĐ đã

đạt đƣợc kết quả nhất định, cần thay đổi tình trạng tập trung quá mức kinh tế và dân

cƣ vào một cực, xây dựng hình thái lãnh thổ quốc gia theo loại hình phân tán đa cực;

không ngừng phát triển các ngành nghề nhằm cân đối và hài hòa kinh tế vùng.

2.3.2.2. Đổi mới, hoàn thiện hệ thống luật pháp và kịp thời điều chỉnh

chính sách đầu tư phù hợp thông lệ quốc tế

Hoàn thiện hệ thống luật pháp liên quan đến hoạt động FDI phù hợp với thông

lệ quốc tế và tiếp tục thực hiện các chính sách ƣu đãi đối với các nhà đầu tƣ. Chính

sách ƣu đãi đầu tƣ cần bảo đảm hấp dẫn nhà đầu tƣ tiềm năng vào ngành nghề, lĩnh

vực theo định hƣớng mới đồng thời phải đƣợc thực hiện trên cơ sở bảo đảm lợi ích

63

quốc gia, hiệu quả KT-XH của từng địa phƣơng, có tính cạnh tranh so với các nƣớc

trong khu vực. Môi trƣờng đầu tƣ phải ổn định, có tính tiên lƣợng và minh bạch.

Chấm dứt tình trạng thu hút FDI theo phong trào, bất chấp chất lƣợng và hiệu quả.

2.3.2.3. Làm tốt công tác qui hoạch, kế hoạch thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Công tác qui hoạch, kế hoạch thu hút FDI hƣớng vào CDCCKT ở VKTTĐBB

cần đƣợc hình thành và xây dựng trên cơ sở đánh giá đúng tiềm năng, lợi thế của

vùng; của Chiến lƣợc phát triển KT-XH Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và xu thế

phát triển của FDI thế giới sau khủng hoảng kinh tế.

Công bố rộng rãi các quy hoạch đã đƣợc phê duyệt, tạo điều kiện thuận lợi

cho các nhà ĐTNN tiếp cận thông tin để xây dựng kế hoạch đầu tƣ. Tăng cƣờng

hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với công tác quy hoạch phục vụ đầu tƣ phát triển.

Gắn kết giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH theo

hƣớng ƣu tiên quỹ đất để thực hiện dự án có trong quy hoạch đã đƣợc phê duyệt.

2.3.2.4. Về cơ chế điều phối và liên kết, hợp tác kinh tế vùng

Thực hiện phân công lao động theo ngành và theo lãnh thổ nhằm xây dựng

thƣơng hiệu hợp tác vùng, nâng cao sức cạnh tranh và ảnh hƣởng quốc tế của toàn

vùng. trong đó tập trung phát triển mạnh vào những ngành, lĩnh vực mà các tỉnh,

thành có lợi thế để tạo động lực và tạo đà cho sự phát triển chung của toàn khu vực.

Các địa phƣơng cần xây dựng khung hợp tác, quy hoạch và phƣơng hƣớng

hợp tác rõ ràng, xây dựng cơ chế chính sách, bảo đảm hợp tác phát triển lành mạnh.

Nâng cao trách nhiệm và hình thành cơ chế phối hợp, thống nhất thực hiện chiến

lƣợc, quy hoạch và kế hoạch khai thác, thu hút FDI, nâng cao năng lực và khả năng

cạnh tranh của toàn vùng chứ không “xé rào” cho riêng tỉnh mình nhƣ trƣớc đây, hỗ

trợ, hợp tác và phối hợp là hành động chung của các tỉnh, thành phố trong VKTTĐ.

Cần quy định rõ cơ sở pháp lý cho cơ quan tƣơng ứng của chính phủ xây dựng

các kế hoạch, các chƣơng trình phát triển vùng và điều phối vùng, đồng thời trao cho

họ đủ thẩm quyền quyết định các việc trong phạm vi phù hợp với pháp luật. Bên cạnh

đó, cần có các chính sách xóa bỏ rào cản trong vùng, thúc đẩy mở cửa thị trƣờng.

Ngoài ra cần có các hoạt động hỗ trợ nhƣ dịch vụ tin học, thiết kế và xử lý thông tin,

thúc đẩy việc tạo lập các cơ cấu ngành hoàn thiện hơn trong các cực công nghiệp.

2.3.2.5. Xác định rõ trình tự và lĩnh vực ưu tiên trong thu hút vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài

Chính sách thu hút vốn ĐTNN cần đƣợc thực hiện một cách có phƣơng pháp, bài

bản và tuần tự. Xác định rõ các ngành, lĩnh vực mũi nhọn cần ƣu tiên đáp ứng yêu cầu

64

phát triển vùng, ngành. Cụ thể hóa việc nhà nƣớc và xã hội cũng nhƣ nhà đầu tƣ đƣợc

gì từ các dự án đầu tƣ. Cần khôn khéo lựa chọn thu hút các dự án có chất lƣợng, có VA

cao, có quy mô lớn, có uy tín và thƣơng hiệu, sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện

với môi trƣờng, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học phục vụ cho

nông nghiệp, khuyến khích các dự án công nghiệp chuyển dần từ gia công sang sản

xuất, chế tạo sản phẩm có tính chất cạnh tranh cao, tham gia chuỗi VAT toàn cầu.

2.3.2.6. Phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại

Kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại và chất lƣợng cao là một trong những trụ

cột của sự phát triển, tạo nên sự kết nối trong nội bộ vùng và giữa VKTTĐBB với

các vùng kinh tế khác, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, đặc biệt là

tạo thuận lợi trong việc thu hút và triển khai các dự án FDI.

Đẩy mạnh thu hút đầu tƣ vào kết cấu hạ tầng KT-XH; lựa chọn các dự án tiềm

năng hấp dẫn, có tính khả thi cao theo các lĩnh vực ƣu tiên để đƣa vào danh mục dự

án PPP, bố trí nguồn vốn ngân sách để đầu tƣ đối ứng cho các dự án PPP kêu gọi

nhà ĐTNN. Đồng thời, có chính sách ƣu đãi đủ sức hấp dẫn đối với một số dự án hạ

tầng KT-XH có quy mô lớn, có tính lan tỏa cao.

2.3.2.7. Nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước

Cần quy định và phân định trách nhiệm rõ ràng giữa cấp trung ƣơng và địa

phƣơng quản lý các hoạt động FDI. Quá trình phân cấp cần đi kèm với việc nâng

cao khả năng của địa phƣơng trong việc thẩm định và quản lý các dự án FDI. Đẩy

mạnh cải cách hành chính, đào tạo và bồi dƣỡng để xây dựng hình ảnh đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức có năng lực chuyên môn sâu, tính chuyên nghiệp và khả

năng giao tiếp thông thạo ngoại ngữ, thân thiện với “bốn luôn” (mỉm cƣời, nhẹ

nhàng, thấu hiểu và giúp đỡ) và “bốn xin” (xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép).

Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực cấp phép và thuế, tiến tới mô

hình một cửa liên thông quốc gia và liên thông một cửa trong nội bộ khối ASEAN

về giải quyết hồ sơ xuất nhập khẩu cho DN, thực hiện tốt bài học này chính là góp

phần nâng cao khả năng cạnh tranh thu hút FDI của VKTTĐ.

Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động FDI phải đƣợc tiến hành thƣờng xuyên

trong suốt quá trình triển khai thực hiện dự án FDI nhằm đảm bảo mục tiêu, tiến độ

và hiệu quả của dự án đầu tƣ vào VKTTĐ, phát hiện kịp thời những sai sót, vi phạm,

yếu kém; kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử lý những khó khăn, vƣớng mắc, phát

sinh trong các vi phạm theo quy định của pháp luật.

65

2.3.2.8. Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng

Dự báo nhu cầu sử dụng nguồn lao động nhằm chủ động trong công tác đào

tạo lao động, đáp ứng nhu cầu lao động cho thị trƣờng, yêu cầu của các nhà ĐTNN.

Xây dựng chính sách giáo dục phải phù hợp với yêu cầu về nguồn nhân lực của nền

kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể. Hệ thống giáo dục phải linh hoạt và luôn hƣớng

đến khả năng, sở thích cũng nhƣ năng khiếu của ngƣời học, nhằm phát huy cao nhất

tiềm năng của mình. Tăng cƣờng quản lý theo hƣớng tạo điều kiện thuận lợi cho lao

động nƣớc ngoài tại Việt Nam có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, cũng cần tính

đến các trƣờng hợp đặc thù và đảm bảo quản lý hiệu quả.

2.3.2.9. Chủ động, tích cực phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ

Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cần phải đƣợc coi là khâu đột phá

nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn FDI và từng bƣớc tiến tới tăng tỷ lệ nội địa hóa

ở các ngành công nghiệp chủ lực, các ngành công nghiệp mũi nhọn, đảm bảo mục

tiêu phát triển bền vững ở VKTTĐBB nói riêng và cả nƣớc nói chung.

Tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hƣớng tập trung vào một số

ngành, sản phẩm trọng điểm. Đặc biệt, cụ thể hóa các tiêu chí xác định ngành, sản

phẩm đƣợc hƣởng ƣu đãi theo diện công nghiệp hỗ trợ, nâng mức ƣu đãi đủ sức hấp

dẫn các nhà đầu tƣ trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Trong đó, đặc biệt ƣu đãi cao

hơn cho các DN đầu tƣ theo chuỗi dự án sản xuất sản phẩm so với các dự án đơn lẻ.

2.3.2.10. Đẩy mạnh và đa dạng hóa các hoạt động xúc tiến thu hút vốn FDI

Đổi mới phƣơng thức xúc tiến đầu tƣ, tiếp cận trực tiếp để mời gọi các nhà

đầu tƣ có tiềm lực về tài chính, công nghệ tiên tiến đến từ các nƣớc Nhật Bản, Hàn

Quốc, Hoa Kỳ, Pháp và MNCs, TNCs...

Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tƣ tại chỗ: hỗ trợ kịp thời và hiệu quả các DN

FDI đang hoạt động để tạo niềm tin của nhà đầu tƣ vào môi trƣờng và chính sách

đầu tƣ của các địa phƣơng, qua đó tranh thủ đƣợc các nhà đầu tƣ mới. Chú trọng thu

hút đầu tƣ trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao...

Tăng cƣờng sự chỉ đạo và phối hợp trong công tác xúc tiến đầu tƣ và hình

thành cơ quan hay bộ phận chuyên trách quản lý hoạt động xúc tiến đầu tƣ, nhằm đa

dạng hóa hoạt động xúc tiến đầu tƣ nhằm tránh đƣợc tình trạng xúc tiến đầu tƣ tràn

lan, không có mục tiêu rõ ràng hay chồng chéo giữa các tổ chức tham gia vận động

đầu tƣ. Tăng cƣờng liên kết các hoạt động xúc tiến đầu tƣ với các hoạt động xúc tiến

thƣơng mại, du lịch và các chƣơng trình tuyên trên các phƣơng tiện truyền thông.

66

Chƣơng 3

THỰC TRẠNG THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI

TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ

TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

3.1. TIỀM NĂNG, LỢI THẾ VÀ KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI THU

HÖT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ

CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

3.1.1. Khái quát sự hình thành và phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ

Ở Việt Nam từ cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, ý tƣởng

hình thành các tam giác phát triển đã manh nha tại Việt Nam, dựa vào những ƣu thế

về địa - kinh tế gắn với lý thuyết lợi thế so sánh, nhằm tạo ra các cực tăng trƣởng. Ở

phía Bắc là tam giác với ba đỉnh là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh; phía Nam là

TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai và miền Trung là Đà Nẵng, Thừa

Thiên Huế, Quảng Ngãi. Sau đó, “Tam giác phát triển Phía Nam” đã chuyển sang

thành “tứ giác” với sức bật và khả năng đóng góp mạnh mẽ của tỉnh Sông Bé.

Sự hình thành các tam giác phát triển, tạo ra các “liên kết để tăng trƣởng” giữa

các “đỉnh” trong “tam giác”, vai trò “đầu tàu” và phát huy vùng động lực để thúc đẩy,

lôi kéo sự phát triển của cả nƣớc. Công tác xây dựng quy hoạch các VKTTĐ (các địa

bàn trọng điểm) đã bắt đầu đƣợc triển khai, trong đó tập trung trƣớc hết vào các loại

hình quy hoạch công nghiệp, kết cấu hạ tầng, sau đó đến quy hoạch tổng thể.

Khi tổ chức xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH các vùng đến

năm 2010, Thủ tƣớng Chính Phủ phê duyệt 8 vùng kinh tế và 3 VKTTĐ bao gồm:

KTTĐBB, KTTĐMT và KTTĐPN. Trong đó VKTTĐBB gồm: Thành phố Hà Nội,

Hải Phòng, Hải Hƣng (nay là Hải Dƣơng, Hƣng Yên) và Quảng Ninh. với 3 cực

phát triển chính là Hà Nội-Hải Phòng-Hạ Long (Quảng Ninh).

“Chiến lược ổn định và phát triển KT-XH đến năm 2000” đã khẳng định: “tập

trung đầu tư có hiệu quả vào những ngành, sản phẩm, những vùng có khả năng phát

triển nhanh hơn, tạo điều kiện để các vùng khác cùng phát triển” [60]. Sự hình thành các

VKTTĐ đã đƣợc chính thức hóa khi Thủ tƣớng Chính phủ đã lần lƣợt phê duyệt các

Quyết định số 747/1997/QĐ-TTg, 1018/1997/QĐ -TTg và Quyết định số 44/1998/QĐ-

TTg về “Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH 3 VKTTĐ quốc gia đến năm 2010”, bao

gồm VKTTĐBB, VKTTĐMT và VKTTĐPN. Trong đó, VKTTĐBB đƣợc xác định

gồm 5 tỉnh, thành phố là: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dƣơng và Hƣng Yên.

67

Bƣớc vào chiến lƣợc 2001-2010, vai trò của các VKTTĐ lại đƣợc nhấn mạnh:

“các VKTTĐ có nhịp độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân chung, đóng góp lớn

vào tăng trưởng của cả nước” và tiếp tục “lôi kéo, hỗ trợ các vùng khác cùng phát

triển” [61]. Ngày 13 tháng 8 năm 2004, Thủ tƣớng Chính phủ đó ban hành các

Quyết định số 145, 146, 148/2004/QĐ-TTg về “Phương hướng chủ yếu phát triển

KT-XH VKTTĐ đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020, thay thế các Quyết định số

747/1997/QĐ-TTg, 1018/1997/QĐ-TTg và 44/1998/QĐ-TTg. Quy mô của các

VKTTĐ đó đƣợc mở rộng thêm 7 tỉnh. Với VKTTĐBB đƣợc thực hiện theo Quyết

định số 145/2004/QĐ-TTg có thêm 3 tỉnh Hà Tây cũ, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh.

Đại hội lần thứ X của Đảng xác định: “xây dựng các VKTTĐ thành những

trung tâm công nghiệp lớn có công nghệ cao, trung tâm tài chính, ngân hàng, viễn

thông, đào tạo và y tế chất lượng cao, trung tâm dịch vụ vận tải và giao thương

quốc tế. Phát huy thế mạnh của mỗi VKTTĐ để các vùng này đóng góp ngày càng

lớn cho sự phát triển chung của cả nước và trợ giúp các vùng khó khăn, có năng lực

hội nhập KTQT với quy mô lớn và trình độ cao” [62]. Từ 01/8/2008, Nghị quyết của

Quốc hội tại kỳ họp thứ 3/khóa XII đã mở rộng Thủ đô, tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh

(Vĩnh Phúc) và 4 xã thuộc huyện Lƣơng Sơn (Hoà Bình) nhập vào Hà Nội.

VKTTĐBB bao gồm 7 tỉnh, thành phố là: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải

Dƣơng, Hƣng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc. Đây là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa

học - công nghệ lớn nhất và đầu mối giao lƣu quốc tế tập trung nhất của cả nƣớc,

trong đó hạt nhân là Thủ đô Hà Nội.

Ngày 25/01/2014, Thủ tƣớng Chính phủ ra Quyết định 198/2014/QĐ-TTg về

“Quy hoạch tổng thể KT-XH VKTTĐBB đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”

nhằm củng cố và nâng cao vị thế của vùng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và

khoa học kỹ thuật của cả nƣớc. Xây dựng VKTTĐBB trở thành một trong các vùng

dẫn đầu cả nƣớc về phát triển kinh tế, nòng cốt tiên phong trong thực hiện các đột

phá chiến lƣợc, thực hiện tái cấu trúc kinh tế, đổi mới mô hình tăng trƣởng, thực

hiện CNH, HĐH. Bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi

trƣờng, quốc phòng, an ninh...

Nhƣ vậy, VKTTĐBB bao gồm 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng

Ninh, Hải Dƣơng, Hƣng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh. Vùng đƣợc thành lập nhằm

phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và các lợi thế so sánh của vùng. Trong đó, trục tam

giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh đƣợc xác định là vai trò hạt nhân

tăng trƣởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả vùng.

68

3.1.2. Tiềm năng, lợi thế của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

3.1.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

- Vùng KTTĐBB có vị trí địa chính trị, kinh tế rất đặc biệt: Có diện tích 15.596,4

km2, bằng 4,71% diện tích cả nƣớc, bao gồm cả 3 vùng sinh thái: vùng núi, trung du,

đồng bằng rất đa dạng. Phía Tây Bắc tiếp giáp với tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên,

Bắc Giang; phía Nam và Tây Nam với các tỉnh Hà Nam, Thái Bình, Hòa Bình; phía

Đông Bắc với Trung Quốc (132,8 km đƣờng biên giới, có cửa khẩu quốc tế Móng Cái)

và tiếp giáp với Vịnh Bắc bộ với 375 km bờ biển. Vùng có vị trí chiến lƣợc đặc biệt

quan trọng về chính trị, an ninh, quốc phòng; có tiềm năng mở rộng giao lƣu quốc tế và

kinh tế, văn hóa và đối ngoại quan trọng nhất của Việt Nam ở khu vực phía Bắc và

Vịnh Bắc Bộ với các nƣớc Đông Nam Á và Đông Bắc Á (xem phụ lục 14, 15).

- Về tài nguyên thiên nhiên: Khá đa dạng và có điều kiện phát triển nhiều

ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành yêu cầu lao động kỹ thuật cao. Chế độ khí

hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hƣởng sâu sắc của Vịnh Bắc Bộ [29], có thể đẩy

mạnh phát triển ngành nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp thâm canh cao, có khả

năng bảo đảm an ninh lƣơng thực; có nhiều điều kiện thuận lợi cho du lịch, giải trí…

+ Về tài nguyên đất: Hiện có khoảng 70% đất nông nghiệp là đất phù sa lâu

đời hoặc mới bồi với độ màu mỡ tốt hoặc vừa phải. Diện tích đất đang sử dụng của

vùng khoảng 1.285 nghìn ha, chiếm 82,4% diện tích đất tự nhiên của vùng (cả nƣớc

84,6%). Tỷ lệ sử dụng đất chuyên dùng và đất ở thì vùng có mức cao nhất (20,7%)

so với mức bình quân của cả nƣớc (7,6%). Bình quân đất nông nghiệp/ngƣời của VKTTĐBB rất thấp, chỉ có 331 m2/ngƣời, gần bằng 28,7% so với bình quân chung cả nƣớc (1.153 m2/ngƣời) và thấp nhất so với các VKTTĐ.

+ Tài nguyên khoáng sản: Tuy không có nhiều, nhƣng lại có một số loại

khoáng sản quan trọng nhƣ: than đá tập trung chủ yếu ở Quảng Ninh với trữ lƣợng

đã tìm kiếm khoảng 3,5 tỉ tấn than antraxit (chiếm 98% so với cả nƣớc) và dự báo

trữ lƣợng khoảng 10,5 tỉ tấn. Than abitum dự báo khoảng 210 tỉ tấn, tập trung ở

vùng đồng bằng sông Hồng. Ngoài ra, còn có đá vôi, loại vật liệu chủ yếu cho công

nghiệp sản xuất xi măng và làm vật liệu xây dựng, có trữ lƣợng lớn đang đƣợc khai

thác phục vụ cho các nhà máy xi măng; sét cao lanh và silic cát phục vụ cho công

nghiệp thuỷ tinh có trữ lƣợng khá lớn tập trung ở Quảng Ninh và Hải Phòng…

+ Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học: Diện tích đất lâm nghiệp năm 2011 chỉ

còn gần 478 nghìn ha, chiếm 30,6% tổng diện tích tự nhiên của toàn vùng, tập trung chủ

yếu ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Vĩnh Phúc và Hà Nội. Một số khu rừng tự nhiên có giá

69

trị kinh tế cao nhƣ: Vƣờn quốc gia Cát Bà (Hải Phòng); Bái tử Long, Yên Tử (Quảng

Ninh); Tam Đảo (Vĩnh Phúc) hay vùng đồi núi Chí Linh (Hải Dƣơng).

+ Tài nguyên biển: Đƣờng bờ biển không dài do chỉ có hai địa phƣơng là Hải

Phòng và Quảng Ninh. Tuy nhiên, chiều dài thực của bờ biển khá lớn, nhiều cửa sông

lớn của hệ thống Sông Hồng và Thái Bình và nhiều đảo. Sự lắng đọng phù sa của hai

hệ thống sông đã và đang tạo ra sự bồi đắp hình thành vùng đất mới có thể dùng để

nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp.... (xem phụ lục 16).

Vịnh Bắc Bộ đƣợc bao bọc chủ yếu là bờ biển Việt Nam (phía Tây và Tây

Bắc), một phần nhỏ lục địa Trung Quốc (phía Bắc), bán đảo Lôi Châu và đảo Hải

Nam (phía Đông) và giới hạn phía Nam là đƣờng thẳng nối từ Mũi Lay (Cửa Tùng) đến mũi Oanh Ca (đảo Hải Nam). Diện tích toàn vịnh khoảng 148.000 km2, độ sâu trung bình là 38,5m và đáy vịnh tƣơng đối bằng phẳng. Đây là vùng biển duy nhất

đã có hiệp định phân định về lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế với

Trung Quốc. Do vậy, sẽ thuận lợi trong hợp tác và phát triển kinh tế.

+ Tài nguyên nƣớc: Khá phong phú, có thể đáp ứng rất tốt cho sản xuất và đời

sống nhân dân. Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nƣớc của toàn vùng phụ

thuộc chủ yếu vào nguồn nƣớc lƣu vực sông Hông và Thái Bình. Tài nguyên nƣớc

dƣới đất khá phong phú ở Hà Nội, Hải Dƣơng, Hƣng Yên, Vĩnh Phúc…

3.1.2.2. Sự tích tụ văn hóa mang đậm tính nhân văn và có bề dày lịch sử

Vùng KTTĐBB có nhiều đặc điểm nổi trội, phong phú nhƣ: chứa đựng gần

nhƣ toàn bộ lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt - nơi lƣu giữ văn hóa đặc

sắc, truyền thống của cả nƣớc (gần một nửa số di tích lịch sử, văn hoá vật thể và phi

vật thể đƣợc Nhà nƣớc xếp hạng trong cả nƣớc).

Nhiều tỉnh, thành phố có mật độ di tích rất cao nhƣ Hà Nội (38 di tích/100 km2), Hà Tây (cũ) và Bắc Ninh (15 di tích/100 km2). Ngoài ra, trong vùng còn có nhiều lễ hội truyền thống, phong tục tập quán lao động, sinh hoạt hội hè của dân cƣ

vùng châu thổ sông Hồng; Có vị trí thuận lợi về giao lƣu và tiếp thu văn hóa của các

miền vùng trong cả nƣớc và thế giới.

Sự ƣu đãi độc đáo về thiên nhiên đã tạo vùng có nhiều tiềm năng về du lịch với

các loại hình nhƣ: du lịch biển đảo; du lịch văn hóa, ẩm thực, làng nghề truyền thống,

sinh thái; du lịch kết hợp thể thao mạo hiểm; du lịch mua sắm; nghỉ dƣỡng và chữa

bệnh; hội nghị hội thảo… nhƣ ở: Vịnh hạ Long, Bái Tử Long, Cát Bà, Đồ Sơn, Ba Vì,

Suối Hai, Tam Đảo… Đây là nét rất đặc trƣng của VKTTĐBB có ý nghĩa nổi trội

trong bối cảnh mở cửa và hội nhập (xem phụ lục 17).

70

3.1.1.3. Về cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật

- Vùng KTTĐBB có hệ thống giao thông phát triển khá đồng bộ và chất

lƣợng khá tốt, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển:

+ Hệ thống đƣờng bộ: bao gồm các đƣờng quốc lộ số 1, 2, 3, 5, 6, 10, 18.. đã

và đang hình thành các tuyến cao tốc và vành đai và các đƣờng nối với các cảng

biển quốc tế chạy qua các tỉnh trong và ngoài vùng. Ngoài ra còn có các đƣờng liên

tỉnh, liên huyện, liên xã có kết cấu mặt đƣờng bê tông hoặc bê tông nhựa…chiếm khoảng 70%. Mật độ đƣờng hiện nay là 0,65km/km2 và 0,73km/1.000 dân (cả nƣớc là 0,3km/km2 và 1,15km/1.000 dân). Hệ thống giao thông đã tạo điều kiện thuận tiện cho việc đi lại của dân cƣ và vận chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.

+ Hệ thống đƣờng thuỷ: Có hệ thống cảng biển gồm: 2 cụm cảng lớn Hải

Phòng, Quảng Ninh với 28 cảng, trong đó có 3 cảng tổng hợp là Hải Phòng, Cái Lân

và Đình Vũ cho tàu có trọng tải 10.000 - 50.000 DWT ra vào thuận tiện; 6 cảng tổng

hợp địa phƣơng; 19 cảng chuyên dùng với công suất 30 triệu tấn/năm. Đƣờng thủy

nội địa, đã tổ chức khai thác đƣợc khoảng 1.230 km và 2 cảng sông Trung ƣơng là

cảng Hà Nội, Khuyến Lƣơng với nhiều tuyến vận tải lớn nhƣ Hải Phòng - Hà Nội

qua sông Đuống, sông Luộc, Quảng Ninh - Phả Lại qua sông Chanh, Đá Bạch...

+ Hệ thống đƣờng hàng không: Năm 2010, sân bay quốc tế Nội Bài đã vận

chuyển 9,5 triệu lƣợt hành khách, tăng 20% so với năm 2009. Sân bay quốc tế Nội

Bài xây dựng đƣờng cất hạ cánh mới để có thể tiếp nhận các loại máy bay cỡ lớn

nhƣ A380, B777… ở nhà ga T2 và sẽ xây dựng nhà ga T3, T4 để có thể tiếp nhận 50

triệu hành khách/năm. Sân bay quốc tế Cát Bi Hải Phòng đã quy hoạch và tiến hành

xây dựng mở rộng để đến 2025 có thể tiếp nhận 2 triệu lƣợt khách và 17.000 tấn

hàng hoá/năm. Trong tƣơng lai sẽ có thêm sân bay ở Quảng Ninh có công suất thiết

kế 3,5 triệu lƣợt khách/năm sẽ từng bƣớc đáp ứng nhu cầu vận tải trong hội nhập.

+ Hệ thống đƣờng sắt: VKTTĐBB có trục đƣờng sắt Hải Phòng-Hà Nội (dài

106 km); Hà Nội-Lào Cai; Hà Nội-Lạng Sơn; Hà Nội-TP Hồ Chí Minh (đoạn đi qua

vùng là 33,3 km); Tuyến Kép-Hạ Long (đoạn nằm trong vùng từ Chí Linh-Hạ Long

dài 69 km); Tuyến Đông Anh-Quán Triều (dài 54 km); Tuyến vận chuyển hàng hóa,

hành khách từ đầu mối Hà Nội lên Thái Nguyên, đoạn nằm từ Đông Anh đến Trung

Giã (dài 18,5km); Tuyến Bắc Hồng-Văn Điển là tuyến vành đai Hà Nội (dài 41 km)…

rất thuận lợi cho vận chuyển trong vùng và các địa phƣơng khác trong cả nƣớc.

- Về hệ thống thống tin liên lạc [24]: Hạ tầng thông tin truyền thông của vùng

đƣợc chú trọng đầu tƣ mở rộng và xây mới. Mạng viễn thông có độ an toàn cao, dung

71

lƣợng dự phòng đạt khoảng 30%. Mạng đƣờng trục có độ tin cậy lớn do sử dụng đồng

thời nhiều tuyến cáp quang và viba. Mạng điện thoại di động đƣợc phủ sóng trên toàn

vùng. Mạng truyền dẫn liên tỉnh đã đƣợc cáp quang hoá tại 7/7 tỉnh, thành phố. Hệ

thống thông tin duyên hải tại VKTTĐBB có 4 đài thông tin duyên hải, 1 đài thông tin

vệ tinh mặt đất đặt. Ngoài ra, còn có thệ thống thông tin liên lạc phục vụ các 33 xã đảo

(19 xã tại Quảng Ninh và 14 xã tại Hải Phòng), huyện đảo do VNPT triển khai...

- Về hệ thống điện năng [15], [20]: Hiện tại, VKTTĐBB đƣợc cấp điện từ các

nhà máy điện và các trạm nguồn 500-220kV thuộc hệ thống điện Miền Bắc và đƣợc

cung cấp điện bởi các nhà máy điện miền Bắc, đƣờng dây 500kV 2 mạch Bắc – Nam,

nguồn điện mua từ Trung Quốc. Hệ thống truyền tải điện đã đƣợc phủ khắp toàn vùng.

Lƣới điện 110KV đến 500KV trong vùng hầu nhƣ đi nổi, lƣới điện 22KV mới đƣợc

“ngầm hóa” ở một vài khu vực Hà Nội và một vài đô thị mới khác. Chỉ số tiêu thụ

điện/ngƣời đạt gần 1.370 KWh (gấp gần 1,3 lần của cả nƣớc). Tuy nhiên, nếu xét về

mặt hiệu suất sử dụng điện, VKTTĐBB dƣờng nhƣ thiếu hiệu quả nếu so với cả nƣớc.

Để tạo ra 1USD GDP VKTTĐBB tiêu tốn 0,92 KWh điện (cả nƣớc 0,89 KWh) [24].

- Về hệ thống cấp thoát nước và hạ tầng về môi trường: Tỷ lệ hộ dân đƣợc cấp

nƣớc tại các đô thị lớn đạt khoảng 80 - 90%. Ngoại trừ Hà Nội và Hải Phòng có trên

85% số hộ dân đƣợc sử dụng nƣớc máy, tại các địa phƣơng còn lại tỷ lệ dân đô thị khác

nhƣ Hƣng Yên 12,5%, Vĩnh Phúc 41,5%, Bắc Ninh 54,4%... Cấp nƣớc cho sản xuất

hiện vẫn thiếu khoảng 30-35% so với nhu cầu [24]. Nƣớc sinh hoạt nông thôn đƣợc

tăng cƣờng đầu tƣ đáp ứng nhƣ cầu về nƣớc máy và nƣớc hợp vệ sinh. Hầu hết các đô

thị đều đã có hệ thống thoát nƣớc (cho cả nƣớc mƣa và nƣớc thải) từng bƣớc đƣợc nâng

cấp song vẫn chƣa hoàn chỉnh và chƣa đáp ứng đƣợc khả năng thoát nƣớc của đô thị.

Tại các KCN và các khu đô thị mới đều đang xây dựng hệ thống thoát nƣớc riêng…

3.1.1.4. Nguồn nhân lực và tiềm năng phát triển nguồn nhân lực

- Về dân số và lực lƣợng lao động: VKTTĐBB có tập trung đông dân cƣ, tính

đến hết năm 2014 có 15.335,7 nghìn ngƣời, bằng 16,9% dân số cả nƣớc. Mật độ dân cƣ đông 983,3 ngƣời/km2 (cả nƣớc là 274). Dân số thành thị tăng nhanh, hiện nay là 4.296 ngàn ngƣời (chiếm 38.57% dân số của vùng). Lực lƣợng lao động năm 2005

là 7.634,4 ngàn ngƣời (17% lực lƣợng lao động cả nƣớc); 2010 là 8.259,7 ngàn

(16,4%), năm 2014 là 8.701,2 ngàn (16,19%) [129 và tính toán của tác giả].

- Chất lượng nguồn nhân lực:

+ Vùng KTTĐBB có trình độ dân trí và tỷ lệ lao động đƣợc đào tạo cao hơn

so với mặt bằng chung của cả nƣớc và các VKTTĐ khác. Tuy nhiên tỷ lệ này giữa

72

các địa phƣơng có sự chênh lệnh (tỷ lệ cao nhất thuộc 3 đỉnh của vùng và cũng là

tam giác kinh tế là Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh) Lực lƣợng lao động trẻ có

tay nghề đƣợc xem nhƣ là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình SX-KD, đáp ứng yêu

cầu của các FIEs và thuận lợi cho CDCCKT của vùng (xem biểu đồ 3.1).

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê của các tỉnh.

+ Vùng KTTĐBB là nơi tập trung nhiều các viện nghiên cứu khoa học đầu

ngành và chuyên ngành, nhiều trƣờng đại học, cao đẳng…Tính đến tháng 01/2011,

cả nƣớc hiện có 414 trƣờng đại học, cao đẳng thì riêng vùng KTTĐ đã có tới 129

trƣờng. Trong đó, Hà Nội là một trung tâm lớn với 43 trƣờng đại học và cao đẳng,

41 trƣờng dạy nghề và số viện nghiên cứu chuyên ngành là 112 [24]. Nhiều cơ quan

lãnh đạo của Đảng, Nhà nƣớc, các đoàn thể chính trị xã hội với sự hội tụ nhiều cán

bộ khoa học, kỹ thuật có trình độ khoa học, chuyên môn, kỹ thuật giỏi của cả nƣớc,

kiều bào nƣớc ngoài, chuyên gia cao cấp từ các nƣớc trên thế giới và khu vực.

Năm 2014 VKTTĐBB có 33.714 giáo viên đại học cao đẳng (chiếm 36,9% cả

nƣớc), 3.156 giáo viên trung học chuyên nghiệp (28,7% cả nƣớc), trong vùng còn có

hơn 889.996 sinh viên cao đẳng, đại học (37,7% cả nƣớc) và 92.441 sinh viên các

trƣờng trung cấp chuyên nghiệp (26,5% cả nƣớc) sẵn sàng bổ sung cho đội ngũ lao

động chuyên môn, kỹ thuật cao đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của vùng. Đây là

một lợi thế lớn đối với sự phát triển, cũng nhƣ trong thu hút FDI bởi vì vấn đề số

lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực luôn là vấn đề đƣợc quan tâm bởi các nhà

ĐTNN khi ra quyết định lựa chọn đầu tƣ [127 và tính toán của tác giả].

3.1.1.5. Về qui mô và trình độ phát triển

- Thời kỳ 2001-2010, tốc độ tăng GDP của vùng đạt 12%, trong khi cả nƣớc

đạt 7,6% (gấp 1,65 lần). Trong giai đoạn 2006-2010, dù nền kinh tế toàn cầu gặp

khủng hoảng và đà tăng trƣởng trong nƣớc bị chững lại, tốc độ tăng trƣởng GDP

bình quân của vùng đạt 11,94%/năm, gấp 1,7 lần so với cả nƣớc. Thu nhập bình

quân đầu ngƣời của vùng năm 2010 là 31,2 triệu đồng/ngƣời (VKTTĐPN đạt 45,5

73

triệu, VKTTĐMT đạt 20,9 triệu, VKTTĐĐBSCL đạt 25,4 triệu đồng/ngƣời) [6].

- Tổng thu ngân sách giai đoạn 2006-2011 của VKTTĐBB chiếm tỷ trọng

35,1% so với cả nƣớc (VKTTĐPN có tỷ trọng thu ngân sách cao nhất chiếm 45,4%

so cả nƣớc). Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2014 của VKTTĐBB đạt

46144,9 tỷ USD chiếm 30,4% so với cả nƣớc.

- Vùng KTTĐBB có sự tập trung nhiều tập đoàn kinh tế, DN SX-KD với các quy

mô khác nhau. Các DN đang hoạt động phân theo số lao động đến 31/12/2012 là

102.752 DN, trong đó có 619 DN có từ 300-499 lao động; 418 DN có từ 500-999 lao

động; 333 DN có từ 1000- 4999 lao động và chỉ có 33 DN >5000 lao động. So với cả

nƣớc chiếm 29,63% tổng số DN và 26,4% số DN có từ 5000 lao động trở lên (tƣơng tự

so với VKTTĐPN chỉ bằng 71% tổng số và 55,9%). Phân theo quy mô vốn có 27.127

DN có vốn từ 10 tỉ-50 tỷ đồng; 6.617 DN có vốn từ 50 tỉ - <500 tỉ đồng và 907 DN có

vốn >500 tỉ đồng. Số DN có quy mô vốn từ 10 tỉ - <500 tỉ đồng của vùng bằng 80%,

>500 tỷ đồng = 73,4% số DN ở VKTTĐPN [128, tr.281-301 và tính toán của tác giả].

- Cơ cấu kinh tế của vùng đang có sự chuyển dịch theo hƣớng tiến bộ, năm

2000 nông- lâm - thủy sản 17,8%, công nghiệp 37,1% và dịch vụ 45,1%. Năm 2005

các chỉ số tƣơng ứng là 12,6% - 42,2% - 45,2%; năm 2010 là 9,1% - 46,7% - 44,2%

và 2013 là 7,2% - 47,7% - 45,1% [2]. Đây là vùng có điều kiện thuận lợi trong phát

triển các ngành công nghiệp nhƣ: điện tử, tin học, nhiệt điện, khai thác than, thép, cơ

khí chế tạo, đóng và lắp ráp phƣơng tiện giao thông, hàng tiêu dùng cao cấp, dệt

may, da giầy, chế biến thực phẩm... Ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng và du lịch...

3.1.3. Khó khăn, thách thức về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

- Là vùng đất chật ngƣời đông, quỹ đất tính trên đầu ngƣời thấp nhất cả nƣớc,

mật độ dân cƣ rất cao, dân số nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ lớn, diện tích đất nông

nghiệp/ngƣời thấp... hạn chế đến sự phát triển nông nghiệp và chuyển đổi đất sang

sản xuất phi nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng và đô thị; việc giải quyết việc

làm và bố trí không gian lãnh thổ, đặc biệt là việc phát triển, xây dựng thêm các trục

đƣờng giao thông, các KCN, khu chế xuất và các khu đô thị gặp rất nhiều khó khăn. Ƣớc tính gần đây cho thấy, 1m2 đất ở Hà Nội hoặc các tỉnh lân cận cao gần bằng Nhật Bản, trong khi thu nhập quốc dân đầu ngƣời chƣa bằng 2% của Nhật Bản. Đây

2 Tổng hợp từ niên giám thống kê 2013 của các tỉnh.

cũng là những thách thức không nhỏ trong việc thu hút FDI và CDCCKT.

74

- Tài nguyên khoáng sản khá đa dạng, nhƣng phân bố không đều. Có nhiều

loại trữ lƣợng thấp, hơn nữa, ngành công nghiệp khai khoáng còn lạc hậu, chƣa đƣợc

khai thác và sử dụng hợp lý. Hiện nay chất lƣợng nguồn nƣớc đang có nguy cơ bị

giảm sút do tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trƣờng gia tăng và do khai thác bừa

bãi; một số vùng ô nhiễm nhƣ nhiều tỉnh [29].

- Tác động của cơ chế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp vẫn tồn tại.

Mặc dù có truyền thống văn hoá lúa nƣớc lâu dời nhƣng phần lớn dân cƣ còn mang

nặng tâm lý sản xuất nhỏ, bảo thủ, sớm thoả mãn, không dám mạo hiểm, tính đố kỵ,

ham muốn và dễ tha hóa quyền lực, hãnh tiến, với tƣ duy “phép vua thua lệ làng”

nên nhiều khi chính sách đúng đắn của nhà nƣớc đã không đƣợc thực thi mà thay

vào đó là những hủ tục của làng xã vẫn đƣợc áp dụng…

- Về kết cấu hạ tầng: Mặc dù có lợi thế về các công trình hạ tầng do đƣợc quan

tâm đầu tƣ, tuy nhiên đại đa số lại rất khó cải tạo, nâng cấp và mở rộng các công trình

hạ tầng hiện có nhƣ đƣờng giao thông, điện, nƣớc… Nguyên nhân chủ yếu là do việc

quy hoạch chƣa hợp lý và thiếu diện tích, thiếu các dịch vụ đi kèm cần thiết nên phát

huy hiệu quả thấp. Khi cải tạo hay làm lại mới thƣờng rất tốn kém khi phải đền bù,

giải phóng mặt bằng. Có những công trình tiền bồi thƣờng giải phóng mặt bằng gấp

tới 2-8 lần tiền xây dựng đã làm tăng chi phí xây dựng các công trình.

- Hệ thống cơ chế chính sách chƣa phản ánh một cách đầy đủ và cụ thể về các

tính chất và đặc thù của VKTTĐBB. Còn thiếu những chính sách qui định rõ những

lĩnh vực đƣợc khuyến khích phát triển và những lĩnh vực cần hạn chế phát triển đối

với vùng; hơn nữa có các chính sách đƣợc ban hành lại có không đồng bộ, nhất quán

và thậm chí khác biệt giữa các địa phƣơng có cùng điều kiện.

- Chỉ số PCI của nhiều tỉnh trong vùng thấp: chi phí thời gian, không chính thức,

tính minh bạch và tiếp cận thông tin, chính sách phát triển khu vực kinh tế tƣ nhân

nhiều năm thƣờng thấp và chậm cải thiện so với các VKTTĐ khác (xem phụ lục 18).

- Sự thiếu liên kết, phối hợp vùng trong thu hút và quản lý hoạt động FDI, dẫn

đến hiệu quả đầu tƣ chƣa cao. Đầu tƣ chƣa thực sự gắn với quy hoạch ngành, vùng

nên có sự chồng chéo, lãng phí, sản phẩm trùng lặp, dẫn đến tình trạng cạnh tranh

không lành mạnh, chèn ép lẫn nhau để thu hút FDI [111, tr.125].

- Mặc dù đƣợc đầu tƣ khá lớn từ các nguồn lực cho các hoạt động đào tạo và

dạy nhƣng chất lƣợng lao động qua đào tạo nghề vẫn ở mức thấp, chƣa đáp ứng với

yêu cầu của thị trƣờng lao động, chƣa tƣơng xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng và

làm giảm hiệu quả của nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, tác phong công nghiệp trong

75

lao động và sinh hoạt chƣa đƣợc hình thành một cách rõ nét. Điều này có ảnh hƣởng

không nhỏ đến môi trƣờng đầu tƣ và yêu cầu của CDCCKT của VKTTĐBB.

- Vấn đề ô nhiễm môi trƣờng do chất thải công nghiệp và quá trình đô thị hóa

có xu tăng nhanh và đến mức báo động. Đây chính là thách thức lớn đối của

VKTTĐBB giữa một bên là đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng kinh tế, mở rộng qui mô

phát triển công nghiệp với một bên là mục tiêu về môi trƣờng.

3.2. THỰC TRẠNG THU HÖT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VỐN ĐẦU TƢ TRỰC

TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH

TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

3.2.1. Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở vùng kinh tế

trọng điểm Bắc Bộ

3.2.1.1. Về chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Với vai trò là VKTTĐ, động lực, có tính đột phá và tạo sức lan tỏa,

VKTTĐBB cần có chính sách đặc thù, linh hoạt trong quá trình thực hiện nhằm phát

huy lợi thế, hạn chế bất lợi thế của vùng đối với phát triển. Thu hút và sử dụng vốn

FDI cần đƣợc xác định là yếu tố quan trọng để đẩy mạnh quá trình CDCCKT theo

hƣớng CNH, HĐH. Hệ thống chính sách thu hút cần hƣớng vào tăng cƣờng thu hút

vốn FDI nhằm thúc đẩy CDCCKT và phát triển KT-XH của vùng. Có 3 nhóm chính

sách và có mối quan hệ với nhau trong thu hút FDI nhằm CDCCKT ở VKTTĐBB.

Tuy nhiên ở đây, chỉ tập trung 2 nhóm chính sách (xem phụ lục 19).

- Chủ trương, chính sách quy hoạch phát triển KT-XH VKTTĐBB:

Ngày 11/7/1997 Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 747/1997/QĐ-TTg

về “Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH VKTTĐBB giai đoạn 2006-2010”. Đến

7/2003, bổ sung thêm 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây (cũ) và Bắc Ninh. Ngày 13/8/2004 Thủ

tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định 145/2004QĐ-TTg về “Phương hướng chủ yếu

phát triển KT-XH VKTTĐBB tới năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020”;

Ngày 14/9/2005 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 54-NQ/TW về “Phát triển KT-

XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định

hướng tới năm 2020”. Quyết định số 191/2006/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính Phủ về

việc ban hành “Chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 54-NQ/TW”;

Quyết định số 31/2007/QĐ-BCN của Bộ Công nghiệp về “Quy hoạch phát

triển công nghiệp của VKTTĐBB đến năm 2015, có xét đến năm 2020”; Quyết định

số 19/2007/QĐ-BCT của Bộ Công thƣơng về “Qui hoạch phát triển một số kết cấu

hạ tầng thương mại chủ yếu VKTTĐBB đến năm 2010 và định hướng đến 2020”;

76

Quyết định số 98/2008/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính Phủ về “Quy hoạch phát

triển hành lang kinh tế Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh đến năm 2020”;

Quyết định số 865/QĐ-TTg ngày 10/7/2008 của Thủ tƣớng Chính phủ về “Quy hoạch

xây dựng vùng Duyên hải Bắc Bộ đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050”;

Quyết định số 34/2009/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về “Quy hoạch

phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc bộ đến năm 2020”;

Quyết định số 05/2011/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về “Quy hoạch

phát triển giao thông vận tải VKTTĐBB đến năm 2020 và định hướng đến năm

2030” và điều chỉnh theo Quyết định 2053/2015/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ;

Ngày 5/7/2012, Bộ Chính trị đã cho ý kiến về tổng kết 4 Nghị quyết (21,37,39,53)

của Bộ Chính trị (Khóa IX) về “phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh

của 4 VKTTĐ”; Quyết định số 7641/2012/QĐ-BCT của Bộ Công thƣơng về “Quy

hoạch phát triển công nghiệp tuyến hành lang kinh tế Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng-

Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”;

Quyết định 795/2013/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính Phủ về “Quy hoạch tổng

thể KT-XH vùng Đồng Bằng Sông Hồng tới năm 2020”, với điểm nhấn là tiểu vùng

Bắc Đồng bằng sông Hồng (VKTTĐBB)…

Quyết định 198/2014/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính Phủ về “Quy hoạch tổng

thể KT-XH VKTTĐBB đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”.

Quyết định số 2059//2015/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về việc thành

lập Ban Chỉ đạo điều phối phát triển các VKTTĐ (gọi tắt là Ban Chỉ đạo) và Hội

đồng VKTTĐBB và các VKTTĐ khác…

- Thứ hai, Chính sách thu hút vốn FDI nhằm CDCCKT:

+ Chính sách bảo đảm quyền và lợi ích cho các nhà ĐTNN: tháng 12 năm

1987, Luật ĐTNN tại Việt Nam đƣợc thông qua và sau đó đã qua 6 lần sửa đổi

(1990, 1992, 1996, 2000, 2005 và 2014). Nhìn chung, các quy định đã khẳng định

quyền lợi của các nhà ĐTNN ngày càng đƣợc bảo đảm và rõ ràng hơn nhƣ: quyền tự

chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng giữa trong nƣớc và ngoài nƣớc, quyền tiếp cận

các nguồn lực đầu tƣ, di chuyển vốn… (xem phụ lục 13).

+ Chính sách liên quan tới cơ cấu đầu tƣ, CCKT ngành, vùng tại các địa

phƣơng: Nếu nhƣ trong giai đoạn đầu thực hiện chính sách, FDI chỉ dừng lại ở 3 hình

thức (liên doanh, BBC, 100% vốn nƣớc ngoài). Hiện tại, hình thức liên doanh chiếm

18% số dự án và 26% tổng vốn đăng ký, trong khi hình thức dự án có 100% vốn nƣớc

ngoài chiếm 79% dự án và 67%, còn lại là dự án BOT và BBC... (xem phụ lục 4, 20).

77

Các địa phƣơng ngày càng chú ý nhiều hơn tới các điểm mạnh yếu của mình

để có quy hoạch cho từng giai đoạn với những định hƣớng cụ thể nhằm khuyến

khích thu hút FDI vào những ngành, vùng nào cần thu hút với hình thức đầu tƣ cụ

thể làm cơ sở cho các nhà ĐTNN lựa chọn. Hơn nữa, trong quá trình đầu tƣ việc cho

phép các nhà ĐTNN đƣợc chuyển đổi hình thức đầu tƣ linh hoạt hơn, tạo thêm tính

hấp dẫn tìm kiếm cơ hội đầu tƣ, nhất là các hình thức đầu tƣ mới nhƣ:

 Hải Phòng: xây dựng phƣơng án thành lập các KCN chuyên sâu trong một

số KCN đang hoạt động thuộc khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải để đón các DN của

Nhật Bản hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ…

 Hải Dƣơng: từ chối tiếp nhận các dự án có kỹ thuật, công nghệ lạc hậu,

hiệu quả KT-XH thấp, gây ô nhiễm đến môi trƣờng, ƣu tiên thu hút vốn FDI từ

những quốc gia có tiềm lực về vốn, công nghệ, trình độ quản lý; Về phát triển công

nghiệp hỗ trợ nhƣ: Quyết định 1588/2013/QĐ-UB của UBND tỉnh Vĩnh Phúc,

Quyết định 417/2015/QĐ-UB của UBND tỉnh Hải Dƣơng...

 Bắc Ninh: điều chỉnh chính sách thu hút vốn FDI trong khuôn khổ chỉ đạo về

chính sách của Chính phủ nhƣ: Nghị quyết số 13/2009/NQ-CP của Chính phủ về “định

hướng, giải pháp thu hút và quản lý vốn FDI”, Chỉ chị số 1617/2010/CT-TTg về “tăng

cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý FDI”… đƣợc thể hiện rõ trong Văn

kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh XVIII; Kết luận số 29-KL/TU ngày 7/11/2011 của

Ban Thƣờng vụ Tỉnh uỷ về FDI: nâng cao chất lƣợng vốn ĐTNN, thu hút có chọn lọc

và tập trung vào một số lĩnh vực: công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ có lợi thế,

có hàm lƣợng tri thức cao, công nghệ thông tin; dịch vụ khoa học và công nghệ, giáo

dục và đào tạo, phát triển kết cấu hạ tầng… nhằm đƣa Bắc Ninh trở thành trung tâm

công nghiệp điện tử, công nghiệp phụ trợ và công nghệ cao của cả nƣớc… [33].

+ Nhiều địa phƣơng đã tìm cách đƣa ra những ƣu đãi về tài chính để tạo cơ

hội thu hút đầu tƣ nhƣ: ƣu đãi thuế thu nhập DN có thể nộp ít hoặc không nộp những

năm đầu mới hoạt động và chỉ tăng dần trong những năm sau đó hay ƣu đãi về phí

và các loại lệ phí trong kinh doanh, miễn thuế nhập khẩu máy móc thiết bị nhập

khẩu để tạo tài sản cho đầu tƣ… Nhƣng thực tế đã xảy ra các hiện tƣợng “cạnh tranh

không lành mạnh” giữa các địa phƣơng trong vùng có nhiều điểm tƣơng đồng về lợi

thế. Từ đó ảnh hƣởng không nhỏ tới hiệu quả của FDI và tác động tới CDCCKT một

cách tự phát dẫn đến sự phát triển thiếu tính liên kết và bền vững trong toàn vùng.

+ Tạo những phần “đất sạch”, thuận lợi về vị trí là cơ sở để thu hút vốn FDI, hay

tạo thuận tiện về thủ tục thuê và giao đất, cấp giấy phép xây dựng sẽ có tác động tích cực

78

cho việc triển khai dự án FDI. Chính sách đề bù giải phóng mặt bằng nhất quán, phù hợp

với thực trạng đất không chỉ trong địa phƣơng mà cần trong cả vùng nhằm đảm bảo lợi

ích của các bên liên quan. Linh hoạt về hình thức đền bù và hình thức đầu tƣ xây dựng cơ

sở hạ tầng. Nếu so sánh với các vùng khác thì giá thuê đất ở các địa phƣơng trong vùng

thƣờng cao hơn do những bất lợi về đặc thù của vùng đất chật, ngƣời đông.

+ Các địa phƣơng trong vùng đã có sự chuẩn bị các nguồn nhân lực: thực tế

đã cho thấy, sự biến động của giá cả, số lƣợng và chất lƣợng lao động tại địa phƣơng

cũng là một lý do làm thay đổi hƣớng đầu tƣ của các nhà ĐTNN. Việc đào tạo và

phát triển nguồn nhân lực có chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của FDI là việc làm

cần thiết và các địa phƣơng không coi đây là việc riêng của nhà đầu tƣ - mặc dù

VKTTĐBB vốn đã có lợi thế nhất định.

+ Không ngừng đẩy mạnh cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa, một đầu

mối, liên thông”. Việc tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục, chuyên nghiệp hóa công vụ,

công chức; tăng cƣờng sự phối hợp và phân định rõ quyền và trách nhiệm của các cơ

quan quản lý để tạo niềm tin và nâng cao hiệu quả hoạt động của hoạt động ĐTNN nhƣ:

 Hà Nội: Xác định rõ việc quản lý FDI gồm 3 cơ quan (Sở Kế hoạch và Đầu tƣ

- cơ quan đầu mối tổng hợp báo cáo và tham mƣu cơ chế chính sách chung về hoạt

động FDI trên địa bàn; Ban quản lý các KCN và chế xuất; Ban quản lý khu công nghệ

cao Hòa Lạc). Thống nhất mã số thuế và mã số giấy chứng nhận đầu tƣ, xây dựng phần

mềm quản lý FDI, định kỳ Cục Thống kê công bố, phân loại tình trạng hoạt động của

các DN để các sở, ngành thuận lợi cho việc xử lý công tác chuyên môn...

 Vĩnh Phúc: Coi trọng công tác hậu kiểm, quản lý, giám sát chặt chẽ việc

thực hiện triển khai dự án FDI. Tăng cƣờng sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng

trên địa bàn trong quá trình cấp giấy phép đầu tƣ và theo dõi, giám sát hoạt động đầu

tƣ của các DN sau cấp phép…[25].

+ Các địa phƣơng chủ động xúc tiến với các nhà ĐTNN với những lợi thế, ƣu

đãi của địa phƣơng trong so sánh từ đó làm cơ sở cho nhà đầu tƣ lựa chọn. Hình

thức, công cụ và phƣơng thức xúc tiến đầu tƣ khá đa dạng trong thu hút vốn FDI.

Các địa phƣơng đã tích cực với mức độ khác nhau trong việc xây dựng hình ảnh, cập

nhật tài liệu, sử dụng công cụ quảng bá nhƣ trên các phƣơng tiện truyền thông, gặp

gỡ trực tiếp đối thoại, thông qua các diễn đàn, thành lập các cơ quan chuyên trách,

quy hoạch và công khai danh mục kêu gọi các dự án đầu tƣ…

+ Hỗ trợ đầu tƣ là một trong các biện pháp nhằm thu hút FDI. Tuy nhiên, dƣới

góc độ địa phƣơng của vùng, việc ban hành các chính sách phải phù hợp với quy

79

định chung. Thực tế trong những năm qua, các địa phƣơng đang sử dụng một số

chính sách hỗ trợ nhƣ: kinh phí đào tạo nghề, hội chợ lao động việc làm, hỗ trợ xây

dựng cơ sở hạ tầng, về giải phóng mặt bằng…và đã phát huy tác dụng thu hút FDI.

3.2.1.2. Hoạt động xúc tiến đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Xác định ngành, lĩnh vực có thế mạnh, tiềm năng của các địa phương. Thời

kỳ “trải thảm đỏ, chiếu hoa”… từng bƣớc nhƣờng cho việc đề cao tính chọn lọc trong

thu hút đầu tƣ từ các DN tầm cỡ, các thƣơng hiệu có chất lƣợng vào các địa phƣơng

trong vùng nhƣ: Samsung, Microsoft, Canon, PepsiCo, Foxconn... Các nhà đầu tƣ

chiến lƣợc đƣợc các tỉnh hết sức chú trọng nhƣ: Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đài

Loan, Singapore… Đồng thời, ngày càng xác định rõ hơn ngành, lĩnh vực trọng điểm,

địa bàn động lực và các dự án có tính động lực, lan tỏa cao từ đó trực tiếp làm việc với

từng nhà đầu tƣ để giới thiệu các dự án cụ thể phù hợp với định hƣớng phát triển của

tỉnh và lợi ích của các nhà đầu tƣ nhƣ: điện tử, công nghệ thông tin, viễn thông, cơ khí

chế tạo; sửa chữa, đóng tàu thủy và phƣơng tiện hàng hải; thép chất lƣợng cao, chuyên

dụng và vật liệu xây dựng mới; hóa-dƣợc phẩm; công nghiệp chế biến thực phẩm và

ngành dệt may, da-giày; ƣu tiên phát triển các ngành công nghiệp có hàm lƣợng kỹ

thuật cao và thân thiện với môi trƣờng, tạo ra những sản phẩm có chất lƣợng tốt, phát

triển theo chiều sâu; các hoạt động thƣơng mại, dịch vụ tài chính, ngân hàng…

- Đổi mới phương thức và tăng cường công tác xúc tiến đầu tư tại chỗ. Các

địa phƣơng trong vùng có xu hƣớng chuyển mạnh sang hình thức vận động đầu tƣ

theo dự án và đối tác trọng điểm, xây dựng kế hoạch và cơ chế riêng tiếp cận các

công ty, tập đoàn lớn có thực lực về tài chính, công nghệ cao. Từng bƣớc xây dựng

đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tƣ chuyên nghiệp. Quan tâm công tác xúc

tiến thƣơng mại ra nƣớc ngoài, ban hành quy định và hỗ trợ kinh phí để các DN

quảng bá thƣơng hiệu và tham gia các chƣơng trình xúc tiến đầu tƣ… Tập trung rà

soát các danh mục dự án mời gọi đầu tƣ để bổ sung những thông tin chi tiết đáp ứng

đƣợc nhu cầu tìm hiểu thông tin cho nhà đầu tƣ nhƣ: vị trí quy hoạch dự án, các hỗ

trợ ƣu đãi cụ thể, tính toán hiệu quả đầu tƣ, quỹ đất sạch...

- Xây dựng và thực hiện các kế hoạch, chương trình tiếp theo sau hoạt động

xúc tiến đầu tư với các đối tác. Nhằm tiếp tục tạo môi trƣờng kinh doanh thông

thoáng, minh bạch và hấp dẫn, góp phần thu hút đầu tƣ, khuyến khích và thúc đẩy

các TPKT đầu tƣ phát triển SX-KD, nhiều tỉnh đã ban hành và sửa đổi, bổ sung

nhiều văn bản, thực hiện nhiều giải pháp tích cực về cải cách hành chính, đối thoại,

tháo gỡ khó khăn, ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ DN... Thực hiện những

80

hoạt động cụ thể nhƣ: đề cao tính tiên phong của lãnh đạo tỉnh và các sở, ngành và

các địa phƣơng với quy định “làm việc không giới hạn thời gian”. Sự quyết liệt, đột

phá trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ, chính quyền, tạo sự chuyển đổi căn bản

trong tƣ duy nhận thức, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tạo dựng

niềm tin đối với nhà đầu tƣ. Nhiều tỉnh đã thành lập và tổ chức hoạt động của Công

Thông tin đối thoại DN - Chính quyền; Ban Xúc tiến và hỗ trợ đầu tƣ cấp tỉnh (nhƣ

IPA Vĩnh Phúc) để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ là cầu nối giữa DN với chính

quyền; Thực hiện phƣơng châm: "Muốn có được công, có được phượng thì hãy làm

tổ cho chúng" nhằm chủ động tự chỉnh đốn, làm sao để bộ máy công quyền địa

phƣơng thật tốt lên, đón thời cơ thì mới thu hút đƣợc các nhà đầu tƣ…

- Thường xuyên tiếp xúc các nhà đầu tư để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng

mắc cho nhà đầu tư sau khi cấp phép. Hàng năm các tỉnh đều tổ chức các đợt khảo

sát tình hình SX-KD của DN; đánh giá chất lƣợng điều hành của các sở, ngành và

chính quyền các cấp. Tổ chức các cuộc gặp gỡ, đối thoại với các tổ chức, cộng đồng

DN, các nhà đầu tƣ để lắng nghe những kiến nghị, chia sẻ những khó khăn, vƣớng

mắc của DN. Bất kỳ khi nào DN có ý kiến là sẽ giải quyết, thậm chí đến tận DN để

giải quyết. Điều này khiến không ít DN rất vui mừng và tin tƣởng.

- Cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính,

nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh. Nhằm tiếp tục tạo môi trƣờng kinh doanh thông

thoáng, minh bạch và hấp dẫn, góp phần thu hút đầu tƣ, các tỉnh đã ban hành và sửa đổi,

bổ sung nhiều văn bản, thực hiện nhiều giải pháp tích cực về cải cách hành chính, đối

thoại, tháo gỡ khó khăn, ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ DN...(xem phụ lục 18).

Vĩnh Phúc: luôn coi trọng công tác cải thiện môi trƣờng đầu tƣ, trong đó có thu

hút FDI. Với phƣơng châm: “Tất cả các nhà đầu tư vào Vĩnh Phúc đều là công dân

Vĩnh Phúc. Thành công của DN chính là thành công và niềm tự hào của tỉnh”, tạo

điều kiện thuận lợi nhất, đồng thời luôn sát cánh, cùng tháo gỡ khó khăn cho các DN

đầu tƣ trên địa bàn tỉnh. Hiện nay Vĩnh Phúc đang ở tốp dẫn đầu trong xếp hạng về

chỉ số quản trị và hiệu quả hành chính công (PAPI), Chỉ số cải cách hành chính (PAR

INDEX), qua đó góp phần quan trọng vào cải thiện môi trƣờng đầu tƣ kinh doanh,

nâng cao năm lực cạnh tranh của tỉnh. Quảng Ninh: phê duyệt “Kế hoạch xây dựng và

triển khai bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành địa phương”

(Department and District Competitiveness Index - DDCI). Việc xây dựng DDCI xuất

phát từ thực tế việc nâng cao chất lƣợng điều hành của các cấp một cách đồng bộ từ

tỉnh đến cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm

81

xây dựng môi trƣờng kinh doanh thông thoáng, minh bạch, nâng cao năng lực cạnh

tranh. Hay Bắc Ninh, thời gian đăng ký thành lập DN trên địa bàn tỉnh rút ngắn xuống

còn 3 ngày làm việc. Một số trƣờng hợp thay đổi nội dung đăng ký DN đƣợc xử lý và

trả kết quả ngay trong ngày nhƣ: cấp lại giấy chứng nhận đăng ký DN; tạm ngừng

kinh doanh; tăng vốn đầu tƣ; bổ sung, thay đổi ngành nghề; hiệu đính thông tin; giải

thể chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh; tăng vốn điều lệ...

- Đầu tư đồng bộ hạ tầng KT-XH, dịch vụ phục vụ nhà đầu tư. Trong những

năm qua, hầu nhƣ các tỉnh đã quan tâm đầu tƣ đồng bộ, hiện đại, từng bƣớc đáp ứng

yêu cầu phát triển về kết cấu hạ tầng KT-XH. Nhiều công trình trọng điểm đƣợc tập

trung nguồn lực đầu tƣ, hoàn thành vƣợt mức kế hoạch, nhất là các tuyến đƣờng

giao thông huyết mạch với việc triển khai mô hình PPP, phƣơng thức đầu tƣ BOT;

tiết kiệm chi thƣờng xuyên để dành cho đầu tƣ phát triển; cơ cấu lại đầu tƣ công…

góp phần cải thiện môi trƣờng để thu hút đầu tƣ.

- Trao đổi với các cấp, ngành Trung ương, các đơn vị, trung tâm tư vấn, môi

giới đầu tư để kịp thời nắm bắt xu hướng, lĩnh vực đầu tư.

- Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với ngành nghề đầu tư và tạo quỹ

đất sạch sẵn sàng cho các dự án kêu gọi đầu tư. Mặc dù đạt một số kết quả khích lệ

trong cải thiện và nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tƣ FDI, song hoạt động xúc tiến đầu

tƣ vẫn còn một số khó khăn trong thu hút FDI nhƣ: chất lƣợng, hiệu quả của một số

dự án đầu tƣ thu hút còn chƣa cao, thiếu những dự án mang tính động lực. Cơ chế,

chính sách dù đƣợc các tỉnh nỗ lực thay đổi song vẫn còn những bất cập; hệ thống văn

bản pháp luật về thu hút FDI còn chồng chéo và chƣa đƣợc hƣớng dẫn đầy đủ, kịp

thời. Dịch vụ hỗ trợ DN tìm kiếm thông tin kinh doanh, tƣ vấn thông tin pháp luật, tìm

kiếm đối tác kinh doanh, xúc tiến thƣơng mại, thông tin công nghệ và đào tạo còn yếu

và thiếu. Kinh phí dành cho hoạt động xúc tiến của các địa phƣơng còn khiêm tốn nên

các hoạt động xúc tiến chƣa phong phú và chuyên sâu, khả năng ngoại ngữ yếu...

3.2.1.3. Kết quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng kinh tế

trọng điểm Bắc Bộ

- Tình hình thu hút vốn FDI ở VKTTĐBB qua các giai đoạn.

Vùng KTTĐBB là những nơi có sự xuất hiện sớm dòng vốn FDI. Tuy nhiên,

trƣớc khi vùng đƣợc thành lập theo Quyết định số 747/1997/QĐ-CP của Thủ tƣớng

Chính phủ, thu hút FDI đƣợc coi là giai đoạn khởi động chậm chạp so với tiềm

năng. Việc Thủ tƣớng Chính phủ quyết định bổ sung thêm 3 tỉnh (Vĩnh Phúc, Hà

Tây và Bắc Ninh) từ tháng 7/2003 đã tác động đến sức hấp dẫn trong thu hút FDI.

82

Bên cạnh đó, các địa phƣơng trong vùng đã tích cực trong việc ban hành các cơ chế

chính sách khuyến khích nội lực và tăng cƣờng thu hút ĐTNN trên địa bàn với các

“chiếu hoa, thảm đỏ” đƣợc trải ra đã có tác động mạnh tới việc thu hút vốn FDI

nhất là vốn đăng ký. Luật Đầu tƣ chung (2005), đã tạo sự bình đẳng hơn và tạo ra

môi trƣờng thuận lợi để đón dòng vốn FDI, Việt Nam chính thức là thành viên của

WTO (1/2007), bên cạnh đó là hàng loạt các quyết định của Chính phủ và các bộ,

ngành về việc triển khai quy hoạch vùng đã góp phần làm cho dòng vốn FDI vào

VKTTĐBB có sức hấp dẫn mới. Cũng giống nhƣ cả nƣớc giai đoạn 2006-2008 dòng

vốn FDI vào các địa phƣơng trong vùng có tăng trƣởng đột biến. Từ 2008 đến nay,

dòng vốn FDI vào VKTTĐBB có xu hƣớng coi trọng chất lƣợng và bên cạnh đó, có

sự tác động của suy thoái, suy giảm kinh tế toàn cầu và Việt Nam, nhƣng vốn FDI ở

vùng vẫn giữ đƣợc nhịp ổn định. Khái quát có thể đánh giá qua 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1988-2007: Giai đoạn này thu hút vốn FDI “thiên về số lƣợng”,

diễn ra cuộc đua giữa các địa phƣơng trong vùng trong thu hút FDI…Tỷ lệ thu hút

dự án chiếm 27% vào VKTTĐBB, 31,46% tổng vốn đầu tƣ và 31,48% tổng vốn

điều lệ, trong khi đó vùng KTTĐPN các tỷ lệ 69,3%; 61,50%; 61,03% so với các

VKTTĐ. Nếu xét trong mối tƣơng quan với VKTTĐPN thì VKTTĐBB chỉ bằng

khoảng 50%. Nếu xét về các tiềm năng và các lợi thế của vùng trong giai đoạn này

chƣa thực sự đƣợc phát huy, do nhiều nguyên nhân trong đó có những vấn đề thuộc

về khách quan nhƣ quy mô vùng, diện tích, dân số…

Vốn FDI giữa các địa phƣơng trong nội bộ vùng có sự chệnh lệch khá lớn (Hà

Nội chiếm khoảng 48% các dự án và >50% nguồn vốn FDI đầu tƣ). Đây là vấn đề

cần đƣợc đặt ra đối với cả vùng trong việc chuẩn bị các điều kiện, chủ động xúc tiến

thu hút vốn FDI và nâng cao khả năng thực hiện nguồn vốn này phục vụ cho tăng

trƣởng kinh tế và thúc đẩy CDCCKT (xem phụ lục 21 và biểu đồ 3.2).

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ các dự án phân theo VKTTĐ và các địa phƣơng (1988-2007)

Nguồn: Tác giả tính toán từ nguồn số liệu của Cục ĐTNN – Bộ KH&ĐT.

83

Biểu đồ 3.3: Vốn đầu tƣ và đăng ký của các địa phƣơng trong VKTTĐBB (1988-2007) Nguồn: Xử lý của tác giả nguồn số liệu của Cục ĐTNN – Bộ KH&ĐT.

+ Giai đoạn 2008 - nay: FDI có những thay đổi, tính liên kết vùng ngày càng

đƣợc coi trọng, sự quan tâm nhiều hơn tới chất lƣợng của nguồn vốn FDI, Hà Tây

sát nhập vào Hà Nội… Số dự án cấp mới và tăng vốn 3369 dự án (cả nƣớc là 9.467

dự án); vốn đăng ký mới và tăng vốn là 30.983 triệu USD (cả nƣớc là 190.960 triệu

USD). Sự tập trung vào Hà Nội, Bắc Ninh, Hải phòng…cho thấy sức hấp dẫn, sự nỗ

lực của các địa phƣơng trong vùng về thu hút nguồn vốn FDI nhằm phát triển KT-

XH và CDCCKT. Mặc dù trong giai đoạn này kinh tế Việt nam và thế giới nằm

trong giai đoạn suy thoái và vòng xoáy của khủng hoảng đã ảnh hƣởng không nhỏ

tới các dòng di chuyển của vốn FDI trong đó có VKTTĐBB (xem biểu đồ 3.4).

Biểu đồ 3.4: Số lƣợt dự án, vốn FDI cấp mới và tăng vốn ở các địa phƣơng trong

VKTTĐBB (2008 -2014)

Nguồn: Xử lý của tác giả từ nguồn số liệu của Cục ĐTNN – Bộ KH&ĐT.

- Về đối tác đầu tư vào VKTTĐBB: tính đến 31/12/2014 đã có hơn 60 quốc

gia và vùng lãnh thổ đã có đầu tƣ vào VKTTĐBB. VKTTĐMT là 38, VKTTĐPN là

70 và VKTTĐĐBSCL là 20. Trong những năm gần đây, thu hút FDI vào VKTTĐBB có xu hƣớng là các quốc gia phát triển và các nƣớc NICS, quy mô vốn/dự án cũng tăng lên cho thấy tầm quan trọng của VKTTĐBB nhƣ là: Hàn Quốc,

Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Hoa Kỳ… (xem phụ lục 22).

- Tình hình thực hiện vốn FDI:

84

+ Về hình thức đầu tƣ: Cuối năm 1998, số dự án liên doanh chiếm tới 59 %

tổng số dự án và 69% tổng số vốn đăng ký. Hiện tại, các tƣơng ứng là 16,7% số dự

án và 23,8% tổng vốn đăng ký; hình thức 100% nƣớc ngoài 80,9% dự án và 69%

vốn đăng ký, còn lại là dự án BOT, BT, BTO và BBC... (xem phụ lục 23).

Tỷ lệ này càng thể hiện rõ hơn ở VKTTĐBB và cũng phản ánh đúng xu

hƣớng của dòng vốn FDI chảy vào các quốc gia trong quá trình mở cửa nền kinh tế.

Đồng thời, cũng phản ánh sự nỗ lực trong cải thiện môi trƣờng để thu hút FDI đối

với các địa phƣơng và đa dạng hóa hình thức để khai thác các lợi thế của từng hình

thức nhằm nâng cao hiệu quả của vốn FDI (xem biểu đồ 3.5).

Biểu đồ 3.5: Dự án và vốn đăng ký theo hình thức đầu tƣ ở VKTTĐBB

(từ 1/1/2008 – 20/11/2014 còn hiệu lực)

Nguồn: Xử lý của tác giả từ nguồn số liệu của Cục ĐTNN- Bộ KH&ĐT.

+ Về vốn thực hiện: Tính đến 31/12/2014, VKTTĐB có 4.670 dự án với tổng

vốn đầu tƣ 56,35 tỷ USD, vốn thực hiện là 32,62 tỷ (chiếm 57,95% so với vốn đầu

tƣ). Đây là tỷ lệ khá nếu so với mặt bằng chung của cả nƣớc. Tuy nhiên, tỷ lệ giữa

vốn thực hiện/vốn đầu tƣ khác nhau giữa các địa phƣơng nhƣ Hƣng Yên (84%),

Quảng Ninh (70,8%), hay Hà Nội (67,3%) (xem biểu đồ 3.6).

Biểu đồ 3.6: Tổng vốn đăng ký và thực hiện của các địa phƣơng (tính đến 31/12/2014)

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê các tỉnh.

Nếu tính cho từng mốc thời gian tỷ lệ vốn thực hiện/vốn đăng ký ở vùng là khác

nhau: Năm 2005, tỷ lệ là 112,2%; thấp nhất vào năm 2007 với 14,7%. Hiện nay, tổng

vốn thực hiện/vốn đăng ký (lũy kế còn hiệu lực) chiếm 57,9% (xem biểu đồ 3.7).

85

Biểu đồ 3.7: Vốn FDI đăng ký và thực hiện ở VKTTĐBB (2005-2014)

Nguồn: Xử lý của tác giả từ niên giám thống kê các tỉnh.

+ Về cơ cấu ngành FDI đầu tƣ: cơ cấu FDI theo ngành tại vùng KTTĐBB về

cơ bản cũng theo xu hƣớng chung với cả nƣớc, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công

nghiệp và xây dựng. Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt là tỷ lệ dự án và vốn vào công

nghiệp và nông nghiệp thấp hơn, vào dịch vụ cao hơn cả nƣớc đã góp phần không

nhỏ vào quá trình CDCCKT theo hƣớng CNH (xem biểu đồ 3.8).

Biểu đồ 3.8: Cơ cấu số dự án và vốn FDI ở Việt Nam và VKTTTĐB phân theo ngành

kinh tế tính đến 31/12/2014

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê các tỉnh và của Việt Nam.

Trong lĩnh vực công nghiệp, FDI vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm

ƣu thế với 2159 dự án, chiếm 46,45% tổng số dự án của cả vùng. Tổng số vốn đăng ký

của nhóm ngành này là 33.953,6 triệu USD, chiếm 59,83% tổng vốn đăng ký toàn vùng.

Lĩnh vực dịch vụ thu hút đƣợc 1877 dự án FDI, chiếm 40,38% tổng số dự án,

chiếm 36,69% tổng số vốn đăng ký đầu tƣ. FDI trong lĩnh vực dịch vụ tập trung số dự

án nhiều nhất vào hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo với

692 dự án, chiếm 36,87% và 2.218,58 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 10.66% các dự

án vào lĩnh vực dịch vụ. Qui mô bình quân dự án của ngành này là khá nhỏ. Trong đó,

Hà Nội với 671 dự án, với 1.154 triệu USD. Nhƣng nhiều địa phƣơng không có dự án

vào hoạt động chuyên môn; khoa học công nghệ và giáo dục, đào tạo…

86

Nông nghiệp vẫn là lĩnh vực thu hút ít cả về số dự án, vốn đăng ký và vốn

thực hiện. Cả nƣớc bằng có 3% số dự án, tỷ lệ vốn chỉ chiếm 1,43% và ở

VKTTĐBB với các tỷ lệ tƣơng ứng là 0,45% và 0,18%. Quảng Ninh chiếm 7,8% dự

án và 1,27% vốn đăng ký, còn lại các địa phƣơng khác đều thấp dƣới 1%. Cho thấy,

nông nghiệp chƣa hấp dẫn với FDI (xem biểu đồ 3.9).

Biểu đồ 3.9. Cơ cấu số lƣợng dự án và vốn đăng ký FDI ở các địa phƣơng VKTTTĐB

phân theo ngành kinh tế tính đến 31/12/2014

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê của Việt Nam và các tỉnh

Với diễn biến về cơ cấu đầu tƣ FDI theo ngành, lĩnh vực ở vùng cho thấy:

 Cơ cấu đầu tƣ theo ngành của khu vực FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công

nghiệp - xây dựng và chƣa có đóng góp tích cực cho phát triển nông - lâm - thủy sản, ảnh

hƣởng đến sự bền vững về an ninh lƣơng thực. Ngành nông- lâm- thủy sản của

VKTTĐBB hoàn toàn chƣa hấp dẫn các nhà ĐTNN. Nguyên nhân là do sản xuất ngành

này của vùng còn quá nhỏ quy mô và lạc hậu, nhiều rủi ro, phụ thuộc rất nhiều vào thiên

nhiên. Ngoài ra, vùng cũng chƣa có qui hoạch cụ thể để có thể thu hút ứng dụng những

công nghệ kỹ thuật canh tác tiên tiến, hiện đại; FDI trong lĩnh vực công nghiệp cũng chƣa

hoàn toàn tạo ra đƣợc sự chuyển dịch cơ cấu bền vững. Sản xuất công nghiệp còn quá

phụ thuộc vào nguồn nguyên, phụ liệu và bán sản phẩm đƣợc cung cấp từ nƣớc ngoài.

Một số ngành công nghiệp quan trọng nhƣ cơ khí và công nghiệp đóng tàu tại Hải Phòng

là những ngành đòi hỏi công nghệ và vốn lớn, có tỷ suất thu hồi vốn nhỏ, đòi hỏi phải có

khả năng tài chính, song ngành này lại chƣa thu hút đƣợc nhiều vốn FDI.

 Cơ cấu FDI vào VKTTĐBB có sự mất cân đối giữa đầu tƣ phát triển kinh

tế với một số lĩnh vực có liên quan. Yêu cầu của CDCCKT ở VKTTĐBB rất cần có

nguồn nhân lực chất lƣợng cao; hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, nhất là hệ thống

giao thông, bến cảng, điện nƣớc;... Nếu không tính Hà Nội, các địa phƣơng khác gần

nhƣ vắng bóng các dự án vào hoạt động giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ.

+ Về qui mô dự án FDI: Tính đến 31/12/2014 đạt 12,1 triệu USD/dự án vốn đầu

tƣ và 6,98 triệu USD/dự án vốn thực hiện. Điều đó cho thấy, phổ biến các dự án FDI có

quy mô vừa và nhỏ. Nếu so sánh với các vùng kinh tế khác, quy mô này là còn khiêm

87

tốn. Đơn cử: Giai đoạn 2003-7/2012 chủ yếu là qui mô vừa và nhỏ với mức bình quân

là 11 triệu USD/dự án (VKTTĐPN là 12 triệu USD/dự án và VKTTĐMT là 29 triệu

USD/dự án). Bình quân vốn đăng ký FDI vào một dự án hoạt động đạt mức thấp nhất

vào năm 2009 với khoảng 2 triệu USD/dự án, cao nhất là năm 2008 với 17 triệu

USD/dự án. Nhƣ vậy, dễ dàng nhận thấy, VKTTĐBB và VKTTĐPN tuy chiếm số

lƣợng dự án và tổng vốn đầu tƣ đăng ký cao hơn so với VKTTĐMT, song lại có qui mô

bình quân dự án thấp hơn so với VKTTĐMT (xem biểu đồ 3.10).

Biểu đồ 3.10: Qui mô dự án FDI tại 3 VKTTĐ của Việt Nam giai đoạn 2000-7/2012

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê của Việt Nam.

3.2.2. Tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tới chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

3.2.2.1. Tác động tới cơ cấu vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế của vùng

- Đóng góp của khu vực FDI vào tổng vốn đầu tư xã hội của VKTTĐBB.

Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài góp phần bổ sung một lƣợng vốn rất quan trọng vào

tổng vốn đầu tƣ phát triển KT-XH của các địa phƣơng ở VKTTĐBB, tạo cú huých

quan trọng về vốn đầu tƣ. Tổng số vốn đóng góp của khu vực FDI vào tổng đầu tƣ của

VKTTĐBB có xu hƣớng tăng dần qua các năm. Cụ thể là: năm 2000 FDI chiếm 11%,

năm 2005 12,6%, năm 2010 là 15,7% và năm 2014 là 17,2% (xem biểu đồ 3.11).

Biểu đồ 3.11: Vốn đầu tƣ của khu vực FDI trong tổng vốn đầu tƣ xã hội ở VKTTĐBB

giai đoạn 2000 -2014

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê các địa phương.

- Đóng góp của khu vực FDI vào tăng trưởng kinh tế của VKTTĐBB: trong giai

đoạn 2005-2014, tốc độ tăng GDP của khu vực FDI luôn cao hơn so với tốc độ tăng

GDP của VKTTĐBB, song không ổn định. Có tốc độ tăng trƣởng khá cao vào các năm

88

2006, 2008, 2011 và 2013. Trong các năm còn lại, tốc độ tăng trƣởng của khu vực FDI

có xu hƣớng xấp xỉ bằng tốc độ tăng trƣởng của VKTTĐBB (xem biểu đồ 3.12).

Biểu đồ 3.12: Tốc độ tăng GDP của FDI và vùng KTTĐBB giai đoạn 2005 – 20114 Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê các địa phương.

3.2.2.2. Tác động tới cơ cấu ngành kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Cơ cấu ngành tính theo GDP của vùng có sự chuyển dịch theo hƣớng tăng lên

không ngừng của khu vực phi nông nghiệp. Tỷ trọng trong GDP của công nghiệp

tăng từ 37,1% năm 2000 lên 42,2% năm 2005, 46,7% năm 2010 và 46,82% năm

2014. Khu vực dịch vụ giữ mức 45,1 % năm 2000 và có xu hƣớng phát triển theo

hƣớng tăng chất lƣợng và giữ ở mức 45,2% năm 2005, và giảm còn 44,2% năm

2010 và 46,63% năm 2014. Nông nghiệp đã giảm từ mức 17,8% xuống còn 12,6%

năm 2005, 9,1% năm 2010 và 6,82% năm 2014. Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,

Vĩnh Phúc và Bắc Ninh là các tỉnh có sự CDCCKT rõ nét nhất theo hƣớng công

nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp với tỷ trọng ngành nông nghiệp còn rất ít. Tỷ trọng

ngành nông nghiệp của các địa phƣơng còn lại vẫn khá cao so với vùng, nhƣng vẫn

theo hƣớng CNH, HĐH (xem biểu đồ 3.13).

Biểu đồ 3.13: CCKT ngành ở VKTTĐBB giai đoạn 2000-2014

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê các địa phương.

- Tính chung giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng GO công nghiệp của

VKTTĐBB đạt 16,4% bình quân năm, đứng thứ hai trong số các VKTTĐ, sau

89

VKTTĐMT. Các tỉnh đạt tốc độ tăng GO cao nhất trong vùng giai đoạn 2001-2010

là: Vĩnh Phúc 21,4%, Bắc Ninh 25,2% và Hà Nội 22,2% [21].

Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng nhanh với GDP gia tăng bình quân

14,8%/năm trong giai đoạn 2001-2005 [35]. Năm 2005, GO công nghiệp đạt

246.344,3 tỷ đồng (giá hiện hành), cao gấp 2,8 lần mức năm 2000. Các tỉnh, thành

phố có GO công nghiệp lớn trong vùng là Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng

Ninh. Giai đoạn 2005-2010 và những năm tiếp theo. GO năm 2010 cao gấp 3 lần

năm 2005. Năm 2014 cao gấp 3,2 lần so với năm 2010. Các địa phƣơng có tỷ trọng

cao so với vùng nhƣ: Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc. Đặc

biệt là Bắc Ninh tăng khoảng 7 lần so với năm 2010.

Đóng góp FDI vào ngành công nghiệp chiếm 48,8% năm 2000, chiếm 36,6%

năm 2005, chiếm 48,3% năm 2010 và chiếm 63,38% năm 2014. Cơ cấu sản phẩm đã

có sự chuyển dịch tích cực, một số lĩnh vực vƣợt trội so các vùng khác, GO công

nghiệp và xuất khẩu của các DN trong các KCN, khu chế xuất tăng trƣởng mạnh.

Đơn cử nhƣ: Bắc Ninh năm 2010 công nghiệp do FDI chiếm 62,3% ngành công

nghiệp ở tỉnh đến năm 2014 tăng lên 91,14. Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm

99,54% đến 2014 chiếm 99,81% GO công nghiệp[40] (xem biểu đồ 3.14).

Biểu đồ 3.14: GO công nghiệp của FDI và toàn vùng giai đoạn 2000-2014

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê các địa phương.

Công nghiệp nông thôn phát triển mạnh, nhất là các làng nghề truyền thống.

Hiện nay, toàn vùng có trên 500 làng nghề (chiếm gần 1/3 số làng nghề của cả

nƣớc), tập trung vào các loại hình sản xuất chế biến nông sản thực phẩm, dệt nhuộm,

giày da, sản xuất hàng mây tre đan, sơn mài, đồ gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ

khí, gốm sứ... Vừa qua trên địa bàn một số địa phƣơng trong vùng đã hình thành các

cụm công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ do UBND cấp tỉnh thành lập [109].

Đến năm 2013, vùng có 59 KCN đang hoạt động (cả nƣớc 295 KCN). Chiếm 22%

KCN trong cả nƣớc với tổng diện tích đất tự nhiên là 13.670 ha, tỷ lệ lấp đầy KCN là

90

44%. Các KCN trong vùng đã hút hút đƣợc 861 dự án có vốn ĐTNN với tổng vốn đầu tƣ

đăng ký 15.038 triệu USD, chiếm 26,5% cả nƣớc (gấp 15 lần VKTTĐMT, bằng 40,5%

của VKTTĐPN)... tổng vốn đầu tƣ thực hiện thời gian qua ở các KCN VKTTĐBB chiếm

28% cả nƣớc (gấp 3,2 lần VKTTĐMT, bằng 19,6% của VKTTĐPN và gấp 21 lần

VKTTĐĐBCL). Đóng góp chiếm khoảng 35% tổng doanh thu các KCN cả nƣớc. Giá trị

xuất khẩu của các DN KCN trong vùng chiếm 40% tổng giá trị xuất khẩu của các KCN

cả nƣớc. Các DN KCN trong vùng nộp ngân sách khoảng chiếm 44% so với tổng số nộp

ngân sách của các KCN cả nƣớc. Các KCN VKTTĐBB đã giải quyết việc làm cho

khoảng 500.000 lao động trực tiếp và 600.000 lao động thời vụ [105].

- Ngành dịch vụ: Dịch vụ phát triển khá nhanh, đạt tốc độ tăng trƣởng bình

quân 12,6 % trong giai đoạn 2001-2005 so với 8,1% trong giai đoạn 1995-2000, cao

gấp gần 1,5 lần so với cả nƣớc. Du lịch phát triển ngày một đa dạng và có chất

lƣợng hơn. Thƣơng mại phát triển mạnh cả ở thành thị và nông thôn, đạt tốc độ tăng

trƣởng cao hơn mức tăng trƣởng kinh tế chung.

Trong giai đoạn 2001-2010, FDI đóng góp vào ngành dịch vụ không lớn.

Ngoại trừ Hà Nội FDI tham gia và đóng góp vào các hoạt thƣơng mại, dịch vụ khá

đa dạng tỷ trọng có tăng nhƣng còn thấp (năm 2005 chiếm 3,9%, năm 2010 4,4% và

năm 2013 là 5%). Các địa phƣơng khác FDI chỉ xuất hiện ở một số hoạt động nhƣ

bán buôn, bán lẻ; lƣu trú và ăn uống hay vận tải, kho bãi, dịch vụ viễn thông…với tỷ

trọng thấp (năm 2010 là 1,54%, năm 2012 và năm 2014 là 3,4%).

Với sự xuất hiện ngày càng nhiều các FIES, đã tạo sức ép cạnh tranh, tạo

chuyển biến nhanh về nhiều lĩnh vực: các dịch vụ ngân hàng, viễn thông đã đƣợc

hiện đại hoá, hình thức thanh toán hiện đại từng bƣớc phát triển; Dịch vụ du lịch

đƣợc đầu tƣ và phát triển ở tất cả các tỉnh, thành phố trong vùng, trong đó nổi lên

các địa danh Chùa Hƣơng, Vịnh Hạ Long, Tam Đảo, Đồ Sơn...; Các dịch vụ hỗ trợ

SX-KD và phục vụ đời sống nhân dân nhƣ tƣ vấn pháp lý, sở hữu trí tuệ, chứng

khoán, bảo hiểm... đã có đƣợc những bƣớc phát triển ban đầu.

3.2.2.3. Tác động tới cơ cấu thành phần kinh tế

- Về cơ cấu đóng góp vào GDP: Cổ phần hoá và việc thực hiện sắp xếp, đổi

mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN trong vùng diễn ra chậm, còn nhiều

hạn chế. Tốc độ tăng trƣởng GDP của kinh tế nhà nƣớc và kinh tế ngoài nhà nƣớc

trong các giai đoạn 1995-2005 đều khoảng trên 8%, của kinh tế có vốn FDI khoảng

trên 15%. Tỷ trọng kinh tế nhà nƣớc tuy có giảm dần nhƣng không đáng kể, nhƣng

giai đoạn 2011 đến nay giảm nhanh.

91

Tỷ trọng kinh tế ngoài nhà nƣớc thay đổi chậm và vẫn ở mức khiêm tốn. Tỷ

trọng khu vực FIE đã tăng lên, Năm 2000 chiếm 13,87% GDP đến năm 2005 chiếm

15,14% của toàn vùng. Giai đoạn 2008 đến nay có tốc độ đóng góp tăng khá nhanh

(Năm 2008 chiếm 17,67%, năm 2010 là 17,89%, năm 2012 là 23,07% và năm 2014

tăng nhanh chiếm 31,35%). So với tiềm năng, mức đóng góp của khu vực FDI vào

GDP của VKTTĐBB thời gian qua còn khiêm tốn. Tuy nhiên, những năm gần đây do

các địa phƣơng đã chú trọng tới việc lựa chọn các dự án FDI có chất lƣợng hơn, đồng

thời DNNN tốc độ cổ phần hóa và tái cơ cấu nhanh hơn nên đã góp phần làm cho vai

trò của FDI thể hiện đậm nét hơn trong cơ cấu kinh tế của vùng (xem biểu đồ 3.15).

Biểu đồ 3.15: Tỷ lệ GDP của các TPKT so với GDP VKTTĐBB giai đoạn 2000-2014

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê qua các năm của các tỉnh.

Tuy nhiên, sự biến đổi đó là không đều giữa các địa phƣơng. Kinh tế nhà nƣớc

vẫn chiếm tỷ trọng cao, nhƣ: Hà Nội năm 2010 kinh tế nhà nƣớc chiếm 43,5%, kinh tế

ngoài nhà nƣớc chỉ chiếm 38,2% và FDI chiếm 18,3%; Quảng Ninh với các chỉ số

tƣơng ứng (54% - 33,2% - 12,8%). Đến năm 2014 Hà Nội với các chỉ số tƣơng ứng

(42,5% - 40% - 16,5%); Quảng Ninh (48,5% - 31,2% - 20,3%). Bên cạnh đó, nhiều tỉnh

kinh tế nhà nƣớc chiếm tỷ trọng nhỏ và FDI có tỷ trong rất lớn nhƣ: Vĩnh Phúc năm

2010 (14,57% - 36,69% - 48,73%), năm 2014 (14,24% - 39,03% - 46,73%), hay Bắc

Ninh năm 2010 (13,3% - 56,7% - 30,0%) và năm 2014 (9,4% - 20,7% - 69,9%)...

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư theo TPKT:

Nguồn vốn đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc đã tăng nhanh và giữ mức tƣơng đối ổn định

trong cơ cấu vốn đầu tƣ trong giai đoạn 2001-2005 (khoảng 29%). Nguồn vốn đầu tƣ

ngoài nhà nƣớc chiếm tỷ trọng lớn nhất và tăng khá và giữ mức ổn định trong giai

đoạn 2001-2005 là 61,65%; tỷ trọng nguồn FDI cũng giữ mức ổn định. Điểm sáng về

thu hút vốn FDI của vùng là Vĩnh Phúc, các địa phƣơng khác có nhiều thế mạnh nhƣ

Hà Tây, Quảng Ninh.. vẫn chƣa tận dụng đƣợc lợi thế và tiềm năng của mình. Hà Nội,

Hải Phòng vẫn là các địa phƣơng có số lƣợng dự án ĐTNN với số vốn đăng ký cao

nhất (các con số tƣơng ứng là 52,88 %, 14,04% và 63,55%, 13,74%).

92

Cơ cấu TPKT đã có sự chuyển dịch đáng kể trong giai đoạn 1995-2005.

Nhƣng trong giai đoạn 2006-2010 sự chuyển dịch bị chậm lại. Sang giai đoạn tiếp

theo, khu vực FIE có sự gia tăng nhanh trong cơ cấu GDP của vùng từ 15,68% (năm

2010) và 19,77% (năm 2014). Trong khi đó, kinh tế nhà nƣớc có sự sụt giảm khá

nhanh từ 38,09% (năm 2010) còn 25,11% (năm 2014); Kinh tế ngoài nhà nƣớc có tỷ

trọng tăng trong cơ cấu. Điều đó cho thấy, FDI và kinh tế ngoài nhà nƣớc ngày càng

đóng vai trò trụ cột trong cơ cấu GDP. Sự có mặt ngày càng nhiều của lƣợng vốn

đầu tƣ FDI và sự phát triển của khu vực FDI tất yếu làm cho cơ cấu TPKT biến đổi

mạnh và vai trò quan trọng của FIE là tất yếu (xem biểu đồ 3.16).

Biểu đồ 3.16: Cơ cấu vốn đầu tƣ phân theo khu vực kinh tế VKTTĐBB giai đoạn 2010-2014

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê các tỉnh và Việt Nam.

3.2.3.4. Tác động tới cơ cấu kinh tế lãnh thổ

Trong giai đoạn 1995-2000 cơ cấu kinh tế lãnh thổ cũng thể hiện sự nổi bật về

vị trí, vai trò của Hà Nội, Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh. Ba địa phƣơng này chiếm

tới 79-80% GDP, đóng góp gần 90% ngân sách, thu hút trên 90% vốn ĐTNN của

toàn vùng. Riêng Hà Nội chiếm khoảng 50% đối với các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.

Dải ven biển của vùng rất giầu tiềm năng và có nhiều lợi thế nhƣng chƣa đƣợc phát

huy một cách có hiệu quả. Những ngành sản phẩm, lĩnh vực mới tập trung ở Hà Nội,

Hải Phòng, nhƣ lắp ráp tivi, ô tô, xe máy, sản xuất bia và nƣớc giải khát, sản xuất

thép. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2001-2005, vốn đầu tƣ, nhất là vốn FDI có sự tăng

nhanh ở một số tỉnh và đã tạo ra sự thay đổi đáng kể trong CDCCKT. Vĩnh Phúc và

Bắc Ninh có sự phát triển nhanh nhiều ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Các ngành dịch vụ phát triển nhanh ở các khu vực đô thị và KCN, điển hình là

ở các tỉnh Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng. Tỷ trọng du lịch của một số địa phƣơng

có tiềm năng du lịch lớn nhƣ Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng Ninh

chiếm khoảng 15% du lịch của ngành, nhƣng mới chỉ ở giai đoạn phát triển ban đầu,

hoạt động chủ yếu dựa vào tự nhiên, mang tính mùa vụ. Đối với Hà Nội, thƣơng mại

93

và viễn thông là hai ngành có tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu các ngành dịch vụ

(chiếm tƣơng ứng 22% và 17%). Một số dịch vụ trình độ cao, có VA lớn còn chậm

phát triển và chiếm tỷ trọng thấp trong tổng doanh thu các ngành dịch vụ, nhƣ tài

chính (6%), y tế (2,7%), khoa học - công nghệ (2,6%) phát triển nhanh ở ba thành

phố Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh (tổng hợp từ các nguồn [20], [35]).

Cơ cấu kinh tế đô thị đã tăng thêm 15,6 điểm % từ 63,2 % năm 2000 lên

78,8% năm 2010, trong khi đó kinh tế nông thôn đã giảm 15,6 điểm % từ 36,8%

năm 2000 xuống còn 21,2% năm 2010 (bình quân+/-1,56% điểm/năm). Điều này

cho thấy khu vực sản xuất phi nông nghiệp tăng lên và chủ yếu ở khu vực đô thị;

mặt khác, NSLĐ trong khu vực đô thị tăng nhanh hơn trong khu vực nông thôn, việc

mở rộng đầu tƣ các KCN, gia tăng của FDI diễn ra nhanh chóng trong vùng [41].

Tỷ lệ đô thị hoá trong vùng cao hơn so với cả nƣớc và diễn ra nhanh hơn (năm

1995 là 22,2%; năm 2000 là 26,7%; năm 2005 là 31,9%). Từ năm 2005 đến 2013 dân

đô thị tăng 1,5 triệu ngƣời, hiện nay là 4296 ngàn ngƣời (chiếm 38.57% dân số của

vùng). Trong khi đó cả nƣớc tỷ lệ dân đô thị là 32,2% dân số. Về các đơn vị hành

chính, số thành phố, phƣờng, thị trấn đã tăng lên, trong khi đó số xã thì giảm, phản

ánh thực tế là các khu vực nông thôn đang dần chuyển thành các khu vực đô thị và

KCN, với mật độ đô thị dày nhất. Hiện nay ngoài các thành phố trực thuộc Trung

ƣơng (Hà Nội, Hải Phòng) còn có 8 thành phố, 17 quận, 5 thị xã trực thuộc tỉnh; 348

phƣờng, 81 thị trấn và hàng trăm thị tứ góp phần tạo ra sự chuyển biến đáng kể cho

vùng và thúc đẩy giao thƣơng. Các đô thị và KCN trong vùng lan toả nếp sống, phong

cách kinh doanh tiên tiến và cuốn hút sự phát triển chung của các vùng xung quanh.

Với sự xuất hiện ngày càng nhiều các dự án FDI, công nghiệp phát triển và sự

xuất hiện một số hành lang kinh tế trong VKTTĐBB đã góp phần hình thành nhiều

khu đô thị mới, kết cấu hạ tầng KT-XH đƣợc nâng cấp góp phần mang lại văn minh

đô thị, cải thiện đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội nhƣ: dọc theo các quốc lộ 1A, 2A,

5, 10, 18A, hay một dải các KCN đã đƣợc hình thành tại các tỉnh.

Ví dụ: Việc hình thành và phát triển các KCN dọc quốc lộ 5 gồm các KCN

Đài Tƣ, Sài Đồng B, Nhƣ Quỳnh A, Nhƣ Quỳnh B, Phố Nối A và B, Thăng Long II,

Minh Đức, Phúc Điền, Đại An, Phía Tây thành phố Hải Dƣơng, Việt Hoà -

Kenmark, Nam Sách, Lai Cách, Nomura Hải Phòng đã làm cho quốc lộ 5 giống nhƣ

đƣờng đô thị. Kết quả là xã trở thành thị trấn, phƣờng, thị trấn thành thị xã, hoặc cấp

đô thị đƣợc nâng lên. Ví dụ, năm 2004 xã Khai Quang đã trở thành phƣờng Khai

Quang của thị xã Vĩnh Yên và thị trấn Phúc Yên (huyện Bình Xuyên) thành thị xã

94

Phúc Yên; năm 2006, thị xã Vĩnh Yên trở thành thành phố Vĩnh Yên…

3.2.3.5. Tạo việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài với khả năng tạo việc làm và CDCC lao động.

Khu vực FDI ở VKTTĐBB đã không ngừng tạo việc làm cho ngƣời lao động qua các

năm. Nếu nhƣ năm 2003, số lao động đang làm việc trong khu vực FDI mới chỉ là

101.242 ngƣời, thì đến năm 2014, khu vực FDI đã sử dụng 656.690 lao động, tăng

gấp 6,5 lần so với năm 2003. Tốc độ tăng số lao động công nghiệp trong khu vực FDI

ở vùng có xu hƣớng biến động. Từ 78.222 lao động lên 519.562 lao động, tăng 6,6 lần

(chiếm 74,8% lao động trong khu vực FDI). Kết quả này đã minh chứng cho vai trò

thúc đẩy CDCC lao động của VKTTĐBB theo hƣớng hiện đại (xem biểu 3.17).

Biểu đồ 3.17: Lao động làm việc phân theo loại hình kinh tế giai đoạn

2008 -2014 ở VKTTĐBB

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê các năm của các tỉnh.

Mặc dù khu vực FDI góp phần giải quyết việc làm và thúc đẩy CDCC lao động

theo hƣớng tích cực ở VKTTĐBB, nhƣng có thể nhận định rằng tính ổn định của việc

làm còn kém, không ổn định và bấp bênh. Theo báo cáo kết quả khảo sát thực tế của

Viện Công nhân và Công đoàn năm 2007 về quan hệ lao động trong các FIES tại 8 tỉnh, thành phố [3], có nhiều FIES tại VKTTĐBB và VKTTĐPN, cho thấy số lao động có thâm niên làm việc tại các FIES từ 1-5 năm chiếm 60%; từ 6-10 năm chỉ là 16%. Trong khi đó có tới 13% lao động trong các FIES mới vào làm việc dƣới 01 năm. Hầu hết các DN thƣờng xuyên có sự biến động về lao động và thƣờng xuyên phải tuyển

dụng lao động mới để bổ sung cho lao động nghỉ việc đã ảnh hƣởng đến tính ổn định

trong công việc của ngƣời lao động và hoạt động sản xuất của DN. Trong số những

ngƣời đƣợc hỏi, có khoảng 74% lao động có việc làm ổn định; 22% không ổn định và

4% thiếu việc làm. Tỷ lệ lao động có đào tạo đƣợc làm đúng nghề không cao, chỉ

chiếm khoảng 50%, khoảng 10% làm việc trái với chuyên môn đào tạo. 3 Vùng KTTĐBB có 4 tỉnh, thành phố đƣợc khảo sát là: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hải Dƣơng.

95

- Về tiền lương và thu nhập của người lao động: Giai đoạn 2001-2005, thu

nhập bình quân của ngƣời lao động trong khu vực FDI ở VKTTĐBB là 1,98 triệu đồng/ngƣời/tháng. Trong đó, ngƣời lao động trong các FIES trên địa bàn Hà Nội có mức thu nhập bình quân cao nhất 3.17 triệu đồng/ngƣời/tháng [126]. Sau năm 2005

cho đến nay, thu nhập bình quân/ngƣời lao động ở các FIES có tăng khá nhanh, gần 3,5 lần, từ mức 2,17 triệu (2005) lên 4,93 triệu đồng (năm 2010) và 7,51 triệu

đồng/ngƣời/tháng (2014). Thu nhập bình quân của ngƣời lao động trong FIES thấp

hơn so với mức thu nhập của ngƣời lao động trong DNNN và cao hơn các DN khác. Thu nhập của ngƣời lao động trong FIES, tiền lƣơng chiếm khoảng +/- 90% và có xu hƣớng tăng trong những năm gần đây. Ví dụ năm 2010, DNNN 90,5%, FIES 90,6% và DN tƣ nhân 90,12% (xem biểu đồ 3.18).

Biểu đồ 3.18: Thu nhập bình quân của ngƣời lao động trong các loại hình DN Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê các năm của các tỉnh.

Báo cáo của Sở Lao động-Thƣơng binh và Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy,

năm 2011, thu nhập bình quân của ngƣời lao động trong các FIES là 3,1 triệu, trong

khi đó các DNNN có thu nhập 3,2 triệu đồng; các DN dân doanh có thu nhập 2,9

triệu đồng/ngƣời/tháng. Tuy nhiên, cũng có một số DN có thu nhập bình quân cao

nhƣ: Công ty Toyota Việt Nam là 7, 5 triệu đồng, Công ty Cổ phần đầu tƣ và phát

triển Việt Đức 6,3 triệu đồng, Công ty TNHH công nghiệp chính xác Việt Nam 1 là

4,5 triệu đồng; Công ty TNHH công nghệ Cosmos là 4,5 triệu đồng. Công ty TNHH

xe buýt Daewoo Việt Nam là 4,2 triệu đồng/ngƣời/tháng [99].

Sự chênh lệch khá rõ về tiền lƣơng của lao động trong các FIEs với DNTN;

giữa các vị trí công việc, giữa lao động quản lý với lao động chƣa qua đào tạo cùng

loại hình FIEs. Cụ thể: chênh lệch về tiền lƣơng bình quân theo vị trí công việc: Nhân

viên thừa hành, phục vụ (2,90 triệu đồng); Công nhân trực tiếp sản xuất (3,02 triệu

đồng); Công nhân làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ (5,17 triệu đồng); Cán bộ viên

chức quản lý (16,8 triệu đồng/người/tháng). Nhƣ vậy, chênh lệch về tiền lƣơng giữa

96

nhóm thấp nhất và cao nhất là 5,8 lần. Chênh lệch tiền lƣơng giữa lao động quản lý và

lao động chƣa qua đào tạo nghề trong các FIEs khoảng 19 lần, trong khi mức chênh

lệch này ở khu vực DNNN khoảng 8 lần và DN dân doanh khoảng 6 lần [27].

- Về điều kiện làm việc của người lao động. Do mức thu nhập thấp (nhất là

đối với lao động có tay nghề thấp) nên có rất nhiều ngƣời lao động muốn đƣợc làm

thêm giờ, thêm ca để có thêm thu nhập, để cải thiện từng bữa ăn. Kết quả điều tra

của Bộ Lao động-Thƣơng binh và Xã hội đối với 1500 DN của 15 tỉnh, thành phố

cho thấy có đến 72,8% DN có huy động làm thêm giờ, trong đó địa bàn có tỷ lệ DN

huy động làm thêm giờ nhiều nhƣ: Hƣng Yên (93%), Hải Dƣơng (84,09%), Bắc

Ninh (83,16%), Hà Nội có tỷ lệ thấp nhất với 51,4%. Tại Hải Phòng, có những vụ

ngƣời lao động phải làm thêm giờ từ 600 -700 giờ/năm. Cũng theo kết quả điều tra,

có tới 3,79% ngƣời lao động đƣợc hỏi phải làm thêm trên 300 giờ/năm; 8,11% ngƣời

lao động phải làm thêm từ 200h-300h/năm (điển hình là Công ty TNHH Vinh

Korea, Công ty Honda Việt Nam, Công ty TNHH Kohsei Muitipack trên địa bàn

tỉnh Vĩnh Phúc); làm thêm giờ từ 100h-200h chiếm 26,07%...[26]. Hiện tƣợng làm

việc tăng ca, tăng giờ diễn ra hầu hết FIES ở VKTTĐBB, nhất là trong các lĩnh vực dệt may, da giày, chế biến thủy hải sản...

Nhiều FIEs chƣa thực hiện tốt các qui định về việc chấp hành an toàn vệ sinh,

bảo hộ lao động, ngay cả những phƣơng tiện bảo hộ cần thiết nhƣ găng tay, ủng,

khẩu trang, mặt nạ phòng độc... Có 65,2% lao động trả lời đã đƣợc DN trang bị đúng

và đủ các phƣơng tiện bảo hộ lao động cá nhân, trong khi đó có 22,3% lao động

không đƣợc trang bị đầy đủ và có 7,6% lao động không đƣợc trang bị bất kỳ phƣơng

tiện bảo hộ lao động nào khi làm việc [144].

- Về đời sống vật chất và tinh thần của người lao động. Mặc dù trong những năm

gần đây, mức tiền lƣơng và thu nhập của ngƣời lao động trong các FIEs đã tăng lên

đáng kể, song vẫn thấp hơn so với các loại hình DN khác. Trong khi đó, giá cả sinh hoạt

tăng cao cùng với nhiều khoản chi tiêu trong sinh hoạt, đặc biệt đối với lao động ngoại

tỉnh còn phải trả tiền thuê nhà trọ,... thì có thể khẳng định cuộc sống vật chất của ngƣời

lao động trong các FIEs ở VKTTĐBB gặp phải rất nhiều khó khăn. Kết quả điều tra của

Liên đoàn Lao động tỉnh Hải Dƣơng (2009) cho thấy: công nhân tại các FIEs trên địa

bàn đại đa số là ngƣời của địa phƣơng nên số ngƣời có nhà riêng chiếm tỷ lệ 67,6%,

còn lại là công nhân ở xa phải tự thuê nhà trọ của nhân dân ở quanh KCN. Các nhà trọ

này thƣờng không đảm bảo các điều kiện sinh hoạt tối thiểu nhƣ: diện tích, thiếu ánh

sáng, nƣớc sạch... Tỷ lệ công nhân ở chung phòng 2 ngƣời chiếm 11,8%, 3 ngƣời chiếm

97

4,9%, 4 ngƣời chiếm 3,5%, trên 5 ngƣời chiếm 4,1%. Về diện tích phòng trọ có 17,2% phòng trọ có diện tích dƣới 10m2, trên 10m2 chiếm 35%...

Ngƣời lao động trong các FIES thƣờng không có thời gian nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và tham gia vào các hoạt động xã hội khác vì không có tiền và cƣờng độ làm

việc cao. Công nhân đƣợc tham gia các hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa văn

nghệ thƣờng xuyên chiếm có 36,9%, ít đƣợc tham gia chiếm 51% và DN không tổ

chức chiếm 12,1%. Điều này ảnh hƣởng rất lớn đến chất lƣợng cuộc sống cả về vật

chất lẫn tinh thần của ngƣời lao động, ảnh hƣởng đến khả năng tái sản xuất sức lao

động và gián tiếp ảnh hƣởng đến năng suất và hiệu quả SX-KD của DN.

- Đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động. Không chỉ tạo việc

làm, nhiều FIES trong vùng cũng chú trọng đến công tác đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho ngƣời lao động. Ngƣời lao động sau khi đƣợc tuyển dụng vào làm việc trong

các FIEs thƣờng đƣợc đào tạo bổ sung, có điều kiện tiếp cận, học hỏi và tiếp thu kỹ

thuật mới, công nghệ mới, cách thức điều hành DN và tác phong làm việc công

nghiệp. Do vậy, đã từng bƣớc góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Ở

Hải Phòng, một số FIES đƣa lao động chủ chốt trong DN đi đào tạo tại nƣớc ngoài nhƣ Công ty LG -Mega, San Miguel Yamamura, LS-Vina. Hay tại Vĩnh Phúc, các FIES cũng đã chủ động đào tạo và sử dụng lao động qua đào tạo. Số lao động chƣa qua đào tạo giảm từ 61,3% năm 2007 xuống còn 54,6% năm 2011. Do đó, trình độ

của ngƣời lao động đƣợc tuyển dụng vào các FIES có sự thay đổi rõ rệt. Nếu nhƣ năm 2007, số lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên là 873 ngƣời thì đến năm 2011,

con số này đã tăng lên 2.813 ngƣời (tăng 49,2% trong 5 năm). Số công nhân kỹ thuật

tăng từ 6.297 ngƣời năm 2007 lên 13.980 ngƣời năm 2011 (tăng 122%) [100].

3.2.2.6. Các tác động khác kinh tế xã hội khác

- Cơ cấu xuất nhập khẩu: Tốc độ tăng trƣởng về giá trị xuất khẩu của vùng từ

năm 2000 đến 2014 có xu hƣớng tăng lên. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu/tổng giá trị xuất

khẩu tăng nhanh và đóng vai trò quan trọng. Nhiều địa phƣơng nhƣ: Hà Nội năm

2000 tỷ trọng giá trị xuất khẩu chiếm 63,98% tổng giá trị xuất khẩu của cả vùng,

năm 2005 chiềm 52,26%, năm 2010 chiếm 47,15 và năm 2014 chiếm 24,05%. Tuy

nhiên giai đoạn 2010-2014 Bắc ninh là tỉnh vƣợt lên dẫn đầu trong vùng về tỷ trọng

xuất khẩu (do hoạt động của Samsung Electronics Việt Nam - SEV tại KCN Yên

Phong, Bắc Ninh) năm 2010 đạt 2.451,4 triệu USD lên 21.975 triệu USD năm 2014,

trong đó riêng hàng điện tử thuộc SEV chiếm 20 tỷ USD (xem phụ lục 24).

Cơ cấu giá trị xuất khẩu có sự chuyển dịch theo hƣớng giảm mạnh ở nhóm

98

hàng công nghiệp nặng và khoáng sản (từ 18,53% năm 2010 xuống còn 5,68% năm

2014. Giảm nhẹ ở nhóm hàng nông, lâm, thủy sản (từ 6,68% năm 2010 xuống

3,59% năm 2014). Tăng mạnh ở nhóm hàng công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp

(từ 74,79% năm 2008 lên 90,73% năm 2014) (xem biểu đồ 3.19).

Khu vực FDI có vai trò quan trọng trong cơ cấu giá trị xuất khẩu của các địa

phƣơng. Đơn cử nhƣ: Hải Dƣơng: Năm 2010: FDI xuất khẩu đạt giá trị 1529,8 triệu

(chiếm 95,4% giá trị xuất khẩu); Năm 2014 đạt giá trị 3.893,4 (chiếm 96,8%). Hay Hà

nội năm 2010 đạt 3.630 triệu (44,8%) và năm 2014: 5.357 triệu USD (48,4%). Đặc

biệt là Bắc Ninh trong những năm qua FDI đóng vai trò gần nhƣ tuyệt đối trong cơ

cấu giá trị xuất khẩu của tỉnh (riêng Samsung Electronics Việt Nam năm 2013 chiếm

trên 90% giá trị xuất khẩu của tỉnh và chiếm 17% giá trị xuất khẩu của cả nƣớc).

Biểu đồ 3.19: Giá trị và tỷ trọng giá trị xuất khẩu của các nhóm hàng hóa

ở VKTTĐBB giai đoạn 2010-2014

Nguồn: Tính toán của tác giả từ Niên giám thống kê của các tỉnh.

Tuy nhiên, giá trị nhập khẩu của khu vực FDI ở VKTTĐBB còn khá cao; SX-

KD của khu vực FDI còn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu và bán thành

phẩm từ nƣớc ngoài. Khu vực FDI tại hầu hết các địa phƣơng ở VKTTĐBB đều có

giá trị nhập siêu. Điều này chứng tỏ mối liên kết giữa FIES và DN trong nƣớc còn

chƣa mạnh. DN trong nƣớc quá yếu, chƣa sản xuất đƣợc các mặt hàng nguyên liệu

đáp ứng đƣợc chất lƣợng và chủng loại cho các FIES với giá cả cạnh tranh.

- Đóng góp ngân sách: Trong những năm qua, khu vực FDI đã có những đóng

góp đáng kể cho ngân sách địa phƣơng VKTTĐBB. Năm 2002, các FIES ở vùng đã nộp 2,12 ngàn tỷ đồng vào ngân sách, năm 2014 là 41,6 ngàn tỷ đồng, cao gấp 19,92

lần so với năm 2002. Ngoại trừ các năm 2002 và 2003 chiếm khoảng 6%, còn lại thu

ngân sách từ FDI chiếm từ 11 – 14% tổng thu ngân sách của vùng (xem biểu đồ 3.20).

99

Biểu đồ 3.20: Thu ngân sách từ khu vực FDI và tổng thu ngân sách

ở VKTTĐBB giai đoạn 2002-2014

Nguồn: Xử lý của tác giả từ số liệu Niên giám thống kê của các tỉnh.

- Hiệu quả sử dụng vốn: Bên cạnh các FIEs ở VKTTĐBB chấp hành tốt các

chính sách cũng nhƣ đầu tƣ, kinh doanh có lãi và đóng góp không nhỏ vào sự phát

triển KT-XH của vùng, còn có nhiều DN SX-KD không hiệu quả, thua lỗ kéo dài

trong nhiều năm liên tục. Hiện tƣợng FIES thua lỗ kéo dài, lỗ giả lãi thật, chuyển giá

nhằm chuyển thu nhập và lợi nhuận về nƣớc xuất hiện khá phổ biến.

Tại Hà Nội, từ năm 2007 đến 30/7/2012, qua thực hiện thanh tra kiểm tra hơn

707 FIEs, cơ quan quản lý thuế thành phố Hà Nội đã phát hiện nhiều DN vi phạm Luật

quản lý thuế; tiến hành truy thu, phạt và nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền là 561.205 triệu

đồng; giảm lỗ, giảm khấu trừ 1.454.513 triệu đồng; truy hoàn 4.188 triệu đồng. Qua

công tác quản lý, thanh kiểm tra của Cục Thuế Thành phố Hà Nội cho thấy bên cạnh

các FIEs thua lỗ thật sự còn có DN kê khai không trung thực dẫn đến “lỗ giả, lãi thật”.

Các DN lỗ liên tục trong nhiều năm chủ yếu tập trung ở một số các ngành nghề: Sản

xuất phụ tùng ô tô, xe máy, gia công hàng điện tử, cấu kiện bằng thép. Đặc biệt có một

số ngành sản xuất mang tính độc quyền nhƣ sản xuất các thiết bị quang học chính xác,

sản xuất chân tay giả cũng liên tục thua lỗ, có năm có lãi nhƣng cũng chỉ đủ để bù lỗ

(chƣa bao giờ phát sinh thuế thu nhập DN); Gia công trong các lĩnh vực: chế tác vàng

bạc đá quí, gia công may mặc, gia công các sản phẩm cơ khí, gia công in...

Tại Quảng Ninh, nhiều FIEs cũng đang vào “tầm ngắm” của cơ quan quản lý

thuế. Điển hình là Công ty Everbest Việt Nam - DN 100% vốn đầu tƣ của Hồng Kông

- Trung Quốc, chuyên gia công giày các loại liên tục thua lỗ kể từ khi thành lập (2003)

cho đến nay. Tình trạng tƣơng tự cũng đang diễn ra với Công ty TNHH Ngọc Trai

Phƣơng Đông (100% vốn đầu tƣ của Nhật Bản), hoạt động trong lĩnh vực nuôi ngọc

trai. Sản phẩm của Công ty sản xuất ra thƣờng đƣợc bán cho một công ty ở nƣớc ngoài,

song từ khi thành lập (năm 2000) đến nay, DN này liên tục báo cáo lỗ. Cả hai DN trên

đều thuộc diện bị thanh tra chống chuyển giá trong 2 năm 2011, 2012 [66].

100

Tại Hải Dương, từ đầu năm 2011 đến nay, qua thanh tra 99 DN, ngành thuế

tỉnh đã phát hiện 18 DN lỗ và có dấu hiệu chuyển giá. Đồng thời đã điều chỉnh giảm

lỗ hơn 117 tỷ đồng, giảm khấu trừ hơn 700 triệu đồng, đề nghị truy thu hơn 4 tỷ đồng,

kiến nghị ra quyết định xử phạt hơn 2 tỷ đồng. Ngành thuế tỉnh phát hiện 77/850 DN

qua kiểm tra có lỗ và có dấu hiệu chuyển giá; điều chỉnh giảm lỗ hơn 18 tỷ đồng,

giảm khấu trừ hơn 160 triệu đồng, tổng số thuế truy thu và phạt hơn 1,7 tỷ đồng. Các

DN có dấu hiệu chuyển giá chủ yếu là FIES [8]. Ngoài ra, bên cạnh vấn đề chuyển giá, lỗ giả lãi thật, khoản nợ xấu của các FIEs đối với ngân hàng. Năm 2005, UBND tỉnh

chấp thuận cho Kenmark (Đài Loan) đầu tƣ 500 triệu USD vào KCN Việt Hòa.

Nhƣng Kenmark đã vay ở các ngân hàng trong nƣớc 50 triệu USD để đầu tƣ. Năm

2010, khi chủ đầu tƣ bỏ về nƣớc do xảy ra tranh chấp trong thực hiện dự án, khoản

vay của Kenmark trở thành nợ xấu đáng kể tại các ngân hàng [30].

- NSLĐ chung của VKTTĐBB tăng từ 47,6 triệu đồng/ngƣời năm 2008 lên 120,8

triệu đồng/ngƣời năm 2014. Khu vực FDI có NSLĐ cao nhất, gần gấp 3 lần bình quân.

NSLĐ của vùng gấp khoảng 1,5 lần NSLĐ trung bình của cả nƣớc (xem phụ lục 25).

Nếu xét theo sự đóng góp vào tăng trƣởng của VKTTĐ theo các yếu tố đầu

vào là vốn, lao động và TFP, các đóng góp này có sự dịch chuyển rõ rệt qua các giai

đoạn phát triển của vùng. Trong suốt thời kỳ 2001-2010 VKTTĐBB có tỷ lệ đóng

góp của TFP trong tăng trƣởng GDP cao nhất, đạt 25,6%, trong khi đó cả nƣớc chỉ

đạt 12,5%, thấp hơn VKTTĐBB 13,1điểm phần trăm (-13,1%), các VKTTĐ nói

chung chỉ đạt 21,7%, thấp hơn 3,9 điểm phần trăm (-3,9%) và ngay cả VKTTĐPN là

vùng phát triển năng động, song tỷ lệ đóng góp của TFP cũng chỉ đạt 15,2%, thấp

hơn 10,4 điểm phần trăm (-10,4%) (xem phụ lục 26).

- Tác động môi trường: Do chƣa có cuộc điều tra mang tính toàn diện đối với

tình hình thực hiện pháp luật bảo vệ môi trƣờng của các FIEs ở VKTTĐBB, nên tác

giả luận đề cập tới một số trƣờng hợp có tính điển hình ở VKTTĐBB.

+ Về tình hình thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường: Trong số các FIEs, các

DN của Nhật Bản thƣờng thực hiện tốt hơn và hạn chế mức độ ô nhiễm môi trƣờng;

còn lại đa số các DN khác chƣa thực hiện nghiêm túc pháp luật bảo vệ môi trƣờng

nhƣ: hệ thống xử lý chất thải không có hoặc có nhƣng không đảm bảo, có DN đã đi

vào hoạt động SX-KD nhƣng chƣa có đầy đủ hồ sơ về bảo vệ môi trƣờng, chƣa có

giấy phép xả nƣớc thải vào nguồn nƣớc, chƣa thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện chƣa

đúng các nội dung đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt. Đa số

những FIES vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng là DN có qui mô vừa và nhỏ của

101

Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc nhƣ: Công ty TNHH Seuol Print Vina buộc

phải dừng hoạt động và chuyển đến địa điểm mới, Công ty TNHH Dệt Hiếu Huy

Vĩnh Phúc (trƣớc đây là Công ty TNHH Dệt len Lantian Việt Nam) đã buộc phải

dừng hoạt động xƣởng nhuộm để xây dựng hệ thống xử lý nƣớc thải mới. Công ty

TNHH Piaggio Việt Nam gây ô nhiễm khí thải (mùi) buộc công ty phải đầu tƣ 7,5 tỉ

đồng xây dựng hệ thống xử lý nƣớc thải, khí thải. Năm 2011, khi tiến hành thanh tra,

kiểm tra và đã phát hiện 14 DN có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng, cơ

quan chức năng đã xử phạt và đề xuất mức xử phạt với số tiền là 528,75 triệu đồng

(tổng hợp từ các nguồn [101], [102]).

Hiện tƣợng này ngày càng trở nên nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khách

quan và chủ quan, trong đó có nguyên nhân quan trọng là việc xử phạt còn quá nhẹ,

chƣa đủ mức răn đe. Nhiều FIEs biết vi phạm luật, song vẫn cố tình tái diễn nhiều

lần, chấp nhận nộp phạt để hoạt động. Bởi vì, việc đầu tƣ hệ thống thiết bị xử lí chất

thải cần nguồn vốn lớn, thậm chí lên đến nhiều tỷ đồng đối với DN sản xuất có quy

mô lớn, trong khi mức xử phạt hành chính chỉ là mấy chục triệu, cao nhất cũng chỉ

trên 100 triệu đồng. Mặt khác, hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng xảy ra

quanh năm còn việc xử phạt chỉ là hạn hữu, năm một vài lần để gọi là có xử lí.

Trƣờng hợp vi phạm tại Công ty Cổ phần công nghiệp Tung Kuang (tại Hải

Dƣơng). Cuối năm 2007, đơn vị này đã từng bị xử phạt hành chính hơn 100 triệu

đồng, cuối năm 2009, Phòng cảnh sát môi trƣờng thuộc Công an Hải Dƣơng xử phạt

7,5 triệu đồng. Mặc dù vậy, công ty này vẫn tiếp tục xả nƣớc thải chƣa qua xử lý ra

môi trƣờng thông qua hệ thống cống ngầm. Hành vi vi phạm luật có sự tính toán của

chủ ĐTNN. Bởi vì, nếu lắp đặt thiết bị xử lí ô nhiễm môi trƣờng, với khối lƣợng

nƣớc thải lớn, mỗi ngày DN tốn thêm khoản kinh phí gần 100 triệu đồng, DN này

mỗi ngày “tiết kiệm” đƣợc gần triệu đồng. Khoản thu lợi của DN vì thế là quá lớn so

với số tiền bị phạt. Hành vi sai phạm tại Tung Kuang mang tính cố ý và đây cũng là

hiện trạng chung tại các DN đang là “thủ phạm” gây ô nhiễm môi trƣờng.

+ Về tình hình đầu tư cho bảo vệ môi trường của các FIES: Mặc dù chƣa có số liệu điều tra thống kê để đánh giá toàn diện về chi phí hệ thống xử lý chất thải

trong các dự án FDI. Tuy nhiên, qua khảo sát qua các một số dự án FDI, có thể thấy

rằng các FIES đầu tƣ sản xuất trong lĩnh vực gia công cơ khí (sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy...), dệt nhuộm, sản xuất giấy... thƣờng có chi phí đầu tƣ cho công trình xử lý

chất thải lớn hơn so với lĩnh vực điện - điện tử, may mặc.

Vĩnh Phúc: Công ty Honda Việt Nam đầu tƣ 50 tỷ đồng xây dựng các công

102

trình xử lý, trong đó 40 tỷ đồng dành cho xây dựng và lắp đặt lò đốt chất thải nguy

hại và 10 tỷ đồng dành cho xây dựng hệ thống xử lý nƣớc thải. Chi phí để vận hành

trạm xử lý nƣớc thải, thu gom, xử lý rác thải, chất thải nguy hại, hoạt động quan trắc

định kỳ (chi phí hoạt động bảo vệ môi trƣờng hàng năm) là 40 tỷ đồng. Tƣơng tự:

Công ty ô tô Toyota Việt Nam đầu tƣ 20 tỷ đồng xây dựng hệ thống xử lý nƣớc thải,

chi phí hoạt động bảo vệ môi trƣờng hàng năm là 13 tỷ đồng; Công ty TNHH

Piaggio Việt Nam là 7,5 tỷ đồng và 3,3 tỷ đồng…[101].

+ Về ảnh hưởng tiêu cực của khu vực FDI đến phát triển bền vững đến môi

trường: Thông thƣờng ảnh hƣởng của các DN sản xuất nói chung và các FIEs nói

riêng đến ô nhiễm môi trƣờng bao gồm 2 mặt: 1) Ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất

kinh doanh có thể đƣợc xác định một cách gián tiếp thông qua mức giảm hiệu quả

sản xuất của đơn vị sản xuất khác và rất khó đánh giá; 2) Ảnh hưởng tới môi trường

sinh thái và sức khỏe, đời sống của cộng đồng đƣợc thể hiện ở việc môi trƣờng sống

bị xấu đi và làm cho sức khỏe của ngƣời dân bị giảm sút.

Các vụ vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng của FIES gây ô nhiễm môi trƣờng nhƣ: Nƣớc thải có chất độc hại của Công ty sản xuất phanh Nissan Việt Nam, KCN

Khai Quang và Công ty cổ phần Prime Yên Bình chảy vào khu đồng trũng có diện tích 55.752m2 thuộc xã Quất Lƣu, huyện Bình Xuyên, gây ô nhiễm môi trƣờng biến nơi đây thành cánh đồng hoang suốt từ năm 2005 đến năm 2009. Phƣơng án đền bù

thiệt hại cho ngƣời dân năm 2010 với tổng kinh phí đền bù lên tới 701,4 triệu đồng,

xử phạt hành chính 3 đơn vị này với số tiền là 38,5 triệu đồng. Nƣớc ở bãi chôn rác

Núi Bông do Công ty môi trƣờng và dịch vụ đô thị Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) quản lý

chảy vào hồ Đồng Vọ gây chết 2000kg cá phải bồi thƣờng 20 triệu đồng [102].

Nhiều vụ vi phạm luật bảo vệ môi trƣờng của các FIEs gây ra không chỉ làm

thiệt hại về kinh tế, mà còn có nguy cơ ảnh hƣởng nhiều đến sức khoẻ của ngƣời dân

trong vùng. Các loại bệnh thông thƣờng đến các bệnh nan y ngày càng tăng trong

khu dân cƣ sống gần các khu vực có khói bụi, khí thải, nƣớc thải. Nguồn nƣớc thải

chứa chất hữu cơ, các độc chất nhƣ dầu mỡ, kim loại nặng, các loại hoá chất trong

nƣớc sẽ tác động đến động thực vật thuỷ sinh và đi vào chuỗi thức ăn trong hệ sinh

tồn của các loài sinh vật, cuối cùng sẽ ảnh hƣởng tới sức khoẻ con ngƣời.

- Về trình độ công nghệ sử dụng trong các dự án FDI: đƣợc đánh giá thông

qua chỉ tiêu về mức độ trang bị vốn/lao động trong khu vực FDI trong giai đoạn

2003 -2010. Khu vực FDI trên địa bàn thành phố Hải Phòng có mức trang bị TSCĐ

và đầu tƣ dài hạn bình quân/lao động cao nhất với 281 triệu đồng/ngƣời và mức

103

trang bị TSCĐ và đầu tƣ dài hạn bình quân/DN là 80,77 tỷ đồng/DN. Thấp nhất là

các FIEs trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên, với các con số lần lƣợt là 204 triệu đồng/lao

động và 34,07 tỷ đồng/DN. Kết quả này cho thấy, khu vực FDI tại Hải Phòng và

Vĩnh Phúc có sử dụng trình độ công nghệ vào mức khá hơn so với các tỉnh còn lại.

Điều này cho thấy, các dự án FDI thƣờng tập trung vào những ngành có công nghệ

thấp, cần ít vốn, sử dụng nhiều lao động (xem phụ lục 27).

Ngoài ra, trình độ công nghệ đƣợc sử dụng trong các dự án FDI cũng rất khác

nhau trong những ngành, nghề khác nhau. Kết quả điều tra năm 2010 - 2011 của Sở

Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc về "Thực trạng công nghệ các dự án đầu tư

trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc" cho thấy, trong 6 lĩnh vực điều tra là sản xuất vật liệu xây

dựng; cơ khí; chế biến nông lâm sản, thực phẩm; dệt may, da giầy, giấy; điện, điện tử và

lĩnh vực khác của 43/120 FIEs hiện đang hoạt động trên địa bàn tỉnh, cho thấy mức độ

tiến tiến của công nghệ của lĩnh vực chế biến nông, lâm sản, thực phẩm thuộc công

nghệ lạc hậu; 5 lĩnh vực còn lại (cơ khí; sản xuất vật liệu xây dựng; điện, điện tử; dệt

may, da giầy, giấy; lĩnh vực khác), trình độ công nghệ đều chỉ đạt mức trung bình.

3.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP

NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ

TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

3.3.1. Những kết quả đạt đƣợc

3.3.1.1. Cơ chế chính sách và các biện pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài

- Việc thu hút FDI luôn đƣợc coi là trách nhiệm của tất cả các địa phƣơng, các

ngành, của từng tổ chức và cá nhân.

- Các tỉnh đã xây dựng thành quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết các kỳ Đại hội

của Đảng Bộ các tỉnh và đƣợc cụ thể hoá bằng cơ chế chính sách thu hút FDI hƣớng

vào CDCCKT ở các giai đoạn khác nhau trong chiến lƣợc phát triển KT-XH.

- Các địa phƣơng đã áp dụng triệt để các chính sách Nhà nƣớc hiện hành về

khuyến khích ƣu đãi đầu tƣ (trong đó có vốn FDI), đƣợc quy định chi tiết tại các quyết

định của các tỉnh về thuê đất, miễn giảm tiền thuê đất, mức thuế suất và thời gian thực

hiện thuế thu nhập DN, thuế nhập khẩu, VAT và hỗ trợ đào tạo lao động địa phƣơng.

- Chính quyền các tỉnh cũng đã tính toán đến vấn đề tác động từ hoạt động

FDI tới CDCCKT, đồng thời bằng những chính sách định hƣớng sao cho thực hiện

hoạt động FDI hƣớng vào CDCCKT nhƣng không ảnh hƣởng đến tính ổn định cuộc

sống của các tầng lớp dân cƣ.

104

- Nhiều địa phƣơng cũng đã tích cực trong công tác quy hoạch hạ tầng kỹ

thuật và hạ tầng xã hội. Mặt khác, đẩy nhanh công tác quy hoạch giải phóng mặt

bằng để hình thành các cụm KCN và khu công nghệ cao; Hỗ trợ các nhà FDI đẩy

nhanh tiến độ triển khai các dự án FDI, điều chỉnh quy hoạch phát triển KT-XH, đƣa

ra các mục tiêu thu hút vốn FDI hƣớng vào CDCCKT.

- Công tác xúc tiến thu hút FDI hƣớng vào CDCCKT đã tiến hành thông qua

nhiều hình thức ngày càng đa dạng nhƣ: quảng bá hình ảnh, xúc tiến tại chỗ tổ chức

các chƣơng trình hội thảo xúc tiến đầu tƣ và thu đƣợc những thành tựu nhất định.

3.3.1.2. Tác động của đầu tư trực tiếp nước trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư

phát triển, đáp ứng nhu cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Nguồn vốn FDI không chỉ

tạo ra nguồn đầu tƣ mà còn thúc đẩy các TPKT trong vùng đầu tƣ, mở rộng sản xuất,

làm gia tăng tổng vốn đầu tƣ. Nhờ nguồn vốn FDI, vùng đã chủ động hơn trong việc

bố trí cơ cấu đầu tƣ, khai thác tích cực, có hiệu quả hơn các nguồn lực để thúc đẩy

tăng trƣởng kinh tế. Điều này cho thấy, FDI là một trong những nhân tố đóng vai trò

quan trọng trong quá trình thực hiện thắng lợi các mục tiêu KT-XH VKTTĐBB.

- Cơ cấu FDI ở VKTTĐBB đã tác động mạnh mẽ đến quá trình CDCCKT của

toàn vùng theo hướng ngày càng hợp lý hơn:

+ Sự gia tăng về vốn FDI đã làm cho CCKT của nhiều tỉnh chuyển dịch rõ rệt

cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, ngƣợc lại CDCCKT của các tỉnh cũng đã tạo điều

kiện tốt để thu hút FDI, các dự án FDI tăng lên qua các năm; Một số DN sản xuất

các sản phẩm hỗ trợ, thực hiện các hoạt động phân phối sản phẩm hỗ trợ cũng đƣợc

hình thành và qua đó phát triển các ngành công nghệ và tạo ra các mối liên kết.

+ Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài góp phần CDCCKT theo thành phần bằng việc

nâng cao hiệu quả của TPKT có yếu tố nƣớc ngoài, tạo động lực và hỗ trợ cho các

TPKT khác phát triển, tạo ra một môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh giữa các TPKT;

tốc độ tăng trƣởng kinh tế của khu vực FDI nhanh hơn mặt bằng và duy trì ở mức cao.

+ Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài góp phần đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát

triển kinh tế đồng đều tại các địa phƣơng; nâng cao khả năng cạnh tranh đối với nền

kinh tế. Từ đó, tạo ra động lực cho CDCCKT theo cơ chế thị trƣờng.

+ FDI có tác động tích cực đến CDCCKT thông qua cân đối tài chính, thúc

đẩy chuyển dịch cơ cấu xuất - nhập khẩu do tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu.

+ Cơ cấu đầu tƣ FDI theo đối tác đầu tƣ cũng có những chuyển biến tích cực

với sự xuất hiện ngày càng nhiều nhà ĐTNN có tiềm lực cả về tài chính và công nghệ.

105

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng cao năng lực sản xuất, thúc đẩy

xuất khẩu:

+ Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đã thực sự trở thành yếu tố có vai trò tích cực

trong khai thác các thế mạnh trong ngành công nghiệp chế tạo, các dịch vụ tài chính -

ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục và lĩnh vực dịch vụ du lịch. Phát triển và hình

thành một số ngành công nghiệp mới nhƣ sản xuất điện tử, thiết bị viễn thông, ô tô, xe

máy, công nghiệp may mặc hƣớng về xuất khẩu; các sản phẩm công nghiệp chế tác…

+ Công nghiệp hỗ trợ có sự chuyển biến ở một số lĩnh vực nhƣ: Công nghiệp hỗ

trợ ngành điện - điện tử là lĩnh vực thu hút đƣợc nhiều FDI nhất trong các ngành công

nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam với 445 dự án FDI, số vốn đăng ký lên tới trên 10 tỷ USD,

chủ yếu là các dự án sản xuất linh kiện điện tử (311 dự án với số vốn đầu tƣ trên 8,2 tỷ

USD). Riêng lƣợng vốn FDI đầu tƣ vào ngành công nghiệp điện tử Việt Nam từ năm

2007 đến nay đạt khoảng 3 tỷ USD, lớn hơn tổng số vốn FDI vào toàn ngành công

nghiệp điện tử trong 13 năm (1993-2006). Số lƣợng DN công nghiệp hỗ trợ trong ngành

điện tử cũng không ngừng tăng lên, năm 2006 có 120 DN, đến năm 2013, lên tới 630 DN

[80]. Các DN công nghiệp hỗ trợ tập trung chủ yếu ở VKTTĐPN và VKTTĐBB, với các

địa phƣơng điển hình nhƣ: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc hay Bắc Ninh…

+ Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đã đóng góp một phần rất quan trọng vào việc

tăng kim ngạch xuất khẩu của vùng KTTĐBB nhờ khu vực này có lợi thế hơn so với

khu vực trong nƣớc về công nghệ và khả năng tiếp cận thị trƣờng thế giới. FDI còn

góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hƣớng giảm tỷ trọng sản

phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo.

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng cao trình độ công nghệ: Các

ngành kinh tế trong vùng đã tập trung một lƣợng không nhỏ các công nghệ khá tiên

tiến, hiện đại phục vụ cho nhu cầu SX-KD. Thông qua việc tiếp nhận các dự án FDI

ở các địa phƣơng, trình độ công nghệ của nhiều lĩnh vực đã đƣợc nâng lên rõ rệt.

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần tạo việc làm và thu nhập cho người

lao động: Ngoài lao động làm việc trong các FIEs, còn có hàng vạn lao động gián tiếp ở

các ngành hỗ trợ, cung cấp dịch vụ, nguyên vật liệu phục vụ cho các FIEs. Chính sách

tăng dần tỷ lệ nội địa hoá trong các FIEs đã hình thành các DN vệ tinh chuyên cung cấp

nguyên liệu và dịch vụ cho chính các FIEs. Điều này đã tăng nhu cầu tuyển dụng lao

động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, đem lại thu nhập cho ngƣời lao động ở vùng và các

FIEs còn tạo ra lực lƣợng lao động lành nghề cho VKTTĐBB.

Khu vực FDI trong vùng không chỉ tạo việc làm trực tiếp cho lao động Việt

106

Nam mà còn thu hút cả lao động nƣớc ngoài. FDI tác động đến các mặt của đời sống

xã hội, thu nhập, mức sống của nhân dân đƣợc nâng lên và cải thiện rõ rệt và tạo đà

cho CDCC lao động, góp phần thúc đẩy CDCCKT;

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp nguồn thu cho ngân sách các địa

phương: Các FIEs đi vào hoạt động đã góp phần thúc đẩy phát triển thị trƣờng trong

nƣớc và các hoạt động dịch vụ khác. Đặc biệt là các FIEs đã đóng góp nguồn thu

không nhỏ vào ngân sách các địa phƣơng VKTTĐBB.

- Các FIEs giúp người lao động trong VKTTĐBB tiếp thu kinh nghiệm quản

lí, điều hành: Trƣớc đây, việc điều hành và quản lý DN còn mang nặng tính bao cấp,

kế hoạch, sự gò bó, thiếu linh hoạt, nghệ thuật quản lý, điều hành DN ít đƣợc biết đến.

Từ khi các FIEs xuất hiện, ngƣời lao động qua thời gian tiếp xúc, học hỏi đã từng

bƣớc tích lũy kinh nghiệm, nắm bắt đƣợc nghệ thuật quản lý, điều hành của đối tác.

Bên cạnh đó, FDI còn mang đến một phƣơng thức đầu tƣ kinh doanh mới đã tác động

lan tỏa đến các TPKT khác. Góp phần tăng NSLĐ của các ngành thông qua ứng dụng

khoa học công nghệ tiên tiến và công nghệ nguồn. Cách thức quản lý hiện đại của một

số FIEs nhƣ công ty Honda, Toyota, Ford... có tác dụng rõ rệt trong việc chuyển tải

cách quản lý tiến bộ cho lao động Việt Nam.

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã mở rộng quy mô thị trường trong nước, thúc

đẩy sự hình thành và phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực dịch vụ cũng như sản phẩm

mới như: qua FDI không chỉ giới thiệu và đƣa các sản phẩm hàng hóa có xuất xứ từ

Việt Nam và VKTTĐBB vào thị trƣờng quốc tế mà còn góp phần tăng năng lực cạnh

tranh của sản phẩm, đẩy nhanh tốc độ mở cửa thƣơng mại, tăng khả năng ổn định cán

cân thƣơng mại. Góp phần cải thiện môi trƣờng đầu tƣ trong vùng, rút ngắn khoảng

cách với các các nƣớc trong khu vực, làm nền tảng cho tạo ra môi trƣờng cạnh tranh

bình đẳng qua đó nâng cao hiệu quả phát triển KT-XH và CDCCKT.

- Nhiều FIEs ở VKTTĐBB đã quan tâm nhiều hơn đến công tác bảo vệ môi

trường như: thực hiện khá đầy đủ việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trƣờng;

đăng ký bản cam kết và đã có ý thức hơn trong việc tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi

trƣờng, đã chủ động đầu tƣ kinh phí cho công tác bảo vệ môi trƣờng, nhằm làm hạn

chế ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng.

3.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

3.3.2.1. Những hạn chế

- Hiệu quả trong định hướng còn thấp và sự mất cân đối trong thu hút FDI làm

cho quá trình CDCCKT các địa phương không đúng hướng, giảm lợi thế của vùng.

107

+ Những lĩnh vực, ngành, nghề, dự án mặc dù rất cần thiết nhƣ các dự án đầu

tƣ vào cơ sở hạ tầng, các dự án trong lĩnh vực nông nghiệp và các dự án dịch vụ du

lịch sinh thái nhƣng có tỷ xuất lợi nhuận thấp... dƣờng nhƣ chƣa đƣợc các nhà đầu tƣ

quan tâm. Chính điều này đã làm cho thu hút FDI nhằm CDCCKT chƣa hiệu quả.

+ Các nhà ĐTNN trong khi lựa chọn địa điểm để tiến hành triển khai dự án FDI

thƣờng tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng KT-XH thuận lợi. Tình trạng này đã

dẫn đến một nghịch lý là những địa bàn có trình độ phát triển thì thu hút đƣợc nhiều dự

án FDI, thậm chí có biểu hiện “bội thực” về vốn, thu hút mạnh FDI quá cao (phát triển

nóng). Trong khi đó, những vùng, những nơi có trình độ kém phát triển các địa bàn

CCKT còn lạc hậu, vùng sâu, vùng xa... có rất ít dự án FDI, tốc độ CDCCKT chậm và

tăng trƣởng kinh tế thấp. Bộc lộ dấu hiệu phát triển không bền vững và tạo khoảng cách

quá lớn giữa các ngành kinh tế, giữa các vùng và giữa các tầng lớp dân cƣ.

+ Quy hoạch ngành và một số sản phẩm quan trọng của nhiều tỉnh làm chậm

và chƣa đƣợc chú trọng đúng mức để thu hút FDI. Một số dự báo thiếu chuẩn xác,

chƣa lƣờng hết diễn biến phức tạp của thị trƣờng nội địa và quốc tế… Việc cấp phép

FDI vào một số lĩnh vực và sản phẩm của một số ngành vƣợt quá nhu cầu của thị

trƣờng nhƣ các dự án về khai thác khoảng sản, dự án sản xuất bia, nƣớc giải khát có

ga, chất tẩy rửa, gỗ giấy, sắt thép…Hay việc chạy theo số lƣợng, thiên về những dự

án FDI sản xuất sản phẩm thay thế nhập khẩu; tuy có bổ sung hàng hoá cho thị

trƣờng, tiết kiệm ngoại tệ nhập khẩu, nhƣng tình trạng này kéo dài dẫn đến một số

sản phẩm chèn ép sản phẩm đƣợc sản xuất trong nƣớc.

+ Định hƣớng đối với dự án liên quan đến một số sản phẩm quan trọng hoặc

lĩnh vực nhạy cảm chƣa rõ ràng, xảy ra tình trạng chính quyền các tỉnh phải chờ xin

ý kiến của trung ƣơng mất nhiều thời gian, dẫn đến việc xử lý chủ trƣơng đối với dự

án không nhất quán, có lúc cho phép nhà ĐTNN nhƣng có lúc lại để nhà đầu tƣ

trong nƣớc tự làm.

+ Một số KCN, khu chế xuất đƣợc quy hoạch nhƣng vẫn còn hiện tƣợng “quy

hoạch treo”, hoặc do thiếu kết cấu hạ tầng nên chƣa đủ sức hấp dẫn đối với các nhà

ĐTNN. Quy hoạch tổng thể đối với nhiều KCN đã đƣợc phê duyệt nhƣng thiếu quy

hoạch chi tiết, dẫn đến bị động , giá phí sử dụng cơ sở hạ tầng trong các KCN đã

triệt tiêu lợi thế về giá thuê đất rẻ trong các khu vực này đối với các nhà ĐTNN.

+ Kinh tế có vốn ĐTNN chƣa thực sự phát huy thế mạnh tạo ra sự ảnh hƣởng tích cực tới các TPKT khác, năng lực cạnh tranh của các FIES chƣa thực sự cao. Chƣa có giải pháp đủ mạnh để thu hút FDI hƣớng vào các ngành mới trong lĩnh vực công

108

nghiệp chế tạo, công nghiệp mũi nhọn và các ngành dịch vụ... mà mới dừng lại ở các

ngành lắp ráp, gia công cho nƣớc ngoài và các ngành truyền thống vốn có của các tỉnh.

- Tính liên kết và sự phối hợp, điều phối còn kém hiệu quả về thu hút vốn FDI

trong CDCCKT trên phạm vi toàn vùng.

+ Công tác điều phối của các bộ, ngành và các địa phƣơng trong VKTTĐBB

chƣa đƣợc quan tâm một cách đúng mức nên dẫn đến kết quả hoạt động điều phối

còn nhiều hạn chế, thiếu chủ động, chƣa phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ của công

tác điều phối; sự phân công, hợp tác liên kết giữa các địa phƣơng trong vùng chƣa

hợp lý, vẫn để tình trạng đầu tƣ trùng lắp, chồng chéo.

+ Sự liên kết, phối hợp giữa giữa các địa phƣơng trong VKTTĐBB trong

quản lý hoạt động FDI còn nhiều bất cập, chƣa đƣợc qui định chức năng, nhiệm vụ

rõ ràng. Các tỉnh, thành phố trong toàn vùng mới chỉ có mối quan hệ liên kết về mặt

hành chính, chủ yếu kết nối với nhau về kết cấu hạ tầng. Tình trạng phát triển KT-

XH mang tính cục bộ địa phƣơng, mang nặng tính tự phát, không theo quy hoạch và

định hƣớng chung của vùng là khá phổ biến. Ngoài ra, cơ chế chính sách đặc thù cho

toàn vùng đến nay vẫn chƣa đƣợc xây dựng, làm cho vùng chƣa thể tận dụng và phát

huy hết những lợi thế riêng có của mình để thực hiện sứ mệnh to lớn của vùng là tạo

tác động lan tỏa và lôi kéo các vùng kinh tế khác cùng phát triển.

- Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ từ hoạt động FDI có thể biến

nhiều địa phương thành bãi thải công nghiệp, gây ô nhiễm môi trường.

Một số trƣờng hợp các nhà ĐTNN đã lợi dụng sơ hở của Luật pháp Việt Nam,

quy định của các địa phƣơng, cũng nhƣ sự yếu kém trong kiểm tra giám sát nên đã nhập

những máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu, thậm chí là công nghệ phế thải. Tính phổ

biến của việc nhập máy móc thiết bị là giá cả đƣợc ghi trong hoá đơn thƣờng cao hơn

giá thực tế tạo cơ hội để thực hiện “chuyển giá”, trốn thuế ở các FIEs ở vùng gây thất

thu ngân sách nhà nƣớc, gây khó khăn cho công tác quản lý thuế ở các FIEs.

Việc chuyển giao công nghệ từ nƣớc ngoài đƣợc thực hiện thông qua các hợp

đồng và đƣợc cơ quan quản lý nhà nƣớc về khoa học công nghệ chuẩn y. Tuy nhiên,

khó đánh giá chính xác giá trị thực của từng loại công nghệ trong những ngành khác

nhau, đặc biệt là những ngành công nghệ cao. Khi thực hiện hoạt động FDI ở vùng

gắn với chuyển giao công nghệ thì phải thông qua thƣơng lƣợng theo hình thức mặc

cả đến khi hai bên có thể chấp nhận đƣợc, thì ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Chính sự chuyển giao khoa học công nghệ yếu kém, lạc hậu từ các chủ ĐTNN đã dẫn

đến quá trình thu hút FDI nhằm CDCCKT không bền vững, hiệu quả không cao.

109

Chƣa có nhiều dự án FDI từ các nƣớc có công nghệ tiên tiến và công nghệ

nguồn, nhƣ các nƣớc Tây Âu, Hoa Kỳ, các nƣớc thuộc khu vực EU,… Đồng thời

cũng chƣa khuyến khích đƣợc nhiều MNCs đầu tƣ các dự án FDI vào vùng, trong

khi đây là những công ty có tiềm lực mạnh về tài chính và là trung tâm của chuyển

giao công nghệ hiện đại, có lợi thế để tham gia vào chuỗi liên kết có tính toàn cầu.

- Nhiều vấn đề KT-XH nảy sinh và tranh chấp lao động trong khu vực FIE chưa

được giải quyết kịp thời làm cho thu hút FDI hướng vào CDCCKT đạt hiệu quả thấp.

Nhìn chung ngƣời chủ DN trong các dự án FDI thƣờng trả công cho ngƣời lao

động thấp hơn cái mà họ đáng đƣợc hƣởng, không thoả đáng với nhu cầu của ngƣời

lao động, dẫn đến mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và ngƣời lao động và tình

trạng đình công, bãi công làm thiệt hại cho FIEs. Rất nhiều vấn đề liên quan đến

việc đối xử không công bằng của chủ các FIEs với ngƣời lao động, đa số các FIEs

đều bắt ngƣời lao động phải làm tăng ca vƣợt quá quy định của Luật Lao động,

nhiều FIEs không có hợp đồng lao động theo đúng nguyên tắc sử dụng lao động,

không có tổ chức công đoàn để bảo vệ ngƣời lao động.

Vùng KTTĐBB đã thu hút đƣợc các dự án FDI từ nhiều nƣớc và các vùng

lãnh thổ trên thế giới với tính đa dạng của nền văn hoá trong quan hệ giữa ngƣời sử

dụng lao động và ngƣời lao động trong các FIEs. Tuy nhiên, do ngƣời lao động ở

các FIEs hầu hết có trình độ chƣa cao, nhất là yếu về kỹ năng và yêu cầu của DN.

Nên nhận thức và hành động bị hạn chế, Nhà ĐTNN vì mục tiêu lợi nhuận nên đã

dẫn đến tranh chấp trong sử dụng và cung cấp sức lao động.

- Chất lượng một số dự án FDI trong các ngành kinh tế còn thấp, quy mô vốn

nhỏ, nhiều dự án không có khả năng triển khai và phải thu hồi giấy phép kinh doanh.

Nhiều dự án FDI ở VKTTĐBB diễn ra tình trạng thua lỗ kéo dài, không mở

rộng quy mô, chƣa tạo ra VA cao cho ngành kinh tế, chƣa tạo ra hiệu ứng lan tỏa

trong đầu tƣ để thúc đẩy quá trình CDCCKT. Các dự án FDI bị giải thể trƣớc thời hạn

chiếm tỷ lệ khá cao. Việc đánh giá định kỳ tính hiệu quả của các dự án FDI để có giải

pháp khắc phục kịp thời còn yếu, làm mờ nhạt vai trò tác động của FDI tới CDCCKT.

- Công tác bảo vệ môi trường trong các FIEs ở VKTTĐBB còn chưa được các

chủ đầu tư quan tâm một cách thỏa đáng.

Phần lớn các DN SX-KD trong lĩnh vực công nghiệp, có lƣợng chất thải lớn,

khó xử lý và có nhiều chất độc hại, nhƣng lại chƣa có thiết bị xử lý hoặc có nhƣng

chƣa đảm bảo các tiêu chuẩn về xử lý chất thải bảo vệ môi trƣờng, mang tính chất

đối phó, không đƣa vào hoạt động. Hiện tƣợng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng

110

là khá phổ biến đã làm phát sinh vấn đề ô nhiễm môi trƣờng khá nghiêm trọng, ảnh

hƣởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất và sức khỏe của cộng đồng dân cƣ. Một số

nhà ĐTNN tỏ ra xem thƣờng sức khỏe con ngƣời và môi trƣờng sống, gây hậu quả

nghiêm trọng đến môi trƣờng sống của ngƣời dân, bất chấp sự kiểm tra, cảnh báo,

xử phạt của các cấp chính quyền ở VKTTĐBB.

- Các ngành công nghiệp hỗ trợ ở VKTTĐBB còn chưa đáp ứng được yêu cầu

của khu vực FDI và CDCCKT.

Công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò rất quan trọng, đƣợc xem nhƣ là động lực thúc

đẩy ngành công nghiệp trong nƣớc phát triển và thu hút ĐTNN. Theo kết quả khảo sát

đƣợc công bố tháng 12/2012 của Tổ chức Xúc tiến thƣơng mại Nhật Bản (JETRO) về

khả năng đáp ứng nhu cầu đầu tƣ về nguyên liệu và linh kiện phục vụ cho các lĩnh vực

công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam chỉ đạt mức 28,7% (Trung Quốc đạt 59,7%, Thái Lan

là 53,0%) và VKTTĐBB không phải ngoại lệ. Các DN Nhật đánh giá các DN Việt nam

quá quen với môi trƣờng đƣợc bao cấp, không quen với môi trƣờng cạnh tranh khắc nghiệt. Khi các FIES tiếp cận với nhà sản xuất phía Việt Nam và đƣa ra mẫu sản phẩm không cùng mẫu sản xuất có sẵn để sản xuất thử thì thƣờng nản chí vì ngại mất thời

gian, không thực hiện... Vì thế, hầu hết các nguyên liệu và linh kiện công nghiệp đều

phải nhập khẩu. Điều này dẫn đến sản xuất công nghiệp phụ trợ khó phát triển.

Mặc dù trong thời gian qua, đã có nhiều ƣu đãi nhằm nội địa hóa ngành công

nghiệp sản xuất ôtô hay nguyên phụ liệu ngành dệt may nguồn trong nƣớc chỉ đáp

ứng đƣợc một phần rất nhỏ còn lại là nhập khẩu từ nƣớc ngoài, hay cơ cấu đầu tƣ

trong ngành điện tử - tin học hiện chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất hàng điện tử gia

dụng, sản xuất linh phụ kiện và điện tử chuyên dụng tỷ lệ rất thấp do trình độ công nghệ còn lạc hậu. Các FIES có "tên tuổi" đều phải nhập khẩu trên 90% linh kiện của nƣớc ngoài, thậm chí có DN nhập khẩu cả 100% nhƣ Công ty Fujitsu Việt Nam.

Khu tổ hợp Samsung Complex Bắc Ninh của Công ty TNHH Samsung Electronics

Việt Nam (SEV) có doanh thu hằng năm vài chục tỷ USD nhƣng tỉ lệ nội địa hóa

cao nhất chỉ đạt 30% (xem phụ lục 28).

3.3.2.2. Nguyên nhân

- Hệ thống luật pháp và các chính sách liên quan đến thu hút vốn FDI còn

chồng chéo, thiếu tính đồng bộ và nhất quán.

+ Mặc dù, hệ thống pháp luật về ĐTNN đƣợc liên tục sửa đổi và có tiến bộ rõ

rệt, song trên thực tế vẫn còn vƣớng mắc, gây khó khăn cho các DN trong việc dự toán

và lên phƣơng án kinh doanh; tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng ở các cấp.

111

+ Các văn bản hƣớng dẫn của các Bộ, ngành, địa phƣơng nhiều khi thiếu tính

minh bạch, rõ ràng, thậm chí chồng chéo, không thống nhất với nhau, khiến cho các

FIEs lúng túng, không biết phải tuân thủ theo văn bản nào, qui định nào.

+ Rất ít những chính sách đặc thù có tính đột phá nên chƣa khuyến khích các

địa phƣơng, DN phát huy tiềm năng, lợi thế của mình nhƣ: chính sách nội địa hóa và

phát triển mối liên kết giữa các DN, ƣu đãi xuất khẩu, khuyến khích đầu tƣ vào nông

nghiệp, tiền lƣơng, thu hút và chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trƣờng...

- Công tác qui hoạch của VKTTĐBB còn nhiều hạn chế, chưa xây dựng được

chiến lược thu hút FDI theo hướng thúc đẩy CDCCKT:

+ Nội dung quy hoạch chƣa dự báo và giải quyết đƣợc mối quan hệ giữa phát

triển kinh tế với an ninh xã hội và môi trƣờng, cũng nhƣ vấn đề phân bổ các nguồn

lực, phân công hiệu quả lao động xã hội giữa các địa phƣơng của cả vùng.

+ Quy hoạch vùng KTTĐBB vẫn theo quan điểm địa hành chính và mở rộng

theo chiều rộng. Quy hoạch tổng thể và quy hoạch ngành đƣợc xây dựng độc lập với

nhau và vẫn theo quan điểm “cát cứ riêng” của từng địa phƣơng trong vùng.

+ Chƣa có qui hoạch riêng cho FDI theo từng vùng, ngành, lĩnh vực và sản

phẩm; chƣa xây dựng đƣợc cho vùng chiến lƣợc thu hút FDI theo những giai đoạn

cụ thể,... Hoặc qui hoạch đi sau thực tiễn đầu tƣ nên khi FDI vào một lĩnh vực nào

đó không đúng qui hoạch đã gây nên những quan ngại về hiệu quả KT-XH.

+ Còn thiếu tính đồng bộ; thiếu sự phối kết hợp giữa các tỉnh trong vùng,

chƣa thực sự gắn kết hiệu quả kinh tế giữa trung ƣơng với địa phƣơng, thiếu sự phân

công cụ thể theo chức năng và lợi thế so sánh của từng địa phƣơng.

- Công tác quản lý Nhà nước về FDI còn bất cập:

+ Việc phân cấp quản lý FDI thực hiện trong bối cảnh hệ thống luật pháp còn

chồng chéo, thiếu đồng bộ; nội dung phân cấp chƣa phù hợp với đặc thù của từng

địa phƣơng, vùng lãnh thổ. Chƣa làm tốt cơ chế hƣớng dẫn, kiểm tra, giám sát, cùng

với việc chƣa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi

cấp; chƣa có chế tài xử lý nghiêm những vi phạm liên quan đến phân cấp.

+ Nhiều địa phƣơng đã đƣa ra quy chế riêng, ƣu đãi riêng, phá vỡ thế cân

bằng, tạo cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phƣơng… Kết quả là việc phân

cấp đầu tƣ mang tính “đại trà, dàn đều”, mà chƣa tính đến đặc thù của từng địa

phƣơng về năng lực quản lý, trình độ cán bộ, quy mô kinh tế địa phƣơng...

+ Ban hành và thực hiện các qui định về ƣu đãi đầu tƣ trái pháp luật làm ảnh

hƣởng đến lợi ích chung. Chƣa tập trung và xử lý đƣợc các vụ việc lớn xảy ra trong

112

hoạt động FDI, nhất là các vụ việc vƣợt quá thẩm quyền của địa phƣơng liên quan

đến chức năng của nhiều Bộ, ngành ở Trung ƣơng [102].

+ Công tác thẩm tra và cấp giấy chứng nhận đầu tƣ chƣa đáp ứng đƣợc yêu

cầu xác định hiệu quả KT-XH của các dự án, đảm bảo lợi ích quốc gia nhƣ: cấp

phép không phù hợp với quy hoạch, chính sách ƣu đãi đối không phù hợp với pháp

luật, thẩm định công nghệ trong dự án FDI chƣa đƣợc quan tâm đúng mức…

+ Quản lý sau cấp phép cũng chƣa chặt chẽ và không tiến hành thƣờng xuyên.

Nhiều dự án chậm hoặc chƣa triển khai, nhƣng không kịp thời làm rõ nguyên nhân để

có các phƣơng án hỗ trợ, khắc phục dẫn tới tình trạng lãng phí thời gian, tài sản, đất đai.

- Công tác điều phối và sự liên kết, phối hợp giữa các Bộ, ngành; giữa trung

ương với các địa phương trong vùng về quản lý hoạt động FDI còn nhiều bất cập.

+ Các tỉnh, thành phố trong vùng mới chỉ có mối quan hệ liên kết về mặt hành

chính, chủ yếu kết nối với nhau về kết cấu hạ tầng.

+ Công tác điều phối của các Bộ, ngành và các địa phƣơng trong VKTTĐBB

chƣa đƣợc quan tâm một cách đúng mức nên dẫn đến kết quả hoạt động điều phối

còn nhiều hạn chế, thiếu chủ động, chƣa phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ của công

tác điều phối; sự phân công, hợp tác liên kết giữa các địa phƣơng trong vùng chƣa

hợp lý, vẫn để tình trạng đầu tƣ trùng lắp, chồng chéo.

+ Cơ chế chính sách đặc thù cho vùng đến nay vẫn chƣa đƣợc thể hiện rõ,

chƣa thể tận dụng và phát huy hết những lợi thế riêng để thực hiện sứ mệnh to lớn

của vùng là tạo tác động lan tỏa và lôi kéo các vùng kinh tế khác cùng phát triển.

+ Năng lực phản ứng chính sách ở các cấp còn yếu, nảy sinh trong thực tiễn

hoạt động FDI nhƣ hành vi chuyển giá, hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi

trƣờng, hành vi gian lận thƣơng mại,... dẫn đến hiệu quả FDI đạt đƣợc chƣa cao.

- Công tác xúc tiến thu hút vốn FDI và quảng bá chưa thực sự coi trọng: Các

tiềm năng, cơ chế chính sách ƣu đãi khuyến khích đầu tƣ thƣờng mới chỉ thực hiện trên

các phƣơng tiện truyền thông, chƣa tổ chức đƣợc các cuộc xúc tiến đầu tƣ lớn từ bên

ngoài và quảng bá môi trƣờng đầu tƣ có bài bản. Nguyên nhân quan trọng nhất là hoạt

động xúc tiến đầu tƣ chƣa đƣợc chuyên nghiệp, chƣa năng động và cũng chƣa linh hoạt

và chƣa mang tính quốc tế vì vậy làm hạn chế thu hút đƣợc các nguồn vốn ĐTNN...

- Chất lượng nguồn nhân lực của VKTTĐBB còn hạn chế; cơ cấu lao động

theo ngành còn nhiều bất hợp lý [2].

Các kỹ năng mềm cần có ở ngƣời lao động trong thời đại ngày nay nhƣ khả

năng giao tiếp, khả năng làm việc nhóm, khả năng tự học, khả năng lắng nghe, thái độ

113

cầu tiến, khả năng tổ chức và sắp xếp công việc,... dƣờng nhƣ ngƣời lao động không

đƣợc trang bị thông qua nội dung chƣơng trình đào tạo và bản thân ngƣời lao động

không có sức ép để tự trang bị những kỹ năng cần thiết đó. Điều này đã tạo nên tính

trì trệ, thiếu sáng tạo, thiếu tự chủ, thiếu tinh thần trách nhiệm ở ngƣời lao động. Hiện

đang là rào cản lớn làm nản lòng các nhà ĐTNN.

Do chịu ảnh hƣởng của nền sản xuất nông nghiệp truyền thống, năng lực cung

ứng lao động qua đào tạo nghề của mạng lƣới đào tạo nghề trong vùng còn yếu,

chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu. Công tác đào tạo nghề trong vùng hiện vẫn chƣa gắn

với thực tế sử dụng, nhiều lao động sau khi tốt nghiệp đến làm việc tại DN đều phải

đào tạo lại. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo còn thiếu và lạc hậu;

chƣơng trình, nội dung đào tạo chƣa theo kịp yêu cầu....

- Kết cấu hạ tầng kỹ thuật của VKTTĐBB còn nhiều hạn chế, yếu kém so với

yêu cầu đã ảnh hưởng tới khả năng thu hút vốn FDI và CDCCKT. Việc phát triển

đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống giao thông đƣờng bộ, sắt, biển, sông và đƣờng

hàng không; đặc biệt là xây dựng cảng nƣớc sâu, mạng lƣới đƣờng cao tốc; hệ thống

giao thông nội thị, hệ thống cấp, thoát nƣớc cho các thành phố tuy có triển khai

nhƣng chậm và chƣa đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành kinh tế có tiềm năng, lợi

thế nhƣ dịch vụ cảng biển, vận chuyển kho bãi, du lịch, công nghiệp đóng tàu và sửa

chữa tàu biển, phát triển các KCN, khu công nghệ cao, phát triển các đô thị hạt nhân.

- Các ngành công nghiệp hỗ trợ ở VKTTĐBB còn chưa đáp ứng được yêu cầu

của khu vực FDI và CDCCKT.

Sự kém phát triển của ngành công nghệp hỗ trợ là do các nguyên nhân sau đây:

+ Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành công

nghiệp hỗ trợ đƣợc coi là lời tuyên bố ủng hộ chính thức đầu tiên của Chính phủ

Việt Nam đối với sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên từ đó đến

nay, chƣa có sự cụ thể hóa sự hỗ trợ đó đối với các DN sản xuất công nghiệp hỗ trợ.

+ Nhiều DN ngành công nghiệp hỗ trợ hiện vẫn gặp rất nhiều khó khăn và

vẫn đang trong tình trạng loay hoay tìm hƣớng phát triển và vốn. Có khoảng 30%

DNN&V vay đƣợc vốn từ ngân hàng, 90% là không tiếp cận vốn vay ƣu đãi; 42%

DN không thể vay đƣợc vốn; 71% DN vay vốn với lãi suất cao trên 17% [143].

+ Các điều kiện về sản xuất hỗ trợ, gia công cho các ngành công nghiệp của

các DN công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn nhiều hạn chế…(xem phụ lục 28).

114

Chƣơng 4

ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP

NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG

KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

4.1. ĐỊNH HƢỚNG THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

4.1.1. Cơ sở hình thành định hƣớng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc

ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

4.1.1.1. Dự báo tình hình ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Những thuận lợi và khó khăn từ bối cảnh quốc tế:

+ Về thuận lợi:

Thứ nhất, kinh tế thế giới về cơ bản đã thoát ra khỏi giai đoạn khủng hoảng và

suy thoái. Dòng vốn FDI toàn cầu đƣợc đánh giá là đã vƣợt qua đáy của sự suy giảm và

đang từng bƣớc lấy lại đà tăng trƣởng. Các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam

tiếp tục là điểm đến của các nhà ĐTNN. Việt Nam vẫn đƣợc đánh giá là ổn định chính

trị xã hội, với nhiều chính sách khuyến khích hấp dẫn về đầu tƣ.

Thứ hai, sự kém hấp dẫn do công suất của nền kinh tế đã vƣợt quá nhu cầu

bởi hậu quả của việc đầu tƣ “nóng” và chi phí lao động ngày càng tăng ở Trung

Quốc đã khiến cho luồng vốn FDI, nhất là các nƣớc đầu tƣ lớn nhƣ Nhật Bản, Hàn

Quốc, Mỹ, Tây Âu… có xu hƣớng chuyển hƣớng sang các nƣớc có tình hình đầu tƣ

ổn định và có khả năng nhƣ Việt Nam. Đây chính là điều kiện thuận lợi để

VKTTĐBB đón nhận dòng vốn FDI của thế giới (xem phụ lục 29).

Thứ ba, các lĩnh vực đầu tƣ trên thế giới đang có sự thay đổi sâu sắc và hƣớng

mạnh vào phát triển các ngành dịch vụ và công nghệ cao. Việt Nam tuy còn nhiều

bất cập cả trong chính sách điều hành lẫn thực thi, nhƣng đang đƣợc các tập đoàn

công nghệ cao quan tâm nhƣ tập đoàn Intel, Foxconn, Samsung... Đây sẽ là cơ hội

rất lớn cho vùng trong việc thu hút đầu tƣ vào lĩnh vực này do vùng đƣợc đánh giá là

có lợi thế về chất lƣợng nguồn lao động hơn so với các VKTTĐ khác.

Thứ năm, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP) với 12 thành viên

sẽ chính thức trở thành khu vực kinh tế có quy mô lớn nhất toàn cầu, với hơn 790

triệu dân, đóng góp 40% GDP và chiếm 1/3 giá trị thƣơng mại thế giới. Sự hình thành

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015 sẽ trở thành một thị trƣờng

115

chung gồm khoảng 600 triệu ngƣời tiêu dùng với tổng GDP gần 3.000 tỷ USD, một

không gian sản xuất thống nhất, giúp phát huy lợi thế chung của khu vực ASEAN.

Việt Nam và VKTTĐBB sẽ có cơ hội tăng cƣờng thu hút vốn FDI cũng nhƣ

mở rộng cơ hội cơ hội kinh doanh; tiếp cận về khoa học-công nghệ, kinh nghiệm

quản lý tiên tiến, góp phần nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và CDCCKT…

+ Về khó khăn, thách thức:

Thứ nhất, toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình

thức biểu hiện với nhữmg tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan

xen rất phức tạp. Các TNCs, MNCs có vai trò ngày càng lớn, quá trình quốc tế hóa

sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng.

Thứ hai, việc tham gia vào mạng lƣới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở

thành yêu cầu đối với các nền kinh tế. Sự phụ thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh

và hợp tác giữa các nƣớc càng trở thành phổ biến. Nền kinh tế tri thức đang trở

thành xu thế phát triển mới, con ngƣời và tri thức trở thành nhân tố quyết định sự

phát triển của mỗi quốc gia. Trong khi đó, chất lƣợng nguồn lao động, năng lực

khoa học - công nghệ… ở VKTTĐBB hiện còn bộc lộ nhiều bất cập.

Thứ ba, quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính

toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bƣớc tiến mới về khoa học, công nghệ và sử

dụng tiết kiệm năng lƣợng, tài nguyên. Mặt khác, khủng hoảng còn để lại hậu quả

nặng nề, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thƣơng mại quốc tế.

Thứ tư, nền kinh tế thế giới tuy đã có dấu hiệu vƣợt qua khủng hoảng kinh tế

nhƣng sự phục hồi còn diễn ra chậm và vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, thách thức. Do

đó, vẫn còn có nhiều khó khăn, trở ngại đối với các nhà đầu tƣ lớn, TNCs, MNCs

trong việc triển khai các hoạt động đầu tƣ ra nƣớc ngoài. Khả năng đầu tƣ ra nƣớc

ngoài của các TNCs, MNCs (chiếm tỷ trọng lớn về FDI) bị ảnh hƣởng đáng kể do tác

động của suy thoái kinh tế dẫn tới các chính sách thắt chặt tín dụng tại nƣớc đầu tƣ,

giảm kỳ vọng thị trƣờng, giảm giá trị tài sản do thị trƣờng chứng khoán đi xuống và

giảm lợi nhuận của các tập đoàn. Thêm vào đó, các MNCs còn phải đối mặt với

những thay đổi khó lƣờng trong chính sách của các nền kinh tế để ứng phó với khủng

hoảng. Trung Quốc đã và đang cải thiện mạnh mẽ môi trƣờng đầu tƣ nhằm cạnh tranh

thu hút ĐTNN từ các nƣớc khác, coi đó là giải pháp chiến lƣợc phục hồi và phát triển

kinh tế. Điều này tạo nên thách thức lớn đối với Việt Nam và VKTTĐBB.

Thứ năm, Việc Việt Nam tham gia TPP và AEC tới đây với môi trƣờng cạnh

tranh gay gắt hơn do hội nhập KTQT và khu vực mang lại, đặc biệt khi các quốc gia

116

thành viên có đặc điểm sản xuất khá giống nhau, có những thế mạnh chung trong

nhiều lĩnh vực. Bởi các ngành thu hút đƣợc nhiều FDI và có kim ngạch xuất khẩu

lớn của Việt Nam và VKTTĐBB trong thời gian qua cũng chính là các ngành ƣu

tiên phát triển của nhiều nƣớc ASEAN.

- Thuận lợi và khó khăn, thách thức từ bối cảnh trong nước:

+ Về thuận lợi:

Thứ nhất, tình hình chính trị KT-XH ổn định, vị thế quốc tế của Việt Nam

đang đƣợc nâng cao cùng với sự gia nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế khu

vực và thế giới đã và đang tiếp tục củng cố lòng tin và làm gia tăng mối quan tâm

của các nhà ĐTNN đối với nƣớc ta trong thời gian tới (xem phụ lục 29).

Thứ hai, khu vực FIE luôn đƣợc coi là bộ phận hữu cơ của nền KTQD và luôn

đƣợc khẳng định trong các văn kiện gần đây của Đảng: “Tăng cường thu hút vốn

ĐTNN, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5

năm. Mở rộng lĩnh vực địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những thị

trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới” [62]. “Thu hút

mạnh FDI vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với quy hoạch và chiến lược

phát triển của đất nước, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao” [63, tr.209].

Thứ ba, Chính phủ Việt Nam ngày càng tỏ rõ thiện chí và quyết tâm cải thiện

môi trƣờng đầu tƣ, cố gắng hoàn thiện hệ thống luật pháp, mở rộng việc nối kết thị

trƣờng thƣơng mại, tài chính, đầu tƣ; cải cách nền hành chính quốc gia. Các chỉ số

kinh tế vĩ mô đƣợc điều tiết có hiệu quả và ổn định.

Thứ ba, những tác động tích cực, tiêu cực của FDI đối với vấn đề KT-XH và

bảo vệ môi trƣờng đã đƣợc nhìn nhận một cách đầy đủ và khách quan hơn. Đây

chính là cơ sở để Việt Nam cũng nhƣ VKTTĐBB làm căn cứ trong việc xây dựng

chiến lƣợc thu hút và quản lý hoạt động FDI.

Thứ tư, VKTTĐBB tiếp tục tập trung phát triển nhanh một số khu kinh tế,

KCN quan trọng, liên kết với các đô thị lớn tạo thành một dải vùng động lực, các

khu vực trọng điểm mang tính đột phá nhƣ: khu kinh tế Vân Đồn, Móng Cái (Quảng

Ninh), Đình Vũ – Cát Hải (Hải Phòng)…; Phát tiển không gian với 2 tiểu vùng Thủ

đô Hà Nội và duyên hải; Hệ thống giao thông với 6 hành lang vận tải chính gồm:

Bắc - Nam; Hà Nội - Hải Phòng; Hà Nội - Quảng Ninh; Hà Nội - Lào Cai…; Hệ

thống đô thị với 2 trung tâm Hà Nội, Hải Phòng, các đô thị hạt nhân và hệ thống đô

thị vệ tinh…là điều kiện cần thiết và quan trọng để tạo đà thu hút ngày càng nhiều

các dự án FDI vào VKTTĐBB.

117

+ Về khó khăn, thách thức:

Thứ nhất, Cụ thể hóa hệ thống pháp luật chậm và quản lý nhà nƣớc trên một

số lĩnh vực còn bất cập, chƣa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển (Luật DN và Luật Đầu

tƣ có hiệu lực từ 01/7/2015 đánh dấu những đổi mới rất trọng yếu liên quan đến DN

và hoạt động FDI. Nhƣng đến thời điểm có hiệu lực, việc xây dựng, trình các Nghị

định quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành hai Luật này theo Quyết định số

112/2015/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ đang bị chậm tiến độ).

Thứ hai, thể chế KTTT, chất lƣợng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là

những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt Nam trở thành nƣớc công

nghiệp theo hƣớng hiện đại chƣa đƣợc hình thành đầy đủ.

Thứ ba, nền kinh tế phát triển chƣa bền vững. Chất lƣợng tăng trƣởng, năng

suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; các cân đối kinh tế vĩ mô

chƣa thật vững chắc. Tăng trƣởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển

theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu.

Thứ tư, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế. Tổ

chức thực hiện còn nhiều yếu kém, chƣa tạo đƣợc chuyển biến mạnh trong việc giải

quyết có hiệu quả những khâu đột phá, then chốt và những vấn đề xã hội bức xúc.

Nạn tham nhũng, lãng phí còn là những vấn đề nghiêm trọng, chƣa đƣợc đẩy lùi.

Với tình hình nêu trên sẽ tạo ra cho Việt Nam và VKTTĐBB những thuận lợi,

cơ hội to lớn cùng những khó khăn và thách thức gay gắt trong thu hút và quản lý hoạt

động FDI trong CDCCKT nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển theo hƣớng CNH, HĐH.

4.1.1.2. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và định hướng

tới năm 2030 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

- Mục tiêu phát triển KT-XH đến năm 2020 [122]:

+ Tăng trƣởng GDP bình quân thời kỳ 2016-2020 đạt 9% (gấp 1,25 lần mức

bình quân của cả nƣớc); GDP/ngƣời đến năm 2020 đạt 5.500 USD;

+ Cơ cấu kinh tế đến năm 2020 có tỷ trọng tƣơng ứng là 5,5%-49,1%-45,4%;

+ Tỷ trọng giá trị xuất khẩu so với cả nƣớc bằng bằng 32% vào năm 2020

(9200-9500 USD/ngƣời vào 2020); tốc độ đổi mới công nghệ đạt bình quân 20-

25%/năm, tỷ lệ công nghệ tiên tiến đạt khoảng 45%;

+ Tỷ lệ đô thị hóa đạt 50-57% vào năm 2020;

+ Đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 80-85%, đào tạo nghề

khoảng 40-50%. Giải quyết việc làm cho khoảng 200-250 ngàn lao động/năm; kiểm

soát tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở mức 4%;

118

+ Khắc phục cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trƣờng ở thành thị và nông thôn,

các hoạt động KT-XH đảm bảo yêu cầu xanh và phát triển bền vững. Phấn đấu đến

năm 2020 trên 98% chất thải rắn ở đô thị, trên 97% chất thải y tế đƣợc xử lý; trên 90%

KCN, khu chế xuất có hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trƣờng.

- Định hướng phát triển KT-XH đến năm 2030:

+ Tăng trƣởng GDP/năm thời kỳ 2021-2030 đạt 8,7% (gấp 1,3 lần mức bình

quân chung của cả nƣớc); GDP/ngƣời đạt 10.500-12.000 USD vào năm 2030;

+ Chuyển dịch CCKT đến năm 2030 tỷ trọng nông lâm thủy sản trong GDP là

2,2%, công nghiệp - xây dựng 47,8% và dịch vụ 50%;

+ Tỷ trọng giá trị xuất khẩu so với cả nƣớc bằng 39% vào năm 2030; đi đầu

trong tiến trình hiện đại hóa, tốc độ đổi mới công nghệ đạt bình quân 20%/năm;

+ Tốc độ tăng dân số trung bình thời kỳ 2021 - 2030 khoảng 1-1,1%. Tỷ lệ đô

thị hóa đến năm 2030 đạt 60-70%;

+ Đến năm 2030 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 90%, đào tạo nghề đạt

khoảng 60 - 70%; kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở mức 3%;

+ Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ và hiện đại, văn minh và an toàn

kết nối thành phố Hà Nội với các đô thị vệ tinh, các địa phƣơng trong và ngoài vùng;

+ Đảm bảo 100% ngƣời dân có nhà ở với tiện nghi sinh hoạt cần thiết phù hợp

với trình độ phát triển KT-XH. Có môi trƣờng sống tốt và điều kiện làm việc phù hợp

theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới;

+ 100% hệ thống cáp điện, cáp thông tin ở các thành phố, thị xã đƣợc ngầm

hóa; hệ thống chiếu sáng tại các đô thị đƣợc xây dựng theo tiêu chuẩn. Trên 70%

dân số sử dụng Internet. 100% hộ dân cƣ đƣợc cung cấp nƣớc sạch sinh hoạt...

+ Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống xử lý rác thải, chất thải, nƣớc thải đạt chuẩn

môi trƣờng. Sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên, cảnh quan thiên nhiên và các

không gian phát triển theo hƣớng bền vững.

4.1.2. Quan điểm và định hƣớng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2030

4.1.2.1. Về quan điểm chỉ đạo

- Kinh tế có vốn ĐTNN là một bộ phận quan trọng trong phát triển KT-XH,

đƣợc khuyến khích phát triển lâu dài, đƣợc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và đối

xử bình đẳng trên cơ sở hợp tác cùng có lợi, thực hiện theo đúng cam kết quốc tế.

119

- Chú trọng và tăng cƣờng thu hút FDI vào lĩnh vực mà vùng có tiềm năng và

thế mạnh để tạo đột phá trong CDCCKT, nâng cao vị thế cạnh tranh. Dù lựa chọn

cách tiếp cận về CDCCKT nhƣ thế nào, nhƣng việc lựa chọn mô hình phát triển phải

xem xét đồng thời cả chỉ tiêu số lƣợng và nhất là chất lƣợng tăng trƣởng.

- Thu hút ĐTNN phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch và chỉ đạo tập trung,

thống nhất của trung ƣơng đi đôi với phân cấp hợp lý cho các địa phƣơng trên cơ sở

điều kiện KT-XH và năng lực, chất lƣợng đội ngũ cán bộ;... chú trọng hiệu lực quản lý

Nhà nƣớc trong chức năng kiểm tra, giám sát, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

- Việc sửa đổi, điều chỉnh cơ chế, chính sách, pháp luật ĐTNN phải đảm bảo

nguyên tắc không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, ngày càng thuận lợi hơn và

ƣu đãi hơn. Đồng thời, phải ngăn chặn đƣợc các biểu biện tiêu cực trong đầu tƣ nhƣ:

chuyển giá, trốn lậu thuế, ảnh hƣởng xấu tới môi trƣờng…

- Khuyến khích các dự án FDI tăng vốn, mở rộng quy mô và tạo điều kiện

thuận lợi cho quá trình chuyển đổi hình thức FDI. Cần định ra một CCKT mục tiêu,

tạo điều kiện về cơ chế chính sách hợp lý để thu hút vốn FDI nhằm CDCCKT nhƣng

gắn với sự vận động khách quan của nền KTTT. Hạn chế thu hút đầu tƣ vào các

ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều đất, tiêu hao nhiều năng lƣợng…

4.1.2.2. Về định hướng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Mục tiêu thu hút vốn FDI phải phù hợp với mục tiêu tổng quát trong chiến

lƣợc phát triển của vùng. Xây dựng để trở thành một trong các vùng dẫn đầu cả

nƣớc về phát triển kinh tế, nòng cốt tiên phong trong thực hiện các đột phá chiến

lƣợc, thực hiện tái cấu trúc kinh tế, đổi mới mô hình tăng trƣởng, thực hiện CNH,

HĐH và bảo đảm sự phát triển bền vững.

- Tạo thuận lợi tối đa và tự do hóa hơn nữa đối với dòng vốn FDI chứ không

phải đƣa ra các hạn chế, các điều kiện dễ quản lý hơn. Cần chú trọng đến chất lƣợng

của dòng vốn FDI nhƣ: trình độ công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, đảm bảo môi

trƣờng và có tác động lan tỏa.

- Quy hoạch thu hút ĐTNN theo ngành, lĩnh vực, đối tác phù hợp với lợi thế

của từng vùng, từng ngành để phát huy hiệu quả đầu tƣ của từng địa phƣơng, từng

vùng, phù hợp với quy hoạch chung, đảm bảo lợi ích tổng thể quốc gia và tái cấu

trúc nền kinh tế theo mô hình tăng trƣởng mới.

- Phối kết hợp một cách chặt chẽ giữa các cơ quan xúc tiến đầu tƣ, xúc tiến

thƣơng mại và xúc tiến du lịch của Trung ƣơng với các tổ chức của địa phƣơng

120

trong vùng theo một hƣớng thống nhất, tránh việc lãng phí do chồng chéo cũng nhƣ

tiết kiệm đƣợc nguồn lực.

- Chọn lọc các dự án có chất lƣợng, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi

trƣờng, lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ sinh học; phát triển kết cấu hạ tầng,

đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao, nghiên cứu và phát triển, dịch vụ hiện đại...Hạn

chế tối đa những dự án FDI có công nghệ lạc hậu, ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng.

- Tăng cƣờng thu hút các dự án quy mô lớn, sản phẩm có tính cạnh tranh cao,

tham gia chuỗi VA toàn cầu từ đó xây dựng, phát triển hệ thống các ngành, DN phụ

trợ, chuyển dần từ gia công sang sản xuất; lựa chọn các nhà đầu tƣ lớn, có uy tín;

đồng thời, chú trọng đến các dự án có quy mô vừa và nhỏ phù hợp với từng ngành

kinh tế, từng địa phƣơng.

- Thu hút FDI nhằm đẩy nhanh quá trình CDCCKT theo hƣớng phát triển các

ngành kinh tế mũi nhọn; ngành có lợi thế, tạo bƣớc đột phá nhƣng phải gắn với chất

lƣợng, hiệu quả và tính bền vững đối với vai trò VKTTĐ.

- Cần tận dụng những lợi ích lan tỏa từ việc thu hút đầu tƣ của các TNCs và các

tập đoàn kinh tế lớn, bằng cách xây dựng chiến lƣợc phát triển để từng bƣớc tham gia

vào chuỗi liên kết giá trị với tƣ cách là nhà thầu phụ, nhà cung ứng các dịch vụ đầu

vào và đầu ra, cung ứng nguồn lao động, đặc biệt là lao động có chất lƣợng cao.

4.2. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƢỜNG THU HÖT VỐN ĐẦU

TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở

VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ ĐẾN 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

4.2.1. Nhóm giải pháp đối với cấp địa phƣơng ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

4.2.1.1. Đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Đổi mới tư duy về thu hút vốn FDI vào VKTTĐBB:

+ Việc đổi mới theo hƣớng tạo thuận lợi tối đa và tự do hóa hơn nữa đối với

dòng vốn FDI và phát huy hiệu quả của FDI. Đồng thời, cần đặt nó với mối quan hệ các

nguồn lực khác và hƣớng vào mục tiêu thúc đẩy CDCCKT trên phạm vi toàn vùng.

+ Cần chú trọng đến chất lƣợng của dòng vốn FDI trong thu hút nhƣ: trình độ

công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, đảm bảo môi trƣờng và có tác động lan tỏa sang

các ngành, lĩnh vực khác trong vùng…

+ Thực hiện các chính sách thu hút mạnh dòng vốn FDI vào vùng cần đồng

bộ, nhất quan và thống nhất giữa các địa phƣơng trong toàn vùng.

- Nâng cao nhận thức về thu hút vốn FDI nhằm CDCCKT:

121

+ Từ các cấp lãnh cấp lãnh đạo cao nhất đến cấp chính quyền cơ sở cần thống

nhất trong đánh giá vai trò của FIE đối với các địa phƣơng. Cần có sự phối hợp giữa tất

cả các cơ quan quản lý, chính quyền các cấp, các cơ quan và nhân dân cƣ trú trên các

địa bàn để tạo nên một môi trƣờng tôn trọng lẫn nhau giữa hai phía, yên tâm cho các

nhà ĐTNN. Nhận thức trong lãnh đạo các địa phƣơng thực hiện tốt quan điểm trong đối

xử bình đẳng giữa FIE với các khu vực kinh tế khác trên toàn địa bàn. Cụ thể là:

+ Thƣờng xuyên tổ chức gặp mặt các cơ quan quản lý chính quyền để quán

triệt cụ thể quan điểm của địa phƣơng và giải quyết các vấn đề đặt trong mối quan

hệ với phát triển vùng về vai trò của FDI đối với CDCCKT.

+ Định kì tổ chức các hội thảo đánh giá tính hiệu quả, những đóng góp của

khu vực FDI đối với CDCCKT và phát triển KT-XH của các địa phƣơng.

+ Có những giải pháp tuyên truyền, với chế tài đủ mạnh, xử lí nghiêm minh

những hành vi gây phiền hà, sách nhiễu, quan liêu, hách dịch, những hành vi phá

hoại phi lí của những cá nhân lãnh đạo hoặc nhóm công dân đối với hoạt động FDI,

gây tâm lí không an tâm trong các nhà ĐTNN.

4.2.1.2. Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch

làm cơ sở định hướng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch

cơ cấu kinh tế

Quy hoạch phát triển KT-XH là sản phẩm đa dạng, phức tạp. Chất lƣợng quy

hoạch tốt, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tƣ, mà còn thuận tiện cho

công tác quản lý của các ngành, các cấp chính quyền. Công tác quy hoạch phải coi là

nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các cơ quan quản lý nhà nƣớc. Do vậy cần chú ý:

- Đổi mới nhận thức về phƣơng pháp, nội dung quy hoạch phát triển đối với

từng ngành, lĩnh vực KT-XH cấp địa phƣơng ở VKTTĐBB trên cơ sở vận dụng

sáng tạo có hiệu quả Quyết định 198/2015/QĐ-Ttg của Thủ tƣớng Chính phủ về

“Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH VKTTĐBB đến năm 2020, định hướng

2030”. Khi lập quy hoạch phải điều tra khảo sát về tài nguyên thiên nhiên, về các

vấn đề lịch sử, xã hội và vấn đề môi trƣờng sinh thái để làm căn cứ, chứ không quá

nặng về địa giới hành chính, biến quy hoạch VKTTĐBB thành “tổng các quy

hoạch” của 7 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng trong vùng cộng lại. Quy hoạch

vùng cũng không làm lu mờ hoặc biến mất quy hoạch không gian phát triển KT-XH

của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng trong vùng, mà phải tạo ra mối liên

kết chặt chẽ giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng trong vùng và với các

địa phƣơng khác trong cả nƣớc; với quốc tế và trong khu vực (xem phụ lục 30.1).

122

- Quy hoạch không gian kinh tế vùng là khâu trung gian giữa quy hoạch

không gian phát triển KT-XH của cả nƣớc với quy hoạch không gian phát triển KT-

XH của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng trong vùng. Bao gồm tổng thể

các loại quy hoạch ngành, lĩnh vực trong vùng. Do vậy, khi xây dựng quy hoạch

không gian phát triển KT-XH ở VKTTĐBB phải dựa trên các căn cứ sau:

+ Những mục tiêu, phƣơng hƣớng, nhiệm vụ và các chỉ tiêu phát triển KT-XH

của vùng đã đƣợc Thủ tƣớng chính phủ phê duyệt.

+ Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tiềm năng, lợi

thế về các nguồn lực phát triển của vùng.

+ Khả năng hợp tác, liên kết với các vùng khác trong cả nƣớc và hợp tác quốc

tế, khu vực cần dựa trên các căn cứ kết quả khảo sát, đánh giá tiềm lực tài nguyên,

tiềm năng mà vùng hiện có để đánh giá khả năng và phân kỳ khai thác sử dụng

nguồn tài nguyên thiên nhiên của vùng. Trên cơ sở đó, xác lập quy hoạch ngành,

lĩnh vực KT-XH ở VKTTĐBB nhƣ sau:

 Làm tốt quy hoạch sử dụng tài nguyên đất làm cơ sở để xác định quy hoạch

ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu và cùng với tiềm năng nguồn lực phát triển của

vùng để xác định các danh mục các dự án cần thu hút vốn FDI và sản phẩm khuyến

khích đầu tƣ. Quy hoạch sử dụng đất đai chính xác sẽ giúp chúng ta sử dụng có hiệu

quả quỹ đất vốn hạn hẹp và khắc phục đƣợc những vƣớng mắc trong giải phóng mặt

bằng, làm cho các nhà đầu tƣ yên tâm, gắn bó lâu dài, tăng cƣờng đầu tƣ mới và đổi

mới công nghệ, mở rộng quy mô các dự án đã và đang hoạt động trong vùng.

 Quy hoạch phát triển từng ngành, lĩnh vực KT-XH:

Ƣu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch ở

các đô thị lớn nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dƣơng, Bắc Ninh... là nơi

tập trung nhiều cán bộ khoa học công nghệ, công nhân bậc cao, nơi có hạ tầng kỹ

thuật thuận tiện, chất lƣợng tốt và cũng là nơi có điều kiện tiếp xúc, hợp tác với các

cơ sở khoa học trong nƣớc, quốc tế và khu vực.

Phát triển các ngành công nghiệp nặng có quy mô hợp lý, diện tích xây dựng

lớn nhƣ sản xuất thép chất lƣợng cao, sản xuất vật liệu xây dựng, tập trung phát triển

công nghiệp sản xuất xi măng ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dƣơng,... ở các vùng

ven đƣờng quốc lộ số 18 là nơi có phần lớn đất gò đồi, thuận tiện cho giải phóng mặt

bằng và tiết kiệm sử dụng đất màu mỡ dành cho sản xuất nông nghiệp.

Quy hoạch phát triển công nghiệp khai thác và chế biến than ở Quảng Ninh

bằng công nghệ hiện đại hiệu quả kinh tế cao, không chạy theo sản lƣợng; khai thác

123

than phải gắn với bảo vệ môi trƣờng sinh thái và phát triển nhiệt điện ở các khu vực

gần nguồn than nhƣ: Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dƣơng.

Phát triển công nghiệp đóng và sửa chữa tàu thuỷ ở ven sông Bạch Đằng,

sông Văn Úc, ven biển thuộc tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng.

Phát triển công nghiệp chế biến lƣơng thực, thực phẩm, thuỷ hải sản ở các

tỉnh có nhiều nguyên liệu nhƣ: Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dƣơng, Hƣng Yên.

Tập trung thu hút đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài vào các ngành công nghiệp

sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, máy công cụ, thiết bị, động cơ, phƣơng tiện

vận tải... vào các KCN, khu kinh tế trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong vùng.

 Quy hoạch phát triển các viện, trung tâm nghiên cứu các trƣờng đại học,

cao đẳng đạt tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế ở khu vực ở Hà Nội, các trƣờng đại học,

cao đẳng đa ngành ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng khác trong vùng;

xây dựng các bệnh viện chất lƣợng cao đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân

dân trong vùng và các vùng khác trong cả nƣớc; xây dựng các công trình văn hoá,

thể thao, khu du lịch sinh thái, các sân golt ở những tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ƣơng có điều kiện tự nhiên và danh lam thắng cảnh phù hợp với yêu cầu từng loại

công trình với số lƣợng phù hợp nhằm tiết kiệm sử dụng đất nông nghiệp.

 Quy hoạch phát triển các đô thị trong vùng, các đô thị lớn nhỏ nhƣ: thủ đô

Hà Nội, thành phố Hải Phòng, các thành phố trực thuộc tỉnh, các thị xã, thị trấn đều

phải căn cứ vào các tiêu chuẩn đô thị các loại ở Việt Nam và có tham khảo các tiêu

chuẩn của đô thị các nƣớc. Quy hoạch các đô thị phải đáp ứng đƣợc nhu cầu phát

triển KT-XH cho dân cƣ đô thị trong vùng đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, thậm

chí đến năm 2050. Đồng thời phải quan tâm đúng mức tới quy mô dân số đô thị nhất

là Hà Nội, Hải Phòng. Hạn chế quy mô đô thị lớn bằng cách xây dựng các đô thị vệ

tinh có mạng lƣới giao thông thuận tiện, cơ sở hạ tầng xã hội, điều kiện sống của các

phố vệ tinh tốt hơn hoặc ít nhất bằng đô thị trung tâm.

 Quy hoạch hệ thống giao thông vận tải đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH

và đi lại, giao lƣu của nhân dân trong vùng; giữa VKTTĐBB với các vùng khác

trong cả nƣớc, khu vực và quốc tế.

Vùng KTTĐBB vốn đã có hệ thống giao thông vận tải khá đồng bộ và thuận

lợi, song cần có quy hoạch cụ thể, tạo quỹ đất và các điều kiện khác để bổ sung hoàn

thiện hệ thống giao thông đồng bộ cả đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng hàng không, đƣờng

thuỷ hiện đại phục vụ cho mục tiêu, định hƣớng phát triển của VKTTĐBB đến 2020

và tầm nhìn 2030. Dựa vào quy hoạch không gian phát triển KT-XH của vùng và

124

phân kỳ thực hiện quy hoạch đó mà xác định, phân chia các giai đoạn thực hiện quy

hoạch phát triển giao thông vận tải để có chính sách khuyến khích đầu tƣ, thu hút các

nhà đầu tƣ vào các dự án giao thông vận tải đạt hiệu quả KT-XH cao hơn.

 Quy hoạch phát triển nông, lâm, nghiệp, thuỷ sản kết hợp với xây dựng

nông thôn mới. Đất đai nông nghiệp có xu hƣớng giảm dần và có tỷ lệ nghịch với tốc

độ phát triển đô thị, các KCN, hệ thống giao thông vận tải. Do đó, quy hoạch phát

triển nông nghiệp phải xác định đƣợc vùng nào, diện tích bao nhiêu để trồng lúa và

các cây lƣơng thực khác; vùng nào diện tích bao nhiêu trồng rau, củ, quả phục vụ nhu

cầu tiêu dùng của dân cƣ, nhất là việc dân cƣ đô thị của vùng có tỷ lệ ngày càng cao.

Đồng thời phải xác định khu rừng bảo tồn; rừng sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu gỗ

chống lò cho khai thác than và các nhu cầu khác của dân cƣ; khu rừng chắn sóng bảo

vệ đê biển và các khu vực mặt nƣớc ven sông, ven biển để nuôi trồng thuỷ sản. Trên

cơ sở quy hoạch, mà có chính sách ƣu đãi, khuyến khích các nhà đầu tƣ vào lĩnh vực

nông nghiệp. Quy hoạch cụm dân cƣ nông nghiệp làm cơ sở cho xây dựng nông thôn

mới theo Quyết định số 491/2010/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ.

 Quy hoạch các bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt cho các đô thị, nơi tập trung

dân cƣ, nhất là các đô thị lớn nhƣ Hà Nội, Hải Phòng. Các bãi chôn lấp rác thải sinh

hoạt phải có khoảng cách thích hợp với các đô thị, khu tập trung dân cƣ, nguồn nƣớc

sinh hoạt và phải đƣợc xử lý bằng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến đáp ứng yêu cầu bảo

vệ môi trƣờng sinh thái và bảo đảm cho khoảng thời gian thích hợp và tốc độ tăng

dân số, tăng lƣợng rác thải,...

 Điều chỉnh lại quy hoạch các KCN cho phù hợp với quy hoạch không gian

phát triển KT-XH của vùng, tránh tình trạng quy hoạch các KCN, khu kinh tế theo

địa giới hành chính và cần tập trung chú ý tới quy hoạch cụ thể trong các KCN, nhất

là kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, giải quyết vấn đề môi trƣờng.

- Đầu tƣ kinh phí phù hợp cho các viện nghiên cứu có năng lực chuyên môn,

chức năng lập quy hoạch phát triển KT-XH ở trong nƣớc và thậm chí thuê các tổ

chức nghiên cứu, nhóm chuyên gia nƣớc ngoài cùng lập quy hoạch không gian phát

triển KT-XH và các loại quy hoạch chuyên ngành khác trong vùng. Đồng thời, phải

có phân kỳ thực hiện quy hoạch, các biện pháp kinh tế, kỹ thuật hợp lý để khai thác,

sử dụng có hiệu quả các nguồn lực lao động, vốn, khoa học - công nghệ, tài nguyên

đất, các tài nguyên thiên nhiên khác và những lợi thế so sánh của vùng.

- Coi trọng công tác thẩm định quy hoạch vùng bằng việc thành lập nhóm tƣ

vấn hay hội đồng khoa học gồm các nhà khoa học có chuyên môn sâu về quy hoạch

125

ở các bộ, ngành liên quan và cán bộ chủ chốt của 7 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ƣơng trong vùng. Hội đồng này có nhiệm vụ lựa chọn một trong số các quy hoạch

không gian phát triển KT-XH tối ƣu nhất đáp ứng đƣợc yêu cầu khai thác tiềm năng,

lợi thế so sánh của vùng để phát triển KT-XH bền vững, đảm bảo duy trì tốc độ tăng

trƣởng kinh tế, trật tự xã hội, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trƣờng sinh thái.

- Rà soát và hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể đối với từng ngành kết hợp với

vùng - địa bàn, đặc biệt là các nhóm ngành lớn của vùng và góp phần chuyển dịch

cơ cấu nội bộ ngành theo hƣớng tích cực với nội dung sau:

+ Xây dựng cơ sở dữ liệu về tiềm năng và thế mạnh của các địa phƣơng trong

vùng, qua điều tra khảo sát về nguồn nhân lực, điều kiện cơ sở hạ tầng, điều kiện tự

nhiên, nguồn tài nguyên,...

+ Công bố danh mục những sản phẩm các tỉnh có thể tự sản xuất theo lợi thế.

+ Công bố danh mục các dự án cần kêu gọi vốn FDI theo hình thức đầu tƣ

khác nhau, trên cơ sở dự báo chuẩn xác nhu cầu thị trƣờng, dự kiến quy mô, công

suất, đối tác trong và ngoài nƣớc, địa điểm, tiến độ thực hiện và các chính sách

khuyến khích, ƣu đãi... để làm cơ sở cho xúc tiến đầu tƣ. Tránh tình trạng nhƣ hiện

tại là thu hút vốn FDI đã khó, nhƣng giải ngân còn khó hơn; đồng thời khắc phục

hiện tƣợng có một số lĩnh vực, một số địa bàn, một số ngành thì thiếu vốn trầm

trọng, trong khi một số khác thì lại “bội thực” vốn FDI mà vùng đã gặp phải.

- Rà soát, điều chỉnh quy hoạch ngành và vùng kinh tế theo hƣớng xóa bỏ độc

quyền và bảo hộ sản xuất của từng địa phƣơng, theo kiểu “kinh tế khép kín” tạo điều

kiện cho FDI tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển các ngành, vùng kinh tế,

theo hƣớng loại bỏ bớt các hạn chế đối với FDI phù hợp với các cam kết quốc tế

song và đa phƣơng. Ban hành các quy hoạch phát triển các ngành còn thiếu nhƣ quy

hoạch mạng lƣới các trƣờng đại học, dạy nghề cùng các điều kiện, tiêu chuẩn cấp

phép cho các dự án thuộc lĩnh vực này. Điều chỉnh lại quy hoạch phát triển KCN

cho phù hợp với tình hình thực tế. Trên cơ sở rà soát, sửa đổi, bổ sung “Danh mục

dự án quốc gia kêu gọi vốn FDI giai đoạn 2015-2020” theo hƣớng khuyến khích

các ngành, lĩnh vực ƣu tiên thu hút FDI…

4.2.1.3. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp

nước ngoài

- Kiện toàn bộ máy tổ chức và tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa các

ngành, các cấp để tạo một bước chuyển mới trong công tác quản lý các FIES:

+ Kiện toàn bộ máy quản lý của các Sở, ban, ngành theo hƣớng nâng cao hiểu biết

126

về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm xử lý giải quyết các vấn đề và năng lực ngoại ngữ

để đảm bảo tốt công tác quản lý, theo dõi nắm bắt tình hình hoạt động của các FIES.

+ Phân công, phận nhiệm rõ quyền hạn của các Sở, ban, ngành có liên quan

trong quản lý và duyệt cấp giấy phép ĐTNN. Tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và

cái gì cũng phải xin ý kiến cấp trên, gây trở ngại lớn cho các nhà đầu tƣ. Nâng cao trách

nhiệm đồng thời với năng lực và mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Thực hiện

nghiêm túc những qui định đặt ra, những gì thuộc trách nhiệm của đơn vị nào, đơn vị đó

phải giải quyết dứt điểm và chịu trách nhiệm trƣớc chính quyền địa phƣơng.

+ Tổ chức cơ quan quản lý có tính liên ngành đối với dự án ĐTNN. Cơ quan

này trực thuộc UBND tỉnh, có trách nhiệm quản lý, giám sát hoạt động kinh tế, giám

sát việc chấp hành các chủ trƣơng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc đối với các FIES, đặc biệt chú ý tới các vấn đề về xã hội và môi trƣờng. Cơ quan này có thẩm quyền xử lý các sai phạm của FIES theo đúng các qui định của pháp luật Việt Nam.

+ Rà soát các chính sách, qui định hiện hành, cơ chế quản lý các FIES đang hoạt động trong vùng và phát hiện những không phù hợp hay trùng lặp, đề nghị các

cơ quan có thẩm quyền loại bỏ; đề xuất các chính sách, qui định còn thiếu để tạo ra

một hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp với sự vận động phát triển của các DN,

với cơ chế quản lý chung của cả nƣớc và phù hợp với thông lệ quốc tế.

+ Có chính sách hỗ trợ hợp lý đúng pháp luật cho các FIES, tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị, xã hội hoạt động trong các DN, nhằm tập hợp động viên thực

hiện tốt các cam kết trong hợp đồng lao động; xây dựng mối quan hệ hợp tác gắn bó

lâu dài giữa ngƣời lao động với chủ DN. Mặt khác, thay mặt công nhân bàn bạc với

chủ DN nhằm tháo gỡ những vƣớng mắc về lợi ích giữa ngƣời lao động với chủ DN;

+ Củng cố các bộ phận quản lý công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và thực

hiện nghiêm túc quy trình kiểm tra, giám sát suốt trong quá trình từ cấp phép đầu tƣ,

thực hiện đầu tƣ và hoạt động sản xuất kinh doanh sau đầu tƣ. Xử lý nghiêm các vi

phạm theo đúng pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

+ Áp dụng công nghệ thông tin, tin học hoá và các phƣơng pháp đánh giá chất

lƣợng công tác hành chính theo chuẩn mực quốc tế nhằm đƣa hoạt động quản lý đầu

tƣ và FDI đi vào nề nếp, thống nhất, nhanh chóng, phù hợp với chuẩn mực chung

của các quốc gia và vùng lãnh thổ.

+ Mỗi bộ phận ngoài chức năng của mình, còn xác định rõ trách nhiệm phối

hợp hiệp tác trong hỗ trợ giải quyết những vấn đề có liên quan đến FDI. Đảm bảo sự

phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan tham mƣu trong quản lý FDI.

127

- Nâng cao năng lực của công chức đủ khả năng thực thi chính sách khuyến

khích ĐTNN và quản lý FIES. ĐTNN không còn là lĩnh vực mới mẻ, song kiến thức và kinh nghiệm của các địa phƣơng trong VKTTĐBB là chƣa có nhiều, nhất là sự

bất cập về đội ngũ quản lý. do vậy:

+ Cần phải tăng cƣờng đào tạo, bồi dƣỡng cho cán bộ quản lý trong các FIES những kiến thức về quản trị kinh doanh hiện đại, hợp tác quốc tế, luật pháp, ngoại

ngữ, tin học... và những kinh nghiệm trong quá trình liên doanh, hợp tác với nƣớc

ngoài. Kiên quyết chấm dứt tình trạng chƣa đƣợc đào tạo đã cử ra làm liên doanh.

+ Công tác tuyển chọn đội ngũ cán bộ quản lý tham gia vào các dự án nhất là

đối với những chức danh quan trọng nhƣ: Tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, chủ

tịch hay ủy viên hội đồng quản trị nên chuyển dần từ hình thức bổ nhiệm sang hình

thức thi tuyển nhằm lựa chọn đƣợc những ngƣời có đủ năng lực quản lý, giỏi về

chuyên môn, ngoại ngữ nắm giữ những cƣơng vị này.

- Tăng cường công tác quản lý các FIES được cấp giấy phép và hoạt động. + Đối với các dự án đã đƣợc cấp giấy phép đầu tƣ, cần phải tập trung giải

quyết tốt các vấn đề sau:

 Làm tốt công tác phân công, phân nhiệm đối với các cơ quan quản lý hành

chính và cơ quan quản lý Nhà nƣớc về đầu tƣ.

 Làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh của các chủ

đầu tƣ trên cơ sở có sự phối hợp các hình thức kiểm tra nhƣ kiểm tra theo định kỳ,

kiểm tra theo chuyên đề và kiểm tra đột xuất.

 Triển khai việc thực hiện kiểm toán ở tất cả dự án đã đi vào SX-KD.Thông

qua hoạt động kiểm toán, các cơ quan quản lý sẽ nắm chắc hơn kết quả hoạt động kinh doanh của các FIES.

+ Đối với các các FIES đã đi vào hoạt động cần:  Chấm dứt tình trạng chạy theo số lƣợng hoặc tự tiện điều chỉnh những

khoản đã cam kết trong giấy phép đầu tƣ mà không có sự bàn bạc, nhất trí của các

bên liên doanh.

 Kiểm tra kỹ luận chứng về hàng hóa xuất khẩu và thu ngoại tệ, tránh tình

trạng DN tự ý tăng tỷ lệ sản phẩm tiêu thụ nội địa lên quá mức quy định.

 Có biện pháp khắc phục tình trạng du nhập công nghệ lạc hậu nhƣ hiện nay.

 Tăng cƣờng thông tin bằng nhiều kênh khác nhau để các nhà ĐTNN có

điều kiện tiếp cận, cập nhật những chủ trƣơng, chính sách hiện hành của nƣớc ta hay

những thay đổi về cơ chế quản lý... giúp họ hiểu và tự giác chấp hành.

128

+ Tạo điều kiện thuận lợi để các dự án FDI đã triển khai hoạt động mở rộng,

tăng công suất hiện có.

Trên thực tế, hoạt động FDI cho thấy, khi dự án triển khai có hiệu quả, nhà

ĐTNN thƣờng muốn dùng lợi nhuận để tái đầu tƣ, hoặc bỏ thêm vốn để đầu tƣ mở

rộng sản xuất. Phần mở rộng của nhiều dự án có quy mô lớn hơn nhiều so với quy

mô đƣợc cấp phép đầu tƣ ban đầu. Tuy nhiên, một số quy định của cơ quan Nhà

nƣớc còn gây phiền hà trong việc xem xét cấp giấy phép điều chỉnh mở rộng mục

tiêu hoạt động của dự án, nhƣ quy định tỷ lệ xuất khẩu, thực hiện quy trình thẩm

định nhƣ dự án mới, phải có ý kiến của các bộ, ban, ngành, địa phƣơng có liên quan.

Để khuyến khích các nhà đầu tƣ thêm vốn vào và tăng công suất sản xuất một cách

có hiệu quả cần phải cải cách một số thủ tục xem xét, cấp phép đối với những dự án

FDI tăng vốn đầu tƣ để mở rộng công suất, theo đó cần:

 Công bố công khai quy hoạch phát triển đối với các sản phẩm công nghiệp

cần hạn chế công suất hoặc ƣu tiên cho các DN trong nƣớc đầu tƣ (nếu các DN trong

nƣớc đủ khả năng), nhƣng cũng cần phải loại trừ ý đồ dùng quy hoạch để thực hiện

độc quyền của các DN trong nƣớc.

 Thực hiện cơ chế đăng ký tăng vốn đầu tƣ để mở rộng, tăng công suất thiết

kế của dự án sản xuất nếu chủ đầu tƣ đã hoàn thành thực hiện vốn đầu tƣ cam kết.

 Thực hiện khuyến khích xuất khẩu bằng biện pháp kinh tế và ƣu đãi tài chính

nhƣ ƣu đãi thuế, sử dụng Quỹ hỗ trợ xuất khẩu, thƣởng xuất khẩu,... thay thế các biện

pháp hành chính nhƣ hiện nay. Trƣớc mắt, cần điều chỉnh danh mục sản phẩm mà dự án

FDI phải xuất khẩu ít nhất 80% theo hƣớng chỉ áp dụng đối với một số sản phẩm có lợi

thế cạnh tranh, trong nƣớc đã đáp ứng đủ nhu cầu, cần thiết phải bảo hộ. Đồng thời xử lý

linh hoạt tỷ lệ xuất khẩu của DN, không bắt buộc DN phải xuất khẩu theo tỷ lệ quy định

ngay từ năm đầu mà trong vòng 3 đến 5 năm từ khi bắt đầu sản xuất. Kiểm soát việc thực

hiện quy định về tỷ lệ xuất khẩu tại các DN để có biện pháp hỗ trợ kịp thời.

- Thực hiện tốt công tác cải cách thủ tục hành chính:

+ Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý nhà nƣớc đối với FDI, đặc biệt trong

việc phê duyệt, cấp Giấy chứng nhận đầu tƣ, quản lý tốt các dự án FDI, gắn với tăng

cƣờng hợp tác, hỗ trợ, phối hợp hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành

pháp luật về đầu tƣ.

+ Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo thực hiện

nhiệm vụ theo quy định tại Luật Đầu tƣ và quy định mới về phân cấp quản lý FDI.

+ Đơn giản hóa và công khai quy trình, thủ tục hành chính đối với FDI, thực

129

hiện cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” trong giải quyết thủ tục đầu tƣ. Đảm

bảo sự thống nhất các quy trình, thủ tục tại các địa phƣơng; đồng thời phù hợp với

điều kiện cụ thể và thuận lợi trong quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ.

+ Xử lý dứt điểm, kịp thời các vấn đề vƣớng mắc trong quá trình cấp phép,

điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tƣ.

+ Tăng cƣờng cơ chế phối hợp quản lý FDI giữa Trung ƣơng và địa phƣơng

và giữa các Bộ, ngành liên quan.

4.2.1.4. Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách khuyến khích thu hút vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế (xem phụ lục 30)

- Xác định các ngành kinh tế mũi nhọn, có lợi thế so sánh và khả năng cạnh

tranh cao nhưng đang thiếu vốn để có chính thu hút vốn FDI phù hợp

+ Cần tiến hành các biện pháp mạnh để chỉ đạo và khuyến khích hoạt động

FDI hƣớng vào các địa bàn ngoài tam giác kinh tế, nhất là vùng sâu, vùng xa và các

vùng có điều kiện kinh tế khó khăn của các tỉnh. Các vùng có trình độ phát triển thấp

này có thể lựa chọn các ngành công nghiệp và các ngành có điều kiện phát triển

thuận lợi thật sự để tiếp nhận có hiệu quả các chính sách áp dụng cho các ngành

đƣợc khuyến khích FDI. Đồng thời, cần tiếp tục khuyến khích các FIES “đầu tàu” trong VKTTĐ tái đầu tƣ vào các vùng sâu, vùng xa và vùng có điều kiện khó khăn.

Cho phép FIES ở “đầu tàu” kinh tế đi tới vùng sâu và vùng xa, các địa bàn không thuận lợi để thành lập DN với sự dẫn dắt của các DN Nhà nƣớc trên địa bàn.

+ Xác định ngành kinh tế mũi nhọn có vai trò quan trọng của vùng, có tốc độ

tăng trƣởng vƣợt trội so với các ngành kinh tế khác, ngành chiếm tỷ trọng lớn trong

cơ cấu kinh tế, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách địa phƣơng, giúp nâng cao khả năng

cạnh tranh cho các địa phƣơng trong vùng. Chú ý các ngành sử dụng tiến bộ khoa

học, công nghệ, phù hợp với xu thế thời đại. Những chính sách khuyến khích đầu tƣ

cần đƣợc vận dụng linh hoạt để hƣớng các nhà ĐTNN vào các lĩnh vực:

 Các dự án phát triển công nghệ thông tin, công nghệ phần mềm, công nghệ

phần cứng, tin học, điện tử, cơ khí chính xác, tự động hoá và đổi mới công nghệ cũ,

lạc hậu của các DN đang hoạt động trong các KCN và đô thị ở Hà Nội, Hải Phòng,

các thành phố trực thuộc tỉnh nhƣ: Hải Dƣơng, Phúc Yên, Bắc Ninh, Phố Nối; các dự

án đóng và sửa chữa tàu thuỷ ở các khu vực ven sông Bạch Đằng, Văn Úc và ven biển

thuộc tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng. Các dự án thu hút nhiều lao động với công nghệ

trung bình tiên tiến, nên ƣu tiên cho các nhà đầu tƣ trong nƣớc và khuyến khích đầu tƣ

xây dựng tại các vùng ngoại ô các thành phố, các khu tập trung dân cƣ, các thị xã, thị

130

trấn. Đẩy mạnh khuyến khích đầu tƣ phát triển công nghiệp là tạo động lực phát triển

kinh tế, tăng trƣởng GDP, thu hút nhiều lao động, tăng thu ngân sách nhà nƣớc...

 Ƣu đãi đối với các dự án phát triển giáo dục, đào tạo; các viện nghiên cứu

khoa học; các bệnh viện, các công trình văn hoá, thể thao và các công trình công

cộng khác phục vụ cho nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho dân cƣ trong vùng.

Khuyến khích đầu tƣ vào các ngành dịch vụ, có vòng quay vốn nhanh, tạo ra nhiều

lợi nhuận, thu hút nhiều lao động góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp.

 Ƣu đãi đối với công nghệ chế biến rác thải, khí thải, nƣớc thải và cấp thoát

nƣớc ở các thành phố lớn, nhất là Hà Nội, Hải Phòng. Khuyến khích, thậm chí hỗ trợ

kinh phí từ ngân sách Trung ƣơng, địa phƣơng và đóng góp của dân cƣ để các tổ

chức, cá nhân đầu tƣ thu gom rác thải sinh hoạt ở các đô thị, các khu dân cƣ, KCN,

thị trấn, thị tứ, làng, xã để tập trung làm nguyên liệu cho các xí nghiệp chế biến rác

thải, số còn lại chôn lấp ở những bãi theo quy hoạch với công nghệ tiên tiến đảm bảo

không gây ô nhiễm môi trƣờng sinh thái.

 Các dự án phát triển giao thông vận tải, lƣới điện, thông tin liên lạc, tạo

điều kiện thuận lợi cho các nhà ĐTNN.

 Tập trung thu hút những dự án đầu tƣ chiều sâu, tăng cƣờng bổ sung công

nghệ tiên tiến và tiến tới hiện đại hóa từng phần các ngành sản xuất công nghiệp,

trƣớc hết là các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh.

+ Để đảm bảo đƣợc vai trò ngành mũi nhọn cần phải có biện pháp ƣu đãi cụ

thể đặc biệt về thuế đối với dự án công nghệ nguồn; định hƣớng phát triển có trọng

điểm vào những sản phẩm nhanh chóng tạo thế cạnh tranh trên thị trƣờng... việc tăng

cƣờng thu hút FDI vào các lĩnh vực và các địa bàn nói trên, cần điều chỉnh một số

chính sách ƣu đãi đầu tƣ theo hƣớng sau:

 Thực hiện chính sách hỗ trợ về thuế các dự án FDI đầu tƣ sử dụng công

nghệ cao, sản xuất hàng xuất khẩu có hàm lƣợng VA cao, đào tạo nhân lực, hỗ trợ

nhà đầu tƣ trong việc giảm chi phí dự án nhằm tạo mọi thuận lợi cho dự án triển khai

có hiệu quả, đảm bảo đem lại lợi nhuận cho nhà FDI.

 Ƣu đãi tiền thuê đất đối với các dự án đầu tƣ vào các lĩnh vực nông - lâm -

ngƣ nghiệp trong khuôn khổ dự án kêu gọi vốn đầu tƣ góp phần hoàn thiện CCKT

theo ngành gắn với vùng kinh tế, đặc biệt tại các địa bàn kinh tế thuộc vùng sâu,

vùng xa, vùng có điều kiện phát triển kinh tế khó khăn.

- Căn cứ vào tính đặc thù của từng ngành để lựa chọn những lĩnh vực để có

giải pháp thu hút vốn FDI phù hợp nhằm thúc đẩy CDCCKT.

131

+ Đối với ngành công nghiệp - xây dựng: Đây là một ngành truyền thống và

có thế mạnh đặc biệt của các địa phƣơng trong vùng. Do vậy:

 Khuyến khích đầu tƣ vào các lĩnh vực có khả năng tăng trƣởng nhanh, có

hiệu quả, có sức cạnh tranh. Điều chỉnh sản xuất một số ngành công nghiệp hiện

đang có tình trạng không có sức cạnh tranh; tăng các ngành chế tác và sản xuất vật

liệu mới, các sản phẩm xuất khẩu.

 Ƣu tiên hơn nữa ngành công nghiệp có hàm lƣợng công nghệ cao nhƣ:

công nghiệp điện tử, viễn thông, tin học (nhất là công nghiệp phần mềm)... công

nghệ sinh học trong các ngành sản xuất nguyên liệu; đổi mới công nghệ chế biến

bảo đảm chất lƣợng và vệ sinh công nghiệp theo đúng yêu cầu thị trƣờng...

 Coi trọng lĩnh vực sử dụng nhiều lao động nhƣ: dệt may, chế biến, chế tạo

cơ khí và điện tử...). Về mặt xã hội, việc phát triển nhóm ngành này vừa phát huy

đƣợc lợi thế về nguồn nhân lực, vừa góp phần giải tỏa sức ép về lao động, thúc đẩy

phân công lại lao động ở nông thôn. Tuy nhiên, cần chú ý hơn tới chuỗi VA.

 Cần tập trung thu hút FDI vào lĩnh vực cơ khí chế tạo, chế biến gỗ; cán

thép; vật liệu xây dựng; kể cả vật liệu mới…

 Lĩnh vực công nghệ cao là biểu hiện của việc thực hiện từng bƣớc chuẩn bị

để phát triển kinh tế tri thức ngay trong quá trình CNH, HĐH. Trọng điểm phát triển

cần tập trung vào công nghiệp điện tử (sản xuất linh kiện và lắp ráp các sản phẩm

điện tử dân dụng và điện tử công nghiệp), công nghệ thông tin (gồm cả sản xuất

phần cứng và phần mềm), công nghệ tự động hóa (với các chƣơng trình phần mềm

và các thiết bị cơ - điện tử), công nghệ y tế kỹ thuật cao và công nghệ sinh học.

 Lĩnh vực cơ khí cần đƣợc tập trung đầu tƣ chiều sâu, đổi mới công nghệ,

thiết bị, hiện đại hóa một số khâu then chốt trong ngành cơ khí. Thu hút nguồn vốn

FDI nhằm phát triển một số lĩnh vực nhƣ cơ điện tử, cơ khí chế tạo; từng bƣớc đƣa

ngành cơ khí chế tạo thành ngành công nghiệp mạnh của vùng.

 Ngành công nghiệp chế biến nông sản - lâm - thủy sản cần đƣợc chú trọng

vào các dự án FDI của vùng nhằm phát triển mạnh hoạt động chế biến theo hƣớng công

nghệ hiện đại, sản xuất các sản phẩm cạnh tranh trên thị trƣờng ngoài nƣớc nhƣ: thủy

sản, lƣơng thực, thịt sữa, rƣợu bia, nƣớc giải khát, dầu thực vật, một số quả cây...

 Tăng cƣờng thu hút các dự án FDI ứng dụng công nghệ hiện đại trong xây

dựng; ƣu tiên thu hút các dự án sản xuất vật liệu xây dựng công nghệ cao, chất

lƣợng tốt, đáp ứng nhu cầu xây dựng trong vùng, ngoài vùng và xuất khẩu.

+ Đối với ngành nông nghiệp: mặc dù hiện nay FDI vào nông nghiệp rất thấp,

132

nhƣng khi đầu tƣ vào nông nghiệp rất nhiều nhà ĐTNN ít đầu tƣ tiền vốn vào sản

xuất mà tập trung vào thành lập các Công ty TNHH để xin quyền xuất khẩu, quyền

nhập khẩu và quyền phân phối các sản phẩm nông lâm thuỷ sản hoặc xin bổ sung,

điều chỉnh giấy phép kinh doanh để thực hiện các quyền nêu trên, xu thế này không

phải là định hƣớng và mong muốn của Việt Nam và VKTTĐBB. Nguyên nhân xuất

phát từ: hoạt động sản xuất nông nghiệp gặp nhiều rủi ro; sản xuất mang nặng tính

chất sản xuất nhỏ, đầu tư phân tán, thiếu tính chuyên môn; chiến lược, định hướng

thu hút FDI vào lĩnh vực nông nghiệp chưa được xác định rõ ràng; cơ chế, chính

sách FDI vào lĩnh vực nông nghiệp kém hiệu quả và chưa đủ sức hấp dẫn FDI; công

tác vận động, xúc tiến FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp còn nhiều bất

cập...[28]. Để tăng cƣờng thu hút vốn FDI vào nông nghiệp ở VKTTĐBB cần phải:

 Tiến hành rà soát, xây dựng quy hoạch các vùng nguyên liệu, các cụm chế

biến sản phẩm nông nghiệp, thủy sản theo hƣớng hiện đại, tăng giá trị gia tăng và

sức cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản. Ứng dụng công nghệ sinh

học vào sản xuất các giống mới có hiệu quả cao, bền vững, bảo vệ môi trƣờng; các

dự án phục vụ nông nghiệp nông thôn.

 Xây dựng hàng rào kỹ thuật đối với việc nhập khẩu, phân phối các sản

phẩm nông nghiệp, thủy sản, thuốc bảo vệ thực vật, các chế phẩm nông nghiệp…

Xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế để kiểm tra chất lƣợng, dƣ

lƣợng thuốc bảo vệ thực vật, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm (sự chậm trễ và làm

giảm hiệu quả xuất khẩu một số sản phẩm hoa quả nhƣ vải, nhãn... vì nguyên nhân

thiếu cơ sở đạt chuẩn để kiểm định chất lƣợng).

 Thực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu tƣ theo hƣớng khuyến khích hơn nữa các

dự án FDI sử dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp có năng suất,

chất lƣợng cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới trong các

ngành chăn nuôi, thủy sản.

 Coi trọng và tạo mọi điều kiện để thu hút FDI nhằm phát triển giống cây

nông nghiệp, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản, bảo đảm đủ giống tốt,

giá cả hợp lý đáp ứng nhu cầu sản xuất của nông dân và tiến hành các hoạt động

chuyển giao công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.

 Ƣu tiên các dự án FDI mở rộng tiêu thụ sản phẩm ra nƣớc ngoài, góp phần

tăng đáng kể thị phần của các nông sản chủ lực trên thị trƣờng thế giới...

 Lĩnh vực chăn nuôi cần tập trung thu hút vốn FDI vào: 1) Xây dựng các

trung tâm giống để đảm bảo đủ giống chất lƣợng cao; 2) Phát triển nhanh ngành sản

133

xuất thức ăn gia súc chất lƣợng cao và hệ thống sản xuất giống quy mô lớn; 3)

Khuyến khích sản xuất giống lợn, bò, gia cầm; 4) Giảm thuế nhập khẩu các nguyên

liệu thức ăn nhằm giảm giá thành sản xuất.

 Xây dựng chính sách phù hợp nhằm thu hút vốn FDI khai thác có hiệu quả

mặt nƣớc để nuôi trồng thủy sản, chế biến xuất khẩu đạt tiêu chuẩn quốc tế.

 Các địa phƣơng cần quan tâm thu hút FDI vào xây dựng hệ thống hệ thống

nghiên cứu, thí nghiệm khoa học về giống, bảo đảm đủ giống mới, giống tốt cho sản

xuất đại trà nhằm hạn chế việc nhập khẩu giống trực tiếp cho sản xuất.

 Khuyến khích các dự án FDI nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho nuôi, trồng

thủy sản, xây dựng vùng nuôi, trồng tập trung, gắn với phát triển công nghiệp chế

biến chất lƣợng cao theo phƣơng thức tiến bộ, bảo vệ môi trƣờng.

+ Đối với ngành dịch vụ: các lĩnh vực thuộc ngành dịch vụ có vai trò ngày

càng quan trọng đối với sự tăng trƣởng và phát triển KT-XH. Điều chỉnh cơ cấu

kinh tế theo hƣớng CNH, HĐH không phải chỉ tập trung vào phát triển công nghiệp

mà trên thực tế, việc mở ra các hoạt động dịch vụ trong nhiều trƣờng hợp có ý nghĩa

tạo mũi nhọn đột phá giúp tăng trƣởng nhanh và tạo sự phân công lao động mới.

 Trên cơ sở xem xét thế mạnh và lợi thế, những cơ hội, thách thức trong cạnh

tranh khu vực và quốc tế của các địa phƣơng trong vùng để điều chỉnh cơ cấu đối với

các ngành dịch vụ nhƣ du lịch, ngân hàng, tài chính, bƣu chính - viễn thông... , trong

đó cần thu hút FDI vào dịch vụ bảo hiểm kể cả việc mở rộng hơn các loại dịch vụ và

đối tƣợng sử dụng. Chú trọng phát triển các dịch vụ sản xuất và dịch vụ R&D.

 Để thúc đẩy việc điều chỉnh cơ cấu ngành dịch vụ, cần hƣớng dòng FDI

vào CDCCKT không chỉ riêng khu vực dịch vụ mà còn phục vụ cho CDCCKT

chung của các địa phƣơng trong vùng. Đa dạng hóa các hình thức đầu tƣ nhằm huy

động nguồn vốn FDI vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế có ý nghĩa quan trọng. Đây

là điều kiện để thúc đẩy phát triển dịch vụ du lịch, vận tải và lƣu thông hàng hóa nhƣ

đầu tƣ vào giao thông vận tải, cảng biển, bến bãi, dịch vụ logistic ...

 Tập trung đầu tƣ mới có trọng điểm, kết hợp với đầu tƣ chiều sâu, phát triển

theo hƣớng đón đầu sự hội tụ bƣu chính - viễn thông - tin học và điện tử. Khuyến khích

để FDI đầu tƣ phát triển bƣu chính - viễn thông nông thôn, góp phần đẩy nhanh quá

trình phát triển và CDCC nông nghiệp và kinh tế nông thôn từng bƣớc tạo ra nhu cầu và

tạo tiền đề cho khai thác, phát triển thị trƣờng tiềm năng trong tƣơng lai.

 Một hƣớng hết sức quan trọng cần mở rộng hơn nữa trong thời gian tới là

thu hút FDI đầu tƣ vào phát triển hạ tầng và khu đô thị mới ở các địa phƣơng. Phát

134

triển các ngành dịch vụ đô thị nhƣ phát triển hạ tầng các khu du lịch và các điểm du

lịch, vui chơi giải trí, các trung tâm giao dịch về tài chính, ngân hàng, các trung tâm

thƣơng mại, các sàn giao dịch chứng khoán, ...

 Ƣu đãi các dự án FDI đầu tƣ xây dựng các khu công nghệ cao, đào tạo cán

bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao.

 Để thu hút FDI đầu tƣ có hiệu quả, cần sớm hình thành đồng bộ các định

chế thúc đẩy đổi mới công nghệ, phát triển thị trƣờng công nghệ; sàn giao dịch điện

tử về công nghệ, hoàn thiện chính sách và cơ chế về quyền sở hữu trí tuệ, quyền chia

sẻ lợi ích đối với sản phẩm mới.

 Tăng cƣờng quan hệ hợp tác, kêu gọi các nhà FDI vào lĩnh vực giáo dục và

đào tạo với một số hình thức thích hợp mà các địa phƣơng có thể kiểm soát đƣợc.

 Mở rộng tự do hóa đầu tƣ theo hƣớng cho phép các nhà ĐTNN đƣợc đầu

tƣ kinh doanh nhiều hơn trong các lĩnh vực mà hiện còn hạn chế nhƣ lĩnh vực kinh

doanh bất động sản và hoạt động dịch vụ có VA cao nhƣ tài chính, ngân hàng, pháp

lý, viễn thông, thƣơng mại.

- Tổ chức thực thi chính sách ưu đãi nhằm tạo điều kiện thuận lợi thu hút FDI

vào những ngành, lĩnh vực và những vùng ưu tiên.

+ Về chính sách thuế:

 Ƣu đãi và giảm thuế thu nhập DN đối với các DN mới thành lập, danh mục

khuyến khích kêu gọi đầu tƣ… để tạo điều kiện cho FIES tích lũy tái đầu tƣ phát triển SX-KD để nuôi dƣỡng và phát triển nguồn thu. Dùng thuế nhƣ một công cụ và

đòn bẩy kinh tế để khuyến khích, phát triển và tăng khả năng hội nhập với các ngành

nghề, lĩnh vực cần kêu gọi vốn FDI.

 Thực hiện chính sách thuế nhập khẩu nhằm khuyến khích các DN công nghệ

sản xuất cơ khí, điện tử, tin học, viễn thông, cơ khí chế tạo, đặc biệt là công nghiệp

sản xuất phụ tùng linh kiện tại Việt Nam. Giảm thuế đối với các sản phẩm trung gian

để khuyến khích sản xuất trong nƣớc, tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động.

 Bổ sung các ƣu đãi cao hơn đối với các dự án chế biến nông, lâm, thủy sản,

đầu tƣ vào nông thôn và địa bàn KT-XH khó khăn của các địa phƣơng.

 Sử dụng các đòn bẩy kinh tế để khuyến khích các FIES hƣớng mạnh hơn nữa vào xuất khẩu (khuyến khích chế biến sâu, có VA cao, sử dụng nguyên liệu sẵn

có của các địa phƣơng).

 Đối với các dự án FDI đặc biệt quan trọng, cần có xử lý đặc cách và có

chính sách hỗ trợ hợp lý trong khuôn khổ những cam kết theo lộ trình hội nhập.

135

 Cần thực hiện chính sách thuế thấp cho các FIES và thực hiện các chính sách thuế ƣu đãi trong các ngành công nghiệp. Phát triển các hoạt động công nghiệp

phụ trợ mà Nhà nƣớc khuyến khích đầu tƣ đối với VKTTĐBB.

 Nên áp dụng thuế thu nhập thấp hơn thuế thu nhập DN thông thƣờng

khoảng 5- 10% cho các dự án FDI trong các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao và các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật phát triển. Miễn, giảm thuế đối với các FIES sử dụng công nghệ tiên tiến, đầu tƣ vào lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tƣ góp phần tích

cực điều chỉnh cơ cấu kinh tế thì đƣợc hƣởng chính sách miễn giảm thuế thu nhập

DN, thuế nhập khẩu và thuế VAT ƣu đãi hơn so với quy định hiện hành.

 Miễn thuế nhập khẩu cho các dự án FDI hình thành các trung tâm nghiên

cứu và phát triển đạt hiệu quả kinh tế, có công nghệ phù hợp, tiên tiến hoặc hiện đại,

công nghệ nguồn,...

+ Về chính sách tài chính, tín dụng:

 Thực thi chính sách ngoại hối linh hoạt đối với thị trƣờng để thu hút FDI. Có

biện pháp kiểm soát ngoại tệ phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể. Từng bƣớc thực

hiện tự do hóa có điều kiện việc chuyển đổi ngoại tệ đối với các giao dịch vãng lai.

 Các FIES đƣợc tiếp cận thị trƣờng vốn; đƣợc vay tín dụng, kể cả trung và dài hạn, tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam tùy thuộc vào hiệu quả kinh tế, khả

năng trả nợ của dự án và có thể đảm bảo bằng tài sản của công ty mẹ ở nƣớc ngoài.

 Phát triển mạnh thị trƣờng vốn để các DN có thể góp vốn bằng các nguồn

huy động dài hạn nhƣ: trái phiếu, cổ phiếu; tiến tới thực hiện cổ phần hóa các FIES.

 Xây dựng quy chế quản lý hoạt động tài chính của các FIES; ban hành các chuẩn mực kế toán, kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các FIES; đồng thời đảm bảo sự quản lý của Nhà nƣớc đối với hoạt động tài chính của FIES.

- Linh hoạt việc chuyển đổi hình thức FDI nhằm sức hấp dẫn để thu hút vốn

FDI vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn trọng điểm góp phần CDCCKT. FDI dù

dƣới hình thức nào cũng có tác động tích cực, đóng góp vào quá trình tăng trƣởng và

phát triển KT-XH nếu dự án triển khai tốt. Trong hoàn cảnh của các địa phƣơng mà

nhiều nguồn lực chƣa đƣợc khai thác, các DN trong nƣớc còn hạn chế về năng lực

tài chính, công nghệ, trình độ quản lý và kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, cần linh

hoạt việc chuyển đổi hình thức FDI theo hƣớng:

+ Khuyến khích mạnh hơn hình thức DN 100% vốn FDI đối với những dự án

sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới; các dự án có quy mô vốn đầu tƣ lớn, thời

136

gian thu hồi vốn dài, độ rủi ro cao, tỷ suất lợi nhuận thấp. Mở rộng cho phép đầu tƣ

theo hình thức DN 100% FDI đối với một số lĩnh vực yêu cầu phải liên doanh nhƣ

kinh doanh xây dựng, kinh doanh hạ tầng KCN, xây dựng khu thể thao, vui chơi giải

trí, trồng rừng hoặc trồng cây công nghiệp lâu năm, các dự án trƣờng dạy nghề,

trƣờng công nhân kỹ thuật.

+ Linh hoạt chuyển đổi hình thức đầu tƣ từ DN liên doanh sang DN 100%

vốn FDI trong trƣờng hợp DN làm ăn bị thua lỗ kéo dài; các đối tác liên doanh mâu

thuẫn nghiêm trọng nhƣng chƣa tìm đƣợc đối tác khác thay thế dẫn đến liên doanh

có nguy cơ đổ vỡ hoặc trong trƣờng hợp liên doanh thuộc ngành khuyến khích đầu

tƣ đang hoạt động bình thƣờng nhƣng đối tác trong nƣớc muốn rút vốn để đầu tƣ vào

các dự án khác có hiệu quả hơn. Việc chuyển đổi DN liên doanh thành DN 100%

vốn FDI phải đảm bảo điều kiện giữ đƣợc việc làm cho ngƣời lao động; phía Việt

Nam bảo toàn đƣợc vốn góp hoặc chịu rủi ro ở mức thấp nhất.

Đa dạng hóa các hình thức FDI để khai thác các kênh đầu tƣ mới nhƣ công ty hợp danh, công ty quản lý vốn, chuyển đổi FIES sang hoạt động theo loại hình công ty cổ phần và tạo điều kiện cho các DN này đƣợc đăng ký tại thị trƣờng chứng

khoán, thực hiện hình thức M&A, quỹ đầu tƣ... tạo cơ chế thúc đẩy sự phát triển của

FDI làm động lực hỗ trợ cho thu hút FDI nhằm CDCCKT.

- Đa dạng hóa các dòng vốn, coi trọng thu hút vốn từ các tập đoàn kinh tế lớn

và các dự án VA cao:

+ Định hƣớng thu hút vốn FDI từ những nƣớc có công nghệ nguồn nhƣ Mỹ,

Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc… vào VKTTĐBB để có thể đi tắt đón đầu trong một số

lĩnh vực công nghệ. Có những chính sách xúc tiến và thu hút vốn FDI từ những

MNCs, những tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới. Vì công nghệ mà các công ty và tập

đoàn này sử dụng và chuyển giao là công nghệ cao và ít gây ô nhiễm môi trƣờng.

Ngoài ra, các tập đoàn này giúp các địa phƣơng tham gia đào tạo kỹ năng cho nguồn

nhân lực, kết nối mạng lƣới sản xuất, thị trƣờng và nghiên cứu triển khai toàn cầu của

họ; các tập đoàn kinh tế hàng đầu thƣờng thực hiện những dự án với giá trị vốn lớn có

tính khả thi cao và đƣợc thực hiện nhanh chóng tạo điều kiện cho các nhà đầu tƣ và

DN trong vùng nắm bắt đƣợc những xu hƣớng SX-KD đang diễn ra trên toàn cầu.

+ Các DN trong vùng cần tận dụng những lợi ích lan tỏa từ việc thu hút đầu tƣ

của các MNCs và các tập đoàn kinh tế lớn, bằng cách xây dựng chiến lƣợc phát triển

để từng bƣớc tham gia vào chuỗi VA toàn cầu với tƣ cách là nhà thầu phụ, nhà cung

ứng các dịch vụ đầu vào và đầu ra, cung ứng nguồn lao động, đặc biệt là lao động có

137

chất lƣợng cao. Chính quyền các địa phƣơng trong vùng cũng cần có những chính

sách riêng hỗ trợ cho các DN của VKTTĐBB trong việc phát triển các ngành công

nghiệp phụ trợ, kể cả trong việc liên doanh với nƣớc ngoài.

4.2.1.5. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Đề cao vai trò các hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại. Việt Nam đang

hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và toàn cầu. Trong quá trình đó, FDI là một

hình thức hội nhập quan trọng. Vì thế, hoạt động đổi mới, đẩy mạnh và nâng cao

hiệu quả công tác vận động, xúc tiến đầu tƣ cần đƣợc đặc biệt coi trọng trong giai

đoạn cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay. Để nâng cao hiệu quả công tác này,

trƣớc hết cần lập chƣơng trình hành động quốc gia, vùng và cấp địa phƣơng về xúc

tiến FDI đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030.

Phối kết hợp một cách chặt chẽ và nhịp nhàng hơn giữa các cơ quan xúc tiến đầu

tƣ, thƣơng mại và xúc tiến du lịch của các cơ quan trung ƣơng với các tổ chức của địa

phƣơng. Việc phối kết hợp này sẽ khiến cho công tác xúc tiến và thu hút FDI trong

vùng đƣợc tiến hành theo một hƣớng thống nhất, tránh việc lãng phí do chồng chéo

cũng nhƣ tiết kiệm đƣợc nguồn lực. Sau khi xúc tiến đầu tƣ thành công nên có công tác

hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tƣ. Ngoài ra, các địa phƣơng trong

vùng cũng cần tìm hiểu cơ chế hoạt động và thông tin từ Tổ chức Xúc tiến Đầu tƣ Thế

giới (WAIPA), nhằm nắm bắt đƣợc những xu hƣớng phát triển mới nhất của FDI trên

thế giới và học hỏi các kinh nghiệm tốt nhất trong việc xúc tiến đầu tƣ.

- Đổi mới nội dung công tác xúc tiến đầu tư để tăng cường thu hút FDI nhằm

CDCCKT ở VKTTĐBB (xem phụ lục 30.3, 30.4):

+ Cần xác định xúc tiến đầu tƣ, thƣơng mại là nhiệm vụ của các cấp, các

ngành trong phạm vi toàn vùng.

+ Các địa phƣơng thƣờng xuyên rà soát, cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi

đầu tƣ phù hợp với nhu cầu đầu tƣ phát triển của ngành và các địa phƣơng. Trên cơ

sở quy hoạch các ngành, vùng kinh tế và danh mục các dự án kêu gọi đầu tƣ đã đƣợc

duyệt, cần có kế hoạch chủ động vận động, xúc tiến đầu tƣ một cách cụ thể, trực tiếp

đối với từng dự án, trực tiếp với từng tập đoàn, công ty và nhà đầu tƣ có tiềm năng.

+ Các cơ quan của chuyên môn ở các tỉnh, thành có liên quan cần tổ chức, phối

hợp nghiên cứu tình hình kinh tế, thị trƣờng đầu tƣ, chính sách của các nƣớc, các

TNCs, MNCS, để có chính sách vận động thu hút FDI phù hợp; đồng thời nghiên cứu hệ thống luật pháp, chính sách thu hút FDI của các nƣớc trong khu vực, của các địa

phƣơng khác để kịp thời có đối sách thích hợp trong môi trƣờng cạnh tranh.

138

+ Một vấn đề hết sức quan trọng là cơ quan quản lý của cấp tỉnh cần phối

hợp, tập trung chỉ đạo và hỗ trợ kịp thời các nhà đầu tƣ đang có dự án hoạt động

hiện nay, giúp họ giải quyết tốt các vấn đề phát sinh, đó là biện pháp có ý nghĩa rất

quan trọng để vận động có hiệu quả và có sức thuyết phục nhất đối với các nhà đầu

tƣ mới, tạo môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi, thông thoáng.

+ Đổi mới mạnh mẽ về nội dung và phƣơng thức vận động, xúc tiến đầu tƣ

theo một chƣơng trình chủ động, có hiệu quả phù hợp với từng địa bàn, từng lĩnh

vực và từng đối tƣợng của các địa phƣơng trong vùng. Đồng thời cần tăng cƣờng bộ

phận xúc tiến đầu tƣ tại các cơ quan đại diện ở một số địa bàn trọng điểm ở nƣớc

ngoài để chủ động vận động, xúc tiến FDI đối với từng dự án, từng tập đoàn, công

ty, nhà đầu tƣ có tiềm năng, nhất là TNCs, MNCS.

+ Thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện công tác xúc tiến đầu tƣ của

vùng: gồm các cán bộ của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng trong vùng,

nắm vững tình hình phát triển KT-XH của địa phƣơng; có trình độ chuyên môn kỹ

thuật, nghiệp vụ, ngoại ngữ và có kinh nghiệm trong tuyên truyền vận động, có khả

năng giao tiếp; hiểu biết luật pháp, chính sách nƣớc ta, thông lệ quốc tế; am hiểu quy

trình, trình tự, thủ tục đầu tƣ và có khả năng tháo gỡ vƣớng mắc trong quá trình thực

hiện đầu tƣ. Đồng thời phải cung cấp cho tổ chức xúc tiến đầu tƣ có đầy đủ kinh phí,

trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất bảo đảm hoạt động. Nguồn kinh phí đƣợc huy

động từ Trung ƣơng, địa phƣơng, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế,..

+ Lập quỹ xúc tiến đầu tƣ chung nhằm đảm bảo nguồn kinh phí cho công tác

xúc tiến, vận động đầu tƣ hàng năm theo hƣớng trích một tỷ lệ % từ nguồn đóng góp

của khu vực FIE để trang trải công tác vận động xúc tiến đầu tƣ của các địa phƣơng.

+ Cụ thể hóa phù hợp với điều kiện của vùng đối với các cam kết quốc tế của

Việt Nam đã ký kết nhƣ: Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản về cải thiện môi

trƣờng đầu tƣ và tăng cƣờng năng lực cạnh tranh, Hiệp định thƣơng mại Việt Nam-

Hoa Kỳ, TPP… Đẩy mạnh đàm phán và đi đến ký kết và thực thi các thỏa thuận

thƣơng mại tự do (FTAs)trong năm 2015, gồm: Hình thành Cộng đồng kinh tế

ASEAN (AEC), ASEAN + 6 nƣớc đối tác (RCEP); Việt Nam-EU; Hiệp định đối tác

chiến lƣợc xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP); Việt Nam-Hàn Quốc; Việt Nam-Liên

minh hải quan Nga, Belarus, Kazaxtan; Việt Nam-4 nƣớc Trung, Bắc Âu (EFTA)…

+ Các tỉnh thành cần thực hiện xã hội hóa và quốc tế hóa công tác xúc tiến

ĐTNN. Xác định thu hút FDI là công việc của các tổ chức, của các cá nhân trong và

ngoài địa bàn. Phát huy vai trò của các cá nhân trong việc thu hút FDI khi thƣơng

139

hiệu của DN gắn liền với tên tuổi của những chuyên gia trình độ cao nhƣ các ngành

y tế, giáo dục, các lĩnh vực có công nghệ nguồn, công nghệ cao. Nhiều khi mối quan

hệ cá nhân lại giải quyết đƣợc nhiều vấn đề, nhất là tiếp xúc với các cộng đồng DN

có tiếng nói quan trọng ở các nƣớc phát triển.

+ Mỗi DN trong nƣớc hay của nƣớc ngoài đang hoạt động ở vùng cũng cần

chủ động tiếp xúc với các đối tác nƣớc ngoài của mình, đƣa ra các triển vọng đầu tƣ,

thuyết phục các đối tác nƣớc ngoài cùng liên doanh, liên kết với mình hay thành lập

các DN hỗ trợ lẫn nhau hoạt động ở Việt Nam.

+ Khai thác tốt lực lƣợng ngƣời Việt Nam có am hiểu về mảnh đất và con

ngƣời của các tỉnh, thành đang định cƣ ở nƣớc ngoài để tham gia vận động thu hút

vốn FDI - Đây là một lực lƣợng đáng kể có hiểu biết về truyền thống văn hóa Việt

Nam và các nƣớc khác, họ là cầu nối rất tốt để giới thiệu môi trƣờng và hình ảnh đầu

tƣ. Đặc biệt cần có cơ chế, chính sách để các tổ chức nƣớc ngoài tham gia vào các

hoạt động xúc tiến thu hút vốn FDI ở các địa phƣơng trong vùng.

+ Tổ chức hiệu quả các cuộc hội thảo ở trong nƣớc và nƣớc ngoài, tăng cƣờng

sự tiếp xúc của lãnh đạo các tỉnh với các FIES. Nâng cấp trang thông tin điện tử về FDI, cập nhật và nâng cao chất lƣợng tài liệu xúc tiến đầu tƣ bằng một số ngôn ngữ

đáp ứng nhu cầu của số đông nhà đầu tƣ (tiếng Anh, Nhật, Trung, Hàn, Nga ...).

+ Tăng cƣờng các đoàn vận động đầu tƣ theo phƣơng thức làm việc trực tiếp

với các tập đoàn lớn, tại các địa bàn trọng điểm (Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và EU)

để kêu gọi đầu tƣ vào các dự án lớn, quan trọng. Chủ động tiếp cận và hỗ trợ các nhà

đầu tƣ tiềm năng có nhu cầu đầu tƣ vào VKTTĐBB.

4.2.1.6. Thu hút có hiệu quả thành tựu khoa học công nghệ từ đầu tư trực

tiếp nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương

Một trong những vai trò quan trọng của FDI là chuyển giao công nghệ.

Chuyển giao công nghệ mang một hàm ý rộng, bao gồm không chỉ từ nhập khẩu

công nghệ đơn thuần mà còn vận hành công nghệ đó, sửa chữa, bảo hành, nắm vững

các nguyên lý, mô phỏng và phát triển nó.

Muốn CDCCKT cần phải dựa trên cơ sở sự phát triển lớn mạnh của các ngành

sản xuất vật chất, trong đó cần chú trọng trƣớc hết là phát triển công nghiệp theo

hƣớng hiện đại, mở rộng quy mô, nâng cao chất lƣợng sản phẩm và gia tăng khả năng

cạnh tranh để làm tiền đề cho phát triển ngành dịch vụ. Trên thực tế, mức độ đầu tƣ

chiều sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị trong các ngành nhìn chung chƣa đáp ứng yêu

cầu phát triển theo hƣớng CNH, HĐH. Chỉ một số DN mới đầu tƣ và sản xuất hàng

140

xuất khẩu đƣợc trang bị đồng bộ, còn lại đa số các cơ sở sản xuất đƣợc đánh giá thuộc

trình độ công nghệ ở mức thấp, do đó sức cạnh tranh thấp. Do vậy, FDI là một nhân tố

quan trọng nhằm bổ sung nguồn vốn cho phát minh công nghệ, đổi mới và cải tiến

công nghệ, khắc phục tình trạng lạc hậu của công nghệ đối với các địa phƣơng trong

vùng; đồng thời FDI cũng kéo theo quá trình chuyển giao công nghệ, để từ đó các địa

phƣơng có thể tiếp nhận và nhập khẩu đƣợc công nghệ tiên tiến, công nghệ phù hợp từ

nƣớc ngoài và các nƣớc có trình độ công nghệ tiên tiến (xem phụ lục 30.5).

Vùng KTTĐBB là một “đầu tàu kinh tế” nhƣng đang trong quá trình phát

triển, đẩy mạnh CNH, HĐH. FDI đƣợc coi nhƣ là một phƣơng tiện hữu hiệu để nhập

khẩu công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoài. Thông qua FDI, các địa phƣơng

có điều kiện xuất khẩu công nghệ trung gian và truyền thống hoặc chuyển giao công

nghệ có lợi cho cả hai bên. Do đó, cần có những biện pháp và chính sách cởi mở

nhằm đẩy mạnh thu hút vốn FDI và nhập khẩu những ngành công nghiệp mới với

công nghệ mới, tiên tiến qua đó tạo điều kiện thúc đẩy CDCCKT.

Cần có biện pháp thu hút các dự án chuyển giao công nghệ ở trình độ tiên tiến

đến hiện đại trên thế giới vào các tỉnh. Thông qua các dự án FDI có công nghệ cao,

việc tiếp nhận công nghệ sẽ tạo điều kiện để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ phục

vụ trong nƣớc và xuất khẩu, nhằm CDCCKT theo hƣớng xuất khẩu.

Vai trò lan toả của KHCN trong quá trình chuyển giao từ hoạt động FDI góp

phần CDCCKT là rất quan trọng giữa các địa phƣơng trong vùng. Đồng thời, KHCN

có giá trị lan toả trên địa bàn góp phần thúc đẩy chuyển giao KHCN giữa các ngành

kinh tế, giữa các TPKT. Mặt khác, KHCN có ý nghĩa lan toả đối với các tỉnh khác

giúp cho quá trình giao lƣu thúc đẩy CDCCKT. Tận dụng những tác động tích cực và

khắc phục những tiêu cực của chuyển giao KHCN trong thu hút FDI nhằm CDCCKT.

4.2.1.7. Nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng

yêu cầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Để có nguồn nhân lực chất lƣợng, đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tƣ và phát

triển KT-XH cần giải quyết các vấn đề sau:

- Việc xây dựng đƣợc quy hoạch phát triển nguồn nhân lực cho toàn vùng còn

nhiều hạn chế nhƣ việc các tỉnh trong vùng tự xây dựng quy hoạch riêng cho từng

tỉnh, chƣa có sự liên kết chặt chẽ giữa các tỉnh trong vùng. Do vậy trong thời gian

tới cần tập trung vào một số nội dung sau:

+ Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực chung cho cả VKTTĐBB là một việc

làm cần thiết và đòi hỏi có sự bàn bạc, thảo luận chung.

141

+ Xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực theo hƣớng tăng cƣờng sự

liên kết của các tỉnh trong VKTTĐBB gắn với yêu cầu, mục tiêu chiến lƣợc phát

triển KT-XH của vùng. Đồng thời, tạo nên những đột phá mới trong tăng trƣởng.

+ Khảo sát, đánh giá cả về số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu ngành nghề, đặc

biệt quan tâm đến tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng và tay nghề. Đồng thời,

xác định những ngành nào cần phải đào tạo hiện nay và tƣơng lai gần để định hƣớng

cho các cơ sở đào tạo. Ngay từ giai đoạn đầu khi lập dự án FDI cần có sự phối hợp

giữa nhà ĐTNN với cơ quan quản lý lao động ở địa phƣơng để nắm rõ nhu cầu

nguồn lao động, từ đó đào tạo lao động phù hợp cho dự án.

+ Quy hoạch lại hệ thống các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho vùng, nhất là

hệ thống cơ sở đào tạo nghề, hệ thống cơ sở đào tạo lao động kỹ thuật chất lƣợng

cao, lao động quản lý. Các địa phƣơng trong vùng cần nhìn nhận lại việc thành lập

các trƣờng đại học tràn lan nhƣ hiện nay. Cần quy hoạch mạng lƣới cơ sở đào tạo hệ

cao đẳng, đại học cho phù hợp nhu cầu thực tế của vùng, tiến tới hiện đại hóa, phát

triển một số trƣờng đại học trọng điểm đạt chuẩn trong khu vực.

- Với vai trò là đầu tàu kinh tế trong tăng trƣởng, tác động lan tỏa, dẫn dắt các

vùng khác cùng phát triển, VKTTĐBB rất cần phải xây dựng khung chính sách gắn

với đặc thù và tạo cho vùng có tính chủ động cao trong phát triển ở tất cả các lĩnh

vực, trong đó có lĩnh vực phát triển nguồn lực con ngƣời. Do vậy:

+ Các chính sách phát triển nguồn nhân lực VKTTĐBB cần đƣợc xây dựng

theo hƣớng khai thác và phát huy đƣợc những lợi thế riêng có của vùng nhƣ tập

trung và tạo thuận lợi cho việc hình thành và phát triển đội ngũ nhân lực chất lƣợng

cao, nhất là đội ngũ nhân lực quản lý hành chính nhà nƣớc, đội ngũ các nhà khoa

học và công nghệ (đặc biệt là nhóm chuyên gia đầu ngành), đội ngũ doanh nhân,

chuyên gia quản trị DN chuyên nghiệp.

+ Các chính sách phát triển nguồn nhân lực cần đƣợc xây dựng đồng bộ, tạo

điều kiện và môi trƣờng hình thành đội ngũ nhân lực có thể chất tốt, phát triển toàn

diện về trí tuệ, ý chí, năng lực, có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, tác phong làm

việc, tinh thần kỷ luật cao. Đây chính là cách thức để vùng có thể phát triển và thu

hút FDI vào các ngành mũi nhọn có hàm lƣợng chất xám cao, là cách thức để vùng

có thể trở thành một vùng kinh tế năng động, có sự phát triển nổi trội về kinh tế và

tạo sức lan tỏa mạnh mẽ tới các vùng khác trong cả nƣớc.

+ Các chính sách phát triển nguồn nhân lực nói chung và các chính sách phát

triển nguồn nhân lực VKTTĐBB nói riêng cần đƣợc xây dựng phù hợp với xu

142

hƣớng phát triển, đặc biệt phải gắn với yêu cầu của CDCCKT, hội nhập KTQT và

yêu cầu phát triển bền vững của vùng.

- Đối với đội ngũ cán bộ quản lý phía Việt Nam:

+ Tăng cƣờng đào tạo, bồi dƣỡng số lao động làm việc trong các FIES và cả những cán bộ đang làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nƣớc liên quan đến hoạt

động FDI nhƣ: văn phòng Hội đồng nhân dân, UBND, Sở Kế hoạch và Đầu tƣ, Sở

ngoại vụ, Ban quản lý các KCN, Sở xây dựng, Sở Khoa học và Công nghệ và Sở Tài

nguyên và Môi trƣờng, Sở Lao động thƣơng binh và xã hội...

+ Lựa chọn một số cán bộ có trình độ, kiến thức, có phẩm chất chính trị, đạo

đức tốt... đƣa đi đào tạo ở nƣớc ngoài để nâng cao kỹ năng quản lý, điều hành, đối

thoại... đủ sức đại diện cho phía Việt Nam khi tham gia liên doanh.

+ Tổ chức Câu lạc bộ các nhà DN, với các hình thức sinh hoạt, hội thảo, hội

nghị... để các nhà DN có thể trao đổi, học tập các kinh nghiệm quản lý, điều hành.

+ Nghiên cứu, thành lập một số trung tâm đào tạo kiến thức hoạt động FDI

nhằm đào tạo những chuyên gia giỏi, lực lƣợng kế cận có kiến thức về lĩnh vực FDI,

chỉ những ai qua khóa đào tạo này mới đủ điều kiện làm các công tác liên quan đến

FDI tại cơ quan quản lý Nhà nƣớc hoặc cử làm việc tại các FIES.

+ Ban hành nhanh chóng quy chế quản lý cán bộ do bên Việt Nam cử làm cho

các liên doanh theo hƣớng vừa đảm bảo phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, vừa

đảm bảo quyền lợi của bên Việt Nam trong liên doanh, quyền lợi của địa phƣơng,

của quốc gia. Tăng cƣờng công tác kiểm tra thƣờng xuyên đội ngũ này để tránh tình

trạng cán bộ thoái hóa, biến chất có thể xảy ra.

- Tăng cƣờng đầu tƣ cho giáo dục - đào tạo ở tất cả các cấp, các bậc học đáp

ứng yêu cầu ngày càng cao về số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu

cầu của các nhà ĐTNN. Trong điều kiện hiện nay của VKTTĐBB, chính sách đầu tƣ

cho giáo dục đào tạo nên hoàn thiện theo hƣớng:

+ Tăng cƣờng đầu tƣ hơn cho giáo dục dạy nghề để thực hiện đào tạo nghề và

thu hút đƣợc ngƣời học, coi trọng và đổi mới công tác hƣớng nghiệp:

 Cần định hƣớng đúng đắn nghề nghiệp, cung cấp đầy đủ thông tin về các

ngành nghề, thông tin về nhu cầu của vùng đối với các ngành nghề đó cho mọi

ngƣời có cái nhìn đúng đắn về việc học nghề, để họ thấy rằng có rất nhiều lựa chọn

cho nghề nghiệp, mà không nhất thiết phải vào đại học.

 Thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo nghề và phƣơng thức đào tạo.

Bên cạnh các trƣờng công lập, cần tạo chính sách thuận lợi để khuyến khích và hỗ

143

trợ các DN thuộc mọi TPKT tăng đầu tƣ kinh phí để xây dựng, phát triển hệ thống

đào tạo trong DN, thông qua đó góp phần đào tạo trực tiếp nguồn nhân lực cho DN.

 Thực hiện chuẩn hóa trong đào tạo nghề, từ nội dung, chƣơng trình học,

phƣơng pháp đào tạo đến đội ngũ giáo viên. Đồng thời, đầu tƣ, hiện đại hóa hệ

thống máy móc, mô hình phục vụ cho giảng dạy và học tập nghề.

 Thực hiện cổ phần hóa các cơ sở dạy nghề công lập nhằm giảm bớt khó

khăn cho Nhà nƣớc, đồng thời tăng tính hiệu quả, năng động của các cơ sở đào tạo.

 Tiếp tục có chính sách hỗ trợ cho con em ngƣời nghèo, đồng bào dân tộc

có điều kiện học tập không chỉ ở bậc trung học, mà cả bậc đại học; hỗ trợ đào tạo

nghề cho lao động nông thôn, nhất là con em nông dân bị nhà nƣớc thu hồi đất nông

nghiệp phục vụ phát triển công nghiệp, mở rộng đô thị và xây dựng kết cấu hạ tầng.

+ Với lợi thế riêng vốn có của vùng với sự tập trung hầu hết các trung tâm đào

tạo và nghiên cứu, các cơ quan đầu não của Nhà nƣớc, VKTTĐBB cần thêm các chính

sách ƣu đãi đầu tƣ để hình thành và phát triển các cơ sở đào tạo tiên tiến, hiện đại và

năng động. Xây dựng khung chƣơng trình đào tạo theo chuẩn thế giới. Có thể lựa chọn

và sử dụng ngay các chƣơng trình, giáo trình của các nƣớc tiên tiến đang áp dụng.

+ Hoàn thiện các chính sách thu hút vốn đầu tƣ từ các TPKT, các nhà đầu tƣ

trong và ngoài nƣớc cho giáo dục đào tạo và dạy nghề.

+ Hoàn thiện chính sách đầu tƣ nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên, giảng

viên, nhất là đội ngũ giáo viên dạy nghề. Cụ thể:

 Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên, giảng viên và

thiết lập hệ thống đánh giá định kì giáo viên theo tiêu chuẩn.

 Có chính sách ƣu tiên và tạo cơ hội cho giảng viên đại học đƣợc đi học tập,

bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ ở nƣớc ngoài.

 Các trƣờng đại học cần tăng cƣờng liên kết với các DN trong vùng và có

cơ chế buộc các giảng viên phải đi thực tế tại DN nhằm nâng cao kiến thức thực tế.

 Từng bƣớc hoàn thiện quy chế làm việc và chính sách lƣơng đối với giáo

viên, giảng viên để họ có thể sống bằng lƣơng, có thể chuyên tâm vào công việc, đầu

tƣ nhiều thời gian và công sức cho công việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học,

nâng cao chất lƣợng giảng dạy đồng thời loại bỏ đƣợc những tiêu cực phát sinh

trong giáo dục đào tạo nhƣ dạy thêm, học thêm,…

4.2.1.8. Xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng

hiện đại, tạo sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài

Trong thời gian tới, để tạo sức hút đối với các nhà ĐTNN, các địa phƣơng

144

trong VKTTĐBB cần phải:

- Thực hiện chính sách đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng, hƣớng tới việc đồng bộ

hóa kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật, xã hội đảm bảo nâng cao chất lƣợng hệ thống

cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã

hội và phát triển bền vững. Cụ thể, cần ƣu tiên đầu tƣ để đảm bảo kết nối giao thông

đƣờng bộ giữa các địa phƣơng trong vùng với 6 hành lang vận tải chính gồm: Bắc -

Nam; Hà Nội - Hải Phòng; Hà Nội - Quảng Ninh; Hà Nội - Lào Cai; Hà Nội - Lạng

Sơn; Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh.

- Tập trung mọi nguồn lực vốn, kỹ thuật trong vùng, coi trọng nguồn vốn nƣớc

ngoài với mọi hình thức đầu tƣ để xây dựng đƣợc hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ,

có khả năng liên kết các địa phƣơng trong VKTTĐ với các địa phƣơng khác trong cả

nƣớc, đảm bảo việc lƣu thông thuận tiện với thế giới và khu vực. Cụ thể:

+ Ngoài những nguồn vốn khai thác từ quỹ đất để phát triển kết cấu hạ tầng

mà các địa phƣơng trong vùng đã làm khá hiệu quả, cần phát huy tối đa các nguồn

lực từ ngân sách nhà nƣớc, các TPKT, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc cho

đầu tƣ phát triển kết cấu hạ tầng.

+ Từng bƣớc khắc phục tình trạng đầu tƣ dàn trải, không trọng điểm, lãng phí

nhiều thời gian, hiệu quả không cao. Tập trung vốn đầu tƣ vào những công trình

trọng điểm, những công trình mà có tác động lớn về mặt KT-XH.

+ Những công trình chƣa thật sự cần thiết thì có thể tạm thời chƣa thi công,

thay vào đó là khuyến khích các nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc đầu tƣ theo phƣơng

thức BOT, BTO, BT trong xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật. Những nơi mà nhà

đầu tƣ tự bỏ vốn để xây dựng kết cấu hạ tầng thì có kế hoạch chi trả hoặc động viên

thích đáng để tạo niềm tin cho nhà đầu tƣ.

+ Thí điểm phát trái phiếu kết cấu hạ tầng đô thị cho đầu tƣ một số công trình

quan trọng, đề xuất với Bộ Tài chính tạo điều kiện cho các địa phƣơng trong vùng

đƣợc vay vốn nƣớc ngoài để đầu tƣ một số dự án có tính khả thi cao, có yêu cầu đầu

tƣ nhanh trên cơ sở kiểm soát đƣợc nợ, đảm bảo khả năng và tiến độ trả nợ.

+ Tranh thủ giải quyết nguồn vốn FDI, FII... để phát triển kết cấu hạ tầng, coi

trọng nguồn vốn trong nhân dân, tiến hành đầu tƣ theo phƣơng thức "Nhà nƣớc và

nhân dân cùng làm" hoặc “Nhân dân làm, Nhà nƣớc hỗ trợ”. Chú trọng các nguồn

vốn đầu tƣ theo phƣơng thức PPP.

+ Xây dựng các dự án vay vốn nƣớc ngoài thông qua con đƣờng vay tín dụng

ƣu đãi dài hạn của WB, IMF, ADB để phát triển những cơ sở hạ tầng có tính then

145

chốt cho các địa phƣơng, các KCN, các khu du lịch dịch vụ quan trọng.

+ Thực hiện liên doanh, liên kết với các nhà đầu tƣ, các tập đoàn kinh tế lớn ở

trong và ngoài nƣớc để hợp tác làm ăn, hoặc giúp đỡ đào tạo chuyên gia, cán bộ

quản lý, cán bộ kỹ thuật.

+ Xây dựng cơ chế quản lý, sử dụng vốn một cách chặt chẽ, thực hiện tốt các

nguyên tắc, chế độ, thể lệ tài chính. Cần sử dụng tốt vốn đầu tƣ trong xây dựng cơ sở

hạ tầng, làm thế nào để nguồn vốn đầu tƣ phát huy tốt, không bị lãng phí, chất lƣợng

công trình đảm bảo, đạt các tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật đã định.

+ Thực hiện đúng các quy định về sử dụng vốn. Có kế hoạch cung cấp vốn

đầu tƣ kịp thời.

- Phối hợp xây dựng và nâng cao chất lƣợng kết cấu giao thông đƣờng bộ;

đồng bộ hóa hệ thống điện nƣớc, đƣờng sá, thông tin liên lạc ở các khu, cụm công

nghiệp theo hƣớng từ Đông Bắc đến Tây Nam (chủ yếu bám theo quốc lộ 18, quốc

lộ 2, vành đai 5 và hạn chế phát triển thêm trên quốc lộ 5).

- Quan tâm một cách toàn diện đến hệ thống trƣờng học, bệnh viện, trạm y tế,

các trung tâm văn hoá, khu vui chơi giải trí, các công trình văn hoá du lịch, các khu

dân cƣ, khu đô thị... Bởi vì, đó chính là những điều kiện bảo đảm cho sinh hoạt

thƣờng ngày cho ngƣời lao động, là cơ sở tạo ra sức hút đối với các nhà đầu tƣ nƣớc

ngoài, nhất là khi họ có ý định làm ăn lâu dài tại các địa phƣơng trong vùng.

4.2.1.9. Phát triển mạnh các ngành công nghiệp hỗ trợ ở các địa phương

theo chuỗi liên kết

Trong dài hạn, để tăng cƣờng tính hấp dẫn trong thu hút FDI cũng nhƣ nhằm

hƣớng tới sự phát triển ổn định và bền vững, các địa phƣơng phải phát triển các ngành

công nghiệp hỗ trợ để cung cấp nguyên liệu đầu vào cần thiết cho các ngành công

nghiệp. Bởi vì, hầu hết các công ty và các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới hiện nay

cũng chỉ giữ lại trong quy trình SX-KD các khâu nghiên cứu, sản xuất các bộ phận

chủ yếu hay các công đoạn quan trọng nhƣ lắp ráp. Khi tiến hành hoạt động đầu tƣ

FDI, các công ty này phải nhập nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất.

Việc phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa DN trong nƣớc với FIES. Nhờ sự liên kết này mà giảm đáng kể đƣợc giá thành sản xuất, từ đó nâng cao tính cạnh tranh cho từng sản phẩm, từng DN và cuối cùng

là nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời, khơi dậy những tiềm lực của các DN trong nƣớc và hạn chế sự phụ thuộc quá nhiều vào các FIES. Khi phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ khơi dậy nguồn tài chính trong nƣớc

146

đầu tƣ vào các ngành công nghiệp này.

Vùng KTTĐBB là một trong hai VKTTĐ của cả nƣớc thu hút nhiều dự án FDI

nhất cả nƣớc với số dự án tập trung vào các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng cao.

Trong đó, ngành công nghiệp lắp ráp đƣợc đánh giá là khá phát triển nhƣ sản xuất ô

tô, xe máy, điện tử, viễn thông, máy tính, điện thoại... Do đó, việc phát triển các ngành

hỗ trợ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà ĐTNN có đƣợc nguồn cung ứng đầu vào

tại chỗ, không phải nhập nguyên vật liệu, sản phẩm sẽ có giá rẻ hơn do cắt giảm đƣợc

chi phí vận chuyển và thuế nhập khẩu, từ đó sẽ tạo ra những sản phẩm có giá trị cạnh

tranh cao[70] (xem phụ lục 30.6). Để phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ ở

VKTTĐBB trong những năm tới đây, cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

- Các địa phƣơng cần đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện quy hoạch phát

triển ngành công nghiệp trên cơ sở vận dụng Quyết định 9028/2014/QĐ-BTC của

Bộ Công thƣơng về “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ đến

năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” [19]. Để đảm bảo cho quy hoạch phát triển của

ngành công nghiệp có cơ sở khoa học, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất các

nguồn lực của địa phƣơng và vùng lãnh thổ, cần phải làm rõ:

+ Định hƣớng phát triển của toàn ngành cũng nhƣ từng ngành công nghiệp

cấp II trong từng giai đoạn cụ thể.

+ Các nguồn vốn đảm bảo cho việc phát triển của ngành trong từng giai đoạn.

+ Nhu cầu về sản phẩm hỗ trợ của từng ngành công nghiệp cấp II và khả năng

đáp ứng của thị trƣờng trong nƣớc.

Thông qua việc xác định đƣợc nhu cầu về sản phẩm hỗ trợ của những ngành

này mà các địa phƣơng xác định khả năng đáp ứng và các biện pháp tăng cƣờng đầu

tƣ nhằm hạn chế việc nhập khẩu các sản phẩm hỗ trợ. Để tránh tình trạng đầu tƣ trùng

lặp, dàn trải, các địa phƣơng VKTTĐBB cần phối hợp chặt chẽ với nhau và với các

ngành để đề ra chiến lƣợc và quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ riêng của mình

cho phù hợp với quy hoạch, chiến lƣợc phát triển chung của vùng và của cả nƣớc.

- Tạo môi trƣờng cho các DN trong vùng tham gia vào phát triển các ngành

công nghiệp hỗ trợ bằng cách thực hiện các chế độ ƣu đãi nhƣ hỗ trợ huy động vốn,

hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực, cung cấp thông tin công nghệ, xây dựng các

KCN dành riêng cho các DN trong ngành công nghiệp hỗ trợ. Trên cở sở vận dụng

- Khuyến khích nguồn vốn ĐTNN vào các ngành công nghiệp hỗ trợ nhất là ở

những ngành, những lĩnh vực mà vùng chƣa có điều kiện và khả năng thực hiện.

Việc thu hút FDI vào phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ cũng đồng nghĩa với

147

việc chuyển giao vào trong nƣớc trình độ quản lý và công nghệ tiên tiến của các

nƣớc, đây mới là động lực chính để thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ trong nƣớc phát triển. Để làm đƣợc việc đó, ngoài việc hỗ trợ các FIES bằng các chính sách về chuyển giao công nghệ, bảo vệ bản quyền, sở hữu trí tuệ, cần có các chính sách ƣu

tiên nhƣ giảm mức đầu tƣ yêu cầu tối thiểu để thu hút đầu tƣ từ các DNN&V từ

nƣớc ngoài hoặc trợ cấp thuế đầu tƣ.

- Tăng cƣờng kiên kết DN giữa các FIES với các DN trong nƣớc, giữa nhà cung cấp sản phẩm phụ trợ với DN sản xuất để có thể chia sẻ nguồn lực phát triển, hỗ trợ

sản xuất, giảm thiểu chi phí so với việc SX-KD độc lập. Trong mối quan hệ liên kết

này, các DN lớn, các FIES, các nhà sản xuất đóng vai trò hạt nhân, còn các DN công nghiệp phụ trợ đóng vai trò nhƣ các vệ tinh trong hệ thống (xem phụ lục 28).

- Vận dụng linh hoạt Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về “Quy định chính sách

hỗ trợ, chính sách ưu đãi nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ” của Chính Phủ [36].

Khuyến khích đầu tƣ vào các ngành công nghiệp hỗ trợ, với sự hỗ trợ đặc biệt về

vốn, cùng với những ƣu đãi đặc biệt về thuế. đầu tƣ thích đáng nhằm phát triển một

số ngành công nghiệp đóng vai trò then chốt trong việc hình thành công nghiệp hỗ

trợ. Ƣu tiên cho vay vốn và tạo các điều kiện khác để đổi mới thiết bị, thay đổi công

nghệ tại những cơ sở đã có quy mô tƣơng đối lớn. Đa dạng hoá các sản phẩm hỗ trợ

cũng nhƣ nâng cao chất lƣợng của các sản phẩm đó phụ thuộc rất nhiều vào một số

ngành công nghiệp cấp II, trong đó tác động mạnh mẽ nhất chính là ngành công

nghiệp cơ khí chế tạo. Do khả năng về vốn còn có hạn nên việc tiến hành đầu tƣ hiện

đại hoá các ngành này gặp rất nhiều khó khăn. Cách tốt nhất là lựa chọn đầu tƣ có

trọng điểm cho một số DN của những ngành này (xem phụ lục 30.6).

- Phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp hỗ trợ bằng cách mở

rộng hình thức đào tạo tại chỗ, gắn kết việc đào tạo với việc sử dụng lao động;

khuyến khích các DN lớn, các FIES tổ chức lực lƣợng lao động cho mình và cho các DN khác; xây dựng chƣơng trình hợp tác với nƣớc ngoài trong việc đào tạo kỹ sƣ,

công nhân lành nghề. Lập chế độ tƣ vấn kỹ thuật và quản lý để mời các chuyên gia

nƣớc ngoài vào giúp thay đổi công nghệ và phƣơng thức quản lý công nghiệp hỗ trợ.

Hiện nay, Nhật Bản và một số nƣớc khác đang có chế độ gửi những ngƣời đã đến

tuổi nghỉ hƣu nhƣng còn sức khỏe và ý chí, muốn đem kinh nghiệm của mình đến

giúp các nƣớc đang phát triển. Họ đƣợc gọi là những ngƣời tình nguyện cấp cao.

Các địa phƣơng có thể tận dụng nguồn lực quốc tế này để nhanh chóng tăng sức

cạnh tranh của các ngành công nghiệp hỗ trợ cũng nhƣ một số lĩnh vực khác.

148

4.2.1.10. Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước tạo sức

hấp dẫn trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Cần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và của DN trong nƣớc nhằm

hấp thụ đƣợc dòng vốn ĐTNN, gắn kết chặt chẽ, học hỏi, tận dụng cơ hội từ khu vực

này. Các DN trong nƣớc cần chủ động trong việc tham gia sản xuất, đa dạng nguồn

cung nguyên liệu nhằm tận dụng ƣu đãi từ các hiệp định thƣơng mại; đồng thời, có

chiến lƣợc nghiên cứu, nắm bắt thị hiếu tiêu dùng để cung cấp các sản phẩm thị

trƣờng cần, nâng cao VA cho sản phẩm xuất khẩu.

Các DN cần tăng cƣờng xúc tiến thƣơng mại, quảng bá hình ảnh của DN, sản

phẩm Việt Nam. Từ đó, nâng cao khả năng thu hút sự hợp tác, liên kết kinh doanh từ

các DN nƣớc ngoài, các MNCS, TNCS; cần phối hợp với nhau, cùng phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, góp phần tạo nên môi trƣờng đầu tƣ hấp dẫn thu hút FDI... Tuy

nhiên, để nhận đƣợc quyết định đầu tƣ từ MNCS, TNCS là không hề đơn giản vì các DN này thƣờng rất khắt khe trong việc đánh giá năng lực của các DN hỗ trợ địa

phƣơng. Muốn vậy. các DN trong vùng cần tăng cƣờng các giải pháp về tài chính,

công nghệ và đào tạo… Từ đó giúp tăng tính hấp dẫn trong thu hút các MNCS, TNCS và tăng khả năng liên kết giữa các DN để tăng cƣờng thu hút FDI ở VKTTĐBB.

4.2.2. Nhóm kiến nghị đối với cấp trung ƣơng

4.2.2.1. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách liên

quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp những cam kết với quốc tế.

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO gần một thập kỷ và

đang tích cực hội nhập kinh tế, thực hiện các cam kết với nhiều cấp độ khác nhau

nhƣ FTA, TPP, AEC..., cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

+ Để thực hiện các cam kết quốc tế, đồng thời hạn chế ảnh hƣởng xấu của tác

động của khủng hoảng, suy thoái toàn cầu, cần phải rà soát lại hệ thống pháp luật,

chính sách để sửa đổi, điều chỉnh hoặc loại bỏ những điều luật và chính sách không

phù hợp với sự vận động phát triển của nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi

cơ chế, tái CCKT từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu.

+ Đẩy nhanh quá trình rà soát các điều luật và các văn bản pháp luật liên quan

đến Luật đầu tƣ, Luật DN ban hành năm 2014 và các cam kết với WTO. Đồng thời

thúc đẩy quá trình thực thi Luật Đất đai 2013 và soạn thảo các văn bản pháp quy

hƣớng dẫn thực hiện Luật Lao động sửa đổi đƣợc Quốc hội thông qua tháng 5/2012

đều có liên quan trực tiếp đến vốn FDI. Việc chậm trễ trong sửa đổi, bổ sung và loại

149

bỏ những điều khoản không phù hợp cũng có nghĩa là chính sách khuyến khích đầu tƣ

của nhà nƣớc không đi vào cuộc sống. Cần tăng cƣờng giáo dục, siết chặt kỷ cƣơng,

kỷ luật công chức, trọng dụng các cán bộ có tƣ duy đổi mới, giỏi chuyên môn kỹ

thuật, phẩm chất chính trị tốt, nghiêm túc thực thi công vụ. Đồng thời đầu tƣ kinh phí

đúng mức cho nghiên cứu, triển khai pháp luật và chính sách vào cuộc sống.

+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế về quyền kinh doanh bình đẳng của

các nhà đầu tƣ; về cạnh tranh; về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; về tiêu chuẩn chất

lƣợng sản phẩm; về tiêu chuẩn bảo vệ tài nguyên và môi trƣờng; về các quy định

hành nghề trong các ngành kinh doanh có điều kiện...

Nhà nƣớc cần sửa Luật Cạnh tranh hoặc ban hành Luật Chống độc quyền và

kiểm soát việc bán phá giá, tăng cƣờng các biện pháp chống hành vi gian lận thƣơng

mại (trốn thuế, hàng giả, hàng nhái, hàng lậu...). Xây dựng chính sách đảm bảo cho

nhà đầu tƣ tự chủ kinh doanh, tự quyết định giá bán sản phẩm; thời gian khấu hao

thiết bị máy móc, tài sản cố định. Nhà nƣớc chỉ thống nhất quản lý giá một số mặt

hàng quan trọng tác động tới toàn xã hội; bãi bỏ cơ chế quản lý giá chi phối bởi một

số tổng công ty nhằm tạo môi trƣờng kinh doanh bình đẳng.

- Đổi mới về cơ chế, chính sách thuận lợi cho thu hút vốn đầu tư:

Luật DN và Luật Đầu tƣ năm 2014 đã khắc phục đƣợc những hạn chế, vƣớng

mắc trong các quy định về đầu tƣ, nhƣng nó vẫn là luật khung. Do vậy, cần có sự

hƣớng dẫn cụ thể của Chính phủ, các bộ, ngành; các văn bản hƣớng dẫn cụ thể hoá

việc phân cấp về trách nhiệm, quyền hạn cho các địa phƣơng, các KCN, khu kinh tế

trong quá trình cấp phép đầu tƣ, thực hiện đầu tƣ và dự án đầu tƣ đã đi vào SX-KD.

+ Từng bƣớc sửa đổi chính sách tạo ra mặt bằng chung cho cả đầu tƣ trong

nƣớc và nƣớc ngoài nhằm tạo môi trƣờng kinh doanh ổn định, bình đẳng, cạnh tranh

lành mạnh và minh bạch hoá những chính sách ƣu đãi đối với từng đối tƣợng, từng

lĩnh vực, từng thời kỳ.

+ Xác định rõ cơ chế phối hợp giữa các bộ, ban, ngành với các địa phƣơng và

giữa các địa phƣơng với địa phƣơng trong VKTTĐ. Nhất là trong hoạch định và

triển khai chính sách khuyến khích đầu tƣ.

+ Tiến hành rà soát và bãi bỏ các quy định về thủ tục đang cản trở hoạt động

ĐTNN; Công tác thẩm định và cấp giấy chứng nhận đầu tƣ phải theo đúng quy định

của Nhà nƣớc, tránh phiền hà, gây trở ngại cho các nhà đầu tƣ, khắc phục ngay tình

trạng thanh tra, kiểm tra không cần thiết gây phiền nhiễu của một số cơ quan chức

năng; Thực hiện cơ chế "một cửa liên thông" trong giải quyết thủ tục đầu tƣ…

150

+ Tiếp tục phân cấp mạnh về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động FDI cũng nhƣ

việc cấp giấy phép đầu tƣ. Phân cấp quản lý nhà nƣớc về FDI cho UBND các địa

phƣơng và các Ban quản lý KCN theo nguyên tắc tập trung, thống nhất về quy hoạch,

cơ cấu, chính sách và cơ chế quản lý; tăng cƣờng hƣớng dẫn, kiểm tra và giám sát của

các bộ, ngành Trung ƣơng. Điều này sẽ phát huy tính năng động, sáng tạo, chịu trách

nhiệm của địa phƣơng, đồng thời bảo đảm quản lý thống nhất của trung ƣơng. Đổi

mới và nâng cao hiệu quả hoạt động hoạt động xúc tiến đầu tƣ, cung cấp thông tin và

hỗ trợ đầu tƣ gắn với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH quốc gia.

+ Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nƣớc trong việc

tuyên truyền, phổ biến luật đầu tƣ và các văn bản pháp luật liên quan đến đầu tƣ và

FDI đến mọi đối tƣợng trong cộng đồng dân cƣ và quảng bá thông tin, xúc tiến đầu

tƣ. Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cấp, các ngành trong hoạt động quản

lý đầu tƣ theo đúng pháp luật.

+ Tiếp tục thực hiện lộ trình giảm chi phí đầu tƣ. Điều chỉnh giá phí các loại

hàng hóa dịch vụ để sau một thời gian về cơ bản áp dụng một mặt bằng giá cho các

DN trong nƣớc và FIES. Trƣớc hết, cần giảm hơn nữa giá điện đối với các DN sản xuất, áp dụng một giá dịch vụ thống nhất. Giảm giá các loại cƣớc phí dịch vụ hiện

đang cao hơn các nƣớc trong khu vực nhƣ: cƣớc viễn thông, phí vận tải đƣờng biển,

hàng không, bƣu chính. Tạo điều kiện thuận lợi và môi trƣờng hấp dẫn hơn nữa

trong việc giúp các DN giảm chi phí đầu tƣ để tăng sức cạnh tranh.

+ Cụ thể hoá các văn bản dƣới luật về FDI đã và đang đƣợc thực tế thừa nhận,

bổ sung, sửa đổi các quy định liên quan đến tài chính, tiền tệ và đơn giản hoá các sắc

thuế để tạo điều kiện cho các FIES và các DN dân doanh có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng quốc tế.

+ Nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi các quy định quản lý nhà nƣớc đối với các dự

án FDI bƣớc vào hoạt động SX-KD nhằm tăng khả năng kiểm soát của nhà nƣớc,

nhƣng không tạo ra các thủ tục phiền hà, đồng thời nâng cao trách nhiệm và sự tôn

trọng luật pháp Việt Nam của nhà đầu tƣ trong quá trình thực hiện dự án.

4.2.2.2. Xây dựng chiến lược và qui hoạch thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài, trong đó có vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Định hƣớng chính sách cần phù hợp với chiến lƣợc phát triển KT-XH và đáp

ứng yêu cầu của việc chuyển đổi mô hình tăng trƣởng và CDCCKT theo hƣớng hiện

đại và bền vững. Quy hoạch FDI phải đặt trong quy hoạch tổng thể các nguồn lực cả

nƣớc, gắn kết với các nguồn lực trong nƣớc và nƣớc ngoài khác để phát huy sức

151

mạnh tổng hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập và

cạnh tranh quốc tế sâu rộng. Quy hoạch FDI phải cụ thể hoá các chiến lƣợc liên

quan theo ngành, vùng lãnh thổ, phù hợp với các quy hoạch ngành và sản phẩm chủ

yếu, cũng nhƣ các cam kết quốc tế và đòi hỏi của các nhà đầu tƣ, cụ thể cần phải:

- Chuyển từ quan điểm đầu tƣ theo chiều rộng sang đầu tƣ theo chiều sâu; chú

trọng đến chất lƣợng của các dự án FDI; lựa chọn những ngành, lĩnh vực, sản phẩm

có công nghệ cao, tạo ra nhiều giá trị gia tăng, đảm bảo chất lƣợng xuất khẩu và

không gây tác hại đến môi trƣờng sinh thái.

- Thực hiện chính sách xúc tiến đầu tƣ phù hợp và có chính sách khuyến

khích hợp lý để thu hút các nhà ĐTNN có tiềm năng lớn về vốn; có thị trƣờng tiêu

thụ sản phẩm; có công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, nhất là các tập đoàn kinh tế

lớn ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển.

- Có chính sách khuyến khích thỏa đáng đối với các nhà ĐTNN vào sản xuất

vào chế biến nông – lâm – thủy sản, đặc biệt là nông nghiệp; các ngành y tế, giáo

dục và kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; đầu tƣ vào các vùng sâu, vùng xa,

vùng kinh tế khó khăn.

- Trên cơ sở quy hoạch FDI, cần xây dựng danh mục quốc gia thu hút FDI với

các dự án theo ngành, lĩnh vực quan trọng cùng các thông số kỹ thuật cụ thể để cung

cấp những thông tin cơ bản cho các nhà đầu tƣ quan tâm; trong đó chú trọng những

dự án cần ƣu tiên áp dụng hình thức liên doanh.

4.2.2.3. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với đầu tư

trực tiếp nước ngoài

Chính phủ sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp hành chính, kinh tế, giáo dục

và các công cụ quản lý để thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc đối với nền kinh tế

nói chung và hoạt động đầu tƣ, FDI nói riêng. Để thực hiện nhiệm vụ đó, cần có các

giải pháp cụ thể sau:

- Đổi mới tổ chức bộ máy quản lý nhà nước theo hướng gọn nhẹ, giảm bớt đầu

mối và thực hiện nguyên tắc mỗi lĩnh vực chỉ có một tổ chức và ngƣời đứng đầu tổ

chức đó chịu trách nhiệm. Các tổ chức khác trong hệ thống chỉ có nhiệm vụ phối hợp

thực hiện để khắc phục tình trạng một việc có nhiều tổ chức, cá nhân cùng thực hiện,

nhƣng khi không thành công chẳng có tổ chức, cá nhân nào chịu trách nhiệm trƣớc

cấp trên và pháp luật. Do đó, hiệu lực quản lý nhà nƣớc suy giảm, kém hiệu quả.

- Tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện phân cấp quản lý Nhà nước

nói chung và đối với hoạt động ĐTNN nói riêng, để có cơ sở khoa học và thực tiễn

152

cho việc bổ sung, sửa đổi các quy định, quy chế phân công, phân cấp cho các bộ,

ban, ngành và chính quyền địa phƣơng cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng

phù hợp với điều kiện, đặc điểm và năng lực quản lý của các địa phƣơng.

- Đầu tư kinh phí bổ sung và nâng cấp các cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhất là

các thiết bị điện tử, viễn thông cho các bộ, ban, ngành, chính quyền địa phƣơng đầy

đủ, đồng bộ đáp ứng yêu cầu hoạt động của chính phủ điện tử. Ứng dụng công nghệ

tin học, viễn thông vào quản lý nhà nƣớc sẽ giúp chính phủ nắm bắt thông tin từ cơ sở

một cách nhanh chóng và có biện pháp xử lý kịp thời, giảm bớt chi phí đi lại báo cáo,

hội họp, khắc phục đƣợc tình trạng trì trệ, quan liêu trong điều hành, quản lý.

- Tăng cường đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước

có phẩm chất, đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ

thuật và thông thạo ngoại ngữ phục vụ cho lĩnh vực công tác mà mình đảm trách.

Thực hiện nghiêm túc luật công chức từ khâu đào tạo, bồi dƣỡng, tuyển chọn, sử

dụng và đãi ngộ. Các khâu trong quy trình công tác cán bộ phải đƣợc công khai, dân

chủ, bình đẳng, có cạnh tranh dựa theo tiêu chuẩn và yêu cầu của từng vị trí công

tác. Thông thƣờng, khâu tuyển chọn thƣờng hay bị lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và

quyền uy chính trị chi phối, tình trạng ngƣời tài đứng ngoài, ngƣời kém năng lực,

thậm chí kém cả phẩm chất vẫn cứ vào biên chế và nhanh chóng lên cao. Do vậy,

công khai minh bạch, dân chủ và cạnh tranh bình đẳng trong tuyển chọn cán bộ có ý

nghĩa quyết định đối với chất lƣợng đội ngũ công chức.

4.2.2.4. Tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành với các địa phương về

thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

- Đổi mới cơ chế phối hợp và hoạt động của Ban Chỉ đạo điều phối phát triển

kinh tế VKTTĐ. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng trong vùng đều bình

đẳng, cùng cấp và cùng là đơn vị hành chính cấp tỉnh, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của

Thủ tƣớng Chính phủ. Các quan hệ về kinh tế, chính trị xã hội và môi trƣờng giữa

các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng trong vùng đều là quan hệ phối hợp, hợp

tác, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. Nhƣng làm thế nào để thực hiện có hiệu quả

công tác phối hợp giữa các bộ, ngành với các địa phƣơng và giữa các địa phƣơng

với địa phƣơng trong vùng thì cần có các giải pháp đồng bộ sau:

+ Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng, mà trực tiếp là Chủ tịch UBND,

phải chủ động phối hợp với các bộ, ngành có liên quan và các địa phƣơng trong

vùng. Tập trung kinh phí đầu tƣ cho nghiên cứu, khảo sát để lập quy hoạch không

gian phát triển KT-XH của vùng một cách khách quan, khoa học, phù hợp với điều

153

kiện, tiềm năng và mục tiêu phát triển KT-XH của VKTTĐBB giai đoạn 2011-2020,

tầm nhìn 2030 dƣới sự điều tiết của Ban Chỉ đạo điều phối phát triển các VKTTĐ.

Nghiêm túc thực hiện quy hoạch đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt và coi đây

là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để phối hợp giữa các địa phƣơng trong vùng.

+ Những vấn đề phát sinh, các địa phƣơng cần chủ động đề xuất với Ban Chỉ

đạo điều phối phát triển các VKTTĐ. Căn cứ vào tính chất công việc mà Ban Chỉ

đạo mời các Bộ, ngành liên quan cùng với các địa phƣơng cùng nhau bàn bạc, đề

xuất hƣớng giải quyết. Các vấn đề đƣa ra bàn bạc phải thực hiện nghiêm túc 5

nguyên tắc đƣợc ghi trong Quy chế phối hợp số 159/2007/QĐ-TTg của Thủ tƣớng

Chính phủ. Trong đó, đồng thuận là nguyên tắc cơ bản, các vấn đề chƣa đồng thuận

phải lập tờ trình báo cáo Thủ tƣớng Chính phủ xem xét quyết định.

+ Mối quan hệ lợi ích quốc gia, VKTTĐBB, các địa phƣơng trong vùng và

các chủ thể không đƣợc giải quyết hài hoà, hợp lý thì sẽ dẫn đến tình trạng phá vỡ

quy hoạch và lách luật giữa các địa phƣơng để tìm cách vận dụng cho lợi ích thuộc

về nhóm mình, địa phƣơng mình. Do đó, để có đồng thuận trong sự phối hợp thì

nhất thiết phải giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các bên tham gia liên kết và

phối hợp thực hiện quy hoạch vùng và thực hiện tiến độ đầu tƣ của các dự án.

+ Kiện toàn Ban Chỉ đạo điều phối phát triển VKTTĐ theo hƣớng gọn nhẹ,

chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm rõ ràng và đội ngũ cán bộ trong Ban phải là các

chuyên gia giỏi, am hiểu tình hình thực tế của các địa phƣơng trong vùng. Cần thực

thi có hiệu quả Quyết định 941/2015/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về “Thành

lập tổ chức điều phối phát triển các VKTTĐ giai đoạn 2015-2020”:

 Ban Chỉ đạo điều phối phát triển các VKTTĐ là tổ chức phối hợp liên

ngành giúp Thủ tƣớng Chính phủ nghiên cứu chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp giải quyết

các vấn đề quan trọng có tính chất liên ngành, liên vùng liên quan đến hoạt động

điều phối phát triển các VKTTĐ. Trƣởng Ban Chỉ đạo là Phó Thủ tƣớng Chính phủ,

Phó Trƣởng ban thƣờng trực là Bộ trƣởng Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, các thành viên

Ban Chỉ đạo gồm Thứ trƣởng hoặc tƣơng đƣơng của các bộ và cơ quan ngang bộ.

 Hội đồng vùng (có Chủ tịch vùng) là tổ chức kết nối giữa Ban Chỉ đạo với các

địa phƣơng trong VKTTĐ và chỉ đạo, điều phối các liên kết, có nhiệm vụ chỉ đạo và tổ

chức phối hợp các địa phƣơng trong vùng thực hiện các Quy hoạch phát triển của

VKTTĐ; theo dõi quá trình xây dựng, điều chỉnh quy hoạch của địa phƣơng trong vùng...

- Các địa phƣơng cần tăng cƣờng phối hợp xây dựng chiến lƣợc thu hút và sử

dụng có hiệu quả dòng vốn FDI, lồng ghép với chiến lƣợc phát triển KT-XH của vùng

154

và của cả nƣớc phù hợp với từng giai đoạn, cũng nhƣ gắn liền với chiến lƣợc hội nhập

KTQT của Việt Nam. Giải quyết tốt các vấn đề nhƣ: quy hoạch tổng thể các ngành,

lĩnh vực thu hút FDI, đặt ra ƣu tiên cho việc thu hút FDI đối với từng ngành, từng lĩnh

vực, từng địa phƣơng trong vùng, tránh những vấn đề bất cập trong phân cấp đầu tƣ,

tránh sự manh mún và tản mạn trong xúc tiến đầu tƣ trong vùng, kết hợp có hiệu quả

dòng vốn FDI, ODA và vốn FII trong phát triển KT-XH của vùng.

4.2.2.5. Cải cách hành chính trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Đẩy nhanh hơn nữa tiến độ cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một

cửa”, “một cửa liên thông”, tránh gây ách, tắc phiền hà cho các DN. Các cơ quan nhà

nƣớc phải tôn trọng quyền tự do kinh doanh của DN, áp dụng phổ biến chế độ đăng

ký thay cho cấp phép, xóa bỏ cơ chế “xin-cho”, “phê duyệt” bất hợp lý. Ngăn chặn,

xử lý nghiêm khắc các hiện tƣợng sách nhiễu, cửa quyền. Cần quy định công khai, rõ

ràng việc cấp một giấy phép bao gồm những loại giấy tờ gì, nộp ở đâu, thời gian trả

lời và ai là ngƣời chịu trách nhiệm giải quyết? Kết quả giải quyết nếu có vấn đề thì ai

phải chịu trách nhiệm trƣớc các DN và các nhà đầu tƣ, những thiệt hại nếu có thì cấp

nào phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng. Nhà nƣớc phải coi nhà đầu tƣ và DN là đối

tƣợng phục vụ của cơ quan hành chính nhà nƣớc.

- Trƣớc tình hình “chạy đua” chính sách của các địa phƣơng cần có những

giải pháp để thu hẹp khoảng cách giữa chính sách của Trung ƣơng và địa phƣơng.

Rà soát lại các văn bản của địa phƣơng, xem xét lại tính hợp lý của các văn bản và

kịp thời đƣa ra những biện pháp xử lý, tránh sự lạm dụng hoặc lách luật, cũng nhƣ

tránh gây thiệt hại đối với nguồn thu ngân sách. Tăng cƣờng giám sát việc ban hành

các văn bản pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tƣ của các cơ quan trên

nhằm đảm bảo tính thống nhất, không chồng chéo và vƣợt khuôn khổ pháp luật.

- Các quy định, thủ tục hải quan phải đƣợc thực hiện theo hƣớng đơn giản, tạo

điều kiện thuận lợi cho phía DN, khắc phục hiện tƣợng phiền hà, tiêu cực trong công

tác hải quan. Để làm đƣợc điều này cần phải có sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành

có liên quan nhƣ Thƣơng mại - Hải quan - Công nghệ môi trƣờng nhằm giải giải

quyết và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh có liên quan đến FIES.

- Tăng cƣờng ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của cơ quan

nhà nƣớc nhằm đảm bảo thông tin về những thủ tục hành chính đến tổ chức, DN và

ngƣời dân một cách nhanh chóng, rõ ràng, công khai.

155

KẾT LUẬN

1. Việt Nam và VKTTĐBB không những thúc đẩy thu hút vốn FDI, mà còn

phải phát huy đƣợc những tác động tích cực, giảm thiểu tác động tiêu cực của FDI

đến phát triển KT-XH và thúc đẩy CDCCKT là một yêu cầu cấp thiết. Xuất phát từ

mục đích là phải làm rõ bản chất, đặc điểm, vai trò, hạn chế và nguyên nhân trong thu

hút vốn FDI trong CDCCKT của VKTTĐBB, luận án đã hệ thống hoá và hoàn thiện

những vấn đề lý luận và thực tiễn các nƣớc về thu hút vốn FDI trong CDCCKT. Tham

khảo kinh nghiệm thực tiễn trong thu hút, sử dụng vốn FDI của nƣớc ngoài sẽ giúp ích

cho việc tìm kiếm các giải pháp phát huy đƣợc những tác động tích cực, giảm thiểu

tác động tiêu cực của FDI đến phát triển KT-XH.

2. Làm cơ sở tiến hành phân tích thực trạng tình hình thu hút và hoạt động của

FDI trong CDCCKT của vùng, luận án đã khái quát quá trình hình thành

VKTTĐBB, đánh giá tiềm năng, thế mạnh và khó khăn thách thức về thu hút vốn

FDI trong CDCCKT của VKTTĐBB. Luận án đi sâu phân tích đáng giá thực trạng

chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, về thu hút vốn với 3 nội dung nổi bật

về: 1) Chính sách thu hút vốn FDI; 2) Hoạt động xúc tiến đầu tƣ; 3) Kết quả thu hút

vốn FDI ở VKTTĐBB. Qua đó, luận án cũng đánh giá tác động của FDI tới: 1) Cơ

cấu vốn đầu tƣ và tăng trƣởng kinh tế; 2) Cơ cấu kinh tế ngành; 3) Cơ cấu kinh tế

lãnh thổ; 4) Tạo việc làm và cơ cấu lao động; 5) Các tác động KT-XH khác. Qua đó

khái quát ƣu điểm nổi bật với nhiều phƣơng diện tới KT-XH và CDCCKT của vùng.

3. Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc trong thu hút vốn và tác động của FDI tới

CDCCKT ở VKTTĐBB, luận án cũng đã đi sâu phân tích đánh giá những hạn chế

nhƣ: 1) Hiệu quả trong định hƣớng thu hút vốn FDI nhằm CDCCKT còn thấp; 2)

Tính liên kết và sự điều phối trong thu hút vốn FDI còn kém hiệu quả; 3) Chuyển

giao công nghệ hiệu quả còn thấp, nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp; 4) Nhiều vấn đề

về KT-XH khác nảy sinh chƣa giải quyết hiệu quả; 5) Chất lƣợng nhiều dự án còn

thấp, ảnh hƣởng việc phát huy vai trò của FDI trong CDCCKT; 6) Công tác bảo vệ

môi trƣờng ở các FIES chƣa đƣợc quan tâm thỏa đáng; 7) Công nghiệp hỗ trợ chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của khu vực FDI. Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất

phát từ: 1) Hệ thống pháp luật và chính sách thu hút vốn còn nhiều bất cập; 2) Công

tác quy hoạch và chiến lƣợc thu hút vốn FDI chƣa đủ tầm; 3) Công tác quản lý nhà

nƣớc còn nhiều yếu kém, thiếu hiệu quả; 4) Công tác điều phối quy mô vùng và sự

liên kết giữa các địa phƣơng còn yếu; 5) Công tác xúc tiến đầu tƣ chƣa hấp dẫn; 6)

156

Chất lƣợng nguồn nhân lực, cơ cấu lao động chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu; 7) Kết cấu

hạ tầng còn thấp; 8) Các ngành công nghiệp hỗ trợ chƣa đáp ứng yêu cầu của FDI.

4. Từ những nội dung phân tích và đánh giá thực tiễn, luận án đã tổng hợp

những dự báo, đề xuất quan điểm, những định hƣớng phát triển KT-XH và thu hút

vốn FDI trong CDCCKT của vùng. Các nhóm giải pháp mà luận án đề xuất đối với

cấp địa phƣơng trong vùng gồm: 1) Đổi mới tƣ duy, nâng cao nhận thức về thu hút

FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB; 2) Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng

công tác quy hoạch ngành, vùng làm cơ sở định hƣớng thu hút FDI trong CDCCKT;

3) Tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc đối với FDI ở vùng KTTĐBB; 4) Nâng

cao hiệu quả thực thi chính sách khuyến khích thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở

VKTTĐBB; 5) Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tƣ nhằm thu hút vốn FDI trong

CDCCKT ở VKTTĐBB; 6) Thu hút và tiếp nhận có hiệu quả thành tựu khoa học

công nghệ từ FDI góp phần CDCCKT của các địa phƣơng trong vùng; 7) Nâng cao

chất lƣợng hoạt động đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của FDI nhằm

CDCCKT; 8) Xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng KT-XH theo hƣớng hiện đại, tạo

sức hút đối với các nhà ĐTNN; 9) Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ; 10)

Nâng cao sức cạnh tranh của DN trong nƣớc tạo sức hấp dẫn trong thu hút FDI. Vấn

đề là cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp để thu hút FDI nhằm CDCCKT của

vùng theo hƣớng CNH, HĐH đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030.

5. Nhóm kiến nghị đối với cấp trung ƣơng gồm: 1) Tiếp tục đổi mới, hoàn

thiện hệ thống pháp luật và chính sách liên quan đến hoạt động FDI; 2) Xây dựng

chiến lƣợc FDI và qui hoạch thu hút FDI cho cả nƣớc trong đó có VKTTĐBB; 3)

Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động đầu tƣ trực tiếp

nƣớc ngoài; 4) Tăng cƣờng sự phối hợp giữa các bộ, ngành với các địa phƣơng đối

với thu hút FDI trong vùng KTTĐBB; 5) Cải cách hành chính trong lĩnh vực FDI.

Mặc dù những vấn đề lý luận về FDI với CDCCKT đã đƣợc nhiều công trình

nghiên cứu, nhƣng do chủ đề nghiên cứu của luận án còn khá mới, phạm vi rộng,

quá trình thu thập số liệu phục vụ cho hoạt động nghiên cứu gặp không ít khó khăn;

do vậy có thể luận án không tránh khỏi những hạn chế, tác giả của luận án rất mong

nhận đƣợc ý kiến đóng góp để luận án đƣợc hoàn thiện hơn.

Để đánh giá và đƣa ra những giải pháp có tính toàn diện và cụ thể hơn có hiệu

quả về thu hút vốn FDI, phân tích sâu tác động của vốn FDI trong CDCCKT, tác giả

của luận án mong rằng sẽ có đƣợc nhiều nghiên cứu sâu sắc tiếp theo về thu hút FDI

với CDCCKT của VKTTĐBB và các địa phƣơng khác, vùng khác ở Việt Nam.

157

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

1. Phạm Đức Minh (2009), Lợi ích kinh tế - xã hội trong các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương, (Chủ nhiệm), Đề tài cấp cơ sở,

ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

2. Phạm Đức Minh (2012), Vận dụng học thuyết lưu thông tiền tệ của C.Mác trong

Trƣờng Chính trị tỉnh Hải Dƣơng, Hải Dƣơng.

3. Phạm Đức Minh (2013), Sự phát triển nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, (Đồng tác giả), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 4. Phạm Đức Minh (2013), “Thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào Bắc Bộ trong tƣơng quan với các vùng KTTĐ khác”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (10), tháng

điều tiết nền kinh tế ở Việt Nam, (Đồng tác giả), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5. Phạm Đức Minh (2013), “Thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài: Từ thực tế đến những vƣớng mắc… khái niệm”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (14), tháng 7, tr.23-25. 6. Phạm Đức Minh (2014), Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội Hải Dương giai đoạn 2011 – 2015 và phương hướng 2016 -2020, (Thƣ ký), Đề tài cấp tỉnh, Tỉnh Ủy

5, tr.44-46.

7. Phạm Đức Minh (2016), “Gắn lý luận với thực tiễn trong giảng dạy các chuyên đề kinh tế trong chƣơng trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính hiện

– UBND tỉnh Hải Dƣơng, Hải Dƣơng.

nay”, Thông tin Lý luận và thực tiễn, (49), tr.12-16.

158

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

1. Alaev (1983), Địa lý kinh tế - xã hội. Từ điển thuật ngữ, khái niệm, Moscow.

2. Trần Phƣơng Anh (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng kinh tế trọng điểm

Bắc Bộ nước ta, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Khoa học

Xã hội Việt Nam.

3. Vũ Đình Ánh (2012), “Chống chuyển giá và một số vấn đề tài chính liên quan đến

đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (517);

4. Đinh Văn Ân – Nguyễn Thị Tuệ Anh (2008), Thực hiện đầu tư trực tiếp nước

ngoài sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (Kết quả điều

tra 140 doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài), Nxb Lao động, Hà Nội.

5. Lê Xuân Bá (2006), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng

kinh tế ở Việt Nam , Nxb Khoa học - Kỹ thuật, Hà Nội.

6. Ban Chỉ đạo điều phối phát triển kinh tế các vùng kinh tế trọng điểm (2012), Báo

cáo đánh giá công tác điều phối giai đoạn 2006-2010 và công tác điều phối

giai đoạn 2011-2015, Hà nội.

7. Ban Pháp chế - Phòng Công nghiệp và Thƣơng mại Việt nam (2015) Dự án Chỉ

số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh PCI, tại trang, http://pcivietnam.org, [truy

cập ngày 20/12/2015].

8. Báo Hải Dƣơng (2012), Hải Dương: Phát hiện 95 doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển

giá, Công ty Cổ phần chứng khoán Phƣơng Đông, tại trang, http://ors.

com.vn/188/News/tin-kinh-te-viet-nam/188/117022/hai-duong-phat-hien-95-

doanh-nghiep-co-dau-hieu-chuyen-gia.aspx, [truy cập nhật ngày 18/4/2012].

9. Barnett, J., (2001), Planning for a new century. The regional agenda, (Kế hoạch

cho thế kỷ mới. Chương trình nghị sự vùng), Nxb Island, Washington D.C,

Hoa Kỳ.

10. Đỗ Đức Bình – Nguyễn Thƣờng Lạng (2006), Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy

sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, kinh nghiệm của Trung Quốc và

thực tiễn Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.

159

11. Đỗ Đức Bình (2010), “Tái cơ cấu đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam”,

Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (151).

12. Ngô Thái Bình và Lê Hằng (2009), "Phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành ô

tô - xe máy", Tạp chí Công nghiệp, (1).

13. Trƣơng Thị Chí Bình (2010), Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành điện tử gia

dụng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trƣờng Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.

14. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14/9/2005 về “Phát triển

kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông

Hồng (bao gồm cả vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ) đến năm 2010 và định

hướng tới năm 2020”, Hà Nội.

15. Bộ Công nghiệp (2005), Quy hoạch phát triển sản phẩm công nghiệp chủ yếu vùng

kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến 2010 (tài liệu phục vụ Hội nghị của Ban chỉ đạo

tổ chức điều phối phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ngày 16/5, Hà Nội.

16. Bộ Công nghiệp (2007), Quyết định số 31/2007/QĐ-BCN ngày 20/7/2007 về

“Quy hoạch phát triển công nghiệp của vùng vùng kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ đến năm 2015, có xét đến năm 2020”.

17. Bộ Công thƣơng (2007), Quyết định số 19/2007/QĐ-BCT ngày 31/12/2007 về

“Qui hoạch phát triển một số kết cấu hạ tầng thương mại chủ yếu vùng

vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và định hướng đến 2020”.

18. Bộ Công thƣơng (2012), Quyết định số 7641/QĐ-BCT ngày 12/12/2012 về

“Quy hoạch phát triển công nghiệp tuyến hành lang kinh tế Lào Cai-Hà

Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

19. Bộ Công thƣơng (2014), Quyết định 9028/QĐ-BTC ngày 8/10/2014 về “Quy

hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2020, tầm nhìn

đến năm 2030”, Hà Nội.

20. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2006), Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã

hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ thời kỳ 2006 – 2020, tháng 8, Hà Nội.

21. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2011), Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020, định hướng đến năm

2030, Hà Nội.

160

22. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2012), Đánh giá chính sách khuyến khích đầu tư trực

tiếp nước ngoài trên quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam, Dự án Hỗ

trợ xây dựng và thực hiện chƣơng trình Nghị sự 21 Quốc Gia Việt Nam

VIE/01/021, Hà Nội.

23. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2012), Đề án “Đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở Việt Nam và định hướng đến năm 2020”, Hà Nội.

24. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2012), Dự thảo báo cáo tổng hợp đề án “Quy hoạch

tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm

2020 và định hướng đến năm 2030”, Hà Nội.

25. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2013), Kỷ yếu hội nghị 25 năm đầu tư trực tiếp nước

ngoài tại Việt Nam, Hà Nội.

26. Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội (2009), Báo cáo kết quả điều tra tình

hình thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp, Hà Nội.

27. Bộ lao động - Thƣơng binh và Xã hội (2011), Báo cáo kết quả điều tra tình hình

thực hiện một số nội dung của Bộ Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và

lao động tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp, Hà Nội.

28. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Đề án “Tăng cường thu hút và

quản lý FDI vào nông lâm ngư nghiệp giai đoạn 2014-2020, định hướng

năm 2030, Hà Nội.

29. Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2005), Báo cáo tóm tắt phương án sử dụng tài

nguyên đất, tài nguyên nước, địa chất khoáng sản và bảo vệ môi trường vùng

kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Tài liệu báo cáo tại Hội nghị của Ban Chỉ đạo Tổ

chức điều phối phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ngày 16/5), Hà Nội.

30. Phong Cầm (2011), Tập đoàn Kenmark và món nợ 50 triệu USD, Tiền Phong, tại

trang, http://www.Tien phong.vn/Kinh-Te/tap-doan-kenmark-va-mon-no-50-

trieu-usd-553422.tpo, [truy cập ngày 30/9/2011].

31. Hoàng Văn Châu (2010), Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt

Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.

32. Hoàng Văn Châu (Tuyển chọn) (2010), Công nghiệp hỗ trợ: Kinh nghiệm của các

nước và giải pháp cho Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.

161

33. Trần Thị Minh Châu (2007), Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam,

(Chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

34. Nguyễn Nhân Chiến (2013), Bắc Ninh nhìn lại 15 năm thu hút đầu tư trực tiếp

nước ngoài – Những điều chỉnh trong thời gian tới, Báo cáo tại Hội nghị 25

năm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt nam, do Bộ Kế hoạch và đầu tƣ tổ

chức, Hà Nội.

35. Kim Quốc Chính (2006): Báo cáo tổng hợp đề tài thu thập, xây dựng hệ thống

chỉ tiêu và đánh giá tiềm năng, thế mạnh, hiện trạng phát triển kinh tế xã

hội các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam, (Chủ nhiệm), Đề tài cấp viện,

Viện Chiến lƣợc phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, 12/2006, Hà Nội.

36. Chính phủ (2015), Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 về “Quy định chính

sách hỗ trợ, chính sách ưu đãi nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ”. Hà Nội.

37. Chính phủ Việt Nam (2006), Nghị định số 92/2006/NĐ-CP về lập, phê duyệt và

quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Hà Nội.

38. Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản - JICA (2003), “Nghiên cứu về chiến lược

xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam”, Hà Nội

39. Cục Bắc Ninh Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2014), Niên giám thống kê năm 2013,

Bắc Ninh.

40. Cục Bắc Ninh Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2015), Niên giám thống kê năm 2014,

Bắc Ninh.

41. Cục Bảo vệ môi trƣờng, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2005): Báo cáo đánh

giá hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội và các vấn đề môi trường nhằm xây

dựng đề án bảo vệ môi trường vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Hà Nội.

42. Cục Đầu tƣ nƣớc ngoài - Bộ Kế hoạch và đầu tƣ (2015), Tình hình đầu tư nước

ngoài tại Việt Nam năm 2014, Thông tin điện tử đầu tƣ nƣớc ngoài, tại

trang, http://fia.mpi.gov.vn/TinBai/2569/Tinh-hinh-DTNN-tai-Viet-Nam -

nam-2014, [truy cập ngày 15/4/2015].

43. Cục Đầu tƣ nƣớc ngoài - Bộ Kế hoạch và đầu tƣ (2015), Tình hình đầu tư nước

ngoài tại Việt Nam năm 2014, Trang Thông tin điện tử đầu tƣ nƣớc ngoài, tại

162

trang, http://fia.mpi.gov.vn/tinbai/3206/Tinh-hinh-dau-tu-nuoc-ngoai-nam-

2014, [truy cập ngày 13/03/2015].

44. Cục Hà Nội Thống kê Thành phố Hà Nội (2014), Niên giám thống kê năm 2013,

Hà Nội.

45. Cục Hà Nội Thống kê Thành phố Hà Nội (2015), Niên giám thống kê năm 2014,

Hà Nội.

46. Cục Hải Dƣơng Thống kê tỉnh Hải Dƣơng (2014), Niên giám thống kê năm 2013,

Hải Dƣơng.

47. Cục Hải Dƣơng Thống kê tỉnh Hải Dƣơng (2015), Niên giám thống kê năm 2014,

Hải Dƣơng.

48. Cục Hải Phòng Thống kê tỉnh thành phố Hải Phòng (2014), Niên giám thống kê

năm 2013, Hải Phòng.

49. Cục Hải Phòng Thống kê tỉnh thành phố Hải Phòng (2015), Niên giám thống kê

năm 2014, Hải Phòng.

50. Cục Hƣng Yên Thống kê tỉnh Hƣng Yên (2014), Niên giám thống kê năm 2013,

Hƣng Yên.

51. Cục Hƣng Yên Thống kê tỉnh Hƣng Yên (2015), Niên giám thống kê năm 2014,

Hƣng Yên.

52. Cục Quảng Ninh Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2014), Niên giám thống kê năm 2013,

Quảng Ninh.

53. Cục Quảng Ninh Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2015), Niên giám thống kê năm 2015,

Quảng Ninh.

54. Cục Vĩnh Phúc Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2014), Niên giám thống kê năm 2013,

Vĩnh Phúc.

55. Cục Vĩnh Phúc Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2015), Niên giám thống kê năm 2014,

Vĩnh Phúc.

56. Mai Ngọc Cƣờng – Chủ biên (1996), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Đại học

Kinh tế quốc dân, Nxb Thống kê, Hà Nội.

57. Mai Ngọc Cƣờng (2000), “Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực

tiếp nước ngoài ở Việt Nam”, NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà nội.

163

58. Quốc Cƣờng (2015), Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh “bật mí” kế sách thu hút đầu tư

quốc tế, Báo Pháp luật Việt Nam điện tử, tại trang, http://baophapluat.vn/trong-

nuoc/bi-thu-tinh-uy-quangninh-bat-mi-ke-sach-thu-hut-dau-tu-quoc-te-233330

.html, [truy cập, ngày 21/10/2015].

59. Diễn đàn Thƣơng mại và Phát triển Liên Hiệp quốc - UNCTAD (2008), “Báo

cáo đánh giá chính sách đầu tư Việt Nam” tại Hội nghị Geneve.

60. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã

hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội.

61. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ

IX, NXB Chính trị Quốc gia.

62. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

63. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

64. Nguyễn Bích Đạt (2005), Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài , vị trí vai trò

của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,

(Chủ nhiệm), Đề tài Chƣơng trình KHCN cấp Nhà nƣớc – 11/2005, Hà nội.

65. Nguyễn Ngọc Định (2000), Xây dựng một lộ trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2003 – 2010, (Chủ nhiệm) Đề tài cấp

Bộ, Trƣờng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.

66. Nguyên Đức – Báo Đầu tƣ (2011), Chưa tìm thấy “chốt nổ” trong cuộc chiến

chống chuyển giá tại doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, Tổng Công

ty Truyền thông Đa phƣơng tiện Việt Nam VTC, tại trang, http://

news.go.vn/kinh-te/ tin-391274 /chua-tim-thay-chot-no-trong-cuoc-chien-

chong -chuyen-gia-tai-doanh-nghiep-fdi.htm, [cập nhật ngày 16/12/2011].

67. Ngô Đình Giao (1997), Một số vấn đề về thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế

(ngành, vùng, thành phần) trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

Đề tài khoa học xã hội 0204, Chƣơng trình khoa học và công nghệ cấp nhà

nƣớc KHXH02, Hà Nội.

164

68. Ngô Thu Hà (2009), “Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Trung

Quốc và khả năng vận dụng tại Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Trƣờng Đại học

Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

69. Nguyễn Trọng Hải (2008), “Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích

hiệu quả kinh tế đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, Luận án tiến sĩ,

Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

70. Chí Hiếu (2014), Về tuyển doanh nghiệp phụ trợ cho Samsung, Tin nhanh Việt Nam,

tại trang, http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/tuyen-doanh-nghiep

-lam-oc-vit-sac-pin-cho-samsung-3078103.html, [truy cập ngày 11/9/2014].

71. Nguyễn Đình Hòa (2007), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình đổi mới

kinh tế tại Việt Nam: Lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Kinh tế và phát triển,

(123), tháng 9, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

72. Đặng Thị Thu Hoài và Vũ Xuân Nguyệt Hồng (2002), “Tác động của đầu tƣ trực

tiếp nƣớc ngoài tới môi trƣờng nƣớc ta: Những điều rút ra từ một cuộc điều

tra”, Tạp chí Bảo vệ môi trường, (12).

73. Lê Quốc Hội (2008), “Lan tỏa công nghệ từ đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở Việt

Nam: Ƣớc lƣợng và kiểm định ngành công nghiệp chế biến”, Tạp chí Kinh

tế và Phát triển, (135), tháng 9.

74. Minh Hồng (2015), Thách thức đối với các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam năm 2015,

Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia, tại trang, http://www.

ncseif.gov.vn/sites/vie/Pages/thachthucdoivoicacdoanh-nd-16869 .html, [truy

cập ngày 15/4/2015].

75. Nguyễn Quang Hồng (2009), “Phát triển công nghiệp phụ trợ: Giải pháp quan

trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam trong việc hấp thụ công nghệ từ đầu tƣ

trực tiếp nƣớc ngoài, Tạp chí Quản lý kinh tế, (27).

76. Vũ Văn Hƣởng (2007), “Tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đến tăng trƣởng

kinh tế: Nhìn từ mô hình kinh tế lƣợng”, Tạp chí Tài chính, (518).

77. Vũ Thành Hƣởng (2010), “Phát triển các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng

điểm Bắc Bộ theo hướng bền vững”, Luận án tiến sĩ, Trƣờng Đại học Kinh

tế quốc dân, Hà Nội.

165

78. Kênh thông tin đối ngoại của Phòng Công nghiệp và Thƣơng mại Việt Nam (2015),

Thu hút đầu tư tỉnh Hải Dương: Không chỉ còn là khẩu hiệu, tại trang,

http://vccinews. vn/news/14179/thu-hut-dau-tu-tinh-hai-duong-khong-chi-con-

la-khauhieu.html, [truy cập, ngày 4/9/2015].

79. Phạm Thị Khanh – Chủ biên (2010), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

phát triển bền vững ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

80. Hà Thị Hƣơng Lan (2014), Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở

Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà nội.

81. Trần Quang Lâm (2005), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và

triển vọng, (Chủ nhiệm), Đề tài cấp bộ, Hà Nội.

82. Trần Quang Lâm và An Nhƣ Hải (2006), kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở

Việt nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

83. Mai Linh (2014), Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiết lộ bí quyết

thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, CAFEF, tại trang, http://cafef.vn/

kinh-te-vi-mo-dau-tu/pho-chu-tich-ubnd-tinh-bac-ninh-tiet-lo-bi-quyet-thu-

hut-von-fdi-201410281619361407.chn, [Truy cập ngày, 21/10/2015].

84. Nguyễn Mại (2015), Quá trình hình thành và phát triển chính sách thu hút đầu tư

nước ngoài của Việt Nam, Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, tại trang,

http://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/ncvtd/ncvtd_chitiet?dDo

cName=BTC207081&_afrLoop=16920803076355132#!%40%40%3F_afrLoo

p%3D16920803076355132%26dDocName%3DBTC207081%26_adf.ctrl-

state%3D6 z9urhto_84, [truy cập ngày 19/10/2015].

85. Nguyễn Văn Nam, Ngô Thắng Lợi (2010), “Phát triển vùng kinh tế trọng điểm -

Một giải pháp cho mô hình phát triển toàn diện ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh

tế và Phát triển, (154).

86. Trần Quang Nam (2010), “Cơ sở khoa học hoàn thiện chính sách nhà nước đối

với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Trƣờng

Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

166

87. Lê Văn Nắp (2009), “Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng cơ chế phối hợp giữa

các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ”, Đề tài cấp Bộ,

Văn phòng Ban chỉ đạo điều phối phát triển các vùng KTTĐ, Hà Nội.

88. Ncseif.gov.vn (2013), Bí quyết thu hút đầu tư trực tiếp của một số nước châu Á và

bài học cho Việt Nam, Tạp chí Tài chính, tại trang, http://tapchitai chinh.vn/

nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/bi-quyet-thu-hut-fdi-cua-mot-so-nuoc -

chau-a-va-bai-hoc-cho-viet-nam-34326.html, [truy cập ngày 17/10/2013].

89. Nick J.Feeman (2007), “20 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Một chặng

đường nhìn lại và hướng tới tương lai”, Nxb Tri thức, Hà Nội.

90. Ngân hàng thế giới (2005), Thực thi hợp đồng: những phát hiện qua báo cáo về

hoạt động kinh doanh 2005 ở một số quốc gia Châu Á, Hà Nội.

91. Phan Công Nghĩa (2000), Giáo trình thống kê kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội.

92. Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phƣơng (2010), Giáo trình kinh tế đầu tư,

Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

93. Nguyễn Thị Kim Nhã (2005), Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở Việt nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trƣờng Đại học kinh tế quốc

dân, Hà Nội.

94. P/V (2015), Hải Phòng: Đột phá thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Báo Công

thƣơng, tại trang, http://baocongthuong.com.vn/hai-phong-dot-pha-thu-hut-

fdi.html, [truy cập, ngày, 8/5/2015].

95. Trƣơng Thái Phiên (2000), Chiến lược đổi mới chính sách huy động các nguồn

vốn nước ngoài phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001

– 2010, Đề tài cấp Bộ của Vụ Tài chính đối ngoại, Bộ Tài chính.

96. Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ (1999), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều

kiện hội nhập với khu vực và thế giới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

97. Bích Phƣợng (2016), Vĩnh Phúc: Tìm hướng đi riêng để thu hút đầu tư, Cổng

thông tin và giao tiếp tỉnh Vĩnh Phúc, tại trang, http://www.vinhphuc.gov.

vn/ct/cms/tintuc/ Lists/KinhTe/View_Detail.aspx? ItemID=3208, [truy cập

ngày 01/01/2016].

167

98. Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Đầu tư, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

99. Sở Lao động – Thƣơng binh và Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc (2012), báo cáo về việc

thực hiện các chính sách pháp luật lao động cho người lao động trong các

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Vĩnh Phúc.

100. Sở Lao động – Thƣơng binh và Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc (2012), báo cáo về tình

hình lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và phát triển

nguồn nhân lực,Vĩnh Phúc.

101. Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Vĩnh Phúc (2012), Báo cáo tình hình đầu tư

cho bảo vệ môi trường của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa

bàn tỉnh, Vĩnh Phúc.

102. Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Vĩnh Phúc (2012), Báo cáo về việc chấp

hành pháp luật về môi trường của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp

nước ngoài trên địa bàn tỉnh. Vĩnh Phúc.

103. Nguyễn Đình Tài (2013), “Chống chuyển giá đối với các doanh nghiệp có vốn

đầu tƣ nƣớc ngoài”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (541).

104. Tatyana P.Soubbotina (2005), Không chỉ là tăng trưởng kinh tế, Nhập môn về

phát triển bền vững, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

105. Tô Hiến Thà (2013), Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Thực trạng và giải pháp phát

triển công nghiệp theo hướng bền vững, Tạp chí doanh nghiệp và thƣơng mại,

tại trang http://doanhnghiepvathuongmai.vn/, [truy cập ngày 06/09/2013].

106. Nguyễn Quang Thái (2004), "Mấy vấn đề về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt

Nam", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (05+06).

107. Bùi Tất Thắng – Chủ biên (2006), Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt

Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

108. Phan Hữu Thắng (2012), “25 năm thu hút FDI: Góc nhìn từ quản lý nhà nƣớc”,

Tạp chí Kinh tế & Dự báo, (531+532).

109. Tạ Đình Thi (2004): “Mấy vấn đề về môi trƣờng làng nghề vùng kinh tế trọng

điểm Bắc Bộ”, Tạp chí Bảo vệ môi trường, (11).

168

110. Tạ Đình Thi (2007), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên quan điểm phát triển

bền vững của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ- Việt Nam”, Luận án tiến

sĩ, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

111. Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Văn Phú, (2006), Phát triển kinh tế vùng trong

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

112. Nguyễn Thị Thƣ (2008), “Thu hút vốn nước ngoài ở các nước đang phát triển

và bài học cho Việt Nam”, (Chủ nhiệm), Đề tài cấp Bộ, Trƣờng Đại học

Kinh tế - ĐHQGHN, Hà Nội.

113. Thủ tƣớng Chính phủ (1997), Quyết định số 747/1997/QĐ-TTg ngày

11/7/1997 về“Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng

KTTĐBB giai đoạn 2006-2010”, Hà Nội.

114. Thủ tƣớng Chính phủ (2004), Quyết định số 145/2004QĐ-TTg ngày 13/8/2004

về “Phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng

điểm Bắc Bộ tới năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020”, Hà Nội.

115. Thủ tƣớng Chính phủ (2005) Quyết định số 191/QĐ-TTg ngày 17/8/2006 về

“Chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 54-NQ/TW”, Hà Nội.

116. Thủ tƣớng Chính Phủ (2008), Quyết định số 34/2009/QĐ-TTg ngày 02/3/2009 về

“Quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc bộ đến năm

2020”, Hà Nội.

117. Thủ tƣớng Chính Phủ (2008), Quyết định số 865/QĐ-TTg ngày 10/7/2008 về

việc“Quy hoạch xây dựng vùng Duyên hải Bắc Bộ đến năm 2025 và tầm

nhìn đến năm 2050”, Hà Nội.

118. Thủ tƣớng Chính Phủ (2008), Quyết định số 98/2008/QĐ-TTg ngày 11/7/2008

về “Quy hoạch phát triển hành lang kinh tế Lạng Sơn-Hà Nội-Hải

Phòng-Quảng Ninh đến năm 2020”, Hà Nội.

119. Thủ tƣớng Chính Phủ (2011), Quyết định số 05/2011/QĐ-TTg ngày 24/01/2011

về “Quy hoạch phát triển giao thông vận tải vùng kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”, Hà Nội.

169

120. Thủ tƣớng Chính Phủ (2011), Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 23/11/2015 về

“Điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông vận tải vùng kinh tế trọng

điểm Bắc Bộ đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”, Hà Nội.

121. Thủ tƣớng Chính Phủ (2013), Quyết định 795/2013/QĐ-TTg ngày 23/5/2013

về“Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội vùng Đồng Bằng Sông Hồng tới năm

2020”, Hà Nội.

122. Thủ tƣớng Chính phủ (2014), Quyết định số 198/2014/QĐ -TTg ngày 25/01/2014

về “ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng vùng kinh tế trọng

điểm Bắc Bộ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, Hà Nội.

123. Thủ tƣớng Chính Phủ (2015), Quyết định số 2059/QĐ-TTg ngày 24/11/2015 về

“Thành lập Ban Chỉ đạo điều phối phát triển các cùng kinh tế trọng điểm

(gọi tắt là Ban Chỉ đạo) và Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và

các vùng kinh tế trọng điểm khác…”, Hà Nội.

124. Mạc văn Tiến (2006), “Một số vấn đề về việc tham gia bảo hiểm xã hội của các

doanh nghiệp ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (332).

125. Nguyễn Tiệp (2007), “Việc làm và đời sống của ngƣời lao động trong các doanh

nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (348).

126. Tổng Cục Thống kê (2008), Báo cáo đầu tư trực tiếp nước ngoài 7 năm đầu

thế kỷ XXI, Hà nội.

127. Tổng Cục thống kê (2013), Niên giám Thống kê Việt Nam 2012, Nxb Thống

kê, Hà Nội.

128. Tổng Cục thống kê (2014), Niên giám Thống kê Việt Nam 2013, Nxb Thống

kê, Hà Nội.

129. Tổng Cục thống kê (2015), Niên giám Thống kê Việt Nam 2014, Nxb Thống

kê, Hà Nội.

130. Tổng Cục Thống Kê, Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoan 2000-2013, tại trang, http://gso.

gov.vn/Default.aspx?tabid=382&ItemID=14002, [Truy cập ngày 7/7/2014].

170

131. Tổng Cục Thống Kê, Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo

thành phần kinh tế, tại trang, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=

715, [truy cập ngày 20/6/2015].

132. Tổng Cục Thống Kê, Vốn đầu tư phát triển toàn xă hội thực hiện phân theo

thành phần kinh tế, tại trang, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid

=715, [truy cập ngày 20/6/2015].

133. Thu Trang (2015), Hà Nội sẽ tập trung thu hút đầu tư vào 3 lĩnh vực đột phá, Báo

Đầu tƣ Online, tại trang, http://baodautu.vn/ha-noi-se-tap-trung-thu-hut-dau-

tu-vao-3-linh-vuc-dot-pha-d31682.html, [truy cập ngày 24/08/2015].

134. Nguyễn Xuân Trung (2012), Nâng cao chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài

tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020, NxB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

135. Nguyễn Phú Tụ, Huỳnh Công Minh (2010), “Mối quan hệ giữa đầu tƣ trực tiếp

nƣớc ngoài với tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam”, Tạp chí Phát triển

kinh tế, (239).

136. Nguyễn Đức Tuấn (2004), Địa lý kinh tế học, Nxb Thống Kê, Hà nội.

137. Nguyễn Văn Tuấn (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở

Việt Nam, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội.

138. Nguyễn Minh Tuấn (2010),“Tác động ngƣợc của hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài tới

sự phát triển bền vững ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (155).

139. Trần Minh Tuấn (2010), “Tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với

kinh tế Việt Nam trong những năm qua”, Tạp chí Quản lý kinh tế, (35).

140. Vƣơng Đức Tuấn (2007), “Hoàn thiện cơ chế chính sách thu hút đầu tư trực

tiếp nước ngoài ở thủ đô Hà Nội trong giai đoạn 2001 – 2010”, Luận án

tiến sĩ, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

141. V.I.Lênin Toàn tập (1957), Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ

nghĩa tư bản, NXB Sự thật, Hà Nội.

142. Bùi Thúy Vân (2011), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với việc chuyển dịch cơ

cấu hàng xuất khẩu ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ”, Luận án tiến sĩ, Trƣờng

Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

171

143. Linh Vân (2013), 90% doanh nghiệp nhỏ và vừa không tiếp cận được vốn vay ưu

đãi, Báo Diễn đàn doanh nghiệp, tại trang, http://enternews.vn/90-dnnvv-

khong-tiep-can-duoc-von-vay-uu-dai.html, [truy cập ngày 12/04/2013].

144. Viện Công nhân và Công đoàn (2007), Báo cáo kết quả khảo sát thực tế về quan

hệ lao động trong các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, Hà Nội.

145. Viện Chiến lƣợc và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính (12/2011), Tài liệu hội

thảo chính sách tài chính hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ, Hà Nội.

146. Viện Nghiên cứu và Quản lý Trung ƣơng (CIEM) và Sida (2010), Dự án Nâng cao

năng lực nghiên cứu chính sách để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã

hội của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, Hà Nội.

147. Hà Thanh Việt (2007), Thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

trên địa bàn Duyên hải Miền trung, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trƣờng Đại

học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

148. Ngô Doãn Vịnh (2003), Nghiên cứu chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế -

xã hội ở Việt Nam, Học hỏi và sáng tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

149. Ngô Doãn Vịnh – chủ biên (2005), Bàn về phát triển kinh tế (Nghiên cứu con

đường dẫn tới giàu sang), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

150. Ngô Doãn Vịnh (2006), Những vấn đề chủ yếu về kinh tế phát triển, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

TÀI LIỆU TIẾNG ANH

151. Aitken, B. and Harison A., (1993), Do Domestic Firms Benefit form Foreign

Direct Investment? Evidence from Panel Data, NBER Working Paper

No. 1248, Cambridge.

152. Bevan, A and S. Estrin (2000), “The determinants of Foreign Direct

Investment in Transition Economies”, William Davidson Institute

Working paper number 342.

153. Blomstom, M. and Worff E. N., (1989), "Multinational Corporations and

Productivity Convergence in Mexico”, NBER Working Paper No 3141,

Cambridge.

172

154. Caves, R. E (1974), “International Trade, International Investment, and

Imperfect Markets”, Special Papers in International Economics, No. 10,

Princeton University.

155. Cohen, B., (1975), Multinational Firms and Asian Exports, New Haven, Yale

University Press.

156. D. Gibbs và P. Deutz (2005), Implementing industrial ecology? Planning for

eco-industrial parks in the USA, Published by Elsevier, USA.

157. Duce, M. and Banco de Espana (2003), Definition of Foreign Direct

Investment (FDI); a methodological note, http://www.bis.org/

publ/cgfs22bde3.dp [truy cập ngày 14/8/2009].

158. Dunning (1996), H.J and R.Narula, FDI and Government: Analysts for

Economic Restructuring, London and New York, Routledge.

159. Helpman, E., (1984), “A Simple Theory of International Trade with Multinational

Corporations”, The Journal of Political Economy, Vol. 92, No.3.

160. JICA (2003), The study on FDI promotion strategy in The Socialist Republic of

Vietnam.

161. Jo, Sung-Hwan (1980), Direct Private Investment, Macroeconomics and

Industrial Development in Korea, Korea Development Institute, Seoul.

162. Kellar, V., (1977), Impact of Private Foreign Investments in India, 1964-72:

An Economic Analysis, in Charan Wadhwa (Ed.), Some Problems of

India’s Ecnomic Policy, New Dehli, Tata McGraw Hill, 729-43.

163. Kokko, A., (1994), "Technology, Market Characteristics and Spillovers",

Journal of Development Economics, 43, 279-93.

164. Mac-Dougall, G.D.A (1960), Benefit and Costs of Private Investments from

abroad: A theorical Approach, Economic Record.

165. Moosa, I (2002), Foreign Direct Investment Theory, Evidence and Practive,

Palgrave Maemillan.

166. Newfarmer, R. S., and Marsh L. C., (1981), Foreign Ownership, Market

Structure and Industrial Performance - Brazil's Electrical Industry",

Journal of Development Economics, 8, 47-75.

173

167. Riedel, J., (1975), The Nature and Determinant of Export-oriented Direct

Foreign Investment in a Developing Countries, Clarendon Press, Oxford.

168. Shaukat Ali, Wei Guo (2005), “Determinants of FDI China”, Journal of Global

Business and Technology, Vo1, No 2.

169. Subrahmanian, K. K., Pillai M. P., (1979), Multinationals and Indian Export,

Allied, New Delhi.

170. United Nations Conference on Trade and Development (2012) World

Investment Report 2012: Towards A New Generation Of Investment

Policies, United Nations New York and Geneva.

171. United Nations Conference on Trade and Development (2013), World

Investment Report 2013: Global Value Chains: Investment And Trade

For Development, United Nations New York and Geneva.

174

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Các giai đoạn phát triển của W Rostow và Tatyana P.Soubbotina

1.1. Quan điểm W.W. Rostow

STT Các giai đoạn

Đặc điểm

1

Xã hội truyền thống

2

Chuẩn bị cất cánh

Sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu và bằng công cụ thủ công, khoa học kỹ thuật chƣa phát triển; hoạt động kinh tế nông nghiệp non kém do sản xuất tự cung tự cấp Là thời kỳ quá độ giữa xã hội truyền thống và cất cánh; công nghiệp bắt đầu đƣợc hình thành và thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hƣớng sản xuất hàng hóa

3

Cất cánh

Công nghiệp ra đời và phát triển; thời kỳ công – nông nghiệp là giai đoạn trung tâm của sự phát triển; xã hội truyền thống bị đẩy lùi; khoa học công nghệ tác động mạnh đến sản xuất; Các khu vực đô thị và dịch vụ đƣợc phát triển.

4

Tăng trƣởng

5

Tỷ lệ đầu tƣ/thu nhập quốc dân đạt mức cao và thƣờng xuất hiện nhiều cực tăng trƣởng mới, công nghiệp phát triển mạnh Kinh tế phát triển cao, sản xuất hàng hóa phát triển mạnh, thị trƣờng linh hoạt và có hiện tƣợng giảm nhịp độ tăng trƣởng

Mức tiêu dùng cao Nguồn: [107].

1.2. Các giai đoạn phát triển kinh tế theo Tatyana P.Soubbotina

Đặc điểm

Các giai đoạn

Công nghiệp Hậu công nghiệp

Tiền công nghiệp, nông nghiệp

(tri thức)

tiêu

công

tác giữa

Ngành kinh tế chủ lực Bản chất của công nghệ chủ đạo Loại sản phẩm dùng chính Bản chất của hầu hết các quy trình

Nông nghiệp Sử dụng nhiều lao động và tài nguyên Lƣơng thực và quần áo chế tạo thủ công Tƣơng tác giữa ngƣời và thiên nhiên

Dịch vụ Sử dụng nhiều chất xám Thông tin và dịch vụ tri thức Tƣơng ngƣời với ngƣời

Công nghiệp Sử dụng nhiều vốn Hàng nghiệp Tƣơng tác giữa ngƣời và máy móc NSLĐ cao

tạo/ năng

Sáng xuất tri thức

Yếu tố chính của thịnh vƣợng kinh tế và tăng trƣởng

Năng xuất của tự nhiên (độ phì nhiêu của đất, khí hậu và nguồn lợi sinh học

Nguồn: [104].

175

Phụ lục 2. Tập đoàn Kenmark và món nợ 50 triệu USD

Từ hoành tráng đến... be bét Năm 2005, UBND tỉnh Hải Dƣơng chấp thuận cho Tập đoàn Kenmark (Đài Loan) đầu tƣ 500 triệu USD vào KCN Việt Hoà (TP Hải Dƣơng). Theo Sở Kế hoach và Đầu tƣ Hải Dƣơng, tại thời điểm đó, đây là dự án ĐTNN có quy mô lớn nhất từ trƣớc đến nay vào tỉnh này.

Theo giấy phép đầu tƣ, Kenmark sẽ xây dựng các khu sản xuất công nghiệp, kinh doanh - dịch vụ, khu đô thị, nghỉ ngơi - giải trí cho ngƣời lao động trên mặt bằng 130 ha. Theo đó, dự án sẽ đƣợc triển khai thành hai giai đoạn, trƣớc mắt đầu tƣ giai đoạn một trên diện tích 46 ha, với tổng vốn hơn 90 triệu USD.

“Sai lầm lớn nhất của BIDV Thành Đô là đã cho Kenmark vay tiền để xây dựng tài sản cố định. Việc BIDV Thành Đô cho Kenmark vay vốn để xây dựng tài sản cố định là sai về bản chất và chủ trương thu hút FDI của Chính phủ. Chúng tôi cần nhà đầu tư nước ngoài mang vốn vào, chứ anh vào mà lại vay tiền của ngân hàng trong nước để đầu tư, chúng tôi cần gì”. (Ông Mai Đức Chọn - Trƣởng ban Quản lý KCN Hải Dƣơng).

Một số DN ký hợp đồng xây dựng nhà xƣởng cho Kenmark cho biết, lợi thế của dự án Kenmark là đã đƣợc định hƣớng trong quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Hải Dƣơng, phù hợp với quy hoạch chung của TP Hải Dƣơng giai đoạn 2002-2020. Chính vì thế, chủ đầu tƣ đã dễ vay vốn từ các ngân hàng trong nƣớc.

Theo nhiều nguồn tin, Kenmark đã vay khoảng 50 triệu USD từ Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Thành Đô, SHB chi nhánh Quảng Ninh, Habubank chi nhánh Bắc Ninh, trong đó, BIDV chi nhánh Thành Đô cho vay nhiều nhất.

Tháng 5-2010, hai nhà máy của Kenmark đột ngột ngừng sản xuất. Trƣớc khi bỏ về nƣớc, chủ đầu tƣ thanh toán tiền lƣơng tháng 5 cho công nhân, sau đó, thông báo cho UBND tỉnh Hải Dƣơng biết về việc ngừng hoạt động tại Việt Nam. Biết chủ đầu tƣ đổ bể, tại thời điểm đó, đã xảy ra tranh chấp phức tạp khi nhiều nhà thầu xây dựng nhà xƣởng cho Kenmrak ồ ạt vận chuyển hàng nghìn tấn thép ra khỏi KCN Việt Hoà - Kenmark để thu hồi công nợ.

Ngày 25/5/2010, trong khi đang thi công tuyến đƣờng chạy xung quanh xƣởng, lắp dựng và làm nền móng nhà trong khu vực của Kenmark, Công ty TNHH Hà Phát đã bị đại diện BIDV Thành Đô phối hợp với cơ quan chức năng thu giữ toàn bộ phƣơng tiện, thiết bị thi công.

Công ty Hà Phát là đơn vị đã ký hợp đồng với Công ty TNHH Phát triển kiến trúc Chu Yu Yi (nhà thầu chính) xây dựng và lắp đặt khung nhà xƣởng cho Kenmark. Từ đây, nhà thầu, chủ nợ xảy ra tranh chấp, đến nỗi Công an tỉnh Hải Dƣơng phải vào cuộc.

Sau đó, Ban quản lý KCN Hải Dƣơng ra thông báo đóng cửa KCN Việt Hoà - Kenmark để bảo vệ tài sản. Từ tháng 5-2010 đến nay, khu nhà xƣởng của Kenmark đóng cửa, không hoạt động. Còn ông chủ Đài Loan về nƣớc, bỏ lại cả đống nợ. Chỉ khổ Công ty TNHH Hà Phát, đến nay vẫn bị giữ máy móc, không có phƣơng tiện hoạt động, tiền công thì bị nợ.

Lỗi từ ngân hàng? Hiện, khu nhà xƣởng KCN Việt Hoà - Kenmark vẫn bỏ không. Toàn KCN trƣớc đây hoạt động rầm rộ nay im lìm. Các nhà thầu xây dựng cũng không còn một ai. Phía cổng chính, ngƣời đang làm việc duy nhất là cán bộ bảo vệ. Dòng chữ KCN Việt Hoà -

176

Kenmark cũng đã đƣợc gỡ bỏ. Đến nay, sau gần hai năm Kenmark đóng cửa, tỉnh Hải Dƣơng vẫn chƣa biết phải xử lý hậu quả ra sao.

Ông Mai Đức Chọn - Trƣởng ban quản lý KCN Hải Dƣơng cho biết, sau vụ đổ bể của Kenmark, nhiều nhà đầu tƣ Nhật Bản và cả DN lớn trong nƣớc tỏ ý muốn thuê nhà xƣởng Kenmark nhƣng vẫn chƣa ai vào.

Làm việc với PV Tiền Phong, ông Nguyễn Xuân Đoan - Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Hải Dƣơng cho biết, thực ra Kenmark chỉ bỏ ra khoảng vài chục triệu đô la, số còn lại đều vay của các ngân hàng Việt Nam.

Ông Mai Đức Chọn cho biết, thực tế không phải Kenmark bỏ trốn vì thi thoảng ông Hoàng (chủ ngƣời Đài Loan của Kenmark) vẫn sang Việt Nam. “Đất đai vẫn nguyên, nhà xƣởng vẫn nguyên làm sao có thể nói là họ bỏ trốn đƣợc. Việc cơ quan Công an đánh giá là họ bỏ trốn, lừa đảo thì đó là nhận định của phía công an” - ông Chọn nói.

Về thông tin cho rằng do lãnh đạo Ban quản lý KCN xác nhận nên Kenmark mới vay đƣợc tiền từ các ngân hàng Việt Nam, ông Chọn nói: “Một DN vào đầu tƣ, rồi vay vốn ngân hàng là chuyện bình thƣờng. Thực ra khi đầu tƣ, DN nào cũng phải vay. Có điều, sai lầm lớn nhất của BIDV Thành Đô là đã cho Kenmark vay tiền để xây dựng tài sản cố định. Việc BIDV Thành Đô cho Kenmark vay vốn để xây dựng tài sản cố định là sai về bản chất và chủ trƣơng thu hút FDI của Chính phủ. Chúng tôi cần nhà ĐTNN mang vốn vào, chứ anh vào mà lại vay tiền của ngân hàng trong nƣớc để đầu tƣ, chúng tôi cần gì”.

Xin khoanh nợ? Lý giải về nguyên nhân đổ bể của Kenmark, ông Chọn cho biết, thực ra Kenmark là một Công ty gia đình, đầu tƣ tại nhiều nƣớc nhƣ Mỹ, Anh, Úc, Malaysia. Sau khi đầu tƣ, vì khủng hoảng tài chính và do tác động từ các Công ty mẹ nên Kenmark không có khả năng về vốn.

“Một nguyên nhân khác khiến Kenmark đổ bể, là do ông Hoàng (chủ đầu tƣ Kenmark) bị đánh bật khỏi thành viên Hội đồng quản trị tại nhà máy chế biến gỗ ở Malaysia. Thực tế, hai nhà máy của Kenmark tại Hải Dƣơng chủ yếu đƣợc Công ty ở Malaysia rót vốn và cung cấp trang thiết bị (Kenmark chỉ đóng góp nhà xƣởng), nên khi ông Hoàng bị rút khỏi Hội đồng quản trị ở Công ty Malaysia, hai nhà máy tại Hải Dƣơng cũng chết theo”, ông Chọn nói.

Về việc xử lý hậu quả vụ đổ bể của Kenmark, ông Chọn cho biết, từ tháng 5-2010 đến nay, nhà xƣởng của Kenmark vẫn chƣa có ai vào thuê nên phải đóng cửa. Phía Công ty Malaysia cũng rất muốn mua lại hai nhà máy của Kenmark tại Hải Dƣơng, nhƣng vƣớng vì không thỏa thuận đƣợc giá thuê nhà xƣởng từ Kenmark.

Theo ông Chọn, bán đƣợc KCN thì ông Hoàng may ra mới có điều kiện trả nợ ngân

hàng. Còn phần tiền ông Hoàng bỏ ra đầu tƣ sẽ rất khó thu hồi.

Ông Chọn cũng khẳng định, Công ty Kenmark đã bỏ ra khoảng 70-80 triệu USD để đầu tƣ xây nhà xƣởng, trong đó, vay tiền từ các ngân hàng trong nƣớc khoảng 50 triệu USD. Kenmark đang đề nghị với lãnh đạo tỉnh Hải Dƣơng đề xuất với BIDV Thành Đô (chủ nợ lớn nhất) để đƣợc giãn nợ. Chỉ có đƣợc giãn nợ, Kenmark mới có khả năng thu hồi vốn trả nợ cho ngân hàng.

Nguồn: [30].

177

Phụ lục 3. Cơ cấu của nền kinh tế (yếu tố hình thành và hình thức cơ cấu)

Kết cấu 3 khu vực: CN-NN-DV

Kết cấu nông nghiệp và phi nông nghiệp

CƠ CẤU THEO NGÀNH

Yếu tố nội sinh

Kết cấu SX vật chất và SX.SP DV

Theo vùng KT – XH (vùng lớn)

CƠ CẤU KINH TẾ

CƠ CẤU THEO LÃNH THỔ

Theo vùng trọng điểm và các vùng khác

Theo thành thị và nông thôn

Yếu tố ngoại sinh

CƠ CẤU THEO TP KT

Theo chế độ sở hữu

Nguồn: [149, tr.222]

Phụ lục 4. Các hình thức thức FDI theo Luật năm 2005 và năm 2014

1. Luật Đầu tư năm 2005 Đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 hết hiệu lực ngày 30/6/2015). Trong chƣơng 4, Điều 21 quy định các hình thức đầu tƣ trực tiếp:

Khoản 1. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà ĐTNN. Đây là loại hình doanh nghiệp do các nhà ĐTNN bỏ toàn bộ vốn thành lập, tổ chức và quản lý điều hành. Có đặc điểm là dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, có tƣ cách pháp nhân theo luật của nƣớc chủ nhà, sở hữu hoàn toàn của nƣớc ngoài. Chủ ĐTNN tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả SX-KD, quyền lợi và nghĩa vụ trong hoạt động thuộc hoàn toàn về nhà ĐTNN nhƣng thành lập pháp nhân tại nƣớc sở tại nên chịu sự kiểm soát bởi luật pháp của nƣớc sở tại.

Trong giai đoạn đầu thâm nhập vào nƣớc sở tại do chƣa am hiểu luật pháp, môi trƣờng và thủ tục của nƣớc nhận đầu tƣ nên hình thức này thƣờng không phổ biến. Tuy nhiên, khi các vấn đề trên đƣợc tháo gỡ thì đây là hình thức đƣợc các nhà ĐTNN ƣa chuộng và mở rộng trong quan hệ KTQT. Vì họ muốn tự mình quyết định, quản lý và hƣởng các lợi ích mà hoạt động đầu tƣ mang lại.

Khoản 2. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà ĐTTN và ĐTNN.

178

Đây là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế trong đó có nhiều bên tham gia có quốc tịch khác nhau giữa một bên là đối tác trong nƣớc với các nhà ĐTNN. Hình thức này có đặc điểm là thành lập DN mới theo pháp luật của nƣớc sở tại, có tƣ cách pháp nhân, các bên tham gia cùng kết hợp trên cơ sở cùng góp vốn, cùng quản lý, phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro. Đây là hình thức mà nƣớc tiếp nhận đầu tƣ có những lợi ích ngoài phần tiếp nhận đƣợc phần vốn góp còn có thể học tập đƣợc kinh nghiệm quản lý, tiếp thu kỹ thuật tiên tiến và đào tạo đội ngũ lao động. Nhƣng để có đƣợc lợi ích đó đòi hỏi đối tác của nƣớc sở tại phải có khả năng góp vốn, đủ trình độ tham gia quản lý… Đối với các nhà ĐTNN, hình thức này chỉ phù hợp với giai đoạn đầu, còn khi các nhà ĐTNN đã am hiểu về nƣớc sở tại, pháp luật và môi trƣờng đầu tƣ thì hình thức này không còn đƣợc ƣa chuộng, vì họ muốn quyền có quyền tự chủ lớn hơn, không muốn san sẻ lợi ích; còn đối với nƣớc tiếp nhận đầu tƣ thƣờng muốn tăng vốn góp để tiến tới có thể kiểm soát hoạt động của liên doanh do vậy thƣờng nảy sinh các mâu thuẫn.

Khoản 3. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, BOT, BTO, BT. - Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Co-openration Contract – BCC): là hình thức đầu tƣ đƣợc ký giữa các nhà đầu tƣ nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.

Có đặc điểm là hợp tác kinh doanh trên cơ sở ký hợp đồng, do đó sẽ quy định rõ trách nhiệm và phân chia lợi ích của các bên; nƣớc tiếp nhận đầu tƣ sẽ phê chuẩn hợp đồng giữa các bên, thời hạn hợp đồng do các bên thỏa thuận; loại hợp đồng này thƣờng áp dụng cho các lĩnh vực tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác.

- Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (Bui - Operate – Transfer – BOT): Hình thức đầu tƣ đƣợc ký giữa cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và nhà đầu tƣ để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tƣ chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nƣớc.

Đặc trƣng của loại hình này là dựa trên cơ sở pháp lý của hợp đồng, vốn của ĐTNN, hình thức này có thành lập pháp nhân mới (100% vốn nƣớc ngoài, liên doanh). Phạm vi áp dụng thƣờng là các công trình cơ sở hạ tầng (giao thông đƣờng sắt, bộ, cảng biển, thủy điện…).

- Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (Bui -Transfer – Operate – BTO): Là hình thức đầu tƣ đƣợc ký giữa cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và nhà đầu tƣ để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tƣ chuyển giao công trình đó cho Nhà nƣớc; Chính phủ dành cho nhà đầu tƣ quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tƣ và lợi nhuận. (tƣơng tự nhƣ BOT, chỉ khác nhau về quy trình).

- Xây dựng - Chuyển giao (Bui – Transfer – BT): Hình thức đầu tƣ đƣợc ký giữa cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và nhà đầu tƣ để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tƣ chuyển giao công trình đó cho Nhà nƣớc; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tƣ thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tƣ và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tƣ theo thoả thuận trong hợp đồng BT.

179

- Hợp tác công – tư (Public – Private Partnership – PPP): Là hợp đồng đƣợc ký kết giữa các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền với nhà đầu tƣ nhằm xây dựng công trình hay cung ứng dịch vụ công với một số tiêu chí riêng.

Các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền sẽ lập danh mục dự án ƣu tiên đầu tƣ PPP và tiến hành đấu thầu cạnh tranh để lựa chọn các nhà ĐTNN có đủ năng lực, kinh nghiệm với các tiêu chí đƣa ra. Đây là hình thức hợp tác tối ƣu hóa hiệu quả nguồn lực đầu tƣ và hiệu quả đầu ra. Nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nƣớc và ngƣời dân vì tận dụng đƣợc nguồn lực tài chính, phƣơng pháp quản lý từ nhà đầu tƣ, trong khi vẫn đảm bảo lợi ích cho ngƣời dân khi tiếp nhận dịch vụ công. Mỗi PPP sẽ đƣợc 2 bên đóng góp theo tỷ lệ vốn nhất định (tỷ lệ này tùy thuộc vào từng nƣớc, từng giai đoạn và từng dự án).

Khoản 4. Đầu tư phát triển kinh doanh. nhƣ: mở rộng quy mô, năng lực sản xuất, đổi

mới công nghệ, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trƣờng...

Khoản 5. Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Nhà đầu tƣ đƣợc góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt nam với tỷ

lệ đƣợc Chính phủ Việt nam quy định…

Khoản 6. Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại DN. Cần tuân thủ điều kiện quy

định trong Luật Đầu tƣ, cạnh tranh và các quy định khác của pháp luật.

Khoản 7. Các hình thức đầu tư trực tiếp khác. Nhƣ đầu tƣ FDI tại khu chế xuất, KCN, khu công nghệ cao và đặc khu kinh tế. Việc

phân loại các hình thức này chủ yếu căn cứ theo hình thức pháp lý.

2. Luật Đầu tư năm 2014 Đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015. Tuy nhiên cho đến nay (7/2015) vẫn chƣa có Nghị định hƣớng dẫn thi hành.

So với luật năm 2005, luật năm 2014 có nhiều thay đổi quan trọng, đặc biệt là các quy

định về cấm đầu tƣ, đầu tƣ có điều kiện và cải cách thủ tục hành chính về đầu tƣ.

Luật Đầu tƣ 2014 đã bỏ một số hình thức đầu tƣ nhƣ: hợp đồng BOT, BTO, BT; đầu tƣ phát triển kinh doanh; đầu tƣ thực hiện việc sáp nhập và mua lại DN. Đồng thời, đã bổ sung làm rõ hình thức đầu tƣ theo hợp đồng PPP. Theo đó, nhà đầu tƣ, DN, dự án sẽ ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu tƣ xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công.

Ngoài việc bổ sung hình thức hợp đồng PPP, Công ty luật PLF còn cho biết, các hình

thức đầu tƣ còn lại cũng có những thay đổi đáng kể nhƣ sau:

- Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: Trƣớc khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà ĐTNN phải có dự án đầu tƣ, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ và phải đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ và các điều kiện theo quy định của điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Theo đó, về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, nhà ĐTNN được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ một số trƣờng hợp hạn chế theo

180

quy định của pháp luật về chứng khoán, về cổ phần hóa và chuyển đổi DN nhà nƣớc và các điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

- Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế và hình thức hợp đồng hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC. Quy định chi tiết về điều kiện, thủ tục đầu tƣ, các nội dung chủ yếu của hợp đồng BCC. Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các Luật Đầu tư.

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ Niên giám thống kê các năm và [132].

Phụ lục 5. Vốn đầu tƣ phát triển toàn xã hội phân theo TPKT(giá thực tế)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ Niên giám thống kê các năm và [131].

Phụ lục 6. GDP của Việt Nam qua các năm theo TPKT (giá thực tế)

181

Phụ lục 7. Sơ đồ về vai trò của vốn đầu tƣ đối với CDCCKT

Nguồn vốn đầu tƣ

Nguồn vốn trong nƣớc

Nguồn vốn nƣớc ngoài FDI, FII

CDCCKT

Nguồn: Xử lý của tác giả.

Số dự án

Địa phƣơng

Tổng vốn đầu tƣ đăng ký (Triệu USD)

Vốn điều lệ (Triệu USD)

5.271 303 3.051 1.241 2.513 452 59 56 566 76 327 113 97 59 588 35 311 118 210 38 55 327 236 83 95

38.275,81 26.810,22 23.824,68 21.645,43 20.086,41 11.281,22 10.653,86 10.276,04 7.668,64 6.910,28 6.539,30 5.237,34 5.091,62 4.857,26 4.231,13 4.070,75 3.736,23 3.521,84 3.181,74 2.925,05 2.870,34 2.837,50 2.754,76 2.305,44 2.286,50

13.848,40 7.555,87 8.281,98 8.232,34 7.125,77 3.513,51 3.686,91 2.937,16 1.325,82 370,67 1.914,16 1.570,25 1.275,21 1.233,82 1.717,56 750,38 1.707,81 757,43 1.083,79 1.254,48 2.401,69 1.004,91 1.245,56 549,53 561,98

TT 1 TP Hồ Chí Minh 2 Bà Rịa-Vũng Tàu 3 Hà Nội 4 Đồng Nai 5 Bình Dƣơng 6 Hải Phòng 7 Hà Tĩnh 8 Thanh Hóa 9 Bắc Ninh 10 Thái Nguyên 11 Hải Dƣơng 12 Quảng Ninh 13 Quảng Nam 14 Phú Yên 15 Long An 16 Quảng Ngãi 17 Đà Nẵng 18 Bình Thuận 19 Vĩnh Phúc 20 Kiên Giang 21 Dầu khí 22 Hƣng Yên 23 Tây Ninh 24 Thừa Thiên-Huế 25 Khánh Hòa

Phụ lục 8. Số dự án và lƣợng vốn FDI ở các địa phƣơng (tính đến 31/12/2014)

182

168 66 41 70 38 128 112 34 35 72 9 18 95 122 34 53 46 41 10 27 33 31 6 23 27 9 12 19 12 20 20 11 3 18 6 7 8 4 17.768

2.151,47 1.750,32 1.580,50 1.439,44 1.089,80 956,22 944,18 906,06 876,70 817,38 788,60 697,53 522,61 499,47 457,96 406,27 404,72 339,85 280,23 255,53 206,96 192,76 150,17 139,67 131,17 124,92 105,56 94,55 94,13 91,52 84,69 80,28 70,26 50,23 19,66 17,91 13,31 4,00 252.715,96

1.450,38 1.293,27 281,46 492,45 367,02 547,88 317,60 271,64 267,98 738,34 13,50 415,63 318,90 242,07 129,95 233,56 207,84 122,45 15,82 86,00 87,26 130,60 14,47 91,77 73,63 28,79 23,22 76,92 67,56 85,55 43,22 19,51 69,88 39,05 9,05 8,44 9,31 3,00 84.601,97

26 Bắc Giang 27 Bình Định 28 Nghệ An 29 Tiền Giang 30 Ninh Bình 31 Bình Phƣớc 32 Hà Nam 33 Ninh Thuận 34 Lào Cai 35 Cần Thơ 36 Cà Mau 37 Hậu Giang 38 Phú Thọ 39 Lâm Đồng 40 Hòa Bình 41 Nam Định 42 Bến Tre 43 Thái Bình 44 Sơn La 45 An Giang 46 Trà Vinh 47 Lạng Sơn 48 Đắc Lắc 49 Yên Bái 50 Vĩnh Long 51 Tuyên Quang 52 Sóc Trăng 53 Bạc Liêu 54 Quảng Bình 55 Đồng Tháp 56 Quảng Trị 57 Gia Lai 58 Kon Tum 59 Cao Bằng 60 Đắc Nông 61 Bắc Cạn 62 Hà Giang 63 Lai Châu Tổng số Nguồn: [43].

183

Phụ lục 9. FDI tại Việt Nam theo lĩnh vực (tính đến tháng 31/12/2014)

TT

Chuyên ngành

Số dự án

Tổng vốn đầu tƣ đăng ký (Triệu USD)

CN chế biến,chế tạo KD bất động sản Xây dựng Dvụ lƣu trú và ăn uống SX,pp điện,khí,nƣớc,đ.hòa Thông tin và truyền thông Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa Vận tải kho bãi Nông,lâm nghiệp;thủy sản

Cấp nƣớc;xử lý chất thải Tài chính,n.hàng,bảo hiểm

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Nghệ thuật và giải trí 11 Khai khoáng 12 HĐ chuyên môn, KHCN 13 Y tế và trợ giúp XH 14 15 16 Giáo dục và đào tạo 17 Dịch vụ khác 18 Hành chính và dvụ hỗ trợ

Tổng số

9.600 453 1.166 371 98 1.095 1.383 448 528 148 87 1.698 97 38 82 204 141 131 17.768

141.406,72 48.279,84 11.400,44 11.193,58 9.774,84 4.124,87 4.030,74 3.755,34 3.721,75 3.634,14 3.375,26 1.797,38 1.754,56 1.348,49 1.332,38 819,91 754,13 211,60 252.715,96

Nguồn: [43].

Phụ lục 10. FDI tại Việt Nam tính theo đối tác (lũy kế các dự án còn hiệu lực

tính đến ngày 31/12/2014)

TT

Đối tác đầu tƣ

Vốn điều lệ (Triệu USD)

Tổng vốn đầu tƣ đăng ký (Triệu USD)

Hàn Quốc Nhật Bản Singapore Đài Loan BritishVirginIslands Hồng Kông Hoa Kỳ

Trung Quốc

1 2 3 4 5 6 7 8 Malaysia 9 10 Thái Lan 11 Hà Lan

Số dự án 4.190 2.531 1.367 2.387 551 883 725 489 1.102 379 229

37.726,33 37.334,52 32.936,86 28.468,53 17.990,04 15.602,96 10.990,15 10.804,66 7.983,93 6.749,18 6.625,40

10.697,62 11.997,50 8.538,04 11.938,59 5.893,88 4.924,81 2.625,06 3.691,23 3.160,96 2.964,40 2.558,12

184

Indonesia Italia Phần Lan

Philippines

Saint Kitts & Nevis

12 Cayman Islands 13 Canada Samoa 14 Pháp 15 16 Vƣơng quốc Anh 17 Liên bang Nga 18 Thụy Sỹ 19 Australia 20 Brunei 21 Luxembourg 22 CHLB Đức 23 British West Indies 24 Síp 25 Đan Mạch 26 Bỉ 27 28 29 30 Ấn Độ 31 32 Mauritius 33 Slovakia 34 Bermuda 35 Cook Islands 36 Ba Lan 37 TVQ Ả rập thống nhất 38 Na Uy 39 Channel Islands 40 Bahamas 41 Aó 42 Cộng hòa Séc 43 New Zealand 44 Belize 45 CH Seychelles 46 Thổ Nhĩ Kỳ 47 Isle of Man 48 Thụy Điển 49 Barbados 50 Lào 51 Campuchia 52 Panama 53 Hungary 54 Ma Cao 55 56 Tây Ban Nha 57 Liechtenstein 58 Bungary

57 143 122 426 199 106 101 326 160 32 247 7 13 112 56 42 61 10 92 72 39 5 6 3 12 8 30 14 3 21 36 25 11 16 12 2 40 2 8 14 10 14 9 2 39 2 10

5.948,49 4.995,24 4.270,18 3.324,50 3.159,04 1.957,43 1.943,83 1.655,97 1.624,38 1.579,09 1.359,75 992,20 960,19 705,28 419,76 386,41 384,92 325,28 299,18 298,13 282,84 235,47 232,57 191,00 138,79 135,10 120,88 113,98 108,65 94,17 91,71 82,12 81,10 76,19 70,95 70,00 69,57 68,14 66,75 56,62 51,72 51,13 45,95 39,69 35,97 35,50 30,94

1.510,57 1.122,83 1.513,46 1.669,92 1.700,85 1.732,28 1.173,38 645,29 649,21 804,30 627,44 252,04 122,52 242,31 89,21 148,59 114,45 44,50 158,02 142,15 164,12 12,47 139,45 22,57 58,72 28,14 51,35 41,06 22,95 43,36 44,43 44,38 37,46 37,09 24,53 10,40 25,86 32,19 11,96 21,77 39,76 13,49 26,85 12,63 19,17 10,82 27,63

185

Saint Vincent Srilanca

Island of Nevis Slovenia

Pakistan Secbia

Syria

59 Ukraina 60 Irắc 61 Ecuador Israel 62 63 Costa Rica 64 65 66 Dominica 67 Oman 68 St Vincent & The Grenadines Ireland 69 70 Cu Ba 71 72 73 Turks & Caicos Islands 74 Quốc đảo Marshall 75 Brazil 76 Nigeria 77 Rumani 78 Guatemala 79 80 81 CHDCND Triều Tiên 82 Guinea Bissau 83 84 Cộng hòa Kyrgyz 85 Ma rốc 86 Maurice 87 Libăng 88 Bangladesh 89 Guam 90 Jordan 91 Ai Cập 92 Cô Oét 93 Achentina 94 Estonia 95 Maldives 96 Nam Phi 97 Uruguay 98 Malta 99 Mexico 100 Sierra Leone 101 Iran

15 2 2 17 2 1 10 3 2 2 13 1 1 3 2 2 2 23 3 2 12 1 5 1 4 1 1 1 4 3 1 1 1 1 2 2 1 3 1 1 1 1 1 17.768

27,67 27,10 25,86 25,85 16,57 16,00 14,24 11,36 10,00 9,00 7,22 6,60 6,00 3,25 3,10 3,00 2,70 2,48 2,10 2,02 2,00 1,58 1,20 1,19 1,13 1,10 1,00 1,00 0,81 0,54 0,50 0,50 0,40 0,40 0,27 0,25 0,23 0,18 0,10 0,05 0,05 0,04 0,01 252.715,96

16,10 27,10 11,07 8,59 16,57 1,45 7,49 3,76 4,55 3,20 2,77 2,20 1,00 1,02 1,40 1,05 1,22 2,40 0,90 1,04 1,15 1,00 0,80 0,53 0,53 0,60 0,25 1,00 0,56 0,16 0,50 0,50 0,40 0,10 0,27 0,25 0,03 0,08 0,10 0,05 0,05 0,04 0,01 84.601,97

Tổng số Nguồn: [43]

186

Phụ lục 11. Vai trò của FDI đối với CDCCKT ngành và GDP

FDI (vốn, công nghệ, kỹ thuật,

trình độ quản lý…) GDP

Có sự phân bổ lại các yếu tố sản Tăng trƣởng kinh tế GDPcn

xuất tập trung vào khu vực công GDPdv CDCCKT

nghiệp và dịch vụ, giảm ở khu vực GDPnn

nông nghiệp

Nguồn: Xử lý của tác giả

Các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia ngƣời Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tƣ vào Mỹ, các nƣớc công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tƣơng tự. Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài, trong đó có đầu tƣ vào Mỹ. Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM đƣợc xem là một chiến lƣợc để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ƣu việt của IBM,…

Phụ lục 12. Một số biện pháp tiếp cận thị trƣờng và giảm xung đột thƣơng mại Nhật Bản thƣờng bị Mỹ và các nƣớc Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dƣ thƣơng mại còn các đối tác của Nhật Bản lại bị thâm hụt thƣơng mại trong quan hệ song phƣơng. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cƣờng đầu tƣ trực tiếp vào các thị trƣờng đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn tiến hành đầu tƣ trực tiếp vào các nƣớc thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trƣờng Mỹ và châu Âu.

Nguồn: Xử lý của tác giả.

Phụ lục 13. Những thay đổi chủ yếu trong chính sách thu hút FDI trong các thời kỳ sửa đổi Luật ĐTNN tại Việt Nam

Luật sửa đổi năm 1992 đến 1995

Luật sửa đổi năm 1996 đến 1999

Luật sửa đổi năm 2000 đến nay

Lĩnh vực chính sách Trình tự đăng ký

+ Dự án FDI đƣợc nhận giấy phép đầu tƣ trong vòng 45 ngày; + Sau khi có giấy phép, FIEs vẫn phải xin đăng ký hoạt động.

+ Ban hành danh mục FIEs đƣợc đăng ký kinh doanh, không cần xin giấy phép; + Bỏ chế độ thu phí đăng kýđầu tƣ FDI

+ FIEs đƣợc tự lựa chọn loại hình đầu tƣ, tỷlệ góp vốn, địa điểm đầu tƣ, đối tác đầu tƣ. + DN xuất khẩu sản phẩm trên 80% đƣợc ƣu tiên nhận giấy phép sớm; + UBND địa phƣơng tạo điều kiện mặt bằng kinh

+ Đƣợc thế chấp tài sản gắn liền với đất

Đất đai

+ Phía Việt Nam chịu trách nhiệm đền bù giải phóng

187

thanh

và giá trị quyền sử dụng đất;

mặt bằng cho các dự án có vốn FDI; + Dự án có vốn FDI đƣợc thuê đất để hoạt động, nhƣng không đƣợc cho các DN khác thuê lại.

+ Các dự án FDI đầu tƣ hạ tầng và thay thế nhập khẩu đƣợc nhà nƣớc bảo đảm cân đối ngoại tệ; + Các FIEs thuộc các lĩnh vực khác phải tự lo cân đối ngoại tệ; Nhà nƣớc không chịu trách nhiệm về cân đối ngoại tệ đối với các dự án này.

doanh khi dự án đƣợc duyệt; DN toán tiền giải phóng mặt bằng cho UBND + Đƣợc quyền cho thuê lại đất đã thuê tại các KCN,KCX; + Tự bảo đảm cân đối nhu cầu về ngoại tệ cho hoạt động của mình; + Áp dụng tỷ lệ kết hối ngoại tệ do tác động khủng hoảng tài chính khu vực (80%), sau đó nới dần tỷ lệ này. + DN có thể mua ngoại tệ với sự cho phép của Ngân hàng nhà nƣớc

+ Đƣợc mua ngoại tệ tại NHTM để đáp ứng nhu cầu giao dịch theo luật định; + Bãi bỏ yêu cầu chuẩn y khi chuyển nhƣợng vốn; giảm mức phí chuyển lợi nhuận ra nƣớc ngoài. + Giảm tỷ lệ kết hối ngoại tệ từ 80% xuống 50% đến 30% và 0% + Thu hẹp lĩnh vực yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu 80% sản lƣợng; + FIEs đƣợc tham gia dịch vụ đại lý XNK

+ Bãi bỏ hoàn toàn việc duyệt kế hoạch xuất khẩu của FIEs; + Cải tiến thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá đối với xét xuất xứ hàng hoá XNK

Tỷ giá, ngoại tệ Xuất nhập khẩu Thuế

+ Bãi bỏ qui định bắt buộc FIEs trích quĩ dự phòng; + Tiếp tục cải cách hệ thống thuế, từng bƣớc thu hẹp khoảng cách về thuế giữa đầu tƣ trong nƣớc và ĐTNN

+ DN phải bảo đảm tỷ lệ XK theo đã ghi trong giấy phép đầu tƣ; + Sản phẩm của FIEs không đƣợc bán ở thị trƣờng VN qua đại lý + FIEs không đƣợc làm đại lý XNK + Áp dụng thuế ƣu đãi cho các dự án đầu tƣ vào các lĩnhvực đặc biệt ƣu tiên với mức thuế thu nhập 10% trong vòng 15 năm kể từ khi hoạt động; + Mức thuế thu nhập của DN 100% vốn nƣớc ngoài không bao gồm phần bù trừ lợi nhuận của năm sau để bù cho lỗ của các năm trƣớc; + Không đƣợc tính vào chi phí sản xuất một số khoản chi nhất định; + Thuế NK đƣợc áp với mức giá thấp trong khung giá do Bộ Tài chính qui định;

+ Miễn thuế NK đối với thiết bị, máy móc, vận tải chuyên dùng, nguyên liệu vật tƣ...; +Miễn thuế nhập khẩu đối với DN đầu tƣ vào những lĩnh vực ƣu tiên, địa bàn ƣu tiên trong 5 năm đầu hoạt động; + DN XK đƣợc miễn thuế NK nguyên vật liệu để XK sản phẩm; + DN cung ứng SP đầu vào cho DN XK cũng thuế NK đƣợc miễn trung liệu nguyên vật gian với tỷ lệ tƣơng ứng;

Nguồn: [146].

188

Phụ lục 14. Bản đồ vị trí của vùng KTTĐBB trong cả nƣớc

Nguồn: Xử lý của tác giả.

189

1998

2006

Phụ lục 15. Kết nối vùng sông Mê-Kông mở rộng năm 1998 và 2006

Nguồn: Xử lý của tác giả

Phụ lục 16. Tiềm năng rừng, biển, đảo ở Quảng Ninh, Hải Phòng

thế giới từ ngày 19/12/2004. Hiện nay, số loài thực vật bậc cao ở trên cạn có >1.041 loài

=1/10 số lƣợng thực vật có mặt tại Việt Nam. Nơi đây có đầy đủ các nhóm sinh vật từ bậc

thấp tới bậc cao, trong khoảng hơn 2.300 loài, đã có tới 20 loài bậc cao, 25 loài động vật

quý hiếm đƣợc ghi trong sách đỏ Việt Nam.

Khu bảo tồn thiên nhiên Yên Tử có diện tích rừng thƣờng xanh lớn nhất vùng Đông

Bắc Việt Nam, là nơi sống của quần thể nhiều loài động thực vật quý hiếm: bò sát có 42 (16,1% tổng loài bò sát ở Việt Nam, lƣỡng cƣ 23 (21,7%), loài chim 161 (19,4%), loài thú

48 (20%).

Tỉnh Quảng Ninh với 2.078 đảo (chiếm 74,94% tổng số đảo ven bờ Việt Nam), Hải

Phòng với 243 đảo (chiếm 8,76%). Trong tổng số 84 đảo của cả nƣớc có diện tích trên 1 km2, chỉ có 33 đảo lớn và trung bình (có diện tích trên 5 km2), tập trung phân bố nhiều nhất ở vùng biển ven bờ Bắc Bộ (chiếm 59,5%). 03 đảo rộng trên 100 km2 của cả nƣớc thì 02 trong số đó là của VKTTĐBB: Cái Bầu (194 km2) và Cát Bà (160 km2).

Quần đảo Cát Bà chính thức đƣợc UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển

Nguồn: Xử lý của tác giả

190

Phụ lục 17. Những điểm du lịch quan trọng của vùng KTTĐBB

Nguồn: Xử lý của tác giả

Phụ lục 18. Thứ hạng về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) của các địa phƣơng ở vùng KTTĐBB qua các năm

2013

2014

Địa phƣơng

2005

2006

2007

2009 2010

2011 2012

Hà Nội

14/42

40/64

27/64

33/63 43/63

36/63

51/63

33/63 26/63

Hà Tây

42/42

62/64

41/64

-

-

-

-

-

-

Vĩnh Phúc

05/42

08/64

07/64

06/63 15/63

17/63

43/63

26/63

6/63

Bắc Ninh

23/42

22/64

20/64

10/63 06/63

2/63

10/63

12/63 10/63

Quảng Ninh

07/42

25/64

22/64

26/63 07/63

12/63

20/63

4/63

5/63

Hải Dƣơng

39/42

29/64

36/64

29/63 35/63

35/63

33/63

41/63 31/63

Hải Phòng

19/42

42/64

37/64

36/63 48/63

45/63

50/63

15/63 34/63

Hƣng Yên

15/42

16/64

26/64

24/63 61/63

33/63

28/63

53/63 51/63

Nguồn: [7].

191

Phụ lục 19. Hệ thống chính sách cho thu hút FDI trong CDCCKT ở vùng KTTĐBB

Chính sách thu hút vốn FDI nhằm thúc đẩy CDCCKT ở vùng KTTĐBB

Quy hoạch hình thành và phát triển vùng KTTĐBB

.

FDI trong CDCKT ở vùng KTTĐBB

1.

Chính sách KT – XH chung cho cả nƣớc

Nguồn: Xử lý của tác giả.

Phụ lục 20. Các hình thức FDI ở Việt nam qua các thời kỳ

Luật ĐTNN

Luật ĐTNN

Luật ĐTNN

Luật ĐTNN

Luật ĐTNN

Luật Đầu tƣ

Năm 1987

sửa đổi năm

bổ sung

Năm 1996

Sửa đổi

năm 2005

1990

năm 1992

năm 2000

BBC

BBC

BBC

BBC

BBC

BBC

DN hoặc

DN hoặc

DN hoặc

DN hoặc

DN hoặc

DN hoặc

công ty liên

công ty liên

công ty liên

công ty liên

công ty liên

công ty liên

doanh

doanh

doanh

doanh

doanh

doanh

DN 100%

DN 100%

DN 100%

DN 100%

DN 100%

DN 100%

vốn nƣớc

vốn nƣớc

vốn nƣớc

vốn nƣớc

vốn nƣớc

vốn nƣớc

ngoài

ngoài

ngoài

ngoài

ngoài

ngoài

Công ty cổ

Công ty cổ

phần có vốn

phần có vốn

ĐTNN

ĐTNN,

Công ty

quản lý vốn

Hợp đồng

Hợp đồng

BOT, BTO,

BOT, BTO,

BT

BT

Công ty mẹ

con

PPT…

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Luật ĐTNN qua các lần sửa đổi và các quy định pháp luật.

192

Phụ lục 21. Thu hút vốn FDI của vùng KTTĐBB 1988 - 31/12/2007

trong tƣơng quan với các vùng KTTĐ khác

Địa phƣơng

Số dự án

Số TT

Vốn đầu tƣ (USD)

Vốn điều lệ (USD)

Bắc Ninh Hà Nội Hà Tây Hải Dƣơng Hải Phòng Hƣng Yên Quảng Ninh Vĩnh Phúc

932,807,501 12,664,570,044 1,814,524,642 1,830,418,283 2,729,564,057 636,920,890 974,537,560 2,034,201,656 23,617,544,633

422,668,235 5,661,169,078 520,451,389 703,182,321 1,148,295,920 253,606,152 393,853,172 647,926,192 9,751,152,459

106 1011 80 278 270 118 95 151 2109

367,411,000 1,852,320,789 518,871,371 1,124,528,689 792,239,810 4,655,371,659

126,542,000 824,541,457 220,756,233 564,291,000 275,996,347 2,012,127,037

30 111 53 15 41 250

Bà Rịa - Vũng Tàu Bình Dƣơng Bình Phƣớc Đồng Nai Long An Tây Ninh Tiền Giang TP. Hồ Chí Minh

6,111,349,896 8,516,393,283 193,135,000 11,665,711,568 1,865,839,159 582,587,853 215,366,723 17,013,524,750 46,163,908,232

2,397,533,861 3,452,028,952 132,065,380 4,655,087,285 681,249,868 366,712,607 118,653,112 7,100,900,289 18,904,231,354

159 1581 61 917 188 148 15 2399 5468

TP. Cần Thơ An Giang Kiên Giang Cà Mau

I - Vùng KTTĐBB 2 1 3 4 5 6 7 8 Cộng II- Vùng KTTĐMT Bình Định 1 Đà Nẵng 2 Quảng Nam 3 Quảng Ngãi 4 5 Thừa Thiên - Huế Cộng III- Vùng KTTĐPN 1 2 3 4 5 6 7 8 Cộng IV- Vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long 1 2 3 4 Cộng Tổng cộng 4 vùng

145,546,611 15,161,895 457,358,000 6,875,000 624,941,506 75,061,766,030

91,508,213 4,846,000 202,298,000 6,875,000 305,527,213 30,973,038,063

45 4 10 4 63 7,890 Nguồn: Tác giả tính toán từ số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài năm 2008.

193

Phụ lục 22. Các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tƣ vào các vùng KTTĐ tính đến

20/11/2012*

KTTĐBB

STT

Quốc gia

Số dự án

BritishVirginIslands

Tổng vốn đầu tƣ (USD) 5,845,198,982 5,701,843,777 3,683,862,323 3,597,922,090 3,087,314,253 2,307,074,879 2,176,000,000 1,500,228,484 1,487,047,244 968,625,025 884,523,079 2,549,161,795 33,788,801,931

Tổng vốn đăng ký (USD) 1,534,602,619 1,998,223,511 870,791,270 1,541,809,517 605,699,698 620,115,812 809,362,725 242,475,391 355,325,952 376,470,127 387,466,064 989,166,717 10,331,509,403

1 Hàn Quốc 2 Nhật Bản 3 Hồng Kông 4 Malaysia 5 Singapore 6 Hà Lan Síp 7 8 Hoa Kỳ 9 10 Đài Loan 11 Trung Quốc Khác Cộng

854 515 114 77 152 28 3 70 55 177 253 492 2,790

Singapore

Cayman Islands

1 2 Hoa Kỳ 3 4 Hàn Quốc 5

BritishVirginIslands Khác Cộng

5,326,409,710 4,738,255,486 3,180,146,645 2,019,965,509 1,432,575,834 1,699,410,203 18,396,763,387

1,064,069,194 198,257,159 355,250,000 495,490,644 417,136,398 930,811,616 3,461,015,011

KTTĐMT 18 35 3 45 23 214 338 KTTĐPN

BritishVirginIslands Canada Thái Lan

1 Hàn Quốc 2 Singapore 3 Nhật Bản 4 Malaysia 5 Đài Loan 6 7 8 9 Hồng Kông 10 Hoa Kỳ 11 Cayman Islands 12 Samoa 13 Trung Quốc 14 Vƣơng quốc Anh

1,112 512 589 172 604 166 40 105 219 264 22 45 229 57

10,690,389,944 9,187,144,887 5,980,868,918 5,951,877,837 5,815,790,610 4,702,126,781 4,299,668,888 4,255,556,912 3,617,092,085 3,062,600,575 2,926,156,352 2,054,712,500 1,433,072,257 1,175,065,381

3,637,521,518 2,720,535,745 2,130,110,802 1,475,625,558 2,199,355,197 1,118,640,073 822,133,888 1,881,820,072 1,010,147,989 981,154,114 658,276,804 150,302,500 881,842,290 889,722,500

194

15 Hà Lan 16 Pháp Khác Cộng

777,432,284 664,898,891 2,511,865,341 69,106,320,443

438,736,161 143,427,162 907,265,087 22,046,617,460

68 108 601 4,913 KTTĐĐBSCL

BritishVirginIslands 1 2 Thụy Sỹ 3 Hoa Kỳ

Khác Cộng

Tổng cộng

5 6 12 62 85 8.216

2,246,200,000 894,451,282 847,772,447 323,869,839 4,312,293,568 121,291,893,887

928,200,000 894,451,282 30,608,161 166,754,711 2,020,014,154 37,859,156,028

* Các quốc gia và vùng lãnh thổ có tên với tổng vốn đầu tư trên 500 triệu USD trở lên.

Nguồn: Tính toán từ nguồn số liệu của Cục ĐTNN - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

lệ

STT Hình thức đầu tƣ

Số dự án

Vốn điều (Triệu USD)

1 2 3 4 5 6

Phụ lục 23. FDI tại Việt Nam theo hình thức đầu tƣ (lũy kế các dự án còn hiệu lực tính đến 31/12/2014) Tổng vốn đầu tƣ đăng ký (Triệu USD) 174.492,87 60.224,37 8.175,02 5.138,81 4.586,88 98,01 252.715,96

14.382 2.965 12 215 193 1 17.768

55.556,07 21.651,17 1.811,89 4.276,93 1.222,95 82,96 84.601,97

100% vốn nƣớc ngoài Liên doanh Hợp đồng BOT,BT,BTO Hợp đồng hợp tác KD Công ty cổ phần Công ty mẹ con Tổng số Nguồn: Xử lý của tác giả từ [43].

Phụ lục 24: Giá trị xuất khẩu vùng KTTĐ giai đoạn 2000-2014

(ĐVT: triệu USD).

Nguồn: Tính toán của tác giả từ Niên giám thống kê của các tỉnh.

195

Phụ lục 25. NSLĐ của Việt Nam và VKTTĐBB giai đoạn 2008-2014

(Giá hiện hành, ĐVT: Tr. VND).

Năm NSLĐ bình quân NSLĐ của kinh tế

NSLĐ của kinh

NSLĐ của khu

nhà nƣớc

tế ngoài nhà

vực FDI

nƣớc

Việt

Vùng

Việt

Vùng

Việt

Vùng

Việt

Vùng

Nam

KTTĐBB

Nam

KTTĐBB

Nam

KTTĐBB

Nam

KTTĐBB

2008

34,8

47,6

104,3

116

17,2

23,3

161,5

186,9

2010

44,3

64,9

124

162,4

22

32,9

189,4

227,9

2011

55,5

81,3

153,6

208,4

28,1

39,8

256,1

276,1

2012

63,2

95,5

178,2

243,2

32,6

47,4

290,4

305,5

2013

68,7

110,8

195,1

271,3

34,6

52,3

342,5

356,0

2014

74,7

120,8

206,7

300,4

37,7

57,9

348,6

358,5

Nguồn: Xử lý của tác giả từ các tài liệu Niên giám thống kê Việt Nam và các tỉnh.

Phụ lục 26. Đóng góp vào cơ cấu các yếu tố đầu vào cho tăng trƣởng kinh tế

Giai đoạn

Cơ cấu đóng góp của các yếu tố đầu vào

Vốn (%)

Lao động (%)

TFP (%)

1. Giai đoạn 1996-2000

- Cả nƣớc

67,3

17,2

15,5

- Các vùng KTTĐ

50,3

21,3

28,4

- Vùng KTTĐBB

42,1

34,9

23,0

- Vùng KTTĐ Phía Nam

52,2

15,5

32,3

2. Giai đoạn 2001-2010

- Cả nƣớc

61,5

26,0

12,5

- Các vùng KTTĐ

54,2

24,2

21,7

- Vùng KTTĐBB

51,2

23,2

25,6

- Vùng KTTĐ Phía Nam

59,0

25,8

15,2

Nguồn: Xử lý của tác giả từ Niên giám thống kê của các tỉnh.

196

Phụ lục 27. Mức trang bị tài sản cố định (TSCĐ) và đầu tƣ dài hạn cho một lao động

và FIES ở một số địa phƣơng vùng KTTĐBB giai đoạn 2003-2010

Địa phƣơng

Giá trị

Tổng số

Mức trang bị

Tổng

Mức trang bị

TSCĐ &

lao động

giá trị

giá trị

đầu tƣ

TSCĐ & đầu tƣ

TSCĐ & đầu tƣ

số FIES

dài hạn

dài hạn bình

dài hạn bình

(tỷ đồng)

trong các FIES (ngƣời)

quân/lao động

quân/DN

(tỷđồng/ngƣời)

(tỷ đồng/DN)

Hải Phòng

100.164,7

356.378

0,281

1240

80,77

Vĩnh Phúc

40.681

175.811

0,231

371

109,65

Hải Dƣơng

60.734,3

335.418

0,181

621

97,80

Hƣng Yên

14.855,2

155.651

0,095

436

34,07

Quảng Ninh

14.693,6

71.925

0,204

223

65,89

Nguồn: Xử lý của tác giả từ số liệu của Tổng Cục thống kê và [126].

Phụ lục 28. Về tuyển doanh nghiệp phụ trợ cho Samsung

Tính đến hết năm 2014, Samsung đã đầu tư tại Việt Nam trên 11,2 tỷ USD, trong đó của riêng Samsung Electronics là 9,4 tỷ USD. gồm SEV, SEVT ở Bắc Ninh, Thái Nguyên và Samsung CE Complex ở TP.Hồ Chí Minh

Sáng ngày 11/9/2014, Công ty Samsung Electronics Việt Nam (SEV) phối hợp cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Hiệp hội FIES (VAFIE) tổ chức buổi hội thảo gặp gỡ hơn 200 nhà cung cấp toàn quốc trong lĩnh vực khác nhau như điện tử, cơ khí, nhựa... nhằm thảo luận về giải pháp hỗ trợ phát triển nền công nghiệp phụ trợ của Việt Nam.

Samsung Vina đƣợc coi là ví dụ tiêu biểu cho thành công về thu hút ĐTNN của Việt Nam những năm qua. Năm 2013 Samsung đã xuất khẩu điện thoại di động với kim ngạch 23,9 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nƣớc. Việt Nam đã trở thành một cứ điểm sản xuất công nghệ cao của thế giới khi cứ 400 triệu điện thoại di động của Samsung đƣợc bán ra trên toàn cầu thì có 120 triệu điện thoại đƣợc sản xuất tại Bắc Ninh. Cùng với nhà máy Samsung mới đi vào hoạt động, Việt Nam thực sự trở thành cứ điểm sản xuất của tập đoàn Samsung trên toàn cầu.

Nhƣng tại buổi gặp gỡ các nhà cung cấp trong nƣớc sáng 11/9 nói trên, lãnh đạo công ty cho biết để xuất khẩu 24 tỷ USD mỗi năm, hãng này phải nhập về một lƣợng nguyên liệu đầu vào tƣơng đƣơng 19,8 tỷ USD. Đây cũng là câu chuyện cho thấy nhu cầu bức thiết phải phát triển công nghiệp phụ trợ Việt Nam, vốn đang đƣợc Chính phủ kỳ vọng sẽ chiếm 33% giá trị ngành chế biến - chế tạo vào năm 2020.

Trao đổi tại diễn đàn sáng nay, đại diện Samsung cho biết trong số gần 100 đối tác cung cấp linh kiện cho các nhà máy tại Thái Nguyễn và Bắc Ninh, chỉ có 7 công ty nội, mà chủ yếu "làm bao bì và đóng gói". Con số này cùng câu chuyện một lãnh đạo Bộ Công Thƣơng mới đây chia sẻ, rằng các DN Việt không thể sản xuất nổi cái ốc vít, sạc pin mà Samsung đặt hàng khiến không ít chủ DN "nóng mặt".

Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do Việt Nam chƣa có chiến

197

lƣợc đầu tƣ ƣu tiên phát triển một vài loại công nghiệp hỗ trợ quốc gia để tạo ra sản lƣợng quy mô lớn; Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ chƣa tạo lập mối liên kết giữa FIES và DN trong nƣớc. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chƣa tạo lập đƣợc các mô hình liên kết theo chiều dọc và theo chiều ngang để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tại cuộc hội thảo các DN Việt Nam cũng bày tỏ việc muốn hợp tác tham gia chuỗi cung ứng linh kiện cho Samsung. Tuy nhiên, khi đại diện phía Samsung giới thiệu 8 yêu cầu (về công nghệ, chất lƣợng, sự đáp ứng, giao hàng, giá cả, môi trƣờng, tài chính, luật) và 13 mục cần tuân thủ đối với nhà cung cấp cho Samsung thì hầu hết các DN đều lắc đầu kêu khó.

"Chúng tôi cấm các cơ sở kinh doanh nhận hối lộ, nhận quà tặng dưới hình thức giải trí, tiết lộ các thông tin độc quyền. Đồng thời, trong 13 mục cần tuân thủ, các nhà cung ứng phải đảm bảo đúng 5 khoản mục bắt buộc về lao đồng/quyền con người và 8 mục bắt buộc về môi trường và an toàn. Tiêu chuẩn với nhà cung cấp mới đăng ký phải uy tín hơn so với nhà cung cấp cũ", phía Samsung cho biết.

Nói về các tiêu chí này, ông Đỗ Nhất Hoàng - Cục trƣởng Cục ĐTNN cho biết, theo thăm dò với hơn 800 DN công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam thì khó có DN nào có thể đáp ứng đƣợc các tiêu chí của Samsung. Trên bình diện chung, nếu chấm điểm thì cũng sẽ có DN đƣợc 5,6,7 điểm và đại đa số DN đƣợc dƣới 5 điểm.

Bà Nguyễn Thị Tuyển, đại diện Công ty TNHH Tabuchi Electric (Nhật Bản) cho rằng: “Với 8 tiêu chí mà Samsung đưa ra, 99% DN Việt Nam không chen chân được vào chuỗi cung ứng cho Tập đoàn này. Ngay cả DN Nhật Bản như chúng tôi cũng chỉ đáp ứng được tối đa là 7 tiêu chí. DN Việt sẽ khó đảm bảo các tiêu chí về chất lượng dù giá cả cạnh tranh. Bên cạnh đó, tiêu chí vốn cũng là một rào cản".

Ngoài việc cho rằng bản thân DN còn thiếu hụt về vốn, công nghệ, nhiều DN trong ngành cũng quan tâm tới những hỗ trợ từ phía Samsung và Chính phủ. "Nếu Samsung không có danh mục sản phẩm, cam kết hỗ trợ và Chính phủ không hỗ trợ về vốn, công nghệ thì chắc chắn không DN Việt Nam nào đáp ứng được tiêu chi sản xuất của Samsung", phía các DN cho biết.

Trao đổi với các DN, đại diện phía Samsung khẳng định, Samsung luôn tin tƣởng rằng các DN Việt Nam có nhiều điểm ƣu tú hơn so với các nhà cung ứng hiện nay của Samsung. "Giá cả là yếu tố cạnh tranh của DN Việt Nam. Tuy nhiên, chất lượng và thời gian giao hàng cũng là những yếu tố mà chúng tôi quan tâm hàng đầu", đại diện Samsung nói.

Phần lớn trong số 200 DN tới tọa đàm đều hy vọng sẽ nghe đƣợc một cam kết từ

phía Samsung về hỗ trợ đầu ra, thì công ty Việt mới dám bung mình để sản xuất.

Ông Lƣu Hoàng Long, Tổng giám đốc Tổng công ty Cổ phần Điện tử và Tin học Việt Nam đồng thời là Chủ tịch Hiệp hội DN Điện tử (VEIA) khẳng định rằng việc đầu tƣ nhà máy sản xuất linh kiện cho Samsung không khó. Điều ông lo ngại là sau khi bỏ cả triệu USD để đáp ứng tiêu chuẩn chất lƣợng thì liệu hãng có bao tiêu sản phẩm. “Samsung có thể ký thỏa thuận khung làm cơ sở để DN yên tâm đầu tư không?”, ông Long đặt điều kiện. Tự nhận là DN nội đầu tiên cung cấp linh kiện Samsung, dù chỉ ở mức bán lẻ qua đại lý cấp I, Giám đốc Công ty Bắc Việt - Trần Anh Vƣơng cho hay nếu đƣợc Samsung hỗ trợ và minh bạch về điều kiện, DN ông đủ khả năng sản xuất đƣợc khuôn mẫu và thành đại lý trực tiếp.

Ông Vũ Duy Hiểu - đại diện một công ty cơ khí tại Thành phố Hồ Chí Minh, từng sản xuất ốc vít cho các công ty nƣớc ngoài nhận xét: "Nếu không có một cam kết từ Samsung hay Chính phủ thì câu chuyện này cũng như vấn đề con gà có trước hay quả

198

trứng có trước".

Theo ông Hiểu, ít nhất phải ƣu tiên cho DN nội về đầu ra sản phẩm hoặc có chính sách chọn giá rẻ thì may ra công ty mới dám đầu tƣ dây chuyền mới để cung cấp cho Samsung.

Phó chủ tịch Hiệp hội các nhà ĐTNN Nguyễn Văn Toàn nói nếu không thể cam kết về bao tiêu sản phẩm, hỗ trợ về công nghệ thì ít ra DN có thể hy vọng tham gia vào các công ty liên kết với công ty con của Samsung. “Nếu không, chiếu vào các điều kiện mà các ông đưa ra, tôi e khó DN nào ở đây đáp ứng được”, ông Toàn bi quan.

Là một công ty cơ khí có tiếng ở miền Bắc, đại diện Cơ khí Đông Anh cho biết DN của ông đã cung cấp đƣợc ống máy hút bụi cho tập đoàn LG. Thế nhƣng hoàn thiện sản phẩm này theo yêu cầu của Samsung thì cần phải qua 10 công đoạn nữa. Do vậy, nếu không đƣợc Samsung chắp mối để hình thành chuỗi liên kết với các DN khác thì rất khó khăn.

Tuy nhiên, Tổng giám đốc bán hàng của Samsung Việt Nam – Jang Hoyoung cho biết tập đoàn không có thể thỏa thuận về vấn đề này vì không biết chắc năng lực của đối tác. Vị này cho rằng, nếu bản thân công ty cung cấp thấy đủ điều kiện về tài chính, công nghệ, pháp luật, giá thành mà Tập đoàn đã công bố thì có thể đƣợc ghi vào danh sách dƣới dạng “đối tác tiềm năng” mà thôi.

“Chúng tôi cũng không có quyền can thiệp vào kinh doanh của các nhà cung cấp. Samsung không thể can dự để bảo đối tác này phải liên doanh với công ty kia. Chúng tôi không thể áp đặt”, câu trả lời tiếp theo này của ông Jang Hoyoung đã khiến không ít DN chạnh lòng

Chắp nối cuộc gặp gỡ của Samsung với các doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ, Cục trƣởng ĐTNN (Bộ Kế hoạch & Đầu tƣ) Đỗ Nhất Hoàng nói rằng, Nhà nƣớc cũng không quá kỳ vọng ngay sau cuộc gặp sẽ tìm ra đƣợc thêm DN nội cung cấp linh kiện cho Samsung. Ông Hoàng coi đây nhƣ là buổi “kiểm tra sức khỏe” của với khối DN công nghệ hỗ trợ để biết năng lực của mình đang ở đâu, thiếu cái gì.

Ông Hoàng khẳng định đã đề nghị Samsung cho biết họ cần những mặt hàng gì, tiêu chuẩn ra sao, tỷ lệ thế nào. Từ đó, cơ quan này sẽ tiếp tục ngồi với từng ngành nghề nhựa, cơ điện tử, cơ khí… nhằm sàng lọc sức khỏe DN với mong muốn sớm tìm ra những đơn vị có năng lực lọt vào danh sách đối tác của hãng này. Hiện Bộ Công thƣơng đang xây dựng chƣơng trình phát triển công nghiệp phụ trợ thành chƣơng trình quốc gia, theo đó sẽ hỗ trợ toàn diện cho các DN để đáp ứng các tiêu chí sản xuất. Đồng thời, sẽ có những hỗ trợ về vốn nhƣ đƣa ra quỹ đầu tƣ công nghiệp phụ trợ 2.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, quan trọng vẫn là sự cố gắng của cộng đồng DN, còn sự hỗ trợ của nhà nƣớc chỉ đƣợc phần nào. Thực tế phải đánh giá trình độ năng lực của chúng ta đến đâu, trở thành đại lý cấp 3-4 trƣớc đã rồi dần dần đi lên, chứ ko đủ tiêu chí thì không thể làm đại lý cấp 1 ngay lập tức đƣợc.

Tổng Giám đốc Tổ hợp Samsung Complex, ông Han Myoungsup khẳng định: Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển được ngành công nghiệp phụ trợ nếu có sự hợp tác giữa Chính phủ, DN và SEV. Cụ thể, Chính phủ hỗ trợ về vốn và chế độ chính sách đầu tư cho DN và tìm đầu ra cho sản phẩm, DN phải có quyết tâm cao với tầm nhìn dài hạn và tinh thần DN, còn Samsung sẽ tạo sự hợp tác hài hòa trong những lĩnh vực mà Samsung có thể hỗ trợ kỹ thuật…

Nguồn: [70].

199

Báo cáo Đầu tƣ Thế giới thƣờng niên do UNCTAD đƣa ra hai chỉ số về lợi thế cạnh tranh thu hút FDI của các quốc gia: (1) Chỉ số Inward FDI Performance (so sánh tỷ trọng FDI của một nƣớc thu hút đƣợc trong tổng GDP toàn cầu với tỷ trọng GDP của nƣớc đó trong tổng GDP toàn cầu). (2) Chỉ số Inward FDI Potential (đánh giá khả năng thu hút FDI của một nƣớc so với các đối thủ cạnh tranh khác. Chỉ số này là trung bình cộng giá trị của 12 biến số (mỗi biến số có điểm dao động từ 0 đến 1) gồm: GDP bình quân đầu ngƣời; tốc độ tăng trƣởng GDP trong vòng 10 năm trƣớc đó; tỷ trọng xuất khẩu trên GDP; số điện thoại trung bình trên 1.000 dân; mức độ sử dụng năng lƣợng bình quân đầu ngƣời; tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trên GDP; tỷ lệ sinh viên cao đẳng ngang đại học trên tổng dân số; rủi ro quốc gia; thị phần thế giới về xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên; thị phần thế giới về nhập khẩu phụ tùng, linh kiện ô tô và điện tử; thị phần thế giới về xuất khẩu dịch vụ và tỷ trọng lƣợng vốn FDI thu hút đƣợc trên tổng FDI thế giới).

Chỉ số Inward FDI Performance của Việt Nam thƣờng ở mức khá cao. Nhƣng chỉ số Inward FDI Potential của Việt Nam năm 2006 là 0,174 (thang điểm1) cho thấy năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong việc thu hút FDI so với các đối thủ khác là tƣơng đối thấp. Đánh giá này cũng tƣơng tự nhƣ Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2012 - 2013 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), trong 12 nhóm chỉ tiêu đƣợc WEF sử dụng, Việt Nam tụt hạng ở 9 nhóm, không có nhóm nào vƣợt đƣợc hạng 50, phần lớn cận kề hạng 100. Việt Nam ở vị trí thứ 75 trên tổng số 144 quốc gia và vùng lãnh thổ đƣợc khảo sát, tụt 10 bậc so với bảng xếp hạng 2011 - 2012, để Philippines vƣợt qua và đứng ở vị trí áp chót trong số 8 nƣớc ASEAN đƣợc khảo sát.

Chỉ số cạnh tranh giai đoạn 2015 - 2016 thực hiện tại 140 nƣớc. Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam tăng 12 bậc (từ thứ hạng 68 giai đoạn 2014-2015 lên hạng 56 trong báo cáo 2015-2016). Riêng chỉ số về hạ tầng giao thông tăng 9 bậc (từ thứ hạng 76 trong báo cáo 2014 - 2015 tăng lên hạng 67 trong báo cáo 2015 - 2016).

Phụ lục 29. Chỉ số về lợi thế cạnh tranh thu hút vốn FDI của các quốc gia

Natasha Ansell, Tổng giám đốc Citi Bank Việt Nam: “Việt Nam đã thành công trong việc thu hút khoảng 10 tỷ đô la Mỹ hằng năm từ các nhà đầu tư quốc tế, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho không chỉ Việt Nam mà còn khu vực. So sánh với các quốc gia láng giềng, môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam ngày càng hấp dẫn hơn và chính sự điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất, ngoại tệ đóng góp một phần không nhỏ”

Nguồn: [84] và tổng hợp của tác giả.

Phụ lục 30. Giải pháp thu hút vốn FDI của một số địa phƣơng trong vùng

KTTĐBB (qua ý kiến các chuyên gia và nhà quản lý)

30.1. Hà Nội sẽ tập trung thu hút đầu tư vào 3 lĩnh vực đột phá:

Ngày24/8/2015, UBND TP. Hà Nội đã tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tƣ nhằm giới thiệu các dự án thu hút đầu tƣ trên các lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, thƣơng mại dịch vụ, nông - lâm nghiệp và khẳng định cam kết của tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tƣ tiếp cận, triển khai các dự án đảm bảo đúng tiến độ và hiệu quả.

Theo ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trƣởng Cục ĐTNN (Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ) cho rằng, để thu hút hơn nữa nguồn vốn FDI, Hà Nội cần tăng cƣờng quảng bá tiềm năng, cơ hội đầu tƣ;

200

giải quyết tốt những vƣớng mắc trong khâu giải phóng mặt bằng; đẩy nhanh, rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đầu tƣ và các thủ tục liên quan khác để tạo thuận lợi cho nhà đầu tƣ; xây dựng cơ chế liên thông giữa các Sở, ban ngành... Ngoài ra, cần phải thông qua các ngân hàng, quỹ đầu tƣ, công ty tƣ vấn… để quảng bá và kết nối đầu tƣ, kinh doanh.“Hà Nội không phải là của riêng Hà Nội mà là Thủ đô của cả nước. Hà Nội không phải là một tỉnh thành phố mà Hà Nội là của cả nước nên vai trò của Hà Nội là vô cùng quan trọng. Chính vì vậy việc trao đổi, kết nối với các địa phương lân cận để phối hợp trong công tác xúc tiến, quản lý FDI có tính lan tỏa, liên vùng cũng là điều rất cần thiết”, ông Hoàng nhấn mạnh.

Trên cơ sở chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH của Thành phố, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Thế Thảo cho biết, “Hà Nội sẽ tập trung thu hút đâu tư vào các ngành, lĩnh vực nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ nguồn; tạo việc làm và gia tăng xuất khẩu; đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phát triên cơ sở hạ tầng, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ chất lượng cao”.

Trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng: Tập trung phát triển, nâng cao năng lực và vị thế của các ngành công nghiệp có lợi thế và khả năng cạnh tranh, có giá trị nội địa hóa cao, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu nhƣ: công nghiệp hỗ trợ, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ cao, công nghiệp vi điện tử và chú trọng công nghệ nguồn từ các nƣớc công nghiệp phát triển; coi trọng việc thu hút FDI các lĩnh vực trên gắn với nghiên cứu chuyển giao, phát triển và làm chủ công nghệ.

Tập trung huy động thu hút nhà đầu tƣ phát triển các khu kinh tế, các khu - cụm công nghiệp hiện có. Ƣu tiên các dự án đầu tƣ có quy mô lớn, ít thâm dụng lao động, sản xuất sản phẩm có hàm lƣợng công nghệ cao, công nghệ sạch, tạo giá trị gia tăng cao và thân thiện môi trƣờng; Khuyến khích thu hút các dự án đầu tƣ phát triển hoàn thiện hệ thống giao thông đô thị, hệ thống vận tải hành khách công cộng, hệ thống vận tải đƣờng sắt đô thị (đi ngầm và trên cao); thu hút đầu tƣ hiện đại hóa mạng lƣới viễn thông, hệ thông cấp, thoát nƣớc, xử lý chất thải và gắn với bảo vệ môi trƣờng; phát triển các khu đô thị sinh thái, các khu trung tâm thƣơng mại hiện đại, khu vui chơi giải trí tiêu chuẩn quốc tế...

Đối với lĩnh vực dịch vụ, Thành phố sẽ có các chính sách nhằm thúc đẩy ngành dịch vụ, cụ thể đối với các ngành: dịch vụ ngân hàng, tài chính, thƣơng mại; dịch vụ logistics, bƣu chính – viễn thông, y tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực dịch vụ khác. Khuyến khích mạnh thu hút đầu tƣ vào các ngành y tế, dịch vụ khám chữa bệnh; giáo dục- đào tạo, xây dựng một số trƣờng đại học chất lƣợng cao đạt chuẩn quốc tế, khu du lịch nghỉ dƣỡng cao cấp gắn với chăm sóc sức khoẻ, y tế. Thu hút có chọn lọc các dự án trong lĩnh vực dịch vụ nhƣ ngân hàng, tài chính, logistics, viễn thông, bán buôn, bán lẻ và văn hóa.

Trong lĩnh vực Nông - Lâm nghiệp, Hà Nội khuyến khích các dự án đầu tƣ về công nghệ sinh học, sản xuất nông nghiệp kỹ thuật cao, chăn nuôi, nghiên cứu sản xuất, chế biến các loại giống cây trồng, nông sản chất lƣợng cao.

Trong giai đoạn tới, sau khi Chính phủ Việt Nam hoàn tất đàm phán và bắt đầu triển khai thực hiện hiệp định thƣơng mại tự do (FTA) với các đối tác chủ yếu, đông thời chuẩn

201

bị hoàn tất việc triển khai các cam kết kinh tế trong khuôn khổ WTO và Lộ trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN, UBND Thành phố yêu cầu các Sở, Ban ngành của Thành phố tăng cƣờng các công tác hỗ trợ để giúp các DN tận dụng những cơ hội tốt do hội nhập quốc tế mang lại. Từ đó, đánh giá tác động của việc tham gia và triển khai thực hiện các FTA thế hệ mới đang đàm phán đối với KT-XH của Thành phố để đề xuất cơ chế chính sách chủ động thu hút đầu tƣ, kinh doanh thƣơng mại trong tình hình mới, phù hợp với các cam kết quốc tế và yêu cầu của hội nhập.

“Chính quyền Thành phố cam kết sẽ không ngừng tạo lập môi trường đầu tư theo hướng thông thoáng, minh bạch, phù hợp tiến trình hội nhập quốc tế; thực hiện các giải pháp để hỗ trợ, giải quyết vướng mắc cho các nhà đầu tư; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư kinh doanh, làm ăn lâu dài tại Thủ đô. Thành công của các bạn cũng chính là thành công của chúng tôi”, Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo nhấn mạnh.

Cũng tại Hội nghị này, lần đầu tiên Hà Nội đã công bố, giới thiệu cụ thể 11 dự án để thu hút đầu tƣ trên các lĩnh vực: công nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đô thị. Cụ thể, danh mục các dự án kêu gọi đầu tƣ bao gồm 3 dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp, 3 dự án thuộc lĩnh vực thƣơng mại dịch vụ và hạ tầng xã hội và 2 dự án thuộc lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật [133].

30.2. Vĩnh Phúc: Tìm hướng đi riêng để thu hút đầu tư (Nguyễn Kim Khải – Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Vĩnh Phúc)

Chủ động bƣớc vào hội nhập KTQT, Vĩnh Phúc sẽ điều chỉnh chính sách thu hút đầu tƣ của tỉnh theo hƣớng từ lƣợng chuyển sang chất. Đó là: Lựa chọn DN đầu tƣ phù hợp đặc điểm, lợi thế sẵn có, DN có khả năng đóng góp cho sự phát triển lâu dài của địa phƣơng; tập trung thu hút các dự án đầu tƣ vào các KCN hiện có nhƣng sẽ ƣu tiên các dự án có quy mô lớn, công nghệ cao, thân thiện với môi trƣờng, sử dụng đất đai, lao động có hiệu quả; khuyến khích và ƣu đãi đối với ĐTNN vào những loại hình dịch vụ chất lƣợng cao; từng bƣớc xây dựng mới, xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật các KCN mới đƣợc phê duyệt.

Với phƣơng châm “Các nhà đầu tư vào Vĩnh Phúc đều là công dân Vĩnh Phúc, thành công của DN chính là thành công của tỉnh”, thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục cải thiện môi trƣờng đầu tƣ, tạo bình đẳng cho DN thuộc các TPKT trong phát triển đầu tƣ SX-KD. Theo đó, sẽ công khai minh bạch, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, giảm chi phí gia nhập thị trƣờng, giảm tối đa chi phí không chính thức, tạo niềm tin và điều kiện để DN, ngƣời dân bỏ tiền vào đầu tƣ; xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tƣ, ƣu tiên thu hút các dự án công nghệ sạch, có VA lớn, thân thiện với môi trƣờng; tiến hành tổng kết, đánh giá toàn diện tình hình thực hiện đầu tƣ, xây dựng đề án về đánh giá lợi thế so sánh của tỉnh trong thu hút đầu tƣ. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vƣớng mắc về bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng cho các dự án, nhất là các dự án đầu tƣ hạ tầng KCN Tam Dƣơng II, Thăng Long Vĩnh Phúc và một số cụm công nghiệp khác để sớm bàn giao mặt bằng cho các nhà đầu tƣ triển khai xây dựng hạ tầng. Chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để cung cấp lao động trình độ cao cho các nhà đầu tƣ... [97].

202

30.3. Kế sách thu hút đầu tư quốc tế vào địa phương (Nguyễn Văn Đọc Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh)

Để phát huy tiềm năng, thế mạnh và huy động tốt các nguồn lực cho phát triển, những năm qua, Quảng Ninh đã tập trung hoàn thành và công bố đồng thời 7 quy hoạch chiến lƣợc quan trọng, đa số các quy hoạch do các tƣ vấn hàng đầu thế giới của Mỹ, Nhật Bản thực hiện cùng với tỉnh và các sở, ngành, địa phƣơng; và đã triển khai cơ bản hoàn thành các quy hoạch chi tiết các ngành, lĩnh vực, địa phƣơng làm nền tảng quan trọng cho phát triển và quản lý theo hƣớng hiệu quả và bền vững.

Cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lƣợc. Hoàn thành các dự án kết cấu hạ tầng động lực, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng dịch vụ du lịch. Cải cách hành chính theo hƣớng hành chính phục vụ, phát huy hiệu quả tích cực của chính quyền điện tử gắn với hoạt động của các trung tâm hành chính công; lấy hiệu quả phục vụ, sự hài lòng của nhân dân, DN làm thƣớc đo.

Tạo môi trƣờng thuận lợi thực sự để đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lƣợng cao; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức chuyên nghiệp, thái độ văn minh, lịch sự gắn với tăng cƣờng kỷ cƣơng công chức, đổi mới chế độ công chức, công vụ. Huy động tối đa mọi nguồn lực xã hội, đặc biệt là vận dụng có hiệu quả hình thức PPP. Tiếp tục cải thiện môi trƣờng đầu tƣ, kinh doanh thuận lợi, hiệu quả cho mọi TPKT, nhất là kinh tế tƣ nhân, FDI làm động lực để nâng cao sức cạnh tranh. Trong đó tập trung vào những lĩnh vực lợi thế của tỉnh, nhất là du lịch, xây dựng ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong CCKT.

Quảng Ninh là địa phƣơng đầu tiên thành lập Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tƣ trực thuộc UBND tỉnh; thực hiện đồng bộ các giải pháp cải cách hành chính theo hƣớng hành chính phục vụ với mục tiêu công khai, minh bạch, giảm thời gian, đơn giản hóa giải quyết thủ tục hành chính; xây dựng chính quyền điện tử và thành lập Trung tâm hành chính công tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố; tiếp nhận thẩm định phê duyệt tại chỗ, qua đó cơ bản đã đáp ứng đƣợc yêu cầu và sự hài lòng của ngƣời dân và DN [58].

30.4. Thu hút đầu tư tỉnh Hải Dương: Không chỉ còn là khẩu hiệu (Vương Đức Sáng – Giám đốc Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương).

Thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ và giải pháp cải thiện môi trƣờng kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tỉnh Hải Dƣơng tiếp tục ban hành kế hoạch hành động nhằm cải thiện môi trƣờng đầu tƣ kinh doanh, nâng cao chỉ số PCI của tỉnh trong giai đoạn 2015-2016 và những năm tiếp theo, xây dựng hình ảnh Hải Dƣơng năng động, hấp dẫn, nỗ lực đột phá, tạo sức cạnh tranh. Để thực hiện đƣợc những mục tiêu đó, tỉnh đƣa ra nhiều giải pháp:

Thứ nhất, là cải cách thủ tục hành chính. Đây là điều rất quan trọng đối với các nhà đầu tƣ đến với địa phƣơng. Tỉnh tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành để kịp thời sửa đổi, bổ sung tránh chồng chéo, rút ngắn thời gian, cơ chế 1 cửa liên thông, nhất là các thủ tục về đất đai nhƣ cấp đất, giải phóng mặt bằng, định giá tài sản; các thủ tục kê khai nộp thuế, hải quan, cấp phép lao động cho ngƣời nƣớc ngoài…

203

Thứ hai, tăng cƣờng ứng dụng công nghệ thông tin vào các khâu giải quyết thủ tục hành chính nhƣ giao dịch thông qua mạng điện tử, cổng thông tin điện tử tỉnh, huyện các sở ngành thuộc các lĩnh vực liên quan nhƣ đăng kí kinh doanh, thuế, hải quan… nhằm giảm bớt chi phí và thời gian đi lại cho DN. Công khai minh bạch tất cả các thủ tục hành chính để DN tiện theo dõi và kịp thời điều chỉnh.

Thứ ba, nâng cao ý thức kỷ cƣơng trách nhiệm, tác phong lề lối làm việc của đội ngũ các bộ công chức trong các cơ quan Nhà nƣớc, thực hiện đầy đủ nghiêm túc các chức năng, nhiệm vụ, chức trách đƣợc giao, kiện toàn bộ máy quản lý, tạo ra những con ngƣời năng động, có ý thức trách nhiệm. Kiên quyết xử lý những trƣờng hợp yếu kém, sai phạm gây bất lợi cho DN.

Thứ tƣ, kịp thời giải quyết những khó khăn vƣớng mắc, nhất là về vốn để DN yên tâm hoạt động. Hiện nay đã phối hợp thành công với Ngân hàng Nhà nƣớc và các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh, luôn trong tƣ thế sẵn sàng đảm bảo cung ứng đủ vốn không để tình trạng DN vì không vay đƣợc vốn mà chậm trễ trong vấn đề SX-KD. Tỉnh định kỳ 6 tháng và 1 năm tổ chức gặp mặt đối thoại DN để kịp thời nắm bắt đƣợc tâm tƣ, nguyện vọng, giải quyết những vƣớng mắc và lắng nghe những đóng góp về môi trƣờng đầu tƣ kinh doanh của DN.

Thứ năm, tổ chức tốt các chƣơng trình xúc tiến đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại năm 2015, hỗ trợ nông dân trong tiêu thụ sản phẩm vải thiều, rau quả ở thị trƣờng trong nƣớc và xuất khẩu, đẩy mạnh cuộc vận động ngƣời Việt ƣu tiên dùng hàng Việt…

Thứ sáu, tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp,

điều hành chi ngân sách theo hƣớng tiết kiệm, hiệu quả [78].

30.5. Những bước đột phá trong thu hút FDI vào Hải Phòng (Phạm Thuyên- Trưởng Ban quản lý Khu kinh tế Hải Phòng)

Hải Phòng đang hoàn thiện về hạ tầng chiến lƣợc nhƣ: Nâng cấp sân bay Cát Bi; xây dựng cảng quốc tế Lạch Huyện; đƣờng cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; đƣờng cao tốc ven biển; đƣờng sắt... Thời gian tới, Hải Phòng không ngừng cải tiến, đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tƣ kết hợp thực hiện tốt ba khâu đột phá: Xây dựng hạ tầng đồng bộ, hiện đại; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Tôi tin rằng dòng vốn FDI vào Hải Phòng sẽ tăng cao.

Hải Phòng khuyến khích các DN thành phố đầu tƣ thiết bị, công nghệ để sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho các tập đoàn lớn. Nhà nƣớc phải đƣa việc chuyển giao công nghệ của các FIES sau thời gian 2- 3 năm vào luật, coi đây là điều kiện để đầu tƣ. Nhà nƣớc có chính sách ƣu đãi về tín dụng, khoa học công nghệ, vận động DN trong nƣớc quyết tâm đầu tƣ vào các lĩnh vực sản xuất công nghiệp hỗ trợ. Để làm đƣợc việc này phải có bƣớc quá độ nhƣ DN “điện tử 4P”, có lộ trình từng bƣớc tìm hiểu, tiếp thu, chuyển giao công nghệ đơn giản trƣớc, công nghệ phức tạp sau, không thể chuyển giao ngay một lúc.

Riêng với Hải Phòng, cần khuyến khích các doanh nhân đầu tƣ đổi mới công nghệ, mua sắm trang thiết bị, chuyển giao công nghệ tiên tiến, nâng cao khả năng sản xuất sản

204

phẩm công nghiệp hỗ trợ; xây dựng lộ trình cho các FIES từng bƣớc chuyển giao công nghệ cho các DN trong nƣớc... [94].

30.6. Bí quyết thu hút vốn FDI (hội thảo “Ngày hội các nhà máy FDI” ngày 28/10/2014 tại KCN VSIP Bắc Ninh - Nguyễn Tiến Nhường: Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Bắc Ninh)

Về công nghiệp hỗ trợ thì tỉnh Bắc Ninh trong năm qua rất khá. Nhƣng các DN trong nƣớc chiếm thị phần rất nhỏ. Đây cũng là vấn đề mà chúng tôi rất trăn trở. Vừa rồi tỉnh đã chỉ đạo triển khai công nghiệp hỗ trợ, xây dựng chính sách để thu hút đƣợc các DN trong nƣớc tham gia ngày càng nhiều hơn vào công nghiệp hỗ trợ. Trong thời gian tới tôi hy vọng tỉnh sẽ có triển vọng tốt trong vấn đề này.

Chúng tôi đang thực hiện kết nối Samsung với DN trong tỉnh để hiểu thêm về nhu cầu của Samsung và mong muốn Samsung tạo điều kiện cho DN tham gia đƣợc. Hiện nay các DN trong tỉnh mới chỉ đang kết nối để tìm cơ hội tham gia thôi. Với tƣ cách là địa phƣơng thu hút đầu tƣ thì chúng tôi sẽ trao đổi, đàm phán với doanh nghiệp để hỗ trợ các DN đƣợc nhiều nhất trong điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Ví dụ nếu các DN của tỉnh mà có những điều kiện tƣơng đồng với DN khác thì chúng tôi sẽ đề nghị hỗ trợ. Việc này đã đƣợc thực hiện thông qua xây dựng 6 đề án dịch vụ và tỉnh vừa phê duyệt xong.

Tập trung vào tính tiên phong của lãnh đạo và cải cách hành chính, chi phí thời gian liên quan đến hỗ trợ DN trong thời gian qua. Chúng tôi đã quy định là làm việc không giới hạn thời gian. Bất kỳ khi nào DN có ý kiến là chúng tôi sẽ giải quyết, thậm chí đến tận DN để giải quyết. Điều này khiến DN rất vui mừng và tin tƣởng.

Ngày 21/09/2014, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh ký quyết định hỗ trợ ngân sách xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN Yên Phong 1, nhằm hỗ trợ đầu tư đối với dự án của Công ty Samsung Display. Theo đó, khi hết thời hạn miễn, giảm theo luật Thuế thu nhập DN (miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo), Samsung Display sẽ được giảm tiếp 50% thuế này cho 3 năm tiếp theo. Samsung Display cũng được hỗ trợ 50% phí sử dụng hạ tầng cho 46,28 ha đất dự án với số tiền hỗ trợ dự tính là trên 286,9 tỷ đồng. Bắc Ninh còn hỗ trợ chi phí đào tạo lao động là người Bắc Ninh với mức 1,5 triệu đồng/lao động. Số tiền hỗ trợ là 12 tỉ đồng. Như vậy, tổng số tiền hỗ trợ cho Samsung Display là gần 290 tỷ đồng.

Công ty Samsung Display chỉ được hưởng toàn bộ ưu đãi, hỗ trợ nói trên với điều kiện thực hiện đúng các cam kết về tiêu chí công nghệ cao tại hồ sơ dự án được Bộ Khoa học - Công nghệ chấp thuận; thực hiện đúng tiến độ triển khai dự án [83].